Bình Luận Thời Sự
Phải cứng với Trung Quốc
Ngô Nhân Dụng Một tin vui đang được loan truyền trên mạng lưới toàn cầu: Công ty Google đã công nhận thị xã Lào Cai là thuộc lãnh thổ Việt Nam! Trong mạng bản đồ Google Earth and Maps, trước đây họ vẽ biên giới Việt Hoa như một đường xuyên qua Lào Cai. Nay, đường ranh giới giữa hai nước đã được đưa lên phía Bắc. Ai dùng GPS khi lái xe qua Lào Cai sẽ không bị tiếng bà đầm nhắc nhở léo nhéo rằng bà đang “tính toán lại, tính toán lại” (recalculating, recalculating) vì xe đang chạy nhầm sang lãnh thổ Trung Quốc! Bà Hurowithz đại diện công ty Google đã viết thư cảm ơn tất cả những người Việt đã yêu cầu công ty lưu ý sử chữa sơ suất này. Những người đã yêu cầu gồm cả người Việt ở trong nước và ngoài nước. Ông Nguyễn Hùng ở Sydney, Úc Châu, đại diện cho một nhóm, đã kêu gọi “anh chị em người Việt trong ngoài nước hãy vào Google Maps xem lại đường biên giới tại các nơi quan trọng khác.” Trước đây, cũng vì nhiều người Việt phản đối nên hội National Geographic ở Mỹ đã phải sửa bản đồ, không gọi các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng tên Tầu nữa, và không ghi là chúng thuộc Trung Quốc nữa! Khi người Việt đoàn kết với nhau, người ngoại quốc phải lắng nghe!
Người ta không thể nghi oan cho Google là “thân Tầu” mà vẽ sai bản đồ. Vì công ty này mới đây đã “gây sóng gió” cho chính phủ Bắc Kinh khi họ tự ý rút ra không hoạt động trong nước Trung Hoa nữa, vì phản đối chính sách kiểm duyệt tin tức của chế độ cộng sản. Cũng không thể đổ oan cho chính phủ Bắc Kinh tội cố tình cung cấp dữ kiện sai lệch cho Google, để “mở mang biên giới về phía Nam,” ít nhất trên một tấm bản đồ quốc tế thông dụng! Vì Bắc Kinh cũng biết trên trường ngoại giao có lúc nên mềm, không nên cứng quá!
Tuần trước, tờ Global Times (Hoàn Cầu Thời Báo) của chính phủ Bắc Kinh, trong số ngày 27 tháng 7 đã viết rằng Trung Quốc nên tránh không “bành trướng một cách đơn phương” định nghĩa về “quyền lợi thiết yếu” của mình. Nhiều khi, một đại cường quốc có thể nhượng bộ về lãnh thổ mà không thiệt hại gì cả, họ viết như vậy. Bài này là một điều mới lạ, vì chỉ trước đó có mấy ngày, chính phủ Bắc Kinh đã làm ầm lên về lời tuyên bố của bà ngoại trưởng Mỹ tại Hà Nội, xác nhận chính phủ Mỹ chống lại việc dùng vũ lực giải quyết các tranh chấp trong vùng Biển Ðông. Làm ồn ào như vậy là một lối “lạy ông tôi ở bụi này!” Không khác gì thú nhận rằng mình đã sẵn sàng dùng vũ lực, tức là đe dọa tất cả các nước Ðông Nam Á chia nhau vùng biển Ðông này! Bắc Kinh biện minh cho những lời phản đối bà Hillary Clinton, nhắc lại rằng vùng Biển Ðông của Việt Nam nằm trong số “quyền lợi thiết yếu” của họ, chính phủ Mỹ không nên xía vào. Bốn chữ “quyền lợi thiết yếu” là một cách dịch sang tiếng Việt cho dễ hiểu (mặc dù cả 4 tiếng đó đều là chữ Hán gốc từ Trung Hoa). Nếu theo nguyên văn những chữ người Trung Hoa dùng, gọi là “hạch tâm quyền lợi,” thì phải dịch là “quyền lợi hạt nhân” mà báo chí tiếng Anh đã dịch sát nghĩa là “core interests” (không phải nuclear interests!) Khi người Việt Nam nghe Bắc Kinh nói vùng biển của nước mình cũng nằm trong danh sách những “quyền lợi thiết yếu” của nước họ, thì, cũng như người dân các nước Ðông Nam Á khác, phải giật mình. Vì trước đây Trung Quốc chỉ nêu các vấn đề ở Ðài Loan, Tây Tạng là thuộc danh sách những “quyền lợi hạt nhân” của nước họ mà thôi! Tây Tạng và Ðài Loan là những mảnh đất đã bị Trung Quốc chiếm đóng từ hàng thế kỷ, trong khi Biển Ðông vẫn thuộc chủ quyền của nước ta từ bao nhiêu thế kỷ trước, và mới bị Trung Quốc chiếm từ năm 1974 mà thôi. Nhiều hòn đảo khác trong vùng cũng được các nước Malaysia, Phi Luật Tân, Brunei, vân vân, coi là thuộc nước họ. Nếu Cộng Sản Trung Hoa coi Hoàng Sa, Trường Sa cũng thuộc loại “quyền lợi hạt nhân” của họ, thì không khác gì họ bảo các nước khác hãy tránh xa ra, cho họ một mình giải quyết các tranh chấp lãnh hải và lãnh thổ trong vùng này. Nghĩa là họ muốn đóng vai bá chủ.
Trong khi đó, một tuần báo ở Trung Quốc, tờ Outlook Weekly (Liễu Vọng Kỳ San) của Tân Hoa xã mới nhắc đến ý kiến của một nhà nghiên cứu quân sự, nhắc nhở rằng không nên lạm dụng từ “hạch tâm quyền lợi;” vì dùng chữ đó nhiều quá có thể làm cho những lời tuyên bố của chính phủ Bắc Kinh dần dần mất ảnh hưởng răn đe đối với các nước khác. Nghĩa là, nếu cái gì cũng đem gọi là “hạch tâm quyền lợi,” thì nếu sau đó không bảo vệ được, các nước khác sẽ coi thường. Những ý kiến này, cũng như ý kiến trên Hoàn Cầu Thời Báo, được đưa ra sau khi chính phủ Bắc Kinh kịch liệt phản đối những lời bà Hillary Clinton mới nói ở hội nghị vùng Á Châu họp tại Hà Nội, không có nghĩa là tờ báo ở Bắc Kinh có ý nói nên rút lại, không coi vùng Biển Ðông thuộc loại quyền lợi thiết yếu của họ nữa. Nhưng cũng khiến cho các phái viên tuần báo Economist ghi nhận và loan tin trong số báo tuần này, trong bài tường thuật về cảnh đối đầu Trung, Mỹ đang diễn ra ở các vùng biển Á Ðông. Cho nên các ý kiến nêu ra có thể lien hệ đến một vùng biển khác, chứ không phải vùng Ðông Nam Á.
Trong tuần qua, hàng không mẫu hạm USS George Washington dẫn đầu một cuộc tập trận của Hải Quân Mỹ và Nam Hàn, ở Biển Nhật Bản. Bắc Hàn làm ồn ào với lời đe dọa chiến tranh, chính quyền Bắc Kinh cũng lên tiếng phản đối lấy lệ, nhưng cuộc thao dượt vẫn diễn ra.
Các chính phủ Nam Hàn và Mỹ cho thấy họ không coi những lời phản đối của Bắc Kinh và Bắc Hàn là quan trọng, mặc dù trước đó Mỹ đã nhượng bộ Bắc Kinh một điều rồi. Mới đầu, chính phủ Nam Hàn muốn thao diễn Hải Quân chung trong vùng Hoàng Hải, là nơi Bắc Hàn đã đánh đắm chiến hạm Cheonan của Nam Hàn mới đây; một cách để trả đũa ngoại giao. Nhưng Hoàng Hải gần quá, ngay sát bên Trung Quốc. Vì vậy hai nước quyết định diễn tập ở phía biển bên kia, giữa Nam Hàn và Nhật Bản. Nhưng việc đổi chỗ này cũng mang một ý nghĩa khác: Nhật Bản cũng nằm trong liên minh quân sự với Mỹ. Hải Quân Nhật đã gửi quan sát viên đến dự cuộc thao diễn này. Nhật Bản cũng tỏ ra lo ngại trước việc bành trướng của Trung Quốc. Họ đã quyết định đặt thêm hai tầu ngầm, lần đầu tiên gia tăng vụ khí cho Hải Quân Nhật kể từ một phần tư thế kỷ nay.
Những hành động của Nam Hàn, Nhật Bản và Mỹ chứng tỏ đứng trước thái độ đe dọa của Bắc Kinh thì phải cứng rắn, chính người Trung Hoa sẽ chịu lùi. Những ý kiến nêu lên trong Hoàn Cầu Thời Báo và Liễu Vọng Kỳ San có lẽ nhắm cảnh cáo các lãnh tụ ở Bắc Kinh không nên đem Hoàng Hải vào vùng các “quyền lợi hạch tâm” của nước Trung Hoa! Vì nước Tầu không đủ sức thi thố quyền bá chủ trong vùng đó!
Nhưng đối với miền Ðông Nam Á thì họ tự tin hơn. Vì nước lớn nhất trong vùng là Việt Nam coi như họ đã nắm được rồi! Tháng 3 vừa qua, Bắc Kinh đã thông báo cho Washington rằng họ coi vùng Biển Ðông nước ra thuộc loại quyền lợi thiết yếu của họ, và sau đó các nước Ðông Nam Á (trong đó có Việt Nam) đã mở một chiến dịch vận động chính phủ Mỹ quan tâm về vấn đề này.
Chính phủ Obama đã đón nhận những “lời mời” đó, bằng cách từ từ bắn ra từng tín hiệu một, để thăm dò thái độ của Bắc Kinh. Ông Robert Sher, phụ tá ngoại trưởng Mỹ đã nói giống hệt như bà Clinton khi ông ra điều trần trước một ủy ban thẩm xét các liên lạc kinh tế và an ninh giữa Mỹ và Trung Quốc. Tiếp theo, đầu tháng 6, ông Robert Gates, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ lại nói ở Singapore rằng nước Mỹ phản đối tất cả các vụ dùng vũ lực xâm phạm đến quyền tự do đi lại trong vùng biển Ðông. Sau đó, phụ tá của ông Gates đến Hà Nội nhắc lại nguyên văn các ý kiến đó. Những lời tuyên bố này không hề được chính quyền Bắc Kinh nhắc đến dù để phản đối! Tại sao họ lại làm ồn lên về bà Clinton?
Có thể vì họ bị bất ngờ, không nghĩ bà Clinton sẽ nhắc nhở đến vấn đề Biển Ðông ở ngay thủ đô Việt Nam. Giới quốc phòng nói thì hiểu được, nhưng bà ngoại trưởng lên tiếng thì lạ, vì cái hội nghị này xưa giờ vẫn chỉ là nơi giao tế ăn nhiều, nói nhẹ mà thôi. Việc bà Clinton nói tại hội nghị có ý nghĩa quan trọng hơn ý kiến bà nói ra, vốn là một chính sách của tất cả các chính phủ Mỹ từ lâu rồi.
Hoặc đây là một giọt nước làm tràn ly, bà Clinton đổ thêm nước vào sau khi ông Gates bắt đầu. Chiến thuật tiến từng bước của chính phủ Mỹ làm họ lo ngại, thấy phải chặn ngay lại. Ngoại Trưởng Dương Thiết Trì đã phản đối chính phủ Mỹ là cố ý “quốc tế hóa” các tranh chấp trong vùng biển thuộc loại “ao nhà” của họ, để họ giải quyết với từng nước một; cũng như Nam Mỹ vốn vẫn bị coi là “sân sau” của Mỹ vậy. Nhưng rõ ràng chính phủ Obama không công nhận quyền bá chủ của Bắc Kinh trong vùng này.
Ðây là một cơ hội cho Việt Nam và các nước Ðông Nam Á khác. Phải thẳng thắn lên tiếng ủng hộ ý kiến của bà Clinton, trong khi vẫn đòi hỏi Trung Quốc phải tôn trọng các quyền lợi trên các đảo của mình.
Ðối với chính quyền Bắc Kinh, đã tới lúc phải tỏ ra cương quyết thì mới được họ kính trọng. Hải Quân Trung Quốc vẫn tiếp tục đánh phá các ngư phủ Việt Nam đánh cá gần Hoàng Sa. Chính quyền Việt Nam khi thấy bất cứ một người dân nào của nước mình bị tấn công và bắt cóc, hãy mạnh dạn phản đối. Hãy dọa sẽ xé bỏ những khẩu hiệu “16 chữ vàng” ngay lập tức, vì chính quyền Bắc Kinh không hề tôn trọng các giao ước giả dối đó!
Trong việc ngoại giao, có lúc phải biết sử cứng chứ không thể mềm mãi được. Hãy coi một công ty như Google, hay một hội như National Geographic, nếu không có người Việt Nam ồn ào phản đối thì bao giờ họ mới thay đổi bản đồ của họ?
Ngô Nhân Dụng Một tin vui đang được loan truyền trên mạng lưới toàn cầu: Công ty Google đã công nhận thị xã Lào Cai là thuộc lãnh thổ Việt Nam! Trong mạng bản đồ Google Earth and Maps, trước đây họ vẽ biên giới Việt Hoa như một đường xuyên qua Lào Cai. Nay, đường ranh giới giữa hai nước đã được đưa lên phía Bắc. Ai dùng GPS khi lái xe qua Lào Cai sẽ không bị tiếng bà đầm nhắc nhở léo nhéo rằng bà đang “tính toán lại, tính toán lại” (recalculating, recalculating) vì xe đang chạy nhầm sang lãnh thổ Trung Quốc! Bà Hurowithz đại diện công ty Google đã viết thư cảm ơn tất cả những người Việt đã yêu cầu công ty lưu ý sử chữa sơ suất này. Những người đã yêu cầu gồm cả người Việt ở trong nước và ngoài nước. Ông Nguyễn Hùng ở Sydney, Úc Châu, đại diện cho một nhóm, đã kêu gọi “anh chị em người Việt trong ngoài nước hãy vào Google Maps xem lại đường biên giới tại các nơi quan trọng khác.” Trước đây, cũng vì nhiều người Việt phản đối nên hội National Geographic ở Mỹ đã phải sửa bản đồ, không gọi các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng tên Tầu nữa, và không ghi là chúng thuộc Trung Quốc nữa! Khi người Việt đoàn kết với nhau, người ngoại quốc phải lắng nghe!
Người ta không thể nghi oan cho Google là “thân Tầu” mà vẽ sai bản đồ. Vì công ty này mới đây đã “gây sóng gió” cho chính phủ Bắc Kinh khi họ tự ý rút ra không hoạt động trong nước Trung Hoa nữa, vì phản đối chính sách kiểm duyệt tin tức của chế độ cộng sản. Cũng không thể đổ oan cho chính phủ Bắc Kinh tội cố tình cung cấp dữ kiện sai lệch cho Google, để “mở mang biên giới về phía Nam,” ít nhất trên một tấm bản đồ quốc tế thông dụng! Vì Bắc Kinh cũng biết trên trường ngoại giao có lúc nên mềm, không nên cứng quá!
Tuần trước, tờ Global Times (Hoàn Cầu Thời Báo) của chính phủ Bắc Kinh, trong số ngày 27 tháng 7 đã viết rằng Trung Quốc nên tránh không “bành trướng một cách đơn phương” định nghĩa về “quyền lợi thiết yếu” của mình. Nhiều khi, một đại cường quốc có thể nhượng bộ về lãnh thổ mà không thiệt hại gì cả, họ viết như vậy. Bài này là một điều mới lạ, vì chỉ trước đó có mấy ngày, chính phủ Bắc Kinh đã làm ầm lên về lời tuyên bố của bà ngoại trưởng Mỹ tại Hà Nội, xác nhận chính phủ Mỹ chống lại việc dùng vũ lực giải quyết các tranh chấp trong vùng Biển Ðông. Làm ồn ào như vậy là một lối “lạy ông tôi ở bụi này!” Không khác gì thú nhận rằng mình đã sẵn sàng dùng vũ lực, tức là đe dọa tất cả các nước Ðông Nam Á chia nhau vùng biển Ðông này! Bắc Kinh biện minh cho những lời phản đối bà Hillary Clinton, nhắc lại rằng vùng Biển Ðông của Việt Nam nằm trong số “quyền lợi thiết yếu” của họ, chính phủ Mỹ không nên xía vào. Bốn chữ “quyền lợi thiết yếu” là một cách dịch sang tiếng Việt cho dễ hiểu (mặc dù cả 4 tiếng đó đều là chữ Hán gốc từ Trung Hoa). Nếu theo nguyên văn những chữ người Trung Hoa dùng, gọi là “hạch tâm quyền lợi,” thì phải dịch là “quyền lợi hạt nhân” mà báo chí tiếng Anh đã dịch sát nghĩa là “core interests” (không phải nuclear interests!) Khi người Việt Nam nghe Bắc Kinh nói vùng biển của nước mình cũng nằm trong danh sách những “quyền lợi thiết yếu” của nước họ, thì, cũng như người dân các nước Ðông Nam Á khác, phải giật mình. Vì trước đây Trung Quốc chỉ nêu các vấn đề ở Ðài Loan, Tây Tạng là thuộc danh sách những “quyền lợi hạt nhân” của nước họ mà thôi! Tây Tạng và Ðài Loan là những mảnh đất đã bị Trung Quốc chiếm đóng từ hàng thế kỷ, trong khi Biển Ðông vẫn thuộc chủ quyền của nước ta từ bao nhiêu thế kỷ trước, và mới bị Trung Quốc chiếm từ năm 1974 mà thôi. Nhiều hòn đảo khác trong vùng cũng được các nước Malaysia, Phi Luật Tân, Brunei, vân vân, coi là thuộc nước họ. Nếu Cộng Sản Trung Hoa coi Hoàng Sa, Trường Sa cũng thuộc loại “quyền lợi hạt nhân” của họ, thì không khác gì họ bảo các nước khác hãy tránh xa ra, cho họ một mình giải quyết các tranh chấp lãnh hải và lãnh thổ trong vùng này. Nghĩa là họ muốn đóng vai bá chủ.
Trong khi đó, một tuần báo ở Trung Quốc, tờ Outlook Weekly (Liễu Vọng Kỳ San) của Tân Hoa xã mới nhắc đến ý kiến của một nhà nghiên cứu quân sự, nhắc nhở rằng không nên lạm dụng từ “hạch tâm quyền lợi;” vì dùng chữ đó nhiều quá có thể làm cho những lời tuyên bố của chính phủ Bắc Kinh dần dần mất ảnh hưởng răn đe đối với các nước khác. Nghĩa là, nếu cái gì cũng đem gọi là “hạch tâm quyền lợi,” thì nếu sau đó không bảo vệ được, các nước khác sẽ coi thường. Những ý kiến này, cũng như ý kiến trên Hoàn Cầu Thời Báo, được đưa ra sau khi chính phủ Bắc Kinh kịch liệt phản đối những lời bà Hillary Clinton mới nói ở hội nghị vùng Á Châu họp tại Hà Nội, không có nghĩa là tờ báo ở Bắc Kinh có ý nói nên rút lại, không coi vùng Biển Ðông thuộc loại quyền lợi thiết yếu của họ nữa. Nhưng cũng khiến cho các phái viên tuần báo Economist ghi nhận và loan tin trong số báo tuần này, trong bài tường thuật về cảnh đối đầu Trung, Mỹ đang diễn ra ở các vùng biển Á Ðông. Cho nên các ý kiến nêu ra có thể lien hệ đến một vùng biển khác, chứ không phải vùng Ðông Nam Á.
Trong tuần qua, hàng không mẫu hạm USS George Washington dẫn đầu một cuộc tập trận của Hải Quân Mỹ và Nam Hàn, ở Biển Nhật Bản. Bắc Hàn làm ồn ào với lời đe dọa chiến tranh, chính quyền Bắc Kinh cũng lên tiếng phản đối lấy lệ, nhưng cuộc thao dượt vẫn diễn ra.
Các chính phủ Nam Hàn và Mỹ cho thấy họ không coi những lời phản đối của Bắc Kinh và Bắc Hàn là quan trọng, mặc dù trước đó Mỹ đã nhượng bộ Bắc Kinh một điều rồi. Mới đầu, chính phủ Nam Hàn muốn thao diễn Hải Quân chung trong vùng Hoàng Hải, là nơi Bắc Hàn đã đánh đắm chiến hạm Cheonan của Nam Hàn mới đây; một cách để trả đũa ngoại giao. Nhưng Hoàng Hải gần quá, ngay sát bên Trung Quốc. Vì vậy hai nước quyết định diễn tập ở phía biển bên kia, giữa Nam Hàn và Nhật Bản. Nhưng việc đổi chỗ này cũng mang một ý nghĩa khác: Nhật Bản cũng nằm trong liên minh quân sự với Mỹ. Hải Quân Nhật đã gửi quan sát viên đến dự cuộc thao diễn này. Nhật Bản cũng tỏ ra lo ngại trước việc bành trướng của Trung Quốc. Họ đã quyết định đặt thêm hai tầu ngầm, lần đầu tiên gia tăng vụ khí cho Hải Quân Nhật kể từ một phần tư thế kỷ nay.
Những hành động của Nam Hàn, Nhật Bản và Mỹ chứng tỏ đứng trước thái độ đe dọa của Bắc Kinh thì phải cứng rắn, chính người Trung Hoa sẽ chịu lùi. Những ý kiến nêu lên trong Hoàn Cầu Thời Báo và Liễu Vọng Kỳ San có lẽ nhắm cảnh cáo các lãnh tụ ở Bắc Kinh không nên đem Hoàng Hải vào vùng các “quyền lợi hạch tâm” của nước Trung Hoa! Vì nước Tầu không đủ sức thi thố quyền bá chủ trong vùng đó!
Nhưng đối với miền Ðông Nam Á thì họ tự tin hơn. Vì nước lớn nhất trong vùng là Việt Nam coi như họ đã nắm được rồi! Tháng 3 vừa qua, Bắc Kinh đã thông báo cho Washington rằng họ coi vùng Biển Ðông nước ra thuộc loại quyền lợi thiết yếu của họ, và sau đó các nước Ðông Nam Á (trong đó có Việt Nam) đã mở một chiến dịch vận động chính phủ Mỹ quan tâm về vấn đề này.
Chính phủ Obama đã đón nhận những “lời mời” đó, bằng cách từ từ bắn ra từng tín hiệu một, để thăm dò thái độ của Bắc Kinh. Ông Robert Sher, phụ tá ngoại trưởng Mỹ đã nói giống hệt như bà Clinton khi ông ra điều trần trước một ủy ban thẩm xét các liên lạc kinh tế và an ninh giữa Mỹ và Trung Quốc. Tiếp theo, đầu tháng 6, ông Robert Gates, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ lại nói ở Singapore rằng nước Mỹ phản đối tất cả các vụ dùng vũ lực xâm phạm đến quyền tự do đi lại trong vùng biển Ðông. Sau đó, phụ tá của ông Gates đến Hà Nội nhắc lại nguyên văn các ý kiến đó. Những lời tuyên bố này không hề được chính quyền Bắc Kinh nhắc đến dù để phản đối! Tại sao họ lại làm ồn lên về bà Clinton?
Có thể vì họ bị bất ngờ, không nghĩ bà Clinton sẽ nhắc nhở đến vấn đề Biển Ðông ở ngay thủ đô Việt Nam. Giới quốc phòng nói thì hiểu được, nhưng bà ngoại trưởng lên tiếng thì lạ, vì cái hội nghị này xưa giờ vẫn chỉ là nơi giao tế ăn nhiều, nói nhẹ mà thôi. Việc bà Clinton nói tại hội nghị có ý nghĩa quan trọng hơn ý kiến bà nói ra, vốn là một chính sách của tất cả các chính phủ Mỹ từ lâu rồi.
Hoặc đây là một giọt nước làm tràn ly, bà Clinton đổ thêm nước vào sau khi ông Gates bắt đầu. Chiến thuật tiến từng bước của chính phủ Mỹ làm họ lo ngại, thấy phải chặn ngay lại. Ngoại Trưởng Dương Thiết Trì đã phản đối chính phủ Mỹ là cố ý “quốc tế hóa” các tranh chấp trong vùng biển thuộc loại “ao nhà” của họ, để họ giải quyết với từng nước một; cũng như Nam Mỹ vốn vẫn bị coi là “sân sau” của Mỹ vậy. Nhưng rõ ràng chính phủ Obama không công nhận quyền bá chủ của Bắc Kinh trong vùng này.
Ðây là một cơ hội cho Việt Nam và các nước Ðông Nam Á khác. Phải thẳng thắn lên tiếng ủng hộ ý kiến của bà Clinton, trong khi vẫn đòi hỏi Trung Quốc phải tôn trọng các quyền lợi trên các đảo của mình.
