QUÁN BIÊN THUỲ
Hãy Tự Phong Dũng Sĩ
Các bạn cựu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hay các cựu chiến sĩ Đồng Minh Hoa Kỳ. Các bạn chua sót lắm ư? Buồn bả lắm ư? Khi nhìn thấy các đường phố New York hay những nơi khác tưng bừng tràn ngập cờ xí, hoa giấy, và hàng ngàn người tung hô những người lính Mỹ vừa thắng trận trở về từ Trung Đông.
Các bạn đừng buồn mà hãy tự hào về quá khứ của mình. Các bạn hãy trang trọng tự phong cho mình chức Dũng Sĩ.
Hãy để cho lương tâm của các bạn ban cho bạn những huy chương, những bằng tưởng lục, những chức tước với những giá trị đích thực của nó.
Bạn đừng buồn bả rút mình trong xó tối mà hãy mở cửa cho ánh sáng tràn vào căn phòng, tràn vào tâm tư, chói sáng đầu óc và thân thể bạn.
Bạn hãy xoa vào những phần mất mát trên thân thể mình, những vết thương bị bom đạn tàn phá. Chỉ có chính bạn, chính lương tâm của bạn mới biết rõ những đóng góp bằng mồ hôi và xương máu của bạn đối với quốc gia, quê hương tổ quốc bạn.
Riêng các bạn sắp sửa bước vào ngành truyền thông. Xin các bạn hãy suy nghĩ cho kỹ. Nếu các bạn nghĩ rằng có thể hành nghề một cách trung thực có lương tâm với lý tưởng phục vụ cộng đồng, quốc gia hay rộng hơn là nhân loại thì bạn hãy bước vào. Nếu bạn nghĩ rằng mình sẽ bị ảnh hưởng của đám đông, có thể bẻ cong ngòi bút vì một áp lực nào đó xin bạn hãy chọn một ngành khác.
Vì sao?
Vì sức mạnh của ngành truyền thông, nhất là ở Hoa Kỳ, có thể giúp cho loài người tiến bộ, bao nhiêu trẻ nghèo đói ở Phi Châu được giúp đỡ, có thể giúp cho một trận chiến được toàn thắng. Nhưng nó cũng có thể tàn phá cả một quốc gia và đưa đất nước đó đi đến họa diệt vong. Đó là quốc gia nhỏ bé đau thương, chiến tranh triền miên của chúng tôi. Đất nước Việt Nam!
Đất nước nhỏ bé của chúng tôi mỗi giây phút đều có hàng triệu người rên xiết dưới chế độ cộng sản. Vậy mà ngành truyền thông của Mỹ hoặc là bỏ quên hay vẫn tiếp tục chiếu những chương trình bóp méo sự thật.
Là một nhà báo Việt Nam, tôi tức giận giới truyền thông Mỹ vô cùng. Tôi nghĩ họ có trách nhiệm và bổn phận phải phục hồi chánh nghĩa cho người lính Việt Nam Cộng Hòa, và họ phải có phận sự phục hồi danh dự cho những cựu quân nhân Mỹ đã tham chiến tại Việt Nam. Những người bất đắt dĩ đã phải thua trận và sống trong đau khổ tủi nhục vì sự thiếu lương tâm bóp méo sự thật của họ.
Sự trung thực là một cá tính không thể thiếu của một nhà báo, của một người mang sứ mệnh truyền thông đại chúng với đầy đủ lương tâm chức nghiệp để phục vụ SỰ THẬT.
Nhiều lần tôi tự hỏi, những người đã dùng ngòi bút của mình, kỷ thuật làm phim hay thực hiện những chương trình truyền hình để bóp méo sự thật hay hướng dư luận theo một nhóm có thế lực nào đó. Liệu lương tâm của họ có bằng an khi thấy cả một dân tộc bị chết chóc tù đầy, cả một thế hệ trẻ thiếu dinh dưỡng, thất học ốm đau đói khổ?
Nếu có nhân tính họ phải trả lời câu hỏi này với chính họ!
Nguyễn Huỳnh Mai
Các bạn đừng buồn mà hãy tự hào về quá khứ của mình. Các bạn hãy trang trọng tự phong cho mình chức Dũng Sĩ.
Hãy để cho lương tâm của các bạn ban cho bạn những huy chương, những bằng tưởng lục, những chức tước với những giá trị đích thực của nó.
Bạn đừng buồn bả rút mình trong xó tối mà hãy mở cửa cho ánh sáng tràn vào căn phòng, tràn vào tâm tư, chói sáng đầu óc và thân thể bạn.
Bạn hãy xoa vào những phần mất mát trên thân thể mình, những vết thương bị bom đạn tàn phá. Chỉ có chính bạn, chính lương tâm của bạn mới biết rõ những đóng góp bằng mồ hôi và xương máu của bạn đối với quốc gia, quê hương tổ quốc bạn.
Riêng các bạn sắp sửa bước vào ngành truyền thông. Xin các bạn hãy suy nghĩ cho kỹ. Nếu các bạn nghĩ rằng có thể hành nghề một cách trung thực có lương tâm với lý tưởng phục vụ cộng đồng, quốc gia hay rộng hơn là nhân loại thì bạn hãy bước vào. Nếu bạn nghĩ rằng mình sẽ bị ảnh hưởng của đám đông, có thể bẻ cong ngòi bút vì một áp lực nào đó xin bạn hãy chọn một ngành khác.
Vì sao?
Vì sức mạnh của ngành truyền thông, nhất là ở Hoa Kỳ, có thể giúp cho loài người tiến bộ, bao nhiêu trẻ nghèo đói ở Phi Châu được giúp đỡ, có thể giúp cho một trận chiến được toàn thắng. Nhưng nó cũng có thể tàn phá cả một quốc gia và đưa đất nước đó đi đến họa diệt vong. Đó là quốc gia nhỏ bé đau thương, chiến tranh triền miên của chúng tôi. Đất nước Việt Nam!
Đất nước nhỏ bé của chúng tôi mỗi giây phút đều có hàng triệu người rên xiết dưới chế độ cộng sản. Vậy mà ngành truyền thông của Mỹ hoặc là bỏ quên hay vẫn tiếp tục chiếu những chương trình bóp méo sự thật.
Là một nhà báo Việt Nam, tôi tức giận giới truyền thông Mỹ vô cùng. Tôi nghĩ họ có trách nhiệm và bổn phận phải phục hồi chánh nghĩa cho người lính Việt Nam Cộng Hòa, và họ phải có phận sự phục hồi danh dự cho những cựu quân nhân Mỹ đã tham chiến tại Việt Nam. Những người bất đắt dĩ đã phải thua trận và sống trong đau khổ tủi nhục vì sự thiếu lương tâm bóp méo sự thật của họ.
Sự trung thực là một cá tính không thể thiếu của một nhà báo, của một người mang sứ mệnh truyền thông đại chúng với đầy đủ lương tâm chức nghiệp để phục vụ SỰ THẬT.
Nhiều lần tôi tự hỏi, những người đã dùng ngòi bút của mình, kỷ thuật làm phim hay thực hiện những chương trình truyền hình để bóp méo sự thật hay hướng dư luận theo một nhóm có thế lực nào đó. Liệu lương tâm của họ có bằng an khi thấy cả một dân tộc bị chết chóc tù đầy, cả một thế hệ trẻ thiếu dinh dưỡng, thất học ốm đau đói khổ?
Nếu có nhân tính họ phải trả lời câu hỏi này với chính họ!
Nguyễn Huỳnh Mai

Con người và cái chết của Tướng Lê Văn Hưng
(Lý Minh Hào trích dịch – Last man out của James E Parker Jr) Trong suốt thời gian về làm việc tại vùng châu thổ Cửu Long (Vùng 4), chủ yếu tại Cần Thơ và các tỉnh lân cận, tác giả do vai trò “case officer” trong ngành CIA nên luôn có dịp gặp Tướng Hưng. Ngày đầu tiên diện kiến ông Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, tác giả “hơi lấy làm lạ” về cách đánh giặc và điều quân của Tướng Hưng là “thủ nhiều hơn công” khi đôi bên trao đổi và thảo luận, về kế hoạch quân sự trong vùng. “Tại sao lại đánh một trận chiến đang thua?” tác giả thắc mắc thì tướng Hưng cười và hỏi lại: “Tôi còn có những lựa chọn gì nữa đâu?” rồi chậm rãi nói tiếp – “Đây là đất nước của tôi.”
Sau nhiều tháng liên tục làm việc để lập mạng lưới tình báo tại vùng châu thổ, tác giả ghi nhận tướng Hưng dành rất nhiều thời giờ cho việc trận mạc: Sáng sớm thường đáp trực thăng đi thị sát và trao đổi với các đơn vị trưởng địa phương. Trở về họp tổng kết tại Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn và thỉnh thoảng họp khẩn về đêm. Càng về sau tác giả mới hiểu ra thêm tổng quan (outlook) của một ông tướng Việt Nam trong cuộc chiến giữa những người Việt Nam ngay trên quê hương của mình. Tướng Hưng tin rằng sự chiến đấu thực sự cho vùng châu thổ đang diễn tiến ở những nơi khác, có thể trong các cuộc họp hành ở Sài Gòn. Vả lại, là một người theo đạo Phật, ông tin vào định mệnh, những gì xảy ra với những hậu quả gì đem đến đều là sự an bài, xếp đặt trong vạn vật cả.
Tuy nhiên, tháng 2 năm 1975, theo đòi hỏi của cấp trên từ Cần Thơ và Sài Gòn, Tướng Hưng đã phát lệnh tấn công một lực lượng quân sự trọng yếu của Cộng Sản tại mạn đông của tỉnh Chương Thiện, nằm trong một mật khu lâu đời thuộc rừng U Minh – Theo tác giả, đây là chiến dịch động binh lớn nhứt và khổ cực nhứt của Tướng Hưng với những điều kiện khó khăn và phương tiện hạn hẹp. Chỉ còn cách tấn công địch theo lối “liệu cơm mà gắp mắm” thiếu hụt đủ thứ: Phi vụ không quân hạn chế nên không vận chuyển kịp thời các quân cụ, khí giới nặng, điều động nhanh các đơn vị chiến đấu tấn kích thần tốc. Quân đội Hoa Kỳ tuy để lại nhiều súng đại bác nhưng thiếu đạn, còn nhiều mìn claymore nhưng không có đủ bộ phận khởi động (activators) , còn nhiều loại đạn dược, nhưng ngòi nổ đã tịt! Tuy vậy nhờ sự chỉ huy tài giỏi, sự can trường và thiện chiến của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, lực lượng cộng sản Bắc Việt đã bị đẩy lùi sâu vào rừng U-Minh khi kết thúc chiến dịch. Trận đánh lớn như vậy hẳn nhiên chiến trường tàn cuộc phải tang tóc, sự chết chóc và thương tật cả đôi bên phải nhiều. Tác giả ngậm ngùi ghi chép tâm trạng Tướng Hưng trong hoàn cảnh tàn cuộc chiến đó: Tướng Hưng không biết chắc là trong thực tế mình có thắng lợi thực sự hay không. Ông ta gần như đã xả láng những gì còn có trong tay. Để cho gì đây? Ông đã chịu đựng bao thứ tai ương.
Trong con người võ tướng còn có một văn nhân. Tác giả đã sống với Tướng Hưng những buổi chiều đằm thắm: Hỏi thăm chuyện gia đình, bàn chuyện nước Mỹ, chuyện thời sự, thảo luận văn chương. Kiến thức ông tướng uyên bác, nhiều nhà văn và tác phẩm văn chương Mỹ ông đề cập phần tác giả còn chưa đọc tới dù rằng là “mọt sách” đọc không dưới hai ba cuốn sách mỗi tuần. Còn Tướng Hưng ưa kể chuyện lịch sử Việt Nam và Chiến tranh Đông Dương. Ông ăn nói cân nhắc, từ tốn, luôn tươi cười, ngay cả những khi tranh luận các vấn đề quan trọng. Tướng Hưng có được những nét tự tin đặc biệt và quanh người ông như toát ra vẻ thanh thản, trầm tĩnh. Tánh tình khả ái, rất dễ gây được cảm tình của mọi người từ ông tướng đã thu phục “con tim” của một điệp viên Mỹ, tạo thành tình bạn thân thiết giữa hai người.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, đúng lúc 7 giờ tối, Tướng Hưng, Cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cũng là người bạn của tôi, đã nhắn gọi vợ ông đến văn phòng làm việc tại Cần Thơ. Tướng Hưng cho vợ biết là có mười người dân địa phương đến thỉnh cầu ông đừng chống trả với lực lượng Việt Cộng đang tiến quân vô thành phố. Họ nói bọn Cộng Sản sẽ pháo kích nát Cần Thơ thành đống gạch vụn và gây thương vong cho nhiều dân lành. Tướng Hưng nói với vợ rằng ông hiểu rõ chuyện đó và đồng ý sẽ không để thành phố Cần Thơ biến thành một bãi chiến trường tuyệt vọng. Ông cũng cho biết kế hoạch khẩn cấp rút lui cùng một số thuộc hạ vào một mật khu xa xôi vùng châu thổ đã hẹn trước, nơi sự sống khó tồn tại. Đầu hàng giặc không phải là một giải pháp lựa chọn.
Tướng Hưng cũng không hề nghĩ tới việc diện kiến và thảo luận với một quan chức Việt Cộng trách nhiệm trong vùng, Thượng Tá Hoàng Văn Thạch, để bàn giao vùng Châu thổ Nam Bộ cho Cộng Sản. Ông không bỏ nước để thoát thân. Ông có một trách nhiệm với những quân nhân đã dành mạng sống của họ ở lại vị trí trấn thủ. Ông đã ở lại bằng một lựa chọn vinh dự. Ông phải tự quyết định sinh mạng của mình.
Vợ của Tướng Hưng bật khóc và năn nỉ ông hãy suy tính lại. “Tại sao mình không thể bỏ ra ngoại quốc giống như những người khác?,” bà hỏi chồng.
Tướng Hưng lập lại lần nữa với vợ về trách nhiệm riêng đối với xứ sở và binh lính. Ông ôn tồn và chậm rãi nối tiếp: “Mình đừng để anh bị mất lòng kiên định. Giờ đây cứ đánh tiếp cũng chỉ đem lại rắc rối và mất mát không những cho gia đình và bà con mình, mà còn cho binh lính và dân lành nữa. Và anh không muốn thấy mặt thằng Cộng Sản nào hết.”
Rồi Tướng Hưng đứng dậy, ôm vợ vào lòng, và rớt nước mắt. Sau cùng, ông nói cùng vợ: “Lẹ lên đi mình, tới mời Má và dẫn các con vô đây gặp anh.”
Khi người Má vợ và các con bước vô văn phòng làm việc của ông rồi, Tướng Hưng nói lời chia tay và cúi xuống hôn từng đứa con.
Bên ngoài văn phòng, nhiều sĩ quan và binh lính thuộc cấp lần lượt kéo tới, đứng sắp hàng ngoài sân, chờ đợi lệnh.
Tướng Hưng tuyên bố việc chiến đấu đã chấm dứt. Ông nói, nước đã mất là do lãnh đạo kém tại Sài Gòn, và xin thuộc cấp tha thứ lỗi cho ông, nếu như cá nhân ông đã có những lỗi lầm nào đó. Bầu không khí xung quanh nặng nề. “Tôi xin chấp nhận cái chết. Vĩnh biệt các anh em,” Tướng Hưng dứt câu.
Tướng Hưng đưa tay lên chào và đưa tay bắt từng người một. Ông yêu cầu mọi người ra về. Một vài quân nhân vẫn đứng tại chỗ không chịu lui bước, nên tướng Hưng buộc lòng phải bước tới đẩy và giục họ về. Rồi ông bảo vợ đừng có nài nỉ thêm điều gì nữa và chỉ một mình bước vô văn phòng làm việc.
Chỉ trong khoảnh khắc sau đó vang lên một tiếng súng nổ. Tướng Hưng đã tự sát bằng súng.
Sau phần Lời Bạt, và xếp cuối trang sách “Last Man Out” James E. Parker Jr. đã chọn bài thơ của một chiến binh Mỹ ẩn danh (Làm tại Cao Nguyên Trung Phần Việt Nam, khoảng năm 1969). Từ và ý bài thơ hoa mỹ, lãng mạn và phảng phất siêu thoát, nhưng dứt bằng một câu thơ đầy hào khí tang bồng hồ thỉ như khí tiết của những chiến sĩ, hiệp khách Đông Phương:
Đừng đứng bên mộ anh và nhỏ lệ:
Anh không ở trong mộ này. Anh không ngủ đâu em.
