Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!
1. Hình ảnh minh họa: Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH – Kỳ 4″với nhiều nghìn người tham dự tại Nam California.
Hải quân Hoàng Sinh, người đi bán vé ĐNH-cho Thương Binh VNCH từ nhiều ngày trước ở các chợ Việt Nam tại Little SaiGon.
Hoạt cảnh nền phụ họa cho nhạc về người lính VNCH do các em thế hệ thứ hai trình diễn đầy hào hùng, xúc động.
2. Câu chuyện về người thương phế binh Phan Thế Duyệt – Lời giới thiệu: Giao Chỉ.
Vào năm 2003 trong một chương trình giới thiệu hoạt động của hội “compassion” tại San Jose, California USA, ngay sau khi phát thanh lần thứ nhất, nhiều thính giả đã gọi vào thể hiện tâm tình họ dành cho câu chuyện thật đặc biệt, câu chuyện về một thương phế binh VNCH đang sống trong hoàng cảnh hết sức cô đơn tại một làng quê xa cách chốn phồn hoa đô hội… Câu chuyện có chút đau thương nhưng cũng lại có nhiều thơ mộng và đẹp của tình người.
Anh là một thiếu úy xuất thân từ trường Võ Bị QGVN và cũng đã từng mơ về một tương lai tươi sáng với những chiến công, những vòng hoa chiến thắng được choàng vào cổ từ tay của một nữ sinh sinh đẹp nào đó. Nhưng viên đạn AK47 ác nghiệp đã xuyên qua lưng anh ngay trong trận chiến đầu đời của một tân sĩ quan… Mọi giất mơ tan vỡ, tương lai trở nên mịt mù và anh đã phải trải qua biết bao nhiêu đau thương sau đó.
Vết thương chưa lành hẳn thì biến cố 30 tháng 4 úp xuống, anh bị đẩy ra khỏi Quân Y Viện khi viết thương còn rỉ máu, anh được cha mẹ gìa đưa về sống tại Tây Ninh, chẳng bao lâu sau đó anh đã phải cắt bỏ đôi chân vì ung thối để cứu mạng, thế rồi cha mẹ anh cũng lần lượt qua đời, còn lại một mình trong căn nhà nhỏ, anh đã sống 30 năm dài trong nỗi cô đơn tận cùng của kiếp người.
Đối với những người thương binh VNCH khác, hoàng cảnh của anh có lẽ chưa phải là tận cùng bằng số (?) Anh biết rõ điều này, nên không than vãng, chỉ vì buồn muốn viết thư đi khắp nơi để tìm người tâm sự và không kêu nài trợ giúp, lá thư gởi ra Hải Ngoại đi lang thang và được ai đó đưa lên internet, một cô gái ký tên “H” gởi về anh $50.00 Mỹ kim, anh viết thư cảm ơn…
Một người ở Paris đọc được lá thư anh gởi cho người con gái có tên “H” tưởng là bạn mình nên chuyển qua cho cô BS Hương (Liên Hương) thành viên của “Hội Huynh Đệ Chi Binh” cô BS cảm động vì lá thư lạ đã viết trả lời anh, lá thư cũng đầy tình cảm chan chứa, tường chừng như ở thời còn chinh chiến của một người em gái hậu phương gởi cho anh chiến sĩ nơi chiến trường, lá thư tỏ lòng ngưỡng mộ tuyệt đối dành cho một anh hùng. Anh chính là một “anh hùng” trong mắt cô Liên Hương ở Hoa Kỳ. Thư trao đổi giữa anh và cô BS trẻ với những lời chân tình đã làm nhiều người rơi lệ.
Giao Chỉ.
Đặng Thế Luân và Băng Tâm của trung tâm Asia diễn xuất độc đáo, chinh phục trái tim khán giả.
Tôi là lính, xa nhà đi trấn sơn khê, hai mùa mưa, mây mù che nẻo đường về…. Lính Nghĩ Gì (Nhạc Hoài Linh).
Hình ảnh đặc biệt: Thương Binh hải ngoại (cụt 2 chân) yểm trợ thương binh quê nhà – Người ôm thùng tiền là ca sĩ Nguyên Khang tức Xướng Ngôn Viên Vĩnh Lộc của đài truyền hình SET.
Tây Ninh ……………. 1999
Cô H. thân mến,
Khi cầm bút viết thư này tới cô, tôi rất cảm động vì lần đầu tiên nhận được 1 thiệp chúc Noel và 50 USD. Bao đêm nằm suy nghĩ moi óc tìm về quá khứ xem có quen ai là H. không. Rồi kết luận tôi và cô rất xa lạ chưa 1 lần đối diện. Thế nhưng giữa khoảng không gian xa cách nghìn trùng, giữa lúc bận rộn với cuộc sinh nhai nơi đất khách quê người, mà cô còn có thời giờ hướng về quê nhà, nơi đó có những người nghèo khổ, tàn tật, đang âm thầm trên giường bệnh như tôi. Ngoài ý nghĩa về vật chất, món quà của cô còn có 1giá trị tinh thần rất to lớn, nó an ủi tôi trong những ngày Đông giá để chuẩn bị đón Xuân về. Nghĩa cử cao đẹp của cô chắc chắn sẽ được Thượng Đế đền bù.
Đây là những ngày đầu Xuân. Sau vài ngày Tết tạm quên đi những âu lo phiền muộn thì bây giờ lại suy nghĩ, tính toán cho năm rộng tháng dài. Tôi đã bị loại ra khỏi vòng chiến vào một buổi chiều mây giăng tím ngắt cách nay gần 27 năm dài (bị liệt và cưa 2 chân!).
Trong vòng 27 năm đó, cuộc sống của tôi âm thầm như những đêm không trăng sao. Bốn mùa cứ lần lượt trôi qua, bao đứa trẻ thơ đã trưởng thành, còn tôi đã thấy thấp thoáng con đường tới nghĩa trang!!! Ngày ngày chỉ nằm trên giường ngắm mây bay qua khung cửa sổ, và chiều chiều nghe tiếng chuông giáo đường buồn bã. Rồi đôi khi âu lo khi số tiền trong túi cạn dần.
Chưa bao giờ tôi đủ can đảm ngắm mình qua gương. Tuổi trẻ, tình yêu đã vượt khỏi tầm tay. Đôi khi kỷ niệm hiện về hỗn độn, quay cuồng, tan vỡ như những mảnh thủy tinh sắc nhọn. Tủi thân, phiền muộn là căn bệnh trầm kha kéo dài từ ngày nầy đến ngày khác! Đầu năm chỉ duy nhất một mình trong căn nhà bầu bạn với chiếc tivi, dò hết đài nầy đến đài khác, rồi mệt mỏi lăn ra ngủ. Những lúc đau nặng, bao nguy cơ rình rập, chỉ biết phó mặt cho bàn tay Thượng Đế.
Đã lâu lắm rồi không có cơ hội viết thư nên trong hồi báo này từ đầu đến giờ lẩn thẩn quá phải không cô H? Nếu có gì sơ suất xin cô bỏ qua sự thiếu sót đó. Trước thềm năm mới, tôi chúc cô và gia đình hưởng một mùa Xuân vui vẻ, một năm mới An khang thịnh vượng.
Tôi xin dừng bút nơi đây. Chào cô.
Ký tên: Duyệt PTD
Thưa với cô phóng viên:” Liên đoàn Hướng Đạo cũng xin đóng góp một tay cho các chú bác thương binh quê nhà….
Nhóm thiện nguyện viên nhận điện thoại từ đồng bào gọi vào đóng góp cho Thương Binh. Theo tổng kết hiện tại thì tổng số đã lên đến 7 trăm ngàn đô la.
Thanh Niên Cờ Vàng (TA-NPN) trách nhiệm chuyển âm, hình ảnh lên Paltalk trực tiếp vào các mạng Yahoo, Skypage- Cà Mau- Cần Thơ- Sài Gòn- Huế- Hà Nội…
San Jose ngày 1 tháng 8, 2003
Anh Duyệt thân mến,
Có lẽ anh sẽ ngạc nhiên lắm khi nhận được lá thư này. Do một sự tình cờ hay sắp xếp nào đó của Thượng Đế, nếu chúng ta còn tin có Thượng Đế hiện hữu trong cuộc đời này, lá thư của anh đã vượt ngàn dặm hải lý và thời gian phủ bụi mờ để đến tay tôi. Một người bạn của tôi ở Pháp, trong lúc đi sưu tầm trên những trang điện toán đã tìm thấy lá thư này, và chuyển đến tôi. Chỉ vì một sự trùng hợp ở vần tên với một cô gái nào đó mà anh đã viết thư cám ơn 3 năm trước đây.
Lá thư của anh không giống như bất cứ lá thư nào tôi đã đọc trong gần 10 năm qua. Tôi cũng chưa bao giờ trả lời riêng như tôi đang làm ngày hôm nay. Đây cũng là lần đầu tiên tôi dùng tên thật của mình để viết cho một người chưa biết mặt. Tôi viết như thế để anh hiểu cái ấn tượng sâu đậm, và một phần nào là nỗi xúc động lá thư của anh đã để lại trong tôi.
Trong tuần lễ qua, tôi đã gọi điện thoại về Việt Nam một vài lần theo số anh ghi trong thư, nhưng đáng tiếc vẫn không liên lạc được vì đường giây luôn luôn bận. Cũng có thể vì tôi gọi không đúng cách, một lần nữa lại cho anh biết rằng đây là 1 điều tôi không thường hay làm lắm đâu.
Lá thư của anh đã vô tình nhắc nhở cho tôi về quá khứ, những năm tháng chiến tranh điêu linh của đất nước mà tất cả chúng ta đều muốn quên. Anh không kể nhiều trong thư, nhưng tôi đoán anh chắc phải là 1 người đã có kiến thức của 1 vài năm Đại học, hay ít nhất cũng đã đỗ Tú Tài trước khi đăng lính vào quân đội. Bởi vì 1 người bình thường ít may mắn được đến trường hơn, đã không thể viết một lá thư vừa lắng đọng, vừa lãng mạn dạt dào tình cảm như vậy.
Ca sĩ “very hot” của Asia- Nguyễn Hồng Nhung, mặc dù vừa đám cưới tuần rồi, tuy nhiên nhất định hy sinh “HoneyMoon” qua tuần tới để đến tham dự hát chung với Lâm Nhật Tiến cho ĐNH-Thương Binh kỳ IV, không phụ lòng trông đợi của các fan. Cực kỳ hoan hô nhiệt tình..
Nữ Ca Sĩ kiêm Xướng Ngôn Viên Mai Vy đang bê thùng đi xin tiền cho Thương Binh.
Loạ ! Quyên tiền giúp thương binh lại có cả nữ ca sĩ Loretta Sanchez thiệt là dzui.
Sự gắn bó của tôi với những người lính cũ có lẽ bắt nguồn từ gia đình tôi vốn đã có rất nhiều người xuất thân từ quân đội miền Nam trước đây. Cha tôi ngày xưa là 1 bác sĩ quân y ở Chẩn Y Viện Trung Ương, và cậu tôi cũng đã từng là 1 bác sĩ giải phẫu chữa phỏng và chấn thương tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, nơi tôi vẫn thường xuyên lui đến những ngày còn nhỏ vì căn bệnh riêng của mình. Hình ảnh của những nguời thương bệnh binh quấn khăn băng trắng thẫm máu đỏ hàng ngày được chở về từ mặt trận với tôi vì thế đã không xa lạ lắm. Một trong những người bạn thân nhất của tôi ở đây hôm nay là 1 cựu phi công từng đóng quân ở Phù Cát (Qui Nhơn)…
Tôi viết thư cho anh hôm nay, không phải như 1 người Việt kiều xa xứ được ưu đãi trong 1 đời sống an lành, và thoải mái hơn về vật chất lẫn tinh thần, đang nghiêng mình xuống viết cho 1 người đồng loại bất hạnh của mình. Nhưng tôi viết với tâm trạng của một cô gái nhỏ năm xưa đã lớn lên yên ổn giữa thành phố Saigon, nhìn tuổi thơ ấu của mình trôi qua dưới ánh hỏa châu và những tiếng bom đạn hàng đêm vẫn vọng về từ 1 chiến trường xa. Ở đó, bao nhiêu xương máu và nước mắt của cả 1 thế hệ tuổi trẻ đã đổ xuống để che chở cho những cô gái nhỏ như tôi được tiếp tục bình yên đến trường. Ở đó, vẫn có bao nhiêu người chiến sĩ như các anh còn ôm tay súng, chiến đấu đơn độc vào những giờ phút chót để gia đình chúng tôi có cơ hội xuống thuyền ra đi, tìm đến những quê hương hạnh phúc mới bên này bờ biển Thái Bình Dương.
Chính với tấm lòng tri ân và ngưỡng mộ đó mà hôm nay tôi thấy cần phải viết cho anh, cho các bạn của anh những lời các anh xứng đáng được nghe nhưng có lẽ đã chưa bao giờ được nghe từ gần 30 năm qua. Để các anh hiểu được rằng những hy sinh của mình đã không lãng phí, hay vô ích. Những tượng đài có thể bị đạp đổ, nhưng những hình ảnh thần tượng ghi khắc trong lòng sẽ chẳng bao giờ có thể bị xóa nhòa.
Chúng ta đã mất mát rất nhiều thứ, những người thương binh như các anh đã mất hết 1 phần thân thể, tình yêu và tuổi trẻ, còn những người Việt tỵ nạn như tôi cũng mất cả 1 nơi chốn dung thân để phải tha hương, lưu lạc khắp mọi phương trời. Có 1 điều ngày hôm nay, tôi mong chúng ta sẽ không đánh mất là tình người đến với nhau để khoảng không gian anh đang sống và hít thở bớt đi niềm lẻ loi, và cô độc. Tôi không là 1 bà tiên có đôi đũa thần nhiệm màu để có thể hóa phép trả lại anh thân thể nguyên vẹn. Nhưng tôi có thể trao tặng anh 1 tình bạn, và hy vọng những giòng chữ của mình có thể xoa dịu được những vết thương vẫn còn nhỏ máu trong tâm hồn anh từ 30 năm qua.
Khi nhận được lá thư này, xin anh gửi cho tôi hồ sơ + 1 tấm ảnh hồi đáp qua địa chỉ 1 người thân của tôi ở Saigon, để rồi sẽ có người đem thư về Mỹ lại cho tôi:
Nguyễn Liên Hương
c/o Phạm Thục Tuyết Xuân
tel:XXXXX
Tôi muốn biết địa chỉ chính xác của anh, để gửi đến anh 1 món quà nhỏ, mà tôi ước mong sẽ đem lại 1 vài tia nắng ấm trong gian nhà lạnh vắng, hiu quạnh của anh hôm nay.
Cũng xin anh đừng phổ biến tên tuổi hay địa chỉ của tôi, vì điều tế nhị thỉnh thoảng tôi vẫn còn trở về Việt Nam trong những công tác xã hội. Thêm nữa, tôi hiểu khả năng giới hạn của mình trong những điều có thể làm. Thật sự sẽ là một điều tàn nhẫn để gieo mầm cho những ảo tưởng, hy vọng không có cơ may được thành tựu.
Cuối cùng, dù tôi không thể gửi nguyên 1 bài hát về, cũng xin cho tôi được gửi tặng anh và những người bạn anh hùng không tên tuổi của anh lời tựa của bài hát, “You are my hero”. Bởi vì cuối cùng, trong cuộc đời này, không có điều gì anh hùng, và cao thượng hơn là hy sinh bản thân mình cho những người khác được quyền sống. Trong mắt tôi, mãi mãi không có những người phế binh thương tật mà chỉ có những người trai anh hùng một thời đã chọn cho mình con đường đi và sống đích thực có ý nghĩa nhất.
Thân ái chào anh, và cầu chúc anh những ngày tháng cuối an lành trong niềm vinh dự và tự hào.
Nguồn: Đàn Chim Việt
Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ
Nguyễn Hồng Nhung
Tính đến khi bài viết về Nguyễn Hồng Nhung được thực hiện, cô ca sĩ sinh trưởng tại Hà Nội này đã cư ngụ tại Hoa Kỳ được hơn 3 năm, kể từ tháng 6 năm 2005. Nguyễn Hồng Nhung sang Mỹ theo lời mời của D&D Entertainment với hợp đồng trình diễn kéo dài một tháng.
Đại diện cho công ty D&D đã quyết định mời Nguyễn Hồng Nhung hợp tác sau khi tham dự buổi ra mắt CD “Niềm Đau Đã Qua” của cô tại Sài Gòn, gồm những sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Quang...
Và chỉ khoảng nửa tháng sau, cô đã một mình lên đường sang Mỹ và quyết định ở lại đây luôn. Tự nhận mình là một người có cá tính mạnh và thích tự lập, Nguyễn Hồng Nhung còn là một người thích cuộc sống phiêu lưu nên đã sớm hội nhập với cuộc sống đối với cô hoàn toàn khác biệt.
Từ đó, Nguyễn Hồng Nhung đưa ra nhận định của mình về sự khác biệt giữa cuộc sống ở California và ở Sài Gòn. Đó là “dù ở Sài Gòn một mình, khi bước chân ta đường cũng vẫn là mình đựơc nói ngôn ngữ của mình. Phương tiện xe cộ cũng dễ dàng. Lúc nào cũng sẵn sàng có người nọ người kia giúp đỡ mình. Ít nhất là trong cái đời sống sinh họat bình thường của mình. Vấn đề ăn uống này kia cũng dễ dàng...”
Nhớ lại những ngày tháng đầu tiên sống ở Orange County, nam California, Nguyễn Hồng Nhung vẫn không sao quên được những kỷ niệm đến từ những khó khăn, dù là nhỏ nhặt đã xẩy ra với cô. Chẳng hạn muốn mua một cái hamburger cũng không biết nói thế nào cho người ta hiểu. Thời gian đầu, khi thèm một tô phở, phải đi bộ khá xa mới đến nơi. Nhưng “đến lúc đi bộ về nhà thì bát phở hết veo rồi!”
Tuy nhiên, với một cá tính mạnh mẽ, đã quen sống đời tự lập, chỉ một thời gian ngắn sau, Nguyễn Hồng Nhung đã vượt qua nhiều khó khăn và trở ngại trong cuộc sống mới. Cũng như lần từ Hà Nội một thân một mình vào Sài Gòn cũng vậy.
Nguyễn Hồng Nhung đã vào đây để tham dự buổi chung kết của cuộc thi “Sao Mai Điểm Hẹn” mà cô là 1 trong 5 giọng ca xuất sắc nhất, vào năm 2004. Cô dự định sống ở Sài Gòn khoảng 2 tháng, nhưng sau cùng đã quyết định ở lại luôn cho đến khi sang Mỹ. Trước đó cô cũng từng có dịp sang Âu Châu trình diễn cùng với một số ca sĩ khác như Hồ Ngọc Hà, Kasim Hoàn Vũ, Tuấn Hưng, vv...
