Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Vì Sao ?

Anh có ở lại đây một trăm năm,
Ăn gà tây, uống coca, cũng không thành Mỹ trắng.
Anh có ở lại đây một ngàn năm,
Cắt cỏ dang nắng, cũng không thành Mỹ đen.

Tiếng Anh tiếng U nay chắc anh nói cũng đã quen,
Nhưng đến bao giờ mới phai mùi nước mắm.
Anh có muốn ở lại suốt đời ?
Để mỗi lần đi cày về anh tắm,

Chỉ tắm dưới vòi sen ?
Những người đồng hương anh vừa quen hôm qua,
Ngày mai có thể trở thành kẻ lạ.
Những người thường làm mặt lạ,

Lại có thể bá cổ hôn anh,
Nếu anh lên nhanh, nếu anh trúng số.
Ôi cái xứ sở xô bồ,
Lắm người qua hơn hai mươi năm

Vẫn còn bị hố.
Hàng xóm, láng giềng, nhà nhà lố nhố,
Nhưng chẳng ai thèm biết tên ai.
Xe của ai nấy đi,
Nhà của ai nấy đóng kín mít..
Tết tây tết ta, lễ tạ ơn tạ nghĩa,
Chẳng hề qua lại hỏi thăm nhau.

Thỉnh thoảng gặp nhau trên đường đi,
Cũng đặt bày làm người lịch sự,
Mấp máy nói hai nói ba, chào nhau,
Như chào cái cột cờ di động.

Đường phố, phi trường, núi rừng , ruộng đồng quá rộng,
Mà lòng con người đa phần tôi gặp,
Lại nhỏ bé đến li ti,
Nhỏ bé đến dị kỳ,
Nhỏ bé còn hơn những gì nhỏ nhất !

Thế mà từ quê nhà còn lắm người ao ước ra đi ,
Thế mà từ quê người vẫn chưa có mấy ai thích trở về ...vĩnh viễn !

Vì sao ? Vì sao ?


Xuyên Sơn


Thơ đáp lại của Kế Đô :


Tớ chẳng muốn ở đây một trăm năm
Vì muốn trở thành người Mỹ trắng.
Tớ cũng chẳng muốn ở đây một ngàn năm
Để lao động như những người Mỹ đen.

Tiếng Anh, tiếng Việt tớ nói cũng khá quen
Nhưng đó là ngôn từ dùng trong giao dịch.
Nếu có phải ở đây đến khi nào viên tịch
Thì cũng phải đi làm với một mục đích

Để nâng cao nếp sống của con người.
Người đồng hương, hay người lạ ở trên đời
Đâu cũng vậy, có kẻ hèn người tốt.
Họ thương anh chẳng vì anh lắm bạc

Hay vì anh được cất nhắc làm to.
Chớ có lầm là nước Mỹ xô bồ
Khi thấy mỗi người mỗi nếp sống tự do
Đèn ai nấy rạng họ không nhòm soi mói

Trừ phi anh mở cửa đón họ vô
Anh trách mọi người sống rất thờ ơ
Gặp nhau chỉ lầm bầm vài câu nhạt nhẽo
Như những người học đòi làm lịch sự

Và ở nơi này cái gì cũng bự
Nhưng những người đa phần anh gặp
Lại có một tấm lòng đê tiện li ti
Vậy thì ai là kẻ đã lì xì

Hàng tỉ bạc cho quê nhà ăn Tết ?
Cuối cùng như để thay lời kết
Anh lớn tiếng đặt câu hỏi vì sao ?

Vì sao ?

Từ quê nhà còn lắm người ao ước ra đi ?
Xin thưa:

Vì quê nhà kiếp sống chẳng ra gì
Đảng Cộng Sản đang đè đầu dân đói khổ
Nuôi một lũ cán ngu, loài sâu bọ
Đục khoét làm giầu, cướp đất công khai
Cột đèn kia cũng muốn tếch ra ngoài !
Vì sao ?

Từ quê người vẫn chưa có mấy ai thích trở về vĩnh viễn
Xin thưa:
Vì tầm nhìn của anh còn thô thiển
Lập luận một chiều, óc nô lệ còn cao
Anh chưa hiểu gì về chúng tôi, người tị nạn
Chỉ trở về vĩnh viễn khi không còn Cộng Sản
Chớ ngu si gì về làm bạn với đười ươi !!!


Kế Đô__

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Bố tôi

Ngày bố tôi sắp về hưu, lúc ấy ông gần sáu mươi lăm tuổi, tôi thấy ông có thái độ lạ lùng, không là con người ông vẫn là lúc trước. Ông đã thay đổi không những về tính nết mà cả về cách cư xử và hành động. Nói cách khác, ông đã trở thành một con người khác lạ trong gia đình. Ông càng ngày càng ít nói và cuối cùng gần như không còn nói một câu nào suốt ngày, chỉ trả lời vắn tắt “có” hay “ không” khi chúng tôi hỏi, và nhiều khi im lặng không trả lời khi câu hỏi bắt ông phải nói ra một câu dài. Đối với mẹ tôi, ông càng không nói, chỉ lầm lầm lì lì.

Ông vốn là một người nóng tính, hay cau có gắt gỏng, hơi một tí là la hét um sùm. Bây giờ ông chỉ suốt ngày yên lặng, không để ý tới ai, như thể ông chỉ còn sống cho mình ông. Có lẽ vì ông không còn giao tiếp với mẹ tôi nhiều nữa nên ít còn cọ sát, ít đụng chạm. Những vụ to tiếng thường xuyên đối với mẹ tôi đã mất hẳn, vì ông không còn nói gì với bà nữa, ông chỉ còn là một sự hiện diện trong nhà, có cũng như không.

Ông cũng đã cả đời tỏ ra là một người khó tính, luôn luôn đòi hỏi sự tuyệt mỹ, đòi hỏi cái tối đa, cái nhất, không hẳn là chỉ đối với mẹ tôi và chúng tôi mà ngay cả đối với chính ông nữa. Ông ít khi bằng lòng liền với những công việc chúng tôi làm, ông thường hay phê bình chỉ trích, đôi khi bắt chúng tôi sửa hay làm lại. Chúng tôi thấy ở nơi ông một con người khó hợp với, khó sống cùng vì thế!

Nhưng ông lại là một con ngưòi nhiều tình cảm, ông sống cả đời vì chúng tôi, ông thương chúng tôi hơn cả chính ông, ông làm cái gì cũng vì người khác, kể cả những người không ruột thịt máu mủ. Ông lo lắng từng tí cho chúng tôi, ngay cả khi chúng tôi đã trường thành và đã có gia đình riêng. Ngày ông có các cháu nội, ông dành bao nhiêu thì giờ rảnh chơi với chúng, đùa nghịch với chúng như một đứa bé con, ông cũng giỡn, cũng cười, cũng chơi như chúng, coi chúng như những đứa bạn nhỏ của mình. Ấy thế mà bỗng nhiên ông đã thay đổi hoàn toàn, ông không còn thân thiết với ai trong nhà nữa. Dường như ông chỉ còn sống cho bản thân ông, ông chỉ còn nghĩ đến ông, không còn ai xung quanh ông là quan trọng nữa. Ngay cả các cháu nội, ông cũng không còn bồng bế, nô đùa với chúng, ông đã quên chúng, ông không xa lánh nhưng không còn gần gũi như xưa.

Nhưng cái khác lạ rõ ràng nhất là sự đối xử của ông đối với mẹ tôi. Ngày xưa ông thương yêu mẹ tôi biết là chừng nào. Ông sống vì bà, ông cố gắng, hy sinh vì bà. Ông đã từng chăm sóc cho bà như chăm sóc cho một người tình, lúc nào cũng muốn có bà bên cạnh. Nhưng mối tình nóng hổi ấy đã phai nhạt với năm tháng, một phần bởi vì mẹ tôi không hiểu rằng có ông là một cái gì quí mà trời cho, bà luôn luôn coi việc có ông như là một sự đương nhiên, bà không gây dựng hay tìm cách nuôi dưỡng cho mối tình tiếp tục nẩy nở hay ít ra là không suy tàn. Vì thế mà dần dần giữa hai người không còn sự thắm thiết của thuở xưa nữa, không còn sự cảm thông, sự hiểu biết nhau, không còn mối tương quan thắm thiết giữa hai người bạn đời, trái lại chỉ còn sự cay đắng, sự chống đối, sự bất đồng, và có thể nói gần như là sự hận thù. Vì vậy mà mẹ tôi coi sự thể ông đã thôi không giao tiếp với bà nữa như là một điều may mắn, bà khỏi bận tâm, khỏi suy nghĩ, và nhất là khỏi phải đối phó với những khó khăn mà, bà nói do ông gây ra.

Sau ngày ông về hưu, ông lại còn lạ lụng hơn nữa. Ông cứ suốt ngày ngồi trong phòng đọc sách, viết văn, hay suy tư. Ông hay ngồi hàng giờ với một ly rượu và bao thuốc nghĩ ngợi, tôi không hiểu ông nghĩ gì, cái gì làm cho ông bận tâm khi mà ông đã về hưởng tuổi già, khi đáng lý ra ông phải được hưởng sự thanh thản của tâm hồn? Tôi không dám hỏi ông, mặc dầu những lần tôi về thăm nhà cùng đứa con ba tuổi, tôi không thấy ông vui, ông chỉ ra ôm đứa cháu, hôn nó một cái rồi lại đi vào trong phòng riêng của ông. Tôi có cảm tưởng ông sống trong một thế giới cô lập của riêng ông, ông không còn màng tới những gì xẩy ra bên ngoài căn phòng đó, ông đã bị lôi cuốn vào một thế giới của ảo tưởng, của tiềm năng, ông sống với những mơ ước mà ông đã không thực hiện được trong cuộc đời mình.

Thế rồi một hôm, khi không ai để ý đến ông, ông đã ra đi, ông đã biến mất để cho đến khi đứa cháu nội vào gọi ông ra ăn cơm chiều thì cả nhà mới hay ông không còn ở đó nữa, ông đã đi rồi. Tôi vào trong phòng ông lục lọi xem ông có mang thứ gì theo hay không, thì thấy ông chỉ đi người không, ông đã mặc bộ đồ khi ông còn đi làm. Trên bàn có tờ giấy nhỏ xíu, trên đó ông viết: "Tôi đi rồi tôi sẽ về, không có gì phải lo lắng cả. Đừng đi tìm tôi vô ích."

Và đúng như lời ông dặn dò, chúng tôi không đi tìm ông. Mẹ tôi chẳng tỏ vẻ lo lắng gì cả. Bà nói:

- Để cho bố chúng mày đi chơi cho sướng cái thân. Ở với tao ông thấy khổ, tao cho ông ấy đi ở với gái trẻ, đi chán ông ấy sẽ về!

Cái sai lầm ở mẹ tôi là ở chỗ ấy. Bà nói cứ để cho bố tôi đi, nhưng rồi ở nhà ai lo công việc trong nhà? Mặc dù bố tôi có vẻ bất thường nhưng ông vẫn là người quyết định mọi việc, ông vẫn lo giải quyết những vấn đề khó khăn như vấn đề tiền bạc, vấn đề sửa sang nhà cửa, và nhất là khi phải đối phó với người ngoài. Nay ông đi rồi thì mẹ tôi đâu có biết phải làm những công việc ấy? Tôi sẽ phải đứng ra thế ông, nhưng nay tôi đã có gia đình riêng, tôi lo thân tôi chưa xong, nhiều khi còn phải hỏi ý kiến bố tôi thì làm sao bây giờ?

Vả lại có ông ở nhà thì mẹ tôi còn lo dọn dẹp nhà cửa, đi chợ đi búa về làm cơn cho ông ăn. Nay ông đi vắng mẹ tôi, vốn dĩ lười, cứ để nhà bừa bộn, không lau chùi nên nhà bếp nhà tắm bẩn như hủi. Trong phòng ngủ quần áo mặc rổi mẹ tôi chất đống, chẳng buốn treo lên mà cũng chẳng đem đi giặt. Phòng khách phòng ăn ôi đủ thứ la liệt, sách báo, kẹo bánh, đồ dùng xài xong vẫn vứt đó, chén trà, cốc nước uống xong không buồn dọn, có khi để đó vài ba ngày, một tuần. Đồ đi mua về vứt ngay cửa ra vào có khi cả mấy tuần không đem cất. Mỗi khi về nhà thăm mẹ tôi, hai vợ chồng tôi phải dọn dẹp cho bớt ghê mắt, riêng tôi chỉ sợ bố tôi về bất tử thì lại có chuyện.

