Quán Sinh Tố
Moderator: khieulong
Người Huế là tổ tiên của người Nhật ?
Trước khi đọc câu chuyện bên dưới, độc giả cần làm quen với vài câu nói tiếng Nhật sau đây để đối chiếu với ngôn ngữ dùng trong câu chuyện. Những câu nói ngắn tiêu biểu trong tiếng Nhật thường là những cụm từ kết hợp khoảng 4 từ:
- Konnichiwa (cô-ni-chi-va) (Chào bạn)
- Ogenki desu ka (ô-gen-ki-dex- ka) (Bạn có khỏe không?)
- Hai, genki desu (hẩy - gen-ki-dex) (Dạ khỏe)
- Anata wa? (a-na-ta-va) (Còn bạn khỏe không?)
- Watashi-mo genki-desu (oa-ta-Si-mô gen-ki-dex) (Tôi cũng khỏe)
- Arigatou (a-ri-ga-tô) (Cám ơn bạn)
Có một nhà nghiên cứu nhân chủng học người Nhật đi tìm nguồn gốc tổ tiên của dân tộc mình. Ông ta đã đi khắp thế giới để tìm kiếm nhưng vô vọng. Cuối cùng ông trở về Châu Á và đặt chân đến Việt Nam. Ông đi tàu lửa từ ga Hà Nội vào đến ga Huế. Trên sân ga Huế, tình cờ ông được nghe 2 người dân địa phương nói chuyện với nhau:
- Mi đi ga ni?
- Ừ, tau đi ga ni. Mi đi ga mô?
- Ga tê. Tau đi ga tê.
- Ga tê ga chi?
- Ga Lăng Cô tề.
- Răng đông như ri?
- Ri mà đông chi!
- Mi ra ga mô?
- Ra ga Nam Ô.
- Khi mô mi đi?
- Chừ chơ khi mô.
- Mi lo ra đi.
- Ừ, tau đi nghe mi!
Nhận ra cách phát âm ngôn ngữ của người dân địa phương ở đây không khác gì tiếng Nhật ngày nay, nhà nghiên cứu người Nhật đã mừng rỡ reo lên: “A! Đây chính là tổ tiên của người Nhật rồi!”
Trước khi đọc câu chuyện bên dưới, độc giả cần làm quen với vài câu nói tiếng Nhật sau đây để đối chiếu với ngôn ngữ dùng trong câu chuyện. Những câu nói ngắn tiêu biểu trong tiếng Nhật thường là những cụm từ kết hợp khoảng 4 từ:
- Konnichiwa (cô-ni-chi-va) (Chào bạn)
- Ogenki desu ka (ô-gen-ki-dex- ka) (Bạn có khỏe không?)
- Hai, genki desu (hẩy - gen-ki-dex) (Dạ khỏe)
- Anata wa? (a-na-ta-va) (Còn bạn khỏe không?)
- Watashi-mo genki-desu (oa-ta-Si-mô gen-ki-dex) (Tôi cũng khỏe)
- Arigatou (a-ri-ga-tô) (Cám ơn bạn)
Có một nhà nghiên cứu nhân chủng học người Nhật đi tìm nguồn gốc tổ tiên của dân tộc mình. Ông ta đã đi khắp thế giới để tìm kiếm nhưng vô vọng. Cuối cùng ông trở về Châu Á và đặt chân đến Việt Nam. Ông đi tàu lửa từ ga Hà Nội vào đến ga Huế. Trên sân ga Huế, tình cờ ông được nghe 2 người dân địa phương nói chuyện với nhau:
- Mi đi ga ni?
- Ừ, tau đi ga ni. Mi đi ga mô?
- Ga tê. Tau đi ga tê.
- Ga tê ga chi?
- Ga Lăng Cô tề.
- Răng đông như ri?
- Ri mà đông chi!
- Mi ra ga mô?
- Ra ga Nam Ô.
- Khi mô mi đi?
- Chừ chơ khi mô.
- Mi lo ra đi.
- Ừ, tau đi nghe mi!
Nhận ra cách phát âm ngôn ngữ của người dân địa phương ở đây không khác gì tiếng Nhật ngày nay, nhà nghiên cứu người Nhật đã mừng rỡ reo lên: “A! Đây chính là tổ tiên của người Nhật rồi!”

Hoa Tím Bằng Lăng
Nguyễn Duy-An Vì chiều cao "rất khiêm nhường" của mình, tôi cứ phải loay hoay điều chỉnh cái máy video cầm tay, cố gắng thâu lại hình ảnh của Tuân đang từ từ bước lên khán đài nhận bằng kỹ sư để mai mốt mang về Việt Nam "vinh quy bái tổ". Tuân là đứa con "rất đặc biệt" của chúng tôi. Vợ chồng tôi mới cưới nhau được 10 năm nhưng Tuân năm nay vừa tròn 22 tuổi! Gia đình bên vợ và người ngoài cứ nghĩ nó là con riêng của tôi mang theo từ Việt Nam; và chúng tôi nghĩ Tuân cũng tin như thế, vì mỗi lần gọi điện thoại về Việt Nam nó vẫn gọi mẹ tôi là bà nội. Tuy nhiên, Tuân vẫn một lòng kính trọng Oanh như mẹ ruột, và vợ tôi cũng rất thương yêu và lo lắng cho nó ngay cả trước khi chúng tôi nên vợ thành chồng.
Sau bao nhiêu lần thử nghiệm và biết chắc chắn tôi không thể có con; thay vì buồn phiền, Oanh lại săn sóc cha con tôi nhiều hơn. Đã mấy tháng nay nàng chạy ngược chạy xuôi lo thu tục giấy tờ để tuần sau chúng tôi về Việt Nam nhận một đứa cháu gái của tôi làm con nuôi. Ngày nhận được kết quả thử nghiệm xác định tôi không thể có con, Oanh đã âu yếm nhìn tôi thỏ thẻ: "Ngay từ đầu em vẫn tin anh. Em không buồn đâu anh ạ! Em chấp nhận số phận, nhất là chúng mình đã có Tuân... Tuy nhiên, em nghĩ chúng mình cũng nên nhận thêm một đứa con nuôi cho vui cửa vui nhà. Nếu anh đồng ý, em sẽ lo giấy tờ để chúng mình nhận một đứa con của chú Khang làm con nuôi. Mình nuôi cháu vẫn tốt hơn..." Đó là lý do Oanh sắp xếp để ngay sau khi Tuân ra trường, chúng tôi sẽ về Việt Nam thăm gia đình và nhất là đưa Tuân về thăm lại mộ Trang, người mẹ ruột của Tuân đã ra đi trong tủi nhục ngày nó mới được 3 tháng tuổi, và Tuân trở thành"�con trai" của tôi hơn hai mươi năm về trước tại Bình Giả, Việt Nam.
* * * * *
Ngày đó tôi cũng khoảng tuổi của Tuân bây giờ. Tôi trở về Bình Giả năm 1979, sau mấy năm gồng mình cầm cự với nghề "gõ đầu trẻ" tại một vùng kinh tế ở Sông Bé. Tôi thương đám học trò nghèo đói nhiều lắm nhưng chính tôi cũng không chịu nổi cảnh đói nghèo vì lương không đủ ăn nên đành phải bỏ trường về quê ăn bám gia đình sống qua ngày. Sau bốn năm trời vừa dạy học, vừa làm rẫy sống lây lất qua ngày, sức tôi đã kiệt quệ! Tôi đã "cắt hộ khẩu" ở trường cũ, nhưng không xin "nhập hộ khẩu" tại Bình Giả vì tôi trở về với ý định tìm đường vượt biên. Đã mấy năm rồi, bà con trong làng ai cũng biết tôi đi dạy học ở vùng kinh tế mới, và thỉnh thoảng vẫn về quê thăm cha mẹ cũng như xin thêm gạo, bắp... nên không ai thắc mắc hay hỏi han giấy tờ tạm trú. Mùa mưa năm đó, ngoài việc chuẩn bị dầu nhớt cho chuyến vượt biên chung với một số bạn bè ngoài Láng Cát, tôi vẫn theo các em làm rẫy, làm ruộng, và nhất là vào rừng kiếm măng tre. Trong một dịp mò mẫm giữa rừng tre, tôi đã gặp lại anh Thành, một người trốn trại cải tạo, đang lẩn trốn trong rừng để tìm cách liên lạc với người vợ mới cưới được mấy tuần trước ngày anh đi học tập. Hôm đó trời trở cơn giông đột ngột, tôi chạy vội tới một gốc cây bằng lăng để trú mưa vì lúc đi rừng tôi quên không mang theo áo mưa. Lúc tới được gốc "cây cổ thụ", tôi đã "hồn vía lên mây" khi nghe tiếng gọi tên mình vọng xuống từ ngọn cây:
- Toàn. Toàn phải không?