Nguyễn Hồng Nhung cho biết dù sống ở Sài Gòn hay bây giờ ở Mỹ, tâm hồn cô vẫn luôn gắn bó với Hà Nội là nơi cô cho là đã in sâu vào máu thịt của mình. Từ ngọn cây, cọng cỏ đối với cô đã thuộc về cái thế giới của mình.
Cũng những con phố hàng ngày cô đến trường, từ lúc nhỏ còn đi bộ, đến khi lớn hơn đạp xe đạp hay đến lúc trưởng thành đi xe gắn máy, đã in sâu vào ký ức của cô. Lại còn những món ăn quen thuộc, bạn bè gắn bó và những người thân trong gia đình đã là những gì mà Hà Nội đã mang đến cho Nguyễn Hồng Nhung những kỷ niệm êm đềm thuộc về đời sống của riêng mình.”
Nhưng dù sao sau hơn một năm sống ở Sài Gòn trong một ngõ hẻm ở quận 3 trên đường Lý Chính Thắng, thành phố đó cũng đã lưu lại nơi cô thiếu nữ Bắc Kỳ này nhiều kỷ niệm đẹp trong những sinh họat náo nhiệt với những cuộc gặp gỡ chớp nhoáng cùng các nhà báo, những lịch trình làm việc dầy đặc và những buổi tối chạy show đến 7, 8 nơi.
Sự sinh động đôi khi đưa đến vấn đề căng thẳng đầu óc đã mang lại cho cô một phong thái làm việc khác hẳn với thời kỳ cô sống cùng gia đình tại khu Phố Huế thuộc quận Hai Bà Trưng Hà Nội trong sự bình lặng và thảnh thơi.
Nhưng đến bây giờ, Nguyễn Hồng Nhung đã thật sự yêu thích cuộc sống bên Mỹ, mặc dù “khi em sống ở bên Mỹ rồi, em vẫn chưa coi Mỹ là nhà của mình được”. Nhưng cô cho biết nếu có về Việt Nam, cô chỉ về chơi hoặc thăm gia đình. Dù rằng ở Hà Nội hoặc ở Sài Gòn, cô đã từng sống với con người thật có một cá tính mạnh mẽ. Nhưng Nguyễn Hồng Nhung vẫn cảm thấy ở hai nơi đó cô không có được sự tự do, như cô tâm sự vì “Khi em đi đâu, em làm gì, em có cảm giác như có ai đang rình mò mình và theo dõi mình”.
Còn hiện nay Nguyễn Hồng Nhung trong cuộc sống mới, cảm thấy rất thoải mái ở nơi cư ngụ là Hungtinton Beach. Mặc dù là một người của công chúng, nhưng khi bước chân ra đường cô không gặp phải sự tò mò, dòm ngó của mọi người. Hay là chưa bao giờ cảm thấy đời sống riêng tư của mình bị soi mói.
Trước khi sang Mỹ, Nguyễn Hồng Nhung chỉ biết về những sinh họat ca nhạc ở đây xuyên qua những chương trình video của những trung tâm ca nhạc. Qua đó cô thấy được một hào quang rất đẹp nơi các nghệ sĩ hải ngọai. Nhưng sau hơn 3 năm, cô nhận thấy muốn có được cái hào quang đó, thật sự ai cũng phải trả giá. Nhưng đó là một sự trả giá xứng đáng theo quan niệm của cô...
Riêng với cá nhân mình, Nguyễn Hồng Nhung cho biết cô đã phải trả giá bằng một cuộc sống cô đơn và buồn bã khi phải sống một thân, một mình trên miền đất lạ. Cô cho rằng “sự thiếu thốn tình cảm nơi quê nhà thì bất cứ người Việt nào ở hải ngoại cũng đã trải qua. Bản thân em là một nghệ sĩ, nhất là sau những cái hào quang mà khán giả dành cho mình thì đến lúc cánh màn nhung khép lại, mình trở về nhà với 4 bức tường. Đó là một áp lực lớn nhất trong cuôc sống một mình ”.
Và những lúc như vậy, cô đã kiếm đủ mọi cách gọi là tìm một lối thoát để vượt qua khỏi sự bế tắc để giải thoát cho sự căng thẳng của tinh thần bằng cách coi một bộ phim, đọc một quyển sách hay chơi đùa với những chú chó của mình.
Tuy nhiên, Nguyễn Hồng Nhung chưa nghĩ đến vấn đề lập gia đình trong lúc này...
Không phải cô ngại việc lập gia đình sẽ ảnh hưởng đến phương diện nghề nghiệp. Vì theo cô, ở hải ngoại vấn đề này thật sự không mấy ảnh hưởng đối với nghề nghiệp là một nghệ sĩ như cô so với ở Việt Nam.
Cô thiếu nữ người Hà Nội thông minh và khéo léo trong cách ứng xử này từng biết yêu từ khi mới 16 tuổi. Trong hơn một năm sống ở Sài Gòn, cô cũng đã từng có ít nhiều tình cảm với 2 người. Nhưng kết quả cũng chẳng đi tới đâu do duyên phận chưa tới. Nên cô coi đó như những cuộc phiêu lưu.
Theo Nguyễn Hồng Nhung, điều quan trọng hơn cả đối với một người là người nghệ sĩ phải luôn luôn giữ được hình tượng mình trong lòng khán giả bằng nghệ thuật và vóc dáng của mình. Với một vóc dáng đẹp, một nhan sắc xinh xắn và một giọng hát tốt có được như cô, Nguyễn Hồng Nhung quan niệm như thế vẫn chưa hội đủ những yếu tố cần thiết cho một người nữ ca sĩ. Vì còn cần phải có thêm một yếu tố quan trọng là tinh thần yêu nghề và lòng nhiệt thành đối với khán giả.
Nguyễn Hồng Nhung còn nổi tiếng với cách trang phục được coi là rất “sexy” trên những “live show”. Cô cho đó là một yếu tố quan trọng đối với phái nữ, và đã đưa ra quan niệm của mình về vấn đề sexy như sau: “Đối với em sexy ở đây không có nghĩa là hở hang. Nhưng đó là hấp dẫn, là quyến rũ. Sexy và quyến rũ. Hơn nữa mình sống ở một nơi như thế này thì sexy và quyến rũ là một điều rất cần thiết đối với một người nghệ sĩ trên sân khấu, nhất là mình là phái nữ. Khán giả nam hay nữ, họ cũng đều cần thưởng thức cái hình tượng của người nghệ sĩ đó trên sân khấu qua cách trang phục.“
Nguyễn Hồng Nhung sinh năm 1981 tại Hà Nội. Thân phụ cô là một kiến trúc sư xây dựng. Thân mẫu cô là một người mang hai dòng máu Việt Nam và Thái Lan, từng là một diễn viên trong đòan vũ cung đình Thái Lan. Nguyễn Hồng Nhung còn có một người chị là một họa sĩ và cũng là một diễn viên múa dậy cho các em ở câu lạc bộ riêng ở tại Hà Nội.
Về văn hóa, Nguyễn Hồng Nhung theo học bậc triểu học và trung học tại các trường phổ thông cơ sở Quang Trung, trung học cơ sở Quang Trung và Lý Thường Kiệt. Cô thi đậu vào cả 2 trường đại học; Viện Đại Học Mở về thiết kế thời trang và đậu thủ khoa trường Đại Học Văn Hóa. Song song với việc học văn hóa, Nguyễn Hồng Nhung theo học nhạc tại Trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật Hà Nội trong suốt 10 năm và ra trường vào năm 1999.
Trong thời gian theo học tại đây, gần như năm nào cô cũng đại diện trường đi dự thi và luôn đạt được huy chương vàng. Thêm vào đó sau khi tốt nghiệp, cô còn được mời xuất hiện trên những chương trình ca nhạc truyền hình và từng đi hát tại một số bars ca nhạc tại Hà Nội, trước khi ghi tên dự thi chương trình “Sao Mai Điểm Hẹn”, một chương trình tranh tài ca nhạc được nhiều người theo dõi trong nước, nhằm mục đích khám phá những tài năng trẻ.
Nguyễn Hồng Nhung trình bầy được nhiều thể lọai nhạc do sự đòi hỏi của nghề nghiệp. Tuy nhiên cô thích trình bầy nhất là lọai nhạc trữ tình. Riêng với nhạc ngoại quốc, cô chỉ trình bầy phần lời Việt vì đối với cô đó là một sự khám phá rất thú vị. Ở Việt Nam Nguyễn Hồng Nhung cũng đã từng hát những nhạc phẩm lời Anh, tuy nhiên khi qua tới bên này cô e rằng khả năng Anh Ngữ của mình còn trong tình trạng... “khập khiễng” như lời cô nói, nên chưa nghĩ tới.
Là một ca sĩ thuộc thành phần những ca sĩ trong nước ra hành nghề tại hải ngọai, Nguyễn Hồng Nhung đưa ra nhận xét là những ca sĩ hải ngọai đã làm một điều rất tuyệt vời khi đón nhận những ca sĩ từ trong nước ra để cùng chia xẻ mảnh đất diễn. Cô cho biết thêm, dù có một số ca sĩ hải ngọai có tỏ ra vẻ không hài lòng chăng nữa thì đó cũng là một điều chính đáng.
Cô đưa ra thêm nhận xét là hai nền văn hóa giao thoa trước khi hòa nhập với nhau như hiện nay, bao giờ cũng có một sự đối chọi lẫn nhau. Nhưng cô nhận thấy đến bây giờ thì mọi đối chọi đã trở nên bình thường. Việc những ca sĩ Việt Nam sang hải ngoại cũng đã trở thành bình thường, khác hẳn với trước kia, khi khán giả còn coi đó như một sự kiện mới lạ.
Riêng những ca sĩ tên tuổi hải ngoại vẫn giữ vững vị trí của mình, đi show nhiều và bây giờ vẫn cứ đi show và không cảm thấy “không bị ai lấy mất nồi cơm của họ cả”, như những nhận xét rất cới mở và thành thật của cô ca sĩ còn rất trẻ tuổi, nhưng đã tỏ ra một người có một quan niệm chín chắn về nghề nghiệp cũng như về cuộc đời, sau khi đã trải qua một số chặng phiêu lưu...
Trần Trung Đạo
Đôi mắt. Vâng, đôi mắt của người con gái đứng bên kia hàng song sắt nhìn về phía tôi. Cô gái vẫn đứng đó mỗi đêm để nghe tôi hát. Một khoảng cách không xa lắm nhưng tôi và cô như đang thuộc về hai thế giới khác nhau. Cô gái đang bị giam trong khu nữ hình sự tối tăm, và tôi ở bên ngoài, còn một chút tự do. Mấy tuần trước đó, tôi chỉ nhận ra bóng mờ của cô gái qua đôi mắt sáng. Mãi cho đến đêm trăng rằm, khi bóng một người con gái với mái tóc học trò chấm ngang vai dần dần hiện ra rõ nét, soi nghiêng nghiêng trên bờ tường vôi loang lỗ của một trường tiểu học được sửa thành trại giam thị xã, tôi mới biết cô là một cô gái còn rất trẻ. Những đêm trăng như thế, tôi thấy bóng cô gái ngã dài ra ngoài song sắt, đôi tay nhỏ vịn vào thanh sắt rỉ, khuôn mặt trái soan nhu hòa đang nhìn về phía có tiếng hát của tôi.
Giòng sông nào đưa người tình đi biền biệt
Mùa thu nào đưa người về thăm bến xưa
Hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ
Về đồi sim, ta nhớ người vô bờ
Ta vẫn chờ em dưới gốc sim già đó
Để hái dâng người một đóa đẫm tương tư
Đêm nguyệt cầm ta gọi em trong gió
Sáng lung linh hồn ta khóc bao giờ ….
Bài Thu Hát Cho Người của Vũ Đức Sao Biển đi theo tôi từ những ngày còn ở Đà Nẵng. Thành phố đó, ngày xưa, những buổi chiều tôi thường ngồi dưới gốc đây cây đa trước sân phường Thạc Gián, bên hẻm 220 Hùng Vương và khóc tuổi thơ bay.
Khi tôi lớn lên, bài hát theo tôi vào đại học. Những đêm hè không ngủ được trong căn gác trọ trên đường Kiều Công Hai, tôi thường ôm đàn ra ngoài hiên ngâm nga Thu Hát Cho Người. Bài hát có sức thu hút đến nỗi cả phòng bọn tôi đứa nào cũng thích và tập bài hát đó. Một tên bạn cùng phòng, Trần Thanh Liêm, cũng nhờ bài Thu Hát Cho Người mà quen được cô gái cưng con ông chủ một pharmacy đầu phố đẹp tuyệt vời. Sau 1975, Liêm cưới cô ta làm vợ và đưa nhau về lại Đà Nẵng. Tôi ở lại Sài Gòn, kéo lê lết cuộc đời sinh viên trong “thiên đường xã hội chủ nghĩa” với khoai mì và bo bo cho đến 1979 thì bọn tôi bảy đứa cùng rủ nhau vượt biên qua ngã Bạc Liêu.
Dĩ nhiên như đã kể, cả bọn chúng tôi đi hụt và bị bắt một lần. Công an phường Bảy, thị xã Bạc Liêu trói cả nguyên băng đưa về trại giam thị xã, chờ làm thủ tục giải đi trại Cây Dừa. Má tôi từ Sài Gòn khó khăn và tốn kém lắm mới đến thăm được một lần. Tôi khuyên má tôi đừng xuống nữa: “Ở tù thời gian con sẽ về. Thời buổi này, vượt biên ở tù như đi chợ, chẳng phải tội trạng gì nặng nề, má đừng đi xa vất vả”. Má tôi tạm yên tâm ra về. Bọn tôi bảy đứa, cùng với 40 tù nhân khác, bị giam trong một phòng học. Bọn tôi là những kẻ đến sau nên bị tên tù trưởng, tiếng lóng để gọi tên Trật Tự Phòng, xếp nằm sát thùng cầu. Mùi hôi thối bốc lên. Mấy ngày đầu không ăn được, đêm không thể nào chợp mắt được. Thông thường, sau khi làm xong thủ tục, tù vượt biên bị chuyển hết về trại Cây Dừa, một trại tù thật sự, nổi tiếng khắt khe ở miền Tây, có dạo nhốt cả chục ngàn tù vượt biên. Nghe đâu hình phạt đầu tiên trong ngày nhập trại là cạo trọc đầu. Nếu không biết cách đút lót cho đám cán bộ, công an tỉnh, mỗi tù vượt biên sẽ bị giam từ sáu tháng đến một năm trước khi được trả tự do. Nhiều tù vượt biên bị nhốt cả hai ba năm, đơn giản, vì tù quá đông nên tên trong sổ sách tù nhân nhiều khi bị thất lạc.
Không hiểu sao, lần đó, trại trưởng trại giam thị xã đổi ý giữ bọn tôi lại. Một buổi sáng, trại trưởng Nguyễn Văn Ninh tập trung bọn tôi trong sân trại, với giọng Bắc nặng chịch, lên cơn giảng huấn một hồi, đại ý: “Các anh có học và còn quá trẻ, chỉ vì nghe lời dụ dỗ và lường gạt mà cam tâm bỏ tổ quốc ra đi. Lẽ ra các anh bị đưa đi Cây Dừa giam và lao động một năm, nhưng sau khi đọc các bài tự kiểm, nhận thấy các anh có ý thức, biết việc làm sai trái của mình, chúng tôi khoan hồng và giữ các anh lại để lo công việc của trại. Các anh được ở trong căn nhà lá cuối trại, được phân công lao động và kiểm soát lẫn nhau. Sau một thời gian, ít nhất là 4 tháng, nếu các anh chứng tỏ hành vi tốt, lao động tốt, chúng tôi sẽ đề nghị lên Ủy Ban Nhân Dân Thị Xã trả tự do cho các anh”. Trại trưởng Nguyễn Văn Ninh ngừng vài giây trước khi gằn giọng: “Điều quan trọng các anh phải ghi nhớ, bất cứ người nào trong số các anh trốn trại, số còn lại sẽ bị còng 3 tháng trong phòng tối và chuyển đi Cây Dừa. Nếu kẻ trốn trại mà bị bắt chúng tôi sẽ bắn bỏ ngay tại chỗ”.
Thế là nhờ tài viết lách khéo mà bài tự kiểm của bọn tôi lọt được vào mắt xanh của trại trưởng. Trong trường đại học, bọn sinh viên chúng tôi là một nhóm văn nghệ, làm thơ viết lách nên nếu cần phải lách để sống còn, bọn tôi lách không đến nỗi tệ lắm. Nhớ lại, mấy tuần trước đó, bọn tôi bảy đứa bị xếp ngồi một hàng dài như thuở đi thi tú tài, trong văn phòng ban quản lý trại, vừa viết tự kiểm vừa nhìn nhau cười. Một băng bảy thằng gian mắc nạn bóp trán nghĩ ra mọi điều hợp lý và thê thảm nhất trên đời để trả lời câu hỏi số một và quyết định “động cơ nào đã làm cho anh bỏ tổ quốc ra đi”. Không giống như các tội chống phá cách mạng phải biện luận quanh co, liên hệ đến người này người khác, chuyện vượt biên chỉ quanh đi quẩn lại những lý do nghèo nàn, cha mẹ già em đông, chén cơm manh áo, bị bạn bè rủ rê mà bỏ tổ quốc ra đi, bây giờ thì hối hận ơi là hối hận, chỉ mong được cách mạng khoan hồng, thề sẽ làm lại cuộc đời, tình nguyện đi thanh niên xung phong, làm thủy lợi, an phận học hành, làm đúng khẩu hiệu “góp phần xây dựng đất nước tươi đẹp hơn mười lần hôm nay”, sẽ không bao giờ tái phạm, v.v…và v.v… May mắn thay, dù viết toàn là chuyện vô hại mà kết quả lại thành công ngoài sự tưởng tượng. Về sau, tôi cũng biết thêm, ngoài lý do viết lách, bọn công an còn tin tưởng rằng nếu được phân công nấu ăn, phân phối cơm nước, bọn tôi sẽ không ăn cắp thức ăn như đám tù hình sự đầu trộm đuôi cướp đói rách đã làm từ trước tới nay.