Mẹ tôi hay cãi lại ông làm ông nổi giận đập phá đùng đùng. Bà có tật hay dựng đứng câu chuyện lên rồi đổ lên đầu bố tôi, làm cho bố tôi phát điên lên thì mới thôi. Hơn nữa, mẹ tôi là dân Hà Đông, bà có cách nói xéo, làm người nghe rất khó chịu. Bố tôi ghét cái tính xấu đó của bà nhưng chẳng làm được gì. Bố tôi nói càng về già mẹ tôi càng có nhiều hành động làm cho bố tôi bực bội. Tối đến bà thức có khi đến hai giờ sáng chỉ để ngồi xem báo hay xem truyền hình. Bố tôi dục đi ngủ bà cứ lờ đi. Sáng ra bà không dậy nổi, bố tôi chuẩn bị bữa ăn sáng xong, bà cũng chưa chịu dậy, đến khi bố tôi ăn xong bà mới ra ngồi ăn. Cơm tối cũng vậy, mẹ tôi đi làm tan sở không về liền, bố tôi chờ không được dành dọn cơm lên ngồi ăn, ăn nửa chừng thì bà về. Bố tôi ăn xong đi nơi khác, mẹ tôi ngồi ăn, cả tiếng đồng hồ sau vẫn chưa xong, bà cứ ngồi một mình chậm rãi ăn, lúc nào muốn thôi thì thôi.

Nay bố tôi đi rồi thì mẹ tôi chẳng còn đối tượng để mà chống đối nữa, bà dành toàn thì giờ đọc báo hay coi truyền hình. Bà có thể ngồi đọc báo hoặc coi truyền hình hai ba tiếng đồng hồ, quên ăn quên ngủ. Tin tức gì bà cũng thuộc nằm lòng. Bà cứ kể đi kể lại những gì bà học được, nhiều khi người nghe phải nhắc là bà đã nói hai ba lần rồi thì bà mới thôi kể. Bà cũng có thể ôm điện thoại nói chuyện với bạn bè hết giờ này sang giờ khác. Còn nói đến việc đi mua bán thì có khi mẹ tôi đi không còn biết giờ về. Bà đi đến đâu cũng xem hết thứ này đến thứ kia nhưng không mua, bà chỉ thích xem để mà xem, để mà biết. Cái gì bán ở đâu bà đều biết, nói đến cái gì bà cũng hay.

Có một điều là mẹ tôi hay nói nhưng không bao giờ làm. Bà muốn cái gì thì cứ nói lên cho bố tôi nghe, rồi nếu ông không làm thì bà than, bà trách. Bà nói bảo làm không làm để bây giờ như thế này, như thế kia. Mà khi bà không bằng lòng một chuyện gì thì bà cứ nói tới nói lui, có khi cả hai ba năm sau bà vẫn còn lôi chuyện cũ ra mà nói. Bố tôi đến khổ vì bà, nhưng ông cho đó là vì bà già, bà thay đổi tính nết, bà khó chịu cũng như tất cả những người đàn bà khác khi về già. Khi bố tôi góp ý với bà thì bà nói với bố tôi:
- Không vừa ý thì đi tìm gái mười tám cho nó hầu hạ, để cho tôi yên thân.

Tôi không hiểu trong đầu bà nghĩ gì mà lại nói thế, nhưng tôi biết bà cũng không sung sướng gì. Câu nói đó thể hiện một sự bất mản cùng cực. Có một điều tôi thấy lạ là thay vì đạp đổ, tại sao bà không chịu có một thái độ xây dựng? Tâm lý người đàn bà vào cái tuổi trên năm mươi hẳn là rất phức tạp, tôi không hiểu được những biến chuyển sinh tâm lý xẩy ra nơi họ. Tôi nghe nói là chính những người đàn bà đó cũng không hay biết rằng họ đã thay đổi, họ đã khác xưa, và vì thế họ khăng cho rằng họ vẫn thế, lỗi là do những người khác chứ không phải tại họ.

Tôi nghĩ bố tôi đã chán cái cảnh cơm không ngọt canh không bùi, ông đã không chịu nổi cái uơng ngạnh của mẹ tôi, ông muốn sống những ngày còn lại trong yên bình, và vì thế ông đã rút lui vào cái thế giới của riêng ông, vào giữa bốn bức tường của căn phòng làm việc mà xưa kia ông không thích vào. Nhưng như thế cũng không mang lại cho ông niềm sung sướng, vì ai sướng khi chỉ sống trong môi trường chết, môi trường im lìm, không tiếng nói, tiếng cười? Ai có thể ngày đêm chìm đắm trong sự u mê, sự day dứt của nội tâm? Tôi biết ông đang bị giằng co giữa bổn phận và hạnh phúc cá nhân. Ông đã không chịu ly dị vì còn con cái, còn các cháu của ông mà ông thương yêu vô ngần. Mẹ tôi đã bao lần nói thẳng vào mặt ông:
- Sao ông không ly dị tôi cái quách đi cho rồi? Để mà còn đi tìm gái tơ mà hưởng đời chứ? Ông còn tiếc cái gì nữa?

Tôi không biết bà có thực sự muốn thế không, nhưng tôi thấy bố tôi chỉ cắn răng lại để khỏi nói câu gì, vì tôi biết nếu đổ thêm dầu vào lửa tất nó sẽ bùng lên và không còn cứu chữa được nữa.

Ngày bố tôi ra đi, chúng tôi tưởng ông đi đâu chơi một hai ngày. Nhưng cả tháng trôi qua chúng tôi không thấy về, tôi cũng hơi lo lắng. Tôi gọi điện thoại đến các bác, các chú, bạn bè của ông thì không ai biết ông đi đâu, ông không hề thổ lộ kế hoạch của ông cho ai hết. Họ cũng ngạc nhiên về hành động này và không ngờ bố tôi lại có thể làm cái chuyện bất thường như thế. Nhưng tôi thì không ngạc nhiên chút nào. Ngày ông còn trẻ ông đã làm nhiều chuyện ngông cuồng. Đang đi làm yên bình ở sở này, ông vì bất bình một chuyện gì, ông xin nghỉ và sang làm một sở khác. Trong cuộc đời ông, ông đã thay đổi việc làm như chong chóng, ông đã không làm một công việc gì quá năm năm. Ông tuyên bố làm lâu một nơi chán, ông thấy cần thiết phải thay đổi. May mà ông là người có chí, ông luôn luôn trau dồi kiến thức, và ông có khả năng trí tuệ phi thường, không có một công việc gì mà ông không làm cho bằng được. Cuộc đời ông đã có những lúc khổ cùng cực, ông đã phải làm những công việc nặng nhọc hay thật tầm thường để tạm sống. Ông có tinh thần đấu tranh phi thường, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào ông cũng cố vươn lên để thoát khỏi sự cơ cực. Ông rất tự hào về những thành quả ông gặt hái được trong cuộc đời. Tất nhiên tôi rất hãnh diện về con người phấn đấu của ông, tôi rất muốn giống ông và ông đã là gương sáng dẫn đường cho tôi đi. Chính vì tôi nhìn vào ông, noi gương ông, mà cũng đã thành công nhanh chóng và tiến lên trong sự nghiệp của mình.

Và như thế bố tôi đi đâu, không ai biết, cho đến một hôm chúng tôi nhận được một tấm thiệp ông gởi về đề tên Bé Mai, đứa con gái đầu lòng của em tôi, sanh ra khi ông không có nhà. Tấm thiệp mang những giòng chữ nắn nót của ông như sau:

Cháu Mai thương yêu của Ông Nội,
Ông rất tiếc khi cháu ra đời ông không có mặt để bồng cháu ngay từ khi mới lọt lòng mẹ. Vì hoàn cảnh đặc biệt ông không thể về ngay thăm cháu, nhưng khi nào ông về thì ông hứa sẽ không quên có quà cho Bé Mai của ông.
Ông hôn cháu và yêu cháu vô cùng.

Nhìn con dấu bưu điện chúng tôi ngạc nhiên thấy rằng ông đã gởi nó từ một tiểu bang xa xôi cách chúng tôi cả mấy ngàn dặm. Thì ra ông đã quyết định ra đi thật xa, đi như thể đi trốn cái nơi đã làm cho ông buồn khổ, đi để mà quên lãng, đi để không còn gì gắn bó với một dĩ vãng đau thương.

Thành phố ông đang ở cũng là một thành phố lớn, nơi đó cũng có nhiều ngưới Việt sinh sống. Tôi chưa bao giờ đặt chân đến nơi đấy nhưng tôi nghe nói nơi đó sinh hoạt của cộng đồng cũng cao, cũng có nhiều người làm ăn buôn bán nhộn nhịp, và nhiều khu cũng sầm uất không khác gì nơi tôi đang ở.

Trong khi chúng tôi rất xúc động khi nhận thiệp ông gởi về thì mẹ tôi vẫn dửng dưng như không. Bà cũng chẳng buồn cầm đến lá thơ mà cũng chẳng hỏi xem bố tôi đã viết những gì trong ấy. Tôi lấy làm lạ sao mà mẹ tôi lại có thể dứt tình với bố tôi như vậy. Tôi muốn tìm hiểu xem bố tôi đi xa như thế để sống với ai, không phải vì tôi tò mò hay muốn tìm cách kết tội ông, mà là vì tôi thương ông. Tôi thương bố tôi vì tôi biết chẳng đặng đừng bố tôi mới phải ra đi như thế, tôi biết rằng xa các con cháu ông nhớ lắm và cũng khổ sở không ít. Và tôi định tâm một ngày nào gần đây tôi sẽ xin nghỉ một tuần lễ để đi tìm ông.

Tôi chưa kịp đi thì bố tôi về. Ông về vào lúc đêm tối khi mẹ tôi đã đi ngủ, ông lẳng lặng mở cửa vào nhà, rồi vào phòng ông nghỉ. Sáng hôm sau khi mà mẹ tôi còn ngủ thì ông đã thức dậy pha trà uống và ngồi đọc báo ở ngoài phòng khách. Nghe tiếng động mẹ tôi tỉnh dậy và thấy ông, bà rất ngạc nhiên. Ông đi như vậy là gần ba tháng trời, ra đi ông không nói cho ai hay mà về cũng chẳng báo trước. Mẹ tôi nói:
- Tôi tưởng ông đi luôn rồi chứ! Sao lại còn về? Tôi tưởng ông đi cho sướng cái thân thì còn về nhà làm gì cho khổ thêm cả tôi nữa?

Bố tôi cứ im lặng chẳng nói câu gì. Mẹ tôi nói thêm:
- Nó bòn hết của rồi nó đuổi ông đi chứ gì. Bây giờ lại về lấy thêm tiền mang đi nuôi nó chứ gì?

Cáu quá bố tôi nói lại:
- Bà xem tôi có lấy đồng xu nào mang đi không nào? Bà đừng có ăn nói hồ đồ. Đừng có làm cho tôi điên tiết lên. Khôn hồn thì để cho tôi yên!

Mẹ tôi vừa đi xuống bếp vừa nói:
- Ông không có tiền thì nó ăn bả gì mà nó nuôi ông?

Thế là bố tôi đập bàn một cái rầm, rồi nói:
- Đã bảo câm cha nó cái miệng lại mà không chịu câm.

Bố tôi đi vào phòng của ông đóng xầm cửa lại. Thế là ông lại trở về với cái thế giới của ông, trong cái thế giới đó không có người vợ oái oăm, khó chịu mà ông nay ghét thậm tệ.

Chiếu thứ bẩy nghe tin bố tôi về, hai anh em tôi mừng rỡ, định tổ chức đi ăn cơm chiều cho cả gia đình. Em tôi bế bé Mai về ra mắt ông nội, ông mừng hết sức, ông ẵm bé, ông hôn, ông không chịu rời đứa cháu cưng của ông. Ông về ông đã mua cho cháu ông một tấm lắc đeo tay bằng vàng tây, ông lấy ra đeo cho cháu rồi bắt chụp cho ông cả chục tấm ảnh ông bồng bé Mai của ông. Thấy ông vui sướng, chúng tôi mừng quá chừng, mẹ tôi tức tối nói:
- Sao ông không đẻ một bé Mai của ông mà ôm mà thương yêu? Lấy một con vợ mười tám tuổi thì nó đẻ cho chứ có khó gì?

Thế là bố tôi giận, không đi ăn cơm chiều nữa, ông nói ông “không đi ăn với con mẹ khó chịu đó”. Ông bảo mẹ tôi là việt cộng, chuyên môn phá hoại, cứ đến lúc cả gia đình vui vẻ thì bà phải làm một cái gì để phá, để chọc giận bố tôi, làm cả nhà hết vui vẻ. Mẹ tôi chẳng cần có bố tôi đi, bà nói tỉnh bơ:
- Bố mày dỗi, để cho ông ấy ở nhà. Mình đi mình cứ đi!

Chúng tôi đành đi mua đồ ăn về nhà, bố tôi không còn hứng, ông ăn hai ba miếng rồi bồng bé Mai vào trong phòng ngồi ôm cháu. Mẹ tôi ngồi ăn vui vẻ như không có chuyện gì, trong khi chúng tôi thì rầu thối ruột.

