Tin Trong Nước
Cả một nền giáo dục ‘không may’!
Monday, July 12, 2010
Mấy ngày qua, dư luận chú ý tới chương trình đào tạo 20 ngàn tiến sĩ của Bộ Giáo Dục Hà Nội được đưa ra cùng một dịp với một ông giám đốc sở Văn Hóa-Thông Tin-Du Lịch tỉnh Phú Thọ lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ không cần biết tiếng Mỹ, cũng không cần học lâu lắc, chỉ có qua hai lần mỗi lần một tuần, trình “luận án” tiếng việt có người thông dịch tại một đại học dỏm. Lời khoác lác vụng về của ông Giám Ðốc Nguyễn Ngọc Ân làm trò cười cho thiên hạ khi bị lật tẩy là mua tấm bằng giả từ một tổ chức in ấn văn bằng bịp bợm. Ông Ân còn nói ngoài ông, còn nhiều quan chức khác cũng mua bằng dỏm như ông chứng tỏ đây là tình trạng phổ biến chứ không đơn lẻ của nhu cầu cần bằng cấp làm vỏ bọc để thăng quan tiến chức.
Nhiều trí thức trong ngoài nước đã lên tiếng về cả cái bằng dỏm của ông Ân và chương trình đào tạo 20,000 tiến sĩ của Bộ GD & ÐT Hà Nội.
Khi bị vạch mặt ông Ân bẽn lẽn nói rằng ông “không may” khi tốn hơn chục ngàn Mỹ kim mà chỉ có cái bằng dỏm. Ông Hà Văn Thịnh, một giáo chức ƠƯ Ðại Học Huế viết bài dưới đây trên “Tuần Việt Nam” ngày 9 tháng 7, 2010 mô tả cái “không may” của nền giáo dục ở Việt Nam.
Hà Văn Thịnh
Nếu 30% máy cái bị hỏng thì sản phẩm tạo ra thuộc loại nào? Ðây là câu hỏi không hề nhỏ vì đó là nỗi đáng lo đối với sự xuống cấp, thậm chí có phần “tha hóa” của một nền giáo dục nhìn đâu cũng thấy “dỏm.”
Ðọc bài báo của Tuần Việt Nam (26 tháng 6, 2010) nói về chuyện ông Nguyễn Ngọc Ân, giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Phú Thọ nói về chuyện “không may” của mình khi bỏ ra 17,000 USD để có bằng TS do một trường ÐH ở Mỹ cấp, mà không cần người học có kỹ năng nghe-đọc-nói tiếng Anh, một trường ÐH, theo GS Nguyễn Văn Tuấn (Úc) đặt tại... Malaysia, đã bị giải thể từ năm... 2003, mà thật xót xa cho nhiều điều, nhiều chuyện của nền giáo dục nước nhà. Phải chăng cũng là nền giáo dục “không may”?
Ngành giáo dục... đùa dai và duy ý chí
Nhưng điều đáng buồn nhất, cả ngành giáo dục vẫn đang “tự sướng” vì kết quả thi tốt nghiệp THPT vừa rồi đạt trên 90% (không ít tỉnh có số học sinh đậu từ 97-99%). Kết quả đó giống như một sự “đùa dai” vì ai cũng biết trong tất cả mọi hình thái, công đoạn của sự di truyền thì di truyền văn hóa-giáo dục luôn là điều khó khăn, phức tạp nhất.
Ðức Bodhidharma (Bồ Ðề Ðạt Ma) có nói rằng trên đời có 3 điều không thể mua: đó là tình cảm chân thành, thời gian sống và... hiểu biết. Làm sao một nền giáo dục khủng hoảng và bất cập trầm trọng, chỉ trong thời gian ngắn, các điều kiện quyết định về chất lượng không cải thiện được bao nhiêu, mà lại có thể có một kết quả như từ trên trời rơi xuống?
Cứ 10 người dân thì 9 người không tin kết quả đó. Bởi ai cũng ngầm định, ngầm hiểu rằng để “hóa phép giả-thật” là điều dễ nhưng để có hiểu biết thật thì không dễ một chút nào. Không thể có chuyện một địa phương năm ngoái kém cỏi, bết bát trong chuyện thi cử mà năm nay lại “thăng hoa” một tấc đến trời, bởi giáo dục là một quá trình.
Ðiều buồn thứ hai, Bộ GD và ÐT vẫn bất chấp dư luận, “duy ý chí” khi biết rằng trong 65 năm của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Cộng hòa XHCN Việt Nam chúng ta chỉ đào tạo được có 15,000 tiến sĩ. Thế nhưng, Bộ đã ký cái rụp đề án trong 10 năm tới sẽ có 20,000 TS - không biết để làm gì, với tổng kinh phí là 14,000 tỷ đồng - tương đương với 778 triệu USD.
Theo GS Nguyễn Văn Tuấn, chỉ riêng việc đào tạo 10,000 TS ở nước ngoài, chi phí thấp nhất đã là 900 triệu USD. Vậy, lấy tiền đâu để bù vào khoản thiếu hụt 122 triệu USD đào tạo ở nước ngoài và vài trăm triệu USD nữa cho kinh phí đào tạo trong nước?
Kế hoạch gì kỳ cục vậy khi Bộ cứ ký, nhưng tiền không đủ, thiếu cả hàng trăm triệu USD? Ðó là chưa nói đến việc số lượng TS “trên mây” nhiều như thế mà đất nước cứ đói nghèo, dân tộc cứ lẹt đẹt đi sau người ta thì đào tạo TS nhiều để làm gì?
Ðiều buồn thứ ba, cựu Thứ Trưởng Bành Tiến Long cách đây mấy năm đã thừa nhận trước công luận rằng có đến 30% TS không đạt chuẩn - nói nôm na là “dỏm.” Bộ GD và ÐT đã thừa nhận như thế nhưng tại sao vẫn chấp nhận thực tế ấy? Tại sao Bộ - cơ quan chủ quản lại không làm một cuộc thanh tra, sát hạch toàn diện về bằng cấp thật-giả để chấn chỉnh đội ngũ này?
Và tham vọng “cá chép” vượt “vũ môn”
Các TS đương nhiệm hiện nay, nhiều người có khả năng là những máy cái đào tạo ra nhiều thế hệ TS nữa cho nước nhà. Nếu 30% máy cái bị hỏng thì sản phẩm tạo ra thuộc loại nào? Ðây là câu hỏi không hề nhỏ vì đó là nỗi đáng lo đối với sự xuống cấp, thậm chí có phần “tha hóa” của một nền giáo dục nhìn đâu cũng thấy “dỏm.”
Nhưng, quả thật, nếu Bộ tổ chức được những cuộc khảo sát có chất lượng do những người có tâm huyết với nước, với ngành chịu trách nhiệm thì người viết bài này, e con số không dừng lại ở tỷ lệ 30%.
Những người có trách nhiệm của ngành có thấy đau buồn không khi ông GÐ Sở VH- TT- DL Nguyễn Ngọc Ân cho rằng cái sai của ông chỉ là do “không may” - có nghĩa là rất nhiều người may mắn “chưa bị lộ” vẫn có bằng cấp ấy, chức phận kia, nghênh ngang, chễm chệ làm xấu, làm hỏng nền học vấn của nước nhà?
Nếu muốn bàn thêm thì cái tư tưởng cố đấm ăn xôi với tham vọng là “cá chép” mong vượt “vũ môn” ở kỳ Ðại hội tỉnh Ðảng bộ sắp tới (như ông Ân nói) quả là vấn nạn đáng buồn cho đất nước này.
Bộ GD và ÐT vừa có bộ trưởng mới. Là một giảng viên, tôi tin chắc xã hội, số đông các nhà giáo ở cơ sở đang chờ mong sự thay đổi quyết đoán, táo bạo và có hiệu quả, nhất là về cơ chế quản lý GD và ÐT của Bộ Trưởng Phạm Vũ Luận.
Xin kiến nghị với bộ trưởng, trước khi có được một nền giáo dục tốt đẹp, nhất thiết phải “thay máu” - thay đổi triết lý giáo dục. Phải làm sạch tất cả những sự dối trá - điều quyết định làm cho đất nước đã và đang tạo ra rất nhiều những con người dối trá và kém cỏi...
Monday, July 12, 2010
Mấy ngày qua, dư luận chú ý tới chương trình đào tạo 20 ngàn tiến sĩ của Bộ Giáo Dục Hà Nội được đưa ra cùng một dịp với một ông giám đốc sở Văn Hóa-Thông Tin-Du Lịch tỉnh Phú Thọ lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ không cần biết tiếng Mỹ, cũng không cần học lâu lắc, chỉ có qua hai lần mỗi lần một tuần, trình “luận án” tiếng việt có người thông dịch tại một đại học dỏm. Lời khoác lác vụng về của ông Giám Ðốc Nguyễn Ngọc Ân làm trò cười cho thiên hạ khi bị lật tẩy là mua tấm bằng giả từ một tổ chức in ấn văn bằng bịp bợm. Ông Ân còn nói ngoài ông, còn nhiều quan chức khác cũng mua bằng dỏm như ông chứng tỏ đây là tình trạng phổ biến chứ không đơn lẻ của nhu cầu cần bằng cấp làm vỏ bọc để thăng quan tiến chức.
Nhiều trí thức trong ngoài nước đã lên tiếng về cả cái bằng dỏm của ông Ân và chương trình đào tạo 20,000 tiến sĩ của Bộ GD & ÐT Hà Nội.
Khi bị vạch mặt ông Ân bẽn lẽn nói rằng ông “không may” khi tốn hơn chục ngàn Mỹ kim mà chỉ có cái bằng dỏm. Ông Hà Văn Thịnh, một giáo chức ƠƯ Ðại Học Huế viết bài dưới đây trên “Tuần Việt Nam” ngày 9 tháng 7, 2010 mô tả cái “không may” của nền giáo dục ở Việt Nam.
Hà Văn Thịnh
Nếu 30% máy cái bị hỏng thì sản phẩm tạo ra thuộc loại nào? Ðây là câu hỏi không hề nhỏ vì đó là nỗi đáng lo đối với sự xuống cấp, thậm chí có phần “tha hóa” của một nền giáo dục nhìn đâu cũng thấy “dỏm.”
Ðọc bài báo của Tuần Việt Nam (26 tháng 6, 2010) nói về chuyện ông Nguyễn Ngọc Ân, giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Phú Thọ nói về chuyện “không may” của mình khi bỏ ra 17,000 USD để có bằng TS do một trường ÐH ở Mỹ cấp, mà không cần người học có kỹ năng nghe-đọc-nói tiếng Anh, một trường ÐH, theo GS Nguyễn Văn Tuấn (Úc) đặt tại... Malaysia, đã bị giải thể từ năm... 2003, mà thật xót xa cho nhiều điều, nhiều chuyện của nền giáo dục nước nhà. Phải chăng cũng là nền giáo dục “không may”?
Ngành giáo dục... đùa dai và duy ý chí
Nhưng điều đáng buồn nhất, cả ngành giáo dục vẫn đang “tự sướng” vì kết quả thi tốt nghiệp THPT vừa rồi đạt trên 90% (không ít tỉnh có số học sinh đậu từ 97-99%). Kết quả đó giống như một sự “đùa dai” vì ai cũng biết trong tất cả mọi hình thái, công đoạn của sự di truyền thì di truyền văn hóa-giáo dục luôn là điều khó khăn, phức tạp nhất.
Ðức Bodhidharma (Bồ Ðề Ðạt Ma) có nói rằng trên đời có 3 điều không thể mua: đó là tình cảm chân thành, thời gian sống và... hiểu biết. Làm sao một nền giáo dục khủng hoảng và bất cập trầm trọng, chỉ trong thời gian ngắn, các điều kiện quyết định về chất lượng không cải thiện được bao nhiêu, mà lại có thể có một kết quả như từ trên trời rơi xuống?
Cứ 10 người dân thì 9 người không tin kết quả đó. Bởi ai cũng ngầm định, ngầm hiểu rằng để “hóa phép giả-thật” là điều dễ nhưng để có hiểu biết thật thì không dễ một chút nào. Không thể có chuyện một địa phương năm ngoái kém cỏi, bết bát trong chuyện thi cử mà năm nay lại “thăng hoa” một tấc đến trời, bởi giáo dục là một quá trình.
Ðiều buồn thứ hai, Bộ GD và ÐT vẫn bất chấp dư luận, “duy ý chí” khi biết rằng trong 65 năm của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Cộng hòa XHCN Việt Nam chúng ta chỉ đào tạo được có 15,000 tiến sĩ. Thế nhưng, Bộ đã ký cái rụp đề án trong 10 năm tới sẽ có 20,000 TS - không biết để làm gì, với tổng kinh phí là 14,000 tỷ đồng - tương đương với 778 triệu USD.
Theo GS Nguyễn Văn Tuấn, chỉ riêng việc đào tạo 10,000 TS ở nước ngoài, chi phí thấp nhất đã là 900 triệu USD. Vậy, lấy tiền đâu để bù vào khoản thiếu hụt 122 triệu USD đào tạo ở nước ngoài và vài trăm triệu USD nữa cho kinh phí đào tạo trong nước?
Kế hoạch gì kỳ cục vậy khi Bộ cứ ký, nhưng tiền không đủ, thiếu cả hàng trăm triệu USD? Ðó là chưa nói đến việc số lượng TS “trên mây” nhiều như thế mà đất nước cứ đói nghèo, dân tộc cứ lẹt đẹt đi sau người ta thì đào tạo TS nhiều để làm gì?
Ðiều buồn thứ ba, cựu Thứ Trưởng Bành Tiến Long cách đây mấy năm đã thừa nhận trước công luận rằng có đến 30% TS không đạt chuẩn - nói nôm na là “dỏm.” Bộ GD và ÐT đã thừa nhận như thế nhưng tại sao vẫn chấp nhận thực tế ấy? Tại sao Bộ - cơ quan chủ quản lại không làm một cuộc thanh tra, sát hạch toàn diện về bằng cấp thật-giả để chấn chỉnh đội ngũ này?
Và tham vọng “cá chép” vượt “vũ môn”
Các TS đương nhiệm hiện nay, nhiều người có khả năng là những máy cái đào tạo ra nhiều thế hệ TS nữa cho nước nhà. Nếu 30% máy cái bị hỏng thì sản phẩm tạo ra thuộc loại nào? Ðây là câu hỏi không hề nhỏ vì đó là nỗi đáng lo đối với sự xuống cấp, thậm chí có phần “tha hóa” của một nền giáo dục nhìn đâu cũng thấy “dỏm.”
Nhưng, quả thật, nếu Bộ tổ chức được những cuộc khảo sát có chất lượng do những người có tâm huyết với nước, với ngành chịu trách nhiệm thì người viết bài này, e con số không dừng lại ở tỷ lệ 30%.
Những người có trách nhiệm của ngành có thấy đau buồn không khi ông GÐ Sở VH- TT- DL Nguyễn Ngọc Ân cho rằng cái sai của ông chỉ là do “không may” - có nghĩa là rất nhiều người may mắn “chưa bị lộ” vẫn có bằng cấp ấy, chức phận kia, nghênh ngang, chễm chệ làm xấu, làm hỏng nền học vấn của nước nhà?
Nếu muốn bàn thêm thì cái tư tưởng cố đấm ăn xôi với tham vọng là “cá chép” mong vượt “vũ môn” ở kỳ Ðại hội tỉnh Ðảng bộ sắp tới (như ông Ân nói) quả là vấn nạn đáng buồn cho đất nước này.
Bộ GD và ÐT vừa có bộ trưởng mới. Là một giảng viên, tôi tin chắc xã hội, số đông các nhà giáo ở cơ sở đang chờ mong sự thay đổi quyết đoán, táo bạo và có hiệu quả, nhất là về cơ chế quản lý GD và ÐT của Bộ Trưởng Phạm Vũ Luận.
Xin kiến nghị với bộ trưởng, trước khi có được một nền giáo dục tốt đẹp, nhất thiết phải “thay máu” - thay đổi triết lý giáo dục. Phải làm sạch tất cả những sự dối trá - điều quyết định làm cho đất nước đã và đang tạo ra rất nhiều những con người dối trá và kém cỏi...
Người tù chính trị 33 năm tù ở VN được trả tự do
Monday, July 12, 2010 HÀ NỘI (NV) - Theo nguồn tin riêng của Người Việt, 4 giờ sáng ngày hôm nay, 12 tháng 7 năm 2010, Hà Nội đã quyết định phóng thích người tù chính trị nổi tiếng Trương Văn Sương từ trại giam Ba Sao, Nam Hà. Ông Sương được xem là tù nhân có thời gian thụ án dài nhất Việt Nam, tổng cộng 33 năm từ sau năm 1975, liên quan đến vụ án từ Thái Lan về Việt Nam kháng chiến chống Cộng.
Ông Trương Văn Sương sinh năm 1943 tại Mỹ Tú, Sóc Trăng. Ông mang hai dòng máu, cha là người Hoa và mẹ người Khmer. Trước năm 1975 mang cấp bậc trung úy, giữ chức vụ phân chi khu trưởng chi khu Mỹ Tú, Ba Xuyên tức Sóc Trăng ngày nay. Sau năm 75 ông bị đưa đi cải tạo tổng cộng 6 năm từ 1975 đến 1981 tại Quảng Bình. Sau khi ra trại, ông vượt biên sang Thái Lan và tham gia tổ chức của Trần Văn Bá, Lê Quốc Túy để xâm nhập vào Việt Nam nhằm tìm cách gây dựng những cơ sở đấu tranh ở trong nước vũ trang chống lại Hà Nội.