Tôi ngơ ngác kiếm tìm xem ai đã gọi mình, nhưng trời đã tối mịt vì cơn mưa trong rừng nên chẳng thấy gì. Tôi sợ quá, đang định chạy trốn thì một sợi giây thòng xuống từ một cành bằng lăng rậm rạp phía trên đầu... Một bóng người trùm kín trong chiếc áo mưa cũ kỹ, vừa tuột xuống vừa lên tiếng:
- Mình đây. Thành đây.
Anh Thành đã xuống đất. Tôi đứng chết sững ngó đăm đăm người "đàn anh" nổi tiếng đẹp trai và hào hùng của mấy năm về trước, bây giờ ốm yếu da bọc xương, đen đủi hốc hác đang run cầm cập vì đói và rét. Tôi ngập ngừng:
- Trời ơi! Đúng là anh Thành đây mà. Sao anh ra nông nỗi này?
- Mình trốn trại cải tạo về đây đã mấy tuần rồi nhưng không dám về nhà, sợ bị bắt lại. Trời xui đất khiến cho dịp gặp được Toàn ở đây. Đúng là số mình chưa chết.
- Anh đừng nói gở. Bây giờ anh tính sao?
- Toàn có gì ăn không? Hơn hai tuần nay mình...
Tôi chỉ định đi kiếm măng vài tiếng đồng hồ nên chẳng mang theo gì ngoài con dao cán dài để đào măng. Cũng may trong túi còn gói thuốc lá và mấy miếng kẹo cao-su (chewing gum). Sau khi kể cho tôi nghe sơ qua về cuộc đào thoát từ trại cải tạo, anh bẻ một cành hoa bằng lăng mầu tím, khắc một dấu hiệu đặc biệt lên đó và nhờ tôi mang về cho Trang, vợ anh, đang ở với cha mẹ chồng trên Xuân Mỹ, Làng Ba. Tôi vội vàng trở về, hẹn hôm sau sẽ dẫn người nhà của anh vô rừng sớm. Thấy tôi trở về với một cành hoa bằng lăng mầu tím, mẹ và em gái tôi ngạc nhiên lắm, nhưng tôi cũng chẳng giải thích. Tôi dò hỏi đứa em gái về Trang, vợ của anh Thành. Lúc đó tôi mới biết chuyện anh Thành trở về Bình Giả sau năm 1975 với một cô gái người miền Nam, bổn đạo mới. Gia đình anh Thành không chấp nhận nhưng cũng đành xin cha xứ làm phép cưới cho hai người mấy tuần trước ngày anh ấy lên đường đi "học tập". Năm đó Trang mới 17 tuổi, nhưng vì loạn lạc, gia đình chẳng còn ai nên đã theo người yêu là anh Thành trở về Bình Giả. Niềm vui chưa trọn vẹn thì hoàn cảnh ngang trái đã chia cách đôi vợ chồng trẻ hơn bốn năm nay. Trang ở với gia đình cha mẹ chồng như một chiếc bóng cô đơn bên đường, mòn mỏi đợi chờ ngày chồng trở lại!
Tôi mang cành hoa bằng lăng mầu tím lên Xuân Mỹ tìm nhà anh Thành. Hai bác tỏ vẻ khó chịu khi tôi hỏi thăm và muốn gặp Trang. Về sau tôi mới hiểu là ở Bình Giả đâu có ai mang hoa tới nhà cho con gái; hơn nữa, nàng lại là một người con gái đã có chồng! Từ nhà bếp đi lên, nhìn thấy tôi cầm cành hoa bằng lăng mầu tím trong tay, nàng đứng sững sờ nhìn tôi, miệng ấp úng nói không nên lời. Tôi vội vàng lên tiếng:
- Có người nhờ tôi trao cành hoa này cho Trang. Có dấu hiệu khắc trên đó.
Trang cầm cành hoa rồi bật khóc nức nở:
- Trời ơi! Anh Thành! Anh đã gặp anh Thành...
Bác gái vừa đỡ Trang ngồi xuống bên cạnh, vừa dồn dập hỏi tôi:
- Cậu Toàn gặp thằng Thành nhà tôi ở mô rứa? Công an đang truy nã nó mấy tuần nay. Trang nín đi con. Tai vách mạch rừng. Chết! Chết cả nhà bây giờ! Ngày nào cũng có người tới nhà hạch hỏi về nó. Ông đóng cửa lại mau đi. Khổ thân con tôi!
Tôi thầm thì kể lại cuộc gặp gỡ anh Thành trong rừng hồi chiều cho hai bác và Trang nghe. Cuối cùng cả nhà quyết định sẽ chuẩn bị một số thức ăn và thuốc men rồi tờ mờ sáng hôm sau Trang xuống nhà tôi đi vào rừng tìm gặp anh Thành. Nếu có ai hỏi thì nói là gia đình tôi thuê nàng đi làm cỏ lúa ở Đồng Tròn. Bác trai cũng muốn đi theo nhưng không dám vì sợ hôm sau công an lại tới nhà làm việc.
Suốt một tuần liền, ngày nào Trang cũng "đi làm thuê" cho tôi để vào rừng gặp gỡ anh Thành. Cám cảnh trước hoàn cảnh hiện tại, sau mấy ngày bàn bạc cùng gia đình, tôi đã quyết định nhường chỗ trên ghe cho anh Thành. Chúng tôi cũng sắp xếp cho anh Thành theo xe bò của một người quen ở Hòa Long đi lấy cọc tiêu để tránh gặp gỡ những người quen, rồi tôi đón anh ấy ra Long Hương "ở nhờ" nhà một người bạn thân của tôi để chờ ngày ra đi. Hơn hai tháng trời, tôi và Trang trở thành những người đi buôn chuyến. Thực ra, tôi chỉ chở Trang ra Long Hương gặp chồng, có khi ở đó một hai ngày trong lúc tôi đi Hố Nai, Gia Kiệm... lo việc riêng. Người trong làng đã bắt đầu đồn đãi về việc tôi và Trang đi buôn chung với nhau, nhất là còn đi qua đêm nữa! Mẹ tôi buồn lắm! Mặc dầu tin tôi, nhưng "lời ong tiếng ve" đồn thổi nhiều chuyện ly kỳ hấp dẫn về chúng tôi nên bà rất khổ tâm. Cha mẹ của anh Thành có vẻ bình tĩnh hơn vì nghĩ rằng những lời đồn đãi đó sẽ làm người ta quên dần chuyện anh Thành trốn trại cải tạo. Tôi vẫn xem Trang như một người bạn thân vì tôi cũng chỉ hơn nàng một tuổi, còn anh Thành thì xem tôi như một đứa em ruột, "một vị cứu tinh" đã dám liều mình cưu mang và giúp đỡ anh trong cơn hoạn nạn.
Anh Thành và một số bạn bè của tôi đã ra đi đột ngột trước ngày dự tính vì công việc "bến bãi" bị đổ bể. Sau một tuần không thấy tin tức gì về chiếc ghe đó, chúng tôi yên chí anh Thành đã ra khơi bằng yên. Tôi lại theo bạn bè tìm cách mua lại một chiếc ghe cũ ở Cần Giờ, đút lót xin giấy tờ tạm trú và bắt đầu công việc sửa chữa chuẩn bị một chuyến đi mới. Công việc bề bộn nên gần ba tháng sau tôi mới trở về thăm gia đình. Mẹ tôi vừa khóc vừa kể cho tôi nghe về hoàn cảnh của Trang. Nàng đã có thai, bụng càng ngày càng lớn. Anh Thành coi như mất tích vì không có tin tức gì. Bà con trong họ chất vấn nàng nhiều lần về đứa bé trong bụng. Lúc đầu cha mẹ anh Thành tin Trang, nhưng không biết làm sao để giải thích. Mọi người đổ tiếng xấu cho tôi và nàng. Dần dà cả gia đình nhà chồng cũng tin lời đồn đãi của thiên hạ, nhất là chờ mãi không thấy tin tức gì của anh Thành nên bắt đầu hạch hỏi và coi khinh nàng. Hai bác đã xuống nhà nói chuyện với mẹ tôi, có vẻ trách móc và đặt vấn đề tại sao chính tôi cũng trốn biệt từ mấy tháng nay. Mẹ tôi chỉ biết ngồi khóc vì tủi nhục! Em gái tôi cũng nửa tin nửa ngờ nên đã tìm gặp Trang để hỏi cho ra lẽ. Nó tin lời giải thích của Trang nên càng ngày càng thân với nàng.
