Bình Luận Thời Sự
Trương Văn Sương là một anh hùng
Thursday, July 15, 2010
Ngô Nhân Dụng
Người tù chính trị Trương Văn Sương là một anh hùng. Lịch sử Việt Nam sẽ ghi tên anh như kiểu mẫu một người tranh đấu cho dân tộc được tự do từ thế kỷ 20 sang tới thế kỷ 21. Cho tới hôm nay, ở tuổi 67, anh đã sống trong tù một nửa đời người vì lý tưởng tự do dân chủ. Chúng ta phải gọi anh Trương Văn Sương là anh hùng, vì trong suốt những năm tháng đó, anh chứng tỏ một tinh thần bất khuất, không khác gì những nhà cách mạng như Tiểu La Nguyễn Thành, Ngô Ðức Kế, Ðặng Thái Thân, Phan Bội Châu, trong thập niên đầu thế kỷ trước. Tuy nhiên, anh Sương bị tù đầy lâu hơn nhiều so với các vị tiền bối kể trên.
Ngày hôm qua Trương Văn Sương đã về đến thị xã Sóc Trăng, sau một cuộc hành trình gần 2000 cây số kéo dài hơn 80 tiếng đồ hồ, được nghỉ hai đêm ở Ðà Nẵng và Sài Gòn, từ bệnh viện Phủ Lý miền Bắc vào tới một thị xã ở gần mảnh đất cuối cùng ở miền Nam. Nhiều người Việt Nam, ở trong nước và hải ngoại đã khóc khi nghe tin, và nhất là khi được nghe giọng nói bình thản của anh trên các làn sóng. Phương tiện truyền thông hiện đại đã nối liền trái tim, khối óc, cũng như tiếng thổn thức của hàng triệu người Việt trên khắp thế giới. Trước đó cũng nhờ kỹ thuật thông tin hiện đại mà hàng triệu người đã được đọc câu chuyện đời anh, nhất là thái độ bất khuất và những cuộc tranh đấu không ngừng nghỉ của anh trong lao tù, do các bạn tù cũ kể lại, như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, nhà báo Nguyễn Khắc Toàn, vân vân.
Theo lời anh Trương Văn Sương kể với báo Người Việt: “Cứ sáu tháng thì tôi phải bị cùm, bị biệt giam kỷ luật một lần. Mỗi năm tôi bị bắt đi hai lần như vậy. Lý do là vì họ bắt tôi phải viết lại bản kiểm điểm vì bản kiểm điểm của tôi họ không vừa lòng.
“Họ không vừa lòng ở điểm nào, thưa ông?”
“Trương Văn Sương: Bản kiểm điểm của tôi viết như vầy: ‘Chúng tôi khẳng định rằng chúng tôi vô tội và chúng tôi là những người có công với đất nước. Chúng tôi đã đem mồ hôi xương máu xây dựng và đấu tranh cho nhân quyền, tự do dân chủ cho Việt Nam. Còn với những người có tội thì chính đảng Cộng Sản Việt Nam mới là người có tội. Bằng chứng là các cuộc cải cách ruộng đất đã giết chết bao nhiêu người vô tội tại miền Bắc. Sau đó năm 1975, một lần nữa sau khi chiếm được miền Nam họ đã làm kiệt quệ kinh tế bằng các cuộc cải tạo tư sản. đánh tư bản, đẩy dân đi kinh tế mới, gây cho hàng triệu người vượt biên trong đó hàng trăm ngàn người đã chết. Họ đã buộc hàng trăm ngàn sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đi cải tạo và có biết bao người chết mà không biết thân xác bị vùi dập nơi đâu. Cán bộ thì tham nhũng, thối nát, hiếp đáp dân chúng trong hàng chục năm qua nhưng lại hèn nhát cúi đầu trước các vụ lấn đất, lấn biển của ngoại bang. Hoàng Sa, Trường Sa không được bảo vệ khiến đất nước cha ông đã và đang rơi vào tay quân giặc.’”
Có thể coi những lời trên là một bản tuyên ngôn của tất cả các chiến sĩ người Việt đang tiếp tục đấu tranh cho tự do dân chủ, ở khắp thế giới, nhất là những người còn đang bị tù đầy.Trương Văn Sương có thể đọc lại nguyên văn “bản kiểm điểm” qua điện thoại cho cho phóng viên Người Việt ghi, vì anh đã thuộc lòng những “lời khai thành khẩn” đó, sau bao nhiêu lần viết đi viết lại.
Các cựu tù nhân chính trị cùng sống với Trương Văn Sương trong trại giam cho biết bốn ngàn người trong nhà tù Nam Hà đều công nhận Trương Văn Sương là một anh hùng. Vì “anh ta có một khí phách đấu tranh rất can đảm rất dũng cảm, bất khuất,” như lời Nguyễn Khắc Toàn nói. Nhưng khi trả lời cuộc phỏng vấn của báo Người Việt, Trương Văn Sương đã từ chối danh hiệu đó, “anh em đều cho tôi là người anh hùng, nhưng tôi không dám nhận danh từ này,” Trương Văn Sương khiêm tốn nói.
Trong cuộc đối thoại trên với Nguyễn Nam Phong trên Diễn Ðàn Dân Chủ, Trương Văn Sương nói ông vẫn “chưa thoát khỏi vòng kim cô” vì ông chỉ được tạm tha, đình hoãn không ở tù để về nhà chữa bệnh; mà theo ông nghĩ thì chắc Việt Cộng sợ ông chết trong tù chúng mang tiếng. Linh Mục Nguyễn Văn Lý khi được đưa về Tổng giáo phận Huế vào tháng 3 năm 2010 cũng với lý do tạm hoãn thi hành án để chữa bệnh. Theo lệnh của Tổng Cục An Ninh, Bộ Công An tại Hà Nội thì ông Trương Văn Sương chỉ được trả tự do “tạm.” Khi được Việt Cộng đưa về tận nhà, có bác sĩ đi theo dọc đường, tới nhà mình ông mới biết cái lệnh quái gở đó.
Nhà báo tự do ở Hà Nội, ông Nguyễn Khắc Toàn đã nhiều lần gọi ông Trương Văn Sương là Nelson Mandela của Việt Nam! Tính thời gian ở tù tổng cộng hơn 33 năm thì Trương Văn Sương bị mất tự do lâu hơn vị tổng thống đầu tiên của Cộng Hòa Nam Phi; tuy nhiên ông không phải là người lãnh đạo một phong trào chính trị lớn như ông Mandela. Trong 6 năm đi “tù cải tạo” và hơn 24 năm bị cầm tù sau cùng vừa qua, có thể coi Trương Văn Sương là một trong những “anh hùng vô danh,” một trong muôn ngàn chiến sĩ đã và còn đang tranh đấu cho quyền tự do dân chủ của dân tộc Việt Nam.
Theo một nguồn tin thì thân phụ Trương Văn Sương là người gốc Hoa, thân mẫu gốc Khmer, sinh ra, lớn lên Sóc Trăng. Nhà báo Hà Nội Nguyễn Khắc Toàn kể ông đã “làm bổn phận của một công dân với đất nước thời trai trẻ khi ông còn là một sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng hòa trong chiến tranh khi thể chế dân chủ này còn tồn tại trước ngày 30 tháng 4 năm 1975.”
Khi về đến nhà Trương Văn Sương mới biết người vợ thân yêu quý là bà Lê Thị Lệ đã qua đời vào năm 2007, và người con gái thứ 2, Trương Thị Diễm cũng đã mất vì bị bệnh. Nhìn vào những bức hình do cựu tù nhân chính trị Nguyễn Bắc Truyển chụp, chúng ta thấy hình ảnh Trương Văn Sương đang cúi đầu lễ trước bàn thờ người vợ quá cố, mà lần cuối cùng ra thăm chồng đã từ gần 10 năm trước. Cũng ta cũng nhìn thấy ngôi nhà tiều tụy mà các con anh đang sống, ai cũng phải mủi lòng trước hoàn cảnh nghèo nàn, giống như hàng triệu người Việt Nam khác đang sống ở những vùng như Sóc Trăng. Chúng ta phải cảm phục và kính trọng sự hy sinh lớn lao của Trương Văn Sương, vì dân tộc, vì lý tưởng hy sinh cả gia đình mình. Phải liên tưởng tới những vị anh hùng, các nhà cách mạng chống Pháp thế kỷ trước, như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh. Anh nói với báo Người Việt: “Tôi có ba con, hai trai một gái. Bảy cháu nội và hai cháu ngoại. Nhưng không có đứa nào đi học đàng hoàng cả. Ðó là nỗi đau nhất của tôi từ xưa tới nay. Nghèo quá mà làm sao đi học cho được. Hơn nữa, cha của tụi nó ở tù vì ‘tội phản cách mạng’ nên tụi nó đâu dám chường ra với người ta mà học hành đàng hoàng! Vừa nghèo vừa dốt nát! Kết quả sau bao nhiêu năm trong tù còn lại với gia đình tôi như thế.”
Có thể nói suốt cuộc đời của Trương Văn Sương là tranh đấu. Năm 1975, ông mang cấp bậc trung úy, làm chi khu trưởng trong tỉnh Ba Xuyên. Sau đó, ông bị đưa đi tù cải tạo sáu năm tại Quảng Bình. Ra khỏi trại, ông tìm đường vượt biên sang Thái Lan rồi tham gia tổ chức kháng chiến của ông Trần Văn Bá, Lê Quốc Túy và Hồ Thái Bạch, xâm nhập vào Việt Nam nhằm xây dựng những cơ sở đấu tranh vũ trang chống cộng sản; nhưng thất bại. Hơn 200 người trong tổ chức này bị bắt và bị giam trong nhiều nhà tù, nhiều người đã chết vì bệnh hoặc vượt ngục bị giết. Hai trăm vị anh hùng vô danh. Các ông Trần Văn Bá, Lê Quốc Túy và Hồ Thái Bạch đều bị cộng sản sát hại.
Khi Trương Văn Sương về tới nhà thì bao nhiêu bạn cũ và mới đã đến thăm, các nhà báo ở hải ngoại đã gọi điện thoại về. Những nhân vật đối kháng chế độ như cựu tù nhân chính trị Nguyễn Bắc Truyển thuộc Ðảng Dân Chủ Nhân Dân Việt Nam từ Sài Gòn; Nguyễn Ngọc Quang từ Ðồng Nai; Nguyễn Thu Trâm thuộc khối 8406 từ Sài Gòn đã tìm được địa chỉ về tận căn lều tồi tàn ở Sóc Trăng để chào đón, mừng ông trở về. Ðây có lẽ là một điều bất ngờ đối với một người tù trở về. Những cú điện thoại từ nước ngoài phỏng vấn cũng là một hiện tượng mới. Nhưng hầu như Trương Văn Sương không tỏ vẻ ngạc nhiên.
Cuộc đời Trương Văn Sương đang bước vào một giai đoạn mới. Các bạn tù cũ và các người đấu tranh cho dân chủ đã trình bày cho anh biết rõ trong 24 năm qua thế giới và đồng bào sống ngoài nhà tù đã thay đổi ra sao. Ðể anh biết công cuộc đấu tranh công khai được phát động từ hơn mười năm qua đã tiến triển như thế nào. Cả hệ thống xã hội chủ nghĩa tại Liên Xô đã tan rã nhanh chóng. Ðồng bào Việt Nam không sợ cộng sản nữa, đã đứng lên đình công, biểu tình đòi quyền lợi đất đai, đòi tự do tôn giáo, đòi bảo vệ tổ quốc, và đòi dân chủ. Giới trí thức văn nghệ sĩ ở khắp nước can đảm lên tiếng trên các mạng lưới, về những vấn đề lớn của dân tộc. Trong cuộc đấu tranh mới, vũ khí là các phương tiện kỹ thuật, như điện thoại di động, máy tính, Internet, ngòi bút, tiếng nói, báo chí tự do... vân vân. Trong cuộc điện đàm với Nguyễn Khắc Toàn, Trương Văn Sương tỏ ra ông đã biết và hiểu rõ ý nghĩa của tất cả các tin tức mới đó; cho thấy dù ở tuổi gần 70 và sau 33 năm tù, ông vẫn đầy phong độ của một cựu sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa.
“Và cuối cùng thì ước nguyện của ông đối với đồng bào, dân tộc như thế nào? Nhật báo Người Việt hỏi. “Tôi vẫn muốn dân tộc Việt Nam bây giờ nên hướng về tương lai. Nên đối xử với nhau trong tinh thần nhân đạo. Hãy để quá khứ về quá khứ.”
Chúng ta không được phép quên những người chiến sĩ khác còn đang trong tù ngục cộng sản, những chiến sĩ sau cùng vẫn tiếp tục cuộc chiến đấu. Theo lời cựu tù nhân Nguyễn Ngọc Quang thì còn một đại úy Việt Nam Cộng Hòa là Nguyễn Hữu Cầu, quê Kiên Giang, đang trở thành người tù chính trị lâu năm nhất sau khi Trương Văn Sương về nhà. Năm 1975 anh Cầu bị bắt đi “tù cải tạo” hơn 6 năm, đến cuối năm 1981 được về. Sống ở bên ngoài được đúng 1 năm thì bị bắt giam trở lại vì anh đã viết thư tố cáo những tội ác tày đình của các quan chức tỉnh Kiên Giang, quê hương anh. Bản tố cáo nêu rõ các tên này “phạm tội giết người diệt khẩu, buôn bán xì-ke, ma túy, lợi dụng chức quyền tham ô tham nhũng, hãm hiếp, giết người,” vân vân. Trong thời gian đó, Nguyễn Tấn Dũng là một quan chức công an cấp tỉnh, từng nổi tiếng làm giàu nhanh chóng qua việc bán bãi cho dân vượt biên, nay đang giữ chức thủ tướng. Một quan chức tỉnh Kiên Giang khác lúc đó là Lê Hồng Anh, đã leo lên đến chức bộ trưởng Bộ Công An, ủy viên Bộ Chính Trị. Hiện cựu Ðại Úy Nguyễn Hữu Cầu bị giữ trong khu tù chính trị Biệt Giam Riêng, phân trại K2, Z30A, Xuân Lộc, Ðồng Nai.
Tất cả chúng ta hãnh diện về những chiến hữu, Ðại Úy Nguyễn Hữu Cầu và Trung Úy Trương Văn Sương. Mong anh Cầu sớm được tự do và anh Sương sẽ được nghỉ ngơi dưỡng bệnh, các anh sẽ sống thêm vài chục năm nữa như anh Sương mới nói. Chắc chắn nước Việt Nam sẽ được sống trong dân chủ tự do. Các anh có lẽ không mong sẽ lên làm tổng thống như Nelson Mandela nhưng ít nhất các anh cũng sẽ được như những Andrei Sakharov hay Alexander Solzhenitsyn, họ đã từng bị chế độ Xô Viết bỏ tù, họ đã sống đủ lâu để chứng kiến cảnh dân tộc Nga thoát khỏi gông cùm cộng sản.
Thursday, July 15, 2010
Ngô Nhân Dụng
Người tù chính trị Trương Văn Sương là một anh hùng. Lịch sử Việt Nam sẽ ghi tên anh như kiểu mẫu một người tranh đấu cho dân tộc được tự do từ thế kỷ 20 sang tới thế kỷ 21. Cho tới hôm nay, ở tuổi 67, anh đã sống trong tù một nửa đời người vì lý tưởng tự do dân chủ. Chúng ta phải gọi anh Trương Văn Sương là anh hùng, vì trong suốt những năm tháng đó, anh chứng tỏ một tinh thần bất khuất, không khác gì những nhà cách mạng như Tiểu La Nguyễn Thành, Ngô Ðức Kế, Ðặng Thái Thân, Phan Bội Châu, trong thập niên đầu thế kỷ trước. Tuy nhiên, anh Sương bị tù đầy lâu hơn nhiều so với các vị tiền bối kể trên.
Ngày hôm qua Trương Văn Sương đã về đến thị xã Sóc Trăng, sau một cuộc hành trình gần 2000 cây số kéo dài hơn 80 tiếng đồ hồ, được nghỉ hai đêm ở Ðà Nẵng và Sài Gòn, từ bệnh viện Phủ Lý miền Bắc vào tới một thị xã ở gần mảnh đất cuối cùng ở miền Nam. Nhiều người Việt Nam, ở trong nước và hải ngoại đã khóc khi nghe tin, và nhất là khi được nghe giọng nói bình thản của anh trên các làn sóng. Phương tiện truyền thông hiện đại đã nối liền trái tim, khối óc, cũng như tiếng thổn thức của hàng triệu người Việt trên khắp thế giới. Trước đó cũng nhờ kỹ thuật thông tin hiện đại mà hàng triệu người đã được đọc câu chuyện đời anh, nhất là thái độ bất khuất và những cuộc tranh đấu không ngừng nghỉ của anh trong lao tù, do các bạn tù cũ kể lại, như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, nhà báo Nguyễn Khắc Toàn, vân vân.
Theo lời anh Trương Văn Sương kể với báo Người Việt: “Cứ sáu tháng thì tôi phải bị cùm, bị biệt giam kỷ luật một lần. Mỗi năm tôi bị bắt đi hai lần như vậy. Lý do là vì họ bắt tôi phải viết lại bản kiểm điểm vì bản kiểm điểm của tôi họ không vừa lòng.
“Họ không vừa lòng ở điểm nào, thưa ông?”
“Trương Văn Sương: Bản kiểm điểm của tôi viết như vầy: ‘Chúng tôi khẳng định rằng chúng tôi vô tội và chúng tôi là những người có công với đất nước. Chúng tôi đã đem mồ hôi xương máu xây dựng và đấu tranh cho nhân quyền, tự do dân chủ cho Việt Nam. Còn với những người có tội thì chính đảng Cộng Sản Việt Nam mới là người có tội. Bằng chứng là các cuộc cải cách ruộng đất đã giết chết bao nhiêu người vô tội tại miền Bắc. Sau đó năm 1975, một lần nữa sau khi chiếm được miền Nam họ đã làm kiệt quệ kinh tế bằng các cuộc cải tạo tư sản. đánh tư bản, đẩy dân đi kinh tế mới, gây cho hàng triệu người vượt biên trong đó hàng trăm ngàn người đã chết. Họ đã buộc hàng trăm ngàn sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đi cải tạo và có biết bao người chết mà không biết thân xác bị vùi dập nơi đâu. Cán bộ thì tham nhũng, thối nát, hiếp đáp dân chúng trong hàng chục năm qua nhưng lại hèn nhát cúi đầu trước các vụ lấn đất, lấn biển của ngoại bang. Hoàng Sa, Trường Sa không được bảo vệ khiến đất nước cha ông đã và đang rơi vào tay quân giặc.’”
Có thể coi những lời trên là một bản tuyên ngôn của tất cả các chiến sĩ người Việt đang tiếp tục đấu tranh cho tự do dân chủ, ở khắp thế giới, nhất là những người còn đang bị tù đầy.Trương Văn Sương có thể đọc lại nguyên văn “bản kiểm điểm” qua điện thoại cho cho phóng viên Người Việt ghi, vì anh đã thuộc lòng những “lời khai thành khẩn” đó, sau bao nhiêu lần viết đi viết lại.
Các cựu tù nhân chính trị cùng sống với Trương Văn Sương trong trại giam cho biết bốn ngàn người trong nhà tù Nam Hà đều công nhận Trương Văn Sương là một anh hùng. Vì “anh ta có một khí phách đấu tranh rất can đảm rất dũng cảm, bất khuất,” như lời Nguyễn Khắc Toàn nói. Nhưng khi trả lời cuộc phỏng vấn của báo Người Việt, Trương Văn Sương đã từ chối danh hiệu đó, “anh em đều cho tôi là người anh hùng, nhưng tôi không dám nhận danh từ này,” Trương Văn Sương khiêm tốn nói.
Trong cuộc đối thoại trên với Nguyễn Nam Phong trên Diễn Ðàn Dân Chủ, Trương Văn Sương nói ông vẫn “chưa thoát khỏi vòng kim cô” vì ông chỉ được tạm tha, đình hoãn không ở tù để về nhà chữa bệnh; mà theo ông nghĩ thì chắc Việt Cộng sợ ông chết trong tù chúng mang tiếng. Linh Mục Nguyễn Văn Lý khi được đưa về Tổng giáo phận Huế vào tháng 3 năm 2010 cũng với lý do tạm hoãn thi hành án để chữa bệnh. Theo lệnh của Tổng Cục An Ninh, Bộ Công An tại Hà Nội thì ông Trương Văn Sương chỉ được trả tự do “tạm.” Khi được Việt Cộng đưa về tận nhà, có bác sĩ đi theo dọc đường, tới nhà mình ông mới biết cái lệnh quái gở đó.
Nhà báo tự do ở Hà Nội, ông Nguyễn Khắc Toàn đã nhiều lần gọi ông Trương Văn Sương là Nelson Mandela của Việt Nam! Tính thời gian ở tù tổng cộng hơn 33 năm thì Trương Văn Sương bị mất tự do lâu hơn vị tổng thống đầu tiên của Cộng Hòa Nam Phi; tuy nhiên ông không phải là người lãnh đạo một phong trào chính trị lớn như ông Mandela. Trong 6 năm đi “tù cải tạo” và hơn 24 năm bị cầm tù sau cùng vừa qua, có thể coi Trương Văn Sương là một trong những “anh hùng vô danh,” một trong muôn ngàn chiến sĩ đã và còn đang tranh đấu cho quyền tự do dân chủ của dân tộc Việt Nam.
Theo một nguồn tin thì thân phụ Trương Văn Sương là người gốc Hoa, thân mẫu gốc Khmer, sinh ra, lớn lên Sóc Trăng. Nhà báo Hà Nội Nguyễn Khắc Toàn kể ông đã “làm bổn phận của một công dân với đất nước thời trai trẻ khi ông còn là một sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng hòa trong chiến tranh khi thể chế dân chủ này còn tồn tại trước ngày 30 tháng 4 năm 1975.”
Khi về đến nhà Trương Văn Sương mới biết người vợ thân yêu quý là bà Lê Thị Lệ đã qua đời vào năm 2007, và người con gái thứ 2, Trương Thị Diễm cũng đã mất vì bị bệnh. Nhìn vào những bức hình do cựu tù nhân chính trị Nguyễn Bắc Truyển chụp, chúng ta thấy hình ảnh Trương Văn Sương đang cúi đầu lễ trước bàn thờ người vợ quá cố, mà lần cuối cùng ra thăm chồng đã từ gần 10 năm trước. Cũng ta cũng nhìn thấy ngôi nhà tiều tụy mà các con anh đang sống, ai cũng phải mủi lòng trước hoàn cảnh nghèo nàn, giống như hàng triệu người Việt Nam khác đang sống ở những vùng như Sóc Trăng. Chúng ta phải cảm phục và kính trọng sự hy sinh lớn lao của Trương Văn Sương, vì dân tộc, vì lý tưởng hy sinh cả gia đình mình. Phải liên tưởng tới những vị anh hùng, các nhà cách mạng chống Pháp thế kỷ trước, như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh. Anh nói với báo Người Việt: “Tôi có ba con, hai trai một gái. Bảy cháu nội và hai cháu ngoại. Nhưng không có đứa nào đi học đàng hoàng cả. Ðó là nỗi đau nhất của tôi từ xưa tới nay. Nghèo quá mà làm sao đi học cho được. Hơn nữa, cha của tụi nó ở tù vì ‘tội phản cách mạng’ nên tụi nó đâu dám chường ra với người ta mà học hành đàng hoàng! Vừa nghèo vừa dốt nát! Kết quả sau bao nhiêu năm trong tù còn lại với gia đình tôi như thế.”
Có thể nói suốt cuộc đời của Trương Văn Sương là tranh đấu. Năm 1975, ông mang cấp bậc trung úy, làm chi khu trưởng trong tỉnh Ba Xuyên. Sau đó, ông bị đưa đi tù cải tạo sáu năm tại Quảng Bình. Ra khỏi trại, ông tìm đường vượt biên sang Thái Lan rồi tham gia tổ chức kháng chiến của ông Trần Văn Bá, Lê Quốc Túy và Hồ Thái Bạch, xâm nhập vào Việt Nam nhằm xây dựng những cơ sở đấu tranh vũ trang chống cộng sản; nhưng thất bại. Hơn 200 người trong tổ chức này bị bắt và bị giam trong nhiều nhà tù, nhiều người đã chết vì bệnh hoặc vượt ngục bị giết. Hai trăm vị anh hùng vô danh. Các ông Trần Văn Bá, Lê Quốc Túy và Hồ Thái Bạch đều bị cộng sản sát hại.
Khi Trương Văn Sương về tới nhà thì bao nhiêu bạn cũ và mới đã đến thăm, các nhà báo ở hải ngoại đã gọi điện thoại về. Những nhân vật đối kháng chế độ như cựu tù nhân chính trị Nguyễn Bắc Truyển thuộc Ðảng Dân Chủ Nhân Dân Việt Nam từ Sài Gòn; Nguyễn Ngọc Quang từ Ðồng Nai; Nguyễn Thu Trâm thuộc khối 8406 từ Sài Gòn đã tìm được địa chỉ về tận căn lều tồi tàn ở Sóc Trăng để chào đón, mừng ông trở về. Ðây có lẽ là một điều bất ngờ đối với một người tù trở về. Những cú điện thoại từ nước ngoài phỏng vấn cũng là một hiện tượng mới. Nhưng hầu như Trương Văn Sương không tỏ vẻ ngạc nhiên.
Cuộc đời Trương Văn Sương đang bước vào một giai đoạn mới. Các bạn tù cũ và các người đấu tranh cho dân chủ đã trình bày cho anh biết rõ trong 24 năm qua thế giới và đồng bào sống ngoài nhà tù đã thay đổi ra sao. Ðể anh biết công cuộc đấu tranh công khai được phát động từ hơn mười năm qua đã tiến triển như thế nào. Cả hệ thống xã hội chủ nghĩa tại Liên Xô đã tan rã nhanh chóng. Ðồng bào Việt Nam không sợ cộng sản nữa, đã đứng lên đình công, biểu tình đòi quyền lợi đất đai, đòi tự do tôn giáo, đòi bảo vệ tổ quốc, và đòi dân chủ. Giới trí thức văn nghệ sĩ ở khắp nước can đảm lên tiếng trên các mạng lưới, về những vấn đề lớn của dân tộc. Trong cuộc đấu tranh mới, vũ khí là các phương tiện kỹ thuật, như điện thoại di động, máy tính, Internet, ngòi bút, tiếng nói, báo chí tự do... vân vân. Trong cuộc điện đàm với Nguyễn Khắc Toàn, Trương Văn Sương tỏ ra ông đã biết và hiểu rõ ý nghĩa của tất cả các tin tức mới đó; cho thấy dù ở tuổi gần 70 và sau 33 năm tù, ông vẫn đầy phong độ của một cựu sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa.
“Và cuối cùng thì ước nguyện của ông đối với đồng bào, dân tộc như thế nào? Nhật báo Người Việt hỏi. “Tôi vẫn muốn dân tộc Việt Nam bây giờ nên hướng về tương lai. Nên đối xử với nhau trong tinh thần nhân đạo. Hãy để quá khứ về quá khứ.”
Chúng ta không được phép quên những người chiến sĩ khác còn đang trong tù ngục cộng sản, những chiến sĩ sau cùng vẫn tiếp tục cuộc chiến đấu. Theo lời cựu tù nhân Nguyễn Ngọc Quang thì còn một đại úy Việt Nam Cộng Hòa là Nguyễn Hữu Cầu, quê Kiên Giang, đang trở thành người tù chính trị lâu năm nhất sau khi Trương Văn Sương về nhà. Năm 1975 anh Cầu bị bắt đi “tù cải tạo” hơn 6 năm, đến cuối năm 1981 được về. Sống ở bên ngoài được đúng 1 năm thì bị bắt giam trở lại vì anh đã viết thư tố cáo những tội ác tày đình của các quan chức tỉnh Kiên Giang, quê hương anh. Bản tố cáo nêu rõ các tên này “phạm tội giết người diệt khẩu, buôn bán xì-ke, ma túy, lợi dụng chức quyền tham ô tham nhũng, hãm hiếp, giết người,” vân vân. Trong thời gian đó, Nguyễn Tấn Dũng là một quan chức công an cấp tỉnh, từng nổi tiếng làm giàu nhanh chóng qua việc bán bãi cho dân vượt biên, nay đang giữ chức thủ tướng. Một quan chức tỉnh Kiên Giang khác lúc đó là Lê Hồng Anh, đã leo lên đến chức bộ trưởng Bộ Công An, ủy viên Bộ Chính Trị. Hiện cựu Ðại Úy Nguyễn Hữu Cầu bị giữ trong khu tù chính trị Biệt Giam Riêng, phân trại K2, Z30A, Xuân Lộc, Ðồng Nai.
Tất cả chúng ta hãnh diện về những chiến hữu, Ðại Úy Nguyễn Hữu Cầu và Trung Úy Trương Văn Sương. Mong anh Cầu sớm được tự do và anh Sương sẽ được nghỉ ngơi dưỡng bệnh, các anh sẽ sống thêm vài chục năm nữa như anh Sương mới nói. Chắc chắn nước Việt Nam sẽ được sống trong dân chủ tự do. Các anh có lẽ không mong sẽ lên làm tổng thống như Nelson Mandela nhưng ít nhất các anh cũng sẽ được như những Andrei Sakharov hay Alexander Solzhenitsyn, họ đã từng bị chế độ Xô Viết bỏ tù, họ đã sống đủ lâu để chứng kiến cảnh dân tộc Nga thoát khỏi gông cùm cộng sản.
Ðại sứ Michalak: 'đã và sẽ tiếp tục'
đòi thả tù chính trị
Báo Người Việt phỏng vấn đặc biệt đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam
Tiffany Lê/Người Việt
Bản dịch: Cổ Lũy

Ðại Sứ Michael Michalak, năm 2008. (Hình: Vũ Quí Hạo Nhiên)
Năm 2010 đánh dấu 15 năm tái lập bang giao Việt-Mỹ, và cũng là thời điểm ngoại trưởng Hoa Kỳ sắp tới Việt Nam dự hội nghị thượng đỉnh ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Ðông Nam Á). Vào đầu tháng 6, chiếc tàu cứu thương USNS Mercy cũng đến Việt Nam trong gần hai tuần để chữa trị miễn phí cho 19,000 bệnh nhân Việt Nam. Nhân dịp này, Ðại Sứ Michael Michalak dành riêng cho phóng viên Tiffany Lê báo Người Việt cuộc phỏng vấn qua điện thoại dưới đây.
Tiffany Lê (NV): Năm 2010 là một năm đầy biến cố ở Việt Nam, như kỷ niệm 35 năm chiến tranh chấm dứt, kỷ niệm 15 năm tái lập bang giao Việt-Mỹ, và là năm Việt Nam làm chủ tịch luân lưu ASEAN. Mối quan hệ Việt-Mỹ có thân thiện và biểu tượng đủ để hai bên nói chuyện nhân quyền không?
Ðại Sứ Michalak: Chắc chắn là có. Hai bên từng nói chuyện với nhau về nhân quyền trong quá khứ và hiện nay tại các buổi thảo luận tại Tòa Ðại Sứ. Chúng tôi tiếp tục đối thoại với chính quyền Việt Nam.
NV: Ông có yêu cầu Việt Nam thả các nhà đấu tranh dân chủ như Lê Công Ðịnh, Nguyễn Tiến Trung hay Nguyễn Văn Ðài không?
Ðại Sứ Michalak: Chúng tôi đã và sẽ tiếp tục làm việc này. Cho đến nay chính quyền Việt Nam vẫn chưa chịu ân xá.
NV: Họ nói gì về vụ này.
Ðại Sứ Michalak: Họ nói những nhà tranh đấu này vi phạm luật Việt Nam và phải được xử theo luật Việt Nam.
NV: Những khía cạnh ngoại giao nào cần được cải thiện? Như thương mại, y tế, tự do báo chí, nhân quyền?
Ðại Sứ Michalak: Chúng tôi đang cố gắng cải thiện đủ mọi mặt. Có những chuyện như thay đổi khí hậu là chuyện hai bên mới bắt đầu. Có những chuyện khác như thương mại đã thảo luận qua lại từ lâu. Lúc nào cũng cần có những cải thiện. Chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc một cách thông minh để cải thiện liên hệ nói chung.
NV: Chính quyền VN có cái nhìn về nhân quyền, tự do báo chí khác với cái nhìn của Hoa Kỳ. ông có cách nào để giải thích cho phía Việt Nam hiểu được những giá trị Hoa Kỳ xem là quan trọng như thế nào mà vẫn tôn trọng quan điểm của họ?