Những ngày ông ở nhà, chiều nào ông cũng đến thăm các cháu nội, nhất là cháu bé gái bé bỏng của ông. Nhưng vì ở nhà không được vui, hai tuần sau ông lại ra đi, ông đi mà không nói trước với ai, tự dưng ông biến mất, không để lại một vết tích gì.

Thế rồi mỗi tháng ông biên thơ về cho các cháu, ông hỏi thăm, nói chuyện này nọ, và thơ nào ông cũng nói ông nhớ chúng nó, nhất là bé Mai của ông. Ông muốn chúng tôi gởi hình các cháu cho ông và ông cho một hộp thơ để chúng tôi gởi tới đó.

Sáu tháng trôi qua, không thấy ông về thăm nhà, chúng tôi sốt ruột, tôi bèn xin nghỉ một tuần đi tìm ông. Tôi nghĩ tôi biết thành phố nơi ông ở, tôi chỉ cần đi hỏi thăm thì sẽ tìm được ra ông, nhưng tôi đã lầm. Năm ngày trời tôi đi khắp các khu phố có người Việt làm ăn buôn bán hỏi thăm, không ai biết và không ai nhận ra người trong tấm hình của bố tôi mà tôi đưa cho xem. Ban ngày tôi đi mỏi cả chân, chiều tối về khách sạn, tôi điện thoại cho những người quen biết ông hiện đang ở vùng này để xem bố tôi có liên lạc với ai không, thì cũng không ai biết tin gì vì ông không hề tiếp xúc với họ. Thật là một chuyện lạ lùng, như thể ông muốn giấu hết tất cả mọi người về sự hiện diện của ông ở nơi đây.

Đến tối hôm thứ sáu, khi tôi đã thất vọng tưởng phải bay về tay không, thì bố tôi gọi điện thoại đến khách sạn hỏi tôi. Ông nói ông được biết tôi đi tìm ông nên ông muốn gặp tôi nói chuyện. Ông hẹn sáng thứ bẩy hai bố con đi ăn sáng gặp nhau, vì chiều tôi đã lên máy bay trở về. Ông cho nơi hẹn và giờ hẹn rồi thôi không nói gì hơn nữa.

Đêm hôm ấy tôi trằn trọc không ngủ được. Tôi không hiểu tại sao ông biết tôi đến đây đi tìm ông mà ông gọi? Tại sao ông lại chọn nơi này mà đến ở? Ông sống với ai nơi đây? Thật là những điều bí hiểm.

Sáng hôm sau tôi đến nơi hẹn sớm cả nửa tiếng đồng hồ vì tôi muốn xem ông tới bằng cách nào và với ai. Đúng giờ hẹn tôi thấy một chiếc xe hơi loại sang đậu lại cách nơi đây vài trăm thước và tôi thấy ông bước xuống. Ông mặc một bộ đồ mà tôi chưa thấy bao giờ, trông rất lịch sự, ông bước rất khoan thai, vẻ mặt tươi tỉnh, không ủ rũ như khi ở nhà. Cái gì làm ông thay đổi như vậy, tôi tự hỏi. Tôi thấy ông đẩy cánh cửa tiệm ăn, nhìn một vòng, thấy tôi, ông cười và tiến tới. Ông nói:
- Làm gì mà con phải đi tìm bố vậy? Thư thả rồi bố về chứ gì?
- Con muốn sang đây thăm bố và xem bố sống làm sao. Ở nhà chúng con hơi lo…
- Sao phải lo? Bố sống ở đâu chẳng được? Thôi con đã đến đây thì để bố kể hết chuyện cho con nghe. Con lớn rồi chẳng có gì mà phải giấu con nữa.

Người hầu bàn đến, chúng tôi gọi phở và cà phê đen. Bố tôi hỏi chuyện ở nhà ra sao, tôi nói mọi chuyện vẫn bình thường, các cháu nhớ ông lắm, chúng cứ hỏi ông đâu. Nghe nói vậy vẻ mặt bố tôi hơi thay đổi, phảng phất một nỗi buồn, tôi biết ông cũng nhớ các cháu ông lắm.

Phở mang ra, chúng tôi vừa ăn vừa nói chuyện. Tôi hỏi:
- Bố ở đây với ai? Ăn uống làm sao?
Ông ngừng ăn, tay vẫn còn cấm hai chiếc đũa, nhìn tôi như muốn xem tôi có ẩn ý gì không. Ông ăn thêm vài ba gắp rồi đẩy bát phở sang một bên, cho đường vào cà phê uống. Ông nói:
- Bố ở với một người bạn quen từ lâu lắm rồi, con không biết bà ấy. Bố quen từ trước khi lấy mẹ con.
- Bố tìm bà ấy hả bố?
- Không, tình cờ bố gặp lại. Đã gần bốn mươi năm trôi qua. Bố không nhận ra bà ta nhưng bà nhận ra bố. Thật là một chuyện lạ lùng!
- Bố gặp hồi nào?
- Cách đây năm năm, ở Paris, tại nhà một người bạn chung của hai người.
- Sau đó bố vẫn tiếp tục liên lạc?
- Thỉnh thoảng, bố nói chuyện điện thoại thôi. Lúc sau này bố buồn thì tâm sự nhiều hơn. Bà ấy góa chồng đã hơn mười năm nay rồi, có một đứa con gái nay cũng bằng tuổi con. Bà làm ăn buốn bán nên khá gỉa, nhà cửa rộng mà không có ai ở, chỉ có hai mẹ con nên mời bố sang chơi.
- Thế rồi bố ở luôn ?
- Không bố đâu có tính ở luôn? Ở nhà lúc nào tinh thần cũng căng thẳng, làm sao bố chịu mãi cho được. Bố bị suy nhược thần kinh vì thế. Ở đây thoải mái, bố thấy dễ thở, bố bớt u sầu, không còn buồn bực. Bố ở tạm một thời gian cho khỏe lại…
- Con thấy bố có khá hơn ở nhà, bố bình thường hơn trước, con mừng lắm. Nhưng ở như thế mãi sao tiện?
- Người ta mời bố, chứ bố có xin đâu? Nhà cửa rộng thênh thang để không, không ai chăm nom, bố làm quản gia, người ta còn mừng. Nói thế chứ bà ta thương bố, thấy bố buồn khổ, muốn giúp. Bố không thấy có gì phiền hà…
- Cơm nước thì sao hả bố?
- Ở chung nhà thì ăn chung chứ có gì đâu? Bố ăn đâu có bao nhiêu?
- Bố có góp tiền hàng tháng không?
- Bà ấy đâu chịu lấy? Bà nói, bố đến ở là vui cửa vui nhà, bố không phải lo lắng gì cả. Tiền mà làm gì hả con?
- Thế còn tiền máy bay đi về?
- Con Thủy nó mua cho bố. Quần áo bố mặc cũng vậy, nó thương bố lắm! Mỗi lần bố về nhà, cả hai mẹ con cứ thấp thỏm, chỉ sợ bố không qua nữa!
- Vì vậy mà lâu quá bố không về nhà?
- Có lẽ vậy. Không có vé máy bay thì làm sao về? Mà về đến nhà là lại có chuyện, bố không muốn về nữa! Mẹ con đâu còn thương bố nữa?
- Bà ấy thương bố nhiều lắm phải không?
- Không biết, nhưng ở đây không bao giờ có một vấn đề gì để buốn phiền!
- Bố thích ở đây hơn?
- Không hẳn là thế! Hoàn cảnh bó buộc. Bố đâu còn cách lưạ chọn nào khác? Xa con và các cháu, bố nhớ lắm chứ!
- Con biết! Thôi con nghĩ thế này cũng được. Bố cần có cuộc sống riêng của bố, con không dám nói gì.
- Con về cứ coi như không tìm ra bố. Chớ có nói gì với ai. Cái này là bí mật giữa hai bố con mình.
- Thưa bố vâng!

Chưa bao giờ bố tôi lại tâm sự với tôi như thế! Tôi nghĩ ông cảm thấy thoải mái hơn sau khi cho tôi biết những gì ẩn náu trong lòng ông từ nhiều năm nay. Sau khi ông đã chia sẻ nỗi lòng của ông với tôi, ông không còn phải chịu cái gánh nặng ấy một mình. Tôi thấy hình như ông thở ra khoan khoái, và ông ra về vui vẻ. Ông ôm vai tôi, chúng tôi ra cửa, ông leo lên chiếc xe vẫn chờ từ nãy giờ nơi đó, tôi về khách sạn để chuẩn bị ra phi trường.

Những lần sau ông về, ông ở nhà hai vợ chồng tôi, ông vui chơi với các cháu nội, nhưng về được một tuần, ông lại sốt ruột đòi ra đi. Tôi hiểu ông nên không dám nói gì. Chỉ có các cháu nhỏ, chúng cứ nhao nhao “Ông nội đừng đi! Ông nội đừng đi!” làm ông chảy nước mắt mỗi khi ra đi.

Tôi cũng một năm hai lần lấy cớ đi họp, sang thăm ông vài ba ngày. Chúng tôi chỉ gặp nhau ở nơi công cộng, ông không bao giờ cho tôi biết nơi ông ở, càng không cho tôi biết ngươì đàn bà bí mật mà ông ở nhờ.

Cứ như thế được mười năm trời. Rồi một hôm ông về, ông ốm nặng đòi tôi đưa vào nhà thương. Mới vào hôm trước hôm sau thì ông qua đời. Những lần tôi vào với ông vào những giờ chót ông sắp ra đi, tôi thấy hai người đàn bà, một người lớn tuổi như mẹ tôi, ăn mặc sang trọng, ngồi nơi chiếc cửa sổ cách phòng bố tôi nằm chừng mươi thước. Trông họ nghiêm trang và có vẻ buồn rầu lắm. Tôi biết ngay đó là Thủy và mẹ chị, người đã nuôi dưỡng chăm sóc bố tôi hơn mười năm qua.

Những ngày xác bố tôi quàn ở chùa, tôi thấy suốt ngày bóng dáng hai người đàn bà ấy lảng vảng ở sân chùa, người mẹ cầm chiếc khăn tay lau mắt. Tôi lấy làm xót xa cho bà, vì bố tôi chết, mẹ tôi không buồn, không khóc mà bà thì đau đớn sụt sùi. Và bà lại không được khóc công khai! Thật là một sự bất công, nhưng làm sao được? Định mệnh đã an bài như thế! Ngày xưa bố tôi đã bỏ người con gái ấy để lấy mẹ tôi. Thế mà một đời, người ấy vẫn thương vẫn muốn làm sao cho bố tôi bớt khổ. Công lao ấy tôi ghi trong lòng mãi mãi.

Hướng Dương

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

HOA KỲ VÀ TC VỚI CHÍNH SÁCH
NGƯỢC CHIỀU TẠI VIỆT NAM


Lý Ðại Nguyên
Đô đốc Mike Mullen, chủ tịch Ban Tham Mưu Liên Quân Hoakỳ, viên tướng hàng đầu của Mỹ vừa lên tiếng ở Hiệp Hội Châu Á tại Washington, ngày 10/06/2010, về việc Trungcộng tăng cường sức mạnh quân sự và ngưng các quan hệ quân sự với Hoakỳ. Rằng: “Mức độ đầu tư mạnh vào khả năng quân sự hiện đại trên biển và trên không mới đây, dường như không phù hợp với mục đích mà Trungquốc tuyên bố chỉ là để bảo vệ lãnh thổ. Nhưng các khoảng cách rộng lớn dường như đang thành hình giữa ý định mà Trungquốc tuyên bố so với các chương trình quân sự của họ, khiến cho tôi phải suy nghĩ xa hơn là chỉ thắc mắc về kết quả nhiên hậu. Và quả thực, tôi đã đi từ thắc mắc đến lo ngại thực sự”. Lời nhận định trên đây của tướng Mullen đưa ra sau lời phát biểu của bộ trưởng Quóc Phòng Mỹ, Robert Gates, vào ngày 03/06/2010, trên đường đến dự hội nghị an ninh cấp vùng tại Singapore, nhằm tố cáo các sĩ quan cao cấp của quân đội Trungcộng không theo đuổi chính sách giống như các nhà lãnh đạo lão thành của họ, đã tìm cách phát triển những lãnh vực khác trong mối quan hệ giữa Hoakỳ và Trungcộng.