Tuổi trẻ bồng bột và nhiều tự ái nên tôi đã lên gặp cha mẹ anh Thành đôi co và cãi vã với cả gia đình và giòng họ anh ấy để bênh vực cho Trang, nhưng rồi mọi người lại khinh bỉ và ghét bỏ Trang nhiều hơn trước. Quá tủi nhục và hổ thẹn, Trang đã liều mình tự tử! Cũng may người nhà phát giác kịp thời và cứu chữa cho nàng và bào thai trong bụng. Mặc dầu được cứu sống nhưng Trang trở nên lầm lì ít nói, sống vật vờ như một cái xác không hồn giữa sự khinh ghét của giòng họ nhà chồng.
Lúc bấy giờ em gái tôi cũng mới mang thai nên đã bàn với mẹ xin cho Trang về ở chung cho đỡ buồn và cùng đỡ đần giúp đỡ nhau trong lúc bầu bì cho có chị có em. Chính vì lòng tốt của em gái tôi mà cả làng đều nghĩ đứa con trong bụng Trang là của tôi. Mỗi lần tôi về thăm, Trang khóc nức nở không phải vì nỗi tủi nhục khi bị mọi người phỉ báng, nhưng nàng khóc vì đã làm hại danh dự của gia đình tôi. Lại một lần nữa, mẹ tôi gọi hai đứa lên hỏi han ngọn nguồn, và khi nghe chúng tôi thề thốt không hề có tà ý với nhau, mẹ tôi đã "ngồi xổm trên dư luận" để nhận Trang làm con tinh thần trong khi mọi người nghĩ rằng mẹ tôi làm thế để tránh tiếng vì bà biết bào thai trong bụng Trang là cháu nội của bà. Mẹ tôi âm thầm ngậm đắng nuốt cay để an ủi vỗ về Trang, mong cứu vớt một linh hồn vì mẹ tôi sợ rằng Trang lại liều mình tự tử như mấy tháng trước. Ôi! Mẹ đã hy sinh chịu nhục vì con và vì thương một người côi cút trong cơn hoạn nạn. Con xin cúi đầu bái phục lòng can đảm của mẹ cho đến trọn đời.
Trước ngày ra đi, tôi đã trở về để từ giã gia đình. Ngay khi biết tin tôi sắp sửa ra đi, Trang đã khóc nức nở và chuyển bụng sinh con. Vì bao nhiêu biến cố xẩy ra dồn dập suốt thời kỳ mang thai, Trang đã trải qua một đêm dài đau đớn, quằn quại đến kiệt sức nên y tá trong làng đề nghị phải đưa nàng đi cấp cứu ở bệnh viện để mổ. Đáng lẽ sáng hôm sau tôi phải trở lại Cần Giờ để chuẩn bị ra đi, nhưng tôi đi không đành nên đã lỡ một "chuyến đò". Tôi theo mẹ và Trang ra bệnh viện. Trong lúc làm thủ tục giấy tờ trước khi đưa Trang lên bàn mổ, người ta đòi phải có thân nhân ký tên trong giấy tờ nên tôi đã đứng ra lo liệu... Cũng có thể vì lầm lẫn, và cũng có thể do số phận an bài nên các bác sĩ và y tá đã ghi tên tôi là "chồng" của Trang trong hồ sơ bệnh lý. Đó là lý do tại sao Tuân trở thành con tôi! Khi nghe tin Trang đi mổ, cha mẹ anh Thành cũng ghé thăm và xin lỗi mẹ tôi vì những hiểu lầm trước đây. Mẹ tôi cũng không chấp nhất gì nên mọi người đều vui vẻ.
Sau hai tuần Trang được xuất viện, trở về nhà với mẹ tôi. Mẹ tôi bàn qua với hai bác việc lên cha xin rửa tội cho cháu, và chính tờ giấy bệnh viện ghi tên tôi là cha đứa nhỏ đã gây nên sóng gió ồn ào cả xứ đạo. Cha xứ lắng nghe, nhưng Ban Hành Giáo và bà con trong họ anh Thành quyết liệt phản đối. Họ đến nhà hạch hỏi mẹ tôi đủ điều. Tuổi trẻ háo thắng nên tôi đã nổi nóng đuổi hết mọi người và quyết định chẳng thèm xin rửa tội cho Tuân nữa! Tôi chỉ muốn mọi người để cho chúng tôi yên nhưng miệng người không phải dễ "khóa"! Tôi ngang tàng chấp nhận sự dèm pha của mọi người và cứ hiên ngang ngẩng đầu tiếp tục chạy mánh tìm ghe lo chuyện vượt biên lần nữa. Lần này tôi quyết định sẽ đưa mẹ con Trang cùng đi. Tôi có thể "đạp dư luận xuống bùn đen" để sống, nhưng Trang phải âm thầm than khóc từng đêm, nức nở đè nén "nỗi oan Thị Kính" từng giờ từng phút nên đã bị băng huyết cho đến chết, và chết trong tủi nhục vào một đêm tôi vắng nhà! Tôi trở về nhìn xác Trang nằm im bất động mà thấy lòng muốn nổi loạn. Tôi biết chắc chắn những phút cuối đời Trang đã phải quằn quại trong đớn đau tủi nhục! Tôi đã thực sự thù ghét mọi người trong xứ khi biết tin "người ta" không muốn cho tôi chôn Trang ở nghĩa địa giáo xứ vì bà con trong làng nghĩ rằng Trang đã tự tử! Tôi không hiểu tại sao cả xứ lại lên án và "trừng phạt" thân xác một người đã chết trong khi hằng tuần ở nhà thờ vẫn đọc kinh "Thương Người Có 14 Mối, Thương Xác 7 Mối", trong đó có ghi rõ việc "chôn xác kẻ chết"! Đâu có ai hiểu được nỗi đau đớn và tủi nhục đã gặm nhấm tim gan Trang từng giây từng phút vì bị cả làng, cả xứ kết tội oan ức, và nhất là sự dằn vặt nàng phải gánh chịu vì đã "gieo họa" cho gia đình tôi! Đâu có ai ở gần kề bên Trang trong những giây phút cuối đời của nàng để "kết án" nàng đã "liều mình tự tử"!!! Mẹ tôi muốn lên xin cha xứ giúp đỡ nhưng tôi đã điên lên phản đối. Tôi nhờ bạn bè ở xa về đào huyệt chôn Trang trong một góc rẫy của gia đình tôi ở mép rừng. Tôi đã bỏ xưng tội, bỏ lễ cả mấy năm trời vì lòng thù hận vẫn chưa nguôi! Đã nhiều đêm tôi gục đầu dưới tượng chịu nạn van xin lòng nhân từ hay thương xót của Chúa thay đổi trái tim "thù hận" của tôi, và tôi cũng xin Ngài thương tha cho những người đã kết tội "oan" cho chúng tôi! Tôi chỉ thật sự trở về với Chúa như "một con chiên lạc" mấy tuần trước ngày vượt biên...
Cháu Tuân tuy mồ côi mẹ nhưng được bú nhờ sữa của em gái tôi cũng mới sinh được vài tháng nên cháu vẫn lớn lên theo ngày tháng trong tình thương yêu đùm bọc của gia đình tôi. Tôi vẫn đi đi, về về tìm mối làm ghe vượt biển. Những hôm ở nhà, thỉnh thoảng tôi bế Tuân ra rẫy, đến ngồi bên mộ Trang khấn nguyện. Công việc làm ghe càng ngày càng khó khăn nên mãi 4 năm sau tôi mới thành công. Trước khi lên đường, tôi đã vô rừng tìm kiếm và đào được một cây bằng lăng nhỏ đem trồng bên mộ Trang để làm kỷ niệm. Lúc bấy giờ Tuân đã chạy nhanh, nói sõi và lúc nào cũng quấn quít bên tôi những ngày tôi về quê. Cuối cùng tôi quyết định sẽ dẫn Tuân cùng đi mặc dầu mẹ tôi can ngăn nhiều lần. Tôi đã đi và tôi đã đến. Chính nhờ sự liều lĩnh của tôi mà Tuân có được ngày hôm nay. Tôi hãnh diện vì sự thành đạt của Tuân. Tôi mang ơn Oanh vì nàng đã tận tình yêu thương săn sóc "cha con" tôi từ bao nhiêu năm qua. Nếu không có tình yêu và lòng vị tha thông cảm của Oanh, tôi đã ngã quỵ trong cô đơn nơi xứ lạ quê người, và Tuân lại một lần nữa thành trẻ "mồ côi"! Nhìn hình ảnh Tuân hiên ngang bước lên khán đài, tôi cảm động rưng rưng nước mắt. Tôi không khóc khi Trang chết. Tôi không khóc khi phải chôn nàng ở mép rừng thay vì nghĩa trang của giáo xứ. Tôi không khóc khi từ giã mẹ già và gia đình ra đi, nhưng giờ này tôi khóc vì biết chắc chắn Tuân đã trưởng thành, và mấy ngày nữa sẽ về thăm mộ mẹ đang nằm cô đơn hiu quạnh dưới gốc cây bằng lăng "cha con" tôi đã trồng trước ngày "biệt xứ".
