Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Nhân lọai sẽ gặp đại hoạ không xa chờ đón nhận
NASA: ‘Năm đại họa’ là có thật?

Trong khi nhiều người còn đang lo lắng về “năm đại họa 2012” thì mới đây NASA đưa ra cảnh báo về trận bão từ sẽ làm thay đổi toàn bộ cuộc sống trên Trái đất vào năm 2013.

Image
Vào năm 2013, Mặt trời sẽ bước vào thời kỳ hoạt động mạnh mẽ. Ảnh: Ifeng.com.

Các nhà khoa học có thâm niên của NASA cảnh báo, vào khoảng năm 2013, sau một "giấc ngủ say", Mặt trời sẽ “thức tỉnh”, bước vào giai đoạn hoạt động mạnh, tạo nên những cơn bão từ cực mạnh tấn công Trái đất. Sức mạnh của trận bão từ này có thể tương đương với sức công phá của 100 quả bom Hydro.

Các chuyên gia cho rằng, khi Mặt trời bước vào thời kỳ hoạt động mạnh, hoạt động phun trào của các điểm đen Mặt trời cũng sẽ trở nên kịch liệt, giải phóng một lượng lớn các hạt mang điện và gây ra các cơn bão mặt trời.

Sự ảnh hưởng của bão mặt trời, theo các nhà khoa học là vượt qua sự tưởng tượng của con người. Chúng có thể khiến toàn bộ Trái đất bước vào những ngày đen tối nhất.

Không chỉ tầng ô-zôn bị phá hủy, hệ thống điện cũng như mạng thông tin điện tử có thể bị tê liệt. Từ đó, những cơ quan như bệnh viện, ngân hàng và sân bay,… cũng sẽ không thể hoạt động được chứ đừng nói đến điện thoại, máy tính hay GPS.

Nếu như tất cả những điều kể trên xảy ra, chúng sẽ mang lại những tổn thất về kinh tế cực kỳ khủng khiếp, mà nhiều người dự tính là nhiều gấp 20 lần so với trận bão Katrina (Tổng thiệt hại do cơn bão này gây ra ước tính lên đến 125 tỷ USD). Đồng thời, nó cũng sẽ tạo nên một bước lùi lịch sử trong tiến trình phát triển của toàn nhân loại.
Image
Và một trận bão Mặt trời cực mạnh có thể sẽ tấn công Trái đất. Ảnh: Internet.

Các chuyên gia về thiên văn chỉ ra rằng, hoạt động của điểm đen mặt trời có chu kỳ là 11 năm. Vào năm 1859, tức là 151 năm trước đây, Trái đất của chúng ta từng bị một cơn bão mặt trời cực mạnh tấn công. Tuy nhiên, khi đó hệ thống điện và thông tin vẫn chưa phát triển, do vậy hậu quả mà cơn bão này gây ra vẫn chưa đến mức nghiêm trọng.

Lo lắng về sự nguy hại mà các cơn bão từ Mặt trời mang đến cho Trái đất, các nhà khoa học đã bắt đầu theo dõi sát sao Mặt trời. Vào ngày 11/2 vừa qua, một vệ tinh quan trắc các hoạt động của Mặt trời đã được phóng lên quỹ đạo.

Các nhà khoa học hy vọng rằng việc theo dõi Mặt trời 24/24 sẽ giúp các nhà khoa học hiểu rõ kết cấu cũng như các hoạt động từ trường của Mặt trời, từ đó đưa ra được những dự báo chuẩn xác giảm thiểu nguy hại từ các cơn bão Mặt trời.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tìm ra sự thật ‘thực’?

* Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh

Bối cảnh của một chuyến đi

Nhằm đánh dấu 350 năm thành lập hai giáo phận đầu tiên và 50 năm thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Năm Thánh 2010 đã khai mạc trọng thể tại Sở Kiện, Hà Nội dịp lễ các Thánh Tử Ðạo Việt Nam 24 tháng 11, 2009. Chỉ hơn một tháng sau thì xảy ra vụ Thánh Giá Ðồng Chiêm bị đập nát. Người tín hữu Công Giáo vừa bàng hoàng và phẫn nộ trước hành vi báng bổ của chính quyền cộng sản, vừa ngạc nhiên và đau đớn khi thấy tuyệt đại đa số các giám mục hai giáo tỉnh Huế và Sài Gòn hoàn toàn thinh lặng. Không một lời nói, không một cử chỉ hiệp thông với anh chị em giáo tỉnh Hà Nội. Tình trạng phân hóa trong nội bộ Công Giáo càng thêm trầm trọng và phơi bày công khai khi đức cha Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn được bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục (TGM) Phó Hà Nội với quyền kế vị, và chỉ mấy hôm sau là Ðức TGM Giu-se Ngô Quang Kiệt rời khỏi Việt Nam giữa đêm hôm khuya khoắt, chẳng khác chi một kẻ tội đồ bị trục xuất khỏi quê hương.
Image
Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt tiếp xúc với giáo dân Hà Nội. (Hình: Nữ Vương Công Lý)
Chính trong bối cảnh đó mà Ðức Hồng Y Phạm Minh Mẫn (ÐHY), Tổng Giám Mục Sài Gòn, đã lên đường đi Rô-ma gặp các quan chức cấp cao của Tòa Thánh, và sau khi trở về, đã có bài trả lời phỏng vấn liên quan đến chuyến đi; bài trả lời đó được đăng tài trên tuần báo Công Giáo & Dân Tộc, số 1762, tuần lễ từ 18 tháng 6 đến 24 tháng 6, 2010. Xin được chia sẻ một vài suy nghĩ sau khi đọc bài trả lời phỏng vấn đó.


Tại sao đi? Ði để làm gì?


Ðức Hồng Y nói: “Trong tình hình một số ý kiến trên mạng hay qua truyền tai nhau, tạo nên dư luận gây ít nhiều hoang mang và bất ổn trong cộng đoàn Giáo hội và xã hội, ví dụ như một vài dư luận cho rằng có sự tắc trách của Bộ Truyền Giáo, sự thỏa hiệp của Bộ Ngoại Giao, sự cấu kết của một ít nhân vật trong Giáo hội vì tư lợi, sự ngây ngô của Vatican,... một số giám mục đề nghị tôi đi tìm hiểu sự thật “thực” tận gốc rễ.”

Qua những lời trên đây, ÐHY vừa cho ta thấy nguyên nhân nào khiến ngài rời Việt Nam để có mặt tại Vatican từ ngày 30 tháng 5 đến 3 tháng 6, 2010, vừa cho thấy mục tiêu của chuyến đi, đó là để tìm hiểu sự thật “thực” tận gốc rễ. Chuyến đi này không phải là một chuyện hoàn toàn cá nhân, nhưng còn theo lời đề nghị của “một số giám mục.” Các vị này là những ai, gồm bao nhiêu người, nắm chức vụ gì trong Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam (HÐGM/VN), ngài không nói.


Những hoạt động trong chuyến đi


Tại Rô-ma, những người đầu tiên được ÐHY gặp gỡ và thăm hỏi là những linh mục, tu sĩ, giáo dân Việt Nam được ngài gửi tới học. Ðây là chuyện bình thường, nhưng chắc không ở trong mục tiêu quan trọng của chuyến đi. Ngay cả việc đi thăm đức Hồng Y Etchegaray cũng vậy, cũng chỉ là một cuộc thăm viếng xã giao.

Nhưng hai cuộc gặp quan trọng hơn cả trong chuyến đi này, trước hết là cuộc gặp tại Bộ Ngoại Giao Tòa Thánh sáng ngày 1 tháng 6, với vị Ngoại trưởng là Ðức TGM Dom. Mamberti, và với Thứ trưởng, Ðức Ông Ern. Ballestrero; kế đến là cuộc gặp tại Bộ Truyền Giáo với Tổng Trưởng là ÐHY Ivan Dias. Tại mỗi nơi, ÐHY Phạm Minh Mẫn đã “giãi bày tình hình do dư luận tạo ra.” Ngài đã nói những gì, giãi bày thế nào thì không ai biết. Nhưng phần trả lời, thì tại cả hai nơi, ngài đã nhận được một nội dung hoàn toàn giống nhau. Phía Bộ Ngoại Giao thì bộ đã “lắng nghe và tôn trọng ý kiến cùng bản thân của đương sự” (tức là Ðức TGM Hà Nội Giu-se Ngô Quang Kiệt). Tại Bộ Truyền Giáo cũng vậy, bộ “luôn lắng nghe và tôn trọng ý kiến cùng bản thân của người liên hệ” (vẫn là Ðức Tổng Kiệt). Và dựa vào cách làm của cả hai bộ là “lắng nghe và tôn trọng ý kiến cùng bản thân của người liên hệ,” cuối cùng “Ðức Thánh Cha chấp thuận lời Ðức Cha Ngô Quang Kiệt xin từ nhiệm Tổng Giám Mục Hà Nội vì lý do sức khỏe.” Và đây là sự thật “thực” ÐHY đã phải vượt bao nhiêu ngàn cây số đến tận Rô-ma để cất công đi tìm. Nói nôm na là như thế này: Sở dĩ có “dư luận gây ít nhiều hoang mang và bất ổn trong cộng đồng Giáo Hội và xã hội” là do việc Ðức Giáo Hoàng bổ nhiệm Ðức Cha Nguyễn Văn Nhơn thay thế Ðức Cha Ngô Quang Kiệt trong cương vị Tổng Giám Mục Hà Nội. Việc thay thế đó bắt nguồn từ việc Ðức Cha Kiệt xin từ chức vì lý do sức khỏe. Và trong việc này, cả hai bộ Ngoại Giao cũng như Truyền Giáo đều tôn trọng ý kiến, nguyện vọng của đương sự. Tóm lại: mấu chốt của vấn đề, hay là sự thật “thực,” chính là việc Ðức Cha Ngô Quang Kiệt xin từ chức mà thôi. Có gì đâu mà phải ầm ĩ!


Những điều gây thắc mắc


Thế nhưng đối với công luận, mọi chuyện không đơn giản như thế. Giả sử Ðức Cha Kiệt lâm trọng bệnh, không còn khả năng lãnh đạo, hay đến tuổi về hưu, thì bất cứ vị nào được Ðức Giáo Hoàng bổ nhiệm thay thế, cộng đồng tín hữu cũng hoan hỷ đón nhận. Lịch sử đã chứng minh điều đó. Nhưng việc Ðức Cha Kiệt rời khỏi chức vụ TGM Hà Nội lại chính là đòi hỏi của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, qua văn thư đề ngày 23 tháng 9, 2008 của ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hà Nội, gửi HÐGM/VN do Ðức Cha Nguyễn Văn Nhơn làm Chủ tịch. Vậy thì điều người tín hữu Việt Nam muốn biết, đó là mối tương quan giữa hai sự việc: giữa đòi hỏi của nhà cầm quyền Hà Nội và việc Ðức Giáo Hoàng chấp thuận cho Ðức Cha Kiệt từ chức. Ðiều người tín hữu Việt Nam nóng lòng muốn được soi sáng là HÐGM/VN đóng vai trò nào trong việc thay thế TGM Hà Nội, Ðức Cha Ngô Quang Kiệt. Cũng liên quan đến vụ việc này, một nhân vật quan trọng khác mà tín hữu Công Giáo Việt Nam muốn có thông tin, đó là vị đại diện Tòa Thánh đến thăm Việt Nam lần chót, vào đầu năm 2009: Ðức ông Cao Minh Dung. Ðâu là vai trò của Ðức Ông trong việc liên quan đến Ðức Tổng Kiệt? Trong bài trả lời phỏng vấn, ÐHY Phạm Minh Mẫn có cho biết là chiều ngày 2 tháng 6 ngài đã “gặp gỡ linh mục, tu sĩ Việt Nam đang làm việc tại Vatican,” nhưng nhân vật mà mọi người chờ đợi là Ðức Ông Cao Minh Dung thì ÐHY không hề nhắc tới. Như thế cũng có nghĩa là thắc mắc của người tín hữu Việt Nam liên quan đến Ðức Ông Cao Minh Dung, vẫn chưa có câu trả lời.


Liệu có tìm ra sự thật “thực”?


ÐHY Phạm Minh Mẫn có một kiểu nói khá độc đáo khi thêm tính từ “thực” vào danh từ “sự thật” (sự thật “thực”). Ðiều này chẳng phải không có lý do. Là vì trong chế độ hiện thời tại Việt Nam, mọi phương tiện truyền thông đều nằm trong tay Nhà nước. Có nhiều đài truyền hình và truyền thanh trên khắp nước, từ trung ương tới địa phương, với trên dưới 700 tờ báo, nhưng tất cả chỉ nói những điều được phép nói. Khi đề cập đến chuyện nói dối, nói láo... trong xã hội chúng ta đang sống hôm nay, nhà văn Nguyễn Khải đã viết trong tập tùy bút của ông: “Các cuộc trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của đảng, của chính phủ, của Quốc Hội, tất cả đều dùng các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất. Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy... Nói dối lem lẻm, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ. Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao tiếp đã trở thành nói để không giao tiếp gì hết; nói để mà nói....” Chính vì vậy mà khi nổ ra vụ Tòa Khâm Sứ - Thái Hà chẳng hạn, nếu chỉ dựa vào báo đài của Nhà nước, hay cả khi đọc báo Công Giáo & Dân Tộc, không ai biết được: thực sự chuyện gì đã xảy ra.

Và điều ta phải đặc biệt quan tâm, là tình trạng này chẳng phải không ảnh hưởng đến truyền thông Công Giáo. Hôm xảy ra vụ Ðồng Chiêm chẳng hạn, đố ai vào trang mạng của HÐGM mà tìm được thông tin! Còn trang mạng của Tòa TGM Tp. Hồ Chí Minh, trong bài “Tự do báo chí là nhựa sống của nền dân chủ,” lấy nguồn từ Vietvatican, thì chuyện trớ trêu là đã cắt xén đoạn nói đến Trung Quốc, Bắc Hàn, Việt Nam... cũng như đoạn sau đây: “Tất cả các chính quyền và các tổ chức nói trên đều theo đường lối cai trị độc tài, sợ hãi sự thật, chủ trương ngu dân, nên tìm mọi cách và đưa ra mọi luật lệ để kèm kẹp con người và đất nước trong tình trạng nô lệ, chậm tiến, dốt nát...” Một ví dụ khác, đó là nếu có ai nghe đoạn ghi âm lời Ðức Cha Nguyễn Văn Khảm, Giám mục Phụ tá Sài Gòn, nói về chuyến đi Hoa Kỳ của ÐHY Phạm Minh Mẫn đến Long Beach chủ tọa Ðại lễ Lòng Thương Xót Chúa, rồi đem đối chiếu với vô số thông tin liên quan trên mạng, đố ai biết được sự thật “thực” ở chỗ nào. Và ví dụ cuối cùng là dịp lễ nhậm chức của Ðức Tân TGM Hà Nội ngày 7 tháng 5, 2010: nếu có ai vào trang mạng của Ủy Ban Kinh Thánh mà đọc bài của Peter Nguyễn Minh Trung, thì 15,000 chữ ký của thỉnh nguyện thư gửi Ðức Giáo Hoàng đã bị hô biến thành panô với những chữ “Nguyễn Văn Nhơn, Bùi Văn Ðọc, Võ Ðức Minh: biến khỏi trái đất này!” Vậy thì câu hỏi dai dẳng vẫn cứ đeo đuổi chúng ta là: sự thật “thực” ở đâu?


Sự thật “thực” về Giáo Hội Việt Nam?


ÐHY Phạm Minh Mẫn vượt núi băng ngàn đến tận Rô-ma để tìm sự thật “thực,” nhưng liệu ngài có giúp được Ðức Giáo Hoàng tìm ra sự thật “thực” về Giáo Hội Việt Nam? Dĩ nhiên Ðức Giáo Hoàng biết những thay đổi diễn ra tại Việt Nam trong mọi lãnh vực kể cả tôn giáo. Ngày nay cuộc sống khá hơn, người dân được tương đối tự do hơn. Các tôn giáo được phép xây cất, tổ chức lễ lạt, huấn luyện chức sắc, đi ra nước ngoài, v.v... Du khách đến Việt Nam lác mắt khi thấy các nhà thờ ngày Chúa Nhật đông nghẹt người, ơn gọi linh mục, tu sĩ rất đông, số đi ra nước ngoài truyền giáo đến cả ngàn. Ðó là mặt tích cực, và cũng là mặt nổi. Trong khi đó, các lãnh vực như y tế, giáo dục, xã hội... đều là độc quyền của Nhà nước. Ði xin tiền giúp người nghèo thì được, nhưng tranh đấu cho quyền lợi của người nghèo, đòi hỏi sự công bằng cho người nghèo thì không. Tôn giáo không được tự do phục vụ con người. Trong một chế độ độc tài toàn trị, thì “đối thoại” và “hợp tác” chỉ là những mỹ từ của người chấp nhận ngửa tay xin. Xin cái gì? Thưa xin lại những quyền chính đáng của mình đã bị nhà cầm quyền tước đoạt. Sự thật “thực” phũ phàng là như thế. Liệu Ðức Giáo Hoàng có biết rằng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam hôm nay, chỉ vì muốn thỏa hiệp với nhà cầm quyền để được yên thân, mà đánh mất khả năng ngôn sứ: quay lưng lại người nghèo, hững hờ với các tôn giáo bạn, thờ ơ với vận mạng dân tộc, với tương lai đất nước? Liệu Ðức Giáo Hoàng có biết rằng khi Thánh Giá tại Ðồng Chiêm bị đập nát, tuyệt đại đa số các giám mục hai giáo tỉnh Huế và Sài Gòn đã ngậm miệng làm thinh? Thế thì trước câu hỏi: “Liệu Ðức Giáo Hoàng có biết được sự thật ‘thực’ về Giáo Hội Việt Nam hôm nay,” xem ra chưa có câu trả lời!

Kết luận

Ðạt tới chân thiện mỹ là khát vọng tự nhiên của con người. Khát vọng tìm cho ra sự thật càng mãnh liệt khi con người sống trong môi trường đầy dẫy những lừa lọc, gian dối. Tìm cho ra sự thật, đó là mối quan tâm của ÐHY Phạm Minh Mẫn khi ngài nói đến sự thật “thực” và đã cất công đi tìm. Nhưng khi sự thật mình đi tìm lại chính là sự thật mình muốn có bằng bất cứ giá nào, thì liệu sự thật mình khám phá ra, đã là sự thật “thực” hay chưa? Người đọc bài của ÐHY vẫn cứ phải tự tìm lấy câu trả lời. Không biết đến bao giờ Giáo Hội Công Giáo Việt Nam mới tìm lại được sự bình an đã mất, mới tìm lại được sự đồng tâm nhất trí đã tan rã, mới tìm lại được lòng tin tưởng kính mến đã nhạt phai đối với hàng giáo phẩm kể từ khi Ðức Cha Giu-se Ngô Quang Kiệt rời khỏi chức vụ TGM Hà Nội trong một hoàn cảnh còn nhiều ẩn số chưa được giải mã?

Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm
Sài Gòn, ngày 24 tháng 6 năm 2010

(Nguồn: conggiaovietnam.net)

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Đảng Cộng Sản Pháp: Vỡ Từng Mảng Lớn

Bùi Tín



Rất hân hạnh giới thiệu cùng quý vị bài cuả Bùi Tín, nhà báo tự do lão thành 82 tuổi,ông là người tôi biết đang đã và càng ngày càng dành đươc sự trân trong cuả các giới trí thức trong và ngoài nước, lời này có thể mất lòng một số người không thích ông ta vì lý do..nào đó,cũng như một nhóm văn nô già trong nước ganh ghét chửi ông là hèn..cũng như bon VgCs đang căm thù ông...

nhận định này tôi chí phản ảnh khách quan..mà không phải ý riêng, vậy nếu có phật lòng ai tôi xin lỗi..không bàn tới.(Hùng Nguyễn)


Đảng Cộng sản Pháp vừa họp cuộc Đại hội đảng thứ 35 tại phòng họp lớn CNIT giữa khu Défense thủ đô Paris trong 3 ngày 18, 19 và 20-6-2010. Các báo Pháp bình luận nhận xét: «lịch sử đảng CS Pháp qua Đại hội 35 đã sang trang», «trang sử mới», «một trang sử buồn», «vỡ từ bên trong - implosion»…

Từ khi bức tường Berlin sụp đổ cuối năm 1989, từ khi phe Xã hội chủ nghĩa tan biến sau đó, nhất là từ khi đảng CS Liên xô vỡ tan cuối năm 1991, đảng CS Pháp lâm vào khủng hoảng triền miên không sao gượng dậy được.
Ngày 11-6 vừa qua, đúng 1 tuần lễ trước khi Đại hội 35 khai mạc, một số hơn 200 đảng viên cộng sản, toàn là nhân vật có địa vị chính trị - xã hội, bao gồm một số dân biểu đang tại chức, một số chủ tịch hội đồng thị xã, một số ủy viên trung ương đảng, một số trí thức có uy tín, giáo sư sử học, giáo sư triết học, nhà báo… cùng nhau thống nhất ý kiến, ra tuyên bố chung long trọng ly khai đảng Cộng sản Pháp, cùng nhau tuyên bố từ biệt đảng cộng sản, cùng chung ý kiến sẽ đi đến thành lập một tổ chức chính trị khác ở cánh tả, theo xu hướng tranh đấu cho những phúc lợi xã hội và môi trường, vì một nước Pháp tiến bộ, phát triển và công bằng.
Bản tuyên bố chung chỉ rõ lý do của cuộc ra đi của một mảng lớn có chất lượng cao về chính trị và trí tuệ là vì Ban lãnh đạo hiện nay ngày càng co mình lại, ôm chặt thái độ bảo thủ giáo điều, không hề đáp ứng đòi hỏi cấp bách xây dựng lại đảng, ngăn chặn đà suy sụp của đảng.
Xin kể tên một vài nhân vật tiêu biếu trong số hơn 200 nhà ly khai trên đây: đó là dân biểu Patrick Braouezec, dân biểu François Asensi và nữ dân biểu Jacqueline Freysse, là chủ tịch thị xã Montluçon Pierre Goldberg và chủ tịch thị xã Nanterre Patrick Jarry; đó còn là những nhà trí thức, giáo sư sử học Roger Martelli, giáo sư triết học Lucien Sève, nhà báo Pierre Zarka từng là chủ nhiệm báo l’Humanité - cơ quan trung ương của đảng Cộng sản Pháp.

Đáng chú ý là trong số hơn 200 nhân vật ly khai lần này, có quá nửa là những người đã gần 20 năm nay chủ trương «đổi mới» - Réformer –, rồi «Reconstruire» - Xây dựng lại - đảng cộng sản Pháp nhưng đều không sao thực hiện nổi, vấp phải một hạt nhân gíáo điều cực kỳ bảo thủ cổ hủ ở chóp bu, tiêu biểu là ông Robert Hue và bà Marie - George Buffet, 2 thư ký toàn quốc của trung ương đảng những năm gần đây.
Tại Đại hội 35, bà Buffet xin thôi chức Bí thư toàn quốc (như Tổng bí thư), ông Pierre Laurent, 53 tuổi lên thay, từng một thời gian là chủ nhiệm báo l’ Humanité, đúng vào lúc báo ế ẩm, số phát hành tụt dốc từng ngày. Pierre Laurent được biết là con người kín đáo, mờ nhạt, thiếu khả năng giao tiếp và viết lách.

Các nhà bình luận của báo le Monde, Libération, le Figaro…đều bàn đến sự kiện đáng chú ý trên đây, cho rằng lần này, tháng 6-2010, đảng cộng sản Pháp đã vỡ ra một mảng cực lớn, khi nó đang ở tình trạng suy yếu đến cùng cực, «những nhà đổi mới cuối cùng đã ra đi», họ thuộc tinh hoa quyền lực và trí tuệ còn sót lại của đảng CS Pháp.
Sau vụ này, đảng CS tuy chưa tan biến, nhưng cũng chỉ còn như cái bóng của chính nó.
Đảng cộng sản Pháp vốn là một đảng cộng sản lớn, oanh liệt, sung mãn một thời để rồi lâm vào khủng hoảng triền miên cả về học thuyết và hoạt động, để lâm vào tình trạng rơi tự do bi thảm hiện nay.Trong Thế chiến 2, nhờ vào thanh thế của đảng CS Liên Xô liên minh với các nước dân chủ chống phát xít, đánh bại trục phát xít Đức – Ý - Nhật, nên thanh thế đảng CS Pháp lên mạnh theo.

Trong thời gian chiếm đóng nước Pháp, bọn phát xít Hitler đã diệt Do thái và những người kháng chiến Pháp, trong đó có nhiều đảng viên cộng sản. Chiến tranh kết thúc, thế chính trị của đảng CS Pháp lên cao; cuối năm 1945, đảng CS Pháp là đảng có đông đảo đảng viên và quần chúng, chỉ đứng sau đảng MRP – Mouvement Rassemblement Populaire – Phong trào Tập họp Dân chúng.
Cuối năm 1946, qua bầu cử, đảng Cộng sản Pháp trở thành đảng lớn nhất của nước Pháp. Ông Tillon của đảng được cử làm bộ trưởng không quân, rồi bộ trưởng Tái thiết đất nước. Tổng bí thư Cộng sản Maurice Thorez được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ. Các tổ chức Thanh niên Cộng sản, Sinh viên Cộng sản, Nữ thanh niên Cộng sản, Công đoàn CGT của đảng CS đều phát triển rất mạnh.

Báo l’ Humanité và Humanité - Chủ nhật, cùng nhà xuất bản của đảng, tạp chí Cahiers du Communiste … cũng phát triển mạnh mẽ. Lúc ấy lực lượng của đảng CS Pháp rất mạnh ở các trung tâm công nghiệp, các mỏ than, vùng quặng sắt, các hải cảng, công nhân vận tải, hàng hải, đường sắt, điện lực, trong giới đại học, nghiên cứu khoa học, truyền thông …
Có lúc đảng CS Pháp hy vọng chiếm chính quyền qua nổi dậy của quần chúng lao động như Công xã Paris thuở trước – năm 1871 - để đưa Pháp gia nhập phe XHCN, theo chỉ đạo của Quốc tế CS là thực hiện thời kỳ quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn cầu (!).
Đảng CS Liên Xô hỗ trợ mọi mặt cho đảng Pháp. Trong Thế chiến 2, tên chính thức của đảng CS Pháp hồi ấy là: PCF – SFIC (Parti Communiste Français – Section Française de l’Internationale Communiste ), là một Phân bộ của Phong trào Cộng sản Quốc tế.

Sau Thế chiến sự giúp đỡ của đảng CS Liên xô cho đảng CS Pháp càng thêm hùng hậu. Đảng CS Pháp suy tôn Staline là lãnh tụ kính yêu nhất, gọi thân mật Staline là Le Petit Père des Peuples - Người Cha thân thương của các dân tộc (!), Liên Xô giúp mỗi năm hàng tỷ Rúp cũng như trong đào tạo cán bộ. Trụ sở đảng CS Pháp ở Place Phabien giữa Paris do Liên xô giúp xây dựng rất bề thế, có hầm sâu, được truyền tụng là chống được bom nguyên tử. Thế rồi cuộc khủng hoảng nội bộ nổ ra, khi Đại hội 20 đảng CS Liên xô phơi bày tệ sùng bái cá nhân Staline. Đảng CS Pháp lúng túng, chia rẽ, phân hóa lớn, đảng viên ra đảng hàng chục ngàn, nhất là trí thức, đảng viên trẻ. Sự can thiệp của quân đội Liên Xô vào Tiệp khắc, Ba lan… bị thế giới lên án, làm cho cuộc chia rẽ trong đảng Pháp mở rộng.
Học thuyết Cộng sản châu Âu, cổ súy một chủ nghĩa Cộng sản Nhân bản, mang tính Người, nhưng vẫn theo học thuyết đấu tranh giai cấp của Mác không những không giải quyết được cuộc khủng hoảng cả về lý luận và thực hành, còn làm cho tình hình xấu hơn.

Thế rồi Bức tường Berlin đổ sập, phe XHCN tan biến, đặc biệt là sau khi đảng CS Liên Xô vỡ nát cuối năm 1991, đảng CS Pháp lâm vào tình trạng suy sụp không sao gắng gượng nổi. Để đến những năm gần đây, từ có lúc là đảng số 1, đảng CS Pháp tụt xuống thứ 3, rồi thứ 5, đến nay là thứ 8, xếp hàng sau các đảng cánh hữu, cũng sau cả các đảng cánh tả, thua xa đảng Xã hội Pháp, thua đảng Dân chủ ở trung tâm, thua kém đảng Xanh, rồi thua cả đảng trôtskýt ở cực tả, lại thua luôn cả đảng cực hữu Mặt trận Quốc gia của Le Pen.
Trong các cuộc bầu cử toàn quốc và địa phương, hàng chục năm nay đảng CS Pháp đều ở vị trí đèn đỏ, từ không đạt 10 % số phiếu bầu, rồi không đạt cả con số 5% phiếu để được hưởng trợ cấp tranh cử.

Tại Quốc hội số đại biểu CS khi xưa đông đảo, có uy thế hàng đầu, nay không còn đủ số để thành nhóm riêng, các đại biểu CS Maxime Grémetz và Marie George Buffet phải nhập với Nhóm «cánh tả, dân chủ và cộng hòa» - Groupe Gauche + Démocrate + Républicain.
Tiếng nói CS trong quốc hội vang lên thưa thớt, yếu đuối, có khi cả 4 phiên suốt tháng không có một lời phát biểu nào.
Trong cuộc bầu cử Tổng thống Pháp năm 2007, bà Buffet chỉ được có 1,93 % phiếu bầu, càng thêm bẽ bàng vì ngay trong đảng CS đông đảo người can ngăn đảng không nên ứng cử, chỉ thêm mất tín nhiệm.
Cùng với đảng CS Pháp, đoàn Thanh niên CS gần như hấp hối, còn đoàn Sinh viên CS Pháp không còn sức sống, Tổng liên đoàn CGT cũng teo lại. Mười năm nay số đảng viên giảm nhanh, không kết nạp được đảng viên mới, nhiều đảng bộ phải giải tán, có nơi chỉ còn đảng viên cao tuổi, từ 60 đến 90 tuổi, sinh hoạt chi bộ CS trong Nhà Già.

Trong đảng nhiều nhóm và nhân vật chủ trương xây dựng lại đảng, từ bỏ giáo điều Mác-xít, nhưng không đưa ra được phương án cụ thể, sáng rõ. Sự ra đi rất ồn ào, hoành tráng của một mảng nhân vật cộng sản có tên tuổi vào tháng 6 này chứng tỏ đảng CS Pháp không còn có khả năng tự đổi mới, tự xây dựng lại nữa. Đây là biểu hiện cuối cùng của hiện tượng rơi tự do của một đảng CS vào loại lớn nhất ở châu Âu. (đảng CS Ý đã sáng suốt tự giải thể từ năm 1992). Đảng CS Pháp suy sụp đến tận cùng đã vỡ từ bên trong, không phải do kẻ thù nào từ bên ngoài phá hoại, lật đổ. Nó suy sụp, thở hắt ra vì học thuyết Mác – Lênin, nguyên lý đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản nó theo đuổi không có sức sống. Nó chứng minh rằng mọi đảng CS theo học thuyết Mác – Lênin và theo nguyên lý đấu tranh giai cấp là phạm sai lầm từ gốc, cần phải từ bỏ dứt khoát càng sớm càng tốt. Chính nhiều trí thức CS Pháp đã ra đảng và chung sức viết nên cuốn sách đồ sộ «Sách đen của chủ nghĩa Cộng sản» chứng minh phe XHCN hiện thực là một sai lầm bi thảm của Lịch sử, là tội phạm tiêu diệt gần 100 triệu nhân mạng của loài người. Đúng như ông Gorbachốp từng nói: các đảng Cộng sản quá cũ không còn khả năng tự đổi mới, chỉ có xóa bỏ, giải thể, xây dựng tổ chức mới, dân chủ, đi với thời đại.

Cũng theo tinh thần ấy, bản Tuyên bố chung của hơn 200 nhân vật ly khai nói trên chủ trương «sẽ chung sức xây dựng một tổ chức chính trị mới ở cánh tả, theo hướng hành động, đấu tranh cho phúc lợi xã hội và bảo vệ môi trường», vĩnh biệt chủ nghĩa Mác Lênin, vĩnh biệt đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, từ đó cống hiến thiết thực cho xã hội Pháp và nước Pháp.
Tất nhiên sự kiện trên đây không được báo Nhân dân (csVN) và các báo trong nước đưa tin.
Nhưng làm sao bưng bít được thông tin trong thời đại thông tin điện tử cực nhạy.

Đảng CS Việt nam vốn có quan hệ chặt chẽ với đảng CS Pháp. Cuộc khủng hoảng chính trị dai dẳng của đảng CS Pháp, cảnh rơi tự do bi thảm của nó, sự đổ vỡ từ bên trong của nó, sự ra đi vĩnh biệt của một mảng lớn hơn 200 nhân vật tiêu biểu của nó là những gợi ý sinh động cho những ai còn muốn nuôi ảo tưởng «đổi mới» đảng CSVN, hay trở lại với danh xưng đảng Lao động VN. Cần chỉ rõ những sai lầm bi thảm của Cải cách Ruộng đất và chính sách chiếm đóng miền Nam, đày đọa trả thù sỹ quan viên chức miền Nam, nuốt chửng lời cam kết hòa giải và hòa hợp dân tộc chính là những chủ trương của lãnh đạo đảng Lao động VN.Trong lúc các Đại hội đảng CSVN các cấp đang họp, tin nóng hổi về đảng CS Pháp là một tin tham khảo có giá trị đặc biệt. Đã đến lúc mọi tinh hoa dân tộc yêu nước, thương dân chung sức dựng lên một tổ chức mới bắt nguồn từ truyền thống dân tộc, tiếp thu thật sự những giá trị dân chủ, bình đẳng của thời đại, mang tên đảng Dân chủ Mới VN, hay đảng Xã hội – Dân chủ VN, hay đảng Công Dân VN, hay đảng Dân tộc VN…Hãy vĩnh biệt dứt khoát những học thuyết và chính sách của chủ nghĩa Mác Lênin, của đấu tranh giai cấp, của chuyên chính độc đảng, nguồn tai họa kinh hoàng của nhân dân ta, dân tộc ta trong hơn nữa thế kỷ qua, và đặc biệt là ngay lúc này.

Bùi Tín
(Viết riêng cho VOA Thứ Sáu, 02 tháng 7 2010)

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image


10 “ Điều Khuyên” cho người cao.... niên...
10 recommendations for the elderly
1. Hãy vui với nguời khác, đừng tìm vui trong việc tích trữ của cải 1-(Focus on enjoying people, not on indulging in or accumulating material things.)

2. Lập chuơng trình tiêu xài hết tiền của mà bạn để dành. Bạn xứng đáng tiêu pha nó trong mấy năm còn lại của đời nguời. Nếu đuợc, cứ đi du lịch. Để của lại cho con, chúng nó sẽ gấu ó nhau và nhiều chuyện rắc rối xảy ra sau khi bạn qua đời 2-(Plan to spend whatever you have saved. You deserve to enjoy it and the few healthy years you have left. Travel if you can afford it. Don't leave anything for your children or loved ones to quarrel about. By leaving anything, you may even cause more trouble when you are gone).

3. Hãy sống trong thực tại . Đừng sống cho quá khứ hay cho tương lai. Bạn nắm ngày hôm nay trong tay bạn, ngày hôm qua thì đã qua, ngày mai thì chưa đến hoặc không bao giờ đến. 3-(Live in the here and now, not in the yesterdays and tomorrows. It is only today that you can handle. Yesterday is gone, tomorrow may not even happen).

4. Hãy vui với cháu nội ngoại của bạn (nếu bạn có), nhưng đừng làm kẻ giữ trẻ trọn thời gian. Trách nhiệm nuôi dạy trẻ là của cha mẹ nó. Sau khi bạn đã nuôi con nên nguời rồi, bạn không còn trách nhiệm gì với cháu của bạn. Đừng thấy áy náy khi từ chối giữ trẻ nếu bạn không thấy thích thú chăm sóc trẻ 4-(Enjoy your grandchildren, if you are blessed with any, but don't be their full time baby sitter. You have no moral obligation to take care of them! Don't have any guilt about refusing to baby sit anyone's kids, including your own grandkids. Your parental obligation is to your children. After you have raised them into responsible adults, your duties of child-rearing and babysitting are finished. Let your children raise their own off-springs) .

5. Chấp nhận sự già yếu, đau nhức của tuổi già. Hãy vui với những gì mình còn làm được 5-(Accept physical weakness, sickness and other physical pains. It is a part of the aging process. Enjoy whatever your health can allow).

6. Vui với những gì bạn có. Đừng lao nhọc tìm những gì bạn không có. Đã trễ rồi. 6-(Enjoy what you are and what you have right now. Stop working hard for what you do not have. If you do not have them, it's probably too late).

7. Hãy vui cuộc đời với người phối ngẫu, con cháu, bạn bè.. Nguời khác yêu bạn, phải yêu chính bạn chớ không phải những gì bạn có. Ai yêu những gì bạn có chỉ gây khổ cho bạn mà thôi 7-(Just enjoy your life with your spouse, children, grandchildren and friends. People, who truly love you, love you for yourself, not for what you have. Anyone who loves you for what you have will just give you misery).

8. Tha thứ cho mình và cho nguời. Chấp nhận sự tha thứ. Vui huởng sự bình an trong tâm hồn. 8-(Forgive and accept forgiveness. Forgive yourself and others. Enjoy peace of mind and peace of soul).