Anh là ngàn ngọn gió thổi khắp phương trời
Anh là kim cương lấp lánh trên tuyết lạnh
Anh là ánh nắng nhuộm vàng hạt lúa chín
Anh là giọt mưa của trời thu êm ả
Khi em thức giấc lúc ban mai thinh lặng
Anh là lực xua đàn chim vụt bay cao
Những cánh chim lặng lẽ lượn những đường vòng
Đừng đứng bên mộ anh và khóc lóc:
Anh không ở trong mộ này. Anh không chết đâu em.
Bài thơ không tựa và tác giả ẩn danh trên, tác giả James E. Parker Jr. xếp liền ngay sau phần mô tả cái chết của Tướng Hưng để xem như vòng hoa tang cho một ông tướng cốt cách hào hoa. Bởi vì trong đời thường và trong quân ngũ, tướng Hưng vẫn không giấu được ngay cả dưới lớp quân phục những nét nho nhã và dáng hào hoa của một người đàn ông. Nhiều người nhận xét, Tướng Lê Văn Hưng “có tướng quan văn hơn là võ tướng,” chẳng qua ông quan văn này phải khoác chiến y, áo giáp đỡ đạn trong thời chiến và trên chiến trường mà thôi! Tướng Hưng cũng có tiếng là “người chịu chơi,” nhứt là thời còn trai trẻ, sĩ quan còn mang lon cấp úy, cấp tá, nhiều phen “quậy tới bến” sau chiến trận được về lại hậu cứ nghỉ ngơi. Ôi, đó là những năm anh còn trẻ của một người trai thời ly loạn sống nay chết mai. Thiết nghĩ không ai quá khắt khe đối với ông tướng.
Nhưng rồi ông tướng không mấy năm sau đó cũng có cơ hội, gặp thời thế để trả nợ chí trai và làm đẹp non sông: Khí tiết Lê Văn Hưng đã thăng hoa giữa chiến trường Bình Long và hoa anh hùng Lê Văn Hưng đã nở đẹp tại phòng tuyến An Lộc. Và rồi hấp hối theo vận nước, phút cuối Lê Tướng Quân đã chọn cái chết bi hùng để trở thành bất tử trong lịch sử và quân sử Việt Nam.
Với dụng ý vinh danh và tưởng niệm tướng Lê Văn Hưng, nơi trang cuối của tác phẩm “Last Man Out,” tác giả James E Parker, Jr. chính vì vậy đã xếp bài thơ không tựa, không tên tác giả với câu thơ chấm dứt:
I am not there. I did not die.
Và sau chót, một câu lập ngôn được xem như quân huấn của danh tướng Douglas MacArthur:
“Duty, Honor, Country.”
Thứ Bảy 14-8-2010 Xin Mời Thăm Mộ Cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn,
Người Tử Thủ 1975 tại Nam California.
Xin Mời Thăm Mộ Cố Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, Người Tử Thủ 1975
Sau đây là Thư Mời viếng mộ cố Đaị Tá Hồ Ngọc Cẩn, người chiến đấu tới khi bị bắt và bị tử hình ở sân vận động Cần Thơ tháng 8-1975.
Chúng tôi là những Đồng Đội đã từng kề vai sát cánh chiến đấu và có những kỷ niệm vui buồn bên cạnh cố Đại Tá HỒ NGỌC CẨÃN, người đã lần lượt giữ các chức vụ chỉ huy các đơn vị thiên chiến của QLVNCH như Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân, Sư Đoàn 21 Bôä Binh, Trung Đoàn 15 thuộc SD 9BB, và chức vụ sau cùng của ông là Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện thuộc vùng 4 chiến thuật (đồng bằng sông Cửu Long)
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Đại Tá Hồ Ngọc Cẫn đã không tuân lệnh đầu hàng của Đại Tướng Dương Văn Minh và đã dũng cảm chỉ huy chiến đấu, cuối cùng, khi Tiểu khu Chương Thiện bị thất thủ, Đại tá Hồ Ngọc Cẫn, một tín đồ Thiên Chúa Giáo ngoan đạo đã không tự sát. Mặc dù bị thương, ông vẫn hiên ngang khi bị cộng quân tràn ngập bắt giữ và nhục mạ.
Ngày 14 tháng 8 năm 1975, vẫn với thái độ hiên ngang bất khuất, Đại tá Hồ Ngọc Cẫn bị cộng quân lên án tử hình và bị bắn tại sân vận động Cần Thơ trước lòng ngậm ngùi, thương tiếc lẫn khâm phục Ông của hàng vạn đồng bào miền Tây đã bị cộng quân cưỡng bách đến để chứng kiến, dằn mặt.
Chúng tôi được biết có một vị chân tu Phật Giáo đã âm thầm đưa hài cốt của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn qua Hoa Kỳ cải táng để ông gần gũi với gia đình vợ con cháu đang sống ẩn dật tại tiểu bang California. Cho nên, nhân ngày giỗ của Ông sắp tới, chúng tôi TRÂN TRỌNG KÍNH MỜI quý Đồng hương, Quân, Dân, Công, Cán, Chính VNCH. Quý vị thuộc mọi ngành mọi giới, và các thế hệ con cháu dành chút thì giờ quý báu để cùng nhau đến thăm viếng mộ phần của Cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẫn để tỏ lòng tôn kính, ngưỡng mộ, và biết ơn đối với một biểu tượng can trường, tiết tháo về một quân nhân của quân lực VNCH vì nước hy sinh.
Ngày giờ thăm viếng: Thứ Bảy 14 tháng 8 năm 2010 từ 10 giờ sáng đến 5giờ chiều.
Địa điểm mộ phần: Rose Hills Memorial Park. 3888 S. Workman Mill Rd, Whittier, CA 90601.
Mọi sự xin liên lạc:
- Cựu Trung Tá Vương Văn Trổ: 832-462-9097 (Tỉnh Trưởng Rạch Giá, TĐ42 BĐQ, SĐ 21/BB)
- Cựu Thiếu Tá Lê Nguyễn thiện Truyền: 714-468-7080 (Chiến đoàn 33, SĐ21/BB)
- Cựu Thiếu Tá Trần Văn Khiết: 714-588-9967 (SĐ21/BB).
Người Tử Thủ 1975 tại Nam California.
Xin Mời Thăm Mộ Cố Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, Người Tử Thủ 1975
Sau đây là Thư Mời viếng mộ cố Đaị Tá Hồ Ngọc Cẩn, người chiến đấu tới khi bị bắt và bị tử hình ở sân vận động Cần Thơ tháng 8-1975.
Chúng tôi là những Đồng Đội đã từng kề vai sát cánh chiến đấu và có những kỷ niệm vui buồn bên cạnh cố Đại Tá HỒ NGỌC CẨÃN, người đã lần lượt giữ các chức vụ chỉ huy các đơn vị thiên chiến của QLVNCH như Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân, Sư Đoàn 21 Bôä Binh, Trung Đoàn 15 thuộc SD 9BB, và chức vụ sau cùng của ông là Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện thuộc vùng 4 chiến thuật (đồng bằng sông Cửu Long)
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Đại Tá Hồ Ngọc Cẫn đã không tuân lệnh đầu hàng của Đại Tướng Dương Văn Minh và đã dũng cảm chỉ huy chiến đấu, cuối cùng, khi Tiểu khu Chương Thiện bị thất thủ, Đại tá Hồ Ngọc Cẫn, một tín đồ Thiên Chúa Giáo ngoan đạo đã không tự sát. Mặc dù bị thương, ông vẫn hiên ngang khi bị cộng quân tràn ngập bắt giữ và nhục mạ.
Ngày 14 tháng 8 năm 1975, vẫn với thái độ hiên ngang bất khuất, Đại tá Hồ Ngọc Cẫn bị cộng quân lên án tử hình và bị bắn tại sân vận động Cần Thơ trước lòng ngậm ngùi, thương tiếc lẫn khâm phục Ông của hàng vạn đồng bào miền Tây đã bị cộng quân cưỡng bách đến để chứng kiến, dằn mặt.
Chúng tôi được biết có một vị chân tu Phật Giáo đã âm thầm đưa hài cốt của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn qua Hoa Kỳ cải táng để ông gần gũi với gia đình vợ con cháu đang sống ẩn dật tại tiểu bang California. Cho nên, nhân ngày giỗ của Ông sắp tới, chúng tôi TRÂN TRỌNG KÍNH MỜI quý Đồng hương, Quân, Dân, Công, Cán, Chính VNCH. Quý vị thuộc mọi ngành mọi giới, và các thế hệ con cháu dành chút thì giờ quý báu để cùng nhau đến thăm viếng mộ phần của Cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẫn để tỏ lòng tôn kính, ngưỡng mộ, và biết ơn đối với một biểu tượng can trường, tiết tháo về một quân nhân của quân lực VNCH vì nước hy sinh.
Ngày giờ thăm viếng: Thứ Bảy 14 tháng 8 năm 2010 từ 10 giờ sáng đến 5giờ chiều.
Địa điểm mộ phần: Rose Hills Memorial Park. 3888 S. Workman Mill Rd, Whittier, CA 90601.
Mọi sự xin liên lạc:
- Cựu Trung Tá Vương Văn Trổ: 832-462-9097 (Tỉnh Trưởng Rạch Giá, TĐ42 BĐQ, SĐ 21/BB)
- Cựu Thiếu Tá Lê Nguyễn thiện Truyền: 714-468-7080 (Chiến đoàn 33, SĐ21/BB)
- Cựu Thiếu Tá Trần Văn Khiết: 714-588-9967 (SĐ21/BB).

Người Lính Già Vừa Chết Đêm Qua
Người lính già Việt Nam
Vừa mới chết đêm qua
Trên đường phố San Jose bụi bặm
Anh đã đi bao nhiêu nghìn dặm
Ðến nơi đây chỉ để chết âm thầm
Không một phát súng chào
Không cả một người thân
Không ai nói với anh một lời tiễn biệt.
Người lính già Việt Nam
Như con thú hoang lạc loài
Trên freeway nhộn nhịp
Một tiếng rên thảng thốt chảy trong mưa
Một chiếc lá cuốn đi theo cơn gió cuối mùa
Một tiếng nấc rã rời trong đêm vắng.
Vợ anh đâu?
Sao không về đây vuốt mắt
Con anh đâu?
Sao không đến vấn khăn tang
Anh ra đi như anh đến
Rất vội vàng
Chẳng còn ai trên đời để khóc.
Nhân loại văn minh có nhiều cách sống
Nhưng đồng bào tôi có những kiểu chết rất lạ đời
Người vợ mang thai
Ôm lấy chồng cùng nhảy xuống biển khơi
Ðể khỏi phải rơi vào tay giặc Thái
Cho sóng biển Ðông nghìn năm còn ru mãi
Một bài ca chung thủy vọng về Nam
Ðể mỗi sớm chiều khi thủy triều dâng
Tổ quốc sẽ được bồi thêm
Bằng máu anh thịt chị.
Có những bà mẹ nửa đêm thức dậy
Ði bán máu mình mua gạo nuôi con
Ðường về chưa tới đầu thôn
Bà gục chết không kịp nhìn mặt con lần cuối
Ðứa con út cũng chết dần trong cơn đói
Miệng còn thì thào hai tiếng “Mẹ ơi !”
Những giọt máu tươi đã giết chết hai người
Sẽ đọng lại trong nghìn trang lịch sử
Cho nước sông Hồng bao giờ cũng đỏ
Như màu máu Mẹ Việt Nam.
Ðêm qua thêm một đứa con
Vừa mới chết trên đường phố San Jose nhộn nhịp
Anh không chết ở Hạ Lào, Bình Long, Cửa Việt
Anh không chết ở Hàm Tân, Suối Máu, Hoàng Liên Sơn
Chết ở đây đất lạ sẽ thêm buồn
Trên mộ bia anh thêm một dòng chữ Mỹ
Một người Việt Nam sinh nhầm thế kỷ
Và chết cũng nhầm nơi
Ðêm nay bên kia bờ trái đất xa xôi
Quê hương anh vẫn còn chìm trong lửa đỏ.
Tôi gởi anh đôi dòng thơ
Từ trái tim của một thằng em nhỏ
Cũng lạc loài lưu lạc như anh
Chúng ta, hai chiếc lá chung cành
Bay phơ phất trước từng cơn bão tố
Ngủ đi anh bình yên nơi chín suối
Ðau thương nầy em sẽ viết thay anh.
Trần Trung Ðạo

Chuyến xe buýt và
khúc hát người lính mù
Nguyễn Mạnh Trinh
Sài gòn, năm 1980. Lúc đó, cuộc “cách“ cái ”mạng” ngày 30 tháng tư đã năm năm. Nhưng xem ra không khí chiến tranh vẫn còn bao phủ. Đời sống càng ngày càng đi vào bế tắc. Hè đường đầy những người đi kinh tề mới trở về hoặc vượt biên mất nhà sinh sống. Họ trở thành những người không nhà không hộ khẩu sống lây lất trong một thành phố đầy đe dọa. Những trại giam đầy áp người tù, tù chính trị và tù hình sự. Đêm đêm là thời gian của kiểm tra hộ khẩu, của bắt người, của đe dọa chập chờn ngoài cánh cửa. Với người dân thường còn như vậy. Huống chi những người tù bị gọi là “cải tạo” trở về. Đời sống lại càng bị đe dọa hơn biết bao nhiều. Tôi cũng bị ảnh hưởng trong thời thế ấy. Sống bất hợp pháp trong nhà của mình và trong đầu óc lúc nào cũng chờ đợi một chuyến vượt biển ra đi. Cột đèn mà cũng muốn xuất ngoại, huống chi…
Lúc ấy, phương tiện giao thông đi lại hầu như chỉ có xe buýt ở trong thành phố và xe đò đi xa ngoài thành phố. Ở bến xe, sinh hoạt thật nhộn nhịp. Như ở Xa Cảng Miền Tây lúc nào cũng đầy người mà số đông là những người chờ đợi một chuyến xe. Có người phải ngủ đêm chầu chực nhiều ngày. Nhưng nếu có tiền mua vé chợ đen, thì được đi ngay. Bao nhiêu con buôn đi hàng ngày mà còn chở theo hàng hóa cồng kềnh mà đâu có chờ đợi gì đâu. Còn xe buýt, thì là chỗ hỗn tạp. Đi xe luôn phải coi chừng, ăn cắp móc túi như ranh. Chỉ một loáng thôi, dù đã giữ gìn nhưng bị mất mát ngay một cách nhãn tiền. Thời mạt pháp, ai có thân thì giữ...
Trên một chuyến xe, có hai người lính cũ, một mù một què, dắt díu nhau đi hát để kiếm miếng ăn độ nhật. Người què thì dẫn đường cho người mù không có mắt để đi lần theo từng hàng ghế. Họ mặc bộ quần áo trận đã rách te tua bạc phếch nhưng vẫn còn phảng phất đâu đó hình ảnh của người lính thời xưa. Trên tay người lính mù là chiếc dàn mandoline cũ kỹ và anh hát những bản nhạc lính của cuộc chiến ngày cũ đã tàn nhưng còn nhiều hậu quả nhức nhối. Những bản nhạc đã vinh danh những anh hùng như “Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc“ hoặc ”Người Ở Lại Charlie”. Khi hát tôi thấy dường như trong đôi mắt đen đục của người lính mù có chút nước mắt. Đi lần qua những hàng ghế, cũng có những người cho tiền, mặc dù họ không phải là những người khá giả trong xã hội này. Và nếu có một vài chú bộ đội phê bình nào là nhạc phản động, nào là nhạc vàng bị cấm thì họ lại bào chữa bảo vệ ”Người ta tàn tật đi kiếm ăn mà còn làm khó!”...
Trong không khí đe dọa, họ vẫn cất tiếng hát. Hình như, họ đang chiến đấu với tiếng hát của mình. Cờ bay, cờ bay trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…Hay : Anh không chết đâu anh người anh hùng mũ đỏ tên Đương… Hay Anh Quốc ơi từ nay trong gió ra khơi từ nay trên cánh mây trôi có hồn anh trong cõi lòng tôi. Ơi những tiếng hát nhắc lại một thời binh lửa mà những người bây giờ đang hát đã hiến dâng cho đất nước những phần thân thể của mình. Tự nhiên, tôi cảm thấy mình xúc động quá. Những người lính thời trước chịu bao nhiêu điều thua thiệt mà bây giờ vẫn còn cất tiếng hát bất chấp đe dọa bất chấp công an để vẳng lên tâm sự của mình. Và qua từng chuyến xe này qua chuyến xe khác, họ vẫn hát dù có khi bị bò vàng bắt hoặc đánh chửi. Những lời hát vẫn cất lên, mặc kệ bạo lực mặc kệ ngục tù.