* * * * *
Oanh đứng nép sát người tôi, run run cảm động nhìn Tuân đốt hương cắm lên mộ Trang rồi quỳ xuống gục mặt khóc thật to. Tôi dìu Oanh đến cạnh gốc cây bằng lăng đã bị đốn từ mấy năm trước, chỉ còn một số chồi non mới lên được vài mét. Tôi kinh ngạc khi khám phá ra một cành bằng lăng mới chớm vài nụ hoa mầu tím. Tôi với tay bẻ rồi cùng Oanh đến quỳ bên cạnh Tuân, nhẹ nhàng đặt cành hoa mầu tím trên ngôi mộ của Trang. Tuân ngẩng mặt lên nhìn hai chúng tôi khẽ nói:
- Con biết mẹ con đang mỉm cười bên kia thế giới. Con xin thay mặt cha mẹ quỳ lạy ba má đã nuôi con nên người.
Tuân nhẹ nhàng trao cho tôi tờ giấy thử nghiệm mẫu DNA (deoxyribonucleic acid) xác định nó và tôi không phải "cha con".
Nguyễn Duy-An

Danh Ngôn cua Phái Đẹp :
Ðàn bà đẹp là thiên đường của đôi mắt
Và là địa ngục của... túi tiền.(Estonia)
Không phải những người đẹp là người hạnh phúc
Mà những người hạnh phúc là những người đẹp.(K.D)
Sức mạnh và phẩm giá là đồ trang sức của phụ nữ.(Unknown)
Khi đàn ông tụ hợp, họ lắng nghe nhau.
Khi đàn bà tụ hợp, họ ngắm nghía nhau.
Tắt đèn, đàn bà nào cũng đẹp. (Plutarque)
Ðàn ông giết người bằng gươm
Ðàn bà giết người bằng ánh mắt. (Carrel)
Vẻ đẹp tuyệt đỉnh của người đàn bà giết chết cái tình dục của kẻ đang thèm muốn nó. (J. P. Sartre)
Sắc đẹp làm vui mắt, sự dịu hiền thu hút lòng người. (Voltaire)
Hãy nhìn hai lần để thấy cái đúng; chỉ cần nhìn một lần để thấy cái đẹp. (F. Amiel)
Người không khát - nhìn thấy người đẹp cũng khát.
Người không đói - nhìn thấy người đẹp cũng đói.
Người muốn chết - nhìn thấy người đẹp lại không muốn chết nữa.
Người đẹp là ước mơ
Treo trước mắt mọi người!
- Trong đàn bà, tình bạn gần với tình yêu. [Thomas Moore]
- Gió thay đổi chiều mỗi ngày, người đàn bà thì thay đổi mỗi giâỵ [tục ngữ Tây Ban Nha]
- Khí giới của đàn bà là những giọt nước mắt. [Shakespeare]
- Đàn bà hoàn toàn thấy rõ rằng họ càng vâng lời bao nhiêu thì họ càng chỉ huy bấy nhiêu.[Jules Michelet]
- Khi chúng ta không thu hút được người đàn bà thì đừng đeo đuổi họ nữa. Người đàn bà chỉ bị chinh phục khi người đàn ông đủ sức hấp dẫn họ. Một khi họ thấy bị đeo đuổi, họ sẽ từ khước. [Krassovsky]
- Đối với người đàn bà, không được yêu là một tai họa; nhưng không được yêu nữa mới thực là một cái nhục. [Montesquieu]
- Nơi nào có người đàn bà đẹp, thì nơi đó có người đàn ông thở dài. [Tục Ngữ Hung-Ga-Ri]
- Người ta có thể quyến rũ người đàn bà bằng sự dối trá, nhưng người ta chỉ có thể chinh phục được họ với tấm lòng thành thật. [Krassovsky]
- Khen tặng người đàn bà khác trước mặt người yêu là một sự sỉ nhục không thể tha thứ được. [Bà De Stael]
- Một nửa ưu sầu của phụ nữ sẽ không còn nếu họ có thể dằn lòng đừng nói những điều mà họ biết là vô ích. Hơn thế nữa, những điều cần giải quyết thì họ lại không nói ra. [George Eliot]
- Ai có thể cai trị được một người đàn bà thì người ấy có thể cai trị được một nước. [Honoré De Balzac]
- Khi một người đàn bà hứa yêu anh, anh không nên luôn luôn tin họ, nhưng khi họ bảo không yêu anh. Ấy, anh cũng không nên tin họ nữạ [Edouard Bourdet]
- Tiền bạc cũng như phụ nữ, muốn giữ nó thì phải săn sóc nó một chút, bằng không.... nó đi tạo hạnh phúc cho kẻ khác. [Edouart Bourdet]
- Ra đời trăm trận trăm thắng, về nhà không thắng nổi người đàn bà. [Napoleon]
- Có hai loại đàn bà: một loại muốn chữa những sai lầm của người đàn ông, còn loại kia muốn là một lỗi lầm. [Hỵ Sheridan]
- Hỡi ôi! Được người đàn bà yêu thì ai cũng biết là điều thích thú, nhưng dễ sợ lắm. [Lord Byron]
- Phụ nữ làm cho cách xử thế ở đời được trau chuốt và khiến cho người ta chuộng sự lễ độ. Họ là thầy dạy chân chính về mỹ quan và là người khích lệ mọi sự hy sinh. Hiếm có người đàn ông nào yêu thương họ mà lại là người man rợ [Gabriel Legouvé]
- Người đàn bà nào quý trọng đạo đức của tâm hồn mình hơn sự thông minh và bóng sắc của mình, là hạng người đứng trên đồng loại của mình. Kẻ nào quý trọng bóng sắc của mình hơn tài đức của mình, là hạng đàn bà tầm thường. Nhưng kẻ nào quý trọng địa vị và giai cấp của mình hơn bóng sắc của mình, là hạng người đàn bà đứng ngoài lề đồng loại của họ : họ không phải là người đàn bà. [Chamfort]
- Người đàn bà sẵn sàng tự nhận mình nói quấy khi họ nói phải, hơn là khi họ nói quấỵ [Jean Charles]
- Bí quyết hạnh phúc của người đàn bà là tự tin cái vui trong bổn phận [Dr. Auton]
- Có một cách khen tặng người đàn bà mà họ thích nhất là nói xấu người đàn bà đối thủ của họ. Khen tặng người đàn bà mà đồng thời cũng khen tặng một người đàn bà khác, thì sự khen tặng của mình thành vô giá trị.[Bà De Girardin]
- Không có người đàn bà nào mà không thích nghe người khác nói xấu kẻ thù của mình hơn là nói tốt cho chồng mình. [Bà De Marie Laure De Noailles]
- Người đàn bà mà thật thà là lúc họ thấy không cần thiết phải dùng đến sự dối trá vô ích. [Anatole France]
- Mê người đàn bà thì dễ, yêu người đàn bà thì khó. [Marcel Aymé]
- Người đàn bà đẹp là thiên đàng của cặp mắt, mà là địa ngục của tâm hồn. [Pope]
- Cái đẹp của người đàn bà không khác nào những mùi thơm thoảng qua và tan đi rất mau chóng, hễ ngửi quen rồi thì không ai còn để ý nữạ [Bà De Lambert]
- Đẹp là ở con mắt người khác ngắm nhìn [Le Wallace]
- Người đàn bà đẹp khó mà sống được an thân, cũng như ngọc quý là mồi của trộm cướp [Jean Jacques Rousseau]
- Người đàn bà nói thích giản dị là người ít giản dị nhất. Người đàn bà nào nói ít làm dáng chính là người làm dáng nhất đời. Người đàn bà nào nói ít trang sức lại là người khéo trang sức hơn ai hết [André Maurois

BẠN BIÊT GÌ VỀ NHÀ HỌ ĐẬU ?
Bạn có biết những màu sắc đỏ, vàng, trang, xanh, đen của đậu là biểu
hiện cho những giá trị dinh dưỡng khác nhau? Câu chuyện về họ nhà đậu sẽ cho bạn thấy thiên nhiên thật diệu kỳ..
Đậu đỏ bổ tim
Đậu đỏ nổi tiếng với vỏ đỏ và ruột màu trắng, chứa protein, omega-3
axit béo và sắt, giúp tim khỏe mạnh.
Đậu đỏ còn chứa khá nhiều chất xơ có tác dụng nhuận tràng, giảm huyết áp, giảm mỡ máu, điều tiết đường máu, giải độc chống ung thư, phòng chống kết sỏi, làm đẹp, giảm béo, lợi tiểu rất tốt. Ngoài ra nó còn giúp giải rượu, giải độc, chữa bệnh thận và phù thũng.