9. Làm quen với sự chết. Nó sẽ xảy ra. Đừng sợ hãi. Nó là một phần của cuộc đời. Chết là bắt đầu một cuộc đời mới hơn, tốt đẹp hơn. Chuẩn bị một cuộc sống mới với Đấng Tạo Hóa. 9-(Befriend death. It's a natural part of the life cycle. Don't be afraid of it. Death is the beginning of a new and better life. So, prepare yourself not for death but for a new life with the Almighty).

10. Hãy thuận hòa với Thuợng Đế vì bạn sẽ gặp, sẽ có sau khi bạn rời trần gian này 10-(Be at peace with your Creator. For... He is all you have after you leave this life).

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Chủ tịch tỉnh cởi truồng LTS: Tin từ các báo trong nước cho hay, 'Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Ðảng CSVN' trong kỳ họp lần thứ 32 đề nghị cách hết các chức vụ trong đảng, bãi nhiệm đại biểu Hội Ðồng Nhân Dân và cách chức Chủ Tịch UBND tỉnh Hà Giang đối với ông Nguyễn Trường Tô. Thông báo của Ủy Ban Kiểm Tra lý giải: “ông Tô có lối sống buông thả, quan hệ không lành mạnh, ảnh hưởng nghiêm trọng tư cách cán bộ lãnh đạo.”

Ông Nguyễn Trường Tô, chủ tịch tỉnh Hà Giang, người từng bị báo chí tại Việt Nam vào năm 2009 phanh phui mua dâm hai trẻ vị thành niên trong vụ án hiệu trưởng Sầm Ðức Xương cầm đầu đường dân mua dâm và bán dâm gây xôn xao dư luận tại Việt Nam.

Quyết định kỷ luật ông Nguyễn Trường Tô được Ðảng CSVN gọi văn vẻ là “có lối sống buông thả, quan hệ không lành mạnh,” tuy nhiên Blogger và cũng là nhà báo Trương Duy Nhất, đã gọi đúng tên của sự việc là “Chủ tịch tỉnh cởi truồng!” Dưới đây là bài viết trên Blog Trương Duy Nhất:
Image
Nguyễn Trường Tô, chủ tịch tỉnh Hà Giang. (blog Phạm Viết Ðào)

Ðó là những bức ảnh khỏa thân. Ừ mà khỏa thân e chưa trúng, phải nói là cởi truồng lõa lồ. Hình ảnh một ông chủ tịch tỉnh nằm trần truồng trên giường trong nhiều tư thế rất tục tĩu sau khi hành sự xong. Ðó là hình ảnh ông Nguyễn Trường Tô, chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang.

Những bức ảnh trần truồng của ông Chủ Tịch tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô trông phản cảm và tục tĩu đến độ tôi không thể và không dám đưa lên trang blog này.

Vụ án mua bán dâm trẻ vị thành niên là học sinh của ông hiệu trưởng Sầm Ðức Xương đang gây ầm ĩ dư luận. Cơ quan điều tra, và cả cơ quan Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Ðảng cũng đang tiến hành thẩm tra xác minh xem ông Chủ Tịch tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô có đúng là người mua dâm như lời khai của các bị can trong vụ án?

Trong khi đang là nghi can trong vụ án mua dâm trẻ vị thành niên, ông Tô lại bị phát hiện có dấu hiệu liên quan đến một vụ mua dâm khác.

Ngày 22 tháng 11, 2006, khi công an thị xã Hà Giang bắt quả tang Nguyễn Thị Dung (Nguyễn Thị Trang) đang bán dâm cho một vị khách tên là Phạm Văn Bằng tại khách sạn Thủy Tiên (tổ 10, phường Minh Khai, thị xã Hà Giang), có lập biên bản thu giữ của Dung một máy điện thoại di động Nokia N73 số thuê bao 0986.623.994. Vụ mua bán dâm này được xử lý hành chính theo qui định.

Tuy nhiên, qua kiểm tra chiếc điện thoại di động, công an thị xã Hà Giang phát hiện có nhiều cuộc gọi, tin nhắn và lưu một số hình ảnh của một người đàn ông nằm trần truồng trên giường. Sau khi in phóng 4 kiểu thành 13 ảnh để đối chiếu mới tá hỏa nhận ra người đàn ông trần truồng nằm trên giường kia chính là ông Nguyễn Trường Tô, chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang.

Tại biên bản làm việc với công an, Dung khai nhận vào tháng 11, 2005 có ngủ qua đêm với ông Tô Chủ Tịch tại một khách sạn ở Hà Nội. Sau khi quan hệ xong, ông Tô cứ... để nguyên thế nằm ngủ mà không hề mặc áo quần. Thấy tư thế lõa lồ của ông Tô kỳ kỳ, “hâm mộ và tò mò,” Dung đã lấy máy điện thoại di động Nokia N7260 (máy điện thoại khi đó Dung sử dụng) chụp theo nhiều tư thế khác nhau. Một thời gian sau, khi đổi máy di động, Dung đã cop chuyển toàn bộ số ảnh trên sang máy di động Nokia N73 bằng cổng hồng ngoại (Bluetooth).

Kết quả giám định từ Viện Khoa Học Hình Sự (Tổng Cục Cảnh Sát Phòng Chống Tội Phạm, Bộ Công An) trên cơ sở trưng cầu giám định 13 tấm ảnh nói trên và 2 tấm ảnh của ông Tô làm mẫu, kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép thể hiện trên 13 ảnh gửi giám định, 13 ảnh cần giám định so với 2 tấm ảnh mẫu của ông Tô có những đặc điểm giống nhau.

Ðặc biệt, trong máy di động của Nguyễn Thị Dung còn có những tin nhắn được gửi đến từ máy di động số 091.327.1133 của Chủ Tịch Tô với ký hiệu “TYCT”- Dung lý giải đó là “tình yêu chủ tịch.”

Theo báo cáo giải trình của ông Nguyễn Bình Vận, giám đốc Công An Hà Giang về vụ việc này: “Khi thấy (ảnh) tôi cũng bàng hoàng không tin vào mắt mình, người đàn ông đó là anh Nguyễn Trường Tô, chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang.” Và sau đó ông Vận đã báo cáo sự việc này cho bí thư tỉnh ủy. Ông Hoàng Minh Nhất, bí thư Tỉnh Ủy Hà Giang xác nhận trong một báo cáo của mình: “Nghe được tin công an thị xã Hà Giang bắt quả tang một vụ mua bán dâm tại khách sạn, có ảnh đồng chí Nguyễn Trường Tô, chủ tịch UBND tỉnh ở trong điện thoại của cô gái bán dâm.

Nghe được vậy, tôi yêu cầu giám đốc công an tỉnh báo cáo vụ việc. Sau khi giám đốc công an tỉnh báo cáo xong, tôi có giao nhiệm vụ cho giám đốc công an tỉnh gặp đồng chí Nguyễn Trường Tô chủ tịch UBND tỉnh thông báo, nói rõ vụ việc trên, Ðồng thời, tôi cũng giao cho đồng chí Nguyễn Huy Nạp, trưởng ban Tổ Chức Tỉnh Ủy (nay đã nghỉ chế độ) gặp đồng chí Nguyễn Trường Tô nói rõ và yêu cầu rút kinh nghiệm. Trong một cuộc hội ý về công việc giữa tôi và đồng chí Nguyễn Trường Tô, tôi có nêu ra vấn đề trên và nhắc nhở đồng chí Nguyễn Trường Tô cần rút kinh nghiệm trong sinh hoạt. Do đồng chí Nguyễn Trường Tô mới bầu giữ chức vụ Chủ Tịch UBND tỉnh được ít tháng, nên tôi dùng hình thức nhắc nhở, không tiến hành kiểm tra kiểm điểm.”

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Kho bom nguyên tử &
chính sách “không nhìn, không chối”
của Do Thái

Trần Bình Nam


Cách đây hơn 24 năm, ngày 5/10/1986, tờ The Sunday Times, một tờ báo hằng tuần uy tín của Anh xuất bản tại Luân Đôn đăng một tin làm chấn động thế giới: Do Thái làm bom nguyên tử từ năm 1966, và hiện có một kho bom nguyên tử ngang hàng với 5 nước Hoa Kỳ, Nga Xô, Trung quốc, Anh và Pháp.

Tin này do một chuyên viên nguyên tử Do Thái tên là Mordechai Vanunu tiết lộ. Ông Vanunu cho biết trung tâm sản xuất vũ khí nguyên tử của Do Thái đặt tại Dimona trong sa mạc Negev nằm ở phía Nam Do Thái. Vanunu 31tuổi làm việc tại trung tâm đó gần 10 năm. Ông cho rằng khả năng nguyên tử của Do thái – dù để tự vệ - là một đại họa cho nhân loại nếu được xử dụng để đánh các nước A Rập chung quanh. Ông Vanunu nói năm 1973 khi Ai Cập bất ngờ tấn công Do Thái trong mùa lễ Zom Kippur 1973, bà Golda Meir thủ tướng Do Thái đã cho lệnh chuyển bom nguyên tử đến các phi trường quân sự sẵn sàng xử dụng.

Ông Mordechai Vanunu cho rằng cách tránh tai họa là tiết lộ cho thế giới biết Do Thái có một kho bom nguyên tử để các nước đừng khinh xuất tạo ra chiến tranh nguyên tử. Ông không có một ý đồ lợi lộc nào.
Ông Vanunu lén chụp hình các thiết bị và dụng cụ thí nghiệm tại Dimona rồi tìm cách trốn đi Úc châu. Trước đó ông Mordechai Vanunu đã bỏ đạo Do Thái và theo Anh Giáo do mục sư John McKnight ở Úc đỡ đầu.
Image
Mẫu tâm bom nguyên tử
do ông Vanunu chụp được
Đến Úc châu ông Vanunu đến tá túc tại họ đạo của mục sư McKnight và tìm các liên lạc với tờSunday Times ở Luân Đôn.
Tờ Sunday Times biết tin này là một tin có thể làm đảo lộn tình hình thế giới nên vội thiết lập một Ban Điều Tra (Insight Team) để kiểm chứng tính chính xác của nguồn tin.
Những bằng chứng và lời tường trình của ông Mordechai Vanunu đã làm các chuyên viên nguyên tử kinh ngạc. Thế giới vốn đã nghi Do Thái đang lén chế tạo vũ khí nguyên tử, nhưng không ai ngờ Do Thái có khả năng nguyên tử cao không kém 5 nước Hoa Kỳ, Nga Xô, Anh, Pháp & Trung quốc và đã sẵn sàng từ giữa thập niên 1960.
Các tấm hình của ông Vanunu cho thấy các cơ sở chếplutonium (một kim loại phóng xạ để làm bom nguyên tử) mua của Pháp đặt tại Dimona trong một khu công thự không làm ai chú ý và đã qua mắt các vệ tinh do thám quốc tế cũng như của các đoàn thanh tra Liên hiệp quốc trong nhiều năm. Dựa vào tài liệu do ông Vanunu cung cấp, các chuyên viên nguyên tử của Hoa Kỳ và Anh đồng đánh giá mỗi năm trung tâm Dimona có thể chế biến 40 kg plutonium đủ để làm được 10 quả bom nguyên tử cỡ trung bình. Và vào năm 1986 Do Thái đã có ít nhất 100 quả bom nguyên tử, cao gấp 10 lần khả năng người ta nghi ngờ Do Thái có thể có.
Đó là chưa kể một lò nguyên tử (atomic reactor) 26 megawatts mua của Pháp nâng cấp lên 150 megawatts có khả năng sản xuất thêm chất plutonium.
Khả năng này được xác nhận bởi giáo sư Theodore Taylor, một chuyên viên nguyên tử thượng thặng của Hoa Kỳ, và tiến sĩ Vật lý học người Anh ông Frank Barnaby. Gíáo sư Taylor là học trò của nhà khoa học Robert Oppenheimer, cha đẻ bom nguyên tử của Hoa Kỳ. Và tiến sĩ Barnaby từng làm việc tại trung tâm nghiên cứu nguyên tử Anh Berkshire đặt tại Aldermaston và trước khi nghỉ hưu là Giám đốc Viện Nghiên cứu Hòa bình của Thụy Điển.
Sau khi quan sát 60 tấm hình và 2 tuần lễ phỏng vấn, tiến sĩ Barnaby nói: “Với con mắt của một nhà vật lý học, tôi xác nhận ông Mordachai Vanunu phải từng làm việc tại một trung tâm chế biến chất plutonium và sản xuất vũ khí nguyên tử “
Ngoài hai ông Taylor và Barnaby, Ban Điều TraSunday Times còn nhờ nhiều chuyên viên nguyên tử khác của Anh đánh gía các tiết lộ của ông Vanunu, nhưng Sunday Times không tiện nêu tên tuổi vì các chuyên viên này đang làm việc tại các cơ sơ nghiên cứu và sản xuất bom nguyên tử của Anh .
Sau khi bài báo Sunday Times xuất hiện, chính phủ Do Thái không nhìn nhận nhưng cũng không chối mình đã chế tạo bom nguyên tử. Đồng thời xác nhận rằng quả có một chuyên viên nguyên tử người Do Thái tên là Mordechai Vanunu làm việc cho Ủy ban Nguyên tử lực quốc gia ở Dimona, và đã được cho nghỉ việc cùng với 180 nhân viên khác để tiết kiệm ngân sách. Chính phủ Do Thái còn tiết lộ rằng sau khi nghỉ việc Mordechai Vanunu đã ghi tên theo học triết học tại đại học Beersheba ở West Bank (Tây ngạn sông Jordan) và có tiếp xúc linh tinh với các sinh viên A Rập tại đó.
Thái độ của chính phủ Do Thái được hiểu Do Thái đã có vũ khí nguyên tử nhưng không công khai nhìn nhận. Do Thái áp dụng một chính sách hiểu sao cũng được, hay là chính sách “không nhìn, không chối” (atomic ambiguity strategy) để cảnh cáo các nước A rập chung quanh, đồng thời tỏ ý tuân hành nguyên tắc chung của thế giới, chính yếu là ý muốn của 5 nước trong Ủy ban Thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc là không lan truyền vũ khí nguyên tử. Thái độ này hợp ý nhất đối với Hoa Kỳ . Và đó là lý do Do Thái có vũ khí nguyên tử nhưng ít được các cơ quan truyền thông thế giới nhắc nhỡ tới.
Một tuần lễ sau, trong số báo ngày Chủ Nhật 12/10/1986 tờ Sunday Times lại loan tin ông Mordechai Vanunu mất tích. Bài báo viết rằng ngày 30/9 ông Vanunu rời khách sạn nơi Sunday Timesthuê cho ông tạm trú trong thời gian Đoàn Kiểm Tra làm việc nói ông sẽ đi vắng vài ngày, nhưng không trở lại và Sunday Times mất liên lạc với ông.
Câu chuyện được mọi người biết một cách chi tiết lúc đó là: Tháng 9 năm 1986 ông Mordechai Vanunu rời Do Thái đi Úc châu qua ngỏ Mạc Tư Khoa và Bangkok với một cuốn phim chưa khai triển gồm 60 tấm hình những bí mật nguyên tử của Do Thái ông chụp được. Ông không gặp khó khăn nào tại Nga và Thái Lan. Đến Sidney ông Vanunu tiếp xúc vớiSunday Times và một nhà báo khác tên là Oscar Guerrero người Columbia. Ngày 12/9 tờ Sunday Times đưa ông qua Anh để kiểm chứng thêm.
Ngày 28/9 trong khi Sunday Times đang kiểm chứng tính chính xác của Mordechai Vanunu tờ Sunday Mirror, một tờ báo khác tại Luân Đôn đăng tải tin Do Thái làm bom nguyên tử của nhà báo Guerrero cung cấp. Tờ Sunday Mirror không tin nguồn tin của Guerrero nhưng cho đăng bản tin với mục đích cảnh giác dư luận báo chí đừng mắc lừa Guerrero. Bài báo đăng một tấm hình của ông Vanunu và Guerrero với những chi tiết do Guerrero phóng đại. Thấy bài báo, ông Mordechai Vanunu nghĩ rằng nỗ lực của ông đã hỏng và tờ Sunday Times sẽ không bao giờ khai thác nguồn tin của ông.
Ngày 30/9 Mordechai Vanunu cho Sunday Times biết ông sẽ đi vắng vài hôm. Sáng hôm đó, trong khi tiếp xúc với Sunday Times qua điện thọai Sunday Timescho biết họ đã hoàn tất việc kiểm chứng nguồn tin giá trị của ông và sẽ đăng tải trong số báo ngày Chủ Nhật 5/10/1986 . Rất phấn khởi ông Vanunu hứa vớiSunday Times sẽ trở về khách sạn ngày 2/10 kịp trước khi báo phát hành.
Nhưng - như đã biết - ông không bao giờ trở lại ... Mấy hôm sau báo chí tại Do Thái loan tin Mordechai Vanunu đang bị cầm tù tại Do Thái. Chính phủ Anh cho điều tra và không tìm thấy bằng chứng nào Do Thái đã vi phạm chủ quyền của Anh . .. Cho mãi 18 năm sau, khi ông Mordechai Vanunu mãn án tù tại Do Thái thế giới mới có đủ các nét của toàn bộ bức tranh.
**
Sau khi Mordechai Vanunu trốn khỏi Do Thái, thủ tướng Shimon Perez ra lệnh cho cơ quan tình báo Mossad của Do Thái tìm cách bắt cóc ông Vanunu mang về Do Thái trị tội. Chỉ thị của thủ tướng Perez là tránh vi phạm chủ quyền của Anh quốc, lúc đó đang có căng thẳng ngoại giao với Do Thái.
Cơ quan Mossad cử nữ điệp viên bí danh Cindy, tên thật là Cheryl Hanin, một thiếu nữ Mỹ 25 tuổi tóc vàng xinh đẹp đến Luân Đôn để làm quen với ông Vanunu. Cindy làm việc cho Mossad trong bộ phận tình báo tại các tòa đại sứ Do Thái ở nước ngoài. Hồ sơ nhân sự cho biết ông Mordachai Vanunu là một thanh niên phóng khoáng, nhiều nghệ sĩ tính.
Đến Luân Đôn cô Cindy giả làm một du khách Mỹ chuyên nghề thử nước hoa đến Luân Đôn để trau dồi nghề nghiệp, trong khi bộ phận khác của Mossad tim cách tiếp cận với Mordechai Vanunu.
Những ngày ở Luân Đôn chờ Sunday Times kiểm tra thông tin, Mordechai Vanunu thỉnh thoảng đi dạo phố, và cơ quan Mossad đã theo dõi được dấu vết của Mordechai Vanunu. Mossad bố trí Cindy gặp Mordechai Vanunu tại công trường Leicester. Tài tử gặp giai nhân điệu nghệ và nhanh chóng trở nên đôi nhân tình tha thiết. Nhà báo Peter Hounam đượcSunday Times biệt phái theo dõi giúp đỡ ông Vanunu cảnh giác rằng Cindy có thể là điệp viên Do Thái, nhưng ông Vanunu không tin cho rằng Cindy là một người Mỹ gốc Do Thái có khuynh hướng chống vũ khí nguyên tử như anh.
Ngày 21/4/2004 trong một cuộc họp báo bất ngờ tại Jerusalem sau 18 năm tù ông Vanunu cho biết trong những ngày dong chơi ở Luân Đôn ông đang bực bội về bài báo “láo lếu” trên tờ Sunday Mirror thì Cindy rủ ông đi Rome chơi vài ngày cho khuây khỏa và ông đã bị bắt cóc tại đó.
Mordechai Vanunu thuật lại rằng, chiều ngày 30/9/86 ông và Cindy vừa từ phi trường Rome về tới một căn phòng Cindy nói của bà chị ruột dành riêng cho cô thì ông bị hai người, một Do Thái, một Pháp phục sẵn trong phòng đánh anh gần ngất xỉu, chích thuốc mê vào người rồi dìu anh một cách kín đáo ra xe chạy đến một bờ biển vắng. Một chiếc thuyền máy nhỏ chờ sẵn đưa anh ra một chiếc tàu lớn hơn. Anh bị xiềng chân tay trên tàu, và sau 7 ngày lênh đênh trên Địa Trung Hải ngày 7/10 tàu cập bến Caesaria Beach tại Do Thái .
Mossad đưa anh về nhà tù Shikma ở Ashkelon cách Jesusalem 60km.
Báo chí tại Do Thái đăng đầy đủ vụ truy tố Mordechai Vanunu và phiên tòa xử Mordechai Vanunu nhưng không hề có một chi tiết tại sao Mordechai Vanunu đang ở Luân Đôn lại nằm trong nhà tù tại Do Thái. Chính phủ Do Thái xem như Mordechai Vanunu chưa bao giờ ra nước ngoài.
Ngày 28/12/1986 tòa xử kín được ghi băng với công tố viên Ouzi Hason và luật sư bào chữa Amnon Zichroni. Ông Amnon Zichroni là một luật sư nổi tiếng tranh đấu cho nhân quyền.
Công tố viên Hason kết ông Mordechai Vanunu hai tội. Thứ nhất là gíúp kẻ thù của Do Thái có thể lãnh án tử hình hay 25 năm cấm cố. Tội thứ hai là tiết lộ bí mật quốc gia có thể lãnh án khổ sai chung thân.
Sau khi luật sư Zichroni bênh vực, tòa án tuyên án Mordechai Vanunu 18 năm tù.
**
Ông Mordechai Vanunu được phóng thích ngày 21/4/2004 với hai hạn chế: không được rời khỏi nước; thứ hai không được tiếp xúc với người nước ngoài .