Trại giam chúng tôi ở chỉ có 3 phòng giam, một dành cho nữ và hai phòng dành cho nam. Tổng số tù nhân chỉ vào khoảng 100 người. Trại thuộc quyền quản lý của thị xã và là nơi giam các tội hình sự nhẹ như trộm cắp vặt, đĩ điếm, đánh lộn, buôn bán gian lận chợ trời, móc túi. Những tội đại hình, tội chống phá chính quyền đều bị chuyển qua các trại tù xa xôi trong vùng U Minh rừng sâu nước độc, được gọi bằng cái tên vô cùng nhân hậu là “trại cải tạo” và trực tiếp đặt dưới quyền quản lý của Bộ Nội Vụ Cộng Sản. Việc canh gác ở trại thị xã cũng không có gì gọi là quá chặt chẽ. Mỗi ngày tù nhân phải đi lao động từ sáng đến chiều. Đàn ông thì đi làm ruộng, đàn bà thì nhổ cỏ, tưới rau. Suốt hai mươi bốn giờ, công an thay phiên ngồi canh phía ngoài sân trại. Thỉnh thoảng, anh chàng đứng dậy, thả bộ dọc hành lang mỗi phòng để coi ngó đám tù. Mặc dù an ninh lỏng lẽo nhưng từ ngày trại được thành lập đến nay chưa xảy ra một vụ trốn trại nào. Lý do vì đa số tù nhân là người trong làng, trong xóm, trong thị xã. Từ công an cho đến tù nhân đều biết nhau. Nhiều khi lại còn là bà con giòng họ với nhau nên dù có trốn lên trời cũng không thoát. “Đi mô rồi cũng về Hà Tĩnh” như đám tù nhân thường nói. Hoàn cảnh bọn tôi còn tệ hơn thế. Trốn cả đám bảy thằng thì không được, trốn từng đứa thì không khó nhưng làm sao nỡ bỏ bạn bè ở lại chịu đòn. Mai mốt về Sài Gòn còn mặt mũi nào ngó nhau. Trại trưởng Nguyễn Văn Ninh đã từng cảnh cáo trước đó sao, cứ một thằng trốn được thì cả bọn còn lại mang tội thay. Không đứa nào muốn bị còng 3 tháng và đày đi Cây Dừa thêm một năm. “Phải an toàn rút về lại Sài Gòn rồi mới bày keo khác”. Cả bọn đồng ý như thế và nghoé tay nhau ở lại cho đến ngày được trả tự do.
Tôi ốm yếu nhất trong bọn nên được giao cho công việc dắt người đi nhổ cỏ rau muống. Ban đêm, nếu trời không mưa, tôi thường ngồi trên bệ đá phía cuối sân trại, tay gõ muỗng, miệng ngâm nga những bài hát cũ cho đỡ buồn. Một cán bộ người miền Nam, tên Hoàng, có máu văn nghệ, nghe tôi hát, cũng tới gần nghe. Dĩ nhiên trong những lúc như thế tôi thường hát những bài dân ca hay tình ca vô tội vạ. Khi được đề nghị đóng góp một bài, anh chàng công an gốc du kích Bạch Liêu, chơi ngay bài “Đêm Buồn Tỉnh Lẻ” với gọng Chế Linh đặc sệt. Tôi buồn cười thầm nghĩ anh chàng này không biết và cũng không hiểu gì về nội dung của bài hát. Dù là du kích trở thành công an xã, anh ta sinh ra và lớn lên ở miền Nam, và đương nhiên vẫn thích hát nhạc miền Nam hơn là những giọng ca the thé miền Bắc mà chính anh cũng có lần tâm sự: “tôi không hiểu họ đang hò hét chuyện gì”. Mấy ngày sau, anh chàng công an Hoàng ngứa nghề, ra xóm tìm một cây đàn guitar, đem về nhờ tôi dạy anh đàn. Cây đàn cũ, từ lâu không ai sử dụng, chủ của nó chắc đã vượt biên, đóng đầy bụi nhưng nghe cũng xốn xang trong những đêm khuya thanh vắng. Và cũng từ bệ đá đó, tôi nhận ra đôi mắt Bích Vân như hai ánh sao đêm hiện ra từ khung tối.
Đúng, tên cô gái là Bích Vân. Tôi biết tên nàng trong một buổi chiều đưa đám nữ tù đi nhổ cỏ ở bãi rau muống sau trại. Cô không đẹp như sự tưởng tượng quá sức phong phú của tôi qua ánh trăng lung linh huyền ảo đêm nào nhưng là cô gái dễ thương, đẹp nhu hòa pha một chút hồn nhiên của thời học trò chưa qua hết. Tôi không hỏi nhưng đoán chừng cô ta khoảng hai mươi tuổi. Bích Vân nhìn tôi: “Anh hát rất hay. Bích Vân nghe đến thuộc lòng nhưng không biết bài hát đó tên gì?” Tôi đáp: “Đó là bài Thu Hát Cho Người của Vũ Đức Sao Biển”. Bích Vân nhỏ nhẹ: “Bài hát hay, người hát hay và tên của người viết bản nhạc cũng hay”. Những người bạn tù của Bích Vân hình như đã biết chuyện cô ta thường đứng cửa sổ nghe tôi hát, nên mỉm cười nhìn chúng tôi với ánh mắt trêu chọc. Một bà đứng tuổi buột miệng: “Hèn chi mấy ngày nay cổ tình nguyện làm cả công tác đổ cầu tiêu để được ra ngoài”. Bích Vân đỏ mặt cúi đầu.
Và cứ thế, mỗi chiều nhổ cỏ rau muống, trên đường đưa nhóm nữ tù về lại phòng, chúng tôi có vài phút nói chuyện với nhau. Vì sợ công an bắt gặp, chúng tôi không dám nhìn thẳng nhau lâu chứ đừng nói gì là một cái nắm tay. Hai đứa giả bộ nhìn trời và nói những câu ngắn ngủi: “Anh quê ở đâu? ” Tôi đáp:” Quảng Nam Đà Nẵng”. Nàng lại hỏi: “Xa quá nhỉ. Gia đình em cũng gốc miền Trung nhưng vào Nam từ khi em mới ra đời. Ba mẹ anh vẫn còn ngoài Quảng hay đã vào Sài Gòn?” Tôi lại đáp: “Sài Gòn”. Cứ thế, cô ta như một cô giáo đang hỏi bài học trò. Từ chuyện gia đình cho đến chuyện trời mưa trời nắng. Bích Vân thích hỏi nhưng không thích trả lời. Cô không thích nói về mình. Nhiều khi nếu phải nói, cô ta không bao giờ khẳng định, chỉ ầm ừ cho qua chuyện.
Một buổi chiều, trong giờ giải lao, dựa lưng vào tường, Bích Vân chợt khám phá ra những dòng chữ trẻ con còn in dấu dưới hàng rêu trên bờ tường trại giam, mắt nàng chợt sáng lên một cách hồn nhiên đưa tay chỉ vào hàng chữ nguệch ngoạc đã nhạt nhòa theo năm tháng: “Anh biết không, đây là trường tiểu học cũ của em. Hàng chữ kia làm của đám bạn bè em viết hồi lớp năm”. Giọng nàng trầm xuống trong cay đắng: “Trường bây giờ là nhà tù và em về ngồi trong lớp học nhưng không phải là học trò cũ mà như một tù nhân. Mỉa mai quá anh nhỉ?” Nếu đây là quán café hay trong sân trường đại học, có lẽ câu chuyện trường học biến thành nhà tù là một đầu đề để máu Quảng tôi sôi lên, thao thao bất tuyệt về cách mạng, nhân quyền, cơm áo. Nhưng trước mặt Bích Vân, tôi nghẹn lời không nói được. Trước mắt tôi không phải là một đề tài, một câu chuyện, một viễn ảnh mà là một thực tế, một con người bằng xương bằng thịt, một người con gái tuổi hai mươi đang chịu đựng nỗi bất hạnh của một giai đọan lịch sử thảm khốc. Những nạn nhân vô tội đầy thương tích đang quằn quại trong màn cuối của một vở thảm kịch quê hương. Tôi cố làm vơi bớt chút đau xót trong lòng cô bằng những triết lý vụn học được trong những quán café ngoài Thư Viện Quốc Gia ngày nào: “Không ai biết chắc những gì sẽ xảy ra cho đời mình, nhưng một điều mà anh và em có thể biết được, làm được trong hoàn cảnh này là tìm cho mình một hy vọng để sống và phải sống trọn vẹn cho hy vọng đó. Sự kỳ diệu không bao giờ đến nếu không có hy vọng”. Bích Vân trả lời trong lúc vẫn nhìn đăm đăm vào hàng chữ: “Cám ơn anh, em sẽ nhớ những điều anh dặn, hãy hy vọng và rồi sự kỳ diệu sẽ đến”. Tôi muốn cầm tay nàng nhưng không dám. Hai đứa đứng bên nhau dưới chân tường trại giam và cũng là trường học cũ của Bích Vân, lắng nghe tiếng vịt kêu và thầm mong những tia nắng của buổi chiều vàng thơ mộng kia đừng bao giờ tắt.
Một lần trong lúc chờ Bích Vân rửa tay sau buổi chiều nhổ cỏ: “Tại sao Bích Vân phải vào đây?” Bích Vân vẫn cặm cụi rửa tay như không nghe tôi hỏi, mãi đến khi tôi lập lại câu hỏi lần thứ hai, nàng mới đáp thật nhanh và thật nhỏ: “Em buôn thuốc tây và bị bắt”. À ra thế, tôi yên tâm tự nhủ. Một người con gái nhỏ nhắn, xinh đẹp và hiền hậu như Bích Vân không thể nào đi ăn trộm ăn cướp của ai để bị bắt. Thấy tôi không nói gì thêm, nàng ngước mặt: “Anh đang suy nghĩ gì, không tin em sao?” Tôi vồn vã ra mặt: “Anh tin chứ, anh tin chứ, anh tin một người như em không thể làm chuyện gì thương luân bại lý, còn chuyện buôn thuốc tây, rủi gặp xui thì bị bắt, có gì mà ngại, ra tù đi buôn tiếp”. Vai nàng chợt rung lên và hai hàng lông mày cong của nàng nhíu lại nhưng không nói gì. Chuyện ở tù của tôi, Bích Vân hình như đã biết đám sinh viên bọn tôi bị bắt vì tội vượt biên, nên nàng không hỏi lý do, thay vào đó, Bích Vân hỏi về những dự tính sau khi tôi được thả: “Ra tù, anh có tìm cách vượt biên nữa không?” Tôi chẳng chần chừ: “Đương nhiên. Anh không còn đất sống nào khác nữa. Giấy tờ bị tịch thu, hộ khẩu bị cắt. Anh không còn là dân của nước này nữa. Anh chỉ còn một con đường là đi cho đến khi nào đi được mới thôi”. Bích Vân trầm ngâm không nói. Nàng ngước nhìn đám mây xanh như tên nàng đang bay vô định trên bầu trời, mãi một lúc sau mới hỏi: “Anh ước mơ gì nhất bây giờ?” Tôi suy nghĩ khá lâu rồi đáp: “Anh có quá nhiều ước mơ và tất cả gần như đồng hạng”. Và tôi nhìn thẳng vào đôi mắt Bích Vân hỏi nàng một cách nghiêm trang: “Ra tù anh sẽ tìm cách để đi tiếp, Bích Vân, em có thể cùng đi với anh không?” Nàng lắc đầu, nói như vừa đủ tôi nghe: “Không, em còn mẹ và ba đứa em nhỏ. Ba em không biết sống chết nơi đâu. Em phải ở lại để lo cho mẹ và các em”. Và nàng nghẹn ngào: “Anh có biết rằng anh đang tàn nhẫn một cách hồn nhiên không?” Bích Vân không chờ tôi phản ứng hay biện bạch, nàng xoay người bước đi, cố giấu hai giọt nước mắt đang lăn tròn từ đôi mắt buồn như mùa đông. Nàng vội vã bước vô phòng giam nữ như đi tìm một chỗ yên tĩnh để được khóc một mình.
Hai tháng sau, Bích Vân được thả. Trong cảnh nhộn nhịp của ngày thả tù, tôi không nói với Bích Vân được gì nhiều. Vả lại, chẳng biết gì để nói. Tôi còn không lo nổi cho tôi thì còn lo cho ai khác được. Lời hứa hẹn của một tên tù thì có gì giá trị. Hai đứa đứng trong sân trại. Bích Vân nói bâng quơ: “Anh thích được tự do không?” Tôi khẳng định: “Dĩ nhiên, anh cần ra khỏi nơi này gấp”. Bích Vân lắc đầu: “Em thì khác, bỗng dưng em thích ở lại. Anh bảo em phải tìm hy vọng nhưng chẳng thấy hy vọng nào dành cho em phía bên kia hàng rào. Ít ra ở đây em còn có anh”. Tôi đáp: “Em còn mẹ, còn các em, còn tương lai đang chờ Bích Vân. Em phải hy vọng và sống với hy vọng đó”. Bích Vân chua chát: “Tương lai ư, em không thích chữ này, nó có thể là ngày mai và cũng có thể không bao giờ đến”. Nàng nói tiếp như đang mơ: “Em thuộc lòng bài hát rồi. Mai này em sẽ tự hát lấy, không cần anh nữa”. Và nàng một mình hát nhỏ: “Giòng sông nào đưa người tình đi biền biệt”. Tôi nhìn Bích Vân hát và ước gì chúng tôi biến thành hai con chim họa mi, cùng bay ra khỏi nơi này mà không ai hay biết. Chúng tôi sẽ bay đi thật xa, băng qua khu rừng già, đến bên một dòng suối mát, nơi đang có đàn nai tơ đang sống hiền hòa, nơi có những đồi sim tím ngắt, không một bóng con người, nơi đó không có nhà tù, không có chém giết, không có máu chảy. Như sực nhớ ra điều gì hệ trọng, Bích Vân bước thêm một bước gần hơn và nói như dặn dò: “Em sẽ gởi cơm nước cho anh mỗi ngày”. Tôi lắc đầu: “Cám ơn Bích Vân nhưng anh không thiếu lắm..”. Tôi chưa nói hết câu, Bích Vân vụt quay người hôn thật nhanh vào mặt tôi và bước đi ra khỏi cổng trước khi tôi kịp nói năng gì.
Những ngày sau đó, mỗi ngày tôi đều nhận được thức ăn do một người nấu cơm tháng trong thị xã đem đến. Nhưng Bích Vân thì không. Người đàn bà đứng tuổi mang cơm cho tôi biết Bích Vân ghé tiệm cơm của bà, đặt tiền nấu cơm và đem cho tôi hàng tháng. Ngoài ra, nàng không dặn dò gì khác. Bích Vân, người con gái có đôi mắt sáng và buồn hiu hắt như hai bóng sao đêm đó đã không còn trở lại.
Từ đó tôi cũng không còn ngồi hát một mình trên bệ đá cuối trại giam. Tôi không biết đó có phải là tình yêu hay chỉ là tình người, tình thương hại. Tôi chưa bao giờ được hôn nàng, thậm chí chưa một lần cầm lấy bàn tay xinh xinh nhỏ nhắn của nàng. Nhưng lòng tôi, mỗi lúc đêm về, vẫn thấy nhớ dáng Bích Vân trong những buổi chiều, nhớ chiếc nón lá rách viền trên luống rau muống, nhớ mái tóc học trò bay trong chiều vàng, nhớ những giọt mồ hôi chạy dài trên vầng tráng rộng, và nhớ mùi hương tóc nồng nàn. Mỗi đêm, tôi vẫn thẫn thờ nhìn về phía cửa sổ trại giam như để tìm đôi mắt Bích Vân, nhưng hai ánh sao trời kia đã tắt.
Tháng sau tôi được thả. Tuần trước đó, khi vừa được công an Hoàng báo tin, tôi năn nỉ người đem cơm tìm dùm Bích Vân và báo cho nàng biết tôi sẽ chờ nàng ở quán nước của dì Năm ngoài cổng trại sau giờ thả. Người đem cơm hứa sẽ giúp tôi. Nhưng ngày tôi ra tù, Bích Vân vẫn không đến. Tôi ngồi một mình đem tâm sự trang trải cùng dì Năm. Dì Năm lắng nghe chăm chú. Bà nói với tôi bằng tất cả cảm thông và hiểu biết: “Cậu về để tìm cách mà đi. Đừng nghĩ đến cô ta nữa. Tôi cũng biết Bích Vân. Hoàn cảnh cô ấy rất đáng thương nhưng không phải cô ta vì bán thuốc Tây mà bị bắt đâu”. Dì muốn nói tiếp nhưng như chợt biết mình vừa lỡ lời nên dừng lại, khoát tay: “Thôi, sắp hết xe về Sài Gòn rồi. Cậu về đi. Chúc cậu bình an trong lần đi tới. Tôi tin Bích Vân sẽ không bao giờ gặp cậu, dù cậu có ngồi đây suốt đêm nay, hay đi tìm khắp thị xã cũng thế thôi. Hai cô cậu chẳng ai có lỗi gì. Cũng vì hoàn cảnh thôi. Nếu là cậu, chắc cậu cũng không có chọn lựa nào khác. Gặp nhau để làm chi. Cậu chắc hiểu ý tôi”. Tôi đứng dậy trả tiền ly nước. Dì Năm không nhận. Bà dúi tờ giấy bạc vào tay tôi, ôn tồn: “Cậu giữ để uống nước dọc đường”.
Chuyến xe đò chót về Sài Gòn trong khi trời đã tối. Trên bầu trời đầy mây đen, bỗng xuất hiện lên hai ngôi sao rất xa và rất nhỏ. Vâng, đôi mắt Bích Vân, đôi mắt người con gái đáng thương, đáng yêu đang nhìn xuống tôi. Tôi mỉm cười nhìn sâu vào đôi mắt nàng và thầm hát như chỉ để mỗi nàng nghe: “Ta vẫn chờ em dưới gốc sim già đó, để hái dâng người một đóa đẫm tương tư”.
Bệnh Nói Nhiều Của Phụ Nữ
Đàn ông luôn tỏ ra bất mãn với "bệnh nói nhiều" của phụ nữ, thậm chí coi đó là một giấc mộng kinh hoàng nhất trong cuộc đời. Trong khi đó, hầu hết phụ nữ lại cho rằng họ buộc phải nói nhiều để "chiến đấu" với tật xấu của bạn đời.
Theo các chuyên gia về gia đình thì không có gì hoang tưởng hơn là chỉ dùng lời nói mà có thể cải tạo được một người đàn ông. Trái lại, không ít cuộc ly hôn đã là hậu quả trực tiếp hay gián tiếp của những cuộc tra tấn bằng ngôn ngữ triền miên.
Người ta kể rằng có một người đàn ông bị đi tù hai năm vì tội đánh vợ. Sau khi mãn hạn được tha về đoàn tụ với gia đình mới có một tuần lễ, anh ta lại khăn gói đến xin ban quản lý nhà tù cho được tiếp tục cải tạo đến hết đời. Hỏi vì sao anh không thích ở nhà mà lại muốn vào tù? Anh ta thú thật rằng, tuy ở trong tù mất tự do thật nhưng còn sướng hơn ở nhà, vì không bị vợ nói ra rả suốt ngày đêm!