Không chỉ đô đốc Mullen lo ngại về tham vọng bành trướng của giới ‘quân phiệt’ Trungcộng, mà các nước Đông Nam Á, từ trước tới nay vốn chủ trương gia tăng sự phụ thuộc kinh tế giữa Asean và Trungcộng, cho đó là một biện pháp tích cực trong việc ngăn cản các mối lo ngại trong khu vực. Nhưng dù đã ký: Tuyên Bố Ứng Xử của các bên trên Biển Đông năm 2002 giữa Trungquốc và Asean, mà Trungcộng vẫn ngang nhiên đơn phương tuyên bố chủ quyền trên 80% diện tích toàn vùng, đồng thời đem tầu chiến xuống khống chế các nước ven biển. Không những Trungcộng trực tiếp chiếm quyền làm chủ quần đảo Hoàngsa và một số đảo trong Trườngsa của Việtnam. Các cuộc tập trận hải quân của Trungcộng hồi tháng 3 và tháng 4 năm nay đã chứng minh, cho phép hải quân của họ lần đầu tiên vượt ra đại dương, tiến đến Nhậtbản, Đàiloan, Philipines, Brunei, Indonesia, Malaysia, nuốt trọn thủy lộ chiến lược quốc tế Malacca. An ninh khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương thực sự bị ‘Quân Phiệt Trung Cộng’ đe dọa.

Tại sao lại gọi là ‘Quân Phiệt Trung Cộng’? Vì quyền lực lãnh tụ của đảng Cộngsản Trung Hoa theo Mao Trạch Đông, đều ‘dựa trên nòng súng’. Mao Trạch Đông sở dĩ có được quyền lực tuyệt đối vì ông ở chức vụ ‘Thống Soái’ quân giải phóng, trực tiếp chỉ huy quân đội, chủ tịch đảng, chủ tịch nước. Đặng Tiểu Bình cũng là một trong thập ‘Đại Nguyên Soái’ của quân đội Trungcộng, nên quyền lực của ông mới kéo dài trong đảng, trong nước cho tới chết, dù sau khi không còn chức tước gì của đảng và chính phủ nữa. Giang Trạch Dân tuy là tổng bí thư đảng, kiêm chủ tịch nước, mà vẫn phải núp bóng Đặng Tiểu Bình để ngoan ngoãn đưa Hồ Cẩm Đào đuợc Đặng Tiểu Bình chỉ định, vào chức tối cao lãnh đạo đảng và nhà nước. Như vậy đàng sau những người cầm đầu chính trị tại Trungquốc, thực lực trước sau gì cũng nằm trong tay giới chức quân sự. Vì giới lãnh đạo chính trị độc tài cộng sản, phải dùng tới sức mạnh của các lực lượng vũ trang để khống chế, tước đoạt mọi quyền tự do của dân chúng. Đồng thời nuôi dưỡng tinh thần ‘Đế Quốc Đại Hán’ trong tư tưởng toàn dân, qua việc tăng cường sức mạnh quân đội, Tạo thành niềm tự hào dân tộc của một đại cường ngang tầm với siêu cường Hoakỳ.

Giới lãnh đạo chính trị Trungcộng, biết rõ là nền kinh tế Trunghoa vẫn phải nương vào Mỹ, khả năng quân sự của nước họ còn thua xa Mỹ, quyền lực chính trị quốc tế chưa đủ mạnh bằng Mỹ. Nhưng Hoakỳ hiện nay đã qua thời kỳ ‘tạo lập sức mạnh’ toàn cầu cho riêng mình, cả về kinh tế, quân sự, chính trị, mà bước sang thời cùng giúp nhau giải quyết vấn đề ‘toàn cầu hóa’. Từ ‘kinh tế thị trường toàn cầu hóa’, tiến lên ‘dân chủ hóa toàn cầu”, tới ‘phòng thủ chung toàn cầu’. Nước Mỹ không còn theo đuổi chính sách dùng các chính quyền ‘vệ tinh’ cho mình nữa, mà mở rộng bang giao và ngoại thương với tất cả các nước có chế độ khác nhau, miễn là các nước đó không giúp cho phong trào ‘khủng bố quốc tế’. Nhưng lại đặt vấn đề Nhân Quyền lên hàng đầu của chính sách ngoại giao quốc tế. Tức là không chỉ thắt chặt liên hệ về mặt chính quyền quốc gia, mà thúc đẩy các chính quyền của mỗi nước đó phải tôn trọng nhân quyền của công dân nước họ. Thế nên nước Mỹ trước đây đã ban hành luật về Tự Do Tôn Giáo. Ngày 17/05/2010, tổng thống Mỹ, Obama đã ký ban hành đạo luật Daniel Pearl, ủng hộ Tự Do Báo Chí Toàn Cầu. Mang tên của nữ ký giả của tờ Wall Street Journal đã bị quân khủng bố giết tại Pakistan năm 2002. Ngày 15/06/2010, bộ ngoại giao Mỹ đưa Việtnan và một số nước vào danh sách quan ngại về tệ nạn buôn người. Chính vì chủ trương tự do cho toàn nhân loại này của Mỹ, mà Trungcộng và các nước còn bị cai trị bởi chế độ độc tài vẫn chỉ ‘bằng mặt chứ không bằng lòng’ với chủ trương của Mỹ.

Đây là một trở ngại lớn đối với chủ trương ‘nhập nội’ Việtnam của Hoakỳ. Việtcộng biết rõ, ‘Đi với Mỹ thì mất đảng’ Vì sớm muộn gì Việtnam cũng phải ‘dân chủ hóa’ thì mới trở thành một nước giầu mạnh thực sự, có căn bản từ toàn dân, phát huy được nội lực dân tộc, đủ sức chủ động gia nhập ngang tầm với các nước khác trong tiến trình toàn cầu hóa khắp mặt, mới đủ sức tự phòng vệ đất nước, để cùng với khối Asean phát triển kinh tế và thế lực chính trị, làm cùn nhụt tham vọng ‘bành trướng’ của ‘Quân Phiệt Trungcộng’. Nhưng kể từ năm 1991, Việtcộng đã quay lại thần phục Trungcộng. Đảng cộng sản Việtnam đều bị nằm trong sự an bài của đảng cộng sản Trunghoa, qua sự kiểm soát trực tiếp của Tổng Cục II Việtcộng, trực thuộc sở Tình Báo Hoa Nam Trungcộng. Nên Trungcộng đã không cho Việtnam ký hiệp ước Quy chế Thương Mại Bình Thường Vĩnh Viễn -PNTR- với Hoakỳ năm 1999, phải để cho Trungquốc ký trước một năm, cướp được tiên cơ đầu tư quốc tế, mãi đến ngày 13/07/2000, Việtnam mới được ký, thành ra ‘trâu chậm uống nước đục’. Nên về mặt kinh tế Việtnam vẫn là đàn em của Trungcộng.

Hiện nay chính sách của Trungcộng là nắm thật chắc chính quyền Việtcộng tại Hànội để thực hiện kế hoạch ‘tằm ăn dâu’ Việtnam và toàn vùng Đông Nam Á. Còn Hoakỳ thì cũng quyết ‘nhập nội’ toàn diện tại Việtnam, nhưng lại với chủ trương trao trả quyền lực lại cho Người Dân Việtnam, mà không thể mạnh tay áp dụng ‘chiến tranh nhân dân’ theo kiểu cộng sản thời chiến tranh lạnh đối với Mỹ. Chỉ có thể hỗ trợ cho các cuộc ‘đấu tranh ôn hòa’ của toàn dân đòi ‘dân chủ hóa’, buộc nhà cầm quyền phải thay đổi luật lệ từ độc tài sang tự do. Trong nhất thời, thế của Mỹ ở Việtnam xem ra yếu hơn Trungcộng, vì Trungcộng vẫn có lợi điểm dùng sự tự nguyện của chính quyền cộng sản Hànội để đàn áp các phong trào đòi tự do dân chủ nhân quyền, chủ quyền dân tộc và toàn vẹn tổ quốc của người dân Việtnam. Ngược lại, Mỹ đôi khi phải nhân nhượng nhà cầm quyền Hànội để tranh thủ những thoả thuận về chiến lược của Hànội với Mỹ, nhằm tách Việtnam khỏi ảnh hưởng của Trungcộng. Khó vậy thay!

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Những ngôi chùa linh thiêng ở Tứ Xuyên Các chùa Tây Tạng, Trung Quốc, thường giống nhau ở điểm quanh chùa luôn có rất nhiều pháp luân (Mani luân) bằng gỗ hoặc kim loại, và bao quanh pháp luân không thể thiếu câu chú thần thánh Om Mani Padme Hum.

Thị trấn Ganzi thuộc khu tự trị Ganzi, Tứ Xuyên, vùng đất đậm đặc văn hóa Tây Tạng của vùng Kham, nơi đã đi vào giấc mơ của biết bao kẻ du hành lãng mạn khắp thế giới, vì ngưỡng mộ văn hóa và cả sự kiêu hùng của các chiến binh Khampa của một thời.

Đương lúc đỉnh đông nên tất cả những mái nhà cổ xưa và cả hè phố của Ganzi đều phủ một màu tuyết trắng tinh khiết lãng mạn và đường phố trở nên vắng lặng đến mức bạn có thể nghe rõ cả những cơn gió đông đang thổi qua thị trấn. Tôi đứng trong một con hẻm nhỏ không một bóng người ở thị trấn Ganzi, có cảm giác như mình đang sống trong một cổ trấn thường được mô tả ly kỳ trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung.

Ở đây, điều tôi mê nhất là lang thang tìm đến các ngôi chùa nhỏ ẩn trong các ngõ sâu ven đường, vì tôi biết chỉ có những ngôi chùa chẳ̃ng mấy ai biết đến mới có thể cho tôi cảm nhận và trải nghiệm đầy đủ về đời sống tinh thần và tôn giáo của con người Tây Tạng. Đây là điều mà những ngôi chùa danh tiếng trong các tour du lịch hoặc Lonely Planet không thể có được.
Image
Một ngôi chùa cổ ở Ganzi. Ảnh: Kim Sơn.
Tuy có thể khác nhau về kiến trúc và vật liệu xây dựng, nhưng các chùa Tây Tạng thường giống nhau ở điểm quanh chùa luôn có rất nhiều pháp luân (Mani luân) bằng gỗ̉ hoặc kim loại, lớn nhỏ tùy theo quy mô của chùa. Bọc quanh pháp luân không thể thiếu câu chú thần thánh Om Mani Padme Hum đã ăn sâu vào tâm khảm những người yêu mến Phật giáo toàn thế giới. Đây là pháp khí phổ biến nhất trong đời sống tôn giáo của người Tây Tạng dù ở bất cứ nơi đâu.

Mỗi ngày, hàng trăm tín đồ phật giáo Tây Tạng, thị dân và du mục, lại đến rồi rảo bước quanh chùa, vừa niệm kinh tay vừa xoay tròn những bánh xe thiêng để cầu xin sự cứu rỗi cho mình và thế nhân.

Xem ảnh đền chùa nhà cửa ở Ganzi.
Cùng hòa mình vào dòng người đang đắm hồn trong cảm xúc thiêng liêng đó, tôi bỗng nhận ra rằng mình cũng chẳng khác gì họ, tôi cũng đang để tâm hồn mình được giải thoát khỏi những bức xúc và thất vọng mà cuộc sống hiện đại đã ám vào tâm trí suốt nhiều năm qua.

Lúc đó tôi cũng ngộ ra rằng, không ít điều mà tôi đã và đang theo đuổi ở chốn đời thường chỉ là thứ phù du. Và cũng trong những lúc đó tôi mới thực sự cảm nhận hết được sự chân thành, bình dị bên trong những con người Tây Tạng.
Image
Đường phố Ganzi mùa đông. Ảnh: Kim Sơn.
Tương phản với những ngôi chùa bé nhỏ cũ kỹ nằm khuất trong các hẻm nhỏ của thị trấn hay những ngôi đền bình dị ở các làng mạc xa xôi là những ngôi chùa to đẹp, thường rất nổi tiếng với cả một chiều dài lịch sử. Những nơi này thường cũng là chốn hành hương của rất nhiều dân Tây Tạng, trong số đó phần lớn là dân du mục đã phải đi bộ suốt nhiều ngày đường dưới băng tuyết để đến được nơi mà họ tin là thần thánh đang ngự trị.

Thị trấn Ganzi tuy rất nổi tiếng đối với giới thích tìm hiểu về đời sống và văn hóa của dân Khampa, nhưng thị trấn này lại khá bé và nghèo, đã vậy từ lâu đời, dân Khampa lại có tính tự tôn về truyền thống văn hóa và lịch sử của mình, dẫn đến sự xa cách với các nền văn hóa khác. Do vậy, bạn hiếm khi nhìn thấy bóng dáng người Hán ở vùng này, ngoài trừ vài ba người hết đất sống dưới xuôi đến đây mở quán ăn.

Một buổi sáng, khi đang đứng ngắm nghía những món đồ xưa cũ của một lão du mục đang bày bán trên phố, bỗng một gã Khampa tóc tai bù xù xõa đến tận vai, đang khoác chiếc áo dài truyền thống cũ mèm bước về phía tôi. Miệng gã tuy cười nhưng đôi mắt nhuốm đôi chút màu sắc hoang dã của gã như dán chặt vào mắt tôi, khiến tôi cũng hơi chột dạ .