Có một bài thơ, đã được viết từ cảm xúc đó. Bài thơ ”Chuyến xe bus và khúc hát người lính mù”
Trang lịch sử đã dầy thêm lớp bụi
Ngăn kéo đời vùi kín mộ phần riêng
Và lãnh đạm chẳng còn người nhắc đến
Người trở về từ cuộc chiến lãng quên
Đôi mắt đục nhìn mỏi mòn kiếp khác
Đắt dìu nhau khập khiễng chuyến xe đời
Người thua trận phần thịt xương bỏ lại
Trên ruộng đồng sầu quê mẹ rã rời
Chuyến xe vang lời ca nào năm cũ
Nhắc chặng đường binh lửa lúc xa xưa
Khói mịt mù đường chiến tranh bụi phủ
Nghe bàng hoàng giọt nắng hắt giữa trưa
Tiếng thê thiết gọi địa danh quen thuộc
Thưở dọc ngang mê mải ngọn cờ bay
Cuộc thánh chiến gió muộn phiền thổi ngược
Dấu giầy buồn còn vết giữa sình lầy
Ôi tiếng hát nhớ những người gục ngã
Ngồi chuyến xe sao vang vọng nỗi niềm
Âm thanh cao xoáy tròn tim gỗ đá
Thúc hồn người theo nhịp thở chưa quên
Ôi tiếng hát vinh danh đời lính chiến
Cho máu xương không uổng phí ngày mai
Có sương khói trong mắt đời cầu nguyện
Để lỡ làng không chĩu nặng bờ vai
Người thản nhiên những tia nhìn cú vọ
Đây tàn hơi còn sót lại một đời
Đây ngôn ngữ của Việt Nam đổ vỡ
Vẳng không gian chợt héo một nụ cười
Ta nghe rực cuối hồn trăm bó đuốc
Một đời hoài tìm kiếm ánh đèn soi...”
Bài thơ đó tôi viết ở Sài Gòn năm 1980. Bây giờ năm 2010, như vậy đã ba chục năm. Tôi đã rời thành phố thân yêu và cũng đã định cư ở Hoa Kỳ 30 năm. Hôm nay ngồi đọc tin về Đại Nhạc Hội tổ chức ở ngoài trời “Cám Ơn Anh” để gây quỹ cứu giúp thương phế binh của QLVNCH còn kẹt lại ở quê nhà bỗng dưngsinh ra nhiều hồi tưởng. Bài thơ dắt tôi trở về những ngày tháng năm năm 1975, khi Cộng sản đã chiếm được đất nước đã thẳng tay dã man đuổi tất cả thương bệnh binh trong quân y viện ra ngoài bất kể tình trạng nguy hiểm hay không. Nạn nhân nặng nề nhất ngay lập tức chịu ảnh hưởng thua trận chính là những người thương binh. Biết bao nhiêu là thảm cảnh xảy ra. Không hiểu họ đã xoay sở thế nào để sống còn trong hoàn cảnh cực kỳ bi đát ấy.
Chính Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân Đoàn 4, trước khi quyết định tự sát đã đến thăm thương binh ở quân y viện Cần Thơ lần cuối vì ông biết số phận đáng thương của những người lính này. Trước khi tử tiết, ông đã đến từng giường bệnh để an ủi những người lính đang điều trị tại đây. Ông đã não lòng khi trả lời một câu nói của người lính đang nằm viện : ”Thiếu Tướng đừng bỏ chúng em !”. “Không, Thiếu Tướng không bỏ đâu”. Phải, mặc dù đã đến lúc cờ tàn, ông không còn giúp đỡ gì được những anh hùng nhưng là nạn nhân của cuộc chiến nhưng tấm lòng nhân hậu của ông đã là gương sáng cho đời sau.
Gần đây tôi có đọc một lá thư của một người lính bị tàn phế gửi cho một người bạn từ Việt Nam. Bức thư có nhiều đoạn làm tôi suy nghĩ:
“… Các anh ạ! Bây giờ thì buồn quá! Các anh - những sĩ quan QLVNCH, những người anh của chúng tôi, những Đại Bàng, những Bắc Đẩu, Hắc Báo của ngày nào một thời tung hoành ngang dọc khắp các chiến trường... các anh đã có một thời quang vinh và một thời nhục nhã, giờ đây sau 30 năm vẫn lặng lẽ, các anh cũng nhòa đi hình ảnh của ngày xưa?
Các anh đã quên rồi sao? Quên rồi những chiến sĩ thuộc quyền của các anh đã nằm xuống vĩnh viễn trên đất mẹ thiêng liêng quên những đồng đội còn sống sót trong một tấm thân tật nguyền đau khổ, sống lây lất ở đầu đường xó chợ. Xin cảm ơn các anh về những đồng đô la mà các anh gửi về cho chúng tôi trong chương trình giúp đỡ thương phế binh QLVNCH. Những đồng tiền đó dù có giúp cho chúng tôi trong một thời gian ngắn, dù có an ủi cho những đớn đau vật chất được đôi phần nhưng cũng không làm sao giúp chúng tôi quên nỗi nhục nhã mất nước! Chúng tôi cần ở các anh những chuyện khác, các anh có thấu hiểu cho chúng tôi hay không? Tôi đã hiểu vì sao thằng khuân vác ở xóm trên, thằng vá xe đạp ở đầu đường, thằng chống nạng đi bán vé số ở cạnh nhà lại ghét cay ghét đắng đám Việt kiều. Họ là những người lính năm xưa, họ đã từng tuân lệnh những Đại Bàng, Thần Hổ xông pha nơi trận mạc. Họ đã từng chắt chiu từng đồng bạc nghĩa tình chung thủy gửi vào tận chốn tù đày thăm các anh. Họ đã từng uống với các anh chung rượu ân tình ngày đưa các anh lên phi cơ về vùng đất mới. Họ từng nuôi nấng một hoài vọng, một kỳ vọng ngày về vinh quang của QLVNCH.
Nhưng chính các anh đã làm họ oán ghét đến độ khinh bỉ khi các anh áo gấm về làng, chễnh chệ ngồi giữa nhà hàng khách sạn năm sao tung tiền ra để tỏ rõ một Việt Kiều yêu nước. Các anh có biết không? Từ trong sâu thẳm của cuộc đời, những người lính VNCH đang lê lết ở ngoài cửa nhà hàng mà các anh đang ăn uống vui chơi, đang nhìn các anh với ánh mắt hận thù. Hận thù lớn nhất của người lính là sự bội bạc, là sự phản bội! Không biết khi tôi kết tội các anh là phản bội có quá đáng hay không, nhưng các anh hãy tự suy nghĩ một chút sẽ thấy rõ hơn chúng tôi. Tôi không tin là tất cả các anh đã biến thái thành những tên Việt gian nhưng sự trở về như các anh trong hiện tại là đồng nghĩa với sự phản bội. Các Anh đã phản bội lại Tổ Quốc và rõ ràng nhất các anh đã phản bội lại chúng tôi…”
Đọc lá thư ấy, lòng tôi như chùng xuống. Mỗi một người đếu có hoàn cảnh cũng như cách chọn lựa riêng nhưng tôi không ngờ rằng trong sâu thẳm của những người lính cũ còn có những nỗi niềm như thế. Sự phân cách quá sâu đậm, những con sông chia cách vẫn chưa thể lấp bằng được. Ngẫm suy lại, từ một khía cạnh nhìn ngắm khác nhau, đã có những khác biệt cho từng hành động…
Tới bây giờ, với những người ở hải ngoại đã không quên các anh, những thương phế binh VNCH. Dù có một số ít vô ý thức trở về nước vui chơi trên nỗi nhọc nhằn của dân tộc nhưng phần đông đều hiểu và tri ân những người lính đã mang xương máu và thân thễ hiến dâng cho đất nước. Ở đại nhạc hôi “Cám Ơn Anh”, hàng chục ngàn khán gỉa đi xem không phải chỉ là đơn thuần mua vui mà là biểu lộ tinh thần biết ơn đối với người lính VNCH. Dù số tiền thu được lên tới cả triệu đô-la nhưng cũng không đủ cho nhu cầu của hàng chục ngàn người lính tàn phế cần giúp đỡ. Nhưng của ít tình nhiều, điều đó mới là đáng quý. Cũng như, với sự tham dự của cả hơn một trăm ca nhạc nghệ sỹ, cùng với cả trăm người thiện nguyện bỏ công sức và cả tiền của cá nhân, thì đó phải hiểu là một thành quả to lớn ở hải ngoại của những người dân luôn luôn tương trợ giúp đỡ nhau. Cám ơn anh! Những thương phế binh đã hiến dâng đời mình cho đất nước…
Nguyễn Mạnh Trinh
Ba giờ thăm viếng chị Hồ Ngọc Cẩn
Từ trái: Ðặng Ðức Thắng, Chu Trọng Ngư, Hồ Ðắc Huân và chị Hồ Ngọc Cẩn. Trước khi tổ chức Ðại Hội Tình Nghĩa Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Nha Trang kỳ 2 tháng 9-1999, ban tổ chức được tin gia đình chị Hồ Ngọc Cẩn hiện đang định cư tại miền Nam Cali, Hoa Kỳ. Dựa vào tin trên, ban tổ chức cố gắng tìm chị qua các chiến hữu thân quen, các đồng môn có quan hệ quen biết với anh chị Cẩn trước năm 1975 vì có người đã gặp chị. Rất tiếc chị đã di chuyển chỗ ở... Gần tới ngày đại hội, Niên Trưởng Ðặng Văn Sơn cũng gợi ý cho ban tổ chức là gắng tìm chị để đại hội có sự hiện diện của chị. Ðại hội một ngày mỗi sát gần vẫn chưa có tin tức, đành hy vọng Ðại Hội kỳ 3 năm 2000 sẽ mời được chị tham dự vậy.
Trong một buổi chiều trung tuần tháng 2-2000, chuông điện thoại reo. Tôi nhấc máy, nghe đầu dây bên kia là tiếng của chị Huy*. Tôi nói:
- Rất vui được tiếp chuyện với chị! Anh chị vẫn khỏe chứ?
Chị Huy nói:
- Dạ chúng tôi vẫn khỏe. Cám ơn anh. Bây giờ báo tin vui cho anh đây!
Tôi hỏi:
- Tin vui gì đó chị?
Chị Huy nói:
- Thì tin anh nhờ tìm chị Cẩn đó! Tôi vừa tìm ra và nói chuyện với chị cách đây 5 phút!
- Dạ, mừng quá đi chứ chị. Cám ơn chị nhiều! Chị có nói là chúng tôi đang tìm chị ấy từ lâu không?
- Dạ có chứ! Anh ghi số điện thoại của chị Cẩn rồi liên lạc đi!
Tôi ghi cẩn thận, nhờ chị lập lại và không quên gởi lời thăm anh Huy cùng các cháu. Sau khi gác máy với chị Huy, tôi liền bấm máy tiếp số của chị Cẩn. Nghe tiếng đàn bà trả lời tôi đoán là chị Cẩn. Qua sự tự giới thiệu, trong lòng tôi thấy nhẹ nhõm là đã được trực tiếp nói chuyện với chị sau bao ngày mong tìm. Trong lần thăm hỏi, tuy chưa một lần gặp mặt, tôi thấy chị là người vui tính, cởi mở và chân tình. Tôi liền đi ngay vào mục đích là ban chấp hành hội có ý muốn viếng thăm chị và các cháu trong một ngày thuận tiện. Chị cười nói lời cám ơn và hẹn ngày Chủ Nhật tới nếu không có gì trở ngại với các anh! Tôi vui vẻ nhận lời mặc dù chưa hội ý với các anh trong ban chấp hành. Suốt chừng 30 phút điện đàm hỏi thăm về sức khỏe, cuộc sống hàng ngày, việc học hành của các cháu và hẹn sẽ được nói chuyện nhiều khi gặp mặt.
Gác máy với chị Cẩn, tôi liền liên lạc với anh Ngư, anh Diệm, anh Cầu để báo cuộc điện đàm vừa qua và đề nghị sắp xếp chuyến đi.
Sau khi được tôi báo tin, anh Ngư liền điện thoại với chị Cẩn để hỏi chi tiết về đường sá và gọi lại cho tôi quyết định chuyến đi như đã hẹn.
Sáng Chủ Nhật 20 tháng 2 năm 2000, anh Ngư và tôi khởi hành từ thành phố Westminster lên thành phố Pacoima đón anh Thọ và anh Thắng, riêng anh Diệm và anh Cầu vì bận việc nhà nên không có mặt. Khoảng 10 giờ sáng, chúng tôi gặp nhau tại nhà anh Thắng rồi cùng nhau tiếp tục lên đường tới nhà chị Cẩn. Chừng nửa giờ sau chúng tôi tới một khu đồi núi chập chùng trong một khu nhà mới xây dựng cách nay không lâu. Anh Ngư xem kỹ lại số nhà rồi xuống xe cùng vào. Ngang qua hành lang vào cửa chính, hai bên có nhiều chậu hoa quý đang trổ bông tạo thành nhiều màu sắc đẹp mắt và tỏa hương thơm dịu dàng. Sau khi nhấn chuông, một cô gái duyên dáng, thùy mị mặc bộ đồ xanh nước biển mở cửa bước ra với nụ cười và hỏi chúng tôi:
- Thưa các bác có phải là Hội Thân Hữu SVSQ Nha Trang không ạ?
Anh Ngư trả lời:
- Vâng, chúng tôi đây!
- Xin mời các bác vào, mẹ cháu đang đợi!
Chúng tôi an tọa nơi phòng khách. Như đã chuẩn bị từ trước, cô gái mang trà ra rót mời. Tôi liền hỏi:
- Cô đây là...
Như hiểu ý, cô gái nói:
- Dạ, cháu là Lưu Thị Kim Lan, con dâu của mẹ cháu.
Trong lúc chúng tôi quan sát quanh phòng khách để tìm xem có hình ảnh của anh Cẩn bận quân phục chụp trước năm 1975 không? (một kỷ vật mà chúng tôi đang tìm kiếm). Vừa lúc đó một người đàn bà từ trên lầu đi xuống, miệng mở một nụ cười thật tươi. Cô Lan liền nói:
- Mẹ cháu đang xuống.
Chúng tôi đứng dậy chào. Chị Cẩn giơ tay làm dấu mời ngồi và nói:
- Xin chào mừng các anh đã đến thăm gia đình chúng tôi. Từ sáng tới giờ tôi đợi các anh. Ði đường xa có mệt lắm không các anh?
Anh Ngư tiếp lời:
- Từ ngày lập hội, chúng tôi lấy tình nghĩa làm phương châm hoạt động nên mong gặp chị từ lâu. Mãi tới hôm nay mới được gặp nên rất mừng! Tuy đường có xa nhưng đến thăm chị bằng xe hơi chứ đâu có phải lội sình như đi trận ngày xưa mà mệt chị.
Tất cả cùng cười.
Chị Cẩn:
- Thôi mời các anh dùng nước cho ấm bụng.
Chị vừa nói vừa châm thêm trà. Mùi hương trà tỏa thơm ngào ngạt. Qua câu chuyện, chúng tôi thấy chị Cẩn là mẫu người đàn bà miền Nam vui tính, hiền hòa, phúc hậu.
Sau một tuần trà, anh Ngư đứng lên. Chúng tôi đứng lên theo. Anh nói:
- Thưa chị Cẩn. Hôm nay chúng tôi thay mặt Hội Thân Hữu cựu SVSQ Nha Trang đến để thăm sức khỏe chị và gia đình, đồng thời muốn chị cho chúng tôi biết một số tin tức về hành động anh hùng của anh Cẩn trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến mà báo chí ở hải ngoại đã nói đến rất nhiều nhưng có lẽ chị là người trong cuộc nên đúng với sự thật hơn.
Và hướng về phía chúng tôi anh giới thiệu:
- Ðây là anh Hồ Ðắc Huân, anh Nguyễn Xuân Thọ, anh Ðặng Ðức Thắng. Tất cả đều cùng Khóa 2 với anh Cẩn và tôi Chu Trọng Ngư khóa trước anh Cẩn, nhưng chúng tôi cùng xuất thân tại một quân trường.
Anh tiếp:
- Thưa chị. Lẽ ra cuộc thăm viếng này phải xảy ra cách đây hơn một năm, song rất tiếc chúng tôi không có cách nào tìm được chị. Mãi đến nay may nhờ chị Huy, qua sự dò hỏi điện thoại với người thân quen vì chúng tôi không muốn nhờ phương tiện truyền thông đại chúng, sợ làm phiền chị chăng?
Chị Cẩn cám ơn chúng tôi đã vì tình nghĩa bạn bè đến thăm và thực tình chị cũng không muốn nhắc lại chuyện cũ nên mỗi khi nghĩ đến lại càng thêm đau lòng vì với anh Cẩn, chị có quá nhiều kỷ niệm khó quên.