Ðại Sứ Michalak: Chúng tôi làm việc giải thích này bằng nhiều cách khác nhau. Qua thảo luận trực tiếp với nhau. Chúng tôi thảo luận chính thức với nhau về quan hệ quân sự, về nhân quyền, về thay đổi khí hậu. Chúng tôi có địa điểm rất chính thức để gặp nhau và thảo luận về chuyện này. Những thảo luận có thể rất thẳng thắn. Chúng tôi cũng có những buổi gặp gỡ riêng, và tôi cố mời càng nhiều viên chức cao cấp VN càng tốt. Nhiều cuộc gặp gỡ này hoàn toàn kín đáo. Không có báo chí ở đó, và hai bên có thể nói chuyện thẳng thắn cởi mở với nhau. Ðây là một trong những gì chúng tôi đã làm trong 15 năm... Chúng tôi đi gặp đủ mọi thành phần dân chúng. Chúng tôi cố gắng có mặt bên cạnh người VN và trong xã hội VN và để tự họ phán xét chúng tôi. Họ nhìn thấy những giá trị chúng tôi xem là quan trọng, lối lý luận của chúng tôi và tự họ sẽ nhận ra những thông điệp của chúng tôi.
NV: Không có báo chí thì thảo luận sẽ cởi mở hơn?
Ðại Sứ Michalak: Thường thì vậy. Khi người ta nói chuyện với báo chí, sẽ có nhiều cử tọa khác và người ta sẽ có cách nói chuyện với các cử tọa khác. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới nhiều cuộc thảo luận. Ðôi khi tốt hơn là không thảo luận trước ống kính truyền hình, hoặc tốt hơn là không thảo luận một vấn đề trước mặt báo chí. Ðây không chỉ riêng ở mặt quan hệ ngoại giao, mà còn trong quan hệ thương mại và các mối quan hệ khác. Một số trường hợp tốt nhất là giữ riêng tư, mặt đối mặt nói riêng.
NV: Chúng ta có thể nói chuyện ngoài cuộc phỏng vấn (“off the record”) không?
Ðại Sứ Michalak: (Cười lớn) Chẳng bao giờ có chuyện gì là ngoài cuộc phỏng vấn!
NV: Ngay cả khi một phóng viên đang hỏi ông?
Ðại Sứ Michalak: (Cười lớn)
NV: Có một số người Mỹ gốc Việt ở Orange County rất ghét chính quyền VN hiện nay, họ nghĩ ông có cảm tình với chính quyền cộng sản, phản ứng của ông thế nào về những lời chỉ trích này?
Ðại Sứ Michalak: Những người chỉ trích tôi, tôi đã trực tiếp nói chuyện với họ, tại các buổi họp mặt cộng đồng, tại những buổi gặp gỡ riêng, cũng như ở những buổi gặp gỡ trước ống kính của truyền thông. Tôi cố trả lời thẳng thắn đến mức có thể được. Ðây là điều tuyệt vời về nước Mỹ: Ai cũng được quyền có quan điểm riêng. Tôi tới Orange County để lắng nghe quan điểm của cộng đồng ở đó, và đúng vậy, nhiều người trong cộng đồng không thích chính quyền ở đây (Việt Nam). Quan trọng là tôi nghe quan điểm của họ và họ nghe quan điểm của tôi. Trao đổi với nhau luôn luôn là điều tốt. Tôi luôn cố gắng làm điều này mỗi lần tôi về Hoa Kỳ, thăm cộng đồng Việt Nam ở Bắc Virginia, Texas và California.
đòi thả tù chính trị
Báo Người Việt phỏng vấn đặc biệt đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam
Tiffany Lê/Người Việt
Bản dịch: Cổ Lũy

Ðại Sứ Michael Michalak, năm 2008. (Hình: Vũ Quí Hạo Nhiên)
Năm 2010 đánh dấu 15 năm tái lập bang giao Việt-Mỹ, và cũng là thời điểm ngoại trưởng Hoa Kỳ sắp tới Việt Nam dự hội nghị thượng đỉnh ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Ðông Nam Á). Vào đầu tháng 6, chiếc tàu cứu thương USNS Mercy cũng đến Việt Nam trong gần hai tuần để chữa trị miễn phí cho 19,000 bệnh nhân Việt Nam. Nhân dịp này, Ðại Sứ Michael Michalak dành riêng cho phóng viên Tiffany Lê báo Người Việt cuộc phỏng vấn qua điện thoại dưới đây.
Tiffany Lê (NV): Năm 2010 là một năm đầy biến cố ở Việt Nam, như kỷ niệm 35 năm chiến tranh chấm dứt, kỷ niệm 15 năm tái lập bang giao Việt-Mỹ, và là năm Việt Nam làm chủ tịch luân lưu ASEAN. Mối quan hệ Việt-Mỹ có thân thiện và biểu tượng đủ để hai bên nói chuyện nhân quyền không?
Ðại Sứ Michalak: Chắc chắn là có. Hai bên từng nói chuyện với nhau về nhân quyền trong quá khứ và hiện nay tại các buổi thảo luận tại Tòa Ðại Sứ. Chúng tôi tiếp tục đối thoại với chính quyền Việt Nam.
NV: Ông có yêu cầu Việt Nam thả các nhà đấu tranh dân chủ như Lê Công Ðịnh, Nguyễn Tiến Trung hay Nguyễn Văn Ðài không?
Ðại Sứ Michalak: Chúng tôi đã và sẽ tiếp tục làm việc này. Cho đến nay chính quyền Việt Nam vẫn chưa chịu ân xá.
NV: Họ nói gì về vụ này.
Ðại Sứ Michalak: Họ nói những nhà tranh đấu này vi phạm luật Việt Nam và phải được xử theo luật Việt Nam.
NV: Những khía cạnh ngoại giao nào cần được cải thiện? Như thương mại, y tế, tự do báo chí, nhân quyền?
Ðại Sứ Michalak: Chúng tôi đang cố gắng cải thiện đủ mọi mặt. Có những chuyện như thay đổi khí hậu là chuyện hai bên mới bắt đầu. Có những chuyện khác như thương mại đã thảo luận qua lại từ lâu. Lúc nào cũng cần có những cải thiện. Chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc một cách thông minh để cải thiện liên hệ nói chung.
NV: Chính quyền VN có cái nhìn về nhân quyền, tự do báo chí khác với cái nhìn của Hoa Kỳ. ông có cách nào để giải thích cho phía Việt Nam hiểu được những giá trị Hoa Kỳ xem là quan trọng như thế nào mà vẫn tôn trọng quan điểm của họ?
Ðại Sứ Michalak: Chúng tôi làm việc giải thích này bằng nhiều cách khác nhau. Qua thảo luận trực tiếp với nhau. Chúng tôi thảo luận chính thức với nhau về quan hệ quân sự, về nhân quyền, về thay đổi khí hậu. Chúng tôi có địa điểm rất chính thức để gặp nhau và thảo luận về chuyện này. Những thảo luận có thể rất thẳng thắn. Chúng tôi cũng có những buổi gặp gỡ riêng, và tôi cố mời càng nhiều viên chức cao cấp VN càng tốt. Nhiều cuộc gặp gỡ này hoàn toàn kín đáo. Không có báo chí ở đó, và hai bên có thể nói chuyện thẳng thắn cởi mở với nhau. Ðây là một trong những gì chúng tôi đã làm trong 15 năm... Chúng tôi đi gặp đủ mọi thành phần dân chúng. Chúng tôi cố gắng có mặt bên cạnh người VN và trong xã hội VN và để tự họ phán xét chúng tôi. Họ nhìn thấy những giá trị chúng tôi xem là quan trọng, lối lý luận của chúng tôi và tự họ sẽ nhận ra những thông điệp của chúng tôi.
NV: Không có báo chí thì thảo luận sẽ cởi mở hơn?
Ðại Sứ Michalak: Thường thì vậy. Khi người ta nói chuyện với báo chí, sẽ có nhiều cử tọa khác và người ta sẽ có cách nói chuyện với các cử tọa khác. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới nhiều cuộc thảo luận. Ðôi khi tốt hơn là không thảo luận trước ống kính truyền hình, hoặc tốt hơn là không thảo luận một vấn đề trước mặt báo chí. Ðây không chỉ riêng ở mặt quan hệ ngoại giao, mà còn trong quan hệ thương mại và các mối quan hệ khác. Một số trường hợp tốt nhất là giữ riêng tư, mặt đối mặt nói riêng.
NV: Chúng ta có thể nói chuyện ngoài cuộc phỏng vấn (“off the record”) không?
Ðại Sứ Michalak: (Cười lớn) Chẳng bao giờ có chuyện gì là ngoài cuộc phỏng vấn!
NV: Ngay cả khi một phóng viên đang hỏi ông?
Ðại Sứ Michalak: (Cười lớn)
NV: Có một số người Mỹ gốc Việt ở Orange County rất ghét chính quyền VN hiện nay, họ nghĩ ông có cảm tình với chính quyền cộng sản, phản ứng của ông thế nào về những lời chỉ trích này?
Ðại Sứ Michalak: Những người chỉ trích tôi, tôi đã trực tiếp nói chuyện với họ, tại các buổi họp mặt cộng đồng, tại những buổi gặp gỡ riêng, cũng như ở những buổi gặp gỡ trước ống kính của truyền thông. Tôi cố trả lời thẳng thắn đến mức có thể được. Ðây là điều tuyệt vời về nước Mỹ: Ai cũng được quyền có quan điểm riêng. Tôi tới Orange County để lắng nghe quan điểm của cộng đồng ở đó, và đúng vậy, nhiều người trong cộng đồng không thích chính quyền ở đây (Việt Nam). Quan trọng là tôi nghe quan điểm của họ và họ nghe quan điểm của tôi. Trao đổi với nhau luôn luôn là điều tốt. Tôi luôn cố gắng làm điều này mỗi lần tôi về Hoa Kỳ, thăm cộng đồng Việt Nam ở Bắc Virginia, Texas và California.
Biển Đông và Tây Nguyên
Trần Khải Có phải Hoa Kỳ đang dựng một vòng đai thép quanh Biển Đông để ngăn chận Trung Quốc, khi Ngoại Trưởng Hillary Clinton tới thăm nhiều nước Châu Á trong tuần tới, dự các hội nghị song phương và khối ASEAN, và gần như cùng lúc trong tháng này là cuộc tập trận hùng hậu của hải lục không quân Mỹ và Nam Hàn ở cả hai bờ bán đảo Triều Tiên, nghĩa là cả ở Biển Vàng (Yellow Sea) và Biển Nhật Bản (Sea of Japan)?
Nghĩa là, trong khi bà Hillary Clinton nói chuyện nhỏ nhẹ trong các bàn hội nghị để trấn an các nước nhỏ đang lo sợ thế lực Trung Quốc, thì bên ngoaì sẽ vang dội tiếng phi cơ siêu thanh gầm rú và tiếng bom dội ở các vùng biển gần Trung Quốc?
Và rồi Trung Quốc phản ứng ra sao? Chỉ một ngày sau khi Mỹ hiển lộ các kế hoạch diễn võ các vùng biển Châu Á Thái Bình Dương, thì rạng sáng Thứ Năm 15-7-2010 một taù lạ đã đâm chìm một taù cá của ngư dân Việt ở Biển Đông, và phải chăng đây là cú khều bực bội của chính phủ Bắc Kinh đối với kẻ đàn em Hà Nội đầy khả nghi?
Báo New York Times hôm 14-7-2010 loan tin rằng Mỹ và Nam Hàn sẽ tập trận chung ở Biển Vàng, như một đáp ứng với việc một tàu chiến Nam Hàn bị đánh chìm hồi tháng 3-2010, theo lời Pentagon. Bắc Hàn bị quy lỗi bắn chìm taù Nam Hàn, làm chết 46 lính thủy. Phát ngôn nhân Bộ Quốc Phòng Mỹ Geoff Morrell nói Mỹ vẫn tập trận bất chấp TQ bày tỏ quan ngại, “Đây là chuyện của khả năng chúng tôi tập trận ở vùng biển quốc tế. Quyết tâm tập trận naỳ do chúng tôi quyết định, và chỉ do chúng tôi thôi.” Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert M. Gates và Ngoại Trưởng Hillary Rodham Clinton sẽ hoàn tất kế hoạch tập trận trong buổi họp với các vị tương nhiệm của họ ở Seoul tuần tới.
Ngôn ngữ như thế là ngang lắm, phảỉ không? Chúng tôi tập trận, bất kể quan ngại của ai, có phảỉ không?
Tạp chí Eurasia Review trong bài nhan đề “U.S. Risks Military Clash With China In Yellow Sea” (Mỹ Chấp Nhận Cơ Nguy Xung Đột Quân Sự với TQ ở Biển Vàng) đăng hôm Thứ Sáu 16-7-2010, trong đó nêu lên thực sự đây là cuộc biểu diễn sức mạnh quân sự đầy sóng gió.
Tập trận chung giữa Mỹ với Nam Hàn lần này “là ở cả 2 bờ của bán đảo Triều Tiên, không chỉ ở Biển Vàng như dự tính trước đây mà còn ở Biển Nhật Bản nữa.” Lại có nhập trận thêm của siêu hàng không mẫu hạm nguyên tử USS George Washington, nặng hơn 100,000 tấn với hơn 6,250 lính thủy và hơn 80 chiến đấu cơ...
Điều chúng ta cũng cần quan tâm là bản tin hôm Thứ Ba của AFP cho biết Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã đón tiếp Ngoại Trưởng Lào Thongloun Sisoulith tại thủ đô Washington DC. Sisoulith là cán bộ Lào cao cấp nhất tới thăm Washington kể từ khi cộng sản Lào chiến thắng ở Laò năm 1975. Mỹ và Lào cam kết hợp tác nhiều phương diện.
Và rồi đaì VOA loan tin hôm Thứ Tư 14-7-2010, rằng hôm thứ tư Bộ Ngoại giao Mỹ phổ biến một thông cáo cho biết Ngoại trưởng Hillary Clinton sẽ đến thăm Việt Nam vào tuần tới.
Bản tin VOA viết, “Theo thông cáo, trong chuyến đi này bà Clinton sẽ hội kiến các nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam để bàn về những vấn đề song phương và khu vực. Bà cũng sẽ tham dự một bữa tiệc đánh dấu kỷ niệm 15 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ, và tham dự các cuộc họp của khối ASEAN và Sáng kiến Tiểu vùng sông Mekong, qui tụ 4 nước Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan. Bà Clinton cũng sẽ hướng dẫn phái đoàn Hoa Kỳ tham dự hội nghị cấp bộ trưởng của Diễn đàn Khu vực Asean tại Hà Nội.” (hết trích)
Chưa hết, vòng đai thép chiến lược của Mỹ giăng ở các Biển Nhật Bản, Biển Vàng (Triều Tiên), Biển Đông (VN), khối các nước Đông Nam Á, và cũng sẽ trùm cả Nam Á, cụ thể là Pakistan.
Hôm Thứ Tư, Đặc sứ Mỹ phụ trách vấn đề Afghanistan và Pakistan là ông Richard Holbrooke nói rằng Ngoại Trưởng Clinton sẽ dự cuộc đối thoại chiến lược Hoa Kỳ-Pakistan tại Islamabad trước khi lên đường sang Kabul để tham gia hội nghị các nước viện trợ cho Afghanistan vào ngày 20 tháng 7.
Thế là vài tiếng đồng hồ sau khi có các bản tin Mỹ-Hàn tập trận, Biển Đông dậy sóng ngay: Thuyền đánh cá của ngư dân Việt bị tàu lạ đâm chìm rồi bỏ trốn. Có thể hiểu “tàu lạ” chính là “tàu Trung Quốc.” Bởi vì không thể là bị đụng bởi hàng không mẫu hạm Mỹ.
Bản tin Dân Trí viết:
“Khoảng 3h30 sáng nay (15/7), một chiếc thuyền đánh cá của tỉnh Thừa Thiên – Huế đang đánh cá ngoài khơi biển Thuận An đã bị một tàu lạ đâm chìm rồi bỏ chạy. 1 ngư phủ chết, 1 mất tích và 3 người bị thương nặng.
Chiếc thuyền đánh cá công suất nhỏ mang số hiệu TTH-33501 thuộc xã Phú Hải, huyện Phú Vang ra khơi vào ngày 12/7. Trên thuyền chở 5 người gồm: Phan Văn Manh (SN 1950 – thuyền trưởng), Nguyễn Đại Ngữ (SN 1952), Huỳnh Chiến (SN 1959), Phan Văn Cư (SN 1983) và Phan Văn Hùng (SN 1974), đều trú tại thôn Cự Lại Nam, xã Phú Hải.
Vào thời điểm trên, có một tàu lạ đã đâm mạnh vào giữa thuyền đánh cá làm thuyền gãy đôi và chìm hẳn xuống biển.
Đến sáng nay (15/7), xác ông Nguyễn Đại Ngữ đã trôi vào bờ. 3 người gồm anh Phan Văn Manh, Huỳnh Chiến và Phan Văn Hùng may mắn được một tàu cá của Quảng Nam cứu vớt và hiện đang được cấp cứu tại bệnh viện. Riêng anh Phan Văn Cư hiện vẫn còn mất tích.
Theo lời kể của những nạn nhân may mắn sống sót sau tai nạn, tàu lạ nói trên là tàu chở hàng đang chạy từ Đà Nẵng ra Bắc. Sau khi đụng thuyền cá xong đã bỏ chạy.
Hiện Hải đội 2, Bộ đội Biên phòng tỉnh Thừa Thiên - Huế đang huy động lực lượng phối hợp với gần 20 tàu cá ngư dân tìm kiếm nạn nhân Phan Văn Cư cũng như xác minh thông tin tàu lạ trên.” (hết trích)
Chính xác, nhà nước VN vốn dè dặt, chưa chịu nói tàu lạ là tàu Trung Quốc hay là tàu Mỹ.
Một điều chúng ta suy nghĩ nữa là: trong khi dưới biển taù Trung Quốc đụng chìm tàu ngư dân Việt, vậy còn trên đất liền thì TQ có những độc chiêu nào?
Không thể nói trên bờ không có gì hết. Bởi vì xa tới ngàn dặm như Hoa Kỳ, mà các chính phủ Nga, Trung Quốc còn gài gián điệp nằm vùng lâu dài, thì Việt Nam nằm nơi giáp giới không lẽ lạị thoát các âm mưu của TQ.
Mới đây, Mỹ khui mạng lưới gián điệp 11 người Nga nằm lâu dàì ở Mỹ. Cũng đầu tháng 7-2010, báo Toronto Sun của Canada ghi rằng trùm Sở Tình Baó Canada là Richard Fadden nói lên nỗ quan ngại của ông là gián điệp Trung Quốc đang do thám công dân Canada, theo dõi các hội nhân quyền và tìm cách ảnh hưởng các chính khách Canada.
Như thế, không lẽ Trung Quốc không thò tay quậy ở Hà Nội?
Trên trang web http://www.boxitvn. net/ hôm 16-7-2010 có một băng hình dàì hơn 8 phút đồng hồ, do phóng viên Quang Tâm thu hình hồi tháng 6-2010, nhan đề “Phim phóng sự về khu Bôxít Nhân Cơ (phần I)” trong đó trực tiếp quay khu đất đã giảỉ tỏa nhà dân này, đang xây một số khu nhà nơi sẽ làm xưởng khai thác mỏ bôxit, ghi lời dân địa phương cho biết là vào tháng 10-2010 vùng Tây Nguyên này sẽ đón 10,000 người từ Trung Quốc sang, trong đó 9,000 người là dân Đại Hán và 1,000 là công nhân Việt được huấn luyện kỹ thuật để sẽ làm ở nhà máy này.
Nếu chúng ta sực nhớ lại chuyện nhiều tỉnh VN đã cho các công ty TQ và Đàì Loan thuê 300,000 hecta rừng đầu nguồn, thì chuyện này dễ dàng làm chúng ta hiểu được nỗi lo của khối ASEAN khi thấy VN ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc, và dễ dàng hiểu vì sao Mỹ phải giăng dây xích Biển Đông để trấn an các nước đồng minh truyền thống như Thái Lan, Indonesia, Nhật Bản, Nam Hàn, Singapore...
Nỗi lo đó không riêng của người ngoài VN, mà còn sinh khởi từ gan ruột của nhiều cán bộ một đời hy sinh cho Đảng CSVN. Đặc biệt, là khi gần tới Đạị Hội Đảng, nhiều người lo sợ là Đảng CSVN sẽ bán đứng đất nước cho TQ để bảo đảm an toàn cho CSVN. Nghĩa là, VN sẽ là một chư hầu. Nhưng khi nhiều ngàn người TQ lặng lẽ vào các vùng núí rừng VN như thế, sẽ tới một lúc dân Hán tộc đông hơn cả đồng bào Thượng ở các vùng Tây Nguyên và rừng núi đó. Có phaỉ đó sẽ là một kịch bản mới kiểu Tây Tạng, nhưng êm thắm hơn?
Cũng trên mạng Bôxit mấy tuần trước, trong bản văn nhan đề “Thư gửi: Bộ Chính trị - Ban Bí thư Trung Ương và các Uỷ viên BCHTƯ Khoá 10” gửi từ Hà Nội, ngày 22 tháng 4 năm 2010, hàng chục vị tướng và cán bộ lão thành, trong đó có người đã 70 tuổi đảng, đã nói rất thẳng rằng xin đừng đưa “người Việt gốc nước ngoài vào” Ban Chấp Hành Trung Ương.
Tại sao thỉnh nguyện như thế? Có phải ĐCSVN dự tính đưa một người Mỹ da trắng vào Ban Chấp Hành Trung Ương?
Lá thư viết, trích:
“Một trong những nhiệm vụ cơ bản nhất của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng sắp đến (Đại hội 11) là bầu cử được Ban chấp hành T.W. gồm những đại biểu ưu tú nhất của Đảng, những người gương mẫu về phẩm chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng nhất, kiên định mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, có ý chí đấu tranh kiên cường bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, có tầm nhìn chiến lược và năng lực tổ chức chỉ đạo thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội. Tổng bí thư và các uỷ viên Bộ chính trị phải là những người ưu tú nhất trong BCH.T.W. Dứt khoát không để những người có dính đến tham nhũng và những người Việt gốc nước ngoài vào BCH.T.W.
Để có được một BCH T.W có đầy đủ các tiêu chí nói trên, công tác nhân sự đại hội cần được tiến hành công khai, dân chủ, khách quan, trong sáng và với trách nhiệm cao của mỗi đại biểu.
Nhận thức rõ, đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ người đảng viên ghi trong điều lệ Đảng, chúng tôi những cán bộ cao cấp đã nghỉ các chức danh công tác trong biên chế nhà nước, đã 80, 90 tuổi đời; 60-70 tuổi Đảng, đã đem cả tâm trí và sức lực của đời mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc, xin được đóng góp một số ý kiến về công tác nhân sự đại hội:
1.Phải đảm bảo các đại biểu về dự đại hội có đầy đủ các tiêu chí cần thiết, phải là những người ưu tú nhất về phẩm chất, đạo đức, năng lực. Bộ chính trị, Ban Bí thư T.W. khoá 10 và Ban thẩm tra tư cách đại biểu cần đề cao trách nhiệm, rà soát kỹ lưỡng, kể cả với những đại biểu là uỷ viên T.W khoá 10 để phát hiện và trình đại hội xem xét tư cách những đại biểu vừa qua có vi phạm kỷ luật và những và có dấu hiệu vi phạm kỷ luật, những người có dính đến tham nhũng, những đại biểu là người Việt gốc nước ngoài...” (hết trích)
Chỉ trong mấy đoạn văn, đã ghi rõ là xin đừng đề cử “người Việt gốc nước ngoài.” Có ai là dòng Hán tộc nơi đây chăng? Có phải Tô Huy Rứa là cháu nhiều đời của Tô Định, một tướng Tàu thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa? Có phải Trương Tấn Sang là cháu nhiều đời của Trương Phụ, một tướng Tàu đã bắt sống nhiều tướng Việt, trong đó có Đặng Dung, đưa về Yên Kinh (Bắc Kinh hiện nay) và chính Trương Phụ đã trói Nguyễn Biểu vào chân cầu để nước triều lên thì Nguyễn Biểu phải chết ngộp? Hay Hồ Đức Việt có gốc gác gì với Hồ Cẩm Đào không?
Cũng cần suy nghĩ nữa: có phải Mỹ đã thấy vua quan CSVN sắp bó thân ra hàng tướng Tàu, nên phải tập trận ầm ĩ ở các biển Châu Á để trấn an?
Than ôi, dân mình trong nước đâu có bao nhiêu người biết là nhiều sư đoàn thợ TQ đang đổ bộ vào Tây Nguyên đâu... Bị ông Tô Huy Rứa bưng tai, bịt mắt cả rồi. Mà dân mình có nói gì bất bình, thì cũng sẽ bị công an trấn áp y hệt như thời các tướng Tàu trấn áp ông bà mình nhiều thế kỷ trước.
Trần Khải Có phải Hoa Kỳ đang dựng một vòng đai thép quanh Biển Đông để ngăn chận Trung Quốc, khi Ngoại Trưởng Hillary Clinton tới thăm nhiều nước Châu Á trong tuần tới, dự các hội nghị song phương và khối ASEAN, và gần như cùng lúc trong tháng này là cuộc tập trận hùng hậu của hải lục không quân Mỹ và Nam Hàn ở cả hai bờ bán đảo Triều Tiên, nghĩa là cả ở Biển Vàng (Yellow Sea) và Biển Nhật Bản (Sea of Japan)?
Nghĩa là, trong khi bà Hillary Clinton nói chuyện nhỏ nhẹ trong các bàn hội nghị để trấn an các nước nhỏ đang lo sợ thế lực Trung Quốc, thì bên ngoaì sẽ vang dội tiếng phi cơ siêu thanh gầm rú và tiếng bom dội ở các vùng biển gần Trung Quốc?
Và rồi Trung Quốc phản ứng ra sao? Chỉ một ngày sau khi Mỹ hiển lộ các kế hoạch diễn võ các vùng biển Châu Á Thái Bình Dương, thì rạng sáng Thứ Năm 15-7-2010 một taù lạ đã đâm chìm một taù cá của ngư dân Việt ở Biển Đông, và phải chăng đây là cú khều bực bội của chính phủ Bắc Kinh đối với kẻ đàn em Hà Nội đầy khả nghi?
Báo New York Times hôm 14-7-2010 loan tin rằng Mỹ và Nam Hàn sẽ tập trận chung ở Biển Vàng, như một đáp ứng với việc một tàu chiến Nam Hàn bị đánh chìm hồi tháng 3-2010, theo lời Pentagon. Bắc Hàn bị quy lỗi bắn chìm taù Nam Hàn, làm chết 46 lính thủy. Phát ngôn nhân Bộ Quốc Phòng Mỹ Geoff Morrell nói Mỹ vẫn tập trận bất chấp TQ bày tỏ quan ngại, “Đây là chuyện của khả năng chúng tôi tập trận ở vùng biển quốc tế. Quyết tâm tập trận naỳ do chúng tôi quyết định, và chỉ do chúng tôi thôi.” Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert M. Gates và Ngoại Trưởng Hillary Rodham Clinton sẽ hoàn tất kế hoạch tập trận trong buổi họp với các vị tương nhiệm của họ ở Seoul tuần tới.
Ngôn ngữ như thế là ngang lắm, phảỉ không? Chúng tôi tập trận, bất kể quan ngại của ai, có phảỉ không?
Tạp chí Eurasia Review trong bài nhan đề “U.S. Risks Military Clash With China In Yellow Sea” (Mỹ Chấp Nhận Cơ Nguy Xung Đột Quân Sự với TQ ở Biển Vàng) đăng hôm Thứ Sáu 16-7-2010, trong đó nêu lên thực sự đây là cuộc biểu diễn sức mạnh quân sự đầy sóng gió.
Tập trận chung giữa Mỹ với Nam Hàn lần này “là ở cả 2 bờ của bán đảo Triều Tiên, không chỉ ở Biển Vàng như dự tính trước đây mà còn ở Biển Nhật Bản nữa.” Lại có nhập trận thêm của siêu hàng không mẫu hạm nguyên tử USS George Washington, nặng hơn 100,000 tấn với hơn 6,250 lính thủy và hơn 80 chiến đấu cơ...
Điều chúng ta cũng cần quan tâm là bản tin hôm Thứ Ba của AFP cho biết Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã đón tiếp Ngoại Trưởng Lào Thongloun Sisoulith tại thủ đô Washington DC. Sisoulith là cán bộ Lào cao cấp nhất tới thăm Washington kể từ khi cộng sản Lào chiến thắng ở Laò năm 1975. Mỹ và Lào cam kết hợp tác nhiều phương diện.
Và rồi đaì VOA loan tin hôm Thứ Tư 14-7-2010, rằng hôm thứ tư Bộ Ngoại giao Mỹ phổ biến một thông cáo cho biết Ngoại trưởng Hillary Clinton sẽ đến thăm Việt Nam vào tuần tới.
Bản tin VOA viết, “Theo thông cáo, trong chuyến đi này bà Clinton sẽ hội kiến các nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam để bàn về những vấn đề song phương và khu vực. Bà cũng sẽ tham dự một bữa tiệc đánh dấu kỷ niệm 15 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ, và tham dự các cuộc họp của khối ASEAN và Sáng kiến Tiểu vùng sông Mekong, qui tụ 4 nước Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan. Bà Clinton cũng sẽ hướng dẫn phái đoàn Hoa Kỳ tham dự hội nghị cấp bộ trưởng của Diễn đàn Khu vực Asean tại Hà Nội.” (hết trích)
Chưa hết, vòng đai thép chiến lược của Mỹ giăng ở các Biển Nhật Bản, Biển Vàng (Triều Tiên), Biển Đông (VN), khối các nước Đông Nam Á, và cũng sẽ trùm cả Nam Á, cụ thể là Pakistan.
Hôm Thứ Tư, Đặc sứ Mỹ phụ trách vấn đề Afghanistan và Pakistan là ông Richard Holbrooke nói rằng Ngoại Trưởng Clinton sẽ dự cuộc đối thoại chiến lược Hoa Kỳ-Pakistan tại Islamabad trước khi lên đường sang Kabul để tham gia hội nghị các nước viện trợ cho Afghanistan vào ngày 20 tháng 7.
Thế là vài tiếng đồng hồ sau khi có các bản tin Mỹ-Hàn tập trận, Biển Đông dậy sóng ngay: Thuyền đánh cá của ngư dân Việt bị tàu lạ đâm chìm rồi bỏ trốn. Có thể hiểu “tàu lạ” chính là “tàu Trung Quốc.” Bởi vì không thể là bị đụng bởi hàng không mẫu hạm Mỹ.
Bản tin Dân Trí viết:
“Khoảng 3h30 sáng nay (15/7), một chiếc thuyền đánh cá của tỉnh Thừa Thiên – Huế đang đánh cá ngoài khơi biển Thuận An đã bị một tàu lạ đâm chìm rồi bỏ chạy. 1 ngư phủ chết, 1 mất tích và 3 người bị thương nặng.
Chiếc thuyền đánh cá công suất nhỏ mang số hiệu TTH-33501 thuộc xã Phú Hải, huyện Phú Vang ra khơi vào ngày 12/7. Trên thuyền chở 5 người gồm: Phan Văn Manh (SN 1950 – thuyền trưởng), Nguyễn Đại Ngữ (SN 1952), Huỳnh Chiến (SN 1959), Phan Văn Cư (SN 1983) và Phan Văn Hùng (SN 1974), đều trú tại thôn Cự Lại Nam, xã Phú Hải.
Vào thời điểm trên, có một tàu lạ đã đâm mạnh vào giữa thuyền đánh cá làm thuyền gãy đôi và chìm hẳn xuống biển.
Đến sáng nay (15/7), xác ông Nguyễn Đại Ngữ đã trôi vào bờ. 3 người gồm anh Phan Văn Manh, Huỳnh Chiến và Phan Văn Hùng may mắn được một tàu cá của Quảng Nam cứu vớt và hiện đang được cấp cứu tại bệnh viện. Riêng anh Phan Văn Cư hiện vẫn còn mất tích.
Theo lời kể của những nạn nhân may mắn sống sót sau tai nạn, tàu lạ nói trên là tàu chở hàng đang chạy từ Đà Nẵng ra Bắc. Sau khi đụng thuyền cá xong đã bỏ chạy.
Hiện Hải đội 2, Bộ đội Biên phòng tỉnh Thừa Thiên - Huế đang huy động lực lượng phối hợp với gần 20 tàu cá ngư dân tìm kiếm nạn nhân Phan Văn Cư cũng như xác minh thông tin tàu lạ trên.” (hết trích)
Chính xác, nhà nước VN vốn dè dặt, chưa chịu nói tàu lạ là tàu Trung Quốc hay là tàu Mỹ.
Một điều chúng ta suy nghĩ nữa là: trong khi dưới biển taù Trung Quốc đụng chìm tàu ngư dân Việt, vậy còn trên đất liền thì TQ có những độc chiêu nào?
Không thể nói trên bờ không có gì hết. Bởi vì xa tới ngàn dặm như Hoa Kỳ, mà các chính phủ Nga, Trung Quốc còn gài gián điệp nằm vùng lâu dài, thì Việt Nam nằm nơi giáp giới không lẽ lạị thoát các âm mưu của TQ.