Image
Mordechai Vanunu, 49 tuổi và cảnh sát Do Thái
Hiện nay ông Vanunu vẫn sống tại Do Thái và thỉnh thoảng đụng chạm với pháp luật. Năm 2007 ông bị 6 tháng tù giam về tội kết thân tình cảm với một thiếu phụ người Na Uy.
Về phần Cheryl Hanin, sau khi hoàn thành công tác cô sống tại thành phố Netanya ở miền Bắc Do Thái một thời gian trước khi trở về nguyên quán ở Florida, Hoa Kỳ sống với chồng. Cô Hanin tuyệt đối không tuyên bố điều gì với báo chí về điệp vụ của cô.
Cho đến nay Do Thái vẫn theo chính sách “không nhìn, không chối” về kho bom nguyên tử của mình và thế giới cũng nín thinh một cách rất yên ổn cho Do Thái như đó là một phần của chính sách Trung Đông của Liên hiệp quốc .
Qua vụ Mordechai Vanunu vào năm 1986 các chuyên viên nguyên tử quốc tế xếp Do Thái vào quốc gia nguyên tử mạnh thứ sáu trên thế giới (sau Hoa Kỳ, Liên Bang Nga, Anh, Pháp, Trung quốc). Do Thái có một kho bom và nhiên liệu dự trữ có thể sản xuất 200 đầu đạn nguyên tử khác .
**
Iran thì sao?
Theo dõi hoạt động hiện nay của Iran chúng ta có thể tiên đoán rằng: Iran sẽ chế tạo bom nguyên tử. Và Iran sẽ áp dụng chính sách không nhìn, không chối như Do Thái. Và rồi thế giới sẽ phải chấp nhận thực tế đó.
Ngày 29/6/2010 cựu tổng thống Clinton khi trả lời câu hỏi: “Có cách gì ngăn cản Iran chế tạo bom nguyên tử không?” của nhà báo Wolf Blitzer của đài CNN trong chương trình “The Situation Room”, ông Bill Clinton trả lời đại ý: Tôi không biết! Người ta có thể đánh phá cơ sở chế tạo vũ khí nguyên tử của Iran. Nhưng thành công hay không là một chuyện khác và cái giá sẽ không lường trước được./.

Trần Bình Nam

July 1, 2010

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Tản Mạn Hậu Thiên An Môn

Hoàng Duy Hùng


Rạng sáng ngày 4/6/1989, Trung Nam Hải cho quân đội tràn vào Thiên An Môn sát hại nhiều ngàn người đang biểu tình tại đây dập tắt phong trào dân chủ do sinh viên phát động và lãnh đạo. Đã hơn 2 thập niên trôi qua, nhưng mỗi năm, vào đầu tháng Sáu, người dân Trung Hoa yêu chuông tự do dân chủ tổ chức những buổi tưởng niệm long trọng khắp nơi trên thế giới. Đương nhiên những buổi tưởng niệm này bị cấm đoán và truy bức tại Hoa Lục. Chỉ có Hồng Kông được đặc miễn. Năm 1997, Hồng Kông bị trả về cho Hoa Lục nhưng vì thành phố này đã hưởng không khí tự do của Âu Tây trên 100 năm, Bắc Kinh chấp thuận cho Hồng Kông có quy chế đặc biệt.

Năm nay, cả hàng trăm ngàn dân Hồng Kông xuống đường làm lễ tưởng niệm biến cố Thiên An Môn nhưng họ không được thoải mái như những năm trước. Ngày 1 tháng 6, 2010, Bắc Kinh tổ chức Lễ Quốc Tế Cho Trẻ Em, báo China’s Southern Metropolis Daily đăng những tranh vẽ của các trẻ em, trong đó có một bức vẽ một cái cây đứng trước đoàn xe tăng. Bức tranh này gợi lại hình ảnh người thanh niên Wang Weiling can đảm một mình đứng ngăn chặn đoàn xe tăng tiến vào Thiên An Môn năm 1989. Tấm ảnh này do ký giả Jeff Widener của AP ở trên lầu 6 của Khách Sạn Beijing cách xa Quãng Trường Thiên An Môn khoảng 1 cây số chụp được trong lúc đoàn xe tăng tiến vào địa điểm lịch sử này. Lập tức bức vẽ này của em bé được giới sử dụng mạng luân chuyển nhanh chóng, gây nên một sự hưng chấn trong cộng đồng người Hoa yêu chuộng dân chủ, tạo cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc một sự bực tức vô cùng. Để xả cơn giận của mình, Bộ Chính Trị CSTQ ra lệnh cho cảnh sát Hồng Kông kềm hãm buổi lễ tưởng niệm Thiên An Môn không đưọc lớn mạnh, bắt giam 13 nhà đấu tranh đã đứng bên lề đường giương cao bức tượng Nữ Thần Tự Do. Tưởng cũng xin nhắc lại trong biến cố Thiên An Môn, sinh viên đã dựng một bức tượng Nữ Thần Tự Do giống y như tượng Nữ Thần Tự Do ở New York do người Pháp tặng cho người Hoa Kỳ vào thế kỷ thứ 19. Buổi tưởng niệm biến cố Thiên An Môn tại Hong Kong và nhiều nơi trên thế giới cho thấy cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ của dân Trung Hoa vẫn đang tiếp diễn, tiếp diễn một cách nhẫn nại và kiên trì.

Trong khi đó, đúng ngày tưởng niệm biến cố Thiên An Môn, Wuer Kaixi, 42 tuổi, một trong những lãnh tụ nổi tiếng của sinh viên trong biến cố lịch sử đó, xâm nhập vào Tòa Đại Sứ Trung Cộng ở Tokyo, Nhật Bản, với ước mong được về Trung Hoa để chứng minh mình là một kẻ vô tội không giống y như những gì chế độ cáo buộc ông là phản quốc. Nếu được trở về Trung Quốc, ông chấp nhận cùng chung chịu số phận tù đày với những nhà đấu tranh dân chủ khác. Trung Cộng nhất định không chấp nhận cho Wuer Kaixi trở về.

Wuer Kaixi sinh này 17/2/1968 ở Bắc Kinh trong gia đình gốc người Uyghur. Ông là một sinh viên xuất sắc được điểm cao. Trong biến cố Thiên An Môn, ông là người phát động chiến dịch tuyệt thực, và ông lên truyền hình quốc gia chế diễu Thủ Tướng Lý Bằng. Chính ông đã cứu nhiều sinh viên bằng cách điều đình với các sĩ quan quân đội, mua thời gian cho các sinh viên bỏ trốn. Ông cũng bỏ trốn, lúc đầu sang Pháp, sau đó qua Hoa Kỳ học ở Harvard University. Ông bỏ dở chương trình học tại đại học danh tiếng này và năm 1998 qua Đài Loan sinh sống để vận động sự thống nhất của Đài Loan với Hoa Lục trong một thể chế dân chủ. Ông là một bình luận gia cho một đài truyền hình ở Đài Loan từ năm 1998-2001. Ông lập gia đình và sau đó làm việc cho một ngân hàng.

Đầu tháng Sáu năm 2009, từ Đài Bắc, ông đáp máy bay đến Macao và cũng tìm cách vào Hoa Lục. Ông bị phát hiện, ông tự nộp mình cho nhà cầm quyền Trung Cộng ở nơi này, xin về Bắc Kinh mở cuộc đối thoại ngay trong tòa án, sau đó mặc cho số phận, nhưng Trung Cộng ép ông lên máy bay trục xuất về Đài Loan. Năm 2010, ông muốn vào Bắc Kinh qua ngã Nhật Bản, ông đã bị bắt và 2 ngày sau bị trả về Đài Loan. Trả lời báo Japan Today, ông nói: “Đã bao nhiêu năm nay tôi muốn mở một cuộc đối thoại (open dialogue) với nhà cầm quyền Bắc Kinh, đối thoại ngay chính tại Tòa Án cũng được, nhưng họ né tránh. Chúng tôi không có quân đội và cảnh sát, không có một tấc sắt trong tay, chỉ có một tấm lòng sắt son cho Trung Quốc, tại sao một nhà cầm quyền Bắc Kinh lại sợ?” Đáp lại lời cáo buộc này, Tòa Đại Sứ Trung Cộng tại Nhật trả lời không phải họ sợ mà Wuer Kaixi đâu có là gì đâu mà họ phải đối thoại! Đó là câu trả lời chính xác vì đối thoại chỉ có hiệu quả khi có tương quan lực lượng. Nếu lực lượng đấu tranh cho dân chủ không đoàn kết, không có sức mạnh, không có cơ chế hệ thống ngang dọc một cách vững vàng, không có lãnh đạo, thì nhà cầm quyền không bao giờ nhượng bước, “đối thoại” họ cũng không thèm chấp thuận chớ đừng mong đòi hỏi nhà cầm quyền “phải trả lại quyền tự quyết cho dân tộc” hay “phải chấp nhận hệ thống đa đảng” hoặc cái này cái nọ.

Năm nay tưởng niệm biến cố Thiên An Môn người ta thấy thiếu vắng Chai Ling. Cô sinh ngày 15/4//1966 ở tỉnh Sơn Đông. Năm 1987, cô có bằng Cử Nhân Tâm Lý ở Đại Học Bắc Kinh. Cô đang theo đuổi chương trình cao học thì xảy ra biến cố Thiên An Môn, cô nhập cuộc và trở thành một trong những người lãnh đạo. Người ta chỉ trích cô đã kêu gọi sinh viên hãy dàn hàng đứng đối đầu với binh lính, không được lùi bước, nhưng khi quân đội bắn chết các sinh viên, cô đã bỏ chạy. Thời gian đầu, cô trốn qua Hồng Kông, ở tại đây 10 tháng, sau đó qua và năm 1993 cô được Đại Học Princeton Hoa Kỳ cấp học bổng toàn thời gian. Năm 1996, cô học xong Cử Nhân và chuyển sang Đại Học Harvard, ra trường năm 1998 với bằng Cao Học Quản Trị. Cô lập gia đình với ông Robert A. Maginn Jr., Giám Đốc một công ty nhu liệu điện tử. Sau này, hai vợ chồng Chai Ling thành lập Công Ty Jenzbar, một công ty nhu liệu và đã thành công. Chai Ling nộp đơn kiện tập đoàn làm phim tài liệu The Gate of the Heavenly Peace vì cho rằng phim này đã không diễn tả đúng sự thật làm mất thanh danh của cô. Cô khẳng định cô và các lãnh đạo sinh viên khác ở lại tới cùng khi quân đội tiến vào Thiên An Môn chớ không phải bỏ trốn như tài liệu mô tả. Tháng 6/2009, Chai Ling và chồng tuyên bố tặng một triệu Mỹ Kim nhân đạo cho những nạn nhân của biến cố này, nhất là phải làm sáng tỏ sự thật giai đoạn cuối của biến cố Thiên An Môn, trả lại danh dự cho cô. Tháng 4/2010, Chai Ling được rửa tội trở thành một tín đồ Thiên Chúa Giáo và cô tuyên bố cô tìm thấy niềm vui và an bình trong tôn giáo mới. Đầu tháng 6 năm 2010, Chai Ling tuyên bố vì tin theo tôn giáo mới, cô bãi nại tất cả các vụ kiện, không còn muốn tranh đua ăn thua đủ với đời nữa….

Đầu tháng 6/2010, tôi tiếp xúc với một vài sinh viên lưu vong trong biến cố Thiên An Môn. Tôi cũng tiếp đón phái đoàn Pháp Luân Công. Chúng tôi bàn chuyện các buổi tưởng niệm cũng như những gì đang xảy ra cho cuộc đấu tranh dân chủ của người Trung Hoa và so sánh những tương đồng và khác biệt với cuộc đấu tranh của người Việt.

Pháp Luân Công được thành lập do ông Lý Hồng Chí. Ông Lý Hồng Chí sinh vào ngày 13/5/1951 ở tỉnh Jilin miền đông bắc nước Trung Hoa. Ông lớn lên trong nghèo khổ. Mẹ ông ly dị với chồng khi ông còn bé thơ, bà làm lương có 30 Nhân Dân Tệ một tháng để nuôi con. Học vấn của ông cũng thăng trầm theo sự khổ cực của mẹ, nhưng cuối cùng ông vẫn tra trường trung học ở Changchun. Theo sự thăng trầm khổ cực của mẹ, theo lời kể của ông Lý Hồng Chí, năm ông 4 tuổi, ông đã có cơ duyên gặp các đạo sĩ và các cao tăng để theo học đạo lý của trời và của nhà Phật. Ông gặp hết duyên này sang duyên khác với các vị cao tăng và các đạo sĩ nên sau biến cố Thiên An Môn, nhiều người đau khổ đến gặp ông để học hỏi tìm cách giải thoát chính mình. Ngày 13/5/1992, ông chính thức giới thiệu Pháp Luân Công ở một trường trung học tại Changchun, tình Jilin. Sau đó, ông đi khắp Trung Hoa truyền dạy Pháp Luân Công và ông đã thâu nhận nhiều đảng viên cao cấp Cộng Sản làm môn sinh. Ông thành lập Pháp Luân Giáo Phái và theo tổ chức này, hiện nay họ có cả hơn 100 triệu thành viên ở trong Trung Hoa Lục Địa, gấp đôi con số đảng viên Đảng Cộng Sản và nhiều Đảng Viên Cộng Sản đã và đang bí mật tham gia tổ chức này.

Khi thấy Pháp Luân Giáo Phái nhanh chóng lớn mạnh có thể trở thành một lực lượng chính trị lật đổ cả nhà cầm quyền Cộng Sản, Giang Trạch Dân, lúc đó là Tổng Bí Thư ĐCSTQ và là Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, ngày 19/7/1999, chính thức ra lệnh truy lùng Lý Hồng Chí và triệt hạ Pháp Luân Công. Ông Lý tỵ nạn sang Hoa Kỳ. Từ năm 2001, Pháp Luân Công tổ chức nhiều buổi trình diễn nhạc kịch Shen Yun lưu diễn khắp nơi trên thế giới. Họ bán vé rất cao và được sự hỗ trợ nồng nhiệt của các thương gia và chính khách ngoại quốc. Kịch nhạc Shen Yun trình bày văn hóa của Trung Hoa một cách tuyệt vời, nhưng những ai tinh ý thì thấy Shen Yun lên án sự tàn bạo của chế độ Cộng Sản Bắc Kinh. Cách đây vài năm, Trung Cộng gởi văn thư cho một cơ sở kịch ảnh tại Arkansas nơi Shen Yun trình diễn, nội dung bức thư kết án Pháp Luân Công là một tổ chức khủng bố có những hành vi dị đoan chủ trương lật đổ nhà cầm quyền Trung Cộng. Ông chủ cơ sở kịch ảnh tại Arkansas cho đăng nguyên bức thư này trên báo tạo nên một sự bất mãn của quần chúng Hoa Kỳ với Trung Cộng vì người Mỹ cho rằng Tự Do ngôn luận là cơ bản hành xử của Hoa Kỳ và nhờ đó đã giúp cho Hoa Kỳ giàu mạnh. Năm 2006, Hội Đồng Thành Phố San Francisco ra nghị quyết yêu cầu nhà cầm quyền Bắc Kinh hãy ngưng việc bách hại Pháp Luân Giáo Phái. Học bài học đó, năm nay Trung Cộng ứng xử khéo léo hơn, họ đã dùng phương thức rỉ tai vận động các chính khách nếu công khai yểm trợ cho Pháp Luân Công tức là gây thù oán với chế độ của họ. Các chính khách Hoa Kỳ rất khéo, họ vẫn ủng hộ Pháp Luân Công nhưng nói rằng đây là sự ủng hộ cho văn hóa của Trung Quốc. Nhưng cũng có nhiều chính khách e ngại thế lực của Trung Cộng.

