Bình Luận Thời Sự
Hoa Kỳ phục kích ở sân sau Trung Quốc như thế nào và điều gì sẽ xảy ra?
Greg Torode
Washington cầm đầu việc phục kích Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông ở diễn đàn an ninh hàng đầu trong khu vực hôm thứ Sáu đánh dấu một bước ngoặt thay đổi trong quan hệ Trung-Mỹ và đưa ra các sự thiếu sót chiến lược sâu sắc ở châu Á.
Ngay cả khi Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton tấn công vào Biển Đông tại Hà Nội, Hoa Kỳ và các tàu hải quân Nam Hàn chuẩn bị cho giai đoạn tập trận với quy mô lớn ở biển Nhật Bản, hay Biển Hoa Đông, gần phía Đông Bắc Trung Quốc – tăng thêm căng thẳng cho bức tranh toàn cảnh.
Những gì đã xảy ra ở Hà Nội thì đặc biệt quan trọng. Khi bà Clinton tuyên bố rằng giải quyết việc đòi chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông hiện nay là “lợi ích quốc gia” và là “ưu tiên ngoại giao” của Hoa Kỳ, bà không chỉ phản ánh mối quan tâm ngày càng tăng của Hoa Kỳ về khả năng thống trị hàng hải Trung Quốc. Điều đó cũng cho thấy Washington đã nắm vững một cơ hội lịch sử.
Hàng tháng qua, liên tục có sự gia tăng các mối quan ngại ở Đông Á về sự quyết đoán của Trung Quốc đã được lên tiếng tại Washington, cũng giống như chính quyền non trẻ Tổng thống Mỹ Barack Obama đã đưa ra các cách để trở lại tham gia vào khu vực bị bỏ quên. Hoảng sợ về việc lặp đi lặp lại rằng, Hoa Kỳ là cường quốc suy yếu, các viên chức Mỹ đã nói chuyện riêng về việc cần xác nhận lại tính ưu chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á.
Sự khẳng định ồn ào ngày càng gia tăng của Trung Quốc về lịch sử của nó, và bây giờ là luật pháp, đòi hầu như toàn bộ vùng biển – ví dụ qua việc giam giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam, việc quấy rối các tàu của Hoa Kỳ và các lực lượng hải quân và việc đe dọa thực hiện đối với các công ty dầu hỏa quốc tế khổng lồ nhằm kết thúc các thỏa thuận khai thác với Hà Nội – cung cấp cơ hội đó.
Hành động của Hoa Kỳ không chỉ làm hài lòng những nước đòi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, những nước là đối thủ của Trung Quốc như: Việt Nam, Malaysia, Philippines và Brunei, mà còn làm yên tâm các nước lớn hơn như Hàn Quốc, Nhật Bản và Indonesia bằng cách gửi thông điệp ảm đạm tới Trung Quốc.
Trong gần 15 năm qua, Washington đã giữ bên lề các căng thẳng trên Biển Đông, trên đường thuỷ chiến lược và giàu khoáng sản nối Đông Á với Trung Đông và châu Âu. Đại diện ngoại giao của họ thỉnh thoảng quan tâm về sự cần thiết cho một giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ, nhưng không đứng bên nào trong việc tranh chấp.
Lời bình luận của bà Clinton đã thay đổi tất cả. Họ đã đưa Hoa Kỳ đứng đầu trong vấn đề chủ quyền Trung Quốc, vấn đề mà gần đâyTrung Quốc đã nói là "lợi ích cốt lõi", quy tắc ngoại giao đặt ngang với Đài Loan và Tây Tạng về sự nhạy cảm.
Đầu năm nay, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, Tiến sĩ Robert Gates đã nói tại một diễn đàn an ninh ở Singapore rằng, Washington phản đối bất kỳ nỗ lực nào nhằm đe dọa các công ty dầu khí của Hoa Kỳ tham gia hợp các đồng hợp pháp trong khu vực.
Bà Clinton bình luận chính thức ở Diễn đàn Khu vực Asean, trong các cuộc họp song phương và trong các tuyên bố công khai. Trong khi đó, các viên chức của bà thông báo ngắn gọn với nhóm báo chí đi cùng với phái đoàn Washington để họ không bỏ qua điểm chính.
Trong khi bà bị mắc kẹt vào kịch bản cũ về việc không đứng về bên nào, bà đã nói rõ ràng là Washington muốn thúc đẩy các cuộc thảo luận và các giải pháp trong khu vực - một thách thức trực tiếp tới Bắc Kinh, đã cố gắng, kín đáo nhưng mạnh mẽ, để chặn đứng Asean thảo luận vấn đề này và các viên chức ngoại giao đã nhấn mạnh nó phải được xử lý song phương - nói cách khác, từng nước tranh chấp xếp hàng để giải quyết riêng với Trung Quốc.
Bà Clinton nói: “Hoa Kỳ hỗ trợ quá trình cộng tác ngoại giao của tất cả các bên tranh chấp để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần cưỡng chế. Chúng tôi phản đối việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của bất kỳ nước tranh chấp nào”.
Những lời nói của bà là một thắng lợi ngoại giao quan trọng cho Việt Nam, một món quà từ Washington khi hai nước đánh dấu 15 năm kể từ khi chính thức khôi phục các quan hệ ngoại giao sau cuộc chiến Việt Nam và gần 20 năm bị cấm vận kinh tế.
Trong nhiều tháng, Việt Nam đã tìm cách khai thác vai trò Chủ tịch Hiệp hội mười nước Đông Nam Á để giữ vấn đề Biển Đông nóng bỏng. Các nước tranh chấp vùng biển giàu có đã tuyệt vọng để đạt tiến bộ về một ràng buộc pháp lý của quy tắc ứng xử - một cam kết trong tuyên bố năm 2002 đã ký kết giữa ASEAN và Trung Quốc trên Biển Đông kêu gọi tự kềm chế. Tuyên bố ban đầu này được coi là một bước tiến quan trọng, nhưng ngày càng nó hiện ra như một tờ giấy lộn trong việc chống đối các hành động của Trung Quốc.
Bà Clinton nhiều lần nhắc đến các nguyên tắc của tuyên bố đó, như âm nhạc vang bên tai các quan chức Việt Nam.
Chỉ một năm trước, Trung Quốc đã được nhiều người xem như là đang chia rẽ Asean, với mỗi thành viên có quan hệ riêng với Bắc Kinh trước khi ASEAN thống nhất. Có rất ít động lực về vấn đề [Biển Đông] trong các cuộc họp chính thức. Và trong bối cảnh, áp lực Trung Quốc là không đổi, theo một số nhà ngoại giao Asean. Ngay cả Campuchia, chế độ đã từng là liên minh chặt chẽ với Hà Nội, đang bác bỏ các nỗ lực của Việt Nam, nhân danh Bắc Kinh.
Sự thận trọng đó vẫn còn nhìn thấy vài giờ trước khi bà Clinton đến. Vào một ngày trước khi Diễn đàn Khu vực ASEAN tổ chức, các ngoại trưởng của khối đã có cuộc họp chính thức hàng năm với Bộ trưởng Ngoại giao Dương Khiết Trì. Chỉ có Philippines nêu ra vấn đề Biển Đông. Sự dè dặt như thế phản ánh cách truyền thống của Asean. Các cuộc họp và các tuyên bố chính thức nói chung là nhạt nhẽo nhất.
Ngay cả Việt Nam hiếm khi đổ lỗi cho Trung Quốc trước công chúng, khuynh hướng duy trì vẻ bề ngoài của tình anh em. Hôm qua, tràn ngập một chiến thắng hiếm hoi, báo chí nhà nước bao giờ cũng thận trọng đã không không có tiếng nói chính thức nào về các cuộc họp.
Một quan sát viên ngoại giao cho biết: “Đó là điều đáng chú ý. Không ai muốn dẫn đầu. Tất cả mọi người đều chờ đợi để cùng nhau được an toàn”.
Clinton đến hôm thứ Năm cho thấy cung cấp sự an toàn đó, khi lời lẽ truyền đi về sự cứng rắn mới của bà.
Vào lúc diễn đàn bắt đầu hôm thứ Sáu, 11 thành viên khác đã sẵn sàng với các báo cáo, bao gồm Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam - những nước có phần được hoặc mất nhiều nhất - cũng như Indonesia, EU, Úc và Nhật Bản. Tiếp theo là từng nước thay phiên đọc các báo cáo.
Trong khi ông Dương bày tỏ sự bực tức sau đó, những gì xảy ra không có gì bất ngờ đối với Bắc Kinh. Trong hơn một năm, quân sự, diễn tập chính trị và ngoại giao đã cho thấy các mối quan ngại ngày càng tăng trong khu vực.
Các viên chức quân sự Việt Nam kín đáo đã bay ra tàu sân bay Hoa Kỳ ở Biển Đông và đã được mời lên trên chiếc tàu ngầm của Hoa Kỳ ở Hawaii. Và Việt Nam đã cho phép các tàu chiến Hoa Kỳ sửa chữa tại cảng địa phương.
Hà Nội cũng đã thực hiện một thỏa thuận với Moscow, đồng minh chiến tranh lạnh trước đây để mua sáu tàu ngầm hiện đại loại Kilo.
Trong khi đó, Lầu Năm Góc và các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày càng nói thẳng lời điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ về sự cần thiết để khẳng định quyền hàng hải trong vùng biển quốc tế bất chấp sự quan tâm của Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc tuyên bố nhiều [phần] Biển Đông là vùng đặc quyền kinh tế, Hoa Kỳ và các quốc gia khác nhấn mạnh rằng nó vẫn thuộc vùng biển quốc tế và vì thế các hoạt động quân sự thường xuyên, gồm cả giám sát, đều được phép.
Những căng thẳng này đã hiện ra khi ở Singapore, ông Gates nói với các cử tọa gồm các sĩ quan cao cấp của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
một viên chức PLA đã nổi giận sau đó: “Chúng tôi không xem nó như là một ‘cái hồ của Trung Quốc’, chúng tôi cho phép [những tàu] vô sự đi qua. Nhưng tôi xin lỗi, sự giám sát của Hoa Kỳ không phải là vô hại. Sự quan tâm của Trung Quốc không phải được đánh giá thấp”.
Có hay không việc Washington đánh giá thấp các mối quan ngại kia vẫn được nhìn thấy. Chắc chắn Bắc Kinh sẽ xem những sự kiện ở Hà Nội như là một sự khiêu khích đáng kể. Cũng có một cảm giác ngày càng tăng trong khu vực, rằng biển là quan trọng đối với tham vọng của Trung Quốc cho hải quân trên “đại dương” có thể hoạt động xa bờ, vì chỉ có nó cung cấp lối vào vùng nước sâu đến Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.
Điều rõ ràng là Hoa Kỳ hiện đang chuẩn bị để giải quyết một trong những vấn đề khó khăn nhất trong khu vực - một sự thay đổi chính sách mà sẽ không dễ dàng quay ngược trở lại. Và với Trung Quốc, tuần trăng mật với bất kỳ nước Asean nào thì đã đi qua.
Đối với tất cả những rủi ro, Washington nhận biết cơ hội.
Ngọc Thu dịch
Greg Torode
Washington cầm đầu việc phục kích Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông ở diễn đàn an ninh hàng đầu trong khu vực hôm thứ Sáu đánh dấu một bước ngoặt thay đổi trong quan hệ Trung-Mỹ và đưa ra các sự thiếu sót chiến lược sâu sắc ở châu Á.
Ngay cả khi Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton tấn công vào Biển Đông tại Hà Nội, Hoa Kỳ và các tàu hải quân Nam Hàn chuẩn bị cho giai đoạn tập trận với quy mô lớn ở biển Nhật Bản, hay Biển Hoa Đông, gần phía Đông Bắc Trung Quốc – tăng thêm căng thẳng cho bức tranh toàn cảnh.
Những gì đã xảy ra ở Hà Nội thì đặc biệt quan trọng. Khi bà Clinton tuyên bố rằng giải quyết việc đòi chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông hiện nay là “lợi ích quốc gia” và là “ưu tiên ngoại giao” của Hoa Kỳ, bà không chỉ phản ánh mối quan tâm ngày càng tăng của Hoa Kỳ về khả năng thống trị hàng hải Trung Quốc. Điều đó cũng cho thấy Washington đã nắm vững một cơ hội lịch sử.
Hàng tháng qua, liên tục có sự gia tăng các mối quan ngại ở Đông Á về sự quyết đoán của Trung Quốc đã được lên tiếng tại Washington, cũng giống như chính quyền non trẻ Tổng thống Mỹ Barack Obama đã đưa ra các cách để trở lại tham gia vào khu vực bị bỏ quên. Hoảng sợ về việc lặp đi lặp lại rằng, Hoa Kỳ là cường quốc suy yếu, các viên chức Mỹ đã nói chuyện riêng về việc cần xác nhận lại tính ưu chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á.
Sự khẳng định ồn ào ngày càng gia tăng của Trung Quốc về lịch sử của nó, và bây giờ là luật pháp, đòi hầu như toàn bộ vùng biển – ví dụ qua việc giam giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam, việc quấy rối các tàu của Hoa Kỳ và các lực lượng hải quân và việc đe dọa thực hiện đối với các công ty dầu hỏa quốc tế khổng lồ nhằm kết thúc các thỏa thuận khai thác với Hà Nội – cung cấp cơ hội đó.
Hành động của Hoa Kỳ không chỉ làm hài lòng những nước đòi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, những nước là đối thủ của Trung Quốc như: Việt Nam, Malaysia, Philippines và Brunei, mà còn làm yên tâm các nước lớn hơn như Hàn Quốc, Nhật Bản và Indonesia bằng cách gửi thông điệp ảm đạm tới Trung Quốc.
Trong gần 15 năm qua, Washington đã giữ bên lề các căng thẳng trên Biển Đông, trên đường thuỷ chiến lược và giàu khoáng sản nối Đông Á với Trung Đông và châu Âu. Đại diện ngoại giao của họ thỉnh thoảng quan tâm về sự cần thiết cho một giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ, nhưng không đứng bên nào trong việc tranh chấp.
Lời bình luận của bà Clinton đã thay đổi tất cả. Họ đã đưa Hoa Kỳ đứng đầu trong vấn đề chủ quyền Trung Quốc, vấn đề mà gần đâyTrung Quốc đã nói là "lợi ích cốt lõi", quy tắc ngoại giao đặt ngang với Đài Loan và Tây Tạng về sự nhạy cảm.
Đầu năm nay, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, Tiến sĩ Robert Gates đã nói tại một diễn đàn an ninh ở Singapore rằng, Washington phản đối bất kỳ nỗ lực nào nhằm đe dọa các công ty dầu khí của Hoa Kỳ tham gia hợp các đồng hợp pháp trong khu vực.
Bà Clinton bình luận chính thức ở Diễn đàn Khu vực Asean, trong các cuộc họp song phương và trong các tuyên bố công khai. Trong khi đó, các viên chức của bà thông báo ngắn gọn với nhóm báo chí đi cùng với phái đoàn Washington để họ không bỏ qua điểm chính.
Trong khi bà bị mắc kẹt vào kịch bản cũ về việc không đứng về bên nào, bà đã nói rõ ràng là Washington muốn thúc đẩy các cuộc thảo luận và các giải pháp trong khu vực - một thách thức trực tiếp tới Bắc Kinh, đã cố gắng, kín đáo nhưng mạnh mẽ, để chặn đứng Asean thảo luận vấn đề này và các viên chức ngoại giao đã nhấn mạnh nó phải được xử lý song phương - nói cách khác, từng nước tranh chấp xếp hàng để giải quyết riêng với Trung Quốc.
Bà Clinton nói: “Hoa Kỳ hỗ trợ quá trình cộng tác ngoại giao của tất cả các bên tranh chấp để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần cưỡng chế. Chúng tôi phản đối việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của bất kỳ nước tranh chấp nào”.
Những lời nói của bà là một thắng lợi ngoại giao quan trọng cho Việt Nam, một món quà từ Washington khi hai nước đánh dấu 15 năm kể từ khi chính thức khôi phục các quan hệ ngoại giao sau cuộc chiến Việt Nam và gần 20 năm bị cấm vận kinh tế.
Trong nhiều tháng, Việt Nam đã tìm cách khai thác vai trò Chủ tịch Hiệp hội mười nước Đông Nam Á để giữ vấn đề Biển Đông nóng bỏng. Các nước tranh chấp vùng biển giàu có đã tuyệt vọng để đạt tiến bộ về một ràng buộc pháp lý của quy tắc ứng xử - một cam kết trong tuyên bố năm 2002 đã ký kết giữa ASEAN và Trung Quốc trên Biển Đông kêu gọi tự kềm chế. Tuyên bố ban đầu này được coi là một bước tiến quan trọng, nhưng ngày càng nó hiện ra như một tờ giấy lộn trong việc chống đối các hành động của Trung Quốc.
Bà Clinton nhiều lần nhắc đến các nguyên tắc của tuyên bố đó, như âm nhạc vang bên tai các quan chức Việt Nam.
Chỉ một năm trước, Trung Quốc đã được nhiều người xem như là đang chia rẽ Asean, với mỗi thành viên có quan hệ riêng với Bắc Kinh trước khi ASEAN thống nhất. Có rất ít động lực về vấn đề [Biển Đông] trong các cuộc họp chính thức. Và trong bối cảnh, áp lực Trung Quốc là không đổi, theo một số nhà ngoại giao Asean. Ngay cả Campuchia, chế độ đã từng là liên minh chặt chẽ với Hà Nội, đang bác bỏ các nỗ lực của Việt Nam, nhân danh Bắc Kinh.
Sự thận trọng đó vẫn còn nhìn thấy vài giờ trước khi bà Clinton đến. Vào một ngày trước khi Diễn đàn Khu vực ASEAN tổ chức, các ngoại trưởng của khối đã có cuộc họp chính thức hàng năm với Bộ trưởng Ngoại giao Dương Khiết Trì. Chỉ có Philippines nêu ra vấn đề Biển Đông. Sự dè dặt như thế phản ánh cách truyền thống của Asean. Các cuộc họp và các tuyên bố chính thức nói chung là nhạt nhẽo nhất.
Ngay cả Việt Nam hiếm khi đổ lỗi cho Trung Quốc trước công chúng, khuynh hướng duy trì vẻ bề ngoài của tình anh em. Hôm qua, tràn ngập một chiến thắng hiếm hoi, báo chí nhà nước bao giờ cũng thận trọng đã không không có tiếng nói chính thức nào về các cuộc họp.
Một quan sát viên ngoại giao cho biết: “Đó là điều đáng chú ý. Không ai muốn dẫn đầu. Tất cả mọi người đều chờ đợi để cùng nhau được an toàn”.
Clinton đến hôm thứ Năm cho thấy cung cấp sự an toàn đó, khi lời lẽ truyền đi về sự cứng rắn mới của bà.
Vào lúc diễn đàn bắt đầu hôm thứ Sáu, 11 thành viên khác đã sẵn sàng với các báo cáo, bao gồm Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam - những nước có phần được hoặc mất nhiều nhất - cũng như Indonesia, EU, Úc và Nhật Bản. Tiếp theo là từng nước thay phiên đọc các báo cáo.
Trong khi ông Dương bày tỏ sự bực tức sau đó, những gì xảy ra không có gì bất ngờ đối với Bắc Kinh. Trong hơn một năm, quân sự, diễn tập chính trị và ngoại giao đã cho thấy các mối quan ngại ngày càng tăng trong khu vực.
Các viên chức quân sự Việt Nam kín đáo đã bay ra tàu sân bay Hoa Kỳ ở Biển Đông và đã được mời lên trên chiếc tàu ngầm của Hoa Kỳ ở Hawaii. Và Việt Nam đã cho phép các tàu chiến Hoa Kỳ sửa chữa tại cảng địa phương.
Hà Nội cũng đã thực hiện một thỏa thuận với Moscow, đồng minh chiến tranh lạnh trước đây để mua sáu tàu ngầm hiện đại loại Kilo.
Trong khi đó, Lầu Năm Góc và các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày càng nói thẳng lời điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ về sự cần thiết để khẳng định quyền hàng hải trong vùng biển quốc tế bất chấp sự quan tâm của Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc tuyên bố nhiều [phần] Biển Đông là vùng đặc quyền kinh tế, Hoa Kỳ và các quốc gia khác nhấn mạnh rằng nó vẫn thuộc vùng biển quốc tế và vì thế các hoạt động quân sự thường xuyên, gồm cả giám sát, đều được phép.
Những căng thẳng này đã hiện ra khi ở Singapore, ông Gates nói với các cử tọa gồm các sĩ quan cao cấp của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
một viên chức PLA đã nổi giận sau đó: “Chúng tôi không xem nó như là một ‘cái hồ của Trung Quốc’, chúng tôi cho phép [những tàu] vô sự đi qua. Nhưng tôi xin lỗi, sự giám sát của Hoa Kỳ không phải là vô hại. Sự quan tâm của Trung Quốc không phải được đánh giá thấp”.
Có hay không việc Washington đánh giá thấp các mối quan ngại kia vẫn được nhìn thấy. Chắc chắn Bắc Kinh sẽ xem những sự kiện ở Hà Nội như là một sự khiêu khích đáng kể. Cũng có một cảm giác ngày càng tăng trong khu vực, rằng biển là quan trọng đối với tham vọng của Trung Quốc cho hải quân trên “đại dương” có thể hoạt động xa bờ, vì chỉ có nó cung cấp lối vào vùng nước sâu đến Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.
Điều rõ ràng là Hoa Kỳ hiện đang chuẩn bị để giải quyết một trong những vấn đề khó khăn nhất trong khu vực - một sự thay đổi chính sách mà sẽ không dễ dàng quay ngược trở lại. Và với Trung Quốc, tuần trăng mật với bất kỳ nước Asean nào thì đã đi qua.
Đối với tất cả những rủi ro, Washington nhận biết cơ hội.
Ngọc Thu dịch
Luật Cải Tổ Tài Chánh làm cái gì?
Ngô Nhân Dụng
Năm 1930 kinh tế Mỹ bắt đầu một cuộc khủng hoảng lớn, khiến các nhà chính trị phải thay đổi hầu hết các luật lệ điều hành hệ thống ngân hàng. Năm 2007, một cuộc khủng hoảng khác cũng bắt đầu từ các ngân hàng lan sang các lãnh vực khác khiến cả thế giới bị ảnh hưởng. Cả hai vụ khủng hoảng đều đưa tới những đạo luật thay đổi cả hệ thống tài chánh Mỹ. Sau gần ba năm qua, các nhà chuyên môn nghiên cứu, thảo luận, các đại biểu bàn cãi, tham khảo, tuần qua Quốc Hội Mỹ đã biểu quyết một đạo luật Cải Tổ Tài Chánh và Tổng Thống Barack Obama mới ký ban hành. Ðây là một đạo luật có tầm quan trọng không kém những cải tổ trong thập niên 1930-40, sẽ ảnh hưởng tới hoạt động tài chánh và nền kinh tế, trong đó có đời sống của mọi người sống ở Mỹ trong nhiều năm sắp tới. Cho nên chúng ta nên biết nguyên ủy và nội dung của đạo luật mới này.
Những người thích nói chuyện đấu tranh giai cấp sẽ coi đạo luật mới này là một dụng cụ để bắt các nhà tư bản (như các ngân hàng) phải chịu kiểm soát chặt chẽ hơn, và bảo vệ những người thấp cổ bé miệng (người tiêu thụ) nhiều hơn. Ðiều này đúng, nhưng chưa cho biết làm như vậy thì ích lợi cho toàn thể nền kinh tế như thế nào, và ngăn ngừa được những tai hại nào.
Khủng hoảng tài chánh từ năm 2007 tóm tắt lại là vì vì quá nhiều đồng tiền chạy không đúng chỗ! Hệ thống tài chánh có vai trò chuyển tiền do người dân tiết kiệm để đưa tới cho những người sử dụng, tức là các nhà sản xuất; nhưng đã làm sai. Phải thay đổi luật để tránh không làm sai nữa.
Tự căn bản, vấn đề lớn của mọi hệ thống kinh tế là làm sao phân bố số tài nguyên trong xã hội theo cách ích lợi nhất, nghĩa là dùng vào các doanh vụ đưa ra các sản phẩm hay dịch vụ được nhiều người mua dùng nhất. Trong một hệ thống kinh tế theo lối tập trung, chỉ huy như ở Liên Xô đời xưa thì guồng máy nhà nước chiếm lấy công việc phân bố tài nguyên, mọi người chỉ làm theo kế hoạch của họ. Trong kinh tế thị trường thì việc phân bố tài nguyên do tư nhân quyết định. Ðộng cơ chính là mỗi người tìm cách sinh lợi cho mình nhiều nhất, nhưng nhờ thế cả xã hội được lợi vì tiền được dùng vào việc có hiệu năng cao nhất. Kinh nghiệm trong thế kỷ 20 cho thấy hệ thống tập trung đã thất bại vì không có hiệu quả, tài nguyên không được sử dụng đúng chỗ. Nhưng hệ thống kinh tế tư bản cũng có khi phân bố tài nguyên sai lầm, như cuộc khủng hoảng địa ốc từ mấy năm qua cho thấy.
Trong kinh tế thị trường, tiền do mọi người tiết kiệm được gửi vào các ngân hàng, chuyển tới các doanh nhân. Nhà đầu tư sử dụng tiền muốn đạt lợi nhuận tối đa, nhưng có một quy luật tự nhiên là càng muốn lời nhiều thì càng phải gánh chịu nhiều may rủi, tức là có thể được lớn mà cũng có thể mất nhiều. Một mối quan tâm là làm sao giảm bớt được mức may rủi trong khi kỳ vọng về lợi nhuận không bị giảm.
Từ mấy thế kỷ trước, người Hòa Lan, người Anh đã tìm được một cách phân tán rủi ro là lập ra những công ty cổ phần. Nhiều người góp phần vào một công ty thì nếu thất bại, mỗi người sẽ chỉ chịu một phần rủi ro nhỏ. Một người có thể hùn vốn vào nhiều công ty, trong đó có thành, có bại, tính ra trung bình sẽ không hoàn toàn mất hết, mà cuối cùng chỉ được hưởng mức lời trung bình thôi. Một hình thức phân tán may rủi khác là bảo hiểm, cũng là nơi người ta góp tiền để chia sẻ rủi ro với nhiều người, trong khi công ty bảo hiểm tích lũy tài nguyên để đầu tư.
Vào 30 năm cuối thế kỷ 20, nhiều “khí cụ” mới được sáng chế để phân tản rủi ro, gọi chung là đê ri va ti (derivatives) đã phát triển rầm rộ. Ý tưởng căn bản cũng giống như các nhà nông ký hợp đồng bán trước nông phẩm của mình, rồi giao hàng sau, khi đến mùa gặt hái. Ký một hợp đồng như vậy, nhà nông bảo đảm mình sẽ bán được với giá đồng ý trước; họ sẽ bị thiệt nếu sau này giá lên cao hơn, và được lợi nếu giá tụt xuống thấp hơn. Phía bên kia, người ký hợp đồng mua, thì ngược lại. Ðó cũng là một cách phân tán rủi ro có từ hàng thế kỷ trước.
Mua và bán đê ri va ti thực chất là những cuộc đánh cá trên giá cả tương lai. Nhưng nhờ các đê ri va ti này mà nhà nông có thể chia bớt rủi ro với những người muốn đánh cá. Nhưng từ ba bốn chục năm qua các chuyên gia tài chánh đã sáng chế ra những đê ri va ti mới và phức tạp, không dựa trên các nông phẩm hay khoáng sản, mà dựa trên ngay các chứng khoán tài chánh: cổ phần, trái phiếu, vân vân. Một thứ đê ri va ti đặc biệt là hợp đồng bảo hiểm cho các trái phiếu, tức giấy nợ; theo đó nếu người vay không trả được nợ thì sẽ có người bảo hiểm trả thay. Chính những loại sáng kiến tài chánh (đánh cá) như thế đã là một nguyên nhân chính gây nên cuộc khủng hoảng năm 2007. Luật lệ mới nhằm ngăn ngừa các mối nguy đó.
Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ những vụ cho vay mua nhà mà không buộc người đi vay phải có tiêu chuẩn đủ cao để bảo đảm sẽ trả được nợ. Các ngân hàng nẩy ra sáng kiến đi vay tiền qua các trái khoán, đã đem gộp các món nợ mua nhà lại, dùng để bảo đảm các trái khoán đó. Nhiều nhà đầu tư Mỹ và khắp thế giới tin vào các ngân hàng, đi mua loại trái khoán này. Khi kinh tế bắt đầu suy yếu, nhiều người mua nhà không có tiền trả nợ, nhiều ngân hàng lớn thấy chính họ và các thân chủ của họ sắp mất tiền vì đi mua các trái phiếu dựa trên những món nợ thiếu tiêu chuẩn. Tình trạng nguy kịch, một ngân hàng lớn bị phá sản, các ngân hàng lớn khác lung lay. Khi đó chính các ngân hàng cũng không thể đi vay ngắn hạn trên thị trường được nữa, đẩy cuộc khủng hoảng vào chỗ trầm trọng hơn. Tiếp theo, một công ty quốc tế chuyên lãnh bảo hiểm cho các giấy nợ bị lâm nguy. Giống như bảo hiểm cháy nhà cho một làng mà cả làng đó cùng cháy một lúc, AIG rơi vào tình trạng sắp phá sản.
Chính phủ Mỹ, từ thời Tổng Thống Bush đã phải cứu cả AIG lẫn các ngân hàng lớn, chính phủ Obama tiếp tục, tốn của công quỹ hàng ngàn tỷ bạc. Họ phải cứu vì nếu các công ty và ngân hàng đó phá sản cùng một lúc thì cả hệ thống tài chánh suy sụp. Ðây là một điều mà các nhà làm luật muốn tránh: Tốt nhất là phải thấy báo hiệu trước khi một ngân hàng lớn sắp lâm nguy. Không để cho một ngân hàng quá lớn đến nỗi chính phủ bắt buộc phải cứu nó, chỉ vì nếu không cứu thì cả nước nguy to! Lúc đầu chính phủ Obama định lập ra một quỹ chung do các ngân hàng đóng góp, dùng để cứu cấp khi họ lâm nguy. Ðiều này bị các đại biểu Cộng Hòa phản đối mạnh; cho nên trong luật mới đã thay thế bằng những thủ tục để “làm đáng tang” cho những ngân hàng lớn lâm nguy. Chính phủ sẽ giải tán rồi bán các bộ phận của ngân hàng này. Nếu các tài sản của ngân hàng không đủ thì một quỹ do các chủ nhân, các trái chủ của ngân hàng đóng góp sẽ bù vào để trả nợ. Nếu vẫn thiếu thì sau cùng mới phải dùng đến công quỹ.
Quy trách nhiệm về cuộc khủng hoảng 2007 thì người ta phải thấy lỗi đầu tiên là trong hệ thống tài chánh cũ các ngân hàng và những công ty chuyên cho vay địa ốc đã làm liều khi cho vay mà không xét tiêu chuẩn một cách nghiêm mật. Vì vậy, phải làm thêm luật để kiểm soát các công ty và ngân hàng, buộc họ làm đứng đắn hơn. Mặt khác, chính những “người tiêu thụ” khi đi vay cũng không biết tự lượng sức mà vay nhiều quá, hoặc cố ý gian dối để đi vay tiền, họ cũng chia sẻ trách nhiệm. Tuy nhiên, đa số những “người tiêu thụ” này không đủ thông tin và thiếu hiểu biết về tài chánh, cho nên họ cũng là những nạn nhân bị các người môi giới dụ dỗ đi vay tiền mua nhà. Người môi giới được hưởng tiền hoa hồng, còn người vay thì đến khi không trả được nợ sẽ mất nhà, ngân hàng cũng mất tiền. Bởi vậy, trong đạo luật mới đã đặt ra một cơ quan bảo vệ người tiêu thụ trong thị trường tài chánh. Ðây là một điều luật gây nhiều chống đối từ phía đảng đối lập cũng như từ các ngân hàng, vì họ sẽ bị kiểm soát kỹ hơn.