Mới đây, Mỹ khui mạng lưới gián điệp 11 người Nga nằm lâu dàì ở Mỹ. Cũng đầu tháng 7-2010, báo Toronto Sun của Canada ghi rằng trùm Sở Tình Baó Canada là Richard Fadden nói lên nỗ quan ngại của ông là gián điệp Trung Quốc đang do thám công dân Canada, theo dõi các hội nhân quyền và tìm cách ảnh hưởng các chính khách Canada.
Như thế, không lẽ Trung Quốc không thò tay quậy ở Hà Nội?
Trên trang web http://www.boxitvn. net/ hôm 16-7-2010 có một băng hình dàì hơn 8 phút đồng hồ, do phóng viên Quang Tâm thu hình hồi tháng 6-2010, nhan đề “Phim phóng sự về khu Bôxít Nhân Cơ (phần I)” trong đó trực tiếp quay khu đất đã giảỉ tỏa nhà dân này, đang xây một số khu nhà nơi sẽ làm xưởng khai thác mỏ bôxit, ghi lời dân địa phương cho biết là vào tháng 10-2010 vùng Tây Nguyên này sẽ đón 10,000 người từ Trung Quốc sang, trong đó 9,000 người là dân Đại Hán và 1,000 là công nhân Việt được huấn luyện kỹ thuật để sẽ làm ở nhà máy này.
Nếu chúng ta sực nhớ lại chuyện nhiều tỉnh VN đã cho các công ty TQ và Đàì Loan thuê 300,000 hecta rừng đầu nguồn, thì chuyện này dễ dàng làm chúng ta hiểu được nỗi lo của khối ASEAN khi thấy VN ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc, và dễ dàng hiểu vì sao Mỹ phải giăng dây xích Biển Đông để trấn an các nước đồng minh truyền thống như Thái Lan, Indonesia, Nhật Bản, Nam Hàn, Singapore...
Nỗi lo đó không riêng của người ngoài VN, mà còn sinh khởi từ gan ruột của nhiều cán bộ một đời hy sinh cho Đảng CSVN. Đặc biệt, là khi gần tới Đạị Hội Đảng, nhiều người lo sợ là Đảng CSVN sẽ bán đứng đất nước cho TQ để bảo đảm an toàn cho CSVN. Nghĩa là, VN sẽ là một chư hầu. Nhưng khi nhiều ngàn người TQ lặng lẽ vào các vùng núí rừng VN như thế, sẽ tới một lúc dân Hán tộc đông hơn cả đồng bào Thượng ở các vùng Tây Nguyên và rừng núi đó. Có phaỉ đó sẽ là một kịch bản mới kiểu Tây Tạng, nhưng êm thắm hơn?
Cũng trên mạng Bôxit mấy tuần trước, trong bản văn nhan đề “Thư gửi: Bộ Chính trị - Ban Bí thư Trung Ương và các Uỷ viên BCHTƯ Khoá 10” gửi từ Hà Nội, ngày 22 tháng 4 năm 2010, hàng chục vị tướng và cán bộ lão thành, trong đó có người đã 70 tuổi đảng, đã nói rất thẳng rằng xin đừng đưa “người Việt gốc nước ngoài vào” Ban Chấp Hành Trung Ương.
Tại sao thỉnh nguyện như thế? Có phải ĐCSVN dự tính đưa một người Mỹ da trắng vào Ban Chấp Hành Trung Ương?
Lá thư viết, trích:
“Một trong những nhiệm vụ cơ bản nhất của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng sắp đến (Đại hội 11) là bầu cử được Ban chấp hành T.W. gồm những đại biểu ưu tú nhất của Đảng, những người gương mẫu về phẩm chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng nhất, kiên định mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, có ý chí đấu tranh kiên cường bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, có tầm nhìn chiến lược và năng lực tổ chức chỉ đạo thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội. Tổng bí thư và các uỷ viên Bộ chính trị phải là những người ưu tú nhất trong BCH.T.W. Dứt khoát không để những người có dính đến tham nhũng và những người Việt gốc nước ngoài vào BCH.T.W.
Để có được một BCH T.W có đầy đủ các tiêu chí nói trên, công tác nhân sự đại hội cần được tiến hành công khai, dân chủ, khách quan, trong sáng và với trách nhiệm cao của mỗi đại biểu.
Nhận thức rõ, đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ người đảng viên ghi trong điều lệ Đảng, chúng tôi những cán bộ cao cấp đã nghỉ các chức danh công tác trong biên chế nhà nước, đã 80, 90 tuổi đời; 60-70 tuổi Đảng, đã đem cả tâm trí và sức lực của đời mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc, xin được đóng góp một số ý kiến về công tác nhân sự đại hội:
1.Phải đảm bảo các đại biểu về dự đại hội có đầy đủ các tiêu chí cần thiết, phải là những người ưu tú nhất về phẩm chất, đạo đức, năng lực. Bộ chính trị, Ban Bí thư T.W. khoá 10 và Ban thẩm tra tư cách đại biểu cần đề cao trách nhiệm, rà soát kỹ lưỡng, kể cả với những đại biểu là uỷ viên T.W khoá 10 để phát hiện và trình đại hội xem xét tư cách những đại biểu vừa qua có vi phạm kỷ luật và những và có dấu hiệu vi phạm kỷ luật, những người có dính đến tham nhũng, những đại biểu là người Việt gốc nước ngoài...” (hết trích)
Chỉ trong mấy đoạn văn, đã ghi rõ là xin đừng đề cử “người Việt gốc nước ngoài.” Có ai là dòng Hán tộc nơi đây chăng? Có phải Tô Huy Rứa là cháu nhiều đời của Tô Định, một tướng Tàu thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa? Có phải Trương Tấn Sang là cháu nhiều đời của Trương Phụ, một tướng Tàu đã bắt sống nhiều tướng Việt, trong đó có Đặng Dung, đưa về Yên Kinh (Bắc Kinh hiện nay) và chính Trương Phụ đã trói Nguyễn Biểu vào chân cầu để nước triều lên thì Nguyễn Biểu phải chết ngộp? Hay Hồ Đức Việt có gốc gác gì với Hồ Cẩm Đào không?
Cũng cần suy nghĩ nữa: có phải Mỹ đã thấy vua quan CSVN sắp bó thân ra hàng tướng Tàu, nên phải tập trận ầm ĩ ở các biển Châu Á để trấn an?
Than ôi, dân mình trong nước đâu có bao nhiêu người biết là nhiều sư đoàn thợ TQ đang đổ bộ vào Tây Nguyên đâu... Bị ông Tô Huy Rứa bưng tai, bịt mắt cả rồi. Mà dân mình có nói gì bất bình, thì cũng sẽ bị công an trấn áp y hệt như thời các tướng Tàu trấn áp ông bà mình nhiều thế kỷ trước.
Trẻ em Việt Nam phải đóng học phí: Nghịch lý và nỗi đau
Lê Diễn Ðức
(Nguồn: Blog Lê Diễn Ðức)
Tôi đọc tin và một số bài bình luận về “đề án” tăng học phí trong các trường mẫu giáo và phổ thông trung học công của thành phố Hà Nội.
Gây ấn tượng nhất là bài của nhà văn Phạm Viết Ðào với tựa đề: “Hà Nội nên bán trụ sở thành phố thay cho tăng học phí”.
Không biết có phải lãnh đạo thành phố Hà Nội làm ăn quá lôm côm, chụp giật, hay là những ý tưởng “lớn” chợt đến bên bàn nhậu hay không, mà suốt mấy tháng nay, đề án nào đưa ra cũng đầy trắc ẩn, bị bà con la lối om sòm.
Từ bắn pháo hoa, bóc vỉa hè, sơn phết nhà mặt tiền, đào Thành Cổ, xây cổng chào, đến chuyện biếu không 25 tỷ đồng cho mấy tờ báo đảng đưa tin về lễ hội Ngàn năm Thăng Long... - cái nào cũng bị dư luận chỉ trích mạnh mẽ và cuối cùng phải đình hoãn hoặc chấm dứt.
Rồi sáng 13/07, vào phút cuối cùng trước phiên khai mạc Hội đồng Nhân dân (HÐND), thành phố Hà Nội lại quyết định rút “đề án” tăng học phí.
Rút lại nhưng là hoãn binh, vì sẽ được đưa ra tại kỳ họp thứ 21 HÐND tới đây và nếu được thông qua sẽ bắt đầu thực hiện từ năm học 2010-2011.
Có thể có nhiều nguyên nhân cho quyết định “dừng” của Hà Nội, nhưng chắc không thể bỏ ra ngoài áp lực của công luận.
Chất lượng giáo dục
Lãnh đạo Việt Nam ưa đại ngôn, chém gió khi nói đến thế hệ trẻ, tương lai của dân tộc.
Từ hồi còn nhỏ cắp sách tới trường lứa tuổi tôi đã thuộc lòng câu nói của ông Hồ Chí Minh: “Dân tộc Việt Nam có sánh vai được với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần công học tập của các cháu”.
Mấy chục năm sau, năm 2009, trong bài diễn văn trong phiên họp Ðại hội đồng lần thứ 35 của UNESCO tại thủ đô Paris, Nguyễn Thiện Nhân Bộ trưởng Giáo dục và Ðào tạo hùng hồn khẳng định Việt Nam “coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia”.
Trong đại hội Việt Kiều tháng 11/2009, sau khi huênh hoang chuyện góp ý với Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama là làm “phân hóa nội bộ Mỹ”, ông Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói rằng, Việt Nam bây giờ cũng “đàng hoàng lắm”, “cũng ngang hàng với người ta”, v.v.
Những mẩu chuyện đầy hài hước này của các vị lãnh đạo nhà nước Việt Nam kể hoài không hết!
Trong bài viết “Ðừng để bất ngờ cá chép hóa rồng!” trên tờ “Tuổi Trẻ” ngày 28/04/2004 có đoạn:
“Một hội thảo khoa học mới đây ở Hà Nội bàn về chất lượng giáo dục đại học đi đến một nhận định “thống nhất” đáng buồn: chất lượng đào tạo đại học của Việt Nam đang tụt hậu quá xa so với thế giới! Một kết luận đủ làm giật mình những ai quan tâm đến giáo dục, trước nay vẫn tin giữ niềm tự hào về truyền thống hiếu học của dân tộc...”
Ông Phạm Quốc Trung, nghiên cứu sinh Kinh tế của đại học Kyoto (Nhật Bản), trong bài “Ðầu tư vào giáo dục để nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam” ngày 26/04/2010 đưa ra biểu đồ so sánh thứ hạng của các yếu tố trong Năng lực cạnh tranh của Việt Nam từ năm 1980 đến nay, viết:
“Dựa vào biểu đồ này, ta nhận thấy, Năng lực cạnh tranh chung của Việt Nam không thay đổi từ 1980 đến nay không phải do các yếu tố không thay đổi, mà bởi có những yếu tố phát triển đi lên, nhưng đồng thời cũng có những yếu tố tụt hậu đi xuống, khiến cho chỉ số chung không thể tăng như mong muốn.
Vậy yếu tố nào đã kéo Năng lực cạnh tranh của Việt Nam tụt lại? Dễ dàng thấy ngay đó chính là yếu tố Giáo dục. Từ thứ hạng 24 năm 1980 đã tụt xuống thứ hạng 46 năm 2008. Ngoài ra, khoa học kỹ thuật của Việt Nam chưa bao giờ được đánh giá mạnh so với các nước, luôn đứng cuối bảng từ 1990 tới nay”.
Trong kỳ họp Quốc Hội vừa qua, ông Ðào Trọng Thi chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng đã phát biểu với chí:
“Từ 1998-2009, đã có 312 trường đại học, cao đẳng được thành lập, trong đó có 64 trường được thành lập mới hoàn toàn, còn lại là nâng cấp từ bậc học thấp hơn. Nhờ đó, 35/63 tỉnh, thành phố có thêm trường đại học, cao đẳng mới”.
Theo ông Thi, sự dễ dãi này là “do quy hoạch chỉ mang tính định hướng, chưa cụ thể. Do vậy, mới xuất hiện phong trào, địa phương nào, bộ ngành nào cũng đăng ký thành lập một trường. Rồi vì những lý do này hay lý do khác, rất ít đề án thành lập trường bị từ chối... Ðây cũng là nguyên nhân dẫn đến bất cập là quy mô đào tạo vượt xa năng lực đào tạo và suất đầu tư cho sinh viên cũng rất thấp, trong khi đó là một trong những tiêu chí rất quan trọng”.
Hãy khoan bàn đến chuyện bằng cấp giấy, rởm phổ biến, từ các nhận định nêu trên, đưa ra đề án đào tạo và cấp hơn 20 ngàn bằng tiến sĩ (cho nhau) từ các trường đại học này trong mươi năm tới, quả thực ngành giáo dục XHCN Việt Nam chẳng hề biết hổ thẹn. Mang bằng tiến sĩ loại này ra nước ngoài làm việc hay thi thố chắc chỉ dám chui đầu vào cát.
Người ta bàn đến nhiều nguyên nhân, nhưng theo tôi, chất lượng sinh viên đại học không thể nào tốt được khi thế hệ mầm non trên ghế nhà trường phổ thông không được nhà nước ưu đãi, đầu tư đúng mức và lương thiện.
Cũng tờ “Tuổi Trẻ” đã dẫn, viết:
“Một cán bộ ở trường đại học nọ sau mấy năm tỉ mẩn giở học bạ phổ thông của những sinh viên trúng tuyển đã rút ra kết luận giật mình: không ít học sinh học rất kém thời phổ thông, thậm chí điểm những môn sẽ thi tuyển đầu vào đại học còn chưa đạt mức trung bình. Vậy mà bất ngờ ‘cá chép hóa rồng’, họ vẫn xênh xang vào được cổng trường đại học! Vẫn những môn học ấy, vẫn những sĩ tử đội sổ ấy, mà ‘cơ trời’ (hay ‘cơ chế’) nào đã giúp họ lội ngược dòng ngoạn mục đến như vậy?”
Học phí? Nghe như chuyện lạ!
Nhiều người Việt trong nước, một mặt không chịu tiếp cận thông tin đa chiều, mặt khác từ lúc còn thơ tới tuổi trường thành, có khi cả cuộc đời, bị bộ máy tuyên truyền của nhà nước nhồi nhét liên tục nên bị bệnh tự kỷ ám thị.
Ðội quân của hội chứng tự kỷ ám thị này rất đông, cả trên diễn đàn này cũng thường xuất hiện, mang màu sắc và cường độ bệnh hoạn khác nhau. Kẻ may mắn thì nói như vẹt, tệ hơn thì đã trở thành những “con chó của Pavlov”.
Thấy được tự do nhậu nhẹt, ăn chơi sa đọa, thả sức đua nhau kiếm tiền (bất chấp mọi tiêu chuẩn đạo đức, vì có tiền là có thể giải quyết được mọi chuyện êm xuôi, dù bất chính), được đi du lịch vài nước Châu Á, xe gắn máy thay cho xe đạp, nhà cao tầng ở các thành phố mọc lên, dân chúng có vẻ yên phận (mà thực tế chỉ là tấm áo choàng giả tạo)... - họ cho rằng đất nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản (CS) Việt Nam đang hòa bình, ổn định, phát triển, v.v. Làm như Việt Nam là rốn của nhân loại!
Bất kể ai nói khác với đảng, nếu là ở nước ngoài thì ngay lập tức bị chụp mũ phản động, được Mỹ tài trợ, cho tiền, làm tay sai; còn nếu ở trong nước thì thuộc thành phần bất mãn, già cả, vô tích sự... Cái gì đụng đến Mỹ là tệ hại, xấu xa. Bài ca hay nhất là gợi lại tội ác của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc cách đây hơn 35 năm, mặc dù hai bên đã bình thường hóa quan hệ và Mỹ đang đi thẳng vào Việt Nam làm ăn bằng cửa chính.
Ðôi khi nghe họ nói tôi vừa thương hại, vừa buồn cười. Giá như nói ra cái xấu của Ðảng CS Việt Nam mà được Mỹ cho tiền (như họ nghĩ), giờ này chắc nhiều người giàu to, trong đó có tôi. Thử hỏi xem người nào biết FBI, CIA hay cơ quan nào của Mỹ cho tiền và chỉ dẫn giúp làm sao có thể xin được thì tôi sẵn sàng mua mấy cuốn tập học trò, tôn người đó làm thầy để theo học!
Những gì không được ưa chuộng trong xã hội Mỹ, tùy quan điểm và trải nghiệm mà mỗi người tự đánh giá - Tất nhiên! Tôi chẳng bao giờ quá tự ty, mặc cảm để chỉ nghĩ về sự thua kém của Việt Nam, cũng không ngợp trước đời sống thịnh vượng của các nước tư bản phát triển. Biết người biết ta, tôi khiêm nhường và trung thực nói với người ngoài về những cái hay, cái đẹp của dân tộc mình. Tôi rất ghét những ai đã không biết nhưng lại thích phán gàn, phàm cái gì thuộc Mỹ, thuộc xã hội tư bản là xấu, trong khi cố tình nhắm mắt trước hiện tượng con cái của quan chức cộng sản và lớp trọc phú mới nổi gửi con đi học nhiều nhất tại Hoa Kỳ và Anh...
Hồi Việt Nam còn chiến tranh, nghèo khổ, tôi nhớ mình không phải đóng học phí. Hòa bình, mấy đứa con tôi không “được” học hành trên đất CHXHCN Việt Nam của “Ðảng CS Việt Nam quang vinh”, nên khi nghe chuyện học sinh phổ thông ở Việt Nam phải nộp tiền học phí và thành phố Hà Nội sẽ tăng lên gấp hai, ba lần mức hiện tại, tôi thấy làm lạ.
Trong các trường tiểu học, trung học công ở Ba Lan hay ở Mỹ nơi các con tôi theo học không có khái niệm học phí. Các em ở đây đến tuổi mà không tới trường, cha mẹ còn bị pháp luật trừng phạt. Khoản duy nhất phụ huynh chi cho con cái ở trường là tiền ăn trưa với giá bèo, vì được nhà nước trợ cấp. Nếu bố mẹ có khó khăn kinh tế, chỉ cần điền vào mẫu đơn in sẵn, tiền ăn được miễn luôn mà không bị đòi hỏi bất cứ giấy tờ gì chứng minh thu nhập. Ngoài ra tất cả trường công của Mỹ cung cấp phương tiện đón học sinh phổ thông tới trường và đưa về nhà rất chu đáo, an toàn và hoàn toàn miễn phí.
Trong bài “Nước Mỹ 20 năm qua, những cái hay và cái dở” (trên Weblog này) nhận xét “Hoa Kỳ là quốc gia của trẻ em”, nhà báo Ba Lan viết: “Trường học, thậm chí cả những trường không thuộc loại tốt, rất thân thiện. Số lượng thời gian mà cha mẹ bỏ ra cho các hoạt động sau giờ học của trẻ em là không thể tưởng tượng nổi”.
Những ai có con nhỏ đi học ở Mỹ mới cảm nhận hết được sự gần gũi và thân thiện giữa trẻ em và mái trường. Tựa như tác giả Lê Minh Quân viết trên tờ “Tiền Phong”:
“Tôi đã được nghe kể một câu chuyện vui về chất lượng giáo dục như sau: “Trong một cuộc họp báo cáo quốc tế về chất lượng giáo dục, có rất nhiều nước - trong đó có Việt Nam - rất tự tin kể về thành tích trong giáo dục của mình là đạt loại Tốt bao nhiêu %, Khá bao nhiêu %, Ðạt yêu cầu bao nhiêu %...
Nước chủ nhà lên báo cáo cuối cùng. Họ báo cáo bằng cách kể câu chuyện: Buổi sáng khi cha mẹ đưa con cái đến trường, những đứa trẻ chạy ùa vào vòng tay chào đón của các cô giáo, còn buổi chiều các con lại rời vòng tay ấm áp của cô giáo để về với cha mẹ, đó chính là chất lượng giáo dục”.
Lời kết
Hơn ba thập kỷ sau chiến tranh, đã, đang và sẽ còn thực hiện hàng loạt siêu dự án hàng tỷ, hàng chục tỷ đô la với những ảo tưởng điên rồ, cùng với sự lãng phí, thất thoát kinh khủng, nhưng nhà nước CHXHCN Việt Nam vẫn không bao nổi chuyện học hành của trẻ em.
Trong bài “Chúng ta còn thua kém nhiều dân tộc khác trên thế giới” trên Blog “1nguoiviet”, trước khi kết luận bằng chữ “nếu...” tác giả phân tích:
“Tới năm 2007, trong hơn 30 năm qua, Việt kiều gởi về khoảng 70 đến 80 tỷ Mỹ kim, cộng thêm một số tiền đầu tư trực tiếp và gián tiếp của ngoại quốc 100 tỷ Mỹ kim (trong các công trình hợp doanh, phía đầu tư của Viện Nam chỉ chiếm khoảng 10% số này) và viện trợ ODA khoảng 20 tỷ. Với số tiền khổng lồ khoảng 200 tỷ đó chưa kể Tổng sản lượng quốc dân (GDP) khoảng 500 tỷ do người Việt làm ra trong thời gian này”.
Những con số không nói dối! Chỉ cần lấy một phần từ sự tổn thất tiền bạc (mà dư luận xác quyết từ 10-30% trên một dự án) của các công trình chuyển cho đầu tư giáo dục thế hệ mầm non, thì các em học sinh Việt Nam vốn đã khổ đủ điều, đâu còn phải gánh thêm tiền học phí!
Lê Diễn Ðức
(Nguồn: Blog Lê Diễn Ðức)
Tôi đọc tin và một số bài bình luận về “đề án” tăng học phí trong các trường mẫu giáo và phổ thông trung học công của thành phố Hà Nội.
Gây ấn tượng nhất là bài của nhà văn Phạm Viết Ðào với tựa đề: “Hà Nội nên bán trụ sở thành phố thay cho tăng học phí”.
Không biết có phải lãnh đạo thành phố Hà Nội làm ăn quá lôm côm, chụp giật, hay là những ý tưởng “lớn” chợt đến bên bàn nhậu hay không, mà suốt mấy tháng nay, đề án nào đưa ra cũng đầy trắc ẩn, bị bà con la lối om sòm.
Từ bắn pháo hoa, bóc vỉa hè, sơn phết nhà mặt tiền, đào Thành Cổ, xây cổng chào, đến chuyện biếu không 25 tỷ đồng cho mấy tờ báo đảng đưa tin về lễ hội Ngàn năm Thăng Long... - cái nào cũng bị dư luận chỉ trích mạnh mẽ và cuối cùng phải đình hoãn hoặc chấm dứt.
Rồi sáng 13/07, vào phút cuối cùng trước phiên khai mạc Hội đồng Nhân dân (HÐND), thành phố Hà Nội lại quyết định rút “đề án” tăng học phí.
Rút lại nhưng là hoãn binh, vì sẽ được đưa ra tại kỳ họp thứ 21 HÐND tới đây và nếu được thông qua sẽ bắt đầu thực hiện từ năm học 2010-2011.
Có thể có nhiều nguyên nhân cho quyết định “dừng” của Hà Nội, nhưng chắc không thể bỏ ra ngoài áp lực của công luận.
Chất lượng giáo dục
Lãnh đạo Việt Nam ưa đại ngôn, chém gió khi nói đến thế hệ trẻ, tương lai của dân tộc.
Từ hồi còn nhỏ cắp sách tới trường lứa tuổi tôi đã thuộc lòng câu nói của ông Hồ Chí Minh: “Dân tộc Việt Nam có sánh vai được với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần công học tập của các cháu”.
Mấy chục năm sau, năm 2009, trong bài diễn văn trong phiên họp Ðại hội đồng lần thứ 35 của UNESCO tại thủ đô Paris, Nguyễn Thiện Nhân Bộ trưởng Giáo dục và Ðào tạo hùng hồn khẳng định Việt Nam “coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia”.
Trong đại hội Việt Kiều tháng 11/2009, sau khi huênh hoang chuyện góp ý với Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama là làm “phân hóa nội bộ Mỹ”, ông Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói rằng, Việt Nam bây giờ cũng “đàng hoàng lắm”, “cũng ngang hàng với người ta”, v.v.
Những mẩu chuyện đầy hài hước này của các vị lãnh đạo nhà nước Việt Nam kể hoài không hết!
Trong bài viết “Ðừng để bất ngờ cá chép hóa rồng!” trên tờ “Tuổi Trẻ” ngày 28/04/2004 có đoạn:
“Một hội thảo khoa học mới đây ở Hà Nội bàn về chất lượng giáo dục đại học đi đến một nhận định “thống nhất” đáng buồn: chất lượng đào tạo đại học của Việt Nam đang tụt hậu quá xa so với thế giới! Một kết luận đủ làm giật mình những ai quan tâm đến giáo dục, trước nay vẫn tin giữ niềm tự hào về truyền thống hiếu học của dân tộc...”
Ông Phạm Quốc Trung, nghiên cứu sinh Kinh tế của đại học Kyoto (Nhật Bản), trong bài “Ðầu tư vào giáo dục để nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam” ngày 26/04/2010 đưa ra biểu đồ so sánh thứ hạng của các yếu tố trong Năng lực cạnh tranh của Việt Nam từ năm 1980 đến nay, viết:
“Dựa vào biểu đồ này, ta nhận thấy, Năng lực cạnh tranh chung của Việt Nam không thay đổi từ 1980 đến nay không phải do các yếu tố không thay đổi, mà bởi có những yếu tố phát triển đi lên, nhưng đồng thời cũng có những yếu tố tụt hậu đi xuống, khiến cho chỉ số chung không thể tăng như mong muốn.
Vậy yếu tố nào đã kéo Năng lực cạnh tranh của Việt Nam tụt lại? Dễ dàng thấy ngay đó chính là yếu tố Giáo dục. Từ thứ hạng 24 năm 1980 đã tụt xuống thứ hạng 46 năm 2008. Ngoài ra, khoa học kỹ thuật của Việt Nam chưa bao giờ được đánh giá mạnh so với các nước, luôn đứng cuối bảng từ 1990 tới nay”.
Trong kỳ họp Quốc Hội vừa qua, ông Ðào Trọng Thi chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng đã phát biểu với chí:
“Từ 1998-2009, đã có 312 trường đại học, cao đẳng được thành lập, trong đó có 64 trường được thành lập mới hoàn toàn, còn lại là nâng cấp từ bậc học thấp hơn. Nhờ đó, 35/63 tỉnh, thành phố có thêm trường đại học, cao đẳng mới”.
Theo ông Thi, sự dễ dãi này là “do quy hoạch chỉ mang tính định hướng, chưa cụ thể. Do vậy, mới xuất hiện phong trào, địa phương nào, bộ ngành nào cũng đăng ký thành lập một trường. Rồi vì những lý do này hay lý do khác, rất ít đề án thành lập trường bị từ chối... Ðây cũng là nguyên nhân dẫn đến bất cập là quy mô đào tạo vượt xa năng lực đào tạo và suất đầu tư cho sinh viên cũng rất thấp, trong khi đó là một trong những tiêu chí rất quan trọng”.
Hãy khoan bàn đến chuyện bằng cấp giấy, rởm phổ biến, từ các nhận định nêu trên, đưa ra đề án đào tạo và cấp hơn 20 ngàn bằng tiến sĩ (cho nhau) từ các trường đại học này trong mươi năm tới, quả thực ngành giáo dục XHCN Việt Nam chẳng hề biết hổ thẹn. Mang bằng tiến sĩ loại này ra nước ngoài làm việc hay thi thố chắc chỉ dám chui đầu vào cát.
Người ta bàn đến nhiều nguyên nhân, nhưng theo tôi, chất lượng sinh viên đại học không thể nào tốt được khi thế hệ mầm non trên ghế nhà trường phổ thông không được nhà nước ưu đãi, đầu tư đúng mức và lương thiện.
Cũng tờ “Tuổi Trẻ” đã dẫn, viết:
“Một cán bộ ở trường đại học nọ sau mấy năm tỉ mẩn giở học bạ phổ thông của những sinh viên trúng tuyển đã rút ra kết luận giật mình: không ít học sinh học rất kém thời phổ thông, thậm chí điểm những môn sẽ thi tuyển đầu vào đại học còn chưa đạt mức trung bình. Vậy mà bất ngờ ‘cá chép hóa rồng’, họ vẫn xênh xang vào được cổng trường đại học! Vẫn những môn học ấy, vẫn những sĩ tử đội sổ ấy, mà ‘cơ trời’ (hay ‘cơ chế’) nào đã giúp họ lội ngược dòng ngoạn mục đến như vậy?”
Học phí? Nghe như chuyện lạ!
Nhiều người Việt trong nước, một mặt không chịu tiếp cận thông tin đa chiều, mặt khác từ lúc còn thơ tới tuổi trường thành, có khi cả cuộc đời, bị bộ máy tuyên truyền của nhà nước nhồi nhét liên tục nên bị bệnh tự kỷ ám thị.
Ðội quân của hội chứng tự kỷ ám thị này rất đông, cả trên diễn đàn này cũng thường xuất hiện, mang màu sắc và cường độ bệnh hoạn khác nhau. Kẻ may mắn thì nói như vẹt, tệ hơn thì đã trở thành những “con chó của Pavlov”.
Thấy được tự do nhậu nhẹt, ăn chơi sa đọa, thả sức đua nhau kiếm tiền (bất chấp mọi tiêu chuẩn đạo đức, vì có tiền là có thể giải quyết được mọi chuyện êm xuôi, dù bất chính), được đi du lịch vài nước Châu Á, xe gắn máy thay cho xe đạp, nhà cao tầng ở các thành phố mọc lên, dân chúng có vẻ yên phận (mà thực tế chỉ là tấm áo choàng giả tạo)... - họ cho rằng đất nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản (CS) Việt Nam đang hòa bình, ổn định, phát triển, v.v. Làm như Việt Nam là rốn của nhân loại!
Bất kể ai nói khác với đảng, nếu là ở nước ngoài thì ngay lập tức bị chụp mũ phản động, được Mỹ tài trợ, cho tiền, làm tay sai; còn nếu ở trong nước thì thuộc thành phần bất mãn, già cả, vô tích sự... Cái gì đụng đến Mỹ là tệ hại, xấu xa. Bài ca hay nhất là gợi lại tội ác của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc cách đây hơn 35 năm, mặc dù hai bên đã bình thường hóa quan hệ và Mỹ đang đi thẳng vào Việt Nam làm ăn bằng cửa chính.
Ðôi khi nghe họ nói tôi vừa thương hại, vừa buồn cười. Giá như nói ra cái xấu của Ðảng CS Việt Nam mà được Mỹ cho tiền (như họ nghĩ), giờ này chắc nhiều người giàu to, trong đó có tôi. Thử hỏi xem người nào biết FBI, CIA hay cơ quan nào của Mỹ cho tiền và chỉ dẫn giúp làm sao có thể xin được thì tôi sẵn sàng mua mấy cuốn tập học trò, tôn người đó làm thầy để theo học!
Những gì không được ưa chuộng trong xã hội Mỹ, tùy quan điểm và trải nghiệm mà mỗi người tự đánh giá - Tất nhiên! Tôi chẳng bao giờ quá tự ty, mặc cảm để chỉ nghĩ về sự thua kém của Việt Nam, cũng không ngợp trước đời sống thịnh vượng của các nước tư bản phát triển. Biết người biết ta, tôi khiêm nhường và trung thực nói với người ngoài về những cái hay, cái đẹp của dân tộc mình. Tôi rất ghét những ai đã không biết nhưng lại thích phán gàn, phàm cái gì thuộc Mỹ, thuộc xã hội tư bản là xấu, trong khi cố tình nhắm mắt trước hiện tượng con cái của quan chức cộng sản và lớp trọc phú mới nổi gửi con đi học nhiều nhất tại Hoa Kỳ và Anh...
Hồi Việt Nam còn chiến tranh, nghèo khổ, tôi nhớ mình không phải đóng học phí. Hòa bình, mấy đứa con tôi không “được” học hành trên đất CHXHCN Việt Nam của “Ðảng CS Việt Nam quang vinh”, nên khi nghe chuyện học sinh phổ thông ở Việt Nam phải nộp tiền học phí và thành phố Hà Nội sẽ tăng lên gấp hai, ba lần mức hiện tại, tôi thấy làm lạ.
Trong các trường tiểu học, trung học công ở Ba Lan hay ở Mỹ nơi các con tôi theo học không có khái niệm học phí. Các em ở đây đến tuổi mà không tới trường, cha mẹ còn bị pháp luật trừng phạt. Khoản duy nhất phụ huynh chi cho con cái ở trường là tiền ăn trưa với giá bèo, vì được nhà nước trợ cấp. Nếu bố mẹ có khó khăn kinh tế, chỉ cần điền vào mẫu đơn in sẵn, tiền ăn được miễn luôn mà không bị đòi hỏi bất cứ giấy tờ gì chứng minh thu nhập. Ngoài ra tất cả trường công của Mỹ cung cấp phương tiện đón học sinh phổ thông tới trường và đưa về nhà rất chu đáo, an toàn và hoàn toàn miễn phí.