Ngày 28/4/2010, cảnh sát Houston thấy một chiếc xe không có bảng hiệu, đuổi theo và ra dấu cho xe này ngừng lại. Trong xe có ông Boren Yu, 53 tuổi, Phó Tổng Lãnh Sự Trung Cộng, và một người hành khách khác. Ông Boren Yu không chịu ngừng lại mà cứ lái xe thẳng vào garage của Tổng Lãnh Sự. Nhiều cảnh sát đuổi theo vào tận garage bắt ông Boren Yu. Hành động của ông Boren Yu không khéo léo nhưng việc cảnh sát Houston vào một tổng lãnh sự của nước ngoài bắt một nhà ngoại giao vi phạm luật quốc tế, không chấp nhận được. Trung Cộng làm ầm ỹ vụ này, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ phải xin lỗi. Thị Trưởng Houston, bà Annise Parker, và cảnh sát trưởng McClelland đã phải khéo léo dàn xếp với bà Tổng Lãnh Sự Cao Yến Bình (Gao Yenping). Vì biến cố này còn nóng hổi nên không muốn có sự phiền phức, năm nay Thành Phố Houston không trao bằng tưởng lục cho Pháp Luân Công trong việc trình diễn Shen Yun vào ngày 2 & 3 của tháng 7. Tổng Lãnh Sự Trung Cộng tổ chức tiệc tiễn đưa ông Phó Tổng Lãnh Sự Boren Yu về Bắc Kinh vào đúng giờ khai mạc của Shen Yun vào ngày 2/7. Phái đoàn Pháp Luân Công rất hiểu tình huống này, họ vui vẻ chấp nhận và không phàn nàn điều gì và họ nói với tôi, chữ Nhẫn là một trong ba chữ quan trọng nhất của Pháp Luân Công.

Khi nhắc đến chuyện Wuer Kaixi bị bắt ở Nhật và những lời phát biểu của ông ấy, tôi nói: “Wuer Kaixi phát biểu đòi đối thoại công khai với Trung Cộng vậy mà một số các ông còn cho rằng quá khích. Với những người đấu tranh dân chủ của Việt Nam, ai mà phát biểu như vậy thì đã bị chụp cho cái nón cối Cộng Sản hoặc thân Cộng rồi.!” Một người đã từng có mặt trong biến cố Thiên An Môn nói với tôi: “Văn hóa Trung Hoa lấy nhu thắng cương, nước chảy đá mòn, và vì thế não trạng của chúng tôi có lẽ có đôi chút khác biệt với người Việt. Chúng tôi đấu tranh đặt nặng tính thành công hơn là sĩ diện cá nhân. Nghe nói bên các ông có một nhà cách mạng (nhà cách mạng Nguyễn Thái Học) đặt yếu tố thành nhân hơn thành công. Chúng tôi đấu tranh đặt yếu tố thành công hơn thành nhân. Nếu đấu tranh chống Cộng chỉ vì chống Cộng thì sẽ bị đông đặc trong tư duy, thiếu sáng tạo, và nhiều khi chính sự bảo thủ đó lại đưa đến sự tắc nghẽn trong đấu tranh, chận bước con đường đấu tranh. Chính những người bảo thủ quá khích này là cản trở vật như Lenin đã từng nói đó là nhiệt tình cộng với sự ngu dốt là phá hoại. Ông có nhớ đến vụ ném trứng nhồi mực vào ảnh Mao Trạch Đông được treo ở Quãng Trường Thiên An Môn do 3 người ở tỉnh Hồ Nam không?” Tôi trả lời: “Nhớ, nhớ lắm.”

Ba người đó chính là Yu Dongyue, Lu Decheng, và Yu Zhijian.

Vào tháng 5 năm 1989, khi sinh viên tổ chức đòi hỏi dân chủ ở Thiên An Môn, Yu Dongyue và Lu Decheng là 2 thày giáo ở Hồ Nam cùng với một người bạn thân Yu Zhijian là công nhân lái xe vận tải quyết định đáp xe lửa về Bắc Kinh tham gia biến cố lịch sử này. Cả ba còn rất trẻ mới 21 tuổi. Ngày 23/5/1989, khi khí thế cuộc biểu tình dâng cao, ba người nhồi mực đen vào trong các trái trứng rỗng ruột, ném những trái trứng này vào bức tranh to lớn của Mao Trạch Đông được treo ngay trước Tử Cấm Thành, đối diện với Quãng Trường Thiên An Môn. Công an không dám làm gì với ba người này, nhưng chính những sinh viên và những người biểu tình đã bắt ba người, trao cho công an truy tố. Sau này, Yu Dongyue bị kết án 20 năm tù. Lu Dencheng bị kết án chung thân, và Yu Zhijiang bị kết án 16 năm. Cả ba bị đưa về trại giam khổ sai Lingling ở tỉnh Hồ Nam. Cả ba bị hành hạ các tàn nhẫn. Năm 1998, Lu Decheng được trả tự do, sau đó năm 2001 đến lượt Yu Zhijian. Phần Yu Dongyue, từng bị trói vào cột đèn giam phơi nắng nhiều ngày trời, ngày 22/2/2006, họ thả ông ra thì người ta thấy ông có những dấu hiệu của điên loạn.

Một người trong phái đoàn hỏi tôi có biết tại sao chính các sinh viên lại bắt những người này trao cho công an không? Tôi xin họ trả lời. Họ nói: “Chúng tôi phải nhẫn nhịn, không thể trong lúc hào hứng dâng cao lại để những người này làm chuyện đó, công an lấy cớ đàn áp thì cuộc đấu tranh sẽ bị mất chính nghĩa và nhanh chóng tàn lụi. Chúng tôi phải bảo toàn chủ lực đợi khi nào sức mạnh tổng hợp lên cao thì mới trực diện đối đầu. Tất cả những ai hấp tấp đi ngược lại kế hoạch này thì dầu chúng tôi không muốn chúng tôi buộc lòng phải hy sinh họ. Đấu tranh là phải biết thoái biết lui, biết xuống bùn đen và biết lên tận mây xanh, biết người biết ta thì trăm trận mới thắng, và để đạt điều này thì phải có lãnh đạo sáng suốt. Phong trào đấu tranh cho tự do dân chủ của Việt Nam đã có nhân lực, tài lực, và đã có lãnh đạo nhất hô bá ứng chưa?” Tôi nghẹn ngào: “Chưa.” Họ trả lời: “Pháp Luân Giáo Phái có lãnh tụ tối cao là Lý Hồng Chí nhất hô bá ứng, có cả trăm triệu đảng viên trong nước, nhiều triệu đảng viên ở hải ngoại, có một ngân sách to lớn, ấy thế mà Pháp Luân Giáo Phái còn phải học chữ nhẫn, đôi lúc còn phải chấp nhận cả sự luồn cúi như Hàn Tín lòn trôn, vậy mà cũng không dễ dàng gì. Như lời ông trình bày, các tổ chức đấu tranh cho dân chủ của Việt Nam chưa đoàn kết và tài chánh không dồi dào thì việc các tổ chức này chỉ biết dùng chiêu cương đối đầu với nhà cầm quyền mà thôi thì tôi e ngại sẽ không có kết quả, nhiều khi lại đổ vỡ gây thiệt hại tang thương. Ông hãy nhớ, cương chính là sở trường của nhà cầm quyền. Tấn công vào chỗ mạnh nhất của nhà cầm quyền thì như đi vào chỗ tự sát.” Nghe đến đây tôi tưởng tượng cảnh nếu là người Việt thì chắc người ta đã kết án lãnh đạo đấu tranh của sinh viên tại Thiên An Môn năm 1989 là cuội hoặc là tay sai Cộng Sản từ khuya rồi! Ôi, đau đớn thay cho sự khác biệt não trạng của người Trung Hoa và Việt Nam.

Một người trong phái đoàn hỏi tôi có biết nguyên nhân nào đưa đến sự lớn mạnh của sinh viên trong biến cố Thiên An Môn không? Tôi trả lời nếu không có cố Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc Hồ Diệu Bang và lúc đó đương kim Tổng Bí Thư Triệu Tử Dương thì không có biến cố này. Họ trả lời đúng. (Chuyện này rất dài không kể hết trong bài báo này). Một người trong phái đoàn nói: “Đức Khổng Tử nói nhân chi sơ tính bản thiện. Trong âm có dương, trong dương có âm. Trong cơ chế nào cũng vậy, có người tốt và kẻ xấu. Trong phong trào dân chủ khối gì kẻ xấu. Trong Đảng Cộng Sản cũng rất nhiều người tốt, chỉ vì họ ở trong cơ chế bạo tàn khó cựa quậy mà thôi. Làm thế nào chúng ta khai mở sinh lộ cho họ, họ ý thức, và sau khi nhận đủ được sự động viên, họ đứng về phe chính nghĩa. Sức mạnh của họ còn mạnh hơn cả trăm lần các sư đoàn của chúng ta. Nhiều khi họ còn trăn trở và đau khổ hơn chúng ta vì họ đang leo lưng cọp, không khéo rớt xuống thì cọp xé thây liền. Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương là hai ví dụ tại Trung Quốc.” Tôi nói: “Ở bên Việt Nam cũng có Trần Xuân Bách nhân vật số 9 của Bộ Chính Trị CSVN và sau này nghe nói cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt cũng bị sát hại vì phe Cộng Sản bảo thủ cho rằng ông có những tư tưởng tiến bộ.” (Xin được trình bày thâm cung bí sử chuyện này trong một bài báo khác.)

Sau vài lần tiếp xúc với những người đấu tranh cho dân chủ của Trung Hoa, tôi trầm ngâm suy nghĩ đến vụ Hoa Kỳ truy tố tướng Vang Pao của người Lào và ông Yasith Chlun của người Khmer. Năm 2007, Tướng Vang Pao (sinh năm 1929) bị gài bẫy và bị truy tố về tội chuyển vũ khí âm mưu lật đổ Cộng Sản Lào vi phạm ngoại giao giữa Mỹ và quốc gia này. Quần chúng Lào đấu tranh, vài ngàn người quỳ trước tòa án từ sáng tới tối, cuối cùng, ngày 18/9/2009, Hoa Kỳ lấy lý do ông đã già yếu nên “tha” không truy tố ông nữa. Phần ông Yasith Schlun, ngày 22/6/2010, ông bị tòa án Liên Bang của Hoa Kỳ tai Los Angeles tuyên án ông tù chung thân vì cách đây 10 năm, ngày 24/11/2000, ông đã tổ chức 200 đảng viên vũ trang nổi dậy tại Phnom Penh âm mưu lật đổ nhà cầm quyền của Hun Sen. Hoa Kỳ gởi ra một tín hữu mạnh mẽ và rõ ràng sau 9/11/2001, Hoa Kỳ đã có bang giao với những quốc gia nào, dầu đó là kẻ cựu thù, tất cả những hoạt động vũ trang nhằm lật đổ chế độ đó đều sẽ bị Hoa Kỳ truy tố, những nhà đấu tranh cho tự do dân chủ phải thay đổi sách lược và chiến thuật cho bối cảnh mới, không thì phải chịu hệ quả nặng nề như ông Yasith Schlun hoặc chí ít thì cũng như cựu tướng Vang Pao. Câu hỏi được đặt ra đó là từ sách lược lật đổ chuyển sang sách lược đấu tranh chuyển hoán liệu quần chúng, nhất là những người quá khích không ở trong các đảng phái, có hiểu được hay không hay chỉ chống Cộng và vung vít chụp mũ cho thoả thích?

Lời Kết: Tôi có dịp hân hạnh ăn cơm với ông Thái Trung Lương 2 lần. Cả hai lần này đều nhờ ông Nguyễn Văn Tánh hiện nay đang là Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ sắp xếp. Ông Nguyễn Văn Tánh cũng có mặt trong 2 bữa cơm đó. Khi ấy, ông Thái Trung Lương là 1 trong 5 ủy viên thường trực của Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Ông nói thông thạo nhiều thứ tiếng trong đó có tiếng Trung Hoa, Việt, Lào, Khmer, Anh, Pháp, v.v. Tôi có một khuyết điểm lớn là sự trực tính. Tôi hỏi ông: “Năm 1952, Mao Trạch Đông phát động Bước Nhảy Vọt sát hại cả triệu người làm người Trung Quốc khắp nơi bất mãn. Năm 1966 họ Mao lại phát động Cách Mạng Văn Hóa làm mất lòng người vô vàn. Khi ấy Trung Hoa Quốc Dân Đảng đã vững mạnh tại Đài Loan, được Liên Hiệp Quốc công nhận là chính quyền đại diện cho Trung Quốc, có vài chục triệu đảng viên trong lục địa, tại sao Trung Hoa Quốc Dân Đảng lại không mở cuộc tổng tấn công để cướp lại chính quyền ở Bắc Kinh? Tôi tin chắc nếu Trung Hoa Quốc Dân Đảng phát động thì toàn dân Trung Quốc hưởng ứng và sự thành công đã ở trong tay các ông.” Ông Thái Trung Lương nói với tôi: “Ông tưởng rằng chúng tôi đã không biết chuyện này ư? Chúng tôi đã có những kế hoạch tổng tấn công và hồ hỡi chuẩn bị về Bắc Kinh nắm quyền. Nhưng ông biết thế lực nào cản trở chúng tôi hay không?” Tôi trầm ngâm suy nghĩ, ông Thái Trung Lương tiếp tục: “Chính Hoa Kỳ và Âu Châu đã gởi tín hiệu cho chúng tôi họ sẽ phá bỉnh cuộc tổng tấn công của chúng tôi. Lý do đơn giản, họ không muốn cho một Trung Hoa thống nhất có thể chế tự do dân chủ thật sự, vì qua thể chế này, Trung Hoa lớn mạnh và họ sẽ không kiểm soát nổi. Chúng ta đấu tranh phải hiểu các con cờ không còn là cục bộ mà là cả ván cờ thế giới. Ông hãy suy nghĩ cho kỹ để hiểu tại sao Việt Nam bị Hoa Kỳ bỏ rơi và từ đó ông hãy nhắn gởi đến những lãnh đạo đấu tranh cho dân chủ của Việt Nam biết uyển chuyển trong kế hoạch, đôi lúc phải dụng khổ nhục kế đứng sát ngay bên kẻ thù để lấn sân kẻ thù thì cuộc cách mạng dân chủ mới thành công.” Ông Nguyễn Văn Tánh và tôi nghe những lời góp ý này, cả hai thấy thấm thía vô cùng và đôi lúc tự bâng khuâng không hiểu những người Việt Quốc Gia có hiểu cho được sách lược “uyển chuyển để lấn sân” này hay không hay có tác dụng ngược bị chụp cho cái nón Cộng Sản hoặc thân Cộng?!!!

Trong một bữa tiệc tại tư gia của tôi, ông V, một nhân vật đấu tranh nổi danh của người Việt kể cho tôi và các bạn bè như sau: “Một hôm, Đảng Cộng Sản Việt Nam tuyên bố 3 tháng nữa vào ngày X giờ Y ngay tại Quốc Hội ở Hà Nội hõ sẽ trao quyền cho những người chống đối. Tới ngày X giờ Y, không ai thấy có một người người phản kháng nào ở trong hay ở ngoài nước đến để nhận quyền. Các chiến hữu có biết tại sao không?” Một người giơ tay lên phát biểu: “Chuyện hoang tưởng, làm gì mà ĐCSVN lại tốt lành như thế. Chúng lập ra cái bẫy. Tuyên bố xong, những con mồi ngây thơ nhẹ dạ đã bị CSVN tiêu diệt. Những kẻ sống sót đâu có dại gì lọt vào bẫy của Cộng Sản mà dẫn xác đến Ba Đình nộp mình cho họ.” Ông V trả lời: “Đây là ví dụ và cứ cho rằng ĐCSVN thật tâm trao quyền cho những người phản kháng đi.” Có người ý kiến: “Một lần thất tín, vạn sự chẳng tin. ĐCSVN đã thất tín quá nhiều nên dầu rằng lần này có thật thì cũng chẳng ai dám tin chúng để rước họa vào thân.” Ông V lại nhấn mạnh: “Cứ cho rằng những người phản kháng tin vào sự thành tâm trao quyền của ĐCSVN.” Mọi người đưa mắt nhìn ông V như khuyến khích ông nói huỵch toẹt cho rồi. Ông V kế tiếp: “Thủ Tướng CSVN cho gọi điện thoại ở các phi trường hải ngoại thì thấy lặng im như tờ, chẳng có nhà phản kháng Việt Nam nào ra tới phi trường. Thủ Tướng CSVN cũng hỏi các phi trường nội địa, các tuyến đường công cũng như tư trong nước, cũng không thấy nhà đấu tranh dân chủ nào lên đường. Hỏi kỹ lại thì được thuộc cấp trả lời trong 3 tháng qua, các nhà phản kháng trong cũng như ngoài nước đã chụp cho nhau cái nón cối Cộng Sản rồi tiêu diệt lẫn nhau nên không còn ai sống sót để tới Ba Đình lật trang mới của lịch sử.” Ông V dứt lời thì ai nấy thinh lặng vì tệ nạn thủ kho nón cối chụp mũ cho nhau là một thực tế đau lòng trong giới đấu tranh ở trong cũng như ở ngoài nước. Ông V kết luận: “Bao lâu tệ trạng này còn tiếp diễn thì bấy lâu ngày Tự Do & Dân Chủ thật sự khó mà trổ bông kết trái tại quê hương Việt Nam.”

Houston ngày 27/6/2010

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Tưởng niệm
Nhà Cách Mạng Dân Tộc kiêm Văn Hào
Nhất-Linh Nguyễn Tường Tam
Cách đây đúng 47 năm, ngày 7 tháng 7 năm 1963, nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã uống độc dược quyên sinh tại Sài Gòn để phản đối chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm đàn áp đối lập chính trị và bức hại Phật giáo Việt Nam. Ông chọn ngày 7 tháng 7 vì 24 tiếng đồng hồ sau đó, ông không chấp nhận bị mang ra tòa án (8-7-1963) để xử tội chống đối Ngô triều , và cũng là ngày “Song Thất” mà chính quyền kỷ niệm ngày ông Diệm sau “bao nhiêu năm từng lê gót nơi quê người”, bắt đầu về Việt Nam làm Thủ tướng cho vua Bảo Đại.

Trong chúc thư để lại cho gia đình và bạn bè chiến hữu, ông viết:


"Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử cả. Sự việc đem các đảng phái quốc gia đối lập ra xét xử là một trọng tội đối với quốc gia, chỉ đưa đất nước rơi vào tay Cộng Sản. Vì thế tôi tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu là để cảnh cáo những ai chà đạp mọi thứ tự do.

Ký tên: Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, ngày 7 tháng 7 năm 1963.”