Ðối với chính quyền Bắc Kinh, đã tới lúc phải tỏ ra cương quyết thì mới được họ kính trọng. Hải Quân Trung Quốc vẫn tiếp tục đánh phá các ngư phủ Việt Nam đánh cá gần Hoàng Sa. Chính quyền Việt Nam khi thấy bất cứ một người dân nào của nước mình bị tấn công và bắt cóc, hãy mạnh dạn phản đối. Hãy dọa sẽ xé bỏ những khẩu hiệu “16 chữ vàng” ngay lập tức, vì chính quyền Bắc Kinh không hề tôn trọng các giao ước giả dối đó!
Trong việc ngoại giao, có lúc phải biết sử cứng chứ không thể mềm mãi được. Hãy coi một công ty như Google, hay một hội như National Geographic, nếu không có người Việt Nam ồn ào phản đối thì bao giờ họ mới thay đổi bản đồ của họ?
Chống Việt Cộng đến Sydney
Chỉ cách một con đường chưa đầy 6 thước nhưng đã gạch rõ ra hai chiến tuyến Quốc - Cộng, Chính - Tà. Bên kia đường là rạp hát, có lác đác vài người đi vào trong rạp, những người với trí nhớ kém cỏi, những người chỉ biết ngày hôm nay, đã quên hẳn đi ngày hôm qua và chẳng cần biết gì đến ngày mai; họ chỉ biết hưởng vui cho chính họ mà thôi; họ là những người có trái tim nhỏ bé và ích kỷ; họ có đôi tai nhưng chẳng còn nghe được điều hay lẽ phải; họ có mắt nhưng không phân biệt đâu là gian tà, đâu là chánh nghĩa.
Trái lại bên này đường, hơn 2000 đồng hương tụ họp về Sydney để phản đối sự hiện diện của tên ca sĩ Việt cộng Đàm Vĩnh Hưng đang thi hành nhiệm vụ tuyên truyền cho CSVN. Đáng lẽ hôm nay, một buổi chiều thứ Sáu, chúng ta có thể ở nhà quây quần với gia đình để vui vẻ sau một tuần làm việc mệt nhọc, thế nhưng bà con không ngại đêm đông lạnh lẽo cũng chỉ vì tương lai của con cháu, tương lai của dân tộc và cho chính nghĩa. Chúng ta đến đây để ngăn chặn lại sự xâm nhập của csvn tới đất tự do.










[igm]http://www.lyhuong.org/web/data/BieuTin ... ney_20.JPG[/img]





Trái lại bên này đường, hơn 2000 đồng hương tụ họp về Sydney để phản đối sự hiện diện của tên ca sĩ Việt cộng Đàm Vĩnh Hưng đang thi hành nhiệm vụ tuyên truyền cho CSVN. Đáng lẽ hôm nay, một buổi chiều thứ Sáu, chúng ta có thể ở nhà quây quần với gia đình để vui vẻ sau một tuần làm việc mệt nhọc, thế nhưng bà con không ngại đêm đông lạnh lẽo cũng chỉ vì tương lai của con cháu, tương lai của dân tộc và cho chính nghĩa. Chúng ta đến đây để ngăn chặn lại sự xâm nhập của csvn tới đất tự do.
[igm]http://www.lyhuong.org/web/data/BieuTin ... ney_20.JPG[/img]
Cuộc cách mạng của Sự Thật
Ngô Nhân Dụng
Hơn 30 năm sau khi qua đời, Tướng John D. Lavelle mới được tổng thống Mỹ phục hồi danh dự. Năm 1972, Tướng Lavelle đang chỉ huy Không Quân trong chiến trường Việt Nam đã bị trừng phạt vì tội làm sai lệnh thượng cấp, cho thả bom những nơi ngoài các mục tiêu được chỉ định, trong một cuộc oanh tạc tại miền Bắc Việt Nam, cộng với tội sửa đổi chứng cớ trong mệnh lệnh để trốn trách nhiệm. Năm đó, ra trước ủy ban điều tra của Quốc Hội Mỹ, Tướng Lavelle đã quả quyết nói mình không hề làm sai mà cũng không hề sửa đổi mệnh lệnh. Nhưng ông vẫn bị phạt, giáng xuống hai cấp, buộc phải ra khỏi quân đội với cấp bậc trung tướng. Ông qua đời năm 1979.
Năm 2007, một vị tướng Không Quân khác, ông Aloysius Casey cùng với con trai đã viết một bài trong tạp chí của quân chủng Không Quân minh oan cho Tướng Lavelle. Ông tìm trong các cuốn băng đã thâu trong Tòa Bạch Ốc thời Tổng Thống Nixon được ghi chép lại, cho thấy rằng chính ông tổng thống Mỹ thời đó đã ra lệnh thả bom mở rộng vào các mục tiêu trên, và các cấp chỉ huy từ tổng tham mưu trưởng trở xuống đều đồng ý, chuyển lệnh xuống qua các đường dây mật. Những tài liệu mật này mới được công khai hóa theo luật định. Bà vợ Tướng Lavelle (năm nay 91 tuổi) và các con đã khiếu nại. Không Quân Mỹ lập tức mở cuộc điều tra, năm 2008 đã xác nhận Tướng Lavelle không hề sửa đổi mệnh lệnh hành quân; và nếu các chứng cớ được Bộ Quốc Phòng tiết lộ đầy đủ thì đã chứng tỏ Tướng Lavelle vô tội.
Không Quân Mỹ đề nghị phục hồi danh dự và cấp bậc đại tướng cho ông Lavelle, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates ủng hộ, và Tổng Thống Obama đã đề nghị Thượng Viện Mỹ chuẩn y.
Câu chuyện Tướng Lavelle phục hội cấp bậc cho thấy trong một xã hội tự do dân chủ guồng máy nhà nước phải tôn trọng và bảo vệ sự thật. Chính phủ Mỹ đã làm đúng bổn phận đối với các công dân của họ là gia đình Lavelle, và với một quân nhân đã phục vụ cho đất nước.
Trong một chế độ độc tài thì trái lại, guồng máy nhà nước chỉ lo bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị mà thôi, bất chấp mọi luật pháp, bất chấp mọi quy tắc đạo đức. Do đó, họ có thể nói dối một cách trắng trợn, đến mức mất liêm sỉ.
Nếu sống ở Việt Nam, chắc hẳn qúy vị đã biết vụ anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, bị công an bắt về đồn ngày 23 tháng 7 vừa qua vì lái xe gắn máy không đội mũ an toàn, rồi tại bót công an, họ đã đánh anh đến chết. Hàng vạn đồng bào tỉnh Bắc Giang đã biểu tình phản đối hành động dã man này. Nhưng bây giờ, theo bản tin của nhà nước Cộng Sản, ông phó chủ tịch tỉnh Bắc Giang đã trâng tráo giải thích bằng những lời hoàn toàn bịa đặt.
Ông phó chủ tịch tỉnh nói rằng cảnh sát giao thông công an huyện Tân Yên “phát hiện anh Nguyễn Văn Khương có lỗi vi phạm an toàn giao thông trên đường 398 thuộc địa phận huyện Tân Yên.” Ông cho biết công an đó đưa xe và người vi phạm “vào trụ sở để lập biên bản xử lý. Khi ngồi trên ghế, anh Khương có biểu hiện sức khỏe không bình thường và công an đó đưa anh đi cấp cứu ở bệnh viện huyện Tân Yên. Ðến bệnh viện thì anh Khương chết...”
Một thanh niên đang khỏe mạnh, đang lái xe gắn máy chở bạn đi chơi, chỉ “ngồi trên ghế” trong đồn công an thôi là đã phải đưa vào bệnh viện cấp cứu, và chết ngay. Ðưa ra những lời gian dối đó để bắt dân phải tin như sự thật, phải nói guồng máy cai trị Cộng Sản đã coi thường trí phán đoán của tất cả nhân dân tỉnh Bắc Giang, khinh rẻ tất cả mọi người dân Việt Nam. Có ai giảo nghiệm tử thi để cho biết vì sao anh Khương qua đời hay không? Có y sĩ độc lập đáng tin cậy nào đưa ra chứng cớ về nguyên nhân cái chết của anh Nguyễn Văn Khương hay không? Có thể nào một cái chết bình thường như công an mô tả lại khiến cho cả gia đình anh phẫn uất và hàng vạn người dân bỏ công việc làm ăn đi biểu tình phản đối hay không?
Guồng máy nói dối của đảng Cộng Sản không những bắt dân nghe các lời gian trá, tìm cách che lập các tội lỗi của đảng như trong câu chuyện trên, mà suốt nửa thế kỷ qua họ còn bắt toàn dân phải tập nói dối theo đảng, từ những trẻ em đi học cho đến các nhà văn, nhà báo nữa. Ðây là một tai họa lớn nhất do đảng Cộng Sản gây ra, ở khắp thế giới nơi Cộng Sản cai trị, trong đó có nước ta.
Cho nên ông Hà Sĩ Phu, một nhà trí thức tranh đấu cho dân chủ mới gửi ra một bài tâm sự, cho biết, “...Tôi đó định viết một bài... mô tả một dân tộc lâu ngày nói dối đã quen, sắp bị diệt vong vì tật nói dối, bỗng hoảng hồn bừng tỉnh bên bờ vực thẳm, vội bảo nhau học lại ngôn ngữ núi thật của cha ông để tự cứu, nhưng vất vả mãi cũng chỉ mới bập bẹ phát ra được mấy câu núi thật vỡ lòng thôi.
Ông Hà Sĩ Phu kêu gọi: “Phải làm một cuộc cách mạng của sự thật mới mong giải thoát cho nhân dân khỏi ngục tù.”
Một người đang tham dự vào cuộc cách mạng của sự thật này là nhà văn Trần Mạnh Hảo, 64 tuổi. Ngày 26 tháng 7 vừa qua ông mới viết một bài gửi cho các bạn trong nghề văn chương, nhan đề “Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước.” Ông viết thẳng tuột: “Liên Xô đó bỏ ra 74 năm để tìm mà không thấy chủ nghĩa xã hội đâu, chỉ thấy trại tập trung, thấy nhà tù nhiều hơn trường học... Hồi chúng tôi theo học tại Học viện Gorky bên Liên Xô năm 1988, thường nghe dân Liên Xô định nghĩa về chủ nghĩa xã hội theo mô hình Lenin-Stalin như sau: “Chủ nghĩa xã hội là con đường vòng vèo nhất, đầy máu và nước mắt nhất, khốn nạn nhất để đi lên tư bản chủ nghĩa”. Liên Xô đó phải mất 74 năm đi vòng vèo trong máu xương, ngục tù, trong đày đọa của những quần đảo Gulag hắc ám, man rợ... để năm 1991 mới tới được nền kinh tế tự do tư bản chủ nghĩa.”
Trần Mạnh Hảo mô tả các đảng viên Cộng Sản như “một nhóm người không ai khiến, tự nhiên nhảy phóc ra đấu trường xã hội ngót trăm năm nay, hung hãn cầm mác cầm lê cầm búa cầm liềm cấm cản những nhóm người khác...” Và ông kết án: “Lenin, Stalin, Mao... đã biến nhân nhân các nước Nga, Tàu, Cuba, Bắc Triều Tiên, Việt Nam, Campuchia, hàng chục nước Ðông Âu... thành hàng tỉ con chuột bạch cho cuộc thí nghiệm máu Cộng Sản chủ nghĩa bằng bạo lực, bằng cải tạo áp đặt, bằng thuyết đấu tranh giai cấp tàn bạo nhưng đó thất bại hoàn toàn.” Trong lời kết án này tác giả kể tội Lenin, Stalin, Mao mà không nhắc đến tên Hồ Chí Minh, có lẽ vì ông Hồ là cán bộ cấp dưới, chỉ biết thừa hành đường lối, chính sách của các lãnh tụ đỏ Sít và Mao thụi.
Có thể coi lá thư này là những lời “vỡ lòng” để tập “nói thật” của một trong những nhà văn từ chối không tham dự vào guồng máy dối trá mà đảng Cộng Sản đang bao trùm lên cả nước. Ông Trần Mạnh Hảo nhắn với các đồng nghiệp: “...khẩu hiệu ‘Vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội” in trên đầu tờ Văn Nghệ của Hội Nhà Văn Việt Nam... phải đặt tên lại cho đúng với thực chất là: “Vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa không có thật” mới đúng.
Tìm sự thật, bảo vệ sự thật, là những hành động cách mạng cần thiết để cứu dân tộc Việt Nam, như Hà Sĩ Phu thiết tha kêu gọi. Tìm tòi và bảo vệ sự thật không phải để trả thù ai mà là để phục hồi danh dự cho dân tộc. Trong đó có danh dự của bao nhiêu người đă bị đảng Cộng Sản hành hạ, giết tróc, tù đày. Công việc này có thể thực hiện ngay từ bây giờ, ngay khi còn chế độ Cộng Sản. Mọi công dân Việt Nam đều có thể bắt đầu tìm và lưu trữ các tài liệu, chứng cớ về những “nghi án” trong chế độ Cộng Sản hiện nay. Ðặc biệt là các nhà văn, nhà báo, họ đều mang nợ với Sự Thật. Giữ các tài liệu, chứng cớ đó, chờ đến ngày đất nước ta được tự do thì nhiều thứ đã có sẵn chỉ cần được phơi bày ra trước ánh sáng, mọi người sẽ khỏi mất quá nhiều công tìm kiếm.
Tại các quốc gia như Chile, Nam Phi, vân vân, sau khi đã xóa bỏ được chế độ độc tài để xây dựng dân chủ, người ta đã thành lập các Ủy ban Hòa giải và Tìm Sự Thật. Nhưng người Việt Nam không cần phải chờ đến khi chế độ Cộng Sản được xóa sổ thì mới bắt đầu công việc đó. Những ai biết sự thật nào về tất cả những nghi án, các hồ sơ “nóng hổi” đều nên lưu trữ các tài liệu, bằng chứng, giữ lại chờ ngày được tự do trưng ra. Những nghi án và hồ sơ nóng đó có thể thuộc mọi lănh vực, liên hệ đến các cá nhân hay tất cả tập thể. Những anh chị công an huyện Việt Yên nào có chứng cớ về vụ tra khảo, hành hùng anh Nguyễn Văn Khương hãy cất giấu các bằng chứng, những sự thật đó ngay bây giờ. Sẽ có ngày gia đình anh được sống trong một chế độ tự do dân chủ và họ sẽ đòi tìm ra sự thật. Anh chị công an nào theo tiếng gọi của lương tâm, của công lý, hãy giúp gia đình anh Nguyễn Văn Khương ngay từ bây giờ. Khi chúng ta được sống tự do, mọi người sẽ ghi ơn “bảo vệ sự thật” của qúy vị; đó là con đường hòa giải vững chắc nhất.
Còn rất nhiều sự thật khác đang bị che giấu mà trong tương lai sẽ được điều tra lại. Các viên chức trong tỉnh Hà Giang, nhiều người biết rõ sự thật về những vụ buôn bán, lạm dụng thân xác của các nữ sinh. Những người được lương tâm thúc đẩy hãy thu thập các bằng chứng, ghi lại các sự kiện, các hành vi, tên tuổi của những kẻ vô lương tâm. Ðến ngày đất nước ta có công lý, dân Hà Giang sẽ được quyền truy tố các tên mặt người dạ thú đó, quý vị sẽ cung cấp cho guồng máy tư pháp các bằng chứng. Bao nhiêu vụ tham ô nhũng lạm khác, từ vụ PMU 18 đến xa lộ Sài Gòn; từ các cột xi măng lõi tre đến vụ sập cầu Cần Thơ chết người sẽ không để bị “chìm xuồng.” Những người có liên quan đến guồng máy tham nhũng Cộng Sản, hoặc đang phải ngồi trong đó, đều có thể thu thập các bằng chứng và sự kiện, sau này chúng ta sẽ viết lịch sử với đầy đủ tài liệu chính xác hơn.
Cho nên cuộc cách mạng của sự thật mà Hà Sĩ Phu đề nghị có thể bắt đầu bằng việc tìm tòi và bảo vệ các sự thật về chế độ Cộng Sản ngay từ bây giờ. Trong hệ thống công chức, cán bộ Cộng Sản, ngay tại trung tâm của các ổ tham nhũng, lạm quyền, vẫn còn rất nhiều người có lương tâm mà hiện nay họ phải im lặng đồng lõa vì không đủ sức kháng cự lại cả guồng máy. Nhưng những vị có lòng nhân, có đạo đức đều có thể bắt đầu cuộc cách mạng của sự thật ngay với bản thân mình. Hãy thu thập và gìn giữ các bằng chứng về sự thật, để mai sau quý vị sẽ đóng góp vào công việc phục hồi danh dự cho bao nhiêu đồng bào. Và sau cùng, chúng ta sẽ phục hồi danh dự cho dân tộc Việt Nam.
Ngô Nhân Dụng
Hơn 30 năm sau khi qua đời, Tướng John D. Lavelle mới được tổng thống Mỹ phục hồi danh dự. Năm 1972, Tướng Lavelle đang chỉ huy Không Quân trong chiến trường Việt Nam đã bị trừng phạt vì tội làm sai lệnh thượng cấp, cho thả bom những nơi ngoài các mục tiêu được chỉ định, trong một cuộc oanh tạc tại miền Bắc Việt Nam, cộng với tội sửa đổi chứng cớ trong mệnh lệnh để trốn trách nhiệm. Năm đó, ra trước ủy ban điều tra của Quốc Hội Mỹ, Tướng Lavelle đã quả quyết nói mình không hề làm sai mà cũng không hề sửa đổi mệnh lệnh. Nhưng ông vẫn bị phạt, giáng xuống hai cấp, buộc phải ra khỏi quân đội với cấp bậc trung tướng. Ông qua đời năm 1979.
Năm 2007, một vị tướng Không Quân khác, ông Aloysius Casey cùng với con trai đã viết một bài trong tạp chí của quân chủng Không Quân minh oan cho Tướng Lavelle. Ông tìm trong các cuốn băng đã thâu trong Tòa Bạch Ốc thời Tổng Thống Nixon được ghi chép lại, cho thấy rằng chính ông tổng thống Mỹ thời đó đã ra lệnh thả bom mở rộng vào các mục tiêu trên, và các cấp chỉ huy từ tổng tham mưu trưởng trở xuống đều đồng ý, chuyển lệnh xuống qua các đường dây mật. Những tài liệu mật này mới được công khai hóa theo luật định. Bà vợ Tướng Lavelle (năm nay 91 tuổi) và các con đã khiếu nại. Không Quân Mỹ lập tức mở cuộc điều tra, năm 2008 đã xác nhận Tướng Lavelle không hề sửa đổi mệnh lệnh hành quân; và nếu các chứng cớ được Bộ Quốc Phòng tiết lộ đầy đủ thì đã chứng tỏ Tướng Lavelle vô tội.
Không Quân Mỹ đề nghị phục hồi danh dự và cấp bậc đại tướng cho ông Lavelle, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates ủng hộ, và Tổng Thống Obama đã đề nghị Thượng Viện Mỹ chuẩn y.
Câu chuyện Tướng Lavelle phục hội cấp bậc cho thấy trong một xã hội tự do dân chủ guồng máy nhà nước phải tôn trọng và bảo vệ sự thật. Chính phủ Mỹ đã làm đúng bổn phận đối với các công dân của họ là gia đình Lavelle, và với một quân nhân đã phục vụ cho đất nước.
Trong một chế độ độc tài thì trái lại, guồng máy nhà nước chỉ lo bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị mà thôi, bất chấp mọi luật pháp, bất chấp mọi quy tắc đạo đức. Do đó, họ có thể nói dối một cách trắng trợn, đến mức mất liêm sỉ.
Nếu sống ở Việt Nam, chắc hẳn qúy vị đã biết vụ anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, bị công an bắt về đồn ngày 23 tháng 7 vừa qua vì lái xe gắn máy không đội mũ an toàn, rồi tại bót công an, họ đã đánh anh đến chết. Hàng vạn đồng bào tỉnh Bắc Giang đã biểu tình phản đối hành động dã man này. Nhưng bây giờ, theo bản tin của nhà nước Cộng Sản, ông phó chủ tịch tỉnh Bắc Giang đã trâng tráo giải thích bằng những lời hoàn toàn bịa đặt.
Ông phó chủ tịch tỉnh nói rằng cảnh sát giao thông công an huyện Tân Yên “phát hiện anh Nguyễn Văn Khương có lỗi vi phạm an toàn giao thông trên đường 398 thuộc địa phận huyện Tân Yên.” Ông cho biết công an đó đưa xe và người vi phạm “vào trụ sở để lập biên bản xử lý. Khi ngồi trên ghế, anh Khương có biểu hiện sức khỏe không bình thường và công an đó đưa anh đi cấp cứu ở bệnh viện huyện Tân Yên. Ðến bệnh viện thì anh Khương chết...”
Một thanh niên đang khỏe mạnh, đang lái xe gắn máy chở bạn đi chơi, chỉ “ngồi trên ghế” trong đồn công an thôi là đã phải đưa vào bệnh viện cấp cứu, và chết ngay. Ðưa ra những lời gian dối đó để bắt dân phải tin như sự thật, phải nói guồng máy cai trị Cộng Sản đã coi thường trí phán đoán của tất cả nhân dân tỉnh Bắc Giang, khinh rẻ tất cả mọi người dân Việt Nam. Có ai giảo nghiệm tử thi để cho biết vì sao anh Khương qua đời hay không? Có y sĩ độc lập đáng tin cậy nào đưa ra chứng cớ về nguyên nhân cái chết của anh Nguyễn Văn Khương hay không? Có thể nào một cái chết bình thường như công an mô tả lại khiến cho cả gia đình anh phẫn uất và hàng vạn người dân bỏ công việc làm ăn đi biểu tình phản đối hay không?
Guồng máy nói dối của đảng Cộng Sản không những bắt dân nghe các lời gian trá, tìm cách che lập các tội lỗi của đảng như trong câu chuyện trên, mà suốt nửa thế kỷ qua họ còn bắt toàn dân phải tập nói dối theo đảng, từ những trẻ em đi học cho đến các nhà văn, nhà báo nữa. Ðây là một tai họa lớn nhất do đảng Cộng Sản gây ra, ở khắp thế giới nơi Cộng Sản cai trị, trong đó có nước ta.
Cho nên ông Hà Sĩ Phu, một nhà trí thức tranh đấu cho dân chủ mới gửi ra một bài tâm sự, cho biết, “...Tôi đó định viết một bài... mô tả một dân tộc lâu ngày nói dối đã quen, sắp bị diệt vong vì tật nói dối, bỗng hoảng hồn bừng tỉnh bên bờ vực thẳm, vội bảo nhau học lại ngôn ngữ núi thật của cha ông để tự cứu, nhưng vất vả mãi cũng chỉ mới bập bẹ phát ra được mấy câu núi thật vỡ lòng thôi.
Ông Hà Sĩ Phu kêu gọi: “Phải làm một cuộc cách mạng của sự thật mới mong giải thoát cho nhân dân khỏi ngục tù.”
Một người đang tham dự vào cuộc cách mạng của sự thật này là nhà văn Trần Mạnh Hảo, 64 tuổi. Ngày 26 tháng 7 vừa qua ông mới viết một bài gửi cho các bạn trong nghề văn chương, nhan đề “Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước.” Ông viết thẳng tuột: “Liên Xô đó bỏ ra 74 năm để tìm mà không thấy chủ nghĩa xã hội đâu, chỉ thấy trại tập trung, thấy nhà tù nhiều hơn trường học... Hồi chúng tôi theo học tại Học viện Gorky bên Liên Xô năm 1988, thường nghe dân Liên Xô định nghĩa về chủ nghĩa xã hội theo mô hình Lenin-Stalin như sau: “Chủ nghĩa xã hội là con đường vòng vèo nhất, đầy máu và nước mắt nhất, khốn nạn nhất để đi lên tư bản chủ nghĩa”. Liên Xô đó phải mất 74 năm đi vòng vèo trong máu xương, ngục tù, trong đày đọa của những quần đảo Gulag hắc ám, man rợ... để năm 1991 mới tới được nền kinh tế tự do tư bản chủ nghĩa.”
Trần Mạnh Hảo mô tả các đảng viên Cộng Sản như “một nhóm người không ai khiến, tự nhiên nhảy phóc ra đấu trường xã hội ngót trăm năm nay, hung hãn cầm mác cầm lê cầm búa cầm liềm cấm cản những nhóm người khác...” Và ông kết án: “Lenin, Stalin, Mao... đã biến nhân nhân các nước Nga, Tàu, Cuba, Bắc Triều Tiên, Việt Nam, Campuchia, hàng chục nước Ðông Âu... thành hàng tỉ con chuột bạch cho cuộc thí nghiệm máu Cộng Sản chủ nghĩa bằng bạo lực, bằng cải tạo áp đặt, bằng thuyết đấu tranh giai cấp tàn bạo nhưng đó thất bại hoàn toàn.” Trong lời kết án này tác giả kể tội Lenin, Stalin, Mao mà không nhắc đến tên Hồ Chí Minh, có lẽ vì ông Hồ là cán bộ cấp dưới, chỉ biết thừa hành đường lối, chính sách của các lãnh tụ đỏ Sít và Mao thụi.