Trong bài “Nước Mỹ 20 năm qua, những cái hay và cái dở” (trên Weblog này) nhận xét “Hoa Kỳ là quốc gia của trẻ em”, nhà báo Ba Lan viết: “Trường học, thậm chí cả những trường không thuộc loại tốt, rất thân thiện. Số lượng thời gian mà cha mẹ bỏ ra cho các hoạt động sau giờ học của trẻ em là không thể tưởng tượng nổi”.
Những ai có con nhỏ đi học ở Mỹ mới cảm nhận hết được sự gần gũi và thân thiện giữa trẻ em và mái trường. Tựa như tác giả Lê Minh Quân viết trên tờ “Tiền Phong”:
“Tôi đã được nghe kể một câu chuyện vui về chất lượng giáo dục như sau: “Trong một cuộc họp báo cáo quốc tế về chất lượng giáo dục, có rất nhiều nước - trong đó có Việt Nam - rất tự tin kể về thành tích trong giáo dục của mình là đạt loại Tốt bao nhiêu %, Khá bao nhiêu %, Ðạt yêu cầu bao nhiêu %...
Nước chủ nhà lên báo cáo cuối cùng. Họ báo cáo bằng cách kể câu chuyện: Buổi sáng khi cha mẹ đưa con cái đến trường, những đứa trẻ chạy ùa vào vòng tay chào đón của các cô giáo, còn buổi chiều các con lại rời vòng tay ấm áp của cô giáo để về với cha mẹ, đó chính là chất lượng giáo dục”.
Lời kết
Hơn ba thập kỷ sau chiến tranh, đã, đang và sẽ còn thực hiện hàng loạt siêu dự án hàng tỷ, hàng chục tỷ đô la với những ảo tưởng điên rồ, cùng với sự lãng phí, thất thoát kinh khủng, nhưng nhà nước CHXHCN Việt Nam vẫn không bao nổi chuyện học hành của trẻ em.
Trong bài “Chúng ta còn thua kém nhiều dân tộc khác trên thế giới” trên Blog “1nguoiviet”, trước khi kết luận bằng chữ “nếu...” tác giả phân tích:
“Tới năm 2007, trong hơn 30 năm qua, Việt kiều gởi về khoảng 70 đến 80 tỷ Mỹ kim, cộng thêm một số tiền đầu tư trực tiếp và gián tiếp của ngoại quốc 100 tỷ Mỹ kim (trong các công trình hợp doanh, phía đầu tư của Viện Nam chỉ chiếm khoảng 10% số này) và viện trợ ODA khoảng 20 tỷ. Với số tiền khổng lồ khoảng 200 tỷ đó chưa kể Tổng sản lượng quốc dân (GDP) khoảng 500 tỷ do người Việt làm ra trong thời gian này”.
Những con số không nói dối! Chỉ cần lấy một phần từ sự tổn thất tiền bạc (mà dư luận xác quyết từ 10-30% trên một dự án) của các công trình chuyển cho đầu tư giáo dục thế hệ mầm non, thì các em học sinh Việt Nam vốn đã khổ đủ điều, đâu còn phải gánh thêm tiền học phí!
Thư bà Trần Khải Thanh Thủy gửi con gái
Trần Khải Thanh Thủy
Thanh Hóa, 5-6-2010
Thủy Tiên thương yêu,
Vào tù mẹ nhớ con nhiều lắm, dõi theo từng bước chân con, lòng đầy tự hào vì con gái mẹ đã trưởng thành vượt bực, đã hoàn toàn thoát khỏi bóng râm của mẹ và vươn lên phô sắc, khoe hương, tự khẳng định mình và còn lo lắng quan tâm sâu sắc đến mẹ nữa. Hy vọng những việc con đang làm cho mẹ sẽ được toại nguyện, thành công mỹ mãn vì số con vốn đã gặp may, lại thêm tấm lòng và ý chí của con luôn hướng về mẹ nữa.
Mẹ mừng vì không đơn độc, sau lưng mẹ là con, là cả gia đình thân thương gồm bà, bố, em An Khuê, cậu mợ và hai em Khải Nam, và Hiên Nhi cùng bao nhiêu tấm lòng bạn bè của bà con cô bác khác.
Thành thật mẹ ấm lòng vì con đang ở trong vòng tay yêu thương của mọi người. Bi kịch tạo nên thiên tài… Vì nỗi đau của mẹ mà con được nhiều người biết tới, nâng đỡ, chở che để con phấn đấu và trưởng thành, lớn hơn tầm kích của mình.
Phần mẹ về trại từ 29-4. Một mình một xe, hai tay bị còng - đúng chân dung của một con tù, khác hẳn với chân dung ngoài đời mà con đã từng biết (Làm nghề gì, có chân dung của người đó). Hy vọng nhờ những việc làm thiết thực của con, thông qua tấm lòng của bạn bè, bà con cô bác mà mẹ sớm được giải thoát.
Khí hậu Lam Sơn vô cùng khắc nghiệt con ạ. Ở nhà quanh mẹ là cả một trạm y tế thu nhỏ. Nào bình thở Ô Xy, nào giường massage, nào bác sỹ chăm sóc riêng (Bác Sỹ Nguyễn Thị Nga – Giám đốc bệnh viện Nội Tiết) rồi bác Hòa thường xuyên đến cứu huyệt cho mẹ 1 ngày 1 lần 1 tiếng rưỡi đồng hồ… còn ở đây, mẹ đã kiệt quệ sau 6 tháng 21 ngày bị giam cứu tại Hỏa Lò, giờ về trại thêm cái nắng nóng nung người của Vùng Chướng Khí Lam Sơn (thường xuyên 37-39, 40 độ C) cùng qui định quá khắc nghiệt của trại tù. Sáng 5 giờ đã trở dậy, điểm danh, ăn sáng, 6 giờ ra sân chung chờ đợi, xuất trại để 6h30 có mặt tại xưởng, cho đến 11giờ mới được về, sau một lần chờ đợi khám xét, vào buồng và lại điểm danh.
Tắm giữa giếng sâu hun hút và chật chội kinh người (200-250 người) trên đầu là nắng nóng kinh hoàng. Nhìn xuống lòng giếng đã chóng mặt, huống hồ múc nước tắm giặt, thở ra cả mang tai… Tất cả tồng ngồng trong bộ cánh Eva, chung quanh là cả thế giới phụ nữ. Thật không khác gì cảnh bầy đàn ăn lông ở lổ từ thời đại hồng hoang nguyên thủy con ạ. Mất hết khái niệm về phái đẹp, về sự kín đáo duyên dáng của phụ nữ - Có lẽ không nơi nào trên thế giới này còn nền văn mình rừng rú, lõa lồ, thô thiển đến vậy. Hoàn toàn chỉ còn là phần con không còn phần người. Nhìn đã đủ rùng mình gai lạnh, huống hồ phải hội nhập, trãi nghiệm.
11 giờ 30 phút ăn trưa, 12 giờ đi nghỉ đến 12 giờ 30 lại trở dậy, ra sân chung xuất trại đến 5 giờ mới về. Xưởng bạc không được dùng quạt, còn phải che chắn bao tải, ni long, chăn cũ để bạc không bay… nóng không khác gì lò hấp thịt người khổng lồ (thường xuyên ở mức 40-42 độ C) hút kiệt cả sức lực của người tù… Không dưới chục lần mẹ nghe bạn tù kể lại: Suốt 3 tháng mùa hè, cả bầu trời xứ Thanh như một quả cầu lửa, những cơn gió lào vô tình tạt sang từ bên kia biên giới. Ai nấy ngộp thở như bị rang trong chảo nóng. Bụng dạ, ruột rà cứ bỏng rát lên từng đoạn như thể bị ai thò tay vào kéo căng ra phơi dưới nắng. Vạn vật hổn hển vì thiếu Ô Xy, ngực nhói lên từng cơn sau mỗi nhịp thở, cảm giác nóng bỏng len vào từng làn da, thớ thịt, máu cạn dần sau 3 tháng trời nắng quần, đất hun… Khăn trùm, đầu mặt tay chân kín mít chỉ để hở hai con mắt, ngồi thở mà mặt mũi tay chân đen thủi đen thui, hệt như cột nhà cháy.
Chiều 6 giờ đóng khu, tắm rửa, ăn uống để 6 giờ 30 điểm danh, khóa buồng chờ điện bật sáng. Có lẽ không ở đâu như Việt Nam mình con ạ, mất điện đã trở thành điều bình thường như cơm bữa. Thoạt đầu mới vào hè thì một ngày có, một ngày mất, càng nóng nhiều thì 2 ngày mất, một ngày có. Quả là phú quý giật lùi. Trong khi các nước tiến bộ được khuyến khích dùng điện thì Việt Nam phụ thuộc vào độ chảy của các dòng sông, nước cạn, điện cũng cạn theo. Nghèo nàn, dốt nát, lạc hậu, không biết hội nhập toàn cầu, xa lộ thông tin theo kiểu gì nữa, ngoài kiểu bótay.com.
Ồn ào, căng thẳng đến 12 giờ đêm, tất cả mới chìm vào giấc ngủ. Mẹ bị suy nhược thần kinh nặng, chỉ cần người bên cạnh ho lắng, khịt mũi, cựa chân, lật tay,… thế là lại tỉnh. Đến 5 giờ sáng nhịp điệu lại bắt đầu, căng thẳng mệt nhoài như những ngày trước và sau đó.
Thiếu ngủ trầm trọng, nắng nóng kinh hoàng, mẹ gần như dở điên dở dại vì những cơn đau đầu tra tấn, lại thêm nhiễm khuẩn đường ruột, ngày ôm bụng “xổ ruột” cả chục lần, khiến sức khỏe vốn kiệt quệ càng kiệt quệ hơn, trong vòng nữa tháng, sút mất 3 kg thịt. Ai nhìn cũng chán.
Cũng may mẹ được giám thị Hai cho nghỉ dưỡng bệnh 1 tháng, vì thế vừa kịp hồi sức, vội viết thư cho con ngay đây.
Thủy Tiên con, sang Pháp chưa đầy 10 tháng, mẹ biết con đã sang Mỹ, Bỉ, Thụy Điển nhiều lần so với tuổi 20 của con quả là điều hạnh phúc lớn lao. Song dù thế nào cũng không được ảnh hưởng tới việc học tập con nhé.
Mẹ biết con sáng dạ vì quá khứ có sức mạnh di truyền, con được thừa hưởng từ ông ngoại, từ mẹ hệ DNA rất quý, hơn nữa, quá trình nhận thức gắn liền với hứng thú. Giỏi ngoại ngữ, con lại vào trường ngôn ngữ nên càng có điều kiện khẳng định năng lực của mình. Biết thêm một ngoại ngữ là sống thêm một cuộc đời, con biết 4 ngoại ngữ, sống phong phú hơn cuộc đời bố mẹ, ông bà 4 lần đấy con ạ. Con cố tận dụng cơ hội để bật lên nhé. Đừng vì được đi đó đi đây mà sao lãng việc học tập. Hơn bao giờ hết, mẹ đặt hy vọng vào con nhiều lắm. Từ khi con tròn 1 tuổi, ru con ngủ, con thuộc làu bài ru của mẹ, rồi 3 tuổi, nét vẻ mềm mại, tinh tế của con đã làm mẹ giật mình và kỳ vọng vào con rất nhiều. Từ khi con lên 6 học hệ chuyên Pháp, thi đổ thủ khoa 9,75 điểm, mẹ đã biết con chính là sự bù đắp cho số phận mẹ, khi trước đó, vì phải đi thực tập sư phạm thực tế, sản xuất ở những vùng quê hẻo lánh nước đọng, ao tù mà mẹ bị viên tắt ống dẫn trứng, chửa ngoài dạ con, chết đi sống lại. Suốt 12 năm học của con, đặc biệt những năm con thi vào cấp III, thi hệ nào đổ vào hệ ấy, thi trường nào đổ vào trường ấy, vào học tại Amtecdam, mẹ lại càng tin tưởng và kỳ vọng ở con hơn. Thực tế con đã không làm mẹ thất vọng, ngược lại con là niềm tự hào của cả đại gia đình mình, đặc biệt là bên nội,… Bây giờ được sang Pháp, điều kiện, môi trường thuận lợi, con càng phải phát huy thế mạnh của bản thân con nhé.
Nhớ viết thư thăm mẹ - cho mẹ gửi lời chào quý trọng và đầy biết ơn tới các cô, dì chú bác bên Pháp, Mỹ, Thụy Điển và Bỉ. Mẹ mong từng ngày được ra tù để có điều kiện đền đáp tấm lòng thương yêu chăm sóc, lo lắng quan tâm của tất cả tới mẹ. Con đang sống thay cả phần mẹ. Phải hết sức khiêm nhường lễ độ con nhé. Càng hiểu biết càng phải nhu mì, lễ phép con ạ. Thế mới là con gái của mẹ, mới xứng đáng với tấm lòng của bạn bè, cô dì chú bác giành cho mẹ, thông qua con.
Ký tên
Trần Khải Thanh Thủy
Địa chỉ của mẹ:
Đội 21-K4-Trại 5- Lam Sơn - Thanh Hoá
Trần Khải Thanh Thủy
Thanh Hóa, 5-6-2010
Thủy Tiên thương yêu,
Vào tù mẹ nhớ con nhiều lắm, dõi theo từng bước chân con, lòng đầy tự hào vì con gái mẹ đã trưởng thành vượt bực, đã hoàn toàn thoát khỏi bóng râm của mẹ và vươn lên phô sắc, khoe hương, tự khẳng định mình và còn lo lắng quan tâm sâu sắc đến mẹ nữa. Hy vọng những việc con đang làm cho mẹ sẽ được toại nguyện, thành công mỹ mãn vì số con vốn đã gặp may, lại thêm tấm lòng và ý chí của con luôn hướng về mẹ nữa.
Mẹ mừng vì không đơn độc, sau lưng mẹ là con, là cả gia đình thân thương gồm bà, bố, em An Khuê, cậu mợ và hai em Khải Nam, và Hiên Nhi cùng bao nhiêu tấm lòng bạn bè của bà con cô bác khác.
Thành thật mẹ ấm lòng vì con đang ở trong vòng tay yêu thương của mọi người. Bi kịch tạo nên thiên tài… Vì nỗi đau của mẹ mà con được nhiều người biết tới, nâng đỡ, chở che để con phấn đấu và trưởng thành, lớn hơn tầm kích của mình.
Phần mẹ về trại từ 29-4. Một mình một xe, hai tay bị còng - đúng chân dung của một con tù, khác hẳn với chân dung ngoài đời mà con đã từng biết (Làm nghề gì, có chân dung của người đó). Hy vọng nhờ những việc làm thiết thực của con, thông qua tấm lòng của bạn bè, bà con cô bác mà mẹ sớm được giải thoát.
Khí hậu Lam Sơn vô cùng khắc nghiệt con ạ. Ở nhà quanh mẹ là cả một trạm y tế thu nhỏ. Nào bình thở Ô Xy, nào giường massage, nào bác sỹ chăm sóc riêng (Bác Sỹ Nguyễn Thị Nga – Giám đốc bệnh viện Nội Tiết) rồi bác Hòa thường xuyên đến cứu huyệt cho mẹ 1 ngày 1 lần 1 tiếng rưỡi đồng hồ… còn ở đây, mẹ đã kiệt quệ sau 6 tháng 21 ngày bị giam cứu tại Hỏa Lò, giờ về trại thêm cái nắng nóng nung người của Vùng Chướng Khí Lam Sơn (thường xuyên 37-39, 40 độ C) cùng qui định quá khắc nghiệt của trại tù. Sáng 5 giờ đã trở dậy, điểm danh, ăn sáng, 6 giờ ra sân chung chờ đợi, xuất trại để 6h30 có mặt tại xưởng, cho đến 11giờ mới được về, sau một lần chờ đợi khám xét, vào buồng và lại điểm danh.
Tắm giữa giếng sâu hun hút và chật chội kinh người (200-250 người) trên đầu là nắng nóng kinh hoàng. Nhìn xuống lòng giếng đã chóng mặt, huống hồ múc nước tắm giặt, thở ra cả mang tai… Tất cả tồng ngồng trong bộ cánh Eva, chung quanh là cả thế giới phụ nữ. Thật không khác gì cảnh bầy đàn ăn lông ở lổ từ thời đại hồng hoang nguyên thủy con ạ. Mất hết khái niệm về phái đẹp, về sự kín đáo duyên dáng của phụ nữ - Có lẽ không nơi nào trên thế giới này còn nền văn mình rừng rú, lõa lồ, thô thiển đến vậy. Hoàn toàn chỉ còn là phần con không còn phần người. Nhìn đã đủ rùng mình gai lạnh, huống hồ phải hội nhập, trãi nghiệm.
11 giờ 30 phút ăn trưa, 12 giờ đi nghỉ đến 12 giờ 30 lại trở dậy, ra sân chung xuất trại đến 5 giờ mới về. Xưởng bạc không được dùng quạt, còn phải che chắn bao tải, ni long, chăn cũ để bạc không bay… nóng không khác gì lò hấp thịt người khổng lồ (thường xuyên ở mức 40-42 độ C) hút kiệt cả sức lực của người tù… Không dưới chục lần mẹ nghe bạn tù kể lại: Suốt 3 tháng mùa hè, cả bầu trời xứ Thanh như một quả cầu lửa, những cơn gió lào vô tình tạt sang từ bên kia biên giới. Ai nấy ngộp thở như bị rang trong chảo nóng. Bụng dạ, ruột rà cứ bỏng rát lên từng đoạn như thể bị ai thò tay vào kéo căng ra phơi dưới nắng. Vạn vật hổn hển vì thiếu Ô Xy, ngực nhói lên từng cơn sau mỗi nhịp thở, cảm giác nóng bỏng len vào từng làn da, thớ thịt, máu cạn dần sau 3 tháng trời nắng quần, đất hun… Khăn trùm, đầu mặt tay chân kín mít chỉ để hở hai con mắt, ngồi thở mà mặt mũi tay chân đen thủi đen thui, hệt như cột nhà cháy.
Chiều 6 giờ đóng khu, tắm rửa, ăn uống để 6 giờ 30 điểm danh, khóa buồng chờ điện bật sáng. Có lẽ không ở đâu như Việt Nam mình con ạ, mất điện đã trở thành điều bình thường như cơm bữa. Thoạt đầu mới vào hè thì một ngày có, một ngày mất, càng nóng nhiều thì 2 ngày mất, một ngày có. Quả là phú quý giật lùi. Trong khi các nước tiến bộ được khuyến khích dùng điện thì Việt Nam phụ thuộc vào độ chảy của các dòng sông, nước cạn, điện cũng cạn theo. Nghèo nàn, dốt nát, lạc hậu, không biết hội nhập toàn cầu, xa lộ thông tin theo kiểu gì nữa, ngoài kiểu bótay.com.
Ồn ào, căng thẳng đến 12 giờ đêm, tất cả mới chìm vào giấc ngủ. Mẹ bị suy nhược thần kinh nặng, chỉ cần người bên cạnh ho lắng, khịt mũi, cựa chân, lật tay,… thế là lại tỉnh. Đến 5 giờ sáng nhịp điệu lại bắt đầu, căng thẳng mệt nhoài như những ngày trước và sau đó.
Thiếu ngủ trầm trọng, nắng nóng kinh hoàng, mẹ gần như dở điên dở dại vì những cơn đau đầu tra tấn, lại thêm nhiễm khuẩn đường ruột, ngày ôm bụng “xổ ruột” cả chục lần, khiến sức khỏe vốn kiệt quệ càng kiệt quệ hơn, trong vòng nữa tháng, sút mất 3 kg thịt. Ai nhìn cũng chán.
Cũng may mẹ được giám thị Hai cho nghỉ dưỡng bệnh 1 tháng, vì thế vừa kịp hồi sức, vội viết thư cho con ngay đây.
Thủy Tiên con, sang Pháp chưa đầy 10 tháng, mẹ biết con đã sang Mỹ, Bỉ, Thụy Điển nhiều lần so với tuổi 20 của con quả là điều hạnh phúc lớn lao. Song dù thế nào cũng không được ảnh hưởng tới việc học tập con nhé.
Mẹ biết con sáng dạ vì quá khứ có sức mạnh di truyền, con được thừa hưởng từ ông ngoại, từ mẹ hệ DNA rất quý, hơn nữa, quá trình nhận thức gắn liền với hứng thú. Giỏi ngoại ngữ, con lại vào trường ngôn ngữ nên càng có điều kiện khẳng định năng lực của mình. Biết thêm một ngoại ngữ là sống thêm một cuộc đời, con biết 4 ngoại ngữ, sống phong phú hơn cuộc đời bố mẹ, ông bà 4 lần đấy con ạ. Con cố tận dụng cơ hội để bật lên nhé. Đừng vì được đi đó đi đây mà sao lãng việc học tập. Hơn bao giờ hết, mẹ đặt hy vọng vào con nhiều lắm. Từ khi con tròn 1 tuổi, ru con ngủ, con thuộc làu bài ru của mẹ, rồi 3 tuổi, nét vẻ mềm mại, tinh tế của con đã làm mẹ giật mình và kỳ vọng vào con rất nhiều. Từ khi con lên 6 học hệ chuyên Pháp, thi đổ thủ khoa 9,75 điểm, mẹ đã biết con chính là sự bù đắp cho số phận mẹ, khi trước đó, vì phải đi thực tập sư phạm thực tế, sản xuất ở những vùng quê hẻo lánh nước đọng, ao tù mà mẹ bị viên tắt ống dẫn trứng, chửa ngoài dạ con, chết đi sống lại. Suốt 12 năm học của con, đặc biệt những năm con thi vào cấp III, thi hệ nào đổ vào hệ ấy, thi trường nào đổ vào trường ấy, vào học tại Amtecdam, mẹ lại càng tin tưởng và kỳ vọng ở con hơn. Thực tế con đã không làm mẹ thất vọng, ngược lại con là niềm tự hào của cả đại gia đình mình, đặc biệt là bên nội,… Bây giờ được sang Pháp, điều kiện, môi trường thuận lợi, con càng phải phát huy thế mạnh của bản thân con nhé.
Nhớ viết thư thăm mẹ - cho mẹ gửi lời chào quý trọng và đầy biết ơn tới các cô, dì chú bác bên Pháp, Mỹ, Thụy Điển và Bỉ. Mẹ mong từng ngày được ra tù để có điều kiện đền đáp tấm lòng thương yêu chăm sóc, lo lắng quan tâm của tất cả tới mẹ. Con đang sống thay cả phần mẹ. Phải hết sức khiêm nhường lễ độ con nhé. Càng hiểu biết càng phải nhu mì, lễ phép con ạ. Thế mới là con gái của mẹ, mới xứng đáng với tấm lòng của bạn bè, cô dì chú bác giành cho mẹ, thông qua con.
Ký tên
Trần Khải Thanh Thủy
Địa chỉ của mẹ:
Đội 21-K4-Trại 5- Lam Sơn - Thanh Hoá

Ðảng Cộng Sản là thủ phạm vụ Vinashin
Ngô Nhân Dụng
Ở một nước bình thường, trong một nền kinh tế thị trường thật sự, một cơ sở kinh doanh như Tập đoàn Vinashin sẽ phải tuyên bố phá sản, đem tổ chức lại theo pháp luật, hoặc cho chết luôn. Vinashin có số công nhân 60,000 người, con số lớn nhưng không thể so sánh với những đại công ty như General Motors với 243,000 nhân viên hay nhóm cửa hàng bán lẻ Kmart với 244,000 nhân viên. Cả hai công ty Mỹ đó đã được tuyên bố phá sản. Những công ty lớn như Enron với tổng cộng tài sản 62 tỷ Mỹ kim, WorldCom trị giá 107 tỷ Mỹ kim, đã được xóa sổ không thương tiếc, các quản đốc bị đưa ra tòa xử tù.
Vinashin chỉ trị giá 90,000 tỷ đồng Việt Nam, tương đương 4.7 tỷ đô la Mỹ. Nhưng tổng số nợ đã lên tới 80,000 tỷ đồng, bằng 4.2 tỷ Mỹ kim, mà trước mắt là gần 4,000 tỷ đồng nợ quá hạn không trả được; bằng 91% tổng số nợ quá hạn của cả 7 tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Trước mối nguy khánh kiệt, giữa Tháng Bảy đảng Cộng Sản Việt Nam đã phải “thanh toán” Vinashin bằng cách xé lẻ, trao một số “công ty con” cho các tập đoàn khác gánh nợ. Gánh “nợ” thật, bởi vì các “chủ nhân mới,” cũng là những tập đoàn của đảng và nhà nước, sẽ phải lo trả nợ cho các đứa con nuôi này - trong khi chính họ cũng nợ đùm đìa. Ðó là một cách đánh bùn sang ao, xí xóa vết tích và trách nhiệm trong sự thất bại, từ trên xuống dưới.
Trong khi đó, đảng Cộng Sản sử dụng guồng máy tuyên truyền của họ trút hết tội lỗi lên đầu một nhóm, tiêu biểu là Phạm Thanh Bình, người đứng đầu cả đảng ủy và ban quản đốc. Tất cả các báo, đài trong nước bị bắt buộc đồng lõa với chiến dịch tuyên truyền trút tội này. Vì họ không được phép điều tra, không thể tìm tòi tin tức nào khác, ngoài những gì mà bộ máy tuyên truyền của đảng tiết lộ. Trong tương lai, Phạm Thanh Bình sẽ đưa đầu chịu tội thay cho đảng, và có thể vài người trong gia đình ông ta. Sau mấy năm tù, sẽ trở về như các đảng viên kinh tài khác.
Sau khi đổ tội cho Phạm Thanh Bình, đảng Cộng Sản hy vọng người dân sẽ quên trách nhiệm của toàn thể Bộ Chính Trị, trung ương đảng và tất cả những người đang ăn trên ngồi chốc trong chính phủ và Quốc Hội! Nhưng làm sao một cá nhân như Phạm Thanh Bình, 57 tuổi, có khả năng đi vay hơn 4 tỷ đô la trong vòng hơn ba năm, từ khi Vinashin được thành lập cho tới năm nay? Phạm Thanh Bình là người của đảng, được đảng chọn, đưa ra cai quản, sử dụng gần 5 tỷ đô la tài sản. Tiền nợ hơn 4 tỷ sẽ do công quỹ cả nước Việt Nam phải trả, làm sao một cá nhân như Phạm Thanh Bình có thể đè cổ 85 triệu người dân bắt gánh lấy thứ của nợ đó?
Cho nên phải công khai vạch rõ trách nhiệm của nhóm lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam về vụ phá sản này. Các nhà quan sát độc lập, như các ông Hà Trí Anh, Nguyễn Quang A trên mạng lưới Bauxite, ông Nguyễn Sỹ Phương ở Ðức hay ông Lê Diễn Ðức ở Ba Lan, đều kết luận rằng đầu mối của cuộc khủng hoảng Vianshin là do phương thức và mô hình quản trị kinh tế của đảng Cộng Sản. Ðảng còn cai trị dân theo đường lối cố hữu của họ, thì đất nước sẽ đi vào khủng hoảng liên tiếp, không khác gì vụ tập đoàn Vinashin.
Lầm lẫn lớn nhất của đảng Cộng Sản là họ vẫn theo “chủ thuyết kinh tế Ðỗ Mười,” lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo. Khẩu hiệu này được ông ta nêu ra trong một bài viết trước Ðại hội 9, cho tới nay vẫn là kim chỉ nam của đảng. Ông ta còn nhấn mạnh tấm gương Liên Xô đã thành công trong quá trình công nghiệp hóa, để chứng tỏ kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng có hiệu quả, còn xài được.
Phan Văn Khải, rồi Nguyễn Tấn Dũng đã thi hành chủ trương đó. Họ không dám theo kiểu Liên Xô thời 1930-40, mà muốn bắt chước Ðại Hàn Dân Quốc trong những thập niên 1960-70. Những tổng công ty, rồi đến các tập đoàn được đảng Cộng Sản lập ra, cho giống những “chaebol” kiểu Hyundai, Samsung, Deawoo, LG, Posco ở Hàn Quốc. Ngay sau vụ Vinashin, có nhà trí thức trong nước đã đặt câu hỏi: “Tại sao Hàn Quốc lại thành công lớn như vậy trong việc ‘sinh thành dưỡng dục’ những tập đoàn kinh tế của họ, còn chúng ta lại không thành công?”
Có phải vì quan chức Việt Nam ai cũng ngu dốt, tham lam, gian trá hơn người Cao Ly hay không? Chắc không hoàn toàn như vậy, tuy có đúng một phần. Tổng Thống Phác Chánh Hi (Park Chung-hee) nắm quyền từ năm 1961 là một người trong sạch, sống khắc khổ, tận tụy hy sinh, suốt đời chỉ với mục đích xây dựng đất nước ngăn chặn làn sóng Cộng Sản. Với người lãnh đạo như vậy, những người được ông mời cộng tác cũng hết lòng vì công việc phát triển đất nước. Sau khi ông bị ám sát năm 1979, đến nay người dân Hàn Quốc dần dần mới bày tỏ lòng biết ơn đối với cá nhân ông, mặc dù vẫn trách ông quá độc tài.
Khi ông Park Chung-hee mời ông Chung Ju-yung phát triển công ty Hyundai thành một công ty đóng tàu thủy vào năm 1962, ông Chung Ju-yung phải chinh phục các ngân hàng quốc tế về khả năng đóng tàu của người Cao Ly để vay tiền; phải đi tuyển dụng người có khả năng; phải lo nhập cảng các kỹ thuật mà nước ông chưa biết; rồi tìm cách “bán hàng.” Một số ngân hàng Anh Quốc đã cho vay; năm nước Âu Châu chịu cung cấp máy móc thiết bị, và một công ty hàng hải Hy Lạp đặt mua 3 chiếc tàu thủy đầu tiên, vì giá hạ so với tàu Nhật Bản. Sau ba năm, Hyundai đã làm song chiếc tàu thủy đầu tiên, chứng tỏ được khả năng kỹ thuật không thua Nhật Bản. Ðể đào tạo nhân lực, chính phủ Nam Hàn khuyến khích sinh viên học ngành này, mỗi năm có 600 sinh viên vào học kỹ thuật hàng hải và đóng tàu. Tiếp theo đó, Phác Chánh Hy mời một doanh nhân khác, Park Tae-joon thành lập một công ty luyện thép, năm 1968 công ty POSCO ra đời. Park Tae-joon và 39 người cộng sự thề không để phí phạm một đồng nào của dân Hàn Quốc. Họ sống trong những căn nhà lụp xụp trên bãi cát như tất cả các công nhân khác; đêm ngủ cuốn trong chăn, bát cơm ăn cũng đầy những cát vì không mua thứ gạo đắt tiền. Năm năm sau, POSCO sản xuất hơn một triệu tấn thép một năm. Năm 2006, số thương vụ lên tới trên 10 tỷ đô la Mỹ, với 124,000 nhân viên.
Người Hàn Quốc quả nhiên là giỏi thật. Nhưng cũng không thể coi mọi người Việt Nam là thua kém. Nếu các tổng công ty và tập đoàn của nước ta thất bại, phần lớn là vì họ không được cơ hội làm đúng sức, phải nằm trong một cơ chế phản thị trường, quen dùng chính trị lấn áp kinh tế. Và nhất là họ không thấy những tấm gương hy sinh vì quyền lợi dân tộc như Park Chung-hee, Park Tae-joon. Ngay trong các tổng công ty, các tập đoàn đang hoạt động hiện nay, chắc cũng có những người có tài, biết công việc, có những người muốn tận tụy vì công ích. Cái hỏng là do cơ chế Cộng Sản. Nằm trong cơ chế đó, người tốt, người giỏi cũng không làm gì được.
Lý do đầu tiên ai cũng thấy là các chaebol của Nam Hàn làm ăn dựa trên căn bản tư nhân, trong khi các tổng công ty, các tập đoàn ở Việt Nam thuộc quyền đảng Cộng Sản, làm ăn theo chủ thuyết Ðỗ Mười, các quyết định được đánh giá theo tiêu chuẩn chính trị, phe phái, chứ không phải là lợi nhuận. Mỗi phe nhóm lên nắm quyền trong đảng Cộng Sản sẽ đưa các người của phe mình vào điều khiển các doanh nghiệp của nhà nước. Những người này không biết bao giờ phe mình sẽ bị xuống, tự nhiên, họ phải kiếm chác gấp. Thì bày ra càng nhiều dự án càng tốt và càng thu lợi cho cá nhân nhiều hơn. Ông Phạm Thanh Bình giữ ba chức, bí thư đảng ủy, chủ tịch và tổng giám đốc; rồi bổ nhiệm con trai và em ruột làm nhiều chức vụ quan trọng. Trong ba năm, tập đoàn Vinashin đẻ ra đến 200 công ty và tổng công ty tùy thuộc. Mỗi một công ty con đó là một cơ hội để gia tăng quyền hành và kiếm thêm tiền cho chính mình.