Khi thấy tôi nhìn với ý dò hỏi, gã liền vung tay múa chân, kèm theo là vài tiếng Hán bập bẹ rời rạc, nhưng cũng đủ để tôi đoán ra là gã muốn tôi theo gã về nhà để xem thứ gì đó mà gã nuốn bán. Vừa tò mò lại vừa cảm thấy chạnh lòng khi nhìn gương mặt hốc hác của gã, tôi lặng lẽ cùng bước theo gã về nhà.

Theo gã bước lên căn gác gỗ tối tăm tôi mới biết gã còn có vợ và một đứa con trai có dáng vẻ chẳng khác gã là mấy. Chẳng cần chào mời khách sáo gì cả, gã Khampa lôi ra chiếc tráp đồng cổ xưa khá to, rón rén đặt trước mặt tôi rồi từ từ mang ra tất cả những thứ đã gắn chặt bao đời với cuộc sống của một du mục Tây Tạng thời xa xưa: dao, bùa chú, dụng cụ đánh lửa, túi da đựng rượu và cả một chiếc trống to đùng thường được các lạt ma gõ mỗi khi tụng kinh đang treo trên vách gỗ ẩm mốc.

Rời khỏi nhà người Khampa, tôi trở về nơi trọ trong tâm trạng vui buồn lẫn lộn vì vừa có được những món quà đích thực của vùng Kham, nhưng lại trong một hoàn cảnh mà tôi chẳng hề mong đợi chút nào. Nhưng dù sao thì đây vẫn là một trong những kỷ niệm khó quên mà tôi có được trong suốt những quãng đường dài thăm thẳm trên cao nguyên Tây Tạng, vùng đất tôi sẽ còn trở lại trong quãng đời còn lại.

Kim Sơn

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Rằng vui thì thực là vui!

Image
Một khóa họp của Quốc Hội Cộng Sản Việt Nam tại Hà Nội. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Quốc Hội Việt Nam vừa bác bỏ dự án xây dựng đường sắt cao tốc gây tai tiếng trong dư luận suốt mấy tháng qua. Rõ ràng đây là một tin vui cho tất cả mọi người Việt Nam có lương tri, đặc biệt là những chuyên gia kinh tế, kỹ thuật yêu nước. Nhưng sẽ là ngây thơ khi cho rằng Quốc Hội Việt Nam đã chuyển biến theo xu thế dân chủ. Một quyết định đúng với nguyện vọng của đại đa số dân chúng vẫn có thể chỉ là sự trùng hợp với ý định riêng của một chính quyền độc tài. Có thể đó chỉ là kết quả của sự bất đồng giữa các nhóm đặc quyền khác nhau trong chính quyền độc tài hoặc chỉ là thủ thuật mỵ dân cổ điển của những kẻ nắm quyền chóp bu nhằm xoa dịu dư luận đang hết sức sôi sục.

Với cơ cấu hiện nay của Quốc Hội Việt Nam, có hơn 90% đại biểu là đảng viên Cộng Sản, thì việc Quốc Hội dám làm trái với ý của Ðảng Cộng Sản Việt Nam cũng có thể nói là kỳ lạ như việc nước chảy ngược lên núi. Chúng ta làm sao quên được kỳ họp ngay lần trước của Quốc Hội đã phớt lờ cả công luận hết sức đồ sộ, trong đó có cả hàng ngàn trí thức hàng đầu và cả ý kiến của vị đại công thần duy nhất còn sống của chế độ, phản đối một dự án hệ trọng hơn nhiều - Bauxite Tây nguyên. Như vậy không thể nói Quốc Hội Việt Nam đã thể hiện đúng nguyện vọng của dân chúng hay phiên họp đã có “chất lượng, thẳng thắn và dân chủ.” Thực chất, đây chỉ là một sự trùng hợp với quyết định của Ðảng Cộng Sản Việt Nam mà thôi. Chưa kể những kẻ cầm quyền độc tài vẫn có thể đảo ngược quyết định bằng cách “trình lại” cho Quốc Hội. Và chưa nói đến bao giờ Quốc Hội mới dám chất vấn những việc thiết thực và hệ trọng như đảng sử dụng tiền thuế của dân ra sao, hay Ðiều 4 Hiến Pháp đang cản trở phát triển của đất nước như thế nào.

Tuy nhiên việc Ðảng Cộng Sản Việt Nam phải (tạm) thay đổi bất ngờ ý định làm đường sắt cao tốc theo hướng phản biện của công luận độc lập vào phút chót cũng cho thấy trong vụ việc này báo chí độc lập đã thành công ở một mức độ nhất định trong việc phân hóa quan điểm nội bộ của chính quyền độc tài hoặc/và dự án này vẫn chưa bị ràng buộc chặt chẽ bởi những thế lực quan thầy Trung Quốc như dự án Bauxite. Dù thế nào thì xã hội cũng đã được hưởng và cảm được ít nhiều tầm quan trọng của những cơ quan ngôn luận độc lập, của những tiếng nói độc lập trong việc quản lý đất nước.

Có thể nhiều người, nhất là những đảng viên Cộng Sản, sẽ lại vẫn sai lầm (vô tình hoặc cố tình) cho rằng Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn xứng đáng để người dân tin cậy và trông đợi vào “sự lãnh đạo tài tình của Ðảng.” Nhưng cách đây gần 100 năm, khi bàn về cái lợi của chính thể Dân Chủ và cái hại của Quân Chủ (độc tài), nhà chí sĩ Phan Chu Trinh lúc đó đã nói: “Xét lịch sử xưa, dân nào khôn ngoan biết lo tự cường, tự lập, mua lấy sự lợi ích chung của mình, thì càng ngày càng bước tới con đường vui vẻ. Còn dân nào ngu dại, cứ ngồi yên mà nhờ trời, mà mong đợi trông cậy ở vua ở quan, giao phó tất cả những quyền lợi của mình vào trong tay một người, hay là một chính phủ muốn làm sao thì làm, mà mình không hành động, không bàn luận, không kiểm xét, thì dân ấy phải khốn khổ mọi đường.”( 1) Ngay lúc đó cụ Phan Chu Trinh còn nhấn mạnh về cơ cấu quyền lực nhà nước: “Quyền tư pháp cũng như quyền hành chính của chính phủ, và quyền lập pháp của nghị viện, đều đứng riêng ra, không hiệp lại trong tay một người nào.”( 2)


Do đó chúng ta có thể vui trước việc Quốc Hội Việt Nam vừa bác dự án xây dựng đường sắt cao tốc Bắc-Nam, nhưng chúng ta đừng quên rằng công cuộc Dân Chủ hóa Việt Nam còn cần những thay đổi thực sự hơn rất nhiều đối với hệ thống chính trị và trong nhận thức của người dân.

(Nguồn: Ðối Thoại)

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Xem World Cup, nghĩ về bóng đá Việt Nam

Nguyễn Hưng Quốc.


Nói đến “cái hay”, tôi không muốn nói đến trình độ của bóng đá Việt Nam. Không, có lẽ ai cũng biết bóng đá Việt Nam chưa có gì xuất sắc cả. Chúng ta mê bóng đá, nhưng chúng ta đá bóng, may lắm, chỉ hơn được vài nước trong khu vực. Hơn Lào. Hơn Cambodia. Hơn Brunei, Philippines, Miến Điện và East Timor. Có thể hơn Malaysia chút đỉnh. Có thể. Trong bảy giải Tiger Cup từ 1996 đến 2008, thần chiến thắng chỉ mỉm cười với Việt Nam được có một lần; sáu lần còn lại chia đều cho Thái Lan và Singapore. Về giải nhì, Thái Lan được hai lần; Indonesia ba lần, Việt Nam và Malaysia mỗi nước được một lần.

Bóng đá của chúng ta chỉ dừng lại ở phạm vi khu vực. Lại là một khu vực khá nhỏ: Đông Nam Á. Ở đó, chúng ta khá hơn mức trung bình một tí. Không thể cho một thành tựu như vậy là lớn. Nói thế, tôi tin là mọi người đều đồng ý. Trên sách báo cũng như trong các cuộc chuyện trò, tôi chưa thấy ai nói khác điều đó. Chưa ai dám mơ tưởng chuyện Việt Nam lọt qua khỏi vòng loại của giải bóng đá Á châu. Đừng nói gì là World Cup. Ở phương diện này, mọi người đều biết thân biết phận.

Theo tôi, chính việc “biết thân biết phận” ấy là điều hay. Không chừng là điều hay nhất của bóng đá Việt Nam.

Nói thế vì không phải lúc nào và ở đâu, người Việt Nam cũng “biết thân biết phận” cả. Như trong văn học, chẳng hạn. Tôi đã nghe và thấy nhiều người nói hoặc viết, khá nhiều lần, đại khái: Văn học Việt Nam, đặc biệt thơ và truyện ngắn, không thua kém ai cả. Chúng ta chưa nổi tiếng trên thế giới hoặc chưa đoạt giải Nobel không phải vì chúng ta kém mà chỉ vì chúng ta thất thế: ít người biết tiếng Việt. Giá mà tác phẩm Việt Nam được dịch ra tiếng Anh hay tiếng Pháp nhiều thì thiên hạ... biết tay! Những người rành văn học nước ngoài, nghe thế, chỉ biết im lặng.

Không phải chỉ trong lãnh vực văn học. Trong hầu hết các lãnh vực khác đều thế. Ở đâu cũng có những người đầy ảo tưởng về mình. Thịnh vượng ư? Việt Nam thừa thịnh vượng! Tiến bộ ư? Việt Nam tiến bộ không thua ai cả! Thông minh ư? Việt Nam không hề thiếu thông minh! Dân chủ ư? Việt Nam đã thừa dân chủ!

Để chứng tỏ ưu thế của mình, người ta hiếm khi so sánh với thế giới bên ngoài. Mà là tự so sánh với chính mình trong quá khứ. Đại khái, mọi chuyện bây giờ đều hơn hẳn ngày xưa. Hơn Việt Nam trước 1945. Hơn miền Nam trước 1975. Đại khái thế. Còn các nước khác hiện nay thế nào thì người ta làm lơ, không thèm biết.

Nói cách khác, cái nhìn của người Việt Nam, cho đến nay, vẫn là một cái nhìn nặng tính lịch đại, nhìn ngược về quá khứ. Trong khi cần hơn, là cái nhìn đồng đại, nhìn theo hàng ngang, trong tương quan với thế giới hiện nay, thì vẫn còn khá xa lạ. Nếu có, thường chỉ có ở những người sống ở hải ngoại.

Trong lãnh vực bóng đá, tôi nghĩ có lẽ không có huấn luyện viên hay cầu thủ hay bình luận viên nào lại có nhiều ảo tưởng kiểu ngây ngô như vậy. Phần lớn họ biết người biết ta, biết rõ là họ đang đứng ở đâu trong bậc thang xếp hạng của thế giới. Điều đó chứng tỏ giới bóng đá có được một điều mà rất nhiều giới khác không có hoặc chưa có: thứ nhất, tầm nhìn đương đại; và thứ hai, tầm nhìn toàn cầu hoặc ít nhất, tầm nhìn khu vực. Người ta không nhắm mắt để tự tâng bốc “ta là ta mà vẫn cứ mê ta” như giới làm chính trị mong muốn. Họ luôn luôn so sánh Việt Nam với các nước khác, ít nhất trong khu vực, để biết được những ưu và khuyết điểm của Việt Nam. Tôi cho đó là một điều kiện đầu tiên để phát triển và tiến bộ.

Từ tầm nhìn toàn cầu và/hoặc khu vực như vậy, lãnh vực bóng đá đi tiên phong trong việc toàn cầu hoá: họ chấp nhận vai trò của người ngoại quốc. Các câu lạc bộ và cả Liên đoàn bóng đá Việt Nam sẵn sàng bỏ tiền ra để thuê các huấn luyện viên ngoại quốc. Số lượng cầu thủ ngoại quốc có mặt trong các đội bóng Việt Nam càng ngày càng nhiều. Ngay cả đội tuyển quốc gia cũng có. Chúng ta hãy cứ so sánh với các lãnh vực khác. Có nơi nào người ngoại quốc được nhìn nhận và chấp nhận một cách thoải mái như vậy? Hình như không. Trong các lãnh vực xã hội, không có, đã đành; trong các lãnh vực thuộc về kỹ thuật, chắc cũng không có (Xin lưu ý: không tính những người ngoại quốc tham gia các dự án do ngoại quốc đầu tư hay tài trợ!). Tại sao? Chắc chắn không phải trong các lãnh vực ấy người Việt đủ giỏi, không cần tài năng nào đến từ ngoại quốc cả. Tôi không tin thế. Mà chắc cũng ít người tin thế. Nguyên nhân có thể là vì đố kỵ. Hoặc đơn giản hơn: vì người ta tưởng họ đã giỏi đủ rồi!