Sau khi cùng ngồi anh Ngư tiếp:
- Thưa chị! Khi còn sống trong lao tù Cộng Sản, chúng tôi được nghe anh em kể lại anh Cẩn và anh Trịnh Tấn Tiếp Quận Trưởng Kiên Hưng - Chương Thiện, cả hai cùng xuất thân Khóa 2 Nha Trang, đã cùng các chiến sĩ thuộc cấp chiến đấu tới giờ phút cuối cùng và sa vào tay giặc tại Chương Thiện sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975 và chúng đã dã man bắn các anh vào ngày 14 tháng 8 năm 1975 tại sân vận động Cần Thơ. Vì vận nước nổi trôi nên từ đó tới nay đã 25 năm rồi chúng tôi không được gặp chị. Hôm nay, nhân cuộc viếng thăm này, với tư cách là Hội Trưởng Hội Thân Hữu cựu SVSQ Nha Trang, trước hết tôi xin chuyển lời thăm hỏi của cựu Niên Trưởng Ðặng Văn Sơn, nguyên là Ðại Tá Chỉ Huy Trưởng khi anh Cẩn còn học trong trường, cùng tất cả các niên trưởng, cựu cán bộ và huấn luyện viên và thay mặt cho tất cả các cựu SVSQ xuất thân từ Ðồng Ðế, Nha Trang hiện đang sống tại Hoa Kỳ và rải rác khắp nơi trên thế giới chia buồn cùng chị và các cháu. Cầu nguyện Thiên Chúa đưa linh hồn anh Cẩn về hưởng phúc đời đời trên nước Thiên Ðàng.
Sau đó chúng tôi được biết chân dung anh Cẩn được thờ trên lầu. Chúng tôi xin chị hướng dẫn để được đốt nén nhang cầu nguyện cho anh. Trên bàn thờ, một tấm chân dung bán thân mặc quân phục tác chiến, ngực kín huy chương. Tấm hình này được chụp lúc còn thiếu tá. Phía trên bàn thờ anh Cẩn là bàn thờ Ðức Mẹ.
Thực tình trong chuyến đi này, ngoài vấn đề thăm viếng, chúng tôi muốn được một số tài liệu và hình ảnh của anh Cẩn, nhất là hình của một đại tá chỉ mới có 34 tuổi mà báo chí ở hải ngoại chưa có báo nào đăng. Tôi liền hỏi chị Cẩn:
- Ngoài tấm hình này chị còn tấm nào khác của anh không chị?
Chị cho biết chỉ còn duy nhất tấm hình này do một người bà con còn giữ được, vì tất cả đều để trong dinh Tỉnh Trưởng Chương Thiện mà lúc chạy ra thì đi người không.
Xuống lại phòng khách, chúng tôi muốn biết một số tình tiết của gia đình chị. Chị đã lần lượt cho biết như sau:
- Tôi và anh Cẩn lập gia đình với nhau trước khi anh theo học Khóa 2 Nha Trang. Khi anh ở trong trường thì tôi và cháu Nguyên thuê nhà ở ngoài Nha Trang. Cuối tuần anh được phép là về thăm mẹ con tôi. Chúng tôi chỉ có một cháu trai duy nhất là Hồ Huỳnh Nguyên. Hiện nay cháu đã có vợ và sanh một cháu trai tên Nelson Lưu Hồ. Vợ chồng cháu hiện sống với tôi tại đây. Ðáng lẽ hôm nay cháu ở nhà đón tiếp các anh nhưng rất tiếc vì bận việc nên vắng mặt. Cháu có nhờ tôi chuyển lời chào và thăm các bác và mong có ngày được gặp các bác. Bây giờ các anh muốn biết gì? Tôi nhớ đến đâu xin trả lời đến đó!
Anh Ngư hỏi:
- Thưa chị! Anh Cẩn sinh năm nào, tại đâu?
- Thưa các anh! Anh Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938 tại xã Vĩnh Thanh Vân, tại Rạch Giá, Việt Nam.
Anh Thọ:
- Thưa chị! Trước khi giữ chức vụ Tỉnh Trưởng Chương Thiện, anh Cẩn giữ những chức vụ gì? Ở đâu? Anh thăng trung tá và đại tá ngày nào chị còn nhớ không?
- Tôi nhớ nhà tôi thăng cấp Trung Tá năm 1970, lúc đó 32 tuổi, làm Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 15, Sư Ðoàn 9 Bộ Binh. Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972, Cộng quân vây hãm và tấn công An Lộc, tỉnh Bình Long. Bộ Tổng Tham Mưu điều động Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, một trung đoàn thuộc Sư Ðoàn 7 và Trung Ðoàn 15 do anh Cẩn chỉ huy cùng một số đơn vị khác lên giải vây An Lộc. Sau chiến thắng này, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã thăng cấp mặt trận cho tất cả các quân nhân tham dự. Nhà tôi được vinh thăng đại tá trận này (năm 1972 lúc đó 34 tuổi). Tháng 6 năm 1973 nhậm chức Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện cho tới ngày 1 tháng 5 năm 1975 thì bị Cộng quân bắt.
Tôi hỏi:
- Vào những phút cuối cùng của ngày 1 tháng 5 năm 1975, tại dinh Tỉnh Trưởng, anh Cẩn có nói gì với chị không và chị rời dinh vào lúc nào?
- Thưa anh! Ngày 30 tháng 4 năm 1975 thật là ngày đau buồn đến với tất cả chúng ta. 25 năm trời trôi qua. Mỗi lần đến ngày 1 tháng 5 năm 1975, ngày mà anh Cẩn chiến đấu tới giờ phút cuối cùng và bị sa vào tay giặc vẫn là ngày dài nhất mà tôi không thể nào quên được.
“Tôi nhớ rõ là sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Sau khi ăn sáng xong, anh Cẩn cùng Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời, Tham Mưu Trưởng Tiểu Khu vào Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu điều động các đơn vị trực thuộc khai thông liên tỉnh lộ 31 đi Cần Thơ và củng cố hệ thống phòng thủ. Tình hình lúc này quá căng thẳng nên trưa và chiều đó anh Cẩn không về dinh, do đó tôi và anh không gặp nhau nữa. Sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975, vào khoảng 5 giờ, tất cả các loại súng nổ giòn khi Cộng quân vượt qua con rạch để chiếm Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu và trong nhiều giờ đồng hồ, các loại súng lớn nhỏ của cả hai bên, kể cả mìn và lựu đạn, thi nhau nổ. Hỏa châu sáng rực bầu trời. Tôi sợ quá, cùng cháu Nguyên tìm chỗ núp đạn. Cuộc chiến giằng co chừng tới 10 giờ sáng thì tiếng lựu đạn nổ nhiều và nhiều tiếng hét xung phong. Sau đó tiếng súng ngưng hẳn. Nhìn ra đường tôi thấy Cộng quân di chuyển rất đông và dân chúng tấp nập chạy khỏi khu vực giao tranh. Tôi đoán trận chiến đã kết thúc và lo cho số phận của anh Cẩn! Tôi đưa cháu Nguyên tìm cách len lỏi khỏi vòng vây lẫn lộn vào đoàn người di tản chạy về Cần Thơ. Sau đó ít ngày ông nội cháu xuống đón mẹ con tôi về Thủ Ðức.
Tôi hỏi tiếp:
- Thưa chị! Khi nào chị được tin anh Cẩn bị bắt và theo chị tại sao anh Cẩn không hành xử như các vị tư lệnh của anh như Tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng?
- Thưa anh! Hôm 1 tháng 5, sau khi về tới Cần Thơ, tôi lo lắng cho số phận của anh ấy lắm nên có nhờ người dò hỏi. Ngay hôm sau thì tôi biết ảnh bị bắt! Còn việc tại sao anh Cẩn không tự hủy mình, trước đây cũng đã có rất nhiều người hỏi tôi. Nhân dịp này tôi cũng xin thưa với các anh là anh Cẩn theo đạo Công Giáo và rất ngoan đạo. Anh thường cầu nguyện mỗi buổi sáng và thường nói trước khi đi trận: “Sống chết nằm trong tay Chúa”. Hơn nữa luật Công Giáo không cho phép con cái Chúa được tự tử.
Anh Thắng:
- Xin hỏi chị, từ ngày anh bị bắt cho tới lúc hiên ngang lên đoạn đầu đài (14 tháng 8 năm 1975), chị có đi thăm nuôi anh ấy không, hoặc có ai thăm anh được không?
- Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, mẹ con tôi luôn luôn phải lẩn trốn và thay đổi lý lịch. Cháu Nguyên phải nghỉ học (lúc này cháu đã 15 tuổi). Thời gian này ở đâu Cộng Sản cũng điều tra lý lịch. Chúng bắc loa kêu gọi mọi người tố cáo hàng ngày, về sau hàng tuần. Bà nội cháu và chị tôi đi nuôi chứ không được thăm. Hơn nữa anh Cẩn có nhắn là tôi không được đi vì sẽ gặp nhiều khó khăn và nguy hiểm!
Anh Ngư:
- Xin chị cho biết ngày chúng bắn anh Cẩn, chị và cháu ở đâu? Có biết trước không và chúng có bắt chị chứng kiến không?
- Dạ hôm đó tôi vẫn ở Thủ Ðức. Không được biết trước nhưng ngay ngày hôm sau thì thím Tâm lén cho biết ngay. Trời ơi! Khi nghe tin này tôi rụng rời chân tay và trời đất như sụp đổ. Muốn khóc cũng không thành tiếng! Thật khó diễn tả nổi tâm trạng của tôi lúc đó. Cho tới bây giờ, 25 năm đã trôi qua nhưng tôi thấy như mới xảy ra hôm qua, hôm kia gì đó!
Anh Thọ:
- Thưa chị. Sau khi bọn Cộng Sản bắn anh Cẩn, thi hài anh được chôn cất tại đâu?
- Khi biết tin bọn chúng bắn ảnh, bà nội cháu có xuống xin đem về mai táng! Chúng đã trả lời là bọn chúng có quyền bắn chứ không có quyền cho. Mãi mấy năm sau bà nội cháu Nguyên mới cải táng đem về chôn tại quê nhà ở Rạch Giá. Hiện nay tro cốt của ảnh tôi đã mang được sang Hoa Kỳ.
Anh Ngư:
- Chị và cháu sang Hoa Kỳ theo diện nào và cuộc sống lúc ban đầu ra sao?
- Các anh kẹt lại Việt Nam sau 1975 thừa biết, người dân bình thường sống với bọn Cộng Sản còn không nổi huống gì mẹ con tôi. Ðầu năm 1979, tôi và cháu liều chết vượt biển như hàng triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi khác. Tới đảo BiDong, Mã Lai, ở đó chừng 10 tháng. Sau khi thanh lọc lý lịch, phái đoàn Mỹ đã chấp thuận cho mẹ con tôi sang định cư tại Hoa Kỳ theo diện ưu tiên có chồng và cha bị Cộng Sản bắn tại Việt Nam.
“Cuối năm 1979, thành phố đầu tiên chúng tôi đặt chân đến là Riversick, sau về Sacramento để cháu Nguyên đi học lại và cuối cùng đến Los Angeles làm ăn sinh sống như bây giờ”.
Anh Thắng:
- Cuộc sống của gia đình chị hiện nay như thế nào?
Chị Cẩn:
- Xin báo để các anh mừng! Cháu Nguyên nay đã trưởng thành. Cháu đã có gia đình. Con dâu tôi tên Lan như các anh vừa thấy đó. Hai vợ chồng cháu đều đi làm. Phần tôi ở nhà trông nom cháu nội trai đã được hai tuổi. Cuộc sống của chúng tôi đã tương đối ổn định.
Nhìn đồng hồ đã hơn 1 giờ trưa, anh Ngư thay mặt chúng tôi nói:
- Hôm nay chúng tôi lên thăm chị và thành thật cám ơn chị đã cho chúng tôi biết một số tin tức về anh Cẩn mà 25 năm trời qua chúng tôi chưa được biết.
Ðáp lời, chị Cẩn nói:
- Tôi và các cháu thành thật cám ơn các anh vì tình, vì nghĩa đã không quản ngại đường sá xa xôi đến thăm gia đình tôi. Nhân dịp này tôi nhờ các anh vui lòng chuyển lời của chúng tôi đến cựu Ðại Tá Sơn, quý vị niên trưởng, cựu cán bộ và huấn luyện viên cùng tất cả anh em cựu SVSQ khóa sinh Hạ Sĩ Quan xuất thân từ Ðồng Ðế, Nha Trang cùng gia đình lời thăm hỏi thành thật và chúc sức khỏe cùng sự an lành, hạnh phúc. Giờ này cũng trưa rồi xin các anh nán lại dùng một bữa cơm do cháu Lan chuẩn bị cùng với chúng tôi.
Bước vào phòng ăn, tất cả đã được bày sẵn trên bàn. Khi ngồi chúng tôi không quên dành chỗ danh dự để mời anh Cẩn cùng hội ngộ với chúng tôi. Một cái bát, một đôi đũa, một ly nước để lại. Trước khi ăn, chị Cẩn và chúng tôi thay nhau gắp đồ ăn vào bát của ảnh. Tuy anh Cẩn đã vĩnh viễn hy sinh vì Tổ Quốc Việt Nam nhưng tinh thần của anh vẫn còn sống mãi trong chúng tôi, những người đồng môn và đồng khóa.
Trong khi dùng cơm tôi có ý nghĩ: Thế hệ chúng tôi sinh ra vào giai đoạn đất nước triền miên khói lửa. Tới khi tiếng súng đã dứt lại bị lũ Cộng Sản trả thù bằng cách bắn giết hoặc đẩy vào trong trại tù khổ sai với nhiều năm tháng đói lạnh. Hiện nay, thân phận lưu vong tuy được tự do nhưng vẫn là đất khách quê người và nhìn lại tất cả đã luống tuổi. Thời gian chẳng còn bao lâu nữa rồi cũng lần lượt ra đi như anh Cẩn. Bây giờ thời gian còn lại chúng ta phải sống ra sao và phải làm những gì đây? Những gương chiến đấu của các chiến hữu đã anh dũng hy sinh như Hồ Ngọc Cẩn, như Trịnh Tấn Tiếp v.v... Phải làm sao để các thế hệ mai sau biết đến mà noi theo.
Gần 3 giờ chiều, chúng tôi tạm biệt gia đình chị Cẩn với tấm hình và ba bài báo nói về anh Cẩn do chị trao cho. Người con dâu trao chị một bao thư để chị trao lại chúng tôi, trong có một trăm Mỹ kim nhờ chúng tôi chuyển cho ủy ban xây dựng tượng đài tưởng niệm chiến sĩ Việt-Mỹ trong cuộc chiến chống Cộng Sản Việt Nam tại thành phố Westminster.
Chị Cẩn, người con dâu và cháu nội tiễn chúng tôi ra tận cửa xe. Chiếc xe từ từ chuyển bánh được một đoạn, tôi quay đầu nhìn lại, ba thế hệ vẫn còn đứng nhìn theo như tiếc nuối một tình cảm chân thật vừa đi qua.
Trên đường về, cơn mưa tháng 2 mỗi lúc một nặng hạt. Chiếc xe Camry từ từ đổ dốc. Anh Ngư giữ vững tay lái nói:
- Hai chữ “Tình Nghĩa” của hội chúng ta quả thật có ý nghĩa.
Ánh sáng giảm dần. Chiếc quạt nước quay với tốc độ nhanh làm chúng tôi nhớ lại cơn mưa chiều 30 tháng 4 năm 1975 tại thủ đô Sàigòn. Tôi chợt nghĩ “sau mưa trời lại sáng”. Mọi người chúng ta và vong hồn mọi chiến sĩ, trong đó có anh Cẩn sẽ góp phần làm cho bầu trời Quê Hương Việt Nam tươi sáng một ngày gần đây.
Viết trong ngày Quân Lực VNCH 19 tháng 6 năm 2000
Hồ Ðắc Huân
Cựu Sinh Viên Khóa 2 Nhân Vị Nha Trang
* Anh Nguyễn Văn Huy và anh Hồ Ngọc Cẩn là hai trong 5 Ngũ Hổ tại chiến trường cực Nam 1966. Từ năm 1973, anh Huy và anh Cẩn đều là Tỉnh Trưởng nên hai gia đình có sự thân quen từ trước.