Ông Trương Văn Sương là người hoạt động cùng tổ chức với anh hùng Trần Văn Bá. (Hình: Vietnamexodus.org) Tin tức tiết lộ sau khi vụ án xảy ra cho thấy, tổ chức này bị tình báo CSVN gài người vào ngay trên đất Thái vì vậy khi họ về tới biên giới hoạt động liền bị phát hiện. Các thành viên tham gia trong tổ chức kháng chiến đều bị bắt vào năm 1983 trong đó có ông Trương Văn Sương. Nhiều người trong nhóm đã bị kết án tử hình như Trần Văn Bá, Trần Thái Bạch, Lê Quốc Quân... riêng ông Sương bị kết án chung thân vì tội gián điệp.
Từ khi bản án được tuyên, ông Sương bị đưa qua nhiều nhà tù, từ miền Trung như Suối Máu thuộc tình Ðồng Nai, sau đó ra trại giam Quy Nhơn và lần lượt những năm sau ông bị giải đi thụ án ở nhiều trại giam miền Bắc và cuối cùng là trại Ba Sao, Nam Hà.
Trương Văn Sương là người tù chính trị có số năm bị giam giữ lâu nhất trong lịch sử trại giam Việt Nam sau năm 1975. Ông bị giam tổng cộng 33 năm kể cả 6 năm bị tập trung cải tạo vì là sĩ quan quân đội của QLVNCH.
Trong thời gian bị tù đày, ông không chịu nhận tội và viết bản kiểm điểm theo sự ép buộc của công an trại giam. Ông bị biệt giam nhiều năm vì chống lại ban quản lý trại giam và cuối cùng thì họ cũng buộc phải làm ngơ trước thái độ chống đối không khoan nhượng của ông. Rất nhiều lần ban giám thị trại giam Nam Hà đề nghị ông viết đơn xin khoan hồng trong các dịp lễ lớn nhưng đều bị ông từ chối.
Hoàn cảnh gia đình ông Trương Văn Sương rất bi đát. Từ nhiều chục năm qua sống đạm bạc trong một căn nhà chỉ 12 mét vuông tại số 124/9 khóm 2 phường 3 đường 30/4 thị xã Sóc Trăng. Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn (bị vu cho tội gián điệp vì gửi tin tức hình ảnh dân oan khiếu kiện ra nước ngoài) từng có thời gian thụ án tù chung trại từ năm 2003 tới 2006 kể lại rằng ông Trương Văn Sương là người tù bất khuất nhất mà nhà văn từng gặp. Ông Sương từng phanh ngực thách thức công an trong trại yêu cầu hãy bắn ông và hô vang những khẩu hiệu chống Cộng, chống chế độ Cộng Sản.
Cách đây một tháng ban giám thị trại giam Ba Sao đã gửi công văn về cho gia đình ông tại tỉnh Sóc Trăng thông báo ông bị suy tim cấp 3 cộng với huyết áp cao. Trại giam Nam Hà quyết định đưa ông ra Phủ Lý là khu chữa trị đặc biệt, nơi Linh Mục Nguyễn Văn Lý cũng được điều trị trước đây.
Thỉnh thoảng, nhà cầm quyền CSVN “đặc xá” cho một số tù nhân khi thấy những người này bệnh hoạn gần tới ngày chết, để họ đừng chết trong nhà tù.
Con của của ông Trương Văn Sương là Trương Văn Dũng đã ra tới trại giam Nam Hà săn sóc cho cha khi nhận được yêu cầu của công an. Cán bộ của Tổng Cục An Ninh cho gia đình ông Sương biết là họ có chủ trương sẽ thả ông từ nay đến cuối năm và yêu cầu ông làm đơn xin ân giảm. Tuy nhiên một lần nữa ông vẫn tiếp tục giữ ý kiến không làm đơn xin ân xá và cuối cùng thì trại giam đã thả ông vô điều kiện.
Ông cũng có một yêu cầu mà chưa có người tù nào đưa ra trước đây, đó là đòi hỏi công an phải chữa bệnh cho ông trước khi trả tự do về nhà vì gia đình ông quá nghèo, không có khả năng thanh toán tiền bệnh viện cũng như thuốc men.
Ông được chữa bệnh tại Phủ Lý và theo lời con ông cho biết tuy công an vẫn canh gác nghiêm nhặt, nhưng ông Sương được bác sĩ theo dõi và chăm sóc hàng ngày khá chu đáo.
Sáng hôm Thứ Hai, 12 tháng 7 năm 2010 ông Sương và con được công an trại giam chở về Sóc Trăng và tình trạng sức khỏe của ông đã tạm ổn định phần nào.
Theo nhóm điều hành “Quỹ Tù Nhân Lương Tâm” (www.qtnlt.blogspot.com) ông Trương Văn Sương mong mỏi được lên Sài Gòn chữa bệnh tiếp, nhưng tiền thuốc men, y phí của ông là cả một vấn đề lớn mà gia đình ông không thể gánh vác.
Monday, July 12, 2010 HÀ NỘI (NV) - Theo nguồn tin riêng của Người Việt, 4 giờ sáng ngày hôm nay, 12 tháng 7 năm 2010, Hà Nội đã quyết định phóng thích người tù chính trị nổi tiếng Trương Văn Sương từ trại giam Ba Sao, Nam Hà. Ông Sương được xem là tù nhân có thời gian thụ án dài nhất Việt Nam, tổng cộng 33 năm từ sau năm 1975, liên quan đến vụ án từ Thái Lan về Việt Nam kháng chiến chống Cộng.
Ông Trương Văn Sương sinh năm 1943 tại Mỹ Tú, Sóc Trăng. Ông mang hai dòng máu, cha là người Hoa và mẹ người Khmer. Trước năm 1975 mang cấp bậc trung úy, giữ chức vụ phân chi khu trưởng chi khu Mỹ Tú, Ba Xuyên tức Sóc Trăng ngày nay. Sau năm 75 ông bị đưa đi cải tạo tổng cộng 6 năm từ 1975 đến 1981 tại Quảng Bình. Sau khi ra trại, ông vượt biên sang Thái Lan và tham gia tổ chức của Trần Văn Bá, Lê Quốc Túy để xâm nhập vào Việt Nam nhằm tìm cách gây dựng những cơ sở đấu tranh ở trong nước vũ trang chống lại Hà Nội.

Ông Trương Văn Sương là người hoạt động cùng tổ chức với anh hùng Trần Văn Bá. (Hình: Vietnamexodus.org) Tin tức tiết lộ sau khi vụ án xảy ra cho thấy, tổ chức này bị tình báo CSVN gài người vào ngay trên đất Thái vì vậy khi họ về tới biên giới hoạt động liền bị phát hiện. Các thành viên tham gia trong tổ chức kháng chiến đều bị bắt vào năm 1983 trong đó có ông Trương Văn Sương. Nhiều người trong nhóm đã bị kết án tử hình như Trần Văn Bá, Trần Thái Bạch, Lê Quốc Quân... riêng ông Sương bị kết án chung thân vì tội gián điệp.
Từ khi bản án được tuyên, ông Sương bị đưa qua nhiều nhà tù, từ miền Trung như Suối Máu thuộc tình Ðồng Nai, sau đó ra trại giam Quy Nhơn và lần lượt những năm sau ông bị giải đi thụ án ở nhiều trại giam miền Bắc và cuối cùng là trại Ba Sao, Nam Hà.
Trương Văn Sương là người tù chính trị có số năm bị giam giữ lâu nhất trong lịch sử trại giam Việt Nam sau năm 1975. Ông bị giam tổng cộng 33 năm kể cả 6 năm bị tập trung cải tạo vì là sĩ quan quân đội của QLVNCH.
Trong thời gian bị tù đày, ông không chịu nhận tội và viết bản kiểm điểm theo sự ép buộc của công an trại giam. Ông bị biệt giam nhiều năm vì chống lại ban quản lý trại giam và cuối cùng thì họ cũng buộc phải làm ngơ trước thái độ chống đối không khoan nhượng của ông. Rất nhiều lần ban giám thị trại giam Nam Hà đề nghị ông viết đơn xin khoan hồng trong các dịp lễ lớn nhưng đều bị ông từ chối.
Hoàn cảnh gia đình ông Trương Văn Sương rất bi đát. Từ nhiều chục năm qua sống đạm bạc trong một căn nhà chỉ 12 mét vuông tại số 124/9 khóm 2 phường 3 đường 30/4 thị xã Sóc Trăng. Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn (bị vu cho tội gián điệp vì gửi tin tức hình ảnh dân oan khiếu kiện ra nước ngoài) từng có thời gian thụ án tù chung trại từ năm 2003 tới 2006 kể lại rằng ông Trương Văn Sương là người tù bất khuất nhất mà nhà văn từng gặp. Ông Sương từng phanh ngực thách thức công an trong trại yêu cầu hãy bắn ông và hô vang những khẩu hiệu chống Cộng, chống chế độ Cộng Sản.
Cách đây một tháng ban giám thị trại giam Ba Sao đã gửi công văn về cho gia đình ông tại tỉnh Sóc Trăng thông báo ông bị suy tim cấp 3 cộng với huyết áp cao. Trại giam Nam Hà quyết định đưa ông ra Phủ Lý là khu chữa trị đặc biệt, nơi Linh Mục Nguyễn Văn Lý cũng được điều trị trước đây.
Thỉnh thoảng, nhà cầm quyền CSVN “đặc xá” cho một số tù nhân khi thấy những người này bệnh hoạn gần tới ngày chết, để họ đừng chết trong nhà tù.
Con của của ông Trương Văn Sương là Trương Văn Dũng đã ra tới trại giam Nam Hà săn sóc cho cha khi nhận được yêu cầu của công an. Cán bộ của Tổng Cục An Ninh cho gia đình ông Sương biết là họ có chủ trương sẽ thả ông từ nay đến cuối năm và yêu cầu ông làm đơn xin ân giảm. Tuy nhiên một lần nữa ông vẫn tiếp tục giữ ý kiến không làm đơn xin ân xá và cuối cùng thì trại giam đã thả ông vô điều kiện.
Ông cũng có một yêu cầu mà chưa có người tù nào đưa ra trước đây, đó là đòi hỏi công an phải chữa bệnh cho ông trước khi trả tự do về nhà vì gia đình ông quá nghèo, không có khả năng thanh toán tiền bệnh viện cũng như thuốc men.
Ông được chữa bệnh tại Phủ Lý và theo lời con ông cho biết tuy công an vẫn canh gác nghiêm nhặt, nhưng ông Sương được bác sĩ theo dõi và chăm sóc hàng ngày khá chu đáo.
Sáng hôm Thứ Hai, 12 tháng 7 năm 2010 ông Sương và con được công an trại giam chở về Sóc Trăng và tình trạng sức khỏe của ông đã tạm ổn định phần nào.
Theo nhóm điều hành “Quỹ Tù Nhân Lương Tâm” (www.qtnlt.blogspot.com) ông Trương Văn Sương mong mỏi được lên Sài Gòn chữa bệnh tiếp, nhưng tiền thuốc men, y phí của ông là cả một vấn đề lớn mà gia đình ông không thể gánh vác.
Việt Nam ‘mơ’ 10 năm có 23 ngàn giảng viên thành tiến sĩ
Tuesday, July 13, 2010 HÀ NỘI - Tin của ‘Tuần Việt Nam Net’ cho hay, Chính phủ Việt Nam vừa phê chuẩn một đề án của Bộ Giáo Dục mà theo đó sẽ ‘đào tạo’ khoảng 23 ngàn giảng viên tại các trường đại học trở thành tiến sĩ trong 10 năm, từ 2010 đến 2020.
Theo tờ báo này, chi phí để đào tại 23 ngàn tiến sĩ vào khoảng 14 ngàn tỉ đồng Việt Nam, tương đương với $737 triệu.