Có thể coi lá thư này là những lời “vỡ lòng” để tập “nói thật” của một trong những nhà văn từ chối không tham dự vào guồng máy dối trá mà đảng Cộng Sản đang bao trùm lên cả nước. Ông Trần Mạnh Hảo nhắn với các đồng nghiệp: “...khẩu hiệu ‘Vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội” in trên đầu tờ Văn Nghệ của Hội Nhà Văn Việt Nam... phải đặt tên lại cho đúng với thực chất là: “Vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa không có thật” mới đúng.
Tìm sự thật, bảo vệ sự thật, là những hành động cách mạng cần thiết để cứu dân tộc Việt Nam, như Hà Sĩ Phu thiết tha kêu gọi. Tìm tòi và bảo vệ sự thật không phải để trả thù ai mà là để phục hồi danh dự cho dân tộc. Trong đó có danh dự của bao nhiêu người đă bị đảng Cộng Sản hành hạ, giết tróc, tù đày. Công việc này có thể thực hiện ngay từ bây giờ, ngay khi còn chế độ Cộng Sản. Mọi công dân Việt Nam đều có thể bắt đầu tìm và lưu trữ các tài liệu, chứng cớ về những “nghi án” trong chế độ Cộng Sản hiện nay. Ðặc biệt là các nhà văn, nhà báo, họ đều mang nợ với Sự Thật. Giữ các tài liệu, chứng cớ đó, chờ đến ngày đất nước ta được tự do thì nhiều thứ đã có sẵn chỉ cần được phơi bày ra trước ánh sáng, mọi người sẽ khỏi mất quá nhiều công tìm kiếm.
Tại các quốc gia như Chile, Nam Phi, vân vân, sau khi đã xóa bỏ được chế độ độc tài để xây dựng dân chủ, người ta đã thành lập các Ủy ban Hòa giải và Tìm Sự Thật. Nhưng người Việt Nam không cần phải chờ đến khi chế độ Cộng Sản được xóa sổ thì mới bắt đầu công việc đó. Những ai biết sự thật nào về tất cả những nghi án, các hồ sơ “nóng hổi” đều nên lưu trữ các tài liệu, bằng chứng, giữ lại chờ ngày được tự do trưng ra. Những nghi án và hồ sơ nóng đó có thể thuộc mọi lănh vực, liên hệ đến các cá nhân hay tất cả tập thể. Những anh chị công an huyện Việt Yên nào có chứng cớ về vụ tra khảo, hành hùng anh Nguyễn Văn Khương hãy cất giấu các bằng chứng, những sự thật đó ngay bây giờ. Sẽ có ngày gia đình anh được sống trong một chế độ tự do dân chủ và họ sẽ đòi tìm ra sự thật. Anh chị công an nào theo tiếng gọi của lương tâm, của công lý, hãy giúp gia đình anh Nguyễn Văn Khương ngay từ bây giờ. Khi chúng ta được sống tự do, mọi người sẽ ghi ơn “bảo vệ sự thật” của qúy vị; đó là con đường hòa giải vững chắc nhất.
Còn rất nhiều sự thật khác đang bị che giấu mà trong tương lai sẽ được điều tra lại. Các viên chức trong tỉnh Hà Giang, nhiều người biết rõ sự thật về những vụ buôn bán, lạm dụng thân xác của các nữ sinh. Những người được lương tâm thúc đẩy hãy thu thập các bằng chứng, ghi lại các sự kiện, các hành vi, tên tuổi của những kẻ vô lương tâm. Ðến ngày đất nước ta có công lý, dân Hà Giang sẽ được quyền truy tố các tên mặt người dạ thú đó, quý vị sẽ cung cấp cho guồng máy tư pháp các bằng chứng. Bao nhiêu vụ tham ô nhũng lạm khác, từ vụ PMU 18 đến xa lộ Sài Gòn; từ các cột xi măng lõi tre đến vụ sập cầu Cần Thơ chết người sẽ không để bị “chìm xuồng.” Những người có liên quan đến guồng máy tham nhũng Cộng Sản, hoặc đang phải ngồi trong đó, đều có thể thu thập các bằng chứng và sự kiện, sau này chúng ta sẽ viết lịch sử với đầy đủ tài liệu chính xác hơn.
Cho nên cuộc cách mạng của sự thật mà Hà Sĩ Phu đề nghị có thể bắt đầu bằng việc tìm tòi và bảo vệ các sự thật về chế độ Cộng Sản ngay từ bây giờ. Trong hệ thống công chức, cán bộ Cộng Sản, ngay tại trung tâm của các ổ tham nhũng, lạm quyền, vẫn còn rất nhiều người có lương tâm mà hiện nay họ phải im lặng đồng lõa vì không đủ sức kháng cự lại cả guồng máy. Nhưng những vị có lòng nhân, có đạo đức đều có thể bắt đầu cuộc cách mạng của sự thật ngay với bản thân mình. Hãy thu thập và gìn giữ các bằng chứng về sự thật, để mai sau quý vị sẽ đóng góp vào công việc phục hồi danh dự cho bao nhiêu đồng bào. Và sau cùng, chúng ta sẽ phục hồi danh dự cho dân tộc Việt Nam.
Hợp tác hạt nhân: Biến động tam giác Mỹ - Việt - Hoa
Dư luận quanh vụ Hoa Kỳ hợp tác hạt nhân với Việt Nam Hà Giang/Người Việt
WASHINGTON, DC (NV) - “Chỉ trong vòng hai tuần lễ mà Hoa Kỳ đã 'chọc vào mắt' Trung Quốc hai lần, thì e rằng sẽ tạo ra những khó khăn ngoại giao giữa hai quốc gia trong tương lai.”
Trong cuộc gặp gỡ vừa qua giữa đại diện Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và Quốc Hội vào tuần qua, một đại diện văn phòng Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi đã nêu nỗi ưu tư như vậy về hợp tác hạt nhân Mỹ-Việt, theo một nguồn trong giới thạo tin Washington cho báo Người Việt biết.

Từ lâu, Việt Nam đã theo đuổi ước vọng xây nhà máy điện nguyên tử. Trong hình, gian hàng của hãng Mitsubishi, Nhật,
thu hút người đi xem Triển lãm Quốc tế Ðiện Hạt nhân tại Hà Nội vào tháng 5, 2010. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Nguồn tin này tiết lộ, đại diện văn phòng Dân Biểu Pelosi hỏi Bộ Ngoại Giao là đã thảo luận với Trung Quốc về việc đàm phán hợp tác hạt nhân với Việt Nam hay chưa, thì Bộ Ngoại Giao khẳng định: “Việc này không dính dáng gì tới Trung Quốc.”
Cũng theo nguồn tin trên thì đại diện Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ nói thêm: “Chúng tôi thấy là không cần thiết phải thông báo với Trung Quốc, vì đây là một hợp tác chỉ liên quan đến hai quốc gia Hoa Kỳ và Việt Nam.”
Tuy nhiên, phản ứng ở nhiều nơi cho thấy dư luận không cho việc Hoa Kỳ hợp tác hạt nhân với Việt Nam mà một vấn đề thuần túy song phương, mà luôn có bóng dáng Trung Quốc chập chờn chung quanh.
Trung Quốc phản ứng
Tin Hoa Kỳ bắt tay với Việt Nam được báo Wall Street Journal tung lên trang nhất báo này trong ấn bản ngày 5 tháng 8. Tin này được đưa ra khi Trung Quốc còn chưa nguôi ngoai về việc Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố “Hoa Kỳ sẽ không đứng ngoài những tranh chấp tại Biển Ðông,” tại buổi hội nghị Diễn Ðàn Khu Vực ASEAN ở Hà Nội cách đây hai tuần.
Tại Bắc Kinh, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, bà Mei Li cho biết Trung Quốc “chưa nắm rõ chi tiết” của bản ký kết. Tuy nhiên, bà nhắc lại quan điểm Trung Quốc là “các nước trên thế giới có quyền sử dụng công nghệ hạt nhân vào mục đích hòa bình,” nhưng “các nước cũng cần phải tự có trách nhiệm ngăn chận sự phổ biến hạt nhân.”
Báo chí Trung Quốc, cùng nhiều trang mạng tại Trung Hoa, đăng một loạt bài mô tả nhận định của các chuyên gia là hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ trong lĩnh vực hạt nhân “gây bất ổn” cho Trung Quốc.
Ngay giữa những phản ứng hàng loạt từ phương Bắc, qua lời phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Nguyễn Phương Nga, Hà Nội chính thức bác bỏ là giữa hai nước chưa bàn thảo gì về chuyện đó.
Bản tin AFP hôm Thứ Sáu trích lời bà Nguyễn Phương Nga tuyên bố:
“Việt Nam và Hoa Kỳ chưa tiến hành các cuộc thương thuyết cho một hiệp ước về việc sử dụng năng lượng nguyên tử một cách hòa bình.”
Tờ China Daily trích lời một số chuyên gia Trung Quốc nói rằng việc Hoa Kỳ và Việt Nam chia sẻ nhiên liệu và công nghệ hạt nhân có thể làm “tan vỡ” ổn định thế giới.
Ông Teng Jianqun, phó chủ tịch Hiệp Hội Kiểm Soát và Giải Trừ Vũ Khí, một hiệp hội phi chính phủ tại Trung Quốc, cho rằng việc Hoa Kỳ không ép Việt Nam phải từ bỏ việc làm giàu chất uranium là áp dụng “tiêu chuẩn kép (double standards) cho các nước.”
Hoa Kỳ trấn an nội bộ
Tờ Wall Street Journal tường thuật rằng một số nghị sĩ tại Quốc Hội Mỹ chỉ trích rằng thỏa thuận sẽ bỏ qua những yêu cầu nghiêm ngặt đang áp đặt cho các nước Ả Rập đang cộng tác hạt nhân với Hoa Kỳ, là bị buộc phải từ bỏ quyền được làm giàu uranium.
Hoa Kỳ nhấn mạnh là bất kỳ thỏa thuận nào với Việt Nam cũng sẽ đòi hỏi Việt Nam phải chịu sự thanh sát của IAEA, cơ quan kiểm soát nguyên tử Liên Hiệp Quốc, để bảo đảm là Việt Nam không có mục tiêu quân sự trong việc phát triển năng lượng nguyên tử.
Nhưng cũng theo tờ Wall Street Journal, phụ tá Ngoại Trưởng Philip J. Crowley, kiêm phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao, từ chối không tiết lộ chi tiết cụ thể về đàm phán với Víệt Nam, và cũng không cho biết là Hoa Kỳ có cho phép Hà Nội được làm giàu uranium hay không.
Cả bác bỏ của Bộ Ngoại Giao Việt Nam lẫn khẳng định của Hoa Kỳ là sẽ đòi hỏi Việt Nam phải chịu sự thanh sát của IAEA, đều dường như không làm dịu đi được nhưng thông tin và bình luận sôi nổi của các hãng truyền thông quốc tế về đề tài này.
Ðài VOA tường thuật là: “Ðàm phán về hạt nhân dân sự giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, có thể dẫn đến chuyện Việt Nam sẽ làm giàu chất uranium, điều gây lo ngại cho một số nhà làm luật Hoa Kỳ, vì họ xem đây là một bước lùi trong việc ngăn chận sự lan tràn của các chất liệu hạt nhân có thể sử dụng để chế vũ khí.”
Phụ tá Ngoại Trưởng Crowley nói rằng đó chính là điều mà Hoa Kỳ đang đàm phán với Việt Nam, và Hoa Kỳ hy vọng rằng, Việt Nam, cũng giống như Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, sẽ không sử dụng kỹ nghệ này để tự chế nhiên liệu hạt nhân.
Theo tin của hãng AP thì ông Vương Hữu Tấn, giám đốc Viện Năng Lượng Nguyên Tử Việt Nam, khẳng định rằng: “Việt Nam không có ý định làm giàu Uranium, mà chỉ dùng chương trình này cho mục đích dân sự mà thôi, vì thế các nước không nên quá lo lắng về vấn đề này.”
Trả lời phỏng vấn của đài VOA, ông Andrew Davies, thuộc Viện Chính Sách Chiến Lược của Úc, phát biểu:
“Không phải là tôi không tin tưởng Việt Nam sẽ giữ lời hứa, nhưng vấn đề là khả năng. Khi một quốc gia có khả năng phát triển hạt nhân thì sẽ dễ bị cám dỗ tiến sang con đường muốn sản xuất những chất liệu hạt nhân để chế vũ khí.”
Theo tin AP, ông Henry Sokolski, giám đốc của Trung Tâm Giáo Dục Chính Sách Kiềm Chế Phát Triển Năng Lượng Nguyên Tử (Nonproliferation Policy Education Center), và là cựu nhân viên của Ngũ Giác Ðài kêu gọi tòa Bạch Ốc “từ tốn lại.” Ông nói:
“Thỏa thuận này sẽ làm chúng ta mang tiếng là có tiêu chuẩn kép. Nếu chúng ta định hợp tác với Việt Nam, thì đừng hạ tiêu chuẩn của mình xuống. Ðiều này chỉ tạo ra phiền nhiễu.”
Giáo Sư Carl Thayer, nhà nghiên cứu về Á Châu Thái Bình Dương thì việc đạt được thỏa thuận hạt nhân với Hoa kỳ, mở đường cho việc phát triển hạt nhân dân sự, sẽ giúp Việt Nam đảm bảo được an ninh năng lượng cho mình, và không còn phải cạnh tranh với Trung Quốc hay phụ thuộc vào nguồn năng lượng dầu khí từ Trung Ðông.
Mỹ lấn sân Bắc Kinh
Tuy phần lớn những tranh cãi xoay quanh việc Hoa Kỳ có để cho Việt Nam quyền tự làm giàu uranium hay không, giới phân tích cho là quan tâm chính của Bắc Kinh không phải là việc Việt Nam có sử dụng năng lượng hạt nhân cho mục đích quân sự hay không, mà là việc Hoa Kỳ mang banh vào sân chơi của Trung Quốc.
Nhắc lại lời tuyên bố của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton trong chuyến viếng thăm Hà Nội mới đây là chính phủ Obama sẵn sàng đưa quan hệ Việt-Mỹ “lên cấp độ mới,” tờ China Daily, trích lời ông Li Qinggong, phó tổng thư ký Hội Ðồng Trung Quốc Nghiên Cứu Chính Sách An Ninh Quốc Gia nói rằng: “Chúng ta không thể làm ngơ trước tình hình.”
Ông Fan Jishe, một nhà nghiên cứu thuộc Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc còn phản ứng mạnh mẽ hơn, lên án rằng: “Mỹ tăng cường hợp tác hạt nhân với Việt Nam là để nhằm đối phó với Trung Quốc.”
Tờ Foreign Policy trích lời ông Ernie Bower, giám đốc của Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Viễn Ðông và Quốc Tế, nói rằng:
“Bắc Kinh đã bước lùi rất nhiều năm khi có những phản ứng thái quá như vậy. Họ càng phản ứng như thế thì càng cho thế giới, nhất là những quốc gia trong vùng Ðông Nam Á thấy rõ là ngoài mặt Trung Quốc tỏ ra là bạn tốt của họ, nhưng thật ra trong bụng đầy mưu toan.”
Trên blog riêng của mình có tên “The Washington Note,” ông Steve Clemons một người thông thạo về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ viết rằng một người bạn lão thành của ông khuyên là “đừng bị lạc vào những chi tiết nhỏ” của những thương thuyết giữa Hoa Kỳ với Việt Nam, với Nhật Bản, hay với Nam Hàn, mà phải nhớ lời tuyên bố “Hoa Kỳ trở lại Á Ðông” của Ngoại Trưởng Hillary Clinton khi đi tham dự những hội nghị Á Châu tại Thái Lan cách đây hơn một năm.
“Hãy nhớ là tất cả những động thái của Hoa Kỳ bây giờ là để tạo thế đứng vững vàng và phát huy ảnh hưởng của Mỹ tại Á Châu Thái Bình Dương, và ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc.”
Dư luận quanh vụ Hoa Kỳ hợp tác hạt nhân với Việt Nam Hà Giang/Người Việt
WASHINGTON, DC (NV) - “Chỉ trong vòng hai tuần lễ mà Hoa Kỳ đã 'chọc vào mắt' Trung Quốc hai lần, thì e rằng sẽ tạo ra những khó khăn ngoại giao giữa hai quốc gia trong tương lai.”
Trong cuộc gặp gỡ vừa qua giữa đại diện Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và Quốc Hội vào tuần qua, một đại diện văn phòng Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi đã nêu nỗi ưu tư như vậy về hợp tác hạt nhân Mỹ-Việt, theo một nguồn trong giới thạo tin Washington cho báo Người Việt biết.

Từ lâu, Việt Nam đã theo đuổi ước vọng xây nhà máy điện nguyên tử. Trong hình, gian hàng của hãng Mitsubishi, Nhật,
thu hút người đi xem Triển lãm Quốc tế Ðiện Hạt nhân tại Hà Nội vào tháng 5, 2010. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Nguồn tin này tiết lộ, đại diện văn phòng Dân Biểu Pelosi hỏi Bộ Ngoại Giao là đã thảo luận với Trung Quốc về việc đàm phán hợp tác hạt nhân với Việt Nam hay chưa, thì Bộ Ngoại Giao khẳng định: “Việc này không dính dáng gì tới Trung Quốc.”
Cũng theo nguồn tin trên thì đại diện Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ nói thêm: “Chúng tôi thấy là không cần thiết phải thông báo với Trung Quốc, vì đây là một hợp tác chỉ liên quan đến hai quốc gia Hoa Kỳ và Việt Nam.”
Tuy nhiên, phản ứng ở nhiều nơi cho thấy dư luận không cho việc Hoa Kỳ hợp tác hạt nhân với Việt Nam mà một vấn đề thuần túy song phương, mà luôn có bóng dáng Trung Quốc chập chờn chung quanh.
Trung Quốc phản ứng
Tin Hoa Kỳ bắt tay với Việt Nam được báo Wall Street Journal tung lên trang nhất báo này trong ấn bản ngày 5 tháng 8. Tin này được đưa ra khi Trung Quốc còn chưa nguôi ngoai về việc Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố “Hoa Kỳ sẽ không đứng ngoài những tranh chấp tại Biển Ðông,” tại buổi hội nghị Diễn Ðàn Khu Vực ASEAN ở Hà Nội cách đây hai tuần.
Tại Bắc Kinh, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, bà Mei Li cho biết Trung Quốc “chưa nắm rõ chi tiết” của bản ký kết. Tuy nhiên, bà nhắc lại quan điểm Trung Quốc là “các nước trên thế giới có quyền sử dụng công nghệ hạt nhân vào mục đích hòa bình,” nhưng “các nước cũng cần phải tự có trách nhiệm ngăn chận sự phổ biến hạt nhân.”
Báo chí Trung Quốc, cùng nhiều trang mạng tại Trung Hoa, đăng một loạt bài mô tả nhận định của các chuyên gia là hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ trong lĩnh vực hạt nhân “gây bất ổn” cho Trung Quốc.
Ngay giữa những phản ứng hàng loạt từ phương Bắc, qua lời phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Nguyễn Phương Nga, Hà Nội chính thức bác bỏ là giữa hai nước chưa bàn thảo gì về chuyện đó.
Bản tin AFP hôm Thứ Sáu trích lời bà Nguyễn Phương Nga tuyên bố:
“Việt Nam và Hoa Kỳ chưa tiến hành các cuộc thương thuyết cho một hiệp ước về việc sử dụng năng lượng nguyên tử một cách hòa bình.”
Tờ China Daily trích lời một số chuyên gia Trung Quốc nói rằng việc Hoa Kỳ và Việt Nam chia sẻ nhiên liệu và công nghệ hạt nhân có thể làm “tan vỡ” ổn định thế giới.
Ông Teng Jianqun, phó chủ tịch Hiệp Hội Kiểm Soát và Giải Trừ Vũ Khí, một hiệp hội phi chính phủ tại Trung Quốc, cho rằng việc Hoa Kỳ không ép Việt Nam phải từ bỏ việc làm giàu chất uranium là áp dụng “tiêu chuẩn kép (double standards) cho các nước.”
Hoa Kỳ trấn an nội bộ
Tờ Wall Street Journal tường thuật rằng một số nghị sĩ tại Quốc Hội Mỹ chỉ trích rằng thỏa thuận sẽ bỏ qua những yêu cầu nghiêm ngặt đang áp đặt cho các nước Ả Rập đang cộng tác hạt nhân với Hoa Kỳ, là bị buộc phải từ bỏ quyền được làm giàu uranium.
Hoa Kỳ nhấn mạnh là bất kỳ thỏa thuận nào với Việt Nam cũng sẽ đòi hỏi Việt Nam phải chịu sự thanh sát của IAEA, cơ quan kiểm soát nguyên tử Liên Hiệp Quốc, để bảo đảm là Việt Nam không có mục tiêu quân sự trong việc phát triển năng lượng nguyên tử.
Nhưng cũng theo tờ Wall Street Journal, phụ tá Ngoại Trưởng Philip J. Crowley, kiêm phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao, từ chối không tiết lộ chi tiết cụ thể về đàm phán với Víệt Nam, và cũng không cho biết là Hoa Kỳ có cho phép Hà Nội được làm giàu uranium hay không.
Cả bác bỏ của Bộ Ngoại Giao Việt Nam lẫn khẳng định của Hoa Kỳ là sẽ đòi hỏi Việt Nam phải chịu sự thanh sát của IAEA, đều dường như không làm dịu đi được nhưng thông tin và bình luận sôi nổi của các hãng truyền thông quốc tế về đề tài này.
Ðài VOA tường thuật là: “Ðàm phán về hạt nhân dân sự giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, có thể dẫn đến chuyện Việt Nam sẽ làm giàu chất uranium, điều gây lo ngại cho một số nhà làm luật Hoa Kỳ, vì họ xem đây là một bước lùi trong việc ngăn chận sự lan tràn của các chất liệu hạt nhân có thể sử dụng để chế vũ khí.”
Phụ tá Ngoại Trưởng Crowley nói rằng đó chính là điều mà Hoa Kỳ đang đàm phán với Việt Nam, và Hoa Kỳ hy vọng rằng, Việt Nam, cũng giống như Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, sẽ không sử dụng kỹ nghệ này để tự chế nhiên liệu hạt nhân.
Theo tin của hãng AP thì ông Vương Hữu Tấn, giám đốc Viện Năng Lượng Nguyên Tử Việt Nam, khẳng định rằng: “Việt Nam không có ý định làm giàu Uranium, mà chỉ dùng chương trình này cho mục đích dân sự mà thôi, vì thế các nước không nên quá lo lắng về vấn đề này.”
Trả lời phỏng vấn của đài VOA, ông Andrew Davies, thuộc Viện Chính Sách Chiến Lược của Úc, phát biểu:
“Không phải là tôi không tin tưởng Việt Nam sẽ giữ lời hứa, nhưng vấn đề là khả năng. Khi một quốc gia có khả năng phát triển hạt nhân thì sẽ dễ bị cám dỗ tiến sang con đường muốn sản xuất những chất liệu hạt nhân để chế vũ khí.”
Theo tin AP, ông Henry Sokolski, giám đốc của Trung Tâm Giáo Dục Chính Sách Kiềm Chế Phát Triển Năng Lượng Nguyên Tử (Nonproliferation Policy Education Center), và là cựu nhân viên của Ngũ Giác Ðài kêu gọi tòa Bạch Ốc “từ tốn lại.” Ông nói:
“Thỏa thuận này sẽ làm chúng ta mang tiếng là có tiêu chuẩn kép. Nếu chúng ta định hợp tác với Việt Nam, thì đừng hạ tiêu chuẩn của mình xuống. Ðiều này chỉ tạo ra phiền nhiễu.”
Giáo Sư Carl Thayer, nhà nghiên cứu về Á Châu Thái Bình Dương thì việc đạt được thỏa thuận hạt nhân với Hoa kỳ, mở đường cho việc phát triển hạt nhân dân sự, sẽ giúp Việt Nam đảm bảo được an ninh năng lượng cho mình, và không còn phải cạnh tranh với Trung Quốc hay phụ thuộc vào nguồn năng lượng dầu khí từ Trung Ðông.
Mỹ lấn sân Bắc Kinh
Tuy phần lớn những tranh cãi xoay quanh việc Hoa Kỳ có để cho Việt Nam quyền tự làm giàu uranium hay không, giới phân tích cho là quan tâm chính của Bắc Kinh không phải là việc Việt Nam có sử dụng năng lượng hạt nhân cho mục đích quân sự hay không, mà là việc Hoa Kỳ mang banh vào sân chơi của Trung Quốc.
Nhắc lại lời tuyên bố của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton trong chuyến viếng thăm Hà Nội mới đây là chính phủ Obama sẵn sàng đưa quan hệ Việt-Mỹ “lên cấp độ mới,” tờ China Daily, trích lời ông Li Qinggong, phó tổng thư ký Hội Ðồng Trung Quốc Nghiên Cứu Chính Sách An Ninh Quốc Gia nói rằng: “Chúng ta không thể làm ngơ trước tình hình.”
Ông Fan Jishe, một nhà nghiên cứu thuộc Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc còn phản ứng mạnh mẽ hơn, lên án rằng: “Mỹ tăng cường hợp tác hạt nhân với Việt Nam là để nhằm đối phó với Trung Quốc.”