Thực ra, trong nghề tài chánh người ta đã có những thủ tục, luật lệ tự đặt ra để bảo đảm sự an toàn cho chính họ, và cho nền kinh tế. Nhưng trong mấy năm trước khi xẩy ra khủng hoảng, chính các công ty cho vay và ngân hàng đã không theo đúng những điều luật mà họ tự đặt ra. Cho nên, phải tăng cường quyền hạn cho cơ quan phụ trách giám sát các ngân hàng là hệ thống Quỹ Dự Trữ Liên Bang (Federal Reserve System, viết tắt là Fed) để ngăn ngừa các sơ suất và lạm dụng.
Ngoài ra, trước đây Fed chỉ có quyền trên các ngân hàng thương mại, còn nhiều loại công ty tài chánh khác nằm dưới quyền của các cơ quan phức tạp, chính sự lỏng lẻo của hệ thống kiểm soát này đã để cho nhiều công ty cho vay mua nhà làm ẩu. Nay đạo luật mới sẽ tập trung việc kiểm soát, Sở Thanh Tra Tiền Tệ (OCC). Tuy nhiên trong luật mới vẫn để cho nhiều cơ sở tài chánh còn do các cơ quan khác trong chính phủ liên bang và tiểu bang kiểm soát.
Một điểm quan trọng trong đạo luật mới này là hạn chế hoạt động của các ngân hàng thương mại để những tránh rủi ro gây liên lụy tới người gửi tiền. Các ngân hàng thương mại sẽ chỉ có nhiệm vụ nhận tiền của người gửi rồi đem tiền cho vay. Họ không có quyền đóng vai trung gian cho các cuộc vay nợ, mua bán chứng khoán, công việc đó là của các “ngân hàng đầu tư” (investment bank), và loại hoạt động này sẽ không được chính phủ cứu khi lâm nguy. Cũng nhằm bảo vệ sự vững chắc của tiền do người ta ký thác, các ngân hàng thương mại không được góp vốn quá 3% vào các quỹ đầu tư đặc biệt như quỹ đối trọng (hedge fund) hoặc quỹ vốn tư nhân (private equity).
Một thay đổi lớn nhất trong đạo luật mới ra là hầu hết các đê ri va ti sẽ được đặt trong luật lệ kiểm soát, mà từ trước đến nay họ hoàn toàn tự do không ai ngó tới. Ðây là lần đầu tiên các đê ri va ti bị luật pháp ràng buộc.
Mọi việc mua bán đê ri va ti phải đi qua một “trung tâm thanh toán” (clearing house). Các người bán đê ri va ti phải đặt tiền vào trung tâm này để phòng khi cần thì trả cho người mua - chứ không thể chạy làng. Các ngân hàng thương mại sẽ bị cấm không được tham dự vào một số thị trường đê ri va ti, như đánh cá trên giá dầu lửa, trên kim khí kỹ nghệ, chỉ vì những thứ này giá cả thất thường rất nhiều rủi ro. Các công ty chuyên sáng chế ra những đê ri va ti phải đặt riêng ra một số tiền đề phòng rủi ro. Họ sẽ bị phạt nặng nếu sử dụng các đê ri va ti để che giấu tình trạng tài chánh xấu của thân chủ (như Goldman Sach mới bị tố giác là đã dùng đê ri va ti giúp chính phủ Hy Lạp che đậy tình hình không trả được nợ). Ðể đáp lại yêu cầu của bà Nghị Sĩ Blanche Lincoln tiểu bang Arkansas, chủ tịch Ủy Ban Nông Nghiệp Thượng Viện, các nhà nông hay công ty sản xuất không bị ràng buộc như những người bán đê ri va ti tài chánh, tuy họ vẫn phải báo cáo đầy đủ. Bởi vì họ có nhu cầu dùng đê ri va ti để phân tản rủi ro đích thực. Ðạo luật mới cũng chừa một lỗ hổng là những đê ri va ti do người ta thương lượng riêng với nhau, không mua bán trên thị trường sẽ được miễn.
Cuộc khủng hoảng vừa qua một phần cũng do lỗi của các công ty thẩm lượng tín dụng (credit rating) gây ra. Họ cho điểm cao những trái khoán dựa trên địa ốc, về sau hóa ra các trái khoán này không có giá trị. Theo luật hiện hành, nếu ai tin vào các công ty này mà đầu tư rồi bị mất tiền vì họ thẩm định sai thì không thể kiện cáo gì được, trừ khi chứng minh được là họ cố ý làm sai. Nhưng theo luật mới, các công ty thẩm lượng tín dụng chịu hoàn toàn trách nhiệm về sai lầm của họ, dù ngay tình không có ý lừa dối. Nước Mỹ chỉ có 3 công ty thẩm lượng tín dụng, và họ sẽ bị theo dõi kỹ hơn cũng như sẽ bị các cơ quan chính phủ cạnh tranh. Một điều chưa được giải quyết là các công ty này có quyền lợi xung khắc vì họ lãnh thù lao của chính các thân chủ mà họ sẽ thẩm lượng xem có đáng đầu tư hay không. Ðây là điều sẽ phải được các cơ quan thi hành luật giải quyết.
Ðạo luật cải tổ tài chánh cũng gia tăng quyền hành của cổ đông các công ty mua bán trên thị trường chứng khoán. Các cổ đông sẽ có thể cử đại diện vào hội đồng quản trị một cách dễ dàng hơn, do đó có quyền mạnh hơn trên ban giám đốc.
Những trung gian tài chánh như người môi giới chứng khoán, các quỹ đối trọng, sẽ bị ràng buộc nhiều hơn trong đạo luật mới, để buộc họ chịu trách nhiệm cao hơn với thân chủ.
Một điều được chính phủ Obama đề cao nhất là đạo luật mới lập ra cơ quan Bảo Vệ Người Tiêu Thụ. Cơ quan này sẽ kiểm soát tất cả các hoạt động tài chánh ngoài hệ thống ngân hàng. Những công ty cho vay nặng lãi, địa ốc, các nhà phát hành thẻ tín dụng, vân vân, sẽ được giám sát, như bắt họ phải giải thích rõ ràng các bản hợp đồng, không được dụ dỗ người ta ký vào các hợp đồng nhiều rủi ro mà người ta không hiểu, vân vân. Một lỗ hổng còn bỏ sót là loại nợ vay để mua xe, không được kiểm soát. Ngoài ra, nhiều người cũng thoát khỏi lưới của cơ quan mới này, như các kế toán viên, môi giới địa ốc, người bán nhà làm sẵn (mobile home), và các nhà bảo hiểm.
Tuy nhiên đối với các công ty và ngân hàng cho vay mua nhà, đạo luật mới nghiêm ngặt hơn nhiều. Các công ty cho vay địa ốc có bổn phận kiểm chứng khả năng trả nợ của người vay, nếu không tìm hiểu rõ lợi tức và quá trình vay nợ của người vay sẽ bị phạt nặng. Những công ty gom góp các món nợ lại để bán trái phiếu bị bắt buộc phải giữ 5% lại, nếu các trái phiếu này không trả được thì chính họ cũng bị thiệt hại; do đó hy vọng họ sẽ thận trọng hơn. Ðể tránh người tiêu thụ không bị dụ dỗ đi vay nợ mua nhà quá lớn, luật sẽ cấm tiền thưởng cho người môi giới vay nợ không được lên cao cùng với món nợ.
Ðạo luật dầy 2,300 trang này đưa ra nhiều điều khoản nhưng vẫn không nêu ra đủ chi tiết; các cơ quan chính phủ sau này sẽ bổ túc bằng các thủ tục luật lệ (regulation) khi đem thi hành. Nhiều người sẽ than phiền là đạo luật còn chưa đủ nghiêm để trừng phạt các ngân hàng đã gây ra cuộc khủng hoảng vừa qua. Ngược lại, có nhiều người cho là chính phủ đặt ra nhiều ràng buộc quá, có thể làm thui chột các sáng kiến tư nhân! Dù sao, đây quả thật là một đạo luật sẽ thay đổi cả cách điều hành hệ thống tài chánh nước Mỹ trong hàng thế kỷ tới.
Ngô Nhân Dụng
Năm 1930 kinh tế Mỹ bắt đầu một cuộc khủng hoảng lớn, khiến các nhà chính trị phải thay đổi hầu hết các luật lệ điều hành hệ thống ngân hàng. Năm 2007, một cuộc khủng hoảng khác cũng bắt đầu từ các ngân hàng lan sang các lãnh vực khác khiến cả thế giới bị ảnh hưởng. Cả hai vụ khủng hoảng đều đưa tới những đạo luật thay đổi cả hệ thống tài chánh Mỹ. Sau gần ba năm qua, các nhà chuyên môn nghiên cứu, thảo luận, các đại biểu bàn cãi, tham khảo, tuần qua Quốc Hội Mỹ đã biểu quyết một đạo luật Cải Tổ Tài Chánh và Tổng Thống Barack Obama mới ký ban hành. Ðây là một đạo luật có tầm quan trọng không kém những cải tổ trong thập niên 1930-40, sẽ ảnh hưởng tới hoạt động tài chánh và nền kinh tế, trong đó có đời sống của mọi người sống ở Mỹ trong nhiều năm sắp tới. Cho nên chúng ta nên biết nguyên ủy và nội dung của đạo luật mới này.
Những người thích nói chuyện đấu tranh giai cấp sẽ coi đạo luật mới này là một dụng cụ để bắt các nhà tư bản (như các ngân hàng) phải chịu kiểm soát chặt chẽ hơn, và bảo vệ những người thấp cổ bé miệng (người tiêu thụ) nhiều hơn. Ðiều này đúng, nhưng chưa cho biết làm như vậy thì ích lợi cho toàn thể nền kinh tế như thế nào, và ngăn ngừa được những tai hại nào.
Khủng hoảng tài chánh từ năm 2007 tóm tắt lại là vì vì quá nhiều đồng tiền chạy không đúng chỗ! Hệ thống tài chánh có vai trò chuyển tiền do người dân tiết kiệm để đưa tới cho những người sử dụng, tức là các nhà sản xuất; nhưng đã làm sai. Phải thay đổi luật để tránh không làm sai nữa.
Tự căn bản, vấn đề lớn của mọi hệ thống kinh tế là làm sao phân bố số tài nguyên trong xã hội theo cách ích lợi nhất, nghĩa là dùng vào các doanh vụ đưa ra các sản phẩm hay dịch vụ được nhiều người mua dùng nhất. Trong một hệ thống kinh tế theo lối tập trung, chỉ huy như ở Liên Xô đời xưa thì guồng máy nhà nước chiếm lấy công việc phân bố tài nguyên, mọi người chỉ làm theo kế hoạch của họ. Trong kinh tế thị trường thì việc phân bố tài nguyên do tư nhân quyết định. Ðộng cơ chính là mỗi người tìm cách sinh lợi cho mình nhiều nhất, nhưng nhờ thế cả xã hội được lợi vì tiền được dùng vào việc có hiệu năng cao nhất. Kinh nghiệm trong thế kỷ 20 cho thấy hệ thống tập trung đã thất bại vì không có hiệu quả, tài nguyên không được sử dụng đúng chỗ. Nhưng hệ thống kinh tế tư bản cũng có khi phân bố tài nguyên sai lầm, như cuộc khủng hoảng địa ốc từ mấy năm qua cho thấy.
Trong kinh tế thị trường, tiền do mọi người tiết kiệm được gửi vào các ngân hàng, chuyển tới các doanh nhân. Nhà đầu tư sử dụng tiền muốn đạt lợi nhuận tối đa, nhưng có một quy luật tự nhiên là càng muốn lời nhiều thì càng phải gánh chịu nhiều may rủi, tức là có thể được lớn mà cũng có thể mất nhiều. Một mối quan tâm là làm sao giảm bớt được mức may rủi trong khi kỳ vọng về lợi nhuận không bị giảm.
Từ mấy thế kỷ trước, người Hòa Lan, người Anh đã tìm được một cách phân tán rủi ro là lập ra những công ty cổ phần. Nhiều người góp phần vào một công ty thì nếu thất bại, mỗi người sẽ chỉ chịu một phần rủi ro nhỏ. Một người có thể hùn vốn vào nhiều công ty, trong đó có thành, có bại, tính ra trung bình sẽ không hoàn toàn mất hết, mà cuối cùng chỉ được hưởng mức lời trung bình thôi. Một hình thức phân tán may rủi khác là bảo hiểm, cũng là nơi người ta góp tiền để chia sẻ rủi ro với nhiều người, trong khi công ty bảo hiểm tích lũy tài nguyên để đầu tư.
Vào 30 năm cuối thế kỷ 20, nhiều “khí cụ” mới được sáng chế để phân tản rủi ro, gọi chung là đê ri va ti (derivatives) đã phát triển rầm rộ. Ý tưởng căn bản cũng giống như các nhà nông ký hợp đồng bán trước nông phẩm của mình, rồi giao hàng sau, khi đến mùa gặt hái. Ký một hợp đồng như vậy, nhà nông bảo đảm mình sẽ bán được với giá đồng ý trước; họ sẽ bị thiệt nếu sau này giá lên cao hơn, và được lợi nếu giá tụt xuống thấp hơn. Phía bên kia, người ký hợp đồng mua, thì ngược lại. Ðó cũng là một cách phân tán rủi ro có từ hàng thế kỷ trước.
Mua và bán đê ri va ti thực chất là những cuộc đánh cá trên giá cả tương lai. Nhưng nhờ các đê ri va ti này mà nhà nông có thể chia bớt rủi ro với những người muốn đánh cá. Nhưng từ ba bốn chục năm qua các chuyên gia tài chánh đã sáng chế ra những đê ri va ti mới và phức tạp, không dựa trên các nông phẩm hay khoáng sản, mà dựa trên ngay các chứng khoán tài chánh: cổ phần, trái phiếu, vân vân. Một thứ đê ri va ti đặc biệt là hợp đồng bảo hiểm cho các trái phiếu, tức giấy nợ; theo đó nếu người vay không trả được nợ thì sẽ có người bảo hiểm trả thay. Chính những loại sáng kiến tài chánh (đánh cá) như thế đã là một nguyên nhân chính gây nên cuộc khủng hoảng năm 2007. Luật lệ mới nhằm ngăn ngừa các mối nguy đó.
Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ những vụ cho vay mua nhà mà không buộc người đi vay phải có tiêu chuẩn đủ cao để bảo đảm sẽ trả được nợ. Các ngân hàng nẩy ra sáng kiến đi vay tiền qua các trái khoán, đã đem gộp các món nợ mua nhà lại, dùng để bảo đảm các trái khoán đó. Nhiều nhà đầu tư Mỹ và khắp thế giới tin vào các ngân hàng, đi mua loại trái khoán này. Khi kinh tế bắt đầu suy yếu, nhiều người mua nhà không có tiền trả nợ, nhiều ngân hàng lớn thấy chính họ và các thân chủ của họ sắp mất tiền vì đi mua các trái phiếu dựa trên những món nợ thiếu tiêu chuẩn. Tình trạng nguy kịch, một ngân hàng lớn bị phá sản, các ngân hàng lớn khác lung lay. Khi đó chính các ngân hàng cũng không thể đi vay ngắn hạn trên thị trường được nữa, đẩy cuộc khủng hoảng vào chỗ trầm trọng hơn. Tiếp theo, một công ty quốc tế chuyên lãnh bảo hiểm cho các giấy nợ bị lâm nguy. Giống như bảo hiểm cháy nhà cho một làng mà cả làng đó cùng cháy một lúc, AIG rơi vào tình trạng sắp phá sản.
Chính phủ Mỹ, từ thời Tổng Thống Bush đã phải cứu cả AIG lẫn các ngân hàng lớn, chính phủ Obama tiếp tục, tốn của công quỹ hàng ngàn tỷ bạc. Họ phải cứu vì nếu các công ty và ngân hàng đó phá sản cùng một lúc thì cả hệ thống tài chánh suy sụp. Ðây là một điều mà các nhà làm luật muốn tránh: Tốt nhất là phải thấy báo hiệu trước khi một ngân hàng lớn sắp lâm nguy. Không để cho một ngân hàng quá lớn đến nỗi chính phủ bắt buộc phải cứu nó, chỉ vì nếu không cứu thì cả nước nguy to! Lúc đầu chính phủ Obama định lập ra một quỹ chung do các ngân hàng đóng góp, dùng để cứu cấp khi họ lâm nguy. Ðiều này bị các đại biểu Cộng Hòa phản đối mạnh; cho nên trong luật mới đã thay thế bằng những thủ tục để “làm đáng tang” cho những ngân hàng lớn lâm nguy. Chính phủ sẽ giải tán rồi bán các bộ phận của ngân hàng này. Nếu các tài sản của ngân hàng không đủ thì một quỹ do các chủ nhân, các trái chủ của ngân hàng đóng góp sẽ bù vào để trả nợ. Nếu vẫn thiếu thì sau cùng mới phải dùng đến công quỹ.
Quy trách nhiệm về cuộc khủng hoảng 2007 thì người ta phải thấy lỗi đầu tiên là trong hệ thống tài chánh cũ các ngân hàng và những công ty chuyên cho vay địa ốc đã làm liều khi cho vay mà không xét tiêu chuẩn một cách nghiêm mật. Vì vậy, phải làm thêm luật để kiểm soát các công ty và ngân hàng, buộc họ làm đứng đắn hơn. Mặt khác, chính những “người tiêu thụ” khi đi vay cũng không biết tự lượng sức mà vay nhiều quá, hoặc cố ý gian dối để đi vay tiền, họ cũng chia sẻ trách nhiệm. Tuy nhiên, đa số những “người tiêu thụ” này không đủ thông tin và thiếu hiểu biết về tài chánh, cho nên họ cũng là những nạn nhân bị các người môi giới dụ dỗ đi vay tiền mua nhà. Người môi giới được hưởng tiền hoa hồng, còn người vay thì đến khi không trả được nợ sẽ mất nhà, ngân hàng cũng mất tiền. Bởi vậy, trong đạo luật mới đã đặt ra một cơ quan bảo vệ người tiêu thụ trong thị trường tài chánh. Ðây là một điều luật gây nhiều chống đối từ phía đảng đối lập cũng như từ các ngân hàng, vì họ sẽ bị kiểm soát kỹ hơn.
Thực ra, trong nghề tài chánh người ta đã có những thủ tục, luật lệ tự đặt ra để bảo đảm sự an toàn cho chính họ, và cho nền kinh tế. Nhưng trong mấy năm trước khi xẩy ra khủng hoảng, chính các công ty cho vay và ngân hàng đã không theo đúng những điều luật mà họ tự đặt ra. Cho nên, phải tăng cường quyền hạn cho cơ quan phụ trách giám sát các ngân hàng là hệ thống Quỹ Dự Trữ Liên Bang (Federal Reserve System, viết tắt là Fed) để ngăn ngừa các sơ suất và lạm dụng.
Ngoài ra, trước đây Fed chỉ có quyền trên các ngân hàng thương mại, còn nhiều loại công ty tài chánh khác nằm dưới quyền của các cơ quan phức tạp, chính sự lỏng lẻo của hệ thống kiểm soát này đã để cho nhiều công ty cho vay mua nhà làm ẩu. Nay đạo luật mới sẽ tập trung việc kiểm soát, Sở Thanh Tra Tiền Tệ (OCC). Tuy nhiên trong luật mới vẫn để cho nhiều cơ sở tài chánh còn do các cơ quan khác trong chính phủ liên bang và tiểu bang kiểm soát.
Một điểm quan trọng trong đạo luật mới này là hạn chế hoạt động của các ngân hàng thương mại để những tránh rủi ro gây liên lụy tới người gửi tiền. Các ngân hàng thương mại sẽ chỉ có nhiệm vụ nhận tiền của người gửi rồi đem tiền cho vay. Họ không có quyền đóng vai trung gian cho các cuộc vay nợ, mua bán chứng khoán, công việc đó là của các “ngân hàng đầu tư” (investment bank), và loại hoạt động này sẽ không được chính phủ cứu khi lâm nguy. Cũng nhằm bảo vệ sự vững chắc của tiền do người ta ký thác, các ngân hàng thương mại không được góp vốn quá 3% vào các quỹ đầu tư đặc biệt như quỹ đối trọng (hedge fund) hoặc quỹ vốn tư nhân (private equity).
Một thay đổi lớn nhất trong đạo luật mới ra là hầu hết các đê ri va ti sẽ được đặt trong luật lệ kiểm soát, mà từ trước đến nay họ hoàn toàn tự do không ai ngó tới. Ðây là lần đầu tiên các đê ri va ti bị luật pháp ràng buộc.
Mọi việc mua bán đê ri va ti phải đi qua một “trung tâm thanh toán” (clearing house). Các người bán đê ri va ti phải đặt tiền vào trung tâm này để phòng khi cần thì trả cho người mua - chứ không thể chạy làng. Các ngân hàng thương mại sẽ bị cấm không được tham dự vào một số thị trường đê ri va ti, như đánh cá trên giá dầu lửa, trên kim khí kỹ nghệ, chỉ vì những thứ này giá cả thất thường rất nhiều rủi ro. Các công ty chuyên sáng chế ra những đê ri va ti phải đặt riêng ra một số tiền đề phòng rủi ro. Họ sẽ bị phạt nặng nếu sử dụng các đê ri va ti để che giấu tình trạng tài chánh xấu của thân chủ (như Goldman Sach mới bị tố giác là đã dùng đê ri va ti giúp chính phủ Hy Lạp che đậy tình hình không trả được nợ). Ðể đáp lại yêu cầu của bà Nghị Sĩ Blanche Lincoln tiểu bang Arkansas, chủ tịch Ủy Ban Nông Nghiệp Thượng Viện, các nhà nông hay công ty sản xuất không bị ràng buộc như những người bán đê ri va ti tài chánh, tuy họ vẫn phải báo cáo đầy đủ. Bởi vì họ có nhu cầu dùng đê ri va ti để phân tản rủi ro đích thực. Ðạo luật mới cũng chừa một lỗ hổng là những đê ri va ti do người ta thương lượng riêng với nhau, không mua bán trên thị trường sẽ được miễn.
Cuộc khủng hoảng vừa qua một phần cũng do lỗi của các công ty thẩm lượng tín dụng (credit rating) gây ra. Họ cho điểm cao những trái khoán dựa trên địa ốc, về sau hóa ra các trái khoán này không có giá trị. Theo luật hiện hành, nếu ai tin vào các công ty này mà đầu tư rồi bị mất tiền vì họ thẩm định sai thì không thể kiện cáo gì được, trừ khi chứng minh được là họ cố ý làm sai. Nhưng theo luật mới, các công ty thẩm lượng tín dụng chịu hoàn toàn trách nhiệm về sai lầm của họ, dù ngay tình không có ý lừa dối. Nước Mỹ chỉ có 3 công ty thẩm lượng tín dụng, và họ sẽ bị theo dõi kỹ hơn cũng như sẽ bị các cơ quan chính phủ cạnh tranh. Một điều chưa được giải quyết là các công ty này có quyền lợi xung khắc vì họ lãnh thù lao của chính các thân chủ mà họ sẽ thẩm lượng xem có đáng đầu tư hay không. Ðây là điều sẽ phải được các cơ quan thi hành luật giải quyết.
Ðạo luật cải tổ tài chánh cũng gia tăng quyền hành của cổ đông các công ty mua bán trên thị trường chứng khoán. Các cổ đông sẽ có thể cử đại diện vào hội đồng quản trị một cách dễ dàng hơn, do đó có quyền mạnh hơn trên ban giám đốc.
Những trung gian tài chánh như người môi giới chứng khoán, các quỹ đối trọng, sẽ bị ràng buộc nhiều hơn trong đạo luật mới, để buộc họ chịu trách nhiệm cao hơn với thân chủ.
Một điều được chính phủ Obama đề cao nhất là đạo luật mới lập ra cơ quan Bảo Vệ Người Tiêu Thụ. Cơ quan này sẽ kiểm soát tất cả các hoạt động tài chánh ngoài hệ thống ngân hàng. Những công ty cho vay nặng lãi, địa ốc, các nhà phát hành thẻ tín dụng, vân vân, sẽ được giám sát, như bắt họ phải giải thích rõ ràng các bản hợp đồng, không được dụ dỗ người ta ký vào các hợp đồng nhiều rủi ro mà người ta không hiểu, vân vân. Một lỗ hổng còn bỏ sót là loại nợ vay để mua xe, không được kiểm soát. Ngoài ra, nhiều người cũng thoát khỏi lưới của cơ quan mới này, như các kế toán viên, môi giới địa ốc, người bán nhà làm sẵn (mobile home), và các nhà bảo hiểm.
Tuy nhiên đối với các công ty và ngân hàng cho vay mua nhà, đạo luật mới nghiêm ngặt hơn nhiều. Các công ty cho vay địa ốc có bổn phận kiểm chứng khả năng trả nợ của người vay, nếu không tìm hiểu rõ lợi tức và quá trình vay nợ của người vay sẽ bị phạt nặng. Những công ty gom góp các món nợ lại để bán trái phiếu bị bắt buộc phải giữ 5% lại, nếu các trái phiếu này không trả được thì chính họ cũng bị thiệt hại; do đó hy vọng họ sẽ thận trọng hơn. Ðể tránh người tiêu thụ không bị dụ dỗ đi vay nợ mua nhà quá lớn, luật sẽ cấm tiền thưởng cho người môi giới vay nợ không được lên cao cùng với món nợ.
Ðạo luật dầy 2,300 trang này đưa ra nhiều điều khoản nhưng vẫn không nêu ra đủ chi tiết; các cơ quan chính phủ sau này sẽ bổ túc bằng các thủ tục luật lệ (regulation) khi đem thi hành. Nhiều người sẽ than phiền là đạo luật còn chưa đủ nghiêm để trừng phạt các ngân hàng đã gây ra cuộc khủng hoảng vừa qua. Ngược lại, có nhiều người cho là chính phủ đặt ra nhiều ràng buộc quá, có thể làm thui chột các sáng kiến tư nhân! Dù sao, đây quả thật là một đạo luật sẽ thay đổi cả cách điều hành hệ thống tài chánh nước Mỹ trong hàng thế kỷ tới.
Hoa Kỳ tham gia giải quyết tranh chấp Biển Ðông
là thông điệp hết sức tích cực
Phỏng vấn Tiến Sĩ Nguyễn Quang A ở Hà Nội
Tiến Sĩ Nguyễn Quang A. QUẬN CAM (NV) - Tiến Sĩ Nguyễn Quang A, 64 tuổi, nguyên viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển Việt Nam IDS. Ông đạt học vị tiến sĩ khoa học năm 1982 (Hungary) về ngành điện tử viễn thông và được coi là một trong những người có công nhất, ảnh hưởng nhiều nhất đến sự phát triển của Internet tại Việt Nam những năm đầu.
Năm 2007 ông và một số trí thức nổi tiếng trong nước thành lập IDS, một viện nghiên cứu độc lập đầu tiên tại Việt Nam. Tuy nhiên, ngày 14 tháng 9, 2009, 16 thành viên của IDS đã ra bản tuyên bố tự giải thể với lý do nhà cầm quyền Trung Ương Hà Nội ra quyết định 97/2009/QÐ/TTg cấm các tổ chức nghiên cứu công bố công khai các kết quả, công trình nghiên cứu, bài viết phản biện của họ. Bản tuyên bố dài 6 trang giấy lên án quyết định đó là “phản tiến bộ, phản dân chủ,” phản Hiến Pháp và luật pháp hiện hành của Việt Nam.
Nhân những lời tuyên bố của bà ngoại trưởng Hoa Kỳ liên quan đến tranh chấp chủ quyền biển Ðông khi bà dự Diễn Ðàn An Ninh Khu Vực ASEAN ở Hà Nội ngày 23 tháng 7, 2010, nhật báo Người Việt đã phỏng vấn một số người trong và ngoài nước, trong đó có Tiến Sĩ Nguyễn Quang A. Dưới đây là phần phỏng vấn của nhật báo Người Việt với ông Nguyễn Quang A.
Người Việt (NV): Thưa ông, cách đây ít ngày vào tuần trước, bà Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton tham dự cuộc họp Diễn Ðàn An Ninh Khu Vực ASEAN ở Hà Nội, chắc ông có theo dõi tin tức hội nghị. Trong hội nghị đó bà Clinton có cho hay rằng là Hoa Kỳ sẵn sàng đứng ra dàn xếp cho một cơ chế để các nước trong khu vực thảo luận và giải quyết bằng đường lối ngoại giao cuộc tranh chấp về biển Ðông, ông thấy thế nào?
TS Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ vấn đề biển Ðông rất quan trọng đối với Việt Nam và đối với cả khu vực này. Việc tham gia của Hoa Kỳ trong việc dàn xếp, giải quyết những vấn đề biển Ðông tôi nghĩ là một thông điệp hết sức tích cực từ phía chính phủ Hoa Kỳ và rất quan trọng đối với tình hình an ninh khu vực Ðông Nam Á.
NV: Thưa ông, bà ấy nói như vậy không biết có phải là vì ít lâu nay, thời gian vừa qua, phía Việt Nam đã từng vận động để quốc tế hóa vấn đề nhưng dường như kết quả không được như phía Việt Nam mong muốn tức là đạt được một sự đồng thuận ở ASEAN, theo ông có phải vì vấn đề như vậy không mà Hoa Kỳ đã tích cực hơn?
TS Nguyễn Quang A: Thực sự ở đây vấn đề phức tạp hơn như vậy nhiều. Thứ nhất là vùng biển Ðông là đụng đến vấn đề tự do hàng hải, một con đường rất là huyết mạch đối với nhiều nước từ Nhật Bản đến Hàn Quốc, Nga, Mỹ cho đến các nước ở Ðông Nam Á này, đấy là một chuyện. Chuyện thứ hai là tranh chấp đảo, lãnh thổ và thực sự là tranh chấp tài nguyên của một số nước trong khu vực. Hai chuyện này dính với nhau.
Chuyện thứ nhất là tự do hàng hải hầu như tương đối dễ thống nhất mà theo luật biển quốc tế phải đảm bảo tự do hàng hải như thế này, thế kia; nhưng mà chuyện đó nó lại dính vào việc tranh chấp chủ quyền biển Ðông. Tranh chấp chủ quyền biển Ðông như thế có thể cản trở đến chuyện tự do hàng hải. Trong tranh chấp chủ quyền này chủ yếu xảy ra là giữa Trung Quốc, Ðài Loan, Phillipines, Malaysia, Việt Nam, Brunei và một phần không phải toàn bộ 10 nước trong hiệp hội ASEAN cho nên việc có một tiếng nói chung ở trong ASEAN về chuyện này không phải là dễ. Một mặt là Trung Quốc họ cương quyết không giải quyết vấn đề này trên bình diện quốc tế đa phương mà chỉ giải quyết đơn phương từng cặp nước một mà trụ cột là họ, tức là Trung Quốc cứ song phương với Việt Nam, song phương với Phillipines, v.v... Tức là chiến thuật của Trung Quốc tách bó đũa ra từng chiếc đũa một. Ðó là kế đàm phán của họ luôn luôn mạnh mẽ với sức mạnh quân sự của họ nữa.
Không những sức mạnh quân sự với số tiền bạc mà họ có thể dùng lấy danh nghĩa viện trợ đầu tư thì họ có thể có ảnh hưởng đến nhiều nước khác. Nếu một nước họ dùng chiến thuật riêng để làm sao tách riêng các quốc gia này ra để không có tiếng nói chung, đấy là chiến thuật của Trung Quốc. Cho nên là quốc tế hóa, đa phương hóa việc giải quyết vấn đề biển Ðông mà Việt Nam muốn làm thì không phải dễ.