Các sĩ tử sờ đầu rùa trên Bia Tiến Sĩ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám để lấy hên trước mùa thi.
Thói háo danh, trọng bằng cấp là một vấn nạn của giáo dục Việt Nam nhất là trong tầng lớp quan chức.
(Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images) Trong bối cảnh số lượng và chất lượng các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ của Việt Nam và tỷ lệ này trong các trường đại học, cao đẳng cũng như tư tưởng “sính danh, sính bằng cấp” hiện nay, dự án này được ‘Tuần Việt Nam Net’ bình luận là ‘quá ư lãng mạn!’
Theo dự án này, “sẽ có khoảng 10 ngàn tiến sĩ được đào tạo ở nước ngoài tại các trường đại học có uy tín, khoảng 3,000 tiến sĩ được đào tạo theo hình thức phối hợp hoặc liên kết giữa các trường đại học của Việt Nam và trường đại học nước ngoài, và khoảng 10 ngàn tiến sĩ được đào tạo trong nước.”
* Ảo tưởng
‘Tuần Việt Nam Net’ gọi dự án này là ảo tưởng bởi trung bình mỗi năm, đào tạo khoảng 2,300 tiến sĩ, mục tiêu này quá xa vời nếu so với điều kiện thực tế. Theo Giáo Sư Nguyễn Xuân Hãn, “từ năm 1945 đến nay Việt Nam có khoảng 15 ngàn tiến sĩ, trong đó khoảng 5 ngàn được đào tạo từ nước ngoài về và khoảng 10 ngàn tiến sĩ trong nước. Như vậy, 65 năm qua, trung bình mỗi năm Việt Nam đào tạo được 230 tiến sĩ.”
Ngoài việc phân tích về vấn đề nhân sự không đủ tiêu chuẩn để mỗi năm có 2,300 tiến sĩ, ‘Tuần Việt Nam Net’ nêu ra một vấn đề khác cần quan tâm là các bài báo khoa học và các nghiên cứu của ‘nghiên cứu sinh tiến sĩ’ trong quá trình đào tạo. Theo quy định, mỗi nghiên cứu sinh phải có ít nhất 2 bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành mới đủ điều kiện bảo vệ luận án.
‘Tuần Việt Nam Net’ dẫn nguồn từ “Science Citation Index Expanded (2007), cho thấy hai đại học của Việt Nam là đại học quốc gia Hà Nội và Sài Gòn cùng với Viện Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam chỉ có 96 bài viết được xuất bản trên các tạp chí khoa học. Trong khi đó Ðại Học Quốc Gia Seoul có 5,060 bài, Ðại Học Quốc Gia Singapore có 3,598 bài và Ðại Học Tổng Hợp Bắc Kinh có 3,219 bài...
Một thống kê năm 2007 của World Intellectual Property Organization, Việt Nam không có một bằng sáng chế nào được cấp. Trong khi đó Nam Hàn có 102,633, Trung Quốc có 26,292, Singapore có 995 và Thái Lan có 158 bằng sáng chế được cấp.”
‘Tuần Việt Nam Net’ đặt câu hỏi rằng, “Không biết nhìn vào những số liệu này, ai đảm bảo rằng vài năm sau, Việt Nam có khoảng 5,000 bài viết được xuất bản trên các tạp chí khoa học cũng như có vài chục bằng sáng chế mỗi năm?”
* Giáo sư và phó giáo sư không giảng dạy
‘Tuần Việt Nam Net’ đưa ra một con số ‘đáng buồn’ rằng, trong khi các trường đại học ở Việt Nam thiếu người giảng dạy thì ‘có tới 10 ngàn tiến sĩ và 6 ngàn giáo sư, phó giáo sư không tham gia giảng dạy’.
‘Tuần Việt Nam Net’ dẫn lời Giáo Sư Nguyễn Văn Tuấn, cho biết, “đến nay Việt Nam đã phong học hàm giáo sư và phó giáo sư cho hơn 8,300 người, số lượng tiến sĩ gấp 4 lần số lượng giáo sư. Tuy nhiên, đáng quan tâm là số lượng này giảng dạy trong các trường dại học lại rất thấp.”
Theo báo cáo giám sát của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Việt Nam thì trong số hơn 61 ngàn giảng viên đại học, cao đẳng, hiện mới có gần 6,200 tiến sĩ (chiếm khoảng 10%) và gần 2,300 giáo sư, phó giáo sư (chiếm gần 4%). Nghĩa là có khoảng hơn 10 ngàn tiến sĩ và khoảng 6 ngàn giáo sư, phó giáo sư không tham gia công tác giảng dạy.
‘Tuần Việt Nam Net’ nhận xét, chưa nói đến một bộ phận các tiến sĩ “dỏm” thì việc có hơn 2/3 số lượng tiến sĩ và hơn gần 3/4 số lượng giáo sư và phó giáo sư không tham gia giảng dạy đại học là một sự thiệt thòi lớn cho giáo dục đại học ở Việt Nam...
Và vì thế, câu hỏi mà ‘Tuần Việt Nam Net’ đưa ra là: “Ðào tạo 23 ngàn giảng viên thành tiến sĩ trong 10 năm, liệu có là một ‘giấc mơ?’” đã có câu trả lời.
Tuesday, July 13, 2010 HÀ NỘI - Tin của ‘Tuần Việt Nam Net’ cho hay, Chính phủ Việt Nam vừa phê chuẩn một đề án của Bộ Giáo Dục mà theo đó sẽ ‘đào tạo’ khoảng 23 ngàn giảng viên tại các trường đại học trở thành tiến sĩ trong 10 năm, từ 2010 đến 2020.
Theo tờ báo này, chi phí để đào tại 23 ngàn tiến sĩ vào khoảng 14 ngàn tỉ đồng Việt Nam, tương đương với $737 triệu.

Các sĩ tử sờ đầu rùa trên Bia Tiến Sĩ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám để lấy hên trước mùa thi.
Thói háo danh, trọng bằng cấp là một vấn nạn của giáo dục Việt Nam nhất là trong tầng lớp quan chức.
(Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images) Trong bối cảnh số lượng và chất lượng các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ của Việt Nam và tỷ lệ này trong các trường đại học, cao đẳng cũng như tư tưởng “sính danh, sính bằng cấp” hiện nay, dự án này được ‘Tuần Việt Nam Net’ bình luận là ‘quá ư lãng mạn!’
Theo dự án này, “sẽ có khoảng 10 ngàn tiến sĩ được đào tạo ở nước ngoài tại các trường đại học có uy tín, khoảng 3,000 tiến sĩ được đào tạo theo hình thức phối hợp hoặc liên kết giữa các trường đại học của Việt Nam và trường đại học nước ngoài, và khoảng 10 ngàn tiến sĩ được đào tạo trong nước.”
* Ảo tưởng
‘Tuần Việt Nam Net’ gọi dự án này là ảo tưởng bởi trung bình mỗi năm, đào tạo khoảng 2,300 tiến sĩ, mục tiêu này quá xa vời nếu so với điều kiện thực tế. Theo Giáo Sư Nguyễn Xuân Hãn, “từ năm 1945 đến nay Việt Nam có khoảng 15 ngàn tiến sĩ, trong đó khoảng 5 ngàn được đào tạo từ nước ngoài về và khoảng 10 ngàn tiến sĩ trong nước. Như vậy, 65 năm qua, trung bình mỗi năm Việt Nam đào tạo được 230 tiến sĩ.”
Ngoài việc phân tích về vấn đề nhân sự không đủ tiêu chuẩn để mỗi năm có 2,300 tiến sĩ, ‘Tuần Việt Nam Net’ nêu ra một vấn đề khác cần quan tâm là các bài báo khoa học và các nghiên cứu của ‘nghiên cứu sinh tiến sĩ’ trong quá trình đào tạo. Theo quy định, mỗi nghiên cứu sinh phải có ít nhất 2 bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành mới đủ điều kiện bảo vệ luận án.
‘Tuần Việt Nam Net’ dẫn nguồn từ “Science Citation Index Expanded (2007), cho thấy hai đại học của Việt Nam là đại học quốc gia Hà Nội và Sài Gòn cùng với Viện Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam chỉ có 96 bài viết được xuất bản trên các tạp chí khoa học. Trong khi đó Ðại Học Quốc Gia Seoul có 5,060 bài, Ðại Học Quốc Gia Singapore có 3,598 bài và Ðại Học Tổng Hợp Bắc Kinh có 3,219 bài...
Một thống kê năm 2007 của World Intellectual Property Organization, Việt Nam không có một bằng sáng chế nào được cấp. Trong khi đó Nam Hàn có 102,633, Trung Quốc có 26,292, Singapore có 995 và Thái Lan có 158 bằng sáng chế được cấp.”
‘Tuần Việt Nam Net’ đặt câu hỏi rằng, “Không biết nhìn vào những số liệu này, ai đảm bảo rằng vài năm sau, Việt Nam có khoảng 5,000 bài viết được xuất bản trên các tạp chí khoa học cũng như có vài chục bằng sáng chế mỗi năm?”
* Giáo sư và phó giáo sư không giảng dạy
‘Tuần Việt Nam Net’ đưa ra một con số ‘đáng buồn’ rằng, trong khi các trường đại học ở Việt Nam thiếu người giảng dạy thì ‘có tới 10 ngàn tiến sĩ và 6 ngàn giáo sư, phó giáo sư không tham gia giảng dạy’.
‘Tuần Việt Nam Net’ dẫn lời Giáo Sư Nguyễn Văn Tuấn, cho biết, “đến nay Việt Nam đã phong học hàm giáo sư và phó giáo sư cho hơn 8,300 người, số lượng tiến sĩ gấp 4 lần số lượng giáo sư. Tuy nhiên, đáng quan tâm là số lượng này giảng dạy trong các trường dại học lại rất thấp.”
Theo báo cáo giám sát của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Việt Nam thì trong số hơn 61 ngàn giảng viên đại học, cao đẳng, hiện mới có gần 6,200 tiến sĩ (chiếm khoảng 10%) và gần 2,300 giáo sư, phó giáo sư (chiếm gần 4%). Nghĩa là có khoảng hơn 10 ngàn tiến sĩ và khoảng 6 ngàn giáo sư, phó giáo sư không tham gia công tác giảng dạy.
‘Tuần Việt Nam Net’ nhận xét, chưa nói đến một bộ phận các tiến sĩ “dỏm” thì việc có hơn 2/3 số lượng tiến sĩ và hơn gần 3/4 số lượng giáo sư và phó giáo sư không tham gia giảng dạy đại học là một sự thiệt thòi lớn cho giáo dục đại học ở Việt Nam...
Và vì thế, câu hỏi mà ‘Tuần Việt Nam Net’ đưa ra là: “Ðào tạo 23 ngàn giảng viên thành tiến sĩ trong 10 năm, liệu có là một ‘giấc mơ?’” đã có câu trả lời.
Trương Văn Sương, người tù bất khuất:
'Ít nhất 200 người của nhóm Trần Văn Bá đã bị bỏ tù'
Wednesday, July 14, 2010
Lữ Tống/Người Việt
LTS: Ông Trương Văn Sương, năm nay 67 tuổi, người tù chính trị được xem là bị nhà nuớc Cộng Sản Việt Nam bắt giam lâu nhất kể từ năm 1975 trở lại đây. Ông bị tù hai lần trong chế độ Cộng Sản. Khi miền Nam thất thủ, ông bị “cải tạo” sáu năm. Ra tù, năm 1981, ông vượt biên sang Thái, tham gia cùng nhóm Lê Quốc Túy, Trần Văn Bá quay trở lại Việt Nam kháng chiến. Nhóm của ông bị đặc tình an ninh Việt Nam cài người vào nên bị bắt ở tỉnh Minh Hải (Cà Mau) năm 1983. Ngày 13 tháng 7 vừa qua, ông Sương được nhà cầm quyền cho xe chở về nhà con trai ở đường 30 tháng 4, khóm 2, phường 3, thị xã Sóc Trăng, Việt Nam.
Phóng viên Lữ Tống của Người Việt đã liên lạc được với ông Trương Văn Sương, qua đường điện thoại, và được ông dành cho cuộc phỏng vấn sau đây.