Hiện nay, tại hải ngoại, những “sử gia” hoài Ngô dư đảng cần lao loại Tú Gàn Nguyễn Cần, cựu bộ trưởng Nội vụ Lâm Lễ Trinh, Nguyễn Văn Lục (em Nguyễn Văn Trung), Nguễn Hữu Duệ… đang cố tình đánh bóng lại sự nghiệp của ông Ngô Đình Diệm, cậu ruột của Hồng y Nguyễn Văn Thuận, để làm biểu tượng chính trị hầu tập trung lực lượng Công giáo chống Cộng, và để chuẩn bị cho Vatican phong thánh trong tương lai. Trong quá trình “đánh bóng” đó, những ai đã từng chống lại Ngô Đình Diệm và chế độ của ông ta đều bị lên “giàn hỏa lịch sử” để thiêu đốt hết. Phật giáo là một trường hợp. Nhất Linh là một trường hợp khác, mà điển hình là bài viết của Nguyễn Văn Lục bôi bác Nhất Linh bị bệnh tâm thần nhằm ngụy biện rằng đầu óc Nhất Linh vốn bất thường từ lâu, có ý định tự tử từ 10 năm trước chứ chẳng phải vào năm 1963 để lên án chế độ Ngô Đình Diệm gì cả.

Nhân dịp kỷ niệm 47 năm ngày mất của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, chúng tôi xin đăng lại bài viết của bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm, người quen biết với ông đã lâu và cũng là bác sĩ gia đình trước và trong năm 1963 đó tại Sài Gòn, để tưởng nhớ đến một ngôi sao sáng của văn học Việt Nam, một người dân xã thân vì dân tộc, và để xem bùn dơ của các “sử gia” Công giáo hoài Ngô có vấy bẩn được hoa sen Nhất Linh hay không.

Image
Nhất Linh và Đông Hồ tại Sài Gòn, khoảng 1960


Nhớ về Nhất Linh

Nguyễn Hữu Phiếm


Người ta đã viết và nói nhiều về Nhất Linh trong khi anh còn sinh thời cũng như sau khi anh mất.

Viết hoặc tổ chức những buổi nói chuyện để đề cao một chiến sĩ cách mạng quốc gia đã noi gương Thượng toạ Thích Quảng Đức, tự huỷ mình để chống lại một chế độ bạo tàn, để “cảnh tình những con người ác, làm đèn soi sáng nẻo vô minh”, hoặc để đề cao một văn hào lỗi lạc, “một ngôi sao Bắc đẩu trong nền văn hoá Việt Nam”, suốt đời chỉ biết phụng sự văn hoá, vì theo Nhất Linh, chỉ có văn mới làm cho đời người đẹp hơn và đáng sống mà thôi.

Cũng có khi viết hay nói về Nhất Linh cốt để tự đề cao mình lên, và theo tôi, cái đó cũng không lấy gì làm lạ, vì như văn hào Duhamel đã viết: “Khi một người có danh tiếng nằm xuống thì có biết bao nhiêu người tự nhận là bạn thân của người đó xuất hiện”.

Nói cho đúng ra, Nhất Linh có rất nhiều bạn – ngoài một số đông độc giả mến tài anh qua những tác phẩm của anh – vì ai đã gặp anh không thể không quý anh được. Nhưng trong mấy năm gần đây, nhất là từ sau ngày đảo chính hụt 1-11-1960, anh bị chính quyền Ngô Đình Diệm lùng bắt, nhiều người xa lánh anh, cũng như anh, không muốn cho ai vì mình mà phải liên luỵ, cũng chỉ lui tới nhà một thiểu số bạn, rất thân của anh, trong đó có kẻ viết bài này.

Có người cho rằng, dù cho có giao du với Nhất Linh thì đã sao, nhất là trong trường hợp tôi, vốn quen biết anh từ lâu, lại là thầy thuốc của gia đình anh nữa; nhưng theo tôi, phải sống dưới chế độ độc tài, như chế độ họ Ngô, mới thấy rằng người dân không có quyền gì hết đã đành, lại không có cả cái quyền chơi với bạn nữa, nhất là khi người bạn đó lại đứng về phe đối lập như Nhất Linh. Nếu không tất sẽ bị khủng bố, và nếu là một công chức, sẽ bị sa thải, “nồi cơm sẽ bị bể” như ta nói. Điều bi đát này, chính tôi đã được tai nghe một cựu công chức cao cấp của Ngô triều thuật lại.

Ở đây, tôi chỉ ghi những gì tôi biết về Nhất Linh trong những giờ phút cuối cùng của anh. Trước hết, tôi dám quả quyết là Nhất Linh đã sắp đặt, ít nhất là một tuần lễ trước, cái chết của mình. Bằng cớ là ngày 30-6-1963, anh tới dự buổi họp của Trung tâm Văn Bút mà trước đó anh là chủ tịch, không phải vì văn hoá, mà chỉ cốt để gặp mặt một lần chót các văn hữu của anh trước khi bước sang bên kia thế giới.

Riêng một cử chỉ, “mối tình chân thành” đó cũng đủ cho chúng ta quý mến Nhất Linh rồi.

Ở Trung tâm Văn bút ra, Nhất Linh có ghé lại thăm tôi, nhưng tiếc rằng hôm ấy tôi đi vắng.

Chủ nhật sau, nhằm ngày 7-7-1963, Nhất Linh lại tới vào buổi sáng hồi 10 giờ. Tôi đang ngồi trong phòng ăn bỗng anh lặng lẽ đi vào. Vẫn con người dong dỏng cao ấy, vẫn vầng trán rộng và thông minh ấy, với đôi mắt tuy tinh anh, sáng quắc nhưng đượm một vẻ buồn khó tả. Phải chăng, tôi nghĩ bụng, anh buồn vì ngày mai anh sẽ phải ra toà để toà xử về vụ đảo chính ngày 11-11-1960?

Anh mặc rất đơn giản, không khác gì mọi bận anh lại thăm tôi: sơ-mi trắng dài tay, hở cổ, quần tây màu xanh thẳm, và chân đi giày – vẫn đôi giày duy nhất ấy – cũ kỹ đến nỗi không nhận được ra màu gì nữa. Nhất Linh lười mặc lẫn lười ăn, lười uống… thuốc; trái lại, anh rất chăm làm việc, nhất là chăm đọc, chăm viết. Chả thế mà chỉ trong có ba tháng trời, trong khi anh lẩn trốn, mà anh còn viết, viết một mạch xong ba cuốn Dòng sông Thanh Thuỷ, rồi lại vẽ, lại sửa bản thảo trước khi đưa in…

Cho hay, khi đời sống nội tâm của con người ta dồi dào, phong phú thì tất cả những gì thuộc về ngoại vật, đều không đáng kể. Đó là trường hợp của Nhất Linh.

Như trên vừa nói, Nhất Linh lại thăm tôi vào buổi sáng hôm 7-7-1963. Anh giơ tay bắt tôi. Chúng tôi im lặng nhìn nhau. Tôi đợi anh ngồi xuống ghế mới cất tiếng hỏi thăm về sức khoẻ của anh. Anh khẽ gật đầu, và hai mắt chớp chớp như mọi bận.

Tôi ngập ngừng đề cập tới việc hôm sau anh ra toà thì anh lạnh lùng nói:

"Ông Diệm đã bảo xếp việc này đi rồi không hiểu tại sao lại còn moi ra."

Tôi nói để cho anh yên lòng:

"Chắc chỉ để khủng bố tinh thần các anh mà thôi."

Rồi tôi nói một câu tiếng Pháp: “Leurs jours sont comptés” (Ngày tàn của chúng cũng đến nơi rồi).

Vợ tôi đứng gần đấy hỏi anh:

"Mai ra toà anh sẽ khai ra sao?"

"Chị cứ yên trí, anh đáp, tôi sẽ không nói gì hết, y như ông giáo sư ở trong phim Jugement à Nuremberg khi ra toà ấy.”

"Không sao đâu, chiều mai chúng tôi sẽ xuống thăm anh.”

“Anh chị lại không gặp tôi đâu.”

Thú thật, khi nghe Nhất Linh nói câu đó, với một giọng bình thản vô cùng, tôi chỉ có thể đoán được rằng, có lẽ hơn ai hết, anh biết rõ tội trạng (!) của anh, yên trí sau phiên toà anh sẽ bị kết án, chứ tôi không ngờ rằng anh nói với ẩn ý là anh sẽ quyên sinh, không chịu để cho toà xử.

Đang lúc tôi còn phân vân không biết nói gì với anh thì vợ tôi nói:

“Dẫu có thế nào thì chúng tôi vẫn luôn nhớ tới anh, vẫn coi anh như người anh cả.”

Câu chuyện giữa anh và vợ chồng tôi, đáng lẽ còn kéo dài, nhưng thấy tôi có khách, anh vội đứng lên và nói rất nhỏ nhẻ:

“Tôi đến để từ biệt anh chị.”

Khi ấy vào khoảng 11 giờ. Chúng tôi tiễn anh ra cửa, và hai chúng tôi còn đứng trên vỉa hè để đợi tắc-xi trên 10 phút, lặng lẽ cầm tay nhau, không ai nói với ai một câu, mỗi người có một ý nghĩ riêng, mỗi người có một mối buồn cành cánh bên lòng. Nhưng thú thật là khi ấy, tuyệt nhiên trên nét mặt của Nhất Linh, tôi không hề nhận thấy một dấu hiệu nhỏ nào cho biết chỉ trong vài tiếng đồng hồ nữa, anh sẽ xa lánh cõi trần, xa tất cả mọi người thân yêu của anh để đi vào lịch sử.

Tôi có thể nói tôi là người bạn cuối cùng mà anh đã hạ cố lại thăm trước khi mất.

Ngay buổi chiều hôm ấy – vào khoảng 5 giờ – chúng tôi, có lẽ do linh tính thì phải, dang bàn nhau xuống An Đông thăm anh, bỗng có anh bạn của Nhất Linh và của tôi, anh K. xồng xộc chạy vào, với nét mặt hớt hải. Tôi đoán là có việc chẳng lành đã xảy ra cho anh Tam. Quả nhiên, anh bạn đó tới để báo tin anh Nhất Linh đã quyên sinh và hiện đang mê man, anh yêu cầu tôi xuống gấp.

Mười phút sau thì chúng tôi tới An Đông. Gặp chị Nhất Linh ở dưới nhà, tôi không kịp chào hỏi, cứ cắm đầu chạy thẳng lên thang.

Thoáng nhìn nét mặt và nghe hơi thở của anh, rồi bắt mạch, tôi biết ngay là anh đã quyên sinh với thuốc ngủ, mặc dầu lục lọi chung quanh chỗ anh nằm không tìm thấy một viên hay một ống thuốc nào. Khi người ta đã cố tình tự vẫn thì không khi nào để lại một vết tích gì và không chết bằng cách này thì cũng chết bằng cách khác, đó là cảm nghĩ của tôi khi đứng trước Nhất Linh.

Tuy nhiên tôi vẫn phải làm phận sự của người thầy thuốc, vẫn phải chích cho anh một mũi thuốc hồi sinh, rồi cấp giấy giới thiệu với Bệnh viện Grall để anh được vào nằm điều trị.

15 phút sau tôi cũng tới bệnh viện, vừa lúc bác sĩ thường trực đến. Chúng tôi thảo luận với nhau một hồi về bệnh tình, có vẻ trầm trọng của bạn tôi.

Đồng nghiệp của tôi lắc đầu thất vọng, và nói: “C’est foutu!”.

Ông ta toan cho đưa anh xuống “Nhà xác”, nhưng thấy tôi khẩn khoản quá ông đành ưng thuận cho lên nằm trên phòng bệnh để “còn nước còn tát”.

Mặc dầu có bao sự tận tâm săn sóc, Nhất Linh cũng trút hơi thở cuối cùng trong đêm hôm đó. Anh đã được toại nguyện, đã được chết ngày 7-7-1963 là ngày “song thất” của kẻ đã phản dân hại nước.

Trong suốt thời gian nằm trong bệnh viện, anh vẫn mê man không lúc nào tỉnh cả.

Tâm trạng của tôi, vừa là bạn, vừa là thầy thuốc của anh, tối hôm đó, thật rối bời bời, và vô cùng phức tạp. Một mặt, tôi cầu chúc cho anh được tai qua nạn khỏi, mặt khác, lại lo ngại, lo ngại lỡ ra anh sống, biết đâu mình chả đắc tội với anh vì đã làm trái với chí nguyện của anh chỉ mong được chết để chống lại những kẻ “chà đạp lên mọi thứ tự do”.

Nào chỉ có những ý nghĩ vẩn vơ ấy mà thôi! Trong khi anh mê man, nằm thoi thóp trên giường bệnh, chúng tôi – mấy con anh Nhất Linh và một anh bạn – bàn tính với nhau để giấu tờ di chúc chính trị do chính tay Nhất Linh viết làm hai bản, rồi trao cho phóng viên của hai tờ tuần báo Time và Newsweek, theo lời trối trăng của anh.

Tôi còn nhớ mãi cuộc thảo luận tối hôm đó ở ngoài hành lang bệnh viện, đối diện với gian buồng bệnh của anh, chung quanh bản di chúc quan trọng đó. Chúng tôi nhất định không để lọt mảnh giấy học trò kia vào tay nhà chức trách. Tôi căn dặn mọi người là nếu họ có hỏi tra thì chỉ đưa ra hai tờ di chúc: một gửi cho bạn bè thân thuộc, và một gửi cho chị Nhất Linh.

Trong tờ di chúc thứ nhất vẻn vẹn có mỗi một dòng:


Vĩnh biệt tất cả mọi người thân yêu.


Tờ di chúc thứ hai, gửi cho chị Nhất Linh, cũng chỉ vắn tắt hai dòng:


Mình,
Mối tình của đôi ta đẹp đẽ lắm rồi. Mình không còn mong muốn gì hơn nữa.


Ở đây tôi thấy cần ghi là chính bà Nhất Linh cũng không rõ nội dung của tờ di chúc chồng gửi cho mình, vì sau khi được tin Nhất Linh từ trần, nhà chức trách đã tịch thâu hết các giấy tờ – trừ bản di chúc chính trị nói trên – và không chịu trả cho thân nhân anh. Cho đến mãi hai tháng sau ngày đảo chính 1-11-1963 mới đòi lại được.

Cũng trong cái đêm lịch sử ấy, chúng tôi bàn nhau để loan tin Nhất Linh tự vẫn cho các bạn đồng chí của anh, hôm sau phải ra toà, ngõ hầu gây một xúc động lớn tại toà án.

Quả nhiên sáng hôm sau 8-7-1963, tin Nhất Linh tự huỷ mình để chống lại chính quyền lan đi rất mau khác nào một vệt thuốc súng, khiến cho dư luận các giới, nhất là giới trí thức, sinh viên, xôn xao, bàn tán, và ngay cả chính quyền cũng phải sửng sốt hoang mang.

Bản án của Nhất Linh đương nhiên bị huỷ bỏ, còn đối với các chính trị phạm sắp bị xử, toà có một thái độ bất ngờ. Đáng khen, theo lời tường thuật của một ông bạn tôi cũng bị đưa ra xử hôm đó, là cử chỉ can đảm của ông Phan Khắc Sửu, đã đứng ra xin toà cho một phút để mặc niệm Nhất Linh. Dĩ nhiên là toà không cho phép, nhưng không vì thế mà không có phút mặc niệm kia.

Chả bù cho thái độ trái ngược hẳn của một chính khách, thường được nhiều người coi như một nhà cách mạng, khi nghe thấy một số đông phạm nhân đề nghị đeo băng đen để tang Nhất Linh, bèn từ chối đây đẩy và thốt lên câu nói bất hữu này:

“Thôi mà, bày vẽ để tang làm gì họ lại phết thêm cho vài năm tù nữa chả bõ.”

Nghĩ mà buồn và thương hại thay cho những hạng người thường vỗ ngực là đồng chí của Nhất Linh.

Cái chết của Nhất Linh đã gây nhiều bối rối cho chính quyền Ngô Đình Diệm, nhất là cho vợ chồng Ngô Đình Nhu, lồng lộn lên như con thú dữ. Chúng sợ người sống đã đành, chúng sợ và thù ghét cả người chết nữa, những người chết cồng kềnh (les morts encombrants) như chúng tôi nói.

Trước kia chúng sợ cái chết của Thượng toạ Thích Quảng Đức, ngày nay chúng sợ cái chết của Nhất Linh, không những vì Nhất Linh là một chiến sĩ cách mạng quốc gia có rất nhiều uy tín ở trong nước cũng như ở ngoại quốc, mà lại còn là một văn hào có tên tuổi, được giới thanh niên, trí thức mến chuộng.

Tôi dám nói, không sợ nói ngoa, là từ lúc Nhất Linh nằm xuống cho tới khi đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng ở Nghĩa trang Gò Vấp, chính quyền Ngô Đình Diệm đã mất ăn mất ngủ, và tìm mọi cách để phá.

Bằng cớ là ngay sau khi anh mất, họ ra lệnh làm một cuộc phẫu nghiệm tử thi (autopsie), mặc dầu không có sự ưng thuận của gia đình.

Tất cả là 12 người có mặt trong buổi phẫu nghiệm ngay hôm 9-7-1963, tại nhà xác của Bệnh viện Grall: 7 bác sĩ, trong đó có một bác sĩ giải phẫu ngoại kiều của Grall, hai nhân viên Sở Giảo nghiệm, một viên phó cảnh sát, hai biện lý và phó biện lý của Toà án Sài Gòn.

Dưới đây là kết luận của bản phúc trình pháp y về cuộc phẫu nghiệm đó:

“Với những phương pháp khám nghiệm thông thường tại chỗ, không thấy thi hài có triệu chứng nào có thể giải thích cái chết mau chóng của Nguyễn Tường Tam, cần chờ xem kết quả việc tìm kiếm do các phòng và viện giảo nghiệm”.

Nào chỉ có phẫu nghiệm tử thi mà thôi! Theo lời của một người trong gia đình anh, có lần chúng toan cướp cả xác của anh, định đem ra khỏi Grall, nhưng ban giám đốc bệnh viện không chịu.

Riêng về phần tôi, cũng vào buổi sáng hôm thứ ba 9-7-1963, chính quyền cử một nhân viên công lực tới nhà để hỏi tôi những chi tiết về cái chết của Nguyễn Tường Tam, trong trường hợp nào tôi quen anh v.v…

Sau đó ít lâu, lại một nhân viên khác của Sở Giảo nghiệm tới tìm tôi ở Viện Pasteur để hỏi xem có biết ông Nguyễn Tường Tam đã dùng thuốc gì để quyên sinh không.

Tôi không trả lời thẳng câu hỏi của người ấy mà chỉ cho biết là ông Tam, hồi trẻ, đậu cử nhân khoa học, và như vậy, ông thông thạo hơn ai hết về các chất hoá học. Huống hồ, ông lại còn là một nhà văn, và từng đọc rất nhiều truyện trinh thám (mỗi lần Nhất Linh đi qua đại lộ Lê Lợi là anh khuân hàng chục cuốn sách trinh thám, và anh đọc ngấu nghiến trong một đêm là hết), nhất là đã từng viết trong tác phẩm cuối cùng là Dòng sông Thanh Thuỷ, cả một chương về một vụ đầu độc. Như thế thì tôi, mặc dù là thầy thuốc, làm sao mà biết được ông đã dùng thuốc gì để quyên sinh?

Sự thật là như thế!