Chừng nào không có những tiếng nói dứt khoát từ những cường quốc thí dụ như Hoa Kỳ, không có tiếng nói mạnh như Hoa Kỳ thì lúc đó Nhật Bản cũng e ngại, Hàn Quốc cũng e ngại, các nước khác cũng e ngại, khi bà Clinton nêu chính kiến của Hoa Kỳ một cách rất dứt khoát thì đã có một sự biến chuyển rất tốt về vấn đề này, tức nhiên là Trung Quốc họ cực lực phản đối.
NV: Ngày hôm Thứ Hai, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc họ đã lên tiếng phản ứng một cách chính thức qua một bài viết trên website của họ nói rằng họ không chấp nhận quan điểm của chính phủ Hoa Kỳ đồng thời họ chỉ muốn giải quyết song phương với từng nước một mà thôi. Chúng ta nhìn rõ quan điểm của họ như ông đã nói: họ muốn chia bó đũa ra từng đôi một, từng chiếc một để họ bẻ cho dễ nhưng có một tín hiệu có vẻ làm cho nhiều người khó hiểu là trong rất nhiều dịp khác nhau, các lãnh tụ Việt Nam và Trung Quốc khi gặp nhau thì đều luôn luôn nói đến chuyện thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước lên tầm cao mới, cho nên không biết đó chỉ là những lời tuyên truyền bề ngoài và bên trong có che giấu một điều gì khác không khi nhìn vào thực tế những gì đã xảy ra trong thời gian qua trên biển Ðông, hai cái đó nó không có đi đôi với nhau?
TS Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam ở trong một tình thế rất khó xử và rất tế nhị và tôi đồng cảm với những khó khăn của họ. Thứ nhất, Trung Quốc là một láng giềng lớn của Việt Nam và đối với một láng giềng lớn thì Việt Nam phải có quan hệ tốt với láng giềng đó, không thể đổi láng giềng được. Ðấy là một điều kiện mà trời đã bắt chúng ta như vậy thì chúng ta phải có một cách ứng xử tốt nhất làm sao cho sự tồn tại và phát triển của đất nước cho nên điểm thứ nhất là không bao giờ và không nên chống Trung Quốc, đấy là một điều mà tôi nghĩ là rất quan trọng. Phải cố làm sao cho quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc càng lành mạnh bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Một mặt Việt Nam là một nước độc lập, Việt Nam không thể vì lệ thuộc hay là làm tay sai cho bất kỳ một nước nào và luôn luôn có một sự giằng co trong mối quan hệ, một mặt phải giữ quan hệ tốt về mặt kinh tế, về mặt quân sự, v.v... đủ các thứ khác để giữ cái hòa bình ổn định, mặt khác phải giữ độc lập của mình và sự phát triển chung của mình. Trong một mối quan hệ như thế thì không đơn giản, còn đối với các nhà chính trị thì tôi không dám nhận xét họ nói thế này họ hành động thế kia, có lẽ đấy cũng gắn đến nghề làm chính trị hay chăng, tôi không rõ nhưng thực sự cần phải rất là uyển chuyển, mềm dẻo và những lúc cần thiết thì phải rất là cương quyết, cứng rắn.
NV: Chúng tôi hiểu là ông và một số vị sĩ phu trí thức Việt Nam luôn luôn bận tâm về tương lai của đất nước thì theo ông, ông nghĩ rằng trong hoàn cảnh của nước Việt Nam hiện thời thì chúng ta làm được gì và phải làm gì để bảo toàn lãnh thổ cũng như là để phát triển kinh tế xã hội một cách hài hòa và thật sự công bằng cho tất cả mọi người?
TS Nguyễn Quang A: Có lẽ cách tốt nhất là phải cởi mở với tất cả các nước, nhà nước Việt Nam nói là muốn làm bạn với tất cả các nước. Nhưng tôi nghĩ tôi không phải chỉ “làm bạn” mà phải gọi là cởi mở tức là lợi ích của các nước được đảm bảo và những vùng lân cận của Việt Nam và chỉ trong một mạng lưới rất là phức tạp ấy đó nó đan chéo lẫn nhau, nó kềm chế lẫn nhau và cũng có khi nó thúc đẩy lẫn nhau. Một nước với diện tích nhỏ như Việt Nam nhưng dân số cũng không đến nỗi nhỏ lắm. Một nước đang còn nghèo nhưng có một cơ hội để phát triển để trở thành một nước vừa phải trong khu vực tôi nghĩ đấy là chính sách cởi mở đối với quốc tế.
Muốn cởi mở với quốc tế thì phải theo những giá trị những chuẩn mực của quốc tế mà thực sự những giá trị và những chuẩn mực ấy người Việt Nam từ xa xưa đến nay đều coi trọng cả chứ không phải là gì xa lạ. Ðó là tự do, đó là dân chủ, v.v... đó là vấn đề về quyền con người nếu mà Việt Nam làm được như thế thì Việt Nam sẽ mạnh từ bên trong, nước sẽ thực sự mạnh, nhân dân sẽ thực sự giàu lên, có hiểu biết thêm, có mối quan hệ tốt với những nước lớn, với tất cả những nước xung quanh, mà muốn làm được như thế tôi nghĩ việc giữ được độc lập, tự chủ, tạo điều kiện cho việc phát triển không phải là điều khó khăn cho lắm.
NV: Cảm ơn ông về cuộc phỏng vấn.
là thông điệp hết sức tích cực
Phỏng vấn Tiến Sĩ Nguyễn Quang A ở Hà Nội
Tiến Sĩ Nguyễn Quang A. QUẬN CAM (NV) - Tiến Sĩ Nguyễn Quang A, 64 tuổi, nguyên viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển Việt Nam IDS. Ông đạt học vị tiến sĩ khoa học năm 1982 (Hungary) về ngành điện tử viễn thông và được coi là một trong những người có công nhất, ảnh hưởng nhiều nhất đến sự phát triển của Internet tại Việt Nam những năm đầu.
Năm 2007 ông và một số trí thức nổi tiếng trong nước thành lập IDS, một viện nghiên cứu độc lập đầu tiên tại Việt Nam. Tuy nhiên, ngày 14 tháng 9, 2009, 16 thành viên của IDS đã ra bản tuyên bố tự giải thể với lý do nhà cầm quyền Trung Ương Hà Nội ra quyết định 97/2009/QÐ/TTg cấm các tổ chức nghiên cứu công bố công khai các kết quả, công trình nghiên cứu, bài viết phản biện của họ. Bản tuyên bố dài 6 trang giấy lên án quyết định đó là “phản tiến bộ, phản dân chủ,” phản Hiến Pháp và luật pháp hiện hành của Việt Nam.
Nhân những lời tuyên bố của bà ngoại trưởng Hoa Kỳ liên quan đến tranh chấp chủ quyền biển Ðông khi bà dự Diễn Ðàn An Ninh Khu Vực ASEAN ở Hà Nội ngày 23 tháng 7, 2010, nhật báo Người Việt đã phỏng vấn một số người trong và ngoài nước, trong đó có Tiến Sĩ Nguyễn Quang A. Dưới đây là phần phỏng vấn của nhật báo Người Việt với ông Nguyễn Quang A.
Người Việt (NV): Thưa ông, cách đây ít ngày vào tuần trước, bà Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton tham dự cuộc họp Diễn Ðàn An Ninh Khu Vực ASEAN ở Hà Nội, chắc ông có theo dõi tin tức hội nghị. Trong hội nghị đó bà Clinton có cho hay rằng là Hoa Kỳ sẵn sàng đứng ra dàn xếp cho một cơ chế để các nước trong khu vực thảo luận và giải quyết bằng đường lối ngoại giao cuộc tranh chấp về biển Ðông, ông thấy thế nào?
TS Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ vấn đề biển Ðông rất quan trọng đối với Việt Nam và đối với cả khu vực này. Việc tham gia của Hoa Kỳ trong việc dàn xếp, giải quyết những vấn đề biển Ðông tôi nghĩ là một thông điệp hết sức tích cực từ phía chính phủ Hoa Kỳ và rất quan trọng đối với tình hình an ninh khu vực Ðông Nam Á.
NV: Thưa ông, bà ấy nói như vậy không biết có phải là vì ít lâu nay, thời gian vừa qua, phía Việt Nam đã từng vận động để quốc tế hóa vấn đề nhưng dường như kết quả không được như phía Việt Nam mong muốn tức là đạt được một sự đồng thuận ở ASEAN, theo ông có phải vì vấn đề như vậy không mà Hoa Kỳ đã tích cực hơn?
TS Nguyễn Quang A: Thực sự ở đây vấn đề phức tạp hơn như vậy nhiều. Thứ nhất là vùng biển Ðông là đụng đến vấn đề tự do hàng hải, một con đường rất là huyết mạch đối với nhiều nước từ Nhật Bản đến Hàn Quốc, Nga, Mỹ cho đến các nước ở Ðông Nam Á này, đấy là một chuyện. Chuyện thứ hai là tranh chấp đảo, lãnh thổ và thực sự là tranh chấp tài nguyên của một số nước trong khu vực. Hai chuyện này dính với nhau.
Chuyện thứ nhất là tự do hàng hải hầu như tương đối dễ thống nhất mà theo luật biển quốc tế phải đảm bảo tự do hàng hải như thế này, thế kia; nhưng mà chuyện đó nó lại dính vào việc tranh chấp chủ quyền biển Ðông. Tranh chấp chủ quyền biển Ðông như thế có thể cản trở đến chuyện tự do hàng hải. Trong tranh chấp chủ quyền này chủ yếu xảy ra là giữa Trung Quốc, Ðài Loan, Phillipines, Malaysia, Việt Nam, Brunei và một phần không phải toàn bộ 10 nước trong hiệp hội ASEAN cho nên việc có một tiếng nói chung ở trong ASEAN về chuyện này không phải là dễ. Một mặt là Trung Quốc họ cương quyết không giải quyết vấn đề này trên bình diện quốc tế đa phương mà chỉ giải quyết đơn phương từng cặp nước một mà trụ cột là họ, tức là Trung Quốc cứ song phương với Việt Nam, song phương với Phillipines, v.v... Tức là chiến thuật của Trung Quốc tách bó đũa ra từng chiếc đũa một. Ðó là kế đàm phán của họ luôn luôn mạnh mẽ với sức mạnh quân sự của họ nữa.
Không những sức mạnh quân sự với số tiền bạc mà họ có thể dùng lấy danh nghĩa viện trợ đầu tư thì họ có thể có ảnh hưởng đến nhiều nước khác. Nếu một nước họ dùng chiến thuật riêng để làm sao tách riêng các quốc gia này ra để không có tiếng nói chung, đấy là chiến thuật của Trung Quốc. Cho nên là quốc tế hóa, đa phương hóa việc giải quyết vấn đề biển Ðông mà Việt Nam muốn làm thì không phải dễ.
Chừng nào không có những tiếng nói dứt khoát từ những cường quốc thí dụ như Hoa Kỳ, không có tiếng nói mạnh như Hoa Kỳ thì lúc đó Nhật Bản cũng e ngại, Hàn Quốc cũng e ngại, các nước khác cũng e ngại, khi bà Clinton nêu chính kiến của Hoa Kỳ một cách rất dứt khoát thì đã có một sự biến chuyển rất tốt về vấn đề này, tức nhiên là Trung Quốc họ cực lực phản đối.
NV: Ngày hôm Thứ Hai, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc họ đã lên tiếng phản ứng một cách chính thức qua một bài viết trên website của họ nói rằng họ không chấp nhận quan điểm của chính phủ Hoa Kỳ đồng thời họ chỉ muốn giải quyết song phương với từng nước một mà thôi. Chúng ta nhìn rõ quan điểm của họ như ông đã nói: họ muốn chia bó đũa ra từng đôi một, từng chiếc một để họ bẻ cho dễ nhưng có một tín hiệu có vẻ làm cho nhiều người khó hiểu là trong rất nhiều dịp khác nhau, các lãnh tụ Việt Nam và Trung Quốc khi gặp nhau thì đều luôn luôn nói đến chuyện thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước lên tầm cao mới, cho nên không biết đó chỉ là những lời tuyên truyền bề ngoài và bên trong có che giấu một điều gì khác không khi nhìn vào thực tế những gì đã xảy ra trong thời gian qua trên biển Ðông, hai cái đó nó không có đi đôi với nhau?
TS Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam ở trong một tình thế rất khó xử và rất tế nhị và tôi đồng cảm với những khó khăn của họ. Thứ nhất, Trung Quốc là một láng giềng lớn của Việt Nam và đối với một láng giềng lớn thì Việt Nam phải có quan hệ tốt với láng giềng đó, không thể đổi láng giềng được. Ðấy là một điều kiện mà trời đã bắt chúng ta như vậy thì chúng ta phải có một cách ứng xử tốt nhất làm sao cho sự tồn tại và phát triển của đất nước cho nên điểm thứ nhất là không bao giờ và không nên chống Trung Quốc, đấy là một điều mà tôi nghĩ là rất quan trọng. Phải cố làm sao cho quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc càng lành mạnh bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Một mặt Việt Nam là một nước độc lập, Việt Nam không thể vì lệ thuộc hay là làm tay sai cho bất kỳ một nước nào và luôn luôn có một sự giằng co trong mối quan hệ, một mặt phải giữ quan hệ tốt về mặt kinh tế, về mặt quân sự, v.v... đủ các thứ khác để giữ cái hòa bình ổn định, mặt khác phải giữ độc lập của mình và sự phát triển chung của mình. Trong một mối quan hệ như thế thì không đơn giản, còn đối với các nhà chính trị thì tôi không dám nhận xét họ nói thế này họ hành động thế kia, có lẽ đấy cũng gắn đến nghề làm chính trị hay chăng, tôi không rõ nhưng thực sự cần phải rất là uyển chuyển, mềm dẻo và những lúc cần thiết thì phải rất là cương quyết, cứng rắn.
NV: Chúng tôi hiểu là ông và một số vị sĩ phu trí thức Việt Nam luôn luôn bận tâm về tương lai của đất nước thì theo ông, ông nghĩ rằng trong hoàn cảnh của nước Việt Nam hiện thời thì chúng ta làm được gì và phải làm gì để bảo toàn lãnh thổ cũng như là để phát triển kinh tế xã hội một cách hài hòa và thật sự công bằng cho tất cả mọi người?
TS Nguyễn Quang A: Có lẽ cách tốt nhất là phải cởi mở với tất cả các nước, nhà nước Việt Nam nói là muốn làm bạn với tất cả các nước. Nhưng tôi nghĩ tôi không phải chỉ “làm bạn” mà phải gọi là cởi mở tức là lợi ích của các nước được đảm bảo và những vùng lân cận của Việt Nam và chỉ trong một mạng lưới rất là phức tạp ấy đó nó đan chéo lẫn nhau, nó kềm chế lẫn nhau và cũng có khi nó thúc đẩy lẫn nhau. Một nước với diện tích nhỏ như Việt Nam nhưng dân số cũng không đến nỗi nhỏ lắm. Một nước đang còn nghèo nhưng có một cơ hội để phát triển để trở thành một nước vừa phải trong khu vực tôi nghĩ đấy là chính sách cởi mở đối với quốc tế.
Muốn cởi mở với quốc tế thì phải theo những giá trị những chuẩn mực của quốc tế mà thực sự những giá trị và những chuẩn mực ấy người Việt Nam từ xa xưa đến nay đều coi trọng cả chứ không phải là gì xa lạ. Ðó là tự do, đó là dân chủ, v.v... đó là vấn đề về quyền con người nếu mà Việt Nam làm được như thế thì Việt Nam sẽ mạnh từ bên trong, nước sẽ thực sự mạnh, nhân dân sẽ thực sự giàu lên, có hiểu biết thêm, có mối quan hệ tốt với những nước lớn, với tất cả những nước xung quanh, mà muốn làm được như thế tôi nghĩ việc giữ được độc lập, tự chủ, tạo điều kiện cho việc phát triển không phải là điều khó khăn cho lắm.
NV: Cảm ơn ông về cuộc phỏng vấn.
Tin vào Tương lai Dân chủ
Tuesday, July 27, 2010
Ngô Nhân Dụng
Gần đây cựu Trung Úy Trương Văn Sương được ra khỏi tù đưa về nhà. Trả lời một phóng viên Người Việt phỏng vấn, anh nói: “Tôi vẫn muốn dân tộc Việt Nam bây giờ nên hướng về tương lai. Nên đối xử với nhau trong tinh thần nhân đạo. Hãy để quá khứ về quá khứ.” Thái độ thản nhiên bình tĩnh của anh có thể làm nhiều người ngạc nhiên.
Sau 1975, Trương Văn Sương đã bị cộng sản tù đầy 6 năm. Năm 1981 anh vượt biên rồi lập tức tham gia phong trào tranh đấu với các anh Trần Văn Bá, Lê Quốc Túy, Hồ Thái Bạch, tổ chức của họ bí mật mang vũ khí về nước, tính khởi nghĩa lật đổ chính quyền cộng sản. Bị bắt và bị kết án chung thân, anh Sương lúc nào cũng giữ vững tinh thần bất khuất. Nay anh nói hãy quên đi quá khứ để hướng về tương lai, hãy đối xử với nhau trong tình nhân đạo. Anh Sương đã thay đổi ra sao?
Những lời anh nói không có nghĩa là việc chấm dứt guồng máy độc tài cộng sản không còn cần thiết nữa; như trước đây hơn 30 năm anh đã đấu tranh cho mục đích đó. Ðọc những lời trong bản “tự khai” (mà anh đã viết đi viết lại nhiều lần, không bao giờ thay đổi), chúng ta hiểu rõ ý anh. Trước mặt các cán bộ cộng sản, lúc nào anh cũng khẳng định điều anh vẫn tin tưởng và muốn nhắn nhủ họ: Chủ nghĩa cộng sản sai lầm, chế độ của họ làm hại dân tộc, cần phải chấm dứt.
Dù đã bị cô lập nhiều năm, nhưng ngay khi ở trong tù anh Sương đã biết nhiều tin tức nhờ có dịp tiếp xúc với những tù nhân mới bị bắt vào trại, trong đó có những người tù chính trị như Nguyễn Khắc Toàn. Những lời Trương Văn Sương mới nói cho thấy một cách nhìn mới và một thái độ mới trong cuộc tranh đấu. Người Việt Nam vẫn phải đứng lên giành lấy các quyền tự do dân chủ; nhưng cuộc đấu tranh đã bước sang một giai đoạn mới, với các phương pháp mới.
Trước khi ra khỏi cửa nhà giam anh Trương Văn Sương hẳn biết rằng thế giới bên ngoài đã thay đổi, và mặc dù chế độ độc tài vẫn còn đó nhưng cả đất nước ta, đồng nào ta đang thay đổi rất nhanh. Với thời cơ mới, phương tiện mới, những người tranh đấu phải quên quá khứ và hướng về tương lai.
Khi anh Sương bị bắt lần thứ hai, loài người chưa sử dụng Internet khắp nơi như bây giờ. Ở Việt Nam lúc đó chưa có ai “lên mạng” trao đổi thông tin và ý kiến như bây giờ. Ba mươi năm trước, bạo lực và dối trá đang có năng suất cao nhất trong chế độ cộng sản. Người dân không biết tin tức, và họ sợ cường quyền. Khi đó, trông từ bên ngoài Liên Xô vẫn là “tổ quốc vững chãi của khối vô sản” như ông Lê Duẩn hay ca tụng. Nga vẫn đang bành trướng, mang quân sang “giải phóng” Afghanistan. Cộng sản đã đặt đầu cầu ở Angola, ở Nicaragua. Ai cũng nghĩ Ðế quốc Ðỏ sẽ tồn tại hàng thế kỷ nữa.
Ðến nay thì khác hẳn. Guồng máy bạo lực và dối trá tan rã từ bên trong. Từ năm 1985 đến nay, trên thế giới chỉ còn Bắc Hàn và Cuba là vẫn trung thành theo đuổi chủ nghĩa Stalin. Nước Tầu và nước ta, tuy bên ngoài vẫn đeo nhãn hiệu, bao bì với tên Cộng Sản nhưng bên trong thực chất đã trở thành những chế độ tư bản quả đầu thời hoang dã, bọn nắm quyền bóc lột người bị trị.
Nhưng điều thay đổi lớn nhất trong xã hội ta, so với lúc anh Trương Văn Sương bị bắt năm 1981, là bây giờ người dân Việt không còn sợ sệt nữa. Ðiều này chắc chắn anh Sương phải biết trước khi ra khỏi tù; vì những người bạn tù chính trị của anh chính là những người đã chữa lành bệnh sợ!
Chế độ công an vẫn bao trùm trên nước Việt Nam, nhưng người dân không còn khúm núm trước cường quyền như những năm xưa nữa. Hàng đoàn dân từ Lục tỉnh, từ Hải Phòng, từ Ðồng Nai, đã nhiều lần kéo nhau về Sài Gòn, đi ra tận Hà Nội, đến thẳng trụ sở trung ương đảng Cộng Sản, đòi phải bồi thường đất đai bị trưng thu. Dân Thanh Hóa, dân Thái Bình nổi giận đã biểu tình đốt xe công an, bắt giam các quan chức nhà nuớc. Ngay Chủ Nhật vừa qua hàng vạn người ở Bắc Giang đã biểu tình, ném đá đánh lại công an.
Bước đầu tiên để lật độ chế độ độc tài là phải chấm dứt căn bệnh sợ, bước đó đã vượt qua. Nhưng muốn tiến tới một phong trào lớn đủ sức mạnh đẩy cho cỗ xe độc tài sụp đổ thì cần phải có rất nhiều người, ở rất nhiều nơi, chia sẻ với nhau những khát vọng chung, diễn tả qua những quyền lợi cụ thể, thông báo cho nhau các tin tức, để tới lúc họ cùng đứng dậy đòi các quyền lợi của người dân. Ðiều này chỉ xẩy ra nếu mọi người có thể thông tin, giải thích, thuyết phục, liên lạc và cam kết với nhau. So với lúc anh Trương Văn Sương chưa vào tù, thì bây giờ chính là thời cơ để tiến tới sử dụng những phương tiện thông tin liên lạc tân tiến.
Mặc dù các cơ quan báo chí vẫn bị chính quyền kiềm thúc, đe dọa, và bịt miệng, nhưng mạng lưới điện toán đã thành hình và truyền tin nhanh chóng. Như trong vụ đồng bào ở Bắc Giang biểu tình vừa qua, chưa đầy 24 giờ sau, người Việt ở khắp nước và ở hải ngoại đã được đọc những tin tức chi tiết, thấy cả các hình ảnh cuộc biểu tình trên.
Việc cần thiết bây giờ là phải giải thích cho đồng bào hiểu rằng vụ công an đánh chết người ở Bắc Giang không phải là một biến cố lẻ tẻ có tính chất địa phương, mà là một hành động tiêu biểu của cả một chế độ tàn bạo. Phải giải thích để người dân Việt thấy có quyền, có bổn phận và có khả năng đứng lên đòi phải chấm dứt tình trạng đó.
Trong mươi năm qua, dân Việt Nam đã biết đủ tin tức hơn, và dân Việt Nam không còn sợ hãi nữa. Nhưng nhìn vào hành vi của các cán bộ cộng sản thì thấy họ vẫn quen nếp cũ, không thay đổi. Hình như một đám người cầm quyền trong tay vẫn tự bưng tai, bịt mắt, vì vậy càng ngày họ càng hung bạo và trâng tráo hơn.
Công an vẫn tàn nhẫn như thế từ lâu rồi; nhưng bây giờ thì cảnh tàn bạo đó liên tiếp xẩy ra, hiện rõ, vì hai nguyên nhân. Thứ nhất, nhiều người dân bây giờ dám đứng ra tố cáo tội ác của các quan chức hơn trước, bị lãnh đòn thù cũng không sợ. Thứ nhì, các phương tiện thông tin mới giúp mọi người chia sẻ tin tức nhanh chóng cho nên cùng tỉnh thức một lúc, dám đứng lên tố giác cảnh bạo tàn. Dân Bắc Giang vì quá uất ức nên phải xuống đường, khi một thanh niên bị công an đánh chết. Ðánh chết một thanh niên 21 tuổi, lứa tuổi đang bước vào đời, chỉ người đó vi phạm luật giao thông! Trên thế giới có xứ nào như vậy hay không? Trước đây đã có cả làng đi biểu tình vì công an đánh vào đầu một tài xế, khi anh ta chậm trễ không ngừng xe ngay khi “quan” ra lệnh. Người dân đã lên tiếng: Cái đầu người ta không phải là chỗ để các anh muốn đánh bậy lên lúc nào cũng được! Bây giờ ở Bắc Giang, người dân lại lên tiếng: Mạng sống của con người, thân xác của con người, không phải công an muốn làm gì cũng được!
Tại sao công an lại khinh thường nhân phẩm, khinh thường mạng sống của dân như vậy? Họ chỉ là hình ảnh tiêu biểu cho cả chế độ.
Chính vì khinh thường dân chúng, coi rẻ dư luận, cho nên bọn quan chức từ trên xuống dưới coi tiền công quỹ như tiền nhà mình, thò tay vào lấy đem tiêu lúc nào, tiêu phí cách nào cũng được. Nhóm lãnh tụ Ðảng tự coi họ như những kẻ đã “trúng thầu” lãnh tất cả các công tác xây dựng kinh tế Việt Nam . Ðất đai, rừng, biển, mỏ dầu khí, mọi tài nguyên đều là của chung, nhưng nay Ðảng độc quyền phân phối, sử dụng. Tiền vay của các nhà tư bản bỏ vốn hay các quốc gia cho vay trực tiếp cho họ cơ hội rút ruột. Những món tiền đầu tư là của công, nhưng các quan chức coi đó là món lời chung do việc “Ðảng lãnh đạo,” tha hồ chia chác với nhau. Họ coi hành động rút ruột, chấm mút đó là quyền tự nhiên của giai cấp lãnh đạo từ trên xuống dưới. Cho nên mới có những cán bộ đánh bạc thua hàng triệu đô la, có anh nhận hoa hồng hàng triệu đô la tiền mặt của nhà thầu Nhật Bản. Họ ăn tiền, tiêu tiền một cách trâng tráo như thế, vì họ coi khinh dư luận, vì họ coi cả nước Việt Nam là tài sản riêng của họ. Một công ty Vinashin sử dụng công quỹ làm vốn, đi vay bốn tỷ đô la sắp vỡ nợ, không trả được thì Ðảng điều tra trước. Khi Ðảng cho phép, thì mới đưa sang cho cảnh sát điều tra coi ai có lỗi. Hành động ngang ngược đó bắt nguồn từ thái độ khinh thường dân, coi tiền công quỹ là tiền cho đảng toàn quyền sử dụng, không phải tiền của dân chúng.
Thái độ khinh thường dân đến độ trâng tráo đã biểu lộ một cách nhơ nhuốc qua đám quan chức dâm ô tại tỉnh Hà Giang. Chưa bao giờ ở nước Việt Nam lại có một nhóm quan chức cầm đầu một tỉnh sử dụng một hiệu trưởng đóng vai ma cô, dụ dỗ, ép buộc các nữ sinh phải phục vụ tình dục cho họ! Tất cả đám quan viên đó chia hưởng trò nhơ bẩn với nhau, hoặc im lặng đồng lõa với nhau dù ngứa mắt, kéo dài suốt bao nhiêu năm, trong một chế độ mà nhất cử nhất động không lọt khỏi mắt công an! Thái độ hưởng thụ trâng tráo, không liêm sỉ, không e dè, của những viên quan chức tỉnh Hà Giang là hình ảnh tiêu biểu cho thái độ coi rẻ dân, khinh thường dư luận, của cả đảng Cộng Sản. Phải đợi tới khi một nữ sinh đưa các hình ảnh lên mạng Internet thì đảng mới can thiệp để tránh tiếng!
Một nữ sinh dùng máy điện thoại di động chụp hình đã giúp cho cả nước biết rõ hơn các hành vi thô bỉ của đám cán bộ cao cấp đầu tỉnh này. Chính một phương tiện truyền thông tân tiến đã là đầu mối gây ra sự vỡ lở của cả guồng máy khai thác nữ sinh Hà Giang của các quan chức cộng sản. Và sẽ là đầu mối đưa tới sự sụp đổ của chế độ cộng sản trong tương lai. Chế độ cộng sản đã sập ở Nga, ở Ðông Âu vì chính các đảng viên cộng sản cũng chán ngán, không muốn tham dự vào guồng máy đàn áp và gian dối nữa. Tháng Bẩy năm 1980, Công Ðoàn Ðoàn Kết ở cơ xưởng Gdansk, Ba Lan, đình công, rồi khắp nước Ba Lan đình công. Trong những tháng cuối năm đó, một phần ba đảng viên Ðảng Ðoàn Kết Công Nhân (tức đảng Cộng Sản) rút ra khỏi đảng. Một phần ba khác tham dự vào các hoạt động của Công Ðoàn Ðoàn Kết. Chín năm sau, chế độ cộng sản ở Ba Lan chấm dứt.
Có hai hiện tượng mà anh Trương Văn Sương chứng kiến khi ra khỏi nhà tù. Một là: Người dân không còn sợ nữa. Hai là: Các phương tiện thông tin mới sẽ phơi bày mọi điều dối trá, mọi cảnh bạo tàn, dân Việt ngày càng biết nhiều tin tức, nhiều ý kiến hơn. Anh Sương phải tin tưởng, là với những phương pháp đấu tranh bất bạo động, thế nào rồi nước Việt Nam cũng sẽ chuyển mình. Cuộc chuyển mình sẽ diễn ra từ từ, khi mỗi ngày lại có một nhóm người dân can đảm đứng lên đòi nhân phẩm và quyền lợi của họ phải được tôn trọng. Trước cảnh đó, người tù Trương Văn Sương dũng cảm, bất khuất suốt 33 năm, có thể khẳng định rằng: “Bây giờ là lúc phải hướng về việc xây dựng tương lai.” Tương lai, chắc chắn là một nước Việt Nam sẽ sống trong tự do dân chủ. Khi niềm tin đó tự trong lòng đã thật sự mãnh liệt, thật vững chắc, thì chúng ta có thể thản nhiên nói rằng hãy bỏ qua quá khứ, hướng tới tương lai, như anh Trương Văn Sương khuyến cáo.
Tuesday, July 27, 2010
Ngô Nhân Dụng
Gần đây cựu Trung Úy Trương Văn Sương được ra khỏi tù đưa về nhà. Trả lời một phóng viên Người Việt phỏng vấn, anh nói: “Tôi vẫn muốn dân tộc Việt Nam bây giờ nên hướng về tương lai. Nên đối xử với nhau trong tinh thần nhân đạo. Hãy để quá khứ về quá khứ.” Thái độ thản nhiên bình tĩnh của anh có thể làm nhiều người ngạc nhiên.
Sau 1975, Trương Văn Sương đã bị cộng sản tù đầy 6 năm. Năm 1981 anh vượt biên rồi lập tức tham gia phong trào tranh đấu với các anh Trần Văn Bá, Lê Quốc Túy, Hồ Thái Bạch, tổ chức của họ bí mật mang vũ khí về nước, tính khởi nghĩa lật đổ chính quyền cộng sản. Bị bắt và bị kết án chung thân, anh Sương lúc nào cũng giữ vững tinh thần bất khuất. Nay anh nói hãy quên đi quá khứ để hướng về tương lai, hãy đối xử với nhau trong tình nhân đạo. Anh Sương đã thay đổi ra sao?