Hình ảnh sinh hoạt của tù nhân tại trại tù Nam Hà, nơi ông Trương Văn Sương bị giam cầm trong hàng chục năm. (Hình:news.zing.vn)
Lữ Tống (Người Việt): Xin cám ơn ông cho phép tôi có cuộc nói chuyện hôm nay. Trước tiên xin ông cho biết tình trạng sức khỏe của ông hiện nay?
Trương Văn Sương: Rất yếu. Tôi bị suy tim cấp 3, cộng với các thứ bệnh do mấy chục năm trong tù gây ra. Nhiều khi không có thuốc tôi chỉ nằm thở mong cho mau qua cơn mà thôi. Bây giờ thì tạm ổn. Tôi được phát thuốc uống đầy đủ và công an trại giam trước khi chở tôi về nhà đã chữa trị cho tôi một thời gian. Bây giờ thì những cơn nguy hiểm đã qua, nhưng còn những bệnh mãn tính thì vẫn còn hành dữ lắm.
Người Việt: Theo chúng tôi được biết, ông bị kêu án chung thân vì tội gián điệp. Với bản án này, người thi hành án phải được lệnh ân xá từ chủ tịch nước. Trường hợp của ông có phải ngoại lệ?
Trương Văn Sương: Tôi xin nhắc lại cho rõ là họ không trả tự do cho tôi mà chỉ tạm hoãn thi hành án 12 tháng mà thôi. Họ bắt con trai tôi ký giấy bảo lãnh cho tôi mới được về chữa bệnh chứ không phải họ chính thức trả tự do cho tôi.
Người Việt: Trên chuyến xe cùng về, chắc ông và công an cũng có nhiều dịp nói chuyện với nhau. Họ có khuyên hay gợi ý cho ông tránh những việc làm như trả lời phỏng vấn với báo, đài ngoại quốc, hoặc không nên có những hành động mà họ gọi là chống phá cách mạng?
Trương Văn Sương: Tất nhiên. Họ bảo già rồi, về thì lo việc chữa bệnh, chăm sóc gia đình, đừng nghe bất cứ ai hết. Không làm bất cứ điều gì để chánh quyền địa phương phiền hà. Họ còn căn dặn rằng khi về nhà thì phải báo cáo cho Ủy ban Nhân dân phường đàng hoàng và không được có hành vi hay cử chỉ chống đối. Không được đi đâu mà không xin phép... Nói chung, coi như đang được tạm tha, muốn bắt lại hồi nào thì bắt...
Người Việt: Ðược biết ông là người tù lâu nhất trong trại giam Cộng Sản sau năm 1975. Ông có thể kể sơ qua một vài chi tiết về các hoạt động của ông, đã dẫn tới việc bắt giữ và tuyên án nặng nề như vậy?
Trương Văn Sương: Sau khi bị tập trung cải tạo sáu năm vì tôi là trung úy QLVNCH, ra tù, tôi vượt biên sang Thái Lan, gia nhập vào “Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam.”
Tôi làm trưởng toán, dẫn mười anh em nhập biên vào Hòn Ðá Bạc tại mũi Cà Mau. Ðến đó thì tôi và anh em cả toán đều bị bắt. Tôi bị kết án chung thân vào ngày 1 tháng 3, 1983. Tính đến nay, khi tôi được ra khỏi trại giam Nam Hà, thì đã 27 năm 4 tháng rưỡi.
Người Việt : Trong những đợt bắt bớ này, Hà Nội công khai đăng tải những thông tin mà họ nói là “gián điệp thâm nhập chống phá cách mạng.” Ông là người trong cuộc, xin cho biết một ít chi tiết về việc này.
Trương Văn Sương: Thật ra, rất nhiều đợt kháng chiến quân về Việt Nam. Mỗi đợt về có một toán, kéo dài tới ba năm như thế. Tôi làm trưởng toán dẫn 10 người về nước và tháng 12 năm 1980 có một toán đường bộ do thiếu úy Biệt Ðộng Quân tên Trần Dự dẫn về. Toán này cũng bị bắt vì không thành công. Sau này có nhiều toán xâm nhập bằng đường biển, vì đường bộ bị phát hiện nhiều quá. Từ năm 1981 cho đến 1985, rất nhiều toán quân thâm nhập vào Việt Nam. Số anh em bị nhốt chung với tôi ước lượng khoảng 200 người. Ða số bị bắt từ năm 1980 tới 1985.
Toán của tôi thì coi như họ đã được thả ra hết. Một số bị bệnh chết, một số vượt trại bị bắn chết, còn bao nhiêu người còn lại đều được thả hết, chỉ còn duy nhất một mình tôi ở cho đến hôm nay.
Người Việt: Ông nổi tiếng là người dám chống đối công an công khai trong trại giam. Xin ông kể cho vài chuyện liên quan đến ông.
Trương Văn Sương: Tại trại giam Nam Hà, tôi chống đối họ rất nhiều lần. Tất cả anh em đều cho tôi là người anh hùng, nhưng tôi không dám nhận danh từ này. Cứ sáu tháng thì tôi phải bị cùm, bị biệt giam kỷ luật một lần. Mỗi năm tôi bị bắt đi hai lần như vậy. Lý do là vì họ bắt tôi phải viết lại bản kiểm điểm vì bản kiểm điểm của tôi họ không vừa lòng.
Người Việt: Họ không vừa lòng ở điểm nào, thưa ông?
Trương Văn Sương: Bản kiểm điểm của tôi viết như vầy: “Chúng tôi khẳng định rằng chúng tôi vô tội và chúng tôi là những người có công với đất nước. Chúng tôi đã đem mồ hôi xương máu xây dựng và đấu tranh cho nhân quyền, tự do dân chủ cho Việt Nam. Còn với những người có tội thì chính đảng Cộng Sản Việt Nam mới là người có tội. Bằng chứng là các cuộc cải cách ruộng đất đã giết chết bao nhiêu người vô tội tại miền Bắc. Sau đó năm 1975, một lần nữa sau khi chiếm được miền Nam họ đã làm kiệt quệ kinh tế bằng các cuộc cải tạo tư sản. đánh tư bản, đẩy dân đi kinh tế mới, gây cho hàng triệu người vượt biên trong đó hàng trăm ngàn người đã chết. Họ đã buộc hàng trăm ngàn sĩ quan QLVNCH đi cải tạo và có biết bao người chết mà không biết thân xác bị vùi dập nơi đâu. Cán bộ thì tham nhũng, thối nát, hiếp đáp dân chúng trong hàng chục năm qua nhưng lại hèn nhát cúi đầu trước các vụ lấn đất, lấn biển của ngoại bang. Hoàng Sa, Trường Sa không được bảo vệ khiến đất nước cha ông đã và đang rơi vào tay quân giặc.”
Tôi viết như vậy mấy lần giống nhau, và khi họ thấy không ép tôi được nữa, họ kể như lơ luôn.
Người Việt: Riêng trường hợp họ đề nghị ông viết đơn xin ân xá thì ông trả lời ra sao?
Trương Văn Sương: Ban đầu, họ biểu tôi làm đơn xin ân xá nhưng tôi không chịu. Tôi là người có công với đất nước chớ đâu phải có tội như họ đâu mà xin ân xá. Người xin ân xá phải là họ chớ đâu phải tôi? Nhưng đến khi nghĩ lại, thời gian qua tôi đã chứng tỏ mình là người như thế nào rồi và hơn nữa tôi bệnh quá nặng, sợ không nhìn thấy được con cháu. Cuối cùng tôi nhượng bộ làm đơn xin ân xá. Tôi vẫn tin rằng lịch sử sẽ minh chứng cho tôi và mọi người anh em, bạn bè sẽ hiểu cho tôi sau này...
Người Việt: Những ngày cuối cùng trong trại giam trước khi được thả, công an đối xử với ông có khác trước hay không? Vì họ biết phải thả ông ra và không muốn lôi thôi nếu ông chết trong tù?
Trương Văn Sương: Phải nói là trong những ngày cuối cùng, kể từ đầu năm 2010 tới giờ, họ đối xử với tôi rất tử tế. Họ có vẻ kính trọng mình, nhất là qua đợt bệnh vừa rồi họ chăm sóc rất chu đáo. Mới đây nhất, trong chuyến đưa tôi từ miền Bắc vào Nam, họ ưu ái tôi không khác nào đối với một vị tướng vậy! (sic)
Nếu mà nói Cộng Sản xấu thì cũng không hẳn lắm. Bởi ở giai đoạn cuối họ đối xử với tôi rất khác lạ, phải nói là ưu đãi đủ mọi chuyện. Nhưng ngắn thôi, chừng một năm trở lại đây thôi, còn hai mươi mấy năm về trước họ coi tôi như con bọ, con dòi vậy, thua con vật xa... Chuyện này cho tôi hiểu như thế này: Họ biết họ phải thả mình nhưng nếu cứ đối xử với mình một cách tồi tệ như trước đây thì tất nhiên mình sẽ nói xấu họ. Ðó chẳng qua là một thủ đoạn. Ngày nào họ giẫm mình xuống bùn nhưng đến khi nhận thấy rằng giẫm mình không xuể thì họ vuốt mình mấy câu... Họ khen, rồi tắm rửa cho mình, lau chùi đánh bóng cho mình... để quảng cáo rằng: họ là những người tốt, là những ân nhân làm ơn cho mình...
Người Việt: Hoàn cảnh gia đình ông, theo chúng tôi biết, rất khó khăn. Ông chia sẻ gì về vấn đề này hay không?
Trương Văn Sương: Tôi có ba con, hai trai một gái. Bảy cháu nội và hai cháu ngoại nhưng không có đứa nào đi học đàng hoàng cả. Ðó là nỗi đau nhất của tôi từ xưa tới nay. Nghèo quá mà làm sao đi học cho được, hơn nữa cha của tụi nó ở tù vì tội phản cách mạng nên tụi nó đâu dám chường ra với người ta mà học hành đàng hoàng. Vừa nghèo vừa dốt nát... Kết quả sau bao nhiêu năm trong tù còn lại với gia đình tôi như thế.
Người Việt: Và cuối cùng thì ước nguyện của ông đối với đồng bào, dân tộc như thế nào?
Trương Văn Sương: Tôi vẫn muốn dân tộc Việt Nam bây giờ nên hướng về tương lai. Nên đối xử với nhau trong tinh thần nhân đạo. Hãy để quá khứ về quá khứ.
Người Việt: Xin cám ơn ông!
'Ít nhất 200 người của nhóm Trần Văn Bá đã bị bỏ tù'
Wednesday, July 14, 2010
Lữ Tống/Người Việt
LTS: Ông Trương Văn Sương, năm nay 67 tuổi, người tù chính trị được xem là bị nhà nuớc Cộng Sản Việt Nam bắt giam lâu nhất kể từ năm 1975 trở lại đây. Ông bị tù hai lần trong chế độ Cộng Sản. Khi miền Nam thất thủ, ông bị “cải tạo” sáu năm. Ra tù, năm 1981, ông vượt biên sang Thái, tham gia cùng nhóm Lê Quốc Túy, Trần Văn Bá quay trở lại Việt Nam kháng chiến. Nhóm của ông bị đặc tình an ninh Việt Nam cài người vào nên bị bắt ở tỉnh Minh Hải (Cà Mau) năm 1983. Ngày 13 tháng 7 vừa qua, ông Sương được nhà cầm quyền cho xe chở về nhà con trai ở đường 30 tháng 4, khóm 2, phường 3, thị xã Sóc Trăng, Việt Nam.
Phóng viên Lữ Tống của Người Việt đã liên lạc được với ông Trương Văn Sương, qua đường điện thoại, và được ông dành cho cuộc phỏng vấn sau đây.