Tờ Foreign Policy trích lời ông Ernie Bower, giám đốc của Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Viễn Ðông và Quốc Tế, nói rằng:
“Bắc Kinh đã bước lùi rất nhiều năm khi có những phản ứng thái quá như vậy. Họ càng phản ứng như thế thì càng cho thế giới, nhất là những quốc gia trong vùng Ðông Nam Á thấy rõ là ngoài mặt Trung Quốc tỏ ra là bạn tốt của họ, nhưng thật ra trong bụng đầy mưu toan.”
Trên blog riêng của mình có tên “The Washington Note,” ông Steve Clemons một người thông thạo về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ viết rằng một người bạn lão thành của ông khuyên là “đừng bị lạc vào những chi tiết nhỏ” của những thương thuyết giữa Hoa Kỳ với Việt Nam, với Nhật Bản, hay với Nam Hàn, mà phải nhớ lời tuyên bố “Hoa Kỳ trở lại Á Ðông” của Ngoại Trưởng Hillary Clinton khi đi tham dự những hội nghị Á Châu tại Thái Lan cách đây hơn một năm.
“Hãy nhớ là tất cả những động thái của Hoa Kỳ bây giờ là để tạo thế đứng vững vàng và phát huy ảnh hưởng của Mỹ tại Á Châu Thái Bình Dương, và ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc.”
Bauxite chưa xong, tới sân golf lớn nhất nước, dân nghèo khóc sướt mướt!
Thursday, August 05, 2010
Lê Diễn Ðức
Không biết tương lai của người dân vùng Tây Nguyên sẽ ra sao? Ðây là câu hỏi với những ưu tư, trăn trở của hàng vạn người trên vùng đất đỏ này mà chưa có lời đáp.
Siêu quyền lực?
Câu chuyện khai thác bauxite ở Tây Nguyên trong năm 2009 đã làm sôi động dư luận, từ người lao động, đến giới trí thức, lên tới thượng tầng lãnh đạo. Thế nhưng, chưa một lực lượng nào ngăn chặn được thế lực kinh tế-chính trị áp đảo của phe nhóm ông Nguyễn Tấn Dũng (trừ tiền lệ “Dự án Ðường tàu cao tốc” duy nhất không được Quốc Hội thông qua).

Một sân golf ở Hà Tây. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images) So với tất cả những vị thủ tướng tiền nhiệm của nhà nước Việt Nam Cộng Sản gồm Phạm Văn Ðồng, Phạm Hùng, Ðỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, thì ông Nguyễn Tấn Dũng - giữ chức thủ tướng từ năm 2006 - là người đứng đầu chính phủ lộng hành nhất, gian ngoan nhất, tham lam nhất, cho các thành viên của gia đình được hưởng quyền làm ăn đặc biệt nhất, phê chuẩn nhiều dự án quốc gia lớn nhất, bất chấp sự phản đối của xã hội, của các đại biểu Quốc Hội, các bậc lão thành cách mạng, gây tổn hại nghiêm trọng về kinh tế cũng như chủ quyền và an ninh của đất nước.
Những nhận định trên đây của tôi, thiết nghĩ không cần phải chứng minh. Bởi vì đã có quá nhiều các bài viết phân tích ngay ở trong nước, lên án thậm chí thô bạo hơn, từ các dự án Bauxite Tây Nguyên, thuê rừng đầu nguồn, đường tàu cao tốc, Vinashin, các vụ tham nhũng PMU 18, PCI, tiền giấy polymer, v.v. và bản tin mới đây nhất của “Vietnam.net” ngày 3 tháng 8: “Hơn 20 năm qua, trong tổng thầu EPC, có tới 90% các công trình điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất... của Việt Nam đều do Trung Quốc đảm nhiệm!” Chúng ta hãy điểm xem: hầu hết các gói tổng thầu EPC lớn nhất nằm trong nhiệm kỳ của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Khổ đâu dân chịu
Dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất có thể nói là một điển hình cho việc làm ăn vội vã, tắc trách, thiếu đồng bộ và nhất quán ngay từ đầu. Với nhiều thay đổi, tới 2007 mới khởi công, tính ra kéo dài 13 năm, nhưng đến tháng 5 năm 2010 sau nghiệm thu vẫn còn tới 50 chi tiết kỹ thuật phải sửa chữa.
Từ thực tế này khiến ta không thể không lo ngại cho những “quả đấm thép” tiếp theo của ông thủ tướng.
Cho đến nay, thông tin về tiến độ thi công khai thác bauxite ở Tây Nguyên rất hạn chế đưa ra công luận. Tháng 5 năm 2010, nhà nghiên cứu Nguyễn Trung trong chuyến đi khảo sát Tân Rai và Nhân Cơ với Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải đã viết: “Bây giờ thì tất cả chúng ta đã ngồi trên lưng cọp (vấn đề bauxite) rồi, điều tốt nhất Tân Rai có thể cống hiến cho đất nước là báo cáo trung thực toàn bộ quá trình xây dựng, vận hành và kinh doanh alumin với đảng, chính phủ và nhân dân cả nước để từ đó rút kinh nghiệm cho toàn bộ vấn đề bauxite ở Tây Nguyên, vì chỉ có nhìn nhận đầy đủ sự thật thì mới có thể rút kinh nghiệm và có được những quyết định đúng đắn. Ðất nước có quá nhiều vấn đề, thiếu quá nhiều thông tin, nhưng cái thiếu nguy hiểm nhất là thiếu sự trung thực, từ cái thiếu này sai lầm đẻ ra sai lầm”.
Người ta đã không tiên liệu được thực tế khó khăn trong khâu xây dựng đường vận chuyển khoáng sản. Lớn hơn nữa thuộc về an toàn môi sinh. Thế nhưng các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn thích làm liều (nôn nóng vì cái gì thì chúng ta tự hiểu!), hậu quả tính sau. Ðoàn Văn Kiển, sếp của Tập Ðoàn Công Nghiệp Than-Khoáng Sản, đã từng phát biểu trên diễn đàn Quốc Hội năm ngoái: “Ô nhiễm hay không, có làm mới biết!”.
Tập Ðoàn Công Nghiệp Than-Khoáng Sản làm chủ đầu tư khai thác bauxite tại thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm (Lâm Ðồng) với tổng vốn 687 triệu USD, thời gian khai thác 100 năm, dự kiến bắt đầu từ cuối 2009.
Những dự kiến thường rất “hoành tráng”, cốt để đưa dư luận vào tròng, được ký duyệt nhanh, rót tiền mau lẹ, nhưng trong hầu hết các công trình lớn, cái nào bàn giao được gọi là đúng hạn thì chỉ sau một thời gian ngắn nảy sinh những vần đề nghiêm trọng về chất lượng (gần đây nhất: lún đường cao tốc đắt nhất hành tinh Trung Lương-Sài Gòn, sập cầu Thanh Trì, lún nứt cầu Thăng Long...) Còn cái nào bị trì trệ thì được viện đủ lý do, không ai biết mùa quýt nào sẽ hoàn thành!
Ðể phục vụ cho dự án khai thác bauxite, chương trình triển khai đền bù, giải phóng mặt bằng đã bắt đầu trước từ tháng 4 năm 2006! Cho đến khi dự án chính thức được Quốc Hội thông qua vào tháng 5 năm 2009, công việc này vẫn đi bằng tốc độ của rùa. Bởi vì, với giá đền bù đất đai và nhà cửa chỉ bằng khoảng 1/5 giá thị trường, đã gặp phải sự phản kháng của dân chúng.
Dân chúng được hứa cấp đất tái định cư và 16 ngàn việc làm trong khu công nghiệp khai thác cho đến nay vẫn là lời hứa nói cho vui. Trong khi đó công nhân Trung Quốc tràn sang làm việc bất hợp pháp không kiểm soát nổi.
Một cư dân ở thị trấn Lộc Thắng tâm sự với phóng viên “Sài Gòn Giải Phóng”: “Ba năm nay cả nhà tôi cứ loay hoay không biết phải làm ăn như thế nào. Thời gian trước mỗi năm tổng thu nhập gia đình tôi từ trà và cà phê từ 60 -70 triệu đồng, vậy mà giờ không còn tâm trí đâu mà làm ăn nữa! Nhìn cà phê và trà khô héo mà lòng xót xa nhưng không dám đầu tư vì không biết dự án khi nào triển khai và nghe nói vùng tái định canh thì cách vùng tái định cư khoảng 15 km thì làm sao trông nom sản xuất được?”
Họa vô đơn chí
Cuộc đời của người dân Tây Nguyên sao cứ bị bất hạnh dồn dập. Ðang khốn nạn vì bauxite thì họa sân gôn (golf) ập tới.
Trong một đất nước mà “hằng năm vẫn còn hàng nghìn đồng bào chỉ được ăn cơm khi ngày lễ, ngày Tết, khi bị ốm” (lời Bộ Trưởng Nông Nghiệp Cao Ðức Phát); “những đứa trẻ đến trường, đánh cược với mạng sống, đu dây qua dòng sông chảy xiết; bệnh viện la liệt bệnh nhân, 2-3-4 người xếp chung một giường và không ít người trong số họ sẽ bị trả về nhà chờ chết chỉ vì không còn tiền chữa trị; trường ốc thiếu hụt, phụ huynh phải thức trắng đêm, chen chúc xếp hàng cố giành giật cho con mình một suất học mầm non” (lời Phan Hồng Giang) - mà sao sân golf nhiều đến thế.
Nguồn tin của “giaoduc.edu.vn” nói rằng, công ty trà Minh Rồng, huyện Bảo Lâm, Lâm Ðồng cho biết hiện sản lượng trà búp tươi của nông trường chỉ còn khoảng 1,000 tấn/năm, giảm 60% so với trước đây nên không đủ nguyên liệu cho nhà máy chế biến chè xuất khẩu của đơn vị hoạt động.
Nguyên nhân chính là do hiện có trên 300 ha trong tổng số 420 ha trà của doanh nghiệp nằm trong vùng quy hoạch từ năm 2007, đất để trống hoang nhưng dân (nhận khoán) ngao ngán không dám đầu tư. Hậu quả là năng suất chỉ còn từ 2-2.5 tấn búp tươi/ha, giảm trên 55% so với trước đây.
Còn tờ “xaluan.com” ngày 2 tháng 8 năm 2010 ghi lại lời than vãn xót xa của ông Nguyễn Văn Trung, chủ nhiệm hợp tác xã Hiệp Phát: “Hơn 30ha trà đang cho thu hoạch của 40 hộ xã viên sẽ bị chặt bỏ nếu dự án sân golf được triển khai theo thông báo mới nhất của UBND TP đầu tháng 7 năm 2010”.
Dự án khu nghỉ dưỡng Bảo Lộc do công ty Jinsung Vina làm chủ đầu tư (theo giấp phép chủ tịch tỉnh Lâm Ðồng số 421043000136 ngày 20 tháng 1 năm 2007), tổng vốn 18.3 triệu USD, xây dựng sân golf 54 lỗ, 200 căn biệt thự, khách sạn 300 phòng, khu vui chơi giải trí cùng các dịch vụ đi kèm khác như xông hơi, mua sắm...
Cái tên “Jinsung Vina” không biết có dính dấp gì đến Ba Tàu không, nhưng dù công ty nào đi nữa thì khu nghỉ dưỡng thượng lưu này rồi sẽ dành cho ai?
Không chỉ trà mà cà phê ở vùng đất này cũng đang vào mùa thu hoạch. Nếu chặt bỏ thì người dân sẽ không biết làm gì để sinh sống.
“Các cơ quan chức năng khác như hội đồng nhân dân thành phố Bảo Lộc, UBND huyện Bảo Lâm cũng đã nhiều lần kiến nghị không nên thực hiện dự án này vì ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân địa phương. Nhưng, không hiểu vì lý do gì UBND tỉnh Lâm Ðồng vẫn có văn bản đề nghị đẩy nhanh tiến độ dự án” - Bài báo viết.
Báo đã dẫn cũng cho hay rằng, nếu làm sân golf lớn nhất nước thì chỉ riêng phường Lộc Phát đã có 450 hộ dân với 180ha đất trà và cà phê bị thu hồi, trong đó có 2/3 số hộ bị thu hồi trắng đất sản xuất. Ðất của Lộc Phát lại màu mỡ nhất thành phố Bảo Lộc. Ðiều lo ngại là người dân nếu nhận được tiền đền bù thì cũng không biết làm việc gì sinh sống, vì cả đời họ đã gắn bó với vườn trà, cà phê.
Và bài báo kết thúc:
“Trong quy hoạch sân golf cả nước đến năm 2020, thủ tướng chính phủ đã yêu cầu không được sử dụng đất lúa, đất màu làm sân golf. Nhưng vì sao tại Lâm Ðồng những cánh đồng lúa xanh tốt, những thửa đất trồng hoa màu vẫn phải nhường chỗ cho sân golf?”
Thế thì, phải chăng các nhà lãnh đạo trên cao nói thì cứ nói, dưới không nghe, vẫn cứ làm, như lời cựu Thủ Tướng Phan Văn Khải, hay đây chỉ là nghệ thuật che lấp động tác bật đèn xanh ngầm?
Chính ông Nguyễn Tấn Dũng đi tiên phong trong việc nói một đằng, làm một nẻo. Vào tháng 10 năm 2006 ông đã hùng hồn hứa: “Tôi sẽ từ chức ngay nếu trong nước không chống được tham nhũng”. Nhưng gần 4 năm rồi, tham nhũng vẫn hoành hành, thậm chí ở cấp độ cao siêu hơn, tinh vi hơn từ các siêu dự án.
Nhưng ngài thủ tướng thì vẫn nhởn nhơ, mặt trơ, trán bóng và còn có thể làm thêm một nhiệm kỳ cho đến tuổi hưu!
(Nguồn: Lê Diễn Ðức Blog)
Thursday, August 05, 2010
Lê Diễn Ðức
Không biết tương lai của người dân vùng Tây Nguyên sẽ ra sao? Ðây là câu hỏi với những ưu tư, trăn trở của hàng vạn người trên vùng đất đỏ này mà chưa có lời đáp.
Siêu quyền lực?
Câu chuyện khai thác bauxite ở Tây Nguyên trong năm 2009 đã làm sôi động dư luận, từ người lao động, đến giới trí thức, lên tới thượng tầng lãnh đạo. Thế nhưng, chưa một lực lượng nào ngăn chặn được thế lực kinh tế-chính trị áp đảo của phe nhóm ông Nguyễn Tấn Dũng (trừ tiền lệ “Dự án Ðường tàu cao tốc” duy nhất không được Quốc Hội thông qua).

Một sân golf ở Hà Tây. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images) So với tất cả những vị thủ tướng tiền nhiệm của nhà nước Việt Nam Cộng Sản gồm Phạm Văn Ðồng, Phạm Hùng, Ðỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, thì ông Nguyễn Tấn Dũng - giữ chức thủ tướng từ năm 2006 - là người đứng đầu chính phủ lộng hành nhất, gian ngoan nhất, tham lam nhất, cho các thành viên của gia đình được hưởng quyền làm ăn đặc biệt nhất, phê chuẩn nhiều dự án quốc gia lớn nhất, bất chấp sự phản đối của xã hội, của các đại biểu Quốc Hội, các bậc lão thành cách mạng, gây tổn hại nghiêm trọng về kinh tế cũng như chủ quyền và an ninh của đất nước.
Những nhận định trên đây của tôi, thiết nghĩ không cần phải chứng minh. Bởi vì đã có quá nhiều các bài viết phân tích ngay ở trong nước, lên án thậm chí thô bạo hơn, từ các dự án Bauxite Tây Nguyên, thuê rừng đầu nguồn, đường tàu cao tốc, Vinashin, các vụ tham nhũng PMU 18, PCI, tiền giấy polymer, v.v. và bản tin mới đây nhất của “Vietnam.net” ngày 3 tháng 8: “Hơn 20 năm qua, trong tổng thầu EPC, có tới 90% các công trình điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất... của Việt Nam đều do Trung Quốc đảm nhiệm!” Chúng ta hãy điểm xem: hầu hết các gói tổng thầu EPC lớn nhất nằm trong nhiệm kỳ của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Khổ đâu dân chịu
Dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất có thể nói là một điển hình cho việc làm ăn vội vã, tắc trách, thiếu đồng bộ và nhất quán ngay từ đầu. Với nhiều thay đổi, tới 2007 mới khởi công, tính ra kéo dài 13 năm, nhưng đến tháng 5 năm 2010 sau nghiệm thu vẫn còn tới 50 chi tiết kỹ thuật phải sửa chữa.
Từ thực tế này khiến ta không thể không lo ngại cho những “quả đấm thép” tiếp theo của ông thủ tướng.
Cho đến nay, thông tin về tiến độ thi công khai thác bauxite ở Tây Nguyên rất hạn chế đưa ra công luận. Tháng 5 năm 2010, nhà nghiên cứu Nguyễn Trung trong chuyến đi khảo sát Tân Rai và Nhân Cơ với Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải đã viết: “Bây giờ thì tất cả chúng ta đã ngồi trên lưng cọp (vấn đề bauxite) rồi, điều tốt nhất Tân Rai có thể cống hiến cho đất nước là báo cáo trung thực toàn bộ quá trình xây dựng, vận hành và kinh doanh alumin với đảng, chính phủ và nhân dân cả nước để từ đó rút kinh nghiệm cho toàn bộ vấn đề bauxite ở Tây Nguyên, vì chỉ có nhìn nhận đầy đủ sự thật thì mới có thể rút kinh nghiệm và có được những quyết định đúng đắn. Ðất nước có quá nhiều vấn đề, thiếu quá nhiều thông tin, nhưng cái thiếu nguy hiểm nhất là thiếu sự trung thực, từ cái thiếu này sai lầm đẻ ra sai lầm”.
Người ta đã không tiên liệu được thực tế khó khăn trong khâu xây dựng đường vận chuyển khoáng sản. Lớn hơn nữa thuộc về an toàn môi sinh. Thế nhưng các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn thích làm liều (nôn nóng vì cái gì thì chúng ta tự hiểu!), hậu quả tính sau. Ðoàn Văn Kiển, sếp của Tập Ðoàn Công Nghiệp Than-Khoáng Sản, đã từng phát biểu trên diễn đàn Quốc Hội năm ngoái: “Ô nhiễm hay không, có làm mới biết!”.
Tập Ðoàn Công Nghiệp Than-Khoáng Sản làm chủ đầu tư khai thác bauxite tại thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm (Lâm Ðồng) với tổng vốn 687 triệu USD, thời gian khai thác 100 năm, dự kiến bắt đầu từ cuối 2009.
Những dự kiến thường rất “hoành tráng”, cốt để đưa dư luận vào tròng, được ký duyệt nhanh, rót tiền mau lẹ, nhưng trong hầu hết các công trình lớn, cái nào bàn giao được gọi là đúng hạn thì chỉ sau một thời gian ngắn nảy sinh những vần đề nghiêm trọng về chất lượng (gần đây nhất: lún đường cao tốc đắt nhất hành tinh Trung Lương-Sài Gòn, sập cầu Thanh Trì, lún nứt cầu Thăng Long...) Còn cái nào bị trì trệ thì được viện đủ lý do, không ai biết mùa quýt nào sẽ hoàn thành!
Ðể phục vụ cho dự án khai thác bauxite, chương trình triển khai đền bù, giải phóng mặt bằng đã bắt đầu trước từ tháng 4 năm 2006! Cho đến khi dự án chính thức được Quốc Hội thông qua vào tháng 5 năm 2009, công việc này vẫn đi bằng tốc độ của rùa. Bởi vì, với giá đền bù đất đai và nhà cửa chỉ bằng khoảng 1/5 giá thị trường, đã gặp phải sự phản kháng của dân chúng.
Dân chúng được hứa cấp đất tái định cư và 16 ngàn việc làm trong khu công nghiệp khai thác cho đến nay vẫn là lời hứa nói cho vui. Trong khi đó công nhân Trung Quốc tràn sang làm việc bất hợp pháp không kiểm soát nổi.
Một cư dân ở thị trấn Lộc Thắng tâm sự với phóng viên “Sài Gòn Giải Phóng”: “Ba năm nay cả nhà tôi cứ loay hoay không biết phải làm ăn như thế nào. Thời gian trước mỗi năm tổng thu nhập gia đình tôi từ trà và cà phê từ 60 -70 triệu đồng, vậy mà giờ không còn tâm trí đâu mà làm ăn nữa! Nhìn cà phê và trà khô héo mà lòng xót xa nhưng không dám đầu tư vì không biết dự án khi nào triển khai và nghe nói vùng tái định canh thì cách vùng tái định cư khoảng 15 km thì làm sao trông nom sản xuất được?”
Họa vô đơn chí
Cuộc đời của người dân Tây Nguyên sao cứ bị bất hạnh dồn dập. Ðang khốn nạn vì bauxite thì họa sân gôn (golf) ập tới.
Trong một đất nước mà “hằng năm vẫn còn hàng nghìn đồng bào chỉ được ăn cơm khi ngày lễ, ngày Tết, khi bị ốm” (lời Bộ Trưởng Nông Nghiệp Cao Ðức Phát); “những đứa trẻ đến trường, đánh cược với mạng sống, đu dây qua dòng sông chảy xiết; bệnh viện la liệt bệnh nhân, 2-3-4 người xếp chung một giường và không ít người trong số họ sẽ bị trả về nhà chờ chết chỉ vì không còn tiền chữa trị; trường ốc thiếu hụt, phụ huynh phải thức trắng đêm, chen chúc xếp hàng cố giành giật cho con mình một suất học mầm non” (lời Phan Hồng Giang) - mà sao sân golf nhiều đến thế.
Nguồn tin của “giaoduc.edu.vn” nói rằng, công ty trà Minh Rồng, huyện Bảo Lâm, Lâm Ðồng cho biết hiện sản lượng trà búp tươi của nông trường chỉ còn khoảng 1,000 tấn/năm, giảm 60% so với trước đây nên không đủ nguyên liệu cho nhà máy chế biến chè xuất khẩu của đơn vị hoạt động.
Nguyên nhân chính là do hiện có trên 300 ha trong tổng số 420 ha trà của doanh nghiệp nằm trong vùng quy hoạch từ năm 2007, đất để trống hoang nhưng dân (nhận khoán) ngao ngán không dám đầu tư. Hậu quả là năng suất chỉ còn từ 2-2.5 tấn búp tươi/ha, giảm trên 55% so với trước đây.
Còn tờ “xaluan.com” ngày 2 tháng 8 năm 2010 ghi lại lời than vãn xót xa của ông Nguyễn Văn Trung, chủ nhiệm hợp tác xã Hiệp Phát: “Hơn 30ha trà đang cho thu hoạch của 40 hộ xã viên sẽ bị chặt bỏ nếu dự án sân golf được triển khai theo thông báo mới nhất của UBND TP đầu tháng 7 năm 2010”.
Dự án khu nghỉ dưỡng Bảo Lộc do công ty Jinsung Vina làm chủ đầu tư (theo giấp phép chủ tịch tỉnh Lâm Ðồng số 421043000136 ngày 20 tháng 1 năm 2007), tổng vốn 18.3 triệu USD, xây dựng sân golf 54 lỗ, 200 căn biệt thự, khách sạn 300 phòng, khu vui chơi giải trí cùng các dịch vụ đi kèm khác như xông hơi, mua sắm...
Cái tên “Jinsung Vina” không biết có dính dấp gì đến Ba Tàu không, nhưng dù công ty nào đi nữa thì khu nghỉ dưỡng thượng lưu này rồi sẽ dành cho ai?
Không chỉ trà mà cà phê ở vùng đất này cũng đang vào mùa thu hoạch. Nếu chặt bỏ thì người dân sẽ không biết làm gì để sinh sống.
“Các cơ quan chức năng khác như hội đồng nhân dân thành phố Bảo Lộc, UBND huyện Bảo Lâm cũng đã nhiều lần kiến nghị không nên thực hiện dự án này vì ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân địa phương. Nhưng, không hiểu vì lý do gì UBND tỉnh Lâm Ðồng vẫn có văn bản đề nghị đẩy nhanh tiến độ dự án” - Bài báo viết.
Báo đã dẫn cũng cho hay rằng, nếu làm sân golf lớn nhất nước thì chỉ riêng phường Lộc Phát đã có 450 hộ dân với 180ha đất trà và cà phê bị thu hồi, trong đó có 2/3 số hộ bị thu hồi trắng đất sản xuất. Ðất của Lộc Phát lại màu mỡ nhất thành phố Bảo Lộc. Ðiều lo ngại là người dân nếu nhận được tiền đền bù thì cũng không biết làm việc gì sinh sống, vì cả đời họ đã gắn bó với vườn trà, cà phê.
Và bài báo kết thúc:
“Trong quy hoạch sân golf cả nước đến năm 2020, thủ tướng chính phủ đã yêu cầu không được sử dụng đất lúa, đất màu làm sân golf. Nhưng vì sao tại Lâm Ðồng những cánh đồng lúa xanh tốt, những thửa đất trồng hoa màu vẫn phải nhường chỗ cho sân golf?”