Sau này, theo bản phúc trình của một phòng thí nghiệm công gửi cho Toà án Sài Gòn, tôi mới rõ là người ta đã tìm thấy ở trong máu, trong bao tử, và trong nước tiểu rất nhiều chất thuốc ngủ, loại véronal.

Nhất Linh đã mua và tích trữ thuốc này từ bao giờ, ngay đến những người thân thích của anh cũng không hay biết.

Nhưng gay go nhất là việc định ngày để cất đám Nhất Linh.

Gia đình anh xin phép đưa vào buổi sáng chủ nhật, nhưng chính quyền một mực từ chối, cái đó dễ hiểu, vì họ sợ đưa đám ngày nghỉ, thiên hạ sẽ đi dự rất đông.

Xin phép đưa chiều thứ bảy, họ cũng từ chối nốt, vì chiều thứ bảy, cũng là ngày nghỉ của các công sở. Họ chỉ ưng thuận, hoặc sáng thứ bảy, đúng 8 giờ rưỡi, hoặc sáng thứ hai. Đành phải bằng lòng sáng thứ bảy vậy.

Lại còn một điều này nữa khiến cho chị Nhất Linh băn khoăn rất nhiều là việc làm lễ cầu siêu cho anh ở chùa Xá Lợi.

Kẻ bàn ra người tán vào, phần đông không muốn làm lễ ở Xá Lợi, vì dạo ấy như mọi người đều rõ, chùa Xá Lợi dưới con mắt của chính quyền Ngô Đình Diệm, khác nào một cái gai trước mắt họ, là nơi công khai chống lại họ thì làm lễ tại đó, tức là khiêu khích họ.

Tôi còn nhớ mãi nét mặt rầu rầu của chị Nhất Linh buổi trưa hôm thứ tư 10-7-1963 đó, và vì thấy chị buồn thảm quá nên tôi đã không ngần ngại đứng về phe chị để yêu cầu cho bằng được nhà chức trách cho phép làm lễ cầu siêu ở chùa Xá Lợi. Tôi bảo với chị:

"Nếu họ từ chối thì chị cứ viện lý do tôn giáo ra họ phải chịu. Quả nhiên Bộ Nội vụ và Toà Đô sảnh Sài Gòn – sau khi xin chỉ thị của phủ Tổng thống – bằng lòng cho làm lễ cầu siêu tại chùa Xá Lợi."

Nhưng chúng ta còn lạ gì chính quyền Ngô Đình Diệm, luôn luôn có thái độ ngoan cố, tuy rằng cho phép đấy nhưng cho phép miễn cưỡng, cho phép để che mắt thế gian, để tỏ ra mình dân chủ, tôn trọng tự do tín ngưỡng, nhưng kỳ thực vẫn tìm đủ mọi cách để ngăn cản.

Tôi tuy là người ngoại cuộc, nhưng trong việc này tôi đã có đủ bằng chứng về những cuộc vận động hoặc áp lực của chính quyền để cho buổi lễ cầu siêu kia không thể thực hiện theo yêu mến của gia đình Nhất Linh được.

Tôi còn nhớ buổi chiều hôm thứ sáu 12-7-1963, hai vợ chồng tôi sắp sửa vào Grall để dự lễ khâm liệm cho anh bỗng có ba nhân viên công lực quận Ba, nhân danh ông Đô trưởng và ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ đến tìm tôi để yêu cầu tôi can thiệp với bà Nhất Linh đừng làm lễ cầu siêu ở chùa Xá Lợi.

Tôi trả lời họ rằng tôi không có tư cách gì cả để can thiệp, vì đối với gia đình ông Nhất Linh, tôi chỉ là bạn mà thôi. Nhưng mấy người đó cho biết là bà Nhất Linh “chỉ nghe lời bác sĩ, và bác sĩ chỉ nói cho một tiếng là được”.

Tôi đánh trống lảng và lại còn nửa đùa nửa thật bảo họ:

"Thì các ông cứ việc ra lệnh cấm cho rồi hà tất phải cho phép."

"Chính phủ đâu có cấm tự do tín ngưỡng."

Những điều dự đoán của tôi thật quả không sai.

"Tôi không hiểu tại sao các ông lại không muốn cho tang quyến làm lễ cầu siêu ở chùa Xá Lợi? Gia đình ông Tam, theo chỗ tôi biết, vốn theo đạo Phật từ lâu, bà cụ thân sinh ông ta, xưa kia vẫn là một vị tu hành, và sau khi mất đi vẫn để thờ tại đấy thì nay đến lượt ông Tam, làm lễ cầu siêu ở Xá Lợi tôi nghĩ đó là một việc rất thường vậy."

"Chúng tôi được tin mật cho biết Việt cộng định khủng bố, nên có bổn phận phải giữ gìn an ninh trật tự."

Họ đã viện ra lý do đó thì còn biết nói năng gì nữa? Để chấm dứt tôi hứa sẽ can thiệp với bà Nhất Linh, nhưng được hay không, tôi không dám chắc.

Khi vợ chồng tôi tới Grall thì lễ nhập quan đã cử hành xong rồi, chúng tôi rất tiếc và ân hận vô cùng.

Tại Grall, tôi lại được chứng kiến một vụ can thiệp nữa không ngoài mục đích trên.

Trong hai vị sứ giả của Bộ Nội vụ và Toà Đô sảnh Sài Gòn cử đi để điều đình, có một bạn đồng nghiệp của tôi. Có lẽ vì là chỗ bạn đồng nghiệp mà mặc dầu chưa được quen biết nên tôi mới hỏi ông ta bằng một câu tiếng Pháp:

"Pourquoi vous faites ce métier?" (Tại sao ông đi làm cái nghề này?)

Bạn đồng nghiệp của tôi hơi bẽn lẽn đáp:

"Thiên lôi chỉ đâu đánh đấy, biết sao?"

Nghĩ tới những con người trí thức mà phải vì cơm áo sống dưới chế độ của nhà Ngô cũng thương hại thật.

Tôi cho ông ta hay chị Nhất Linh bởi quá thương chồng, nên đã mấy phen ngất xỉu, và nếu ông cứ trở lại vấn đề đó nữa, bà ta có mệnh hệ nào thì ông sẽ phải chịu trách nhiệm.

Chị Nhất Linh nghe nói thế càng được thể khóc to hơn, và ông bác sĩ nọ – nói cho đúng ra cũng là người biết điều, và nhất là có nhiều cảm tình đối với Nhất Linh – đành phải rút lui, sau khi đã ngỏ lời xin lỗi tang quyến.

Ở Grall về – vào khoảng 10 giờ khuya – tôi đã thấy 2 nhân viên khác của Toà Đô sảnh và quận Nhất, trong đó có một bạn đồng nghiệp (lại một bạn đồng nghiệp), đang đợi tôi ở trước cửa nhà. Họ tìm tôi cũng không ngoài mục đích nhờ tôi can thiệp bà Nhất Linh về buổi lễ cầu siêu, “muốn làm ở đâu cũng được, miễn đừng làm ở chùa Xá Lợi”, nghe vẫn với một luận điệu như trên tôi trả lời tôi không có thẩm quyền để định đoạt. Cùng lắm là tôi sẽ yêu cầu với tang gia rút ngắn thời gian hành lễ ở chùa Xá Lợi mà thôi.

Hồi 11 giờ đêm tôi trở lại Grall thì gặp một tốp khác. Và lần này thì họ doạ nạt chứ không van lơn nữa.

"Chúng tôi vừa được tin Việt cộng sẽ khủng bố đám tang Nhất Linh, vậy tốt hơn hết là thay đổi lộ trình."

Rồi như để phân trần với mọi người, họ nói:

"Chúng tôi xin nói là Việt cộng định khủng bố chứ không phải là chính quyền đâu."

Có người trong tang quyến cất tiếng hỏi:

"Nếu là Việt cộng thì ở đâu mà chúng không khủng bố được, hà tất cứ phải ở chùa Xá Lợi?"

Cuộc vận động của mấy tai sai Nhu – Diệm, mặc dầu kéo dài gần tới ba giờ sáng, đã hoàn toàn thất bại.

Ở đây tôi cũng cần nói là trong suốt thời gian linh cữu của anh Nhất Linh quàn tại nhà xác, có ít ra hàng chục công an, mật vụ ngày đêm túc trực để theo dõi từng người tới viếng. Có khi họ còn hỏi thẻ kiểm tra, tra khảo lý lịch, đe doạ dẫn vào bót nữa, nhất là đối với các thanh niên, học sinh, sinh viên. Giới này được chính quyền để ý nhiều hơn hết hôm thứ bảy 13-7-1963, ngày đưa đám Nhất Linh.

Trên các ngả đường đưa tới bệnh viện Grall đều có rất nhiều cảnh binh, công an canh gác, chặn đường không cho vào bệnh viện, hoặc xua đuổi những ai lảng vảng gần đây.

Đã đến lúc chính quyền Ngô Đình Diệm bỏ rơi mặt nạ! Nhưng mặc dầu có rất nhiều công an, mật vụ ở chung quanh đám táng, chúng cũng không cấm nổi tang quyến treo ngay trên tường của căn nhà xác, và sau này đặt trên nóc xe tang, bức trướng thật to, viết chữ trắng trên nền đen, do các đồng chí của Nhất Linh kính điếu.

Nguyên văn bức trướng đó như sau:


Kính điếu lãnh tụ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam


Thương thay đối lập quốc gia
Mất cả tự do trong mấy lúc
Đối với thiêu thân Quảng Đức
Noi gương cảnh cáo giữa nghìn thu.

Các anh em đồng chí
7-7-1963


Thật chẳng khác nào một roi vụt vào mặt chính quyền vậy.

Công an và mật vụ của Nhu – Diệm nhiều thật đấy, nhưng chúng đâu có ngăn nổi các anh em sinh viên khiêng linh cữu Nhất Linh, từ nhà xác ra tận xe tang. Mấy bạn đó vừa khiêng vừa sụt sùi khóc, khiến mọi người đứng gần đấy cũng mủi lòng rơi lệ theo. Có người khóc Nhất Linh để thương tiếc một chiến sĩ quốc gia chống cộng, suốt đời tranh đấu cho tự do, dân chủ thế mà lại bị những kẻ đội lốt quốc gia bức tử. Hoặc khóc một văn hào đã có công lớn trong nền văn học nước nhà mà đến khi nằm xuống không được chính quyền ngỏ một lời phân ưu. Hoặc khóc một con người tài hoa, mặc dầu sống trong thử thách mà vẫn giữ một tâm hồn nghệ sĩ, và còn giữ cho đến khi nhắm mắt.

Thật thế! Không có một tâm hồn nghệ sĩ như Nhất Linh mà trước khi từ giã cõi đời, đôi mắt mỗi lúc một mờ dần, còn nói được một câu: “Bầu trời hôm nay đẹp quá nhỉ!” thì thiết tưởng, trong thiên hạ ít có người nghệ sĩ như anh.
............ ......... ......... ......

Đoàn xe tang đi qua các đường Mạc Đĩnh Chi, Phan Đình Phùng, Bà Huyện Thanh Quan, để rồi ghé lại chùa Xá Lợi vào hồi 10 giờ 45.

Đám tang thật là đơn giản, nhưng vô cùng ảm đạm, trang nghiêm. Khi khởi hành từ bệnh viện Grall, số người tham dự còn thưa thớt, nhưng dần dần mỗi lúc một đông. Phần nhiều là thanh niên, học sinh, sinh viên, giới trí thức. Có rất đông phóng viên, ký giả ngoại quốc, nam có, nữ có, có mặt trong đám táng để chụp ảnh hoặc để quay phim. Họ chịu khó biên chép tất cả những câu viết trên các đối trướng rồi nhờ người dịch sang tiếng Anh. Họ lại còn ghi âm tất cả những lời khóc than kể lể của chị Nhất Linh.

Như vậy đủ rõ cái chết của văn hào Nhất Linh đã gây một tiếng vang lớn, không riêng gì ở Việt Nam mà ở cả trên thế giới nữa.

Tại chùa Xá Lợi, ngoài một số đông đồng bào đã túc trực từ sáng sớm – trong đó dĩ nhiên có cả công an, mật vụ của Nhu – Diệm – còn có khoảng 200 tăng ni có mặt để cầu siêu cho Nhất Linh.

Giữa cảnh khói hương nghi ngút, chùa Xá Lợi cất lên ba hồi chuông trống, rồi thì những tiếng tụng niệm vang lên. Trong khi ấy, ở trước cửa chùa có nhiều thanh niên, sinh viên phát băng tang cho mọi người, kể cả người của chính quyền Ngô Đình Diệm.

Lễ cầu siêu cử hành không đầy 15 phút như đã ấn định từ trước, rồi đoàn xe tang từ từ chuyển bánh, theo sau có 3 chiếc xe đò lớn chở những người đi tiễn đưa.

Đoàn xe tiến về đường Phan Thanh Giản, rẽ sang đường Hai Bà Trưng rồi chạy về Gò Vấp. Có hàng trăm chiếc xe, xe đạp lẫn xe gắn máy, trên mỗi xe có hai người, phần đông là thanh niên, học sinh, sinh viên, có cả ký giả ngoại quốc nữa, băng băng đi theo sau, hoặc đi trước, hoặc ở hai bên xe tang. Ngay cả trên nóc xe hơi cũng có người nữa. Hàng phố, từ đường Hai Bà Trưng trở đi, đổ xô ra xem. Một điều đáng ghi nhận là từ chùa Xá Lợi trở đi, không có một ngã tư nào là không có nhân viên công lực đứng, không phải để giữ an ninh trật tự, mà trái lại, để cố tình cắt quãng đoàn xe tang, làm sao cho số người tham dự đừng đông đảo.

Và khi tới nghĩa trang Gò Vấp, liếc nhìn chung quanh, ai nấy đều có một cảm giác nặng nề, ghê rợn, dường như bao phủ bởi một bầu sát khí đằng đằng: chỗ này một tốp người vận quân phục, chỗ kia một tốp, với súng trường, súng lục, tiểu liên, lựu đạn… Tôi tự hỏi, chẳng hay họ chuẩn bị như vậy để bảo vệ ai, hoặc để giết ai ở một nơi hoang vu, tĩnh mịch và tôn nghiêm này?

Họ đề phòng Việt cộng khủng bố chắc? Phải ngây thơ lắm mới tin được, mặc dầu trong khi hạ huyệt người ta đã phao tin bắt được quả tang một gã – phu xe xích lô – trong người dắt một trái lựu đạn.

Còn một điểm này nữa thiết tưởng cũng cần ghi lại, là trên con đường về, trời nắng chang chang và xa tắp có một số người đi đưa đám – trong đó có kẻ viết bài này và một ông bạn già, ký giả Nguyễn Đắc Lộc – được một phen cuốc bộ, vì gặp chiếc xe nào, tắc-xi hay xe gắn máy, tài xế cũng lắc đầu lia lịa, rôi mắt trước mắt sau, như muốn bảo cho mọi người hiểu: đã có lệnh trên, cấm chở những ai đi dự đám táng của Nguyễn Tường Tam.

Người ta bảo Nhất Linh đã chết. Riêng tôi, đứng trước cái chết cao cả của anh, chết để cảnh cáo những người “chà đạp lên mọi thứ tự do”, chết để chống lại bạo quyền, chết với niềm hy vọng sự hy sinh của mình sẽ đem lại tự do cho người khác, như vậy là anh đã biết chết, đã chết thật đúng lúc, mặc dầu anh không biết sống, nghĩa là theo tôi, sống như thiên hạ, một cách tầm thường, hoặc sống cũng như chết, rồi khi đứng trước cái chết thì sợ sệt, hoặc chết nhưng chết một cách nhục nhã thảm thương.

Ở trên tôi vừa nói đời sống nội tâm, đời sống tinh thần của Nhất Linh rất phong phú.

Nhất Linh thường tâm sự với tôi: Ở đời anh ghét nhất là sự giả dối, lừa lọc, xảo trá và phản bội. Và suốt đời anh không có một chiếc xe hơi.

Nhất Linh trong sạch. Điều đó ai cũng trông thấy rõ. Ở thời buổi này, muốn xét người nào trong sạch, yêu nước thương nòi hoặc quốc gia hay không, phải chờ cho người ấy vào trong chính quyền đã, rồi nhìn nếp sống của họ sau khi rũ áo ra về. Hoặc chờ cho người đó nằm xuống, hình hài thể xác trở về nơi cát bụi hãy hay.

Nhất Linh đã tham chính và Nhất Linh nay đã ra người thiên cổ. Bởi vậy tôi có thể nói một cách chắc chắn rằng anh là một người thiết tha yêu nước, đang đứng ngang hàng với những anh hùng dân tộc của chúng ta, như Trần Bình Trọng, Hoàng Diệu, Nguyễn Thái Học v.v…. Anh cũng là một người trong sạch hiếm có. Anh không có xe hơi, nhà lầu, nhưng nói cho đúng ra, anh có một căn nhà gỗ thô sơ – có lẽ bây giờ đã hoang phế – do chính tay anh cất lấy, ở bên bờ suối Đa-mê, cách Đà Lạt 30 cây số, trong một khu rừng hẻo lánh, có nhiều cây cỏ, nhất là nhiều lan để anh ngắm và tìm cảm hứng để viết văn. Phí tổn để xây cất căn nhà đó cả thảy là 20 đồng bạc, tiền mua danh.

Tôi vừa nói ở trên là Nhất Linh sống rất giản dị, từ cái ăn đến cái mặc. Tôi còn nhớ trong những năm 60-61, sau ngày đảo chính hụt và oanh tạc Dinh Độc Lập, tôi lại thăm anh vào bữa ăn, tôi thấy anh chỉ ăn có lưng chén cơm với hai miếng đậu kho, có lần một đĩa nouille, anh và trong ba phút là xong, rồi anh lên giường ngủ.

Trái lại, mỗi khi được tin có một biến chuyển nào đó, có thể làm thay đổi cục diện, chấm dứt chế độ bạo tàn thì đôi mắt anh sáng quắc lên, bao nhiêu bệnh não của anh – mà chúng tôi thường bảo là bệnh giá-cách – đều tiêu tan hết, và khi ấy anh cười nói rất vui, ăn uống ngon lành lắm.

Nhất Linh không những là một chiến sĩ quốc gia, anh còn là một văn hào lỗi lạc nữa. Về điểm này, các văn hữu của anh có nhiều thẩm quyền hơn tôi đã phán xét. Riêng về phần tôi ở đây chỉ muốn ôn lại một vài kỷ niệm nhỏ giữa Nhất Linh và tôi trên lĩnh vực văn hoá.

Trước hết tôi cần nói là không có một lĩnh vực nào mà anh không thành công, và thành công rực rỡ nếu như anh muốn, dù là làm chính trị, hay viết văn, hay vẽ, hay chơi âm nhạc, hay chơi lan, hay làm báo… Anh chuyên về thứ nào thì anh say mê thứ đó, đến quên ăn quên ngủ.