Những lời anh nói không có nghĩa là việc chấm dứt guồng máy độc tài cộng sản không còn cần thiết nữa; như trước đây hơn 30 năm anh đã đấu tranh cho mục đích đó. Ðọc những lời trong bản “tự khai” (mà anh đã viết đi viết lại nhiều lần, không bao giờ thay đổi), chúng ta hiểu rõ ý anh. Trước mặt các cán bộ cộng sản, lúc nào anh cũng khẳng định điều anh vẫn tin tưởng và muốn nhắn nhủ họ: Chủ nghĩa cộng sản sai lầm, chế độ của họ làm hại dân tộc, cần phải chấm dứt.
Dù đã bị cô lập nhiều năm, nhưng ngay khi ở trong tù anh Sương đã biết nhiều tin tức nhờ có dịp tiếp xúc với những tù nhân mới bị bắt vào trại, trong đó có những người tù chính trị như Nguyễn Khắc Toàn. Những lời Trương Văn Sương mới nói cho thấy một cách nhìn mới và một thái độ mới trong cuộc tranh đấu. Người Việt Nam vẫn phải đứng lên giành lấy các quyền tự do dân chủ; nhưng cuộc đấu tranh đã bước sang một giai đoạn mới, với các phương pháp mới.
Trước khi ra khỏi cửa nhà giam anh Trương Văn Sương hẳn biết rằng thế giới bên ngoài đã thay đổi, và mặc dù chế độ độc tài vẫn còn đó nhưng cả đất nước ta, đồng nào ta đang thay đổi rất nhanh. Với thời cơ mới, phương tiện mới, những người tranh đấu phải quên quá khứ và hướng về tương lai.
Khi anh Sương bị bắt lần thứ hai, loài người chưa sử dụng Internet khắp nơi như bây giờ. Ở Việt Nam lúc đó chưa có ai “lên mạng” trao đổi thông tin và ý kiến như bây giờ. Ba mươi năm trước, bạo lực và dối trá đang có năng suất cao nhất trong chế độ cộng sản. Người dân không biết tin tức, và họ sợ cường quyền. Khi đó, trông từ bên ngoài Liên Xô vẫn là “tổ quốc vững chãi của khối vô sản” như ông Lê Duẩn hay ca tụng. Nga vẫn đang bành trướng, mang quân sang “giải phóng” Afghanistan. Cộng sản đã đặt đầu cầu ở Angola, ở Nicaragua. Ai cũng nghĩ Ðế quốc Ðỏ sẽ tồn tại hàng thế kỷ nữa.
Ðến nay thì khác hẳn. Guồng máy bạo lực và dối trá tan rã từ bên trong. Từ năm 1985 đến nay, trên thế giới chỉ còn Bắc Hàn và Cuba là vẫn trung thành theo đuổi chủ nghĩa Stalin. Nước Tầu và nước ta, tuy bên ngoài vẫn đeo nhãn hiệu, bao bì với tên Cộng Sản nhưng bên trong thực chất đã trở thành những chế độ tư bản quả đầu thời hoang dã, bọn nắm quyền bóc lột người bị trị.
Nhưng điều thay đổi lớn nhất trong xã hội ta, so với lúc anh Trương Văn Sương bị bắt năm 1981, là bây giờ người dân Việt không còn sợ sệt nữa. Ðiều này chắc chắn anh Sương phải biết trước khi ra khỏi tù; vì những người bạn tù chính trị của anh chính là những người đã chữa lành bệnh sợ!
Chế độ công an vẫn bao trùm trên nước Việt Nam, nhưng người dân không còn khúm núm trước cường quyền như những năm xưa nữa. Hàng đoàn dân từ Lục tỉnh, từ Hải Phòng, từ Ðồng Nai, đã nhiều lần kéo nhau về Sài Gòn, đi ra tận Hà Nội, đến thẳng trụ sở trung ương đảng Cộng Sản, đòi phải bồi thường đất đai bị trưng thu. Dân Thanh Hóa, dân Thái Bình nổi giận đã biểu tình đốt xe công an, bắt giam các quan chức nhà nuớc. Ngay Chủ Nhật vừa qua hàng vạn người ở Bắc Giang đã biểu tình, ném đá đánh lại công an.
Bước đầu tiên để lật độ chế độ độc tài là phải chấm dứt căn bệnh sợ, bước đó đã vượt qua. Nhưng muốn tiến tới một phong trào lớn đủ sức mạnh đẩy cho cỗ xe độc tài sụp đổ thì cần phải có rất nhiều người, ở rất nhiều nơi, chia sẻ với nhau những khát vọng chung, diễn tả qua những quyền lợi cụ thể, thông báo cho nhau các tin tức, để tới lúc họ cùng đứng dậy đòi các quyền lợi của người dân. Ðiều này chỉ xẩy ra nếu mọi người có thể thông tin, giải thích, thuyết phục, liên lạc và cam kết với nhau. So với lúc anh Trương Văn Sương chưa vào tù, thì bây giờ chính là thời cơ để tiến tới sử dụng những phương tiện thông tin liên lạc tân tiến.
Mặc dù các cơ quan báo chí vẫn bị chính quyền kiềm thúc, đe dọa, và bịt miệng, nhưng mạng lưới điện toán đã thành hình và truyền tin nhanh chóng. Như trong vụ đồng bào ở Bắc Giang biểu tình vừa qua, chưa đầy 24 giờ sau, người Việt ở khắp nước và ở hải ngoại đã được đọc những tin tức chi tiết, thấy cả các hình ảnh cuộc biểu tình trên.
Việc cần thiết bây giờ là phải giải thích cho đồng bào hiểu rằng vụ công an đánh chết người ở Bắc Giang không phải là một biến cố lẻ tẻ có tính chất địa phương, mà là một hành động tiêu biểu của cả một chế độ tàn bạo. Phải giải thích để người dân Việt thấy có quyền, có bổn phận và có khả năng đứng lên đòi phải chấm dứt tình trạng đó.
Trong mươi năm qua, dân Việt Nam đã biết đủ tin tức hơn, và dân Việt Nam không còn sợ hãi nữa. Nhưng nhìn vào hành vi của các cán bộ cộng sản thì thấy họ vẫn quen nếp cũ, không thay đổi. Hình như một đám người cầm quyền trong tay vẫn tự bưng tai, bịt mắt, vì vậy càng ngày họ càng hung bạo và trâng tráo hơn.
Công an vẫn tàn nhẫn như thế từ lâu rồi; nhưng bây giờ thì cảnh tàn bạo đó liên tiếp xẩy ra, hiện rõ, vì hai nguyên nhân. Thứ nhất, nhiều người dân bây giờ dám đứng ra tố cáo tội ác của các quan chức hơn trước, bị lãnh đòn thù cũng không sợ. Thứ nhì, các phương tiện thông tin mới giúp mọi người chia sẻ tin tức nhanh chóng cho nên cùng tỉnh thức một lúc, dám đứng lên tố giác cảnh bạo tàn. Dân Bắc Giang vì quá uất ức nên phải xuống đường, khi một thanh niên bị công an đánh chết. Ðánh chết một thanh niên 21 tuổi, lứa tuổi đang bước vào đời, chỉ người đó vi phạm luật giao thông! Trên thế giới có xứ nào như vậy hay không? Trước đây đã có cả làng đi biểu tình vì công an đánh vào đầu một tài xế, khi anh ta chậm trễ không ngừng xe ngay khi “quan” ra lệnh. Người dân đã lên tiếng: Cái đầu người ta không phải là chỗ để các anh muốn đánh bậy lên lúc nào cũng được! Bây giờ ở Bắc Giang, người dân lại lên tiếng: Mạng sống của con người, thân xác của con người, không phải công an muốn làm gì cũng được!
Tại sao công an lại khinh thường nhân phẩm, khinh thường mạng sống của dân như vậy? Họ chỉ là hình ảnh tiêu biểu cho cả chế độ.
Chính vì khinh thường dân chúng, coi rẻ dư luận, cho nên bọn quan chức từ trên xuống dưới coi tiền công quỹ như tiền nhà mình, thò tay vào lấy đem tiêu lúc nào, tiêu phí cách nào cũng được. Nhóm lãnh tụ Ðảng tự coi họ như những kẻ đã “trúng thầu” lãnh tất cả các công tác xây dựng kinh tế Việt Nam . Ðất đai, rừng, biển, mỏ dầu khí, mọi tài nguyên đều là của chung, nhưng nay Ðảng độc quyền phân phối, sử dụng. Tiền vay của các nhà tư bản bỏ vốn hay các quốc gia cho vay trực tiếp cho họ cơ hội rút ruột. Những món tiền đầu tư là của công, nhưng các quan chức coi đó là món lời chung do việc “Ðảng lãnh đạo,” tha hồ chia chác với nhau. Họ coi hành động rút ruột, chấm mút đó là quyền tự nhiên của giai cấp lãnh đạo từ trên xuống dưới. Cho nên mới có những cán bộ đánh bạc thua hàng triệu đô la, có anh nhận hoa hồng hàng triệu đô la tiền mặt của nhà thầu Nhật Bản. Họ ăn tiền, tiêu tiền một cách trâng tráo như thế, vì họ coi khinh dư luận, vì họ coi cả nước Việt Nam là tài sản riêng của họ. Một công ty Vinashin sử dụng công quỹ làm vốn, đi vay bốn tỷ đô la sắp vỡ nợ, không trả được thì Ðảng điều tra trước. Khi Ðảng cho phép, thì mới đưa sang cho cảnh sát điều tra coi ai có lỗi. Hành động ngang ngược đó bắt nguồn từ thái độ khinh thường dân, coi tiền công quỹ là tiền cho đảng toàn quyền sử dụng, không phải tiền của dân chúng.
Thái độ khinh thường dân đến độ trâng tráo đã biểu lộ một cách nhơ nhuốc qua đám quan chức dâm ô tại tỉnh Hà Giang. Chưa bao giờ ở nước Việt Nam lại có một nhóm quan chức cầm đầu một tỉnh sử dụng một hiệu trưởng đóng vai ma cô, dụ dỗ, ép buộc các nữ sinh phải phục vụ tình dục cho họ! Tất cả đám quan viên đó chia hưởng trò nhơ bẩn với nhau, hoặc im lặng đồng lõa với nhau dù ngứa mắt, kéo dài suốt bao nhiêu năm, trong một chế độ mà nhất cử nhất động không lọt khỏi mắt công an! Thái độ hưởng thụ trâng tráo, không liêm sỉ, không e dè, của những viên quan chức tỉnh Hà Giang là hình ảnh tiêu biểu cho thái độ coi rẻ dân, khinh thường dư luận, của cả đảng Cộng Sản. Phải đợi tới khi một nữ sinh đưa các hình ảnh lên mạng Internet thì đảng mới can thiệp để tránh tiếng!
Một nữ sinh dùng máy điện thoại di động chụp hình đã giúp cho cả nước biết rõ hơn các hành vi thô bỉ của đám cán bộ cao cấp đầu tỉnh này. Chính một phương tiện truyền thông tân tiến đã là đầu mối gây ra sự vỡ lở của cả guồng máy khai thác nữ sinh Hà Giang của các quan chức cộng sản. Và sẽ là đầu mối đưa tới sự sụp đổ của chế độ cộng sản trong tương lai. Chế độ cộng sản đã sập ở Nga, ở Ðông Âu vì chính các đảng viên cộng sản cũng chán ngán, không muốn tham dự vào guồng máy đàn áp và gian dối nữa. Tháng Bẩy năm 1980, Công Ðoàn Ðoàn Kết ở cơ xưởng Gdansk, Ba Lan, đình công, rồi khắp nước Ba Lan đình công. Trong những tháng cuối năm đó, một phần ba đảng viên Ðảng Ðoàn Kết Công Nhân (tức đảng Cộng Sản) rút ra khỏi đảng. Một phần ba khác tham dự vào các hoạt động của Công Ðoàn Ðoàn Kết. Chín năm sau, chế độ cộng sản ở Ba Lan chấm dứt.
Có hai hiện tượng mà anh Trương Văn Sương chứng kiến khi ra khỏi nhà tù. Một là: Người dân không còn sợ nữa. Hai là: Các phương tiện thông tin mới sẽ phơi bày mọi điều dối trá, mọi cảnh bạo tàn, dân Việt ngày càng biết nhiều tin tức, nhiều ý kiến hơn. Anh Sương phải tin tưởng, là với những phương pháp đấu tranh bất bạo động, thế nào rồi nước Việt Nam cũng sẽ chuyển mình. Cuộc chuyển mình sẽ diễn ra từ từ, khi mỗi ngày lại có một nhóm người dân can đảm đứng lên đòi nhân phẩm và quyền lợi của họ phải được tôn trọng. Trước cảnh đó, người tù Trương Văn Sương dũng cảm, bất khuất suốt 33 năm, có thể khẳng định rằng: “Bây giờ là lúc phải hướng về việc xây dựng tương lai.” Tương lai, chắc chắn là một nước Việt Nam sẽ sống trong tự do dân chủ. Khi niềm tin đó tự trong lòng đã thật sự mãnh liệt, thật vững chắc, thì chúng ta có thể thản nhiên nói rằng hãy bỏ qua quá khứ, hướng tới tương lai, như anh Trương Văn Sương khuyến cáo.
Làn sóng Dân Chủ
Ngô Nhân Dụng
Số quốc gia mà người dân được tự do bầu cử đã tăng lên thành 122 nước, so với năm 2004 chỉ có 119 nước hồi 5 năm trước đây. Ba nước mới được lên bảng vàng đều ở Phi Châu, là Burundi, Liberia và Cộng Hòa Trung Phi. Nước sau cùng này thì nhiều người Việt mình đã biết, đó là quê hương của ông Bokassa, một cựu trung sĩ trong quân đội thuộc địa Pháp. Ông đã có một bà vợ Việt Nam, đã đảo chính, lên làm tổng thống năm 1965 rồi sau đó tự xưng là hoàng đế! Tuy Cộng Hòa Trung Phi đã trở lại với một hiến pháp dân chủ từ năm 1979, nhưng đến năm nay mới được vô bảng vàng, vì nước họ chứng tỏ đã có bầu cử tự do thật, chính quyền chấp nhận các hoạt động chính trị đối lập.
Bảng danh sách của Freedom House phân biệt ba loại chế độ: Tự do, Hơi Tự do, và Không Tự do. Có 89 quốc gia được coi là tự do thật, người dân trong các nước đó có đủ các quyền tự do dân sự, chính trị. Có 58 nước được xếp hạng hơi tự do. Việt Nam và Trung Quốc đều thuộc loại thứ ba, thiếu tự do, nhưng không đến nỗi đứng cuối sổ như Cuba, Bắc Hàn, Miến Ðiện.
Freedom House nâng điểm hai nước, Indonesia và Ukraina, từ “hơi tự do” lên “tự do” nhờ các cuộc bầu cử tự do và hoạt động của báo chí, đảng đối lập mạnh hơn trước.
Tổ chức Freedom House cũng khắt khe bầy tỏ sự quan ngại đối với các chế độ dân chủ ở Mỹ và Pháp. Nhược điểm được nêu lên ở Mỹ là chính sách cho phép các Quốc Hội tiểu bang chia khu vực, địa giới đơn vị bầu cử. Các đại biểu đã lợi dụng chính sách này mà cắt xén, xoay sở, bóp méo ranh giới, bảo vệ đủ số cử tri ủng hộ cho họ hoặc đảng của họ. Vì thế phần lớn các đại biểu Quốc Hội Mỹ tái tranh cử đều thắng. Freedom House phê bình là chính sách này, gọi là gerrymandering, làm giảm tính cách đại diện của người dân trong Quốc Hội, nhận xét đó rất đúng. Nước Pháp cũng bị phê bình là không hội nhập được những công dân gốc ngoại quốc, nhất từ là Phi Châu.
Nói chung, mỗi năm thế giới vẫn tiến thêm trên con đường dân chủ hóa. Từ những năm cuối thế kỷ 20 đến nay, có rất nhiều quốc gia đã chuyển từ chế độ độc tài sang lối sống dân chủ, giống như một cơn sóng tự do lan tràn trên mặt trái đất.
Có thể coi như phong trào này bắt đầu từ bán đảo Iberia, Âu Châu, từ 30 năm trước đây. Nước Bồ Ðào Nha, sau nhiều năm sống dưới chế độ độc tài của Antonio Salazar (1932-1968) và các tướng lãnh, đã thiết lập một bản hiến pháp mới theo chế độ dân chủ đại nghị vào năm 1976, và hai năm sau Tây Ban Nha cũng theo gót, nhờ nhà độc tài Franco đã chết từ năm 1975. Từ khi dân chủ hóa, đời sống kinh tế hai quốc gia này đã tiến triển để theo kịp các nước khác ở Tây Âu. Những năm sau đó, loài người đã chứng kiến luồng sóng dân chủ tự do tràn qua các nước Cộng Sản Ðông Âu, Châu Mỹ La tinh, và cơn sóng càng lên mạnh hơn trong số các nước phía Ðông Châu Á, nơi người dân đấu tranh cho dân chủ liên tục từ thập niên 1960. Trong ba chục năm qua, làn sóng dân chủ tự do đã lên, hiện nay 43% nhân loại đang được sống trong tự do dân chủ đầy đủ, và 30% hơi tự do dân chủ.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, trong lịch sử thế giới có nhiều cơn sóng dân chủ tự do nổi lên rồi bị đẩy lùi, lần này là lần thứ ba đang lên và hy vọng sẽ không lùi nữa. Cơn sóng dân chủ đầu tiên diễn ra vào cuối thế kỷ 18 sang thế kỷ 19 ở Âu Châu và Mỹ Châu. Ðợt sóng này lan ra rất chậm, bắt đầu từ những cuộc cách mạng ở Hoa Kỳ, ở Pháp, dần dần tới những nước Âu Châu khác. Cơn sóng dân chủ đó đã gặp phải nhiều tảng đá ngầm cản trở, đôi lúc phải dội lại và thoái trào. Có những quốc gia trở thành dân chủ rồi lại thụt lùi trở lại chế độ quân chủ hoặc đế quốc, như ở Pháp, Ý, Ðức, vân vân. Ðiều này chứng tỏ việc thiết lập thể chế dân chủ hình thức, bằng cách thông qua một bản hiến pháp dân chủ, không đủ bảo đảm cho người dân được sống tự do thật sự và lâu bền. Trong một bài khác chúng ta sẽ coi những điều kiện nào cần thiết để chế độ dân chủ có thể bền vững.
Ðợt sóng dân chủ tự do thứ nhì lan ra trên thế giới sau cuộc đại chiến thứ nhất vào đầu thế kỷ trước, kéo dài cho tới một phần ba thế kỷ. Một khẩu hiệu đầu tiên được nêu lên là đòi hỏi quyền tự quyết dân tộc. Những nước mới giành được độc lập sau các cuộc đại chiến đã quyết định thiết lập thể chế dân chủ, tự do. Ðợt sóng dân chủ tự do thứ nhì cũng gặp những chướng ngại và thoái trào. Chúng ta đã thấy những quốc gia như Ðức, Ý, có lúc đã quay trở lại chế độ độc tài đảng trị, và ở Nga thì cuộc cách mạng dân chủ chưa được một năm đã rơi vào nội chiến để tiến tới một thể chế độc tài kéo dài hơn 70 năm, với một đảng duy nhất cai trị, trong thực tế là chỉ có một nhóm hay một người thao túng. Sau Thế Chiến Thứ Hai, nhiều nước cựu thuộc địa đã giành được cũng thiết lập các chế độ dân chủ. Tuy nhiên, sau đó thế giới bước ngay vào thời kỳ chiến tranh lạnh khiến cho trong cả hai khối tư bản và Cộng Sản người ta có khuynh hướng duy trì các chế độ độc tài để dễ đối phó với khối bên kia. Những nước đứng giáp đường giới tuyến của hai khối càng khó thay đổi vì bị gây nội chiến hoặc chia rẽ. Bên khối tư bản, các nước như Hàn Quốc, Ðài Loan, Singapore, Thái Lan, Phi Luật Tân, Indonesia vân vân, khó tiến nhanh trên đường dân chủ hóa vì họ bị họ đe dọa trực tiếp với những phong trào nổi dậy ngay ở trong nước họ. Các chính quyền độc đoán viện lý do an ninh mà kìm hãm sự phát triển của các quyền tự do chính trị và tự do dân sự. Các nước bên giới Cộng Sản thì không để cho các quyền tự do phát triển vì các đảng Cộng Sản chủ trương chuyên chính vô sản.
Cơn sóng dân chủ tự do thứ ba trong lịch sử chỉ khởi sự trào lên khi Chiến Tranh Lạnh bắt đầu bớt căng thẳng. Lúc đầu là Liên Xô và Mỹ thương thuyết chính sách hòa dịu, giảm bớt vũ khí hạt nhân. Rồi Mỹ với Trung Quốc gặp gỡ bắt tay nhau. Thế giới chung quanh dần dần cảm thấy bớt bị đe dọa nên nhu cầu thay đổi chính trị dâng lên trong hàng chục năm. Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha có thể xóa bỏ chế độ độc tài vì cả hai nước nằm trong khối tư bản nhưng không bị đe dọa bởi những phong trào nổi dậy theo chủ nghĩa Cộng Sản. Dân chúng ở những nước Ðài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Phi Luật Tân, nhất là giới sinh viên, thanh niên đã từng đấu tranh quyết liệt đòi dân chủ từ thập niên 1970, nhưng họ cũng chỉ bắt đầu được hưởng tự do từ giữa thập niên 70, sau khi tình hình thế giới biến chuyển hòa dịu hơn và mối đe dọa của khối Cộng Sản giảm bớt. Nhiều quốc gia khác phải đợi cho tới khi gặp khủng hoảng kinh tế mới thật sự bước vào quá trình dân chủ hóa. Ở Trung Âu và Ðông Âu trong những năm 1980, đó là tình hình kinh tế trì trệ trong khối Xô Viết vì quản lý không hiệu quả. Phong trào Công Ðoàn Ðoàn Kết ở Ba Lan, các nhà trí thức đòi phát triển xã hội công dân ở Tiệp Khắc, người dân Ðông Ðức và Hungary cũng đứng dậy, đưa tới sự sụp đổ của bức tường Berlin. Ở Á Ðông, những cải thiện chính trị đã bắt đầu và cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 thúc đẩy thêm cho tiến trình dân chủ hóa những bước nhanh chóng và vững vàng. Sau năm 1997, các chế độ còn vết tích độc đoán ở Hàn Quốc, Ðài Loan, Indonesia bị lật đổ bằng lá phiếu. Các biến cố đó xẩy ra được cũng là nhờ lúc đó Chiến Tranh Lạnh giữa hai khối tư bản và Cộng Sản đã chấm dứt.
Làn sóng dân chủ hóa thứ ba này đi đôi với hiện tượng kinh tế toàn cầu hội nhập với nhau chặt chẽ hơn, đưa tới việc cải thiện mức sống và giảm bớt nạn nghèo đói trên thế giới. Một thước đo của sự cải thiện này là tỷ lệ những người còn sống với lợi tức dưới 2 đô la Mỹ một ngày, khoảng 30 ngàn đồng Việt Nam cho mỗi người, theo giá tiền năm 2005. Vào năm 1980 trên thế giới có 56% nhân loại còn sống trong cảnh nghèo như vậy, đến năm 2000 tỷ số đó chỉ còn 23%. Nếu nhớ rằng dân số trên trái đất luôn luôn gia tăng chúng ta càng thấy sự cải thiện trên là rất đáng kể. Vào năm 1980 thế giới có 1.9 tỷ người sống trong cảnh nghèo, năm 1990 chỉ còn 1 tỷ 7, đến năm 2000 chỉ còn một tỷ mốt. Một điều đáng chú ý nữa là trước năm 1980, trước khi làn sóng dân chủ lan tràn, số người sống trong cảnh nghèo theo định nghĩa trên chỉ tăng thêm chứ không giảm. Sự cải thiện trong đời sống kinh tế đi đôi với phong trào dân chủ hóa cho thấy khi người dân được tự do hơn, trong đó được hưởng những quyền tự do kinh tế, thì loài người cũng được no ấm nhiều hơn. Từ năm 1980, theo báo cáo của Ủy Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, có 81 quốc gia đã tiến bước trên đường dân chủ hóa đáng kể, trong đó có 33 nước đổi từ chế độ quân phiệt sang chế độ dân chủ. Theo Liên Hiệp Quốc, có 140 quốc gia trong số khoảng 200 nước trong thế giới hiện đã có bầu cử tương đối tự do, và 81 quốc gia trong số đó thực sự có tự do, tức là khoảng 60% nhân loại. Bản xếp loại này lạc quan, rộng rãi hơn Freedom House, cũng dễ hiểu vì các quốc gia trên đều nằm trong tổ chức Liên Hiệp Quốc.
Cơn sóng dân chủ hóa thứ ba cũng gặp những trở ngại, có lúc quay ngược chiều và không lan rộng đồng đều. Có những quốc gia đã thiết lập thể chế dân chủ sau đó lại rơi xuống, trở về sống dưới một chính quyền độc tài, như ở Peru, Pakistan. Ðiều này cho thấy những điều kiện thúc đẩy một quốc gia tiến tới chế độ dân chủ khác với những điều kiện để nôi dưỡng cho chế độ dân chủ được vững bền. Làn sống dân chủ cũng bị ngăn lại ở nhiều nơi không vào được. Trong số những nước thuộc Liên Bang Xô Viết cũ, nhiều nước vẫn còn giữ chế độ độc tài, như Ukraina và Georgia đến năm ngoái mới tự giải thoát; nhưng Kyrgyzstan vẫn là một nước độc tài hủ lậu hạng nhất. Ở Á Ðông thì Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Miến Ðiện vẫn chưa có tự do tuyển cử. Lại có những quốc gia thiết lập một chế độ dân chủ hình thức nhưng người dân vẫn chưa được tự do, như ở nhiều nước Trung Á khác. Chúng ta thấy dân chủ hình thức, tức là có hiến pháp, có tuyển cử không nhất thiết đưa tới có dân chủ tự do thật sự nếu người dân chưa được hưởng những quyền tự do chính trị và tự do dân sự. Mà điều người dân cần là được sống tự do, không phải chỉ là được đi bầu hay ứng cử. Chúng ta cần phân biệt tự do và dân chủ, không phải lúc nào cũng đi đôi.
Ngô Nhân Dụng
Số quốc gia mà người dân được tự do bầu cử đã tăng lên thành 122 nước, so với năm 2004 chỉ có 119 nước hồi 5 năm trước đây. Ba nước mới được lên bảng vàng đều ở Phi Châu, là Burundi, Liberia và Cộng Hòa Trung Phi. Nước sau cùng này thì nhiều người Việt mình đã biết, đó là quê hương của ông Bokassa, một cựu trung sĩ trong quân đội thuộc địa Pháp. Ông đã có một bà vợ Việt Nam, đã đảo chính, lên làm tổng thống năm 1965 rồi sau đó tự xưng là hoàng đế! Tuy Cộng Hòa Trung Phi đã trở lại với một hiến pháp dân chủ từ năm 1979, nhưng đến năm nay mới được vô bảng vàng, vì nước họ chứng tỏ đã có bầu cử tự do thật, chính quyền chấp nhận các hoạt động chính trị đối lập.
Bảng danh sách của Freedom House phân biệt ba loại chế độ: Tự do, Hơi Tự do, và Không Tự do. Có 89 quốc gia được coi là tự do thật, người dân trong các nước đó có đủ các quyền tự do dân sự, chính trị. Có 58 nước được xếp hạng hơi tự do. Việt Nam và Trung Quốc đều thuộc loại thứ ba, thiếu tự do, nhưng không đến nỗi đứng cuối sổ như Cuba, Bắc Hàn, Miến Ðiện.
Freedom House nâng điểm hai nước, Indonesia và Ukraina, từ “hơi tự do” lên “tự do” nhờ các cuộc bầu cử tự do và hoạt động của báo chí, đảng đối lập mạnh hơn trước.
Tổ chức Freedom House cũng khắt khe bầy tỏ sự quan ngại đối với các chế độ dân chủ ở Mỹ và Pháp. Nhược điểm được nêu lên ở Mỹ là chính sách cho phép các Quốc Hội tiểu bang chia khu vực, địa giới đơn vị bầu cử. Các đại biểu đã lợi dụng chính sách này mà cắt xén, xoay sở, bóp méo ranh giới, bảo vệ đủ số cử tri ủng hộ cho họ hoặc đảng của họ. Vì thế phần lớn các đại biểu Quốc Hội Mỹ tái tranh cử đều thắng. Freedom House phê bình là chính sách này, gọi là gerrymandering, làm giảm tính cách đại diện của người dân trong Quốc Hội, nhận xét đó rất đúng. Nước Pháp cũng bị phê bình là không hội nhập được những công dân gốc ngoại quốc, nhất từ là Phi Châu.
Nói chung, mỗi năm thế giới vẫn tiến thêm trên con đường dân chủ hóa. Từ những năm cuối thế kỷ 20 đến nay, có rất nhiều quốc gia đã chuyển từ chế độ độc tài sang lối sống dân chủ, giống như một cơn sóng tự do lan tràn trên mặt trái đất.
Có thể coi như phong trào này bắt đầu từ bán đảo Iberia, Âu Châu, từ 30 năm trước đây. Nước Bồ Ðào Nha, sau nhiều năm sống dưới chế độ độc tài của Antonio Salazar (1932-1968) và các tướng lãnh, đã thiết lập một bản hiến pháp mới theo chế độ dân chủ đại nghị vào năm 1976, và hai năm sau Tây Ban Nha cũng theo gót, nhờ nhà độc tài Franco đã chết từ năm 1975. Từ khi dân chủ hóa, đời sống kinh tế hai quốc gia này đã tiến triển để theo kịp các nước khác ở Tây Âu. Những năm sau đó, loài người đã chứng kiến luồng sóng dân chủ tự do tràn qua các nước Cộng Sản Ðông Âu, Châu Mỹ La tinh, và cơn sóng càng lên mạnh hơn trong số các nước phía Ðông Châu Á, nơi người dân đấu tranh cho dân chủ liên tục từ thập niên 1960. Trong ba chục năm qua, làn sóng dân chủ tự do đã lên, hiện nay 43% nhân loại đang được sống trong tự do dân chủ đầy đủ, và 30% hơi tự do dân chủ.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, trong lịch sử thế giới có nhiều cơn sóng dân chủ tự do nổi lên rồi bị đẩy lùi, lần này là lần thứ ba đang lên và hy vọng sẽ không lùi nữa. Cơn sóng dân chủ đầu tiên diễn ra vào cuối thế kỷ 18 sang thế kỷ 19 ở Âu Châu và Mỹ Châu. Ðợt sóng này lan ra rất chậm, bắt đầu từ những cuộc cách mạng ở Hoa Kỳ, ở Pháp, dần dần tới những nước Âu Châu khác. Cơn sóng dân chủ đó đã gặp phải nhiều tảng đá ngầm cản trở, đôi lúc phải dội lại và thoái trào. Có những quốc gia trở thành dân chủ rồi lại thụt lùi trở lại chế độ quân chủ hoặc đế quốc, như ở Pháp, Ý, Ðức, vân vân. Ðiều này chứng tỏ việc thiết lập thể chế dân chủ hình thức, bằng cách thông qua một bản hiến pháp dân chủ, không đủ bảo đảm cho người dân được sống tự do thật sự và lâu bền. Trong một bài khác chúng ta sẽ coi những điều kiện nào cần thiết để chế độ dân chủ có thể bền vững.