Một cuộc điều tra 3.000 người đàn ông ở Thượng Hải với câu hỏi: "Tính xấu của vợ mà anh ngán nhất?" thì 86% người trả lời: "Nói nhiều". Các nhà tâm lý học cho rằng, hầu hết đàn ông đều sợ cái tính nói dai của các bà vợ. Nỗi sợ này có nguồn gốc sâu xa từ hồi nhỏ khi anh ta bị mẹ mắng mỏ. Đàn ông lẩn tránh các lời khuyên của vợ cũng giống như khi còn bé họ lẩn tránh lời dạy bảo của mẹ. Hóa ra, đàn ông rất hay bị đàn bà rầy la. Lúc bé thì mẹ mắng. Lớn lên một tí bị chị mắng. Lớn tí nữa, bị người yêu chê trách. Lấy vợ bị vợ đay nghiến. Về già lại bị con gái kêu ca.
Có phải đàn ông bị vợ nói nhiều là đáng đời vì họ lắm tội. Tiếc rằng thực tế cho thấy khó mà có ông chồng nào thoát khỏi những "tội lỗi" ấy. Người làm việc trí óc bị rầy la về đóng cái đinh không nên hồn. Người khéo léo chân tay lại bị chê là viết cái đơn không xong. Người giỏi cả chân tay lẫn trí óc lại bị tra tấn vì không bao giờ biết mua vé đưa vợ đi xem một bộ phim...
Giải thích tại sao phụ nữ nói nhiều, có nhà khoa học cho rằng vì khả năng sử dụng ngôn ngữ của họ mạnh hơn nam giới. Lại có người cho rằng là từ thời tiền sử, phụ nữ trồng trọt hái lượm nên tha hồ nói chuyện, trong khi đàn ông đi săn bắt phải ẩn nấp không nói được. Thật ra, đàn bà cũng chẳng thích lắm điều nhưng vì đa số việc nhà vẫn rơi vào tay phụ nữ mà những việc đó thì không mấy khi được vừa lòng do chồng con gây ra, vì vậy phụ nữ không nói cũng không được.
Tuy nhiên các nhà tâm lý cho rằng người vợ khôn ngoan nói cái gì chỉ nói một lần thôi. Nếu điều đó không theo ý mình thì cũng không nói đi nói lại hay làm thay anh ta. Bởi vì, cũng theo các chuyên gia về gia đình thì không có gì hoang tưởng hơn chỉ là dùng lời nói mà có thể cải tạo được một người đàn ông. Bây giờ ta hãy đi ngược thời gian xem khi mới quen hơi bén tiếng nhau, phụ nữ có thói quen ấy. Nếu không có lẽ số cuộc kết hôn phải giảm đi 90%. Vậy khi mới yêu nhau, phụ nữ cư xử với đàn ông thế nào?
Thường lúc đó họ khen không ngớt. Nào là: "Anh giỏi quá!"; Anh tài quá!"; "Anh thông minh quá!"... Thì ra mọi chuyện chỉ bắt đầu từ khi kết hôn. Hãy thử nghe một đoạn băng ghi âm xem một cuộc xung đột vợ chồng thường diễn ra như thế nào? Ăn xong, người vợ nhẹ nhàng bảo: "Bữa nay, anh rửa bát nhá". Chồng vừa dán mắt vào ti-vi vừa trả lời: "Được rồi, cứ để đấy!". Mươi phút sau vợ hỏi; "Anh có rửa bát không nào?". Anh ta vẫn không dời mắt khỏi ti-vi, miệng trả lời: "Có". Nhưng đa số phụ nữ không chấp nhận như thế. Họ muốn chồng phải làm ngay, nếu không thì hoặc họ sẽ tự làm, hoặc họ sẽ "trình diễn" một bộ mặt hình sự mà những người đàn ông yếu bóng vía có thể bị chấn thương tâm lý đến mức thấy mình đúng là một tên tội phạm. Bộ mặt ấy sẽ tiệu diệt hết cả mọi thú vui của anh ta trong ngày hôm đó.
Suy cho cùng, ai chả muốn nhà cửa sạch sẽ, ngăn nắp nhưng nếu vì thế mà đánh đổi cả bầu không khí gia đình êm ấm có nên không? Không ít cuộc ly hôn đã là hậu quả trực tiếp hay gián tiếp của những cuộc tra tấn bằng ngôn ngữ triền miên này. Để kết thúc bài viết, xin kể một câu chuyện có thật về một đôi vợ chồng người Nga.
Xecgây Ivanovich kết hôn với Lêna Xêramôva và chỉ còn mấy hôm nữa là đến ngày kỷ niệm đám cưới vàng. Bỗng nhiên bữa nọ đang ăn thì bà vợ phát hiện chồng đánh rơi miếng thịt ra sân nhà, bà ta nghiến răng gầm lên: "Ông ăn uống cái kiểu gì thế?". Xecgây lạnh lùng nhìn vợ, không nói một lời đứng dậy thu xếp khăn gói ra đi. Về sau có người bạn thân của ông kể lại lần gặp cuối cùng, ông ta nói: "Lúc nào bà ấy cũng đay nghiến tôi. Bà ấy nói tôi suốt đời không làm được một việc gì ra hồn. Lần này, ít nhất tôi cũng làm được một việc là... ra đi vĩnh viễn.
" Chợ Dầu có quán cà phê .... "
Ngày xưa ... không biết dễ mê thế nào ?!
Ngày nay ... mới " đã " làm sao
Các em núng nính ra vào thấy ... thương !
Jô Sê ... lạc mộng Thiên đường
.... Không " GPS " _ Biết phương nào về ?!!!
Trần Mạnh Hảo
Trước Đại Hội nhà Văn Việt Nam lần thứ VIII, chúng tôi đã viết bản tham luận :” Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước” gửi cho blog Talawas, website Đàn Chim Việt…Lập tức hàng chục website nối mạng, đặc biệt có hai trang mạng trong nước là website của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và trang Bauxite VN của GS. Nguyễn Huệ Chi cũng post bài tham luận của chúng tôi cho mọi người cùng đọc.
Sáng 05-8-2010, khi tới Học Viện Chính trị quốc gia để dự đại hội, đa số các nhà văn đều bắt tay chúng tôi chia xẻ và động viên, rằng bản tham luận ông viết rất được…xin chúc mừng. Một số nhà văn nổi tiếng “yêu đảng vượt chỉ tiêu trên giao” như N.Đ.X., T.T.Đ…cũng bắt tay chúc mừng chúng tôi đã cả gan nói ra những sự thật chết người, mà nói có lý luận, có sự thật bảo chứng …
Có nhà văn động viên chúng tôi hết lời, đoạn dặn rằng : chớ kể ra tên tớ đã ủng hộ cậu nhá, có thể “nó” không bắt cậu nhưng “nó” bắt thằng ủng hộ cậu đấy, tớ hãi lắm; “nó” muốn để cho SỰ THẬT ĐƯỢC MỒ YÊN MẢ ĐẸP”, cậu lại cả gan bốc nấm mộ này lên, mất mạng như chơi…
Các nhà văn đều tin rằng, “ nó” đếch cho cậu đọc tham luận này đâu. Nhiều nhà văn còn rỉ tai dặn : tuyệt đối ông không được uống nước có sẵn ( chai nước lọc) trong khách sạn Kim Liên nhá, không được một mình đi vào các con phố vắng nhá, ai không thân mời đi ăn uống là tuyệt đối không nhá, đi đâu nên rủ hai ba thằng nhà văn bạn bè đi cùng nhá; rằng ông nhớ vụ cụ Dương Bạch Mai người Nam Kỳ trong cuộc họp quốc hội ngày nào chứ, cụ này mới lên diễn đàn nói thật một tí teo thôi, đoạn xuống uống một ly nước ( hay bia gì đó) liền lăn đùng ra chết…Ở đầt nước “tự do gấp triệu lần tư bản”, toàn “đỉnh cao trí tuệ” cầm quyền với chủ nghĩa bách chiến bách thắng…đã bao người mới hé mồm ra nói sự thật như cụ Dương Bạch Mai liền lăn đùng ra chết bất đắc kỳ tử, thì thằng phá trời như mày liều mạng nói toẹt ra sự thật, coi chừng thí mạng cùi đó nghe con !
Nghe bạn bè lo lắng cho tính mạng của mình như vậy, tôi hãi lắm, nếu có làm sao thì cha già ngoài quê Nam Định, vợ con trong Sài Gòn biết cậy vào ai ? Nghe anh bạn thân tái mặt bảo : chỉ có thằng điên như mày mới dám viết tham luận như vậy, mày đang là số phận của con cá nằm trên thớt mà dám cãi nhau với cả dao liền thớt thì coi chừng đi họp chi bộ với hà bá đó ! Bước vào hội trường, tôi tự dặn mình : im mồm nhé, tuyệt đối câm nhé, đồng chí Hảo ngu như lợn ơi, mua băng keo dán miệng lại nhé…Trước khi ra Hà Nội, vợ con và bạn bè dặn : tịnh khẩu là thượng sách, đóng vai thằng đần là ăn chắc sống, thề đi, xin thề !
Thế mà trong không khí bầu bán “ quần ngư tranh thực” rất vô văn hóa của đại hội, nhất là không thể chịu được cách điều hành đại hội rất xách mé và trịch thượng của ông trung tướng công an Hữu Ước ( nhạc sĩ mù nhạc, họa sĩ mù màu, nhà văn ít chữ…) chúng tôi đã quên béng lời dặn dò tịnh khẩu của người thân, quên béng mình đã hứa với mình : quyết tâm làm con lợn chỉ ủn ỉn chơi với bạn bè trong đại hội thôi, nghĩa là ngu vĩnh viễn đi là yên…lại ngứa tay, ngứa mồn giơ tay xin phát biểu ý kiến…
Chúng tôi đã giơ tay mấy lần, giơ tay rất lâu mà các vị chủ tịch đoàn tuyệt đối không cho lên, không cho nói. Hàng chục nhà văn ngồi quanh chúng tôi nói lớn : ông Hảo cứ lên đi, cứ lên đi, sao lại không cho một nhà văn hàng đầu của hội phát biểu…Rồi có mấy tiếng quát cô cầm micro : đưa micro cho ông Hảo. Không khí sôi sục làm chúng tôi thêm dũng khí, đứng lên nói : xin cô cho tôi mượn micro. Cô gái cầm micro quyết không đưa; có ai đứng bên cạnh giật được micro giúi vào tay tôi. Cô gái giữ trận địa an ninh của đảng giật lại micro như giật súng, nhưng không giật lại được. Tôi nói vào micro : kính thưa quý vị nhưng micro câm tiếng. Có ai nói : nó cúp điện micro này rồi, nó là micro đểu. Mấy ông nhà văn to tiếng : ông Hảo lên bục đoàn chủ tịch ngay, trên đó có hai cái micro tốt nhất nước đấy…
Tôi hùng dũng lên bục cao chủ tịch đoàn, giúi mồm vào hai chiếc micro như hai miệng súng chĩa vào tôi, đoạn kính thưa, rồi nói. Tôi mừng thầm, micro này vẫn còn chưa bị cúp : kính thưa quý vị, có cảm tưởng tôi đã đến nhầm địa chỉ, hình như đây không phải là đại hội nhà văn, đây là một đại hội chính trị tranh giành quyền lực. Ở đây văn học không có chỗ tồn tại. Hội nhà văn thì phải lịch lãm lịch sự, phải có văn hóa chứ, các vị đang đánh tráo khái niệm chính trị và văn học…Lập tức micro bị cúp…Tôi vẫn nói rất to hi vọng một số nhà văn ngôi hàng đầu nghe được : rằng ông trung tướng nhà văn Hữu Ước không biết viết văn, sao ngồi chủ tịch đoàn điều hành đại hội rất xách mé, trịch thượng, xin ông xuống cho…So với một số nhà văn bậc thầy ngồi dưới, ông Ước chỉ là thằng bé con tập tành viết lách lăng nhăng…
Nhà thơ Hữu Việt đứng lên hét to : không được đối xử với nhà văn như thế, sao lại cúp micro anh Hảo. Rất nhiều nhà văn đứng lên quát : không nghe thấy gì, để cho người ta nói, nối lại micro đi…vô văn hóa, vô văn hóa, toàn micro đểu…
Không có micro, tôi đi đi lại lại trước mặt chủ tịch đoàn một lúc rồi đành đi xuống…
Lập tức micro lại vang lên trong miệng người điều hành đại hội : xin mời nhà văn Tô Nhuận Vĩ nói…
Chúng tôi bước xuống, bạn bè đỡ lấy tôi , bắt tay rối rít. Ai cũng bảo “nó” coi nhà văn như súc vật, bịp mồm người ta, không cho người ta nói là khinh bỉ toàn đại hội. Tôi ngồi cạnh nhà thơ hàng đầu Việt Nam Bằng Việt, anh bảo tôi phản đối trò cúp micro vô văn hóa này, đây là vết nhơ không thể xóa nổi của đại hội. Nhà thơ Anh Chi bắt tay tôi bảo : chúng nó thua ông rồi, chưa giao chiến mà nó đã thua một không, bọn khốn nạn, bọn vô văn hóa chứ đâu phải nhà văn, tao sẽ lên chủ tịch đoàn chửi thẳng vào mặt chúng nó : chúng mày cúp micro của thằng Hảo là chúng mày ném bùn vào đại hội đấy, chúng mày đã làm đại hội thất bại vì đây là đại hội bịt mồm…Phạm Đình Trọng bắt tay tôi : chúng nó đã biến ông thành linh mục Nguyễn Văn Lý, ông bị một đại hội lớn bịp mồm.
Giờ giải lao các nhà văn xúm đến bắt tay tôi, chửi bọn bịt mồm. Thanh Thảo cười ngặt nghẽo : chúng nó cho chú Hảo rơi vào cõi im lặng đáng sợ, Hảo ta câm hoàn toàn, dán giấy vào miệng mày, sướng chưa con…Nguyễn Quang Lập chống gậy ra cửa bảo : em vừa quát vào mặt thằng phó ban tuyên giáo : chúng mày súng ống đầy mình sao lại sợ Trần Mạnh Hảo tay không đến thế ? Mỹ chúng mày không sợ mà sợ Hảo à, đồ ngu !
Chiều 5-8-2010, sau khi đài RFA gọi điện thoại phỏng vấn chúng tôi về sự kiện bịp mồm, ông Hữu Thỉnh xin lỗi đại hội về sự cố kỹ thuật bị mất điện micro của anh Hảo rất đáng tiếc, chúng tôi xin lỗi và sẽ kiểm điểm sâu sắc những người phụ trách kỹ thuật âm thanh. Cả hội trường ồ lên : cắt micro, bịt mồm người ta rồi sao còn đổ lỗi cho kỹ thật, dấu đầu lòi đuôi.
Các nhà văn bảo tôi : xin lỗi vì trục trặc kỹ thuật nên ông Hảo không nói được vì micro mất điện, nếu quang minh chính đại thì phải mời anh Hảo lên nói lại chứ, bắn không nên đền đạn chứ. Nói dối lòi mẹ cái đuôi định hướng micro, micro đểu rồi còn xoen xoét cái miệng gian trá, bịp bợm. Đúng bọn này là bọn không lương thiện, không tử tế, còn lâu mới thành người mà dám khoác áo nhà văn, khoác áo chủ tịch đoàn, thế giới nó khinh như mẻ, đám ma bùn chứ nhà văn gì chúng nó…
Một số nhà văn đã đi tìm hiểu, hỏi cán bộ công nhân viên học viện chính trị quốc gia rằng hệ thống âm thanh ở đây có bao giờ trục trặc chưa ? Họ trả lời, đây là trường đảng của Bộ chính trị, trục trặc âm thanh có mà chết, không bao giờ bị trục trặc âm thanh, dàn âm thanh tốt nhất nước đấy…Với lại, hội trường này không bao giờ bị mất điện, tuyệt đối không bao giờ micro bị tắt tiếng như sự cố hôm nay đâu…
Sau hai ngày ngồi trong hội trường đại hội, chúng tôi và rất nhiều anh em nhà văn phát hiện ra sự thật này : âm thanh micro của đại hội là âm thanh đểu, micro đểu. Vì mỗi lần ông Hữu Thỉnh nói hay các ông trong chủ tịch đoàn nói, hay những ông đọc tham luận y hệt xã luận báo Nhân Dân thì âm thanh rất tốt, rất vang, rất rõ. Rõ đến nỗi tôi ngồi bên ngoài, đi trong sân của hội trường còn nghe rõ mồn một. Thế mà khi nhà văn lên nói hay lên tham luận mà họ không nắm được, họ bèn vặn rất nhỏ âm thanh micro. Tham luận của GS. Phong Lê có nhắc đền Hoàng Sa , Tường Sa, nhắc đến nỗi nguy mất nước thì micro bị nhiễu, rè như kẻ khản đặc tiếng, nghe câu được câu chăng…Các tham luận hay phát biểu của Bùi Minh Quốc, Phạm Đình Trọng…đều bị micro đểu làm méo hết giọng. Đúng là quân đểu, micro đểu, đại hội đểu…
Các nhà văn giờ giải lao xúm vào hỏi tôi, rằng ông định nói gì lúc đó, nạn nhân của micro đểu, tự do đểu, dân chủ đểu định nói gì mà “nó” sợ ông hơn sợ đế quốc Mỹ vậy ? Tôi bảo, tôi đâu có cầm trong tay bản tham luận đâu mà “nó” cắt micro của tôi, tôi chỉ xin nói ba đến bốn phút mấy cảm nghĩ như sau :
Thứ nhất, tôi thấy sự thật và đất nước không có mặt tại hội trường này. Dân tộc ta, đất nước ta đang bị bọn giặc phương Bắc xâm lược ; chiếm các quần đảo của ta, giết dân ta ngoài biển như giết ngóe, chiếm đất liền ta bằng kế hoạch bauxite thậm độc, trồng rừng đểu, khai quặng đểu để chiếm đất, chiếm rừng rồi ồ ạt di dân Tàu sang đất ta…Họa mất nước đang đến gần sát sạt. Vậy mà ông Hữu Thỉnh lờ đi, chủ tịch đoàn lờ đi, đa số nhà văn lờ đi, tham luận chúng ta lờ đi…Làm như đại hội nhà văn lần thứ tám này đang diễn ra bên Trung Quốc chứ không diễn ra trên đất nước ta. Điều lo lắng quan tâm nhất của 85 triệu đồng bào không hiện diện trong hội trường này; thế thì chúng ta câm mồm để Trung Quốc bóp cổ đất nước, chúng ta đồng lòng với kẻ xâm lược à ?