Hình ảnh sinh hoạt của tù nhân tại trại tù Nam Hà, nơi ông Trương Văn Sương bị giam cầm trong hàng chục năm. (Hình:news.zing.vn)
Lữ Tống (Người Việt): Xin cám ơn ông cho phép tôi có cuộc nói chuyện hôm nay. Trước tiên xin ông cho biết tình trạng sức khỏe của ông hiện nay?
Trương Văn Sương: Rất yếu. Tôi bị suy tim cấp 3, cộng với các thứ bệnh do mấy chục năm trong tù gây ra. Nhiều khi không có thuốc tôi chỉ nằm thở mong cho mau qua cơn mà thôi. Bây giờ thì tạm ổn. Tôi được phát thuốc uống đầy đủ và công an trại giam trước khi chở tôi về nhà đã chữa trị cho tôi một thời gian. Bây giờ thì những cơn nguy hiểm đã qua, nhưng còn những bệnh mãn tính thì vẫn còn hành dữ lắm.
Người Việt: Theo chúng tôi được biết, ông bị kêu án chung thân vì tội gián điệp. Với bản án này, người thi hành án phải được lệnh ân xá từ chủ tịch nước. Trường hợp của ông có phải ngoại lệ?
Trương Văn Sương: Tôi xin nhắc lại cho rõ là họ không trả tự do cho tôi mà chỉ tạm hoãn thi hành án 12 tháng mà thôi. Họ bắt con trai tôi ký giấy bảo lãnh cho tôi mới được về chữa bệnh chứ không phải họ chính thức trả tự do cho tôi.
Người Việt: Trên chuyến xe cùng về, chắc ông và công an cũng có nhiều dịp nói chuyện với nhau. Họ có khuyên hay gợi ý cho ông tránh những việc làm như trả lời phỏng vấn với báo, đài ngoại quốc, hoặc không nên có những hành động mà họ gọi là chống phá cách mạng?
Trương Văn Sương: Tất nhiên. Họ bảo già rồi, về thì lo việc chữa bệnh, chăm sóc gia đình, đừng nghe bất cứ ai hết. Không làm bất cứ điều gì để chánh quyền địa phương phiền hà. Họ còn căn dặn rằng khi về nhà thì phải báo cáo cho Ủy ban Nhân dân phường đàng hoàng và không được có hành vi hay cử chỉ chống đối. Không được đi đâu mà không xin phép... Nói chung, coi như đang được tạm tha, muốn bắt lại hồi nào thì bắt...
Người Việt: Ðược biết ông là người tù lâu nhất trong trại giam Cộng Sản sau năm 1975. Ông có thể kể sơ qua một vài chi tiết về các hoạt động của ông, đã dẫn tới việc bắt giữ và tuyên án nặng nề như vậy?
Trương Văn Sương: Sau khi bị tập trung cải tạo sáu năm vì tôi là trung úy QLVNCH, ra tù, tôi vượt biên sang Thái Lan, gia nhập vào “Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam.”
Tôi làm trưởng toán, dẫn mười anh em nhập biên vào Hòn Ðá Bạc tại mũi Cà Mau. Ðến đó thì tôi và anh em cả toán đều bị bắt. Tôi bị kết án chung thân vào ngày 1 tháng 3, 1983. Tính đến nay, khi tôi được ra khỏi trại giam Nam Hà, thì đã 27 năm 4 tháng rưỡi.
Người Việt : Trong những đợt bắt bớ này, Hà Nội công khai đăng tải những thông tin mà họ nói là “gián điệp thâm nhập chống phá cách mạng.” Ông là người trong cuộc, xin cho biết một ít chi tiết về việc này.
Trương Văn Sương: Thật ra, rất nhiều đợt kháng chiến quân về Việt Nam. Mỗi đợt về có một toán, kéo dài tới ba năm như thế. Tôi làm trưởng toán dẫn 10 người về nước và tháng 12 năm 1980 có một toán đường bộ do thiếu úy Biệt Ðộng Quân tên Trần Dự dẫn về. Toán này cũng bị bắt vì không thành công. Sau này có nhiều toán xâm nhập bằng đường biển, vì đường bộ bị phát hiện nhiều quá. Từ năm 1981 cho đến 1985, rất nhiều toán quân thâm nhập vào Việt Nam. Số anh em bị nhốt chung với tôi ước lượng khoảng 200 người. Ða số bị bắt từ năm 1980 tới 1985.
Toán của tôi thì coi như họ đã được thả ra hết. Một số bị bệnh chết, một số vượt trại bị bắn chết, còn bao nhiêu người còn lại đều được thả hết, chỉ còn duy nhất một mình tôi ở cho đến hôm nay.
Người Việt: Ông nổi tiếng là người dám chống đối công an công khai trong trại giam. Xin ông kể cho vài chuyện liên quan đến ông.
Trương Văn Sương: Tại trại giam Nam Hà, tôi chống đối họ rất nhiều lần. Tất cả anh em đều cho tôi là người anh hùng, nhưng tôi không dám nhận danh từ này. Cứ sáu tháng thì tôi phải bị cùm, bị biệt giam kỷ luật một lần. Mỗi năm tôi bị bắt đi hai lần như vậy. Lý do là vì họ bắt tôi phải viết lại bản kiểm điểm vì bản kiểm điểm của tôi họ không vừa lòng.
Người Việt: Họ không vừa lòng ở điểm nào, thưa ông?
Trương Văn Sương: Bản kiểm điểm của tôi viết như vầy: “Chúng tôi khẳng định rằng chúng tôi vô tội và chúng tôi là những người có công với đất nước. Chúng tôi đã đem mồ hôi xương máu xây dựng và đấu tranh cho nhân quyền, tự do dân chủ cho Việt Nam. Còn với những người có tội thì chính đảng Cộng Sản Việt Nam mới là người có tội. Bằng chứng là các cuộc cải cách ruộng đất đã giết chết bao nhiêu người vô tội tại miền Bắc. Sau đó năm 1975, một lần nữa sau khi chiếm được miền Nam họ đã làm kiệt quệ kinh tế bằng các cuộc cải tạo tư sản. đánh tư bản, đẩy dân đi kinh tế mới, gây cho hàng triệu người vượt biên trong đó hàng trăm ngàn người đã chết. Họ đã buộc hàng trăm ngàn sĩ quan QLVNCH đi cải tạo và có biết bao người chết mà không biết thân xác bị vùi dập nơi đâu. Cán bộ thì tham nhũng, thối nát, hiếp đáp dân chúng trong hàng chục năm qua nhưng lại hèn nhát cúi đầu trước các vụ lấn đất, lấn biển của ngoại bang. Hoàng Sa, Trường Sa không được bảo vệ khiến đất nước cha ông đã và đang rơi vào tay quân giặc.”
Tôi viết như vậy mấy lần giống nhau, và khi họ thấy không ép tôi được nữa, họ kể như lơ luôn.
Người Việt: Riêng trường hợp họ đề nghị ông viết đơn xin ân xá thì ông trả lời ra sao?
Trương Văn Sương: Ban đầu, họ biểu tôi làm đơn xin ân xá nhưng tôi không chịu. Tôi là người có công với đất nước chớ đâu phải có tội như họ đâu mà xin ân xá. Người xin ân xá phải là họ chớ đâu phải tôi? Nhưng đến khi nghĩ lại, thời gian qua tôi đã chứng tỏ mình là người như thế nào rồi và hơn nữa tôi bệnh quá nặng, sợ không nhìn thấy được con cháu. Cuối cùng tôi nhượng bộ làm đơn xin ân xá. Tôi vẫn tin rằng lịch sử sẽ minh chứng cho tôi và mọi người anh em, bạn bè sẽ hiểu cho tôi sau này...
Người Việt: Những ngày cuối cùng trong trại giam trước khi được thả, công an đối xử với ông có khác trước hay không? Vì họ biết phải thả ông ra và không muốn lôi thôi nếu ông chết trong tù?
Trương Văn Sương: Phải nói là trong những ngày cuối cùng, kể từ đầu năm 2010 tới giờ, họ đối xử với tôi rất tử tế. Họ có vẻ kính trọng mình, nhất là qua đợt bệnh vừa rồi họ chăm sóc rất chu đáo. Mới đây nhất, trong chuyến đưa tôi từ miền Bắc vào Nam, họ ưu ái tôi không khác nào đối với một vị tướng vậy! (sic)
Nếu mà nói Cộng Sản xấu thì cũng không hẳn lắm. Bởi ở giai đoạn cuối họ đối xử với tôi rất khác lạ, phải nói là ưu đãi đủ mọi chuyện. Nhưng ngắn thôi, chừng một năm trở lại đây thôi, còn hai mươi mấy năm về trước họ coi tôi như con bọ, con dòi vậy, thua con vật xa... Chuyện này cho tôi hiểu như thế này: Họ biết họ phải thả mình nhưng nếu cứ đối xử với mình một cách tồi tệ như trước đây thì tất nhiên mình sẽ nói xấu họ. Ðó chẳng qua là một thủ đoạn. Ngày nào họ giẫm mình xuống bùn nhưng đến khi nhận thấy rằng giẫm mình không xuể thì họ vuốt mình mấy câu... Họ khen, rồi tắm rửa cho mình, lau chùi đánh bóng cho mình... để quảng cáo rằng: họ là những người tốt, là những ân nhân làm ơn cho mình...
Người Việt: Hoàn cảnh gia đình ông, theo chúng tôi biết, rất khó khăn. Ông chia sẻ gì về vấn đề này hay không?
Trương Văn Sương: Tôi có ba con, hai trai một gái. Bảy cháu nội và hai cháu ngoại nhưng không có đứa nào đi học đàng hoàng cả. Ðó là nỗi đau nhất của tôi từ xưa tới nay. Nghèo quá mà làm sao đi học cho được, hơn nữa cha của tụi nó ở tù vì tội phản cách mạng nên tụi nó đâu dám chường ra với người ta mà học hành đàng hoàng. Vừa nghèo vừa dốt nát... Kết quả sau bao nhiêu năm trong tù còn lại với gia đình tôi như thế.
Người Việt: Và cuối cùng thì ước nguyện của ông đối với đồng bào, dân tộc như thế nào?
Trương Văn Sương: Tôi vẫn muốn dân tộc Việt Nam bây giờ nên hướng về tương lai. Nên đối xử với nhau trong tinh thần nhân đạo. Hãy để quá khứ về quá khứ.
Người Việt: Xin cám ơn ông!
Con khóc dỗ không nín, mẹ ném con xuống giếng
Thursday, July 15, 2010
QUẢNG NGÃI (TH) - Trong cơn giận dữ, một phụ nữ đã ném con trai mới có 7 tháng xuống giếng vì nó khóc mà dỗ không được.
Theo bản tin VietnamNet, Nguyễn Thị Hòa, 35 tuổi ở huyện đảo Lý Sơn, chồng làm nghề đánh cá, đã hành động như vậy.

Trong cơn quẫn bách, Nguyễn Thị Nụ đã thả con xuống dưới giếng trong mùa Ðông lạnh giá hồi năm 2009.
Nguyễn Thị Nụ, 23 tuổi, đã bị tòa án ở Hà Nội kết án 12 năm tù ngày 2 tháng 6, 2010. VietnamNet viết: “Nạn nhân là cháu trai mới 7 tháng tuổi, con trai thứ hai của Nguyễn Thị Hòa. Thấy con khóc mãi không nín, Hòa đã ôm con thả xuống giếng nhà ông Lê Hòa ở gần đó.”
Theo nguồn tin: “Khi người dân phát hiện ra thì đã muộn. Cháu bé đã tử vong. Bố của cháu làm nghề đi biển, thời điểm xảy ra sự việc không có nhà nên chưa hề biết hung tin.”
Đây không phải là lần đầu tiên việc một bà mẹ ném con xuống giếng xảy ra tại Việt Nam.
Cách đây gần một năm, một vụ tương tự cũng xảy ra tại Hà Nội.
Vụ này xảy ra vào sáng rạng sáng 18 tháng 11, năm 2009, khi đứa con trai bị ốm nhưng người chồng không chăm sóc mà phó mặc cho vợ và mẹ nên Nguyễn Thị Nụ, 23 tuổi đã ném con xuống giếng chết.
Trước đó vì “Nghi ngờ chồng ngoại tình nên không quan tâm đến vợ con, Nụ nhiều lần dọa đâm đơn ly dị.”
Nguyễn Thị Nụ cho rằng quan hệ vợ chồng không còn tình yêu, mà ‘gắn kết’ chỉ vì đứa trẻ, Nụ đã bế con ra giếng... và thả xuống nước lạnh giá.”
Theo báo điện tử VNExpress, ‘Ngày 2 tháng 6, 2010 vừa qua, tòa án ở Hà Nội đã kết án 12 năm tù đối với Nguyễn Thị Nụ.’
Thursday, July 15, 2010
QUẢNG NGÃI (TH) - Trong cơn giận dữ, một phụ nữ đã ném con trai mới có 7 tháng xuống giếng vì nó khóc mà dỗ không được.
Theo bản tin VietnamNet, Nguyễn Thị Hòa, 35 tuổi ở huyện đảo Lý Sơn, chồng làm nghề đánh cá, đã hành động như vậy.