Thế thì, phải chăng các nhà lãnh đạo trên cao nói thì cứ nói, dưới không nghe, vẫn cứ làm, như lời cựu Thủ Tướng Phan Văn Khải, hay đây chỉ là nghệ thuật che lấp động tác bật đèn xanh ngầm?
Chính ông Nguyễn Tấn Dũng đi tiên phong trong việc nói một đằng, làm một nẻo. Vào tháng 10 năm 2006 ông đã hùng hồn hứa: “Tôi sẽ từ chức ngay nếu trong nước không chống được tham nhũng”. Nhưng gần 4 năm rồi, tham nhũng vẫn hoành hành, thậm chí ở cấp độ cao siêu hơn, tinh vi hơn từ các siêu dự án.
Nhưng ngài thủ tướng thì vẫn nhởn nhơ, mặt trơ, trán bóng và còn có thể làm thêm một nhiệm kỳ cho đến tuổi hưu!
(Nguồn: Lê Diễn Ðức Blog)
MỸ DỨT KHOÁT CAN DỰ VÀO BIỂN ĐÔNG
DẰN MẶT TRUNGCỘNG RĂN ĐE BẮC HÀN
LÝ ĐẠI NGUYÊN
U.S Navy, Aircraft Carrier
Nữ ngoại trưởng kỳ Hillary Clinton đã có mặt tại Việtnam hôm 22/07/2010, mở đầu chuyến công du, đánh dấu kỷ niệm 15 năm Việt-Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao và tham dự Diễn Đàn Hợp Tác An Ninh ASEAN. Lên tiếng với báo chí sau cuộc gặp với người tương nhiệm về phía Hànội là Phạm Gia Khiêm. Bà nói: “Việtnam với một dân số năng động và người dân thực độc đáo – đang trên đường trở thành một quốc gia vĩ đại với tiềm năng vô biên – đó là một trong những lý do khiến Hoakỳ bày tỏ quan ngại về vấn đề nhân quyền với phía Việtnam”. Bà Clinton bày tỏ mối quan ngại của Hoakỳ về thái độ mà bà gọi là “không khoan dung” với những người bất đồng chính kiến như: “Những vụ tống giam những người đấu tranh cho dân chủ, những hành động tấn công vào một số nhóm tôn giáo, hay việc đàn áp một số Websites trên mạng internet”. Sau bữa ăn trưa với các doanh nhân Việt và Mỹ bà Clinton đã trở lại đề tài này, Bà nhắc đến các khác biệt sâu đậm giữa Việtnam và Hoakỳ trên vấn đề tự do chính trị. Bà xác định là “Hoakỳ sẽ thúc dục Việtnam nỗ lực nhiền hơn nữa trong vìệc bảo vệ quyền tự do cá nhân”.
Phạm gia Khiêm gượng gạo chống đỡ rằng: “Khái niệm nhân quyền bắt nguồn từ đặc thù văn hóa và lịch sử của mỗi nước”. Đúng là láo toét! Văn hóa và lịch sử Việtnam đâu có dậy kẻ cầm quyền khủng bố đàn áp dân chúng, tước đoạt quyền tự do lựa chọn của công dân, cướp đoạt tài sản đất đai của toàn dân, như bọn Việtcộng đang làm hiện nay. Văn hóa dân tộc Việtnam lấy Con Người làm cứu cánh, cho nên đã bao phen “bỏ đất giữ dân”, mở ra các đợt di cư kỳ vĩ, cũng như các cuộc đấu tranh dựng nước, giữ nước kiêu hùng để mưu tìm độc lập, tự do, hạnh phúc thực sự cho giống nòi Lạc Việt. Văn Hóa và Lịch Sử Việtnam đặt gía trị Con Người linh hơn Vạn Vật. Chỉ có bọn Việtcộng mới hạ thấp giá trị Con Người xuống hàng Duy Vật, nhằm cướp mất nhân quyền, hèn hoá toàn dân, bắt làm nô lệ cho bọn cầm quyền. Rồi bọn cầm quyền lại làm tay sai cho các Đế Quốc Cộng Sản đàn anh trước kia, và rồi hậu quả đến ngày nay đảng cộng sản và nhà cầm quyền Việtnam vẫn đang bị bọn Bành Trướng Bắc Kinh khống chế, buộc phải ngậm miệng để cho Trungcộng tiến chiếm Hoàngsa, Trườngsa và toàn cõi Biển Đông.
Từ đó Trungcộng đã ngang nhiên xác định khu vực này là “vùng quyền lợi quốc gia thiết thân” của họ, như Đàiloan, Tâncương, Tâytạng. Khiến cho các nước ASEAN lần thứ 43 quyết định: “Mở rộng Hội Nghị Thượng Đỉnh Đông Á, mời Hoakỳ và Nga tham gia. Đó là mong muốn tăng cường quan hệ với Washington và Moscow”. Tuy nghị trình của Diễn Đàn ARF vì có mặt của Dương Khiết Trì, bộ trưởng ngoại giao Trungcộng nên không thấy nêu ra vấn đề ‘Tranh Chấp Biển Đông’, nhưng trong cuộc họp chính thức ngày 23/07 tại Hànội, ngoại trưởng Mỹ Clinton đã phát pháo lệnh về Biển Đông. Bà nhấn mạnh đến quyền tự do lưu thông trên Biển Đông. Với tư cách Ngoại Trưởng Hoakỳ, bà Hillary Clinton tuyên bố: “Vì quyền lợi của quốc gia, Hoakỳ mong muốn thấy các quốc gia liên quan đến vụ tranh chấp chủ quyền ở Hoàngsa và Trườngsa giải quyết với nhau bằng đường lối ôn hòa, tôn trọng các điều khoản được ghi trong công ước về biển và lãnh hải do Liên Hiệp Quốc soạn thảo”. “Hoakỳ không ủng hộ bất kỳ tuyên bố chủ quyền quần đảo này của bất cứ nước nào, nhưng khu vực Châu Á Thái Bình Dương gắn kết với nhau bằng đường biển, do đó hòa bình và an ninh trên biển, cũng như an toàn hàng hải là điều rất quan trọng”. Hiệp Hội các nước Đông Nam Á đã ra tuyên bố chung là. “Vấn đề Biển Đông đã được các ngoại trưởng ASEAN đặc biệt chú ý dành hẳn một phần riêng cho hồ sơ trong một thông cáo. Khẳng định lại tầm quan trọng của Tuyên Bố Về Ứng Xử Của Các Bên Ở Biển Đông -DOC- với tư cách một văn kiện mang tính cột mốc giữa ASEAN và Trungquốc”. “Chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc các bên tôn trọng tự do hàng hải và hàng không bên trên Biển Đông, như đã được quy định trong các nguyên tắc đã được thừa nhận của luật pháp quốc tế”.
Đến đây thấy được rằng Hoakỳ và các nước Đông Nam Á hoàn toàn ủng hộ “Chiến Lược Quốc Tế Hóa cuộc tranh chấp Biển Đông của Việtnam, bằng cách lôi kéo nhiều nước khác nhập cuộc, buộc Trungcộng phải chấp nhận đàm phán trong các diễn đàn đa phương, thay vì chủ trương nói chuyện song phương của Trungcộng. Tại Hội nghị, Dương Khiết Trì bị rơi vào thế đơn độc, đã yếu ớt nhắc lại rằng: “Tranh chấp không nên được quốc tế hóa”. Có nghĩa là cứ để Trungcộng một mình tranh chấp với từng nước cho dễ nuốt. Sau đó Dương Khiết Trì được Nông Đức Mạnh, tổng bí thứ đảng cộng sản Việtnam tiếp kiến riêng và đưa ra những lời vuốt ve, hứa hẹn quen thuộc của một tên đàn em thân tín. Bắckinh gay gắt cho là tuyên bố của ngoại trưởng Clinton về Biển Đông là tấn công nhằm vào Trungquốc. Hai ngày sau khi ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nói: “Giải quyết vấn đề Biển Đông là điều tối quan trọng cho ổn định khu vực” thì bộ trưởng ngoại giao Trungcộng Dương Khiết Trì đưa ra lời cảnh báo có đoạn viết: “Quốc tế hoá chủ đề này thì liệu mang lại được kết quả gì, hay chỉ khiến mọi việc tồi tệ hơn và khó giải quyết hơn mà thôi?”. Họ Dương nhấn mạnh: “Các tuyên bố tưởng là công bằng của bà ngoại trưởng chính là để tấn công vào Trungquốc”.
Lời nói của nữ ngoại trưởng Clinton dứt khoát can dự vào Biển Đông, đi đôi với lời tuyên bố của Đô đốc Mike Mullen, chủ tịch Ban Tham Mưu Liên Quân Hoakỳ ngày 23/07/10, rằng: “Trungquốc đã đi theo đường lối ngày càng hung hăng hơn trong vùng biển gần nước họ”, được hậu thuẫn bởi hành động quân sự của bộ Quốc Phòng Mỹ bằng một cuộc tập trận chung giữa Mỹ-Hàn, tại vùng biển Nhậtbản, gọi là “Tinh Thần Bất Khuất” khai diễn đại quy mô. Huy động khoảng 20 tàu chiến, có hàng không mẫu hạm USS George Washington, 200 chiến đấu cơ, có 4 phi cơ tiêm kích Raptor F-22, với 8.000 binh sĩ. Cả Hoa Thịnh Đốn và Hán Thành đều nhấn mạnh, cuộc tập trận kéo dài từ 25 đến 28/07/10 lần này là một thông điệp mạnh gửi tới nhà cầm quyền Bắc Triều Tiên. Lẽ đương nhiên ngoài việc răn đe Hàncộng, cuộc tâp trận còn là sự dằn mặt Trungcộng nữa. Vì Hàncộng từng lớn tiếng dọa sẽ tiến hành “chiến tranh thần thánh” chống Mỹ và Nam Triền Tiên. Trungcộng thì tỏ dấu vui mừng, đại ý cho rằng: Mỹ đưa hàng không mẩu hạm tối tân nhất lại gần để họ dễ tiêu diệt. Tuy nhiên dù biết cả Bắc Hàn và Trungcộng chỉ đánh võ mồm chứ chưa đủ sức tấn công trực diện với quân lực Mỹ. Nhưng khi Trungcộng loan báo từ 30/06 đến 05/07/10 tập trận tại Đông Hải, thì Mỹ đã điều ba tàu ngầm cực tối tân tới các cảng ở châu Á. Tàu USS Michigan tới Pusan Hànquốc, tàu USS Ohio tới Vịnh Subic Philippines, tàu USS Florida tới Ấn Độ Dương. Tổng số tên lửa của 3 tàu này lên tới 462 chiếc hỏa tiễn Tomahawk, đây là một hỏa lực cực lớn, đủ khả năng làm tê liệt sức tấn công của đối thủ trước mắt. Đến nay bộ quốc phòng Hànquốc cho biết chưa có dấu hiệu bất thường nào từ phía đối phương. Little Saigon ngày 27/07/2010.
DẰN MẶT TRUNGCỘNG RĂN ĐE BẮC HÀN
LÝ ĐẠI NGUYÊN
U.S Navy, Aircraft Carrier
Nữ ngoại trưởng kỳ Hillary Clinton đã có mặt tại Việtnam hôm 22/07/2010, mở đầu chuyến công du, đánh dấu kỷ niệm 15 năm Việt-Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao và tham dự Diễn Đàn Hợp Tác An Ninh ASEAN. Lên tiếng với báo chí sau cuộc gặp với người tương nhiệm về phía Hànội là Phạm Gia Khiêm. Bà nói: “Việtnam với một dân số năng động và người dân thực độc đáo – đang trên đường trở thành một quốc gia vĩ đại với tiềm năng vô biên – đó là một trong những lý do khiến Hoakỳ bày tỏ quan ngại về vấn đề nhân quyền với phía Việtnam”. Bà Clinton bày tỏ mối quan ngại của Hoakỳ về thái độ mà bà gọi là “không khoan dung” với những người bất đồng chính kiến như: “Những vụ tống giam những người đấu tranh cho dân chủ, những hành động tấn công vào một số nhóm tôn giáo, hay việc đàn áp một số Websites trên mạng internet”. Sau bữa ăn trưa với các doanh nhân Việt và Mỹ bà Clinton đã trở lại đề tài này, Bà nhắc đến các khác biệt sâu đậm giữa Việtnam và Hoakỳ trên vấn đề tự do chính trị. Bà xác định là “Hoakỳ sẽ thúc dục Việtnam nỗ lực nhiền hơn nữa trong vìệc bảo vệ quyền tự do cá nhân”.
Phạm gia Khiêm gượng gạo chống đỡ rằng: “Khái niệm nhân quyền bắt nguồn từ đặc thù văn hóa và lịch sử của mỗi nước”. Đúng là láo toét! Văn hóa và lịch sử Việtnam đâu có dậy kẻ cầm quyền khủng bố đàn áp dân chúng, tước đoạt quyền tự do lựa chọn của công dân, cướp đoạt tài sản đất đai của toàn dân, như bọn Việtcộng đang làm hiện nay. Văn hóa dân tộc Việtnam lấy Con Người làm cứu cánh, cho nên đã bao phen “bỏ đất giữ dân”, mở ra các đợt di cư kỳ vĩ, cũng như các cuộc đấu tranh dựng nước, giữ nước kiêu hùng để mưu tìm độc lập, tự do, hạnh phúc thực sự cho giống nòi Lạc Việt. Văn Hóa và Lịch Sử Việtnam đặt gía trị Con Người linh hơn Vạn Vật. Chỉ có bọn Việtcộng mới hạ thấp giá trị Con Người xuống hàng Duy Vật, nhằm cướp mất nhân quyền, hèn hoá toàn dân, bắt làm nô lệ cho bọn cầm quyền. Rồi bọn cầm quyền lại làm tay sai cho các Đế Quốc Cộng Sản đàn anh trước kia, và rồi hậu quả đến ngày nay đảng cộng sản và nhà cầm quyền Việtnam vẫn đang bị bọn Bành Trướng Bắc Kinh khống chế, buộc phải ngậm miệng để cho Trungcộng tiến chiếm Hoàngsa, Trườngsa và toàn cõi Biển Đông.
Từ đó Trungcộng đã ngang nhiên xác định khu vực này là “vùng quyền lợi quốc gia thiết thân” của họ, như Đàiloan, Tâncương, Tâytạng. Khiến cho các nước ASEAN lần thứ 43 quyết định: “Mở rộng Hội Nghị Thượng Đỉnh Đông Á, mời Hoakỳ và Nga tham gia. Đó là mong muốn tăng cường quan hệ với Washington và Moscow”. Tuy nghị trình của Diễn Đàn ARF vì có mặt của Dương Khiết Trì, bộ trưởng ngoại giao Trungcộng nên không thấy nêu ra vấn đề ‘Tranh Chấp Biển Đông’, nhưng trong cuộc họp chính thức ngày 23/07 tại Hànội, ngoại trưởng Mỹ Clinton đã phát pháo lệnh về Biển Đông. Bà nhấn mạnh đến quyền tự do lưu thông trên Biển Đông. Với tư cách Ngoại Trưởng Hoakỳ, bà Hillary Clinton tuyên bố: “Vì quyền lợi của quốc gia, Hoakỳ mong muốn thấy các quốc gia liên quan đến vụ tranh chấp chủ quyền ở Hoàngsa và Trườngsa giải quyết với nhau bằng đường lối ôn hòa, tôn trọng các điều khoản được ghi trong công ước về biển và lãnh hải do Liên Hiệp Quốc soạn thảo”. “Hoakỳ không ủng hộ bất kỳ tuyên bố chủ quyền quần đảo này của bất cứ nước nào, nhưng khu vực Châu Á Thái Bình Dương gắn kết với nhau bằng đường biển, do đó hòa bình và an ninh trên biển, cũng như an toàn hàng hải là điều rất quan trọng”. Hiệp Hội các nước Đông Nam Á đã ra tuyên bố chung là. “Vấn đề Biển Đông đã được các ngoại trưởng ASEAN đặc biệt chú ý dành hẳn một phần riêng cho hồ sơ trong một thông cáo. Khẳng định lại tầm quan trọng của Tuyên Bố Về Ứng Xử Của Các Bên Ở Biển Đông -DOC- với tư cách một văn kiện mang tính cột mốc giữa ASEAN và Trungquốc”. “Chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc các bên tôn trọng tự do hàng hải và hàng không bên trên Biển Đông, như đã được quy định trong các nguyên tắc đã được thừa nhận của luật pháp quốc tế”.
Đến đây thấy được rằng Hoakỳ và các nước Đông Nam Á hoàn toàn ủng hộ “Chiến Lược Quốc Tế Hóa cuộc tranh chấp Biển Đông của Việtnam, bằng cách lôi kéo nhiều nước khác nhập cuộc, buộc Trungcộng phải chấp nhận đàm phán trong các diễn đàn đa phương, thay vì chủ trương nói chuyện song phương của Trungcộng. Tại Hội nghị, Dương Khiết Trì bị rơi vào thế đơn độc, đã yếu ớt nhắc lại rằng: “Tranh chấp không nên được quốc tế hóa”. Có nghĩa là cứ để Trungcộng một mình tranh chấp với từng nước cho dễ nuốt. Sau đó Dương Khiết Trì được Nông Đức Mạnh, tổng bí thứ đảng cộng sản Việtnam tiếp kiến riêng và đưa ra những lời vuốt ve, hứa hẹn quen thuộc của một tên đàn em thân tín. Bắckinh gay gắt cho là tuyên bố của ngoại trưởng Clinton về Biển Đông là tấn công nhằm vào Trungquốc. Hai ngày sau khi ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nói: “Giải quyết vấn đề Biển Đông là điều tối quan trọng cho ổn định khu vực” thì bộ trưởng ngoại giao Trungcộng Dương Khiết Trì đưa ra lời cảnh báo có đoạn viết: “Quốc tế hoá chủ đề này thì liệu mang lại được kết quả gì, hay chỉ khiến mọi việc tồi tệ hơn và khó giải quyết hơn mà thôi?”. Họ Dương nhấn mạnh: “Các tuyên bố tưởng là công bằng của bà ngoại trưởng chính là để tấn công vào Trungquốc”.
Lời nói của nữ ngoại trưởng Clinton dứt khoát can dự vào Biển Đông, đi đôi với lời tuyên bố của Đô đốc Mike Mullen, chủ tịch Ban Tham Mưu Liên Quân Hoakỳ ngày 23/07/10, rằng: “Trungquốc đã đi theo đường lối ngày càng hung hăng hơn trong vùng biển gần nước họ”, được hậu thuẫn bởi hành động quân sự của bộ Quốc Phòng Mỹ bằng một cuộc tập trận chung giữa Mỹ-Hàn, tại vùng biển Nhậtbản, gọi là “Tinh Thần Bất Khuất” khai diễn đại quy mô. Huy động khoảng 20 tàu chiến, có hàng không mẫu hạm USS George Washington, 200 chiến đấu cơ, có 4 phi cơ tiêm kích Raptor F-22, với 8.000 binh sĩ. Cả Hoa Thịnh Đốn và Hán Thành đều nhấn mạnh, cuộc tập trận kéo dài từ 25 đến 28/07/10 lần này là một thông điệp mạnh gửi tới nhà cầm quyền Bắc Triều Tiên. Lẽ đương nhiên ngoài việc răn đe Hàncộng, cuộc tâp trận còn là sự dằn mặt Trungcộng nữa. Vì Hàncộng từng lớn tiếng dọa sẽ tiến hành “chiến tranh thần thánh” chống Mỹ và Nam Triền Tiên. Trungcộng thì tỏ dấu vui mừng, đại ý cho rằng: Mỹ đưa hàng không mẩu hạm tối tân nhất lại gần để họ dễ tiêu diệt. Tuy nhiên dù biết cả Bắc Hàn và Trungcộng chỉ đánh võ mồm chứ chưa đủ sức tấn công trực diện với quân lực Mỹ. Nhưng khi Trungcộng loan báo từ 30/06 đến 05/07/10 tập trận tại Đông Hải, thì Mỹ đã điều ba tàu ngầm cực tối tân tới các cảng ở châu Á. Tàu USS Michigan tới Pusan Hànquốc, tàu USS Ohio tới Vịnh Subic Philippines, tàu USS Florida tới Ấn Độ Dương. Tổng số tên lửa của 3 tàu này lên tới 462 chiếc hỏa tiễn Tomahawk, đây là một hỏa lực cực lớn, đủ khả năng làm tê liệt sức tấn công của đối thủ trước mắt. Đến nay bộ quốc phòng Hànquốc cho biết chưa có dấu hiệu bất thường nào từ phía đối phương. Little Saigon ngày 27/07/2010.
Ý nghĩa sự trở về đột ngột của tổng giám mục Ngô Quang Kiệt
Trần Xuân Ninh Có người đã loan tin tin tổng giám mục Ngô Quang Kiệt trở về Việt nam với hai câu: Đức TGM Ngô Quang Kiệt về Việt Nam sống với giáo hội mẹ và sống giữa lòng dân tộc. Và Giáo dân Công giáo quốc nội và hải ngoại đồng hướng về ngài và cầu nguyện cho ngài.
Ngược lại, một “trí thức Việt kiều yêu nước” cũng đã phóng đi rộng rãi ý kiến của mình, với những lời lẽ nếu nhắc lại ở đây sẽ làm dơ tai độc giả. Nhưng để độc giả có một khái niệm về hạng ngưòi này, chỉ xin nêu ra mấy chữ đã được dùng để gọi TGM Kiệt, như “chó thua cuộc”, “tên du đãng công giáo”, “tên phản bội tổ quốc”. Một người kể là trí thức mà dùng những chữ như vậy thì hẳn phải là kẻ bực bội khó chịu lắm đối với TGM Ngô Quang Kiệt, nghĩa là cuồng tín như một tên bần cố nông thời toàn trị. Bỏ ra ngoài những lời xưng tụng TGM, nêu nhìn vào sự việc diễn tiến, thì TGM Ngô Quang Kiệt đã được nhiều giáo dân trong nước cũng như hải ngoại coi như một chủ chăn xứng đáng, khác hẳn với những giới chức giáo quyền cao cấp khác được kể là quốc doanh. Điều này đã tạo nhiều khó khăn phiền hà cho lãnh đạo CS Hà nội cho tới khi TGM Ngô Quang Kiệt bị bãi nhiệm bán chính thức và ra đi đêm 12 tháng 5/2010 gọi là dưỡng bệnh, với sự mặc nhiên đồng ý của Vatican. Sau gần 3 tháng sống ở Boston, đức cha Kiệt đã đột ngột trở về ngày 5 tháng 8/2010 để sống tại tu viện Châu Sơn, thuộc Nho Quan Ninh Bình. Ông Ngô Quang Tín, em ruột đức cha Kiệt sống ở Houston trong một cuộc phỏng vấn với ký giả Đinh quang Anh Thái ngày 6 tháng 8/2010 đã xác nhận ông có liên lạc điện thoại với TGM Ngô Quang Kiệt và được biết TGM qua Vatican ngày chủ nhật 1 tháng 8, rồi nghe ngài nói rằng “báo cho chú biết là tôi đã về tới và hiện đang trên đường trở về Châu Sơn.” Ông Tín còn cho biết rằng TGM không chia xẻ với gia đình về nội dung những cuộc họp với lãnh đạo giáo hội, và lý do tại sao đột ngột về VN, nhưng nói rằng ngài “muốn sống ở một nơi im lặng trong một tu viện là tu viện Châu Sơn, để cầu nguyện cho quê hương Việt Nam”. Ông Tín còn tiết lộ thêm là “Ngài có nói rằng ngài chỉ là một tu sĩ ở nhờ trong tu viện Châu Sơn chứ cũng không phải là người gia nhập vào tu viện Châu Sơn.” Về phương diện an ninh, ông Tín cho biết TGM “có lưu tâm” “nhưng một cách tổng quát thì không lo ngại lắm”. Chiều ngày 9 tháng 8 thông tấn xã Công giáo VN Vietcatholic Newsloan tin và hình ảnh giới chức giáo quyền gồm TGM Nguyễn văn Nhơn và phụ tá và tuỳ tùng đã đến Châu sơn thăm cha Kiệt trong “bầu khí cảm động và đầy tràn tình cảm gia đình”.
Bề ngoài là như thế. Bề trong thực chất là sao?
Trước hết, dòng Châu Sơn theo nguyên tắc là một dòng tu kín, và kể là khổ tu. Người vào dòng tu có nhiều lý do. TGM Ngô Quang Kiệt là một giới chức lãnh đạo cao cấp, xuất ngoại đột ngột gọi là chữa bệnh, đi về đột ngột sau khi ghé qua Vatican, với lý do nói ra là muốn sống ở một nơi im lặng là Châu sơn để cầu nguyện cho quê hương Việt nam. Không mơ tưởng suy diễn thì phải nói đây là quyết định độc nhất mà TGM có thể lấy. Sau khi ở Boston hơn hai tháng, đức cha NQK phải biết lập trường của giáo phận Boston và của Vatican. Là không có chỗ nào cho ông cả ở ngoại quốc. Ông không thể tách ra một mình để làm một giáo hội kiểu Tin Lành cho người Việt ở Mỹ. Người Công giáo Việt nam dù chống Cộng chưa đủ cương quyết để mà không tuân lời giáo quyền Công giáo. Ông cũng không thể từ chức Tổng giám mục để làm người thường. Cho nên ông phải trở về. Chấp nhận yên sống ở dòng Châu sơn, như một hình thức bị phạt hay nếu không thì cũng là để tránh những phiền hà cho giáo quyền và chính quyền, khi ông không còn có những tiếp xúc với giáo dân nữa. Ông sẽ không sao cả, vì nhà nước sẽ không giết ông làm gì, và sẽ dùng ông tùy trường hợp, khi cần. Mà mới đây nhất là hình ảnh giáo quyền Hà nội đến chụp hình với ông ở Châu sơn. Tóm lại, Nhà nước và Vatican đã vô hiệu hoá ảnh hưởng của ông lên quần chúng.