Thứ hai, tôi muốn cải chính dùm cho ông Hữu Thỉnh. Sau khi bài báo động trời của nhà văn Trang Hạ : “ Em không phải nhà văn đâu” tung lên các trang mạng trong và ngoài nước, nhiều nhà văn hỏi chúng tôi; rằng có phải nhà thơ Hữu Thỉnh là người của Trung Quốc, do Trung Quốc cài cắm vào từ lâu để nắm hội nhà văn, sao thấy các hành xử quốc tế của ông Thỉnh yêu nước Tàu hơn yêu nước Việt, làm cái gì cũng cốt để đẹp lòng thiên triều phương Bắc ? Tôi bèn trả lời rằng, không nên kết luận sớm quá như vậy, chẳng lẽ ông Hữu Thỉnh lại đang tâm làm gian tế cho giặc hay sao ?
Xin googbye chủ tịch hội nhà văn Hữu Thỉnh
Kính xin ông chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam khóa VIII Hữu Thỉnh ( ông Thỉnh đã làm chủ tịch hội ba khóa rưỡi) hãy rủ lòng thương, ban cho tôi ân đức, xin ngài hạ cố gạch tên chúng tôi trong danh sách hội viên. Xin cảm ơn ông trước. Chúng tôi không làm đơn xin ra khỏi hội; vì khi vào hội nhà văn năm 1975, chúng tôi không phải làm đơn, được hội nhà văn tự động đưa vào hội cùng mấy chục nhà văn trong văn nghệ giải phóng từ chiến khu về.
Qua đại hội này, chúng tôi kết luận : Hội nhà văn Việt Nam sinh ra không phải để phụng sự Tổ Quốc và nhân dân Việt Nam, mà chỉ cốt phục vụ đảng cộng sản Việt Nam mà thôi. Mà đảng cộng sản Việt Nam thì không phải là dân tộc hay tổ quốc Việt Nam.
Nhà văn Nguyễn Đình Toàn trước 75 là một biên tập viên của đài phát thanh. Ông là người được hàng triệu thính giả của miền Nam ái mộ qua các chương trình “Nhạc Chủ Đề” do ông đề xướng. Năm 1975 ông và gia đình kẹt lại ở trong nước, và chỉ mới đến Mỹ vào cuối thập niên 90, đoàn tụ với người con trai đã vượt biên trước đó hàng chục năm. Ông hiện cư ngụ tại Quận Cam.
Hoàng Hải Thủy là một trong những nhà văn đã nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975. Ông nổi tiếng trước nhất như một người viết phóng sự, sau đó, như một dịch giả và một người viết tạp văn.
Từ tạp văn ở đây hiểu theo nghĩa, gặp gì viết nấy, trộn lộn cả phóng sự, văn chương, trích dẫn thi ca, âm nhạc, những ngôn ngữ do ông sáng tạo, bịa đặt ra.
Cái cách viết của ông có thể có nhiều người không thích. Nhưng khi người ta nói không thích cách đùa cợt trớt nhả của ông, có nghĩa là người ta đã đọc ông rồi.
Có phải như vậy chăng?
Phải công nhận rằng, tất cả những gì Hoàng Hải Thủy viết , đều có một sức hấp dẫn, dù nó được ký tên Hoàng Hải Thủy hay Công Tử Hà Đông. Đang viết bình thường, ông thêm vào một chữ “vưỡn“, “em vưỡn yêu anh, mí nị em thơm như múi mít.” Trong ngôn ngữ miền Bắc của chúng ta, hai từ “mí nị“, cũng có người nói là “mí lỵ” là hai tiếng “mới lại” được phát âm trẹo đi. Hoặc, những tiếng “ê, a” không có nghĩa gì, nhấn mạnh vào những chữ ấy chỉ để chê bai, chọc quê. Nghe một người con gái nói: “Em vưỡn yêu anh” thì có lẽ không anh nào dám tin đó là sự thật. Cái phần sự thật có thể có đó, so với cái phần sự thật có thể không trong câu nói nghiêm chỉnh hơn “Em vẫn yêu anh” có gì khác.
Các bông đùa của Hoàng Hải Thủy luôn ở trên lằn ranh vui buồn, thật giả đó.
Đọc “Sống và Chết ở Sài Gòn” người ta được biết những chuyện liên quan tới một số văn nghệ sĩ, trí thức, như Vũ Hoàng Chương, Thượng toạ Trí Siêu ( Lê Mạnh Thát ), Thanh Nam, Vũ Bằng, Duyên Anh, Thái Thủy, Mai Thảo, Trịnh Viết Thành, Hoàng Anh Tuấn, Uyên Thao.. .., về Trại Giam Phan Đăng Lưu, nơi Hoàng Hải Thủy đã trải nhiều năm tù.
Chương Hoàng Hải Thủy kể lại những năm tù ở Trại Phan Đăng Lưu với nhiều tù nhân khẳng khái được Nhà văn Đặng Trần Huân coi là một chương tuyệt tác.
Người ta nhớ lại những năm sau 1975, hầu hết các văn nghệ sĩ ở Sài Gòn cũ, đều bị bắt giam.
Hoàng Anh Tuấn sau khi được thả, đã được thân nhân bảo lãnh ra khỏi nước. Hoàng Hải Thủy có mấy câu thơ gửi Hoàng Anh Tuấn được các bằng hữu của ông thỉnh thoảng nhắc lại:
Hai chuyến xe hoa về đất mẹ,
Bây giờ xa-lộ sáng đèn chưa ?
Ở đây thì chán, đi thì nhớ,
Sài Gòn mưa mà Mỹ cũng mưa.
Hẳn nhiều người đều biết Hoàng Anh Tuấn ngoài việc làm thơ còn là một đạo diễn điện ảnh. “Hai Chuyến Xe Hoa” “Đất Mẹ” và “Xa Lộ Không Đèn.” Hoàng Hải Thủy nhắc trong bài thơ tên những cuốn phim Hoàng Anh Tuấn đã thực hiện.
Sống và Chết ở Sài Gòn được viết theo kiểu tùy hứng, nhớ đến đâu viết đến đấy.
Chương ông viết về việc ông bỏ lỡ chuyến di tản năm 1975 là một chuyện cười ra nước mắt.
Khi đó, Hoàng Hải Thủy đang làm việc cho USIS tức Sở Thông Tin Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Trước ngày 30/4 ông Giám đốc USIS cho biết sẽ cho nhân viên đi nhưng con trai các nhân viên phải dưới 17 tuổi mới được đi theo bố mẹ. Nhân viên phàn nàn, ông nói ông phải làm theo lệnh của chính phủ Việt Nam, không thể làm trái luật pháp, cũng khhông thể nhận diện em nào trên hay dưới 17 tuổi. Ngay lúc đó Hoàng Hải Thủy thật thà không hiểu câu nói của ô. Giám đốc Alan Carter, ý ông muốn bảo “các anh cứ khai các con anh 16 tuổi chứ tôi có cần các anh chứng minh đâu“. Y hệt như câu thơ của T.T.K.H, “đến khi tôi hiểu thì tôi đã” muộn mất mấy chục năm rồi.
Trong cuốn sách Hoàng Hải Thủy có nhắc đến cái chết của các nhà văn Vũ Bằng, Nguyễn Mạnh Côn, nhà báo Minh Vồ, nhiều chi tiết về những năm đen tối, khốn khổ sau 1975 mà người dân miền Nam đã phải trải qua.
Được biết cuối năm 2002 nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội/Hà Nội đã cho xuất bản cuốn “Hai Mươi Nhăm Năm Một Vùng Tiểu Tuyết” ý muốn nói tiểu thuyết ở miền Nam, nội dung đề cập tới tiểu thuyết miền Nam từ 1887 tới Hồ Biểu Chánh rồi nhẩy vọt qua tiểu thuyết từ 1975 đến 2000 đề cao những tác giả cộng sản nhất là các tác giả từ miền Bắc vào. Tất cả văn học miền Nam ( từ 1954-1975 ) không có một dòng.
Nhà văn Đặng Trần Huân viết: “Với chủ trương rõ ràng của nhà cầm quyền cộng sản tại Việt Nam hiện nay như thế, thử hỏi nếu không có những bộ sách như Văn Học Miền Nam của Võ Phiến hay những tạp bút như Sống và Chết ở Sài Gòn thì sau này lấy đâu ra tài liệu về văn học và đời sống của văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hoà ? Ta phải cám ơn Võ Phiến, cám ơn Hoàng Hải Thủy đã giúp ta tài liệu để còn nhớ không quên những văn nghệ sĩ một thời sáng chói, dù nhớ cách nào đi chăng nữa.”
Các văn nghệ sĩ của chúng ta sống ở miền Nam trước 1975, cho đến nay, đã mất đi nhiều lắm. Người chết trong tù, chết trong nước, người chết già, chết bệnh, người chết nơi xứ lạ, quê người, số còn lại e rằng ít hơn số đã mất.
Và, trong số những người còn lại, Hoàng Hải Thủy là người duy nhất cho đến nay vẫn viết và viết được một cách đều đặn. Cách viết của ông gần như không có gì thay đổi, pha trộn văn chương với phóng sự, nửa đùa, nửa thật. Nhưng với cái nhìn sâu sắc của người đã ở ngoài cái tuổi “cổ lai hy”, đọc ông, người ta có cảm tưởng mọi sự trên đời đều hình như lúc nào cũng có ha mặt, một mặt bi thương và một hài hước.
Nói đến mọi sự trên đời, bởi vì, Hoàng Hải Thủy đề cập tới rất nhiều chuyện trong các bài viết của ông, bằng hữu, nghề nghiệp, kỷ niệm, tình yêu, chính trị, thời sự, tù đầy, cảm khái trước cái đẹp của thiên nhiên, thời tiết, kiếp sống tha hương.
Loạt bài mới nhất của ông cho đăng trên các báo chí gần đây, những phê phán chua chát của ông đối với chế độ cộng sản, sách báo của các tác giả ở trong nước và những người ông cho là đến bây giờ vẫn còn bị cộng sản mà mắt, được rất nhiều người đọc. Dù có cùng quan niệm với ông hay không, người ta vẫn thấy ở ông một tấm lòng thiết tha với đất nước, yêu cái đẹp, yêu sự thật.
Tập Đất Hồ Ngàn Năm của Hoàng Hải Thủy cho xuất bản mới đây gồm tám đoản văn: Huyền thoại Vương Chiêu Quân, Giang Tả Cầu Hôn, Rồng Nằm, ngựa chạy, Sự Tất Như Thử, Trăm Năm Binh Lửa, Thơ và Sự Khốn Cùng, Mơ Ngày Về Vẽ Lông Mày, Thiên Long Tình Sử.
Hoàng Hải Thủy cho biết ông bắt chước ông Lê Quý Đôn ghi lại những chuyện hay hay đọc được cùng với những suy luận, những nhận xét của mình.
Qua cuốn sách người ta được biết thêm một Hoàng Hải Thủy rất yêu thơ, đọc rất nhiều thơ Đường, dịch nhiều thơ Đường và còn có thể làm thơ bằng chữ Hán nữa.
Đoản văn về “Thơ và Sự Cùng Khổ” của Hoàng Hải Thủy gây nhiều xúc động trong lòng độc giả. Hoàng Hải Thủy viết đoản văn này sau khi đọc một bài thơ của Nguyễn Du trong “Bắc Hành Thi Tập”, chắc Nguyễn Du đã sáng tác trong chuyến đi sứ sang Bắc Kinh và qua nơi có ngôi mộ Đỗ Phủ.
Thi hào Đỗ Phủ trong một chuyến đi xa đã nhuốm bệnh và chết trên một con thuyền trên sông Tương. Vì nhà nghèo, vợ con không đưa được ngay di hài ông về quê nhà, phải tạm chôn ở Nhạc Châu. Bốn mươi năm sau, người cháu của Đỗ Phủ là Đỗ Tư Nghiệp mới rời được hài cốt Đỗ Phủ về Yểm Sư, mai táng trên núi Thú Dương, thuộc Hà Nam.
Tuy vậy ở Lỗi Dương vẫn có ngôi mộ giả của Đỗ Phủ do viên Huyên lệnh Lỗi Dương họ Nhất xây để tưởng niệm nhà thơ lớn.
Người Hoa ngày xưa thường xây những ngôi mộ giả các nhân vật họ kính trọng.
Đỗ Phủ thơ hay tuyệt thế nhưng suốt đời nghèo khổ, nghèo đến độ không nuôi nổi vợ con và thân mình, để đến nỗi một người con nhỏ của ông phải chết vì thiếu ăn.
Nguyễn Du đặt câu hỏi, ông (Đỗ Phủ) cùng khổ đến thế phải chăng vì thơ ? Phải chăng ta có thể quy tội làm ông khổ là thơ ?
Chính Đỗ Phủ khi nhớ tới Lý Bạch, nhớ tới Khuất Nguyên tự trầm mình ở sông Mịch La đã than thở: “Làm thơ hay như Khuất Nguyên, như Lý Bạch mà cuộc đời khổ sở đó là vì văn chương ghen ghét những người mệnh đạt. Văn chương không cho những người làm thơ được thành công trong đời.”
Bàn về thơ và sự cùng khổ Âu Dương Tu, một danh sĩ khác của Trung Quốc viết: “Không phải thơ làm người ta cùng khổ. Chính vì người làm thơ có cùng khổ thơ của người đó mới hay.”
Đỗ Phủ nói: “Văn chương ghét mệnh.”
Nguyễn Du cho rằng: “Làm gì có chuyện văn hương ghét mệnh. Làm gì có chuyện trời ghen với người.”
Nhưng trong truyện Kiều Nguyễn Du lại viết :
Lạ gì bỉ sắc, tư phong.
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Hoàng Hải Thủy viết: “Đây không phải một điều mâu thuẫn trong quan niệm về nhân sinh của thi sĩ. Không phải Nguyễn Du bất nhất trong quan niệm của ông về đời người. Ý thức của chúng ta rất phức tạp, đa dạng. Nguyễn Du tất nhiên là phức tạp hơn người thường.”
Hoàng Hải Thủy lấy trường hợp của ông để nói thêm về câu hỏi được nêu ra: Thơ có làm cho người làm thơ phải khổ sở không ?
“Viết tiểu thuyết từ năm 25 tuổi, có thể nói tôi suốt một đời yêu thương, gắn bó, sống chết với việc viết truyên. Với tôi, viết là hạnh phúc. Tôi đã sống để viết, viết để sống và trước năm 1975, tôi đã sống được với việc viết truyện của tôi. Trước 1975, ở Sài Gòn, Thủ đo Quốc Gia Việt Nam Cộng hòa của tôi, trong hai mươi năm, tôi đã sống để viết và đã viết để sống. Sau 1975, tuy biết viết là tù tội, tôi vẫn viết. Dù vậy tôi vẫn không thể trả lời thỏa đáng câu hỏi: “Thơ có làm cho người làm Thơ cùng khổ hay không ?”
Tôi thấy Nguyễn Du đúng khi thi sĩ nói: “Chữ tài liền với chữ tai một vần.”, “ngu si hưởng thái bình.”
Người có tài thường gặp tai họa. Chuyện đó tôi thấy thường xẩy ra trong đời và trong thời loạn.
Tôi chịu câu nói của Âu Dương Tu: “Thơ không làm cho người làm thơ cùng khổ. Chính vì có cùng khổ thơ mới hay.”
Ngộ Đạo Đất Trời
Ông Tư bị ung thư và biết chắc không thể sống lâu hơn sáu tháng. Ông bình tỉnh chờ cái chết, và vui vẻ sống những ngày ngắn ngủi còn lại, mà không bi ai, không sợ hãi. Ông muốn sau khi chết, gia đình làm đám tang theo ý riêng của ông. Bà vợ nghe dặn dò cách thức làm đám tang kỳ dị, thì nói giọng buồn, với đôi mắt cầu khẩn:
- Em nghe nói ngày xưa ở Huế, người đàn bà đầu tiên đi xe đạp, bị cả thành phố phỉ nhổ, xem như là Me Tây, như kẽ phá hoại phong hóa nơi đất thần kinh. Cho đến khi chiếc xe gắn máy hiệu "Velo solex" ra đời, người đàn bà đầu tiên xữ dụng, cũng bị xem như là thứ côn đồ, cao bồi du đảng, chẵng ai dám giao du thân mật. Đến như bà Thu, vốn là một công chúa, dù là con của vị phế đế, là người đàn bà có xe hơi, và lái xe hơi dầu tiên ở Huế, cũng bị thiên hạ nghi ngờ oan ức đến cái đức hạnh của bà, mà suốt đời không kiếm được một tấm chồng. Thế mà bây giờ, anh bảo em làm đám tang khác thiên hạ, không giống ai, thì chịu sao nỗi lời tiếu đàm của bà con, họ hàng!
Ông Tư cười, nhìn vợ và nói :
- Cái gì cũng phải có khởi đầu, có người làm trước, về sau thiên hạ thấy hay mà làm theo. Không ai khởi đầu cả, thì làm sao có tiền lệ để mà bắt chước? Thời trước nếu không có cô, bà nào dám tiên phong leo lên xe đạp, thì bây giờ đàn bà đi bộ cho rã cẳng ra. Ngày nay, còn có ai xì xầm khi thấy các cô, các bà đi xe đạp, xe gắn máy và lái xe hơi đâu?
- Sao anh bắt em phải làm cái việc khác đời, cho tội cho nghiệp em. Em đâu phải là hạng người thừa gan dạ, để có thể phớt lờ dư luận, khen chê của thế gian ?
Ông Tư trả lời với giọng rất bình tỉnh:
- Chỉ là ước mong nhỏ nhoi cuối cuộc đời của anh, mà em cũng không giúp anh được sao? Ai có nói gì, thì em cứ bảo đó là ý nguyện của anh trước khi chết. Mà có lẽ, mọi người đều biết anh muốn như vậy, em khỏi cần giải thích cho ai. Em không làm theo ý nguyện, anh chết không nhắm mắt, làm sao linh hồn siêu thoát? Như thế, em không sợ anh về quấy phá em mãi sao?
Nghe đến đây, thì bà Hoa tái mặt. Bà vốn sợ ma, sợ người chết, sợ bóng tối, sợ sự thiêng liêng. Bây giờ ông chồng còn sống, bà có thể lấn áp, bắt nạt ông được, chứ sau khi ông chết rồi, thì bà phải chịu thua, phải sợ ông. Ông Tư biết tính vợ, nên đem ma quỷ ra mà dọa trước, may ra sau khi ông chết, thì bà chịu theo lời ước nguyện của ông.