Ðợt sóng dân chủ tự do thứ nhì lan ra trên thế giới sau cuộc đại chiến thứ nhất vào đầu thế kỷ trước, kéo dài cho tới một phần ba thế kỷ. Một khẩu hiệu đầu tiên được nêu lên là đòi hỏi quyền tự quyết dân tộc. Những nước mới giành được độc lập sau các cuộc đại chiến đã quyết định thiết lập thể chế dân chủ, tự do. Ðợt sóng dân chủ tự do thứ nhì cũng gặp những chướng ngại và thoái trào. Chúng ta đã thấy những quốc gia như Ðức, Ý, có lúc đã quay trở lại chế độ độc tài đảng trị, và ở Nga thì cuộc cách mạng dân chủ chưa được một năm đã rơi vào nội chiến để tiến tới một thể chế độc tài kéo dài hơn 70 năm, với một đảng duy nhất cai trị, trong thực tế là chỉ có một nhóm hay một người thao túng. Sau Thế Chiến Thứ Hai, nhiều nước cựu thuộc địa đã giành được cũng thiết lập các chế độ dân chủ. Tuy nhiên, sau đó thế giới bước ngay vào thời kỳ chiến tranh lạnh khiến cho trong cả hai khối tư bản và Cộng Sản người ta có khuynh hướng duy trì các chế độ độc tài để dễ đối phó với khối bên kia. Những nước đứng giáp đường giới tuyến của hai khối càng khó thay đổi vì bị gây nội chiến hoặc chia rẽ. Bên khối tư bản, các nước như Hàn Quốc, Ðài Loan, Singapore, Thái Lan, Phi Luật Tân, Indonesia vân vân, khó tiến nhanh trên đường dân chủ hóa vì họ bị họ đe dọa trực tiếp với những phong trào nổi dậy ngay ở trong nước họ. Các chính quyền độc đoán viện lý do an ninh mà kìm hãm sự phát triển của các quyền tự do chính trị và tự do dân sự. Các nước bên giới Cộng Sản thì không để cho các quyền tự do phát triển vì các đảng Cộng Sản chủ trương chuyên chính vô sản.
Cơn sóng dân chủ tự do thứ ba trong lịch sử chỉ khởi sự trào lên khi Chiến Tranh Lạnh bắt đầu bớt căng thẳng. Lúc đầu là Liên Xô và Mỹ thương thuyết chính sách hòa dịu, giảm bớt vũ khí hạt nhân. Rồi Mỹ với Trung Quốc gặp gỡ bắt tay nhau. Thế giới chung quanh dần dần cảm thấy bớt bị đe dọa nên nhu cầu thay đổi chính trị dâng lên trong hàng chục năm. Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha có thể xóa bỏ chế độ độc tài vì cả hai nước nằm trong khối tư bản nhưng không bị đe dọa bởi những phong trào nổi dậy theo chủ nghĩa Cộng Sản. Dân chúng ở những nước Ðài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Phi Luật Tân, nhất là giới sinh viên, thanh niên đã từng đấu tranh quyết liệt đòi dân chủ từ thập niên 1970, nhưng họ cũng chỉ bắt đầu được hưởng tự do từ giữa thập niên 70, sau khi tình hình thế giới biến chuyển hòa dịu hơn và mối đe dọa của khối Cộng Sản giảm bớt. Nhiều quốc gia khác phải đợi cho tới khi gặp khủng hoảng kinh tế mới thật sự bước vào quá trình dân chủ hóa. Ở Trung Âu và Ðông Âu trong những năm 1980, đó là tình hình kinh tế trì trệ trong khối Xô Viết vì quản lý không hiệu quả. Phong trào Công Ðoàn Ðoàn Kết ở Ba Lan, các nhà trí thức đòi phát triển xã hội công dân ở Tiệp Khắc, người dân Ðông Ðức và Hungary cũng đứng dậy, đưa tới sự sụp đổ của bức tường Berlin. Ở Á Ðông, những cải thiện chính trị đã bắt đầu và cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 thúc đẩy thêm cho tiến trình dân chủ hóa những bước nhanh chóng và vững vàng. Sau năm 1997, các chế độ còn vết tích độc đoán ở Hàn Quốc, Ðài Loan, Indonesia bị lật đổ bằng lá phiếu. Các biến cố đó xẩy ra được cũng là nhờ lúc đó Chiến Tranh Lạnh giữa hai khối tư bản và Cộng Sản đã chấm dứt.
Làn sóng dân chủ hóa thứ ba này đi đôi với hiện tượng kinh tế toàn cầu hội nhập với nhau chặt chẽ hơn, đưa tới việc cải thiện mức sống và giảm bớt nạn nghèo đói trên thế giới. Một thước đo của sự cải thiện này là tỷ lệ những người còn sống với lợi tức dưới 2 đô la Mỹ một ngày, khoảng 30 ngàn đồng Việt Nam cho mỗi người, theo giá tiền năm 2005. Vào năm 1980 trên thế giới có 56% nhân loại còn sống trong cảnh nghèo như vậy, đến năm 2000 tỷ số đó chỉ còn 23%. Nếu nhớ rằng dân số trên trái đất luôn luôn gia tăng chúng ta càng thấy sự cải thiện trên là rất đáng kể. Vào năm 1980 thế giới có 1.9 tỷ người sống trong cảnh nghèo, năm 1990 chỉ còn 1 tỷ 7, đến năm 2000 chỉ còn một tỷ mốt. Một điều đáng chú ý nữa là trước năm 1980, trước khi làn sóng dân chủ lan tràn, số người sống trong cảnh nghèo theo định nghĩa trên chỉ tăng thêm chứ không giảm. Sự cải thiện trong đời sống kinh tế đi đôi với phong trào dân chủ hóa cho thấy khi người dân được tự do hơn, trong đó được hưởng những quyền tự do kinh tế, thì loài người cũng được no ấm nhiều hơn. Từ năm 1980, theo báo cáo của Ủy Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, có 81 quốc gia đã tiến bước trên đường dân chủ hóa đáng kể, trong đó có 33 nước đổi từ chế độ quân phiệt sang chế độ dân chủ. Theo Liên Hiệp Quốc, có 140 quốc gia trong số khoảng 200 nước trong thế giới hiện đã có bầu cử tương đối tự do, và 81 quốc gia trong số đó thực sự có tự do, tức là khoảng 60% nhân loại. Bản xếp loại này lạc quan, rộng rãi hơn Freedom House, cũng dễ hiểu vì các quốc gia trên đều nằm trong tổ chức Liên Hiệp Quốc.
Cơn sóng dân chủ hóa thứ ba cũng gặp những trở ngại, có lúc quay ngược chiều và không lan rộng đồng đều. Có những quốc gia đã thiết lập thể chế dân chủ sau đó lại rơi xuống, trở về sống dưới một chính quyền độc tài, như ở Peru, Pakistan. Ðiều này cho thấy những điều kiện thúc đẩy một quốc gia tiến tới chế độ dân chủ khác với những điều kiện để nôi dưỡng cho chế độ dân chủ được vững bền. Làn sống dân chủ cũng bị ngăn lại ở nhiều nơi không vào được. Trong số những nước thuộc Liên Bang Xô Viết cũ, nhiều nước vẫn còn giữ chế độ độc tài, như Ukraina và Georgia đến năm ngoái mới tự giải thoát; nhưng Kyrgyzstan vẫn là một nước độc tài hủ lậu hạng nhất. Ở Á Ðông thì Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Miến Ðiện vẫn chưa có tự do tuyển cử. Lại có những quốc gia thiết lập một chế độ dân chủ hình thức nhưng người dân vẫn chưa được tự do, như ở nhiều nước Trung Á khác. Chúng ta thấy dân chủ hình thức, tức là có hiến pháp, có tuyển cử không nhất thiết đưa tới có dân chủ tự do thật sự nếu người dân chưa được hưởng những quyền tự do chính trị và tự do dân sự. Mà điều người dân cần là được sống tự do, không phải chỉ là được đi bầu hay ứng cử. Chúng ta cần phân biệt tự do và dân chủ, không phải lúc nào cũng đi đôi.
BẮC GIANG DẬY SÓNG
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất …. Lướt theo chiều gió, một con thuyền, theo trăng trong, trôi trên sông Thương, nước chảy đôi dòng. Biết đâu bờ bến, thuyền ơi thuyền trôi nơi đâu, trên con sông Thương, nào ai biết nông sâu? Nhớ khi chiều sương, cùng ai trắc ẩn tấm lòng. Biết bao buồn thương, thuyền mơ buông trôi xuôi dòng. Bến mơ dù thiết tha, thuyền ơi đừng chờ mong .........
Người viết muốn mượn nhạc phẩm lãng mạn tuyệt vời “Con Thuyền Không Bến” của nhạc sĩ tài danh Đặng Thế Phong để giới thiệu về một mảnh đất thân yêu của Tổ Quốc có tên là Bắc Giang đang dậy sóng.

Đôi Nét Về Bắc Giang Bắc Giang là một tỉnh miền trung du, cách Hànội khoảng 30 miles về phía Bắc Đông Bắc, gần tương đương với quận hạt Santa Clara, California cả về diên tích lẫn dân số. Có 20 sắc dân sống chung ở đó, nhưng rất hiền hòa và thuận thảo. Bắc Giang có con sông Thương. Sông Thương là một con sông chảy qua các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, và Hải Dương. Bắt nguồn từ huyện Chi Lăng, Lạng Sơn, nó chảy qua Phủ Lạng Thương, tỉnh lỵ của Bắc Giang. Tại đây nó hợp lưu vớisông Lục Nam và sông Cầu tại ngã ba Lác để trở thành sông Thái Bình. Đến gần thị xã Bắc Giang, có thêm một dòng sông đào đổ nước vào sông Thương. Nước sông Thương vốn trong xanh nay có dòng nước đục chảy vào thành ra có hai dòng chảy bên trong, bên đục như trong bài hát chúng ta nghe:…trôi trên sông Thương nước chảy đôi dòng. Ngày xưa, khi quan, quân lên trấn ải biên thùy Lạng Sơn, gia quyến của họ được phép tiễn đưa đến sông Thương rồi chia tay. Những cuộc tiễn biệt đầy thương cảm đã khiến cho người đời đặt tên dòng nước này là “Sông Thương”.
Bắc Giang không phải chỉ là chỗ người hiền, cảnh đẹp, đất giầu khoáng, mà còn là nơi sản sinh ra vị anh hùng nổi tiếng trong lịch sử chống ngoại xâm của nước nhà: Đề Đốc Hoàng Hoa Thám. Ông tên thật là Trương Văn Nghĩa, quê ở Tiên Lữ, Hưng Yên. Hoàng Hoa Thám theo giúp lãnh binh Trần Quang Soạn ở Bắc Ninh, được phong chức Đốc binh hay Đề đốc nên thường gọi là Đề Thám. Trong số những nhân vật nổi lên chống thực dân Pháp thời đó như Mai Xuân Thưởng, Đinh Công Tráng, Nguyễn Thiện Thuật, Phan Đình Phùng v.v. có thể nói Đề Thám là người lỗi lạc nhất. Ông được xung tụng là “Con Hùm Xám Yên Thế”. Chiến khu Yên Thế của Đề Thám là nơi cực kỳ hiểm trở. Quân Pháp bao vây và tấn công rất nhiều phen nhưng đều thất bại. Sau cùng chúng mua chuộc được tên nghĩa binh Lương Tam Kỳ để giết chết ông. Chiến khu Yên Thế bị san bằng. Nghĩa quân tan rã. Cuộc kháng chiến của Đề Thám kéo dài được ba mươi năm.
Một điểm quan trọng xin lưu ý là tinh thần chống ngoại xâm của nhân dân VN thật tuyệt vời, nhưng thói tham tiền để bán rẻ chiến hữu, bán rẻ đồng bào mặc cho nước mất nhà tan xưa nay cũng nhiều vô số kể: Trương Quang Ngọc bán vua Hàm Nghi, Hồ Chí Minh bán cụ Phan Bội Châu, Lương Tam Kỳ bán Hoàng Hoa Thám. Dương văn Minh và đồng bọn nhận tiền của CIA bán TT Ngô Đình Diệm .v.v. Và hiện nay, bọn bầu show, cai thầu văn nghệ vì tham đồng tiền dơ bẩn rước VGCS xâm nhập đánh phá cộng đồng cũng là một hình thức bán nước vậy.
Tông tộc của tên việt-gian Hồ chí Minh:

Hồ là con hoang của Hồ Sĩ Tạo, đẻ ra thằng con hoang Nông đức Mạnh. Trên là bản mặt thằng "Tày", Nông quốc Tuấn (cháu nội hoang của thằng việt gian Hồ chí Minh) Nói về Bắc Giang mà bỏ qua một điểm tuy nhỏ nhưng có tính cách chính trị thời sự lớn trong tương lai thì đúng là một thiếu sót. Một mẩu tin lượm trên Net cho biết, Chủ Nhật 25-7-2010, trong khi dân chúng thành phố nổi loạn thì Nông Quốc Tuấn vẫn ung dung tiếp đãi bạn bè món thịt bò tót do 2 đầu bếp từ Hà Nội lên chế biến tại nhà hàng Tài Lộc trong thành phố Bắc Giang. Xin nói qua một chút về tên Vẹm con này, bỏ lỡ mất cơ hội, uổng. Lý lịch trích ngang nó khai: Đồng chí Nông Quốc Tuấn sanh ngày 12-7-1963, dân tộc Tày, vô tôn giáo, sinh quán xã Cường Lợi, Na Rì, Bắc Kạn, thạc sỹ kinh tế, cử nhân chính trị, chức vụ phó bí thư tỉnh uỷ Bắc Giang.
Nên biết tường tận hơn, Tuấn là con trai của tên TBT Nông Đức Mạnh, cháu nội của thằng Hồ Chí Minh. Tuấn học xong cấp ba. Thi rớt đại học, nó xin đi "xuất khẩu lao động" ở Đức một thời gian, trở về Thái Nguyên làm ở Đoàn Thanh niên phụ trách thiếu nhi. Sau đó nó được thằng bố nhét ngồi vào chiếc ghế Chủ tịch Liên hiệp Thanh niên CS. Sau một thời gian, tình hình êm xuôi, thằng bố mới đẩy con về Bắc Giang làm phó bí thư tỉnh ủy, dự tính sẽ đưa vào BCH Trung ương đảng ở đại hội kỳ tới. Trong đại hội X, Nông Đức Mạnh định đưa con vào BCH đảng, nhưng phải thôi vì vấp phải sự chống đối quyết liệt của nhiều người. Bắc Giang có lẽ là nơi đất lành chim đậu của cha con thằng Tuấn. Tỉnh Ủy Bắc Giang có 13 tên, đứa nào cũng thạc sĩ, tiến sĩ cả, bết nhất là cử nhân hoặc kỹ sư. Có đứa hai, ba bằng. Không biết thằng Tuấn học ở đâu và học bao giờ mà cũng đậu tới hai bằng cấp: cử nhân chính trị và thạc sĩ kinh tế. Giỏi thiệt. Trên trần gian này, có lẽ chỉ có Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh mới dậy dỗ con người ta thành tài mau chóng cấp kỳ đến như thế được. Như vậy là Nông Đức Mạnh đã có ý định truyền ngôi lại cho thái tử Nông Quốc Tuấn. Chuyện thừa kế ngai vàng đã có nhiều tiền lệ ở các nước CS, chẳng hạn tại Cao Ly , Cuba , và ngay tại VN ta nữa. Chỉ lo các thầy Ấn Quang và các ông chánh khứa ễnh ương mơ thành bò lại phải một phen nữa hô hào dân ta xuống đường chống gia đình trị. Thằng Mạnh là con rơi, không cho nó là gia đình trị cũng chẳng sao. Nhưng sau này nếu thằng Tuấn con chính thức làm vua mà không chống nó gia đình trị coi kỳ lắm, các thầy, các cụ ạ.
Bắc Giang Dậy Sóng


Dân chúng đập bảng hiệu của UBND Bắc Giang hiền hòa thế mà bỗng tự nhiên ba đào nổi lên dữ dội. Nguyên nhân chỉ vì một vụ công an vô cớ giết người xẩy ra. Bản tin của đài RFA tóm tắt việc này như sau: hằng ngàn người dân xã Hồng Thái kéo chiếc xe tang của một thanh niên lên tỉnh, đòi vào trụ sở UBND tỉnh Bắc Giang, công an ngăn cản và giải tán, gây bạo động. Sự việc xảy ra hồi chiều Chủ Nhật 25 tháng 7 năm 2010.

Bàn thờ nạn nhân Nguyễn Văn Khương tại gia đình ở xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, Bắc Giang. Theo tường thuật đầy đủ trên báo chí thì hôm Thứ Sáu 23-7, thanh niên Nguyễn Văn Khương, 22 tuổi, chạy xe máy, chở bạn gái đi mua đồ quên đội mũ bảo hiểm. Hai cảnh sát giao thông chặn anh lại, bắt giải về đồn trên chính chiếc xe của anh. Chỉ vài tiếng đồng hồ sau, gia đình được công an huyện mời ra xã và thông báo anh Khương đã chết. Gia đình hỏi thông tin về cái chết của thân nhân thì không ai trả lời. Bệnh viện mổ tử thi khám nghiệm nhưng lại làm biên bản láo nên gia đình không ký. Đến trưa chủ nhật, quá căm phẫn vì cái chết đầy bí ẩn của người thân nên gia đình quyết định đẩy xác nạn nhân lên cơ quan tỉnh để đòi công lý. Chiếc quan tài được thân nhân đẩy trên đường lên tỉnh bằng chiếc xe loại “cải tiến” mà các ông HO đi cải tại ai ai cũng đều biết. Dọc đường dân chúng đổ đi theo ủng hộ quá đông kể có hàng vạn người. Công an giàn hàng ngăn chặn. Thế là bạo động xẩy ra. Cuộc chiến nổ ra trên đường phố ngay trước cổng Ủy Ban Nhân Dân tỉnh. Công an nổ súng, thẩy lựu đạn cay, sử dụng matraque. Dân chúng trả đũa bằng gạch đá, gậy gộc. Cổng sắt tòa nhà ủy ban bị dân kéo sập. Xe công an bị đốt. Nhiều thanh thiếu niên bị công an bắt kéo lê trên đường phố và bị đánh đập tàn nhẫn.

Cổng sắt tòa nhà ủy ban bị dân kéo sập Người ta không cần đi tìm nguyên nhân của cuộc bạo động ở đâu xa là vì ở đâu có bất công, ở đó có đấu tranh. Chân lý này không phải Chúa, Phật, hay thần linh nào dậy, mà là do Karl Marx, ông tổ CS khám phá ra và đem dậy cho đệ tử. Nếu Marx còn sống, chắc ông ta phải tự tử vì ngón đòn gậy ông đập lưng ông này. Không phải bây giờ nhân dân VN mới bị đám đệ tử của Marx đàn áp, mà từ hơn 60 năm nay rồi. Bao nhiêu con dân VN vào tù không có án, cũng chẳng biết ngày nào ra. Bao nhiêu gia đình tan nát, con mất cha, vợ mất chồng, nhà cửa mất sạch. Với em Nguyễn Văn Khương, đồng bào chẳng ai quen biết, cũng chẳng phải thân thuộc, làm thế nào, không vận động, không kêu mời, mà người dân Bắc Giang tự động xuống đường đông như thế để đòi công lý cho em, nếu không phải oan hồn của hàng triệu đồng bào chết oan dưới bàn tay bọn Việt gian khát máu đã hiển linh trở về thúc dục người sống đòi giúp món nợ máu của mình trên trần gian ngày trước chưa được đền trả. Cha ông ta nói không sai: gieo gió thì gặt bão. Đàng khác, phải kể đến yếu tố tinh thần yêu nước của người dân. Trước kia, người dân Bắc Giang hăng hái gia nhập nghĩa quân của Đề Thám để chống thực dân Pháp và bọn quan lại triều đình thối nát thế nào, thì bây giờ khi có có cơ hội, họ đứng lên quyết tâm đập tan bạo quyền của bọn Việt gian bán nước, giết hại đồng bào cũng trong tinh thần đó.

Bầy Chó Săn Của Đảng Trên thế giới, việc cảnh sát đánh người thôi đã là chuyện khó xẩy ra. Nếu xẩy ra thì công lý nhất định phải được làm sáng tỏ. Thế nhưng tại VN thì trái lại, công an giết người không cần có lý do đã trở thành chuyện hầu như cơm bữa. Nó bình thường đến độ bọn cầm quyền ở trên không cần xem đó là việc quan trọng cần phải giái quyết. Đây là sự thực chứ không phải là thêu dệt. Chuyện xẩy ra tại giáo xứ Cồn Dầu Đà Nẵng hãy còn nóng hổi. Hồi đầu tháng 7 vừa qua, anh Nguyễn Thành Năm chỉ vì tham gia đẩy xe tang bà cụ Hồ Nhu tới khu nghĩa địa mà bọn cầm quyền địa phương không cho chôn ở đó cũng bị công an đánh hộc máu chết. Bọn đầu đảng lấp liếm bảo là anh bị đột quỵ hoặc nhịn ăn mà chết. Gia đình anh và giáo dân Cồn Dầu biết rất rỏ lý do tại sao anh chết, nhưng không ai dám nói ra vì tai vạ đang chờ đón bất cứ ai nói lên sự thật, khi công an đã ra lệnh phải tuyệt đối bảo mật cái chết đau đớn này. Không phải chỉ có hai cái chết oan ức của các anh Nguyễn Văn Khương và Nguyễn Thành Năm, chắc chắn còn hàng trăm, hàng ngàn cái chết tức tưởi khác mà báo chí và dư luận không biết tới, chỉ vì thông tin bị bưng bít, và nhất là gia đình nạn nhân sợ trả thù nên không dám lên tiếng. Thử hỏi hàng trăm người bị bắt đi mất tích trong vụ nhân dân Thái Bình, quê hương của người viết, đứng lên đòi quyền sống năm 1997 hiện giờ ở đâu? Nếu giam giữ thì toà án nào đã xét xử họ, vì tội gì, thời hạn tù bao lâu, và ít nữa gia đình cũng phải được biết tin và thăm nuôi chứ.
Tình trạng nghiêm trọng và nguy hiểm nhất cho xã hội VN ngày nay là công an có quyền tự do tra tấn, hành hạ, đánh đập, và thậm chí giết chết người dân mà không bị trị tội. Ngược lại, người dân cũng không có quyền kêu nài, khiếu nại, hay thưa kiện gì cả. Thật ra thì đôi khi gia đình nạn nhân cũng có khiếu nại nhưng chẳng cơ quan nào, chẳng tòa án nào chấp đơn và giải quyết. Sự thực hiển nhiên là hai cái chết của anh Nguyễn Thành Năm tại giáo xứ Cồn Dầu, và anh Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang có được cơ quan hay tòa án nào thụ lý đâu, mặc dầu gia đình có làm đơn thưa gởi. Những tên công an vô cớ đánh chết người cũng không hề bị luật pháp hỏi thăm tới. Đáng sợ nhất đây lại là chính sách của cái gọi là nhà nước VGCS. Chính sách này như một tôn chỉ của ngành công an nhân dân VGCS được thể hiện rất rõ ràng qua khẩu hiệu: Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình. Câu này có nghĩa là nếu đảng chết, công an cũng sẽ chết. Đảng còn sống, công an mới sống được. Nguyên lý này đưa đến những kết luận sau:
- Thứ nhất, công an là công cụ chuyên chính của đảng VGCS, chứ không phải là lực lượng bảo vệ sự an toàn cho đời sống của dân chúng.
- Thứ hai, đảng CS và công an đã ở vào cái thế là kẻ thù của nhân dân, và ngược lại, người dân cũng là kẻ thù của đảng và công an. Hai thành phần này là hai thực thể đối kháng của nhau.
- Thứ ba, nếu công an để cho nhân dân tiêu diệt đảng thì bản thân người công an cũng không thể sống nổi. Do đó người công an nhân dân phải tuyệt đối chuyên chính với dân chúng. Muốn giết thì cứ giết, không cần biết có tội hay vô tội.
- Thứ tư, Chủ trương dã man, phi nhân tính và phi đạo đức này của VGCS dồn người công an đi vào con đường cùng, không còn lối thối lui nên phải tuyệt đối trung thành với đảng, phục vụ đảng hết mình dù phải chống lại nhân dân. Cái bảo đảm vững chắc nhất cho sự phục tùng tuyệt đối này là công an dù có phạm lỗi gì cũng được đảng miễn thứ.
Chủ trương vừa thâm độc, vừa tàn ác, nhưng hữu hiệu này là lý do giải thích tại sao công an đánh chết dân mà không bị pháp luật trừng trị như người dân VN đã thấy tận mắt. Tóm lại, lực lượng công an VGCS ngày nay thật sự đã trở thành một bầy chó được thuần hóa hoàn toàn, rất trung thành và rất dễ sai khiến, gọi là đảng khuyển có lẽ đúng nghĩa.
Lời Nhắn Gởi Để Lại
VGCS bán nước, gian tham, tàn ác nhân dân VN ai cũng biết, và thế giới đã thấy. Cũng với một câu đó thôi, Karl Marx nói: đâu có bất công, ở đó có đấu tranh. Nhân dân Thái Bình đã vùng lên đấu tranh. Thái Hà, Đồng Chiêm, giáo dân đã đứng dậy, và nhiều nơi khác nữa, nhưng tất cả chỉ như cơn bão tới rồi qua đi. Lý do tại sao? Trước hết phải kể người dân thiếu lãnh đạo. Từ sau ngày TT Ngô đình Diệm bị Dương Văn Minh và bọn tướng tá phản loạn giết chết, người dân chống cộng sản không còn lãnh đạo nữa. Trông vào ai đây? Các đảng phái cũ thì chia năm sẻ bẩy kình chống lẫn nhau nên hầu như rã đám hết. Các tổ chức mới mọc lên phần đông đều là loại dơi chuột làm cò mồi cho CS. Tôn giáo thì HT Thích Quảng Độ khuyên chỉ nên biểu tình tại gia. Ngài không chấp nhận xuống đường gây náo loạn. Lm Nguyễn Văn Lý còn chống bạo động hơn thế nữa. Ngài nói: nếu rối loạn thì thà để cho CS cai trị còn hơn. Như vậy, xuống đường như tại Bắc Giang không phải là chủ trương tranh đấu của cha Lý. Đức TGM Ngô Quang Kiệt cô đơn, một mình ngài không đủ sức trụ nổi. Như vậy, xem ra thì Bắc Giang vùng lên rồi cũng vậy thôi. Có phải nhạc sĩ Đặng Thế Phong linh cảm thấy trước sự kiện Bắc Giang nên đã để lại một lời nhắn gởi người dân tại đây trong nhạc phẩm “Con thuyền không bến” của ông: ….Bến mơ dù thiết tha, thuyền ơi đừng chờ mong …
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất …. Lướt theo chiều gió, một con thuyền, theo trăng trong, trôi trên sông Thương, nước chảy đôi dòng. Biết đâu bờ bến, thuyền ơi thuyền trôi nơi đâu, trên con sông Thương, nào ai biết nông sâu? Nhớ khi chiều sương, cùng ai trắc ẩn tấm lòng. Biết bao buồn thương, thuyền mơ buông trôi xuôi dòng. Bến mơ dù thiết tha, thuyền ơi đừng chờ mong .........
Người viết muốn mượn nhạc phẩm lãng mạn tuyệt vời “Con Thuyền Không Bến” của nhạc sĩ tài danh Đặng Thế Phong để giới thiệu về một mảnh đất thân yêu của Tổ Quốc có tên là Bắc Giang đang dậy sóng.

Đôi Nét Về Bắc Giang Bắc Giang là một tỉnh miền trung du, cách Hànội khoảng 30 miles về phía Bắc Đông Bắc, gần tương đương với quận hạt Santa Clara, California cả về diên tích lẫn dân số. Có 20 sắc dân sống chung ở đó, nhưng rất hiền hòa và thuận thảo. Bắc Giang có con sông Thương. Sông Thương là một con sông chảy qua các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, và Hải Dương. Bắt nguồn từ huyện Chi Lăng, Lạng Sơn, nó chảy qua Phủ Lạng Thương, tỉnh lỵ của Bắc Giang. Tại đây nó hợp lưu vớisông Lục Nam và sông Cầu tại ngã ba Lác để trở thành sông Thái Bình. Đến gần thị xã Bắc Giang, có thêm một dòng sông đào đổ nước vào sông Thương. Nước sông Thương vốn trong xanh nay có dòng nước đục chảy vào thành ra có hai dòng chảy bên trong, bên đục như trong bài hát chúng ta nghe:…trôi trên sông Thương nước chảy đôi dòng. Ngày xưa, khi quan, quân lên trấn ải biên thùy Lạng Sơn, gia quyến của họ được phép tiễn đưa đến sông Thương rồi chia tay. Những cuộc tiễn biệt đầy thương cảm đã khiến cho người đời đặt tên dòng nước này là “Sông Thương”.
Bắc Giang không phải chỉ là chỗ người hiền, cảnh đẹp, đất giầu khoáng, mà còn là nơi sản sinh ra vị anh hùng nổi tiếng trong lịch sử chống ngoại xâm của nước nhà: Đề Đốc Hoàng Hoa Thám. Ông tên thật là Trương Văn Nghĩa, quê ở Tiên Lữ, Hưng Yên. Hoàng Hoa Thám theo giúp lãnh binh Trần Quang Soạn ở Bắc Ninh, được phong chức Đốc binh hay Đề đốc nên thường gọi là Đề Thám. Trong số những nhân vật nổi lên chống thực dân Pháp thời đó như Mai Xuân Thưởng, Đinh Công Tráng, Nguyễn Thiện Thuật, Phan Đình Phùng v.v. có thể nói Đề Thám là người lỗi lạc nhất. Ông được xung tụng là “Con Hùm Xám Yên Thế”. Chiến khu Yên Thế của Đề Thám là nơi cực kỳ hiểm trở. Quân Pháp bao vây và tấn công rất nhiều phen nhưng đều thất bại. Sau cùng chúng mua chuộc được tên nghĩa binh Lương Tam Kỳ để giết chết ông. Chiến khu Yên Thế bị san bằng. Nghĩa quân tan rã. Cuộc kháng chiến của Đề Thám kéo dài được ba mươi năm.
Một điểm quan trọng xin lưu ý là tinh thần chống ngoại xâm của nhân dân VN thật tuyệt vời, nhưng thói tham tiền để bán rẻ chiến hữu, bán rẻ đồng bào mặc cho nước mất nhà tan xưa nay cũng nhiều vô số kể: Trương Quang Ngọc bán vua Hàm Nghi, Hồ Chí Minh bán cụ Phan Bội Châu, Lương Tam Kỳ bán Hoàng Hoa Thám. Dương văn Minh và đồng bọn nhận tiền của CIA bán TT Ngô Đình Diệm .v.v. Và hiện nay, bọn bầu show, cai thầu văn nghệ vì tham đồng tiền dơ bẩn rước VGCS xâm nhập đánh phá cộng đồng cũng là một hình thức bán nước vậy.
Tông tộc của tên việt-gian Hồ chí Minh:
Hồ là con hoang của Hồ Sĩ Tạo, đẻ ra thằng con hoang Nông đức Mạnh. Trên là bản mặt thằng "Tày", Nông quốc Tuấn (cháu nội hoang của thằng việt gian Hồ chí Minh) Nói về Bắc Giang mà bỏ qua một điểm tuy nhỏ nhưng có tính cách chính trị thời sự lớn trong tương lai thì đúng là một thiếu sót. Một mẩu tin lượm trên Net cho biết, Chủ Nhật 25-7-2010, trong khi dân chúng thành phố nổi loạn thì Nông Quốc Tuấn vẫn ung dung tiếp đãi bạn bè món thịt bò tót do 2 đầu bếp từ Hà Nội lên chế biến tại nhà hàng Tài Lộc trong thành phố Bắc Giang. Xin nói qua một chút về tên Vẹm con này, bỏ lỡ mất cơ hội, uổng. Lý lịch trích ngang nó khai: Đồng chí Nông Quốc Tuấn sanh ngày 12-7-1963, dân tộc Tày, vô tôn giáo, sinh quán xã Cường Lợi, Na Rì, Bắc Kạn, thạc sỹ kinh tế, cử nhân chính trị, chức vụ phó bí thư tỉnh uỷ Bắc Giang.