Trong lãnh vực bóng đá, ít nhất người ta cũng rất đáng khen ở chỗ: không có cái tưởng như thế.

Sự hiện diện của các huấn luyện viên và cầu thủ ngoại quốc có điều hay khác, có khi quan trọng hơn: Nó làm thay đổi khái niệm yêu nước của người Việt Nam. Nếu không thay đổi hẳn thì ít nhất cũng từng phần, từ từ. Có thể nói dưới ảnh hưởng của toàn cầu hoá, tình cảm yêu nước thể hiện trong bóng đá là thứ yêu nước ít tinh thần dân tộc chủ nghĩa nhất. Và cũng cởi mở nhất.

Xin để ý hai điều này.

Thứ nhất, hầu như người nào ít nhiều quan tâm đến bóng đá cũng đều mong đội bóng của nước mình vô địch. Mọi người đều sung sướng và tự hào trước từng trận thắng. Và, ngược lại, ai nấy đều thất vọng, buồn rầu khi đội nhà bị thủng lưới. Thế nhưng, bên cạnh đó còn có hiện tượng thứ hai: hầu hết, trừ những người mang tinh thần kỳ thị chủng tộc cực đoan, không ai phiền lòng khi thấy trong đội bóng của họ có bóng dáng của người ngoại quốc. Huấn luyện viên là người ngoại quốc ư? Được! Miễn đó là người giỏi. Cầu thủ khác màu da ư? Cũng được! Miễn có khả năng làm bàn được.

Có thể nói, trong bóng đá, người ta rất thực dụng. Họ có thể chấp nhận tất cả miễn, thứ nhất, chiến thắng; thứ hai, chiến thắng ấy mang lá cờ của đất nước họ.

Tinh thần thực dụng ấy không chừng lại là điều hay. Nó phá đổ tinh thần dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi dẫn đến sự kỳ thị và loại trừ những cái khác mình.

Đó cũng là lý do chính đáng để chúng ta tiếp tục say mê bóng đá.

Có phải vậy không?

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

CÂU CHUYỆN TRONG THÁNG 6
TỪ QUÂN LỰC ÐẾN RA MẮT SÁCH...


GIAO CHỈ
Hãy bắt đầu
từ ngày Quân Lực


Cách đây 30 năm, những cựu quân nhân Bắc Cali họp mặt ngày quân lực lần đầu tiên. Lúc đó chưa có truyền thông Việt ngữ. Chỉ có thơ mời để ở các quán ăn và điện thoại Anh em đến với nhau chưa có cờ quạt đông đảo. Chẳng anh nào có được bộ quân phục toàn vẹn. Ðịa điểm là một nhà thờ Tin Lành trên đường Saratoga. Chúng tôi không hát quốc ca Hoa Kỳ. Quốc ca Việt Nam Cộng Hòa hát bằng mồm.

Lá cờ vàng buộc giây kéo lên trần nhà. Nước mắt nhà binh chảy xuống. Ðó là ngày Quân Lực tháng 6 đầu thập niên 80. Anh Nguyễn Hữu Lục nhắc tôi. Hình như đây là ngày Quân Lực tổ chức lần đầu trên thế giới. Lúc đó IRCC gọi là Hội quán Việt Nam đứng ra tổ chức. Ðúng như vậy. Mất nước mới có 5 năm. Tù tập trung không thấy ngày về. Thuyền nhân bắt đầu ra đi. Không khí Quân Lực có phần buồn thảm và thiếu hùng khí. Có anh yêu thơ Cao Tần than rằng: “Chứng chỉ tại ngũ giờ gia hạn nơi đâu?

“Còng lưng gánh nốt đời luân lạc.
Nặng chĩu ngàn cân nhớ nước non.”


Rồi kết luận:

“Ta biết làm gì cho hết nửa đời sau”.

Ấy thế mà ngày nay chúng ta cũng đã tiêu dao hơn phần ba thế kỷ...

Bây giờ trên thế giới người Việt hải ngoại đâu đâu cũng tổ chức ngày Quân Lực. Tất cả các quân binh chủng đều quân phục chỉnh tề, mũ nón xum xuê, cờ quạt huy hoàng, khí thế quân lực của thế kỷ 21 mạnh mẽ hơn 30 năm trước nhiều lắm.

Quân lực tại San Jose

Tại một địa phương như San Jose, Orange County, Texas, vv... hai nơi cùng tổ chức ngày quân lực là chuyện thường. Nhưng năm nay, San Jose chiếm thành tích. Tất cả hai ba lần quân lực. Bên Tập thể chiến sĩ ra thông cáo tổ chức. Thiên hạ gọi tắt là quân lực của ông Ngọ. Hiện ông là người đứng đầu tổ chức Tập thể quân đội tại Bắc Cali. Trước đây cấp trên có đại tá không quân Nguyễn Xuân Vinh làm chủ tịch. Chợt một hôm có con chim xanh hậu duệ từ bên Úc bay qua đã xin bàn tay của giáo sư chủ tịch để đưa chàng về dinh miền Nam Cali. Dù giáo sư chủ tịch đã sang sông, ông Ngọ vẫn đơn phương độc mã làm ngày quân lực giữ tiếng cho tập thể. Phía liên hội cựu quân nhân tổ chức liên tiếp hai kỳ quân lực tại tiền đình quận hạt. Chiều thứ bảy là lễ truy điệu. Qua đến ngày chủ nhật tổ chức ngày quân lực chính thức tại quận Santa Clara.

Mỗi tổ chức mang một tâm tư, một ý nghĩa riêng biệt. Dù kém phần đoàn kết, dù có chút không khí kèn cựa đua tranh, nhưng chỗ nào cũng đầy màu sắc huy hoàng.

Ngày nay không còn không khí cay đắng buồn bã như ngày quân lực thời kỳ 80. Thời xưa cựu quân nhân các quân binh chủng đều mặc đồ dân sự. Chẳng ai biết anh là chiến sĩ đơn vị nào và cấp bậc ra sao. La ve Mỹ uống trôi sầu vạn cổ, để rồi chập chờn ngủ gục bên nhau. Gió lạnh về khuya, chợt tỉnh giấc hỏi rằng:

“Hỡi thằng chiến binh một đời anh dũng,
mày lang thang đất lạ đến bao giờ.”


Thời đó hạ chữ Thằng chiến binh, Mày lang thang, là tác giả tự hỏi mình. Văn chương ai oán và hào sảng biết chừng nào. Bởi vì phần lớn anh em họp mặt đều là dân di tản 75. Dù chạy trước 30 tháng tư vài ngày hay sau 30 tháng tư vài giờ thì cũng là một lũ tan hàng, bỏ chạy. Anh em mang mặc cảm tội lỗi đầy mình. Buổi kỷ niệm quân lực đầu tiên khai mạc nhẹ nhàng và chấm dứt như tan hàng sau khi họp trại. Không có chủ tọa, không có giới thiệu quan khách, không có diễn văn và không kính thưa niên trưởng. Và hình như cũng chưa có niên trưởng nào hiện diện. Bây giờ dường như mọi chuyện đã khác xưa nhiều lắm.

Nhưng sao tôi vẫn nhớ thương cái ngày quân lực nghẹn ngào năm xưa, cách đây 30 năm.

Bây giờ là mùa ra mắt sách

Chuyện Bôxít, sáng thứ bẩy 26-6-10: Cuối tuần này, và cũng là dịp cuối tháng 6-2010 San Jose có quá nhiều sinh hoạt cộng đồng. Và chúng ta sẽ thấy có rất nhiều khoa bảng nói về những đề tài khác nhau.

Nếu quý vị dậy sớm lúc 10 am đến Quốc Tổ Vọng Từ đường số 1 San Jose sẽ có dịp nghe hai nhà trí thức thuộc hai lứa tuổi nói về Bôxít Việt Nam. Kỹ sư môi trường Nguyễn-Trọng-Khoa mới từ Việt Nam qua và giáo sư Hoàng Cơ Ðịnh của San Jose. Ông Hoàng Cơ Ðịnh là tiến sĩ về hóa học nên biết nhiều về Bôxít. Tuy nhiên rõ ràng đây là đề tài thời sự nhưng rất kén khách. Câu chuyện sẽ dành cho giới quan tâm và trông cậy vào quan khách thân hữu.

Nhìn lại Sử Việt

Qua đến buổi chiều thứ bẩy tại VIVO lại có buổi ra mắt sách mà đề tài cũng kén khách. Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng với cuốn Nhìn lại Sử Việt tập II. Tập này viết từ thời Ngô Quyền đến thuộc Minh. Ông Lê Mạnh Hùng ở Luân Ðôn, khác với ông Nguyễn Mạnh Hùng ở DC. Lần đầu tiên ông Hùng London đến với San Jose bằng cuốn Sử số II, nhưng chắc cũng là dịp giới thiệu cả cuốn I và II. Tuy sách kén độc giả nhưng thân hữu của ông là dàn khoa bảng một thời xuất thân từ các đại học Hoa Kỳ trước 75 và tham chính đệ nhị Cộng Hòa. Quý ông nguyên là hàng bộ trưởng trong nội các của tổng thống Thiệu gồm có Khương Hữu Ðiểu, Hoàng Ðức Nhã, Nguyễn đức Cường là những người giới thiệu và chào mừng.

Nữ ký giả Lê Phan, phu nhân của tác giả làm MC. Các trường Trung Nam Bắc, Chu Văn An, Quốc Học Ðồng Khánh và Petruský bảo trợ. Xem ra chỉ riêng tình thân hữu cũng đã đủ đông đảo, nói chi đến tác phẩm. Quan khách có thể được dịp đến nghe các nhà khoa bảng một thời sẽ hùng biện ra sao để đưa khối độc giả đang bận tâm về hiện đại trở về với thời kỳ xa xưa. Phải chi mà tác giả hay các sử gia sớm cho ra mắt cuốn Việt Sử hiện đại từ thời nhà Nguyễn (Gia Long) đến thời nhà Nông (Ðức Mạnh) với những chương sau cùng từ 1954 đến 1975 và từ 1975 đến 2010 sẽ hấp dẫn biết đến chừng nào. Nếu không sớm phát hành sợ rằng độc giả San Jose chúng ta khó mà chờ đợi được.

Ngày chủ nhật tất bật

Hôm nay các nhân sĩ San Jose rất vất vã. Hội chợ tài nguyên của ông thị trưởng mời quý vị đến khai mạc lúc 11 giờ tại Kelly Park, trong đó có Việt Museum. Ðó là ngày chủ nhật 27-06-2010. Toàn gia ăn chơi, picnic với nhiều quà tặng, văn nghệ có ca sĩ thứ thiệt đến từ quận Cam. Có thể vui chơi đến 4 giờ chiều.

Nhưng xin đừng quên giáo sư Nguyễn Tiến Hưng với Tâm tư của tổng thống Thiệu ngồi chờ lúc 12 giờ trưa tại quận hạt Santa Clara. Sách của ông Hưng sẽ còn tranh cải triền miên, những bài viết khen chê tràn đầy trên Internet. Không có cách nào quảng cáo hữu hiệu hơn là có tranh cãi. Tác giả sẽ đơn thương độc mã trả lời thắc mắc và cũng tiếp tục ký tên bán sách, Tướng Nguyễn khắc Bình sẽ là người giới thiệu tác phẩm.

Kỳ ra mắt sách ở Nam Cali đã có con số tham dự và bán sách kỷ lục. Dường như 600 hay 700 người tham dự.

Nhưng văn nhân nghệ sĩ và giới chức San Jose vẫn còn phải nhớ đến một cuốn sách khác cũng ra mắt tại học khu đường Capitol Ave lúc 1 giờ chiều chủ nhật. Cuốn Hương Hồng Quế của tác giả Vũ Lưu Xuân. Chưa hết, nếu bạn nào có vé Văn nghệ nhạc trẻ Fairgrounds thì xin lưu ý là các danh ca thượng hạng đang chờ quý vị từ 4 giờ chiều. Từ Như Quỳnh, Hồng Nhung, Bằng Kiều, Hoài Linh v v......

Tổng cộng gần 30 ca sĩ có mặt với 4 ban nhạc.