Nếu có ai biết ông Tư đang cận kề cái chết mà ái ngại cho ông, thì ông cười vui mà an ủi họ - chứ không phải là họ an ủi ông - rằng, nếu tin theo đạo Chúa, thì khi chết được về thiên đàng, ngồi dưới chân Chúa, sung sướng thế sao mà ai cũng sợ chết? Nếu theo đạo Phật, thì khi chết cũng sẽ về Tây Phương Cực Lạc, vĩnh cửu an bình, thì mừng vui chứ sao lại bi ai? Và nếu nói theo đức Đạt Lai Lạt Ma, thì cái xác thân ở trần gian, có thể ví như bộ áo quần ta mang, khi nó đã sờn cũ, xấu xí, rách rưới mục nát rồi, thì nên bỏ đi, mà mang bộ áo quần khác, đại ý nói đi đầu thai kiếp khác, mang thân xác mới hơn. Ông Tư nói với bạn rằng, thân xác ông bây giờ như cái quần đã mục mông, rách đáy, không còn che được cái muốn che, thì phải bỏ đi, không xài nữa là hơn. Bởi vậy, ông bình tỉnh đón chờ cái chết cận kề. Khi biết ông bị ung thư sắp chết, thì phút đầu tiên, ông lặng người đi. Nhưng rất mau sau đó, ông nghĩ ra rằng bây giờ chỉ còn hai con đường để lựa chọn. Một là rầu rĩ bi ai, than thân trách phận, oán thán trời đất, làm cho những ngày ngắn ngủi còn lại trở thành u ám, khổ sở, muộn phiền. Hai là bình tỉnh chấp nhận điều không thể tránh được với thái độ tích cực, lạc quan, vui vẻ. Làm cho những ngày còn lại thành tươi vui, tốt đẹp và ý nghĩa hơn. Khi ra đi sẽ không có chút tiếc thương vướng bận. Ông chọn con đường sau, nên không buồn bả, không hoang mang, không bi ai. Ông thấy cuộc đời bỗng đáng yêu hơn, đẹp hơn. Ông mở lòng vui vẻ đón nhận từng thời khắc, từng ngày còn lại. Mỗi sáng dậy, ông ca hát nhạc vui, và nói chuyện khôi hài cùng vợ con. Ông cố làm đẹp lòng mọi người, vì ông nghĩ rằng, sau khi nhắm mắt nằm xuống, thì dù có muốn tử tế với những người thân thương, cũng không còn làm được nữa. Ban đầu, vợ con, gia đình, ai cũng ái ngại, nên cư xử tế nhị, dè dặt, gượng nhẹ với ông. Về sau, thấy thái độ bình tỉnh của ông, mọi người quên đi chuyện ông sắp xa lìa cõi đời nầy, mà cư xử với ông không khác gì người bình thường. Đôi khi bị vợ gắt gỏng, bị con giận hờn, bị bạn bè to tiếng, ông không buồn giận, mà cảm thấy tức cười, và thấy thương họ hơn.
Ông Tư dặn thêm vợ rằng đừng đăng báo, không đăng cáo phó gì cả. Đừng làm rộn, bận trí bà con gần xa, buộc họ phải thăm viếng. Không nên để phiền ai phúng điếu chia buồn. Ông đưa tờ báo cho bà, và nói:
- Em nhìn vào mấy cái cáo phó nầy đây, đọc thấy buồn cười : Chúng tôi đau đớn báo tin cho thân bằng quyến thuộc: Ông Nguyễn Văn Mỗ đã được Chúa gọi về vào ngày , tháng, năm, hưởng thọ 82 tuổi... Được Chúa gọi thì phải vui mừng, sung sướng, chứ sao lại đau đớn báo tin ? Về với Chúa là khổ lắm sao? Có đi tù cải tạo đâu mà đau buồn? Đáng ra phải cáo phó bằng câu : "Chúng tôi hoan hỉ báo tin cùng thân bằng quyến thuộc rằng, Ông Nguyễn văn Mỗ đã được Chúa gọi về vào ngày, tháng, năm,..". Và đây, một cáo phó khác, cũng "khóc báo" với thân bằng quyến thuộc là thân nhân chúng tôi đã về cõi Phật. Về cõi ma vương quỷ sứ mới khóc báo, chứ về cõi Phật, sướng quá, mà khóc cái nỗi gì?
Bà Hoa nhăn mặt nói :
- Anh đừng chi li bắt bẻ từng câu từng chữ . Đó là một lối nói thôi. Vì có ai biết chắc đi về đâu mà dám vui, buồn. Nhưng cứ cho là về thiên đàng, cực lạc, về với Chúa Phật, cho người sống an lòng. Không lẽ báo tin ông nội tôi được quỷ sứ rước đi rồi. Dù sống có gian ác đến đâu, khi chết cũng có quyền hy vọng về nơi lạc phúc, bình an.
Ông Tư lắc đầu nói tiếp :
- Em có thấy ông cụ Trương nằm liệt giường hai năm, không cử động được, như bị hành hình, cả nhà lao đao lận đận chăm sóc. Hai vợ chồng bác Thu con cụ, vì khổ nhọc quá, gây gỗ nhau, gia đình suýt tan vỡ. Khi cụ mất, cả nhà thở phào sung sướng cho cụ, và cho mọi người trong gia đình. Thế mà khi cáo phó, cũng đau đớn báo tin. Bà con bạn bè đăng báo chia buồn, cũng là vô cùng thương tiếc, vô cùng đau đớn. Tang gia mừng, mà bà con lại chia buồn. Bà con muốn cụ nằm đó mãi, để khổ thân cụ, khổ con cháu cụ lâu dài hơn nữa hay sao? Hay là họ không phải khổ cực chăm sóc cụ, không phải đau lòng khi thấy cụ nằm liệt ra đó, nên cụ chết họ buồn đau? Bỡi thế, khi anh chết, anh không muốn cáo phó, không muốn ai phân ưu chia buồn. Chết cũng là một tiến trình của tự nhiên của trời đất, thì có chi mà phân ưu, chia buồn. Có ai sống mãi được?
Bà Hoa không đồng ý, nói lớn:
- Mất mát nào mà không đau buồn? Dù biết chắc rằng, ông cụ Trương chết là thoát được khổ đau đang hành hạ. Nhưng khi cụ mất, cả nhà cũng buồn vì mất cụ, mà vui vì cất đi được gánh nặng, bớt được mối thương tâm khi thấy người thân yêu của mình khổ cực nằm đó.
- Thế thì khi cụ mất, chắc chắn cả nhà vui nhiều hơn buồn, mừng nhiều hơn tiếc. Không ai dám nói mừng khi thấy thân nhân mình chết, vì sợ thiên hạ hiểu lầm, tiếu đàm. Thế thì đừng giả dối, nói là đau đớn, tiếc thương, mất mát. Mất cái gì mới ngại, chứ mất cái khổ đau hành hạ, thì cầu cho mất sớm, mất đi càng nhiều càng mau, càng tốt. Anh nghe nói người Lào có quan niệm rất hay về lẽ sống sự chết. Khi trong gia đình có người chết, họ không bao giờ khóc lóc rầu rĩ, mà bình tỉnh an nhiên, chắc rằng họ đã thấm nhuần cái lẽ thâm sâu của Phật giáo, biết chết là giải thoát, rũ sạch nợ đời.
Bà Hoa hỏi:
- Hay là đời sống dân họ đau khổ lầm than quá, nên chết đi là khỏe chăng? Chết là hết lo cơm áo, khỏi đói khát bệnh tật?
Bà Hoa nghĩ là ông Tư không thương bà đủ nhiều, nên cứ thản nhiên trước cái chết cận kề. Bà không biết làm sao chịu nỗi cảnh cô đơn khi sống thiếu ông trên đời. Ông Tư thường nói với bạn bè rằng, rồi ai cũng phải chết. Không chết sớm thì chết muộn. Không chết lúc ba bốn mươi, thì bảy tám chín chục tuổi cũng phải chết. Cuộc đời, có thể ví như một đêm, không đi ngủ lúc chín mười giờ, thì mười hai giờ, một giờ sáng cũng phải đi ngủ. Nếu đêm không vui, thì tội gì không đi ngủ sớm cho khỏe, mà phải thức để nỗi buồn gặm nhấm. Nếu đêm nay đau răng thì cố thức làm gì, ngủ sớm đi mà quên đau. Nhiều người sống với thái độ như sẽ không bao giờ chết, cho nên tích tụ của cải, bao nhiêu cũng không vừa, làm nhiều điều không đúng, không phải. Bỡi vậy , khi biết mình sắp chết, thì hốt hoảng khóc lóc, bi ai, mà vẫn không tránh được. Nhiều vị vua chúa đời xưa cũng muốn sống đời, nên uồng thuốc trường sinh, mà ngộ độc chết sớm. Còn gia đình, thì thời gian đầu thấy thiếu vắng, mất mát, nhưng rồi sau cũng quen dần, vì phải lo lắng nhiều công việc khác trong một cuộc sống bình thường, không còn có thì giờ mà tiếc thương, mà bi ai. Phần người chết, buông tay là xong tất cả, bình yên vĩnh viễn. Không còn phải lo công việc làm ăn, lo cơm áo gạo tiền, không còn lo làm giàu, lo tích trữ của cải, không còn ghen tuông, giận hờn, không còn phải thức khuya học hành, hoặc viết văn làm thơ mệt nhọc, không còn theo đuổi mộng lớn mộng bé, không ưu tư dằn vặt vì thời thế, vì đất nước, quê hương... Bỏ hết. Tất cả cũng chỉ là tro bụi. Thiên hạ còn ngưỡng mộ, còn khen ngợi những anh hùng liệt sĩ trong lịch sử, nhưng chính các người nầy có còn biết gì nữa đâu? Cũng là một mớ xương khô mục nát, đâu có nghe, có cảm xúc, hân hoan, vui thú gì. Có ca ngợi, nhắc nhở thì để các thế hệ con cháu về sau noi gương người đi trước mà dìn giữ quê hương, mà sống cho đàng hoàng, cho nên người, đừng làm việc xấu xa đê tiện.
Ông Tư dặn vợ làm một đám tang đơn giản, không mở nắp hòm cho bạn bè thăm viếng nhìn mặt. Hát nhạc vui trong tang lễ, không khóc lóc, mà vui cười tự nhiên. Sau khi thiêu xong thì gởi tro xương về quê nhà, đừng xây mộ, đừng đắp bia. Bà Hoa thì chỉ muốn làm giống như tất cả mọi người. Ai làm sao mình làm vậy trong khả năng tài chánh của gia đình. Bà không muốn làm khác ai, để họ có thể nghị dị, bàn ra nói vào, thêm thắt thêu dệt. Nhưng bà cũng không nỡ từ chối ước nguyện cuối cùng của ông. Hai người con của ông bà, đứa con gái đầu thì tán thành, muốn làm theo ý kiến cũa bố, đứa con trai phản đối, vì sợ thiên hạ chê cười. Ông nói với con : Con nên vì bố, không nên vì thiên hạ. Ông Tư xin nghỉ việc, đi thăm bà con họ hàng, đến đâu ông cũng nói chuyện khôi hài, vui vẻ, nồng nàn với bạn bè bà con, thức đêm, uống rượu, hát hò, ngâm thơ, ăn uống không kiêng cữ. Theo ông, thì kiêng cũng chết, mà không kiêng cũng chết, chết sớm hơn vài tháng, vài tuần, cũng chẵng nghĩa lý gì. Còn chẵng bao lâu nữa, kiêng cử làm chi cho khổ thân, cho đời mất đi một phần ý vị. Ông cho rằng, đã sống đến trên năm mươi tuổi là quá lời, quá đủ, không có gì để nuối tiếc. Thấy ông tươi vui, người biết ông có bệnh sắp chết, cũng quên mất là ông đang bệnh, người không biết bệnh trạng của ông, thì ông cũng không muốn nói ra làm gì. Ông đưa bà và hai con đi chơi một chuyến trên du thuyền. Ông tham gia các cuộc chơi tập thể trên du thuyền như hát hò, nhảy múa ca hát, tham gia các buổi hòa nhạc, uống rượu, cho đến khi mãn cuộc. Ông vui vẻ, bình tĩnh đến nỗi nhiều khi bà quên mất là vợ chồng không còn bên nhau bao lâu nữa.
Ông Tư chuẩn bị tinh thần cho vợ, cho con, để chấp nhận một sự thực không tránh được. Chấp nhận với sự bình tỉnh, sáng suốt, không vui vẻ nhưng không bi ai. Có người nói cho ông Tư nghe về kinh nghiệm của những kẽ đã chết thật rồi, mà sống lại nhờ sự mầu nhiệm nào đó. Rằng khi chết, thì thấy mình đi vào một vùng ánh sáng lạ, rất hân hoan sung sướng, khoái cảm tràn trề. Bỡi vậy, nên người đã trãi qua cận tử, thì không cón sợ chết nữa, mà đón nhận như là một ân huệ của trời đất. Ông Tư không tin chuyện cận tử, vì ông vốn con người thực tế và lý trí, cái gì chưa kiểm nghiệm được thì chưa tin. Nhưng cho rằng, nếu được như vậy thì càng tốt. Nếu không được vậy, thì cũng thôi.
Cuộc đời ông Tư đã trãi qua nhiều giai đoạn sướng khổ. Chưa xong đại học thì bị kêu đi lính, tham dự những trận chiến kinh hoàng, ngày đêm trấn đóng nơi ma thiêng nước độc, đã từng bị bắt làm tù binh, đã vượt ngục. Khi miền Nam thua trận, phải đi tù nhiều năm. Đã sống trong chế độ hà khắc kìm khớp, bữa đói bữa no. Đã đi qua biển tìm tự do. Và ước nguyện rằng, được sống thêm một ngày trong xứ tự do, thì có chết cũng không có gì ø tiếc nuối. Thế mà ông đã sống thêm được nhiều năm trong một xã hội có tự do, dân chủ. Con người được pháp luật bảo vệ, tôn trọng. Ông biết ơn trời đất đã cho ông cái phần thưởng vô cùng quý giá đó trong nhiều năm qua.
Ông T
ư chỉ là một người bình thường, có đủ cả tốt xấu. Có chút rượu chè, nhưng không ghiền và say sưa. Khi vui bạn vui bè, thì ai đến đâu, ông đến đó. Ông hòa đồng cùng đám đông. Thỉnh thoảng ăn nhậu cùng bạn bè, nói chuyện trời đất, vui chơi. Cờ bạc ông cũng có chút chút, từ xì phé, bài cào, cờ tướng, cờ vua, đi sòng bài. Nhiều khi ông xoa mạt chược cùng bạn bè, một mạch từ sáng thứ bảy cho đến chiều chủ nhật mới thôi, ai về nhà nấy để chuẩn bị cho ngày đi làm vào thứ hai. Ông không mê, không lậm, biết dừng lại đúng lúc, không phải khi thua cờ bạc thì nóng mặt cố gỡ, và gỡ cho đến bán nhà. Trai gái ông cũng có, nhưng không làm hại đến ai, biết giới hạn của cuộc chơi. Không làm khổ vợ con, không gây khổ đau cho người khác phái. Thuốc lá, cà phê hàng ngày, ông không ghiền, nhưng cũng không bỏ hút thuốc. Ông Tư còn có chút máu nghệ sĩ . Ông thổi kèn hắc tiêu rất đạt, nên lâu lâu theo người bạn Mỹ gốc Phi Châu đến các hộp đêm thổi kèn chơi, không lấy thù lao. Ông có chân trong một ban nhạc tài tử, lâu lâu đi trình diễn ở các nơi công cọng. Ông Tư có sáng tác vài bản nhạc, nhưng không ai hát, và hát không ai nghe, không ai khen, nên ông không sáng tác nữa. Ông Tư cũng thích đọc truyện, đọc thơ. Ông cũng có làm thơ, nhưng bà Hoa là vợ ông, khuyên đừng để cho ai biết những bài thơ đó do ông viết, vì người sợ người ta cười lây cả bà. Ông nghe vợ chê, nãn lòng, không muốn làm thơ nữa. Tuy nhiên, có nhiều khi cao hứng, không cầm được cảm xúc, ông cũng làm thơ chơi, và dấu kín, vì sợ vợ đọc được chê bai .
Một người bạn của ông Tư cũng thích thơ phú, thường cùng ông ngâm vịnh khi nhàn tản, một hôm nghe ông nói về quan niệm cuộc đời, lẽ sống và cái chết. Ông nầy ngồi nghe mà đờ ra, và nói:
- Bác chờ chút, tôi lục tìm bài thơ của một ông bạn tôi, sao mà ý tưởng của bác với ông kia trùng nhau, như cùng học một sách. Kỳ lạ ghê. Lần đầu đọc bài thơ nầy, tôi khoái quá, phải xin ông bạn cho tôi mượn, chạy ra phố, chụp lấy một bản, còn cất giữ đây.
Ông Tư cầm lấy bài thơ dài, vừa đọc vừa gật gù, đọc xong ông vỗ đùi sung sướng, nói:
- Tuyệt. Hoàn toàn giống hệt suy nghĩ của tôi. Bác đem tôi đến giới thiệu tác giả bài thơ nầy đi. Bác xem đấy, đâu phải một mình tôi suy nghĩ khác đời đâu. Có nhiều người cùng một ý nghĩ, nhưng không dám nói ra, không dám thi hành. Đúng như cụ Nguyễn Công Trứ có viết là chỗ ta ngồi hiện tại, người xưa đã ngồi rồi. Tôi dốt chữ Hán, nhớ mang máng hình như là Ngã kim nhật tại tọa chi địa, cổ chi nhân tằn tiện ngã tọa chi . Mấy ông Tây cũng từng viết là dưới ánh mặt trời nầy, không có cái gì mới cả. Những suy nghĩ của tôi về cái chết, sự sống, người xưa cũng đã viết nhiều, tàng ẩn bàng bạc trong kinh Thánh, kinh Phật. Ngày xưa khi còn nhỏ, bố mẹ tôi gởi tôi vào học nội trú trường đạo Thiên Chúa, mỗi ngày mỗi đêm đều đọc kinh Thánh. Hồi đó tôi không hiểu hết ý nghĩa của kinh, tôi tưởng lầm đọc kinh là ngày đêm kêu gào sự xót thương của Chúa. Tuổi trẻ ngu muội và ngông cuồng nên tôi không có cảm tình với chuyện kinh kệ, nhưng khi lớn lên, đọc lại kinh Thánh, tôi thấy hay quá ông ạ. Lời kinh an ủi, vỗ về con người trong khổ đau, trong bước đường hoạn nạn, khi gặp cam go chìm nổi, tìm được yên bình để chịu đựng mà hy vọng qua khỏi nghịch cảnh .