Trong cơn quẫn bách, Nguyễn Thị Nụ đã thả con xuống dưới giếng trong mùa Ðông lạnh giá hồi năm 2009.
Nguyễn Thị Nụ, 23 tuổi, đã bị tòa án ở Hà Nội kết án 12 năm tù ngày 2 tháng 6, 2010. VietnamNet viết: “Nạn nhân là cháu trai mới 7 tháng tuổi, con trai thứ hai của Nguyễn Thị Hòa. Thấy con khóc mãi không nín, Hòa đã ôm con thả xuống giếng nhà ông Lê Hòa ở gần đó.”
Theo nguồn tin: “Khi người dân phát hiện ra thì đã muộn. Cháu bé đã tử vong. Bố của cháu làm nghề đi biển, thời điểm xảy ra sự việc không có nhà nên chưa hề biết hung tin.”
Đây không phải là lần đầu tiên việc một bà mẹ ném con xuống giếng xảy ra tại Việt Nam.
Cách đây gần một năm, một vụ tương tự cũng xảy ra tại Hà Nội.
Vụ này xảy ra vào sáng rạng sáng 18 tháng 11, năm 2009, khi đứa con trai bị ốm nhưng người chồng không chăm sóc mà phó mặc cho vợ và mẹ nên Nguyễn Thị Nụ, 23 tuổi đã ném con xuống giếng chết.
Trước đó vì “Nghi ngờ chồng ngoại tình nên không quan tâm đến vợ con, Nụ nhiều lần dọa đâm đơn ly dị.”
Nguyễn Thị Nụ cho rằng quan hệ vợ chồng không còn tình yêu, mà ‘gắn kết’ chỉ vì đứa trẻ, Nụ đã bế con ra giếng... và thả xuống nước lạnh giá.”
Theo báo điện tử VNExpress, ‘Ngày 2 tháng 6, 2010 vừa qua, tòa án ở Hà Nội đã kết án 12 năm tù đối với Nguyễn Thị Nụ.’
Luật sư dọa kiện trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương
Friday, July 16, 2010
Lữ Tống/Người Việt
Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính Trị, trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương, người bị Luật Sư Trần Ðình Triển chất vấn về chuyện ra lệnh bịt miệng báo chí.
(Hình: Học Viện Chính Trị-Hành Chính Quốc Gia) HÀ NỘI (NV) - Luật sư biện hộ cho các nạn nhân tình dục ở tỉnh Hà Giang nói ông có thể yêu cầu khởi tố ông Tô Huy Rứa, trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương, nếu quả thật ông này có ra lệnh miệng cấm báo chí loan tin vụ bê bối trên.
Trả lời phỏng vấn báo Người Việt qua điện thoại, Luật Sư Trần Ðình Triển cho biết ông đang chờ đợi sự trả lời của ông Tô Huy Rứa về dư luận cho rằng ông Rứa đã điện thoại tới nhiều tổng biên tập và các báo yêu cầu ngưng viết về ông Nguyễn Trường Tô, một đảng viên cao cấp đang bị Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương kết tội là có những hành vi buông thả, từng mua dâm và có những hình ảnh đồi bại với gái mãi dâm.
Luật Sư Trần Ðình Triển là luật sư của hai nữ sinh Nguyễn Thúy Hằng và Nguyễn Thị Thanh Thủy, là nạn nhân bị chính hiệu trưởng của hai cô bán dâm cho ông Tô, chủ tịch tỉnh Hà Giang.
Luật Sư Triển nói với báo Người Việt, ông đã gởi thư đến ông Tô Huy Rứa và hiện đang chờ đợi câu trả lời của ông Rứa để xác nhận rằng nguồn dư luận vừa nêu có đúng với sự thật hay không. Tùy theo sự trả lời đó, văn phòng LS Trần Ðình Triển sẽ chính thức gửi đơn khởi tố ông Rứa ra trước pháp luật.
Theo Luật Sư Triển cho phóng viên Người Việt biết thì những lời ra lệnh bằng miệng của ông Tô Huy Rứa là phạm pháp. LS Triển cũng cho là nhiều vụ bưng bít che giấu tội phạm đã được các cán bộ lãnh đạo ra lệnh miệng cho cấp dưới quyền đã cản trở pháp luật một cách nghiêm trọng. Hành động cấm đưa tin của báo chí đối với trường hợp ông Nguyễn Trường Tô phải được xem là bao che tội phạm.
Hai nữ sinh Nguyễn Thúy Hằng (19 tuổi) và Nguyễn Thị Thanh Thúy (18 tuổi) bị cáo buộc trong vụ án hiệu trưởng Sầm Ðức Xương mua dâm trẻ vị thành niên là chính học trò của trường ông. Vụ án nổ lớn khi các tin tức tiết lộ trong phiên tòa phúc thẩm cho thấy Nguyễn Trường Tô, chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang là một trong những quan chức to đầu của tỉnh này đã có quan hệ tình dục với gần 20 nữ sinh từ hơn 13 tuổi đến 17 tuổi.
Hai cô Hằng và Thúy đều phản cung, Luật Sư Triển đã nêu ra, trong phiên phúc thẩm, các bằng cớ chứng minh công an điều tra, Viện Kiểm Sát và cả Tòa Án Sơ Thẩm tỉnh Hà Giang đã vi phạm luật hình sự tố tụng. Báo chí loan tin rộng rãi nên bản án sơ thẩm bị hủy và phải điều tra lại từ đầu.
Luật Sư Triển còn nói rằng gần đây có những ép buộc đối với những em gái làm nhân chứng cho vụ án Sầm Ðức Xương mua dâm nữ sinh. Các em này đã bị thế lực đen tối ép buộc phải bỏ ngang những lời khai trước đây. Riêng hai nạn nhân Hằng và Thúy được văn phòng luật Vì Dân của Luật Sư Trần Ðình Triển biện hộ không lấy luật sư phí, nay cũng đã từ chối không chấp nhận cho luật sư tiếp tục biện hộ cho hai em ở tòa phúc thẩm.
Luật Sư Trần Ðình Triển khẳng định với báo phóng viên Người Việt rằng ông sẽ khởi kiện Tô Huy Rứa ra tòa mặc dù biết rằng chưa chắc tòa án đã chấp nhận thụ lý đơn của ông. Tuy nhiên ông khẳng định, hành động đưa một nhân vật cao cấp không tôn trọng luật pháp ra trước tóa án là tiền lệ tốt cho các cuộc tranh đấu vì công lý sau này.
Luật Sư Triển nhấn mạnh sẽ khởi kiện ông Tô Huy Rứa ra trước các cấp có thẩm quyền của đảng để xem xét chức vụ trong đảng và tư cách đảng viên của ông này. Luật Sư Trần Ðình Triển cũng sẽ khởi kiện ông Tô Huy Rứa ra trước một số cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xem xét có hay không việc ông này vi phạm Hiến Pháp, vi phạm Bộ Luật Tố Tụng, Bộ Luật Hình Sự, Luật Báo Chí, cũng như Bộ Luật Cán Bộ Công Chức.
Bức thư do văn phòng luật Vì Dân do LS Trần Ðình Triển làm trưởng văn phòng gởi ông Tô Huy Rứa hiện đang được phổ biến ở một số diễn đàn điện tử, báo mạng. Bức thư yêu cầu ông Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính Trị, bí thư Trung Ương, trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương trả lời về những hành vi mà LS Triển cho là, nếu ông Hứa làm đúng như thế, là đã vi phạm Hiến Pháp, vi phạm luật báo chí cùng những tội danh khác.
Mới đây, ngày 5 tháng 7, 2010 Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Ðảng Cộng Sản đề nghị cách chức ông Tô khi có thêm những hình ảnh trần truồng và tin tức mới về ông Tô được xì ra thêm trên báo. Vụ việc này từng được biết đến từ 5 năm trước nhưng đã bị ỉm đi khi ông Tô mới leo lên ghế chủ tịch UBND.
Hồi đầu tuần này, đã có tin cho biết nhà cầm quyền trung ương Hà Nội cấm báo chí loan tin tiếp theo về xì căng đan Nguyễn Trường Tô và vụ tập đoàn Vinashin bên bờ phá sản.
“Lệnh cấm này được truyền đạt bằng cách gọi điện thoại từ một số bộ ngành tới lãnh đạo của các phương tiện truyền thông, chứ không có văn bản giấy tờ, cũng không tổ chức họp báo.” Ðây là một lời báo động được viết trên mạng Bauxite VN ngày 14 tháng 7, 2010. Trong bức thư của LS Triển, ông nêu đích danh tên ông Tô huy Rứa, bị nghi là người gọi điện thoại ra lệnh.
Ông Rứa và một số người khác trong Bộ Chính Trị như Nguyễn Tấn Dũng (thủ tướng), Trương Tấn Sang (thường trực Ban Bí Thư), Nguyễn Phú Trọng (chủ tịch Quốc Hội), Phùng Quang Thanh (bộ trưởng Quốc Phòng), Hồ Ðức Việt (trưởng ban Tổ Chức Trung Ương), đang nhăm nhe ghế Tổng Bí Thư khi Ðại Hội Ðảng diễn ra vào mùa Xuân năm tới.
Bức thư của LS Triển nêu rõ ông Tô Huy Rứa đã lợi dụng tư cách là ủy viên Bộ Chính Trị và trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương đã gọi điện thoại đến nhiều tổng biên tập và các báo yêu cầu ngưng viết về ông Nguyễn Trường Tô, một đảng viên cao cấp đang bị Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương kết tội là có những hành vi buông thả. Từng mua dâm và có những hình ảnh đồi bại với gái mãi dâm.
Bức thư nói rõ việc ông Tô Huy Rứa lợi dụng chức quyền, lợi dụng cương vị lãnh đạo để có hành vi ngăn cản báo chí là vi phạm pháp luật, vi phạm luật báo chí và luật hình sự tố tụng.
Thông qua những sự kiện này, cộng với hành động buộc báo chí im tiếng của ông Tô Huy Rứa, một thành viên cao cấp nhất trong Ban Bí Thư Trung Ương đã làm cho dư luận hết sức phẫn nộ và cho rằng đang có một cuộc vận động để bảo vệ Nguyễn Trường Tô cùng đồng bọn. Hành động này cũng đồng thời nhắm giảm bớt hình ảnh tồi tệ của đảng viên Ðảng Cộng Sản nói chung và cá nhân của một số đảng viên cao cấp nói riêng, khi đại hội đảng đang đến gần.
Friday, July 16, 2010
Lữ Tống/Người Việt
Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính Trị, trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương, người bị Luật Sư Trần Ðình Triển chất vấn về chuyện ra lệnh bịt miệng báo chí.
(Hình: Học Viện Chính Trị-Hành Chính Quốc Gia) HÀ NỘI (NV) - Luật sư biện hộ cho các nạn nhân tình dục ở tỉnh Hà Giang nói ông có thể yêu cầu khởi tố ông Tô Huy Rứa, trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương, nếu quả thật ông này có ra lệnh miệng cấm báo chí loan tin vụ bê bối trên.
Trả lời phỏng vấn báo Người Việt qua điện thoại, Luật Sư Trần Ðình Triển cho biết ông đang chờ đợi sự trả lời của ông Tô Huy Rứa về dư luận cho rằng ông Rứa đã điện thoại tới nhiều tổng biên tập và các báo yêu cầu ngưng viết về ông Nguyễn Trường Tô, một đảng viên cao cấp đang bị Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương kết tội là có những hành vi buông thả, từng mua dâm và có những hình ảnh đồi bại với gái mãi dâm.
Luật Sư Trần Ðình Triển là luật sư của hai nữ sinh Nguyễn Thúy Hằng và Nguyễn Thị Thanh Thủy, là nạn nhân bị chính hiệu trưởng của hai cô bán dâm cho ông Tô, chủ tịch tỉnh Hà Giang.
Luật Sư Triển nói với báo Người Việt, ông đã gởi thư đến ông Tô Huy Rứa và hiện đang chờ đợi câu trả lời của ông Rứa để xác nhận rằng nguồn dư luận vừa nêu có đúng với sự thật hay không. Tùy theo sự trả lời đó, văn phòng LS Trần Ðình Triển sẽ chính thức gửi đơn khởi tố ông Rứa ra trước pháp luật.
Theo Luật Sư Triển cho phóng viên Người Việt biết thì những lời ra lệnh bằng miệng của ông Tô Huy Rứa là phạm pháp. LS Triển cũng cho là nhiều vụ bưng bít che giấu tội phạm đã được các cán bộ lãnh đạo ra lệnh miệng cho cấp dưới quyền đã cản trở pháp luật một cách nghiêm trọng. Hành động cấm đưa tin của báo chí đối với trường hợp ông Nguyễn Trường Tô phải được xem là bao che tội phạm.
Hai nữ sinh Nguyễn Thúy Hằng (19 tuổi) và Nguyễn Thị Thanh Thúy (18 tuổi) bị cáo buộc trong vụ án hiệu trưởng Sầm Ðức Xương mua dâm trẻ vị thành niên là chính học trò của trường ông. Vụ án nổ lớn khi các tin tức tiết lộ trong phiên tòa phúc thẩm cho thấy Nguyễn Trường Tô, chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang là một trong những quan chức to đầu của tỉnh này đã có quan hệ tình dục với gần 20 nữ sinh từ hơn 13 tuổi đến 17 tuổi.
Hai cô Hằng và Thúy đều phản cung, Luật Sư Triển đã nêu ra, trong phiên phúc thẩm, các bằng cớ chứng minh công an điều tra, Viện Kiểm Sát và cả Tòa Án Sơ Thẩm tỉnh Hà Giang đã vi phạm luật hình sự tố tụng. Báo chí loan tin rộng rãi nên bản án sơ thẩm bị hủy và phải điều tra lại từ đầu.
Luật Sư Triển còn nói rằng gần đây có những ép buộc đối với những em gái làm nhân chứng cho vụ án Sầm Ðức Xương mua dâm nữ sinh. Các em này đã bị thế lực đen tối ép buộc phải bỏ ngang những lời khai trước đây. Riêng hai nạn nhân Hằng và Thúy được văn phòng luật Vì Dân của Luật Sư Trần Ðình Triển biện hộ không lấy luật sư phí, nay cũng đã từ chối không chấp nhận cho luật sư tiếp tục biện hộ cho hai em ở tòa phúc thẩm.
Luật Sư Trần Ðình Triển khẳng định với báo phóng viên Người Việt rằng ông sẽ khởi kiện Tô Huy Rứa ra tòa mặc dù biết rằng chưa chắc tòa án đã chấp nhận thụ lý đơn của ông. Tuy nhiên ông khẳng định, hành động đưa một nhân vật cao cấp không tôn trọng luật pháp ra trước tóa án là tiền lệ tốt cho các cuộc tranh đấu vì công lý sau này.
Luật Sư Triển nhấn mạnh sẽ khởi kiện ông Tô Huy Rứa ra trước các cấp có thẩm quyền của đảng để xem xét chức vụ trong đảng và tư cách đảng viên của ông này. Luật Sư Trần Ðình Triển cũng sẽ khởi kiện ông Tô Huy Rứa ra trước một số cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xem xét có hay không việc ông này vi phạm Hiến Pháp, vi phạm Bộ Luật Tố Tụng, Bộ Luật Hình Sự, Luật Báo Chí, cũng như Bộ Luật Cán Bộ Công Chức.
Bức thư do văn phòng luật Vì Dân do LS Trần Ðình Triển làm trưởng văn phòng gởi ông Tô Huy Rứa hiện đang được phổ biến ở một số diễn đàn điện tử, báo mạng. Bức thư yêu cầu ông Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính Trị, bí thư Trung Ương, trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương trả lời về những hành vi mà LS Triển cho là, nếu ông Hứa làm đúng như thế, là đã vi phạm Hiến Pháp, vi phạm luật báo chí cùng những tội danh khác.
Mới đây, ngày 5 tháng 7, 2010 Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Ðảng Cộng Sản đề nghị cách chức ông Tô khi có thêm những hình ảnh trần truồng và tin tức mới về ông Tô được xì ra thêm trên báo. Vụ việc này từng được biết đến từ 5 năm trước nhưng đã bị ỉm đi khi ông Tô mới leo lên ghế chủ tịch UBND.
Hồi đầu tuần này, đã có tin cho biết nhà cầm quyền trung ương Hà Nội cấm báo chí loan tin tiếp theo về xì căng đan Nguyễn Trường Tô và vụ tập đoàn Vinashin bên bờ phá sản.
“Lệnh cấm này được truyền đạt bằng cách gọi điện thoại từ một số bộ ngành tới lãnh đạo của các phương tiện truyền thông, chứ không có văn bản giấy tờ, cũng không tổ chức họp báo.” Ðây là một lời báo động được viết trên mạng Bauxite VN ngày 14 tháng 7, 2010. Trong bức thư của LS Triển, ông nêu đích danh tên ông Tô huy Rứa, bị nghi là người gọi điện thoại ra lệnh.
Ông Rứa và một số người khác trong Bộ Chính Trị như Nguyễn Tấn Dũng (thủ tướng), Trương Tấn Sang (thường trực Ban Bí Thư), Nguyễn Phú Trọng (chủ tịch Quốc Hội), Phùng Quang Thanh (bộ trưởng Quốc Phòng), Hồ Ðức Việt (trưởng ban Tổ Chức Trung Ương), đang nhăm nhe ghế Tổng Bí Thư khi Ðại Hội Ðảng diễn ra vào mùa Xuân năm tới.
Bức thư của LS Triển nêu rõ ông Tô Huy Rứa đã lợi dụng tư cách là ủy viên Bộ Chính Trị và trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương đã gọi điện thoại đến nhiều tổng biên tập và các báo yêu cầu ngưng viết về ông Nguyễn Trường Tô, một đảng viên cao cấp đang bị Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương kết tội là có những hành vi buông thả. Từng mua dâm và có những hình ảnh đồi bại với gái mãi dâm.
Bức thư nói rõ việc ông Tô Huy Rứa lợi dụng chức quyền, lợi dụng cương vị lãnh đạo để có hành vi ngăn cản báo chí là vi phạm pháp luật, vi phạm luật báo chí và luật hình sự tố tụng.
Thông qua những sự kiện này, cộng với hành động buộc báo chí im tiếng của ông Tô Huy Rứa, một thành viên cao cấp nhất trong Ban Bí Thư Trung Ương đã làm cho dư luận hết sức phẫn nộ và cho rằng đang có một cuộc vận động để bảo vệ Nguyễn Trường Tô cùng đồng bọn. Hành động này cũng đồng thời nhắm giảm bớt hình ảnh tồi tệ của đảng viên Ðảng Cộng Sản nói chung và cá nhân của một số đảng viên cao cấp nói riêng, khi đại hội đảng đang đến gần.
Bão số 1 vào Hải Phòng, Thái Bình: 6 du khách, 6 ngư dân mất tích
Saturday, July 17, 2010
HÀ NỘI 17-7 (TH) - Bão số 1 (tên quốc tế là Conson) đã ập vào đất liền khoảng 19 giờ tối giờ địa phương hôm Thứ Bảy 17 tháng 7 năm 2010
mà hai tỉnh Hải Phòng và Thái Bình là các địa phương chịu nặng nhất.