Rõ ràng là San Jose quả thực có quá nhiều Sinh Hoạt Cộng Ðồng.
Image

NHẬN XÉT VỀ TÁC PHẨM “TÂM TƯ TỔNG THỐNG THIỆU”
Mặc dù có những ý kiến phê phán chê bai và nhiều câu hỏi được đặt ra nhưng đối với tôi, tác phẩm của ông Nguyễn Tiến Hưng vẫn là một món quà đặc biệt. Suốt bao năm, tôi vẫn cố tìm đọc các đề tài này và luôn luôn ghi lại được nhiều tin tức mới mẻ, dù nhiều hay ít. Tôi đã đọc Hồ so dinh Ðộc Lập bản Anh ngữ và Việt ngữ. Ðọc và bình luận cuốn Ðồng minh tháo chạy. Bây giờ đọc cuốn Tâm tư ông Thiệu, xin có nhận xét sơ khởi. Với nhiều tin tức quan trọng và lối trình bày hấp dẫn, tác giả dù không phải là một sử gia, cũng không phải quân nhân nhưng rõ ràng là một người kể chuyện rất lôi cuốn. Cuốn sách gồm những dữ kiện khô khan nhưng được chia cắt, sắp xếp với nhiều diễn biến và đối thoại của nhân vật nên đã đưa độc giả từ chuyện này qua chuyện khác. Có lúc tưởng gỡ ra được đầu mối nhưng rồi lại thấy mọi chuyện thắt lại. Khó tìm được kết luận rõ ràng. Nhiều nghi ngờ được giải tỏa và nhiều rắc rối buộc lại. Sau cùng chính độc giả phải tự đưa ra nhận định của riêng mình.

Từ quyền lợi giai đoạn của Hoa Kỳ, sự phản bội của đồng minh, sự tùy thuộc quá độ về viện trợ, sự kém cỏi của hàng ngũ lảnh đạo VNCH, sự quyết tâm của cộng sản và sau cùng có thể đổ cho sự nghiệt ngã của định mệnh. Lược qua những trang sách, với một chút hiểu biết cá nhân tôi đã tìm được nhiều tin tức mới mẻ mà chúng tôi, dù đã để ý sưu tầm lâu năm vẫn không rõ. Xin đơn cử vài thí dụ:

1) Chuyện ông tướng
... Sarong (Serong?)


Tác giả Nguyễn Tiến Hưng tham khảo tác phẫm của bà Anne Blair trong cuốn There to The Bitter End (Ở đó cho đến khi kết thúc đắng cay) Sách này đề cập đến chuyện ông chuẩn tướng Úc châu Ted Sarong đã cố vấn cho ông Thiệu và hội đồng an ninh quốc gia về kế hoạch rút quân, tái phối trí.

Vào cái thời kỳ đau thương hoảng loạn đầu năm 1975, cá nhân tôi là đại tá, nguyên giám đốc Pathfinder, đại diện bộ TTM-TCTV trong ủy ban nghiên cứu tái phối trí của thiếu tướng Lê Ngọc Triển, giám đốc trung tâm hành quân Tổng Tham Mưu. Chúng tôi không biết gì về kế hoạch của tướng Sarong. Có thể ông tướng Triển biết mà không tiết lộ? Cũng có thể chuyện này chỉ ở cấp tối cao và rất giới hạn trên phủ Tổng Thống.

Tuy nhiên ủy ban chúng tôi tuyệt đối không bao giờ bàn đến một con đường tái tổ chức và rút quân điên cuồng như vậy.

2) Chuyện 2 tuần lễ sinh tử

Sách của ông Hưng có đề cập đến một kế hoạch hành quân tối mật để giải cứu Nam Việt Nam. Mỹ sẽ trở lại bằng B52 hay đổ bộ TQLC từ biển Ðông. Tất cả đều cần phải có 2 tuần lễ chuyển động từ dinh Ðộc Lập qua tòa đại sứ, về Bạch Cung, qua quốc hội và khi được chấp thuận, Hoa Kỳ sẽ cho chuyển lệnh đến mặt trận Thái Bình Dương. Phía VN phải giữ được 1 đầu cầu. Ít nhất là Ðà Nẵng trong 2 tuần lễ. Kinh nghiệm cụ thể là 2 giờ sáng ngày 7 tháng 2-1965 khi cộng sản tấn công doanh trại cố vấn Mỹ tại Pleiku, 14 giờ sau, phản lực của hải quân Hoa Kỳ trả đũa dội bom tan nát doanh trại Bắc Việt tại Ðồng Hới. Tuy nhiên, năm 65 không phải là năm 75. Với sự ra đi của Tổng Thống Nixon, kế hoạch nầy không bao giờ được đưa ra thảo luận, còn nói gì đến thi hành.

3) Rút về miền Tây

Chúng ta cũng đã từng nghe nói đến kế hoạch rút về miền Tây, nhưng đây là lần đầu tôi đọc được chuyện tác giả Nguyễn tiến Hưng viết về dự trù của ông Thiệu. Chúng ta rất cần tìm hiểu thêm để biết rõ thực sự về đề tài này. Rất có thể đã có sự chuẩn bị của các tướng lãnh miền Tây đón phái đoàn chính phủ Sài Gòn, nhưng chuyện không thành đã đem đến những giờ phút tự sát của 3 vị tướng lãnh quân đoàn IV.

4) Những người còn lại

Ðể duyệt lại những bí ẩn lịch sử của những ngày đau thương cũ. Tại sao rút quân cùng với nhiều câu hỏi tại sao khác, hình như những câu trả lời ngày nay nhận được cũng đã muộn lắm rồi. Bây giờ vào giữa năm 2010, đã 35 năm sau khi miền Nam thất thủ chỉ còn lại một vài nhân chứng quan trọng mà sự hiểu biết cũng như mối liên hệ mang trách nhiệm với lương tâm và đất nước. Ðó là Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung tướng Ðặng văn Quang, Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình và có cả bộ trưởng Hoàng đức Nhã. Còn ai là nhân chứng của những ngày oan nghiệt đó?

Trước sau chúng ta có tất cả 4 ông tổng thống đã qua đời. Tất cả các tư lệnh quân đoàn không còn nữa. Vị thủ tướng cuối cùng đã đi theo tổng thống. Nếu qúi vị còn lại không nói, ai nói? Nếu bây giờ không nói, bao giờ?

Mới đây, trong cuộc phỏng vấn thu hình với nữ ký giả Triều Giang, trung tướng Quang trả lời là ông không biết gì nhiều về quyết định của tổng thống Thiệu. Thậm chí ông nói không có mặt trong buổi quyết định rút quân Pleiku tại Cam Ranh. Trả lời như vậy thì trang sử cũ đối với tướng Quang coi như đã khép kín. Và đối với đại tướng Khiêm có thể cũng không hy vọng gì tìm được những câu trả lời. Riêng Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, và quí vị còn lại, chúng tôi hy vọng sẽ sớm trả lời những vấn nạn cuối cùng của lịch sử. Trước khi cả người hỏi và người có thể trả lời đều đi ra khỏi cuộc đời.

Một chút kết luận sau cùng.

Ông Nguyễn Tiến Hưng là một nhà khoa bảng, không biết gì về quân sự, nhưng tình cờ lịch sử, ông đã ghi lại được những biến cố chiến trường xen kẽ với những dao động chính trị để dành làm tài liệu cho hậu thế. Tài liệu có thể không hoàn hảo và chính xác, nhưng rất quan trọng. Từ đó ta có thể phê phán và suy ra một kết luận. Suốt 21 năm xây dựng 2 nền Cộng Hòa, quân đội là cột trụ của miền Nam. Và sức mạnh của quân đội là kỷ luật. Quân đội không làm chính trị, nhưng tiếc thay, các tướng lãnh lại làm chính trị. Các tướng lãnh hoàn toàn nắm quyền. Binh đoàn và lính tráng cứ y lệnh thi hành. Thượng cấp còn đứng lại ra lệnh, là còn chiến đấu. Không phải là vấn đề thiếu súng đạn. Ðã có những tiền đồn với các sỹ quan cấp úy chỉ huy trung đội ở lại chiến đấu đến viên đạn cuối cùng vì họ biết rằng luôn luôn có đại đội phía sau. Ðó là kỷ luật quân đội. Ra lệnh rút quân vào những ngày giờ cuối cùng của cả miền Nam là phá bỏ cái tinh hoa của quân đội. Tinh hoa của quân đội là chỉ huy và kỷ luật. Tất cả các yếu tố cắt viện trợ, Mỹ bỏ rơi, đường lối rút quân, tham nhũng, cầu đường không đi được, lệnh lạc tiền hậu bất nhất chỉ là những yếu tố phụ. Những nhà lãnh đạo tối cao của chúng ta trong quân đội và chính phủ, trên đỉnh cao quyền lực đã tồn tại nhờ ở tinh thần kỷ luật quân đội.

Chúng ta hoàn toàn không xây dựng được tinh thần Võ sĩ Ðạo như quân đội Nhật Bản. Không xây dựng được tinh thần chiến tranh chính trị như đề nghị của Trung Hoa Dân Quốc. Vì tôn trọng kỷ luật nên cấp dưới sợ cấp trên và suốt 5 năm tàn lụi sau cùng của Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi những sĩ quan tuy cao cấp nhưng vẫn còn là cấp dưới. Chúng tôi không có một lời phê phán và đặt câu hỏi với cấp trên. Chúng tôi mở mắt nhìn thấy cơn hồng thủy dâng cao nhưng hèn nhát không hành động. Kỷ luật quân đội đã tôi luyện chúng tôi thành những người lính triệt để thi hành hầu giữ trọn vẹn sức mạnh quân đội. Nhưng kỷ luật quân đội cũng làm cho chúng tôi tê liêt khả năng vùng dậy làm cách mạng. Ðể cho cả một nội các hoàn toàn không có khả năng lãnh đạo đất nước. Cả một hội đồng an ninh quốc gia gọi dạ bảo vâng. Trước những quyết định sinh tử của toàn quân, toàn dân, cấp trên của chúng tôi hành động như những người mộng du. Trong khi chúng tôi cứ tưởng là các ngài đã có những kế hoạch cao siêu và cân nhắc hết sức cẩn thận. Té ra không phải vậy. Ðể rồi ngày nay đọc tâm tư của ông Tổng Thống vào đoạn cuối cuộc đời, nước mắt anh em cũng đã khô rồi.

Ông Thiệu cai trị đất nước một mình, ông tham khảo với mọi người nhưng ông biết chỉ là hình thức. Toàn thể hội đồng an ninh quốc gia không có ý kiến. Vị đứng đầu lập pháp thường ra phải ở vị trí đối lập nhưng lại hoàn toàn tuân phục tổng thống. Quốc hội không hề thắc mắc ngay cả khi nước đã đến chân, giặc đã vào đến cửa. Tổng thống ôm toàn bộ trách nhiệm chính trị, quốc phòng, ngoại giao trong tay như chuyện gia đình. Sau ông là cơn hồng thủy, toàn bộ miền Nam tan nát. 35 năm nhìn lại là 35 năm đoạn trường. Tù đầy, kinh tế mới, vượt biên, vượt biển. Bao nhiêu người chết, bao nhiêu gia đình tan nát. Thảm kịch xẩy ra như vậy là lỗi của ông tổng thống hay lỗi của chúng ta.

Giao Chỉ, San Jose

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Hình ảnh cuộc biểu tình chống Nguyễn Tấn Dũng tại Hội Nghị G20 tổ chức tạ

Mặc dù trời mưa tầm tã, nhưng đồng bào khắp nơi ở Canada và Hoa Kỳ đã tề tựu về Toronto
để tham gia biểu tình chống thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng và đòi hỏi nhân quyền và dân chủ cho đồng bào quốc nội.
Ước tính có khoảng trên 300 đồng bào tham dự buổi biểu tình này.


Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Nguồn Thời Mới Canada

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

“Hà Nội” của Vũ Bằng, Thạch Lam,
Nguyễn Tuân đang… biến mất

Hà Nội luôn được các nhà văn nhìn dưới góc nhìn văn hóa hết sức chi tiết và kĩ lưỡng. Hà Nội hiện ra như một đô thị có lịch sử lâu đời, giàu có về sản vật, giàu có về truyền thống và đặc biệt là giàu có về bản sắc văn hóa mà chúng ta có thể đọc ra được tinh thần và tâm hồn Hà Nội trong văn học. Khi nhắc đến đề tài Hà Nội trong văn học không thể không nhắc đến ba nhà văn lớn là Nguyễn Tuân, Vũ Bằng và Thạch Lam” – Nhà văn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Văn Giá chia sẻ với độc giả VieTimes về văn hóa Hà Nội trong các tác phẩm văn chương của ba cây bút trên:

Nguyễn Tuân sinh ra và lớn lên trong môi trường nho giáo và thừa hưởng được những tinh hoa trong nề nếp ấy. Khi bước vào đời sống đô thị lai căng lúc bấy giờ, ông thất vọng bởi cuộc sống trong xã hội “kim khí” xô bồ, đang làm xơ cứng, rạn nứt tâm hồn con người. Ông tìm về với những giá trị cũ, tìm lại bóng dáng Hà Nội thông qua những thú chơi của các bậc tao nhân mặc khách trong tác phẩm “Vang bóng một thời” như: Thưởng trà, thả thơ, đánh thơ, hát ca trù, thú chơi hoa địa lan… Toàn bộ những con người trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Tuân về Hà Nội hiện lên như những nghệ sĩ của một thời vàng son đã qua, những người đã chi chút thú chơi tinh hoa để thông qua đó hiện lên hồn dân tộc, hồn đất nước.