Qua việc này thì người ta có thể kết luận một cách không nghi ngờ gì nữa là hai bên Hà nội và Vatican đã thoả thuận mặc nhiên hay bí mật, chia nhau vùng ảnh hưởng. Nhà thờ lo việc đời sau, gom chung là việc Nước Trời. Nhà nước lo việc đời này. Nhà thờ giúp nhà nước ở đời này trong các việc từ thiện xoa dịu các khổ nạn xã hội do nhà nước gây ra hay không muốn mất công sức và thì giờ để lo. Chia ra như thế thì cả hai bên đều cùng có lợi. Nhà thờ sẽ có những nghi lễ nói theo ngôn từ VC là hoành tráng. Cán bộ VC có làm linh mục cũng chẳng sao vì vẫn sẽ áo chùng thâm làm lễ ca tụng Thiên chúa trong nhà thờ và giữ yên cho con chiên “không làm chính trị”
Vắn tắt thì người Công giáo phải thấy rõ rằng nếu muốn chống Cộng hay đấu tranh cho đất nuớc thì cứ tự nhiên mà làm, chứ không thể trông chờ gì ở giáo quyền hay giáo hội La Mã, nghĩa là phải bỏ cái định kiến sai lầm từ thời chiến tranh lạnh rằng Công giáo chống Cộng
Bác sĩ Trần Xuân Ninh
(ngày 10 tháng 8/2010)
Trần Xuân Ninh Có người đã loan tin tin tổng giám mục Ngô Quang Kiệt trở về Việt nam với hai câu: Đức TGM Ngô Quang Kiệt về Việt Nam sống với giáo hội mẹ và sống giữa lòng dân tộc. Và Giáo dân Công giáo quốc nội và hải ngoại đồng hướng về ngài và cầu nguyện cho ngài.
Ngược lại, một “trí thức Việt kiều yêu nước” cũng đã phóng đi rộng rãi ý kiến của mình, với những lời lẽ nếu nhắc lại ở đây sẽ làm dơ tai độc giả. Nhưng để độc giả có một khái niệm về hạng ngưòi này, chỉ xin nêu ra mấy chữ đã được dùng để gọi TGM Kiệt, như “chó thua cuộc”, “tên du đãng công giáo”, “tên phản bội tổ quốc”. Một người kể là trí thức mà dùng những chữ như vậy thì hẳn phải là kẻ bực bội khó chịu lắm đối với TGM Ngô Quang Kiệt, nghĩa là cuồng tín như một tên bần cố nông thời toàn trị. Bỏ ra ngoài những lời xưng tụng TGM, nêu nhìn vào sự việc diễn tiến, thì TGM Ngô Quang Kiệt đã được nhiều giáo dân trong nước cũng như hải ngoại coi như một chủ chăn xứng đáng, khác hẳn với những giới chức giáo quyền cao cấp khác được kể là quốc doanh. Điều này đã tạo nhiều khó khăn phiền hà cho lãnh đạo CS Hà nội cho tới khi TGM Ngô Quang Kiệt bị bãi nhiệm bán chính thức và ra đi đêm 12 tháng 5/2010 gọi là dưỡng bệnh, với sự mặc nhiên đồng ý của Vatican. Sau gần 3 tháng sống ở Boston, đức cha Kiệt đã đột ngột trở về ngày 5 tháng 8/2010 để sống tại tu viện Châu Sơn, thuộc Nho Quan Ninh Bình. Ông Ngô Quang Tín, em ruột đức cha Kiệt sống ở Houston trong một cuộc phỏng vấn với ký giả Đinh quang Anh Thái ngày 6 tháng 8/2010 đã xác nhận ông có liên lạc điện thoại với TGM Ngô Quang Kiệt và được biết TGM qua Vatican ngày chủ nhật 1 tháng 8, rồi nghe ngài nói rằng “báo cho chú biết là tôi đã về tới và hiện đang trên đường trở về Châu Sơn.” Ông Tín còn cho biết rằng TGM không chia xẻ với gia đình về nội dung những cuộc họp với lãnh đạo giáo hội, và lý do tại sao đột ngột về VN, nhưng nói rằng ngài “muốn sống ở một nơi im lặng trong một tu viện là tu viện Châu Sơn, để cầu nguyện cho quê hương Việt Nam”. Ông Tín còn tiết lộ thêm là “Ngài có nói rằng ngài chỉ là một tu sĩ ở nhờ trong tu viện Châu Sơn chứ cũng không phải là người gia nhập vào tu viện Châu Sơn.” Về phương diện an ninh, ông Tín cho biết TGM “có lưu tâm” “nhưng một cách tổng quát thì không lo ngại lắm”. Chiều ngày 9 tháng 8 thông tấn xã Công giáo VN Vietcatholic Newsloan tin và hình ảnh giới chức giáo quyền gồm TGM Nguyễn văn Nhơn và phụ tá và tuỳ tùng đã đến Châu sơn thăm cha Kiệt trong “bầu khí cảm động và đầy tràn tình cảm gia đình”.
Bề ngoài là như thế. Bề trong thực chất là sao?
Trước hết, dòng Châu Sơn theo nguyên tắc là một dòng tu kín, và kể là khổ tu. Người vào dòng tu có nhiều lý do. TGM Ngô Quang Kiệt là một giới chức lãnh đạo cao cấp, xuất ngoại đột ngột gọi là chữa bệnh, đi về đột ngột sau khi ghé qua Vatican, với lý do nói ra là muốn sống ở một nơi im lặng là Châu sơn để cầu nguyện cho quê hương Việt nam. Không mơ tưởng suy diễn thì phải nói đây là quyết định độc nhất mà TGM có thể lấy. Sau khi ở Boston hơn hai tháng, đức cha NQK phải biết lập trường của giáo phận Boston và của Vatican. Là không có chỗ nào cho ông cả ở ngoại quốc. Ông không thể tách ra một mình để làm một giáo hội kiểu Tin Lành cho người Việt ở Mỹ. Người Công giáo Việt nam dù chống Cộng chưa đủ cương quyết để mà không tuân lời giáo quyền Công giáo. Ông cũng không thể từ chức Tổng giám mục để làm người thường. Cho nên ông phải trở về. Chấp nhận yên sống ở dòng Châu sơn, như một hình thức bị phạt hay nếu không thì cũng là để tránh những phiền hà cho giáo quyền và chính quyền, khi ông không còn có những tiếp xúc với giáo dân nữa. Ông sẽ không sao cả, vì nhà nước sẽ không giết ông làm gì, và sẽ dùng ông tùy trường hợp, khi cần. Mà mới đây nhất là hình ảnh giáo quyền Hà nội đến chụp hình với ông ở Châu sơn. Tóm lại, Nhà nước và Vatican đã vô hiệu hoá ảnh hưởng của ông lên quần chúng.
Qua việc này thì người ta có thể kết luận một cách không nghi ngờ gì nữa là hai bên Hà nội và Vatican đã thoả thuận mặc nhiên hay bí mật, chia nhau vùng ảnh hưởng. Nhà thờ lo việc đời sau, gom chung là việc Nước Trời. Nhà nước lo việc đời này. Nhà thờ giúp nhà nước ở đời này trong các việc từ thiện xoa dịu các khổ nạn xã hội do nhà nước gây ra hay không muốn mất công sức và thì giờ để lo. Chia ra như thế thì cả hai bên đều cùng có lợi. Nhà thờ sẽ có những nghi lễ nói theo ngôn từ VC là hoành tráng. Cán bộ VC có làm linh mục cũng chẳng sao vì vẫn sẽ áo chùng thâm làm lễ ca tụng Thiên chúa trong nhà thờ và giữ yên cho con chiên “không làm chính trị”
Vắn tắt thì người Công giáo phải thấy rõ rằng nếu muốn chống Cộng hay đấu tranh cho đất nuớc thì cứ tự nhiên mà làm, chứ không thể trông chờ gì ở giáo quyền hay giáo hội La Mã, nghĩa là phải bỏ cái định kiến sai lầm từ thời chiến tranh lạnh rằng Công giáo chống Cộng
Bác sĩ Trần Xuân Ninh
(ngày 10 tháng 8/2010)
NGƯỜI CẦM BÚT VÀ...
ÐẠO ÐỨC NGHỀ LÀM BÁO
NGUYỄN CHÂU Trong những ngày vừa qua, ca sĩ Ðàm Vĩnh Hưng từ Việt Nam sang trình diễn tại Mỹ, cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản đã biểu tình rầm rộ và đông đảo để bầy tỏ sự chống đối chiến dịch tuyên vận của cộng sản Việt Nam qua văn nghệ. Trong lúc đại bộ phận người Việt Tỵ Nạn không chấp nhận việc một ca sĩ bản thân là cán bộ cộng sản, lại có thái độ ngang ngược, thách thức cộng đồng tỵ nạn, thì có một số người làm báo, tự xưng là ký giả, đã tiếp tay cho ca sĩ này bằng cách tổ chức các cuộc họp báo để Ðàm Vĩnh Hưng có cơ hội tuyên truyền, thậm chí có người đã vượt đã khỏi chức năng nhà báo, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên đài BBC về việc Ðàm Vĩnh Hưng bị Lý Tống xịt hơi cay vào mặt, với một luận điệu đầy thiên kiến, có lợi cho cộng sản. Do đó, Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản đã họp, hội thảo và ra quyết định tẩy chay ba ký giả đã đi ngược lại nguyện vọng và quyền lợi của Cộng Đồng Tỵ Nạn.
Trong buổi hội thảo ngày 04-8-2010, sau khi thông qua Bản Lên Tiếng, ký giả Ðoàn Trọng đã lập tức bị mời ra khỏi phòng họp của Cộng Ðồng Người Việt Tỵ Nạn Nam California. Vì trước đó đã được mời bởi trưởng ban tổ chức, nên ông Ðoàn Trọng chưa chịu rời hội trường, chờ hỏi ý kiến ông Hội Trưởng Phan Kỳ Nhơn. Trước khi ông Phan Kỳ Nhơn trả lời là ký giả Ðoàn Trọng nên về, thì đã có một vài người lớn tiếng xua đuổi.
Chuyện “trục xuất ông Ðoàn Trọng ra khỏi phòng họp” đã trở thành đề tài đánh phá Ủy Ban Ðặc Nhiệm Chống Văn Hóa Vận.
Phía chống phá nhân danh quyền ký giả là “Đệ Tứ Quyền” không ai được phép đụng đến. Phía cộng đồng thì cho rằng những nhà báo không có lương tâm chức nghiệp, không có ý thức quốc gia, làm lợi cho cộng sản Việt Nam, thì không xứng đáng để được tôn trọng.
Vậy thì đâu là Lương Tâm của người cầm bút và đâu là Đạo Đức của nghề làm báo?
Tại sao ngành báo chí truyền thông được các quốc gia dân chủ tự do công nhận là “Đệ Tứ Quyền”? Những người được hưởng Ðệ Tứ Quyền này phải hành động như thế nào? Ðệ Tứ Quyền có tuyệt đối không?
Trên nguyên tắc, khi có quyền lợi thì luôn luôn phải có bổn phận và trách nhiệm, vậy bổn phận và trách nhiệm của ngành truyền thông gồm những gì?
A. - ÐỆ TỨ QUYỀN
Trong một nước theo thể chế Dân Chủ Tây Phương, chính phủ gồm có ba Ngành biệt lập: Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp, đó là “tam quyền”.
Báo chí là cơ quan thông tin cho quần chúng, công dân biết những biến cố quan trọng, những dự án, chính sách của chính phủ, của thế giới, và còn có chức năng theo dõi các hoạt động của chính phủ (journalistic function of acting as watchdog on government) đối với phúc lợi của đất nước và nguyện vọng của nhân dân. Vai trò xã hội của báo chí, truyền thông rất quan trọng trong một quốc gia dân chủ, cho nên nhiều nước Tây phương đã ban cho ngành báo chí một quyền tự do hiến định gọi là Đệ Tứ Quyền.
Hiến Pháp bảo vệ quyền tự do báo chí nhằm mục đích nâng cao phúc lợi của xã hội, chẳng hạn như sự đa dạng của các quan điểm và những phân tích toàn diện của các biến cố. Báo chí là “con mắt của công chúng” - (public eye) - cho nên có vai trò rất đặc biệt trong xã hội.
Ở các quốc gia Dân Chủ như Hoa Kỳ, Pháp, quyền của báo chí, truyền thông gần như tối thượng, nhưng không hoàn toàn tuyệt đối, bởi vì tối thượng hơn hết là quyền lợi và an ninh của Tổ Quốc, do đó, báo chí có bổn phận dừng lại ở giới hạn này.
B. - BỔN PHẬN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA BÁO CHÍ, TRUYỀN THÔNG
Một nhà báo chuyên nghiệp được đào tạo để viết về các vấn đề thế giới, các biến cố quốc gia, các sinh hoạt địa phương, viết về nhân dân và các xu hướng xã hội cũng như chính trị. Người viết báo đối diện với một số trách nhiệm rất lớn lao khi trình bầy hoặc tường thuật các sự kiện hoặc biến cố cho quần chúng. Do đó, các nhà báo chuyên nghiệp phải tuân theo một số tiêu chuẩn về đạo đức khi làm việc trong truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình, viết nhật báo, tạp chí và Internet.
1. Bổn phận và đạo đức tổng quát: giống như mọi công dân khác, những người viết báo phải tuân thủ những phạm trù đạo đức chung như tôn trọng sự thật, giữ lời hứa, tránh làm tổn hại người khác và phục vụ phúc lợi chung.
2. Vai trò Xã Hội của Báo Chí: giống như tất cả các ngành nghề khác, những người viết báo dùng năng khiếu của mình để làm tròn vai trò xã hội của mình và đáp ứng những ước vọng của quần chúng. Ðôi khi vai trò này được hiểu như là có một khế ước không thành văn giữa báo chí và xã hội, đó là công tác tường trình các sự việc một cách trung thực để quần chúng nhận định (we report, you decide)
3. Tác Động và Ảnh Hưởng của Báo Chí: dù cho ngành báo chí có thiếu sót vai trò đặc biệt đối với xã hội, thì các nhà báo cũng sẽ gánh chịu một số trách nhiệm do sự tác động của họ trên những cá nhân và các đoàn thể mà họ nói đến hoặc tường thuật, do ảnh hưởng trên xã hội mà họ đang sống và phục vụ. Bởi vì các bài báo thường tác động đến tâm tư, tình cảm của con người trong xã hội, trong quốc gia, chi phối dư luận quần chúng.
Chính vì tác động và ảnh hưởng lớn lao của báo chí, truyền thông trên dư luận quần chúng, cho nên Ðạo Ðức Của Người Viết Báo đại thể phân ra hai quy mô:
1. Quy mô nhỏ: đó là cá nhân nhà báo nên làm những gì trong một hoàn cảnh hoặc tình huống đặc biệt, hoặc trước những vấn đề chung quanh một loại biến cố chuyên biệt. Các vấn đề vi tế này bao gồm hành động dùng một máy quay phim lén lút trong một tình huống đặc biệt, hoặc không chứng kiến mà vẫn viết theo ý của người khác, đó là đạo văn (ăn cắp văn - plagiarism).
2. Quy mô lớn: đó là, một cách chung, giới truyền thông nên làm gì với vai trò đã được giao phó trong xã hội. Các vấn đề thuộc quy mô lớn này bao gồm sự đa dạng của nội dung truyền thông cùng quyền sở hữu và sự tự do báo chí.
Qua hai quy mô trên đây, người ta đã thảo luận và thâu thập các ý kiến để đúc kết thành một “khuôn mẫu đạo đức truyền thống” (traditional ethical model) cho ngành báo chí tại Bắc Mỹ, khuôn mẫu này đã có xuất hiện nền báo chí tân tiến với những nhà báo chuyên nghiệp vào thập niên 1800.
Khuôn mẫu đạo đức truyền thống quy định một số chức năng chính của báo chí như sau:
- Ðưa tin cho quần chúng biết về những biến cố quan trọng miễn là phải tự chủ, tức là sử dụng các phương pháp tương ứng và hữu hiệu để thu lượm tin tức vì lợi ích của một công dân tự trị.
- Hành động như một giám sát viên đối với các vụ lạm dụng quyền lực trong cả hai lãnh vực công và tư.
- Tạo ra những diễn dàn mở rộng cho việc thảo luận, phê bình các vấn đề chính trị, xã hội, các quan điểm, các giá trị và phát biểu ý kiến cá nhân.
Căn cứ vào quy tắc đạo đức của Hội Các Nhà Báo Chuyên Nghiệp (Code of the Society of Professional Journalists viết tắt CSPJ) thì nhà báo phải tuân giữ hai nguyên tắc hành động sau đây:
1 - Các Nguyên Tắc Năng Động (Pro-active principles): đây là những tiêu chuẩn chỉ đạo cho các nhà báo (hoặc truyền thông đại chúng) hăng hái tìm sự thật, điều tra nguyên cớ trong tư thế độc lập. Nhà báo chân chính có bổn phận theo dõi và điều tra những sự thật quan trọng trong phạm vi hạn chế của nhật báo. Tiêu chuẩn nằm dưới nguyên tắc này bao gồm: sự chính xác, cân bằng và đa dạng (accuracy, balance and diversity), sự toàn vẹn và đúng bối cảnh, cân đối, công bằng và khách quan. Nhà báo phải hành động độc lập, tìm kiếm và tường trình sự thật không sợ hãi hay thiên vị. Nhà báo phục vụ công chúng như một toàn khối, không bè phái hoặc theo đặc quyền đặc lợi. Theo nguyên tắc này, nhà báo có bổn phận tránh sự xung đột quyền lợi, phải giữ tư thế độc lập đối với mọi cơ chế khác và từ khước những ân huệ đặc biệt, có can đảm phê phán cường quyền.
2 - Các Nguyên Tắc Hạn Chế (Restraining principles): đây là các tiêu chuẩn chỉ đạo nhà báo trong việc hành xử quyền tự do báo chí này một cách có trách nhiệm bằng cách tránh những tổn hại tinh thần không cần thiết và luôn có ý thức trách nhiệm về việc làm của mình. Trong khi đi tìm sự thật, một cách độc lập, nhà báo nên tránh việc tạo ra những tổn thương không vô ích cho các đối tượng và các nguồn của những sự việc xẩy ra, chẳng hạn như trẻ em và các nạn nhân của bạo hành hay thảm kịch. Dĩ nhiên là rất khó tránh việc gây ra một vài tổn thương khi làm nhiệm vụ truyền thông, nhưng nhà báo chuyên nghiệp có bổn phận giảm thiểu sự tổn thương, chẳng hạn như không xâm phạm đến đời tư của một người nào đó một cách vô cớ. Nhà báo phải có ý thức trách nhiệm, tức là có bổn phận phải giải thích và biện minh cho các hành động của mình cũng như các bài tường thuật đã viết, nhất là khi các bài tường thuật gây tranh luận, hoặc có ảnh hưởng tiêu cực trên các cá nhân hoặc các đoàn thể.
Trong các quốc gia Dân Chủ Pháp Trị, quyền lợi, bổn phận và trách nhiệm luôn luôn song hành với nhau. Ngành báo chí truyền thông có quyền tự do rộng rãi, nên trách nhiệm và đạo đức cũng rất lớn lao. Thế nhưng trong xã hội người Việt nói chung và cộng đồng tỵ nạn nói riêng, đã có sự nhập nhằng giữa người cầm bút, nhà văn, nhà báo.
Có thể nói đại đa số những nhà văn, nhà báo Việt Nam đều tự học, học lóm hoặc nghề dạy nghề, do đó báo giới của cộng đồng tỵ nạn mới “loạn xà ngầu”. Nhiều người mang thẻ nhà báo mà thiếu kiến thức, non kém về nghiệp vụ, lại không có lương tâm, đã lợi dụng chức năng phóng viên đi “hăm dọa tống tiền”, hoặc dọa dẫm bêu xấu người khác trên báo để đạt mục đích đen tối. Nhiều người làm báo tự cho là mình có quyền đứng trên kẻ khác, tự phong là “nhà báo lớn”, rồi tự cho mình các quyền múa bút một cách bừa bãi, làm cho xã hội rối tung lên.
Do đó, đã đến lúc, Cộng Đồng Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản phải có nhận định rõ ràng để phân biệt người cầm bút và nhà văn, nhà báo đích thực.
Không phải tất cả những người cầm bút đều là nhà văn, nhà báo đích thực, chính danh. Cũng như không phải bất cứ người cầm súng nào cũng là chiến sĩ. Chiến sĩ là người cầm súng để bảo vệ quê hương, giữ yên bờ cõi, đem lại an bình cho cuộc sống người dân.
Cầm bút viết bậy cũng như cầm súng bắn bậy, rất tai hại cho xã hội. Nhất là khi người cầm bút nhận làm công cụ cho những thế lực xấu xa để kiếm tiền, thì tai họa sẽ rất lớn đối với cộng đồng. Cầm bút để làm điều sai trái, tấn công, mạ lỵ cá nhân, tuyên truyền cho cộng sản trong cộng đồng tỵ nạn, không thể gọi là nhà văn, nhà báo được, bởi vì những kẻ cầm bút loại này giống hệt như bọn cầm súng đi ăn cướp, đi hiếp dâm, đi giết người mà thôi. Cần phải loại trừ ngay khỏi báo giới loại người cầm bút này, cần phải vạch mặt chỉ tên để công chúng biết mà lánh xa.
Người cầm bút chân chính luôn luôn có tấm lòng đối với con người và có đạo đức. Trên nguyên tắc, mọi nhà văn đều có nhiệm vụ “chở đạo đức vào đời”, có bổn phận làm cho điều thiện nẩy nở, điều ác tàn rụi, sự thật được xiển dương và vẻ đẹp được thăng hoa.
Làm người-ở đời, cái quan trọng nhất phải có đó là Lương Tâm hay Ý Thức Ðạo Ðức. Người viết văn, làm báo mà không có lương tâm, thiếu đạo đức, thì sẽ di hại nhiều thế hệ, chứ không chỉ trong hiện tại.
Do đó, nhu cầu thanh lọc hàng ngũ báo chí trong Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại hải ngoại là một việc đáng lẽ phải làm từ lâu. Bây giờ mới làm thì đã muộn. Nhưng muộn còn hơn không bao giờ làm! “Mieux vaut tard que jamais!” - “Better late than never!”
NGUYỄN CHÂU
ÐẠO ÐỨC NGHỀ LÀM BÁO
NGUYỄN CHÂU Trong những ngày vừa qua, ca sĩ Ðàm Vĩnh Hưng từ Việt Nam sang trình diễn tại Mỹ, cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản đã biểu tình rầm rộ và đông đảo để bầy tỏ sự chống đối chiến dịch tuyên vận của cộng sản Việt Nam qua văn nghệ. Trong lúc đại bộ phận người Việt Tỵ Nạn không chấp nhận việc một ca sĩ bản thân là cán bộ cộng sản, lại có thái độ ngang ngược, thách thức cộng đồng tỵ nạn, thì có một số người làm báo, tự xưng là ký giả, đã tiếp tay cho ca sĩ này bằng cách tổ chức các cuộc họp báo để Ðàm Vĩnh Hưng có cơ hội tuyên truyền, thậm chí có người đã vượt đã khỏi chức năng nhà báo, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên đài BBC về việc Ðàm Vĩnh Hưng bị Lý Tống xịt hơi cay vào mặt, với một luận điệu đầy thiên kiến, có lợi cho cộng sản. Do đó, Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản đã họp, hội thảo và ra quyết định tẩy chay ba ký giả đã đi ngược lại nguyện vọng và quyền lợi của Cộng Đồng Tỵ Nạn.
Trong buổi hội thảo ngày 04-8-2010, sau khi thông qua Bản Lên Tiếng, ký giả Ðoàn Trọng đã lập tức bị mời ra khỏi phòng họp của Cộng Ðồng Người Việt Tỵ Nạn Nam California. Vì trước đó đã được mời bởi trưởng ban tổ chức, nên ông Ðoàn Trọng chưa chịu rời hội trường, chờ hỏi ý kiến ông Hội Trưởng Phan Kỳ Nhơn. Trước khi ông Phan Kỳ Nhơn trả lời là ký giả Ðoàn Trọng nên về, thì đã có một vài người lớn tiếng xua đuổi.
Chuyện “trục xuất ông Ðoàn Trọng ra khỏi phòng họp” đã trở thành đề tài đánh phá Ủy Ban Ðặc Nhiệm Chống Văn Hóa Vận.