Ông bạn cười, nói:
- Tôi thấy nhà bác thờ Phật, mà lại nói chuyện Chúa rành rẽ. Bác có theo đạo Cao Đài hay không?
- Không phải đạo Cao Đài, nhưng Phật Chúa gì cũng hoan nghênh. Bà xã tôi vẫn thường đi chùa. Ngày xưa khi còn trong quân đội, đóng quân giữa núi rừng, mẹ tôi gởi cho mấy bộ kinh Phật, không có sách vở, báo chí, buồn mà đọc chơi. Không có tâm tu hành, nhưng đọc mãi, nó thấm vào trong tư tưởng lúc nào không hay. Bỡi vậy, tôi có quan niệm rất rõ ràng về sự sống, cái chết, và bình tỉnh đón nhận như một lẽ thường của trời đất, tạo hóa.
Hai người đang nói chuyện, thì có bà bạn ghé chơi. Bà nầy yêu cầu ông Tư và bạn ông đóng tiền để mua đất chôn cất và xây mộ cho một người đồng hương Việt Nam nghèo mới chết. Gia đình không đủ tiền để làm ma chay và mua đất chôn ở nghĩa trang. Ông Tư móc ví, đóng ba chục đồng, và nói:
- Kêu gọi thì tôi đóng tiền, chứ thực tình trong lòng tôi nghĩ khác. Chết thì hỏa thiêu là đẹp nhất, tốt nhất và lại vệ sinh. Chôn xuống đất cho dòi bọ nó rúc rỉa, cho sình thối chứ có được gì. Một vạn cái xác, mới có được một cái không thối rữa, mà cũng khô đét nằm nhăn răng ra, hôi hám xấu xí. Nằm chật chội trong tối tăm âm u, dưới đất lạnh lẽo, chứ có sung sướng gì đâu. Rồi lâu ngày, thịt da cũng rữa, xương cũng mục. Được bao nhiêu năm? Mà cứ nghĩ kỹ xem, nếu mỗi người chết phải có một nấm mồ chừng hai thước vuông, thì trên thế giới nầy từ triệu năm trước đến nay, và nhiều triệu năm sau nữa, tỉ tỉ người đã chết và sẽ chết, lấy đâu ra đất mà chôn. Không lẽ cả thế giới nầy chẵng còn một tấc đất mà trồng trọt, nhịn đói chết hết sao? Nhiều xứ văn minh hiện nay, người ta thiêu xác. Bên Nhật, bên Tàu, Ấn Độ và nhiều xứ khác nữa, người chết được hỏa thiêu. Đạo Phật chính tông, thì các tăng ni đều được hỏa táng, nhưng những người theo đạo Phật nửa vời, thì lại chôn cất. Bày đặt ma chay linh đình cho thêm tốn kém.
Bạn ông Tư hỏi:
- Có phải người theo đạo Chúa không dám hỏa táng? Nghe đâu họ tin có ngày phán xét cuối cùng, và được sống lại. Bỡi vậy nên phải giữ thân thể, không muốn thiêu tan thành tro bụi.
Ông Tư cười lớn nói:
- Chờ đến ngày phán xét cuối cùng, thì sắt đá cũng đã mũn ra tro bụi, nói chi đến cái thân xác mong manh? Có lẽ những kẽ mê tín, kém hiểu biết, diễn dịch sai ý nghĩa của kinh Thánh chăng? Mà dù cho xương cốt có còn, thì cũng chỉ là bộ xương cũ mục, làm sao mà sống lại trên bộ xương đó được?
- Nghe đâu các nghĩa trang cũng chỉ bán đất trong vòng một trăm năm thôi- Bà bạn bàn thêm - Sau một trăm năm thì không biết họ có đào lên, đem chôn ở hố tập thể, hoặc đem thiêu đốt đi chăng? Nhưng khi mua đất chôn, thân nhân, không nghe ai nói đến điều nầy. Mà dù cho chủ nghĩa trang có hứa miệng là bán đất vĩnh viễn, thì sau một trăm năm, họ đào bỏ đi, cũng chẵng ai hoài công đi kiện. Lời hứa trăm năm trước con cháu không nghe, không còn chứng cớ, cả người hứa hẹn lẫn người nghe hứa hẹn, đã chết từ lâu. Mà có lẽ con cháu cũng vì lo làm ăn, sinh kế, đi tứ tán, không ai còn đoái hoài chi đến mấy ngôi mộ của tiền nhân trong các nghĩa trang đây đó.
Bạn ông Tư nói:
- Trong phim tài liệu về Tây Tạng, ở đó đạo Phật là quốc giáo, ông Phật sống cai trị dân như vua. Khi có người chết, thì họ quàng dây kéo lê lên núi, sau đó mấy ông chuyên môn chặt xác chết ra nhiều khúc, và ném cho chim kên kên ăn. Trông khiếp lắm. Không biết họ làm như thế, có đau lòng thân nhân ? Rõ như câu nguyền rủa ở xứ mình là chim tha quạ rỉa.
- Chẳng có đau lòng chi cả - Ông Tư bàn thêm - Bên đó toàn đá núi cứng. Muốn đào đá ra làm huyệt mộ cũng quá cực khổ. Thân nhân người chết, dẫu có muốn chôn cất đến mấy cũng không ai làm nỗi việc đó. Cho chim ăn là tiện nhất. Có điều, không biết làm sao chim kên kên không lây bệnh người chết, biết bao nhiêu là bệnh nan y, vi trùng, vi khuẩn. Bỡi thế, nên tôi cho hỏa thiêu là sạch sẽ và tiện lợi nhất.
Câu chuyện bàn rộng đến phong trào Việt Kiều về quê xây lăng mộ cho thân nhân, cho tổ tiên, đến nỗi có nhiều làng thi đua xây cất cho nguy nga, cho to lớn. Thấy lăng mộ người khác lớn hơn, thì đập cái cũ ra, xây lại cho lớn, cho đồ sộ hơn. Có nơi người ta đặt tên là Làng Ma, vì toàn cả lăng mộ. Ông Tư cho rằng, xây lại mồ mả cho tổ tiên để báo hiếu, cũng là một hành động tốt, không có chi sai trái. Nhưng thi đua nhau xây và xây cất có tính cách phô trương thì chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Liệu những phần mộ kia đứng vững được bao nhiêu năm, và còn được con cháu chăm sóc đến bao giờ? Rồi cũng có ngày trở thành hoang phế, chẵng ai đoái hoài đến, mà mục rữa với thời gian. May ra, những nơi thiêng liêng như đền quốc tỗ Hùng Vương, lăng mộ các bậc anh hùng giữ nước, dựng nước, mới được con cháu tiếp tục tu sửa chăm nom. Thế mà cũng có còn tả tơi, tàn tạ, không ai chăm nom. Huống chi mình, là thứ thường dân, vô danh tiểu tốt, chưa làm được gì. Chưa kể những kẽ là tội đồ của dân tộc, bày đặt xây lăng ướp xác, như các ông lảnh tụ cọng sản từ Âu sang Á, từ từ rồi mồ mã cũng bị phá bỏ , san bằng. Bỡi thế, ông Tư dặn vợ con đừng xây mộ, tạc bia cho ông làm chi.
Ông Tư mượn bài thơ của ông bạn về đánh máy và sắp xếp lại cho đẹp, in ra nhiều bản, phóng ra một bản lớn, để dành khi ông chết sẽ sử dụng.
Chỉ bốn tháng, sau khi được báo tin ung thư, ông Tư qua đời mà không đau đớn nhiều, không dùng hóa học trị liệu trước khi chết. Có người mách cho ông nhiều loại thuốc ngoại khoa, ông cũng dùng thử. Trong giới bạn bè thân tình, có người nói là ông Tư đã tự chọn lấy con đường ra đi nhẹ nhàng, không để bệnh hoạn hành hạ trước khi chết. Ông Tư thường đùa rằng, còn nước thì còn tát, biết là dù có tát thì thuyền cũng chìm, thì quẳng gàu đi cho đở mệt trước khi thuyền chìm.
Bà con bạn bè đến viếng tang ông Tư tại nhà, khi bước vào cỗng, họ cố sửa soạn lại bộ mặt cho có vẽ buồn rầu, nghiêm nghị, để hợp với cảnh tang ma, dù trong lòng họ không có chút bi ai nào. Nhưng họ nghe có tiếng nhạc vui đang rộn rã vẵng ra từ bên trong, hòa với tiếng nhạc là tiếng cười vui vang vang, tiếng ồn ào. Người nào cũng giật mình, vội vả xem kỹ lại số nhà, sợ đi lầm .
Vào nhà, mỗi khách viếng tang được phát một tờ giấy màu hồng, bên trên ghi bài thơ Khi Tôi Chết . Bài thơ cũng được chụp phóng lớn, dán trên tấm bảng che kín cả một bức tường. Khách và chủ đang vui vẻ chuyện trò, cười đùa. Không thấy quan tài ông Tư đâu cả. Trên bệ thờ có cái ảnh ông Tư phóng lớn, miệng cười toe toét, tóc bù gió lộng. Trước tấm ảnh có cái hộp vuông chứa tro xương của ông Tư. Tiếng nhạc vui vang vang từ máy hát. Bài thơ in đậm nét:
Khi Tôi Chết
Khi tôi chết, viếng tang đừng buồn bả
Cười cho to, kể chuyện tếu vui đùa ,
Trong sáu tấm biết chắc tôi hả dạ,
Lên tinh thần, ấm áp buổi tiển đưa,
Nếu làm biếng, cứ nằm nhà thoải mái
Viếng thăm chi, vài phút có thêm gì ?
Mắt đã nhắm. Lạnh thân. Da bầm tái .
Dẫu bôi son, trát phấn cũng thâm chì .
Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó,
Ai thay da mãi mãi sống trăm đời .
Kẽ trước người sau, xếp hàng xuống mộ
Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi .
Nếu có khóc, khóc cho người còn lại,
Bỡi từ nay thiếu vắng nỗi đầy vơi .
Cũng mất mát, dáng hình , lời thân ái
Tựa nương nhau, hụt hẫng giữa đất trời .
Đừng đăng báo, phân ưu lời cáo phó
Chuyện thường tình, phí giấy có ích chi ?
Gởi mua gạo, giúp người nghèo đói khó
Dịu đau buồn những kiếp sống hàn vi,
Trỗi nhạc vui cho người người ý thức,
Cuộc nhân sinh sống chết cũng tương đồng,
Khi nằm xuống, xuôi tay và nhắm mắt
Thì đau buồn hạnh phúc cũng hư không .
Đừng xây mộ, khắc bia ghi tên tuổi
Vài trăm năm hoang vắng, chẳng ai hoài .
Vũ trụ vô cùng, thời gian tiếp nối,
Tỉ tỉ người đã chết tự sơ khai
Khi tôi chết đừng ma chay đình đám,
Hỏa thiêu tàn, tro xác gởi về quê
Dẫu bốn biển, cũng là nhà, bầu bạn
Trong tôi còn tha thiết chút tình mê
Thì cũng C, H, O, N kết lại
Nắm tro xương hài cốt khác nhau gì
Nhưng đất mẹ chan hòa niềm thân ái
Cho tôi về, dù cát bụi vô tri .
Khi đọc xong bài thơ, có người thì mĩm cười, có người vui hẵn, và nói chuyện oang oang. Họ cho rằng bài thơ đã nói hết ý nguyện của người chết. Người chết không muốn bạn bè buồn rầu, thương tiếc, thì việc chi mà lại làm bộ, gượng gạo tạo ra nét buồn khổ trên mặt . Vợ con người chết cũng không tỏ vẽ buồn rầu, mà cũng không hớn hở. Không một tiếng khóc lóc, thở than. Nhạc vui vẫn dồn dập phát ra từ máy vang dội. Khi khách đã đến chật nhà, và đúng giờ cử hành tang lễ, bà vợ ông Tư và đứa con trai mang áo quần trắng đứng chắp tay bên bàn thờ, cô con gái đứng bên tấm ảnh ông, cầm máy vi âm nhoẻn miệng cười và nói:
-Thưa các cụ, cô bác chú dì, bà con bạn bè thân thiết xa gần, chúng tôi xin cám ơn quý vị đã có lòng đến viếng tang Ba chúng tôi. Tang lễ nầy làm theo ý nguyện của người quá cố. Không làm tang lễ theo tục lệ bình thường, vì sợ trái với ước vọng cuối cùng của Ba chúng tôi. Chúng tôi xin nhận lấy mọi lời trách móc nếu có từ bà con bạn bè. Ba chúng tôi đã bình tĩnh và vui vẻ đón cái chết như một sự trở về không tránh được . Trong những ngày cuối của cuộc đời, Ba chúng tôi rất vui, chuẩn bị kỹ cho gia đình và cho chính ông. Ông đã dặn dò chúng tôi, không nên khóc lóc, không nên buồn rầu, vì sự thực không có chi đáng buồn cả. Ông dặn chúng tôi vặn cuốn băng sau đây cho bà con cô bác nghe.
Người con gái đến bên bàn thờ, bật máy , có tiếng ông Tư cười hăng hắc vui vẻ, làm một số người không cầm được, cũng cười theo. Một vài bà yếu bóng vía sợ xanh mặt. Sau tiếng cười chào, thì có tiếng ông Tư dọc bài thơ dán trên tường, giọng đọc rất chậm rãi, rõ ràng, như đang nói chuyện thủ thỉ với bạn bè. Mọi người im lặng lắng nghe, người thì nghiêm trang, người thì mĩm cười. Giọng Huế của ông Tư đọc chậm và ngân dài những đoạn ông đắc ý : Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó . Ai thay da mãi mãi sống muôn đời, Kẽ trước người sau xếp hàng xuống mộ, biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi. Cuối cùng, có một tràng cười ha ha của ông Tư để chấm dứt bài thơ. Sau bài thơ, có ba ông người Mỹ, hai ông da đen, một ông da trắng, cầm đàn và kèn trỗi lên mấy khúc nhạc vui, các ông nhún nhẫy uốn éo, nhiều lúc dậm chân xuống sàn. Ba ông cùng lúc lắc, làm hàng một, đi quanh phòng khách, như múa lượn trước bàn thờ ông Tư. Những ông nầy, là bạn chơi nhạc với ông Tư tại các quán ca nhạc ban đêm.
Bỗng nhiên, bà chị ông Tư nhào ra, lăn lộn trước bàn thờ mà khóc lóc gào lớn:
- Cậu Tư ơi là cậu Tư. Chúng nó đem cái chết của cậu ra mà bêu rếu họ hàng. Vợ cậu muốn đi lấy chồng sớm nên bày ra cái cảnh chướng tai gai mắt nầy. Con cậu cũng là thứ bất hiếu bất mục, cha chết mà không có một giọt nước mắt, còn cười nói lung tung. Chỉ có tôi là chị câu, thương cậu thật tình thôi, ruột đứt lòng đau, nên khóc than đây.
Ông chồng chạy đến ôm bà kéo ra, và nhỏ nhẹ giãi bày. Bà vùng vằng và càng khóc lớn hơn, xỉ vả bà Tư những câu tục tỉu nặng nề. Bà Tư ôm mặt khóc lóc. Bà chị chồng nói lớn: Mai mốt chúng mày chết, bà đến phóng uế lên hòm chúng mầy. Nhiều người bà con đến phụ ông chồng lôi bà chị ông Tư ra xe chạy đi.
Khách viếng tang lảng ra, và có người lẵng lặng ra về không chào hỏi ai, vì sợ gia quyến ngượng ngùng. Cô con gái ông Tư đứng ra xin lỗi mọi người vì chuyện không may, không vui vừa xẫy ra.
Một bạn thân của ông Tư, quen nhau từ thuỡ trung học, đại diện bà con, đến trước bàn thờ, vỗ vào hộp tro xương, cười ha hả và nói:
- Tư ơi, ông là số một rồi đó, chả có ai bằng ông. Ông hiểu tận tường lẽ huyền vi của tạo hóa. Sống cũng vui, mà chết cũng vui. Sống cũng dám làm, mà chết rồi cũng dám làm, và làm được. Tôi cũng ước mong rằng, sau khi chết, vợ con làm cho tôi một đám tang như thế nầy, thì vô cùng sung sướng. Tưởng ông nói đùa chơi, ai ngờ làm thật.
Một vị mục sư là bạn thân của gia đình, cũng đến trước bàn thờ, và đoan chắc rằng bây giờ ông Tư đã được về với Thiên Chúa. Ông cho rằng thái độ của ông Tư trước cái chết rất sáng suốt, đáng khâm phục, và đáng được mọi người noi theo. Một vị sư già, có bà con họ hàng với ông Tư, đã từng viết nhiều sách Phật và rao giảng đạo từ bi, nói trước linh vị :
- Bần đạo không cần đọc kinh cầu siêu cho thí chủ. Bỡi linh hồn thí chủ đã thực sự siêu thoát trước khi chết. Thí chủ không vướng bận cõi trần, không hệ lụy vào cái thân xác tạm bợ. Thanh thản ra đi như kẽ đi chơi, thong dong, dễ dàng. Thí chủ đã hiểu thấu đáo cái lẽ vô thường trong đạo pháp.
Mọi người ra về, lòng nhẹ nhàng, tưởng như đi trong mơ. Từ phía nhà ông Tư, còn vang vọng nhạc vui đưa tiển đám tang khách.
Sau tang lễ, bà Hoa vợ ông Tư thở phào. Bà vui mừng vì đã làm được đúng lời căn dặn của chồng mà không bị tai tiếng. Bà chỉ sợ tai tiếng thôi. May mắn, đa số bà con đều tán thành nghi thức tang lễ, và nếu không tán thành, họ cũng im lặng, chỉ có bà chị ông Tư gây rắc rối thôi.
Nắm tro xương của ông Tư được vợ con gói kỹ bốn năm lớp, bỏ vào hộp bằng chất nhựa dày, để cho khỏi vỡ, rồi gởi bảo đảm về Việt Nam. Chiếc xe chở hàng của hãng vận chuyển bị tai nạn trên đường ra phi trường. Xe rơi từ cầu xa lộ cao ba từng xuống đất, thùng xe vở nát, hàng hóa tung vung vãi, rách nát, cháy xém. Anh tài xế gảy hết tay chân và xương sống, hấp hối. Người ta đồn rằng anh tài xế buồn vì bị vợ cắm sừng, đã uống rượu say xỉn, không điều khiển được tay lái. Cái hộp tro xương của ông Tư bị rách và cháy xém mất một phần địa chỉ, được gởi lầm đi ngao du qua xứ Nambia bên Phi Châu. Cô con gái ông Tư hỏi tin tức bên nhà hàng ngày, qua liên mạng máy vi tính, về cái hộp tro xương, mãi đến hai ba tháng vẫn chưa nhận được. Bà Hoa viết nhiều thơ khiếu nại hãng chuyên chở. Họ trả lời là sẽ bồi thường cho bà hai trăm sáu mươi tám đồng. Bà Tư khóc lóc, thuê luật sư đâm đơn kiện. Sáu tháng sau, nhờ còn có địa chỉ người gởi, nên cái hộp tro xương được hoàn trả cho gia đình, với ghi chú là không có địa chỉ người nhận. Bà Hoa mừng ôm cái hộp mà khóc ròng.