Vũ Bằng trút vào những trang văn của mình nỗi nhớ, tình yêu Hà Nội qua “Miếng ngon Hà Nội” và “Thương nhớ mười hai”. Nếu như Nguyễn Tuân ngợi ca phương diện kĩ thuật của các thú chơi và nâng phương diện kĩ thuật lên thành phương diện mỹ thuật, phương diện của cái đẹp (Giáo sư Phan Ngọc) thì Vũ Bằng lại ca ngợi sự tinh tế của các món ăn với sự khoái khẩu của người thưởng thức, hưởng thụ. “Miếng ngon Hà Nội” là kết tinh của một tình yêu với Hà Nội. Còn với “Thương nhớ mười hai” ông viết về 12 tháng với khung cảnh thiên nhiên, đất trời, cảnh vật, con người, văn hóa của Hà Nội và của miền Bắc. Ông đã dành trọn tác phẩm này để viết về văn hóa Hà Nội với chiều sâu của lịch sử và vẻ đẹp của Hà Nội trong nỗi hoài niệm da diết.

Thạch Lam có một tác phẩm về Hà Nội là “Hà Nội 36 phố phường”. Đây là một tập bút kí cũng cực kì nổi tiếng và tinh tế được tập hợp lại từ những bài viết trên báo Ngày nay sau khi ông qua đời. Thạch Lam nhìn cảnh trí, văn hóa, con người Hà Nội trong con mắt của một nhà thơ. Đặc biệt, ông dành rất nhiều trang văn để viết về những món quà quê của những người Hà Nội và những người dân tứ trấn Hà Nội mang về để cho Hà Nội bốn mùa thơm ngát. Qua tác phẩm của mình, ông thể hiện sự xót thương đối với những con người nghèo khó, những người lam lũ. Thạch Lam miêu tả những món quà quê, những người đi bán hàng trong đêm bằng một hồn thơ đầy cảm xúc. Trong văn của Thạch Lam, hình ảnh một người gánh hỏa lò đi trong đêm Hà Nội đung đưa hai chấm lửa và chân bước nhẹ như chân ma và thỉnh thoảng lại vọng lên những tiếng “Dầy giò, Dầy giò…”. Những tiếng rao của những người lam lũ trong đêm như vậy nó dần gom góp lại và làm nên cái hồn vía của phố phường Hà Nội, hồn vía của đất nước. Thạch Lam thương một tiếng rao đêm, thương những người làm ra hạt cốm, thương cả những người gánh cốm rao bán, thương cả những em bé bán hàng rong… Tất cả những gương mặt ấy, những âm thanh ấy chi chút và làm nên hồn vía của kinh kỳ. Ví dụ như cùng nhìn vào ẩm thực Hà Nội, mỗi ông ứng xử và thể hiện một khác. Các ông ấy đều sành ăn lắm, nhưng mỗi ông lại ứng xử một khác trong trang viết của mình. Ông Nguyễn Tuân hiện ra như một bậc tao nhân mặc khách. Ông Thạch Lam cảm thụ như một thi nhân. Còn Vũ Bằng chỉ là một thường nhân. Văn viết về ẩm thực, mỗi ông có một vẻ đẹp độc đáo khác nhau.

Phải thừa nhận rằng những trang viết về Hà Nội của ba nhà văn trên quá đẹp. Nếu không có tình yêu với mảnh đất, với con người của thủ đô thì khó có thể viết được những trang văn như thế. Nhưng hình như những vẻ đẹp của Hà Nội mà Nguyễn Tuân, Vũ Bằng và Thạch Lam đã miêu tả đang dần trở thành quá khứ ?

Trong những trang văn của các ông, Hà Nội hiện ra vô cùng thanh lịch. Nét sang trọng, quý phái, tinh tế là ba phẩm chất được coi là những điểm nhấn mà cả ba ông đều tôn vinh. Những trí thức và những người dân Hà Nội thời đó tiếp nhận tinh hoa của phương Tây những họ vẫn có ý thức giữ lại những nét văn hóa của Hà Nội. Tuy nhiên, ý thức gìn giữ cái riêng cái độc đáo, cái tinh hoa hiện nay không còn mạnh như trước nữa và đang bị phai nhạt trước những xô bồ, nhốn nháo và lai căng. Thế nhưng có những nét văn hóa, những phẩm chất kinh kỳ mang tính chất tinh hoa của Hà Nội nó vẫn đủ mạnh, vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay để chống lại những sự lai căng và chống lại những mưu toan phá vỡ nó, làm lu mờ nó.

Có những nét văn hóa rất đời thường, gần gũi trong tác phẩm của họ giống như những tiếng rao đêm của những gánh hàng rong đã trở nên gần gũi và thân thương với những người dân Hà Nội cho đến tận ngày hôm nay. Và cũng thật đáng tiếc khi cả những điều giản dị đó rồi cũng phải biến mất khỏi đời sống của người dân Hà Nội, tất cả sẽ chỉ còn “vang bóng” và tồn tại trong một niềm “thương nhớ”.

Với Thạch Lam, tiếng rao trong đêm của những người bán hàng rong mang hai ý nghĩa: Một là những tiếng vang của đời sống vọng lại, một tiếng vang bé nhỏ, âm thầm, đơn độc và yếu đuối nhưng nó rất thân thuộc gần gũi mà nếu như khi đi xa hoặc vắng đi những tiếng rao ấy, những con người ấy thì tự dưng ta thấy thiếu. Và những nét riêng như thế là hồn vía của phố cổ, hồn vía của Hà Nội. Hai là những thân phận quá ư bé nhỏ, nghèo khổ lam lũ vất vả kiếm sống mưu sinh trong đêm và dậy lên trong ông một niềm thương xót.

Ngày hôm nay, con người có một nguy cơ trở nên vô cảm khi họ không thấy được những vẻ đẹp, những thân phận con người đằng sau đó. Những trang văn của Thạch Lam đánh thức ta. Nó nhắc ta không được phép vô cảm trước cuộc sống.

Tôi có xem một phóng sự trên tivi, ở nước Mỹ họ cũng cho phép những quầy bán lẻ tồn tại trên phố, buôn bán nhỏ, buôn bán tiểu thương là có. Nhưng Hà Nội có một nét riêng đó là có những người gồng gánh bán rao. Nó góp phần tạo nên cảnh trí và hồn vía của Hà Nội. Vũ Bằng cũng đã từng miêu tả người con gái làng Vòng gánh cốm đi vào Hà Nội, một đầu đòn gánh của cô gái cong vút lên, rất trẻ trung và… rất đĩ. Ông đã có những trang văn rất đẹp về những gánh hàng rong như vậy. Hà Nội là một đô thị không khép kín, xung quanh là những làng nông nghiệp và lại có một vùng rau xanh, chợ xanh, vùng đệm thì những người buôn thúng bán mẹt là một đặc điểm rất riêng của Hà Nội.

Hiện nay chủ trương cấm hàng rong đang gây ra rất nhiều tranh cãi bởi những gánh hàng rong ấy cũng tạo công ăn việc làm cho rất nhiều người. Thứ nữa, họ đã làm giảm lạm phát và thúc đẩy việc trao đổi, mua bán, phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân bởi không phải ai cũng có điều kiện vào siêu thị và những cửa hàng lớn. Việc cấm đoán chưa có một bước khởi động, chuẩn bị gì hết có thể đúng về mặt quản lý xã hội nhưng sai về mặt văn hóa nghĩa là không tham khảo hệ văn hóa của đặc điểm đô thị Hà Nội.

Nhìn trên góc độ văn hóa, hàng rong tạo nên nét đặc trưng của Hà Nội so với các đô thị khác của phương Tây. Liệu rằng chúng ta có nên loại bỏ nó ra khỏi đời sống đô thị của Hà Nội ngay lúc này ?

Có những cái riêng trở thành giá trị và có những giá trị hợp với một thời nào đó chứ không phải là vĩnh viễn, vĩnh cửu. Nếu về lâu dài cho một đô thị hiện đại, lớn mạnh, văn minh, lịch sự thì có thể hàng rong không cần tồn tại. Thế nhưng trong thời điểm này nếu như dẹp là quá vội vàng.

Có một số người họ làm hàng sáng rất ngon và sạch sẽ. Nhiều khi mình mua hàng của họ rất chung thủy. Hàng rong họ có thể phục vụ tận nơi tất cả những nhu cầu thiết yếu và nhỏ nhặt nhất. Có những người bán hàng rong đã trở nên thân thiết bởi họ tạo được uy tín bằng sự thật thà và lương thiện trong những sản phẩm mà họ cung cấp. Có những người bán hàng rong đã trở thành những người thân thiết đối với nhiều gia đình hay nói cách khác là có nhiều gia đình trở thành bạn hàng chung thủy và chung thân với những người bán hàng rong. Đấy là điều mà những người quản lý không nghĩ đến. Nhìn sâu nhìn kĩ chưa chắc chính sách này đã thích hợp.

Chúng ta chỉ nên cấm những người thồ cồng kềnh, cản trở giao thông, những người bán hàng mất vệ sinh còn những người đi bán dạo trên phố, nhất là những gánh hàng hoa rất dễ thương, nó là nét riêng rất đặc trưng của Hà Nội. Những nhà hoạch định khi đưa ra một chính sách mới nếu như không tham khảo văn hóa thì rất dễ duy ý chí bởi văn hóa nó chạm vào chiều sâu vẻ đẹp truyền thống và nó chạm tới cái gọi là tâm thức của con người.

Tuấn Hải

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Tình báo Hàn Quốc phát hiện Kim Jong-il những dấu hiệu bệnh marazm

Ở lãnh tụ Bắc Triều Tiên Кim Jong-il xuất hiện những dấu hiệu của bệnh marazm (Marazm: Trạng thái hoạt động tâm lý và thể chất bị sụp đổ hoàn toàn - Kichbu tạm dịch). Báo Hàn Quốc "Чосон Ильбо" ngày 28 tháng sáu đưa tin như vậy, và giới lãnh đạo cục tình báo Hàn Quốc cũng đã đi đến kết luận như thế.

Chẳng hạn, tình báo Hàn Quốc cho rằng, lãnh tụ CHDCND Triều Tiên đang mắc những vấn đề với trí nhớ, nhiều lúc ông nói năng huyên thuyên và không phải lúc nào cũng hiểu rõ những vấn đề xảy ra xung quanh. Nói riêng, trong thời gian chuyến thăm một trang trại trồng khoai tây, Kim Jong-il đã hứa gửi gạo cho những người lao động và nói rằng ăn chỉ khoai tây là không tốt. Người ta liên hệ cách xử sự như thế của Kim Jong-il với bệnh nhồi máu cơ tim mà ông trải qua hồi năm 2008.

Theo các thông tin khác nhau, thủ lĩnh Bắc Triều Tiên có thể bây giờ là 68 hay 69 tuổi. Ngày sinh nhật của ông – 16 tháng hai 1941, tuy nhiên ở CHDCND Triều Tiên ngày sinh chính thức của ông được xem là ngày 26 tháng hai năm 1942.

Theo các thông tin của cục tình báo, giới lãnh đạo Bắc Triều Tiên vô cùng lo ngại về những dấu hiệu tình trạng sức khỏe suy yếu của lãnh tụ. Hội nghị đặc biệt của Bộ chính trị đảng Lao động Triều Tiên sẽ nhóm họp vào tháng chín 2010. Tại hội nghị này có thể sẽ bầu người kế nhiệm Kim Jong-il. Những hội nghị như vậy cần phải được tiến hành ở CHDCND Triều Tiên năm năm một lần, tuy nhiên cuộc họp gần đây nhất được tiến hành vào năm 1980. Lúc bấy giờ tự Kim Jong-il đề cử mình là người kế nhiệm chính thức của Kim Nhật Thành.

Theo như "Чосон Ильбо" nhận xét, xác suất bầu lãnh tụ mới của CHDCND Triều Tiên, con trai út của nhà lãnh đạo hiện nay – Кim Jong Un là lớn hơn cả. Từ năm 2010 ngày sinh của Kim Jong Un – 8 tháng một – được kỷ niệm ở Bắc Triều Tiên như ngày hội dân tộc. Ngoài ra, Kim Jong-il đã bổ nhiệm con út của mình làm chủ tịch ủy ban quốc phòng nhà nước mà người lãnh đạo nó là chính bản thân lãnh tụ Bắc Triều Tiên.-Kichbu-

Post Reply