Sau khi đưa các quan chức quản lý bất tài ra nắm các tập đoàn và công ty, nhóm lãnh đạo đảng lại thúc đẩy đám đàn em này “phát triển nhanh, phát triển mạnh,” bất chấp ý kiến ngược lại của các chuyên gia kinh tế. Trước khi bỏ vốn đầu tư, ai cũng phải nghiên cứu đủ mọi mặt. Vinashin đã bỏ gần trăm triệu Mỹ kim để mua một chiếc tàu về, sơn lại coi như của mình, chạy được một năm thì bị bỏ nằm trong bến vì đáy tàu bị nứt từ trước khi mua mà không biết! Họ chưa đóng được chiếc tàu nào của mình thì đã đẻ ra 200 công ty con, tổ chức khách sạn, mua bán chứng khoán, để làm gì?
Các công ty lớn, chaebol ở Nam Hàn đến năm 1998, khi gặp cơn khủng hoảng kinh tế, đã chứng tỏ là cơ cấu làm ăn của họ không thực sự ích lợi; từ đó họ đều phải giải tư bớt nhiều công ty con, chú trọng đến công việc kinh doanh chính. Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam không biết rút lấy bài học đó, vẫn cho các tập đoàn phát triển ra bốn phía, mười phương, không cần nghiên cứu, suy xét gì cả. Cho nên công ty dầu khí PetroVietnam đã chuyển sang làm cả ngành ngân hàng và du lịch, công ty Ðiện Lực Việt Nam thì đầu tư vào bưu chính viễn thông, vân vân. Vinashin đã bước vào mấy chục lĩnh vực đầu tư từ xuất nhập cảng, khu nghỉ mát, mua bán chứng khoán, đến sản xuất bia. Ðọc bản danh sách 200 công ty con của Vinashin người ta có cảm tưởng chỉ những người điên mới trong ba năm trời mà đi lập bấy nhiêu công ty mới ra, để chơi vui!
Vinashin không phải là tập đoàn duy nhất được điều khiển bấp chấp quy luật kinh tế. Ðảng Cộng Sản đã lập những tập đoàn kinh tế trong những ngành Than - Khoáng sản, Ðiện lực, Cao su, Dầu khí, Xăng dầu, Ðường sắt, Hàng hải, Hàng không, Xi măng, Mía đường, Thép. Tài nguyên đất nước, do tổ tiên để lại hoặc do các nông dân, người lao động chân tay và trí óc tạo ra, có khoảng 60-70% nguồn lực của nước ta hiện nằm trong tay các doanh nghiệp nhà nước, mà nhóm lãnh đạo đảng Cộng Sản dùng làm chỗ dung túng các cán bộ trong phe cánh của họ. Những nguồn vốn của nhà nước được cung cấp cho những tập đoàn này, hoặc do các ngân hàng nhà nước cho họ vay với điều kiện ưu đãi thuận lợi nhất. Doanh nghiệp tư nhân đóng nhiều nhất vào việc phát triển sản xuất cũng như trong việc sử dụng người để giảm bớt nạn thất nghiệp, nhưng đã bị đẩy ra ngoài vòng để các xí nghiệp của đảng được ưu tiên sử dụng tài nguyên. Ðó là căn bản chính sách kinh tế của đảng Cộng Sản. Những tập đoàn và tổng công ty đóng vai độc quyền trong nhiều lãnh vực, khiến tư nhân muốn bước vào cũng không thể chen chân được. Mà ai cũng biết tư nhân làm kinh doanh có hiệu quả gấp trăm lần nhà nước. Ngay trong lãnh vực sản xuất điện, tập đoàn EVN của nhà nước chỉ chiếm dưới 70% số điện sản xuất nhưng vẫn chiếm độc quyền mua điện của các công ty nhỏ khác, và độc quyền phân phối điện cho người tiêu thụ. Khi một công ty chiếm độc quyền, hiệu quả đã thấp vì thiếu cạnh tranh, công ty đó lại là cha chung không ai khóc nữa, thì làm sao khá được?
Mặt khác, khi tài nguyên quốc gia được đem dùng vào những doanh vụ không có lợi và còn bị ăn cắp, lãng phí, thì tất nhiên nhiều hoạt động khác của quốc gia sẽ thiếu tiền. Có nhà kinh tế đã phân tích thấy số nợ 80,000 tỷ đồng Việt Nam của Vinashin lớn gấp bốn lần tổng số vốn dùng để kích thích kinh tế trong đợt suy thoái năm qua. Con số đó cũng lớn gấp 2 tới 3 lần tổng số vốn đầu tư cho chương trình xóa đói giảm nghèo trong cả nước.
Vụ Vinashin cho thấy chủ trương và chính sách kinh tế của cả đảng Cộng Sản là sai lầm từ lý thuyết đến thực hành. Họ vẫn còn bám lấy “chủ thuyết Ðỗ Mười,” bảo vệ khu vực quốc doanh chỉ vì cần dùng tài nguyên quốc gia nuôi các lãnh tụ lớn, nhỏ. Suốt 20 năm qua, đảng Cộng Sản Việt Nam không chịu đổi mới toàn diện như các nước Cộng Sản cũ Tiệp, Hung, Ba Lan, cho nên đã làm phí thời gian 20 năm của cả dân tộc đang cần chạy nhanh theo chân các nước lân bang. Ðảng Cộng Sản không thể tiếp tục đem cả tương lai dân tộc làm thí nghiệm trong 20, 30 năm năm nữa!
Năm 2001, sau vụ Eron, Quốc Hội Mỹ đã mở nhiều cuộc điều tra; các nhà kinh tế, báo chí cả nước Mỹ đua nhau tìm các thông tin, tìm hiểu và giải thích lý do; bao nhiêu bộ óc cùng suy nghĩ xem trong hệ thống luật lệ về kế toán, về kiểm tra, điều lệ các công ty có gì trục trặc hay không mà để đến nỗi có những hành vi gian trá lọt con mắt kiểm tra lâu như vậy. Sau đó, Quốc Hội đã làm ra những đạo luật mới để phòng ngừa cho tương lai. Nhưng ở Việt Nam thì khác. Các báo, các đài không ai được phép đi tìm tin tức hay thảo luận trên trang giấy về vụ Vinashin. Các chuyên gia có được nhà báo ngoại quốc hỏi cũng chỉ nêu lên những khuyết điểm trong lề lối quản trị chứ không ai dám nói thẳng chính đảng Cộng Sản là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng Vinashin.
Việc che giấu, ém nhẹm tin tức và cấm đoán thảo luận về vụ Vinashin này cũng không khác gì chuyện ông Tô Huy Rứa ra lệnh các báo đài không được điều tra, loan tin về vụ tập đoàn cán bộ lãnh đạo tỉnh Hà Giang dụ dỗ, ép các nữ sinh vị thành niên phục vụ tình dục các quan chức. Tô Huy Rứa coi hành động dâm ô của mấy cán bộ đảng cũng lớn lao quan trọng không kém những bí mật quốc gia! Báo Le Monde bên Pháp nhận xét ông Rứa có rất nhiều triển vọng sang năm sẽ lên thay Nông Ðức Mạnh làm tổng bí thư đảng Cộng Sản. Nếu chuyện đó thành sự thật thì, kể từ thế kỷ thứ nhất, từ năm 39 đến giờ, một người họ Tô mới lại cầm vận mệnh dân Việt ta.
Ngô Nhân Dụng
Ở một nước bình thường, trong một nền kinh tế thị trường thật sự, một cơ sở kinh doanh như Tập đoàn Vinashin sẽ phải tuyên bố phá sản, đem tổ chức lại theo pháp luật, hoặc cho chết luôn. Vinashin có số công nhân 60,000 người, con số lớn nhưng không thể so sánh với những đại công ty như General Motors với 243,000 nhân viên hay nhóm cửa hàng bán lẻ Kmart với 244,000 nhân viên. Cả hai công ty Mỹ đó đã được tuyên bố phá sản. Những công ty lớn như Enron với tổng cộng tài sản 62 tỷ Mỹ kim, WorldCom trị giá 107 tỷ Mỹ kim, đã được xóa sổ không thương tiếc, các quản đốc bị đưa ra tòa xử tù.
Vinashin chỉ trị giá 90,000 tỷ đồng Việt Nam, tương đương 4.7 tỷ đô la Mỹ. Nhưng tổng số nợ đã lên tới 80,000 tỷ đồng, bằng 4.2 tỷ Mỹ kim, mà trước mắt là gần 4,000 tỷ đồng nợ quá hạn không trả được; bằng 91% tổng số nợ quá hạn của cả 7 tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Trước mối nguy khánh kiệt, giữa Tháng Bảy đảng Cộng Sản Việt Nam đã phải “thanh toán” Vinashin bằng cách xé lẻ, trao một số “công ty con” cho các tập đoàn khác gánh nợ. Gánh “nợ” thật, bởi vì các “chủ nhân mới,” cũng là những tập đoàn của đảng và nhà nước, sẽ phải lo trả nợ cho các đứa con nuôi này - trong khi chính họ cũng nợ đùm đìa. Ðó là một cách đánh bùn sang ao, xí xóa vết tích và trách nhiệm trong sự thất bại, từ trên xuống dưới.
Trong khi đó, đảng Cộng Sản sử dụng guồng máy tuyên truyền của họ trút hết tội lỗi lên đầu một nhóm, tiêu biểu là Phạm Thanh Bình, người đứng đầu cả đảng ủy và ban quản đốc. Tất cả các báo, đài trong nước bị bắt buộc đồng lõa với chiến dịch tuyên truyền trút tội này. Vì họ không được phép điều tra, không thể tìm tòi tin tức nào khác, ngoài những gì mà bộ máy tuyên truyền của đảng tiết lộ. Trong tương lai, Phạm Thanh Bình sẽ đưa đầu chịu tội thay cho đảng, và có thể vài người trong gia đình ông ta. Sau mấy năm tù, sẽ trở về như các đảng viên kinh tài khác.
Sau khi đổ tội cho Phạm Thanh Bình, đảng Cộng Sản hy vọng người dân sẽ quên trách nhiệm của toàn thể Bộ Chính Trị, trung ương đảng và tất cả những người đang ăn trên ngồi chốc trong chính phủ và Quốc Hội! Nhưng làm sao một cá nhân như Phạm Thanh Bình, 57 tuổi, có khả năng đi vay hơn 4 tỷ đô la trong vòng hơn ba năm, từ khi Vinashin được thành lập cho tới năm nay? Phạm Thanh Bình là người của đảng, được đảng chọn, đưa ra cai quản, sử dụng gần 5 tỷ đô la tài sản. Tiền nợ hơn 4 tỷ sẽ do công quỹ cả nước Việt Nam phải trả, làm sao một cá nhân như Phạm Thanh Bình có thể đè cổ 85 triệu người dân bắt gánh lấy thứ của nợ đó?
Cho nên phải công khai vạch rõ trách nhiệm của nhóm lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam về vụ phá sản này. Các nhà quan sát độc lập, như các ông Hà Trí Anh, Nguyễn Quang A trên mạng lưới Bauxite, ông Nguyễn Sỹ Phương ở Ðức hay ông Lê Diễn Ðức ở Ba Lan, đều kết luận rằng đầu mối của cuộc khủng hoảng Vianshin là do phương thức và mô hình quản trị kinh tế của đảng Cộng Sản. Ðảng còn cai trị dân theo đường lối cố hữu của họ, thì đất nước sẽ đi vào khủng hoảng liên tiếp, không khác gì vụ tập đoàn Vinashin.
Lầm lẫn lớn nhất của đảng Cộng Sản là họ vẫn theo “chủ thuyết kinh tế Ðỗ Mười,” lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo. Khẩu hiệu này được ông ta nêu ra trong một bài viết trước Ðại hội 9, cho tới nay vẫn là kim chỉ nam của đảng. Ông ta còn nhấn mạnh tấm gương Liên Xô đã thành công trong quá trình công nghiệp hóa, để chứng tỏ kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng có hiệu quả, còn xài được.
Phan Văn Khải, rồi Nguyễn Tấn Dũng đã thi hành chủ trương đó. Họ không dám theo kiểu Liên Xô thời 1930-40, mà muốn bắt chước Ðại Hàn Dân Quốc trong những thập niên 1960-70. Những tổng công ty, rồi đến các tập đoàn được đảng Cộng Sản lập ra, cho giống những “chaebol” kiểu Hyundai, Samsung, Deawoo, LG, Posco ở Hàn Quốc. Ngay sau vụ Vinashin, có nhà trí thức trong nước đã đặt câu hỏi: “Tại sao Hàn Quốc lại thành công lớn như vậy trong việc ‘sinh thành dưỡng dục’ những tập đoàn kinh tế của họ, còn chúng ta lại không thành công?”
Có phải vì quan chức Việt Nam ai cũng ngu dốt, tham lam, gian trá hơn người Cao Ly hay không? Chắc không hoàn toàn như vậy, tuy có đúng một phần. Tổng Thống Phác Chánh Hi (Park Chung-hee) nắm quyền từ năm 1961 là một người trong sạch, sống khắc khổ, tận tụy hy sinh, suốt đời chỉ với mục đích xây dựng đất nước ngăn chặn làn sóng Cộng Sản. Với người lãnh đạo như vậy, những người được ông mời cộng tác cũng hết lòng vì công việc phát triển đất nước. Sau khi ông bị ám sát năm 1979, đến nay người dân Hàn Quốc dần dần mới bày tỏ lòng biết ơn đối với cá nhân ông, mặc dù vẫn trách ông quá độc tài.
Khi ông Park Chung-hee mời ông Chung Ju-yung phát triển công ty Hyundai thành một công ty đóng tàu thủy vào năm 1962, ông Chung Ju-yung phải chinh phục các ngân hàng quốc tế về khả năng đóng tàu của người Cao Ly để vay tiền; phải đi tuyển dụng người có khả năng; phải lo nhập cảng các kỹ thuật mà nước ông chưa biết; rồi tìm cách “bán hàng.” Một số ngân hàng Anh Quốc đã cho vay; năm nước Âu Châu chịu cung cấp máy móc thiết bị, và một công ty hàng hải Hy Lạp đặt mua 3 chiếc tàu thủy đầu tiên, vì giá hạ so với tàu Nhật Bản. Sau ba năm, Hyundai đã làm song chiếc tàu thủy đầu tiên, chứng tỏ được khả năng kỹ thuật không thua Nhật Bản. Ðể đào tạo nhân lực, chính phủ Nam Hàn khuyến khích sinh viên học ngành này, mỗi năm có 600 sinh viên vào học kỹ thuật hàng hải và đóng tàu. Tiếp theo đó, Phác Chánh Hy mời một doanh nhân khác, Park Tae-joon thành lập một công ty luyện thép, năm 1968 công ty POSCO ra đời. Park Tae-joon và 39 người cộng sự thề không để phí phạm một đồng nào của dân Hàn Quốc. Họ sống trong những căn nhà lụp xụp trên bãi cát như tất cả các công nhân khác; đêm ngủ cuốn trong chăn, bát cơm ăn cũng đầy những cát vì không mua thứ gạo đắt tiền. Năm năm sau, POSCO sản xuất hơn một triệu tấn thép một năm. Năm 2006, số thương vụ lên tới trên 10 tỷ đô la Mỹ, với 124,000 nhân viên.
Người Hàn Quốc quả nhiên là giỏi thật. Nhưng cũng không thể coi mọi người Việt Nam là thua kém. Nếu các tổng công ty và tập đoàn của nước ta thất bại, phần lớn là vì họ không được cơ hội làm đúng sức, phải nằm trong một cơ chế phản thị trường, quen dùng chính trị lấn áp kinh tế. Và nhất là họ không thấy những tấm gương hy sinh vì quyền lợi dân tộc như Park Chung-hee, Park Tae-joon. Ngay trong các tổng công ty, các tập đoàn đang hoạt động hiện nay, chắc cũng có những người có tài, biết công việc, có những người muốn tận tụy vì công ích. Cái hỏng là do cơ chế Cộng Sản. Nằm trong cơ chế đó, người tốt, người giỏi cũng không làm gì được.
Lý do đầu tiên ai cũng thấy là các chaebol của Nam Hàn làm ăn dựa trên căn bản tư nhân, trong khi các tổng công ty, các tập đoàn ở Việt Nam thuộc quyền đảng Cộng Sản, làm ăn theo chủ thuyết Ðỗ Mười, các quyết định được đánh giá theo tiêu chuẩn chính trị, phe phái, chứ không phải là lợi nhuận. Mỗi phe nhóm lên nắm quyền trong đảng Cộng Sản sẽ đưa các người của phe mình vào điều khiển các doanh nghiệp của nhà nước. Những người này không biết bao giờ phe mình sẽ bị xuống, tự nhiên, họ phải kiếm chác gấp. Thì bày ra càng nhiều dự án càng tốt và càng thu lợi cho cá nhân nhiều hơn. Ông Phạm Thanh Bình giữ ba chức, bí thư đảng ủy, chủ tịch và tổng giám đốc; rồi bổ nhiệm con trai và em ruột làm nhiều chức vụ quan trọng. Trong ba năm, tập đoàn Vinashin đẻ ra đến 200 công ty và tổng công ty tùy thuộc. Mỗi một công ty con đó là một cơ hội để gia tăng quyền hành và kiếm thêm tiền cho chính mình.
Sau khi đưa các quan chức quản lý bất tài ra nắm các tập đoàn và công ty, nhóm lãnh đạo đảng lại thúc đẩy đám đàn em này “phát triển nhanh, phát triển mạnh,” bất chấp ý kiến ngược lại của các chuyên gia kinh tế. Trước khi bỏ vốn đầu tư, ai cũng phải nghiên cứu đủ mọi mặt. Vinashin đã bỏ gần trăm triệu Mỹ kim để mua một chiếc tàu về, sơn lại coi như của mình, chạy được một năm thì bị bỏ nằm trong bến vì đáy tàu bị nứt từ trước khi mua mà không biết! Họ chưa đóng được chiếc tàu nào của mình thì đã đẻ ra 200 công ty con, tổ chức khách sạn, mua bán chứng khoán, để làm gì?
Các công ty lớn, chaebol ở Nam Hàn đến năm 1998, khi gặp cơn khủng hoảng kinh tế, đã chứng tỏ là cơ cấu làm ăn của họ không thực sự ích lợi; từ đó họ đều phải giải tư bớt nhiều công ty con, chú trọng đến công việc kinh doanh chính. Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam không biết rút lấy bài học đó, vẫn cho các tập đoàn phát triển ra bốn phía, mười phương, không cần nghiên cứu, suy xét gì cả. Cho nên công ty dầu khí PetroVietnam đã chuyển sang làm cả ngành ngân hàng và du lịch, công ty Ðiện Lực Việt Nam thì đầu tư vào bưu chính viễn thông, vân vân. Vinashin đã bước vào mấy chục lĩnh vực đầu tư từ xuất nhập cảng, khu nghỉ mát, mua bán chứng khoán, đến sản xuất bia. Ðọc bản danh sách 200 công ty con của Vinashin người ta có cảm tưởng chỉ những người điên mới trong ba năm trời mà đi lập bấy nhiêu công ty mới ra, để chơi vui!
Vinashin không phải là tập đoàn duy nhất được điều khiển bấp chấp quy luật kinh tế. Ðảng Cộng Sản đã lập những tập đoàn kinh tế trong những ngành Than - Khoáng sản, Ðiện lực, Cao su, Dầu khí, Xăng dầu, Ðường sắt, Hàng hải, Hàng không, Xi măng, Mía đường, Thép. Tài nguyên đất nước, do tổ tiên để lại hoặc do các nông dân, người lao động chân tay và trí óc tạo ra, có khoảng 60-70% nguồn lực của nước ta hiện nằm trong tay các doanh nghiệp nhà nước, mà nhóm lãnh đạo đảng Cộng Sản dùng làm chỗ dung túng các cán bộ trong phe cánh của họ. Những nguồn vốn của nhà nước được cung cấp cho những tập đoàn này, hoặc do các ngân hàng nhà nước cho họ vay với điều kiện ưu đãi thuận lợi nhất. Doanh nghiệp tư nhân đóng nhiều nhất vào việc phát triển sản xuất cũng như trong việc sử dụng người để giảm bớt nạn thất nghiệp, nhưng đã bị đẩy ra ngoài vòng để các xí nghiệp của đảng được ưu tiên sử dụng tài nguyên. Ðó là căn bản chính sách kinh tế của đảng Cộng Sản. Những tập đoàn và tổng công ty đóng vai độc quyền trong nhiều lãnh vực, khiến tư nhân muốn bước vào cũng không thể chen chân được. Mà ai cũng biết tư nhân làm kinh doanh có hiệu quả gấp trăm lần nhà nước. Ngay trong lãnh vực sản xuất điện, tập đoàn EVN của nhà nước chỉ chiếm dưới 70% số điện sản xuất nhưng vẫn chiếm độc quyền mua điện của các công ty nhỏ khác, và độc quyền phân phối điện cho người tiêu thụ. Khi một công ty chiếm độc quyền, hiệu quả đã thấp vì thiếu cạnh tranh, công ty đó lại là cha chung không ai khóc nữa, thì làm sao khá được?
Mặt khác, khi tài nguyên quốc gia được đem dùng vào những doanh vụ không có lợi và còn bị ăn cắp, lãng phí, thì tất nhiên nhiều hoạt động khác của quốc gia sẽ thiếu tiền. Có nhà kinh tế đã phân tích thấy số nợ 80,000 tỷ đồng Việt Nam của Vinashin lớn gấp bốn lần tổng số vốn dùng để kích thích kinh tế trong đợt suy thoái năm qua. Con số đó cũng lớn gấp 2 tới 3 lần tổng số vốn đầu tư cho chương trình xóa đói giảm nghèo trong cả nước.
Vụ Vinashin cho thấy chủ trương và chính sách kinh tế của cả đảng Cộng Sản là sai lầm từ lý thuyết đến thực hành. Họ vẫn còn bám lấy “chủ thuyết Ðỗ Mười,” bảo vệ khu vực quốc doanh chỉ vì cần dùng tài nguyên quốc gia nuôi các lãnh tụ lớn, nhỏ. Suốt 20 năm qua, đảng Cộng Sản Việt Nam không chịu đổi mới toàn diện như các nước Cộng Sản cũ Tiệp, Hung, Ba Lan, cho nên đã làm phí thời gian 20 năm của cả dân tộc đang cần chạy nhanh theo chân các nước lân bang. Ðảng Cộng Sản không thể tiếp tục đem cả tương lai dân tộc làm thí nghiệm trong 20, 30 năm năm nữa!
Năm 2001, sau vụ Eron, Quốc Hội Mỹ đã mở nhiều cuộc điều tra; các nhà kinh tế, báo chí cả nước Mỹ đua nhau tìm các thông tin, tìm hiểu và giải thích lý do; bao nhiêu bộ óc cùng suy nghĩ xem trong hệ thống luật lệ về kế toán, về kiểm tra, điều lệ các công ty có gì trục trặc hay không mà để đến nỗi có những hành vi gian trá lọt con mắt kiểm tra lâu như vậy. Sau đó, Quốc Hội đã làm ra những đạo luật mới để phòng ngừa cho tương lai. Nhưng ở Việt Nam thì khác. Các báo, các đài không ai được phép đi tìm tin tức hay thảo luận trên trang giấy về vụ Vinashin. Các chuyên gia có được nhà báo ngoại quốc hỏi cũng chỉ nêu lên những khuyết điểm trong lề lối quản trị chứ không ai dám nói thẳng chính đảng Cộng Sản là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng Vinashin.
Việc che giấu, ém nhẹm tin tức và cấm đoán thảo luận về vụ Vinashin này cũng không khác gì chuyện ông Tô Huy Rứa ra lệnh các báo đài không được điều tra, loan tin về vụ tập đoàn cán bộ lãnh đạo tỉnh Hà Giang dụ dỗ, ép các nữ sinh vị thành niên phục vụ tình dục các quan chức. Tô Huy Rứa coi hành động dâm ô của mấy cán bộ đảng cũng lớn lao quan trọng không kém những bí mật quốc gia! Báo Le Monde bên Pháp nhận xét ông Rứa có rất nhiều triển vọng sang năm sẽ lên thay Nông Ðức Mạnh làm tổng bí thư đảng Cộng Sản. Nếu chuyện đó thành sự thật thì, kể từ thế kỷ thứ nhất, từ năm 39 đến giờ, một người họ Tô mới lại cầm vận mệnh dân Việt ta.
Việt Nam có nhân quyền hay không?
Phạm Trần
Ðảng Cộng Sản Việt Nam lại giở chiêu chống đỡ những hành động không thể chối cãi được về quyền con người để hy vọng thay đổi hình ảnh bộ mặt cho chế độ.
Việc làm này mới xảy ra vào ngày 14 tháng 7, 2010 khi Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo về Nhân quyền của Chính phủ tổ chức linh đình lễ ra mắt Tạp chí Nhân Quyền Việt Nam tại Hà Nội.
Phát biểu tại buổi lễ, Phạm Gia Khiêm, ủy viên Bộ Chính Trị, phó thủ tướng chính phủ kiêm bộ trưởng Ngoại Giao, trưởng ban chỉ đạo về nhân quyền của chính phủ nói: “Ðảng và nhà nước luôn coi con người và quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực, là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam đã bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, thực hiện thành công công cuộc đổi mới và đã thu được nhiều thành tựu to lớn. Ðó là nền tảng cơ bản để thực hiện tốt hơn quyền con người trong thời kỳ phát triển mới.” (Thông Tấn Xã Việt Nam-TTXVN, 14 tháng 7, 2010)
Nói câu này, không biết ông Khiêm có biết điều được gọi là “đã bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, thực hiện thành công công cuộc đổi mới và đã thu được nhiều thành tựu to lớn” chỉ đúng nửa bé của sự thật?
Nửa to còn lại là những mảng đen tham nhũng, lãng phí, ăn cướp đất đai và tài sản của dân, đàn áp dân của những cán bộ mất phẩm chất, coi dân như tôm tép, công bằng trong xã hội và dân chủ, tự do là những thứ “xa xỉ phẩm” chỉ dành riêng cho đảng viên đảng CSVN, nhất là những kẻ có chức có quyền trong guồng máy cai trị.
Như vậy thì quyền con người là của đảng hay của dân?
Còn chuyện “đã bảo vệ vững chắc Tổ quốc” ư? Ông Khiêm hãy nhìn ra Biển Ðông để thấy Hải Quân của Trung Quốc đang làm gì với ngư dân Việt Nam từ ba năm qua? Nếu đã bảo vệ được thì tại sao quân Tàu vẫn còn chiếm quần đảo Hoàng Sa từ 1974 và 8 hòn đảo của Trường Sa từ năm 1989; ngư dân Tỉnh Quảng Ngãi, đặc biệt tại đảo Lý Sơn vẫn còn bị Hải Quân Tàu bắt, bị đánh đập tàn nhẫn, bắt giam, tịch thu tài sản, đánh chìm thuyền trong đêm tối và đòi tiền chuộc mạng khiến nhiều ngư dân bị phá sản, mang nợ cả đời?
Vậy vấn đề của đất liền thì sao? Ông Khiêm có biết tổ quốc Việt Nam đã mất bao nhiêu đất về tay Tàu sau khi nhà nước CSVN đơn phương ký Hiệp Ước Biên Giới vào ngày 30 tháng 12, 1999 mà không bàn bạc gì với Quốc Hội hay hỏi ý dân? Chỉ sau khi mọi chuyện đã xong xuôi để được lòng các “đồng chí Phương Bắc” thì hiệp ước này mới được đem ra cho Quốc Hội biểu quyết giả vờ cho qua mà không ai có tài liệu và bản đồ mới để đối chiếu với ranh giới cũ. Thậm chí Quốc Hội không có lấy một cuộc chất vấn nào với chính phủ về việc làm có liên quan đến xương máu của tổ tiên và của bao nhiêu thế hệ đã hy sinh bảo vệ lãnh thổ từng tấc đất?
Nhưng nếu cuộc đổi mới đã thành công rồi và đã “thu được nhiều thành tựu to lớn” thì ra Tạp chí Nhân Quyền Việt Nam để làm gì?
Ông Khiêm nói: “Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn không ngừng lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để vu cáo, xuyên tạc, can thiệp vào sự phát triển của đất nước Việt Nam. Vì vậy, ngoài việc bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền con người, chúng ta phải kiên quyết đấu tranh với các luận điệu, âm mưu thù địch đó.
Tạp chí Nhân Quyền Việt Nam được xuất bản là việc làm cần thiết, tạo thêm một kênh thông tin chủ lực nhằm phổ biến các quan điểm, chủ trương của đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trên lĩnh vực quyền con người; giúp cho đồng bào ở trong nước cũng như ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế hiểu rõ việc đảm bảo quyền con người là bản chất của chế độ Việt Nam; đồng thời góp phần phê phán những nhận thức lệch lạc và đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù địch.”
Ngoài ra, vẫn theo lời ông Khiêm thì tạp chí này còn “thông tin về tình hình nhân quyền thế giới; quan điểm của các nước về quyền con người; hoạt động của Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc, các tổ chức nhân quyền quốc tế, khu vực.”
Nếu nói như ông Khiêm thì không có vấn đề quyền con người bị xâm phạm ở Việt Nam và cũng chẳng có ai bị bắt bỏ tù vì tranh đấu đòi nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của con người đã được ghi trong Hiến Pháp của CSVN.
Vậy những người như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Linh Mục Phan Văn Lợi, Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Khắc Toàn, Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Ðỗ Nam Hải, Nguyễn Tiến Trung, Nguyễn Văn Ðài, Lê Công Ðịnh, Lê Thị Công Nhân, Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế, nhà báo Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy v.v... đã bị bắt giam hay bị ra tù vào khám nhiều lần là những người đã làm gì nên tội?
Nếu bảo họ đã vi phạm luật pháp quốc gia, có những họat động xâm phạm đến an ninh của tổ quốc hay có âm mưu chống lại chế độ thì tại sao không tranh luận với họ để giáo dục họ mà lại sử dụng võ lực để áp chế họ?
Ngoài hai bàn tay trắng, tiếng nói và các bài viết đòi quyền sống và đòi nhà nước trả lại các quyển tự do cho họ như Hiến Pháp đã quy thì những người này đã làm những gì để bị liên tiếp khủng bố, xét hỏi vô cớ bất kể ngày đêm, không cho họ được có công ăn việc làm và bỏ tù để khóa miệng họ?
Một nhà nước như thế mà vẫn còn huênh hoang tự nhận là “Nhà nước pháp quyền” thì thứ pháp quyền này áp dụng cho ai và những ai đã được hưởng thứ pháp quyền nguỵ biện này?
Còn quyền tự quyết định lấy vận mạng của đất nước, quyền quyết định cho tương lai chính trị, quyền ứng cử, bầu cử, quyền phát biểu, hội họp, lập hội, ra báo, lập đài phát thanh, truyền hình có được nhà nước tôn trọng không?
Các cuộc được gọi là bầu cử từ xã lên Quốc Hội chẳng qua cũng chỉ là trò “đảng cử dân bầu” phản dân chủ, mị dân vì các ứng cử viên phải là người của đảng hay của các tổ chức do đảng lập ra và phải được Mặt Trận Tổ Quốc tuyển chọn trước.
Và nếu ông Khiêm bảo ở Việt Nam người dân đã được hưởng mọi thứ quyền tự do, nhất là tự do báo chí thì tại sao lại có Chỉ thị số 37/2006/CT-TTg ngày 29 tháng 11, 2006 của thủ tướng chính phủ thực hiện kết luận của Bộ Chính Trị đã khẳng định: “Kiên quyết không để tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức và không để bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào lợi dụng, chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước”?
Luật pháp nào đã cho phép nhà nước CSVN tác oai tác quái đến mức độ này? Và ai đã cho phép Bộ Thông Tin và Truyền Thông đề nghị với chính phủ cho “sửa Luật Báo Chí nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của đảng, sự quản lý của nhà nước; không có báo chí tư nhân” và nhốt những người hành nghề báo chí vào cái chuồng khổng lồ để cho các cấp đảng từ trung ương về địa phương kiểm soát, siết họng?
Còn quyền tự do tín ngưỡng và thờ phượng có được Việt Nam tôn trọng không, hay chỉ có những tôn giáo nào chịu để cho đảng kiểm soát và chi phối mới được công nhận, được nâng đỡ theo tiêu chuẩn xin-cho của đảng?
Ông Khiêm hãy đến thăm Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở Sài Gòn, hay đi “thăm dân cho biết sự tình” với các giáo phái đạo Tin Lành miền núi từ Bắc vào Nam xem họ có được tự do hành đạo không?