Đậu đỏ được coi là "cao thủ giải độc". Nếu bị ngộ độc, hãy cho người bệnh uống ngay một cốc nước đậu đỏ đun với một ít muối, khả năng lợi tiểu sẽ đẩy bớt chất độc ra khỏi cơ thể người bệnh. Cũng chính vì tác dụng này mà các bác sĩ thường khuyên bệnh nhân bị tê phù, bệnh tim, thận, nên sử dụng đậu đỏ.
Đậu vàng bổ tỳ
Đậu vàng chứa nhiều chất saponin, có thể kích thích mật bài tiết tiêu hoá chất béo, có tác dụng thúc đẩy tiêu hoá hấp thụ. Màu của đậu vàng tương ứng với tỳ, có thể khoẻ tỳ, ích khí bổ hư�Thường xuyên ăn đậu vàng còn giúp làm chậm quá trình lão hoá, thích hợp với người có sắc mặt, nước da tái xám, cơ thể ốm yếu.
Đậu trắng bổ phổi
Đậu trắng có saponin, urease, chất xúc tác niệu tố và nhiều thành phần protit cầu, có chức năng nâng cao sức đề kháng cho cơ thể, kích hoạt tế bào tuyến dịch vị, đồng thời có tác dụng rất tốt trong việc phòng chống các bệnh về đường hô hấp.
Đậu xanh bổ gan
Đậu xanh vị ngọt, tính mát, là thực phẩm thường dùng để thanh nhiệt, giải độc, đẩy nóng. Thường xuyên ăn đậu xanh có thể giúp đào thải độc tố trong cơ thể, thúc đây cơ thể trao đổi chất được bình thường.
Đậu xanh có tác dụng giảm cholesterol, có thể bảo vệ gan và chống dị ứng. Trong đậu xanh còn có thành phần hạ mỡ trong máu hữu hiệu, chứa nhiều kali, ít natri giúp cho cơ thể phòng chống chứng xơ cứng động mạch và bệnh cao huyết áp, đồng thời có công hiệu bảo vệ gan và giải độc. Nếu trong canh đậu xanh thêm vào một ít mật ong thì tác dụng giải trừ độc tố càng tốt hơn.
Đậu đen bổ thận
Đậu đen chứa nhiều thành phần chống ô xy hoá, đặc biệt là chất isoflavone, anthocyanidin là thuốc chống ô xy hoá rất tốt, có thể thúc đẩy xúc tiến thận đào thải ra độc tố, có công dụng rõ rệt trong việc bổ thận, ích âm hoạt huyết, mạnh gân khoẻ xương cốt và an thần sáng mắt.
Ngoài ra, trong đậu đen người ta còn tìm thấy chất albumin, sinh tố A, B, C, protid, glucid, lipid, muối khoáng. Hàm lượng acid amin cần thiết trong đậu đen rất cao gồm: lysin, methionin, tryptophan, phenylalanin, alanin, valin, leucin...

Sự thật về vị "Minh sư"
Người tự nhận mình là Minh sư, là giáo chủ của "Thanh Hải Vô Thượng sư" có tên thật là Đặng thị Trinh, tên gọi khác là Nguyễn thị Thanh Hải (62 tuổi) tại thôn Vĩnh Bình, xã Phổ Ninh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Khi còn ở Việt Nam, Trinh có thời gian sống tại Sài Gòn và sinh được một người con gái tên Đặng thị Thảo nhưng sau đó đã chết. Năm 1966, Trinh đi du học tại Anh, tốt nghiệp bằng Master văn chương. Năm 1972, Trinh sang Pháp nghiên cứu triết học.
Giai đoạn từ năm 1975 đến 1980, Trinh đến nhiều trại tị nạn người Việt Nam trên khắp thế giới. Tại Tây Đức, Trinh kết hôn với một bác sĩ người Đức. Đến năm 1980, Trinh sang Ấn Độ tu hành. Năm 1989, Trinh trở về Đài Loan lập ra "Thanh Hải Vô Thượng sư" tại vùng núi Bạch Hoa, Tây Hồ Thượng, huyện Miaoli (cách Đài Bắc 30km về phía tây) tự phong cho mình là "Minh sư".
Quá trình thu thập tư liệu để thực hiện bài viết này , tôi may mắn tìm được lá thư ngỏ của Thượng tọa, Giáo sư, Tiến sĩ Thích Tịnh Hạnh - Viện Phật học Linh Sơn, Đài Loan gửi phật tử đề ngày 3/7/1990.
Trong thư Thượng tọa viết: "Tại Tây Đức, sau khi được thầy Thích Như Điển cho quy y với pháp danh Thị Nguyên, Thanh Hải liền xin quy y nhưng thầy Như Điển không đồng ý, thế là Thanh Hải bỏ sang Đài Loan.
Tại Đài Loan , tôi tiếp nhận Thanh Hải và đặt pháp danh Thanh Hải. Thanh Hải xin xuất gia thọ giới nhưng tôi không đồng ý , vì Thanh Hải đã lập gia đình, muốn xuất gia thì phải vào chùa ở tập sự tối thiểu là 5 năm.
Không được xuất gia thọ giới, Thanh Hải lại bỏ đi. Khi trở lại Đài Loan, biết Thanh Hải tu theo lối tu ngoại đạo nên tôi khuyên Thanh Hải từ bỏ nhưng Thanh Hải không nghe, trá hình, mang pháp phục là một vị tỳ kheo ni mà đi truyền bá tà đạo...".
Nói về tà đạo của Thanh Hải, Thượng tọa Thích Tịnh Hạnh viết tiếp: "Thanh Hải dùng phương pháp " Tâm ấn" để khống chế người theo đạo, làm cho tâm trí kẻ chịu theo đạo bị mê hoặc.
Đây là phương pháp chú thuật, bùa ngải của Bàng Môn tả đạo. Phương pháp này chỉ để mê hoặc những người nhẹ dạ, cả tin... Thanh Hải còn làm điều trái với luật của nhà Phật là tỳ kheo ni mà giám độ cho nam phái vào chúng xuất gia và truyền giới tỳ kheo ni cho nam giới...
Chỉ có hạng ngoại đạo, cố phá hoại Phật giáo mới làm điều đó mà thôi".
Vị thượng tọa này còn chỉ trích Thanh Hải là kẻ lừa đảo quần chúng Phật tử, làm mất phẩm giá của người xuất gia, là kẻ lợi dụng phương pháp tu hành của đạo Phật để phá hoại Phật giáo đồ Việt Nam hải ngoại. Ông cũng khẳng định: "Thanh Hải không phải là tỳ kheo ni của Phật giáo, là người lợi dụng chiếc áo nhà sư để phá hoại Phật giáo".
Thượng tọa Thích Tịnh Hạnh nói không sai bởi cái giáo lý mà Thanh Hải thu lượm để hình thành "Thanh Hải Vô Thượng sư" là một mớ giáo lý pha tạp. Thanh Hải không chủ trương xuống tóc, ăn mặc tùy thích, có thể tu tại gia hoặc đến thiền "cộng tu", không xây chùa, nhà thờ lớn mà chỉ xây nhà thiền. Chẳng thế mà cách ăn mặc của Thanh Hải mới quái dị làm sao. Có lúc người ta thấy thị xuất hiện như một diễn viên cải lương, khi lại như một người mẫu, cũng có khi là một tín đồ của môn híp hốp. Thị cũng nhảy nhót, cũng trực tiếp biểu diễn những bộ trang phục do thị nghĩ ra, nhưng có lẽ các tín đồ đạo Phật không thể tha thứ cho thị khi thị mang pháp phục (y áo Phật giáo) lên sân khấu để biểu diễn thời trang.
Ở Việt Nam, từ năm 1991 "Thanh Hải Vô Thượng sư" đã tìm mọi cách để thâm nhập. Ở nhiều tỉnh như Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau, Tiền Giang, Tây Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Saigon... Thanh Hải đã lôi kéo được nhiều người gia nhập tà đạo và không ngừng tuyên truyền cho tà đạo của thị. Thanh Hải ra sức biên soạn kinh sách, đưa ra lối nghi thức tu đơn giản.
Mỗi thành viên gia nhập "Thanh Hải Vô Thượng sư" được gọi là "đồng tu", các "đồng tu" có thể ngồi thiền tại gia hoặc ngồi thiền tập thể gọi là "cộng tu". "Đồng tu" có thể nghe Thanh Hải giảng đạo trực tiếp hoặc gián tiếp qua băng hình...
Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ cho thấy "Thanh Hải Vô Thượng sư" là tà đạo, những việc làm của Thanh Hải chỉ là trò hề. Một người như Thanh Hải liệu có xứng là Minh sư ?