Phía chống phá nhân danh quyền ký giả là “Đệ Tứ Quyền” không ai được phép đụng đến. Phía cộng đồng thì cho rằng những nhà báo không có lương tâm chức nghiệp, không có ý thức quốc gia, làm lợi cho cộng sản Việt Nam, thì không xứng đáng để được tôn trọng.
Vậy thì đâu là Lương Tâm của người cầm bút và đâu là Đạo Đức của nghề làm báo?
Tại sao ngành báo chí truyền thông được các quốc gia dân chủ tự do công nhận là “Đệ Tứ Quyền”? Những người được hưởng Ðệ Tứ Quyền này phải hành động như thế nào? Ðệ Tứ Quyền có tuyệt đối không?
Trên nguyên tắc, khi có quyền lợi thì luôn luôn phải có bổn phận và trách nhiệm, vậy bổn phận và trách nhiệm của ngành truyền thông gồm những gì?
A. - ÐỆ TỨ QUYỀN
Trong một nước theo thể chế Dân Chủ Tây Phương, chính phủ gồm có ba Ngành biệt lập: Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp, đó là “tam quyền”.
Báo chí là cơ quan thông tin cho quần chúng, công dân biết những biến cố quan trọng, những dự án, chính sách của chính phủ, của thế giới, và còn có chức năng theo dõi các hoạt động của chính phủ (journalistic function of acting as watchdog on government) đối với phúc lợi của đất nước và nguyện vọng của nhân dân. Vai trò xã hội của báo chí, truyền thông rất quan trọng trong một quốc gia dân chủ, cho nên nhiều nước Tây phương đã ban cho ngành báo chí một quyền tự do hiến định gọi là Đệ Tứ Quyền.
Hiến Pháp bảo vệ quyền tự do báo chí nhằm mục đích nâng cao phúc lợi của xã hội, chẳng hạn như sự đa dạng của các quan điểm và những phân tích toàn diện của các biến cố. Báo chí là “con mắt của công chúng” - (public eye) - cho nên có vai trò rất đặc biệt trong xã hội.
Ở các quốc gia Dân Chủ như Hoa Kỳ, Pháp, quyền của báo chí, truyền thông gần như tối thượng, nhưng không hoàn toàn tuyệt đối, bởi vì tối thượng hơn hết là quyền lợi và an ninh của Tổ Quốc, do đó, báo chí có bổn phận dừng lại ở giới hạn này.
B. - BỔN PHẬN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA BÁO CHÍ, TRUYỀN THÔNG
Một nhà báo chuyên nghiệp được đào tạo để viết về các vấn đề thế giới, các biến cố quốc gia, các sinh hoạt địa phương, viết về nhân dân và các xu hướng xã hội cũng như chính trị. Người viết báo đối diện với một số trách nhiệm rất lớn lao khi trình bầy hoặc tường thuật các sự kiện hoặc biến cố cho quần chúng. Do đó, các nhà báo chuyên nghiệp phải tuân theo một số tiêu chuẩn về đạo đức khi làm việc trong truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình, viết nhật báo, tạp chí và Internet.
1. Bổn phận và đạo đức tổng quát: giống như mọi công dân khác, những người viết báo phải tuân thủ những phạm trù đạo đức chung như tôn trọng sự thật, giữ lời hứa, tránh làm tổn hại người khác và phục vụ phúc lợi chung.
2. Vai trò Xã Hội của Báo Chí: giống như tất cả các ngành nghề khác, những người viết báo dùng năng khiếu của mình để làm tròn vai trò xã hội của mình và đáp ứng những ước vọng của quần chúng. Ðôi khi vai trò này được hiểu như là có một khế ước không thành văn giữa báo chí và xã hội, đó là công tác tường trình các sự việc một cách trung thực để quần chúng nhận định (we report, you decide)
3. Tác Động và Ảnh Hưởng của Báo Chí: dù cho ngành báo chí có thiếu sót vai trò đặc biệt đối với xã hội, thì các nhà báo cũng sẽ gánh chịu một số trách nhiệm do sự tác động của họ trên những cá nhân và các đoàn thể mà họ nói đến hoặc tường thuật, do ảnh hưởng trên xã hội mà họ đang sống và phục vụ. Bởi vì các bài báo thường tác động đến tâm tư, tình cảm của con người trong xã hội, trong quốc gia, chi phối dư luận quần chúng.
Chính vì tác động và ảnh hưởng lớn lao của báo chí, truyền thông trên dư luận quần chúng, cho nên Ðạo Ðức Của Người Viết Báo đại thể phân ra hai quy mô:
1. Quy mô nhỏ: đó là cá nhân nhà báo nên làm những gì trong một hoàn cảnh hoặc tình huống đặc biệt, hoặc trước những vấn đề chung quanh một loại biến cố chuyên biệt. Các vấn đề vi tế này bao gồm hành động dùng một máy quay phim lén lút trong một tình huống đặc biệt, hoặc không chứng kiến mà vẫn viết theo ý của người khác, đó là đạo văn (ăn cắp văn - plagiarism).
2. Quy mô lớn: đó là, một cách chung, giới truyền thông nên làm gì với vai trò đã được giao phó trong xã hội. Các vấn đề thuộc quy mô lớn này bao gồm sự đa dạng của nội dung truyền thông cùng quyền sở hữu và sự tự do báo chí.
Qua hai quy mô trên đây, người ta đã thảo luận và thâu thập các ý kiến để đúc kết thành một “khuôn mẫu đạo đức truyền thống” (traditional ethical model) cho ngành báo chí tại Bắc Mỹ, khuôn mẫu này đã có xuất hiện nền báo chí tân tiến với những nhà báo chuyên nghiệp vào thập niên 1800.
Khuôn mẫu đạo đức truyền thống quy định một số chức năng chính của báo chí như sau:
- Ðưa tin cho quần chúng biết về những biến cố quan trọng miễn là phải tự chủ, tức là sử dụng các phương pháp tương ứng và hữu hiệu để thu lượm tin tức vì lợi ích của một công dân tự trị.
- Hành động như một giám sát viên đối với các vụ lạm dụng quyền lực trong cả hai lãnh vực công và tư.
- Tạo ra những diễn dàn mở rộng cho việc thảo luận, phê bình các vấn đề chính trị, xã hội, các quan điểm, các giá trị và phát biểu ý kiến cá nhân.
Căn cứ vào quy tắc đạo đức của Hội Các Nhà Báo Chuyên Nghiệp (Code of the Society of Professional Journalists viết tắt CSPJ) thì nhà báo phải tuân giữ hai nguyên tắc hành động sau đây:
1 - Các Nguyên Tắc Năng Động (Pro-active principles): đây là những tiêu chuẩn chỉ đạo cho các nhà báo (hoặc truyền thông đại chúng) hăng hái tìm sự thật, điều tra nguyên cớ trong tư thế độc lập. Nhà báo chân chính có bổn phận theo dõi và điều tra những sự thật quan trọng trong phạm vi hạn chế của nhật báo. Tiêu chuẩn nằm dưới nguyên tắc này bao gồm: sự chính xác, cân bằng và đa dạng (accuracy, balance and diversity), sự toàn vẹn và đúng bối cảnh, cân đối, công bằng và khách quan. Nhà báo phải hành động độc lập, tìm kiếm và tường trình sự thật không sợ hãi hay thiên vị. Nhà báo phục vụ công chúng như một toàn khối, không bè phái hoặc theo đặc quyền đặc lợi. Theo nguyên tắc này, nhà báo có bổn phận tránh sự xung đột quyền lợi, phải giữ tư thế độc lập đối với mọi cơ chế khác và từ khước những ân huệ đặc biệt, có can đảm phê phán cường quyền.
2 - Các Nguyên Tắc Hạn Chế (Restraining principles): đây là các tiêu chuẩn chỉ đạo nhà báo trong việc hành xử quyền tự do báo chí này một cách có trách nhiệm bằng cách tránh những tổn hại tinh thần không cần thiết và luôn có ý thức trách nhiệm về việc làm của mình. Trong khi đi tìm sự thật, một cách độc lập, nhà báo nên tránh việc tạo ra những tổn thương không vô ích cho các đối tượng và các nguồn của những sự việc xẩy ra, chẳng hạn như trẻ em và các nạn nhân của bạo hành hay thảm kịch. Dĩ nhiên là rất khó tránh việc gây ra một vài tổn thương khi làm nhiệm vụ truyền thông, nhưng nhà báo chuyên nghiệp có bổn phận giảm thiểu sự tổn thương, chẳng hạn như không xâm phạm đến đời tư của một người nào đó một cách vô cớ. Nhà báo phải có ý thức trách nhiệm, tức là có bổn phận phải giải thích và biện minh cho các hành động của mình cũng như các bài tường thuật đã viết, nhất là khi các bài tường thuật gây tranh luận, hoặc có ảnh hưởng tiêu cực trên các cá nhân hoặc các đoàn thể.
Trong các quốc gia Dân Chủ Pháp Trị, quyền lợi, bổn phận và trách nhiệm luôn luôn song hành với nhau. Ngành báo chí truyền thông có quyền tự do rộng rãi, nên trách nhiệm và đạo đức cũng rất lớn lao. Thế nhưng trong xã hội người Việt nói chung và cộng đồng tỵ nạn nói riêng, đã có sự nhập nhằng giữa người cầm bút, nhà văn, nhà báo.
Có thể nói đại đa số những nhà văn, nhà báo Việt Nam đều tự học, học lóm hoặc nghề dạy nghề, do đó báo giới của cộng đồng tỵ nạn mới “loạn xà ngầu”. Nhiều người mang thẻ nhà báo mà thiếu kiến thức, non kém về nghiệp vụ, lại không có lương tâm, đã lợi dụng chức năng phóng viên đi “hăm dọa tống tiền”, hoặc dọa dẫm bêu xấu người khác trên báo để đạt mục đích đen tối. Nhiều người làm báo tự cho là mình có quyền đứng trên kẻ khác, tự phong là “nhà báo lớn”, rồi tự cho mình các quyền múa bút một cách bừa bãi, làm cho xã hội rối tung lên.
Do đó, đã đến lúc, Cộng Đồng Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản phải có nhận định rõ ràng để phân biệt người cầm bút và nhà văn, nhà báo đích thực.
Không phải tất cả những người cầm bút đều là nhà văn, nhà báo đích thực, chính danh. Cũng như không phải bất cứ người cầm súng nào cũng là chiến sĩ. Chiến sĩ là người cầm súng để bảo vệ quê hương, giữ yên bờ cõi, đem lại an bình cho cuộc sống người dân.
Cầm bút viết bậy cũng như cầm súng bắn bậy, rất tai hại cho xã hội. Nhất là khi người cầm bút nhận làm công cụ cho những thế lực xấu xa để kiếm tiền, thì tai họa sẽ rất lớn đối với cộng đồng. Cầm bút để làm điều sai trái, tấn công, mạ lỵ cá nhân, tuyên truyền cho cộng sản trong cộng đồng tỵ nạn, không thể gọi là nhà văn, nhà báo được, bởi vì những kẻ cầm bút loại này giống hệt như bọn cầm súng đi ăn cướp, đi hiếp dâm, đi giết người mà thôi. Cần phải loại trừ ngay khỏi báo giới loại người cầm bút này, cần phải vạch mặt chỉ tên để công chúng biết mà lánh xa.
Người cầm bút chân chính luôn luôn có tấm lòng đối với con người và có đạo đức. Trên nguyên tắc, mọi nhà văn đều có nhiệm vụ “chở đạo đức vào đời”, có bổn phận làm cho điều thiện nẩy nở, điều ác tàn rụi, sự thật được xiển dương và vẻ đẹp được thăng hoa.
Làm người-ở đời, cái quan trọng nhất phải có đó là Lương Tâm hay Ý Thức Ðạo Ðức. Người viết văn, làm báo mà không có lương tâm, thiếu đạo đức, thì sẽ di hại nhiều thế hệ, chứ không chỉ trong hiện tại.
Do đó, nhu cầu thanh lọc hàng ngũ báo chí trong Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại hải ngoại là một việc đáng lẽ phải làm từ lâu. Bây giờ mới làm thì đã muộn. Nhưng muộn còn hơn không bao giờ làm! “Mieux vaut tard que jamais!” - “Better late than never!”
NGUYỄN CHÂU
Tản Mạn về Ngàn Năm Thăng Long
Chỉ còn non hai tháng nữa, Việt Nam sẽ tổ chức đại lễ Ngàn Năm Thăng Long. Buổi lễ sẽ diễn ra ngày 1/10/2010. Ông Lê Tiến Thọ, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao, và Du lịch, Chủ tịch Ban Chỉ đạo Quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long là người tổ chức và điều hành buổi lễ nầy.
Kinh phí cho buổi lễ là 94 ngàn tỷ Đồng Việt Nam tương đương với 4,5 tỷ Mỹ kim (1 tỷ Đồng # US $50.000). Với một kinh phí tương đương gần 10% ngân sách quốc gia chỉ để cho “lễ hội”. Quả thật Việt Nam đi đầu so với thế giới về việc phí phạm cho những cuộc vui chơi vô bổ nầy.
Nhưng chưa hết, vì buổi lễ diễn ra vào giữa mùa mưa Hà Nội, cho nên sác xuất mưa rất cao, và mái che của sân vân động Mỹ Đình, nơi hành lễ không đủ để che trên dưới 40.000 người dự khán. Vì vậy, có dự án dùng phi cơ “bắn mây” để ngăn mưa trong ngày khai mạc. Mỗi lần ”bắn mây” trong 3 ngày có thể tiêu hết hơn 1 tỷ Mỹ kim.
Trên đây là kinh phí dự trù cho 3 ngày “lễ hội”, nhưng chắc chắn kính phí thực sự sẽ “phải” lớn hơn nhiều vì những “rò rỉ” trong thời gian xây dựng và chuẩn bị!
Chương trình đại lễ rất đồ sộ. Theo dự trù, ngày khai mạc sẽ được tiến hành tại vườn hoa tượng đài Lý Thái Tổ và đường Đinh Tiên Hoàng chung quanh hồ Hoàn Kiếm. Sẽ có diễn binh và diễn hành tại Quảng trường Ba Đình. “Chương trình kỷ niệm sẽ được tổ chức trọng thể, sinh động, đậm đà bản sắc dân tộc, truyền thống lịch sử, văn hóa”, đó là lời của một thành viên trong Ban chỉ đạo.
Nhưng cho đến hôm nay (12/8), nhiều người dân Hà Nội, cũng như trong nước vẫn không hiểu buổi lễ hội nầy có mục đích để “mừng” cái gì? Vì, Ngày Đại lễ đã được Thủ tướng cọng sản ấn định khai mạc vào 1 tháng 10, rơi đúng vào ngày Quốc khánh của Trung Cộng. Đây là một sự trùng hợp vô tình hay cố ý, và chính vì vậy mà người dân hoang man!
Vài dòng tản mạn trong bài viết nhằm mục đích khơi dậy vài tự ái dân tộc, nếu còn sót lại trong lòng người dân Việt ở cả trong lẫn ngoài nước.
Một ngàn năm Thăng Long là một ngày đánh dấu mốc thời gian từ lúc tổ tiên dân Việt dành lại nềm độc lập tự chủ thoát khỏi gần 1000 năm bị giặc Tàu đô hộ. Mà nay, Việt Nam lại tổ chức đúng vào ngày quốc khánh của kẻ thù truyền kiếp (cho đến ngày nay và cả ngàn sau nữa).
Đây có phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên hay không? Cá nhân người viết nghĩ là không mà là một chủ đích có tính toán kỷ lưỡng của đảng Cọng sản Việt Nam.
Vì, qua quá trình lịch sử trong vòng vòng 20 năm trở lại đây, rỏ ràng là đường lối, chính sách phát triển đều “rập khuôn” theo hướng phát triển của Tàu; thậm chí những sự khai thác khoáng sản, rừng phòng vệ, cùng những xây dựng khu kinh tế duyên hải miền Bắc đều nằm gọn trong tay những nhà đầu tư TC.
Như vậy có phải là Độc lập chăng?
Như vậy có phải là Tự chủ chăng?
Có xứng đáng tiêu tốn gần 10% ngân sách quốc gia cho những ngày lễ hội thể hiện một tinh thần nô lệ cho ngoại bang, trong lúc 1/3 dân số còn sống dưới mức nghèo tuyệt đối theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc là 1 Mỹ kim/ngày?
Trong Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam đã phê chuẩn, trong đó một số giá trị căn bản giữ vai trò thiết yếu trong quan hệ quốc tế của thế kỷ 21 là:
Về Tự do: …Điều hành đất nước theo nguyên tắc dân chủ, có sự tham gia của người dân và trên căn bản ý chí của người dân là bảo đảm tốt nhứt cho việc thực hiện quyền tự do nầy.
Về Bình đẳng:… Không được phép tước đoạt cơ hội thụ hưởng kết quả từ hoạt động phát triển của bất cứ cá nhân nào hoặc dân tộc nào.
Về Khoan dung:… Con người phải tôn trọng lẫn nhau, trong sự đa dạng về tín ngưỡng, văn hóa, và ngôn ngữ.
Bản tuyên ngôn còn nêu rõ ý thức và hành động về hòa bình, an ninh và giải trừ quân bị, về phát triển và xóa đói giảm nghèo, về việc bảo vệ môi trường chung, về nhân quyền, dân chủ và điều hành tốt, về việc bảo vệ những người dễ bị tổn thương…
Tất cả chỉ nhằm vào mục đích là thế giới cùng nhau phát triển theo chiều hướng toàn cầu hóa nhắm vào 3 mục tiêu: 1- Phát triển xã hội, 2- Tăng trưởng phúc lợi cho người dân, và 3- Bảo vệ môi trường.
Trong tất cả những ghi nhận trên của Bản Tuyên ngôn, Việt Nam cho đến hôm nay vẫn chưa thực hiện được điều gì cả mà còn làm cho đất nước, xã hội Việt Nam ngày càng tệ hại thêm lên. Người dân ngày càng trực diện với với nhiều nỗi đau thường trực, nào là tệ trạng nguồn nước sinh hoạt và thực phẩm tiêu dùng, nào là tệ trạng y tế cùng hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống ngày càng xấu thêm, nào là tình trạng đạo đức suy đồi qua hệ hệ thống giáo gục còn quá lạc hậu. Và còn bao nhiêu tệ trạng khác nữa!
Phải chăng đã đến lúc người dân cần phải đứng lên để tự cứu lấy mình?
Câu hỏi trên xin dành cho tất cả bà con trong và ngoài nước suy nghĩ, suy nghĩ để cùng tháo gở việc thực thi qua lệnh truyền trong quân đội TC là:
Lộ ố Nàm phồ
Dìu ố Nàm sình
Chì ố Nàm tì
Nghĩa là: Lấy vợ An Nam – Tiêu tiền An Nam - Ở đất An Nam.
Lịch sử sẽ ghi thêm một tội ác của cường quyền, cam tâm làm nô lệ và dẫn dắt cả dân tộc đi làm nô lệ cho kẻ thù truyền kiếp.
Ngàn năm Thăng Long sắp đến không phải để đánh dấu mối vinh quang của dân tộc mà là một dấu ấn, chuẩn bị cho chính sách đô hộ lần thứ 5 của giặc Tàu, tiếp nối ngàn năm Việt Nam bị Tàu đô hộ trong quá khứ.
Mai Thanh Truyết
Nhớ về ngày Tết Kỷ Dậu, Ngày Đại phá quân Thanh của vua Quang Trung Nguyễn Huệ (8/2010)
Kinh phí cho buổi lễ là 94 ngàn tỷ Đồng Việt Nam tương đương với 4,5 tỷ Mỹ kim (1 tỷ Đồng # US $50.000). Với một kinh phí tương đương gần 10% ngân sách quốc gia chỉ để cho “lễ hội”. Quả thật Việt Nam đi đầu so với thế giới về việc phí phạm cho những cuộc vui chơi vô bổ nầy.
Nhưng chưa hết, vì buổi lễ diễn ra vào giữa mùa mưa Hà Nội, cho nên sác xuất mưa rất cao, và mái che của sân vân động Mỹ Đình, nơi hành lễ không đủ để che trên dưới 40.000 người dự khán. Vì vậy, có dự án dùng phi cơ “bắn mây” để ngăn mưa trong ngày khai mạc. Mỗi lần ”bắn mây” trong 3 ngày có thể tiêu hết hơn 1 tỷ Mỹ kim.
Trên đây là kinh phí dự trù cho 3 ngày “lễ hội”, nhưng chắc chắn kính phí thực sự sẽ “phải” lớn hơn nhiều vì những “rò rỉ” trong thời gian xây dựng và chuẩn bị!
Chương trình đại lễ rất đồ sộ. Theo dự trù, ngày khai mạc sẽ được tiến hành tại vườn hoa tượng đài Lý Thái Tổ và đường Đinh Tiên Hoàng chung quanh hồ Hoàn Kiếm. Sẽ có diễn binh và diễn hành tại Quảng trường Ba Đình. “Chương trình kỷ niệm sẽ được tổ chức trọng thể, sinh động, đậm đà bản sắc dân tộc, truyền thống lịch sử, văn hóa”, đó là lời của một thành viên trong Ban chỉ đạo.
Nhưng cho đến hôm nay (12/8), nhiều người dân Hà Nội, cũng như trong nước vẫn không hiểu buổi lễ hội nầy có mục đích để “mừng” cái gì? Vì, Ngày Đại lễ đã được Thủ tướng cọng sản ấn định khai mạc vào 1 tháng 10, rơi đúng vào ngày Quốc khánh của Trung Cộng. Đây là một sự trùng hợp vô tình hay cố ý, và chính vì vậy mà người dân hoang man!
Vài dòng tản mạn trong bài viết nhằm mục đích khơi dậy vài tự ái dân tộc, nếu còn sót lại trong lòng người dân Việt ở cả trong lẫn ngoài nước.
Một ngàn năm Thăng Long là một ngày đánh dấu mốc thời gian từ lúc tổ tiên dân Việt dành lại nềm độc lập tự chủ thoát khỏi gần 1000 năm bị giặc Tàu đô hộ. Mà nay, Việt Nam lại tổ chức đúng vào ngày quốc khánh của kẻ thù truyền kiếp (cho đến ngày nay và cả ngàn sau nữa).
Đây có phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên hay không? Cá nhân người viết nghĩ là không mà là một chủ đích có tính toán kỷ lưỡng của đảng Cọng sản Việt Nam.
Vì, qua quá trình lịch sử trong vòng vòng 20 năm trở lại đây, rỏ ràng là đường lối, chính sách phát triển đều “rập khuôn” theo hướng phát triển của Tàu; thậm chí những sự khai thác khoáng sản, rừng phòng vệ, cùng những xây dựng khu kinh tế duyên hải miền Bắc đều nằm gọn trong tay những nhà đầu tư TC.
Như vậy có phải là Độc lập chăng?
Như vậy có phải là Tự chủ chăng?
Có xứng đáng tiêu tốn gần 10% ngân sách quốc gia cho những ngày lễ hội thể hiện một tinh thần nô lệ cho ngoại bang, trong lúc 1/3 dân số còn sống dưới mức nghèo tuyệt đối theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc là 1 Mỹ kim/ngày?
Trong Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam đã phê chuẩn, trong đó một số giá trị căn bản giữ vai trò thiết yếu trong quan hệ quốc tế của thế kỷ 21 là:
Về Tự do: …Điều hành đất nước theo nguyên tắc dân chủ, có sự tham gia của người dân và trên căn bản ý chí của người dân là bảo đảm tốt nhứt cho việc thực hiện quyền tự do nầy.
Về Bình đẳng:… Không được phép tước đoạt cơ hội thụ hưởng kết quả từ hoạt động phát triển của bất cứ cá nhân nào hoặc dân tộc nào.
Về Khoan dung:… Con người phải tôn trọng lẫn nhau, trong sự đa dạng về tín ngưỡng, văn hóa, và ngôn ngữ.
Bản tuyên ngôn còn nêu rõ ý thức và hành động về hòa bình, an ninh và giải trừ quân bị, về phát triển và xóa đói giảm nghèo, về việc bảo vệ môi trường chung, về nhân quyền, dân chủ và điều hành tốt, về việc bảo vệ những người dễ bị tổn thương…
Tất cả chỉ nhằm vào mục đích là thế giới cùng nhau phát triển theo chiều hướng toàn cầu hóa nhắm vào 3 mục tiêu: 1- Phát triển xã hội, 2- Tăng trưởng phúc lợi cho người dân, và 3- Bảo vệ môi trường.
Trong tất cả những ghi nhận trên của Bản Tuyên ngôn, Việt Nam cho đến hôm nay vẫn chưa thực hiện được điều gì cả mà còn làm cho đất nước, xã hội Việt Nam ngày càng tệ hại thêm lên. Người dân ngày càng trực diện với với nhiều nỗi đau thường trực, nào là tệ trạng nguồn nước sinh hoạt và thực phẩm tiêu dùng, nào là tệ trạng y tế cùng hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống ngày càng xấu thêm, nào là tình trạng đạo đức suy đồi qua hệ hệ thống giáo gục còn quá lạc hậu. Và còn bao nhiêu tệ trạng khác nữa!