Trò dân chủ giả hiệu
Thực tế tồi tệ như thế mà Việt Nam vẫn có thể lươn lẹo viết trong báo cáo về Quyền Con Người với Liên Hiệp Quốc ngày 23 tháng 4, 2009:
1) “Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế-xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người. Hiến Pháp 1992, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, đảm bảo mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước pháp luật; quyền tham gia quản lý công việc của nhà nước và xã hội; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam; quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe... không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo. Trên cơ sở Hiến Pháp, pháp luật Việt Nam tiếp tục cụ thể hóa các quyền này, phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế về nhân quyền.”
2) “Việt Nam luôn ủng hộ hoạt động của HÐNQ và hợp tác đầy đủ với các cơ chế nhân quyền LHQ. Việt Nam đã đón các Báo Cáo Viên Ðặc Biệt (BCVÐB) về Giam Giữ Ðộc Ðoán và về Tự Do Tôn Giáo hoặc Tín Ngưỡng (1998) và đang làm thủ tục mời 03 BCVÐB của LHQ về Quyền Giáo Dục, về Quyền được Chăm Sóc Sức Khỏe và về Ðói Nghèo Cùng Cực vào thăm Việt Nam. Hiện nay Việt Nam đang tích cực tham gia vào quá trình thảo luận nhằm thành lập cơ chế nhân quyền khu vực ASEAN, tham gia nhiều hội nghị nhân quyền quốc tế và khu vực khác.”
3) “Quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền tự quyết định vận mệnh của mình, quyền bầu cử, ứng cử... là những quyền cơ bản nhất của con người, nhưng phải đến năm 1945, khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập, tuyên bố với thế giới rằng nước Việt Nam “đã trở thành một nước độc lập,” người dân Việt Nam mới thực sự được hưởng các quyền cơ bản này. Và kể từ thời điểm đó đến nay, dù phải trải qua chiến tranh, mọi người dân Việt Nam luôn được bảo đảm việc thụ hưởng ngày càng toàn diện và đầy đủ các quyền con người, trong đó có các quyền dân sự, chính trị.”
4) “Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin của người dân Việt Nam được thể hiện rõ qua sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung của các phương tiện thông tin đại chúng.”
Trong 4 điều “giả hiệu” này, liệu Việt Nam có đánh lừa được Liên Hiệp Quốc và các Tổ Chức Nhân Quyền trên thế giới không?
Chắc chắn là không, bởi vì đảng CSVN chưa giết hết được các nhân chứng, nạn nhân của các vụ đàn áp nhân quyền và các quyền dân chủ, tự do đang còn sống ngoài xã hội hay trong các nhà tù ở Việt Nam.
Như vậy thì việc ra Tạp chí Nhân Quyền Việt Nam của nhà nước CSVN vào lúc này có ích gì không, hay lại là việc lấy gậy ông đập lưng bà?
Phạm Trần
Phạm Trần
Ðảng Cộng Sản Việt Nam lại giở chiêu chống đỡ những hành động không thể chối cãi được về quyền con người để hy vọng thay đổi hình ảnh bộ mặt cho chế độ.
Việc làm này mới xảy ra vào ngày 14 tháng 7, 2010 khi Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo về Nhân quyền của Chính phủ tổ chức linh đình lễ ra mắt Tạp chí Nhân Quyền Việt Nam tại Hà Nội.
Phát biểu tại buổi lễ, Phạm Gia Khiêm, ủy viên Bộ Chính Trị, phó thủ tướng chính phủ kiêm bộ trưởng Ngoại Giao, trưởng ban chỉ đạo về nhân quyền của chính phủ nói: “Ðảng và nhà nước luôn coi con người và quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực, là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam đã bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, thực hiện thành công công cuộc đổi mới và đã thu được nhiều thành tựu to lớn. Ðó là nền tảng cơ bản để thực hiện tốt hơn quyền con người trong thời kỳ phát triển mới.” (Thông Tấn Xã Việt Nam-TTXVN, 14 tháng 7, 2010)
Nói câu này, không biết ông Khiêm có biết điều được gọi là “đã bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, thực hiện thành công công cuộc đổi mới và đã thu được nhiều thành tựu to lớn” chỉ đúng nửa bé của sự thật?
Nửa to còn lại là những mảng đen tham nhũng, lãng phí, ăn cướp đất đai và tài sản của dân, đàn áp dân của những cán bộ mất phẩm chất, coi dân như tôm tép, công bằng trong xã hội và dân chủ, tự do là những thứ “xa xỉ phẩm” chỉ dành riêng cho đảng viên đảng CSVN, nhất là những kẻ có chức có quyền trong guồng máy cai trị.
Như vậy thì quyền con người là của đảng hay của dân?
Còn chuyện “đã bảo vệ vững chắc Tổ quốc” ư? Ông Khiêm hãy nhìn ra Biển Ðông để thấy Hải Quân của Trung Quốc đang làm gì với ngư dân Việt Nam từ ba năm qua? Nếu đã bảo vệ được thì tại sao quân Tàu vẫn còn chiếm quần đảo Hoàng Sa từ 1974 và 8 hòn đảo của Trường Sa từ năm 1989; ngư dân Tỉnh Quảng Ngãi, đặc biệt tại đảo Lý Sơn vẫn còn bị Hải Quân Tàu bắt, bị đánh đập tàn nhẫn, bắt giam, tịch thu tài sản, đánh chìm thuyền trong đêm tối và đòi tiền chuộc mạng khiến nhiều ngư dân bị phá sản, mang nợ cả đời?
Vậy vấn đề của đất liền thì sao? Ông Khiêm có biết tổ quốc Việt Nam đã mất bao nhiêu đất về tay Tàu sau khi nhà nước CSVN đơn phương ký Hiệp Ước Biên Giới vào ngày 30 tháng 12, 1999 mà không bàn bạc gì với Quốc Hội hay hỏi ý dân? Chỉ sau khi mọi chuyện đã xong xuôi để được lòng các “đồng chí Phương Bắc” thì hiệp ước này mới được đem ra cho Quốc Hội biểu quyết giả vờ cho qua mà không ai có tài liệu và bản đồ mới để đối chiếu với ranh giới cũ. Thậm chí Quốc Hội không có lấy một cuộc chất vấn nào với chính phủ về việc làm có liên quan đến xương máu của tổ tiên và của bao nhiêu thế hệ đã hy sinh bảo vệ lãnh thổ từng tấc đất?
Nhưng nếu cuộc đổi mới đã thành công rồi và đã “thu được nhiều thành tựu to lớn” thì ra Tạp chí Nhân Quyền Việt Nam để làm gì?
Ông Khiêm nói: “Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn không ngừng lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để vu cáo, xuyên tạc, can thiệp vào sự phát triển của đất nước Việt Nam. Vì vậy, ngoài việc bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền con người, chúng ta phải kiên quyết đấu tranh với các luận điệu, âm mưu thù địch đó.
Tạp chí Nhân Quyền Việt Nam được xuất bản là việc làm cần thiết, tạo thêm một kênh thông tin chủ lực nhằm phổ biến các quan điểm, chủ trương của đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trên lĩnh vực quyền con người; giúp cho đồng bào ở trong nước cũng như ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế hiểu rõ việc đảm bảo quyền con người là bản chất của chế độ Việt Nam; đồng thời góp phần phê phán những nhận thức lệch lạc và đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù địch.”
Ngoài ra, vẫn theo lời ông Khiêm thì tạp chí này còn “thông tin về tình hình nhân quyền thế giới; quan điểm của các nước về quyền con người; hoạt động của Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc, các tổ chức nhân quyền quốc tế, khu vực.”
Nếu nói như ông Khiêm thì không có vấn đề quyền con người bị xâm phạm ở Việt Nam và cũng chẳng có ai bị bắt bỏ tù vì tranh đấu đòi nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của con người đã được ghi trong Hiến Pháp của CSVN.
Vậy những người như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Linh Mục Phan Văn Lợi, Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Khắc Toàn, Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Ðỗ Nam Hải, Nguyễn Tiến Trung, Nguyễn Văn Ðài, Lê Công Ðịnh, Lê Thị Công Nhân, Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế, nhà báo Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy v.v... đã bị bắt giam hay bị ra tù vào khám nhiều lần là những người đã làm gì nên tội?
Nếu bảo họ đã vi phạm luật pháp quốc gia, có những họat động xâm phạm đến an ninh của tổ quốc hay có âm mưu chống lại chế độ thì tại sao không tranh luận với họ để giáo dục họ mà lại sử dụng võ lực để áp chế họ?
Ngoài hai bàn tay trắng, tiếng nói và các bài viết đòi quyền sống và đòi nhà nước trả lại các quyển tự do cho họ như Hiến Pháp đã quy thì những người này đã làm những gì để bị liên tiếp khủng bố, xét hỏi vô cớ bất kể ngày đêm, không cho họ được có công ăn việc làm và bỏ tù để khóa miệng họ?
Một nhà nước như thế mà vẫn còn huênh hoang tự nhận là “Nhà nước pháp quyền” thì thứ pháp quyền này áp dụng cho ai và những ai đã được hưởng thứ pháp quyền nguỵ biện này?
Còn quyền tự quyết định lấy vận mạng của đất nước, quyền quyết định cho tương lai chính trị, quyền ứng cử, bầu cử, quyền phát biểu, hội họp, lập hội, ra báo, lập đài phát thanh, truyền hình có được nhà nước tôn trọng không?
Các cuộc được gọi là bầu cử từ xã lên Quốc Hội chẳng qua cũng chỉ là trò “đảng cử dân bầu” phản dân chủ, mị dân vì các ứng cử viên phải là người của đảng hay của các tổ chức do đảng lập ra và phải được Mặt Trận Tổ Quốc tuyển chọn trước.
Và nếu ông Khiêm bảo ở Việt Nam người dân đã được hưởng mọi thứ quyền tự do, nhất là tự do báo chí thì tại sao lại có Chỉ thị số 37/2006/CT-TTg ngày 29 tháng 11, 2006 của thủ tướng chính phủ thực hiện kết luận của Bộ Chính Trị đã khẳng định: “Kiên quyết không để tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức và không để bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào lợi dụng, chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước”?
Luật pháp nào đã cho phép nhà nước CSVN tác oai tác quái đến mức độ này? Và ai đã cho phép Bộ Thông Tin và Truyền Thông đề nghị với chính phủ cho “sửa Luật Báo Chí nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của đảng, sự quản lý của nhà nước; không có báo chí tư nhân” và nhốt những người hành nghề báo chí vào cái chuồng khổng lồ để cho các cấp đảng từ trung ương về địa phương kiểm soát, siết họng?
Còn quyền tự do tín ngưỡng và thờ phượng có được Việt Nam tôn trọng không, hay chỉ có những tôn giáo nào chịu để cho đảng kiểm soát và chi phối mới được công nhận, được nâng đỡ theo tiêu chuẩn xin-cho của đảng?
Ông Khiêm hãy đến thăm Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở Sài Gòn, hay đi “thăm dân cho biết sự tình” với các giáo phái đạo Tin Lành miền núi từ Bắc vào Nam xem họ có được tự do hành đạo không?
Trò dân chủ giả hiệu
Thực tế tồi tệ như thế mà Việt Nam vẫn có thể lươn lẹo viết trong báo cáo về Quyền Con Người với Liên Hiệp Quốc ngày 23 tháng 4, 2009:
1) “Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế-xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người. Hiến Pháp 1992, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, đảm bảo mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước pháp luật; quyền tham gia quản lý công việc của nhà nước và xã hội; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam; quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe... không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo. Trên cơ sở Hiến Pháp, pháp luật Việt Nam tiếp tục cụ thể hóa các quyền này, phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế về nhân quyền.”
2) “Việt Nam luôn ủng hộ hoạt động của HÐNQ và hợp tác đầy đủ với các cơ chế nhân quyền LHQ. Việt Nam đã đón các Báo Cáo Viên Ðặc Biệt (BCVÐB) về Giam Giữ Ðộc Ðoán và về Tự Do Tôn Giáo hoặc Tín Ngưỡng (1998) và đang làm thủ tục mời 03 BCVÐB của LHQ về Quyền Giáo Dục, về Quyền được Chăm Sóc Sức Khỏe và về Ðói Nghèo Cùng Cực vào thăm Việt Nam. Hiện nay Việt Nam đang tích cực tham gia vào quá trình thảo luận nhằm thành lập cơ chế nhân quyền khu vực ASEAN, tham gia nhiều hội nghị nhân quyền quốc tế và khu vực khác.”
3) “Quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền tự quyết định vận mệnh của mình, quyền bầu cử, ứng cử... là những quyền cơ bản nhất của con người, nhưng phải đến năm 1945, khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập, tuyên bố với thế giới rằng nước Việt Nam “đã trở thành một nước độc lập,” người dân Việt Nam mới thực sự được hưởng các quyền cơ bản này. Và kể từ thời điểm đó đến nay, dù phải trải qua chiến tranh, mọi người dân Việt Nam luôn được bảo đảm việc thụ hưởng ngày càng toàn diện và đầy đủ các quyền con người, trong đó có các quyền dân sự, chính trị.”
4) “Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin của người dân Việt Nam được thể hiện rõ qua sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung của các phương tiện thông tin đại chúng.”
Trong 4 điều “giả hiệu” này, liệu Việt Nam có đánh lừa được Liên Hiệp Quốc và các Tổ Chức Nhân Quyền trên thế giới không?
Chắc chắn là không, bởi vì đảng CSVN chưa giết hết được các nhân chứng, nạn nhân của các vụ đàn áp nhân quyền và các quyền dân chủ, tự do đang còn sống ngoài xã hội hay trong các nhà tù ở Việt Nam.
Như vậy thì việc ra Tạp chí Nhân Quyền Việt Nam của nhà nước CSVN vào lúc này có ích gì không, hay lại là việc lấy gậy ông đập lưng bà?
Phạm Trần
NHU CẦU VA CHẠM QUÂN SỰ NHỎ
Nguyễn Ðạt Thịnh
Nhu cầu của nước Việt Nam và của người Việt Nam là có ngay tức khác những cuộc va chạm quân sự nhỏ với Trung Cộng ngoài Biển Ðông; ngược lại, nhu cầu của Trung Cộng là tránh tối đa, không để xẩy ra những cuộc va chạm như vậy.
Va chạm quân sự nhỏ có nhiều khả năng đưa đến thái độ can thiệp của mọi quốc gia Thái Bình Dương. Trung Cộng không muốn có sự can thiệp này, nhưng chúng không lo ngại thái quá, vì nước Việt Nam và người Việt Nam không có phương tiện quân sự cần thiết để tạo ra những va chạm quân sự nhỏ. Chỉ có Việt Cộng mới có những phương tiện quân sự này.
Chúng yên tâm vì Việt Cộng, những người có vũ khí, có chiến hạm, để tạo ra những cuộc va chạm quân sự nhỏ trên mặt biển, lại là những người đang nằm gọn trong lòng bàn tay chúng. Chúng đã muốn tránh những va chạm quân sự nhỏ thì Việt Cộng sẽ làm mọi cách để ngăn chặn không để những va chạm nhỏ này xẩy ra.
Thứ trưởng quốc phòng Việt Cộng, ông Nguyễn Chí Vịnh, nói trong một cuộc họp báo có sự hiện diện của nhiều phóng viên truyền thông ngoại quốc: "không một nước nào có lợi, khi sử dụng sức mạnh quân sự ở Biển Đông". Ông nói sai vì ông vẫn còn là một người Việt Nam, dù ông có mất giống, bỏ lập trường Việt Nam để đi bênh vực quan điểm của Trung Cộng.
Quan điểm này là giữ cho Biển Ðông mãi mãi là một vùng yên bình, vùng không có tiếng súng; những tranh chấp trên Biển Ðông chỉ là vấn đề riêng giữa hai nước Tầu và Việt. Càng riêng tư Trung Cộng càng dễ hiếp đáp Việt Nam và thủ lợi. Bất cứ một va chạm quân sự nào, dù nhỏ đến đâu cũng có thể quốc tế hóa cuộc tranh chấp Biển Ðông.
Ông Vịnh còn đi sâu thêm nữa vào sai lầm, khi ông khẳng định: "Việc giải quyết vấn đề Biển Đông bằng giải pháp hòa bình không phải từ thiện chí mà từ nhu cầu, yêu cầu khách quan của tất cả các nước liên quan."
Sai vì giữ cho Biển Ðông không sóng gió không phải là lợi ích hay nhu cầu của Việt Nam. Câu nói có thể được coi là khôn ngoan, nếu ông Vịnh là thứ trưởng quốc phòng Úc, Ấn, Thái, Phi Luật Tân, Nam Dương … những nước không có va chạm quyền lợi trên quy mô lớn, toàn diện, trực tiếp, và tức khắc với Trung Cộng.
Va chạm quyền lợi vì ngư phủ Trung Cộng tự do vào Biển Ðông đánh cá trong lúc lính Tầu cấm ngư phủ Việt Nam không được hành nghề trên Biển Ðông, biển Việt Nam; kỹ sư Trung Cộng đến Hoàng Sa của Việt Nam, thăm dò và chuẩn bị khai thác giếng dầu, và chiến hạm Trung Cộng trá hình “tầu cảnh sát biển”, bắt, bắn, giết, đánh đập, và đòi ngư dân Việt Nam nộp phạp vì tội vi phạm luật biển của Tầu trong lúc hành nghề trên biển Việt Nam.
Trung Quốc Thông tấn xã cho hay lực lượng tuần ngư Nam Hải (Biển Đông) chỉ trong hai ngày phát hiện hàng chục tàu cá Việt Nam "xâm phạm lãnh hải" ở Vịnh Bắc bộ, trục xuất hai tàu.
Ngư thuyền Việt Nam nhiều lần bị Trung Cộng bắt giữ
Hiện Trung Cộng vẫn đang thực hiện lệnh cấm đánh bắt kéo dài hơn hai tháng ở phần lớn Biển Đông mà nước này tuyên bố chủ quyền.
Hãng thông tấn đặt tại Hong Kong nói trong hai ngày 30 tháng Sáu và mùng 1 tháng Bẩy 2010, ba đơn vị của cơ quan tuần tra ngư chính Trung Quốc kết hợp với công an biên phòng đã phát hiện hàng chục tàu cá Việt Nam "xâm phạm lãnh hải Trung Quốc tại Vịnh Bắc Việt, để thực hiện các hoạt động bất hợp pháp cũng như đánh bắt trái phép".
Cơ quan chức năng của Trung Quốc đã giữ 5 tàu cá của Việt Nam để kiểm tra và trục xuất hai tàu.
Một số trang tin điện tử khác của Trung Quốc cho hay hai tàu bị trục xuất mang số hiệu HD9035787H và NA47047H. Hai tàu này đã bị dẫn về cảng để xử lý, sau đó trục xuất.
Số tàu cá Việt Nam bị cho là xâm phạm lãnh hải và vi phạm lệnh cấm đánh bắt của Trung Quốc hiện bị giữ không có thống kê chính xác nhưng không phải nhỏ.
Đa số là các tàu cá của ngư dân miền Trung, nhưng con số cũng gia tăng trong khu vực Vịnh Bắc Việt.
Tại đây, hai bên đã có cơ chế tuần tra chung, nhưng không thấy những đoàn tuần tra này bắt được một tàu cá nào của phía Trung Quốc vi phạm.
Lệnh cấm đánh bắt với mục đích "bảo vệ nguồn cá" của Trung Quốc được đơn phương đưa ra hàng năm, năm nay từ 16 tháng 5 tới mùng 1 tháng Tám.
Những va chạm quyền lợi này chỉ có thể giải quyết bằng va chạm quân sự; đó là điều cần thiết cấp bách, phải thực hiện ngay trước hay trong lúc cuộc Diễn Ðàn An Ninh Cấp Vùng ARF (Asian Regional Forum) diễn ra tại Hà Nội từ 19 đén 23 tháng Bẩy 2010.
Va chạm quân sự đề cập trong bài báo này là loại skirmishes- những cuộc giao tranh nhỏ thường xẩy ra trên biên giới 2 quốc gia có biên giới chung, nhưng lại có nhiều quyền lợi riêng tư, khác biệt, nhất là trên vùng đất biên giới. Trước kia, Trung Cộng thường có những va chạm quân sự nhỏ với quân Nga và quânẤn Ðộ; hiện nay chúng va chạm với ngư dân Việt Nam.
Ðiển hình mới nhất cho một va chạm quân sự vừa xẩy ra, là chiếc tiểu hạm Cheonan của hải quân Nam Hàn bị Bắc Hàn phóng thủy lôi, đánh chìm hôm 26 tháng Ba, giết chết 46 thủy thủ Nam Hàn.
Va chạm quân sự này không đủ lớn để phát động chiến tranh, nhưng viễn ảnh chiến tranh đã được sử dụng với mục đích răn đe, và dưới hình thức một cuộc biểu diễn hải lực Nam Hàn-Hoa Kỳ dự định sẽ thực hiện trên hải phận quốc tế trong vùng biển Hoàng Hải, nơi chiếc Cheonan bị đánh đắm.
Cuộc biểu dương hải quân Mỹ-Nam Hàn chưa kịp thực hiện thì Trung Cộng đã vội vàng công bố một cuộc biểu diễn hải quân tại Ðông Hải (không phải Biển Ðông Việt Nam), hai cuộc biểu diễn hải lực này chỉ cách nhau trên 1,000 haỉ lý.
Bộ tổng tham mưu quân đội Trung Cộng nói họ sẽ thử loại hỏa tiễn mới có khả năng tự điều khiển đường bay để tìm mục tiêu, và có tầm bắn 2,000 hải lý. Loại hỏa tiễn này được Trung Cộng đặt tên là DF21D, và đặt bí danh là “air carrier killer” (hỏa tiễn diệt hàng không mẫu hạm). Hai chữ DF là để viết tắt hai chữ Ðông Phong.
Bắc Hàn phủ nhận họ không phải là thủ phạm phóng thủy lôi đánh đắm tầu Nam Hàn; dĩ nhiên không ai tin lời họ, tổng thống Obama nói trước cuộc hội nghị của phái đoàn 20 nước tham dự hội nghị G20 tại Toronto là, “Có một khác biệt giữa thái độ tự chế và thái độ cố tình nhắm mắt trước một vấn đề rõ rệt.”
Mọi người hiểu thâm ý không nói ra của ông: tự chế là thái độ của Hoa Kỳ trong cuộc va chạm quân sự hạn chế tại Hoàng Hải, và “cố tình nhắm mắt” là thái độ của Trung Cộng; Obama chỉ chưa nói là thái độ của Trung Cộng khiêu khích Hoa Kỳ và khuyến khích hành động khiêu chiến Bắc Hàn đang làm tại vùng biển Cao Ly.
Sau phiên họp chính thức, Obama còn nói với truyền thông ông hy vọng chủ tịch Trung Cộng Hồ Cẩm Ðào nhìn nhận Bắc Hàn đã quá đáng trong vụ đánh đắm chiếc tiểu hạm Nam Hàn. Ông cũng tuyên bố ông hy vọng Liên Hiệp Quốc có thái độ dứt khoát, rõ rệt về hành động của Bắc Hàn.
Phát ngôn viên của Ngũ Giác Ðài cũng công bố là cuộc thao diễn hải quân của hai nước Nam Hàn và Hoa Kỳ, dự định khởi diễn ngày thứ Hai 6/28 được dời sang tháng Bẩy.
So với vụ va chạm Cheonan, việc hải quân Trung Cộng đang làm trên Biển Ðông quan trọng hơn, vì mang tính chất khác biệt với những cuộc va chạm biên giới trước đây. Khác vì Biển Ðông không phải là biên giới, như những vùng biên giới Trung Cộng với Nga và với Ấn, Biển Ðông cũng không phải là lãnh hải chung của thế giới, mà Biển Ðông là vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Khác biệt này khiến sự hiện diện của tầu tuần Trung Cộng trên Biển Ðông mang tính chất xâm lược.
Trung Cộng đang thực hiện một cuộc chiến xâm lược trên vùng biển Việt Nam: chúng nhận vơ Biển Ðông là Biển Nam-Trung-Hoa, cá trong Biển Ðông là cá của Tầu, và dầu hỏa duới lòng Biển Ðông là nguyên liệu của Tầu.
Khác biệt giữa những cuộc chạm súng Hoa-Nga và Hoa-Ấn trên biên giới Trung Hoa, với tình hình yên bình, không chạm súng trên Biển Ðông là ở chỗ những va chạm quyền lợi giữa Trung Cộng với hai nước Nga và Ấn chỉ giới hạn trên lằn ranh biên giới của 3 nước này, trong lúc va chạm quyền lợi trên Biển Ðông xẩy ra trên mặt biển và trong lòng biển Việt Nam.
Những cuộc chạm súng giữa quân Tầu với quân Ấn và quân Nga chỉ là va chạm, trong lúc chạm súng, nếu xẩy ra trên Biển Ðông, là một cuộc xâm lược rõ rệt mà Trung Cộng không phủ nhận được. Chính vì cần duy trì tình trạng mập mờ đánh lận tính chất xâm lược này mà Trung Cộng thường xuyên dạy dỗ các quan Việt Cộng phải thuộc lòng 16 chữ vàng, lấy tình nghĩa lân bang làm căn bản giải quyết mọi vấn đề.
Chúng đang thành công trong việc tạo cho Việt Cộng một lập trường có lợi cho chính sách của Trung Cộng chiếm đoạt Biển Ðông.
Lập trường của Việt Cộng
Chính sách dâng Biển Ðông cho Trung Cộng đang được nhiều ông quan Việt Cộng thực thi kiến hiệu: trong lúc thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh đề cao việc công an Việt Cộng bịt miệng người Việt Nam, treo nồi ngư dân Việt Nam là “nhu cầu, yêu cầu khách quan của tất cả các nước liên quan đến Biển Ðông” thì bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh được tổng tham mưu phó Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Mã Hiểu Thiên mớm lời vào hôm cuối cùng của cuộc đối thoại Shangri-La tháng Sáu (từ ngày mùng 4 đến mùng 6)
Thanh nói với truyền thông cuộc trao đổi giữa ông với lãnh đạo quân đội Trung Quốc đã diễn ra thân tình, cởi mở, thẳng thắn, về tất cả các vấn đề trên tinh thần "hữu nghị, anh em".
Ông nhìn nhận là giữa hai nước còn tranh chấp, nhưng tranh chấp chỉ là những vấn đề lịch sử để lại, và cần đàm phán hòa bình để vừa giữ chủ quyền lãnh thổ, vừa ổn định phát triển.
Trung Cộng dạy bảo Thanh công bố là “Đặc biệt, chúng ta phải chú ý không để cho các nước khác kích động vấn đề này. Không để các lực lượng xấu sử dụng vấn đề Biển Đông để kích động, chia rẽ quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, chia rẽ quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân chúng ta."
Quan hệ giữa đảng Việt Cộng và người dân Việt Nam đã bị chia rẽ trong diễn biến xẩy ra hôm 28 tháng Sáu, mà công an Việt Cộng chưa tìm được bàn tay lông lá của lực lượng xấu nào xúi dục cả.
Ngày hôm đó một số dân oan ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng, Hà Nội đã mặc trên người chiếc áo có in nhãn hiệu của FIFA World Cup 2010 và hàng chữ “HS – TS – VN”. Hàng chữ này là nhằm khẳng định “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” và đã được nhiều người Việt Nam cùng viết, cùng vẽ ở khắp nơi để biểu lộ lòng yêu nước.


Từ trái: sáu chữ HS-TS-VN viết bằng máu người Việt Nam; và một ái nữ của bà Trưng, bà Triệu
Sáng kiến in trên áo có nhãn hiệu của FIFA World Cup 2010 và hàng chữ “HS – TS – VN” vào mùa bóng đá thế giới tại Nam Phi đã gây sự chú ý đặc biệt của bà con dân oan và người qua lại ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng.
Sáng ngày 29/6, một số dân oan với chiếc áo này trên người đã khởi hành từ vườn hoa Mai Xuân Thưởng đi đến trụ sở tiếp dân ở số 110 đường Cầu Giấy, Hà Nội. Khi từ trụ sở tiếp dân trở về vườn hoa Mai Xuân Thưởng, họ bị công an phục kích và bắt 4 người dân oan đưa về đồn công an phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ để thẩm vấn từ 11 giờ trưa đến 7 giờ tối mới thả về.
Công an cho rằng việc các người dân oan này mặc áo có chữ “HS – TS – VN” như vậy là phạm pháp. Các người dân oan bị bắt hỏi lại là mặc áo có hàng chữ này vi phạm điều khoản nào của luật nhà nước? Công an không trả lời được, nhưng cuối cùng vẫn lập biên bản thu giữ áo và cho 4 người này ra về.
Nhóm dân oan này cho biết họ sẽ tiếp tục mặc chiếc áo có hàng chữ “HS – TS – VN”, vì đây không phải là một hành động phạm pháp.
Nhưng nhóm công dân Việt Nam cho là việc họ mặc áo đòi HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM chỉ là việc của họ; uất ức của họ được nói lên trong một ngày, hoặc đúng hơn nữa là trong vài tiếng đồng hồ của hai ngày 28 và 29 tháng Sáu.
Ông đại tướng Thanh không đồng ý: ông nói lớn hơn, ông dõng dạc bảo mọi người là, “Nếu xảy ra xung đột quân sự ở Biển Đông, không chỉ các quốc gia Đông Nam Á, mà cả thế giới bị ảnh hưởng.
"Cho nên các nước phải hết sức bình tĩnh, phải hết sức tự kiềm chế, phải xử lý ở tầm cao chiến lược."
Thanh còn nói: "Tất cả các nước đều thống nhất với nhau một điểm là phải duy trì môi trường hòa bình, ổn định trên Biển Đông. Chúng ta cũng giữ quan điểm độc lập, tự chủ, không để Hoa Kỳ can thiệp vào những công việc nội bộ của Việt Nam."
Ông quan Việt Cộng thứ ba được Trung Cộng dạy dỗ là phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm; Trung Cộng đòi ông sang Bắc Kinh tham dự cuộc họp lần thứ tư của Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương (Tầu-Việt), và tại Bắc Kinh hôm mùng 2 tháng Bẩy 2010, các quan cao cấp Việt Cộng-Trung Cộng thỏa thuận sẽ cùng giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông một cách "đúng mực". (đúng mức?)
Trung Cộng tổ chức cuộc họp này với mục đích duy nhất là mớm lời cho Khiêm, trong buổi họp ARF (Asian Regional Forum) diễn ra tại Hà Nội từ 19 đến 23 tháng Bẩy 2010.
Lập trường của Trung Cộng
Trong khi đó, hãng tin Nhật Bản Kyodo xác nhận Trung Quốc đã chính thức thông báo với Hoa Kỳ rằng Biển Đông đã trở thành một trong các "quan tâm chủ chốt" của nước họ, bên cạnh Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương.
Ðiều này có nghĩa là sau khi nuốt trôi được hai dân tộc Tây Tạng, Tân Cương, và ép Hoa Kỳ xác nhận Ðài Loan là một tỉnh của Trung Hoa, giờ này Trung Cộng muốn Biển Ðông Việt Nam thành biển Nam Hải của Tầu.
Trung Cộng giải thích 4 chữ “Quan tâm chủ chốt” (core interest) có nghĩa là những chủ điểm mà chúng không chấp nhận nhượng bộ.
Theo Kyodo, Trung Quốc đã loan báo chính sách mới cho Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ James Steinberg và giám đốc cao cấp các vấn đề châu Á tại Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ Jeffrey Bader, khi hai ông này thăm Bắc Kinh hồi đầu tháng Ba.
Chúng đang tự tạo được nhiều dễ dàng cho chúng, bằng cách nắm đầu Việt Cộng.
Cuộc họp Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương Việt Nam - Trung Quốc vừa được tổ chức chỉ để giải quyết những vấn đề Biển Ðông.
Tân Hoa Xã trích lời ông Phạm Gia Khiêm nói rằng Việt Nam mong muốn cùng Trung Quốc giải quyết vấn đề Biển Đông một cách "đúng mực", dựa trên quan hệ chung giữa hai nước và tình hữu nghị giữa hai dân tộc.
Chủ đề Biển Đông cũng được đề cập tới trong cuộc hội kiến của Phạm Gia Khiêm với Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hôm thứ Sáu 7/02. Khiêm không tiết lộ gì cả, và cũng không nói câu nào có tính ràng buộc cả. Đới Bỉnh Quốc cũng chỉ nói hai nước cần "nhìn về lâu dài" và giữ quan hệ láng giềng tốt.
Lập trường của Hoa Kỳ
Trong cuộc gặp báo giới tại Hà Nội ngày 29/6 đại sứ Michael Michalak loan báo ngoại trưởng Hillary Clinton sẽ đến Việt Nam cuối tháng Bảy dự Diễn đàn An ninh cấp vùng, ARF.
Cuộc họp ARF bàn về sáng kiến thúc đẩy an ninh vùng Á châu, quy tụ đại diện của khối Asean và quan chức cao cấp từ 17 nước.
Trong đó có Nga, Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật, Ấn Độ, Úc, Canada, Nam và Bắc Hàn…
ARF họp trong bốn ngày tại Hà Nội, từ 19 đến 23 tháng Bảy.