Lần nầy, bà Hoa quyết định tự tay đem hộp tro xương ông chồng về tận Việt Nam. Bà sợ thất lạc thêm lần nữa, thì tấm lòng hoài.
Một công ty vừa sản xuất thành công máu nhân tạo từ tế bào dây rốn theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng Mỹ.
Những túi máu thật của Tổ chức Chữ thập đỏ Mỹ.
Ảnh: wordpress.com.
Physorg đưa tin công ty Arteriocyte ở bang Ohio, Mỹ sản xuất máu nhân tạo cho Cơ quan quản lý các dự án nghiên cứu cao cấp của Bộ Quốc phòng Mỹ (DARPA). Cơ quan này đã tài trợ 1,95 triệu USD cho công ty Arteriocyte ở bang Ohio vào năm 2008 để nghiên cứu máu nhân tạo.
Mới đây Arteriocyte đã sản xuất thành công những mẻ máu đầu tiên. Họ vừa đưa các mẫu máu O lên Cục thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) để đánh giá và kiểm tra độ an toàn. Tế bào máu nhân tạo có đặc tính hoàn toàn giống so với tế bào máu thường. Phát minh mới có thể chấm dứt vĩnh viễn tình trạng thiếu máu tại các bệnh viện, trên chiến trường và những vùng hẻo lánh.
Đầu tiên các nhà khoa học lấy tế bào gốc ở dây rốn người - thứ thường bị bỏ đi sau những ca sinh. Họ biến tế bào gốc thành tế bào máu với lượng lớn nhờ kỹ thuật mô phỏng chức năng của tủy xương. Nhờ kỹ thuật đó mà từ một dây rốn người ta có thể tạo ra lượng máu đủ để truyền cho ba binh lính bị thương.
Don Brown, một chuyên gia của Arteriocyte, nói rằng chi phí sản xuất máu hiện nay vào khoảng 5.000 USD mỗi pint (0,57 lít). Nếu quy mô sản xuất tăng lên, công ty có thể hạ giá thành xuống tới mức 1.000 USD/pint hoặc thấp hơn nữa. Để tăng quy mô sản xuất, các chuyên gia sẽ cải tiến công nghệ để mỗi dây rốn có thể tạo ra lượng máu lớn hơn mức hiện nay. Một cách khác là tạo ra khoang nuôi dưỡng tế bào gốc - có chức năng tạo máu giống như tủy xương - có khả năng hoạt động hiệu quả hơn.
Theo Brown, tại các vùng chiến sự đôi khi binh lính bị thương phải chờ máu tới vài tuần. Trong khi đó, ngay sau khi ra khỏi cơ thể người máu phải được sử dụng trong vòng một hoặc hai tuần vì nếu để lâu hơn thời gian đó máu có thể gây viêm nhiễm hoặc hỏng các cơ quan nội tạng. Quân đội Mỹ luôn có các ngân hàng máu di động trên chiến trường, nhưng chúng không đáp ứng đủ nhu cầu bởi có rất nhiều binh lính bị thương.
Máu nhân tạo sẽ được thử nghiệm trên người vào năm 2013 và có thể đưa vào sử dụng trong quân đội trong 5 năm sau đó. Sau đó các bệnh viện có thể mua máu nhân tạo. Máu do Arteriocyte sản xuất thuộc nhóm O, nghĩa là có thể tiếp cho mọi bệnh nhân bất kể họ sở hữu nhóm máu nào.
"Có lòng sốt sắng vì điều thiện thì tốt lắm "
Ngày 29/04/2010, Tạp chí Time công bố danh sách 100 nhân vật ảnh hưởng nhất thế giới trong năm 2010. Những người được chọn chia làm các nhóm: Lãnh đạo (Leaders), Anh Hùng (Heroes) Tư Tưởng (Thinkers), Nghệ Sĩ (Artists)... Năm nay, Hoa Kỳ có 53 người được vinh danh, 47 người đến từ 23 nước khác. Điều đáng ngạc nhiên là, ngoài các nhân vật nổi tiếng đầy quyền lực như TT Hoa Kỳ Barack Obama; Cựu TT Bill Clinton; TT Brazil Luiz Inacio Lula Da Silva; Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ Admiral Mike Mullen; Tổng Giám đốc Apple Steve Jobs; Ứng viên phó TT Hoa Kỳ năm 2008 của Đảng Cộng Hòa, Sarah Palin; Tài tử điện ảnh Lý Liên Kiệt; Hàn Hàn, nhà văn trẻ, tay đua xe hơi, đồng thời là một blogger nổi tiếng của Trung Quốc... còn xuất hiện một bà lão bán rau đến từ Đài Đông, đảo quốc Đài Loan. Danh sách bà đứng thứ 8 trong nhóm Anh Hùng, người đứng đầu nhóm này là cựu TT Bill Clinton.
Bà Trần Thụ Cúc (Chen Shu Chu): 61 tuổi, là người chuyên bán rau xanh ngoài chợ Đài Đông. Mặc dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, thu nhập không nhiều, bà vẫn đem toàn bộ số tiền kiếm được giúp đỡ những người thiếu thốn. Tiền sinh hoạt một ngày của bà khoảng 1 TWD (Taiwanese new dollar, còn gọi là Đài tệ. Theo hối đoái ngày 11/05/2010, 1 Mỹ kim đổi được 30,50 TWD), nhưng tổng số tiền làm việc thiện của bà lên đến 10 triệu TWD (trên 320.000 Mỹ kim). Số tiền này bà dùng vào việc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, xây dựng thư viện. Bà chỉ nghĩ đơn giản rằng hôm nào giúp được ai, tối hôm đó về nhà ngủ ngon hơn. Hằng ngày, bà cảm thấy vui nhất là sau khi làm việc vất vả được ăn một bát mì nóng, thỉnh thoảng có thêm mấy món rau xanh.
Ngày 05/03, bà Trần Thụ Cúc được Tạp chí Forbes Châu Á bình chọn là nhà từ thiện kiệt xuất năm 2010, ngày 29/04, lại được Tạp chí Time chọn là 1 trong 100 nhân vật tiêu biểu của năm 2010. Ngày 03/05, bà Trần Thụ Cúc đã lên đường sang Mỹ lãnh thưởng.
Nhận định về việc một bà bán rau bất ngờ lọt vào 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2010, Richard Stengel và Radhika Jones, Giám đốc điều hành Tạp chí Time và Thư ký Tòa soạn phụ trách ấn phẩm Time 100, cho biết hằng năm, khi đưa ra danh sách bình chọn này, ngoài việc giới thiệu các nhân vật nổi tiếng, có quyền lực lay chuyển thế giới thực sự, ký giả của Tạp chí Time còn báo cáo lên tòa soạn những nhân vật đặc biệt. Họ có thể là những người rất bình thường, ít ai biết đến, nhưng nghĩa cử và hành động âm thầm đóng góp cho cuộc đời của họ có khả năng lay động lòng người và thay đổi tư duy cũng như thái độ của rất nhiều người trên thế giới.
Đại sứ Từ thiện Trần Thụ Cúc
Bà Trần Thụ Cúc là người thích giúp đỡ những người thiếu thốn như trẻ mồ côi, bệnh tật. Bán rau ngoài chợ mỗi ngày thu nhập không được bao nhiêu, nhưng bà đã lặng lẽ góp vào quỹ từ thiện tới 10 triệu đồng tiền Đài Loan, tính ra khoảng 320.000 Mỹ kim. Bà Cúc được Tạp chí Time chọn vào danh sách 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới trong năm 2010 và mời đến Nữu Ước tham dự lễ phát thưởng trong một bữa tiệc lớn tổ chức vào tối 04/05/2010. Khi nói về bà Trần Thụ Cúc, Tạp chí Time đã trích dẫn một câu nói của bà: "Tiền phải dùng cho người cần nó mới hữu ích".
Nhận được giấy mời đến Nữu Ước lãnh thưởng, bà Cúc rất bất ngờ. Sức khỏe yếu, chân lại đau và chưa ra nước ngoài lần nào nên bà không muốn đi. TT Trung Hoa Dân Quốc Mã Anh Cửu biết được tin này lập tức gọi điện chúc mừng, khích lệ bà đến Nữu Ước lãnh thưởng. Ông ca ngợi bà là "Đại sứ Từ thiện", khuyên bà đi lãnh thưởng "để cho toàn thế giới đều biết được tấm lòng thương người của dân chúng Đài Loan". Ông cảm ơn bà và chỉ thị cho Bộ Ngoại giao Đài Loan làm mọi việc để bà có thể đến Nữu Ước dự buổi lễ phát giải thưởng vào tối 04/05.
Bà Cúc chưa hề xuất ngoại, không có giấy thông hành. Bộ Ngoại giao Đài Loan lập tức cử một nhóm người lo làm giấy thông hành cho bà, kết quả chỉ trong 1 tiếng đồng hồ bà đã có tấm giấy thông hành. Khi nhân viên Bộ Ngoại giao đưa tờ đơn cho bà điền và ký tên, bà ngượng ngùng nói xong câu "Tôi viết chữ xấu lắm!" rồi mới ký tên vào lá đơn. Hôm được mời đến gặp TT Mã Anh Cửu, bà Cúc ăn mặc gọn gàng, trước khi đi còn đến tiệm uốn tóc sửa lại mái tóc hằng ngày không được gọn gàng. Bà nói với bạn bè, được đi gặp TT Mã Anh Cửu cần ăn mặc tử tế, đầu tóc phải gọn gàng để tỏ lòng tôn kính người đứng đầu đất nước.
Khi gặp đám ký giả đi theo chụp hình bà Cúc ngượng ngùng vô cùng. Bà Cúc nói với một cô ký giả: "Tôi là người thích làm việc, không thích nghỉ ngơi, càng không thích nói đến chuyện đi chơi. Khi được báo đi lãnh thưởng, tôi định nhờ người nào đó đi lãnh hộ, nhưng TT Mã Anh Cửu và ông huyện trưởng Đài Đông khuyên tôi nên đi. Thật là khó xử. Lúc đó tôi nghĩ không có việc gì làm thì đến đó làm gì? Tối hôm đó tôi trằn trọc mãi không ngủ được. Lúc nào cũng nghĩ có nên đi hay không?".
Bà Cúc chưa hề nghe nói đến mấy chữ Tạp chí Time, cũng không biết lần này đi lãnh giải thưởng gì? Tại sao lại được thưởng? Tuy nhiên, bà vẫn trách ông hiệu trưởng đã nói việc bà giúp trẻ mồ côi tiền ăn học và xây dựng thư viện nhà trường cho báo chí nghe, mới nên nông nỗi này. Một ký giả hỏi cảm tưởng của bà khi được ca ngợi là "Đại sứ Từ thiện", bà nói không có gì đáng ca ngợi.
Tuy sắp lên đường đi Nữu Ước dự buổi tiệc phát thưởng vào tối 04/05, sáng sớm ngày 02/05 bà Cúc vẫn ra chợ Đài Đông tưới rau và thu dọn sạch sẽ sạp rau. Những loại rau dễ hỏng đều được bà cất giữ cẩn thận để khi trở về vẫn còn dùng được. Sạp rau này thân mẫu bà để lại đến nay đã được 48 năm. Trong 48 năm qua, ngoại trừ một lần bà phải đến Đài Bắc chữa bệnh mấy ngày, bà chưa hề xa rời nó một ngày. Hằng ngày bà Cúc chỉ quanh quẩn tại 3 nơi: Nhà ở, chợ rau người trồng mang đến bán và sạp rau của bà.
Ông Hoàng Kiện Đình " huyện trưởng huyện Đài Đông " cùng vợ đã đến nhà đưa bà Cúc đi sắm hai bộ quần áo mới để mặc sang Mỹ nhận giải. Bộ Ngoại giao còn cử một nhân viên nữ tháp tùng bà Cúc qua Mỹ, một nhân viên khác phụ trách việc đi lại, ăn nghỉ của bà.
Những ngày xa lạ trên đất Hoa Kỳ
Tối ngày 03/05, bà lão bán rau Trần Thụ Cúc đã từ Đài Bắc bay đến Nữu Ước, vào trú ngụ tại khách sạn Hinton ở khu Queens. Ở nhà bà ngủ trên cái giường kê bằng một tấm gỗ cứng, nay ngủ trên giường đệm hoàn toàn xa lạ, giờ giấc lại bị đảo lộn nên suốt đêm không chợp mắt được. Tuy vậy, sáng sớm ngày 04/05, bà đã thức dậy nhìn phong cảnh xa lạ xung quanh khách sạn. Một lúc sau lại đi ăn sáng cùng một số quan chức Sở Văn hóa và Kinh tế Đài Bắc (cơ quan đại diện chính phủ Trung Hoa Dân Quốc ở Nữu Ước) cùng phu nhân của các vị. Bà nói cho các vị biết, ngủ không quen trên giường đệm rộng rãi nên không sao chợp mắt được, bà ngồi dậy xem đài truyền hình phát bằng tiếng Hoa. Tuy nhiên, bà lại không đọc được những dòng chữ phụ đề tiếng Hán trên TV, chỉ xem cho vui thôi. Thái độ thật thà bộc trực đó khiến cho mọi người càng mến bà hơn. Bà còn ngượng ngùng kể cho mọi người biết tại sao bà thích làm việc thiện. Năm 13 tuổi, mẹ bà qua đời, bà là chị hai đành phải thay mẹ nuôi các em. Từ đó bà trông coi sạp rau mẹ để lại lấy tiền nuôi các em ăn học. Thấy hoàn cảnh nhiều đứa trẻ khổ sở như các em của mình, hễ kiếm được tiền, bà dành dụm giúp đỡ các em. Bà không hề nghĩ việc mình làm là việc thiện, chỉ biết giúp được người nào là bà sung sướng vô cùng.
Sau bữa ăn, bà xin đi xem chợ rau ở phố Tàu Nữu Ước. Nhìn những cây rau quen thuộc, nét mặt bà vui vẻ vô cùng. Sau khi đi xem chợ rau, nhân viên Sở Văn hóa và Kinh tế Đài Bắc đưa bà đi chải tóc chuẩn bị tham dự buổi tiệc lãnh thưởng tối 04/05. Các cô phòng uốn tóc đề nghị bà chải hết kiểu tóc này đến kiểu tóc khác, nhưng bà chỉ muốn buộc gọn ở phía sau như hằng ngày bà vẫn chải. Bà nói: "Chải như vậy thoải mái hơn".
Tối 04/05, bà Trần Thụ Cúc đã đến dự bữa tiệc phát giải thưởng cho 100 nhân vật xuất sắc năm 2010 được Time bình chọn. Cùng đi với bà có ông Tống Thân Vũ, tổ trưởng chính trị Sở Văn hóa và Kinh tế Đài Bắc. Khi bước chân lên thảm đỏ và đối diện những ánh đèn sáng chói của máy chụp hình, lúc đầu bà cảm thấy căng thẳng vô cùng, phải một lúc sau mới quen dần. Khi chờ trước thang máy, bà Cúc gặp Sarah Palin, Tống Thân Vũ giới thiệu bà Cúc với Palin. Là người biết rõ việc làm từ thiện của bà Trần Thụ Cúc, nay lại được gặp mặt, Sarah Palin vui vẻ bắt tay bà nói: "Rất hân hạnh được gặp bà”. Tối hôm đó hai người đã chụp hình lưu niệm. Một số người nổi tiếng như: David Chang, đầu bếp nổi tiếng gốc Hàn; một số nhà thiết kế quần áo nổi tiếng: Elton John, Rachael Ray, Betty White, Suze Orman cũng được mời đến tham dự.
Năm mươi ba nhân vật được Tạp chí Time bình chọn là nhân vật của năm 2010 đã đến tham dự bữa tiệc lãnh thưởng. Mọi người đều có ấn tượng sâu sắc với việc làm từ thiện của bà Trần Thụ Cúc, một người đã "bỏ quên" cuộc sống hằng ngày của mình lo cho người khác. Tinh thần lo cho người khác trước, sau đó mới nghĩ đến bản thân mình của bà đã khiến cho nhiều người xúc động.
Lý An, đạo diễn điện ảnh nổi tiếng người Đài Loan, đã được Tạp chí Time mời viết bài giới thiệu bà Trần Thụ Cúc đăng trên Tạp chí Time 100 và đọc trong bữa tiệc. Giáo sư Michael Sherraden của trường Đại học Washington vô cùng kính trọng bà đồng thời ca ngợi TT Mã Anh Cửu đã cử "Đại sứ Từ thiện" giới thiệu cho mọi người biết việc làm tốt đẹp của đảo quốc Đài Loan.
Dịp này nhiều nhà báo, học giả đã viết bài ca ngợi "Đại sứ Từ thiện" Trần Thụ Cúc. Chúng tôi xin trích một đoạn trong bài "Trần Thụ Cúc, anh hùng Đài Loan" của giáo sư Lâm Đăng Thu, giảng dạy tại trường Đại học Sư phạm Đài Bắc: "Bà bán rau Đài Đông Trần Thụ Cúc được Tạp chí Time bình chọn là 100 nhân vật của năm 2010. Bà được xếp hàng thứ 8 trong nhóm Anh Hùng. Bà xứng đáng là một anh hùng. Những người biết được việc làm cao cả của bà đều cho đó là một vinh dự, nhưng bà Trần Thụ Cúc lại nói lãnh giải gì cũng không quan trọng, bán được nhiều rau có nhiều tiền giúp đỡ người khác mới là điều quan trọng... Việc làm của bà Trần Thụ Cúc là một bài học vô cùng quý báu đối với dân chúng Đài Loan. Lòng hảo tâm của bà là sức mạnh và giá trị thúc đẩy xã hội Đài Loan tiến lên. Nó có giá trị gấp trăm ngàn lần tiếng nói suông của người học giỏi tài cao... Trước khi báo chí loan tin bà Cúc được thưởng, những người đi qua sạp rau không ai nghĩ bà là anh hùng chân chính của Đài Loan. Nhiều người trong xã hội Đài Loan cần phải noi theo tấm lòng từ thiện của bà... góp phần vào việc xây dựng xã hội Đài Loan tốt đẹp".
Last edited by khieulong on Fri Aug 13, 2010 1:24 am, edited 1 time in total.