Từ trái: Ðặng Ðức Thắng, Chu Trọng Ngư, Hồ Ðắc Huân và chị Hồ Ngọc Cẩn. Trước khi tổ chức Ðại Hội Tình Nghĩa Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Nha Trang kỳ 2 tháng 9-1999, ban tổ chức được tin gia đình chị Hồ Ngọc Cẩn hiện đang định cư tại miền Nam Cali, Hoa Kỳ. Dựa vào tin trên, ban tổ chức cố gắng tìm chị qua các chiến hữu thân quen, các đồng môn có quan hệ quen biết với anh chị Cẩn trước năm 1975 vì có người đã gặp chị. Rất tiếc chị đã di chuyển chỗ ở... Gần tới ngày đại hội, Niên Trưởng Ðặng Văn Sơn cũng gợi ý cho ban tổ chức là gắng tìm chị để đại hội có sự hiện diện của chị. Ðại hội một ngày mỗi sát gần vẫn chưa có tin tức, đành hy vọng Ðại Hội kỳ 3 năm 2000 sẽ mời được chị tham dự vậy.
Trong một buổi chiều trung tuần tháng 2-2000, chuông điện thoại reo. Tôi nhấc máy, nghe đầu dây bên kia là tiếng của chị Huy*. Tôi nói:
- Rất vui được tiếp chuyện với chị! Anh chị vẫn khỏe chứ?
Chị Huy nói:
- Dạ chúng tôi vẫn khỏe. Cám ơn anh. Bây giờ báo tin vui cho anh đây!
Tôi hỏi:
- Tin vui gì đó chị?
Chị Huy nói:
- Thì tin anh nhờ tìm chị Cẩn đó! Tôi vừa tìm ra và nói chuyện với chị cách đây 5 phút!
- Dạ, mừng quá đi chứ chị. Cám ơn chị nhiều! Chị có nói là chúng tôi đang tìm chị ấy từ lâu không?
- Dạ có chứ! Anh ghi số điện thoại của chị Cẩn rồi liên lạc đi!
Tôi ghi cẩn thận, nhờ chị lập lại và không quên gởi lời thăm anh Huy cùng các cháu. Sau khi gác máy với chị Huy, tôi liền bấm máy tiếp số của chị Cẩn. Nghe tiếng đàn bà trả lời tôi đoán là chị Cẩn. Qua sự tự giới thiệu, trong lòng tôi thấy nhẹ nhõm là đã được trực tiếp nói chuyện với chị sau bao ngày mong tìm. Trong lần thăm hỏi, tuy chưa một lần gặp mặt, tôi thấy chị là người vui tính, cởi mở và chân tình. Tôi liền đi ngay vào mục đích là ban chấp hành hội có ý muốn viếng thăm chị và các cháu trong một ngày thuận tiện. Chị cười nói lời cám ơn và hẹn ngày Chủ Nhật tới nếu không có gì trở ngại với các anh! Tôi vui vẻ nhận lời mặc dù chưa hội ý với các anh trong ban chấp hành. Suốt chừng 30 phút điện đàm hỏi thăm về sức khỏe, cuộc sống hàng ngày, việc học hành của các cháu và hẹn sẽ được nói chuyện nhiều khi gặp mặt.
Gác máy với chị Cẩn, tôi liền liên lạc với anh Ngư, anh Diệm, anh Cầu để báo cuộc điện đàm vừa qua và đề nghị sắp xếp chuyến đi.
Sau khi được tôi báo tin, anh Ngư liền điện thoại với chị Cẩn để hỏi chi tiết về đường sá và gọi lại cho tôi quyết định chuyến đi như đã hẹn.
Sáng Chủ Nhật 20 tháng 2 năm 2000, anh Ngư và tôi khởi hành từ thành phố Westminster lên thành phố Pacoima đón anh Thọ và anh Thắng, riêng anh Diệm và anh Cầu vì bận việc nhà nên không có mặt. Khoảng 10 giờ sáng, chúng tôi gặp nhau tại nhà anh Thắng rồi cùng nhau tiếp tục lên đường tới nhà chị Cẩn. Chừng nửa giờ sau chúng tôi tới một khu đồi núi chập chùng trong một khu nhà mới xây dựng cách nay không lâu. Anh Ngư xem kỹ lại số nhà rồi xuống xe cùng vào. Ngang qua hành lang vào cửa chính, hai bên có nhiều chậu hoa quý đang trổ bông tạo thành nhiều màu sắc đẹp mắt và tỏa hương thơm dịu dàng. Sau khi nhấn chuông, một cô gái duyên dáng, thùy mị mặc bộ đồ xanh nước biển mở cửa bước ra với nụ cười và hỏi chúng tôi:
- Thưa các bác có phải là Hội Thân Hữu SVSQ Nha Trang không ạ?
Anh Ngư trả lời:
- Vâng, chúng tôi đây!
- Xin mời các bác vào, mẹ cháu đang đợi!
Chúng tôi an tọa nơi phòng khách. Như đã chuẩn bị từ trước, cô gái mang trà ra rót mời. Tôi liền hỏi:
- Cô đây là...
Như hiểu ý, cô gái nói:
- Dạ, cháu là Lưu Thị Kim Lan, con dâu của mẹ cháu.
Trong lúc chúng tôi quan sát quanh phòng khách để tìm xem có hình ảnh của anh Cẩn bận quân phục chụp trước năm 1975 không? (một kỷ vật mà chúng tôi đang tìm kiếm). Vừa lúc đó một người đàn bà từ trên lầu đi xuống, miệng mở một nụ cười thật tươi. Cô Lan liền nói:
- Mẹ cháu đang xuống.
Chúng tôi đứng dậy chào. Chị Cẩn giơ tay làm dấu mời ngồi và nói:
- Xin chào mừng các anh đã đến thăm gia đình chúng tôi. Từ sáng tới giờ tôi đợi các anh. Ði đường xa có mệt lắm không các anh?
Anh Ngư tiếp lời:
- Từ ngày lập hội, chúng tôi lấy tình nghĩa làm phương châm hoạt động nên mong gặp chị từ lâu. Mãi tới hôm nay mới được gặp nên rất mừng! Tuy đường có xa nhưng đến thăm chị bằng xe hơi chứ đâu có phải lội sình như đi trận ngày xưa mà mệt chị.
Tất cả cùng cười.
Chị Cẩn:
- Thôi mời các anh dùng nước cho ấm bụng.
Chị vừa nói vừa châm thêm trà. Mùi hương trà tỏa thơm ngào ngạt. Qua câu chuyện, chúng tôi thấy chị Cẩn là mẫu người đàn bà miền Nam vui tính, hiền hòa, phúc hậu.
Sau một tuần trà, anh Ngư đứng lên. Chúng tôi đứng lên theo. Anh nói:
- Thưa chị Cẩn. Hôm nay chúng tôi thay mặt Hội Thân Hữu cựu SVSQ Nha Trang đến để thăm sức khỏe chị và gia đình, đồng thời muốn chị cho chúng tôi biết một số tin tức về hành động anh hùng của anh Cẩn trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến mà báo chí ở hải ngoại đã nói đến rất nhiều nhưng có lẽ chị là người trong cuộc nên đúng với sự thật hơn.
Và hướng về phía chúng tôi anh giới thiệu:
- Ðây là anh Hồ Ðắc Huân, anh Nguyễn Xuân Thọ, anh Ðặng Ðức Thắng. Tất cả đều cùng Khóa 2 với anh Cẩn và tôi Chu Trọng Ngư khóa trước anh Cẩn, nhưng chúng tôi cùng xuất thân tại một quân trường.
Anh tiếp:
- Thưa chị. Lẽ ra cuộc thăm viếng này phải xảy ra cách đây hơn một năm, song rất tiếc chúng tôi không có cách nào tìm được chị. Mãi đến nay may nhờ chị Huy, qua sự dò hỏi điện thoại với người thân quen vì chúng tôi không muốn nhờ phương tiện truyền thông đại chúng, sợ làm phiền chị chăng?
Chị Cẩn cám ơn chúng tôi đã vì tình nghĩa bạn bè đến thăm và thực tình chị cũng không muốn nhắc lại chuyện cũ nên mỗi khi nghĩ đến lại càng thêm đau lòng vì với anh Cẩn, chị có quá nhiều kỷ niệm khó quên.
Sau khi cùng ngồi anh Ngư tiếp:
- Thưa chị! Khi còn sống trong lao tù Cộng Sản, chúng tôi được nghe anh em kể lại anh Cẩn và anh Trịnh Tấn Tiếp Quận Trưởng Kiên Hưng - Chương Thiện, cả hai cùng xuất thân Khóa 2 Nha Trang, đã cùng các chiến sĩ thuộc cấp chiến đấu tới giờ phút cuối cùng và sa vào tay giặc tại Chương Thiện sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975 và chúng đã dã man bắn các anh vào ngày 14 tháng 8 năm 1975 tại sân vận động Cần Thơ. Vì vận nước nổi trôi nên từ đó tới nay đã 25 năm rồi chúng tôi không được gặp chị. Hôm nay, nhân cuộc viếng thăm này, với tư cách là Hội Trưởng Hội Thân Hữu cựu SVSQ Nha Trang, trước hết tôi xin chuyển lời thăm hỏi của cựu Niên Trưởng Ðặng Văn Sơn, nguyên là Ðại Tá Chỉ Huy Trưởng khi anh Cẩn còn học trong trường, cùng tất cả các niên trưởng, cựu cán bộ và huấn luyện viên và thay mặt cho tất cả các cựu SVSQ xuất thân từ Ðồng Ðế, Nha Trang hiện đang sống tại Hoa Kỳ và rải rác khắp nơi trên thế giới chia buồn cùng chị và các cháu. Cầu nguyện Thiên Chúa đưa linh hồn anh Cẩn về hưởng phúc đời đời trên nước Thiên Ðàng.
Sau đó chúng tôi được biết chân dung anh Cẩn được thờ trên lầu. Chúng tôi xin chị hướng dẫn để được đốt nén nhang cầu nguyện cho anh. Trên bàn thờ, một tấm chân dung bán thân mặc quân phục tác chiến, ngực kín huy chương. Tấm hình này được chụp lúc còn thiếu tá. Phía trên bàn thờ anh Cẩn là bàn thờ Ðức Mẹ.
Thực tình trong chuyến đi này, ngoài vấn đề thăm viếng, chúng tôi muốn được một số tài liệu và hình ảnh của anh Cẩn, nhất là hình của một đại tá chỉ mới có 34 tuổi mà báo chí ở hải ngoại chưa có báo nào đăng. Tôi liền hỏi chị Cẩn:
- Ngoài tấm hình này chị còn tấm nào khác của anh không chị?
Chị cho biết chỉ còn duy nhất tấm hình này do một người bà con còn giữ được, vì tất cả đều để trong dinh Tỉnh Trưởng Chương Thiện mà lúc chạy ra thì đi người không.
Xuống lại phòng khách, chúng tôi muốn biết một số tình tiết của gia đình chị. Chị đã lần lượt cho biết như sau:
- Tôi và anh Cẩn lập gia đình với nhau trước khi anh theo học Khóa 2 Nha Trang. Khi anh ở trong trường thì tôi và cháu Nguyên thuê nhà ở ngoài Nha Trang. Cuối tuần anh được phép là về thăm mẹ con tôi. Chúng tôi chỉ có một cháu trai duy nhất là Hồ Huỳnh Nguyên. Hiện nay cháu đã có vợ và sanh một cháu trai tên Nelson Lưu Hồ. Vợ chồng cháu hiện sống với tôi tại đây. Ðáng lẽ hôm nay cháu ở nhà đón tiếp các anh nhưng rất tiếc vì bận việc nên vắng mặt. Cháu có nhờ tôi chuyển lời chào và thăm các bác và mong có ngày được gặp các bác. Bây giờ các anh muốn biết gì? Tôi nhớ đến đâu xin trả lời đến đó!
Anh Ngư hỏi:
- Thưa chị! Anh Cẩn sinh năm nào, tại đâu?
- Thưa các anh! Anh Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938 tại xã Vĩnh Thanh Vân, tại Rạch Giá, Việt Nam.
Anh Thọ:
- Thưa chị! Trước khi giữ chức vụ Tỉnh Trưởng Chương Thiện, anh Cẩn giữ những chức vụ gì? Ở đâu? Anh thăng trung tá và đại tá ngày nào chị còn nhớ không?
- Tôi nhớ nhà tôi thăng cấp Trung Tá năm 1970, lúc đó 32 tuổi, làm Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 15, Sư Ðoàn 9 Bộ Binh. Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972, Cộng quân vây hãm và tấn công An Lộc, tỉnh Bình Long. Bộ Tổng Tham Mưu điều động Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, một trung đoàn thuộc Sư Ðoàn 7 và Trung Ðoàn 15 do anh Cẩn chỉ huy cùng một số đơn vị khác lên giải vây An Lộc. Sau chiến thắng này, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã thăng cấp mặt trận cho tất cả các quân nhân tham dự. Nhà tôi được vinh thăng đại tá trận này (năm 1972 lúc đó 34 tuổi). Tháng 6 năm 1973 nhậm chức Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện cho tới ngày 1 tháng 5 năm 1975 thì bị Cộng quân bắt.
Tôi hỏi:
- Vào những phút cuối cùng của ngày 1 tháng 5 năm 1975, tại dinh Tỉnh Trưởng, anh Cẩn có nói gì với chị không và chị rời dinh vào lúc nào?
- Thưa anh! Ngày 30 tháng 4 năm 1975 thật là ngày đau buồn đến với tất cả chúng ta. 25 năm trời trôi qua. Mỗi lần đến ngày 1 tháng 5 năm 1975, ngày mà anh Cẩn chiến đấu tới giờ phút cuối cùng và bị sa vào tay giặc vẫn là ngày dài nhất mà tôi không thể nào quên được.
“Tôi nhớ rõ là sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Sau khi ăn sáng xong, anh Cẩn cùng Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời, Tham Mưu Trưởng Tiểu Khu vào Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu điều động các đơn vị trực thuộc khai thông liên tỉnh lộ 31 đi Cần Thơ và củng cố hệ thống phòng thủ. Tình hình lúc này quá căng thẳng nên trưa và chiều đó anh Cẩn không về dinh, do đó tôi và anh không gặp nhau nữa. Sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975, vào khoảng 5 giờ, tất cả các loại súng nổ giòn khi Cộng quân vượt qua con rạch để chiếm Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu và trong nhiều giờ đồng hồ, các loại súng lớn nhỏ của cả hai bên, kể cả mìn và lựu đạn, thi nhau nổ. Hỏa châu sáng rực bầu trời. Tôi sợ quá, cùng cháu Nguyên tìm chỗ núp đạn. Cuộc chiến giằng co chừng tới 10 giờ sáng thì tiếng lựu đạn nổ nhiều và nhiều tiếng hét xung phong. Sau đó tiếng súng ngưng hẳn. Nhìn ra đường tôi thấy Cộng quân di chuyển rất đông và dân chúng tấp nập chạy khỏi khu vực giao tranh. Tôi đoán trận chiến đã kết thúc và lo cho số phận của anh Cẩn! Tôi đưa cháu Nguyên tìm cách len lỏi khỏi vòng vây lẫn lộn vào đoàn người di tản chạy về Cần Thơ. Sau đó ít ngày ông nội cháu xuống đón mẹ con tôi về Thủ Ðức.
Tôi hỏi tiếp:
- Thưa chị! Khi nào chị được tin anh Cẩn bị bắt và theo chị tại sao anh Cẩn không hành xử như các vị tư lệnh của anh như Tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng?
- Thưa anh! Hôm 1 tháng 5, sau khi về tới Cần Thơ, tôi lo lắng cho số phận của anh ấy lắm nên có nhờ người dò hỏi. Ngay hôm sau thì tôi biết ảnh bị bắt! Còn việc tại sao anh Cẩn không tự hủy mình, trước đây cũng đã có rất nhiều người hỏi tôi. Nhân dịp này tôi cũng xin thưa với các anh là anh Cẩn theo đạo Công Giáo và rất ngoan đạo. Anh thường cầu nguyện mỗi buổi sáng và thường nói trước khi đi trận: “Sống chết nằm trong tay Chúa”. Hơn nữa luật Công Giáo không cho phép con cái Chúa được tự tử.
Anh Thắng:
- Xin hỏi chị, từ ngày anh bị bắt cho tới lúc hiên ngang lên đoạn đầu đài (14 tháng 8 năm 1975), chị có đi thăm nuôi anh ấy không, hoặc có ai thăm anh được không?
- Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, mẹ con tôi luôn luôn phải lẩn trốn và thay đổi lý lịch. Cháu Nguyên phải nghỉ học (lúc này cháu đã 15 tuổi). Thời gian này ở đâu Cộng Sản cũng điều tra lý lịch. Chúng bắc loa kêu gọi mọi người tố cáo hàng ngày, về sau hàng tuần. Bà nội cháu và chị tôi đi nuôi chứ không được thăm. Hơn nữa anh Cẩn có nhắn là tôi không được đi vì sẽ gặp nhiều khó khăn và nguy hiểm!