Bên ngoài cuộc hội luận chính thức, bà Clinton sẽ tham dự các hoạt động song phương như bà sẽ gặp quan chức chính phủ Việt Nam bàn về chủ đề hai bên cùng quan tâm như thương mại, giáo dục, không phổ biến vũ khí hạt nhân.
Cuộc gặp mặt giữa đại sứ Hoa Kỳ và báo giới tại Hà Nội được tổ chức nhằm kỷ niệm 15 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Mỹ-Việt.
Ông Michalak cũng loan báo Thượng nghị sĩ Jim Webb và đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ tại Việt Nam Pete Peterson sẽ đến Hà Nội tuần tới dự hội thảo “nhìn lại quan hệ giữa hai nước trong 15 năm.”
Ngoài ra đại sứ quán Mỹ hiện đang “làm việc chặt chẽ” với chính phủ Việt Nam để thu xếp chuyến thăm của tàu hải quân Hoa Kỳ trong tháng Tám.
“Hợp tác quân sự giữa hai nước đã phát triển tuyệt vời trong 15 năm qua,” đại sứ Hoa Kỳ nhấn mạnh khi trả lời câu hỏi của báo Tuổi Trẻ.
“Chúng ta có quan hệ quân sự mở rộng qua các khóa đào tạo tiếng Anh cho sĩ quan quân đội Việt Nam, hợp tác tìm kiếm cứu nạn. Hy vọng hai bên sẽ tham gia các hoạt động chung, ví dụ việc Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình.”
Và đại sứ Mỹ giải thích về mục đích của hợp tác quân sự giữa hai nước thời gian qua.
“Chúng tôi tin quan hệ quân sự mạnh mẽ đóng góp cho hòa bình, ổn định trong khu vực, giúp hai bên tham gia các hoạt động cứu trợ thảm họa, thiên tai. Duy trì quan hệ quân sự tốt cũng giúp chúng tôi thực hiện chương trình trợ giúp quân sự, y tế, xây trường học, chữa bệnh cho người dân ở Việt Nam.”
Nhìn lại 15 năm quan hệ ngoại giao Việt Mỹ, ông Michalak cho rằng hai nước không phải lúc nào cũng đồng quan điểm trong mọi chủ đề. Đối với những gì khác biệt, hai nước nay đã ngồi lại nói chuyện thẳng thắn.
Chủ đề làm việc giữa quan chức Mỹ và Việt Nam cũng đã mở rộng trên nhiều lĩnh vực, đại sứ Michalak nhận xét.
Và ông giải thích: “Hai nước có có quan tâm giống nhau, có lợi ích chung, ví dụ như hòa bình và ổn định ở khu vực Đông Á. Hai nước cũng quan tâm phải có một hệ thống giáo dục tốt, thúc đẩy hệ thống thương mại toàn cầu.”
Trước câu hỏi của phóng viên Tân Hoa Xã (Trung Cộng) về quan điểm của Mỹ đối với tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, đại sứ Michalak nhắc đến quan điểm thường thấy của phía Mỹ. Đó là Hoa Kỳ không đứng về phía nào trước tuyên bố đòi chủ quyền các đảo nhỏ ở Biển Đông.
“Hoa Kỳ quan ngại về tự do giao thương hàng hải, tự do hoạt động ở vùng biển đó theo luật quốc tế,” đại sứ Mỹ nói. Ông không cần nói thêm, mọi người cũng vẫn thấy hai điều quan ngại của ông, được giải quyết theo luật hàng hải quốc tế cũng đã quá đủ để gây thiệt thòi cho Trung Cộng rồi.
Chúng ta thử hình dung một diễn biến:
tối Chủ Nhật 18 tháng Bảy- 12 tiếng đồng hồ trước giờ khai mạc hội nghị ARF- một chiếc ngư thuyền Việt Nam đánh bắt trong hải phận Hoàng Sa, hòn đảo đang bị Tầu chiếm đóng, và bị một chiếc tầu “ngư chính” của Tầu tiến lại với ý đồ bắt giữ.
Trong lúc nhiều ngư phủ lên boong thuyền, đưa tay lên ôm đầu tỏ dấu hiệu đầu hàng thì hai ngư phủ chui vào khoang lấy ra 2 khẩu SKZ 75 ly; họ đồng loạt bắn vào mạn tầu Trung Cộng.
Trúng hai viên đại bác, chiếc chiến hạm trá hình thành tầu ngư chính, nghiêng hẳn sang một bên, nhiều thủy thủ Trung Cộng văng xuống biển; hai anh ngư phủ Việt Nam bình tĩnh nạp thêm 2 quả đạn thứ nhì vào nòng súng còn bốc khói; họ lại nhả thêm 2 quả đạn này nữa vào xác chiếc tầu tội lỗi để tạo ra một va chạm quân sự nhỏ.
Ngày hôm sau, phút cử hành lễ khai mạc ARF vừa dứt, bà ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton bị một phóng viên Fox hỏi về việc chiếc tầu ngư chính Trung Cộng bị đánh chìm với 22 thủy thủ đoàn. Bà trả lời là bà không biết gì cả về diễn biến này, bà nói thật, trưởng phái đoàn Trung Cộng cũng nói thật là ông ta không biết; phái đoàn Việt Cộng cũng lắc đầu; họ không biết thật, nhưng không ai tin họ.
Hai khẩu SKZ được chùi xuống lòng biển, cả 4 quả đạn chưa sử dụng cũng được phi tang; và chiếc ngư thuyền bí mật lẩn vào bóng đêm trở về Quảng Ngãi trước khi mặt trời mọc.
Ngày hôm sau đại tá Việt Cộng Nguyễn Văn Tuyến, chỉ huy trưởng Vùng 2 Hải Quân, và đại tá Việt Cộng Mai Tiến Tuyên, chính ủy của Vùng này bị cất chức trong cùng một quyết định. Lý do: trong kho vũ khí của Vùng 2 Hải Quân thiếu 2 cây SKZ và 2 thùng đạn, mỗi thùng 4 quả.
Tuyên bảo Tuyến, “cất chức chỉ là cất quyền chỉ huy thôi, không bị giáng cấp, không bị sa thải là may lắm đó.”
“Mình có tội gì quá đáng đâu mà giáng cấp, mà sa thải?”
“Anh không biết là ngày hôm qua không một chiếc ghe Quảng Ngãi nào ra khơi à? Mọi người ở Quảng Ngãi đều biết mưu định gây ra va chạm quân sự nhỏ, chỉ có mình là không biết,” Tuyên bảo bạn. “Dân chúng tự động tạo ra va chạm; họ để mình đứng ngoài vì họ không tin lập trường của mình muốn bảo vệ biển, đảo.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Nguyễn Ðạt Thịnh
Nhu cầu của nước Việt Nam và của người Việt Nam là có ngay tức khác những cuộc va chạm quân sự nhỏ với Trung Cộng ngoài Biển Ðông; ngược lại, nhu cầu của Trung Cộng là tránh tối đa, không để xẩy ra những cuộc va chạm như vậy.
Va chạm quân sự nhỏ có nhiều khả năng đưa đến thái độ can thiệp của mọi quốc gia Thái Bình Dương. Trung Cộng không muốn có sự can thiệp này, nhưng chúng không lo ngại thái quá, vì nước Việt Nam và người Việt Nam không có phương tiện quân sự cần thiết để tạo ra những va chạm quân sự nhỏ. Chỉ có Việt Cộng mới có những phương tiện quân sự này.
Chúng yên tâm vì Việt Cộng, những người có vũ khí, có chiến hạm, để tạo ra những cuộc va chạm quân sự nhỏ trên mặt biển, lại là những người đang nằm gọn trong lòng bàn tay chúng. Chúng đã muốn tránh những va chạm quân sự nhỏ thì Việt Cộng sẽ làm mọi cách để ngăn chặn không để những va chạm nhỏ này xẩy ra.
Thứ trưởng quốc phòng Việt Cộng, ông Nguyễn Chí Vịnh, nói trong một cuộc họp báo có sự hiện diện của nhiều phóng viên truyền thông ngoại quốc: "không một nước nào có lợi, khi sử dụng sức mạnh quân sự ở Biển Đông". Ông nói sai vì ông vẫn còn là một người Việt Nam, dù ông có mất giống, bỏ lập trường Việt Nam để đi bênh vực quan điểm của Trung Cộng.
Quan điểm này là giữ cho Biển Ðông mãi mãi là một vùng yên bình, vùng không có tiếng súng; những tranh chấp trên Biển Ðông chỉ là vấn đề riêng giữa hai nước Tầu và Việt. Càng riêng tư Trung Cộng càng dễ hiếp đáp Việt Nam và thủ lợi. Bất cứ một va chạm quân sự nào, dù nhỏ đến đâu cũng có thể quốc tế hóa cuộc tranh chấp Biển Ðông.
Ông Vịnh còn đi sâu thêm nữa vào sai lầm, khi ông khẳng định: "Việc giải quyết vấn đề Biển Đông bằng giải pháp hòa bình không phải từ thiện chí mà từ nhu cầu, yêu cầu khách quan của tất cả các nước liên quan."
Sai vì giữ cho Biển Ðông không sóng gió không phải là lợi ích hay nhu cầu của Việt Nam. Câu nói có thể được coi là khôn ngoan, nếu ông Vịnh là thứ trưởng quốc phòng Úc, Ấn, Thái, Phi Luật Tân, Nam Dương … những nước không có va chạm quyền lợi trên quy mô lớn, toàn diện, trực tiếp, và tức khắc với Trung Cộng.
Va chạm quyền lợi vì ngư phủ Trung Cộng tự do vào Biển Ðông đánh cá trong lúc lính Tầu cấm ngư phủ Việt Nam không được hành nghề trên Biển Ðông, biển Việt Nam; kỹ sư Trung Cộng đến Hoàng Sa của Việt Nam, thăm dò và chuẩn bị khai thác giếng dầu, và chiến hạm Trung Cộng trá hình “tầu cảnh sát biển”, bắt, bắn, giết, đánh đập, và đòi ngư dân Việt Nam nộp phạp vì tội vi phạm luật biển của Tầu trong lúc hành nghề trên biển Việt Nam.
Trung Quốc Thông tấn xã cho hay lực lượng tuần ngư Nam Hải (Biển Đông) chỉ trong hai ngày phát hiện hàng chục tàu cá Việt Nam "xâm phạm lãnh hải" ở Vịnh Bắc bộ, trục xuất hai tàu.
Ngư thuyền Việt Nam nhiều lần bị Trung Cộng bắt giữ
Hiện Trung Cộng vẫn đang thực hiện lệnh cấm đánh bắt kéo dài hơn hai tháng ở phần lớn Biển Đông mà nước này tuyên bố chủ quyền.
Hãng thông tấn đặt tại Hong Kong nói trong hai ngày 30 tháng Sáu và mùng 1 tháng Bẩy 2010, ba đơn vị của cơ quan tuần tra ngư chính Trung Quốc kết hợp với công an biên phòng đã phát hiện hàng chục tàu cá Việt Nam "xâm phạm lãnh hải Trung Quốc tại Vịnh Bắc Việt, để thực hiện các hoạt động bất hợp pháp cũng như đánh bắt trái phép".
Cơ quan chức năng của Trung Quốc đã giữ 5 tàu cá của Việt Nam để kiểm tra và trục xuất hai tàu.
Một số trang tin điện tử khác của Trung Quốc cho hay hai tàu bị trục xuất mang số hiệu HD9035787H và NA47047H. Hai tàu này đã bị dẫn về cảng để xử lý, sau đó trục xuất.
Số tàu cá Việt Nam bị cho là xâm phạm lãnh hải và vi phạm lệnh cấm đánh bắt của Trung Quốc hiện bị giữ không có thống kê chính xác nhưng không phải nhỏ.
Đa số là các tàu cá của ngư dân miền Trung, nhưng con số cũng gia tăng trong khu vực Vịnh Bắc Việt.
Tại đây, hai bên đã có cơ chế tuần tra chung, nhưng không thấy những đoàn tuần tra này bắt được một tàu cá nào của phía Trung Quốc vi phạm.
Lệnh cấm đánh bắt với mục đích "bảo vệ nguồn cá" của Trung Quốc được đơn phương đưa ra hàng năm, năm nay từ 16 tháng 5 tới mùng 1 tháng Tám.
Những va chạm quyền lợi này chỉ có thể giải quyết bằng va chạm quân sự; đó là điều cần thiết cấp bách, phải thực hiện ngay trước hay trong lúc cuộc Diễn Ðàn An Ninh Cấp Vùng ARF (Asian Regional Forum) diễn ra tại Hà Nội từ 19 đén 23 tháng Bẩy 2010.
Va chạm quân sự đề cập trong bài báo này là loại skirmishes- những cuộc giao tranh nhỏ thường xẩy ra trên biên giới 2 quốc gia có biên giới chung, nhưng lại có nhiều quyền lợi riêng tư, khác biệt, nhất là trên vùng đất biên giới. Trước kia, Trung Cộng thường có những va chạm quân sự nhỏ với quân Nga và quânẤn Ðộ; hiện nay chúng va chạm với ngư dân Việt Nam.
Ðiển hình mới nhất cho một va chạm quân sự vừa xẩy ra, là chiếc tiểu hạm Cheonan của hải quân Nam Hàn bị Bắc Hàn phóng thủy lôi, đánh chìm hôm 26 tháng Ba, giết chết 46 thủy thủ Nam Hàn.
Va chạm quân sự này không đủ lớn để phát động chiến tranh, nhưng viễn ảnh chiến tranh đã được sử dụng với mục đích răn đe, và dưới hình thức một cuộc biểu diễn hải lực Nam Hàn-Hoa Kỳ dự định sẽ thực hiện trên hải phận quốc tế trong vùng biển Hoàng Hải, nơi chiếc Cheonan bị đánh đắm.
Cuộc biểu dương hải quân Mỹ-Nam Hàn chưa kịp thực hiện thì Trung Cộng đã vội vàng công bố một cuộc biểu diễn hải quân tại Ðông Hải (không phải Biển Ðông Việt Nam), hai cuộc biểu diễn hải lực này chỉ cách nhau trên 1,000 haỉ lý.
Bộ tổng tham mưu quân đội Trung Cộng nói họ sẽ thử loại hỏa tiễn mới có khả năng tự điều khiển đường bay để tìm mục tiêu, và có tầm bắn 2,000 hải lý. Loại hỏa tiễn này được Trung Cộng đặt tên là DF21D, và đặt bí danh là “air carrier killer” (hỏa tiễn diệt hàng không mẫu hạm). Hai chữ DF là để viết tắt hai chữ Ðông Phong.
Bắc Hàn phủ nhận họ không phải là thủ phạm phóng thủy lôi đánh đắm tầu Nam Hàn; dĩ nhiên không ai tin lời họ, tổng thống Obama nói trước cuộc hội nghị của phái đoàn 20 nước tham dự hội nghị G20 tại Toronto là, “Có một khác biệt giữa thái độ tự chế và thái độ cố tình nhắm mắt trước một vấn đề rõ rệt.”
Mọi người hiểu thâm ý không nói ra của ông: tự chế là thái độ của Hoa Kỳ trong cuộc va chạm quân sự hạn chế tại Hoàng Hải, và “cố tình nhắm mắt” là thái độ của Trung Cộng; Obama chỉ chưa nói là thái độ của Trung Cộng khiêu khích Hoa Kỳ và khuyến khích hành động khiêu chiến Bắc Hàn đang làm tại vùng biển Cao Ly.
Sau phiên họp chính thức, Obama còn nói với truyền thông ông hy vọng chủ tịch Trung Cộng Hồ Cẩm Ðào nhìn nhận Bắc Hàn đã quá đáng trong vụ đánh đắm chiếc tiểu hạm Nam Hàn. Ông cũng tuyên bố ông hy vọng Liên Hiệp Quốc có thái độ dứt khoát, rõ rệt về hành động của Bắc Hàn.
Phát ngôn viên của Ngũ Giác Ðài cũng công bố là cuộc thao diễn hải quân của hai nước Nam Hàn và Hoa Kỳ, dự định khởi diễn ngày thứ Hai 6/28 được dời sang tháng Bẩy.
So với vụ va chạm Cheonan, việc hải quân Trung Cộng đang làm trên Biển Ðông quan trọng hơn, vì mang tính chất khác biệt với những cuộc va chạm biên giới trước đây. Khác vì Biển Ðông không phải là biên giới, như những vùng biên giới Trung Cộng với Nga và với Ấn, Biển Ðông cũng không phải là lãnh hải chung của thế giới, mà Biển Ðông là vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Khác biệt này khiến sự hiện diện của tầu tuần Trung Cộng trên Biển Ðông mang tính chất xâm lược.
Trung Cộng đang thực hiện một cuộc chiến xâm lược trên vùng biển Việt Nam: chúng nhận vơ Biển Ðông là Biển Nam-Trung-Hoa, cá trong Biển Ðông là cá của Tầu, và dầu hỏa duới lòng Biển Ðông là nguyên liệu của Tầu.
Khác biệt giữa những cuộc chạm súng Hoa-Nga và Hoa-Ấn trên biên giới Trung Hoa, với tình hình yên bình, không chạm súng trên Biển Ðông là ở chỗ những va chạm quyền lợi giữa Trung Cộng với hai nước Nga và Ấn chỉ giới hạn trên lằn ranh biên giới của 3 nước này, trong lúc va chạm quyền lợi trên Biển Ðông xẩy ra trên mặt biển và trong lòng biển Việt Nam.
Những cuộc chạm súng giữa quân Tầu với quân Ấn và quân Nga chỉ là va chạm, trong lúc chạm súng, nếu xẩy ra trên Biển Ðông, là một cuộc xâm lược rõ rệt mà Trung Cộng không phủ nhận được. Chính vì cần duy trì tình trạng mập mờ đánh lận tính chất xâm lược này mà Trung Cộng thường xuyên dạy dỗ các quan Việt Cộng phải thuộc lòng 16 chữ vàng, lấy tình nghĩa lân bang làm căn bản giải quyết mọi vấn đề.
Chúng đang thành công trong việc tạo cho Việt Cộng một lập trường có lợi cho chính sách của Trung Cộng chiếm đoạt Biển Ðông.
Lập trường của Việt Cộng
Chính sách dâng Biển Ðông cho Trung Cộng đang được nhiều ông quan Việt Cộng thực thi kiến hiệu: trong lúc thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh đề cao việc công an Việt Cộng bịt miệng người Việt Nam, treo nồi ngư dân Việt Nam là “nhu cầu, yêu cầu khách quan của tất cả các nước liên quan đến Biển Ðông” thì bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh được tổng tham mưu phó Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Mã Hiểu Thiên mớm lời vào hôm cuối cùng của cuộc đối thoại Shangri-La tháng Sáu (từ ngày mùng 4 đến mùng 6)
Thanh nói với truyền thông cuộc trao đổi giữa ông với lãnh đạo quân đội Trung Quốc đã diễn ra thân tình, cởi mở, thẳng thắn, về tất cả các vấn đề trên tinh thần "hữu nghị, anh em".
Ông nhìn nhận là giữa hai nước còn tranh chấp, nhưng tranh chấp chỉ là những vấn đề lịch sử để lại, và cần đàm phán hòa bình để vừa giữ chủ quyền lãnh thổ, vừa ổn định phát triển.
Trung Cộng dạy bảo Thanh công bố là “Đặc biệt, chúng ta phải chú ý không để cho các nước khác kích động vấn đề này. Không để các lực lượng xấu sử dụng vấn đề Biển Đông để kích động, chia rẽ quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, chia rẽ quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân chúng ta."
Quan hệ giữa đảng Việt Cộng và người dân Việt Nam đã bị chia rẽ trong diễn biến xẩy ra hôm 28 tháng Sáu, mà công an Việt Cộng chưa tìm được bàn tay lông lá của lực lượng xấu nào xúi dục cả.
Ngày hôm đó một số dân oan ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng, Hà Nội đã mặc trên người chiếc áo có in nhãn hiệu của FIFA World Cup 2010 và hàng chữ “HS – TS – VN”. Hàng chữ này là nhằm khẳng định “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” và đã được nhiều người Việt Nam cùng viết, cùng vẽ ở khắp nơi để biểu lộ lòng yêu nước.


Từ trái: sáu chữ HS-TS-VN viết bằng máu người Việt Nam; và một ái nữ của bà Trưng, bà Triệu
Sáng kiến in trên áo có nhãn hiệu của FIFA World Cup 2010 và hàng chữ “HS – TS – VN” vào mùa bóng đá thế giới tại Nam Phi đã gây sự chú ý đặc biệt của bà con dân oan và người qua lại ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng.
Sáng ngày 29/6, một số dân oan với chiếc áo này trên người đã khởi hành từ vườn hoa Mai Xuân Thưởng đi đến trụ sở tiếp dân ở số 110 đường Cầu Giấy, Hà Nội. Khi từ trụ sở tiếp dân trở về vườn hoa Mai Xuân Thưởng, họ bị công an phục kích và bắt 4 người dân oan đưa về đồn công an phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ để thẩm vấn từ 11 giờ trưa đến 7 giờ tối mới thả về.
Công an cho rằng việc các người dân oan này mặc áo có chữ “HS – TS – VN” như vậy là phạm pháp. Các người dân oan bị bắt hỏi lại là mặc áo có hàng chữ này vi phạm điều khoản nào của luật nhà nước? Công an không trả lời được, nhưng cuối cùng vẫn lập biên bản thu giữ áo và cho 4 người này ra về.
Nhóm dân oan này cho biết họ sẽ tiếp tục mặc chiếc áo có hàng chữ “HS – TS – VN”, vì đây không phải là một hành động phạm pháp.
Nhưng nhóm công dân Việt Nam cho là việc họ mặc áo đòi HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM chỉ là việc của họ; uất ức của họ được nói lên trong một ngày, hoặc đúng hơn nữa là trong vài tiếng đồng hồ của hai ngày 28 và 29 tháng Sáu.
Ông đại tướng Thanh không đồng ý: ông nói lớn hơn, ông dõng dạc bảo mọi người là, “Nếu xảy ra xung đột quân sự ở Biển Đông, không chỉ các quốc gia Đông Nam Á, mà cả thế giới bị ảnh hưởng.
"Cho nên các nước phải hết sức bình tĩnh, phải hết sức tự kiềm chế, phải xử lý ở tầm cao chiến lược."
Thanh còn nói: "Tất cả các nước đều thống nhất với nhau một điểm là phải duy trì môi trường hòa bình, ổn định trên Biển Đông. Chúng ta cũng giữ quan điểm độc lập, tự chủ, không để Hoa Kỳ can thiệp vào những công việc nội bộ của Việt Nam."
Ông quan Việt Cộng thứ ba được Trung Cộng dạy dỗ là phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm; Trung Cộng đòi ông sang Bắc Kinh tham dự cuộc họp lần thứ tư của Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương (Tầu-Việt), và tại Bắc Kinh hôm mùng 2 tháng Bẩy 2010, các quan cao cấp Việt Cộng-Trung Cộng thỏa thuận sẽ cùng giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông một cách "đúng mực". (đúng mức?)
Trung Cộng tổ chức cuộc họp này với mục đích duy nhất là mớm lời cho Khiêm, trong buổi họp ARF (Asian Regional Forum) diễn ra tại Hà Nội từ 19 đến 23 tháng Bẩy 2010.
Lập trường của Trung Cộng
Trong khi đó, hãng tin Nhật Bản Kyodo xác nhận Trung Quốc đã chính thức thông báo với Hoa Kỳ rằng Biển Đông đã trở thành một trong các "quan tâm chủ chốt" của nước họ, bên cạnh Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương.
Ðiều này có nghĩa là sau khi nuốt trôi được hai dân tộc Tây Tạng, Tân Cương, và ép Hoa Kỳ xác nhận Ðài Loan là một tỉnh của Trung Hoa, giờ này Trung Cộng muốn Biển Ðông Việt Nam thành biển Nam Hải của Tầu.
Trung Cộng giải thích 4 chữ “Quan tâm chủ chốt” (core interest) có nghĩa là những chủ điểm mà chúng không chấp nhận nhượng bộ.
Theo Kyodo, Trung Quốc đã loan báo chính sách mới cho Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ James Steinberg và giám đốc cao cấp các vấn đề châu Á tại Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ Jeffrey Bader, khi hai ông này thăm Bắc Kinh hồi đầu tháng Ba.
Chúng đang tự tạo được nhiều dễ dàng cho chúng, bằng cách nắm đầu Việt Cộng.
Cuộc họp Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương Việt Nam - Trung Quốc vừa được tổ chức chỉ để giải quyết những vấn đề Biển Ðông.
Tân Hoa Xã trích lời ông Phạm Gia Khiêm nói rằng Việt Nam mong muốn cùng Trung Quốc giải quyết vấn đề Biển Đông một cách "đúng mực", dựa trên quan hệ chung giữa hai nước và tình hữu nghị giữa hai dân tộc.
Chủ đề Biển Đông cũng được đề cập tới trong cuộc hội kiến của Phạm Gia Khiêm với Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hôm thứ Sáu 7/02. Khiêm không tiết lộ gì cả, và cũng không nói câu nào có tính ràng buộc cả. Đới Bỉnh Quốc cũng chỉ nói hai nước cần "nhìn về lâu dài" và giữ quan hệ láng giềng tốt.
Lập trường của Hoa Kỳ
Trong cuộc gặp báo giới tại Hà Nội ngày 29/6 đại sứ Michael Michalak loan báo ngoại trưởng Hillary Clinton sẽ đến Việt Nam cuối tháng Bảy dự Diễn đàn An ninh cấp vùng, ARF.
Cuộc họp ARF bàn về sáng kiến thúc đẩy an ninh vùng Á châu, quy tụ đại diện của khối Asean và quan chức cao cấp từ 17 nước.
Trong đó có Nga, Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật, Ấn Độ, Úc, Canada, Nam và Bắc Hàn…
ARF họp trong bốn ngày tại Hà Nội, từ 19 đến 23 tháng Bảy.
Bên ngoài cuộc hội luận chính thức, bà Clinton sẽ tham dự các hoạt động song phương như bà sẽ gặp quan chức chính phủ Việt Nam bàn về chủ đề hai bên cùng quan tâm như thương mại, giáo dục, không phổ biến vũ khí hạt nhân.
Cuộc gặp mặt giữa đại sứ Hoa Kỳ và báo giới tại Hà Nội được tổ chức nhằm kỷ niệm 15 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Mỹ-Việt.
Ông Michalak cũng loan báo Thượng nghị sĩ Jim Webb và đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ tại Việt Nam Pete Peterson sẽ đến Hà Nội tuần tới dự hội thảo “nhìn lại quan hệ giữa hai nước trong 15 năm.”
Ngoài ra đại sứ quán Mỹ hiện đang “làm việc chặt chẽ” với chính phủ Việt Nam để thu xếp chuyến thăm của tàu hải quân Hoa Kỳ trong tháng Tám.
“Hợp tác quân sự giữa hai nước đã phát triển tuyệt vời trong 15 năm qua,” đại sứ Hoa Kỳ nhấn mạnh khi trả lời câu hỏi của báo Tuổi Trẻ.
“Chúng ta có quan hệ quân sự mở rộng qua các khóa đào tạo tiếng Anh cho sĩ quan quân đội Việt Nam, hợp tác tìm kiếm cứu nạn. Hy vọng hai bên sẽ tham gia các hoạt động chung, ví dụ việc Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình.”
Và đại sứ Mỹ giải thích về mục đích của hợp tác quân sự giữa hai nước thời gian qua.
“Chúng tôi tin quan hệ quân sự mạnh mẽ đóng góp cho hòa bình, ổn định trong khu vực, giúp hai bên tham gia các hoạt động cứu trợ thảm họa, thiên tai. Duy trì quan hệ quân sự tốt cũng giúp chúng tôi thực hiện chương trình trợ giúp quân sự, y tế, xây trường học, chữa bệnh cho người dân ở Việt Nam.”
Nhìn lại 15 năm quan hệ ngoại giao Việt Mỹ, ông Michalak cho rằng hai nước không phải lúc nào cũng đồng quan điểm trong mọi chủ đề. Đối với những gì khác biệt, hai nước nay đã ngồi lại nói chuyện thẳng thắn.
Chủ đề làm việc giữa quan chức Mỹ và Việt Nam cũng đã mở rộng trên nhiều lĩnh vực, đại sứ Michalak nhận xét.
Và ông giải thích: “Hai nước có có quan tâm giống nhau, có lợi ích chung, ví dụ như hòa bình và ổn định ở khu vực Đông Á. Hai nước cũng quan tâm phải có một hệ thống giáo dục tốt, thúc đẩy hệ thống thương mại toàn cầu.”
Trước câu hỏi của phóng viên Tân Hoa Xã (Trung Cộng) về quan điểm của Mỹ đối với tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, đại sứ Michalak nhắc đến quan điểm thường thấy của phía Mỹ. Đó là Hoa Kỳ không đứng về phía nào trước tuyên bố đòi chủ quyền các đảo nhỏ ở Biển Đông.
“Hoa Kỳ quan ngại về tự do giao thương hàng hải, tự do hoạt động ở vùng biển đó theo luật quốc tế,” đại sứ Mỹ nói. Ông không cần nói thêm, mọi người cũng vẫn thấy hai điều quan ngại của ông, được giải quyết theo luật hàng hải quốc tế cũng đã quá đủ để gây thiệt thòi cho Trung Cộng rồi.
Chúng ta thử hình dung một diễn biến:
tối Chủ Nhật 18 tháng Bảy- 12 tiếng đồng hồ trước giờ khai mạc hội nghị ARF- một chiếc ngư thuyền Việt Nam đánh bắt trong hải phận Hoàng Sa, hòn đảo đang bị Tầu chiếm đóng, và bị một chiếc tầu “ngư chính” của Tầu tiến lại với ý đồ bắt giữ.
Trong lúc nhiều ngư phủ lên boong thuyền, đưa tay lên ôm đầu tỏ dấu hiệu đầu hàng thì hai ngư phủ chui vào khoang lấy ra 2 khẩu SKZ 75 ly; họ đồng loạt bắn vào mạn tầu Trung Cộng.
Trúng hai viên đại bác, chiếc chiến hạm trá hình thành tầu ngư chính, nghiêng hẳn sang một bên, nhiều thủy thủ Trung Cộng văng xuống biển; hai anh ngư phủ Việt Nam bình tĩnh nạp thêm 2 quả đạn thứ nhì vào nòng súng còn bốc khói; họ lại nhả thêm 2 quả đạn này nữa vào xác chiếc tầu tội lỗi để tạo ra một va chạm quân sự nhỏ.
Ngày hôm sau, phút cử hành lễ khai mạc ARF vừa dứt, bà ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton bị một phóng viên Fox hỏi về việc chiếc tầu ngư chính Trung Cộng bị đánh chìm với 22 thủy thủ đoàn. Bà trả lời là bà không biết gì cả về diễn biến này, bà nói thật, trưởng phái đoàn Trung Cộng cũng nói thật là ông ta không biết; phái đoàn Việt Cộng cũng lắc đầu; họ không biết thật, nhưng không ai tin họ.
Hai khẩu SKZ được chùi xuống lòng biển, cả 4 quả đạn chưa sử dụng cũng được phi tang; và chiếc ngư thuyền bí mật lẩn vào bóng đêm trở về Quảng Ngãi trước khi mặt trời mọc.
Ngày hôm sau đại tá Việt Cộng Nguyễn Văn Tuyến, chỉ huy trưởng Vùng 2 Hải Quân, và đại tá Việt Cộng Mai Tiến Tuyên, chính ủy của Vùng này bị cất chức trong cùng một quyết định. Lý do: trong kho vũ khí của Vùng 2 Hải Quân thiếu 2 cây SKZ và 2 thùng đạn, mỗi thùng 4 quả.
Tuyên bảo Tuyến, “cất chức chỉ là cất quyền chỉ huy thôi, không bị giáng cấp, không bị sa thải là may lắm đó.”
“Mình có tội gì quá đáng đâu mà giáng cấp, mà sa thải?”
“Anh không biết là ngày hôm qua không một chiếc ghe Quảng Ngãi nào ra khơi à? Mọi người ở Quảng Ngãi đều biết mưu định gây ra va chạm quân sự nhỏ, chỉ có mình là không biết,” Tuyên bảo bạn. “Dân chúng tự động tạo ra va chạm; họ để mình đứng ngoài vì họ không tin lập trường của mình muốn bảo vệ biển, đảo.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Trên 4,000 Đồng Hương Chống Lại Sự Tuyên Vận Của CSVN
Ngày 25-07-2010, giờ 11:57 Nguyễn Thuỳ Trang Tường Trình Từ Nam Cali. Chiều thứ Bảy ngày 24 tháng 07 -2010, ánh nắng bắt đầu diu lại vài cơn gío thỏang thổi lung linh hàng dừa trên con đường Katella Ave T.P Anaheim . Lúc 4 giờ chiều, con đường đang vắng lặng, thỉnh thỏang vài chiếc xe chạy ngang qua ... nhưng đúng 6 giờ chiều, Tại Trung Tâm Hội Nghị Anaheim có trên 1,000 đồng bào đã đến đây biểu tình chống lại sự xâm nhập của CS qua Nghị Quyết 36 . Một buổi ca nhạc được tổ chức nơi đây cho nghệ sĩ "nhân dân" Đàm Vĩnh Hưng trình diễn . Chỉ trong vòng 49 phút sau vào lúc 6giờ 49 PM thì số người biểu tình đã dâng cao như ngọn sóng, từng lớp cuồn cuộn lên trên 3,000 người con số nầy vẫn chưa chấm dứt vì đồng bào đến lúc càng đông hơn, đòan người đứng tràn ngập sân cỏ ngay trước mặt Nghị Trường Anaheim tràn sang con phía đường Disney Way phía sau lưng .