Nên biết tường tận hơn, Tuấn là con trai của tên TBT Nông Đức Mạnh, cháu nội của thằng Hồ Chí Minh. Tuấn học xong cấp ba. Thi rớt đại học, nó xin đi "xuất khẩu lao động" ở Đức một thời gian, trở về Thái Nguyên làm ở Đoàn Thanh niên phụ trách thiếu nhi. Sau đó nó được thằng bố nhét ngồi vào chiếc ghế Chủ tịch Liên hiệp Thanh niên CS. Sau một thời gian, tình hình êm xuôi, thằng bố mới đẩy con về Bắc Giang làm phó bí thư tỉnh ủy, dự tính sẽ đưa vào BCH Trung ương đảng ở đại hội kỳ tới. Trong đại hội X, Nông Đức Mạnh định đưa con vào BCH đảng, nhưng phải thôi vì vấp phải sự chống đối quyết liệt của nhiều người. Bắc Giang có lẽ là nơi đất lành chim đậu của cha con thằng Tuấn. Tỉnh Ủy Bắc Giang có 13 tên, đứa nào cũng thạc sĩ, tiến sĩ cả, bết nhất là cử nhân hoặc kỹ sư. Có đứa hai, ba bằng. Không biết thằng Tuấn học ở đâu và học bao giờ mà cũng đậu tới hai bằng cấp: cử nhân chính trị và thạc sĩ kinh tế. Giỏi thiệt. Trên trần gian này, có lẽ chỉ có Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh mới dậy dỗ con người ta thành tài mau chóng cấp kỳ đến như thế được. Như vậy là Nông Đức Mạnh đã có ý định truyền ngôi lại cho thái tử Nông Quốc Tuấn. Chuyện thừa kế ngai vàng đã có nhiều tiền lệ ở các nước CS, chẳng hạn tại Cao Ly , Cuba , và ngay tại VN ta nữa. Chỉ lo các thầy Ấn Quang và các ông chánh khứa ễnh ương mơ thành bò lại phải một phen nữa hô hào dân ta xuống đường chống gia đình trị. Thằng Mạnh là con rơi, không cho nó là gia đình trị cũng chẳng sao. Nhưng sau này nếu thằng Tuấn con chính thức làm vua mà không chống nó gia đình trị coi kỳ lắm, các thầy, các cụ ạ.
Bắc Giang Dậy Sóng
Dân chúng đập bảng hiệu của UBND Bắc Giang hiền hòa thế mà bỗng tự nhiên ba đào nổi lên dữ dội. Nguyên nhân chỉ vì một vụ công an vô cớ giết người xẩy ra. Bản tin của đài RFA tóm tắt việc này như sau: hằng ngàn người dân xã Hồng Thái kéo chiếc xe tang của một thanh niên lên tỉnh, đòi vào trụ sở UBND tỉnh Bắc Giang, công an ngăn cản và giải tán, gây bạo động. Sự việc xảy ra hồi chiều Chủ Nhật 25 tháng 7 năm 2010.

Bàn thờ nạn nhân Nguyễn Văn Khương tại gia đình ở xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, Bắc Giang. Theo tường thuật đầy đủ trên báo chí thì hôm Thứ Sáu 23-7, thanh niên Nguyễn Văn Khương, 22 tuổi, chạy xe máy, chở bạn gái đi mua đồ quên đội mũ bảo hiểm. Hai cảnh sát giao thông chặn anh lại, bắt giải về đồn trên chính chiếc xe của anh. Chỉ vài tiếng đồng hồ sau, gia đình được công an huyện mời ra xã và thông báo anh Khương đã chết. Gia đình hỏi thông tin về cái chết của thân nhân thì không ai trả lời. Bệnh viện mổ tử thi khám nghiệm nhưng lại làm biên bản láo nên gia đình không ký. Đến trưa chủ nhật, quá căm phẫn vì cái chết đầy bí ẩn của người thân nên gia đình quyết định đẩy xác nạn nhân lên cơ quan tỉnh để đòi công lý. Chiếc quan tài được thân nhân đẩy trên đường lên tỉnh bằng chiếc xe loại “cải tiến” mà các ông HO đi cải tại ai ai cũng đều biết. Dọc đường dân chúng đổ đi theo ủng hộ quá đông kể có hàng vạn người. Công an giàn hàng ngăn chặn. Thế là bạo động xẩy ra. Cuộc chiến nổ ra trên đường phố ngay trước cổng Ủy Ban Nhân Dân tỉnh. Công an nổ súng, thẩy lựu đạn cay, sử dụng matraque. Dân chúng trả đũa bằng gạch đá, gậy gộc. Cổng sắt tòa nhà ủy ban bị dân kéo sập. Xe công an bị đốt. Nhiều thanh thiếu niên bị công an bắt kéo lê trên đường phố và bị đánh đập tàn nhẫn.

Cổng sắt tòa nhà ủy ban bị dân kéo sập Người ta không cần đi tìm nguyên nhân của cuộc bạo động ở đâu xa là vì ở đâu có bất công, ở đó có đấu tranh. Chân lý này không phải Chúa, Phật, hay thần linh nào dậy, mà là do Karl Marx, ông tổ CS khám phá ra và đem dậy cho đệ tử. Nếu Marx còn sống, chắc ông ta phải tự tử vì ngón đòn gậy ông đập lưng ông này. Không phải bây giờ nhân dân VN mới bị đám đệ tử của Marx đàn áp, mà từ hơn 60 năm nay rồi. Bao nhiêu con dân VN vào tù không có án, cũng chẳng biết ngày nào ra. Bao nhiêu gia đình tan nát, con mất cha, vợ mất chồng, nhà cửa mất sạch. Với em Nguyễn Văn Khương, đồng bào chẳng ai quen biết, cũng chẳng phải thân thuộc, làm thế nào, không vận động, không kêu mời, mà người dân Bắc Giang tự động xuống đường đông như thế để đòi công lý cho em, nếu không phải oan hồn của hàng triệu đồng bào chết oan dưới bàn tay bọn Việt gian khát máu đã hiển linh trở về thúc dục người sống đòi giúp món nợ máu của mình trên trần gian ngày trước chưa được đền trả. Cha ông ta nói không sai: gieo gió thì gặt bão. Đàng khác, phải kể đến yếu tố tinh thần yêu nước của người dân. Trước kia, người dân Bắc Giang hăng hái gia nhập nghĩa quân của Đề Thám để chống thực dân Pháp và bọn quan lại triều đình thối nát thế nào, thì bây giờ khi có có cơ hội, họ đứng lên quyết tâm đập tan bạo quyền của bọn Việt gian bán nước, giết hại đồng bào cũng trong tinh thần đó.
Bầy Chó Săn Của Đảng Trên thế giới, việc cảnh sát đánh người thôi đã là chuyện khó xẩy ra. Nếu xẩy ra thì công lý nhất định phải được làm sáng tỏ. Thế nhưng tại VN thì trái lại, công an giết người không cần có lý do đã trở thành chuyện hầu như cơm bữa. Nó bình thường đến độ bọn cầm quyền ở trên không cần xem đó là việc quan trọng cần phải giái quyết. Đây là sự thực chứ không phải là thêu dệt. Chuyện xẩy ra tại giáo xứ Cồn Dầu Đà Nẵng hãy còn nóng hổi. Hồi đầu tháng 7 vừa qua, anh Nguyễn Thành Năm chỉ vì tham gia đẩy xe tang bà cụ Hồ Nhu tới khu nghĩa địa mà bọn cầm quyền địa phương không cho chôn ở đó cũng bị công an đánh hộc máu chết. Bọn đầu đảng lấp liếm bảo là anh bị đột quỵ hoặc nhịn ăn mà chết. Gia đình anh và giáo dân Cồn Dầu biết rất rỏ lý do tại sao anh chết, nhưng không ai dám nói ra vì tai vạ đang chờ đón bất cứ ai nói lên sự thật, khi công an đã ra lệnh phải tuyệt đối bảo mật cái chết đau đớn này. Không phải chỉ có hai cái chết oan ức của các anh Nguyễn Văn Khương và Nguyễn Thành Năm, chắc chắn còn hàng trăm, hàng ngàn cái chết tức tưởi khác mà báo chí và dư luận không biết tới, chỉ vì thông tin bị bưng bít, và nhất là gia đình nạn nhân sợ trả thù nên không dám lên tiếng. Thử hỏi hàng trăm người bị bắt đi mất tích trong vụ nhân dân Thái Bình, quê hương của người viết, đứng lên đòi quyền sống năm 1997 hiện giờ ở đâu? Nếu giam giữ thì toà án nào đã xét xử họ, vì tội gì, thời hạn tù bao lâu, và ít nữa gia đình cũng phải được biết tin và thăm nuôi chứ.
Tình trạng nghiêm trọng và nguy hiểm nhất cho xã hội VN ngày nay là công an có quyền tự do tra tấn, hành hạ, đánh đập, và thậm chí giết chết người dân mà không bị trị tội. Ngược lại, người dân cũng không có quyền kêu nài, khiếu nại, hay thưa kiện gì cả. Thật ra thì đôi khi gia đình nạn nhân cũng có khiếu nại nhưng chẳng cơ quan nào, chẳng tòa án nào chấp đơn và giải quyết. Sự thực hiển nhiên là hai cái chết của anh Nguyễn Thành Năm tại giáo xứ Cồn Dầu, và anh Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang có được cơ quan hay tòa án nào thụ lý đâu, mặc dầu gia đình có làm đơn thưa gởi. Những tên công an vô cớ đánh chết người cũng không hề bị luật pháp hỏi thăm tới. Đáng sợ nhất đây lại là chính sách của cái gọi là nhà nước VGCS. Chính sách này như một tôn chỉ của ngành công an nhân dân VGCS được thể hiện rất rõ ràng qua khẩu hiệu: Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình. Câu này có nghĩa là nếu đảng chết, công an cũng sẽ chết. Đảng còn sống, công an mới sống được. Nguyên lý này đưa đến những kết luận sau:
- Thứ nhất, công an là công cụ chuyên chính của đảng VGCS, chứ không phải là lực lượng bảo vệ sự an toàn cho đời sống của dân chúng.
- Thứ hai, đảng CS và công an đã ở vào cái thế là kẻ thù của nhân dân, và ngược lại, người dân cũng là kẻ thù của đảng và công an. Hai thành phần này là hai thực thể đối kháng của nhau.
- Thứ ba, nếu công an để cho nhân dân tiêu diệt đảng thì bản thân người công an cũng không thể sống nổi. Do đó người công an nhân dân phải tuyệt đối chuyên chính với dân chúng. Muốn giết thì cứ giết, không cần biết có tội hay vô tội.
- Thứ tư, Chủ trương dã man, phi nhân tính và phi đạo đức này của VGCS dồn người công an đi vào con đường cùng, không còn lối thối lui nên phải tuyệt đối trung thành với đảng, phục vụ đảng hết mình dù phải chống lại nhân dân. Cái bảo đảm vững chắc nhất cho sự phục tùng tuyệt đối này là công an dù có phạm lỗi gì cũng được đảng miễn thứ.
Chủ trương vừa thâm độc, vừa tàn ác, nhưng hữu hiệu này là lý do giải thích tại sao công an đánh chết dân mà không bị pháp luật trừng trị như người dân VN đã thấy tận mắt. Tóm lại, lực lượng công an VGCS ngày nay thật sự đã trở thành một bầy chó được thuần hóa hoàn toàn, rất trung thành và rất dễ sai khiến, gọi là đảng khuyển có lẽ đúng nghĩa.
Lời Nhắn Gởi Để Lại
VGCS bán nước, gian tham, tàn ác nhân dân VN ai cũng biết, và thế giới đã thấy. Cũng với một câu đó thôi, Karl Marx nói: đâu có bất công, ở đó có đấu tranh. Nhân dân Thái Bình đã vùng lên đấu tranh. Thái Hà, Đồng Chiêm, giáo dân đã đứng dậy, và nhiều nơi khác nữa, nhưng tất cả chỉ như cơn bão tới rồi qua đi. Lý do tại sao? Trước hết phải kể người dân thiếu lãnh đạo. Từ sau ngày TT Ngô đình Diệm bị Dương Văn Minh và bọn tướng tá phản loạn giết chết, người dân chống cộng sản không còn lãnh đạo nữa. Trông vào ai đây? Các đảng phái cũ thì chia năm sẻ bẩy kình chống lẫn nhau nên hầu như rã đám hết. Các tổ chức mới mọc lên phần đông đều là loại dơi chuột làm cò mồi cho CS. Tôn giáo thì HT Thích Quảng Độ khuyên chỉ nên biểu tình tại gia. Ngài không chấp nhận xuống đường gây náo loạn. Lm Nguyễn Văn Lý còn chống bạo động hơn thế nữa. Ngài nói: nếu rối loạn thì thà để cho CS cai trị còn hơn. Như vậy, xuống đường như tại Bắc Giang không phải là chủ trương tranh đấu của cha Lý. Đức TGM Ngô Quang Kiệt cô đơn, một mình ngài không đủ sức trụ nổi. Như vậy, xem ra thì Bắc Giang vùng lên rồi cũng vậy thôi. Có phải nhạc sĩ Đặng Thế Phong linh cảm thấy trước sự kiện Bắc Giang nên đã để lại một lời nhắn gởi người dân tại đây trong nhạc phẩm “Con thuyền không bến” của ông: ….Bến mơ dù thiết tha, thuyền ơi đừng chờ mong …
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Đô đốc Mike Mullen:
Quân đội Mỹ đã có kế hoạch tấn công quân sự với Iran
Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ, Đô đốc Mike Mullen, cho biết hiện tại quân đội Mỹ đã có kế hoạch tấn công quân sự với Iran để sử dụng nếu cần. Tuy vậy, vị tướng lĩnh cao cấp nhất trong quân đội Mỹ cho rằng tấn công quân sự vào Iran không phải là ý hay.Theo ông, nếu tấn công quân sự vào Iran thì sẽ có những sự vụ xảy ra không thể lường hết được đối với khu vực Trung Đông cũng như với các bên liên quan.
Tuy vậy, ông cũng khẳng định rằng tham vọng phát triển vũ khí hạt nhân của Iran là không thể chấp nhận được.
Và do vậy, mọi phương án vẫn phải sẵn sàng, trong đó có phương án tấn công quân sự vào Iran.
Mới vài ngày trước, một cựu quan chức cấp cao của Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) cũng vừa phát biểu cho hay khả năng Mỹ đánh Iran ngày càng rõ rệt hơn.
Cựu Giám đốc CIA dưới thời Tổng thống Bush, ông Michael Hayden, cho rằng phương án dùng quân lực chống lại Iran đang ngày càng khả thi, khi mà các biện pháp ngoại giao liên tiếp của Mỹ cũng như cộng đồng quốc tế tỏ ra không có tác dụng gì với Iran.
Cựu Giám đốc CIA dưới thời Tổng thống Bush cho rằng bất chấp tất cả, Iran đang tiến dần tới mục tiêu chế tạo vũ khí hạt nhân và Mỹ sẽ buộc phải sử dụng biện pháp phi ngoại giao với Iran.
Những quan điểm như trên đang được nhiều giới chức Mỹ chia sẻ, bởi lúc này Mỹ vẫn coi biện pháp quân sự là một khả năng phải tính đến, trong trường hợp biện pháp ngoại giao và cấm vận không ngăn được Iran chế tạo vũ khí hạt nhân.
(Theo AP, Reuters, CNN)
Bắc Hàn, ‘chiến tranh lạnh’ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc
Một thử thách của chính sách Obama
Việt Nguyên LTS - Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa... do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston.
Từ khi nhậm chức, TT Barrack Obama đã hứa sẽ dựa trên sức mạnh mềm dẻo (soff power) của Hoa Kỳ không thách thức các chánh quyền khác trên thế giới ngay cả những chánh quyền không dân chủ, Hoa Kỳ chỉ yêu cầu các quốc gia tránh bạo động (gồm khủng bố, vũ khí phá hoại hàng loạt, gây hấn với các quốc gia lân bang)
Chánh quyền Obama không dùng chiến thuật cây gậy và củ cà rốt cố hữu của Hoa Kỳ nhưng nhắc nhở “những người bám vào quyền hành bằng sự tham nhũng, đàn áp đối lập chà đạp nhân quyền phải hiểu rằng họ đứng vào vị trí sai trái nhưng chúng ta sẵn sàng dơ tay đón nhận nếu họ chịu từ bỏ không giữ chặt quả đấm”.
Sau hơn một năm cầm quyền, chánh quyền Obama đã bị chỉ trích mạnh mẽ vì không chú trọng đến dân chủ và nhân quyền. Á Châu sẽ là nơi thử thách chánh sách của ông nhất là Bắc Hàn và Việt Nam.

Bắc Hàn, quốc gia bí ẩn và hiếu chiến nhất thế giới ngày nay. (Hình: Song Kyung-Seok-pool/Getty Images) Xã hội Bắc Hàn của “Bác Kim kính yêu”
Bắc Hàn dưới sự lãnh đạo của Kim Chánh Nhật là một quốc gia tuyệt đối theo chế độ Stalin duy nhất còn sót lại trên thế giới hơn cả Cuba. Trẻ em được dậy học kính yêu lãnh tụ ngay từ bé, bài hát vỡ lòng các thiếu nhi của Bác Kim Nhật Thành hát là “Chúng cháu không có gì ghen tị với thế giới”, khẩu hiệu này cũng được dán trên các cổng trường mẫu giáo khắp nước. Chẳng những chỉ có các cháu của bác không ganh tị mà cả nước Bắc Hàn cũng chẳng còn gì để ghen tị, tình trạng giống như Việt Nam thời kỳ đảng CSVN goi là “thời kỳ quá độ xã hội chủ nghĩa” sau 1975.
Năm 1991 sau khi đế quốc Sô Viết xụp đổ, trong nửa thập niên nạn đói lan tràn, kinh tế lệ thuộc vào nền kinh tế xã hội chủ nghĩa chỉ dựa trên Sô Viết và Trung Cộng, số người đói lên đến từ 2 đến 10% dân số. Thực phẩm phân phối theo hộ khẩu, chia theo khẩu phần, nhà máy sản xuất gạo và các kỹ nghệ lớn bị bỏ trống, công nhân bỏ về vùng quê. Đời sống dân chúng bị xáo trộn. Dân sống trong tình trạng lo sợ và khủng hoảng với sự kiểm soát của công an và đảng viên. Những sự thật này được kể lại từ các người tị nạn chạy về Nam Hàn được tả trong các sách của bà Barbara Demick và Kongdan Oh. Thành phần trí thức bị theo dõi, họ bị cấm đọc sách báo ngoại quốc kể cả sách báo Nga viết về cải tổ kinh tế tài chánh theo đường lối tư bản. Các thầy cô trường trung học mỗi ngày nhìn học trò bỏ lớp không đến trường vì chết đói, hoặc thiếu dinh dưỡng. Con các nhà khá giả thì đem thực phẩm hoặc dúi tiền cho thầy cô để họ tiếp tục được học. Trung Quốc trở thành thiên đàng của dân Bắc Hàn. Thiên đàng ấy ngăn cách Bắc Hàn với chiều dài 850 dặm là nơi cung cấp thực phẩm và hàng hóa. Chợ đen phát triển tột bực. Hàng hóa chợ trời đến từ Nam Hàn kể cả phim ảnh, băng nhạc. Những phim được yêu chuộng là Titanic, Con Air, Witness và các “soap opera”. Dân Bắc Hàn xem phim và thèm thuồng đời sống dân Nam Hàn ở “dưới đó” (giống như Bắc Nam VN 1975) nơi mà xe hơi chạy đầy đường. Người lớn đau quặn ruột mỗi lần nghe trẻ con hát “chúng cháu không còn gì để ghen tị thèm muốn trong thế giới này”. Đảng Cộng Sản phải mở chiến dịch thanh tẩy vì xã hội Bắc Hàn bị nhiễm độc vi trùng tư bản, cán bộ và dân xem phim ảnh bị đi tù lao động cải tạo bốn năm, chỉ có chủ tịch Kim Chánh Nhật được xem phim ngoại, dùng đồ xịn nhập cảng cùng với vòng trong gồm các tướng lãnh cao cấp. Chế độ CS nào cũng giả dối như vậy từ Sô viết qua đến Trung Cộng và Việt Cộng!
Dân Bắc Hàn sống trong thời kỳ hậu cách mạng, không tin tức mạng lưới, thông tin bằng loa. Mỗi nhà, mỗi phường, khóm, mỗi cao ốc và cơ sở công cộng đều có loa phóng thanh nối với dây từ trụ sở trung ương. Hệ thống phát thanh này có điểm lợi là người ở ngoài nước không theo dõi được chuyện trong nước.
Nếu dân Miền Nam VN còn nhớ cảnh thê thảm đổi tiền sau ngày 30-4-75 thì cảnh đổi tiền ở Bắc Hàn ngày 30-11-2009 cũng giống như vậy. Loa phóng thanh đi khắp xóm loan bảo đổi tiền, cái tổ tiền tệ không báo trước. Trước khi đồng tiền bị phá giá, 1 Mỹ kim ăn 3500 đồng won ở chợ đen còn giá chính thức là 1 dollar ăn 160 won. Có khu vực dân chỉ biết trước từ trưa đến 5 giờ chiều. Giới hạn mỗi gia đình 30 Mỹ kim. Mục đích đánh phá tư sản mại bản rõ ràng là ăn cắp và tịch thu tiền của dân và các cơ sở tiểu thương. Đảng CS không chấp nhận chợ đen đã giúp dân Bắc Hàn sống sót. Nền kinh tế tiểu thương, tiểu tư sản bị tiêu diệt. Cán bộ cao cấp và gia đình của họ biết trước đổi ra tiền Nguyên (TQ) hay mua hàng hóa ngay cấp kỳ. Tiền ăn cướp của dân sẽ được dùng vào việc xây cất các công trình khách sạn 105 tầng, rạp hát, nhà cửa cho đảng viên kỷ niệm sinh nhật 100 năm của đại lãnh tụ Kim Nhật Thành bố của Kim Chánh Nhật. Kỳ đổi tiền hồi tháng 11, 2009 không phải là lần đổi tiền đầu tiên.
Trong năm năm đã có năm lần đổi tiền. Nhờ số tiền này họ củng cố quyền lực và tài chánh rộng rãi. Dân nổi giận phản ứng bằng cách không đổi tiền hoặc sợ tiền nhiều chính quyền sẽ cho đi học tập họ đổ tiền xuống sông xuống biển, có người chạy xe gắn máy rải tiền khắp trên xa lộ. Sau đó đảng muốn dân nguôi giận, tăng số tiền đổi lên trên 30 Mỹ kim và cũng như các lãnh tụ cộng sản khác từ ông Stalin đến ông Mao đến ông Hồ, Kim Chánh Nhật cũng có máu khôi hài hứa sẽ trả lại tiền cho dân vào năm 2012! Những thương gia, đóng cửa không bán hàng để phản đối bị xử tử hình. Những người nổi giận không chịu đổi tiền đem tiền ra đốt bị xử tử vì đã đốt hình đại lãnh tụ kính yêu Kim Nhật Thành trên đồng won! Đảng Cộng sản chưa bao giờ xin lỗi nhưng lần này Thủ tưởng Kim Yong Il phải ra xin lỗi, sau đó bị mất chức còn ông Giám đốc Kế hoạch Tài chánh của Đảng Iak Nam Gi được đưa ra vận động trường Bình Nhưỡng xử bắn để làm gương vì là “con nhà tiểu tư sản xâm nhập vào cách mạng để phá hoại kinh tế.”
Học được bài học Đông Đức năm 1989, đảng CS Bắc Hàn đối xử dân tị nạn tàn bạo. Hàng trăm ngàn người tị nạn ở Trung Cộng đã trở về nước phần vì TC không nhận sợ dân tị nạn sẽ ùn ùn chạy qua biên giới, phần vì chánh quyền trừng phạt nặng họ hàng của những người tị nạn còn ở lại Bắc Hàn. Dân tị nạn cũng trở về lại Bắc Hàn vì dân Nam Hàn kỳ thị họ là những người lạc hậu. Dân Nam Hàn hài lòng với đời sống của họ từ sau chiến tranh Nam Bắc năm 1953 không tha thiết đến việc thống nhất Bắc Nam, dù kinh tế Bắc Hàn kiệt quệ. Từ tháng 6/2010 giá gạo ở Bắc Hàn là 50 cent Mỹ Kim mỗi ký nhưng đa số dân vẫn không có tiền mua!
Thao diễn quân sự dằn mặt ai ?
Tình trạng quốc gia đang đứng bên bờ vực thẳm như vậy mà Chủ tịch Kim Chánh Nhật vẫn gây hấn. Sau vụ tấn công chiến thuyền Nam hàn Cheonan vào cuối tháng 3/2010 để trả thù cho chiếc thuyền Bắc Hàn bị Nam Hàn bắn ở hải phận Nam Hàn mùa thu 2009, chánh quyền Nam Hàn giận dữ. Tháng Năm ngày 24, chánh quyền Nam Hàn ngưng buôn bán với Bình Nhưỡng ngăn chận thuyền của Bắc Hàn vào hải phận, sẽ trả đũa lại tất cả những vụ xâm nhập trên trời, dưới đất ngoài biển của Bắc Hàn. Bắc Hàn gọi TT Lý Minh Bắc của Nam Hàn là “tên phản bội”, “thằng khốn nạn” và sẽ trả đũa bằng chiến tranh toàn diện. Bắc Hàn sẽ bắn vào các loa phóng thanh tuyên truyền của Nam Hàn ở vùng phi quân sự nhưng chủ tịch Kim Chánh Nhật biến mất vào bóng tối, tình báo Mỹ cho rằng nhà lãnh đạo sợ bị ăn hỏa tiễn hướng dẫn bằng tia Laser của Mỹ và Nam Han.
Vụ xung đột với chiếc tầu Cheonan, bị đánh chìm với 46 thủy thủ chết là vụ xung đột quan trọng khác với những xâm nhập từ trong nhiều thập niên qua với cảm tử quân từ Bắc Hàn. Năm 1968, qua điệp vụ ám sát TT Park Chung He các cảm tử quân đã xâm nhập cách tòa “Nhà Xanh” có vài thước. Bắc Hàn đã bắt cóc dân Nam Hàn, hay nổ máy bay Korean Airlines. Năm ngoái những nhân vật quan trọng của chánh quyền Bắc Hàn đào thoát đã bị ám sát.
Các quan sát viên quân sự lạc quan cho đây là ngày tận cùng của chế độ Cộng sản Bắc Hàn. Vụ xung đột tháng 3, 2010 này khác với những vụ “tống tiền” trước của Bắc Hàn bằng cách thử bom nguyên tử hay phóng hỏa tiễn để Hoa Kỳ viện trợ nhân đạo, chiến thuật của Kim Chánh Nhật người học trò giỏi của Machiavelli trong sách “Quân Vương.” Ngay tháng 4/2010 đã có Hội nghi “Chế độ CS Bắc Hàn sụp đổ, thống nhất bán đảo Triều Tiên” sau biến cố tháng 3/2010.
Có hai lý do ngoài việc ngài chủ tịch “lùn” Kin Chánh Nhật muốn được các đàn anh lớn chú ý. Ngài đang củng cố quyền lực chưa từng thấy trong lịch sử thế giới. Các đảng viên đảng CS Bắc Hàn đang sửa soạn chân dung tân hoàng đế. Hình hoàng tử Kim Chánh Vân (Kim Jong Un), đệ tam hoàng đế sẽ được để cạnh ông nội Kim Nhật Thành, đệ nhất hoàng đế và ông bố Kim Chánh Nhật, đệ nhị hoàng đế (lịch Bắc Hàn mới, tính từ năm sinh của Kim Nhật Thành, năm nay năm thứ 98). Hoàng tử Kim Chánh Vân bí mật hơn bố, sanh ngày 8 tháng 1, có thể là năm 1982 hay 1983, có thể đã đi học Thụy Sĩ, ngoài bức hình mới đứng cạnh ông bố gần đây chỉ có một bức hình duy nhất của cậu năm 11 tuổi. Kim Nhật Thành được gọi là đại lãnh tụ còn Kim Chánh Vân được gọi là “Đại tướng trẻ” hay là “Đồng chí xuất chúng”. Tin đồn nói rằng cậu út Vân đóng vai trò chánh trong vụ đánh chìm chiếc tầu Cheonan ngày 26/3/ 2010. Giống như trong những chuyện Tầu thời Đông Châu Liệt Quốc, chủ tịch Kim Chánh Nhật ốm yếu có thể vì ung thư, tai biến mạch máu não hay bịnh thận đã chuẩn bị cho cậu con thiếu kinh nghiệm bằng cách giao cậu cho quân sư Jang Song Taek, ông anh rể đứng hàng thứ hai, người mà mới đây vào năm ngoái đã bị thanh trừng.
Lý do thứ hai theo B.Q. Myers, nhà lãnh đạo Bắc Hàn theo đuổi chủ thuyết CS nhiệt tình và nghiêm trọng hơn các nước CS Đông Âu thập niên 1950 và 1960. Các nhà ngoại giao Đông Đức ở Bình Nhưỡng đã gởi điện tín về Đông Bá Linh so sánh Bắc Hàn với Đức Quốc Xã, Kim Chánh Nhật cầm quyền dựa trên chủ thuyết Quốc gia Xã hội, bám chặt vào quyền hành, ru ngủ dân Bắc Hàn. Chủ tịch Kim Chánh Nhật luôn luôn gây chấn động để nhắc nhở dân Bắc Hàn rằng dân Nam Hàn có giầu thật đấy nhưng đời sống tinh thần nghèo nàn phải sống dưới sự chỉ đạo của bọn đế quốc Mỹ, một ngày người dân miền Nam sẽ sáng mắt ra và muốn sống dưới sự lãnh đạo anh minh của ngài Kim Chánh Nhật và đạo đức khôn ngoan của dân tộc Hàn Quốc!
Nhà lãnh đạo Kim Chánh Nhật tiếp tục tháu cáy trong bàn cờ thế giới dựa trên những yếu điểm của các quốc gia lân bang. Nam Hàn ngại chương trình bom nguyên tử của Bình Nhưỡng, muốn chương trình nguyên tử chấm dứt qua hiệp ước năm 2005. Trung Cộng không muốn dân tị nạn tràn qua biên giới. Hoa Kỳ với 28,500 quân ở vùng phi quân sự không muốn thấy tổn thất nặng ngoài hai mặt trận Iraq và A Phú Hãn. Lá bài tháu cáy của Kim Chánh Nhật phải dựa vào Trung Cộng, ngay sau vụ Cheonan, Trung Cộng bênh vực Bình Nhưỡng và đã tiếp chủ tịch Kim Chánh Nhật trang trọng ở Bắc Kinh.
Hoa Kỳ phản ứng mạnh, chánh sách 3D (Diplomacy, Development, Defense) thực hiện rõ ràng qua Ngoại trưởng Hillary Clinton (ngoại giao, phát triển) sánh vai với Bộ trưởng Quốc phòng (defense) Robert Gates qua buổi hội nghị ASEAN và chuyến viếng thăm vùng phi quân sự. Chiến tranh lạnh thứ hai đang xẩy ra như khi Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc giận dữ lên tiếng chống đối Hoa Kỳ tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan và ông Gates đã nhìn nhận sự bành trướng của Trung Cộng ở Nam Hải qua cuộc tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa ở Hội nghị quân sự 28 nước Á Châu Thái Bình Dương, Hoa Kỳ và Trung Quốc vẫn có những giá trị và mục đích khác nhau, lần này sự xung dột trầm trọng hơn là năm đầu của chính quyền Bush qua vụ phi cơ thám thính Hoa Kỳ bị bắn rơi ở đảo Hải Nam.