Sóng đánh dữ dội vào bờ biển Ðồ Sơn - Hải Phòng. (Hình: Người Lao Ðộng)
Tuy sức gió đã giảm bớt phần nào khi vào đất liền ở Việt Nam, các tin tức sơ khởi mới cho hay một số tàu thuyền bị đắm, một số cây gẫy, cột điện đổ, nhà cửa bị tốc mái hay hư hại chưa có kiểm kê chi tiết. Mắt bão rộng khoảng 100km nên một vùng từ Quảng Ninh đến Thái Bình chịu ảnh hưởng nhiều nhất.
Khi bão thổi qua quần đảo Hoàng Sa, một số tàu đánh cá của Việt Nam tới đây trú bão đã bị chìm, 71 ngư dân đã được cứu thoát nhưng 6 người còn đang mất tích.
Một phần lớn các khu vực của tỉnh Quảng Ninh đã bị mất điện. Theo bản tin VNExpress, khi bão đổ vào thành phố Hải Phòng, bão mạnh cấp 10 đã “cuốn phăng nhiều mái nhà, 3 du khách bị mất tích, nhiều người bị thương”.
Tại Thanh Hóa, 3 du khách đi tắm biển đã bị cuốn mất tích.

Mưa to đã làm gãy đổ cây và cột điện ở Hải Phòng. (Hình: Người Lao Ðộng)
Hàng ngàn người ở các làng xã dọc biển ở Thái Bình và Hải Phòng đã được lệnh di tản vào các nơi an toàn, tuy nhiên một số người đã không chịu di dời, theo tin báo Người Lao Ðộng. Hải Phòng di tản khoảng 7,500 người trong khi Nam Ðịnh di tản khoảng 4 ngàn người.
Riêng hai đảo Bạch Long Vĩ và Cát Hải thuộc tỉnh Hải Phòng đã bị cô lập hoàn toàn với đất liền.
“Bạch Long Vĩ có nhiều nhà bị đổ, cây cối tung gốc la liệt. Huyện đảo này đã chuẩn bị sẵn lương thực, thực phẩm, thuốc men đủ dùng trong một tuần.” Báo Người Lao Ðộng tường thuật.
Bão Conson khi thổi qua Phi Luật Tân đã làm cho ít nhất 39 người chết, theo tin tức mới nhất, chưa kể các thiệt hại vật chất. Phải ngưng 10 chuyến bay trong ngày Thứ Bảy đến và đi từ Hà Nội và Hải Phòng nhưng hãng hàng không Vietnam Airlines cho hay sẽ có thể nối lại các đường bay này vào ngày Chủ Nhật.
Saturday, July 17, 2010
HÀ NỘI 17-7 (TH) - Bão số 1 (tên quốc tế là Conson) đã ập vào đất liền khoảng 19 giờ tối giờ địa phương hôm Thứ Bảy 17 tháng 7 năm 2010
mà hai tỉnh Hải Phòng và Thái Bình là các địa phương chịu nặng nhất.

Sóng đánh dữ dội vào bờ biển Ðồ Sơn - Hải Phòng. (Hình: Người Lao Ðộng)
Tuy sức gió đã giảm bớt phần nào khi vào đất liền ở Việt Nam, các tin tức sơ khởi mới cho hay một số tàu thuyền bị đắm, một số cây gẫy, cột điện đổ, nhà cửa bị tốc mái hay hư hại chưa có kiểm kê chi tiết. Mắt bão rộng khoảng 100km nên một vùng từ Quảng Ninh đến Thái Bình chịu ảnh hưởng nhiều nhất.
Khi bão thổi qua quần đảo Hoàng Sa, một số tàu đánh cá của Việt Nam tới đây trú bão đã bị chìm, 71 ngư dân đã được cứu thoát nhưng 6 người còn đang mất tích.
Một phần lớn các khu vực của tỉnh Quảng Ninh đã bị mất điện. Theo bản tin VNExpress, khi bão đổ vào thành phố Hải Phòng, bão mạnh cấp 10 đã “cuốn phăng nhiều mái nhà, 3 du khách bị mất tích, nhiều người bị thương”.
Tại Thanh Hóa, 3 du khách đi tắm biển đã bị cuốn mất tích.

Mưa to đã làm gãy đổ cây và cột điện ở Hải Phòng. (Hình: Người Lao Ðộng)
Hàng ngàn người ở các làng xã dọc biển ở Thái Bình và Hải Phòng đã được lệnh di tản vào các nơi an toàn, tuy nhiên một số người đã không chịu di dời, theo tin báo Người Lao Ðộng. Hải Phòng di tản khoảng 7,500 người trong khi Nam Ðịnh di tản khoảng 4 ngàn người.
Riêng hai đảo Bạch Long Vĩ và Cát Hải thuộc tỉnh Hải Phòng đã bị cô lập hoàn toàn với đất liền.
“Bạch Long Vĩ có nhiều nhà bị đổ, cây cối tung gốc la liệt. Huyện đảo này đã chuẩn bị sẵn lương thực, thực phẩm, thuốc men đủ dùng trong một tuần.” Báo Người Lao Ðộng tường thuật.
Bão Conson khi thổi qua Phi Luật Tân đã làm cho ít nhất 39 người chết, theo tin tức mới nhất, chưa kể các thiệt hại vật chất. Phải ngưng 10 chuyến bay trong ngày Thứ Bảy đến và đi từ Hà Nội và Hải Phòng nhưng hãng hàng không Vietnam Airlines cho hay sẽ có thể nối lại các đường bay này vào ngày Chủ Nhật.
Ngôi làng ‘không thích’ nhà vệ sinh
Sunday, July 18, 2010
NGHỆ AN- “Từ bao đời nay, người dân vùng biển Sơn Hải, xã Quỳnh Tiến huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An vẫn có thói quen không sử dụng nhà vệ sinh.” Báo Vnexpress mô tả thêm về ngôi làng 'đặc biệt' này là: “Ban ngày, trẻ con người già đưa nhau ra khu rừng thông sau làng để giải quyết nỗi buồn. Tối đến khi thủy triều lên, cả làng rủ nhau ra biển. Tiếng ý ới gọi nhau đi vệ sinh vang cả một góc xóm.”
Theo lời tờ báo, ngôi làng này là vùng đất nghèo nằm sát biển, dựa lưng vào núi, người dân Sơn Hải hàng trăm năm nay gắn với nghề biển. Không chỉ chuyện ăn uống, sinh hoạt, học hành của con cái đều gắn liền với những chuyến ra khơi mà ngay cả chuyện “đầu ra” của người dân ở đây cũng được giải quyết nhờ... biển.

Làng biển Sơn Hải, ngôi làng ‘không thích’ nhà vệ sinh và đang bị ô nhiễm trầm trọng. (Hình: VNE) Ngồi co cụm ở đầu làng bán mớ ốc biển vừa bắt được, chị Nguyễn Thị Lan đỏ mặt cười khi được phóng viên Vnexpress hỏi đến chuyện nhà vệ sinh: “Người dân vùng này như rứa từ mấy đời rồi. Lâu ni, bầy tui không sử dụng nhà vệ sinh để làm gì cả bởi đất chật, người đông, cả làng đều cùng nhau ra biển, lên núi là xong hết.”
Vnexpress kể thêm: “Về làm dâu ở làng biển Sơn Hải được hơn 20 năm, những ngày đầu, chị Nguyễn Thị Minh không quen với việc đại tiện, tiểu tiện trên rừng nên phải... nhịn đến tối mịt để ra biển. Mỗi khi có nhu cầu giải quyết, chị đều ngượng đỏ mặt, không dám nói với chồng.”
“Chúng tôi thì sống mãi rồi cũng quen nhưng khổ nhất là con cái đi làm ăn xa, lấy chồng, lấy vợ từ nơi khác về, không thấy cái nhà vệ sinh, chúng nó không ăn, không ngủ được,” chị Minh vừa nói vừa cười.

Cảnh ô nhiễm trầm trọng của một góc làng không có nhà vệ sinh. (Hình: VNE) Cũng về chuyện “tế nhị” này, Vnexpress dẫn lời ông Trần Ðức Biển, xóm trưởng xóm Sơn Hải cho biết: “Từ bao đời nay, cả làng biển này không có thói quen sử dụng nhà vệ sinh. Thậm chí một số ngôi nhà cao tầng khang trang, sạch đẹp nằm cạnh bãi biển cũng duy trì thói quen này. Trước đây, khi dân còn ít, vấn đề ô nhiễm môi trường chưa xảy ra bởi dù người dân có đại tiện, tiểu tiện ra bờ biển nhưng sau mỗi đợt thủy triều lên xuống, bãi cát ở biển này lại trắng phau, sạch sẽ như thường.
Mặc dù vậy, mấy năm gần đây, dân số tăng nhanh chóng, đất rất chật nhưng cả xã có đến 340 gia đình với hơn 2,300 người sinh sống nên nạn ô nhiễm môi trường vì người dân phóng uế đã đến mức báo động.”
Theo mô tả của Vnexpres: “Hầu hết các con lạch trong làng đều đã ô nhiễm vì người dân ‘thải’ bừa bãi, sau mỗi trận mưa, nước từ trên đồi chảy xuống kéo theo những ‘sản phẩm’ khiến cho cả làng đều bị ô nhiễm.”
Vẫn theo lời của ông Biển, hiện cả làng mới có khoảng 10 gia đình làm nhà vệ sinh, chủ yếu là người từ nơi khác đến hoặc những thanh niên trẻ mới xây nhà. “Trong 10 năm nay, cả làng có khoảng 40 đến 40 người chết vì ung thư còn dịch bệnh tiêu chảy thì hầu như năm nào cũng xảy ra,” ông xóm trưởng thở dài.
Gia đình ông Biển là một trong số ít gia đình ở đây xây nhà vệ sinh hai ngăn và theo lời ông: “Lãnh đạo xóm đã nhiều lần đứng ra thống kê, vận động người dân xây nhà vệ sinh, nhưng vì đất chật, và vì là tập tục sinh hoạt hàng trăm năm nay nên không có hiệu quả.”
Sunday, July 18, 2010
NGHỆ AN- “Từ bao đời nay, người dân vùng biển Sơn Hải, xã Quỳnh Tiến huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An vẫn có thói quen không sử dụng nhà vệ sinh.” Báo Vnexpress mô tả thêm về ngôi làng 'đặc biệt' này là: “Ban ngày, trẻ con người già đưa nhau ra khu rừng thông sau làng để giải quyết nỗi buồn. Tối đến khi thủy triều lên, cả làng rủ nhau ra biển. Tiếng ý ới gọi nhau đi vệ sinh vang cả một góc xóm.”
Theo lời tờ báo, ngôi làng này là vùng đất nghèo nằm sát biển, dựa lưng vào núi, người dân Sơn Hải hàng trăm năm nay gắn với nghề biển. Không chỉ chuyện ăn uống, sinh hoạt, học hành của con cái đều gắn liền với những chuyến ra khơi mà ngay cả chuyện “đầu ra” của người dân ở đây cũng được giải quyết nhờ... biển.