Hằng nghìn đồng hương khác đã phải đi qua khu vực Parking của Hilton, một số đông đứng phía sau sân đậu xe , một số khác leo lên hành lang đưa con số biểu tình lên trên 4,000 đồng hương có thể đếm được vì hằng hằng lớp lớp người chen chân, ép vào nhau để tìm chổ đứng .
Sau vụ biểu tình tại Nam Cali chống Trần Trường mà cao điểm là 20,000 người . Đây phải nói là cuộc biểu tình đông nhất của người Việt Quốc gia tại Nam Cali chống lại sự tuyên vận của CSVN . Ngày 24 tháng 07 năm 2010, phải nói là một ngày lịch sử đánh dấu sự lớn mạnh của cộng đồng Nam California .
Đòan tiếp viện đông đảo đồng hương Bắc California đã có mặt nơi đây vào đúng 6 giờ 2 phút chiều, với sự có mặt của Lý Tống đã đưa khí thế cuộc biểu tình dâng cao . Lý Tống phát biểu với nội dung như sau: Chúng ta phải chống lại cánh tay bạch tuột của đảng CSVN, một phần tử nhỏ đã bị CS ru ngủ, tiếp tay đưa nghị quyết 36 ra hải ngọai, CS đã tấn công chúng ta trên nhiều mặt trận mà trong đó có 2 mặt quan trọng là chính trị và kinh tế . Lý Tống nói thêm về sự kiện đồng bào ta tranh đấu cho cái tên Little Saigon tại San Jose vì cái tên mang nhiều ý nghĩa của một Saigon tự do, nếu chúng ta không chiến đấu ngăn chận sự bành trướng của CS thì một ngày nào đó chúng ta sẽ bị cô lập như một nhà tù lớn nằm dưới sự cai trị của đảng CSVN ...
Tiếng Lý Tống vừa dứt thì tiếng hoan hô ,nhiều tiếng la "đả đảo CSVN", "VC go home!, VC go home!" đã vang dội từ con đường W. Katella Ave tới tận phía bên kia đường S.West St . Hàng cờ Vàng và cờ Hoa Kỳ tràn ngập và đẹp như một rừng hoa nở rộ trong ánh sáng của buổi chiều nắng ấm .
Trong lúc đồng bào biểu tình phía bên kia đường W.Katella, ít người chú ý đến từng đòan xe búyt đưa những Du Sinh đến phía bên kia đường West St . Sứ quán CSVN tại San Francisco đã tốn rất nhiều công sức để huy động, phát vé free cho các Du Sinh muốn tham dự đại nhạc hội Đàm Vĩnh Hưng tại Anaheim sẽ được đưa đón , được ở Khách sạn dưới sự đài thọ của Lãnh Sự quán CSVN .
Một em du sinh cho tôi biết nếu :" Sứ quán nói là ai muốn đi xem thì đi, nhưng không đi thì họ sẽ làm khó dễ, hầu hết các du sinh không ai muốn đi xem buổi văn nghệ nầy nhưng vì tình thế bắt buộc phải đi ." Thật đúng như vậy, số du sinh được xe búyt đổ xuống hằng lọat đi vào xem hát mà nhiều em phải cúi đầu, che mặt khi đi ngang qua đòan người biểu tình . Nếu Lãnh Sự Quán SF không làm vậy thì hình ảnh ế ẩm của buổi ca nhạc tuyên tuyền Đàm Vĩnh Hưng sẽ không có hình để đăng lên báo chí trong nước để tuyên truyền, vì vấn đề nầy mà CSVN phải chịu chi hằng trăm nghìn dollars để đài thọ, để mướn xe búyt, phát vé free và trả tiền khách sạn cho cả nghìn du sinh để tới xem văn nghệ .
Ngược lại với điều nầy, cộng đồng tị nạn Nam Cali đã đến với cả tấm lòng, tuổi trẻ thanh niên, sinh viên đã cầm lá cờ Vàng tung bay trước gió mà lúc sinh ra sau 75 những thanh niên nầy có thể chưa hiểu hết được ý nghĩa cao cả của lá cờ mà mình đang cầm trên tay, lá cờ của sự tự do chống lại sự xâm lăng của CS, bảo vệ no ấm cho Miền Nam VN .
Trên 4,000 đồng hương đã tới đây để biểu lộ tinh thần một lòng với các nhà tranh đấu dân chủ trong nước, một lòng quyết tâm ngăn chận sự xâm nhập của cộng sản qua nghị quyết 36 được che dấu dưới lá bài văn nghệ trong buổi trình diễn của Đàm Vĩnh Hưng tại Nam Cali . Phải nói những thanh niên hăng hái và xông xáo nhảy vào cuộc có Thanh Niên Cờ Vàng, Thanh Niên Phan Bội Châu, các hội sinh viên VN tại các trường Đại Học, Trung Học Nam Cali đã có mặt trong cuộc biểu tình làm cho trái tim của đồng bào tôi đập mạnh "Mẹ VN ơi chúng con vẫn còn đây !" .
Tường trình từ Nam cali
Nguyễn Thùy Trang (Vietland Staff)
Ngày 25-07-2010, giờ 11:57 Nguyễn Thuỳ Trang Tường Trình Từ Nam Cali. Chiều thứ Bảy ngày 24 tháng 07 -2010, ánh nắng bắt đầu diu lại vài cơn gío thỏang thổi lung linh hàng dừa trên con đường Katella Ave T.P Anaheim . Lúc 4 giờ chiều, con đường đang vắng lặng, thỉnh thỏang vài chiếc xe chạy ngang qua ... nhưng đúng 6 giờ chiều, Tại Trung Tâm Hội Nghị Anaheim có trên 1,000 đồng bào đã đến đây biểu tình chống lại sự xâm nhập của CS qua Nghị Quyết 36 . Một buổi ca nhạc được tổ chức nơi đây cho nghệ sĩ "nhân dân" Đàm Vĩnh Hưng trình diễn . Chỉ trong vòng 49 phút sau vào lúc 6giờ 49 PM thì số người biểu tình đã dâng cao như ngọn sóng, từng lớp cuồn cuộn lên trên 3,000 người con số nầy vẫn chưa chấm dứt vì đồng bào đến lúc càng đông hơn, đòan người đứng tràn ngập sân cỏ ngay trước mặt Nghị Trường Anaheim tràn sang con phía đường Disney Way phía sau lưng .
Hằng nghìn đồng hương khác đã phải đi qua khu vực Parking của Hilton, một số đông đứng phía sau sân đậu xe , một số khác leo lên hành lang đưa con số biểu tình lên trên 4,000 đồng hương có thể đếm được vì hằng hằng lớp lớp người chen chân, ép vào nhau để tìm chổ đứng .
Sau vụ biểu tình tại Nam Cali chống Trần Trường mà cao điểm là 20,000 người . Đây phải nói là cuộc biểu tình đông nhất của người Việt Quốc gia tại Nam Cali chống lại sự tuyên vận của CSVN . Ngày 24 tháng 07 năm 2010, phải nói là một ngày lịch sử đánh dấu sự lớn mạnh của cộng đồng Nam California .
Đòan tiếp viện đông đảo đồng hương Bắc California đã có mặt nơi đây vào đúng 6 giờ 2 phút chiều, với sự có mặt của Lý Tống đã đưa khí thế cuộc biểu tình dâng cao . Lý Tống phát biểu với nội dung như sau: Chúng ta phải chống lại cánh tay bạch tuột của đảng CSVN, một phần tử nhỏ đã bị CS ru ngủ, tiếp tay đưa nghị quyết 36 ra hải ngọai, CS đã tấn công chúng ta trên nhiều mặt trận mà trong đó có 2 mặt quan trọng là chính trị và kinh tế . Lý Tống nói thêm về sự kiện đồng bào ta tranh đấu cho cái tên Little Saigon tại San Jose vì cái tên mang nhiều ý nghĩa của một Saigon tự do, nếu chúng ta không chiến đấu ngăn chận sự bành trướng của CS thì một ngày nào đó chúng ta sẽ bị cô lập như một nhà tù lớn nằm dưới sự cai trị của đảng CSVN ...
Tiếng Lý Tống vừa dứt thì tiếng hoan hô ,nhiều tiếng la "đả đảo CSVN", "VC go home!, VC go home!" đã vang dội từ con đường W. Katella Ave tới tận phía bên kia đường S.West St . Hàng cờ Vàng và cờ Hoa Kỳ tràn ngập và đẹp như một rừng hoa nở rộ trong ánh sáng của buổi chiều nắng ấm .
Trong lúc đồng bào biểu tình phía bên kia đường W.Katella, ít người chú ý đến từng đòan xe búyt đưa những Du Sinh đến phía bên kia đường West St . Sứ quán CSVN tại San Francisco đã tốn rất nhiều công sức để huy động, phát vé free cho các Du Sinh muốn tham dự đại nhạc hội Đàm Vĩnh Hưng tại Anaheim sẽ được đưa đón , được ở Khách sạn dưới sự đài thọ của Lãnh Sự quán CSVN .
Một em du sinh cho tôi biết nếu :" Sứ quán nói là ai muốn đi xem thì đi, nhưng không đi thì họ sẽ làm khó dễ, hầu hết các du sinh không ai muốn đi xem buổi văn nghệ nầy nhưng vì tình thế bắt buộc phải đi ." Thật đúng như vậy, số du sinh được xe búyt đổ xuống hằng lọat đi vào xem hát mà nhiều em phải cúi đầu, che mặt khi đi ngang qua đòan người biểu tình . Nếu Lãnh Sự Quán SF không làm vậy thì hình ảnh ế ẩm của buổi ca nhạc tuyên tuyền Đàm Vĩnh Hưng sẽ không có hình để đăng lên báo chí trong nước để tuyên truyền, vì vấn đề nầy mà CSVN phải chịu chi hằng trăm nghìn dollars để đài thọ, để mướn xe búyt, phát vé free và trả tiền khách sạn cho cả nghìn du sinh để tới xem văn nghệ .
Ngược lại với điều nầy, cộng đồng tị nạn Nam Cali đã đến với cả tấm lòng, tuổi trẻ thanh niên, sinh viên đã cầm lá cờ Vàng tung bay trước gió mà lúc sinh ra sau 75 những thanh niên nầy có thể chưa hiểu hết được ý nghĩa cao cả của lá cờ mà mình đang cầm trên tay, lá cờ của sự tự do chống lại sự xâm lăng của CS, bảo vệ no ấm cho Miền Nam VN .
Trên 4,000 đồng hương đã tới đây để biểu lộ tinh thần một lòng với các nhà tranh đấu dân chủ trong nước, một lòng quyết tâm ngăn chận sự xâm nhập của cộng sản qua nghị quyết 36 được che dấu dưới lá bài văn nghệ trong buổi trình diễn của Đàm Vĩnh Hưng tại Nam Cali . Phải nói những thanh niên hăng hái và xông xáo nhảy vào cuộc có Thanh Niên Cờ Vàng, Thanh Niên Phan Bội Châu, các hội sinh viên VN tại các trường Đại Học, Trung Học Nam Cali đã có mặt trong cuộc biểu tình làm cho trái tim của đồng bào tôi đập mạnh "Mẹ VN ơi chúng con vẫn còn đây !" .
Tường trình từ Nam cali
Nguyễn Thùy Trang (Vietland Staff)
Chống văn công?
Huy Phương Việt Cộng xem những người trình diễn văn nghệ như những người thợ không hơn không kém. Thợ hát, thợ đàn, thợ múa tập họp thành những toán văn công, được điều động làm việc theo chỉ thị và đường lối của đảng, để hoặc là tuyên vận, hoặc để giải trí cho đám đông. Vì vậy chúng ta cũng quen gọi những người này là văn công. Văn công phải được huấn luyện tư tưởng chính trị, có lý lịch, có lập trường, được nuôi dưỡng và nhận công tác theo nhu cầu của từng chiến dịch. Ngày nay văn công được đưa ra nước ngoài trình diễn dưới visa du lịch, dù là dưới hình thức kiếm ăn riêng của cá nhân, do nhu cầu hay được sự cho phép của các cơ quan trách nhiệm trong nước, do đường lối của đảng đều có lợi cho chế độ. Dù những ca sĩ này không hát những bài ca tụng bác hay đảng như hồi chiến tranh “chống Mỹ” hay lúc mới vào Saigon, nhưng những khuôn mặt này vẫn tượng trưng một đám ca hát đang được trọng dụng của chế độ hiện nay ở Saigon.
Chúng ta cũng không thể xem những khuôn mặt này chỉ là cá nhân, “đồng bào” ruột thịt không liên quan gì với chế độ Cộng Sản, nên sẵn sàng giang tay đón nhận. Việc cấm cửa những thể thao gia, nghệ sĩ của một quốc gia khác đến trình diễn là một sự cấm vận, trừng phạt kinh tế đối với một quốc gia thù nghịch. Ca sĩ trong nước không sang Mỹ, Úc hay Canada để trình diễn cho dân bản xứ các nước này xem, mà là cho những người Việt Nam di dân, trong nước “dốt chữ” gọi là Việt kiều, đa số là những người tỵ nạn Cộng Sản đã bỏ nước ra đi vì chế độ Cộng Sản. Vậy chuyện “trừng phạt” này không phải là không hợp lý. Chúng ta không có chính phủ hay đường lối để đối phó, mặc nhiên chấp nhận sự tự do hỗn tạp, tùy tiện, mở cửa cho những “văn công” được gởi đi từ trong nước.
Câu hỏi của chúng ta là có phải tất cả ca nhạc sĩ hiện nay của chúng ta tại hải ngoại đều có cơ hội đồng đều để về trình diễn ở Việt Nam không, hay phải qua những giai đoạn sát hạch về đường lối chính trị, và mỉa mai thay, cả tài năng trước một ban giám khảo như theo tiết lộ của một vài ca sĩ đã xin về nước trình diễn trước đây? Những nghệ sĩ này trước đây đã được cộng đồng hải ngoại nuôi sống từ khi đặt chân đến Mỹ, nay về nước gặp gỡ giới báo chí, trở thành những kẻ cơ hội, ca tụng chế độ đương thời, nói xấu hải ngoại coi mình như “con không cha”, nay về nhận bố đẻ Cộng Sản ở Saigon, khi trở lại đây vẫn được khán giả đồng bào chấp nhận. Bây giờ chúng lại đứng trên sân khấu hải ngoại, cười khẩy vào mặt chúng ta.
Nghệ sĩ trong nước ra trình diễn trước hết là cạnh tranh với ca sĩ hải ngoại, vì mỗi nghệ sĩ đều có sân chơi riêng của mình. Xin dành cho những ca sĩ đã cùng hoàn cảnh sống chết với chúng ta chứ không phải tất cả đều “cá mè một lứa”. Cách đây vài năm những ca sĩ trong nước ra hải ngoại trình diễn đều gặp nhiều sự phản đối, dai dẳng nhất là trường hợp Bằng Kiều, cho đến lúc Bằng Kiều “xin nhận nơi này làm quê hương”. Không phải những giới chức trách nhiệm về vấn để đưa ca sĩ ra nước ngoài lưu diễn không biết đến việc này, nên họ dùng kế hoạch “tằm ăn dâu” hay “vết dầu loang”. Trước tiên “những ông bầu” cho thử nghiệm bằng cách chỉ để các ca sĩ này chỉ hát thuần túy ở những sòng bài, xen lẫn với những ca sĩ hải ngoại. Khi thấy không có sự phản đối của người nước ngoài, trái lại còn được báo chí, truyền thông quảng cáo, phỏng vấn, các ca sĩ này bắt đầu hiện diện trong những show hát tại các thành phố lớn có nhiều người Việt, bước tiếp theo là tổ chức những buổi trình diễn toàn là những ca sĩ từ trong nước ra. Vì hải ngoại vẫn mua vé đi xem, một số người muốn đổi món ăn, thiếu ý thức chính trị, nên có lúc báo chí trong nước đã loan tin con số thù lao của một hai ca sĩ ra hải ngoại đã lên đến con số $10,000.00 đô la, số tiền mà ca sĩ hạng nhất ở đây cũng không bao giờ với đến.
Trong chủ trương đem văn hóa thâm nhập cộng đồng người Việt ở hải ngoại, trước đây, Cộng Sản đã tổ chức những chuyến lưu diễn “Duyên Dáng Việt Nam” quy mô và tốn kém, nhưng không có kết quả vì sự chống đối của đồng bào hải ngoại, Cộng Sản xoay qua chiến thuật đánh du kích bằng cách gởi đi những ca sĩ được nuôi dưỡng và ưu đãi từ trong nước, với tính cách cá nhân đi du lịch ra nước ngoài để tránh danh nghĩa là do các cơ quan trong nước tổ chức. Một nguồn tin từ cơ quan thuế vụ Hoa Kỳ cho biết các nghệ sĩ ngoại quốc đến trình diễn tại Hoa Kỳ phải thông báo cho cơ quan IRS ít nhất là 30 ngày trước khi lưu diễn và ký thỏa thuận CWA (Central Withholding Agreement) để tránh lỗi lầm không đóng thuế. Sở thuế Hoa Kỳ hiện nay để ý rất kỹ về các cuộc lưu diễn của các nghệ sĩ ngoại quốc, nhất là ở đây lại dưới visa du lịch, vì nhiều năm qua Hoa Kỳ đã thất thu trong các trường hợp này. Các ca sĩ Việt Nam ra kiếm ăn ở ngoại quốc rồi đây sẽ sợ sự thăm hỏi của sở thuế hơn là sợ bị biểu tình phản đối.
Hiện nay có nhiều tổ chức chính trị tại hải ngoại đã hô hào biểu tình “chống văn công”, nghĩa là chống những ca sĩ “con cưng” của chế độ trong nước ra trình diễn. Những cuộc biểu tình này nhiều lúc cũng khiến cho buổi trình diễn phải dẹp bỏ, nhưng cũng đôi lúc, “trong vỗ tay, ngoài la hét”, ai mua vé đi xem thì cứ việc đi xem, ai biểu tình phản đối thì cứ biểu tình, vì người biểu tình không được vào rạp để bị kết tội phá rối và ông bà bầu, ca nhạc sĩ thì được nhân viên an ninh hoặc cảnh sát bảo vệ chặt chẽ.
Cũng có những cuộc biểu tình nhắm sai mục đích hay thiếu cơ sở không được nhiều người hưởng ứng như cuộc biểu tình chỉ vì một cái khuy nịt có hình ngôi sao trắng chỉ thấy in trên poster, cuộc biểu tình chống một trung tâm ca nhạc chỉ vì ngày trình diễn có xa gần với ngày sinh của Hồ Chí Minh (thì đã sao?) Chúng ta đã từng phung phí, tiêu hao quá nhiều năng lực không đúng chỗ, đúng lúc.
Chúng ta buồn vì cứ nghĩ có khi con trẻ ngồi xem trong rạp mà cha mẹ già đứng ở ngoài biểu tình. Các bậc cha mẹ đã giáo dục được con trẻ chưa? Các đoàn thể đã giáo dục được quần chúng chưa? Cộng đồng hải ngoại đã đoàn kết chưa? Lại còn những con cái của những cựu tù nhân chính trị, quên quá khứ của cha ông, chấp nhận ca hát bên các ca sĩ do Cộng Sản đưa ra nước ngoài, chỉ vì mùi thơm của đồng đô la, thật đáng xấu hổ. Nhiều ca sĩ hải ngoại đã có lập trường trước đây, không muốn hay không được về Việt Nam trình diễn, nay trước luật đào thải và thị hiếu của quần chúng cũng đành đứng chung sân khấu với những “văn công”, mà không hề thấy hổ thẹn.
Ba mươi lăm năm rồi, Cộng Sản chưa thao túng hay chưa có khả năng khống chế sân chơi hải ngoại vì chúng ta tuy không có chính phủ, không có quân đội, không có công an trấn áp, không có một tổ chức đại diện duy nhất, nhưng còn giữ vững được tinh thần của những người đã bỏ đất nước ra đi vì chế độ Cộng Sản đương thời. Nhờ tinh thần đó, mà hôm nay, Cộng Sản Việt Nam mặc dầu có tòa đại sứ, lãnh sự trên đất Mỹ nhưng chưa treo nổi một lá cờ trong khu phố của cộng đồng người Việt hải ngoại. Tuy vậy trên mặt trận văn hóa, sản phẩm băng nhạc, báo chí, phim ảnh và nhất là ca sĩ trong nước ồ ạt tuôn ra nước ngoài, đến những địa điểm từng hãnh diện mang danh là thủ đô chính trị, thủ đô tỵ nạn... Lý do là vì cộng đồng người Việt của chúng ta chưa đoàn kết đúng mức, chưa một lòng, chưa nhìn rõ lại mình, nên mãi vẫn còn có cảnh “trống đánh xuôi kèn thổi ngược.”
Muốn loại bỏ ảnh hưởng nghị quyết 36 của Cộng Sản trong công tác văn hóa tư tưởng, hải ngoại có một kho vũ khí tuyệt đối, khá lớn mà không chịu sử dụng. Vũ khí đó là đồng đô la. Trong nước đang cần đô la, chúng ta lại tiếp tế đô la cho trong nước. Các ca sĩ trong nước ra hải ngoại cần đô la chúng ta lại xếp hàng mua vé đi xem. Hải ngoại phải biết nói không và quyết định “không”: đó là không mua vé các buổi trình diễn có văn công, đại lý nhà buôn không nhận bán vé, báo chí truyền hình không chạy quảng cáo thì ca sĩ trong nước không còn đất dụng võ.
Khi hải ngoại chúng ta đồng tình nói được chữ “không”, trong rạp hát vắng người xem thì ngoài rạp không cần phải giăng cờ treo biểu ngữ, hay chịu mưa, dang nắng đi biểu tình nữa.
Huy Phương Việt Cộng xem những người trình diễn văn nghệ như những người thợ không hơn không kém. Thợ hát, thợ đàn, thợ múa tập họp thành những toán văn công, được điều động làm việc theo chỉ thị và đường lối của đảng, để hoặc là tuyên vận, hoặc để giải trí cho đám đông. Vì vậy chúng ta cũng quen gọi những người này là văn công. Văn công phải được huấn luyện tư tưởng chính trị, có lý lịch, có lập trường, được nuôi dưỡng và nhận công tác theo nhu cầu của từng chiến dịch. Ngày nay văn công được đưa ra nước ngoài trình diễn dưới visa du lịch, dù là dưới hình thức kiếm ăn riêng của cá nhân, do nhu cầu hay được sự cho phép của các cơ quan trách nhiệm trong nước, do đường lối của đảng đều có lợi cho chế độ. Dù những ca sĩ này không hát những bài ca tụng bác hay đảng như hồi chiến tranh “chống Mỹ” hay lúc mới vào Saigon, nhưng những khuôn mặt này vẫn tượng trưng một đám ca hát đang được trọng dụng của chế độ hiện nay ở Saigon.
Chúng ta cũng không thể xem những khuôn mặt này chỉ là cá nhân, “đồng bào” ruột thịt không liên quan gì với chế độ Cộng Sản, nên sẵn sàng giang tay đón nhận. Việc cấm cửa những thể thao gia, nghệ sĩ của một quốc gia khác đến trình diễn là một sự cấm vận, trừng phạt kinh tế đối với một quốc gia thù nghịch. Ca sĩ trong nước không sang Mỹ, Úc hay Canada để trình diễn cho dân bản xứ các nước này xem, mà là cho những người Việt Nam di dân, trong nước “dốt chữ” gọi là Việt kiều, đa số là những người tỵ nạn Cộng Sản đã bỏ nước ra đi vì chế độ Cộng Sản. Vậy chuyện “trừng phạt” này không phải là không hợp lý. Chúng ta không có chính phủ hay đường lối để đối phó, mặc nhiên chấp nhận sự tự do hỗn tạp, tùy tiện, mở cửa cho những “văn công” được gởi đi từ trong nước.
Câu hỏi của chúng ta là có phải tất cả ca nhạc sĩ hiện nay của chúng ta tại hải ngoại đều có cơ hội đồng đều để về trình diễn ở Việt Nam không, hay phải qua những giai đoạn sát hạch về đường lối chính trị, và mỉa mai thay, cả tài năng trước một ban giám khảo như theo tiết lộ của một vài ca sĩ đã xin về nước trình diễn trước đây? Những nghệ sĩ này trước đây đã được cộng đồng hải ngoại nuôi sống từ khi đặt chân đến Mỹ, nay về nước gặp gỡ giới báo chí, trở thành những kẻ cơ hội, ca tụng chế độ đương thời, nói xấu hải ngoại coi mình như “con không cha”, nay về nhận bố đẻ Cộng Sản ở Saigon, khi trở lại đây vẫn được khán giả đồng bào chấp nhận. Bây giờ chúng lại đứng trên sân khấu hải ngoại, cười khẩy vào mặt chúng ta.
Nghệ sĩ trong nước ra trình diễn trước hết là cạnh tranh với ca sĩ hải ngoại, vì mỗi nghệ sĩ đều có sân chơi riêng của mình. Xin dành cho những ca sĩ đã cùng hoàn cảnh sống chết với chúng ta chứ không phải tất cả đều “cá mè một lứa”. Cách đây vài năm những ca sĩ trong nước ra hải ngoại trình diễn đều gặp nhiều sự phản đối, dai dẳng nhất là trường hợp Bằng Kiều, cho đến lúc Bằng Kiều “xin nhận nơi này làm quê hương”. Không phải những giới chức trách nhiệm về vấn để đưa ca sĩ ra nước ngoài lưu diễn không biết đến việc này, nên họ dùng kế hoạch “tằm ăn dâu” hay “vết dầu loang”. Trước tiên “những ông bầu” cho thử nghiệm bằng cách chỉ để các ca sĩ này chỉ hát thuần túy ở những sòng bài, xen lẫn với những ca sĩ hải ngoại. Khi thấy không có sự phản đối của người nước ngoài, trái lại còn được báo chí, truyền thông quảng cáo, phỏng vấn, các ca sĩ này bắt đầu hiện diện trong những show hát tại các thành phố lớn có nhiều người Việt, bước tiếp theo là tổ chức những buổi trình diễn toàn là những ca sĩ từ trong nước ra. Vì hải ngoại vẫn mua vé đi xem, một số người muốn đổi món ăn, thiếu ý thức chính trị, nên có lúc báo chí trong nước đã loan tin con số thù lao của một hai ca sĩ ra hải ngoại đã lên đến con số $10,000.00 đô la, số tiền mà ca sĩ hạng nhất ở đây cũng không bao giờ với đến.
Trong chủ trương đem văn hóa thâm nhập cộng đồng người Việt ở hải ngoại, trước đây, Cộng Sản đã tổ chức những chuyến lưu diễn “Duyên Dáng Việt Nam” quy mô và tốn kém, nhưng không có kết quả vì sự chống đối của đồng bào hải ngoại, Cộng Sản xoay qua chiến thuật đánh du kích bằng cách gởi đi những ca sĩ được nuôi dưỡng và ưu đãi từ trong nước, với tính cách cá nhân đi du lịch ra nước ngoài để tránh danh nghĩa là do các cơ quan trong nước tổ chức. Một nguồn tin từ cơ quan thuế vụ Hoa Kỳ cho biết các nghệ sĩ ngoại quốc đến trình diễn tại Hoa Kỳ phải thông báo cho cơ quan IRS ít nhất là 30 ngày trước khi lưu diễn và ký thỏa thuận CWA (Central Withholding Agreement) để tránh lỗi lầm không đóng thuế. Sở thuế Hoa Kỳ hiện nay để ý rất kỹ về các cuộc lưu diễn của các nghệ sĩ ngoại quốc, nhất là ở đây lại dưới visa du lịch, vì nhiều năm qua Hoa Kỳ đã thất thu trong các trường hợp này. Các ca sĩ Việt Nam ra kiếm ăn ở ngoại quốc rồi đây sẽ sợ sự thăm hỏi của sở thuế hơn là sợ bị biểu tình phản đối.
Hiện nay có nhiều tổ chức chính trị tại hải ngoại đã hô hào biểu tình “chống văn công”, nghĩa là chống những ca sĩ “con cưng” của chế độ trong nước ra trình diễn. Những cuộc biểu tình này nhiều lúc cũng khiến cho buổi trình diễn phải dẹp bỏ, nhưng cũng đôi lúc, “trong vỗ tay, ngoài la hét”, ai mua vé đi xem thì cứ việc đi xem, ai biểu tình phản đối thì cứ biểu tình, vì người biểu tình không được vào rạp để bị kết tội phá rối và ông bà bầu, ca nhạc sĩ thì được nhân viên an ninh hoặc cảnh sát bảo vệ chặt chẽ.
Cũng có những cuộc biểu tình nhắm sai mục đích hay thiếu cơ sở không được nhiều người hưởng ứng như cuộc biểu tình chỉ vì một cái khuy nịt có hình ngôi sao trắng chỉ thấy in trên poster, cuộc biểu tình chống một trung tâm ca nhạc chỉ vì ngày trình diễn có xa gần với ngày sinh của Hồ Chí Minh (thì đã sao?) Chúng ta đã từng phung phí, tiêu hao quá nhiều năng lực không đúng chỗ, đúng lúc.
Chúng ta buồn vì cứ nghĩ có khi con trẻ ngồi xem trong rạp mà cha mẹ già đứng ở ngoài biểu tình. Các bậc cha mẹ đã giáo dục được con trẻ chưa? Các đoàn thể đã giáo dục được quần chúng chưa? Cộng đồng hải ngoại đã đoàn kết chưa? Lại còn những con cái của những cựu tù nhân chính trị, quên quá khứ của cha ông, chấp nhận ca hát bên các ca sĩ do Cộng Sản đưa ra nước ngoài, chỉ vì mùi thơm của đồng đô la, thật đáng xấu hổ. Nhiều ca sĩ hải ngoại đã có lập trường trước đây, không muốn hay không được về Việt Nam trình diễn, nay trước luật đào thải và thị hiếu của quần chúng cũng đành đứng chung sân khấu với những “văn công”, mà không hề thấy hổ thẹn.
Ba mươi lăm năm rồi, Cộng Sản chưa thao túng hay chưa có khả năng khống chế sân chơi hải ngoại vì chúng ta tuy không có chính phủ, không có quân đội, không có công an trấn áp, không có một tổ chức đại diện duy nhất, nhưng còn giữ vững được tinh thần của những người đã bỏ đất nước ra đi vì chế độ Cộng Sản đương thời. Nhờ tinh thần đó, mà hôm nay, Cộng Sản Việt Nam mặc dầu có tòa đại sứ, lãnh sự trên đất Mỹ nhưng chưa treo nổi một lá cờ trong khu phố của cộng đồng người Việt hải ngoại. Tuy vậy trên mặt trận văn hóa, sản phẩm băng nhạc, báo chí, phim ảnh và nhất là ca sĩ trong nước ồ ạt tuôn ra nước ngoài, đến những địa điểm từng hãnh diện mang danh là thủ đô chính trị, thủ đô tỵ nạn... Lý do là vì cộng đồng người Việt của chúng ta chưa đoàn kết đúng mức, chưa một lòng, chưa nhìn rõ lại mình, nên mãi vẫn còn có cảnh “trống đánh xuôi kèn thổi ngược.”
Muốn loại bỏ ảnh hưởng nghị quyết 36 của Cộng Sản trong công tác văn hóa tư tưởng, hải ngoại có một kho vũ khí tuyệt đối, khá lớn mà không chịu sử dụng. Vũ khí đó là đồng đô la. Trong nước đang cần đô la, chúng ta lại tiếp tế đô la cho trong nước. Các ca sĩ trong nước ra hải ngoại cần đô la chúng ta lại xếp hàng mua vé đi xem. Hải ngoại phải biết nói không và quyết định “không”: đó là không mua vé các buổi trình diễn có văn công, đại lý nhà buôn không nhận bán vé, báo chí truyền hình không chạy quảng cáo thì ca sĩ trong nước không còn đất dụng võ.
Khi hải ngoại chúng ta đồng tình nói được chữ “không”, trong rạp hát vắng người xem thì ngoài rạp không cần phải giăng cờ treo biểu ngữ, hay chịu mưa, dang nắng đi biểu tình nữa.