Cuộc thao diễn quân sự ở Hoàng Hải giữa Hoa Kỳ và Nam Hàn với Hàng không Mẫu hạm 97.000 tấn George Washington 20 chiến thuyền và 200 chiến đấu cơ có mục đích dằn mặt Trung Cộng hơn là Bắc Hàn đàn em của Trung Cộng.
Chánh quyền Obama gần đây đã đổi giọng cũng như “viễn kiến” từ sau khi Trung Cộng gia tăng chi phí quốc phòng, đóng Hàng không mẫu hạm và dương oai ở biển Đông. Với cùng một Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates thời ông Bush, chính quyền Obama bắt đầu dùng lại chính sách của chính quyền Bush và cuộc thao diễn quân sự của Hoa Kỳ trên Hoàng Hải cũng giống như những chuyện tiểu thuyết quân sự của Tom Clancy với Robert D. Kaplan là đạo diễn.
Từ năm 2005, Hoa Kỳ đã phải suy nghĩ để đối phó với Trung Cộng trên Thái Bình Dương. Chính quyền Obama không còn gọi Bắc Hàn và Iran là “trục quỷ” nhưng trên thực tế với Trung Cộng và Nga đứng đằng sau dùng các nước có khả năng nguyên tử để bẻ tay Hoa Kỳ thì chính quyền Obama phải đối đầu với chiến tranh lạnh mới.
Về mặt Hải chiến, Trung cộng có lợi điểm hơn Hoa Kỳ về địa thế mặc dù yếu hơn Hoa Kỳ về kỹ thuật quân sự. Nam Hải và Hoàng Hải gần TC hơn. Trong những năm gần đây, trong khi Hoa Kỳ bận tay với chiến tranh chống khủng bố, TC đã lợi dụng yếu điểm này để bành trướng thế lực bằng “sức mạnh mềm dẻo” qua việc viện trợ kinh tế và ngoại giao, lấy lòng các nước láng giềng, tăng gia mậu dịch. Hoa Kỳ đã để yên cho TC xây Hàng không Mẫu hạm Trịnh Hòa, gia tăng chi phí quân sự mặc dù Hải quân và Không quân TC còn thua xa Hoa Kỳ nhiều thập niên nhưng những hành động thách thức của TC đã khiến Hoa Kỳ phải nghĩ lại.
Bộ chỉ huy Thái Bình Dương PACOM đã giữ lại được căn cứ quân sự ở Nhật với căn cứ Singapore phục vụ cho cách Hàng không Mẫu hạm, nhắm đến căn cứ huấn luyện Brunei, phi vụ tập trận với Ấn Độ, thao diễn ở Thái Lan và dùng căn cứ huấn luyện ở Bắc Úc Đại Lợi nhưng căn cứ đảo Guam vùng Bắc là tương lai chiến lược của Hoa Kỳ ở TBD với B52, C17 Globemasters, F/A 18 Hornets, EZ Hawkeye, Guam còn là căn cứ của Tiềm thủy đỉnh, Guam nằm gần Trung Quốc cho nên Hoa Kỳ lúc sau này không còn tha thiết lắm với Cam Ranh. Mặc dù Trung Quốc tăng gia Hải quân nhưng Hoa Kỳ vẫn trên chân với các chiến hạm tổng cộng trên 2.86 triệu tấn (tất cả chiến thuyền thế giới cộng lại độ 3.04 triệu tấn). Các chiến thuyền TC tổng cộng có 263,064 tấn. Hoa Kỳ có thể chuyển 24 Hàng không Mẫu hạm trong số 34 HKMH trên thế giới. TC chỉ mới có một đang xây cất. Trung Cộng chỉ có thể thắng Hoa Kỳ bằng chiến thuật du kích với tiềm thủy đỉnh và thủy lôi cùng với hỏa tiễn đây là điều Hoa Kỳ đã nghi ngơ cậu Kim Chánh Vân dùng tiềm thủy đỉnh và thủy lôi đánh du kích chiến thuyền Cheonan.
Những cú đánh du kích của Trung Cộng bằng hỏa tiễn vào HKMH Hoa Kỳ sẽ có hậu quả như Al Qaeda tấn công Twin Towers ngày 11/09/01. Chiến tranh lạnh giữa Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn trên Thái Bình Dương có ảnh hưởng đến các quốc gia trong vùng vì vậy TC đã cực lực phản đối cuộc thao diễn quân sự của Hoa kỳ và Nam Hàn.
Ngoại trưởng Hillary Clinton đến Hà Nội dự hội nghị ASEAN, đã mang lại tín hiệu chánh sách của TT Obama “tăng trưởng kinh tế, tăng gia mậu dịch, không xây dựng quốc gia (National builder) nhưng liệu chính phủ Obama có mua được Bình Nhưỡng như Hoa Kỳ đã mua chánh quyền Cộng sản Hà Nội để họ tiếp tục tham nhũng?
Việt Nguyên
Một thử thách của chính sách Obama
Việt Nguyên LTS - Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa... do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston.
Từ khi nhậm chức, TT Barrack Obama đã hứa sẽ dựa trên sức mạnh mềm dẻo (soff power) của Hoa Kỳ không thách thức các chánh quyền khác trên thế giới ngay cả những chánh quyền không dân chủ, Hoa Kỳ chỉ yêu cầu các quốc gia tránh bạo động (gồm khủng bố, vũ khí phá hoại hàng loạt, gây hấn với các quốc gia lân bang)
Chánh quyền Obama không dùng chiến thuật cây gậy và củ cà rốt cố hữu của Hoa Kỳ nhưng nhắc nhở “những người bám vào quyền hành bằng sự tham nhũng, đàn áp đối lập chà đạp nhân quyền phải hiểu rằng họ đứng vào vị trí sai trái nhưng chúng ta sẵn sàng dơ tay đón nhận nếu họ chịu từ bỏ không giữ chặt quả đấm”.
Sau hơn một năm cầm quyền, chánh quyền Obama đã bị chỉ trích mạnh mẽ vì không chú trọng đến dân chủ và nhân quyền. Á Châu sẽ là nơi thử thách chánh sách của ông nhất là Bắc Hàn và Việt Nam.

Bắc Hàn, quốc gia bí ẩn và hiếu chiến nhất thế giới ngày nay. (Hình: Song Kyung-Seok-pool/Getty Images) Xã hội Bắc Hàn của “Bác Kim kính yêu”
Bắc Hàn dưới sự lãnh đạo của Kim Chánh Nhật là một quốc gia tuyệt đối theo chế độ Stalin duy nhất còn sót lại trên thế giới hơn cả Cuba. Trẻ em được dậy học kính yêu lãnh tụ ngay từ bé, bài hát vỡ lòng các thiếu nhi của Bác Kim Nhật Thành hát là “Chúng cháu không có gì ghen tị với thế giới”, khẩu hiệu này cũng được dán trên các cổng trường mẫu giáo khắp nước. Chẳng những chỉ có các cháu của bác không ganh tị mà cả nước Bắc Hàn cũng chẳng còn gì để ghen tị, tình trạng giống như Việt Nam thời kỳ đảng CSVN goi là “thời kỳ quá độ xã hội chủ nghĩa” sau 1975.
Năm 1991 sau khi đế quốc Sô Viết xụp đổ, trong nửa thập niên nạn đói lan tràn, kinh tế lệ thuộc vào nền kinh tế xã hội chủ nghĩa chỉ dựa trên Sô Viết và Trung Cộng, số người đói lên đến từ 2 đến 10% dân số. Thực phẩm phân phối theo hộ khẩu, chia theo khẩu phần, nhà máy sản xuất gạo và các kỹ nghệ lớn bị bỏ trống, công nhân bỏ về vùng quê. Đời sống dân chúng bị xáo trộn. Dân sống trong tình trạng lo sợ và khủng hoảng với sự kiểm soát của công an và đảng viên. Những sự thật này được kể lại từ các người tị nạn chạy về Nam Hàn được tả trong các sách của bà Barbara Demick và Kongdan Oh. Thành phần trí thức bị theo dõi, họ bị cấm đọc sách báo ngoại quốc kể cả sách báo Nga viết về cải tổ kinh tế tài chánh theo đường lối tư bản. Các thầy cô trường trung học mỗi ngày nhìn học trò bỏ lớp không đến trường vì chết đói, hoặc thiếu dinh dưỡng. Con các nhà khá giả thì đem thực phẩm hoặc dúi tiền cho thầy cô để họ tiếp tục được học. Trung Quốc trở thành thiên đàng của dân Bắc Hàn. Thiên đàng ấy ngăn cách Bắc Hàn với chiều dài 850 dặm là nơi cung cấp thực phẩm và hàng hóa. Chợ đen phát triển tột bực. Hàng hóa chợ trời đến từ Nam Hàn kể cả phim ảnh, băng nhạc. Những phim được yêu chuộng là Titanic, Con Air, Witness và các “soap opera”. Dân Bắc Hàn xem phim và thèm thuồng đời sống dân Nam Hàn ở “dưới đó” (giống như Bắc Nam VN 1975) nơi mà xe hơi chạy đầy đường. Người lớn đau quặn ruột mỗi lần nghe trẻ con hát “chúng cháu không còn gì để ghen tị thèm muốn trong thế giới này”. Đảng Cộng Sản phải mở chiến dịch thanh tẩy vì xã hội Bắc Hàn bị nhiễm độc vi trùng tư bản, cán bộ và dân xem phim ảnh bị đi tù lao động cải tạo bốn năm, chỉ có chủ tịch Kim Chánh Nhật được xem phim ngoại, dùng đồ xịn nhập cảng cùng với vòng trong gồm các tướng lãnh cao cấp. Chế độ CS nào cũng giả dối như vậy từ Sô viết qua đến Trung Cộng và Việt Cộng!
Dân Bắc Hàn sống trong thời kỳ hậu cách mạng, không tin tức mạng lưới, thông tin bằng loa. Mỗi nhà, mỗi phường, khóm, mỗi cao ốc và cơ sở công cộng đều có loa phóng thanh nối với dây từ trụ sở trung ương. Hệ thống phát thanh này có điểm lợi là người ở ngoài nước không theo dõi được chuyện trong nước.
Nếu dân Miền Nam VN còn nhớ cảnh thê thảm đổi tiền sau ngày 30-4-75 thì cảnh đổi tiền ở Bắc Hàn ngày 30-11-2009 cũng giống như vậy. Loa phóng thanh đi khắp xóm loan bảo đổi tiền, cái tổ tiền tệ không báo trước. Trước khi đồng tiền bị phá giá, 1 Mỹ kim ăn 3500 đồng won ở chợ đen còn giá chính thức là 1 dollar ăn 160 won. Có khu vực dân chỉ biết trước từ trưa đến 5 giờ chiều. Giới hạn mỗi gia đình 30 Mỹ kim. Mục đích đánh phá tư sản mại bản rõ ràng là ăn cắp và tịch thu tiền của dân và các cơ sở tiểu thương. Đảng CS không chấp nhận chợ đen đã giúp dân Bắc Hàn sống sót. Nền kinh tế tiểu thương, tiểu tư sản bị tiêu diệt. Cán bộ cao cấp và gia đình của họ biết trước đổi ra tiền Nguyên (TQ) hay mua hàng hóa ngay cấp kỳ. Tiền ăn cướp của dân sẽ được dùng vào việc xây cất các công trình khách sạn 105 tầng, rạp hát, nhà cửa cho đảng viên kỷ niệm sinh nhật 100 năm của đại lãnh tụ Kim Nhật Thành bố của Kim Chánh Nhật. Kỳ đổi tiền hồi tháng 11, 2009 không phải là lần đổi tiền đầu tiên.
Trong năm năm đã có năm lần đổi tiền. Nhờ số tiền này họ củng cố quyền lực và tài chánh rộng rãi. Dân nổi giận phản ứng bằng cách không đổi tiền hoặc sợ tiền nhiều chính quyền sẽ cho đi học tập họ đổ tiền xuống sông xuống biển, có người chạy xe gắn máy rải tiền khắp trên xa lộ. Sau đó đảng muốn dân nguôi giận, tăng số tiền đổi lên trên 30 Mỹ kim và cũng như các lãnh tụ cộng sản khác từ ông Stalin đến ông Mao đến ông Hồ, Kim Chánh Nhật cũng có máu khôi hài hứa sẽ trả lại tiền cho dân vào năm 2012! Những thương gia, đóng cửa không bán hàng để phản đối bị xử tử hình. Những người nổi giận không chịu đổi tiền đem tiền ra đốt bị xử tử vì đã đốt hình đại lãnh tụ kính yêu Kim Nhật Thành trên đồng won! Đảng Cộng sản chưa bao giờ xin lỗi nhưng lần này Thủ tưởng Kim Yong Il phải ra xin lỗi, sau đó bị mất chức còn ông Giám đốc Kế hoạch Tài chánh của Đảng Iak Nam Gi được đưa ra vận động trường Bình Nhưỡng xử bắn để làm gương vì là “con nhà tiểu tư sản xâm nhập vào cách mạng để phá hoại kinh tế.”
Học được bài học Đông Đức năm 1989, đảng CS Bắc Hàn đối xử dân tị nạn tàn bạo. Hàng trăm ngàn người tị nạn ở Trung Cộng đã trở về nước phần vì TC không nhận sợ dân tị nạn sẽ ùn ùn chạy qua biên giới, phần vì chánh quyền trừng phạt nặng họ hàng của những người tị nạn còn ở lại Bắc Hàn. Dân tị nạn cũng trở về lại Bắc Hàn vì dân Nam Hàn kỳ thị họ là những người lạc hậu. Dân Nam Hàn hài lòng với đời sống của họ từ sau chiến tranh Nam Bắc năm 1953 không tha thiết đến việc thống nhất Bắc Nam, dù kinh tế Bắc Hàn kiệt quệ. Từ tháng 6/2010 giá gạo ở Bắc Hàn là 50 cent Mỹ Kim mỗi ký nhưng đa số dân vẫn không có tiền mua!
Thao diễn quân sự dằn mặt ai ?
Tình trạng quốc gia đang đứng bên bờ vực thẳm như vậy mà Chủ tịch Kim Chánh Nhật vẫn gây hấn. Sau vụ tấn công chiến thuyền Nam hàn Cheonan vào cuối tháng 3/2010 để trả thù cho chiếc thuyền Bắc Hàn bị Nam Hàn bắn ở hải phận Nam Hàn mùa thu 2009, chánh quyền Nam Hàn giận dữ. Tháng Năm ngày 24, chánh quyền Nam Hàn ngưng buôn bán với Bình Nhưỡng ngăn chận thuyền của Bắc Hàn vào hải phận, sẽ trả đũa lại tất cả những vụ xâm nhập trên trời, dưới đất ngoài biển của Bắc Hàn. Bắc Hàn gọi TT Lý Minh Bắc của Nam Hàn là “tên phản bội”, “thằng khốn nạn” và sẽ trả đũa bằng chiến tranh toàn diện. Bắc Hàn sẽ bắn vào các loa phóng thanh tuyên truyền của Nam Hàn ở vùng phi quân sự nhưng chủ tịch Kim Chánh Nhật biến mất vào bóng tối, tình báo Mỹ cho rằng nhà lãnh đạo sợ bị ăn hỏa tiễn hướng dẫn bằng tia Laser của Mỹ và Nam Han.
Vụ xung đột với chiếc tầu Cheonan, bị đánh chìm với 46 thủy thủ chết là vụ xung đột quan trọng khác với những xâm nhập từ trong nhiều thập niên qua với cảm tử quân từ Bắc Hàn. Năm 1968, qua điệp vụ ám sát TT Park Chung He các cảm tử quân đã xâm nhập cách tòa “Nhà Xanh” có vài thước. Bắc Hàn đã bắt cóc dân Nam Hàn, hay nổ máy bay Korean Airlines. Năm ngoái những nhân vật quan trọng của chánh quyền Bắc Hàn đào thoát đã bị ám sát.
Các quan sát viên quân sự lạc quan cho đây là ngày tận cùng của chế độ Cộng sản Bắc Hàn. Vụ xung đột tháng 3, 2010 này khác với những vụ “tống tiền” trước của Bắc Hàn bằng cách thử bom nguyên tử hay phóng hỏa tiễn để Hoa Kỳ viện trợ nhân đạo, chiến thuật của Kim Chánh Nhật người học trò giỏi của Machiavelli trong sách “Quân Vương.” Ngay tháng 4/2010 đã có Hội nghi “Chế độ CS Bắc Hàn sụp đổ, thống nhất bán đảo Triều Tiên” sau biến cố tháng 3/2010.
Có hai lý do ngoài việc ngài chủ tịch “lùn” Kin Chánh Nhật muốn được các đàn anh lớn chú ý. Ngài đang củng cố quyền lực chưa từng thấy trong lịch sử thế giới. Các đảng viên đảng CS Bắc Hàn đang sửa soạn chân dung tân hoàng đế. Hình hoàng tử Kim Chánh Vân (Kim Jong Un), đệ tam hoàng đế sẽ được để cạnh ông nội Kim Nhật Thành, đệ nhất hoàng đế và ông bố Kim Chánh Nhật, đệ nhị hoàng đế (lịch Bắc Hàn mới, tính từ năm sinh của Kim Nhật Thành, năm nay năm thứ 98). Hoàng tử Kim Chánh Vân bí mật hơn bố, sanh ngày 8 tháng 1, có thể là năm 1982 hay 1983, có thể đã đi học Thụy Sĩ, ngoài bức hình mới đứng cạnh ông bố gần đây chỉ có một bức hình duy nhất của cậu năm 11 tuổi. Kim Nhật Thành được gọi là đại lãnh tụ còn Kim Chánh Vân được gọi là “Đại tướng trẻ” hay là “Đồng chí xuất chúng”. Tin đồn nói rằng cậu út Vân đóng vai trò chánh trong vụ đánh chìm chiếc tầu Cheonan ngày 26/3/ 2010. Giống như trong những chuyện Tầu thời Đông Châu Liệt Quốc, chủ tịch Kim Chánh Nhật ốm yếu có thể vì ung thư, tai biến mạch máu não hay bịnh thận đã chuẩn bị cho cậu con thiếu kinh nghiệm bằng cách giao cậu cho quân sư Jang Song Taek, ông anh rể đứng hàng thứ hai, người mà mới đây vào năm ngoái đã bị thanh trừng.
Lý do thứ hai theo B.Q. Myers, nhà lãnh đạo Bắc Hàn theo đuổi chủ thuyết CS nhiệt tình và nghiêm trọng hơn các nước CS Đông Âu thập niên 1950 và 1960. Các nhà ngoại giao Đông Đức ở Bình Nhưỡng đã gởi điện tín về Đông Bá Linh so sánh Bắc Hàn với Đức Quốc Xã, Kim Chánh Nhật cầm quyền dựa trên chủ thuyết Quốc gia Xã hội, bám chặt vào quyền hành, ru ngủ dân Bắc Hàn. Chủ tịch Kim Chánh Nhật luôn luôn gây chấn động để nhắc nhở dân Bắc Hàn rằng dân Nam Hàn có giầu thật đấy nhưng đời sống tinh thần nghèo nàn phải sống dưới sự chỉ đạo của bọn đế quốc Mỹ, một ngày người dân miền Nam sẽ sáng mắt ra và muốn sống dưới sự lãnh đạo anh minh của ngài Kim Chánh Nhật và đạo đức khôn ngoan của dân tộc Hàn Quốc!
Nhà lãnh đạo Kim Chánh Nhật tiếp tục tháu cáy trong bàn cờ thế giới dựa trên những yếu điểm của các quốc gia lân bang. Nam Hàn ngại chương trình bom nguyên tử của Bình Nhưỡng, muốn chương trình nguyên tử chấm dứt qua hiệp ước năm 2005. Trung Cộng không muốn dân tị nạn tràn qua biên giới. Hoa Kỳ với 28,500 quân ở vùng phi quân sự không muốn thấy tổn thất nặng ngoài hai mặt trận Iraq và A Phú Hãn. Lá bài tháu cáy của Kim Chánh Nhật phải dựa vào Trung Cộng, ngay sau vụ Cheonan, Trung Cộng bênh vực Bình Nhưỡng và đã tiếp chủ tịch Kim Chánh Nhật trang trọng ở Bắc Kinh.
Hoa Kỳ phản ứng mạnh, chánh sách 3D (Diplomacy, Development, Defense) thực hiện rõ ràng qua Ngoại trưởng Hillary Clinton (ngoại giao, phát triển) sánh vai với Bộ trưởng Quốc phòng (defense) Robert Gates qua buổi hội nghị ASEAN và chuyến viếng thăm vùng phi quân sự. Chiến tranh lạnh thứ hai đang xẩy ra như khi Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc giận dữ lên tiếng chống đối Hoa Kỳ tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan và ông Gates đã nhìn nhận sự bành trướng của Trung Cộng ở Nam Hải qua cuộc tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa ở Hội nghị quân sự 28 nước Á Châu Thái Bình Dương, Hoa Kỳ và Trung Quốc vẫn có những giá trị và mục đích khác nhau, lần này sự xung dột trầm trọng hơn là năm đầu của chính quyền Bush qua vụ phi cơ thám thính Hoa Kỳ bị bắn rơi ở đảo Hải Nam.
Cuộc thao diễn quân sự ở Hoàng Hải giữa Hoa Kỳ và Nam Hàn với Hàng không Mẫu hạm 97.000 tấn George Washington 20 chiến thuyền và 200 chiến đấu cơ có mục đích dằn mặt Trung Cộng hơn là Bắc Hàn đàn em của Trung Cộng.
Chánh quyền Obama gần đây đã đổi giọng cũng như “viễn kiến” từ sau khi Trung Cộng gia tăng chi phí quốc phòng, đóng Hàng không mẫu hạm và dương oai ở biển Đông. Với cùng một Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates thời ông Bush, chính quyền Obama bắt đầu dùng lại chính sách của chính quyền Bush và cuộc thao diễn quân sự của Hoa Kỳ trên Hoàng Hải cũng giống như những chuyện tiểu thuyết quân sự của Tom Clancy với Robert D. Kaplan là đạo diễn.
Từ năm 2005, Hoa Kỳ đã phải suy nghĩ để đối phó với Trung Cộng trên Thái Bình Dương. Chính quyền Obama không còn gọi Bắc Hàn và Iran là “trục quỷ” nhưng trên thực tế với Trung Cộng và Nga đứng đằng sau dùng các nước có khả năng nguyên tử để bẻ tay Hoa Kỳ thì chính quyền Obama phải đối đầu với chiến tranh lạnh mới.
Về mặt Hải chiến, Trung cộng có lợi điểm hơn Hoa Kỳ về địa thế mặc dù yếu hơn Hoa Kỳ về kỹ thuật quân sự. Nam Hải và Hoàng Hải gần TC hơn. Trong những năm gần đây, trong khi Hoa Kỳ bận tay với chiến tranh chống khủng bố, TC đã lợi dụng yếu điểm này để bành trướng thế lực bằng “sức mạnh mềm dẻo” qua việc viện trợ kinh tế và ngoại giao, lấy lòng các nước láng giềng, tăng gia mậu dịch. Hoa Kỳ đã để yên cho TC xây Hàng không Mẫu hạm Trịnh Hòa, gia tăng chi phí quân sự mặc dù Hải quân và Không quân TC còn thua xa Hoa Kỳ nhiều thập niên nhưng những hành động thách thức của TC đã khiến Hoa Kỳ phải nghĩ lại.
Bộ chỉ huy Thái Bình Dương PACOM đã giữ lại được căn cứ quân sự ở Nhật với căn cứ Singapore phục vụ cho cách Hàng không Mẫu hạm, nhắm đến căn cứ huấn luyện Brunei, phi vụ tập trận với Ấn Độ, thao diễn ở Thái Lan và dùng căn cứ huấn luyện ở Bắc Úc Đại Lợi nhưng căn cứ đảo Guam vùng Bắc là tương lai chiến lược của Hoa Kỳ ở TBD với B52, C17 Globemasters, F/A 18 Hornets, EZ Hawkeye, Guam còn là căn cứ của Tiềm thủy đỉnh, Guam nằm gần Trung Quốc cho nên Hoa Kỳ lúc sau này không còn tha thiết lắm với Cam Ranh. Mặc dù Trung Quốc tăng gia Hải quân nhưng Hoa Kỳ vẫn trên chân với các chiến hạm tổng cộng trên 2.86 triệu tấn (tất cả chiến thuyền thế giới cộng lại độ 3.04 triệu tấn). Các chiến thuyền TC tổng cộng có 263,064 tấn. Hoa Kỳ có thể chuyển 24 Hàng không Mẫu hạm trong số 34 HKMH trên thế giới. TC chỉ mới có một đang xây cất. Trung Cộng chỉ có thể thắng Hoa Kỳ bằng chiến thuật du kích với tiềm thủy đỉnh và thủy lôi cùng với hỏa tiễn đây là điều Hoa Kỳ đã nghi ngơ cậu Kim Chánh Vân dùng tiềm thủy đỉnh và thủy lôi đánh du kích chiến thuyền Cheonan.
Những cú đánh du kích của Trung Cộng bằng hỏa tiễn vào HKMH Hoa Kỳ sẽ có hậu quả như Al Qaeda tấn công Twin Towers ngày 11/09/01. Chiến tranh lạnh giữa Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn trên Thái Bình Dương có ảnh hưởng đến các quốc gia trong vùng vì vậy TC đã cực lực phản đối cuộc thao diễn quân sự của Hoa kỳ và Nam Hàn.
Ngoại trưởng Hillary Clinton đến Hà Nội dự hội nghị ASEAN, đã mang lại tín hiệu chánh sách của TT Obama “tăng trưởng kinh tế, tăng gia mậu dịch, không xây dựng quốc gia (National builder) nhưng liệu chính phủ Obama có mua được Bình Nhưỡng như Hoa Kỳ đã mua chánh quyền Cộng sản Hà Nội để họ tiếp tục tham nhũng?
Việt Nguyên
80 năm tuyên giáo, 80 năm dối gian
Phạm Trần
Kinh nghiệm sống chung với người Cộng Sản Việt Nam cho thấy nếu muốn được yên thân thì không nên có thái độ với nhà nước; khi cán bộ tuyên truyền thì cứ banh tai ra mà nghe, chớ có cãi mà mang họa vào thân, mặc dù Hiến Pháp năm 1992 đã nói rõ trong Ðiều 2: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.”

Một phụ nữ buôn ruột xe gắn máy trên đường phố Hà Nội năm 2003, 17 năm sau khi chính sách “Ðổi Mới” ra đời tại CS Việt Nam. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images) Quyền này còn được tái khẳng định ở Ðiều 3: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân; xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.”
Nhưng đảng và nhà nước đã chứng minh từ năm này qua năm khác chỉ giỏi nói mà không muốn làm hoặc không bao giờ làm nên trong dân gian mới có câu: “Nói vậy mà không phải vậy,” hoặc có người còn nhắc lại cả câu nói của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của miền Nam trước 1975 rằng: “Ðừng tin những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm.”
Hậu quả của sự sợ hãi không dám lên tiếng với nhà nước của người dân đã phơi ra mặt thật của một nhà nước độc tài nên giữa nhà nước và người dân không có sự đồng thuận trên nhiều phương diện, nhất là về mặt chính sách và đường lối. Hơn nữa Ðảng CSVN lại là tổ chức chính trị duy nhất cầm quyền không do dân bỏ phiếu bầu lên nhưng lại tự ý cho mình có quyền quyết định mọi việc rồi bắt dân phải làm theo nên nhiều khi dân đã bỏ mặc thây cho đảng muốn làm gì thì làm.
Ðến khi làm ăn thua lỗ, kế hoạch hỏng thì đảng và nhà nước mới chịu sửa sai, nhưng đồng tiền mồ hôi, nước mắt của dân đã tan theo mây khói. Những cán bộ trách nhiệm trong các vụ việc này đáng lẽ phải bị trừng phạt thì lại chỉ bị thay chỗ, đổi ngôi, ngoại trừ các vụ tày đình không còn che giấu được mắt dân.
Như vậy nếu lấy việc nhỏ suy ra việc lớn, cả thành công lẫn thất bại, thì mọi việc của đảng và nhà nước đều do đám cán bộ làm công tác tuyên truyền của đảng chủ động cả, nhất là những việc thay trắng, đổi đen và xuyên tạc lịch sử.
Công tác này đã diễn ra từ 80 năm qua, bắt đầu với Ban Cổ Ðộng và Tuyên Truyền ra đời ngày 1 tháng 8, 1930, với tập tài liệu “Ngày quốc tế đỏ 1/8” nhân dịp kỷ niệm ngày quốc tế đấu tranh chống chiến tranh đế quốc, bảo vệ hòa bình, bảo vệ Liên Bang Xô-Viết, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, kêu gọi binh lính đoàn kết với nhân dân, hưởng ứng cuộc đấu tranh chống chiến tranh đế quốc. Từ đó, ngày 1 tháng 8 trở thành một cái mốc lớn trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của đảng, gắn liền với sự ra đời của một tài liệu lịch sử quý giá, đánh dấu một hoạt động rất có ý nghĩa trong công tác tuyên giáo của đảng.” (Theo: Minh Hải, Ban Tuyên Giáo Trung Ương)
Tổ chức này sau đổi thành Ban Tư Tưởng-Văn Hóa Trung Ương. Ðến năm 2007, ban này và Ban Khoa Giáo Trung Ương hợp nhất thành Ban Tuyên Giáo Trung Ương để tiếp tục làm công tác tuyên truyền và giáo dục chính trị trong đảng.
Sau quyết định này, Ban Bí Thư Trung Ương Ðảng (khóa X) ra quyết định lấy ngày 1 tháng 8 hằng năm làm Ngày Truyền Thống Công Tác Tuyên Giáo.
Năm nay (2010), việc tổ chức kỷ niệm được tập trung vào công tác kiểm điểm lại những việc đã làm được và còn thiếu sót của công tác tuyên giáo trong 80 năm qua, trong đó có điều được gọi là “Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và “tổ chức hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.”
Tuyệt nhiên không thấy những người cầm đầu ngành tuyên truyền cũ và mới đả động gì đến những tội ác chiến tranh của cơ quan (tuyên giáo) này.
Nếu có thì giờ tính sổ từ cái ngày được gọi là Cuộc Cách Mạng Mùa Thu 1945 cho đến khi cuộc chiến huynh đệ tương tàn chấm dứt ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì không biết ngành tuyên truyền đã mắc cơ man nào vụ “nợ máu” với nhân dân hai miền Nam-Bắc Việt Nam.
Lịch sử đau thương của dân tộc vẫn còn đó và vô số nạn nhân của người cộng sản vẫn còn sống ở trong và ngoài nước. Những người này đã viết lại lịch sử bằng chính máu và nước mắt của họ.
Xin kể ra đây một số chuyện đau thương nổi bật nhất:
1. Cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc từ 1953 đến 1956 đã có mấy chục ngàn dân chết oan và mất tích, kể cả những người đã cưu mang Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng, Võ Nguyên Giáp v.v...
2. Cuộc chiến xâm lăng miền Nam Việt Nam của đảng CSVN từ 1960 đến 1975 đã thiêu đốt bao nhiêu triệu sinh linh con người Việt Nam ở cả hai miền đất nước, trong đó có hàng trăm ngàn thanh niên, thiếu nữ tuấn tú của miền Bắc đã bị tuyên truyền lừa bịp lao đầu vào cuộc chiến thiêu thân dưới danh nghĩa ngụy tạo “Giải phóng miền Nam”?
3. Liệu đảng CSVN có rửa được vết nhơ trong vụ tấn công Tết Mậu Thân 1968 ở miền Nam Việt Nam với vụ thảm sát trên 7,000 thường dân và viên chức vô tội mà bộ máy tuyên truyền của đảng CSVN đã vu oan cáo vạ cho họ là những “kẻ có nợ máu với nhân dân”?