Anh Ngư:
- Xin chị cho biết ngày chúng bắn anh Cẩn, chị và cháu ở đâu? Có biết trước không và chúng có bắt chị chứng kiến không?
- Dạ hôm đó tôi vẫn ở Thủ Ðức. Không được biết trước nhưng ngay ngày hôm sau thì thím Tâm lén cho biết ngay. Trời ơi! Khi nghe tin này tôi rụng rời chân tay và trời đất như sụp đổ. Muốn khóc cũng không thành tiếng! Thật khó diễn tả nổi tâm trạng của tôi lúc đó. Cho tới bây giờ, 25 năm đã trôi qua nhưng tôi thấy như mới xảy ra hôm qua, hôm kia gì đó!
Anh Thọ:
- Thưa chị. Sau khi bọn Cộng Sản bắn anh Cẩn, thi hài anh được chôn cất tại đâu?
- Khi biết tin bọn chúng bắn ảnh, bà nội cháu có xuống xin đem về mai táng! Chúng đã trả lời là bọn chúng có quyền bắn chứ không có quyền cho. Mãi mấy năm sau bà nội cháu Nguyên mới cải táng đem về chôn tại quê nhà ở Rạch Giá. Hiện nay tro cốt của ảnh tôi đã mang được sang Hoa Kỳ.
Anh Ngư:
- Chị và cháu sang Hoa Kỳ theo diện nào và cuộc sống lúc ban đầu ra sao?
- Các anh kẹt lại Việt Nam sau 1975 thừa biết, người dân bình thường sống với bọn Cộng Sản còn không nổi huống gì mẹ con tôi. Ðầu năm 1979, tôi và cháu liều chết vượt biển như hàng triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi khác. Tới đảo BiDong, Mã Lai, ở đó chừng 10 tháng. Sau khi thanh lọc lý lịch, phái đoàn Mỹ đã chấp thuận cho mẹ con tôi sang định cư tại Hoa Kỳ theo diện ưu tiên có chồng và cha bị Cộng Sản bắn tại Việt Nam.
“Cuối năm 1979, thành phố đầu tiên chúng tôi đặt chân đến là Riversick, sau về Sacramento để cháu Nguyên đi học lại và cuối cùng đến Los Angeles làm ăn sinh sống như bây giờ”.
Anh Thắng:
- Cuộc sống của gia đình chị hiện nay như thế nào?
Chị Cẩn:
- Xin báo để các anh mừng! Cháu Nguyên nay đã trưởng thành. Cháu đã có gia đình. Con dâu tôi tên Lan như các anh vừa thấy đó. Hai vợ chồng cháu đều đi làm. Phần tôi ở nhà trông nom cháu nội trai đã được hai tuổi. Cuộc sống của chúng tôi đã tương đối ổn định.
Nhìn đồng hồ đã hơn 1 giờ trưa, anh Ngư thay mặt chúng tôi nói:
- Hôm nay chúng tôi lên thăm chị và thành thật cám ơn chị đã cho chúng tôi biết một số tin tức về anh Cẩn mà 25 năm trời qua chúng tôi chưa được biết.
Ðáp lời, chị Cẩn nói:
- Tôi và các cháu thành thật cám ơn các anh vì tình, vì nghĩa đã không quản ngại đường sá xa xôi đến thăm gia đình tôi. Nhân dịp này tôi nhờ các anh vui lòng chuyển lời của chúng tôi đến cựu Ðại Tá Sơn, quý vị niên trưởng, cựu cán bộ và huấn luyện viên cùng tất cả anh em cựu SVSQ khóa sinh Hạ Sĩ Quan xuất thân từ Ðồng Ðế, Nha Trang cùng gia đình lời thăm hỏi thành thật và chúc sức khỏe cùng sự an lành, hạnh phúc. Giờ này cũng trưa rồi xin các anh nán lại dùng một bữa cơm do cháu Lan chuẩn bị cùng với chúng tôi.
Bước vào phòng ăn, tất cả đã được bày sẵn trên bàn. Khi ngồi chúng tôi không quên dành chỗ danh dự để mời anh Cẩn cùng hội ngộ với chúng tôi. Một cái bát, một đôi đũa, một ly nước để lại. Trước khi ăn, chị Cẩn và chúng tôi thay nhau gắp đồ ăn vào bát của ảnh. Tuy anh Cẩn đã vĩnh viễn hy sinh vì Tổ Quốc Việt Nam nhưng tinh thần của anh vẫn còn sống mãi trong chúng tôi, những người đồng môn và đồng khóa.
Trong khi dùng cơm tôi có ý nghĩ: Thế hệ chúng tôi sinh ra vào giai đoạn đất nước triền miên khói lửa. Tới khi tiếng súng đã dứt lại bị lũ Cộng Sản trả thù bằng cách bắn giết hoặc đẩy vào trong trại tù khổ sai với nhiều năm tháng đói lạnh. Hiện nay, thân phận lưu vong tuy được tự do nhưng vẫn là đất khách quê người và nhìn lại tất cả đã luống tuổi. Thời gian chẳng còn bao lâu nữa rồi cũng lần lượt ra đi như anh Cẩn. Bây giờ thời gian còn lại chúng ta phải sống ra sao và phải làm những gì đây? Những gương chiến đấu của các chiến hữu đã anh dũng hy sinh như Hồ Ngọc Cẩn, như Trịnh Tấn Tiếp v.v... Phải làm sao để các thế hệ mai sau biết đến mà noi theo.
Gần 3 giờ chiều, chúng tôi tạm biệt gia đình chị Cẩn với tấm hình và ba bài báo nói về anh Cẩn do chị trao cho. Người con dâu trao chị một bao thư để chị trao lại chúng tôi, trong có một trăm Mỹ kim nhờ chúng tôi chuyển cho ủy ban xây dựng tượng đài tưởng niệm chiến sĩ Việt-Mỹ trong cuộc chiến chống Cộng Sản Việt Nam tại thành phố Westminster.
Chị Cẩn, người con dâu và cháu nội tiễn chúng tôi ra tận cửa xe. Chiếc xe từ từ chuyển bánh được một đoạn, tôi quay đầu nhìn lại, ba thế hệ vẫn còn đứng nhìn theo như tiếc nuối một tình cảm chân thật vừa đi qua.
Trên đường về, cơn mưa tháng 2 mỗi lúc một nặng hạt. Chiếc xe Camry từ từ đổ dốc. Anh Ngư giữ vững tay lái nói:
- Hai chữ “Tình Nghĩa” của hội chúng ta quả thật có ý nghĩa.
Ánh sáng giảm dần. Chiếc quạt nước quay với tốc độ nhanh làm chúng tôi nhớ lại cơn mưa chiều 30 tháng 4 năm 1975 tại thủ đô Sàigòn. Tôi chợt nghĩ “sau mưa trời lại sáng”. Mọi người chúng ta và vong hồn mọi chiến sĩ, trong đó có anh Cẩn sẽ góp phần làm cho bầu trời Quê Hương Việt Nam tươi sáng một ngày gần đây.
Viết trong ngày Quân Lực VNCH 19 tháng 6 năm 2000
Hồ Ðắc Huân
Cựu Sinh Viên Khóa 2 Nhân Vị Nha Trang
* Anh Nguyễn Văn Huy và anh Hồ Ngọc Cẩn là hai trong 5 Ngũ Hổ tại chiến trường cực Nam 1966. Từ năm 1973, anh Huy và anh Cẩn đều là Tỉnh Trưởng nên hai gia đình có sự thân quen từ trước.
Những Oan Hồn trên Đại Lộ Kinh Hoàng
Tác giả: Trần Đức
Trích nguồn: tudovis.com
Đại Lộ Kinh Hoàng Quảng Trị
(Hình trích nguồn) Thấm thoắt đã 30 năm trôi qua kể từ ngày một đoạn đường số 1 dẫn từ Mỹ Chánh ra Quảng Trị đã được đặt cho cái tên là "đại lộ kinh hoàng."
Một người lính nhẩy dù, nước mắt chan hòa, đứng lặng giữa hàng trăm, hàng ngàn xác chết bên cạnh những chiếc xe đạp, xe gắn máy, nằm ngổn ngang, chỏng gọng, những gồng gánh, bao bọc bị đạn pháo đổ ra tung tóe.
Những chiếc xe jeep, xe thùng hồng thập tự, vết đạn xuyên lỗ chỗ. Ngọn gió Lào nóng rát mặt đẩy đưa cánh cửa xe cho thấy những xác người nằm trên băng ca, những cọng băng phất phơ chỉ còn bám vào bộ xương khô bởi mấy rẽ xương sườn.
Có bộ xương em bé nằm trên bộ xương người mẹ dưới một bụi gai. Có xác khô đét như người tiền sử nằm giữa đám cỏ may bên lề đại lộ. Có xác nằm sấp, có xác nằm co như còn mong bờ đất dưới ruộng che chở cho mình thoát tầm đạn giặc...
Tất cả im lặng. Không có tiếng người, không có tiếng chim. Chỉ có những tiếng phành phạch của những tấm bạt xe, những mảnh quần, vạt áo cứng còng vì bê bết máu khô đang bị gió lùa bay lên như những cái vẫy tay kêu cứu. Thỉnh thoảng, có một mảnh vải, một mảnh băng tuột ra, bay bổng theo gió rồi mắc trên những bụi cây gai trên đồng trống khô cằn... Trên mặt lộ, mỗi xác chết như đã in hình dáng của mình trên nhựa đường bằng một quầng đen đậm.
Đó đây, giữa đám xác người, người ta còn nhìn thấy rải rác những đuôi đạn súng cối 61 lý và B40 là những vũ khí có tầm xa không quá 1 cây số nằm ngổn ngang. Thì ra cộng quân đã đứng rất gần để tác xạ vào đám dân Quảng Trị chạy loạn.
Họ đã bắn như bắn bia. Bắn cho chết đến người cuối cùng. Bất kể đàn ông, đàn bà. Bất kể người già hay trẻ thơ. Thật là rùng rợn. Hình ảnh này trong trận tấn công "Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972" ghi sâu mãi mãi trong ký ức của những người đã chứng kiến thảm cảnh người dân Quảng Trị phải gánh chịu và tội ác chiến tranh của những người cộng sản. Đoàn quân tiến ra Quảng Trị, trả lại sự lặng yên, hiu quạnh cho đoạn đường chết chóc. Thoáng nhìn trong đội hình, có người làm dấu thánh giá, có người chắp tay niệm Phật. Chỉ tiếc không có nén hương, ngọn nến thắp lên để sưởi ấm những oan hồn mà thân xác còn phơi giữa đồng khô, cỏ cháy.
Đoạn đường mang tên "Đại Lộ Kinh Hoàng" nay không còn xác chết, không còn dấu vết của tội ác. Họ đã được thân nhân mang về mai táng ngay sau đó. Nhưng từ năm 1975 mỗi năm đến ngày giỗ tập thể, hàng ngàn gia đình ở vùng quê hương Quảng Trị chỉ âm thầm thắp nén hương thơm tưởng nhớ. Không ai dám hé răng nửa lời.
Có những người không còn thân nhân thì mồ hoang, mả lạnh, không chút khói hương. Nghĩ đến xót xa làm sao! Họ đã chết tức tưởi mà đến nay họ còn u uất nơi bờ cao bụi rậm, không sao siêu thoát được. Hẳn họ không sao có thể ngờ dược là 30 năm sau, người đời vẫn còn nhớ thương họ.
Tin từ trong nước cho biết, trong thời gian từ ngày 28-4 đến ngày 2-5-2002 vừa qua, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Quảng Trị đã tổ chức tại chùa Long An thuộc quận Triệu Phong đàn tràng cầu siêu cho những nạn nhân bị Cộng Sản sát hại trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 tại Quảng Trị. Đại lễ được sự hộ niệm của quý thầy từ các vùng lân cận, đặc biệt của Tăng Đoàn Thừa Thiên - Huế. Người ta ghi nhận, có quý Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh, Hòa Thượng Thích Như Đạt, Hòa Thượng Thích Phước Duyên cùng đông đảo quý Thượng Tọa, Đại Đức và Tăng Ni.
Trong suốt thời gian đại lễ, đồng bào hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị đã tề tựu rất đông để tham dự, có những buổi lên đến vài ngàn người, mặc dù chính quyền địa phương đã cho cán bộ đi từng nhà để ngăn cản, đe dọa, chặn đường, cấm cho thuê xe. Thượng tọa Thích Hải Tạng, trụ trì chùa Long An cho biết, nhân dịp này, đồng bào đã mang hàng trăm linh vị các nạn nhân của cộng sản trong Mùa Hè Đỏ Lửa đến chùa để xin được giải oan siêu thoát.
Trước khi khai đàn, theo nguyện vọng của đồng bào, quý Thầy đã vào tận Đại lộ kinh hoàng, từ Cầu Dài về phía Hải Lăng, để rước thỉnh các hương linh của nạn nhân cộng sản về đạo tràng chùa Long An. Một tiết mục đặc biệt khác của đại lễ là lễ Phóng sinh đăng, kết thuyền hoa đăng cúng ngay trên dòng sông Thạch Hãn. Vào ngày cuối của đại lễ, cũng có một trai đàn chẩn tế để giúp đỡ cho các gia đình nghèo khổ tại địa phương.
Người lính nhẩy dù của 30 năm trước, hôm nay cũng chan hòa lệ rơi khi được tin những oan hồn uổng tử trong Mùa Hè Đỏ Lửa trên Đại Lộ Kinh Hoàng đã được tăng ni phật tử tới tận nơi rước vong về chùa giải oan, siêu thoát.
Họ không những được sự tế độ của chư tôn đức mà còn được sự tưởng nhớ của hàng ngàn Phật tử Thừa Thiên, Quảng Trị và hàng triệu đồng bào ta tưởng nhớ tới họ. Hơn 2 triệu người Việt sống tha hương trên đất khách quê người cũng hướng về Quảng Trị, hướng về Đại Lộ Kinh Hoàng và thắp nén hương lòng tưởng nhớ tới họ, cầu nguyện cho họ được siêu thoát và được tiêu diêu miền cực lạc
.
Việt Nam còn nhiều oan hồn còn dật dờ nơi nhà tù, trại giam, ven rừng, ven suối, hoang đảo, đại dương. Việt Nam còn nhiều anh linh những người đã hy sinh để bảo vệ bờ cõi, chiến đấu giải phóng dân tộc. Những vị này đã bỏ mình vì sự độc ác của đảng và chế độ cộng sản trên quê hương thân yêu của chúng ta. Cả nước cần cầu siêu cho họ.
Nhưng điều cần phải làm là rửa hờn cho họ và tiếp nối ý chí anh dũng của họ
QYHD-Khóa 13 Trần Đức Tường
Tác giả: Trần Đức
Trích nguồn: tudovis.com
Đại Lộ Kinh Hoàng Quảng Trị
(Hình trích nguồn) Thấm thoắt đã 30 năm trôi qua kể từ ngày một đoạn đường số 1 dẫn từ Mỹ Chánh ra Quảng Trị đã được đặt cho cái tên là "đại lộ kinh hoàng."
Một người lính nhẩy dù, nước mắt chan hòa, đứng lặng giữa hàng trăm, hàng ngàn xác chết bên cạnh những chiếc xe đạp, xe gắn máy, nằm ngổn ngang, chỏng gọng, những gồng gánh, bao bọc bị đạn pháo đổ ra tung tóe.
Những chiếc xe jeep, xe thùng hồng thập tự, vết đạn xuyên lỗ chỗ. Ngọn gió Lào nóng rát mặt đẩy đưa cánh cửa xe cho thấy những xác người nằm trên băng ca, những cọng băng phất phơ chỉ còn bám vào bộ xương khô bởi mấy rẽ xương sườn.
Có bộ xương em bé nằm trên bộ xương người mẹ dưới một bụi gai. Có xác khô đét như người tiền sử nằm giữa đám cỏ may bên lề đại lộ. Có xác nằm sấp, có xác nằm co như còn mong bờ đất dưới ruộng che chở cho mình thoát tầm đạn giặc...
Tất cả im lặng. Không có tiếng người, không có tiếng chim. Chỉ có những tiếng phành phạch của những tấm bạt xe, những mảnh quần, vạt áo cứng còng vì bê bết máu khô đang bị gió lùa bay lên như những cái vẫy tay kêu cứu. Thỉnh thoảng, có một mảnh vải, một mảnh băng tuột ra, bay bổng theo gió rồi mắc trên những bụi cây gai trên đồng trống khô cằn... Trên mặt lộ, mỗi xác chết như đã in hình dáng của mình trên nhựa đường bằng một quầng đen đậm.