Phải chăng đã đến lúc người dân cần phải đứng lên để tự cứu lấy mình?
Câu hỏi trên xin dành cho tất cả bà con trong và ngoài nước suy nghĩ, suy nghĩ để cùng tháo gở việc thực thi qua lệnh truyền trong quân đội TC là:
Lộ ố Nàm phồ
Dìu ố Nàm sình
Chì ố Nàm tì
Nghĩa là: Lấy vợ An Nam – Tiêu tiền An Nam - Ở đất An Nam.
Lịch sử sẽ ghi thêm một tội ác của cường quyền, cam tâm làm nô lệ và dẫn dắt cả dân tộc đi làm nô lệ cho kẻ thù truyền kiếp.
Ngàn năm Thăng Long sắp đến không phải để đánh dấu mối vinh quang của dân tộc mà là một dấu ấn, chuẩn bị cho chính sách đô hộ lần thứ 5 của giặc Tàu, tiếp nối ngàn năm Việt Nam bị Tàu đô hộ trong quá khứ.
Mai Thanh Truyết
Nhớ về ngày Tết Kỷ Dậu, Ngày Đại phá quân Thanh của vua Quang Trung Nguyễn Huệ (8/2010)
Gấp rút đánh bóng Nguyễn Chí Vịnh
Chuẩn bị cho đại hội đảng khóa XI sắp tới, các phe nhóm trong đảng Cộng Sản Việt Nam đang có nhiều nỗ lực đưa người của mình vào Trung ương khóa tới bằng đủ mọi đòn phép, hầu nắm những chức vụ then chốt trong đảng và nhà nước sau này. Tin tức cho biết, đã có những đơn kiến nghị, thư rơi tố cáo để loại trừ, tấn công uy tín của nhau.
Điển hình như những bức thư gửi cho các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang tố cáo: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngoài miệng thì hô hào chống tham nhũng, nhưng thực tế rất tham lam, đang kéo thân nhân, tay chân bè đảng để kinh tài theo kiểu mafia để từng bước thâu tóm nền kinh tế VN. Đồng thời cũng có những màn tự đánh bóng mình hay đánh bóng các quan chức cao cấp “cùng phe”, trong đó nổi bật phải kể đến nỗ lực “đánh bóng“ cho Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng bộ Quốc phòng.
Tướng Nguyễn Chí Vịnh là người đã bị nhiều đơn tố cáo là kẻ “tài hèn, đức kém“, nhưng lại được cất nhắc lên rất nhanh. Năm 2006, ông Nguyễn Chí Vịnh được đích thân Tổng bí thư Nông Đức Mạnh giới thiệu vào Ban Chấp hành trung ương đảng khóa X cùng với con của ông Mạnh là Nông Quốc Tuấn. Nhưng cả hai đều bị từ chối. Sau đó, do sức ép từ thiên triều phương Bắc, từ 2 Thái thượng hoàng Đỗ Mười, Lê Đức Anh, cũng như từ chính ông Mạnh, nên Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Quốc phòng, dù rằng còn có cả gần một tá những người mang quân hàm cao hơn ông Vịnh. Tuy nhiên, đối với ông Nguyễn Chí Vịnh thì điều đáng được đề cập đến nhiều hơn cả là vị trí cầm đầu Tổng cục 2, Tình Báo Quân Đội và thái độ phục tùng Trung Quốc tuyệt đối của ông ta.
Từ 2 thập niên qua, Tổng Cục 2, với những quyền hạn đặc biệt về an ninh, tình báo, phản gián, bảo vệ nội bộ nhà nước, đảng, quân đội,… cơ quan này có quyền theo dõi mọi người, kể cả những người ở vị trí cao nhất. Từ đó, cơ quan này đã dùng nhiều thủ đoạn thao túng, ngụy tạo tin tức để chụp mũ nhiều nhân vật chóp bu trong đảng. Đại tướng Võ nguyên Giáp, 3 ông cựu thủ tướng Phạm văn Đồng,Võ văn kiệt và Phan Văn Khải đều là những nạn nhân một thời của Tổng Cục 2. Chính vì vậy mà nhiều đảng viên lão thành đã kiến nghị đòi Trung ương phải điều tra và có biện pháp giảm bớt thế lực của Tổng Cục 2. Tuy nhiên, vì một lý do khó nói nào đó mà Bộ chính trị CSVN đã trì hoãn vấn đề này suốt mấy kỳ đại hội đảng liền trong lúc Tướng Vịnh vẫn thêm chức thêm quyền liên tục và càng lúc càng nhanh. Do đó đã có những đồn đoán rằng, chính 15 nhân sự thuộc bộ Chính Trị đảng CSVN hiện nay cũng đã bị Tổng Cục 2 khống chế. Vì với những quyền lực bao trùm kể trên, cơ quan này đã nắm đầy đủ hồ sơ hệ thống làm ăn riêng, các màn ăn chơi đời tư, các chứng cớ tháo bán quyền lợi quốc gia, và những đòn phép chơi xấu lẫn nhau, v.v. của tất cả những nhân vật lãnh đạo.
Thứ trưởng quốc phòng lẽ ra chỉ đóng các chức năng hướng vào nội bộ đúng như danh xưng của nó. Nhưng mấy tháng gần đây Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh bỗng dưng trở thành một nhân vật tất bật, rôm rả nhất trong số các cán bộ cao cấp của quân đội CSVN. Trong đó có cả những lần xuất hiện được coi là vượt cấp và ngoài phạm vi trách nhiệm. Từ việc đại diện Bộ Quốc Phòng công bố Sách trắng Quốc phòng Việt Nam hồi tháng 12/2009, đến chủ tọa buổi gặp gỡ các tân đại sứ trước khi lên đường nhận nhiệm sở vào tháng 1/2010 để trình bày về đường lối an ninh quốc phòng của Việt Nam; chủ tọa một cuộc họp báo công bố chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam vào đầu tháng 2/2010; cầm đầu phái đoàn quân sự cao cấp của Việt Nam sang thăm Trung quốc vào cuối tháng 2/2010 để tiếp xúc đặc biệt với Bộ trưởng Bộ quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt; cầm đầu phái đoàn quân sự đi Úc để gặp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Úc ông John Faulkner vào tháng 3/2010. Về chuyến đi này nhiều người còn cho rằng ông Nguyễn Chí Vịnh cố tình tránh gặp mặt Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov đến Hà Nội vào thời điểm đó. Ông Vịnh không muốn bị xem là người thuộc nhóm “đi dây giữa Nga – Tàu” mà Bắc Kinh ghét cay ghét đắng trong quá khứ.
Với những hoạt động rộn ràng kể trên, ông Nguyễn Chí Vịnh hẳn nhiên đã được coi là người nổi bật nhất trong số các cán bộ quân sự cao cấp của CSVN. Tuy nhiên, như vậy vẫn chưa đủ. Ngày 30.7.2010, sau khi hội nghị Diễn Đàn Khu vực ASEAN chấm dứt, tờ South China Morning Post (Bưu điện Hoa Nam Buổi Sáng), xuất bản tại Hồng Kông đã đăng lời phát biểu của Nguyễn Chí Vịnh: “Việt Nam muốn gửi thông điệp cho cộng đồng quốc tế rằng sẽ không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó”.
Khi được hỏi liệu tuyên bố này có thể được hiểu là gần đây đã có đe dọa sử dụng vũ lực từ Trung Quốc hướng tới Việt Nam hay không, ông Vịnh trả lời: “Nên dành câu hỏi này cho Trung Quốc chứ không phải Việt Nam”.
Từ miệng một người thần phục Tàu hết mức xưa nay, những phát biểu cứng rắn vừa kể của ông Nguyễn Chí Vịnh làm người ta ngạc nhiên không ít. Nhưng không lâu sau đó, các nhà quan sát đã thấy ngay đây chỉ là một thủ thuật của Bắc Kinh để trấn an các nước trong vùng, và hy vọng chính phủ các nước này bớt thấy việc nhảy vào biển Đông của Hoa Kỳ là cần thiết.
Trước hết, South China Morning Post là tờ báo được xem là “bán Đông bán Tây”, nghĩa là 1 tờ báo có đầy đủ đường nét và các hành xử Tây Phương nhưng nằm tại Hồng Kông là phần đất mà Trung quốc nắm trọn khả năng áp lực, điều khiển phía sau. Trong nhiều năm qua, Bắc Kinh khá khôn khéo trong việc tạo hình ảnh độc lập cho tờ báo này, kể cả việc để nó tung ra những tin không hay lắm cho Bắc Kinh, và chỉ xử dụng nó khi thật cần thiết mà thôi. Hiện tượng thay đổi chính sách của chính phủ Obama, cụ thể là lời tuyên bố của ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton trong Hội nghị Diễn đàn Khu vực ASEAN vào tháng 7 vừa qua rằng Hoa Kỳ sẵn sàng tham gia chống bá quyền tại Biển Đông, đã khiến Bắc Kinh phải xử dụng tới phương tiện báo chí đặc biệt này.
Cũng có người đồng ý đây phải là thủ thuật của Bắc Kinh vì khá rõ nó không thể là sáng kiến của các lãnh đạo Hà Nội. Họ dư biết ông Nguyễn Chí Vịnh đã bị chính các cựu quan chức cao cấp của chế độ, cũng như bị chính những người làm việc tại Tổng Cục II tố cáo với nhiều bằng chứng là đã cộng tác chặt chẽ với tình báo Trung quốc từ lâu. Vì vậy lời nói của ông Vịnh trong lãnh vực đối phó với Trung quốc bị mất trọng lượng ngay từ khi chưa thốt ra. Trong khi có rất nhiều nhân sự khác, kể cả các tướng lãnh quân đội, có tầm vóc hơn hẳn ông Vịnh, mà lại không tạo ra ngờ vực trong công luận người Việt, để làm việc này.
Bên cạnh đó, nếu đây là sáng kiến của lãnh đạo Hà Nội thì họ đã mở một cuộc họp báo với nhiều đại diện báo chí tại thủ đô để sự rầm rộ hơn hẳn chỉ có MỘT bài trên tờ South China Morning Post. Ngoài ra, nếu đây là sáng kiến của lãnh đạo đảng CSVN, thì bài báo trên tờ South China Morning Post hẳn đã được dịch lại và trịnh trọng đăng trên khắp các báo “lề phải“. Nhưng cho đến nay không một tờ báo nào tại Việt Nam loan tải tin tức này.
Vậy các lãnh đạo Bắc Kinh muốn gì qua miệng ông Vịnh?
Trước hết và trên hết, Bắc Kinh muốn trấn an các nước thuộc ASEAN rằng: Việt Nam đã có đủ khả năng và quyết tâm kháng cự lại Trung quốc. Các nước khác trong vùng có thể dựa vào Việt Nam ở vị trí đi đầu ngăn chận ý đồ bành trướng của Trung quốc. Không cần phải vận động Hoa Kỳ can dự quá sâu vào vùng này.
Dĩ nhiên, Bắc Kinh tin là những lời này từ một ông trung tướng kiêm thứ trưởng quốc phòng Việt Nam sẽ thuyết phục hơn lời lẽ trấn an của các quan chức Tàu xưa nay.
Và các mục tiêu phụ của Bắc Kinh là tô thêm nét “ái quốc” cho Nguyễn Chí Vịnh trong mắt dân chúng Việt Nam, cùng lúc tạo thêm hình ảnh oai quyền cho ông Vịnh trong hàng ngũ đảng viên CSVN cao cấp. Đó là việc ông Vịnh tuyên bố nẩy lửa, nói ngược lại cả lời của Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh, mà chẳng cần phải thông qua hệ thống lãnh đạo Đảng, cụ thể là Bộ Chính Trị, Bộ Quốc Phòng, và Ban Văn Hóa – Tư Tưởng Trung Ương. Đây là ấn tượng cần thiết nhằm thu hút số đảng viên cao cấp đang tìm phe nhóm “mạnh” để “tòng quân” trước thềm đại hội XI.
***
Xem ra càng gần đến ngày Đại hội đảng CSVN, tướng Nguyễn Chí Vịnh càng leo lên cao hơn và nhanh hơn, mà dường như không còn ai có thể ngăn cản ông được nữa. Cứ theo chiều hướng này, có xác suất cao ông Vịnh sẽ không ngừng ở ghế Ủy Viên Trung Ương mà sẽ leo vào tận Bộ Chính Trị để nắm vị trí Bộ trưởng Quốc Phòng. Và nếu thành công ở bước này, thì việc ông trở thành Tổng bí thư Đảng CSVN vào đại hội XII là điều hiển nhiên.
Từ nhiều năm qua, Trung Quốc đã từng bước nam tiến, từ lấn đất tại biên giới phía Bắc, lấn biển ở phía Đông, đến đưa người qua khai thác tài nguyên tại phía Tây qua các dự án khai thác Bô-xít ở Tây Nguyên và các dự án thuê các rừng đầu nguồn tại 20 tỉnh dọc đường biên giới từ Bắc xuống Nam. Nay với sự xuất hiện của Nguyễn Chí Vịnh, từ từ tiến vào vai trò lãnh đạo công khai và chính thức, rõ ràng tiến trình xâm lược của Trung Quốc đã thành công gần như trọn vẹn ở mọi vòng – từ biên thùy đến cốt lõi lãnh đạo.
Chuẩn bị cho đại hội đảng khóa XI sắp tới, các phe nhóm trong đảng Cộng Sản Việt Nam đang có nhiều nỗ lực đưa người của mình vào Trung ương khóa tới bằng đủ mọi đòn phép, hầu nắm những chức vụ then chốt trong đảng và nhà nước sau này. Tin tức cho biết, đã có những đơn kiến nghị, thư rơi tố cáo để loại trừ, tấn công uy tín của nhau.
Điển hình như những bức thư gửi cho các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang tố cáo: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngoài miệng thì hô hào chống tham nhũng, nhưng thực tế rất tham lam, đang kéo thân nhân, tay chân bè đảng để kinh tài theo kiểu mafia để từng bước thâu tóm nền kinh tế VN. Đồng thời cũng có những màn tự đánh bóng mình hay đánh bóng các quan chức cao cấp “cùng phe”, trong đó nổi bật phải kể đến nỗ lực “đánh bóng“ cho Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng bộ Quốc phòng.
Tướng Nguyễn Chí Vịnh là người đã bị nhiều đơn tố cáo là kẻ “tài hèn, đức kém“, nhưng lại được cất nhắc lên rất nhanh. Năm 2006, ông Nguyễn Chí Vịnh được đích thân Tổng bí thư Nông Đức Mạnh giới thiệu vào Ban Chấp hành trung ương đảng khóa X cùng với con của ông Mạnh là Nông Quốc Tuấn. Nhưng cả hai đều bị từ chối. Sau đó, do sức ép từ thiên triều phương Bắc, từ 2 Thái thượng hoàng Đỗ Mười, Lê Đức Anh, cũng như từ chính ông Mạnh, nên Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Quốc phòng, dù rằng còn có cả gần một tá những người mang quân hàm cao hơn ông Vịnh. Tuy nhiên, đối với ông Nguyễn Chí Vịnh thì điều đáng được đề cập đến nhiều hơn cả là vị trí cầm đầu Tổng cục 2, Tình Báo Quân Đội và thái độ phục tùng Trung Quốc tuyệt đối của ông ta.
Từ 2 thập niên qua, Tổng Cục 2, với những quyền hạn đặc biệt về an ninh, tình báo, phản gián, bảo vệ nội bộ nhà nước, đảng, quân đội,… cơ quan này có quyền theo dõi mọi người, kể cả những người ở vị trí cao nhất. Từ đó, cơ quan này đã dùng nhiều thủ đoạn thao túng, ngụy tạo tin tức để chụp mũ nhiều nhân vật chóp bu trong đảng. Đại tướng Võ nguyên Giáp, 3 ông cựu thủ tướng Phạm văn Đồng,Võ văn kiệt và Phan Văn Khải đều là những nạn nhân một thời của Tổng Cục 2. Chính vì vậy mà nhiều đảng viên lão thành đã kiến nghị đòi Trung ương phải điều tra và có biện pháp giảm bớt thế lực của Tổng Cục 2. Tuy nhiên, vì một lý do khó nói nào đó mà Bộ chính trị CSVN đã trì hoãn vấn đề này suốt mấy kỳ đại hội đảng liền trong lúc Tướng Vịnh vẫn thêm chức thêm quyền liên tục và càng lúc càng nhanh. Do đó đã có những đồn đoán rằng, chính 15 nhân sự thuộc bộ Chính Trị đảng CSVN hiện nay cũng đã bị Tổng Cục 2 khống chế. Vì với những quyền lực bao trùm kể trên, cơ quan này đã nắm đầy đủ hồ sơ hệ thống làm ăn riêng, các màn ăn chơi đời tư, các chứng cớ tháo bán quyền lợi quốc gia, và những đòn phép chơi xấu lẫn nhau, v.v. của tất cả những nhân vật lãnh đạo.
Thứ trưởng quốc phòng lẽ ra chỉ đóng các chức năng hướng vào nội bộ đúng như danh xưng của nó. Nhưng mấy tháng gần đây Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh bỗng dưng trở thành một nhân vật tất bật, rôm rả nhất trong số các cán bộ cao cấp của quân đội CSVN. Trong đó có cả những lần xuất hiện được coi là vượt cấp và ngoài phạm vi trách nhiệm. Từ việc đại diện Bộ Quốc Phòng công bố Sách trắng Quốc phòng Việt Nam hồi tháng 12/2009, đến chủ tọa buổi gặp gỡ các tân đại sứ trước khi lên đường nhận nhiệm sở vào tháng 1/2010 để trình bày về đường lối an ninh quốc phòng của Việt Nam; chủ tọa một cuộc họp báo công bố chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam vào đầu tháng 2/2010; cầm đầu phái đoàn quân sự cao cấp của Việt Nam sang thăm Trung quốc vào cuối tháng 2/2010 để tiếp xúc đặc biệt với Bộ trưởng Bộ quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt; cầm đầu phái đoàn quân sự đi Úc để gặp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Úc ông John Faulkner vào tháng 3/2010. Về chuyến đi này nhiều người còn cho rằng ông Nguyễn Chí Vịnh cố tình tránh gặp mặt Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov đến Hà Nội vào thời điểm đó. Ông Vịnh không muốn bị xem là người thuộc nhóm “đi dây giữa Nga – Tàu” mà Bắc Kinh ghét cay ghét đắng trong quá khứ.
Với những hoạt động rộn ràng kể trên, ông Nguyễn Chí Vịnh hẳn nhiên đã được coi là người nổi bật nhất trong số các cán bộ quân sự cao cấp của CSVN. Tuy nhiên, như vậy vẫn chưa đủ. Ngày 30.7.2010, sau khi hội nghị Diễn Đàn Khu vực ASEAN chấm dứt, tờ South China Morning Post (Bưu điện Hoa Nam Buổi Sáng), xuất bản tại Hồng Kông đã đăng lời phát biểu của Nguyễn Chí Vịnh: “Việt Nam muốn gửi thông điệp cho cộng đồng quốc tế rằng sẽ không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó”.
Khi được hỏi liệu tuyên bố này có thể được hiểu là gần đây đã có đe dọa sử dụng vũ lực từ Trung Quốc hướng tới Việt Nam hay không, ông Vịnh trả lời: “Nên dành câu hỏi này cho Trung Quốc chứ không phải Việt Nam”.
Từ miệng một người thần phục Tàu hết mức xưa nay, những phát biểu cứng rắn vừa kể của ông Nguyễn Chí Vịnh làm người ta ngạc nhiên không ít. Nhưng không lâu sau đó, các nhà quan sát đã thấy ngay đây chỉ là một thủ thuật của Bắc Kinh để trấn an các nước trong vùng, và hy vọng chính phủ các nước này bớt thấy việc nhảy vào biển Đông của Hoa Kỳ là cần thiết.
Trước hết, South China Morning Post là tờ báo được xem là “bán Đông bán Tây”, nghĩa là 1 tờ báo có đầy đủ đường nét và các hành xử Tây Phương nhưng nằm tại Hồng Kông là phần đất mà Trung quốc nắm trọn khả năng áp lực, điều khiển phía sau. Trong nhiều năm qua, Bắc Kinh khá khôn khéo trong việc tạo hình ảnh độc lập cho tờ báo này, kể cả việc để nó tung ra những tin không hay lắm cho Bắc Kinh, và chỉ xử dụng nó khi thật cần thiết mà thôi. Hiện tượng thay đổi chính sách của chính phủ Obama, cụ thể là lời tuyên bố của ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton trong Hội nghị Diễn đàn Khu vực ASEAN vào tháng 7 vừa qua rằng Hoa Kỳ sẵn sàng tham gia chống bá quyền tại Biển Đông, đã khiến Bắc Kinh phải xử dụng tới phương tiện báo chí đặc biệt này.
Cũng có người đồng ý đây phải là thủ thuật của Bắc Kinh vì khá rõ nó không thể là sáng kiến của các lãnh đạo Hà Nội. Họ dư biết ông Nguyễn Chí Vịnh đã bị chính các cựu quan chức cao cấp của chế độ, cũng như bị chính những người làm việc tại Tổng Cục II tố cáo với nhiều bằng chứng là đã cộng tác chặt chẽ với tình báo Trung quốc từ lâu. Vì vậy lời nói của ông Vịnh trong lãnh vực đối phó với Trung quốc bị mất trọng lượng ngay từ khi chưa thốt ra. Trong khi có rất nhiều nhân sự khác, kể cả các tướng lãnh quân đội, có tầm vóc hơn hẳn ông Vịnh, mà lại không tạo ra ngờ vực trong công luận người Việt, để làm việc này.
Bên cạnh đó, nếu đây là sáng kiến của lãnh đạo Hà Nội thì họ đã mở một cuộc họp báo với nhiều đại diện báo chí tại thủ đô để sự rầm rộ hơn hẳn chỉ có MỘT bài trên tờ South China Morning Post. Ngoài ra, nếu đây là sáng kiến của lãnh đạo đảng CSVN, thì bài báo trên tờ South China Morning Post hẳn đã được dịch lại và trịnh trọng đăng trên khắp các báo “lề phải“. Nhưng cho đến nay không một tờ báo nào tại Việt Nam loan tải tin tức này.
Vậy các lãnh đạo Bắc Kinh muốn gì qua miệng ông Vịnh?
Trước hết và trên hết, Bắc Kinh muốn trấn an các nước thuộc ASEAN rằng: Việt Nam đã có đủ khả năng và quyết tâm kháng cự lại Trung quốc. Các nước khác trong vùng có thể dựa vào Việt Nam ở vị trí đi đầu ngăn chận ý đồ bành trướng của Trung quốc. Không cần phải vận động Hoa Kỳ can dự quá sâu vào vùng này.
Dĩ nhiên, Bắc Kinh tin là những lời này từ một ông trung tướng kiêm thứ trưởng quốc phòng Việt Nam sẽ thuyết phục hơn lời lẽ trấn an của các quan chức Tàu xưa nay.
Và các mục tiêu phụ của Bắc Kinh là tô thêm nét “ái quốc” cho Nguyễn Chí Vịnh trong mắt dân chúng Việt Nam, cùng lúc tạo thêm hình ảnh oai quyền cho ông Vịnh trong hàng ngũ đảng viên CSVN cao cấp. Đó là việc ông Vịnh tuyên bố nẩy lửa, nói ngược lại cả lời của Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh, mà chẳng cần phải thông qua hệ thống lãnh đạo Đảng, cụ thể là Bộ Chính Trị, Bộ Quốc Phòng, và Ban Văn Hóa – Tư Tưởng Trung Ương. Đây là ấn tượng cần thiết nhằm thu hút số đảng viên cao cấp đang tìm phe nhóm “mạnh” để “tòng quân” trước thềm đại hội XI.
***
Xem ra càng gần đến ngày Đại hội đảng CSVN, tướng Nguyễn Chí Vịnh càng leo lên cao hơn và nhanh hơn, mà dường như không còn ai có thể ngăn cản ông được nữa. Cứ theo chiều hướng này, có xác suất cao ông Vịnh sẽ không ngừng ở ghế Ủy Viên Trung Ương mà sẽ leo vào tận Bộ Chính Trị để nắm vị trí Bộ trưởng Quốc Phòng. Và nếu thành công ở bước này, thì việc ông trở thành Tổng bí thư Đảng CSVN vào đại hội XII là điều hiển nhiên.
Từ nhiều năm qua, Trung Quốc đã từng bước nam tiến, từ lấn đất tại biên giới phía Bắc, lấn biển ở phía Đông, đến đưa người qua khai thác tài nguyên tại phía Tây qua các dự án khai thác Bô-xít ở Tây Nguyên và các dự án thuê các rừng đầu nguồn tại 20 tỉnh dọc đường biên giới từ Bắc xuống Nam. Nay với sự xuất hiện của Nguyễn Chí Vịnh, từ từ tiến vào vai trò lãnh đạo công khai và chính thức, rõ ràng tiến trình xâm lược của Trung Quốc đã thành công gần như trọn vẹn ở mọi vòng – từ biên thùy đến cốt lõi lãnh đạo.