4. Vụ ép buộc và đánh lừa hàng trăm ngàn quân-cán-chính Việt Nam Cộng Hòa đem tập trung vào các trại lao động dưới danh nghĩa ngụy danh cải tạo để đày đọa và hành hạ trả thù làm cho không biết bao nhiêu người chết mất xác nơi rừng thiêng, nước độc từ Nam ra Bắc sau 1975 có che giấu được tội ác của “những kẻ chiến thắng” không?
5. Chiến dịch tuyên truyền đánh tư sản mại bản sau khi người cộng sản chiếm được miền Nam năm 1975 và đẩy dân thành phố và vợ con binh lính và viên chức Việt Nam Cộng Hòa đi “vùng kinh tế mới” đã đưa đến phong trào người dân miền Nam liều chết vượt biển và vượt biên giới ra đi bằng đường bộ qua Cao Miên và Thái Lan. Mấy chục ngàn vong hồn những người dân Việt chết trên Biển Ðông và trong tay quân Khmer đỏ đâu biết rằng họ đã bị guồng máy tuyên truyền của CSVN xuyên tạc, mạ lỵ khi bỏ nước ra đi?
6. Bây giờ sau 24 năm gọi là “đổi mới” từ 1986, ngành tuyên truyền đã bôi son vẽ phấn cho chế độ đến mức nào để che giấu những thảm cảnh mà đảng đã gây ra cho người dân trong đời sống hàng ngày từ kinh tế, văn hóa đến giáo dục, chính trị và xã hội?
Nếu phải kể ra thì có hàng nghìn trang giấy cũng không ghi hết, vì ai cũng thấy công bằng xã hội chỉ có cho những ai biết xin-cho, các quyền tự do quy định trong Hiến Pháp cũng vậy. Bất công xã hội, hố ngăn cách giàu-nghèo giữa thành phố và nông thôn, giữa người ít học, không có cơ hội, không biết ra luồn vào cúi, không quen gọi dạ bảo vâng, làm đầy tớ ngoại bang càng ngày càng lan rộng, ăn sâu trong mọi góc cạnh của xã hội.
Tệ nạn tham nhũng, lãng phí, cường quyền, quan liêu, mất phẩm chất, vô đạo đức của vô số cán bộ, đảng viên nhất là những kẻ có chức, có quyền tiếp tục chồng lên như núi.
Nạn kỳ thị địa phương, phân hóa, chia rẽ dân tộc giữa kẻ chiến thắng và người bại trận vẫn còn sờ sờ ra đó mà ngành tuyên truyền thì luôn luôn phô trương cho những thành tích chỉ có giá trị trên giấy tờ trong khi trên thực tế lại đen thui như mõm chó mực!
Cán bộ ngành Tuyên Giáo hãy tự hỏi xem tiền bạc đâu mà trong xã hội ngày nay, có con cán bộ được đi nước ngoài học tốn vài chục ngàn dollars một năm trong khi hàng trăm ngàn trẻ em ở vùng đồng bằng Cửu Long và ở các vùng xa, vùng cao lại không được cắp sách đến trường?
Và do đâu có cán bộ không một ngày cắp sách đến trường mà vẫn có bằng Cử nhân, Tiến sĩ để thăng quan tiến chức? Có những bữa tiệc cán bộ phung phí 5 ngàn dollars trong khi nhiều người dân vẫn bữa đói, bữa no?
Tất cả những tỉ dụ nêu trên có phải là bằng chứng tốt đẹp của chế độ hiện nay không, hay đó là những chuyện bịa đặt của “các thế lực thù địch,” của “diễn biến hòa bình” và của “những kẻ nội thù” đang cấu kết với nhau để gây chia rẽ, xuyên tạc đảng và nhà nước và làm cho đảng “tự chuyển hóa,” “tự chuyển biến” đến nguy cơ tiêu tan?
Nhưng có lẽ cán bộ ngành Tuyên Giáo vẫn như bị quáng gà trước đồng tiền và danh vọng nên trong bài phát biểu tại đại hội Ðảng bộ cơ quan Ban Tuyên Giáo Trung Ương lần thứ II nhiệm kỳ 2010-2015 ngày 21 tháng 7 (2010) vừa qua, Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính Trị, trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương đã chỉ thị cán bộ phải: “Không ngừng phấn đấu, rèn luyện, có bản lĩnh chính trị vững vàng, gương mẫu, đoàn kết, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của đảng, có tinh thần trách nhiệm cao trong việc đấu tranh chống lại các quan điểm trái với đường lối, cương lĩnh, điều lệ đảng; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chính trị nội bộ, góp phần làm thất bại chiến lược ‘Diễn biến hòa bình’ của các thế lực phản động, cơ hội chính trị trong tình hình hiện nay.”
Cùng ngày tại cuộc hội thảo: “80 năm công tác tuyên giáo của Ðảng - Kinh nghiệm và đổi mới,” Tô Huy Rứa đã phô trương lập trường cố hữu bảo vệ Chủ nghĩa Cộng sản của ngành Tuyên Giáo: “Trong 80 năm chiến đấu, xây dựng, trưởng thành của Ðảng, của sự nghiệp cách mạng do đảng lãnh đạo, công tác tuyên giáo đã góp phần tích cực trong việc xây dựng, củng cố những luận cứ khoa học, góp phần hình thành và phát triển đường lối, quan điểm của đảng; tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; cổ vũ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên phong trào hành động cách mạng của các tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phát triển lý luận về con người, khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển; phát triển nền báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ, khoa học, giáo dục ngày càng vững mạnh; đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, phản động, làm thất bại âm mưu ‘Diễn biến hòa bình’ của các thế lực thù địch.”
Nói bô bô như thế nhưng ông Rứa có biết rằng, ngày nào đảng CSVN còn chúi đầu xuống cát mê sảng với chủ nghĩa Cộng Sản thì ngày đó dân tộc còn lầm than và đất nước chưa hết lạc hậu, chậm tiến?
Phạm Trần
Kinh nghiệm sống chung với người Cộng Sản Việt Nam cho thấy nếu muốn được yên thân thì không nên có thái độ với nhà nước; khi cán bộ tuyên truyền thì cứ banh tai ra mà nghe, chớ có cãi mà mang họa vào thân, mặc dù Hiến Pháp năm 1992 đã nói rõ trong Ðiều 2: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.”

Một phụ nữ buôn ruột xe gắn máy trên đường phố Hà Nội năm 2003, 17 năm sau khi chính sách “Ðổi Mới” ra đời tại CS Việt Nam. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images) Quyền này còn được tái khẳng định ở Ðiều 3: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân; xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.”
Nhưng đảng và nhà nước đã chứng minh từ năm này qua năm khác chỉ giỏi nói mà không muốn làm hoặc không bao giờ làm nên trong dân gian mới có câu: “Nói vậy mà không phải vậy,” hoặc có người còn nhắc lại cả câu nói của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của miền Nam trước 1975 rằng: “Ðừng tin những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm.”
Hậu quả của sự sợ hãi không dám lên tiếng với nhà nước của người dân đã phơi ra mặt thật của một nhà nước độc tài nên giữa nhà nước và người dân không có sự đồng thuận trên nhiều phương diện, nhất là về mặt chính sách và đường lối. Hơn nữa Ðảng CSVN lại là tổ chức chính trị duy nhất cầm quyền không do dân bỏ phiếu bầu lên nhưng lại tự ý cho mình có quyền quyết định mọi việc rồi bắt dân phải làm theo nên nhiều khi dân đã bỏ mặc thây cho đảng muốn làm gì thì làm.
Ðến khi làm ăn thua lỗ, kế hoạch hỏng thì đảng và nhà nước mới chịu sửa sai, nhưng đồng tiền mồ hôi, nước mắt của dân đã tan theo mây khói. Những cán bộ trách nhiệm trong các vụ việc này đáng lẽ phải bị trừng phạt thì lại chỉ bị thay chỗ, đổi ngôi, ngoại trừ các vụ tày đình không còn che giấu được mắt dân.
Như vậy nếu lấy việc nhỏ suy ra việc lớn, cả thành công lẫn thất bại, thì mọi việc của đảng và nhà nước đều do đám cán bộ làm công tác tuyên truyền của đảng chủ động cả, nhất là những việc thay trắng, đổi đen và xuyên tạc lịch sử.
Công tác này đã diễn ra từ 80 năm qua, bắt đầu với Ban Cổ Ðộng và Tuyên Truyền ra đời ngày 1 tháng 8, 1930, với tập tài liệu “Ngày quốc tế đỏ 1/8” nhân dịp kỷ niệm ngày quốc tế đấu tranh chống chiến tranh đế quốc, bảo vệ hòa bình, bảo vệ Liên Bang Xô-Viết, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, kêu gọi binh lính đoàn kết với nhân dân, hưởng ứng cuộc đấu tranh chống chiến tranh đế quốc. Từ đó, ngày 1 tháng 8 trở thành một cái mốc lớn trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của đảng, gắn liền với sự ra đời của một tài liệu lịch sử quý giá, đánh dấu một hoạt động rất có ý nghĩa trong công tác tuyên giáo của đảng.” (Theo: Minh Hải, Ban Tuyên Giáo Trung Ương)
Tổ chức này sau đổi thành Ban Tư Tưởng-Văn Hóa Trung Ương. Ðến năm 2007, ban này và Ban Khoa Giáo Trung Ương hợp nhất thành Ban Tuyên Giáo Trung Ương để tiếp tục làm công tác tuyên truyền và giáo dục chính trị trong đảng.
Sau quyết định này, Ban Bí Thư Trung Ương Ðảng (khóa X) ra quyết định lấy ngày 1 tháng 8 hằng năm làm Ngày Truyền Thống Công Tác Tuyên Giáo.
Năm nay (2010), việc tổ chức kỷ niệm được tập trung vào công tác kiểm điểm lại những việc đã làm được và còn thiếu sót của công tác tuyên giáo trong 80 năm qua, trong đó có điều được gọi là “Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và “tổ chức hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.”
Tuyệt nhiên không thấy những người cầm đầu ngành tuyên truyền cũ và mới đả động gì đến những tội ác chiến tranh của cơ quan (tuyên giáo) này.
Nếu có thì giờ tính sổ từ cái ngày được gọi là Cuộc Cách Mạng Mùa Thu 1945 cho đến khi cuộc chiến huynh đệ tương tàn chấm dứt ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì không biết ngành tuyên truyền đã mắc cơ man nào vụ “nợ máu” với nhân dân hai miền Nam-Bắc Việt Nam.
Lịch sử đau thương của dân tộc vẫn còn đó và vô số nạn nhân của người cộng sản vẫn còn sống ở trong và ngoài nước. Những người này đã viết lại lịch sử bằng chính máu và nước mắt của họ.
Xin kể ra đây một số chuyện đau thương nổi bật nhất:
1. Cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc từ 1953 đến 1956 đã có mấy chục ngàn dân chết oan và mất tích, kể cả những người đã cưu mang Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng, Võ Nguyên Giáp v.v...
2. Cuộc chiến xâm lăng miền Nam Việt Nam của đảng CSVN từ 1960 đến 1975 đã thiêu đốt bao nhiêu triệu sinh linh con người Việt Nam ở cả hai miền đất nước, trong đó có hàng trăm ngàn thanh niên, thiếu nữ tuấn tú của miền Bắc đã bị tuyên truyền lừa bịp lao đầu vào cuộc chiến thiêu thân dưới danh nghĩa ngụy tạo “Giải phóng miền Nam”?
3. Liệu đảng CSVN có rửa được vết nhơ trong vụ tấn công Tết Mậu Thân 1968 ở miền Nam Việt Nam với vụ thảm sát trên 7,000 thường dân và viên chức vô tội mà bộ máy tuyên truyền của đảng CSVN đã vu oan cáo vạ cho họ là những “kẻ có nợ máu với nhân dân”?
4. Vụ ép buộc và đánh lừa hàng trăm ngàn quân-cán-chính Việt Nam Cộng Hòa đem tập trung vào các trại lao động dưới danh nghĩa ngụy danh cải tạo để đày đọa và hành hạ trả thù làm cho không biết bao nhiêu người chết mất xác nơi rừng thiêng, nước độc từ Nam ra Bắc sau 1975 có che giấu được tội ác của “những kẻ chiến thắng” không?
5. Chiến dịch tuyên truyền đánh tư sản mại bản sau khi người cộng sản chiếm được miền Nam năm 1975 và đẩy dân thành phố và vợ con binh lính và viên chức Việt Nam Cộng Hòa đi “vùng kinh tế mới” đã đưa đến phong trào người dân miền Nam liều chết vượt biển và vượt biên giới ra đi bằng đường bộ qua Cao Miên và Thái Lan. Mấy chục ngàn vong hồn những người dân Việt chết trên Biển Ðông và trong tay quân Khmer đỏ đâu biết rằng họ đã bị guồng máy tuyên truyền của CSVN xuyên tạc, mạ lỵ khi bỏ nước ra đi?
6. Bây giờ sau 24 năm gọi là “đổi mới” từ 1986, ngành tuyên truyền đã bôi son vẽ phấn cho chế độ đến mức nào để che giấu những thảm cảnh mà đảng đã gây ra cho người dân trong đời sống hàng ngày từ kinh tế, văn hóa đến giáo dục, chính trị và xã hội?
Nếu phải kể ra thì có hàng nghìn trang giấy cũng không ghi hết, vì ai cũng thấy công bằng xã hội chỉ có cho những ai biết xin-cho, các quyền tự do quy định trong Hiến Pháp cũng vậy. Bất công xã hội, hố ngăn cách giàu-nghèo giữa thành phố và nông thôn, giữa người ít học, không có cơ hội, không biết ra luồn vào cúi, không quen gọi dạ bảo vâng, làm đầy tớ ngoại bang càng ngày càng lan rộng, ăn sâu trong mọi góc cạnh của xã hội.
Tệ nạn tham nhũng, lãng phí, cường quyền, quan liêu, mất phẩm chất, vô đạo đức của vô số cán bộ, đảng viên nhất là những kẻ có chức, có quyền tiếp tục chồng lên như núi.
Nạn kỳ thị địa phương, phân hóa, chia rẽ dân tộc giữa kẻ chiến thắng và người bại trận vẫn còn sờ sờ ra đó mà ngành tuyên truyền thì luôn luôn phô trương cho những thành tích chỉ có giá trị trên giấy tờ trong khi trên thực tế lại đen thui như mõm chó mực!
Cán bộ ngành Tuyên Giáo hãy tự hỏi xem tiền bạc đâu mà trong xã hội ngày nay, có con cán bộ được đi nước ngoài học tốn vài chục ngàn dollars một năm trong khi hàng trăm ngàn trẻ em ở vùng đồng bằng Cửu Long và ở các vùng xa, vùng cao lại không được cắp sách đến trường?
Và do đâu có cán bộ không một ngày cắp sách đến trường mà vẫn có bằng Cử nhân, Tiến sĩ để thăng quan tiến chức? Có những bữa tiệc cán bộ phung phí 5 ngàn dollars trong khi nhiều người dân vẫn bữa đói, bữa no?
Tất cả những tỉ dụ nêu trên có phải là bằng chứng tốt đẹp của chế độ hiện nay không, hay đó là những chuyện bịa đặt của “các thế lực thù địch,” của “diễn biến hòa bình” và của “những kẻ nội thù” đang cấu kết với nhau để gây chia rẽ, xuyên tạc đảng và nhà nước và làm cho đảng “tự chuyển hóa,” “tự chuyển biến” đến nguy cơ tiêu tan?
Nhưng có lẽ cán bộ ngành Tuyên Giáo vẫn như bị quáng gà trước đồng tiền và danh vọng nên trong bài phát biểu tại đại hội Ðảng bộ cơ quan Ban Tuyên Giáo Trung Ương lần thứ II nhiệm kỳ 2010-2015 ngày 21 tháng 7 (2010) vừa qua, Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính Trị, trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương đã chỉ thị cán bộ phải: “Không ngừng phấn đấu, rèn luyện, có bản lĩnh chính trị vững vàng, gương mẫu, đoàn kết, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của đảng, có tinh thần trách nhiệm cao trong việc đấu tranh chống lại các quan điểm trái với đường lối, cương lĩnh, điều lệ đảng; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chính trị nội bộ, góp phần làm thất bại chiến lược ‘Diễn biến hòa bình’ của các thế lực phản động, cơ hội chính trị trong tình hình hiện nay.”
Cùng ngày tại cuộc hội thảo: “80 năm công tác tuyên giáo của Ðảng - Kinh nghiệm và đổi mới,” Tô Huy Rứa đã phô trương lập trường cố hữu bảo vệ Chủ nghĩa Cộng sản của ngành Tuyên Giáo: “Trong 80 năm chiến đấu, xây dựng, trưởng thành của Ðảng, của sự nghiệp cách mạng do đảng lãnh đạo, công tác tuyên giáo đã góp phần tích cực trong việc xây dựng, củng cố những luận cứ khoa học, góp phần hình thành và phát triển đường lối, quan điểm của đảng; tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; cổ vũ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên phong trào hành động cách mạng của các tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phát triển lý luận về con người, khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển; phát triển nền báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ, khoa học, giáo dục ngày càng vững mạnh; đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, phản động, làm thất bại âm mưu ‘Diễn biến hòa bình’ của các thế lực thù địch.”
Nói bô bô như thế nhưng ông Rứa có biết rằng, ngày nào đảng CSVN còn chúi đầu xuống cát mê sảng với chủ nghĩa Cộng Sản thì ngày đó dân tộc còn lầm than và đất nước chưa hết lạc hậu, chậm tiến?
Vụ án Hà Giang cần làm sáng tỏ
Bùi Tín
Vụ án Hà Giang đang được bàn luận sôi nổi ở trong nước. Dù cho Ban tuyên huấn đảng ra lệnh cho các báo chính thức không được bàn đến2 vụ bê bối động trời, là Vụ án Hà Giang và vụ đại công ty đóng tàu quốc doanh Vinashin vỡ nợ, số nợ lên đến 4 tỷ đôla. Nhưng nhiều báo như Tuổi Trẻ, Tuần Tin tức, các mạng và Blog tư nhân đều đưa nhiều tin và bình luận liên quan.
Đã có nhiều kiến nghị mang hàng 400 chữ ký đòi trả tự do ngay cho 2 em Hằng và Thúy, đòi sớm mở phiên tòa công khai xét xử Vụ án làm xôn xao, có thể nói là chấn động dư luận này.
Vẫn còn một số vấn đề mù mờ, cần làm sáng tỏ.
Vụ án Hà Giang hiện được gọi là vụ “mua dâm trẻ vị thành niên”, hay còn được coi là vụ “quan chức cấp cao sống sa đọa, buông thả”, hoặc “vụ vi phạm đạo đức trong sinh hoạt của cán bộ lãnh đạo cần nhắc nhở”…
Vậy nội dung thực chất của vụ án là gì? Những tên gọi của vụ án như trên đã chính xác chưa?
Luật sư Trần Đình Triển, người đứng ra biện hộ không nhận thù lao cho 2 em Hằng và Thúy , rất có lý khi đưa ra kết luận rằng theo những chứng cứ đầy đủ, phải gọi cho đúng đây là một vụ án “hiếp dâm gái vị thành niên”, hay nếu thật nghiêm minh phải gọi là “vụ án cưỡng dâm gái vị thành niên”.
Theo luật thì đây là tội rất nặng, có thể bị kết án từ 5 đến 10 năm tù giam, hoặc lên đến 20 năm tù giam, còn có thể tử hình, tùy theo những tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ. Trường hợp tăng nặng là vi phạm nhiều lần, lắp đi lắp lại trong thời gian dài, với nhiều nạn nhân khác nhau, gây hậu quả nghiêm trọng.
Theo dõi những vụ án mua dâm gái vị thành niên ở một số nước như ở Pháp, Anh, Úc, Đức … thì đây là một loại tội hình sự nặng, công luận xã hội đòi phải trừng phạt đích đáng. Đã có những công dân Úc, Anh, Mỹ sang Thái lan, Cambốt tìm mua dâm gái vị thành niên 15, 16 tuổi khi về nước đã phải ngồi tù 3 năm, 5 năm và phạt hàng vạn đôla.
Đây là chuyện mua dâm, nghĩa là có thỏa thuận với nhau, thuận mua vừa bán. Còn hiếp dâm, cưỡng dâm gái vị thành niên ở các nước trên đây thì bị gọi là tội ác nặng – grave crime - tội nặng gấp đôi, gấp ba tội mua dâm, tình tiết tăng nặng có thể bị đến án tử hình.
Vụ án Nguyễn Trường Tô có nhiều tình tiết tăng nặng. Trước hết hoàn toàn không phải là vụ mua bán dâm. 16 em nữ sinh đều là nạn nhân, không em nào là gái mãi dâm. Tất cả là nữ sinh trong trắng.
Chỉ khi nhóm quan chức cộng sản đầu tỉnh cậy quyền thế, ăn chơi sa đọa, dùng mưu kế và áp lực, buộc viên hiệu trưởng Sầm Đức Xương làm tên macô trùm sỏ, và viên hiệu trưởng gây áp lực với các em, dọa cho điểm xấu, đánh trượt thi, không cho lên lớp, để dồn các em còn ngây thơ, nhẹ dạ, dại dột vào đường cùng, đành phải chịu nuốt nhục để làm nô lệ tình dục cho chúng.Nô lệ tình dục là luôn sẵn sàng, có lệnh là đi ngay, ai gọi cũng phải đi, gần thi cử cũng phải đi, phải phục vụ chu đáo cấp trên, như bí thư đoàn thanh niên cộng sản huyện Vị Xuyên ra lệnh cho các em ngay tại khách sạn.
Do đó đây là vụ án lớn, rất lớn về hậu quả nghiêm trọng, làm mất thêm uy tín của chế độ, của đảng cộng sản vốn đã xuống thấp do để cho đạo đức suy đồi, thuần phong mỹ tục tụt dốc thê thảm.
Lãnh đạo đảng đến nay còn cố bênh che, giảm nhẹ tội trạngcủa nhóm tội phạm do Nguyễn Trường Tô cầm đầu, không đưa ra trước pháp luật khi bằng chứng đã quá đầy đủ, khi công luận đòi hỏi cấp bách, không trả ngay tự do cho 2 em Hằng và Thúy, thì bộ chính trị và chính phủ càng mất thêm uy tín, ngành tư pháp càng lộ rõ sự bất lực và bất công, khi Đại hội XI đang đến gần.
Tên của tội phạm trong vụ này cần phải được gọi chính xác là ‘Vụ án nhóm quan chức tỉnh Hà giang, do chủ tịch tỉnh Nguyễn Trường Tô cầm đầu , dùng 16 nữ sinh vị thành niên làm nô lệ tình dục trong thời gian dài”.
Trong bộ luật tố tụng hình sự hiện hành nên bổ sung một tội danh mới là : « dùng quyền lực tổ chức nhóm nô lệ tình dục ».
Đứng ra kiện bọn tội phạm trong vụ án này có thể và cần phải là: gia đình 2 em và chính 2 em Hằng và Thúy, Hội phụ huynh học sinh Hà Giang, Hội phụ nữ VN, Ủy ban bảo vệ phụ nữ và trẻ em… ; sẽ có luật sư cho cả bên đơn và bên bị, để tranh tụng trước toà được sôi nổi, công bằng, đúng luật, trong những phiên tòa công khai, cho công luận, báo chí trong nước và nước ngoài tham dự, đưa tin.
Đặc biệt là phụ huynh cả 16 em nạn nhân – ông bà cha mẹ, anh chị em của các em – có quyền phát đơn tập thể kiện Nguyễn Trường Tô và nhóm quan chức Hà giang, đòi chúng phải bị trị tội, phải bồi thường danh dự cho từng em, và đòi lãnh đạo đảng cộng sản và chính quyền trung ương cũng phải liên đới trách nhiệm vì đã lựa chọn và cử bọn vô lại ấy vào vị trí cao nhất tỉnh để chúng mang họa cho các gia đình công dân lương thiện, do đó đòi lãnh đạo đảng và chính quyền cũng phải xin lỗi, bồi thường danh dự cho các em.
Không sớm tổ chức phiên tòa công khai xử vụ án trên đây như công luận đòi hỏi một cách cấp bách, không trả ngay tự do cho 2 nạn nhân chính là 2 em Hằng và Thúy, lãnh đạo ngày càng rơi vào tình trạng bế tắc; những lời hứa long trọng thực hiện luật pháp nghiêm minh, không xử oan người ngay, không để lọt kẻ gian, chỉ là những lời hứa suông của kẻ cầm quyền đã mất hết ý thức trách nhiệm với nhân dân mình, với đất nước mình.
Paris, 3-8-2010
Bùi Tín
Vụ án Hà Giang đang được bàn luận sôi nổi ở trong nước. Dù cho Ban tuyên huấn đảng ra lệnh cho các báo chính thức không được bàn đến2 vụ bê bối động trời, là Vụ án Hà Giang và vụ đại công ty đóng tàu quốc doanh Vinashin vỡ nợ, số nợ lên đến 4 tỷ đôla. Nhưng nhiều báo như Tuổi Trẻ, Tuần Tin tức, các mạng và Blog tư nhân đều đưa nhiều tin và bình luận liên quan.
Đã có nhiều kiến nghị mang hàng 400 chữ ký đòi trả tự do ngay cho 2 em Hằng và Thúy, đòi sớm mở phiên tòa công khai xét xử Vụ án làm xôn xao, có thể nói là chấn động dư luận này.
Vẫn còn một số vấn đề mù mờ, cần làm sáng tỏ.
Vụ án Hà Giang hiện được gọi là vụ “mua dâm trẻ vị thành niên”, hay còn được coi là vụ “quan chức cấp cao sống sa đọa, buông thả”, hoặc “vụ vi phạm đạo đức trong sinh hoạt của cán bộ lãnh đạo cần nhắc nhở”…
Vậy nội dung thực chất của vụ án là gì? Những tên gọi của vụ án như trên đã chính xác chưa?
Luật sư Trần Đình Triển, người đứng ra biện hộ không nhận thù lao cho 2 em Hằng và Thúy , rất có lý khi đưa ra kết luận rằng theo những chứng cứ đầy đủ, phải gọi cho đúng đây là một vụ án “hiếp dâm gái vị thành niên”, hay nếu thật nghiêm minh phải gọi là “vụ án cưỡng dâm gái vị thành niên”.
Theo luật thì đây là tội rất nặng, có thể bị kết án từ 5 đến 10 năm tù giam, hoặc lên đến 20 năm tù giam, còn có thể tử hình, tùy theo những tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ. Trường hợp tăng nặng là vi phạm nhiều lần, lắp đi lắp lại trong thời gian dài, với nhiều nạn nhân khác nhau, gây hậu quả nghiêm trọng.
Theo dõi những vụ án mua dâm gái vị thành niên ở một số nước như ở Pháp, Anh, Úc, Đức … thì đây là một loại tội hình sự nặng, công luận xã hội đòi phải trừng phạt đích đáng. Đã có những công dân Úc, Anh, Mỹ sang Thái lan, Cambốt tìm mua dâm gái vị thành niên 15, 16 tuổi khi về nước đã phải ngồi tù 3 năm, 5 năm và phạt hàng vạn đôla.
Đây là chuyện mua dâm, nghĩa là có thỏa thuận với nhau, thuận mua vừa bán. Còn hiếp dâm, cưỡng dâm gái vị thành niên ở các nước trên đây thì bị gọi là tội ác nặng – grave crime - tội nặng gấp đôi, gấp ba tội mua dâm, tình tiết tăng nặng có thể bị đến án tử hình.
Vụ án Nguyễn Trường Tô có nhiều tình tiết tăng nặng. Trước hết hoàn toàn không phải là vụ mua bán dâm. 16 em nữ sinh đều là nạn nhân, không em nào là gái mãi dâm. Tất cả là nữ sinh trong trắng.
Chỉ khi nhóm quan chức cộng sản đầu tỉnh cậy quyền thế, ăn chơi sa đọa, dùng mưu kế và áp lực, buộc viên hiệu trưởng Sầm Đức Xương làm tên macô trùm sỏ, và viên hiệu trưởng gây áp lực với các em, dọa cho điểm xấu, đánh trượt thi, không cho lên lớp, để dồn các em còn ngây thơ, nhẹ dạ, dại dột vào đường cùng, đành phải chịu nuốt nhục để làm nô lệ tình dục cho chúng.Nô lệ tình dục là luôn sẵn sàng, có lệnh là đi ngay, ai gọi cũng phải đi, gần thi cử cũng phải đi, phải phục vụ chu đáo cấp trên, như bí thư đoàn thanh niên cộng sản huyện Vị Xuyên ra lệnh cho các em ngay tại khách sạn.
Do đó đây là vụ án lớn, rất lớn về hậu quả nghiêm trọng, làm mất thêm uy tín của chế độ, của đảng cộng sản vốn đã xuống thấp do để cho đạo đức suy đồi, thuần phong mỹ tục tụt dốc thê thảm.
Lãnh đạo đảng đến nay còn cố bênh che, giảm nhẹ tội trạngcủa nhóm tội phạm do Nguyễn Trường Tô cầm đầu, không đưa ra trước pháp luật khi bằng chứng đã quá đầy đủ, khi công luận đòi hỏi cấp bách, không trả ngay tự do cho 2 em Hằng và Thúy, thì bộ chính trị và chính phủ càng mất thêm uy tín, ngành tư pháp càng lộ rõ sự bất lực và bất công, khi Đại hội XI đang đến gần.
Tên của tội phạm trong vụ này cần phải được gọi chính xác là ‘Vụ án nhóm quan chức tỉnh Hà giang, do chủ tịch tỉnh Nguyễn Trường Tô cầm đầu , dùng 16 nữ sinh vị thành niên làm nô lệ tình dục trong thời gian dài”.
Trong bộ luật tố tụng hình sự hiện hành nên bổ sung một tội danh mới là : « dùng quyền lực tổ chức nhóm nô lệ tình dục ».
Đứng ra kiện bọn tội phạm trong vụ án này có thể và cần phải là: gia đình 2 em và chính 2 em Hằng và Thúy, Hội phụ huynh học sinh Hà Giang, Hội phụ nữ VN, Ủy ban bảo vệ phụ nữ và trẻ em… ; sẽ có luật sư cho cả bên đơn và bên bị, để tranh tụng trước toà được sôi nổi, công bằng, đúng luật, trong những phiên tòa công khai, cho công luận, báo chí trong nước và nước ngoài tham dự, đưa tin.
Đặc biệt là phụ huynh cả 16 em nạn nhân – ông bà cha mẹ, anh chị em của các em – có quyền phát đơn tập thể kiện Nguyễn Trường Tô và nhóm quan chức Hà giang, đòi chúng phải bị trị tội, phải bồi thường danh dự cho từng em, và đòi lãnh đạo đảng cộng sản và chính quyền trung ương cũng phải liên đới trách nhiệm vì đã lựa chọn và cử bọn vô lại ấy vào vị trí cao nhất tỉnh để chúng mang họa cho các gia đình công dân lương thiện, do đó đòi lãnh đạo đảng và chính quyền cũng phải xin lỗi, bồi thường danh dự cho các em.
Không sớm tổ chức phiên tòa công khai xử vụ án trên đây như công luận đòi hỏi một cách cấp bách, không trả ngay tự do cho 2 nạn nhân chính là 2 em Hằng và Thúy, lãnh đạo ngày càng rơi vào tình trạng bế tắc; những lời hứa long trọng thực hiện luật pháp nghiêm minh, không xử oan người ngay, không để lọt kẻ gian, chỉ là những lời hứa suông của kẻ cầm quyền đã mất hết ý thức trách nhiệm với nhân dân mình, với đất nước mình.
Paris, 3-8-2010