Làng biển Sơn Hải, ngôi làng ‘không thích’ nhà vệ sinh và đang bị ô nhiễm trầm trọng. (Hình: VNE) Ngồi co cụm ở đầu làng bán mớ ốc biển vừa bắt được, chị Nguyễn Thị Lan đỏ mặt cười khi được phóng viên Vnexpress hỏi đến chuyện nhà vệ sinh: “Người dân vùng này như rứa từ mấy đời rồi. Lâu ni, bầy tui không sử dụng nhà vệ sinh để làm gì cả bởi đất chật, người đông, cả làng đều cùng nhau ra biển, lên núi là xong hết.”
Vnexpress kể thêm: “Về làm dâu ở làng biển Sơn Hải được hơn 20 năm, những ngày đầu, chị Nguyễn Thị Minh không quen với việc đại tiện, tiểu tiện trên rừng nên phải... nhịn đến tối mịt để ra biển. Mỗi khi có nhu cầu giải quyết, chị đều ngượng đỏ mặt, không dám nói với chồng.”
“Chúng tôi thì sống mãi rồi cũng quen nhưng khổ nhất là con cái đi làm ăn xa, lấy chồng, lấy vợ từ nơi khác về, không thấy cái nhà vệ sinh, chúng nó không ăn, không ngủ được,” chị Minh vừa nói vừa cười.

Cảnh ô nhiễm trầm trọng của một góc làng không có nhà vệ sinh. (Hình: VNE) Cũng về chuyện “tế nhị” này, Vnexpress dẫn lời ông Trần Ðức Biển, xóm trưởng xóm Sơn Hải cho biết: “Từ bao đời nay, cả làng biển này không có thói quen sử dụng nhà vệ sinh. Thậm chí một số ngôi nhà cao tầng khang trang, sạch đẹp nằm cạnh bãi biển cũng duy trì thói quen này. Trước đây, khi dân còn ít, vấn đề ô nhiễm môi trường chưa xảy ra bởi dù người dân có đại tiện, tiểu tiện ra bờ biển nhưng sau mỗi đợt thủy triều lên xuống, bãi cát ở biển này lại trắng phau, sạch sẽ như thường.
Mặc dù vậy, mấy năm gần đây, dân số tăng nhanh chóng, đất rất chật nhưng cả xã có đến 340 gia đình với hơn 2,300 người sinh sống nên nạn ô nhiễm môi trường vì người dân phóng uế đã đến mức báo động.”
Theo mô tả của Vnexpres: “Hầu hết các con lạch trong làng đều đã ô nhiễm vì người dân ‘thải’ bừa bãi, sau mỗi trận mưa, nước từ trên đồi chảy xuống kéo theo những ‘sản phẩm’ khiến cho cả làng đều bị ô nhiễm.”
Vẫn theo lời của ông Biển, hiện cả làng mới có khoảng 10 gia đình làm nhà vệ sinh, chủ yếu là người từ nơi khác đến hoặc những thanh niên trẻ mới xây nhà. “Trong 10 năm nay, cả làng có khoảng 40 đến 40 người chết vì ung thư còn dịch bệnh tiêu chảy thì hầu như năm nào cũng xảy ra,” ông xóm trưởng thở dài.
Gia đình ông Biển là một trong số ít gia đình ở đây xây nhà vệ sinh hai ngăn và theo lời ông: “Lãnh đạo xóm đã nhiều lần đứng ra thống kê, vận động người dân xây nhà vệ sinh, nhưng vì đất chật, và vì là tập tục sinh hoạt hàng trăm năm nay nên không có hiệu quả.”
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
ĐỪNG VỀ
VN là Sống khoẻ
KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM RAU SỐNG Ở CÁC TIỆM ĂN TẠI SÀIGÒN.!
VIETNAM: DINE AND DIE!
ĂN RAU SỐNG Ở VN COI CHỪNG CHẾT QUAY LƠ !
Hơn 70% rau sống ở các quán ăn tại Sài Gòn nhiễm giun
Thursday, May 06, 2010
SÀI GÒN- "Rau sống ở các quán ăn tại Sài Gòn đang nhiễm rất nhiều loại ký sinh
trùng. Nguy hiểm hơn, sau khi rửa lại bằng nước sạch, sục khí ozon... rau vẫn chứa đầy mầm bê.nh."
Kết luận kể trên được trích từ một bản nghiên cứu của bà Trần Thị Hồng, chủ nhiệm bộ môn Ký Sinh Trùng-Vi Nấm Học, Đại Học Y khoa Phạm Ngọc Thạch cùng cộng sự sau khi nghiên cứu rau sống ở 50 quán ăn trong nhà và 50 quán ăn đường phố được chọn ngẫu nhiên.
Rau sống tại quán ăn : các quán ăn ở Sài Gòn nhiễm ký sinh trùng dù đã được rửa.
Nghiên cứu này cho biết, sau khi lấy mẫu rau sống từ các món ăn như: hủ tiếu, bú bò, phở, bún riêu, bún mắm, mì quảng... ngâm vào nước, lọc cặn quay ly tâm, soi
kính hiển vi, kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng chung trên rau chiếm 72%.
Tỷ lệ nhiễm ở các quán ăn đường phố cao gấp 2,4 lần so với quán ăn trong nhà.
"Tiếp tục dùng những mẫu rau nhiễm ký sinh trùng rửa lại bằng nước máy và sục khí ozon nhưng tỷ lệ ký sinh trùng bám trên rau rửa bằng nước máy vẫn chiếm gần 100%, còn ở mẫu sục khí ozon chiếm 73%." Bản nghiên cứu cho biết thêm.
Theo lời bà Hồng, rau sống nhiễm khuẩn chủ yếu là trùng lông, trùng roi, bào nang amip (E. histolytica, E. coli), ấu trùng giun (giun móc, giun đũa, giun đũa chó).
Đáng lo ngại, khi tất cả các quán ăn này đều đã rửa rau sau khi mua ở chợ, siêu thị.
Nghiêm trọng hơn, nhiều loại rau còn "dính phân."
Theo ông Trần Phủ Mạnh Siêu, trưởng khoa Xét Nghiệm, bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới Sài Gòn, khuyến cáo, việc rau nhiễm E. coli chứng tỏ trong rau đã dính phân do thả chó mèo chạy rông hoặc dùng phân tươi bón rau, tưới rau bằng nước dính phân. Tùy thế trạng từng người, khi xâm nhập cơ thể, ký sinh trùng có thể tấn công ngay hoặc chờ
cơ hội khi sức đề kháng cơ thể suy giảm. Vào cơ thể, bào nang amip gây bệnh lỵ amip, đau bụng, tiêu chảy có đàm nhớt kéo dài, còn vi sinh Coliforms dễ gây ra tình trạng ngộ độc thực phẩm. Trứng hoặc ấu trùng giun khi xâm nhập, có thể gây thiếu máu, suy dinh dưỡng, còi cọc, hoăc mất tập trung, rối loạn tiêu hóa, tắt ruột, thủng ruột, áp-xe gan, viêm màng não...
VN là Sống khoẻ
KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM RAU SỐNG Ở CÁC TIỆM ĂN TẠI SÀIGÒN.!
VIETNAM: DINE AND DIE!
ĂN RAU SỐNG Ở VN COI CHỪNG CHẾT QUAY LƠ !
Hơn 70% rau sống ở các quán ăn tại Sài Gòn nhiễm giun
Thursday, May 06, 2010
SÀI GÒN- "Rau sống ở các quán ăn tại Sài Gòn đang nhiễm rất nhiều loại ký sinh
trùng. Nguy hiểm hơn, sau khi rửa lại bằng nước sạch, sục khí ozon... rau vẫn chứa đầy mầm bê.nh."
Kết luận kể trên được trích từ một bản nghiên cứu của bà Trần Thị Hồng, chủ nhiệm bộ môn Ký Sinh Trùng-Vi Nấm Học, Đại Học Y khoa Phạm Ngọc Thạch cùng cộng sự sau khi nghiên cứu rau sống ở 50 quán ăn trong nhà và 50 quán ăn đường phố được chọn ngẫu nhiên.
Rau sống tại quán ăn : các quán ăn ở Sài Gòn nhiễm ký sinh trùng dù đã được rửa.
Nghiên cứu này cho biết, sau khi lấy mẫu rau sống từ các món ăn như: hủ tiếu, bú bò, phở, bún riêu, bún mắm, mì quảng... ngâm vào nước, lọc cặn quay ly tâm, soi
kính hiển vi, kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng chung trên rau chiếm 72%.
Tỷ lệ nhiễm ở các quán ăn đường phố cao gấp 2,4 lần so với quán ăn trong nhà.
"Tiếp tục dùng những mẫu rau nhiễm ký sinh trùng rửa lại bằng nước máy và sục khí ozon nhưng tỷ lệ ký sinh trùng bám trên rau rửa bằng nước máy vẫn chiếm gần 100%, còn ở mẫu sục khí ozon chiếm 73%." Bản nghiên cứu cho biết thêm.
Theo lời bà Hồng, rau sống nhiễm khuẩn chủ yếu là trùng lông, trùng roi, bào nang amip (E. histolytica, E. coli), ấu trùng giun (giun móc, giun đũa, giun đũa chó).
Đáng lo ngại, khi tất cả các quán ăn này đều đã rửa rau sau khi mua ở chợ, siêu thị.
Nghiêm trọng hơn, nhiều loại rau còn "dính phân."
Theo ông Trần Phủ Mạnh Siêu, trưởng khoa Xét Nghiệm, bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới Sài Gòn, khuyến cáo, việc rau nhiễm E. coli chứng tỏ trong rau đã dính phân do thả chó mèo chạy rông hoặc dùng phân tươi bón rau, tưới rau bằng nước dính phân. Tùy thế trạng từng người, khi xâm nhập cơ thể, ký sinh trùng có thể tấn công ngay hoặc chờ
cơ hội khi sức đề kháng cơ thể suy giảm. Vào cơ thể, bào nang amip gây bệnh lỵ amip, đau bụng, tiêu chảy có đàm nhớt kéo dài, còn vi sinh Coliforms dễ gây ra tình trạng ngộ độc thực phẩm. Trứng hoặc ấu trùng giun khi xâm nhập, có thể gây thiếu máu, suy dinh dưỡng, còi cọc, hoăc mất tập trung, rối loạn tiêu hóa, tắt ruột, thủng ruột, áp-xe gan, viêm màng não...
Đang khâm liệm, người chết bỗng nhiên ngồi dậy
Monday, July 19, 2010
LONG AN (TH) - Một bệnh nhân ung thư ngưng thở đang được thân nhân tẩm liệm thì ngồi bật dậy.
“Xác của anh Nguyễn Văn Hùng, 37 tuổi, ở tại phường 2, thành phố Tân An, tỉnh Long An đang được khâm liệm, thì bỗng nhiên ngồi dậy và sống thêm được vài giờ nữa.”
VietnamNet hôm Thứ Hai cho hay như vậy và thuật theo lời kể của gia đình ông Hùng rằng ông “đã chết do căn bệnh ung thư túi mật ở vào giai đoạn cuối. Chiều ngày 14 tháng 7, anh đã tắt thở và gia đình chuẩn bị khâm liệm.”
Tuy nhiên, đến 11 giờ đêm, “anh sống lại và ngồi dậy khiến cả nhà bỏ chạy vì quá khiếp sợ. Ðến sáng hôm sau anh mới chết hẳn. Rất nhiều người dân địa phương đã kéo đến nhà anh Hùng cúng bái gây lộn xộn tại đám tang.”
Theo VietnamNet: “Các bác sĩ bệnh viện Long An cho biết việc chết đi sống lại của anh Hùng được cho là hiện tượng chết lâm sàng, khi tim đã ngừng đập và não không hoạt động. Người bệnh đang ở trạng thái thứ ba, ở ngoài sự sống và cái chết, nhưng các tế bào trong cơ thể vẫn còn sống.”
Monday, July 19, 2010
LONG AN (TH) - Một bệnh nhân ung thư ngưng thở đang được thân nhân tẩm liệm thì ngồi bật dậy.
“Xác của anh Nguyễn Văn Hùng, 37 tuổi, ở tại phường 2, thành phố Tân An, tỉnh Long An đang được khâm liệm, thì bỗng nhiên ngồi dậy và sống thêm được vài giờ nữa.”
VietnamNet hôm Thứ Hai cho hay như vậy và thuật theo lời kể của gia đình ông Hùng rằng ông “đã chết do căn bệnh ung thư túi mật ở vào giai đoạn cuối. Chiều ngày 14 tháng 7, anh đã tắt thở và gia đình chuẩn bị khâm liệm.”
Tuy nhiên, đến 11 giờ đêm, “anh sống lại và ngồi dậy khiến cả nhà bỏ chạy vì quá khiếp sợ. Ðến sáng hôm sau anh mới chết hẳn. Rất nhiều người dân địa phương đã kéo đến nhà anh Hùng cúng bái gây lộn xộn tại đám tang.”
Theo VietnamNet: “Các bác sĩ bệnh viện Long An cho biết việc chết đi sống lại của anh Hùng được cho là hiện tượng chết lâm sàng, khi tim đã ngừng đập và não không hoạt động. Người bệnh đang ở trạng thái thứ ba, ở ngoài sự sống và cái chết, nhưng các tế bào trong cơ thể vẫn còn sống.”