Xin lấy lời Thượng tọa Thích Tịnh Hạnh để kết thúc cho bài viết này: "Nếu ai đã theo Thanh Hải mà không chịu thức tỉnh thì đời đời, kiếp kiếp sẽ quanh quẩn trong rừng ngoại đạo, không thể nào gặp được Chánh Pháp của Phật. Thanh Hải tự xưng là Điều Ngự Sư hay Vô Thượng Sư đó là đại vọng ngữ, mắc vào đại trọng tội và sẽ sa vào Vô Giản địa ngục vì chưa thành Phật mà đã tự xưng như thế để lừa gạt quần chúng".
'Cúi xuống vùng non xanh mát ...’
Nguyễn Ngọc Tư
Cạnh quán cà phê Văn Nghệ có ông trải chiếu ở vỉa hè bán đồ cổ, hay mở cái băng nhạc Trịnh Công Sơn Hát cho quê hương Việt Nam 1 thu âm năm 1969. Nghe lần đầu, thề có mấy lá bàng rơi bữa đó, tôi muốn chạy qua ôm ông đồ cổ một cái, vì ông đem những bài hát này ra con đường vốn chỉ rùng rùng nhạc vũ trường, nhạc trẻ kiểu “yêu thì nói hông yêu cũng nói”…
Giữa bụi đời mù mịt, giữa xe cộ ngược xuôi, cô Ly của bốn mươi năm trước cất tiếng hát trong veo, “Cúi xuống. Cho bóng đổ dài. Cho xót xa mặt trời. Cho da thơm trên người nay cũng phôi pha…”, nghe mát rượi lòng, nghe khoẻ dễ sợ.Nhạc “nghe khoẻ”, là chữ của thằng nhỏ ở tiệm bán băng đĩa quen. Một lần tôi ghé qua, nó khoe “em có nhạc này nghe khoẻ lắm, bảo đảm chị thích”, rồi nó đem ra mấy cái đĩa nhạc thu âm hồi năm một ngàn chín trăm mấy mươi gì đó. Gương mặt của Thái Thanh, Hà Thanh… trên bìa đĩa coi trẻ măng, trong sáng, hơi quê quê, dễ thương kinh khủng. Nghe chúng lần đầu, tôi đã nghĩ, tình cờ thằng nhỏ tặng mình quà quý.
Nhưng thằng nhỏ không tình cờ chút nào khi miêu tả cảm giác về một bài hát bằng chữ “khoẻ”, mà không phải là “hay”, là “xúc động”, là “sởn tóc gáy”. Khoẻ, vì dễ chịu, khoan khoái, thoải mái. Vút khỏi tiếng đệm guitar bập bùng, là chơi vơi tiếng hát non trong, mộc mạc, chân phương, đôi lúc vụng về, run rẩy. Ca sĩ không dùng bất cứ phương tiện nào kỹ thuật nào để nương dựa, lấp liếm hay che đậy, cứ hồn nhiên như vậy cất cao tiếng hát từ đáy lòng, thanh thoát.
Những ca sĩ ấy sau này khi đạt đến đỉnh cao của tài năng, họ rực rỡ, họ nổi tiếng, họ thu nhiều bản nhạc gần như hoàn hảo, nhưng sự giản dị năm xưa mãi mãi ở lại với… năm xưa. Tôi ngã lòng vì sự giản dị đó. Kiểu giản dị mà mười năm trước chưa chắc tôi đã thích, bỗng dưng bước chân qua tuổi ba mươi, bỗng dưng thấy… khoẻ khi đứng trước những tấm ảnh trắng đen, những bức tranh lụa, những trang viết của Thạch Lam, những minh hoạ nguệch ngoạc mấy nét chì, những bản nhạc thu âm năm xửa năm xưa, hay những bản demo trên mạng…
Ông già bạn tôi có lần nói,viết sao cho càng giảndị thì vănchương càng đẹp.Tôi cười nói,“câu này của chú mười một chữ, mà hai mươi hai năm nữa chưa chắc cháu làm được”.Ông cười cười,“sai bét, cháu đã làm được rồi,mấy cái truyện đầu tay đó”.Nhưng những trang viết giảndị, ngâyngô có phần khờ khạo đó tôi càng sống càng trải đời càng rời xa chúng.Giờ màviết được vậy,coibộkhó hơn lên trời.
Ngó qua ngó lại, tôi thấy cải lương cũng vậy. Hồi trước, tôi mê cải lương, mê ngẩn ngơ những bản vọng cổ xa xưa thu trên đĩa nhựa. Nghệ sĩ giọng nào ra giọng nấy, chữ nào tròn chữ nấy, ngón đờn dù tài hoa lả lướt đến đâu vẫn giữ sự trong trẻo, hồn hậu, vẫn tôn giọng ca lên hàng đầu. Thứ vọng cổ này nếu ngồi kế cassette thưởng thức chưa đã, phải dỏng tai nghe ké bên hàng xóm, hay ngồi ngoài vườn nghe trong nhà vẳng ra, chỉ tiếng ca và tiếng ca, gió đàn qua đánh lại, mùi ác liệt. Cải lương giờ đã qua thời hoàng kim, người ta biện ra nhiều lý do, nhưng nó làm rơi mất một đứa hâm mộ như tôi chỉ vì một bữa kia Vũ Linh nắm tay Tài Linh chạy lên đồi cỏ non. Xét theo tính hợp lý, tôi chấp nhận được chuyện ca vọng cổ lúc yêu nhau, đánh nhau, bắn giết nhau, miễn là xảy ra trên sân khấu, trên sàn diễn, nhưng giữa đường tự nhiên có hai người vừa ôm khít rịt mắt nhìn đắm đuối vừa ca khơi khơi chắc tôi phải nghĩ tới bệnh tâm thần. Tô Ánh Nguyệt năm xưa đau nỗi đau xa con chỉ cần nghẹn ngào bước từng bước run lẩy bẩy, nắm tiền trong tay bay bời bời; Tô Ánh Nguyệt bây giờ vừa gào thét vừa bứt xé hàng khuy áo khoe da thịt, mệt gì đâu.
Chia sẻ ý nghĩa này với ba đứa bạn, một đứa cười “vậy mới là tìm tòi, sáng tạo”, đứa kia hỏi vặn “bộ khùng sao mà đi coi cải lương”, đứa còn lại nói “thấy ghê thiệt nhưng thời này nó… phức tạp vậy”. Ừa, đúng là thời này phức tạp thiệt, bữa trước muốn mua cái áo “nhìn thấy khoẻ”, màu sắc nhã nhặn, hoa văn đơn giản, kín đáo mà phải lục tung cả cửa hàng trong con mắt căm hờn của chị chủ. Sách, băng đĩa thì nhất thiết phải siêng năng lục lọi, lâu lâu mới rinh được một cuốn văn đẹp kiểu Thạch Lam, lâu lâu mới chộp được một vài đĩa “nhạc nghe khoẻ”, sao chép lại từ những nguyên bản của mấy chục năm trước nên chất lượng cũng được chăng hay chớ.
Có lần hỏi thằng nhỏ mấy cái đĩa nhạc cổ lỗ sĩ này bán chạy không, nó nói “người ta mua nhiều lắm, nhưng chị là trẻ nhất”. Lại hỏi tiếp, “bộ thấy tôi mệt mỏi già nua lắm sao mà nghĩ nhạc này hợp với tôi”. Thằng nhỏ cười, “tại em thấy chị không đeo vòng vàng gì hết”. Câu trả lời này làm tôi nhớ mấy giai thoại thiền, kiểu như hai ông đi bên bờ sông, một ông hỏi đại niết bàn là gì, sư trả lời, “mau”. Hỏi “mau gì”, ông sư trả lời, “xem nước”. Hiểu chết liền.
Bữa qua ngồi quán chiều vắng ngắt, ông đồ cổ lại mở cái đĩa hát cổ, cô Ly đổ giọng ca mát rượi ra hè phố, “Cúi xuống. Vùng non xanh mát. Và cao tiếng hát cho cơn ưu phiền tan…” bỗng thấy tâm hồn mỏi mệt của mình đang được sự giản dị nào đó cứu chuộc. Cảm giác gan bàn chân tôi vừa chạm vào mặt đất, hình như tôi vừa tháo giày ra bỏ bên đường.
Nhưng tuổi hai mươi gặp gì cũng hăng hái đeo mang, thấy gì cũng hớn hở vơ lấy vào mình, lỉnh kỉnh những phấn son, tô vẽ và xiêm áo, tuổi hai mươi ấy giờ nằm lại ở đâu?
'...Ví dầu Tình cũng như sương
Xin cho hoa nở lừng hương buổi đầu
Mai kia theo gió về đâu
Vẫn mong thoang thoảng chút sầu quạnh hiu.
Ví dầu thuyền vẫn còn neo
Con sông nước lớn xin liều một phen
Mai kia cuối bãi đầu ghềnh
Lời ươm giấc cũ lênh đênh cũng đành..'.
Tình ơi...
Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư
Cạnh quán cà phê Văn Nghệ có ông trải chiếu ở vỉa hè bán đồ cổ, hay mở cái băng nhạc Trịnh Công Sơn Hát cho quê hương Việt Nam 1 thu âm năm 1969. Nghe lần đầu, thề có mấy lá bàng rơi bữa đó, tôi muốn chạy qua ôm ông đồ cổ một cái, vì ông đem những bài hát này ra con đường vốn chỉ rùng rùng nhạc vũ trường, nhạc trẻ kiểu “yêu thì nói hông yêu cũng nói”…
Giữa bụi đời mù mịt, giữa xe cộ ngược xuôi, cô Ly của bốn mươi năm trước cất tiếng hát trong veo, “Cúi xuống. Cho bóng đổ dài. Cho xót xa mặt trời. Cho da thơm trên người nay cũng phôi pha…”, nghe mát rượi lòng, nghe khoẻ dễ sợ.Nhạc “nghe khoẻ”, là chữ của thằng nhỏ ở tiệm bán băng đĩa quen. Một lần tôi ghé qua, nó khoe “em có nhạc này nghe khoẻ lắm, bảo đảm chị thích”, rồi nó đem ra mấy cái đĩa nhạc thu âm hồi năm một ngàn chín trăm mấy mươi gì đó. Gương mặt của Thái Thanh, Hà Thanh… trên bìa đĩa coi trẻ măng, trong sáng, hơi quê quê, dễ thương kinh khủng. Nghe chúng lần đầu, tôi đã nghĩ, tình cờ thằng nhỏ tặng mình quà quý.
Nhưng thằng nhỏ không tình cờ chút nào khi miêu tả cảm giác về một bài hát bằng chữ “khoẻ”, mà không phải là “hay”, là “xúc động”, là “sởn tóc gáy”. Khoẻ, vì dễ chịu, khoan khoái, thoải mái. Vút khỏi tiếng đệm guitar bập bùng, là chơi vơi tiếng hát non trong, mộc mạc, chân phương, đôi lúc vụng về, run rẩy. Ca sĩ không dùng bất cứ phương tiện nào kỹ thuật nào để nương dựa, lấp liếm hay che đậy, cứ hồn nhiên như vậy cất cao tiếng hát từ đáy lòng, thanh thoát.
Những ca sĩ ấy sau này khi đạt đến đỉnh cao của tài năng, họ rực rỡ, họ nổi tiếng, họ thu nhiều bản nhạc gần như hoàn hảo, nhưng sự giản dị năm xưa mãi mãi ở lại với… năm xưa. Tôi ngã lòng vì sự giản dị đó. Kiểu giản dị mà mười năm trước chưa chắc tôi đã thích, bỗng dưng bước chân qua tuổi ba mươi, bỗng dưng thấy… khoẻ khi đứng trước những tấm ảnh trắng đen, những bức tranh lụa, những trang viết của Thạch Lam, những minh hoạ nguệch ngoạc mấy nét chì, những bản nhạc thu âm năm xửa năm xưa, hay những bản demo trên mạng…
Ông già bạn tôi có lần nói,viết sao cho càng giảndị thì vănchương càng đẹp.Tôi cười nói,“câu này của chú mười một chữ, mà hai mươi hai năm nữa chưa chắc cháu làm được”.Ông cười cười,“sai bét, cháu đã làm được rồi,mấy cái truyện đầu tay đó”.Nhưng những trang viết giảndị, ngâyngô có phần khờ khạo đó tôi càng sống càng trải đời càng rời xa chúng.Giờ màviết được vậy,coibộkhó hơn lên trời.
Ngó qua ngó lại, tôi thấy cải lương cũng vậy. Hồi trước, tôi mê cải lương, mê ngẩn ngơ những bản vọng cổ xa xưa thu trên đĩa nhựa. Nghệ sĩ giọng nào ra giọng nấy, chữ nào tròn chữ nấy, ngón đờn dù tài hoa lả lướt đến đâu vẫn giữ sự trong trẻo, hồn hậu, vẫn tôn giọng ca lên hàng đầu. Thứ vọng cổ này nếu ngồi kế cassette thưởng thức chưa đã, phải dỏng tai nghe ké bên hàng xóm, hay ngồi ngoài vườn nghe trong nhà vẳng ra, chỉ tiếng ca và tiếng ca, gió đàn qua đánh lại, mùi ác liệt. Cải lương giờ đã qua thời hoàng kim, người ta biện ra nhiều lý do, nhưng nó làm rơi mất một đứa hâm mộ như tôi chỉ vì một bữa kia Vũ Linh nắm tay Tài Linh chạy lên đồi cỏ non. Xét theo tính hợp lý, tôi chấp nhận được chuyện ca vọng cổ lúc yêu nhau, đánh nhau, bắn giết nhau, miễn là xảy ra trên sân khấu, trên sàn diễn, nhưng giữa đường tự nhiên có hai người vừa ôm khít rịt mắt nhìn đắm đuối vừa ca khơi khơi chắc tôi phải nghĩ tới bệnh tâm thần. Tô Ánh Nguyệt năm xưa đau nỗi đau xa con chỉ cần nghẹn ngào bước từng bước run lẩy bẩy, nắm tiền trong tay bay bời bời; Tô Ánh Nguyệt bây giờ vừa gào thét vừa bứt xé hàng khuy áo khoe da thịt, mệt gì đâu.
Chia sẻ ý nghĩa này với ba đứa bạn, một đứa cười “vậy mới là tìm tòi, sáng tạo”, đứa kia hỏi vặn “bộ khùng sao mà đi coi cải lương”, đứa còn lại nói “thấy ghê thiệt nhưng thời này nó… phức tạp vậy”. Ừa, đúng là thời này phức tạp thiệt, bữa trước muốn mua cái áo “nhìn thấy khoẻ”, màu sắc nhã nhặn, hoa văn đơn giản, kín đáo mà phải lục tung cả cửa hàng trong con mắt căm hờn của chị chủ. Sách, băng đĩa thì nhất thiết phải siêng năng lục lọi, lâu lâu mới rinh được một cuốn văn đẹp kiểu Thạch Lam, lâu lâu mới chộp được một vài đĩa “nhạc nghe khoẻ”, sao chép lại từ những nguyên bản của mấy chục năm trước nên chất lượng cũng được chăng hay chớ.
Có lần hỏi thằng nhỏ mấy cái đĩa nhạc cổ lỗ sĩ này bán chạy không, nó nói “người ta mua nhiều lắm, nhưng chị là trẻ nhất”. Lại hỏi tiếp, “bộ thấy tôi mệt mỏi già nua lắm sao mà nghĩ nhạc này hợp với tôi”. Thằng nhỏ cười, “tại em thấy chị không đeo vòng vàng gì hết”. Câu trả lời này làm tôi nhớ mấy giai thoại thiền, kiểu như hai ông đi bên bờ sông, một ông hỏi đại niết bàn là gì, sư trả lời, “mau”. Hỏi “mau gì”, ông sư trả lời, “xem nước”. Hiểu chết liền.
Bữa qua ngồi quán chiều vắng ngắt, ông đồ cổ lại mở cái đĩa hát cổ, cô Ly đổ giọng ca mát rượi ra hè phố, “Cúi xuống. Vùng non xanh mát. Và cao tiếng hát cho cơn ưu phiền tan…” bỗng thấy tâm hồn mỏi mệt của mình đang được sự giản dị nào đó cứu chuộc. Cảm giác gan bàn chân tôi vừa chạm vào mặt đất, hình như tôi vừa tháo giày ra bỏ bên đường.
Nhưng tuổi hai mươi gặp gì cũng hăng hái đeo mang, thấy gì cũng hớn hở vơ lấy vào mình, lỉnh kỉnh những phấn son, tô vẽ và xiêm áo, tuổi hai mươi ấy giờ nằm lại ở đâu?
'...Ví dầu Tình cũng như sương
Xin cho hoa nở lừng hương buổi đầu
Mai kia theo gió về đâu
Vẫn mong thoang thoảng chút sầu quạnh hiu.
Ví dầu thuyền vẫn còn neo
Con sông nước lớn xin liều một phen
Mai kia cuối bãi đầu ghềnh
Lời ươm giấc cũ lênh đênh cũng đành..'.
Tình ơi...
Nguyễn Ngọc Tư

10 ĐIỀU VỢ DẶN
Làm trai cho đáng nên trai
Mười điều vợ dặn không sai một điều
- Thứ nhất không được nhậu nhiều
Đúng năm rưỡi chiều là phải........... ....hồi gia
- Thứ hai không được lân la
Mấy nơi thư giãn mat-xa mát gần
- Thứ ba cứ mỗi cuối tuần
Chở vợ đi sắm áo quần thời trang.