Đó đây, giữa đám xác người, người ta còn nhìn thấy rải rác những đuôi đạn súng cối 61 lý và B40 là những vũ khí có tầm xa không quá 1 cây số nằm ngổn ngang. Thì ra cộng quân đã đứng rất gần để tác xạ vào đám dân Quảng Trị chạy loạn.
Họ đã bắn như bắn bia. Bắn cho chết đến người cuối cùng. Bất kể đàn ông, đàn bà. Bất kể người già hay trẻ thơ. Thật là rùng rợn. Hình ảnh này trong trận tấn công "Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972" ghi sâu mãi mãi trong ký ức của những người đã chứng kiến thảm cảnh người dân Quảng Trị phải gánh chịu và tội ác chiến tranh của những người cộng sản. Đoàn quân tiến ra Quảng Trị, trả lại sự lặng yên, hiu quạnh cho đoạn đường chết chóc. Thoáng nhìn trong đội hình, có người làm dấu thánh giá, có người chắp tay niệm Phật. Chỉ tiếc không có nén hương, ngọn nến thắp lên để sưởi ấm những oan hồn mà thân xác còn phơi giữa đồng khô, cỏ cháy.
Đoạn đường mang tên "Đại Lộ Kinh Hoàng" nay không còn xác chết, không còn dấu vết của tội ác. Họ đã được thân nhân mang về mai táng ngay sau đó. Nhưng từ năm 1975 mỗi năm đến ngày giỗ tập thể, hàng ngàn gia đình ở vùng quê hương Quảng Trị chỉ âm thầm thắp nén hương thơm tưởng nhớ. Không ai dám hé răng nửa lời.
Có những người không còn thân nhân thì mồ hoang, mả lạnh, không chút khói hương. Nghĩ đến xót xa làm sao! Họ đã chết tức tưởi mà đến nay họ còn u uất nơi bờ cao bụi rậm, không sao siêu thoát được. Hẳn họ không sao có thể ngờ dược là 30 năm sau, người đời vẫn còn nhớ thương họ.
Tin từ trong nước cho biết, trong thời gian từ ngày 28-4 đến ngày 2-5-2002 vừa qua, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Quảng Trị đã tổ chức tại chùa Long An thuộc quận Triệu Phong đàn tràng cầu siêu cho những nạn nhân bị Cộng Sản sát hại trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 tại Quảng Trị. Đại lễ được sự hộ niệm của quý thầy từ các vùng lân cận, đặc biệt của Tăng Đoàn Thừa Thiên - Huế. Người ta ghi nhận, có quý Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh, Hòa Thượng Thích Như Đạt, Hòa Thượng Thích Phước Duyên cùng đông đảo quý Thượng Tọa, Đại Đức và Tăng Ni.
Trong suốt thời gian đại lễ, đồng bào hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị đã tề tựu rất đông để tham dự, có những buổi lên đến vài ngàn người, mặc dù chính quyền địa phương đã cho cán bộ đi từng nhà để ngăn cản, đe dọa, chặn đường, cấm cho thuê xe. Thượng tọa Thích Hải Tạng, trụ trì chùa Long An cho biết, nhân dịp này, đồng bào đã mang hàng trăm linh vị các nạn nhân của cộng sản trong Mùa Hè Đỏ Lửa đến chùa để xin được giải oan siêu thoát.
Trước khi khai đàn, theo nguyện vọng của đồng bào, quý Thầy đã vào tận Đại lộ kinh hoàng, từ Cầu Dài về phía Hải Lăng, để rước thỉnh các hương linh của nạn nhân cộng sản về đạo tràng chùa Long An. Một tiết mục đặc biệt khác của đại lễ là lễ Phóng sinh đăng, kết thuyền hoa đăng cúng ngay trên dòng sông Thạch Hãn. Vào ngày cuối của đại lễ, cũng có một trai đàn chẩn tế để giúp đỡ cho các gia đình nghèo khổ tại địa phương.
Người lính nhẩy dù của 30 năm trước, hôm nay cũng chan hòa lệ rơi khi được tin những oan hồn uổng tử trong Mùa Hè Đỏ Lửa trên Đại Lộ Kinh Hoàng đã được tăng ni phật tử tới tận nơi rước vong về chùa giải oan, siêu thoát.
Họ không những được sự tế độ của chư tôn đức mà còn được sự tưởng nhớ của hàng ngàn Phật tử Thừa Thiên, Quảng Trị và hàng triệu đồng bào ta tưởng nhớ tới họ. Hơn 2 triệu người Việt sống tha hương trên đất khách quê người cũng hướng về Quảng Trị, hướng về Đại Lộ Kinh Hoàng và thắp nén hương lòng tưởng nhớ tới họ, cầu nguyện cho họ được siêu thoát và được tiêu diêu miền cực lạc
.
Việt Nam còn nhiều oan hồn còn dật dờ nơi nhà tù, trại giam, ven rừng, ven suối, hoang đảo, đại dương. Việt Nam còn nhiều anh linh những người đã hy sinh để bảo vệ bờ cõi, chiến đấu giải phóng dân tộc. Những vị này đã bỏ mình vì sự độc ác của đảng và chế độ cộng sản trên quê hương thân yêu của chúng ta. Cả nước cần cầu siêu cho họ.
Nhưng điều cần phải làm là rửa hờn cho họ và tiếp nối ý chí anh dũng của họ
QYHD-Khóa 13 Trần Đức Tường

Sự Lui Binh, Có Một Không Hai, Trong Chiến Tranh Việt Nam
Trong tâm trí của thằng lính binh nhì như tôi, trong những ngày ở Hải Lăng, Quãng Trị, trong đơn vị Đại Đội 2, Tiểu Đoàn 1, Lử Đoàn 147. nơi đơn vị hành quân, trực thuộc vào Lử Đoàn 369 SĐ/TQLC. cuộc lui binh từ nơi đó! (Hải Lăng) đến Huế – đèo Đá Bạc – Lăng Cô – đỉnh đèo Hải Vân – rồi vào rừng núi âm u, đơn vị ém quân giữ an toàn thành phố Đà Nẵng chừng 2 ngày, vào 2 giờ sáng ngày 29/03/1975 đơn vị được lệnh rút quân giữa đêm tối như mực (có lẽ là đêm 30 âm lịch) với những đồng đội tay nắm tay với nhau, di chuyển ra khỏi núi rừng phía bắc thành phố Đà Nẵng.
Khi vào đến bờ biển gần phi trường Non Nước, Đà Nẵng lúc 6:20 sáng ngày 29/03/1975 trong trật tự và kỷ luật, cũng như các đơn vị bạn trong cùng chung Lữ Đoàn 369 TQLC. đến 9 giờ sáng đơn vị được lệnh giải thể (tan hàng) mạnh ai nấy thoát thân lội ra biển để đến chiếc vận tải hạm số tàu 404 mang tên Mỹ Tho đang chập chờn ngoài khơi cách đất liền chừng 200m, Tàu há mồm đợi đón lính lên sàn tàu, nhưng bất hạnh thay cho những người lính rã ngũ cố tìm đường lên tàu thoát thân bởi lúc đó biển động mạnh, tàu vô gần bờ không được vì bãi biển thì cạn, cũng như những người lính như chúng tôi lội ra cũng không xong! (người nào lội ra được năm sáu chục mét, chỉ cần một đợt sóng là tất cả điều bị cuốn trở lại trên bờ hết ráo!) bốn lần lội biển cũng không đến được tàu! Trong tình cảnh đó những người lính Thủy Quân Lục Chiến chúng tôi nghĩ cách sử dụng thiết vận xa M113 lội ra tàu, trong số những thiết vận xa đó đã có một số lính trên bờ đeo theo, tôi bám vào nấc thang của thiết vận xa, ra khỏi tầm sóng biển, khi thiết vận xa chìm vì bị nước tràn vào, tôi buông tay khỏi thiết vận xa, ở vị trí nầy sóng biển nhẹ hơn ở gần bờ, cho nên lội ra tàu cũng dễ,chúng tôi lội ra và leo lên tàu vận tải hạm số 404 mang tên Mỹ Tho.
Trên boong tàu tôi nhìn vào bãi biển Non Nước, thật là một cảnh tượng hãi hùng : việt cộng đang pháo kích vào phi trường, những người lính TQLC chúng ta còn kẹt lại trên bờ, chẳng khác nào một đàn vịt giữa đồng trống! Đạn pháo rớt chỗ nầy thì đàn người chạy chỗ kia, pháo chỗ kia thì chạy ùa chỗ nọ v.v.
Để an toàn tránh bị trúng đạn pháo của Việt Cộng cho nên con tàu rời khỏi bờ biển của phi trường Non Nước.
Tấm hình phiá dưới bài viết nầy. tôi tình cờ bắt gặp trên đặc san Sóng Thần, ngày đại hội TQLC tại Houston, Texas. 2004. nhìn xem tấm hình bình dị như bao nhiêu tấm hình quân sử đã có. Nhưng những ai có mặt nơi tấm hình nầy, đó là tấm hình đã chất chứa biết bao nỗi kinh hoàng và đau thương, máu và nước mắt của những người lính thuộc Lữ Đoàn 369 SĐ/TQLC và các đơn vị bạn. hôm nay là ngày 14/03/2010, chỉ còn đúng 15 ngày nữa là đúng 35 năm trôi qua.
Để bổ túc thêm chi tiết về tấm hình Lịch Sử nầy!!!.
Tấm hình lịch sử nầy, chắc rằng đã được chụp trên đài chỉ huy của vận tải hạm 404 Mỹ Tho, vào thời điểm đó.
Những ruột xe và phao nổi, trôi lềnh bềnh trên mặt biển, của các đơn vị quân cụ, công binh, quân xa.
Trên đất liền nơi phi đạo, trên bãi cát trắng, với hầu như nhiều quân binh chủng, nhiều nhất là các đơn vị trực thuộc LĐ 369 TQLC đang lao nhao dọc bờ biển để tìm đường lội ra tàu.
Trong những đốm đen lớn bên trái của tấm hình, đó là những người lính TQLC chờ bám theo những chiếc thiết vận xa M113 để lội ra tàu, trong đó tôi đang đu nấc thang M113.
Quý vị nhìn thấy có những chiếc trực thăng đậu trên bờ biển, tại sao phi công không tải lính ra gần tàu để nhảy xuống biển lội lên tàu ?, bởi vì những chiếc trực thăng nầy từ nơi đâu bay tới đó, 2 càng trực thăng chưa chạm đất thì đã bị loạn quân bắn... phi hành đoàn nếu thoát chết là may mắn lắm rồi, đừng nói chi đưa người ra tàu!, như kẻ đi được lên tàu, người không đi được lại dùng những loại vũ khí nặng nhẹ đã bỏ lại trên bờ để bắn bừa . Cũng như đã diễn ra nhiều vụ thanh toán rất dã man, rất nghịch lý với những người lính (sĩ quan) trong lúc đó còn mang cấp bậc như úy/tá " trên cổ áo". Cho nên ai đã được may mắn trước khi lên tàu, đều tự động trở thành lính "binh nhì vô chủ soái" hết ráo!.
Vào thời điểm đó. từ những bãi đáp, cũng như phi đạo của phi trường Non Nước, đủ loại máy bay chiến đấu và những loại chiến xa - công binh cơ giới - quân xa - pháo binh đủ loại - và các loại vũ khí nặng… nhẹ… cũng như quân trang quân dụng của lính tác chiến đã gom về đó, và số đông những người lính trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đa số là lính TQLC trực thuộc của LĐ 369 SĐ/TQLC.
Vận tải hạm mang tên Mỹ Tho, số tàu 404, khi rời khỏi bờ biển Non Nước với số người đã vớt được trên dưới 1 Tiểu Đoàn tác chiến (HQ), hơn chục khẩu tiểu liên M16, cũng như một số ít col 45 và số ít lựu đạn M67 được đem theo, trong đó tôi có đem theo 1 khẩu colt 45 về đến vũng tàu, còn lại những người khác đem theo bao nhiêu tôi không rõ, tất cả đã bị bỏ lại, với đoàn hùng binh TQLC vô chủ tướng, vào lúc 11:40 trưa, ngày 29 tháng 03 năm 1975! nơi bờ biển Non Nước Đà Nẵng. Sau ngày đó! Không biết số phận những người bị ở lại rồi sẽ ra sao ?!!!.
Khi tàu ra biển khơi, vận tải hạm 404 sắp cặp hông tàu chiến West 2, 1 trong 5 chiếc tàu chiến lớn nhất, West 1,2,3,4,5 mà hải quân Mỹ đã để lại cho hải quân VNCH sử dụng. khi chúng tôi đến gần tàu, là đã thấy trên boong tàu West 2 rất nhiều lính mà đa số là lính thủy quân lục chiến trong binh chủng của chúng tôi đã được các vận tải hạm vớt được từ nơi khác? Khi sang qua W2 cũng là chuyến cuối cùng mà con tàu nầy đã cưu mang chúng tôi từ nơi tan hàng rã gánh tại bờ biển phi trường Non Nước Đà Nẵng, trên đường biển 1 ngày 1 đêm về đến cảng Cam Ranh, Nha Trang khoảng hơn 10 giờ sáng vào ngày hôm sau!.
Trong đời quân ngũ, trước kia khi còn tại ngũ trong đại đội 2 & đại đội CH / Tiểu Đoàn 35/ KBC 4400, Liên Đoàn 6 BĐQ, tôi đã từng tham gia những trận đánh cũng gọi là ác liệt, nhưng tôi chưa bao giờ khiếp sợ. Sự lui binh vô trật tự và dẫn đến loạn quân loạn quan, đó là sự khủng hoảng nhất trong đời thuộc cấp mà tôi đã có dịp chứng kiến cũng như là nhân chứng trong lịch sử cận đại !!!.
Đó là một sự lui binh vô tiền khoáng hậu không riêng gì trong SĐ/TQLC, nói chung là Quân Đoàn 1 & 2 của QL/VNCH. theo tôi nghĩ đó là trách nhiệm của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vì thấu cáy với Washington... và rơi vào ý đồ “phủi tay” của Washington, cho nên QL/VNCH tan hàng rã gánh rất là nhanh chóng!!!.
Thưa quý vị, chiến hữu, thân hữu, và cũng như những đàn anh trong sư đoàn TQLC chúng tôi năm xưa, dù những trận chiến có ác liệt đến đâu..., như những trận chiến mùa hè đỏ lửa vào năm 1972, tuy ác chiến trên phương diện bán chính qui - kẻ nào xui...là thương vong phải chịu, nhưng công tâm mà nói cũng không bằng một sự lui binh dẫn đến "Loạn Quân Loạn Quan" trong sự bi hùng gấp trăm lần so với những trận chiến ác liệt!!!. vì chiến trận dù ác liệt…, biết rằng sự sống còn rất là mõng manh “nhưng” tinh thần vẫn còn nghĩ nơi tuyến sau vẫn còn cấp chỉ huy….
Từ Quãng Trị về đến Đà Nẵng không 1 lần đối đầu với địch quân (CSBV). Một sự lui binh đã dẫn đến binh sĩ chết lần chết mòn cho đến ngày chết chung trong sự “co cụm một chỗ”, đó là sự đau đớn của những đơn vị trong sư đoàn tăng phái, và cũng như toàn thể quân dân cán chính trong quân đoàn 1 chiến thuật!.
Vào thời điểm đó ai là người có thẩm quyền?, Lữ/ Liên/ Trung Đoàn Trưởng ư?, Tư Lệnh sư đoàn 1- 2 - 3 và Tư Lệnh Sư Đoàn tăng phái đến Quân Đoàn 1, cũng điều bó tay và bỏ chạy một cách phi lý vì địch chưa trực diện!, cũng như tất cả các thuộc cấp quân binh chủng còn đang lẻo đẻo chạy phía sau!.
Những lời tường thuật như trên, đó là trí nhớ tôi đã dẫn ra, cũng như những gì mắt thấy tai nghe, cũng là người trong bi hùng cuộc, và hy vọng rằng trí nhớ của tôi không bị sai lệch.
Theo sự hiểu biết cá nhân tôi, trước kia, trong cấp tiểu đội, chỉ biết theo tiểu đội, cấp đại đội, biết theo đại đội, cấp lữ đoàn biết theo lữ đoàn. nhưng ngày hôm nay tuy đã 35 năm trôi qua, biết bao sách sử cũng như thông tin đã được giải mật, nhưng không nhất thiết phải dựa vào đó gọi là đúng sự thật 100%, tất cả mọi người có quyền suy luận theo quan điểm của mỗi cá nhân dù là người ngoài cuộc, "nếu là người trong cuộc", cũng như tôi, tôi có quyền suy luận những gì tôi đã thấy và đã trãi qua của 35 năm về trước (nhân chứng sống, tuy rằng cấp hàng binh sĩ).