Không những chỉ say mê mà thôi, anh dốc hết cả tâm trí vào việc anh làm, và anh làm rất chu đáo. Khi anh viết được một trang nào hay, hoặc tìm ra được một chữ nào, và chỉ có chữ ấy là đúng thôi, anh thích thú vô cùng, anh sung sướng hơn bắt được một báu vật. Có lần anh bảo tôi: “Khi tôi dịch cuốn Les Hauts de Hurle Vent, tôi tìm mãi mấy ngày mấy đêm mới ra câu: Đỉnh gió hú”.

Tôi còn nhớ bận tôi dịch một truyện trinh thám của Conan Doyle, nhan đề: La bande mouchetée (tức con rắn), tôi tìm mãi không biết dịch là gì. Anh nghĩ một lúc rồi bảo: Chiếc giải đốm hoa. Tôi cho câu dịch đó thật tài tình.

Khi anh viết cuốn Dòng sông Thanh Thuỷ (hồi đó anh lẩn trốn ở đường Trần Hưng Đạo) anh biên giấy nhờ một anh bạn của chúng tôi chuyển lại cho tôi để hỏi có mỗi một câu về một danh từ y học, đủ rõ anh thận trọng như thế nào trước khi hạ bút.

Đáng phục nhất là trong suốt thời gian anh bị chính quyền Ngô Đình Diệm lùng bắt, anh phải lẩn trốn hết nơi này đến nơi khác, lấy ngày làm đêm, đêm làm ngày mà anh vẫn còn có can đảm để viết văn, để phác hoạ ra cả một chương trình: xuất bản sách để các bạn trẻ đọc, để giáo dục quần chúng, để phổ biến tất cả những gì cao đẹp của loài người, của vũ trụ. Bởi theo anh, “đã đến lúc loài người phải giở sổ soát lại vốn tư tưởng quá khứ để định hướng đi tương lai, tìm chân lý là kim chỉ nam cho người đời giữa biển sóng gió”.

Hiện giờ, khi viết mấy dòng này, trước mặt tôi còn có một xấp thư – những mảnh giấy học trò – của Nhất Linh gởi cho tôi hồi anh đang bị chính quyền lùng bắt, chữ viết nhỏ li ti, yêu cầu tôi cho anh những tài liệu cần thiết về: danh nhân thế giới, tình sử đông tây, kỳ quan vũ trụ, giáo dục phổ thông, chính trị, khoa học v.v…

Những loại sách bỏ túi – 27 loại cả thảy – đó, anh định bán với một giá rất rẻ, và in đẹp, nhằm mục đích nâng cao đời sống tinh thần của mọi tầng lớp người trong xã hội, vì anh cho rằng “văn làm cho đời người đẹp hơn và đáng sống”.

Thật là cả một chương trình vĩ đại, đáng khen mặc dầu chưa thực hiện được, chứng tỏ sự nhiệt tâm của Nhất Linh trước tiền đồ của dân tộc, trước trạng huống phức tạp và đảo lộn của xã hội ngày nay.



*


Trên đây là một vài nét về nếp sống cùng những hoạt động của Nhất Linh trên địa hạt chính trị xã hội văn hoá, đủ khiến cho ai nấy phải ngậm ngùi trước sự hy sinh cao cả của anh.

Nhưng điều khiến cho một số bạn thân của Nhất Linh tiếc thương anh hơn cả là tính tình hồn hậu và thuỷ chung của anh đối với bạn, nhất là trong những lúc khó khăn, hoạn nạn.

Tôi còn nhớ Tết năm Tân Sửu, vào sáng hôm mồng hai, và trong khi anh lẩn trốn, xa gia đình thân yêu, mà anh còn ngồi vẽ một bức tranh – bó hoa oeillet – để tặng tôi, với hai câu thơ, câu đầu là:


“Tặng ai mười đoá hoa xuân”


khiến tôi cảm động vô cùng.

Tôi dám chắc, đối với một số đông bạn thân của anh, anh cũng có những cử chỉ tế nhị và đẹp như thế.

Lại còn một điểm nữa khiến cho tôi quý Nhất Linh, là cách cư xử của anh đối với mẹ già và gia đình nhỏ của anh.

Tôi còn nhớ hồi sinh thời của bà cụ thân sinh ra anh, thường gọi là “Cụ Cẩm Giàng”, mỗi lần tôi lại thăm bệnh cho cụ, cụ móc túi ra cho tôi xem một mẩu giấy nhỏ – nhỏ vừa bằng lòng bàn tay – trên có ghi mấy dòng chữ Nhất Linh gửi cho mẹ, báo tin cho cụ biết cuốn tiểu thuyết này hay tiểu thuyết nọ đã xuất bản rồi, để cho cụ mừng.

Cảm động nhất là hôm cụ đưa cho tôi xem cuốn Dòng sông Thanh Thuỷ khi vừa mới in xong anh gửi tặng cụ, cụ mệt không đọc được, nhưng lúc nào cụ cũng khư khư ôm trong lòng, không muốn rời ra.

Nhất Linh thường nói với tôi:

“Gia đình tôi đông anh em, nhưng mẹ tôi chỉ thương và nể có tôi thôi. Tôi bảo gì mẹ tôi cũng nghe, nhưng… trăm tội ở đâu cũng đều đổ cả lên đầu tôi, chỉ có tôi là bị rầy la nhiều nhất.”

Hôm cụ mất anh bị mệt và… cũng đang bị chính quyền để ý nên không đưa cụ tới nơi an nghỉ cuối cùng được, anh rất đỗi khổ tâm.

Nhất Linh có một đời sống đẹp như vậy, thế mà sau khi anh mất đi có kẻ dám công khai bôi nhọ anh, nào bảo anh “hút thuốc phiện, nghiện rượu, không có chút công lao gì đối với nền văn học Việt Nam”, nào “phản đảng, phản dân tộc, phản cả gia đình nữa”… [1] thì đủ rõ giữa Nhất Linh và đối lập đương nắm chính quyền của anh, ai là quân tử, ai là tiểu nhân?

Thật thế! Nhất Linh, ngay cả đối với kẻ thù, lúc nào cũng đàng hoàng, quân tử. Mỗi khi nói tới Hồ Chí Minh hay Ngô Đình Diệm, hay vợ chồng Ngô Đình Nhu, tôi chưa từng nghe thấy anh có một lời nói nặng, một câu nào bất lịch sự cả.

Cái chết của Nhất Linh không những là một thiệt thòi rất lớn cho quốc gia, nhất là trong giai đoạn này, đã mất một chiến sĩ vừa có tài lại có đức, vừa là một cái tang chung cho nền văn học nước nhà, lại còn gieo vào trong lòng của các bạn hữu cũng như gia đình đầm ấm của anh, biết bao niềm thương xót khôn nguôi với thời gian được.

Riêng về phần tôi, mỗi bận nhớ tới anh rồi nhìn chung quanh mình chỉ thấy toàn những kẻ tranh giành nhau trên con đường danh lợi, những kẻ lừa thầy phản bạn, tôi cảm thấy có một khoảng trống mông mênh, kinh khủng. Và tôi chợt nhớ câu thơ bất hủ của thi hào Lamartine, tôi xin mượn câu thơ đó để nói lên nỗi lòng của tôi đối với Nhất Linh:


“Thiếu mỗi một người và tất cả đều là hoang vắng”.
(Un seul être vous manque et tout est dépeuplé).


Nguyễn Hữu Phiếm

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Thưa mục tử: giáo dân đã chết, ngài đang ở đâu?
Trong thư mục vụ của Đức Giám mục Đà Nẵng gửi giáo dân về vụ Cồn Dầu có đoạn: “Trong cuộc đấu tranh cho công lý và công bằng xã hội, Anh Chị Em giáo dân đừng nghĩ rằng các mục tử không đứng về phía mình. Các Ngài có cách thế riêng do vị trí, ơn gọi, sứ vụ và đặc sủng của các Ngài… Hãy kính trọng và lắng nghe tiếng nói của các mục tử ! Hãy biết “tôn sư trọng đạo” đúng mức như bài học vỡ lòng của mọi người dân Việt”.

Đến nay, chiên đã bị đàn sói lang cắn chết, vậy mục tử đang ở đâu? truớc đòan chiên, giữa đòan chiên hay trong bụi rậm? Xin Ngài hãy lên tiếng để đàn chiên biết họ còn có một mục tử.

Cũng xin đuợc lưu ý mục tử là muốn đuợc “sự kính trọng” và để đàn chiên biết “tôn sư trọng đạo” điều cần thiết hơn là mục tử phải thực sự xứng đáng với tên gọi đó thì sự kính trọng, yêu mến sẽ tự đến mà không cần kêu gọi.

Công An Đà Nẵng đánh chết giáo dân Cồn Dầu
Ngày 3/7/2010 vừa qua một giáo dân nhiệt thành ở giáo xứ Cồn Dầu ông Nguyên Năm đã chết vì bị bức cung (tra tấn) dẫn đến việc không thể ăn uống gì được rồi chết.

Tôi có điện đến công an thành phố Đà Năng (0511-3822300) vào 7 giờ tối 4/7/2010 để hỏi nguyên nhân thì lúc đầu họ trả lời là do đột qụy mà chết. Tôi không bằng lòng với câu trả lời đó nên điện thoại lần hai thì viên công an trực ngày 4/7/2010 mới lấy giấy lên đọc là “một giờ chiều ngày 3/7/2010 ông Nguyên Nam tại Cồn Dầu chết. Nguyên nhân: không rỏ nguyên nhân.” Sau đó điện thoại và hỏi nửa thì anh ta nói “gia đình người ta không thưa kiên thì thôi chứ cớ gì mày ở SàiGòn mà chĩa mồm vào”. 3 giờ ngày 5/7/2010 điện lại hỏi nửa thì gập một anh công an trực khác trả lời: “Gia đình anh Nguyên Năm báo cáo là anh Năm bị bịnh hoang tưởng và nhịn ăn vài ngày rồi chết”. Tôi hỏi trước đó anh Năm có bị tra tấn không thì viên công an này liền cúp điện thoại.

Sáng 5/7/2010 tôi điện đến công an hình sự quận Cẩm Lệ (0511-3673026), tôi cũng xin hỏi về cái chết của giáo dân Cồn Dầu thì viên công an hỏi ở đâu gọi đến tôi thưa từ Sài Gòn – một đồng đạo của ông Năm. Thì viên công an không trả lời “đồng đạo thi điện về Cồn Dầu mà hỏi chứ hỏi tôi chi rưa hè (hỏi tôi làm gì)”. Cán bộ là đầy tớ của dân mà khi “ông chủ hỏi” thì “đầy tớ” không chịu trả lời.

11giờ 30 ngày 5/7/2010 tôi có liên lạc được với viên thanh tra thành phố Đà Nẵng (0913402769) tôi có hỏi về thông tin cái chết của giáo dân Cồn Dầu thị được trả lời là “Tôi đang bận(không rảnh), có gì thì hỏi bí thư hay chủ tịch của tôi ấy”. Nhưng tôi xin số điện thoại của chủ tich hay bí thư thì viên thanh tra cứ nói là “tôi đang bận, tôi đang bận, tôi đang bận”. Thế là một “đầy tớ” nữa từ chối trả lời của “ông chủ” và đá trái banh tội ác đến “đầy tớ khác”.

Tôi cố gắng liên hệ với giáo xứ Cồn Dầu (0511-3688006) và Tòa giám mục Đà Nẵng (0511-3826628) từ 11giờ ngày 5/7/2010 đến 15giờ 20 thì gặp được một ông thầy ở tòa giám mục Đà Nẵng thầy có hỏi tên, tôi nói rồi hỏi về cái chết của giáo dân xứ Cồn Dầu thì thầy này nói “không biết gì”, rồi hỏi khi nào có thông báo của tòa giám mục thì cũng nhận được câu “không biết”. Tôi có nói với thầy “nếu để đến đám giỗ mới thông báo thì quá kỳ cục” thầy này cùng cười với tôi rồi cúp máy luôn. Liền sau đó thì liên hệ được với cha chánh xứ Cồn Dầu được trả lời “Không có chi, cũng bình thường thôi”. Tôi hỏi “ông Năm bị bịnh hoang tưởng, nhịn ăn rồi chết, nhưng trước đó ổng bị bắt, cha có thấy trên mặt, tay, chân hay mình của ổng có gì khác thường không” thì vị linh mục trả lời “không biết” rồi cúp máy.

1giờ40 tôi liên hệ được với phó công an huyện Cẩm Lệ – Trần Mươu – nhưng anh ta nói là “không có trách nhiệm trả lời” xin liên hệ với ủy ban. Tôi nói “anh là phó công an huyện Cẩm Lệ tại sao lại không có trách nhiệm trả lời”. Thì anh Mươu cúp điện thoại. Sau đó tôi điện lại và hỏi về cái chết của ông Nguyên Năm thì anh ta trả lời “tôi không biệt biết biết” một cách chầm chậm. Tôi nói anh là phó công an huyện mà sao không biết. Tiếp tục nhận được câu trả lời là “không biết, không biết, không biết” rồi cúp máy.

1giời50 tôi lại gọi lại công an hình sự Cẩm Lệ (0511-3673026), anh này hỏi tôi là ai, tôi trả lời là một công dân, anh ta nói tôi gọi lộn số rồi. Tôi nói “chính xác đây là số của công an hình sự Cẩm Lệ, và anh phải có trách nhiệm trả lời”. Ảnh nói “dọa thưa …”, tôi hỏi tên anh là gi thì anh ta “uh ơ, uh ơ ơ …” rồi cúp điện thoại.
Đó là vài thông tin cho quý vị biết về trách nhiệm trước cái chết của một công dân công giáo trên quê hương chúng ta như thế nào. Thiếu trách nhiệm cả ở “chính quyền” lẫn giáo quyền.

Thomas Việt

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Nguyên tắc vàng trong quan lộ


Hôm nay (7/7/2010), VNN đưa tin Ông Nguyễn Trường Tô, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang, đã thừa nhận 4 ảnh khỏa thân trong máy điện thoại của một gái mại dâm là của mình. Sự việc đang gây rúng động trong dư luận.Sau khi Trương Duy Nhất bắn một quả đại bác “Chủ tịch tỉnh cởi truồng” thì đến lượt Quechoa đăng lại. Báo Đại Đoàn Kết đăng hẳn một bài dài, trong khi HM Blog đang thiếu…để tài.

Cứ tưởng Duy Nhất viết chơi chơi hóa ra chuyện thật. Hắn còn nửa kín nửa hở “Đó là những bức ảnh khỏa thân. Ừ mà khỏa thân e chưa trúng, phải nói là cởi truồng lõa lồ. Hình ảnh một ông Chủ tịch tỉnh nằm trần truồng trên giường trong nhiều tư thế rất tục tĩu sau khi hành sự xong”.

Thú thật, cởi truồng thì ai chả phải làm, từ vua quan đến dân thường. Các bác cứ làm toáng lên thế. Thử hỏi các bác có truồng bao giờ không: đi tắm, thay quần áo, đến bác sỹ. Làm chuyện kia mà không cởi quần áo thì chỉ có các cụ ngày xưa, quần đến đầu gối vì nhà chật, con đông, phải…tầu nhanh.

Thời nay có công nghệ thông tin nên người ta lưu lên điện thoại di động hay máy quay làm kỷ niệm cũng là chuyện bình thường.

Chỉ có điều lên đến quan chức cao cấp thì các bác phải cần thận hơn chút. Đây không phải là lần đầu tiên và không phải là lần cuối cùng khi báo chí khai thác những chi tiết “nude bất đắc dĩ” này để nhử bạn đọc và tranh thủ bán quảng cáo.

Tôi không nhớ lắm, ngày xưa cũng có một bác quan ở Hà Tây thì phải. Bác này có bộ sưu tập hơn 40 cái xịp của các em, có hẳn một nhà nghỉ ở giữa hồ sen để…hội họp. Có lẽ thời đó chưa có IT trợ giúp nên đành lấy “vật chứng” làm kỷ niệm. Còn bây giờ bác chủ tịch tỉnh có “ảnh chứng” là bác tô…hô.

Thú thật, việc quan to đi chơi gái thì thời đại nào cũng có, Á Âu Mỹ đủ cả. Mới đây, Thống đốc bang New York mất chức vì gái gọi. Bill Clinton “làm việc” ấy ngay trong phòng bầu dục của Nhà Trắng. Bác này chối đây đẩy cho tới khi cái quần bò của Lewinsky dính tinh trùng được mang đi xét ADN mới chịu nhận “wrong doing – em làm sai”.

Những vụ như thế này người khổ nhất không phải là tác giả mà chính là các bà vợ. Vợ của thống đốc New York khoác vai chồng ra trước ống kính để động viên “sex phạm” nhận lỗi.

Phu nhân của Bill Clinton là Hillary cũng trải qua sóng gió không ít. Nhưng bà vượt qua được số phận và nay đã thành Ngoại trưởng Hoa Kỳ và sắp sang thăm VN vào tuần tới. Chắc chả ai dám hỏi xem những “ngày ấy” Hillary nghĩ gì.


Chủ tịch Hà Giang NTT.Tôi phục bà vợ của bác Nguyễn Trường Tô. Dù rất buồn, song bà Vân vẫn tin tưởng vào chồng. Bà cho biết, hai vợ chồng bà đã sống với nhau được 39 năm. “Tôi tự hào và yêu chồng tôi”, hay “… Tôi tin rằng chuyện đó là không có thật, là do người ta bịa đặt cho chồng tôi…” – bà Vân quả quyết trên báo Nông thôn Ngày nay.

Bà vợ chung thủy này còn khẳng định sẽ luôn ở bên động viên dù có bất cứ việc gì xảy ra với ông Nguyễn Trường Tô. Không hiểu có ai chống lưng, nhưng có lẽ ông Tô lên cao là vì có bà Vân với tướng “vượng phu”.

Các bà các chị thử đặt địa vị mình vào việc này xem liệu sẽ xử lý thế nào nếu ảnh nóng của chồng được tung lên mạng cho cả triệu người xem.

Lái xe đường dài, lính thủy trên tầu lênh đênh mấy tháng nên “bí hạ phá thượng”, rồi cả cánh xem đá bóng cá cược bị thua tìm cách giải đen, tìm đến các cô gái làng chơi, chả ai để ý đâu.

Nhưng đã làm quan to thì đừng chơi gái, chơi gái thì đừng làm quan. Đó là qui tắc vàng nếu muốn quan lộ hanh thông.

Nếu không, rất dễ rơi vào trạng thái khóc dở mếu dở của vị quan đang mặc áo sơ mi cravat, hô khẩu hiệu nâng cao đạo đức trên hội trường sang trọng, bỗng nháy mắt biến thành trần truồng theo cả hai nghĩa đen và bóng như bác Tô…hô trong nhà nghỉ ở Hà Giang. Nguồn: blog Hiệu Minh

Post Reply