- Thứ tư tiền thưởng tiền lương
Lãnh về nộp đủ vợ thương nhất đời
- Thứ năm vợ có lắm lời
Cũng phải vui vẻ mà ngồi lắng nghe
- Thứ sáu tiền định đổi xe
Sắm vàng cho vợ đeo khoe xóm giềng
- Thứ bảy la phải thật siêng
Giúp vợ chợ búa, nấu ăn giặt đồ
- Thứ tám không được có bồ
Không được tơ tưởng mấy cô chân dài
- Thứ chín không được bạc bài
Không chơi đề đóm có ngày......... tan gia
- Thứ mười không được bê tha
Việc nước chu tất, việc nhà......."đảm đang"
Mười điều vỡ dặn rõ ràng
Nhớ thực hiện, kẻo lỡ làng đời trai........ ...

Mùa Trăng
Quỳnh Giao Có lẽ câu chuyện hôm nay phải bắt đầu bằng hai chữ “ngày xưa” thì mới đúng cách.
Người viết nghĩ như vậy vì liên tưởng tới những ngày thơ ấu của mình. Việt Nam bị ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa và trẻ em cũng không ra khỏi ảnh hưởng đó nên rằm Trung Thu là ngày hội của tuổi thơ, chỉ thua sự tưng bừng của ba ngày Tết mà thôi.
Từ bé, mình đã nhìn ánh trăng như một thiên đàng treo trên cao. Qua bao truyện cổ tích, em bé Việt gọi mặt trăng bằng nhiều danh từ mỹ miều, nào là cung Quế, cung Quảng, chị Hằng hoặc Hằng Nga, mà không rõ xuất xứ từ đâu. Rồi thì các em cũng loáng thoáng biết là trên cung Quảng có chú Cuội già, có khi lại là thằng Cuội, vì mải chơi mà bị đầy lên đó! Các em đã nghe ông bà cha mẹ hoặc thầy cô kể như vậy. Và nghe nhiều hơn cả là qua... những bài hát trên các làn sóng phát thanh mỗi dịp Trung Thu.
Ðến mùa Trung Thu, ngoài cái thú được ăn bánh dẻo, bánh nướng đến sún cả răng, trẻ con thích nhất là đêm xuống, cả nhà đã ăn uống xong xuôi, được cha mẹ cho đi hóng mát bằng xe hơi một vòng ngoài phố. Có khi cha mẹ hứng chí cho đi xuống tận Chợ Lớn để xem đèn. Một rừng đèn đầy mầu sắc và hình thù khác nhau cứ làm cho con trẻ sướng mê. Nào là đèn bươm bướm, đèn con cá, đèn ông sao, đèn tầu thủy, đèn máy bay... Nhưng con bé thì mê nhất đèn xếp đủ mầu, và ngây mắt nhìn đèn kéo quân, tưởng tượng cảnh tiên giới hiện ra trước mắt mình nơi trần thề.
Trong khi đó thì các bài hát về Trung Thu vang lên từ góc phố, từ lối xóm vọng lại. Yêu nhất là bài “Thằng Cuội” của nhạc sĩ Lê Thương. Nhất là thằng Cuội đó lại “ôm một mối mơ.” Vừa ôm cái gối ôm, vừa nghĩ mình là thằng cuội ở trên cung trăng:
Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to
Có thằng Cuội già ôm một mối mơ....
Cuội ơi, ta nói cho Cuội nghe
Ở trên cung cấm làm chi?
Các em thích cười, muốn lên cung trăng
Cứ hỏi ông Trời cho mượn cái thang
Mười lăm tháng Tám Trời cho
Một ông trăng sáng thật to...
Cùng một chủ đề, Phạm Duy viết bài “Chú Cuội” với nội dung khác hẳn, tình tứ mà ỡm ờ. Chú Cuội của Phạm Duy là người lớn, không phải thằng Cuội của trẻ con. Chú Cuội này yêu cô Hằng năm xưa xuống trần, rồi vì tương tư cô nên để trâu ăn lúa mà quên đường về. Cô Hằng này lại không phải là nàng Hằng Nga trên cung Quảng Hàn của chúng ta. Cô Hằng này là nàng Thái Hằng mà ông đang tán tỉnh ở dương thế.
Ta yêu cô Hằng năm xưa xuống trần
Nàng ơi, nàng về dương gian tìm đường nuôi nấng
Cung đàn Hằng Nga.
Xin đôi cánh vàng, mượn chiếu mây non
Cuội ơi, Cuội theo cánh gió
Cuội lên cung vắng, Cuội không về làng...
Tụi nhóc tì chưa biết yêu là gì, cho nên không thích chú Cuội, mà chỉ thích thằng Cuội!
Lúc hát ban nhi đồng của bác Kiều Hạnh, Quỳnh Giao này còn giữ tên thật và có lần được hát bài “Hình Ảnh Một Ðêm Trăng” của Văn Phụng. Nói theo ngôn ngữ ngày xưa là con bé liền “mết” bài hát này liền. Văn Phụng viết ca khúc trên nhịp Boston dìu dặt, cung Fa trưởng trong sáng, bâng khuâng man mác. Trẻ con tưởng được chắp cánh bay:
Khi ấu thơ, ngồi trông bóng trăng, nhìn theo áng mây đưa
Nghe má ba, kể trong ánh trăng, Cuội đang sống say sưa
Rồi thôn xóm hừng lên tiếng reo, hòa theo khúc ca ngân
Tiếng ngây thơ, bầy em múa ca mời trăng thu xuống trần
Lưng trời mây trắng trôi lững lờ
Mơ hồ tiếng sáo ru hồn thơ
Ngắm trăng thanh và nghe tiếng tiêu đưa câu mơ màng
Lòng tôi mong ước tiên ban cặp cánh bay lên vừng trăng...
Nhưng rồi lại có năm 75 tan tác. Rồi phải sang Hoa Kỳ tị nạn. Khi ấy, gia đình mất vầng trăng cũ và đến tiểu bang Virginia tạm trú nhà người anh cả đã du học từ năm 1950. Lúc đó, anh Bửu Dương đã xong bằng tiến sĩ từ Harvard và làm giáo sư dạy Pháp ngữ và Văn Hóa Trung Hoa cho Ðại Học Bridgewater, cùng tên thị trấn ở miền Ðông, cách thủ đô Hoa Thịnh Ðốn hai giờ lái xe. Cả thị trấn hiền hòa này chỉ có độ 2,000 dân, phần lớn là sinh viên và gia đình của giáo sư dạy trong trường. Bridgewater có vỏn vẹn một trường đại học, một nhà thờ, hai siêu thị Mỹ bằng chợ Anh Minh gần phở Nguyễn Huệ của ta, và một rạp ciné nhỏ xíu tựa cái hộp quẹt.
Lúc mới tới, con gái của người viết mới lên năm, vừa đủ tuổi vào kindergarten. Cả vùng chỉ có anh Bửu Dương là người Á Ðông duy nhất. Nay thêm một gia đình tỵ nạn là có thêm ba người Á Châu. Mỗi khi ra đường, thiên hạ trố mắt nhìn. Người Mỹ có lòng bác ái thiết thực, họ tấp nập đem cho nào khăn tắm nào nồi niêu. Trong nhà có đến mấy chục bộ khăn và mấy bộ comforter cho giường ngủ. Ðôi khi họ đến nhà đón hai mẹ con đi ăn lunch, những món ăn vẫn chưa thể quen, như hot dog hay tuna salad.
Cả hai mẹ con chỉ mong được về ăn cơm nguội với nước mắm!
Tới Mỹ vào tháng 6, 1975, đến tháng 9 hoàn hồn nhìn tấm lịch là lại lẩm bẩm “bây giờ bên ấy đang là rằm Trung Thu.” Con bé con bỗng níu áo hỏi mẹ: “Mẹ ơi, thế cái ông Việt Nam ở trên moon, ông ấy còn đó không?” Phải vài giây sau mới kịp hiểu là cháu nó nhắc đến thằng Cuội! Và muốn khóc òa.
Nó ra đi mà hồn còn đầy ắp hình ảnh mùa trăng cũ. Cứ tưởng là người lớn mới hoài niệm quá khứ, nào ngờ con trẻ cũng như mình, vầng trăng năm xưa vẫn rạng rỡ trong trí nhớ.
Bây giờ, nhìn trăng mới mà nghĩ đến trăng xưa, ngày cũ, mình mới thông cảm với Nguyễn Du. “Vầng nguyệt trời Nam còn một mảnh, đêm về soi thấu dạ đôi nơi...” Ông viết bài này để từ biệt một người bạn trong thời ly loạn. Hai người đôi nơi cùng nhìn lên vầng nguyệt mà nhớ nhau.
Phải chi vẫn còn một lũ trẻ rồng rắn rước đèn, cho mình vui thêm được một chút...
Quỳnh Giao