Dù rằng trong hệ thống chánh phủ (nội các). Phủ Tổng Thống (Dinh Độc Lập) kỳ vọng vào Chánh Phủ Mỹ, nơi Quân Đoàn 1 tiền phương thì trông chờ vào Dinh Độc Lập. khi làn sóng thần mới manh nha rã ngũ (bể bờ) và đã trào dâng khắp nơi, khi đó các ông Tướng có thẩm quyền của quân đoàn 1 chiến thuật không còn ngồi ở bộ tư lệnh, án binh bất động để trông chờ vào Dinh Độc Lập, mà các ông ấy bay, hoặc chạy về sài gòn để chờ lịnh, lịnh gì ?, đám ma tập thể?- chạy giặc tập thể? - hay là lịnh đi tù tập thể ?!!! (đông vui, chăng?). cũng như có sự tiếp tay của truyền thông BBC cũng như VOA trong chiến dịch phao tin đồn thất thiệt do C.I.A chủ xướng, thì Hà Nội mới vào được Sài Gòn vào ngày 30/04/1975.
Trong quân đội. quân đội nuôi quân chỉ dụng 1 giờ, hoặc trong giai đoạn cần thiết?. còn Quốc Gia dụng Tướng, trong những điều quan trọng khi quốc gia xã tắc nguy biến, thì dụng vào tài của các ông Tướng trấn ải để điều binh khiển tướng, nếu là Tướng tài, vô phước dưới trướng của tướng sĩ tượng, thì chỉ có ôm hận thiên thu cho đến ngày rời khỏi cuộc đời!.
Như rất nhiều bài viết kể truyện, cũng như viết sử, của những ông Úy, Tá, Tướng về những trận đánh, hoặc chiến sử cũng như về lịch sử lui binh cho đến khi chính nghĩa VNCH đã bại vong, họ thường hay nói chung chung?, hoặc đề cao cá nhân mình thì nhiều, cũng như cố tránh né khuyết điểm của họ. Con người được sinh ra, dù tài ba lỗi lạc cũng không tránh khỏi trong phạm trù "nhân vô thập toàn", nếu “không dám vô tư nói thật” những gì đã có liên quan đến lịch sử, và ưu / khuyết điểm của cá nhân mình, thì đừng bày đặt VIẾT SỬ LIỆU ?.
Nói tóm lại. cuộc chiến N/VN là cuộc chiến quân sự, cũng là cuộc chiến dành sự sống còn của toàn dân N/VN. Còn cuộc chiến của Washington tại Việt Nam là cuộc chiến chính trị, khi chiến lược của Washington đã xong, thì sự hoạch định của Central Intelligence Agency đem đến Washington sớm ngày rảnh tay nơi Việt Nam!.
Đã 35 năm trôi qua, dù cho những đồng đội chúng tôi “dù hiện tiền hay đã khuất”, đã và đang sống trong nước, sống trong sự kỳ thị của đảng cộng sản Việt Nam. cũng như cuộc sống của chúng tôi nơi hải ngoại đã rơi vào cảnh đang thọ ơn vừa tủi phận khi chợt nhớ về quá khứ!?, và thỉnh thoảng có những Cô, Cậu em, nếu có cơ hội đi vào đường chính trị thường hay nhắc đến, dù không chính danh, hay mượn tay người khác? nói lên cho mình những chữ Thọ Ơn - Mang Ơn - Biết Ơn với những lão già quá đát vì tuổi đời đang rút ngắn sự sống, và đang xếp hàng chờ về trình diện ngũ hổ tướng Tư Lệnh, và đồng đội nơi vùng 5 chiến thuật, như chúng tôi!.
Đây là những lời ghi lại. mong nối lại nhịp cầu với những ai đã từng có mặt, vào sáng ngày 29 tháng 03 năm 1975 tại bãi biển gần phi trường Non Nước ở Đà Nẵng năm xưa.
Cao Vững.
KBC 4400 & 3333. B2, QL/VNCH.
Viết để ôn lại, để mà suy gẫm....!.
Last edited by TheLang on Thu Sep 16, 2010 3:37 am, edited 1 time in total.
Tướng Lãnh VNCH
http://ongvove.wordpress.com/2009/05/01 ... -30041075/
Những Vị Tướng Tự Sát :
* Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn 4 (1927-1975)
Vào lúc 11 Giờ 30, ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Nam sau khi từ giã các binh sỉ đã tự kết liễu đời mình.
* Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn 4 (19??-1975 )
Tướng Hưng đã được vinh danh “Anh Hùng An Lộc” trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở chiến trường An Lộc Bình long. Tướng Hưng đã tự sát vào tối ngày ngày 30.04.75 tại văn phòng riêng ở bộ chỉ huy phụ của Quân đoàn 4 (đồng thời là nơi gia đình Tướng Hưng tạm cư trú), sau khi nói lời từ giã với gia đình và bắt tay từ biệt tất cả quân sĩ bảo vệ bộ chỉ huy. Sau đó, ông đã quay vào văn phòng, khóa chặt cửa và tự sát bằng súng lục vào lúc 8 giờ 45 phút tối.
* Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh (1933-1975)
Sau khi nhận được lệnh phải đầu hàng, Tướng Vỹ đã tự sát bằng súng lục vào lúc 11 Giờ, ngày 30.04.75 tại tổng hành dinh ở Lai Khê.
* Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh (1925-1975)
Vào đêm ngày ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Hai đã tự sát tại trung tâm Ðồng Tâm.
* Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn 2 (1928-1975)
Thiếu Tướng Phú là người trách nhiệm trong cuộc hành quân triệt thoái quân dân khòi ba tỉnh Cao Nguyên, đã bị thất bại nặng nề và đau đớn nhất trong quân sử cận đại. Tướng Phú tự tử tại nhà vào ngày 30.04.75.
* Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn (1940-1975)
Ðại Tá Hồ ngọc Cẩn đã anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng. Ðại Tá Cẩn đã bị quân cộng sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ.
* Ðại Tá Ðặng Sĩ Vinh
Vào lúc 2 giờ ngày 30.04.75, hai tiếng đồng hồ sau khi Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng, Ðại Tá Vinh, cùng gia đình gồm vợ và bảy người con đã tự tử bằng súng lục.
* Trung-Tá Cảnh-Sát Nguyễn-Văn-Long
Trung-Tá Cảnh-Sát Nguyễn-Văn-Long tuẩn tiết sáng 30-4-75 dưới chân tượng đài Thủy quân lục chiến.
Những Vị Tướng đã rời Việt Nam trước ngày mất nước
01. Trung Tướng Nguyễn văn Thiệu, Tồng Thống kiêm Tư Lệnh Việt Nam Cọng Hoà. Lúc từ chức (ngày 21 tháng 4, 1975), ông tuyên bố là ông trở về quân đội để tiếp tục chiến đấu. Ngày 25,4,1975 ông Thiệu cùng ông Trần Thiện Khiêm rời Việt Nam trên một chuyến bay do Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ tổ chức.
02 Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng Kiêm Tồng Trưởng Quốc Phòng – từ chức thượng tuần tháng tư 1975 và rời Việt Nam cùng lúc với Nguyễn văn Thiệu .
03 Ðại Tướng Cao văn Viên, Tồng Tham Mưu Trưởng, Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà.
04 Trung Tướng Ðặng văn Quang, Phụ Tá An Ninh Quốc Gia, Phủ Tổng Thống.
05 Trung Tướng Lê Nguyên Khang, Phụ Tá Tồng Tham Mưu Trưởng, Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà.
06 Trung Tướng Ðồng văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng, Tổng Tham Mưu, Kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.
07 Trung Tướng Trần văn Trung, Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.
08 Trung Tướng Phan Trọng Chinh, Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Quân Huấn.
09 Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Ðoàn 1, Quân Khu 1. Người hùng của chiến trường Thành nội Huế hồi Tết Mậu Thân 1968 và chiến trường Huế-Quảng Trị trong trận chiến Mùa Hè đỏ lửa 1972.
10 Trung Tướng Nguyẽn văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn 3, Quân Khu 3.
11 Trung Tướng Nguyẽn văn Minh, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô.
12 Trung Tướng Lâm Quang Thi, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn 1.
13 Thiếu Tướng Hoàng Lạc, Tư Lệnh Phó Quân Khu 1.
14 Chuẩn Tướng Trần văn Nhựt, Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh.
15 Thiếu Tướng Nguyễn duy Hinh, Tư Lệnh Sư Ðoàn 3 Bộ Binh.
16 Chuẩn Tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.
17 Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù.
18 Chuẩn Tướng Bùi Thế Lân, Tư Lệnh Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến.
19 Phó Ðề Ðốc (Trung Tướng) Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân.
20 Trung Tướng Trần văn Minh, Tư Lệnh Không Quân.
21 Thiếu Tướng Võ xuân Lành, Tư Lệnh Phó Không Quân.
22 Chuẩn Tướng Ðổ Kiến Nhiễu, Ðô Trưởng Sài Gòn.
23 Thiếu Tướng Nguyẽn Khắc Bình, Tư Lệnh Cảnh Sát kiêm Ðặc Uỷ Trưởng Tình Báo Trung Ương, cùng các vị Tướng nắm giữ các ngành của lực lượng Cảnh Sát.
Những Vị Tướng đã rời Việt Nam trong ngày mất nước :
01 Thiếu Tướng Nguyễn cao Kỳ, cựu Tư Lệnh Không, cựu Phó Tổng Thống. Những ngày cuối cùng, ông tuyên bố là sẽ rút về đồng bằng sông Cửu Long tổ chức tử thủ.
02 Trung Tướng Vĩnh Lộc, nhận chức Tồng Tham Mưu Trưởng, Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà lúc 3 giờ chiều 29.04.1975.
03 Chuẩn Tướng Nhuyễn Hữu Tần, Tư Lệnh Sư Ðoàn 4 Không Quân, kiêm Tư Lệnh Không Quân từ ngày 29.04.1975.
04 Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức, nhận chức Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận lúc 5 giờ chiếu 29.04.1975. Khi nhận chức ông nói rằng: Nếu không xong thì ông xuống Cần Thơ đem Liên Ðoàn 7 Công Binh Kiến Tạo lên Thất Sơn (tỉnh Châu Ðốc) tổ chức chiến đấu.
Những Vị Tướng đã bị kẹt lại va` da~ bi Cong San dua di cac trai Tap Trung, lao dong kho sai:
http://ongvove.wordpress.com/2009/05/01 ... -30041075/

Những Vị Tướng Tự Sát :
* Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn 4 (1927-1975)
Vào lúc 11 Giờ 30, ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Nam sau khi từ giã các binh sỉ đã tự kết liễu đời mình.
* Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn 4 (19??-1975 )
Tướng Hưng đã được vinh danh “Anh Hùng An Lộc” trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở chiến trường An Lộc Bình long. Tướng Hưng đã tự sát vào tối ngày ngày 30.04.75 tại văn phòng riêng ở bộ chỉ huy phụ của Quân đoàn 4 (đồng thời là nơi gia đình Tướng Hưng tạm cư trú), sau khi nói lời từ giã với gia đình và bắt tay từ biệt tất cả quân sĩ bảo vệ bộ chỉ huy. Sau đó, ông đã quay vào văn phòng, khóa chặt cửa và tự sát bằng súng lục vào lúc 8 giờ 45 phút tối.
* Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh (1933-1975)
Sau khi nhận được lệnh phải đầu hàng, Tướng Vỹ đã tự sát bằng súng lục vào lúc 11 Giờ, ngày 30.04.75 tại tổng hành dinh ở Lai Khê.
* Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh (1925-1975)
Vào đêm ngày ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Hai đã tự sát tại trung tâm Ðồng Tâm.
* Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn 2 (1928-1975)
Thiếu Tướng Phú là người trách nhiệm trong cuộc hành quân triệt thoái quân dân khòi ba tỉnh Cao Nguyên, đã bị thất bại nặng nề và đau đớn nhất trong quân sử cận đại. Tướng Phú tự tử tại nhà vào ngày 30.04.75.
* Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn (1940-1975)
Ðại Tá Hồ ngọc Cẩn đã anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng. Ðại Tá Cẩn đã bị quân cộng sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ.
* Ðại Tá Ðặng Sĩ Vinh
Vào lúc 2 giờ ngày 30.04.75, hai tiếng đồng hồ sau khi Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng, Ðại Tá Vinh, cùng gia đình gồm vợ và bảy người con đã tự tử bằng súng lục.
* Trung-Tá Cảnh-Sát Nguyễn-Văn-Long
Trung-Tá Cảnh-Sát Nguyễn-Văn-Long tuẩn tiết sáng 30-4-75 dưới chân tượng đài Thủy quân lục chiến.
Những Vị Tướng đã rời Việt Nam trước ngày mất nước
01. Trung Tướng Nguyễn văn Thiệu, Tồng Thống kiêm Tư Lệnh Việt Nam Cọng Hoà. Lúc từ chức (ngày 21 tháng 4, 1975), ông tuyên bố là ông trở về quân đội để tiếp tục chiến đấu. Ngày 25,4,1975 ông Thiệu cùng ông Trần Thiện Khiêm rời Việt Nam trên một chuyến bay do Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ tổ chức.
02 Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng Kiêm Tồng Trưởng Quốc Phòng – từ chức thượng tuần tháng tư 1975 và rời Việt Nam cùng lúc với Nguyễn văn Thiệu .
03 Ðại Tướng Cao văn Viên, Tồng Tham Mưu Trưởng, Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà.
04 Trung Tướng Ðặng văn Quang, Phụ Tá An Ninh Quốc Gia, Phủ Tổng Thống.
05 Trung Tướng Lê Nguyên Khang, Phụ Tá Tồng Tham Mưu Trưởng, Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà.
06 Trung Tướng Ðồng văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng, Tổng Tham Mưu, Kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.
07 Trung Tướng Trần văn Trung, Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.
08 Trung Tướng Phan Trọng Chinh, Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Quân Huấn.
09 Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Ðoàn 1, Quân Khu 1. Người hùng của chiến trường Thành nội Huế hồi Tết Mậu Thân 1968 và chiến trường Huế-Quảng Trị trong trận chiến Mùa Hè đỏ lửa 1972.
10 Trung Tướng Nguyẽn văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn 3, Quân Khu 3.
11 Trung Tướng Nguyẽn văn Minh, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô.
12 Trung Tướng Lâm Quang Thi, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn 1.
13 Thiếu Tướng Hoàng Lạc, Tư Lệnh Phó Quân Khu 1.
14 Chuẩn Tướng Trần văn Nhựt, Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh.
15 Thiếu Tướng Nguyễn duy Hinh, Tư Lệnh Sư Ðoàn 3 Bộ Binh.
16 Chuẩn Tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.
17 Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù.
18 Chuẩn Tướng Bùi Thế Lân, Tư Lệnh Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến.
19 Phó Ðề Ðốc (Trung Tướng) Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân.
20 Trung Tướng Trần văn Minh, Tư Lệnh Không Quân.
21 Thiếu Tướng Võ xuân Lành, Tư Lệnh Phó Không Quân.
22 Chuẩn Tướng Ðổ Kiến Nhiễu, Ðô Trưởng Sài Gòn.
23 Thiếu Tướng Nguyẽn Khắc Bình, Tư Lệnh Cảnh Sát kiêm Ðặc Uỷ Trưởng Tình Báo Trung Ương, cùng các vị Tướng nắm giữ các ngành của lực lượng Cảnh Sát.
Những Vị Tướng đã rời Việt Nam trong ngày mất nước :
01 Thiếu Tướng Nguyễn cao Kỳ, cựu Tư Lệnh Không, cựu Phó Tổng Thống. Những ngày cuối cùng, ông tuyên bố là sẽ rút về đồng bằng sông Cửu Long tổ chức tử thủ.
02 Trung Tướng Vĩnh Lộc, nhận chức Tồng Tham Mưu Trưởng, Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà lúc 3 giờ chiều 29.04.1975.
03 Chuẩn Tướng Nhuyễn Hữu Tần, Tư Lệnh Sư Ðoàn 4 Không Quân, kiêm Tư Lệnh Không Quân từ ngày 29.04.1975.
04 Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức, nhận chức Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận lúc 5 giờ chiếu 29.04.1975. Khi nhận chức ông nói rằng: Nếu không xong thì ông xuống Cần Thơ đem Liên Ðoàn 7 Công Binh Kiến Tạo lên Thất Sơn (tỉnh Châu Ðốc) tổ chức chiến đấu.
Những Vị Tướng đã bị kẹt lại va` da~ bi Cong San dua di cac trai Tap Trung, lao dong kho sai:

