Bình Luận Thời Sự
Đạo đức lãnh đạo
Hà Văn Thịnh Sự kiện ông Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Quảng Bình lái ô tô đâm hai người phụ nữ và một đứa trẻ bị thương rồi bỏ chạy đã làm dư luận phải bàng hoàng, vì không ai có thể hình dung nổi một người có cương vị cao như thế, hiểu biết về luật pháp đủ đầy như thế, lại hành xử như một kẻ vô học, vô nhân tâm!
Điều làm cho chúng ta phẫn nộ là một con người, dù có cương vị hay không, thấy người khác bị hoạn nạn, đều phải ra tay cứu giúp. Đó là đạo đức tối thiểu mà chỉ những kẻ táng tận lương tâm mới khước từ. Đã giữ chức vụ cao nhất trong ngành tư pháp của một địa phương, chắc hẳn ông Viện trưởng biết rõ Luật Hình sự, Luật Giao thông đường bộ quy định: gây tai nạn không cứu chữa người bị hại, thay đổi hiện trường (lái xe bỏ chạy), lái xe trong tình trạng say xỉn, gây thương tích cố ý quá 11% (vì say mà lái xe là cố ý chứ không thể là vô ý) – tổng hợp mức án cho bốn tội này là bao nhiêu năm tù? Nếu tính đúng, kê đủ thì không thể ít hơn 10 năm, thưa ông Viện trưởng Viện Kiểm sát của Nhân dân! Đến đây, dư luận buộc phải tự hỏi rằng phải chăng luật pháp nước ta đang tồn tại nhiều “thứ” luật, nhiều cấp độ hành xử khác nhau? Cái sai không thể chấp nhận của ông Viện trưởng đã đủ tình tiết để cấu thành tội phạm tức là đủ để truy tố.
Vậy, tại sao cho đến lúc này các cơ quan chức năng của tỉnh Quảng Bình vẫn im lặng? Đây là sự im lặng vượt xa hơn cả sự khó hiểu bởi lẽ không thể nào cho rằng vì “có uống mấy ly bia” nên không làm chủ được bản thân (?). Ai cũng biết rõ là ông Viện trưởng sau khi gây tai nạn đã cố tình bỏ chạy để phi tang nhân chứng, vật chứng. Giả sử nếu người dân không phát hiện và báo số xe in rõ trên biển kiểm soát thì liệu ông Viện trưởng có nhận tội không? Hơn nữa, nếu dùng quyền lực và tiền bạc để đổi trắng thay đen, bồi thường cho gia đình các nạn nhân để thoát tội thì luật pháp có còn mang đủ sức nặng và tính công bằng nữa hay không? Cách đây mấy năm, có ông lãnh đạo sở của Hà Tây cũ cũng lái xe đâm chết người rồi đổ tội cho cậu đánh máy – lái xe! Một sĩ quan cảnh sát đã từng ngông nghênh múa kiếm ngay giữa sân bay Đà Nẵng bất chấp kỷ cương, phép nước. Rồi chuyện CSGT đánh chết người, CSGT “hóa trang” bắn vỡ đùi một cô gái (Thái Nguyên, 12.8.2010) [mà những người này chỉ có một lý do duy nhất là không đội mũ bảo hiểm - nhắc nhở người ta để bảo vệ tính mạng cho người ta mà làm người ta mất mạng hoặc trở thành thương tật vĩnh viễn luôn, chỉ có cảnh sát của cái Nhà nước nhân đạo của chúng ta mới sát nhân như vậy; trông chó thì biết chủ dữ hay hiền, trông cảnh sát thì biết Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Tấn Dũng... là như thế nào – BVN chú thêm], chuyện ông Chủ tịch tỉnh mua dâm… là cả một lô một lốc những sỉ nhục đối với cả nền hành chánh nước ta. Ông Tô chủ tịch “nổi tiếng” đến mức hôm nay ở TP Hồ Chí Minh, thay vì vào quán phở gọi một “tô đặc biệt” thì người ta sẽ nói là “cho một tô chủ tịch” (!). Nói như thế để thấy cái đạo đức thời nay của lãnh đạo nó đau đớn và ê chề đến mức nào.
Nếu ai đó cho rằng gây tai nạn là điều không ai muốn, là sự rủi ro; rằng do uống vài ly bia nên không thể làm chủ được hành vi đạo đức thì xin thưa rằng đó chỉ là sự ngụy biện để tiếp tay, dung túng cho sự tha hóa đạo đức của hàng ngàn hàng vạn con sâu thời đại… đồ đểu (từ dùng của cố GS Trần Quốc Vượng)!
Đã đến lúc người dân không thể chấp nhận những hành vi vô đạo đức không hề mang tính hiện tượng của các vị lãnh đạo nữa. Mọi sai phạm phải được xử lý nghiêm minh. Nếu xã hội chúng ta luôn nhân danh sự công bằng, bình đẳng thì không thể cho phép tồn tại thứ pháp luật nhiều tầng nấc. Ai mà không nhớ chuyện 3 nông dân ở Lâm Đồng bắt 2 con vịt về nhậu, dù đã bồi thường 1,5 triệu đồng vẫn bị xử tù ở 13 năm. Ba con người yếu đuối bị thương ngã vật ra giữa đường có giá trị hơn hai con vịt hay không? Xin trả lời là giá trị hơn… một chút!
Quả thật, người dân chỉ cần luật pháp thời nay và cách hành xử luật pháp thời nay đối xử với con người hơn con vịt một chút là đủ, là thỏa mãn lắm rồi! Có lẽ, người dân còn muốn đòi hỏi nhiều hơn, nhưng trong trường hợp cụ thể này, chỉ cần thế là được. Mọi sai phạm và tội ác phải nghiêm trị bất kể nhân thân, ô dù, chức vụ của người đó lớn đến mức nào. Đó là cơ sở, là sự bắt đầu của niềm tin của một chính quyền tốt đấy, xin thưa cùng quý vị lãnh đạo. Nếu quý vị cứ bao che cho nhau, không thể làm như đòi hỏi tất nhiên của công lý thì biết đến bao giờ người dân mới có thể tin vào Đảng, tin vào chính quyền của dân, do dân, vì dân? Xin thú thực rằng: Là những người đọc và nghe khá nhiều, giới trí thức chúng tôi đã quá sức mệt mỏi, quá sức chán nản cho cái thứ đạo đức vô cảm, bất nhân, ích kỷ và ngu xuẩn của không ít lãnh đạo thời nay! Nếu không thay đổi thì dân tộc, giống nòi sẽ đi về đâu và, các vị còn tác oai, tác quái đến bao giờ?
HVT
Huế, 12.8.2010
Hà Văn Thịnh Sự kiện ông Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Quảng Bình lái ô tô đâm hai người phụ nữ và một đứa trẻ bị thương rồi bỏ chạy đã làm dư luận phải bàng hoàng, vì không ai có thể hình dung nổi một người có cương vị cao như thế, hiểu biết về luật pháp đủ đầy như thế, lại hành xử như một kẻ vô học, vô nhân tâm!
Điều làm cho chúng ta phẫn nộ là một con người, dù có cương vị hay không, thấy người khác bị hoạn nạn, đều phải ra tay cứu giúp. Đó là đạo đức tối thiểu mà chỉ những kẻ táng tận lương tâm mới khước từ. Đã giữ chức vụ cao nhất trong ngành tư pháp của một địa phương, chắc hẳn ông Viện trưởng biết rõ Luật Hình sự, Luật Giao thông đường bộ quy định: gây tai nạn không cứu chữa người bị hại, thay đổi hiện trường (lái xe bỏ chạy), lái xe trong tình trạng say xỉn, gây thương tích cố ý quá 11% (vì say mà lái xe là cố ý chứ không thể là vô ý) – tổng hợp mức án cho bốn tội này là bao nhiêu năm tù? Nếu tính đúng, kê đủ thì không thể ít hơn 10 năm, thưa ông Viện trưởng Viện Kiểm sát của Nhân dân! Đến đây, dư luận buộc phải tự hỏi rằng phải chăng luật pháp nước ta đang tồn tại nhiều “thứ” luật, nhiều cấp độ hành xử khác nhau? Cái sai không thể chấp nhận của ông Viện trưởng đã đủ tình tiết để cấu thành tội phạm tức là đủ để truy tố.
Vậy, tại sao cho đến lúc này các cơ quan chức năng của tỉnh Quảng Bình vẫn im lặng? Đây là sự im lặng vượt xa hơn cả sự khó hiểu bởi lẽ không thể nào cho rằng vì “có uống mấy ly bia” nên không làm chủ được bản thân (?). Ai cũng biết rõ là ông Viện trưởng sau khi gây tai nạn đã cố tình bỏ chạy để phi tang nhân chứng, vật chứng. Giả sử nếu người dân không phát hiện và báo số xe in rõ trên biển kiểm soát thì liệu ông Viện trưởng có nhận tội không? Hơn nữa, nếu dùng quyền lực và tiền bạc để đổi trắng thay đen, bồi thường cho gia đình các nạn nhân để thoát tội thì luật pháp có còn mang đủ sức nặng và tính công bằng nữa hay không? Cách đây mấy năm, có ông lãnh đạo sở của Hà Tây cũ cũng lái xe đâm chết người rồi đổ tội cho cậu đánh máy – lái xe! Một sĩ quan cảnh sát đã từng ngông nghênh múa kiếm ngay giữa sân bay Đà Nẵng bất chấp kỷ cương, phép nước. Rồi chuyện CSGT đánh chết người, CSGT “hóa trang” bắn vỡ đùi một cô gái (Thái Nguyên, 12.8.2010) [mà những người này chỉ có một lý do duy nhất là không đội mũ bảo hiểm - nhắc nhở người ta để bảo vệ tính mạng cho người ta mà làm người ta mất mạng hoặc trở thành thương tật vĩnh viễn luôn, chỉ có cảnh sát của cái Nhà nước nhân đạo của chúng ta mới sát nhân như vậy; trông chó thì biết chủ dữ hay hiền, trông cảnh sát thì biết Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Tấn Dũng... là như thế nào – BVN chú thêm], chuyện ông Chủ tịch tỉnh mua dâm… là cả một lô một lốc những sỉ nhục đối với cả nền hành chánh nước ta. Ông Tô chủ tịch “nổi tiếng” đến mức hôm nay ở TP Hồ Chí Minh, thay vì vào quán phở gọi một “tô đặc biệt” thì người ta sẽ nói là “cho một tô chủ tịch” (!). Nói như thế để thấy cái đạo đức thời nay của lãnh đạo nó đau đớn và ê chề đến mức nào.
Nếu ai đó cho rằng gây tai nạn là điều không ai muốn, là sự rủi ro; rằng do uống vài ly bia nên không thể làm chủ được hành vi đạo đức thì xin thưa rằng đó chỉ là sự ngụy biện để tiếp tay, dung túng cho sự tha hóa đạo đức của hàng ngàn hàng vạn con sâu thời đại… đồ đểu (từ dùng của cố GS Trần Quốc Vượng)!
Đã đến lúc người dân không thể chấp nhận những hành vi vô đạo đức không hề mang tính hiện tượng của các vị lãnh đạo nữa. Mọi sai phạm phải được xử lý nghiêm minh. Nếu xã hội chúng ta luôn nhân danh sự công bằng, bình đẳng thì không thể cho phép tồn tại thứ pháp luật nhiều tầng nấc. Ai mà không nhớ chuyện 3 nông dân ở Lâm Đồng bắt 2 con vịt về nhậu, dù đã bồi thường 1,5 triệu đồng vẫn bị xử tù ở 13 năm. Ba con người yếu đuối bị thương ngã vật ra giữa đường có giá trị hơn hai con vịt hay không? Xin trả lời là giá trị hơn… một chút!
Quả thật, người dân chỉ cần luật pháp thời nay và cách hành xử luật pháp thời nay đối xử với con người hơn con vịt một chút là đủ, là thỏa mãn lắm rồi! Có lẽ, người dân còn muốn đòi hỏi nhiều hơn, nhưng trong trường hợp cụ thể này, chỉ cần thế là được. Mọi sai phạm và tội ác phải nghiêm trị bất kể nhân thân, ô dù, chức vụ của người đó lớn đến mức nào. Đó là cơ sở, là sự bắt đầu của niềm tin của một chính quyền tốt đấy, xin thưa cùng quý vị lãnh đạo. Nếu quý vị cứ bao che cho nhau, không thể làm như đòi hỏi tất nhiên của công lý thì biết đến bao giờ người dân mới có thể tin vào Đảng, tin vào chính quyền của dân, do dân, vì dân? Xin thú thực rằng: Là những người đọc và nghe khá nhiều, giới trí thức chúng tôi đã quá sức mệt mỏi, quá sức chán nản cho cái thứ đạo đức vô cảm, bất nhân, ích kỷ và ngu xuẩn của không ít lãnh đạo thời nay! Nếu không thay đổi thì dân tộc, giống nòi sẽ đi về đâu và, các vị còn tác oai, tác quái đến bao giờ?
HVT
Huế, 12.8.2010
BÀI MỚI NHẤT CỦA LM NGUYỄN VĂN LÝ:
16 ĐIỀU GIAN TRÁ VĨ ĐẠI CẤP HCM
Các Đức Giám mục Công giáo hoàn cầu 5 năm 1 lần về Rôma để viếng mộ 2 Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô. Ngoài buổi gặp chung của Hội đồng GM hoặc từng nhóm GM với Đức Giáo hoàng, mỗi GM còn gặp riêng ĐGH để trình bày về Giáo phận mỗi GM coi sóc, mỗi Vị 15-30 phút. Cuộc thăm gặp này gọi là Ad Limina, có nghĩa là “đến ngưỡng cửa”.
Trong lần Ad Limina của Hội đồng Giám mục VN năm 1980, Đức cố TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền hỏi Đức cố Giáo hoàng Gioan-Phaolô II : “Đức Thánh Cha nghĩ gì về Cộng sản ?”. Đức Gioan-Phaolô II trả lời ngay không do dự, rất ngắn gọn, súc tích và chính xác, nguyên văn bằng tiếng Pháp : “Mensonge ! Et rien que mensonge !” (Dối trá ! Và chỉ là dối trá !).
Trước 1954, lúc mới 5-6 tuổi, tôi đã thuộc lòng bài thơ về Cộng sản dối trá :
Dối thiên dối địa dối vô cùng,
Dối giấy dối tờ dối tứ tung,
Dối từ đất Âu sang đất Á,
Dối từ xuân hạ đến thu đông,
Dối gạt Dân mê không hóa có,
Dối phỉnh Dân mù có hóa không,
Dối mãi dối hoài không hết dối,
Dối thiên dối địa dối vô cùng. @@@
Tôi đã nhiều lần lặp đi lặp lại trước công luận quốc tế : “Việt Nam hiện nay là một trường dạy nói dối tinh vi và khổng lồ. Từ một phụ huynh tìm trường cho một em học sinh mẫu giáo và chính em mẫu giáo ấy đến ông Chủ tịch Nước, kể cả các Chức sắc các Tôn giáo, đều buộc phải biết nói dối để xuôi thuận công việc. Một Việt kiều văn minh ở Na-Uy, Thụy Sĩ, Nhật Bản,... đặt chân xuống Tân Sơn Nhất, Nội Bài,... là phải biết nói dối để dễ trót lọt hải quan sân bay ngay !”
Cha đẻ của các bệnh thành tích, bệnh học giả, thi giả, bằng giả, báo cáo giả, thuốc giả, thực phẩm giả,...hiện nay tại VN là ai ? Dối trá “made in VN” bắt nguồn từ đâu ? Chắc chắn chính xác là từ ông HCM : đại gian ác, siêu cao thủ, lừa gạt được gần cả thế giới.
Những điều gian trá của CSQT và CSVN nhiều vô kể không thể ghi ra hết được. Để bổ sung phần nào các điều gian dối của CS mà nhiều người đã nêu lên trong nhiều sách báo mấy chục năm qua, tôi xin lược kê thêm 15 bằng chứng tiêu biểu mang tính khái quát cao, bộc lộ đúng bản chất khách quan của phong trào CS quốc tế, CSVN và của ông HCM, hoàn toàn không hề do định kiến của một số người nào đó cố tình bóp méo xuyên tạc, để lấy cớ mà tẩy chay CNCS và CNXH tại VN và trên toàn thế giới :
1. Cuối năm 1945, để lừa mị công luận, HCM tuyên bố giải thể đảng CS Đông Dương, nhưng thực ra là chỉ rút lui vào bí mật. Năm 1951 đổi tên là đảng Lao Động VN. Sau 1975 đổi thành đảng CSVN. Thực tế cả 3 đảng chỉ là một (vô ra chỉ một con ma ấy !!!).
2. Trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945 và Hiến pháp 1946, HCM và CSVN khôn khéo cố tình không nhắc đến một lần nào CNXH, CNCS. Nhưng sau đó lại áp đặt : Độc lập Dân tộc phải gắn liền với CNXH, rồi độc đoán cột buộc mọi Dân Việt : yêu Nước là yêu CNXH !?!
3. Sau Hiệp định Genève 20-7-1954, tất cả các Cán bộ CS ở miền Nam nào muốn tập kết ra Bắc đều được tự do đi và chính Pháp cung cấp đủ tàu thủy chở đi. Trái lại rất nhiều Đồng bào ở miền Bắc muốn di cư vào Nam thì bị đủ mọi hăm dọa, thủ đoạn ngăn chặn, kể cả bắn chìm ghe, thuyền, bè của Dân và nhấn chìm Dân chết đuối. Nếu được tự do di cư, không chỉ có hơn một triệu Đồng bào miền Bắc di cư vào Nam, mà con số phải cao hơn nhiều lần.
4. Năm 1955, HCM ký Sắc lệnh Tự do Tôn giáo. Kết quả là tất cả các Tiểu và Đại chủng viện là những trường đào tạo LM ở miền Bắc đều bị đóng cửa, tất cả các Nữ Tu sĩ đều bị ép buộc phải về nhà lấy chồng (vì là bọn trốn đẻ), chỉ một số ít kiên trì bám trụ, khôn ngoan trốn tránh (tu chui) mới tồn tại cho đến 1975. Rất nhiều Linh mục, Nam Tu sĩ, Giáo dân nòng cốt bị nhốt vào các trại cải tạo, một số đã chết trong tù. Sau 1973 CSVN mới cho mở lại 2 Đại chủng viện Hà Nội và Vinh với giới hạn tuyển sinh rất ngặt nghèo. Hiện nay, trong cả Nước, tất cả các Tiểu chủng viện (cấp phổ thông và đại học) đều đang bị CSVN tịch thu, có khi bằng bạo lực với quân đội, súng ống (như Tiểu chủng viện Hoan Thiện, 11 Đống Đa, Huế, 13-19.12.1979). 26 Giáo phận cả Nước hiện nay đều không Giáo phận nào có Tiểu chủng viện hết mà lẽ ra mỗi Giáo phận đều cần một Tiểu chủng viện để đào tạo các thanh thiếu niên tu học chuẩn bị vào Đại chủng viện. CSVN chỉ cho mở lại 6 Đại chủng viện: Hà Nội, Vinh, Huế, Nha Trang, Sài Gòn, Vĩnh Long. (ĐCV Sài Gòn có một cơ sở phụ tại Xuân Lộc). Các ứng sinh linh mục bị buộc phải học nhồi sọ chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng HCM. Không còn một tờ báo, nhà xuất bản, nhà in,... nào của Tôn giáo nào.
5. Từ 1960 đến 1975, Bộ đội miền Bắc tràn vào xâm lược miền Nam với đường HCM trên Trường Sơn, trên Biển Đông, với hệ thống xăng dầu rõ ràng, với hàng ngàn chiến xa đủ loại, với hàng núi vũ khí kinh người, thế mà CSVN vẫn rêu rao trước công luận quốc tế là “Đồng bào miền Nam tự nổi dậy” với lá cờ xảo trá 3 màu xanh, đỏ, vàng. Nay thì lại trơ trẽn tự hào là quân ta có “đường Trường Sơn huyền thoại” !!!
6. Hiệp định “Ngừng chiến và tái lập hòa bình tại VN” tại Paris năm 1973 qui định: Quân đội các bên tham chiến đều ngưng chiến, và phải rút khỏi lãnh thổ VNCH, để Dân miền Nam tự quyết định tương lai của mình trong hòa bình. Quân đội Hoa Kỳ “ngây thơ” (?) rút. Quân Bắc Việt chẳng những không rút mà còn phát huy bản chất và thói quen cực kỳ xấu xa là âm mưu gian trá chuẩn bị đánh lớn. Kết quả là trong những năm 1973-1975 chiến tranh liên miên ở miền Nam và ngày càng ác liệt, mãi cho đến ngày đứt phim gãy súng 30-4-1975. Hoa Kỳ ăn no bánh lừa. Hơn 2,5 triệu người Dân miền Nam thì quá sợ hãi tìm mọi cách trốn khỏi “thiên đàng CS”, đành bỏ mạng nửa triệu trên đường liều chết vượt rừng hoặc lao ra biển, tạo nên thuật ngữ tiếng Anh mới : boat peoples (thuyền nhân) made from VN “không nơi nào có được”. Nếu cột điện đường chạy được, chúng cũng vượt biên luôn. Hàng triệu quân-cán-chính Việt Nam Cộng Hòa phải tù đày 2-13 năm (đợt thả cuối cùng đầu năm 1988). Có người tù đi tù lại lần 2, 3, 4 trong 35 năm “thống nhất” mà đã “chung thân” đến 33-34 năm rồi !!!
7. Từ 1975 -2010, các cấp chóp bu và phát ngôn nhân của Bộ ngoại giao của Nhà cầm quyền CSVN đi đâu cũng luôn rêu rao không biết ngượng : “Ở VN, không hề có tù nhân tôn giáo, tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị.” Thực tế là chỉ nguyên hiện nay đang có hơn 200 tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị, tù nhân tôn giáo của các Giáo hội Tin Lành, Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Công giáo. Tôi luôn hỏi lại các Công an bắt và giam tôi : “Thế tôi là loại tù gì ?” các CA ấy luôn im lặng, không thể trả lời được. Trong trại giam, bất cứ lúc nào báo chí đưa tin câu rêu rao nêu trên, tôi đều có tuyệt thực phản đối, để được “bị lập biên bản” hầu có giấy bút ghi lý do tuyệt thực đằng sau trang giấy biên bản để bênh vực các Tôn giáo, Nhân quyền, Tự do, Dân chủ, Công lý, Sự thật. Dịp Tết Kỷ Sửu 2009, sau khi nghe Ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Nước, rêu rao như vậy tại Hoa Kỳ, tôi tuyệt thực không ăn 3 ngày tết và hát nghêu ngao cho các bạn tù ở các khu kỷ luật và khu biệt giam khác nghe bài “Pháo Tết” cải biên : “Tết, Tết, Tết, Tết đến rồi ! Nhưng rất buồn vì Cộng sản nói dối. Xuân ơi, Xuân ơi, Xuân đến rồi ! Nhưng rất buồn vì Cộng sản không thật.”
8. Hiến pháp CHXHCNVN năm 1992 đã bổ sung năm 2001, điều 59, b : “Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.” Mời chính ông HCM đốt đuốc tìm cho ra dù chỉ một trường mầm non, mẫu giáo, tiểu học bất kỳ (của Nhà nước) ở khắp Việt Nam hiện nay mà học sinh “không phải trả học phí”, thì tôi chết liền. Trái lại, tất cả các phụ huynh của những học sinh nhà nghèo các cấp này đều phải lo toát mồ hôi đầu năm học và các kỳ học giữa năm : nào là học phí, nào là các khoản đóng góp đủ kiểu, đủ loại. Nếu không có các Nhà Chùa, Nhà Xứ, Tổ chức, Nhà hảo tâm,... tìm cấp học bổng cho các em, thì hầu như tất cả học sinh con nhà nghèo đều phải chịu thất học, bỏ học và mù chữ hàng loạt. Còn các học sinh cấp cao hơn, sinh viên thì khỏi phải bàn. Học phí là một gánh quá nặng là chuyện đương nhiên...
9. Hiến pháp CHXHCNVN năm 1992 đã bổ sung năm 2001, điều 52 : “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.” Chỉ có người điên, dại, khờ mới tin vào điều này ở VN. Hãy nhìn vào 2 vụ việc gần đây nhất (giữa năm 2010 này) : Ông Nguyễn Trường Tô, Phó Bí thư tỉnh ủy Hà Giang, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang đã công khai mua dâm, cưỡng dâm vẫn ung dung ngoài vòng pháp luật, trong khi các cô gái nạn nhân lại đang rên siết trong nhà tù. Và Ông Phạm Thanh Bình, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Tập đoàn Vinashin) đã làm vỡ nợ lên đến 4 tỷ USD (80 ngàn tỷ VNĐ), sau khi công luận bức xúc quá, ngày 4-8-2010 vừa qua, CA đã bắt và khởi tố kiểu “tế thần”. Để xem, mức án, nếu có cũng nhẹ hều, và nếu có hơi nặng tí chút vì “yêu cầu chính trị”, thì cũng luôn được tha trước thời hạn cách rất “ngoạn mục”, như hàng trăm vụ chìm xuồng “made by CSVN” tương tự rồi. Vào tù rồi, CB CSVN vẫn luôn được ưu tiên 01 !!!
10. Các cấp quyền lực CSVN hiện nay đều đại ý luôn miệng rêu rao : “Nhà Nước bồi hoàn thỏa đáng cho Dân khi có kế hoạch “giải phóng mặt bằng” vì các công trình phúc lợi chung, để người Dân đến định cư ở nơi mới phải có cuộc sống tốt hơn hoặc ít ra là bằng ở nơi cũ. Việc này luôn phải được người Dân cùng tự nguyện đồng thuận hợp tình, hợp lý.” Hàng vạn vụ “giải phóng mặt bằng” trong cả Nước đã và đang gây ra bao bất công uất ức cho Dân nghèo từ hơn 35 năm nay. Hãy nhìn vào 2 vụ việc gần đây nhất : Ngày 25-5-2010, Công an nổ súng bắn chết em Lê Xuân Dũng, 12 tuổi và anh Lê Hữu Nam, 40 tuổi tại xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa chỉ vì họ không chấp nhận mức bồi hoàn sản nghiệp đất đai của họ một cách quá bất công. Và ngày 03-7-2010, Công an đã đánh chết giáo dân Tôma Nguyễn Thành Năm, 43 tuổi sau khi đã tra tấn hành hạ anh cùng hàng mấy chục giáo dân khác nhiều ngày trước, từ ngày CA cướp quan tài và đánh đập rất dã man nhiều giáo hữu, trong đám tang của Cụ bà Maria Đặng Thị Tân hôm 04-5-2010 ở giáo xứ Cồn Dầu, phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng, chỉ vì họ không thể chấp nhận mức đền bù nơi ở của họ quá rẻ mạt, khi Nhà cầm quyền CS Đà Nẵng muốn cưỡng chiếm quê hương họ để làm khu du lịch sinh thái, sinh gian, sinh dơ và sinh tội !?!
11. Giáo sư Phan Huy Lê, hiện là Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, trả lời báo Người Việt là “Nhân vật lịch sử anh hùng Lê Văn Tám hoàn toàn không có thật”, ông nói : “Tôi còn món nợ với anh Trần Huy Liệu mà đến nay chưa trả được. Đó là lúc anh Liệu làm Bộ trưởng Bộ tuyên truyền, đã bịa ra nhân vật Lê Văn Tám, một thiếu nhi tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng giặc Pháp ở Thị Nghè…Lúc sáng tác ra câu chuyện Lê Văn Tám, anh Liệu có nói với tôi rằng :“Bây giờ vì nhiệm vụ tuyên truyền tôi viết tài liệu này, sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, các anh nên nói lại dùm tôi, lở khi đó tôi không còn nữa”. (Người Việt, 21-3-2005). Giảng viên Đại học Khoa học Huế Hà Văn Thịnh cũng như rất nhiều chuyên gia khoa học đều cho rằng : Lê Văn Tám chắc chắn chỉ là nhân vật bịa đặt. Lý do đơn giản là không thể có chuyện một thiếu nhi tự châm lửa cả người rồi chạy xa hàng mấy chục mét được, vì “em đuốc lửa” ấy chạy chưa được 5 mét là phải gục xuống liền. (Tham chiếu “CSVN lấy gian dối làm phương châm hành xử” của Đại Nghĩa ngày 6-7-2010). Chuyện lừa bịp quá trắng trợn này đã bị phơi bày cả chục năm rồi, thế mà hiện nay các sách giáo khoa học sinh cấp I, II vẫn lì lợm nêu gương Anh hùng Thiếu niên Lê Văn Tám, Sài Gòn vẫn ngang bướng trêu ngươi với công viên Lê Văn Tám, nhiều nơi có trường học Lê Văn Tám, tôn vinh người Anh hùng Thiếu niên bịa bịp, để lớp lớp triệu triệu thiếu nhi-thiếu niên ngây thơ trong trắng Việt Nam noi gương sống theo !?!
12. Từ hơn 35 năm nay, CSVN phát động chương trình “Bảo vệ bà mẹ và trẻ em” (?) đại ý như sau : Vì hạnh phúc và chất lượng cuộc sống tương lai của các em bé đã sinh ra, phải trục giết bớt các em chưa sinh ra từ 1,2 tháng tuổi cho đến 6,7 thậm chí 8 tháng tuổi, mỗi năm ở VN khoảng 2 triệu em; hoặc đặt vòng tránh thai, hoặc hút điều hòa kinh nguyệt (thực chất là phá thai non) đều là các hành vi đạo đức !!! Lập luận theo kiểu của chủ nghĩa Mao trong cuộc đại cách mạng văn hóa (1970-1977) : “Để làm cho hơn 1 tỷ Dân TQ hạnh phúc mà phải giết 30 triệu Dân TQ, đó là hành vi đạo đức !!!”. (Tôi ở tù với một số gián điệp người Tàu, có thời đã là đệ tử trung kiên của Mao, tại K1 Thanh Cẩm, Cẩm Thủy, Thanh Hóa và K1 Nam Hà, Ba Sao, Kim Bảng, Hà Nam những năm 1984-1992, họ đều lập luận như thế).
Dù lấp liếm bao biện gì gì, thì việc trục giết, nạo giết các thai nhi là tội “mẹ giết con cách rất dã man, chủ mưu và đồng phạm”. Ai có lương tri đều phải hiểu chính xác như thế và chỉ được hiểu đúng như thế : “Trục giết vô số nhi thai – Ngút trời tội ác họa tai lâu dài!!!” (Thơ đấu tranh cho Tự do Tôn giáo của tác giả).
“Đặt vòng tránh thai, điều hòa kinh nguyệt là gì” ? Chính xác là : Bình thường, với phụ nữ khỏe mạnh, mỗi buồng trứng bên phải và bên trái thay phiên nhau, mỗi tháng một lần, từ buồng trứng của phụ nữ, trứng tốt khỏe mạnh rụng xuống 01 trứng, nằm ở đầu vòi trứng đợi tinh trùng nam 48 giờ. Sau 48 giờ, nó bắt đầu thối rữa và chuyển dần xuống tử cung. 12 ngày sau, cơ thể chủ nhân tống trứng thối ra ngoài với chút máu, gọi là kinh nguyệt. Từ khi trứng rụng đến đầu kỳ kinh, mọi phụ nữ toàn cầu đều có nửa chu kỳ này là 14 ngày. Nhưng từ đầu kỳ kinh đến khi trứng rụng lại của nửa chu kỳ sau thì mỗi phụ nữ không đều nhau : 14, 16, 18, 20, 30, 40,... ngày. Khi trứng đã thụ tinh (em bé rất bé mới chỉ là phôi) sẽ tự di chuyển dần từ cửa buồng trứng, men theo vòi trứng, xuống bám vào thành tử cung để làm tổ. Nếu đặt vào tử cung 1 vòng plastic hình lò-xo ziczac dẹt, khi người phụ nữ di chuyển, xê dịch, thì vòng plastic này sẽ đánh tơi em bé rất bé này, dù chỉ mới 1-2 tháng tuổi. Cơ thể người mẹ sẽ tống xuất em bé đã chết này ra với một ít máu “gần giống như kinh nguyệt”. Do đó, thực chất, phụ nữ nào đặt dụng cụ bị gọi cách gian trá là “vòng tránh thai” này, nếu có sinh hoạt với người nam, mỗi tháng đều có phá thai non một lần mà không biết. (Rất hiếm khi phôi ép vòng qua một bên, nên dù đặt vòng, phụ nữ nào đó vẫn mang thai bình thường).
Nhà cầm quyền CS lừa gạt Dân nghèo dụng cụ phá thai non, phá phôi này là “vòng tránh thai”, trong khi hầu hết các bác sĩ, trí thức đều biết rõ, nhưng rất ít người can đảm và chân tình tận tụy giải thích cho Dân. Tội phá thai non này ai chịu ???
Cũng tương tự, khi phụ nữ thấy mất kinh, đến phòng “Bảo vệ bà mẹ trẻ em” xin “điều hòa kinh nguyệt”, thực chất là vô tình hoặc cố ý nhờ cán bộ sát thủ y tế “hút thai non” ra. Tội này ai gánh ???
Thay vì dối gạt Dân nghèo như trên, lẽ ra Chính quyền chân chính cần đầu tư tăng thêm cán bộ y tế am tường sinh học, biết giải thích và chỉ dẫn cho Dân các phương pháp sinh con theo ý muốn hợp đạo đức, như phương pháp Billings,... Ngân khoản ít hơn mà hiệu quả vừa đạo đức, vừa văn minh, vừa ổn định, vừa vững bền.
13. Quá nhiều điều ông HCM tự gian trá hoặc thuộc hạ gian trá về ông ấy mà nhiều sách báo đã chứng minh rồi, sau khi lược qua vài điểm mốc, ở đây tôi chỉ chủ yếu đề cập đến 2 án văn đặc biệt liên quan đến học sinh-sinh viên và UNESCO có tôn vinh HCM thật không ? :
- Ngày sinh (19-5-1946 là ngày Hà Nội treo cờ giăng hoa đón Đô đốc Pháp D’Argenlieu, HCM ngụy nhận cho oai);
- Chiếm đoạt biệt danh/bút hiệu của các Nhân sĩ đã nổi tiếng và có hàng trăm tên giả: (Nguyễn Ái Quấc/Quốc là bút hiệu của cả nhóm Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Hoàng Quang Giụ, Hoàng Quang Bích, Văn Thu, Nguyễn Như Phong, Nguyễn Văn Tự mà HCM chôm tất cả công trình sách báo của nhóm này thành của Nguyễn Tất Thành (tức HCM); HCM là hiệu của Cụ Hồ Học Lãm, người thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội năm 1935. Sau khi Cụ Hồ Học Lãm qua đời (1938 ?), Nguyễn Ái Quốc (tức Lý Thụy, Hoàng Quốc Tuấn, Già Thu, Sáu Sán, Ông Ké) đoạt luôn Hội này năm 1941 và chiếm đoạt trọn đời biệt danh HCM của cụ Hồ Học Lãm, sát nhập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội và VN Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội của Trương Bội Công-Nguyễn Hải Thần thành Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi là Việt Minh, vì lúc đó, biệt danh HCM của cụ Hồ Học Lãm giới chính khách Trung Hoa và Đồng Minh Âu Mỹ chống Nhật đã biết nhiều);
- Đóng vai sĩ quan T.Lan tự viết “Vừa đi đường vừa kể chuyện” để tự đề cao mình quá lố;
*** Đóng vai nhà báo Trần Zân Tiên (nguyên bản là Zân) tự viết tiểu sử “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” tự ca tụng mình như một Vị Thánh, một siêu nhân;
*** Tập thơ chữ Hán “Ngục Trung Nhật Ký” (Nhật ký trong tù) thực sự là của ai ?
- Ngày chết (lúc đầu CSVN công bố 3-9-1969, về sau giấu không nổi nữa đành thú nhận là HCM đã “đi gặp Các-Mác Lênin” đúng ngày “Quốc Khánh” 2-9-1969);
- “Di chúc” : Một người phải chịu trách nhiệm chính về thảm nạn đấu tố hết sức tàn bạo và giết bỏ quá dã man kinh hoàng hàng trăm ngàn người Dân vô tội trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất theo bài bản của Mao Trạch Đông những năm 1953-1957 tại miền Bắc Việt Nam, bỏ tù và đày đọa đến kiệt sức chết bằng cưỡng bức lao động hàng vạn nhà trí thức và người Dân bất đồng chính kiến những năm 1945-1969-1975, giết luôn cả người tình-đồng chí của mình, mà đến gần chết vẫn cả gan tiếp tục dối gạt mọi người qua Di chúc : “Suốt đời tôi không ân hận gì hết”, trong khi Đức Khổng Tử dạy rằng : “Người quân tử mỗi ngày sám hối bảy lần”.
*** UNESCO của LHQ có tôn vinh HCM là nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại không ?
***
Nhằm cứu thoát hàng chục triệu học sinh-sinh viên hàng năm vẫn bị buộc học và bị thi đi thi lại đến toát mồ hôi mà lòng trĩu nặng như bị đá đè về thân thế và sự nghiệp của HCM (khá nhiều em thi lại lần 2, 3 vẫn không thể đủ điểm về các môn học gian quái), để khỏi quá dài dòng, điều gian trá thứ 13 của bài này chỉ đề cập 2 “đại tác phẩm” của “Siêu lừa” và vấn đề UNESCO thôi :
a) “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” của Trần Zân Tiên. Ngay từ đầu, 1948, ban biên tập của NXB Sự Thật đã ngờ rằng chính HCM tự ca tụng mình qua văn phong đậm nét tự thuật. Họ kín đáo so mẫu chữ máy đánh chữ trên bản thảo thấy giống hệt mẫu chữ máy hiệu Hermes của HCM, nhưng không ai dám nói, cứ tạm coi Trần Zân Tiên như một nhà báo cực kỳ bí ẩn xuất quỉ nhập thần nào đó, không ai biết được tung tích. Không thể che giấu mãi được, cuối cùng gần đây các cơ quan chính thức của CSVN đều phải thừa nhận Trần Zân Tiên chính là HCM, vô liêm sỉ đầy mình khi cả gan tự phong là “nhà văn hóa lỗi lạc”, “lãnh tụ vĩ đại”, được “toàn dân gọi là Cha Già Dân tộc kính yêu / Bác vĩ đại”.
Năm 1985, giáo sư Hà Minh Ðức đã xuất bản cuốn “Những Tác phẩm Văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, trong đó có đoạn : ‘‘Ðáp lại tình cảm mong muốn của đồng bào và bạn bè trên thế giới. Hồ Chủ tịch với bút danh Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm Những Mẩu Chuyện Về Ðời Hoạt Ðộng Của Hồ Chủ Tịch.’’ (Hà Minh Ðức, sđd, tr 132, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1985).
Thật tội nghiệp là “nhà báo Trần Zân Tiên” không tài nào moi được thông tin gì từ HCM cả : “Nguyên nhân rất đơn giản : Chủ tịch HCM không muốn nhắc đến thân thế của mình”. Trần Zân Tiên đặt lên miệng HCM : “Hiện nay có nhiều việc cần thiết hơn… Còn tiểu sử của tôi, thong thả sẽ nói đến…”. HCM tự viết về HCM : ‘‘Bác Hồ của chúng ta vô cùng khiêm tốn; Bác không muốn kể cho ai nghe về hoạt động của mình; rồi Bác Hồ được nhân dân ta coi là cha già của dân tộc; Bác còn vĩ đại hơn Lê Lợi, Trần Hưng Ðạo vì đã đưa dân tộc ta vào kỷ nguyên xã hội chủ nghĩa…’’! Năm 1948 ‘‘vị cha già của dân tộc’’ ấy 58 tuổi !!! Chỉ cần đọc thêm một câu sau đây thôi là hiểu được bản chất thật của HCM. Trần Zân Tiên-HCM tự viết: “Một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi nghe bình sinh của Người được ?” (trang 7, 8 hoặc 9 tùy lần xuất bản).
Có những người dùng quyền lực / tiền bạc để bắt người khác ca ngợi mình. Có thể có người mặt dày ẩn danh tự viết tiểu sử mình, nhưng tự tán dương bốc thơm mình cách cực kỳ “khiêm tốn nhường ấy” thì may ra trên đời mới chỉ có một “kết tinh bốn ngàn năm văn hóa của Việt Nam” trâng tráo vô liêm sỉ hết cỡ đến thế mà thôi. HCM đã vi phạm tận gốc những giá trị văn hóa mà tổ tiên ta vẫn hằng nâng niu, trân trọng, giữ gìn từ bao đời nay. HCM đã dùng sự gian trá điêu ngoa tự hủy hoại những giá trị văn hóa thiêng liêng của Dân tộc và Nhân loại.
Điều này không phải là một sự phỉ báng cực kỳ vĩ đại đối với Dân tộc VN và lương tri nhân loại là gì ? Các nhà giáo và trí thức VN thẳng thắn trả lời cho bao thế hệ học sinh Việt Nam đi !!!
b) “Ngục Trung Nhật Ký” (Nhật ký trong tù – từ đây gọi là NKTT) được sáng tác bởi ai ?
* Về ngoại vi : Theo các tài liệu chính thức của CSVN xuất bản : Từ thôn Ba Mông, huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây, HCM muốn đi Trùng Khánh để gặp một lãnh tụ CSTQ là Chu Ân Lai, nhưng bị bắt sáng sớm ngày 29-8-1932 tại thôn Túc Vinh, Tĩnh Tây, Quảng Tây cùng với Dương Đào dẫn đường, trên người có nhiều loại tiền, nhiều giấy giới thiệu khác nhau do nhóm HCM tự khắc dấu, tự làm từ Lạng Sơn, VN với các tên cũng khác nhau (Nguyễn Ái Quốc, HCM, Lý Thụy, Hoàng Quốc Tuấn, Già Thu) và một số giấy do Trung Quốc cấp từ trước. Trong đó có 2 giấy giới thiệu của Phân hội VN của Quốc tế phản xâm lược (chống Nhật), và của VN Độc Lập Đồng Minh Hội. Do đó, HCM bị nghi là Hán gian, phải ở tù từ 29-8-1942 đến 10-9-1943, trong 18 nhà tù của quan quân Tưởng Giới Thạch ở vùng Tĩnh Tây, Liễu Châu, Thiên Bảo, Bình Mã, Long Tuyền, Điền Đông, Quả Đức, Long An, Đồng Chính, Ung Ninh, Nam Ninh, Quế Lâm,… tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian ở tù 12 tháng 12 ngày ấy, HCM viết NKTT bằng chữ Hán trên hàng trăm tờ giấy rời (nguyên bản). Sau đó, HCM được CSVN phối hợp với CSTQ tìm mọi cách cứu ra tù, nhưng vẫn bị đưa về quản chế hơn 1 năm tại Cục Chính trị Chiến khu 4 của Chính phủ Tưởng Giới Thạch đến 20-9-1944. Thời gian này, HCM ghi chép lại (bản biên tập lại - nguyên bản đã bị HCM hủy bỏ) 133 bài thơ ấy + 1 bài (b.) cuối làm thêm khi vừa ra tù (Tân xuất ngục học đăng sơn, vừa ra tù học leo núi), tất cả 134 bài thơ ngắn, trên 1 sổ nhỏ (9,5cm x 12,5 cm) dày 82 tờ (164 trang) bằng giấy bản tốt hơn, cũng toàn bằng chữ Hán chuẩn, đóng thành 1 tập, ngoài bìa có vẽ hình đôi tay bị xích, ghi thời biểu 29-8-1932 đến 10-9-1933 (lệch trước thời gian bị tù thật đúng 10 năm). Bản dịch phổ biến nhất (134 b.) là của 2 ông Nam Trân-Văn Trực, do Viện Văn Học chịu trách nhiệm xuất bản lần đầu năm 1960, dựa trên bản biên tập lại này. Có lần xuất bản chỉ 111-113 b. Tài liệu khác lại ghi rằng ngay từ đầu HCM đã viết NKTT trên một cuốn sổ nhỏ, và những tháng tù cuối cùng kỳ này HCM bị giam ở nhà tù của Cục Chính trị Chiến khu 4 của Chính phủ Tưởng Giới Thạch. Tại đây HCM tiếp tục viết xong NKTT cho đến ngày ra khỏi tù 10-9-1943. Có tài liệu ghi thời gian ở tù thật sự lần này là gần 14 tháng (28.8.1942-10.1943).
HCM về lại VN cuối tháng 9-1944, mang theo tập thơ, giữa đường từ Pác Bó đi Tân Trào, lưu lại lán tranh của ông Hoàng Đức Triều ở Lam Sơn, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng từ 29-4 đến 9-5-1945. Lần kia HCM tiện tay giắt tập thơ vào mái lán tranh của ông Triều và bỏ quên nó ở đó. Sau khi HCM đi khỏi vài ngày, ông Triều phát hiện tập thơ, cậu Hoàng Triều Ân là con trai út của ông Triều bảo bố cất đi. Gần 5 năm sau, đầu năm 1950, ông Triều trao tập thơ cho cậu Triều Ân dặn là phải gửi cho HCM. Hoàng Triều Ân trao tập thơ cho Bí thư tỉnh ủy Cao Bằng là Dương Công Hoạt. Ông Hoạt giữ nó thêm 5 năm, đến năm 1955, tập thơ được gửi đến Phủ Chủ tịch theo đường công văn : “Gửi văn phòng Chính phủ để trình lên Bác Hồ”. (Tài liệu khác : Khoảng cuối năm 1954, 1 người Nùng về Phủ Chủ tịch tận tay trao lại tập thơ mà HCM đã bỏ quên ở nhà ông ấy). HCM tiếp nhận tập thơ quí của mình, mừng rỡ, cảm ơn, rồi không màng chi đến nó, trao cho phòng lưu trữ của Trung ương đảng Lao Động VN hơn 4 năm nữa (nó bị quên tất cả gần 14 năm).
Đầu năm 1959, ông Phạm Văn Bình (Văn Trực), trưởng ban giáo vụ trường đảng Nguyễn Ái Quốc, tình cờ phát hiện “đại tác phẩm” này, mượn ông Hùng, người quản thủ phòng lưu trữ, đưa về nhà, nhờ ông Văn Phụng dịch chữ Hán, rồi ông Văn Trực (PVBình) dịch thành thơ quốc ngữ. Sau đó, ông Bình trao tập thơ gồm 133-134 b. cho 2 ông Trường Chinh, Tố Hữu. Ông Tố Hữu giao cho 2 ông Đặng Thai Mai và Hoài Thanh thuộc Viện Văn Học trách nhiệm xuất bản. 2 ông Mai-Thanh lại giao cho ông Nam Trân cùng ông Văn Trực xem lại bản dịch để tháng 5-1960 xuất bản vừa là lần đầu, vừa đại trà 47 vạn bản (NXB Phổ Thông 45 vạn bản, NXB Văn Hóa 2 vạn bản) kịp mừng HCM 70 tuổi và phổ cập cho toàn dân học tập (sau gần 16 năm 4 tháng kể từ khi nó ra đời). Về sau có thêm các bản dịch khác, nhưng bản phổ biến nhất vẫn là bản dịch của 2 ông Nam Trân-Văn Trực do Viện Văn Học chịu trách nhiệm này. Đến lúc đó, xem ra HCM vẫn thờ ơ lãnh đạm với việc dịch, xuất bản tập thơ “rất lừng danh” của mình. Khi cận vệ đọc cho nghe, HCM chỉ hững hờ nói : “Thơ các chú dịch hay hơn thơ của bác”. Những cận thần đều cho là vì HCM rất mực khiêm tốn, đã siêu thoát khỏi vòng danh lợi thường tình. (Thực ra HCM có tự dịch b.134 với bút danh T.Lan như một dịch giả ẩn danh nào đó).
* Về nội dung : Trong cả tập thơ 133 b. chỉ có 2 câu duy nhất đề cập đến VN khi tác giả tự khẳng định mình là người Việt ở phần mở đầu đoạn II (b.5) của b. Thế Lộ Nan (Đường đời gian nan – b.4-5-6) : Dư nguyên Đại biểu Việt Nam dân, Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân. (Ta vốn là Đại biểu của Dân Việt Nam, Định đến Trung Hoa gặp nhân vật quan trọng), có lẽ HCM khi chép lại (10.9.1943-20.9.1944) đã làm thêm. Còn b.134 “Tân xuất ngục học đăng sơn” (vừa ra tù học leo núi) có câu cuối : Dao vọng Nam thiên, ức cố nhân (Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa) được hiểu về Việt Nam, không có trong tập thơ chính, được HCM làm sau khi đã ra khỏi tù.
Ngoài 3 câu thơ trên, tuyệt nhiên tác giả không hề gợn nhớ đến một danh lam thắng cảnh đặc sắc nào của Việt Nam, không hề hồi tưởng lại một phong tục tập quán nào của người Việt, không hề đề cao một nét đặc trưng hay một đức tính cao đẹp nào của con người thuần Việt, không hề đề cập đến tính chân chất của dân quê hoặc miền quê Việt Nam. Tất cả các Danh nhân và Anh hùng Dân tộc lừng danh như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Lê Quí Đôn, Chu Văn An, Mạc Đỉnh Chi…, các địa danh nổi tiếng của VN như Ba Đình, Bạch Đằng, Chi Lăng, Đông Đô, Đống Đa, Hạ Long, Hoàng Liên Sơn, Sa Pa, Thăng Long, Yên Tử…các biến cố sôi động tại VN, kể cả các đồng chí CSVN của HCM… đều hoàn toàn vắng bóng trong NKTT. Tất cả đều chỉ nói về đất nước Trung Quốc, người Hán và quan quân Tưởng Giới Thạch… kể cả tâm sự của tác giả cũng đa phần là của một người Hán, nhiều bài lại là tâm sự của một người Hán tầm thường nữa.
***
*** Thử phân tích đôi điều : - Tôi đã ở tù 5 lần (1968 tại quận 8, Sài Gòn; 1977 tại Thừa Phủ, Huế; 1983-1992 tại Thừa Phủ, Huế + Thanh Cẩm, Thanh Hóa + Nam Hà, Hà Nam; 2001-2005 tại Thừa Phủ, Huế + Nam Hà, Hà Nam; 2007-2010 tại Thừa Phủ, Huế + Nam Hà, Hà Nam). Cũng như hầu hết các tù nhân khác mới bị bắt + tạm giam, như CSVN vẫn rêu rao, thời nay “văn minh – nhân đạo” hơn thời Tưởng Giới Thạch rất nhiều, thế mà một mảnh giấy, một cây bút bi cũng rất khó có, rất hiếm khi Cán bộ lờ đi hoặc cho dùng. Chỉ khi nào đã xử xong, ở trại giam, tùy loại tù nhân có thể được giữ giấy bút và cũng chỉ tùy từng giai đoạn. Làm sao trong tù thời ấy HCM mới bị bắt và đang bị tạm giam mà có sẵn giấy, bút lông, mực xạ dễ dàng đến thế ? HCM xuất nhập trại 18 lần, chuyển trại 17 lần, mỗi lần phải đi bộ hàng mấy chục cây số, làm sao che mắt nổi quan quân Tưởng Giới Thạch với hàng trăm mảnh giấy ghi thơ trực tiếp phê phán chế độ lao tù “rất khắc nghiệt” của họ Tưởng ? Thần thông biến hóa hơn lão Tôn Ngộ Không chăng !?! Bị tù gần 2 năm ở Hồng Kông (6.1931-1.1933) lâu hơn, điều kiện tốt hơn, thuận lợi hơn, văn minh hơn rất nhiều, nhưng tại sao HCM không làm một bài thơ nào ?
- HCM bị bắt vì bị nghi là Hán gian. Vậy sự thường, cách tốt nhất để chứng minh mình không phải là Hán gian, là bằng mọi cách HCM phải luôn khẳng định mình là người Việt (như 2 câu mở đầu đoạn II (b.5) của bài Thế Lộ Nan : “Ta vốn là Đại biểu của Dân Việt Nam, Định đến Trung Hoa gặp nhân vật quan trọng”, mà nhiều người cho rằng khi chép lại ở Cục Chính trị Chiến khu 4, HCM đã thêm đoạn II - 4 câu này - vào sau), phải làm thơ bằng tiếng Việt, sao lại bằng chữ Hán ? Là nói nhiều về Việt Nam, sao lại chỉ nói về Trung Quốc, người Hán ? Là luôn tự hào mình là người Việt Nam, sao lại tự hào mình là một “lương Hán (hán)”, sao chỉ đến khi ra tù mới nhớ đến trời Nam ? Lạ lùng nhất là tại sao HCM lại phải tự hạ đến mức là “nô thần, nghiệt tử” của lãnh tụ Tưởng Giới Thạch (Độc Tưởng công huấn từ b.120) ???
- Thường tình hợp lẽ tự nhiên nhất, khi bị bắt, với các loại tiền, nhiều giấy tờ, tên tuổi trên người, HCM trước tiên đã phải bị nghi là một người Việt rất nguy hiểm, đang có âm mưu chính trị gì đó khi xâm nhập vào Trung Quốc, chứ không thể bị nghi là Hán gian được. Phải chăng việc bị nghi là Hán gian là do chính HCM tự hô lên cốt để dễ ăn khớp với ý thơ của Ngục Trung Nhật Ký của một người Hán nào đó quả thật đang bị chê trách là đồ Hán gian, như tác giả tâm sự ở đoạn III bài Thế Lộ Nan (b.9) : Trung thành, ngã bản vô tâm cứu, Khước bị hiềm nghi tố Hán gian (Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng, Lại bị tình nghi là Hán gian). HCM chỉ có thể bị nghi là Việt Cộng, Việt gian, chứ không thể bị nghi là Hán gian được !!!
- Các bài “Nan hữu Mạc mỗ” (Bạn tù họ Mạc-b.26), “Nan hữu nguyên Chủ nhiệm L.” (Bạn tù L. nguyên là Chủ nhiệm-b.27), “Long An Lưu Sở trưởng” (Sở trưởng Long An họ Lưu-b.40), “Quách tiên sinh” (Tiên sinh họ Quách-b.91), “Mạc Ban trưởng” (Ban trưởng họ Mạc-b.92), “Mông ưu đãi” (Được ưu đãi-b.110), “Ngũ khoa trưởng, Hoàng khoa viên (Khoa trưởng họ Ngũ, khoa viên họ Hoàng-b.114), “Lương Hoa Thịnh tướng quân thăng nhậm Phó Tư lệnh” (Tướng Lương Hoa Thịnh thăng chức Phó Tư lệnh-b.121),“Tặng tiểu hầu Hải” (Tặng chú hầu Hải- b.122), “Trần Khoa viên lai thám” (Khoa viên họ Trần tới thăm-b.126), “Tức cảnh” (b.132) chỉ toàn ca tụng hoặc đề cập đến người Tàu/Hán: Trương Phi, Quan Vũ, chúc mừng, khen tặng, đón tiếp, mô tả các Tướng lãnh, Đại nhân họ Mạc, Chủ nhiệm L., họ Lưu, họ Quách, họ Lương, họ Ngũ, họ Hoàng, họ Trần, họ Tưởng, chú giúp việc người Tàu…
- Bài “Dạ Bán” (Nửa đêm-b.99) mở đầu : Thụy thì đô tượng thuần lương Hán, Tỉnh hậu tài phân thiện, ác nhân (Ngủ thì ai cũng là người Hán tốt, Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền). Hán đây cũng có thể hiểu là người đàn ông : hán tử, hảo hán. Ngủ thì ai cũng là chàng hảo hán tốt. Nam Trân dịch gượng : Ngủ thì ai cũng như lương thiện. Hoàng Quảng Uyên dịch diễn nghĩa o ép : Lúc ngủ, mọi người đều có vẻ thuần hậu. Đâu là sự thật ?
- Bài “Song Thập Nhật Giải Vãng Thiên Bảo” (Tết Song Thập Bị Giải Đi Thiên Bảo-b.28) mở đầu : Gia gia kết thái dữ trương đăng, Quốc Khánh hoan thanh cử quốc đằng. (Nhà nhà hoa Tết với đèn giăng, Quốc Khánh reo vui cả nước mừng). Vì sao HCM lại nặng lòng với Quốc Khánh Song Thập của Trung Hoa Dân Quốc, để mừng Cách Mạng Tân Hợi 10-10-1911 ở Vũ Xương, Trung Quốc đến thế ?
- Bài “Hầu Chủ Nhiệm Ân Tặng Nhất Bộ Thư” (Chủ nhiệm họ Hầu tặng một cuốn sách-b.127) : “Khoảnh thừa Chủ nhiệm tống thư lai, Độc bãi tinh thần giác đốn khai, Lãnh tụ vĩ ngôn như tại nhĩ, Thiên biên oanh động nhất thanh lôi” (Sách Ngài Chủ nhiệm mới đưa sang, Đọc đoạn, tinh thần chợt mở mang, Còn vẳng bên tai lời lãnh tụ, Chân trời một tiếng sấm rền vang). Hầu Chủ nhiệm tức Hầu Chí Minh, Chủ nhiệm chính trị chiến khu 4, người đã trực tiếp thả Hồ Chí Minh theo lệnh của Tưởng Giới Thạch. Cụ Hồ Học Lãm thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội năm 1935. Tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc (cũng là Lý Thụy, Hoàng Quốc Tuấn, Già Thu, Sáu Sán, Ông Ké) đoạt luôn Hội này và đoạt luôn biệt danh HCM của cụ Hồ Học Lãm, sát nhập VN Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội của Trương Bội Công – Nguyễn Hải Thần thành Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi là Việt Minh, do HCM làm lãnh tụ. HCM còn lắng nghe “…vẳng bên tai lời lãnh tụ” Trung Hoa nào nữa ? Như vậy vị lãnh tụ nào đó và tác giả đều là 2 người Tàu, không thể là 2 người Việt được !
- Một số bài đề cập đến các việc rất lặt vặt, lời văn quá thô thiển như : Chúc than (Hàng cháo-b.38), Quả Đức ngục (Nhà lao Quả Đức b.39), Bào Hương cẩu nhục (Thịt chó ở Bào Hương-b.82), Nhân đỗ ngã (Nhân lúc bụng đói-b.125),… chỉ là văn chương của tù thường phạm, sao có thể xứng đáng là tâm tư của một lãnh tụ đang nóng lòng cứu nước thương dân ?
* Độc đáo nhất là bài “Độc Tưởng công huấn từ” (Đọc lời giáo huấn của Ông Tưởng”-b.120) : Trong phòng giam, nhân đọc Lời Giáo Huấn của Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc Dân Đảng Tưởng Giới Thạch, tác giả là thuộc hạ, con cái càng tăng thêm quyết tâm kiên trì chiến đấu : “Bách chiến bất hồi, hương tiền tiến, Cô thần nghiệt tử, nghĩa đương nhiên; Quyết tâm, khổ cán dữ ngạnh cán, Tự hữu thành công đích nhất thiên” (Gian khó không lùi vẫn tiến lên, Thuộc hạ côi cút, phận con bất hiếu, đương nhiên phải giữ nghĩa; Quyết tâm cố gắng cương nghị, Nhất định có lúc phải thành công) (Cô thần nghiệt tử, ai cũng phải hiểu là : Thuộc hạ côi cút, phận con bất hiếu. Thế mà Đỗ Văn Hỷ cả gan dịch điêu : Thù nhà nợ nước. Hoàng Quảng Uyên lại dịch càn: Phận tôi con bơ vơ nhà tan nước mất để bao thế hệ triệu, triệu sinh viên-học sinh học và thi !!!). HCM đang bị quan quân Tưởng Giới Thạch bắt oan, dù giả bộ làm diễn viên đóng kịch tôn thờ Tưởng Giới Thạch y như thật đến đâu nữa, cũng không thể nào lại vô liêm sỉ đến mức hạ mình bộc lộ tâm can, tự coi là thuộc hạ côi cút, phận con bất hiếu của Tưởng Giới Thạch, nguyện quyết tâm kiên trì chiến đấu cho đến thành công. Trong khi ở nhiều bài thơ khác thì lên án chê trách nhà tù họ Tưởng hà khắc đủ điều. Vậy tác giả thật sự là ai ??? Bộ Chính Trị ĐCSVN và hàng ngàn giáo sư-tiến sĩ-sử gia giả và thật của Bắc Bộ Phủ giải thích sao cho lọt tai đây ???
- Khi đã thong thả để chép lại thành 1 tập thơ khổ nhỏ, còn phải đánh lạc hướng bằng cách ghi lệch thời gian ở tù đúng 10 năm trên bìa trước làm gì ? Hoặc là các cận thần cố tình ghi lại thời gian tù dài hơn 12 tháng này (29-8-1932 đến 10-9-1933) cho khớp ngày, tháng trên bìa tập thơ, chỉ cố tình cho lệch đúng 10 năm ? Tại sao lúc đầu, các tài liệu ghi thời gian tù lệch bìa cũng 10 năm nhưng dài gần 14 tháng (28.8.1942-10.1943) ? Nếu nói tập thơ được làm trong khi bị tù gần 2 năm ở Hồng Kông (6.1931-1.1933) thì gần khớp với thời gian ghi trên bìa (29-8-1932 đến 10-9-1933) hơn, nhưng về nội dung thì không có gì ăn khớp cả. Tắc tị. Bó tay.
- Một người rất trâng tráo tự viết tiểu sử mình đến độ vô liêm sỉ, ham mê danh vọng đến nỗi tự tán dương mình như một Vị Thánh “khiêm tốn nhường ấy”, tự phong là “nhà văn hóa lỗi lạc”, “lãnh tụ vĩ đại”, được “toàn dân gọi là Cha Già Dân tộc kính yêu” như HCM-Trần Zân Tiên, đã vì chiến tranh mà quên “đại tác phẩm” của mình ở lán tranh Lam Sơn 11 năm, có thể tạm chấp nhận được. Nhưng vì sao, một người hay làm thơ, yêu thơ đến thế, khi đã vững trên ngai tại Hà Nội rồi, mà còn cố tình bỏ quên “tập thơ kiệt xuất” con đẻ cực kỳ trân quí của mình trong kho đến những 5 năm nữa ? Đến khi nó, sau gần 17 năm, đã được long trọng xuất bản đến thế, để mừng chính sinh nhật thượng thọ 70 của mình, HCM vẫn xem ra thờ ơ lãnh đạm với nó. Có cơ sở nào để cho rằng chỉ vì HCM rất mực khiêm tốn, đã siêu thoát khỏi vòng danh lợi thường tình như những cận thần xun xoe ? Phải chăng HCM không mấy vui vẻ tự hào về “đạo văn kiệt tác” (kiệt tác văn ăn cắp) này ? Nhất là sau khi nghe cận thần xầm xì về Trần Zân Tiên, HCM đâm ra rất e ngại với “đại tác phẩm” hầu hết không phải của mình ? Nhỡ có ai đó tỉnh táo bén nhạy soi mói mà phát hiện ra điều gian ngụy gì thì đại khốn nạn thay !!!
Ngay sau ngày gãy súng 30-4-1975 ít lâu, khi một học giả miền Bắc thuyết trình về NKTT tại Sài Gòn, Giáo sư Lê Hữu Mục đã đứng lên giữa hội trường chất vấn và khẳng định rằng NKTT không phải của HCM. Và Gs Mục đã viết một sách chứng minh như thế. Hiện nay, nhiều “học giả” và nhiều “học thật” cũng cho là như vậy. Phim “Sự thật về HCM” cũng khẳng định NKTT không thể là của HCM.
*** Chỉ sơ lược qua như trên, phải chăng đây là cách giải thích gần sự thật trần trụi nhất mà chúng ta có thể nhận ra: Gần trọn tập thơ Ngục Trung Nhật Ký (NKTT) là do một người Hán nào đó làm, HCM đã chép lại và có thể chỉ làm thêm một số bài như đoạn II - 4 câu của bài Thế Lộ Nan (9), bài “Các báo hoan nghênh Uy-Ki đại hội” (35), bài Việt hữu tao động (79), bài “Anh phỏng Hoa đoàn”(Đoàn Đại biểu Anh thăm Trung Hoa – bài 80), bài Ký Ni-lỗ (Gửi Nê-ru – 87-88), bài Dương Đào bệnh trọng (116) nếu bạn đồng hành của HCM đúng là có một ông Dương Đào... Còn bài Tân xuất ngục học đăng sơn (134) chính HCM nói HCM đã làm sau khi đã ra khỏi tù, không có trong tập thơ chính.
Các giáo sư, giáo viên không nên cứ cúi đầu dạy và bắt triệu triệu học sinh-sinh viên ép lương tâm nhai đi nhai lại một tác phẩm chứa đựng quá nhiều gian trá, mâu thuẫn, uẩn khúc, mà không hề phân tích tự hỏi ngộ nhỡ đa phần nó chỉ là đạo văn (thơ ăn cắp) của một tù nhân người Hán nào đó thì sao ? Trước đây một số giáo sư, giáo viên, người dân chỉ vì dám nói lên vài sự thật nho nhỏ về HCM mà đã bị đi cải tạo mút mùa. Nhưng nay tình hình đã khác, các học trò ruột trường phái HCM sắp hết hơi rồi, không thể tiếp tục gian trá mãi được !
Các nhà nghiên cứu, các nhà giáo và trí thức VN hãy tỉnh táo, can đảm, mạnh dạn, trung thực, thẳng thắn thừa nhận hoặc phanh phui sự dối gạt kéo dài quá lâu trên tâm hồn và lương tri bao thế hệ học sinh Việt Nam. Đó chính là sự giải phóng đích thật mà toàn Dân - nhất là giới trẻ - đang rất bức thiết cần đến !
c) UNESCO mù hay sao mà tôn vinh HCM là nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại ? Sự thật như sau : Năm 1987, CSVN có đệ trình một đơn xin UNESCO (Tổ chức Văn hóa Giáo dục của LHQ) đến năm 1990 tôn vinh HCM là nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của HCM. Tại Paris, khóa họp 24 từ ngày 20-10 đến 20-11-1987, Tiểu ban Văn hóa đã ghi vào nghị trình Đại hội đồng UNESCO năm 1987 danh sách sẽ được tuyên dương năm 1990 gồm 7 người : Phya Anuman Rajadhon (Thái Lan), Thomas Munzer (Đông Đức), Anton Semionovitch Makarenko (Liên Sô), Jawaharlal Nehru (Ấn Độ), HCM (Việt Nam) và Sinan (Thổ Nhĩ Kỳ). Lời tuyên dương HCM dùng trọn bản văn do phái đoàn CSVN soạn cũng như lời tuyên dương các nhân vật khác do phái đoàn quốc gia liên hệ đề nghị, được Đại hội đồng thông qua không thảo luận. Trong khóa họp 24 năm 1987 này, với sự ủng hộ của Tông Thư ký M’Bow, người châu Phi, UNESCO đã ra một Nghị quyết chấp thuận, lời lẽ theo đơn xin của CSVN: “The year 1990 will mark the centenary of the birth of President Ho Chi Minh, Vietnamese hero of national liberation and great man of culture”. (Năm 1990 sẽ kỷ niệm 100 năm sinh nhật Chủ tịch HCM, anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa lớn).
Nhưng rồi bộ mặt thực của chế độ CS và các siêu lãnh tụ CS Staline, Mao Trạch Đông, Ceaucescu, HCM, Kim Nhật Thành… dần lộ rõ, làm rơi mặt nạ các thần tượng được tô phết mấy chục năm qua. Có quá nhiều chống đối rằng HCM và CSVN vi phạm nhân phẩm nhân quyền, hủy diệt văn hóa, mâu thuẫn với mục tiêu của Liên Hiệp Quốc và UNESCO.
Tân Tổng Thư Ký Frederico Meillor, Tây Ban Nha, cho rằng không cần một Nghị quyết khác để hủy bỏ Nghị quyết năm 1987 ghi nhận đề nghị của VN về việc kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông HCM vào năm 1990, nhưng UNESCO sẽ không tổ chức kỷ niệm và không can dự bất cứ hành động nào để vinh danh HCM tại trụ sở Paris. UNESCO không dự trù ngân khoản cho việc đó. Việt Nam muốn kỷ niệm sinh nhật 100 năm của HCM là tùy ý riêng, không liên quan UNESCO.
Ngày 19.5.1990, UNESCO không tổ chức gì liên quan đến HCM, đồng thời cấm CSVN lấy danh nghĩa UNESCO để tổ chức (hội trường, thiếp mời). CSVN đã tự tổ chức. Ngày 19.5.1990 Sứ quán CSVN chỉ mướn được một phòng sinh hoạt nhỏ của LHQ với khoảng 60-70 khách, hầu hết là Việt kiều CS, vài đảng viên CS Pháp, bạn bè Cuba, Trung Cộng, Bắc Triều Tiên, Kămpuchia, Lào. Vào đúng giờ khắc buổi kỷ niệm của sứ quán CSVN, hơn 100 Việt Kiều đã biểu tình phản kháng ở công trường Fontenoy gần trụ sở UNESCO, đả đảo sự vinh danh HCM, người có tội trước lịch sử nhân loại, đã tàn hại đất nước và dân tộc Việt Nam và 2 nước Kămpuchia, Lào.
Những điều này đã có nhiều tài liệu chứng minh đủ rõ rồi. Nghĩa là có nộp đơn xin thi hoa hậu, ban tổ chức chấp thuận đơn xin, nhưng hoàn toàn bị đánh trượt. Chỉ có thế và chỉ có thế. UNESCO thấy không cần phải lên tiếng xác minh lại. (Xin đọc thêm : “Lật tẩy việc mạo danh UNESCO lừa gạt công luận & 84 triệu Dân VN” do tác giả sưu tập năm 2006).
14. Từ gần 65 năm nay, CSVN luôn phỉnh gạt là VN có Tự do Bầu cử, Ứng cử. Thực chất là do ĐCSVN tự biên, tự diễn, độc diễn toàn trị. Các Đại biểu ứng cử cũng tự biết mình chỉ là con cờ trong tay Đảng sai khiến, làm bung xung cho trò dân chủ giả hiệu. Còn các Đại biểu đắc cử cũng biết mình chẳng phải là Đại biểu cao cả của Nhân dân gì cả. Đích thật là bù nhìn, hầu như chỉ biết đưa tay biểu quyết nhất trí theo ý của Bộ Chính trị của Trung Ương Đảng. Đây không phải là điều gian trá vĩ đại đẳng cấp HCM siêu lừa ngay giữa cộng đồng quốc tế thì là gì ? Mời Bộ Chính trị giải thích sao cho lọt tai toàn Dân đang dần dần thức tỉnh đây.
15. Nhân dân làm chủ ? “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” thật không ? Ai cũng thấy hoàn toàn chỉ là láo lường. Chính xác là : Đảng lãnh đạo Nhà nước, quản lý Nhân dân, làm chủ. Hoặc chính xác hơn nữa là : Đảng CSTQ lãnh đạo, Đảng CSVN quản lý, Nhân dân TQ làm chủ lãnh thổ và nền kinh tế của VN. HCM nói : “Dân chủ là làm cho Dân mở miệng” và “Cán bộ là đầy tớ của Nhân dân”. Nhưng Dân mở miệng là bị bịt miệng ngay, là bị nhốt vào tù tấp bá lị. Đầy tớ mà muốn hăm dọa, đàn áp, bắt bớ, đánh đập, bắn giết… các Ông Chủ sao, lúc nào và bao nhiêu cũng được. Dân chủ kiểu XHCN made in VN là như thế ! HCM cũng nói : “Dân chủ là một báu vật, để sơ hở sẽ dễ mất, phải để vào hòm khóa lại. Chuyên chính vô sản chính là cái ổ khóa để bảo vệ Dân chủ cho khỏi mất” !!! (x. Vũ Đình Hòe, Pháp quyền HCM, 2 tập, tập 1. Sách bị nhốt, chưa ghi số trang, NXB và năm XB được. Mong thứ lỗi).
16. Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam hay của Trung Quốc ? Trước khi về tiếp quản Hà Nội, sáng 19-9-1954 tại cửa Đền Giếng, khu di tích Đền Hùng, núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ trước cán bộ Đại đoàn Quân tiên phong, HCM đã nói : “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”(?) HCM muốn liệt mình vào hàng khai quốc ngang hàng các vua Hùng.
Nhưng chỉ 4 năm sau, để Trung Cộng viện trợ vũ khí và lương thực hầu xâm lược miền Nam, CS Bắc Việt đã thỏa thuận ngầm với Trung Cộng. Ngày 4-9-1958, Trung Cộng tuyên bố 2 quần đảo Hoàng Sa (hơn 20 đảo) và Trường Sa (hơn 100 đảo) là của TQ (trong khi Việt Nam Cộng Hòa đang quản lý canh giữ). Chỉ 10 ngày sau, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Việt Cộng, theo lệnh của HCM, đã ký công hàm xin tôn trọng bản Tuyên bố “ăn cướp” của Trung Cộng và cúi đầu vâng phục. Năm 1974, Trung Cộng xua hải quân đánh chiếm Hoàng Sa, ngoài khơi Đà Nẵng, lính VNCH phải tử trận hơn 150 chiến sĩ. Bắc Việt lúc đó im re, lại còn mê muội vừa nhẫn tâm gọi những người anh em ruột thịt của mình đã liều chết đổ xương máu bảo vệ giang sơn của Tổ Tiên để lại là “Ngụy quân, Ngụy quyền”, vừa hèn hạ gọi quân xâm lược Trung Cộng là “các đồng chí vĩ đại Trung Quốc kính yêu” (Đó là đạo lý của CSVN). Năm 1982, Trung Cộng lại xua quân đánh chiếm thêm hơn 10 đảo thuộc quần đảo Trường Sa ngoài khơi Vũng Tàu của VN.
Hiện nay, trong khi hầu như toàn Dân, nhất là giới trẻ VN, tìm mọi cách để giành lại Hoàng Sa-Trường Sa, thì NCQ CSVN lại theo đuổi một thủ đoạn vòng vo phức tạp : 1) Vừa lật lọng phủ nhận công hàm bán nước ngày 14-9-1958 của CS Bắc Việt rằng : Lúc đó chủ quyền 2 quần đảo này đang thuộc về Chính quyền VNCH Sài Gòn trước công pháp quốc tế, nên công hàm 14-9-1958 của CS Bắc Việt vô giá trị; 2) Vừa tổ chức hội thảo rùm beng về chủ quyền của VN trên 2 quần đảo này để che mắt Dân chúng VN; 3) Vừa úp mở trong hồ sơ chính thức nộp cho LHQ về lãnh hải VN; 4) Vừa không thật lòng quyết tâm bênh vực bảo vệ tàu thuyền và ngư dân VN qua lại vùng biển quanh Hoàng Sa-Trường Sa; 5) Vừa nhượng thêm đất liền qua việc giao đất rừng miễn phí 50 năm cho Trung Cộng lên đến 300 ngàn hécta và tạo điều kiện cho Tàu Cộng có mặt lâu dài ở VN; 6) Vừa thẳng tay đàn áp Dân chúng biểu tình bày tỏ lòng yêu Nước chính đáng của mình về chủ quyền lãnh thổ do Tổ Tiên để lại, đến nỗi Dân và thanh niên VN chỉ dám lén lút ghi tên lãnh thổ của mình bằng các từ viết tắt HS-TS-VN, để khi bị đàn áp quá chịu không thấu thì phải nói dối méo miệng là Học Sinh-Trong Sạch-VN theo gương siêu gian trá của HCM !!!
Nếu CSVN đã trao Hoàng Sa – Trường Sa cho TQ rồi, thì phải công bố thật rõ cho người Dân biết, để Dân VN đừng liều mạng đến mưu sinh quanh 2 quần đảo này nữa, vì không được lực lượng nào bảo vệ hữu hiệu cả.
Còn nếu CSVN thật tâm cương quyết và kiên trì thu hồi lại trọn vẹn 2 quần đảo này thì lẽ ra phải tự hào hãnh diện và vui mừng khuyến khích, tại sao lại bôi mặt và nhẫn tâm đàn áp, bắt giam những người Dân xả thân liều chết biểu tình đòi lại 2 quần đảo đã mất gần hết này?
Nại lý do đây là vấn đề ngoại giao nhạy cảm để 2 đảng CS dễ bề thậm thụt với nhau về một vấn đề cực kỳ hệ trọng đối với SỰ TOÀN VẸN LÃNH THỔ và AN NINH TỔ QUỐC như thế, có thể tiếp tục lừa bịp toàn Dân đang thức tỉnh không ???
Thay lời kết : Những ai tự coi hoặc được gọi là Trí thức, Sĩ phu,... đã biết rõ 16 điều gian trá vĩ đại siêu lừa trên, mà vẫn hoặc im lặng đồng lõa tiếp tay, hoặc đã hèn nhát ngậm tăm hàng mấy chục năm nay : Lẽ nào lại cam tâm đồng lõa với tội ác ngút trời trục giết vô số thai nhi sao ? Hay đồng lõa với tội ác giết người cướp đất sao ? Lẽ nào biết được mỗi năm hàng chục triệu học sinh-sinh viên phải cúi đầu ép lòng học những điều dối trá, mà có thể coi như không có gì đụng đến mình sao ? Lẽ nào lại cam phận tiếp tục sống ô nhục vậy mãi được sao ? Lẽ nào yên lương tâm mà đọc sách thánh hiền sao ? Lẽ nào cứ tiếp tục hăng hái đi bầu cách miễn cưỡng giả tạo như vậy mãi, lại còn thúc giục người thân, thuộc nhân tham gia trò hề dân chủ giả hiệu ấy mà không tự thẹn sao ???
Những ai chưa biết, hoặc chưa nhận ra hết 16 điều gian trá vĩ đại đẳng cấp HCM siêu lừa nêu trên, thì nay kính mời lắng nghe, thấu hiểu và tiếp tục nghiên cứu sâu rộng hơn, nhất là tìm cách tự giải thoát, để có khả năng giúp càng nhiều người Dân càng tốt, càng sớm càng mừng :
Từ bớt sợ hãi đến hết sợ hãi. Từ bớt nói dối đến hết nói dối.
Tương lai Tổ quốc-Dân tộc chúng ta trước tiên và cơ bản cốt tại 2 điều này, làm nền tảng cho tất cả các điều hệ trọng bức thiết khác tiếp theo.
Xin chân thành cảm ơn nhiều, nhiều lắm và rất nhiều.
Lm TNLT Nguyễn Văn Lý
Huế, 14-8-2010
16 ĐIỀU GIAN TRÁ VĨ ĐẠI CẤP HCM
Các Đức Giám mục Công giáo hoàn cầu 5 năm 1 lần về Rôma để viếng mộ 2 Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô. Ngoài buổi gặp chung của Hội đồng GM hoặc từng nhóm GM với Đức Giáo hoàng, mỗi GM còn gặp riêng ĐGH để trình bày về Giáo phận mỗi GM coi sóc, mỗi Vị 15-30 phút. Cuộc thăm gặp này gọi là Ad Limina, có nghĩa là “đến ngưỡng cửa”.
Trong lần Ad Limina của Hội đồng Giám mục VN năm 1980, Đức cố TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền hỏi Đức cố Giáo hoàng Gioan-Phaolô II : “Đức Thánh Cha nghĩ gì về Cộng sản ?”. Đức Gioan-Phaolô II trả lời ngay không do dự, rất ngắn gọn, súc tích và chính xác, nguyên văn bằng tiếng Pháp : “Mensonge ! Et rien que mensonge !” (Dối trá ! Và chỉ là dối trá !).
Trước 1954, lúc mới 5-6 tuổi, tôi đã thuộc lòng bài thơ về Cộng sản dối trá :
Dối thiên dối địa dối vô cùng,
Dối giấy dối tờ dối tứ tung,
Dối từ đất Âu sang đất Á,
Dối từ xuân hạ đến thu đông,
Dối gạt Dân mê không hóa có,
Dối phỉnh Dân mù có hóa không,
Dối mãi dối hoài không hết dối,
Dối thiên dối địa dối vô cùng. @@@
Tôi đã nhiều lần lặp đi lặp lại trước công luận quốc tế : “Việt Nam hiện nay là một trường dạy nói dối tinh vi và khổng lồ. Từ một phụ huynh tìm trường cho một em học sinh mẫu giáo và chính em mẫu giáo ấy đến ông Chủ tịch Nước, kể cả các Chức sắc các Tôn giáo, đều buộc phải biết nói dối để xuôi thuận công việc. Một Việt kiều văn minh ở Na-Uy, Thụy Sĩ, Nhật Bản,... đặt chân xuống Tân Sơn Nhất, Nội Bài,... là phải biết nói dối để dễ trót lọt hải quan sân bay ngay !”
Cha đẻ của các bệnh thành tích, bệnh học giả, thi giả, bằng giả, báo cáo giả, thuốc giả, thực phẩm giả,...hiện nay tại VN là ai ? Dối trá “made in VN” bắt nguồn từ đâu ? Chắc chắn chính xác là từ ông HCM : đại gian ác, siêu cao thủ, lừa gạt được gần cả thế giới.
Những điều gian trá của CSQT và CSVN nhiều vô kể không thể ghi ra hết được. Để bổ sung phần nào các điều gian dối của CS mà nhiều người đã nêu lên trong nhiều sách báo mấy chục năm qua, tôi xin lược kê thêm 15 bằng chứng tiêu biểu mang tính khái quát cao, bộc lộ đúng bản chất khách quan của phong trào CS quốc tế, CSVN và của ông HCM, hoàn toàn không hề do định kiến của một số người nào đó cố tình bóp méo xuyên tạc, để lấy cớ mà tẩy chay CNCS và CNXH tại VN và trên toàn thế giới :
1. Cuối năm 1945, để lừa mị công luận, HCM tuyên bố giải thể đảng CS Đông Dương, nhưng thực ra là chỉ rút lui vào bí mật. Năm 1951 đổi tên là đảng Lao Động VN. Sau 1975 đổi thành đảng CSVN. Thực tế cả 3 đảng chỉ là một (vô ra chỉ một con ma ấy !!!).
2. Trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945 và Hiến pháp 1946, HCM và CSVN khôn khéo cố tình không nhắc đến một lần nào CNXH, CNCS. Nhưng sau đó lại áp đặt : Độc lập Dân tộc phải gắn liền với CNXH, rồi độc đoán cột buộc mọi Dân Việt : yêu Nước là yêu CNXH !?!
3. Sau Hiệp định Genève 20-7-1954, tất cả các Cán bộ CS ở miền Nam nào muốn tập kết ra Bắc đều được tự do đi và chính Pháp cung cấp đủ tàu thủy chở đi. Trái lại rất nhiều Đồng bào ở miền Bắc muốn di cư vào Nam thì bị đủ mọi hăm dọa, thủ đoạn ngăn chặn, kể cả bắn chìm ghe, thuyền, bè của Dân và nhấn chìm Dân chết đuối. Nếu được tự do di cư, không chỉ có hơn một triệu Đồng bào miền Bắc di cư vào Nam, mà con số phải cao hơn nhiều lần.
4. Năm 1955, HCM ký Sắc lệnh Tự do Tôn giáo. Kết quả là tất cả các Tiểu và Đại chủng viện là những trường đào tạo LM ở miền Bắc đều bị đóng cửa, tất cả các Nữ Tu sĩ đều bị ép buộc phải về nhà lấy chồng (vì là bọn trốn đẻ), chỉ một số ít kiên trì bám trụ, khôn ngoan trốn tránh (tu chui) mới tồn tại cho đến 1975. Rất nhiều Linh mục, Nam Tu sĩ, Giáo dân nòng cốt bị nhốt vào các trại cải tạo, một số đã chết trong tù. Sau 1973 CSVN mới cho mở lại 2 Đại chủng viện Hà Nội và Vinh với giới hạn tuyển sinh rất ngặt nghèo. Hiện nay, trong cả Nước, tất cả các Tiểu chủng viện (cấp phổ thông và đại học) đều đang bị CSVN tịch thu, có khi bằng bạo lực với quân đội, súng ống (như Tiểu chủng viện Hoan Thiện, 11 Đống Đa, Huế, 13-19.12.1979). 26 Giáo phận cả Nước hiện nay đều không Giáo phận nào có Tiểu chủng viện hết mà lẽ ra mỗi Giáo phận đều cần một Tiểu chủng viện để đào tạo các thanh thiếu niên tu học chuẩn bị vào Đại chủng viện. CSVN chỉ cho mở lại 6 Đại chủng viện: Hà Nội, Vinh, Huế, Nha Trang, Sài Gòn, Vĩnh Long. (ĐCV Sài Gòn có một cơ sở phụ tại Xuân Lộc). Các ứng sinh linh mục bị buộc phải học nhồi sọ chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng HCM. Không còn một tờ báo, nhà xuất bản, nhà in,... nào của Tôn giáo nào.
5. Từ 1960 đến 1975, Bộ đội miền Bắc tràn vào xâm lược miền Nam với đường HCM trên Trường Sơn, trên Biển Đông, với hệ thống xăng dầu rõ ràng, với hàng ngàn chiến xa đủ loại, với hàng núi vũ khí kinh người, thế mà CSVN vẫn rêu rao trước công luận quốc tế là “Đồng bào miền Nam tự nổi dậy” với lá cờ xảo trá 3 màu xanh, đỏ, vàng. Nay thì lại trơ trẽn tự hào là quân ta có “đường Trường Sơn huyền thoại” !!!
6. Hiệp định “Ngừng chiến và tái lập hòa bình tại VN” tại Paris năm 1973 qui định: Quân đội các bên tham chiến đều ngưng chiến, và phải rút khỏi lãnh thổ VNCH, để Dân miền Nam tự quyết định tương lai của mình trong hòa bình. Quân đội Hoa Kỳ “ngây thơ” (?) rút. Quân Bắc Việt chẳng những không rút mà còn phát huy bản chất và thói quen cực kỳ xấu xa là âm mưu gian trá chuẩn bị đánh lớn. Kết quả là trong những năm 1973-1975 chiến tranh liên miên ở miền Nam và ngày càng ác liệt, mãi cho đến ngày đứt phim gãy súng 30-4-1975. Hoa Kỳ ăn no bánh lừa. Hơn 2,5 triệu người Dân miền Nam thì quá sợ hãi tìm mọi cách trốn khỏi “thiên đàng CS”, đành bỏ mạng nửa triệu trên đường liều chết vượt rừng hoặc lao ra biển, tạo nên thuật ngữ tiếng Anh mới : boat peoples (thuyền nhân) made from VN “không nơi nào có được”. Nếu cột điện đường chạy được, chúng cũng vượt biên luôn. Hàng triệu quân-cán-chính Việt Nam Cộng Hòa phải tù đày 2-13 năm (đợt thả cuối cùng đầu năm 1988). Có người tù đi tù lại lần 2, 3, 4 trong 35 năm “thống nhất” mà đã “chung thân” đến 33-34 năm rồi !!!
7. Từ 1975 -2010, các cấp chóp bu và phát ngôn nhân của Bộ ngoại giao của Nhà cầm quyền CSVN đi đâu cũng luôn rêu rao không biết ngượng : “Ở VN, không hề có tù nhân tôn giáo, tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị.” Thực tế là chỉ nguyên hiện nay đang có hơn 200 tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị, tù nhân tôn giáo của các Giáo hội Tin Lành, Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Công giáo. Tôi luôn hỏi lại các Công an bắt và giam tôi : “Thế tôi là loại tù gì ?” các CA ấy luôn im lặng, không thể trả lời được. Trong trại giam, bất cứ lúc nào báo chí đưa tin câu rêu rao nêu trên, tôi đều có tuyệt thực phản đối, để được “bị lập biên bản” hầu có giấy bút ghi lý do tuyệt thực đằng sau trang giấy biên bản để bênh vực các Tôn giáo, Nhân quyền, Tự do, Dân chủ, Công lý, Sự thật. Dịp Tết Kỷ Sửu 2009, sau khi nghe Ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Nước, rêu rao như vậy tại Hoa Kỳ, tôi tuyệt thực không ăn 3 ngày tết và hát nghêu ngao cho các bạn tù ở các khu kỷ luật và khu biệt giam khác nghe bài “Pháo Tết” cải biên : “Tết, Tết, Tết, Tết đến rồi ! Nhưng rất buồn vì Cộng sản nói dối. Xuân ơi, Xuân ơi, Xuân đến rồi ! Nhưng rất buồn vì Cộng sản không thật.”
8. Hiến pháp CHXHCNVN năm 1992 đã bổ sung năm 2001, điều 59, b : “Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.” Mời chính ông HCM đốt đuốc tìm cho ra dù chỉ một trường mầm non, mẫu giáo, tiểu học bất kỳ (của Nhà nước) ở khắp Việt Nam hiện nay mà học sinh “không phải trả học phí”, thì tôi chết liền. Trái lại, tất cả các phụ huynh của những học sinh nhà nghèo các cấp này đều phải lo toát mồ hôi đầu năm học và các kỳ học giữa năm : nào là học phí, nào là các khoản đóng góp đủ kiểu, đủ loại. Nếu không có các Nhà Chùa, Nhà Xứ, Tổ chức, Nhà hảo tâm,... tìm cấp học bổng cho các em, thì hầu như tất cả học sinh con nhà nghèo đều phải chịu thất học, bỏ học và mù chữ hàng loạt. Còn các học sinh cấp cao hơn, sinh viên thì khỏi phải bàn. Học phí là một gánh quá nặng là chuyện đương nhiên...
9. Hiến pháp CHXHCNVN năm 1992 đã bổ sung năm 2001, điều 52 : “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.” Chỉ có người điên, dại, khờ mới tin vào điều này ở VN. Hãy nhìn vào 2 vụ việc gần đây nhất (giữa năm 2010 này) : Ông Nguyễn Trường Tô, Phó Bí thư tỉnh ủy Hà Giang, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang đã công khai mua dâm, cưỡng dâm vẫn ung dung ngoài vòng pháp luật, trong khi các cô gái nạn nhân lại đang rên siết trong nhà tù. Và Ông Phạm Thanh Bình, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Tập đoàn Vinashin) đã làm vỡ nợ lên đến 4 tỷ USD (80 ngàn tỷ VNĐ), sau khi công luận bức xúc quá, ngày 4-8-2010 vừa qua, CA đã bắt và khởi tố kiểu “tế thần”. Để xem, mức án, nếu có cũng nhẹ hều, và nếu có hơi nặng tí chút vì “yêu cầu chính trị”, thì cũng luôn được tha trước thời hạn cách rất “ngoạn mục”, như hàng trăm vụ chìm xuồng “made by CSVN” tương tự rồi. Vào tù rồi, CB CSVN vẫn luôn được ưu tiên 01 !!!
10. Các cấp quyền lực CSVN hiện nay đều đại ý luôn miệng rêu rao : “Nhà Nước bồi hoàn thỏa đáng cho Dân khi có kế hoạch “giải phóng mặt bằng” vì các công trình phúc lợi chung, để người Dân đến định cư ở nơi mới phải có cuộc sống tốt hơn hoặc ít ra là bằng ở nơi cũ. Việc này luôn phải được người Dân cùng tự nguyện đồng thuận hợp tình, hợp lý.” Hàng vạn vụ “giải phóng mặt bằng” trong cả Nước đã và đang gây ra bao bất công uất ức cho Dân nghèo từ hơn 35 năm nay. Hãy nhìn vào 2 vụ việc gần đây nhất : Ngày 25-5-2010, Công an nổ súng bắn chết em Lê Xuân Dũng, 12 tuổi và anh Lê Hữu Nam, 40 tuổi tại xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa chỉ vì họ không chấp nhận mức bồi hoàn sản nghiệp đất đai của họ một cách quá bất công. Và ngày 03-7-2010, Công an đã đánh chết giáo dân Tôma Nguyễn Thành Năm, 43 tuổi sau khi đã tra tấn hành hạ anh cùng hàng mấy chục giáo dân khác nhiều ngày trước, từ ngày CA cướp quan tài và đánh đập rất dã man nhiều giáo hữu, trong đám tang của Cụ bà Maria Đặng Thị Tân hôm 04-5-2010 ở giáo xứ Cồn Dầu, phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng, chỉ vì họ không thể chấp nhận mức đền bù nơi ở của họ quá rẻ mạt, khi Nhà cầm quyền CS Đà Nẵng muốn cưỡng chiếm quê hương họ để làm khu du lịch sinh thái, sinh gian, sinh dơ và sinh tội !?!
11. Giáo sư Phan Huy Lê, hiện là Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, trả lời báo Người Việt là “Nhân vật lịch sử anh hùng Lê Văn Tám hoàn toàn không có thật”, ông nói : “Tôi còn món nợ với anh Trần Huy Liệu mà đến nay chưa trả được. Đó là lúc anh Liệu làm Bộ trưởng Bộ tuyên truyền, đã bịa ra nhân vật Lê Văn Tám, một thiếu nhi tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng giặc Pháp ở Thị Nghè…Lúc sáng tác ra câu chuyện Lê Văn Tám, anh Liệu có nói với tôi rằng :“Bây giờ vì nhiệm vụ tuyên truyền tôi viết tài liệu này, sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, các anh nên nói lại dùm tôi, lở khi đó tôi không còn nữa”. (Người Việt, 21-3-2005). Giảng viên Đại học Khoa học Huế Hà Văn Thịnh cũng như rất nhiều chuyên gia khoa học đều cho rằng : Lê Văn Tám chắc chắn chỉ là nhân vật bịa đặt. Lý do đơn giản là không thể có chuyện một thiếu nhi tự châm lửa cả người rồi chạy xa hàng mấy chục mét được, vì “em đuốc lửa” ấy chạy chưa được 5 mét là phải gục xuống liền. (Tham chiếu “CSVN lấy gian dối làm phương châm hành xử” của Đại Nghĩa ngày 6-7-2010). Chuyện lừa bịp quá trắng trợn này đã bị phơi bày cả chục năm rồi, thế mà hiện nay các sách giáo khoa học sinh cấp I, II vẫn lì lợm nêu gương Anh hùng Thiếu niên Lê Văn Tám, Sài Gòn vẫn ngang bướng trêu ngươi với công viên Lê Văn Tám, nhiều nơi có trường học Lê Văn Tám, tôn vinh người Anh hùng Thiếu niên bịa bịp, để lớp lớp triệu triệu thiếu nhi-thiếu niên ngây thơ trong trắng Việt Nam noi gương sống theo !?!
12. Từ hơn 35 năm nay, CSVN phát động chương trình “Bảo vệ bà mẹ và trẻ em” (?) đại ý như sau : Vì hạnh phúc và chất lượng cuộc sống tương lai của các em bé đã sinh ra, phải trục giết bớt các em chưa sinh ra từ 1,2 tháng tuổi cho đến 6,7 thậm chí 8 tháng tuổi, mỗi năm ở VN khoảng 2 triệu em; hoặc đặt vòng tránh thai, hoặc hút điều hòa kinh nguyệt (thực chất là phá thai non) đều là các hành vi đạo đức !!! Lập luận theo kiểu của chủ nghĩa Mao trong cuộc đại cách mạng văn hóa (1970-1977) : “Để làm cho hơn 1 tỷ Dân TQ hạnh phúc mà phải giết 30 triệu Dân TQ, đó là hành vi đạo đức !!!”. (Tôi ở tù với một số gián điệp người Tàu, có thời đã là đệ tử trung kiên của Mao, tại K1 Thanh Cẩm, Cẩm Thủy, Thanh Hóa và K1 Nam Hà, Ba Sao, Kim Bảng, Hà Nam những năm 1984-1992, họ đều lập luận như thế).
Dù lấp liếm bao biện gì gì, thì việc trục giết, nạo giết các thai nhi là tội “mẹ giết con cách rất dã man, chủ mưu và đồng phạm”. Ai có lương tri đều phải hiểu chính xác như thế và chỉ được hiểu đúng như thế : “Trục giết vô số nhi thai – Ngút trời tội ác họa tai lâu dài!!!” (Thơ đấu tranh cho Tự do Tôn giáo của tác giả).
“Đặt vòng tránh thai, điều hòa kinh nguyệt là gì” ? Chính xác là : Bình thường, với phụ nữ khỏe mạnh, mỗi buồng trứng bên phải và bên trái thay phiên nhau, mỗi tháng một lần, từ buồng trứng của phụ nữ, trứng tốt khỏe mạnh rụng xuống 01 trứng, nằm ở đầu vòi trứng đợi tinh trùng nam 48 giờ. Sau 48 giờ, nó bắt đầu thối rữa và chuyển dần xuống tử cung. 12 ngày sau, cơ thể chủ nhân tống trứng thối ra ngoài với chút máu, gọi là kinh nguyệt. Từ khi trứng rụng đến đầu kỳ kinh, mọi phụ nữ toàn cầu đều có nửa chu kỳ này là 14 ngày. Nhưng từ đầu kỳ kinh đến khi trứng rụng lại của nửa chu kỳ sau thì mỗi phụ nữ không đều nhau : 14, 16, 18, 20, 30, 40,... ngày. Khi trứng đã thụ tinh (em bé rất bé mới chỉ là phôi) sẽ tự di chuyển dần từ cửa buồng trứng, men theo vòi trứng, xuống bám vào thành tử cung để làm tổ. Nếu đặt vào tử cung 1 vòng plastic hình lò-xo ziczac dẹt, khi người phụ nữ di chuyển, xê dịch, thì vòng plastic này sẽ đánh tơi em bé rất bé này, dù chỉ mới 1-2 tháng tuổi. Cơ thể người mẹ sẽ tống xuất em bé đã chết này ra với một ít máu “gần giống như kinh nguyệt”. Do đó, thực chất, phụ nữ nào đặt dụng cụ bị gọi cách gian trá là “vòng tránh thai” này, nếu có sinh hoạt với người nam, mỗi tháng đều có phá thai non một lần mà không biết. (Rất hiếm khi phôi ép vòng qua một bên, nên dù đặt vòng, phụ nữ nào đó vẫn mang thai bình thường).
Nhà cầm quyền CS lừa gạt Dân nghèo dụng cụ phá thai non, phá phôi này là “vòng tránh thai”, trong khi hầu hết các bác sĩ, trí thức đều biết rõ, nhưng rất ít người can đảm và chân tình tận tụy giải thích cho Dân. Tội phá thai non này ai chịu ???
Cũng tương tự, khi phụ nữ thấy mất kinh, đến phòng “Bảo vệ bà mẹ trẻ em” xin “điều hòa kinh nguyệt”, thực chất là vô tình hoặc cố ý nhờ cán bộ sát thủ y tế “hút thai non” ra. Tội này ai gánh ???
Thay vì dối gạt Dân nghèo như trên, lẽ ra Chính quyền chân chính cần đầu tư tăng thêm cán bộ y tế am tường sinh học, biết giải thích và chỉ dẫn cho Dân các phương pháp sinh con theo ý muốn hợp đạo đức, như phương pháp Billings,... Ngân khoản ít hơn mà hiệu quả vừa đạo đức, vừa văn minh, vừa ổn định, vừa vững bền.
13. Quá nhiều điều ông HCM tự gian trá hoặc thuộc hạ gian trá về ông ấy mà nhiều sách báo đã chứng minh rồi, sau khi lược qua vài điểm mốc, ở đây tôi chỉ chủ yếu đề cập đến 2 án văn đặc biệt liên quan đến học sinh-sinh viên và UNESCO có tôn vinh HCM thật không ? :
- Ngày sinh (19-5-1946 là ngày Hà Nội treo cờ giăng hoa đón Đô đốc Pháp D’Argenlieu, HCM ngụy nhận cho oai);
- Chiếm đoạt biệt danh/bút hiệu của các Nhân sĩ đã nổi tiếng và có hàng trăm tên giả: (Nguyễn Ái Quấc/Quốc là bút hiệu của cả nhóm Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Hoàng Quang Giụ, Hoàng Quang Bích, Văn Thu, Nguyễn Như Phong, Nguyễn Văn Tự mà HCM chôm tất cả công trình sách báo của nhóm này thành của Nguyễn Tất Thành (tức HCM); HCM là hiệu của Cụ Hồ Học Lãm, người thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội năm 1935. Sau khi Cụ Hồ Học Lãm qua đời (1938 ?), Nguyễn Ái Quốc (tức Lý Thụy, Hoàng Quốc Tuấn, Già Thu, Sáu Sán, Ông Ké) đoạt luôn Hội này năm 1941 và chiếm đoạt trọn đời biệt danh HCM của cụ Hồ Học Lãm, sát nhập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội và VN Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội của Trương Bội Công-Nguyễn Hải Thần thành Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi là Việt Minh, vì lúc đó, biệt danh HCM của cụ Hồ Học Lãm giới chính khách Trung Hoa và Đồng Minh Âu Mỹ chống Nhật đã biết nhiều);
- Đóng vai sĩ quan T.Lan tự viết “Vừa đi đường vừa kể chuyện” để tự đề cao mình quá lố;
*** Đóng vai nhà báo Trần Zân Tiên (nguyên bản là Zân) tự viết tiểu sử “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” tự ca tụng mình như một Vị Thánh, một siêu nhân;
*** Tập thơ chữ Hán “Ngục Trung Nhật Ký” (Nhật ký trong tù) thực sự là của ai ?
- Ngày chết (lúc đầu CSVN công bố 3-9-1969, về sau giấu không nổi nữa đành thú nhận là HCM đã “đi gặp Các-Mác Lênin” đúng ngày “Quốc Khánh” 2-9-1969);
- “Di chúc” : Một người phải chịu trách nhiệm chính về thảm nạn đấu tố hết sức tàn bạo và giết bỏ quá dã man kinh hoàng hàng trăm ngàn người Dân vô tội trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất theo bài bản của Mao Trạch Đông những năm 1953-1957 tại miền Bắc Việt Nam, bỏ tù và đày đọa đến kiệt sức chết bằng cưỡng bức lao động hàng vạn nhà trí thức và người Dân bất đồng chính kiến những năm 1945-1969-1975, giết luôn cả người tình-đồng chí của mình, mà đến gần chết vẫn cả gan tiếp tục dối gạt mọi người qua Di chúc : “Suốt đời tôi không ân hận gì hết”, trong khi Đức Khổng Tử dạy rằng : “Người quân tử mỗi ngày sám hối bảy lần”.
*** UNESCO của LHQ có tôn vinh HCM là nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại không ?
***
Nhằm cứu thoát hàng chục triệu học sinh-sinh viên hàng năm vẫn bị buộc học và bị thi đi thi lại đến toát mồ hôi mà lòng trĩu nặng như bị đá đè về thân thế và sự nghiệp của HCM (khá nhiều em thi lại lần 2, 3 vẫn không thể đủ điểm về các môn học gian quái), để khỏi quá dài dòng, điều gian trá thứ 13 của bài này chỉ đề cập 2 “đại tác phẩm” của “Siêu lừa” và vấn đề UNESCO thôi :
a) “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” của Trần Zân Tiên. Ngay từ đầu, 1948, ban biên tập của NXB Sự Thật đã ngờ rằng chính HCM tự ca tụng mình qua văn phong đậm nét tự thuật. Họ kín đáo so mẫu chữ máy đánh chữ trên bản thảo thấy giống hệt mẫu chữ máy hiệu Hermes của HCM, nhưng không ai dám nói, cứ tạm coi Trần Zân Tiên như một nhà báo cực kỳ bí ẩn xuất quỉ nhập thần nào đó, không ai biết được tung tích. Không thể che giấu mãi được, cuối cùng gần đây các cơ quan chính thức của CSVN đều phải thừa nhận Trần Zân Tiên chính là HCM, vô liêm sỉ đầy mình khi cả gan tự phong là “nhà văn hóa lỗi lạc”, “lãnh tụ vĩ đại”, được “toàn dân gọi là Cha Già Dân tộc kính yêu / Bác vĩ đại”.
Năm 1985, giáo sư Hà Minh Ðức đã xuất bản cuốn “Những Tác phẩm Văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, trong đó có đoạn : ‘‘Ðáp lại tình cảm mong muốn của đồng bào và bạn bè trên thế giới. Hồ Chủ tịch với bút danh Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm Những Mẩu Chuyện Về Ðời Hoạt Ðộng Của Hồ Chủ Tịch.’’ (Hà Minh Ðức, sđd, tr 132, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1985).
Thật tội nghiệp là “nhà báo Trần Zân Tiên” không tài nào moi được thông tin gì từ HCM cả : “Nguyên nhân rất đơn giản : Chủ tịch HCM không muốn nhắc đến thân thế của mình”. Trần Zân Tiên đặt lên miệng HCM : “Hiện nay có nhiều việc cần thiết hơn… Còn tiểu sử của tôi, thong thả sẽ nói đến…”. HCM tự viết về HCM : ‘‘Bác Hồ của chúng ta vô cùng khiêm tốn; Bác không muốn kể cho ai nghe về hoạt động của mình; rồi Bác Hồ được nhân dân ta coi là cha già của dân tộc; Bác còn vĩ đại hơn Lê Lợi, Trần Hưng Ðạo vì đã đưa dân tộc ta vào kỷ nguyên xã hội chủ nghĩa…’’! Năm 1948 ‘‘vị cha già của dân tộc’’ ấy 58 tuổi !!! Chỉ cần đọc thêm một câu sau đây thôi là hiểu được bản chất thật của HCM. Trần Zân Tiên-HCM tự viết: “Một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi nghe bình sinh của Người được ?” (trang 7, 8 hoặc 9 tùy lần xuất bản).
Có những người dùng quyền lực / tiền bạc để bắt người khác ca ngợi mình. Có thể có người mặt dày ẩn danh tự viết tiểu sử mình, nhưng tự tán dương bốc thơm mình cách cực kỳ “khiêm tốn nhường ấy” thì may ra trên đời mới chỉ có một “kết tinh bốn ngàn năm văn hóa của Việt Nam” trâng tráo vô liêm sỉ hết cỡ đến thế mà thôi. HCM đã vi phạm tận gốc những giá trị văn hóa mà tổ tiên ta vẫn hằng nâng niu, trân trọng, giữ gìn từ bao đời nay. HCM đã dùng sự gian trá điêu ngoa tự hủy hoại những giá trị văn hóa thiêng liêng của Dân tộc và Nhân loại.
Điều này không phải là một sự phỉ báng cực kỳ vĩ đại đối với Dân tộc VN và lương tri nhân loại là gì ? Các nhà giáo và trí thức VN thẳng thắn trả lời cho bao thế hệ học sinh Việt Nam đi !!!
b) “Ngục Trung Nhật Ký” (Nhật ký trong tù – từ đây gọi là NKTT) được sáng tác bởi ai ?
* Về ngoại vi : Theo các tài liệu chính thức của CSVN xuất bản : Từ thôn Ba Mông, huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây, HCM muốn đi Trùng Khánh để gặp một lãnh tụ CSTQ là Chu Ân Lai, nhưng bị bắt sáng sớm ngày 29-8-1932 tại thôn Túc Vinh, Tĩnh Tây, Quảng Tây cùng với Dương Đào dẫn đường, trên người có nhiều loại tiền, nhiều giấy giới thiệu khác nhau do nhóm HCM tự khắc dấu, tự làm từ Lạng Sơn, VN với các tên cũng khác nhau (Nguyễn Ái Quốc, HCM, Lý Thụy, Hoàng Quốc Tuấn, Già Thu) và một số giấy do Trung Quốc cấp từ trước. Trong đó có 2 giấy giới thiệu của Phân hội VN của Quốc tế phản xâm lược (chống Nhật), và của VN Độc Lập Đồng Minh Hội. Do đó, HCM bị nghi là Hán gian, phải ở tù từ 29-8-1942 đến 10-9-1943, trong 18 nhà tù của quan quân Tưởng Giới Thạch ở vùng Tĩnh Tây, Liễu Châu, Thiên Bảo, Bình Mã, Long Tuyền, Điền Đông, Quả Đức, Long An, Đồng Chính, Ung Ninh, Nam Ninh, Quế Lâm,… tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian ở tù 12 tháng 12 ngày ấy, HCM viết NKTT bằng chữ Hán trên hàng trăm tờ giấy rời (nguyên bản). Sau đó, HCM được CSVN phối hợp với CSTQ tìm mọi cách cứu ra tù, nhưng vẫn bị đưa về quản chế hơn 1 năm tại Cục Chính trị Chiến khu 4 của Chính phủ Tưởng Giới Thạch đến 20-9-1944. Thời gian này, HCM ghi chép lại (bản biên tập lại - nguyên bản đã bị HCM hủy bỏ) 133 bài thơ ấy + 1 bài (b.) cuối làm thêm khi vừa ra tù (Tân xuất ngục học đăng sơn, vừa ra tù học leo núi), tất cả 134 bài thơ ngắn, trên 1 sổ nhỏ (9,5cm x 12,5 cm) dày 82 tờ (164 trang) bằng giấy bản tốt hơn, cũng toàn bằng chữ Hán chuẩn, đóng thành 1 tập, ngoài bìa có vẽ hình đôi tay bị xích, ghi thời biểu 29-8-1932 đến 10-9-1933 (lệch trước thời gian bị tù thật đúng 10 năm). Bản dịch phổ biến nhất (134 b.) là của 2 ông Nam Trân-Văn Trực, do Viện Văn Học chịu trách nhiệm xuất bản lần đầu năm 1960, dựa trên bản biên tập lại này. Có lần xuất bản chỉ 111-113 b. Tài liệu khác lại ghi rằng ngay từ đầu HCM đã viết NKTT trên một cuốn sổ nhỏ, và những tháng tù cuối cùng kỳ này HCM bị giam ở nhà tù của Cục Chính trị Chiến khu 4 của Chính phủ Tưởng Giới Thạch. Tại đây HCM tiếp tục viết xong NKTT cho đến ngày ra khỏi tù 10-9-1943. Có tài liệu ghi thời gian ở tù thật sự lần này là gần 14 tháng (28.8.1942-10.1943).
HCM về lại VN cuối tháng 9-1944, mang theo tập thơ, giữa đường từ Pác Bó đi Tân Trào, lưu lại lán tranh của ông Hoàng Đức Triều ở Lam Sơn, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng từ 29-4 đến 9-5-1945. Lần kia HCM tiện tay giắt tập thơ vào mái lán tranh của ông Triều và bỏ quên nó ở đó. Sau khi HCM đi khỏi vài ngày, ông Triều phát hiện tập thơ, cậu Hoàng Triều Ân là con trai út của ông Triều bảo bố cất đi. Gần 5 năm sau, đầu năm 1950, ông Triều trao tập thơ cho cậu Triều Ân dặn là phải gửi cho HCM. Hoàng Triều Ân trao tập thơ cho Bí thư tỉnh ủy Cao Bằng là Dương Công Hoạt. Ông Hoạt giữ nó thêm 5 năm, đến năm 1955, tập thơ được gửi đến Phủ Chủ tịch theo đường công văn : “Gửi văn phòng Chính phủ để trình lên Bác Hồ”. (Tài liệu khác : Khoảng cuối năm 1954, 1 người Nùng về Phủ Chủ tịch tận tay trao lại tập thơ mà HCM đã bỏ quên ở nhà ông ấy). HCM tiếp nhận tập thơ quí của mình, mừng rỡ, cảm ơn, rồi không màng chi đến nó, trao cho phòng lưu trữ của Trung ương đảng Lao Động VN hơn 4 năm nữa (nó bị quên tất cả gần 14 năm).
Đầu năm 1959, ông Phạm Văn Bình (Văn Trực), trưởng ban giáo vụ trường đảng Nguyễn Ái Quốc, tình cờ phát hiện “đại tác phẩm” này, mượn ông Hùng, người quản thủ phòng lưu trữ, đưa về nhà, nhờ ông Văn Phụng dịch chữ Hán, rồi ông Văn Trực (PVBình) dịch thành thơ quốc ngữ. Sau đó, ông Bình trao tập thơ gồm 133-134 b. cho 2 ông Trường Chinh, Tố Hữu. Ông Tố Hữu giao cho 2 ông Đặng Thai Mai và Hoài Thanh thuộc Viện Văn Học trách nhiệm xuất bản. 2 ông Mai-Thanh lại giao cho ông Nam Trân cùng ông Văn Trực xem lại bản dịch để tháng 5-1960 xuất bản vừa là lần đầu, vừa đại trà 47 vạn bản (NXB Phổ Thông 45 vạn bản, NXB Văn Hóa 2 vạn bản) kịp mừng HCM 70 tuổi và phổ cập cho toàn dân học tập (sau gần 16 năm 4 tháng kể từ khi nó ra đời). Về sau có thêm các bản dịch khác, nhưng bản phổ biến nhất vẫn là bản dịch của 2 ông Nam Trân-Văn Trực do Viện Văn Học chịu trách nhiệm này. Đến lúc đó, xem ra HCM vẫn thờ ơ lãnh đạm với việc dịch, xuất bản tập thơ “rất lừng danh” của mình. Khi cận vệ đọc cho nghe, HCM chỉ hững hờ nói : “Thơ các chú dịch hay hơn thơ của bác”. Những cận thần đều cho là vì HCM rất mực khiêm tốn, đã siêu thoát khỏi vòng danh lợi thường tình. (Thực ra HCM có tự dịch b.134 với bút danh T.Lan như một dịch giả ẩn danh nào đó).
* Về nội dung : Trong cả tập thơ 133 b. chỉ có 2 câu duy nhất đề cập đến VN khi tác giả tự khẳng định mình là người Việt ở phần mở đầu đoạn II (b.5) của b. Thế Lộ Nan (Đường đời gian nan – b.4-5-6) : Dư nguyên Đại biểu Việt Nam dân, Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân. (Ta vốn là Đại biểu của Dân Việt Nam, Định đến Trung Hoa gặp nhân vật quan trọng), có lẽ HCM khi chép lại (10.9.1943-20.9.1944) đã làm thêm. Còn b.134 “Tân xuất ngục học đăng sơn” (vừa ra tù học leo núi) có câu cuối : Dao vọng Nam thiên, ức cố nhân (Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa) được hiểu về Việt Nam, không có trong tập thơ chính, được HCM làm sau khi đã ra khỏi tù.
Ngoài 3 câu thơ trên, tuyệt nhiên tác giả không hề gợn nhớ đến một danh lam thắng cảnh đặc sắc nào của Việt Nam, không hề hồi tưởng lại một phong tục tập quán nào của người Việt, không hề đề cao một nét đặc trưng hay một đức tính cao đẹp nào của con người thuần Việt, không hề đề cập đến tính chân chất của dân quê hoặc miền quê Việt Nam. Tất cả các Danh nhân và Anh hùng Dân tộc lừng danh như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Lê Quí Đôn, Chu Văn An, Mạc Đỉnh Chi…, các địa danh nổi tiếng của VN như Ba Đình, Bạch Đằng, Chi Lăng, Đông Đô, Đống Đa, Hạ Long, Hoàng Liên Sơn, Sa Pa, Thăng Long, Yên Tử…các biến cố sôi động tại VN, kể cả các đồng chí CSVN của HCM… đều hoàn toàn vắng bóng trong NKTT. Tất cả đều chỉ nói về đất nước Trung Quốc, người Hán và quan quân Tưởng Giới Thạch… kể cả tâm sự của tác giả cũng đa phần là của một người Hán, nhiều bài lại là tâm sự của một người Hán tầm thường nữa.
***
*** Thử phân tích đôi điều : - Tôi đã ở tù 5 lần (1968 tại quận 8, Sài Gòn; 1977 tại Thừa Phủ, Huế; 1983-1992 tại Thừa Phủ, Huế + Thanh Cẩm, Thanh Hóa + Nam Hà, Hà Nam; 2001-2005 tại Thừa Phủ, Huế + Nam Hà, Hà Nam; 2007-2010 tại Thừa Phủ, Huế + Nam Hà, Hà Nam). Cũng như hầu hết các tù nhân khác mới bị bắt + tạm giam, như CSVN vẫn rêu rao, thời nay “văn minh – nhân đạo” hơn thời Tưởng Giới Thạch rất nhiều, thế mà một mảnh giấy, một cây bút bi cũng rất khó có, rất hiếm khi Cán bộ lờ đi hoặc cho dùng. Chỉ khi nào đã xử xong, ở trại giam, tùy loại tù nhân có thể được giữ giấy bút và cũng chỉ tùy từng giai đoạn. Làm sao trong tù thời ấy HCM mới bị bắt và đang bị tạm giam mà có sẵn giấy, bút lông, mực xạ dễ dàng đến thế ? HCM xuất nhập trại 18 lần, chuyển trại 17 lần, mỗi lần phải đi bộ hàng mấy chục cây số, làm sao che mắt nổi quan quân Tưởng Giới Thạch với hàng trăm mảnh giấy ghi thơ trực tiếp phê phán chế độ lao tù “rất khắc nghiệt” của họ Tưởng ? Thần thông biến hóa hơn lão Tôn Ngộ Không chăng !?! Bị tù gần 2 năm ở Hồng Kông (6.1931-1.1933) lâu hơn, điều kiện tốt hơn, thuận lợi hơn, văn minh hơn rất nhiều, nhưng tại sao HCM không làm một bài thơ nào ?
- HCM bị bắt vì bị nghi là Hán gian. Vậy sự thường, cách tốt nhất để chứng minh mình không phải là Hán gian, là bằng mọi cách HCM phải luôn khẳng định mình là người Việt (như 2 câu mở đầu đoạn II (b.5) của bài Thế Lộ Nan : “Ta vốn là Đại biểu của Dân Việt Nam, Định đến Trung Hoa gặp nhân vật quan trọng”, mà nhiều người cho rằng khi chép lại ở Cục Chính trị Chiến khu 4, HCM đã thêm đoạn II - 4 câu này - vào sau), phải làm thơ bằng tiếng Việt, sao lại bằng chữ Hán ? Là nói nhiều về Việt Nam, sao lại chỉ nói về Trung Quốc, người Hán ? Là luôn tự hào mình là người Việt Nam, sao lại tự hào mình là một “lương Hán (hán)”, sao chỉ đến khi ra tù mới nhớ đến trời Nam ? Lạ lùng nhất là tại sao HCM lại phải tự hạ đến mức là “nô thần, nghiệt tử” của lãnh tụ Tưởng Giới Thạch (Độc Tưởng công huấn từ b.120) ???
- Thường tình hợp lẽ tự nhiên nhất, khi bị bắt, với các loại tiền, nhiều giấy tờ, tên tuổi trên người, HCM trước tiên đã phải bị nghi là một người Việt rất nguy hiểm, đang có âm mưu chính trị gì đó khi xâm nhập vào Trung Quốc, chứ không thể bị nghi là Hán gian được. Phải chăng việc bị nghi là Hán gian là do chính HCM tự hô lên cốt để dễ ăn khớp với ý thơ của Ngục Trung Nhật Ký của một người Hán nào đó quả thật đang bị chê trách là đồ Hán gian, như tác giả tâm sự ở đoạn III bài Thế Lộ Nan (b.9) : Trung thành, ngã bản vô tâm cứu, Khước bị hiềm nghi tố Hán gian (Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng, Lại bị tình nghi là Hán gian). HCM chỉ có thể bị nghi là Việt Cộng, Việt gian, chứ không thể bị nghi là Hán gian được !!!
- Các bài “Nan hữu Mạc mỗ” (Bạn tù họ Mạc-b.26), “Nan hữu nguyên Chủ nhiệm L.” (Bạn tù L. nguyên là Chủ nhiệm-b.27), “Long An Lưu Sở trưởng” (Sở trưởng Long An họ Lưu-b.40), “Quách tiên sinh” (Tiên sinh họ Quách-b.91), “Mạc Ban trưởng” (Ban trưởng họ Mạc-b.92), “Mông ưu đãi” (Được ưu đãi-b.110), “Ngũ khoa trưởng, Hoàng khoa viên (Khoa trưởng họ Ngũ, khoa viên họ Hoàng-b.114), “Lương Hoa Thịnh tướng quân thăng nhậm Phó Tư lệnh” (Tướng Lương Hoa Thịnh thăng chức Phó Tư lệnh-b.121),“Tặng tiểu hầu Hải” (Tặng chú hầu Hải- b.122), “Trần Khoa viên lai thám” (Khoa viên họ Trần tới thăm-b.126), “Tức cảnh” (b.132) chỉ toàn ca tụng hoặc đề cập đến người Tàu/Hán: Trương Phi, Quan Vũ, chúc mừng, khen tặng, đón tiếp, mô tả các Tướng lãnh, Đại nhân họ Mạc, Chủ nhiệm L., họ Lưu, họ Quách, họ Lương, họ Ngũ, họ Hoàng, họ Trần, họ Tưởng, chú giúp việc người Tàu…
- Bài “Dạ Bán” (Nửa đêm-b.99) mở đầu : Thụy thì đô tượng thuần lương Hán, Tỉnh hậu tài phân thiện, ác nhân (Ngủ thì ai cũng là người Hán tốt, Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền). Hán đây cũng có thể hiểu là người đàn ông : hán tử, hảo hán. Ngủ thì ai cũng là chàng hảo hán tốt. Nam Trân dịch gượng : Ngủ thì ai cũng như lương thiện. Hoàng Quảng Uyên dịch diễn nghĩa o ép : Lúc ngủ, mọi người đều có vẻ thuần hậu. Đâu là sự thật ?
- Bài “Song Thập Nhật Giải Vãng Thiên Bảo” (Tết Song Thập Bị Giải Đi Thiên Bảo-b.28) mở đầu : Gia gia kết thái dữ trương đăng, Quốc Khánh hoan thanh cử quốc đằng. (Nhà nhà hoa Tết với đèn giăng, Quốc Khánh reo vui cả nước mừng). Vì sao HCM lại nặng lòng với Quốc Khánh Song Thập của Trung Hoa Dân Quốc, để mừng Cách Mạng Tân Hợi 10-10-1911 ở Vũ Xương, Trung Quốc đến thế ?
- Bài “Hầu Chủ Nhiệm Ân Tặng Nhất Bộ Thư” (Chủ nhiệm họ Hầu tặng một cuốn sách-b.127) : “Khoảnh thừa Chủ nhiệm tống thư lai, Độc bãi tinh thần giác đốn khai, Lãnh tụ vĩ ngôn như tại nhĩ, Thiên biên oanh động nhất thanh lôi” (Sách Ngài Chủ nhiệm mới đưa sang, Đọc đoạn, tinh thần chợt mở mang, Còn vẳng bên tai lời lãnh tụ, Chân trời một tiếng sấm rền vang). Hầu Chủ nhiệm tức Hầu Chí Minh, Chủ nhiệm chính trị chiến khu 4, người đã trực tiếp thả Hồ Chí Minh theo lệnh của Tưởng Giới Thạch. Cụ Hồ Học Lãm thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội năm 1935. Tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc (cũng là Lý Thụy, Hoàng Quốc Tuấn, Già Thu, Sáu Sán, Ông Ké) đoạt luôn Hội này và đoạt luôn biệt danh HCM của cụ Hồ Học Lãm, sát nhập VN Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội của Trương Bội Công – Nguyễn Hải Thần thành Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi là Việt Minh, do HCM làm lãnh tụ. HCM còn lắng nghe “…vẳng bên tai lời lãnh tụ” Trung Hoa nào nữa ? Như vậy vị lãnh tụ nào đó và tác giả đều là 2 người Tàu, không thể là 2 người Việt được !
- Một số bài đề cập đến các việc rất lặt vặt, lời văn quá thô thiển như : Chúc than (Hàng cháo-b.38), Quả Đức ngục (Nhà lao Quả Đức b.39), Bào Hương cẩu nhục (Thịt chó ở Bào Hương-b.82), Nhân đỗ ngã (Nhân lúc bụng đói-b.125),… chỉ là văn chương của tù thường phạm, sao có thể xứng đáng là tâm tư của một lãnh tụ đang nóng lòng cứu nước thương dân ?
* Độc đáo nhất là bài “Độc Tưởng công huấn từ” (Đọc lời giáo huấn của Ông Tưởng”-b.120) : Trong phòng giam, nhân đọc Lời Giáo Huấn của Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc Dân Đảng Tưởng Giới Thạch, tác giả là thuộc hạ, con cái càng tăng thêm quyết tâm kiên trì chiến đấu : “Bách chiến bất hồi, hương tiền tiến, Cô thần nghiệt tử, nghĩa đương nhiên; Quyết tâm, khổ cán dữ ngạnh cán, Tự hữu thành công đích nhất thiên” (Gian khó không lùi vẫn tiến lên, Thuộc hạ côi cút, phận con bất hiếu, đương nhiên phải giữ nghĩa; Quyết tâm cố gắng cương nghị, Nhất định có lúc phải thành công) (Cô thần nghiệt tử, ai cũng phải hiểu là : Thuộc hạ côi cút, phận con bất hiếu. Thế mà Đỗ Văn Hỷ cả gan dịch điêu : Thù nhà nợ nước. Hoàng Quảng Uyên lại dịch càn: Phận tôi con bơ vơ nhà tan nước mất để bao thế hệ triệu, triệu sinh viên-học sinh học và thi !!!). HCM đang bị quan quân Tưởng Giới Thạch bắt oan, dù giả bộ làm diễn viên đóng kịch tôn thờ Tưởng Giới Thạch y như thật đến đâu nữa, cũng không thể nào lại vô liêm sỉ đến mức hạ mình bộc lộ tâm can, tự coi là thuộc hạ côi cút, phận con bất hiếu của Tưởng Giới Thạch, nguyện quyết tâm kiên trì chiến đấu cho đến thành công. Trong khi ở nhiều bài thơ khác thì lên án chê trách nhà tù họ Tưởng hà khắc đủ điều. Vậy tác giả thật sự là ai ??? Bộ Chính Trị ĐCSVN và hàng ngàn giáo sư-tiến sĩ-sử gia giả và thật của Bắc Bộ Phủ giải thích sao cho lọt tai đây ???
- Khi đã thong thả để chép lại thành 1 tập thơ khổ nhỏ, còn phải đánh lạc hướng bằng cách ghi lệch thời gian ở tù đúng 10 năm trên bìa trước làm gì ? Hoặc là các cận thần cố tình ghi lại thời gian tù dài hơn 12 tháng này (29-8-1932 đến 10-9-1933) cho khớp ngày, tháng trên bìa tập thơ, chỉ cố tình cho lệch đúng 10 năm ? Tại sao lúc đầu, các tài liệu ghi thời gian tù lệch bìa cũng 10 năm nhưng dài gần 14 tháng (28.8.1942-10.1943) ? Nếu nói tập thơ được làm trong khi bị tù gần 2 năm ở Hồng Kông (6.1931-1.1933) thì gần khớp với thời gian ghi trên bìa (29-8-1932 đến 10-9-1933) hơn, nhưng về nội dung thì không có gì ăn khớp cả. Tắc tị. Bó tay.
- Một người rất trâng tráo tự viết tiểu sử mình đến độ vô liêm sỉ, ham mê danh vọng đến nỗi tự tán dương mình như một Vị Thánh “khiêm tốn nhường ấy”, tự phong là “nhà văn hóa lỗi lạc”, “lãnh tụ vĩ đại”, được “toàn dân gọi là Cha Già Dân tộc kính yêu” như HCM-Trần Zân Tiên, đã vì chiến tranh mà quên “đại tác phẩm” của mình ở lán tranh Lam Sơn 11 năm, có thể tạm chấp nhận được. Nhưng vì sao, một người hay làm thơ, yêu thơ đến thế, khi đã vững trên ngai tại Hà Nội rồi, mà còn cố tình bỏ quên “tập thơ kiệt xuất” con đẻ cực kỳ trân quí của mình trong kho đến những 5 năm nữa ? Đến khi nó, sau gần 17 năm, đã được long trọng xuất bản đến thế, để mừng chính sinh nhật thượng thọ 70 của mình, HCM vẫn xem ra thờ ơ lãnh đạm với nó. Có cơ sở nào để cho rằng chỉ vì HCM rất mực khiêm tốn, đã siêu thoát khỏi vòng danh lợi thường tình như những cận thần xun xoe ? Phải chăng HCM không mấy vui vẻ tự hào về “đạo văn kiệt tác” (kiệt tác văn ăn cắp) này ? Nhất là sau khi nghe cận thần xầm xì về Trần Zân Tiên, HCM đâm ra rất e ngại với “đại tác phẩm” hầu hết không phải của mình ? Nhỡ có ai đó tỉnh táo bén nhạy soi mói mà phát hiện ra điều gian ngụy gì thì đại khốn nạn thay !!!
Ngay sau ngày gãy súng 30-4-1975 ít lâu, khi một học giả miền Bắc thuyết trình về NKTT tại Sài Gòn, Giáo sư Lê Hữu Mục đã đứng lên giữa hội trường chất vấn và khẳng định rằng NKTT không phải của HCM. Và Gs Mục đã viết một sách chứng minh như thế. Hiện nay, nhiều “học giả” và nhiều “học thật” cũng cho là như vậy. Phim “Sự thật về HCM” cũng khẳng định NKTT không thể là của HCM.
*** Chỉ sơ lược qua như trên, phải chăng đây là cách giải thích gần sự thật trần trụi nhất mà chúng ta có thể nhận ra: Gần trọn tập thơ Ngục Trung Nhật Ký (NKTT) là do một người Hán nào đó làm, HCM đã chép lại và có thể chỉ làm thêm một số bài như đoạn II - 4 câu của bài Thế Lộ Nan (9), bài “Các báo hoan nghênh Uy-Ki đại hội” (35), bài Việt hữu tao động (79), bài “Anh phỏng Hoa đoàn”(Đoàn Đại biểu Anh thăm Trung Hoa – bài 80), bài Ký Ni-lỗ (Gửi Nê-ru – 87-88), bài Dương Đào bệnh trọng (116) nếu bạn đồng hành của HCM đúng là có một ông Dương Đào... Còn bài Tân xuất ngục học đăng sơn (134) chính HCM nói HCM đã làm sau khi đã ra khỏi tù, không có trong tập thơ chính.
Các giáo sư, giáo viên không nên cứ cúi đầu dạy và bắt triệu triệu học sinh-sinh viên ép lương tâm nhai đi nhai lại một tác phẩm chứa đựng quá nhiều gian trá, mâu thuẫn, uẩn khúc, mà không hề phân tích tự hỏi ngộ nhỡ đa phần nó chỉ là đạo văn (thơ ăn cắp) của một tù nhân người Hán nào đó thì sao ? Trước đây một số giáo sư, giáo viên, người dân chỉ vì dám nói lên vài sự thật nho nhỏ về HCM mà đã bị đi cải tạo mút mùa. Nhưng nay tình hình đã khác, các học trò ruột trường phái HCM sắp hết hơi rồi, không thể tiếp tục gian trá mãi được !
Các nhà nghiên cứu, các nhà giáo và trí thức VN hãy tỉnh táo, can đảm, mạnh dạn, trung thực, thẳng thắn thừa nhận hoặc phanh phui sự dối gạt kéo dài quá lâu trên tâm hồn và lương tri bao thế hệ học sinh Việt Nam. Đó chính là sự giải phóng đích thật mà toàn Dân - nhất là giới trẻ - đang rất bức thiết cần đến !
c) UNESCO mù hay sao mà tôn vinh HCM là nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại ? Sự thật như sau : Năm 1987, CSVN có đệ trình một đơn xin UNESCO (Tổ chức Văn hóa Giáo dục của LHQ) đến năm 1990 tôn vinh HCM là nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của HCM. Tại Paris, khóa họp 24 từ ngày 20-10 đến 20-11-1987, Tiểu ban Văn hóa đã ghi vào nghị trình Đại hội đồng UNESCO năm 1987 danh sách sẽ được tuyên dương năm 1990 gồm 7 người : Phya Anuman Rajadhon (Thái Lan), Thomas Munzer (Đông Đức), Anton Semionovitch Makarenko (Liên Sô), Jawaharlal Nehru (Ấn Độ), HCM (Việt Nam) và Sinan (Thổ Nhĩ Kỳ). Lời tuyên dương HCM dùng trọn bản văn do phái đoàn CSVN soạn cũng như lời tuyên dương các nhân vật khác do phái đoàn quốc gia liên hệ đề nghị, được Đại hội đồng thông qua không thảo luận. Trong khóa họp 24 năm 1987 này, với sự ủng hộ của Tông Thư ký M’Bow, người châu Phi, UNESCO đã ra một Nghị quyết chấp thuận, lời lẽ theo đơn xin của CSVN: “The year 1990 will mark the centenary of the birth of President Ho Chi Minh, Vietnamese hero of national liberation and great man of culture”. (Năm 1990 sẽ kỷ niệm 100 năm sinh nhật Chủ tịch HCM, anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa lớn).
Nhưng rồi bộ mặt thực của chế độ CS và các siêu lãnh tụ CS Staline, Mao Trạch Đông, Ceaucescu, HCM, Kim Nhật Thành… dần lộ rõ, làm rơi mặt nạ các thần tượng được tô phết mấy chục năm qua. Có quá nhiều chống đối rằng HCM và CSVN vi phạm nhân phẩm nhân quyền, hủy diệt văn hóa, mâu thuẫn với mục tiêu của Liên Hiệp Quốc và UNESCO.
Tân Tổng Thư Ký Frederico Meillor, Tây Ban Nha, cho rằng không cần một Nghị quyết khác để hủy bỏ Nghị quyết năm 1987 ghi nhận đề nghị của VN về việc kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông HCM vào năm 1990, nhưng UNESCO sẽ không tổ chức kỷ niệm và không can dự bất cứ hành động nào để vinh danh HCM tại trụ sở Paris. UNESCO không dự trù ngân khoản cho việc đó. Việt Nam muốn kỷ niệm sinh nhật 100 năm của HCM là tùy ý riêng, không liên quan UNESCO.
Ngày 19.5.1990, UNESCO không tổ chức gì liên quan đến HCM, đồng thời cấm CSVN lấy danh nghĩa UNESCO để tổ chức (hội trường, thiếp mời). CSVN đã tự tổ chức. Ngày 19.5.1990 Sứ quán CSVN chỉ mướn được một phòng sinh hoạt nhỏ của LHQ với khoảng 60-70 khách, hầu hết là Việt kiều CS, vài đảng viên CS Pháp, bạn bè Cuba, Trung Cộng, Bắc Triều Tiên, Kămpuchia, Lào. Vào đúng giờ khắc buổi kỷ niệm của sứ quán CSVN, hơn 100 Việt Kiều đã biểu tình phản kháng ở công trường Fontenoy gần trụ sở UNESCO, đả đảo sự vinh danh HCM, người có tội trước lịch sử nhân loại, đã tàn hại đất nước và dân tộc Việt Nam và 2 nước Kămpuchia, Lào.
Những điều này đã có nhiều tài liệu chứng minh đủ rõ rồi. Nghĩa là có nộp đơn xin thi hoa hậu, ban tổ chức chấp thuận đơn xin, nhưng hoàn toàn bị đánh trượt. Chỉ có thế và chỉ có thế. UNESCO thấy không cần phải lên tiếng xác minh lại. (Xin đọc thêm : “Lật tẩy việc mạo danh UNESCO lừa gạt công luận & 84 triệu Dân VN” do tác giả sưu tập năm 2006).
14. Từ gần 65 năm nay, CSVN luôn phỉnh gạt là VN có Tự do Bầu cử, Ứng cử. Thực chất là do ĐCSVN tự biên, tự diễn, độc diễn toàn trị. Các Đại biểu ứng cử cũng tự biết mình chỉ là con cờ trong tay Đảng sai khiến, làm bung xung cho trò dân chủ giả hiệu. Còn các Đại biểu đắc cử cũng biết mình chẳng phải là Đại biểu cao cả của Nhân dân gì cả. Đích thật là bù nhìn, hầu như chỉ biết đưa tay biểu quyết nhất trí theo ý của Bộ Chính trị của Trung Ương Đảng. Đây không phải là điều gian trá vĩ đại đẳng cấp HCM siêu lừa ngay giữa cộng đồng quốc tế thì là gì ? Mời Bộ Chính trị giải thích sao cho lọt tai toàn Dân đang dần dần thức tỉnh đây.
15. Nhân dân làm chủ ? “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” thật không ? Ai cũng thấy hoàn toàn chỉ là láo lường. Chính xác là : Đảng lãnh đạo Nhà nước, quản lý Nhân dân, làm chủ. Hoặc chính xác hơn nữa là : Đảng CSTQ lãnh đạo, Đảng CSVN quản lý, Nhân dân TQ làm chủ lãnh thổ và nền kinh tế của VN. HCM nói : “Dân chủ là làm cho Dân mở miệng” và “Cán bộ là đầy tớ của Nhân dân”. Nhưng Dân mở miệng là bị bịt miệng ngay, là bị nhốt vào tù tấp bá lị. Đầy tớ mà muốn hăm dọa, đàn áp, bắt bớ, đánh đập, bắn giết… các Ông Chủ sao, lúc nào và bao nhiêu cũng được. Dân chủ kiểu XHCN made in VN là như thế ! HCM cũng nói : “Dân chủ là một báu vật, để sơ hở sẽ dễ mất, phải để vào hòm khóa lại. Chuyên chính vô sản chính là cái ổ khóa để bảo vệ Dân chủ cho khỏi mất” !!! (x. Vũ Đình Hòe, Pháp quyền HCM, 2 tập, tập 1. Sách bị nhốt, chưa ghi số trang, NXB và năm XB được. Mong thứ lỗi).
16. Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam hay của Trung Quốc ? Trước khi về tiếp quản Hà Nội, sáng 19-9-1954 tại cửa Đền Giếng, khu di tích Đền Hùng, núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ trước cán bộ Đại đoàn Quân tiên phong, HCM đã nói : “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”(?) HCM muốn liệt mình vào hàng khai quốc ngang hàng các vua Hùng.
Nhưng chỉ 4 năm sau, để Trung Cộng viện trợ vũ khí và lương thực hầu xâm lược miền Nam, CS Bắc Việt đã thỏa thuận ngầm với Trung Cộng. Ngày 4-9-1958, Trung Cộng tuyên bố 2 quần đảo Hoàng Sa (hơn 20 đảo) và Trường Sa (hơn 100 đảo) là của TQ (trong khi Việt Nam Cộng Hòa đang quản lý canh giữ). Chỉ 10 ngày sau, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Việt Cộng, theo lệnh của HCM, đã ký công hàm xin tôn trọng bản Tuyên bố “ăn cướp” của Trung Cộng và cúi đầu vâng phục. Năm 1974, Trung Cộng xua hải quân đánh chiếm Hoàng Sa, ngoài khơi Đà Nẵng, lính VNCH phải tử trận hơn 150 chiến sĩ. Bắc Việt lúc đó im re, lại còn mê muội vừa nhẫn tâm gọi những người anh em ruột thịt của mình đã liều chết đổ xương máu bảo vệ giang sơn của Tổ Tiên để lại là “Ngụy quân, Ngụy quyền”, vừa hèn hạ gọi quân xâm lược Trung Cộng là “các đồng chí vĩ đại Trung Quốc kính yêu” (Đó là đạo lý của CSVN). Năm 1982, Trung Cộng lại xua quân đánh chiếm thêm hơn 10 đảo thuộc quần đảo Trường Sa ngoài khơi Vũng Tàu của VN.
Hiện nay, trong khi hầu như toàn Dân, nhất là giới trẻ VN, tìm mọi cách để giành lại Hoàng Sa-Trường Sa, thì NCQ CSVN lại theo đuổi một thủ đoạn vòng vo phức tạp : 1) Vừa lật lọng phủ nhận công hàm bán nước ngày 14-9-1958 của CS Bắc Việt rằng : Lúc đó chủ quyền 2 quần đảo này đang thuộc về Chính quyền VNCH Sài Gòn trước công pháp quốc tế, nên công hàm 14-9-1958 của CS Bắc Việt vô giá trị; 2) Vừa tổ chức hội thảo rùm beng về chủ quyền của VN trên 2 quần đảo này để che mắt Dân chúng VN; 3) Vừa úp mở trong hồ sơ chính thức nộp cho LHQ về lãnh hải VN; 4) Vừa không thật lòng quyết tâm bênh vực bảo vệ tàu thuyền và ngư dân VN qua lại vùng biển quanh Hoàng Sa-Trường Sa; 5) Vừa nhượng thêm đất liền qua việc giao đất rừng miễn phí 50 năm cho Trung Cộng lên đến 300 ngàn hécta và tạo điều kiện cho Tàu Cộng có mặt lâu dài ở VN; 6) Vừa thẳng tay đàn áp Dân chúng biểu tình bày tỏ lòng yêu Nước chính đáng của mình về chủ quyền lãnh thổ do Tổ Tiên để lại, đến nỗi Dân và thanh niên VN chỉ dám lén lút ghi tên lãnh thổ của mình bằng các từ viết tắt HS-TS-VN, để khi bị đàn áp quá chịu không thấu thì phải nói dối méo miệng là Học Sinh-Trong Sạch-VN theo gương siêu gian trá của HCM !!!
Nếu CSVN đã trao Hoàng Sa – Trường Sa cho TQ rồi, thì phải công bố thật rõ cho người Dân biết, để Dân VN đừng liều mạng đến mưu sinh quanh 2 quần đảo này nữa, vì không được lực lượng nào bảo vệ hữu hiệu cả.
Còn nếu CSVN thật tâm cương quyết và kiên trì thu hồi lại trọn vẹn 2 quần đảo này thì lẽ ra phải tự hào hãnh diện và vui mừng khuyến khích, tại sao lại bôi mặt và nhẫn tâm đàn áp, bắt giam những người Dân xả thân liều chết biểu tình đòi lại 2 quần đảo đã mất gần hết này?
Nại lý do đây là vấn đề ngoại giao nhạy cảm để 2 đảng CS dễ bề thậm thụt với nhau về một vấn đề cực kỳ hệ trọng đối với SỰ TOÀN VẸN LÃNH THỔ và AN NINH TỔ QUỐC như thế, có thể tiếp tục lừa bịp toàn Dân đang thức tỉnh không ???
Thay lời kết : Những ai tự coi hoặc được gọi là Trí thức, Sĩ phu,... đã biết rõ 16 điều gian trá vĩ đại siêu lừa trên, mà vẫn hoặc im lặng đồng lõa tiếp tay, hoặc đã hèn nhát ngậm tăm hàng mấy chục năm nay : Lẽ nào lại cam tâm đồng lõa với tội ác ngút trời trục giết vô số thai nhi sao ? Hay đồng lõa với tội ác giết người cướp đất sao ? Lẽ nào biết được mỗi năm hàng chục triệu học sinh-sinh viên phải cúi đầu ép lòng học những điều dối trá, mà có thể coi như không có gì đụng đến mình sao ? Lẽ nào lại cam phận tiếp tục sống ô nhục vậy mãi được sao ? Lẽ nào yên lương tâm mà đọc sách thánh hiền sao ? Lẽ nào cứ tiếp tục hăng hái đi bầu cách miễn cưỡng giả tạo như vậy mãi, lại còn thúc giục người thân, thuộc nhân tham gia trò hề dân chủ giả hiệu ấy mà không tự thẹn sao ???
Những ai chưa biết, hoặc chưa nhận ra hết 16 điều gian trá vĩ đại đẳng cấp HCM siêu lừa nêu trên, thì nay kính mời lắng nghe, thấu hiểu và tiếp tục nghiên cứu sâu rộng hơn, nhất là tìm cách tự giải thoát, để có khả năng giúp càng nhiều người Dân càng tốt, càng sớm càng mừng :
Từ bớt sợ hãi đến hết sợ hãi. Từ bớt nói dối đến hết nói dối.
Tương lai Tổ quốc-Dân tộc chúng ta trước tiên và cơ bản cốt tại 2 điều này, làm nền tảng cho tất cả các điều hệ trọng bức thiết khác tiếp theo.
Xin chân thành cảm ơn nhiều, nhiều lắm và rất nhiều.
Lm TNLT Nguyễn Văn Lý
Huế, 14-8-2010
Ðảng là ai? tên gì? ở đâu? mấy đứa?
Sunday, August 15, 2010
Ðinh Tấn Lực
(Trích dinhtanluc.multiply.com)

(Hình minh họa: freelecongdinh.wordpress.com)
Dạo này, chỉ nội trong một quý, cả nước rộ lên toàn chuyện động trời, mà đảng ta thì cứ lấp ló/làm lơ/lập lờ/làm liều/lếu láo/lấp liếm... lẫn lấm le lấm lét.
***
Ðảng viên thiếu úy “chiến sĩ công an” Trương Ðình Hoàng ở Thái Nguyên, mặc thường phục, rượt dí xe máy công dân như trong phim hành động xã hội đen, truy đuổi đến khi ép dừng được “đối tượng” thì mắng dân té tát: “Con kia sao chưa chịu xuống (xe), mày chán cơm thèm đất hả?” rồi rút súng bắn xuyên đùi trái, chui qua hố xương chậu, găm vào tủy xương đùi phải của người thiếu nữ ngồi sau xe máy, xong phân trần với đám đông tụ tập là đang “truy bắt tội phạm,” bỏ mặc cho nạn nhân đứng tại hiện trường đầm đìa trong máu. Vụ việc được ghi lại thành biên bản “vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.”
“Tội phạm,” người ngồi sau người lái xe vi phạm giao thông, là cô Hoàng Thị Trà, sinh viên khoa Toán-Tin, Ðại Học Sư Phạm Thái Nguyên.
Còn chiến sĩ công an Trương Ðình Hoàng, mới chính thực là đảng. Kẻ máu lạnh, lúc mắng dân là thằng này con kia, khi rút súng nhả đạn buộc nhân dân phải chán cơm thèm đất, và nghĩ rằng mình có toàn quyền sinh sát, thực ra đang vỗ ngực: đảng là tao!
***
“Trả lời báo giới sáng 11 tháng 8, Ðại Tá Nguyễn Như Tuấn (phó giám đốc, thủ trưởng cơ quan Ðiều tra Công an tỉnh Thái Nguyên) khẳng định, việc nữ sinh Trà bị găm đạn thủng đùi, có nhiều người chứng kiến nên không thể giấu diếm, bao che.”
Tức là, nếu ở một nơi vắng vẻ, không người chứng kiến, thì các vụ công an tùy hứng nhả đạn vào dân thế này đều có nhiều xác suất im ắng/chìm xuồng?
Rõ ràng, mỗi một công an và lãnh đạo của nó đều là đảng, hoặc đều ngấm ngầm xưng đảng là tao!
***
Ðảng viên thiếu úy “chiến sĩ công an” Nguyễn Mạnh Thư huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa, đã nổ súng vào đám đông nhân dân tụ tập phản đối tiến trình giải phóng mặt bằng bất công ở Nghi Sơn, gây tử vong tại chỗ cho cháu bé 12 tuổi Lê Xuân Dũng, gây thương tích cho bà Lê Thị Thanh, và gây tử vong sau đó cho ông Lê Hữu Nam.
Nguyễn Mạnh Thư, nã đạn vào dân, là đảng.
Lãnh đạo địa phương, cố bao che bằng kết luận ban đầu là “bắn chỉ thiên/súng cướp cò,” tất nhiên, cũng trong tâm thức coi đảng là tụi tao!
***
Chỉ vì mấy con vịt hay phá rối, hai mẹ con va chạm với nhau, bà mẹ trong lúc nóng giận đã làm đơn gửi đến cơ quan công an với mong muốn công an dọa cho đứa con một trận để nó ngoan hơn. Thế nhưng sau một ngày, cơ quan công an đã trả lại cho bà chiếc quan tài và xác chết đứa con trai. Nạn nhân là anh Vũ Văn Hiền, nông dân ở thôn Bình Xuân, xã Bình Thuận, huyện Ðại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày trước, khẩu hiệu của CA là: “Không đánh cho có, có đánh cho chừa.” Nay thu gọn lại chỉ còn 3 từ: “Ðánh cho chết.”
Giống hệt mọi nơi khác, công an Ðại Từ là đảng.
***
Thanh niên Nguyễn Văn Khương bị cảnh sát giao thông huyện Tân Yên, Bắc Giang, bắt giữ về tội đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, sau đó đã gục chết ngay trên ghế thẩm vấn tại đồn. Vì bất bình, nhiều người dân đã cùng gia đình nạn nhân mang quan tài của người chết đến trụ sở UBND tỉnh để yêu cầu làm sáng tỏ vụ việc. Lực lượng công an được huy động tới giải tán đoàn biểu tình đòi công lý lên đến cả vạn người, bằng dùi cui và hơi cay.
Nguyễn Thế Nghiệp, tay công an đánh chết anh Khương, là đảng.
***
Chiều Chủ Nhật, 25 tháng 7, 2010, gia đình nạn nhân bị công an đánh chết đã đưa thi thể anh Khương lên Ủy Ban Nhân Dân (UBND) tỉnh để đòi làm rõ vụ việc. Hỗ trợ gia đình anh Khương, một số rất đông người dân đã đi theo quan tài, bao vây UBND tỉnh từ 14 giờ đến tối. Ðến 5 giờ chiều thì 6 đoạn tường rào (60 mét) của UBND tỉnh bị phá hủy. Nhiều tiếng nổ lớn xảy ra do người dân đốt mìn tự tạo. Thi thể nạn nhân vẫn được quàn tại cổng UBND tỉnh. Cổng phụ của UBND đã bị phá cùng với biển ghi tên UBND tỉnh Bắc Giang. 9 giờ tối, nhà chức trách cho thợ làm lại tường và biển tên UB trước sự hiếu kỳ của hàng trăm người dân. Không như mọi ngày, tối nay UBND tỉnh tối om không có cả đèn trang trí ở sân...
Trong khi đó, “thái tử” Nông Quốc Tuấn (con trai Nông Ðức Mạnh, sắp trở thành bí thư tỉnh ủy) vẫn thản nhiên tiếp đãi bạn bè trong tiệc nhậu đặc sản bằng món thịt bò tót do 2 đầu bếp từ Hà Nội được điều về Bắc Giang để nấu nướng theo yêu cầu của Tuấn tại nhà hàng Tài Lộc.
Nông Quốc Tuấn, một mình, tự thân, chưa ngồi vào ghế tỉnh ủy, đã là đảng.
***
Ngày 3 tháng 7, 2010, giáo dân Tôma Nguyễn Thành Năm ở Cồn Dầu đã chết vì bị công an Ðà Nẵng lùng bắt, đánh đập, tra tấn tàn bạo. Nhìn những vết thương dã man trên thân xác anh, nhìn cái chết đau đớn của anh, giáo dân Cồn Dầu đã sợ hãi trước những con người hầu như trở thành loài thú dữ. Anh đã ra đi trong đau đớn, trong vòng vây của đội quân công an ngăn chận những người thân quen đến tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Anh ra đi không có những ngọn nến giải oan, để soi rọi sự bất công, dối trá trên miền đất Cồn Dầu. Anh ra đi bên những tiếng khóc thương nhớ, uất ức của vợ con. Anh ra đi trong bối cảnh dối gian, lọc lừa biến hóa hành động giết người của công an và chính quyền Ðà Nẵng trở thành vô tội. Hiện gần 2,000 hộ dân bị giải tỏa tại Cồn Dầu không có nhà mà ở.
Không thể nhầm: công an, ở mọi nơi trên đất nước này, đều là đảng.
***
Dự án đúc tim cho tượng Thánh Gióng gây xôn xao dư luận cả nước trước hạn kỷ niệm 1000 năm Thăng Long.
Phù Ðổng Thiên Vương không phải là đảng viên.
Nguyễn Thị Thoa, giám đốc Cty ATS, người đề xuất dự án này, cũng không chắc là đảng viên.
Chỉ riêng kẻ vận động và phê duyệt dự án, biết trước là sẽ có phần chia chác, mới là đảng.
***
Huỳnh Ngọc Sỹ, nguyên phó giám đốc Sở Giao Thông Vận Tải kiêm giám đốc Ban Quản Lý Dự Án Ðại Lộ Ðông Tây và Môi Trường Nước Sài Gòn, bị báo Nhật phanh phui đường dây tham nhũng PCI, lãnh án sơ thẩm 3 năm tù về tội danh “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ,” ra tòa phúc thẩm bị nâng mức án lên thành 6 năm tù, hiện có nhiều xác suất ra tòa lần nữa về tội danh chính thức là “nhận hối lộ” nhiều triệu USD.
Huỳnh Ngọc Sỹ, là đảng.
Mỗi cá nhân trong đường dây chung chi của Sỹ cũng là đảng.
***
Thượng Tá Ðặng Ðình Tiến, phó tham mưu trưởng Sư Ðoàn 324, Quân Khu 4, cùng các sĩ quan dưới trướng, kết hợp với Nguyễn Thị Kim Hoa, giám đốc Công ty TNHH Liên Kết và Giới Thiệu Việc Làm Bắc Miền Trung, để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 114 gia đình quân nhân (130 triệu đồng/1 quân nhân/1 hồ sơ xuất khẩu lao động). Các nạn nhân đã tố cáo lên các cấp cầm quyền địa phương cũng như trung ương, và trong suốt năm qua đã trên dưới 30 lần tìm cách khiếu nại đến các cơ quan liên hệ: Sư Ðoàn 324 QK4; Bộ Tư Lệnh QK4; Phòng Ðiều Tra Hình Sự QK4; Tỉnh Ủy, UBND, Công An các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình, đặc biệt là Bộ Quốc Phòng. Nhưng không được trả lời.
Ðặng Ðình Tiến là đảng.
Thủ trưởng của mỗi cơ quan nêu trên cũng đều tự coi mình là đảng.
***
Nguyễn Ngọc Ân, giám đốc sở Văn-Thể-Du của tỉnh Phú Thọ đã tiêu tốn non hai vạn USD tiền thuế của dân để lấy bằng tiến sĩ của Ðại Học Nam Thái Bình Dương (Southern Pacific University - SPU). Ðến khi bị trưng ra ánh sáng những góc đen khuất tất này thì Ân than rằng: Tôi là kẻ kém may! Té ra có nguyên một đường dây giới thiệu của Bộ Tài Chánh cho những quan chức muốn có bằng tiến sĩ mà không cần học.
Nguyễn Ngọc Ân (kém may), và cả những đồng chí (còn may) chưa bị lộ, chính là đảng.
***
Sầm Ðức Xương, hiệu trưởng trường trung học Hà Giang, cưỡng dâm nhiều nữ sinh, biến các nữ sinh đó thành gái gọi để thu tiền, rồi cống nạp lên thượng cấp, từ lãnh đạo ngân hàng đến cấp lãnh đạo cao nhất tỉnh, hoàn thành một danh sách đen hoành tráng. Khi vụ việc vỡ lở, các lãnh đạo nhất trí xử lý tình huống bằng cách phù phép cho các nữ sinh nạn nhân phải lãnh án tù về tội bán dâm. Trong số đó, một nạn nhân bỗng dưng mất tích. Nguyễn Trường Tô, chủ tịch tỉnh Hà Giang, với nick trên phôn di động là Tình yêu Chủ tịch, đứng tên hàng đầu trong danh sách đó...
Sầm Ðức Xương, hiệu trưởng, chuyên ngành trải ga giường để tiến thân, là đảng.
Nguyễn Trường Tô, tỉnh ủy viên, dùng quyền lực để cưỡng dâm nữ sinh, tất yếu là đảng.
***
11 chiến sĩ công an thuộc Cục Kỹ Thuật Nghiệp Vụ II (A-23), còn được gọi là CAM, vừa mới được Lê Doãn Hợp, bộ trưởng 4T, trao kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp 4T,” bởi đã tận tình “sử dụng các phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ phối hợp với các lực lượng chủ động đấu tranh với âm mưu hoạt động của các loại tình báo, gián điệp, phản động và tội phạm khác.”
Mới vài tháng trước, Thiếu Tướng Công An Vũ Hải Triều cũng đã báo cáo thành tích đánh sập 300 trang mạng và blogs, đồng thời, đã chộp được mật khẩu để xâm nhập nhiều trương mục email của một bộ phận không nhỏ nhân dân.
A-23 là đảng. CAM là đảng. Tự thân Lê Doãn Hợp/Vũ Hải Triều cũng là đảng.
***
Văn Ðình Ưng, phó chánh Văn Phòng Bộ GD-ÐT phân tích sâu sát rằng có 4 lý do khiến học sinh đỗ tốt nghiệp cao năm nay:
Thứ nhất do năm nay là năm thứ tư thực hiện cuộc vận động “hai không” nên những thí sinh yếu kém đã cố gắng học tập để thi đỗ.
Thứ hai, do công tác tư vấn tốt của các cơ quan truyền thông.
Thứ ba, do các ngày thi trên toàn quốc thời tiết mát mẻ.
Thứ tư là có thể do các em phấn đấu lập thành tích để chào mừng đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội!
Văn Ðình Hưng, đích thị là đảng.
***
Ban Tuyên Giáo thuộc Thành Ủy thành phố Ðà Nẵng vừa ra một văn bản, không rõ thuộc loại gì, nhưng có vẻ ngang với một cái lệnh, đề gửi cho “Văn phòng đại diện báo Ðại Ðoàn Kết tại Ðà Nẵng,” đòi cơ quan báo chí này cử phóng viên phải “là đảng viên” đến để “thông tin, tuyên truyền về Ðại hội lần thứ XX đảng bộ thành phố Ðà Nẵng.” Thế là... tịt, bởi văn phòng đại diện báo ÐÐK tại Ðà Nẵng không có nhà báo nào là đảng viên.
Các ban Tuyên Giáo, từ TW xuống tới địa phương đều tự coi mình là đảng.
***
Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch UBND TP Hà Nội, và Hoàng Tuấn Anh, bộ trưởng Văn-Thể-Du, đã hè nhau đề xuất một phương án thực sự động trời có tên là phương án... “bắn mây ngăn mưa,” với phí tổn vào tầm 1 tỷ USD cho 3 ngày đại lễ nhiệt liệt chào mừng 60 năm hữu nghị Việt-Trung và 1000 năm Thăng Long. Ðề án này được chuyển đường tắt lẫn đường vòng lên tới Phó TT Nguyễn Sinh Hùng. Tức là toàn giới IQ thượng hạng ngoại hạng. Không may cái là thời điểm của đề án này rớt vô sau vụ đường sắt cao tốc bị bác. Nguyễn Sinh Hùng, dù rất mê tính béo ngậy của dự án, nhưng cũng đành nuốt nước bọt nói “không,” kèm theo một lời phán nuối tiếc: “Nếu ta làm được thì nên làm, đằng này ta chưa làm được thì thôi.”
Kẻ đề xuất theo cảm hứng và trong tâm thức toàn quyền, tất nhiên là đảng.
Kẻ phê chuẩn, dù không được như ý, cũng vẫn xưng xưng rằng đảng là tao!
***
Chỉ riêng 16 bộ phận tổ chức của đảng CSVN, chưa phải toàn đảng, trong nhiệm kỳ 10 đã “vi phạm trong sử dụng tiền bạc” tăng gấp đội nhiệm kỳ 9: số tiền vi phạm phát hiện được ở cấp do trung ương kiểm tra là trên 80 tỷ đồng, tương đương 4,2 triệu đô la. Ở cấp cơ sở, con số này là 56 tỷ đồng. Lưu ý rằng đây chỉ là những con số “phát hiện được.”
Nguyễn Văn Chi, Chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương, thừa nhận “vi phạm qua kiểm tra tài chính đảng là đáng lo ngại, kiểm tra đâu cũng có vi phạm ở mức độ khác nhau.”
Thủ trưởng bất kỳ cơ quan nào của đảng cũng tự coi mình là đảng.
***
Hai anh em Trần Văn Chính (nguyên vụ phó Vụ Tổ Chức Cán Bộ của Bộ Giáo Dục & Ðào Tạo) quyết tâm chiếm lấy bằng được trường Ðại Học Phan Châu Trinh ở Hội An (một tư thục phi lợi nhuận). Theo một vài (trong số rất nhiều) đường dây (nổi tiếng của bộ), việc vận động của anh em Trần Văn Chính đã đưa đến kết quả là Nguyễn Thị Nghĩa, thứ trưởng Bộ GD- ÐT, cùng một đoàn công tác hùng hậu về “làm việc” với ban giám hiệu của trường trong suốt... một giờ đồng hồ, trên nguyên tắc định sẵn là... miễn đối thoại.
Hệ quả là 2 cái quyết định ngồi xổm trên luật pháp của Nguyễn Thị Nghĩa đều được hoàn trả cho khổ chủ: 1) Bãi miễn trách vụ hiệu trưởng của ông Phạm Hữu Thu; và 2) Ngưng tuyển sinh cho trường Phan Châu Trinh.
Hai anh em Trần Văn Chính tất nhiên là đảng.
Nguyễn Thị Nghĩa cũng là đảng. Thậm chí, còn hơn cả đảng, bởi đã bị mắng ngay trong buổi họp với thành ủy Hội An: “Chị là thứ trưởng thôi chứ chị to hơn đảng à?”
***
Trường Cao Ðẳng Nghề số 8 (thuộc bộ QP, ở Biên Hòa, Ðồng Nai), từng được vinh danh “Ðiểm sáng về dạy nghề,” là nơi mà mọi thí sinh đều an tâm đóng tiền đi thi “bảo đảm đậu.” Kể cả những thí sinh ngồi ngoài quán uống cà phê, thậm chí, đi tắm biển tận Vũng Tàu Bà Rịa, cho hết giờ thi, đều được cấp bằng. Ngô Phước Sánh, chủ tịch UBND thị trấn Tân Thạnh, cũng là 1 trong các tay cò mua bán bằng, tuyên bố: “Chỉ đạo của huyện là làm sao thì làm, miễn có bằng thì thôi!”
Hiệu trưởng trường nghề số 8, với toàn quyền cấp bằng, là đảng.
Các chủ tịch UBND đồng loại với Ngô Phước Sánh, cũng là đảng.
***
Một trong các bộ đứng đầu công nghiệp nuôi dưỡng nhiều cò lắm chợ là Bộ GD-ÐT. Ngoài chợ phao, các chợ tuyển sinh là nơi sầm uất phồn thịnh hơn cả. 200 triệu đồng/1 suất đại học! Khẩu hiệu bắt mắt thời đại là: “Trường nào cũng chạy được,” “Trôn kim nào cũng qua lọt.”...
Quan chức bộ GD-ÐT là đảng.
Cò chạy trường, không nhất thiết đảng viên, cũng hành xử không khác đảng.
***
Phạm Thanh Bình, chủ tịch HÐQT kiêm tổng giám đốc Vinashin, quản trị thua lỗ/thất thoát 86,000 tỷ đồng tiền thuế của dân. Tính trung bình ra là mỗi công dân VN phải trả khoảng một triệu đồng tiền nợ do Bình gây ra.
Nguyễn Sinh Hùng, phó thủ tướng, lãnh trách nhiệm vực dậy tập đoàn kinh tế khánh tận Vinashin bằng dự án vay nợ 56 tỷ USD dưới danh nghĩa xây dựng đường sắt cao tốc, nhưng rất tiếc là Quốc Hội phản bác, không thông qua.
Phạm Thanh Bình, kẻ phá hoại tài sản của nhân dân ở tầm kỷ lục bằng tính khí tùy tiện và ngu muội lộng quyền như trên, chính là đảng.
Nguyễn Sinh Hùng, nâng đỡ/bảo kê/bao che/cứu vớt cho một tội phạm như Bình, vẫn bằng tính khí tùy tiện và ngu muội lộng quyền như trên, cũng đã tự coi mình là đảng.
***
Võ Kim Cự, ủy viên Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Hà Tĩnh, từng “bị kỷ luật vì làm cho một cô giáo mầm non mang bầu,” từng mua bằng dỏm của Western Pacific University, vừa được bổ nhiệm giữ chức chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh.
Nguyễn Nhật, chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị, tổng giám đốc Tổng công ty Khoáng Sản và Thương Mại Hà Tĩnh, nổi danh xài bằng dỏm của Ðại Học Irvine và Nam Thái Bình Dương, cũng vừa được bổ nhiệm giữ chức phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh.
Quyết định bổ nhiệm mang số 1385/QÐ-TTg.
Võ Kim Cự và Nguyễn Nhật, lọc lừa cả nước, dùng bằng dỏm để thành lãnh đạo, chính là đảng.
Nguyễn Tấn Dũng, kẻ hồn nhiên bổ nhiệm cho mấy đứa xài bằng dỏm làm lãnh đạo như nó, tất nhiên, càng là đảng “gộc.”
***
Ngần ấy thời sự nhục nhã xảy ra chỉ trong khoảng trên dưới một quý.
Ðủ để cả nước thất kinh khi phải lược qua tình hình cần duyệt lại xem đảng là ai? tên gì? ở đâu? mấy đứa?
Ðảng ta là đạo đức, là văn minh, như thế ư?
Thẻ đảng là giấy chứng thực tất cả những lề thói đạo đức/văn minh như thế chăng?
Những đảng viên khác nghĩ sao?
Phải chăng đã đến lúc để vất bỏ những tấm thẻ đảng ô nhục đó?
Nơi nơi đang sục sôi. Chỉ cần Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp phát pháo tiên phuông, làm gương dẫn dắt, là trở thành động lượng đại trà, giúp cho mọi người mạnh dạn hơn để cùng vất bỏ thẻ đảng, chối từ cái hàng ngũ phi nhân đang nhân danh cộng sản mà vơ vét tư lợi; nhân danh xã hội chủ nghĩa mà bóc lột công nông; nhân danh Tổ Quốc mà bán đứng Tổ Quốc; nhân danh Dân Tộc mà đọa đày/giết hại Dân Tộc...
Hãy cùng nhau vất bỏ thẻ đảng để sang trang lịch sử.
Không chỉ thuần để giữ nguyên bờ cõi, mà còn để kiến tạo bệ phóng cho đất nước cất cánh, con người thăng hoa.
Chuẩn bị chào mừng 65 năm ngày Cách Mạng Tháng Tám.
14 tháng 8, 2010.
Blogger Ðinh Tấn Lực
Sunday, August 15, 2010
Ðinh Tấn Lực
(Trích dinhtanluc.multiply.com)

(Hình minh họa: freelecongdinh.wordpress.com)
Dạo này, chỉ nội trong một quý, cả nước rộ lên toàn chuyện động trời, mà đảng ta thì cứ lấp ló/làm lơ/lập lờ/làm liều/lếu láo/lấp liếm... lẫn lấm le lấm lét.
***
Ðảng viên thiếu úy “chiến sĩ công an” Trương Ðình Hoàng ở Thái Nguyên, mặc thường phục, rượt dí xe máy công dân như trong phim hành động xã hội đen, truy đuổi đến khi ép dừng được “đối tượng” thì mắng dân té tát: “Con kia sao chưa chịu xuống (xe), mày chán cơm thèm đất hả?” rồi rút súng bắn xuyên đùi trái, chui qua hố xương chậu, găm vào tủy xương đùi phải của người thiếu nữ ngồi sau xe máy, xong phân trần với đám đông tụ tập là đang “truy bắt tội phạm,” bỏ mặc cho nạn nhân đứng tại hiện trường đầm đìa trong máu. Vụ việc được ghi lại thành biên bản “vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.”
“Tội phạm,” người ngồi sau người lái xe vi phạm giao thông, là cô Hoàng Thị Trà, sinh viên khoa Toán-Tin, Ðại Học Sư Phạm Thái Nguyên.
Còn chiến sĩ công an Trương Ðình Hoàng, mới chính thực là đảng. Kẻ máu lạnh, lúc mắng dân là thằng này con kia, khi rút súng nhả đạn buộc nhân dân phải chán cơm thèm đất, và nghĩ rằng mình có toàn quyền sinh sát, thực ra đang vỗ ngực: đảng là tao!
***
“Trả lời báo giới sáng 11 tháng 8, Ðại Tá Nguyễn Như Tuấn (phó giám đốc, thủ trưởng cơ quan Ðiều tra Công an tỉnh Thái Nguyên) khẳng định, việc nữ sinh Trà bị găm đạn thủng đùi, có nhiều người chứng kiến nên không thể giấu diếm, bao che.”
Tức là, nếu ở một nơi vắng vẻ, không người chứng kiến, thì các vụ công an tùy hứng nhả đạn vào dân thế này đều có nhiều xác suất im ắng/chìm xuồng?
Rõ ràng, mỗi một công an và lãnh đạo của nó đều là đảng, hoặc đều ngấm ngầm xưng đảng là tao!
***
Ðảng viên thiếu úy “chiến sĩ công an” Nguyễn Mạnh Thư huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa, đã nổ súng vào đám đông nhân dân tụ tập phản đối tiến trình giải phóng mặt bằng bất công ở Nghi Sơn, gây tử vong tại chỗ cho cháu bé 12 tuổi Lê Xuân Dũng, gây thương tích cho bà Lê Thị Thanh, và gây tử vong sau đó cho ông Lê Hữu Nam.
Nguyễn Mạnh Thư, nã đạn vào dân, là đảng.
Lãnh đạo địa phương, cố bao che bằng kết luận ban đầu là “bắn chỉ thiên/súng cướp cò,” tất nhiên, cũng trong tâm thức coi đảng là tụi tao!
***
Chỉ vì mấy con vịt hay phá rối, hai mẹ con va chạm với nhau, bà mẹ trong lúc nóng giận đã làm đơn gửi đến cơ quan công an với mong muốn công an dọa cho đứa con một trận để nó ngoan hơn. Thế nhưng sau một ngày, cơ quan công an đã trả lại cho bà chiếc quan tài và xác chết đứa con trai. Nạn nhân là anh Vũ Văn Hiền, nông dân ở thôn Bình Xuân, xã Bình Thuận, huyện Ðại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày trước, khẩu hiệu của CA là: “Không đánh cho có, có đánh cho chừa.” Nay thu gọn lại chỉ còn 3 từ: “Ðánh cho chết.”
Giống hệt mọi nơi khác, công an Ðại Từ là đảng.
***
Thanh niên Nguyễn Văn Khương bị cảnh sát giao thông huyện Tân Yên, Bắc Giang, bắt giữ về tội đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, sau đó đã gục chết ngay trên ghế thẩm vấn tại đồn. Vì bất bình, nhiều người dân đã cùng gia đình nạn nhân mang quan tài của người chết đến trụ sở UBND tỉnh để yêu cầu làm sáng tỏ vụ việc. Lực lượng công an được huy động tới giải tán đoàn biểu tình đòi công lý lên đến cả vạn người, bằng dùi cui và hơi cay.
Nguyễn Thế Nghiệp, tay công an đánh chết anh Khương, là đảng.
***
Chiều Chủ Nhật, 25 tháng 7, 2010, gia đình nạn nhân bị công an đánh chết đã đưa thi thể anh Khương lên Ủy Ban Nhân Dân (UBND) tỉnh để đòi làm rõ vụ việc. Hỗ trợ gia đình anh Khương, một số rất đông người dân đã đi theo quan tài, bao vây UBND tỉnh từ 14 giờ đến tối. Ðến 5 giờ chiều thì 6 đoạn tường rào (60 mét) của UBND tỉnh bị phá hủy. Nhiều tiếng nổ lớn xảy ra do người dân đốt mìn tự tạo. Thi thể nạn nhân vẫn được quàn tại cổng UBND tỉnh. Cổng phụ của UBND đã bị phá cùng với biển ghi tên UBND tỉnh Bắc Giang. 9 giờ tối, nhà chức trách cho thợ làm lại tường và biển tên UB trước sự hiếu kỳ của hàng trăm người dân. Không như mọi ngày, tối nay UBND tỉnh tối om không có cả đèn trang trí ở sân...
Trong khi đó, “thái tử” Nông Quốc Tuấn (con trai Nông Ðức Mạnh, sắp trở thành bí thư tỉnh ủy) vẫn thản nhiên tiếp đãi bạn bè trong tiệc nhậu đặc sản bằng món thịt bò tót do 2 đầu bếp từ Hà Nội được điều về Bắc Giang để nấu nướng theo yêu cầu của Tuấn tại nhà hàng Tài Lộc.
Nông Quốc Tuấn, một mình, tự thân, chưa ngồi vào ghế tỉnh ủy, đã là đảng.
***
Ngày 3 tháng 7, 2010, giáo dân Tôma Nguyễn Thành Năm ở Cồn Dầu đã chết vì bị công an Ðà Nẵng lùng bắt, đánh đập, tra tấn tàn bạo. Nhìn những vết thương dã man trên thân xác anh, nhìn cái chết đau đớn của anh, giáo dân Cồn Dầu đã sợ hãi trước những con người hầu như trở thành loài thú dữ. Anh đã ra đi trong đau đớn, trong vòng vây của đội quân công an ngăn chận những người thân quen đến tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Anh ra đi không có những ngọn nến giải oan, để soi rọi sự bất công, dối trá trên miền đất Cồn Dầu. Anh ra đi bên những tiếng khóc thương nhớ, uất ức của vợ con. Anh ra đi trong bối cảnh dối gian, lọc lừa biến hóa hành động giết người của công an và chính quyền Ðà Nẵng trở thành vô tội. Hiện gần 2,000 hộ dân bị giải tỏa tại Cồn Dầu không có nhà mà ở.
Không thể nhầm: công an, ở mọi nơi trên đất nước này, đều là đảng.
***
Dự án đúc tim cho tượng Thánh Gióng gây xôn xao dư luận cả nước trước hạn kỷ niệm 1000 năm Thăng Long.
Phù Ðổng Thiên Vương không phải là đảng viên.
Nguyễn Thị Thoa, giám đốc Cty ATS, người đề xuất dự án này, cũng không chắc là đảng viên.
Chỉ riêng kẻ vận động và phê duyệt dự án, biết trước là sẽ có phần chia chác, mới là đảng.
***
Huỳnh Ngọc Sỹ, nguyên phó giám đốc Sở Giao Thông Vận Tải kiêm giám đốc Ban Quản Lý Dự Án Ðại Lộ Ðông Tây và Môi Trường Nước Sài Gòn, bị báo Nhật phanh phui đường dây tham nhũng PCI, lãnh án sơ thẩm 3 năm tù về tội danh “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ,” ra tòa phúc thẩm bị nâng mức án lên thành 6 năm tù, hiện có nhiều xác suất ra tòa lần nữa về tội danh chính thức là “nhận hối lộ” nhiều triệu USD.
Huỳnh Ngọc Sỹ, là đảng.
Mỗi cá nhân trong đường dây chung chi của Sỹ cũng là đảng.
***
Thượng Tá Ðặng Ðình Tiến, phó tham mưu trưởng Sư Ðoàn 324, Quân Khu 4, cùng các sĩ quan dưới trướng, kết hợp với Nguyễn Thị Kim Hoa, giám đốc Công ty TNHH Liên Kết và Giới Thiệu Việc Làm Bắc Miền Trung, để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 114 gia đình quân nhân (130 triệu đồng/1 quân nhân/1 hồ sơ xuất khẩu lao động). Các nạn nhân đã tố cáo lên các cấp cầm quyền địa phương cũng như trung ương, và trong suốt năm qua đã trên dưới 30 lần tìm cách khiếu nại đến các cơ quan liên hệ: Sư Ðoàn 324 QK4; Bộ Tư Lệnh QK4; Phòng Ðiều Tra Hình Sự QK4; Tỉnh Ủy, UBND, Công An các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình, đặc biệt là Bộ Quốc Phòng. Nhưng không được trả lời.
Ðặng Ðình Tiến là đảng.
Thủ trưởng của mỗi cơ quan nêu trên cũng đều tự coi mình là đảng.
***
Nguyễn Ngọc Ân, giám đốc sở Văn-Thể-Du của tỉnh Phú Thọ đã tiêu tốn non hai vạn USD tiền thuế của dân để lấy bằng tiến sĩ của Ðại Học Nam Thái Bình Dương (Southern Pacific University - SPU). Ðến khi bị trưng ra ánh sáng những góc đen khuất tất này thì Ân than rằng: Tôi là kẻ kém may! Té ra có nguyên một đường dây giới thiệu của Bộ Tài Chánh cho những quan chức muốn có bằng tiến sĩ mà không cần học.
Nguyễn Ngọc Ân (kém may), và cả những đồng chí (còn may) chưa bị lộ, chính là đảng.
***
Sầm Ðức Xương, hiệu trưởng trường trung học Hà Giang, cưỡng dâm nhiều nữ sinh, biến các nữ sinh đó thành gái gọi để thu tiền, rồi cống nạp lên thượng cấp, từ lãnh đạo ngân hàng đến cấp lãnh đạo cao nhất tỉnh, hoàn thành một danh sách đen hoành tráng. Khi vụ việc vỡ lở, các lãnh đạo nhất trí xử lý tình huống bằng cách phù phép cho các nữ sinh nạn nhân phải lãnh án tù về tội bán dâm. Trong số đó, một nạn nhân bỗng dưng mất tích. Nguyễn Trường Tô, chủ tịch tỉnh Hà Giang, với nick trên phôn di động là Tình yêu Chủ tịch, đứng tên hàng đầu trong danh sách đó...
Sầm Ðức Xương, hiệu trưởng, chuyên ngành trải ga giường để tiến thân, là đảng.
Nguyễn Trường Tô, tỉnh ủy viên, dùng quyền lực để cưỡng dâm nữ sinh, tất yếu là đảng.
***
11 chiến sĩ công an thuộc Cục Kỹ Thuật Nghiệp Vụ II (A-23), còn được gọi là CAM, vừa mới được Lê Doãn Hợp, bộ trưởng 4T, trao kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp 4T,” bởi đã tận tình “sử dụng các phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ phối hợp với các lực lượng chủ động đấu tranh với âm mưu hoạt động của các loại tình báo, gián điệp, phản động và tội phạm khác.”
Mới vài tháng trước, Thiếu Tướng Công An Vũ Hải Triều cũng đã báo cáo thành tích đánh sập 300 trang mạng và blogs, đồng thời, đã chộp được mật khẩu để xâm nhập nhiều trương mục email của một bộ phận không nhỏ nhân dân.
A-23 là đảng. CAM là đảng. Tự thân Lê Doãn Hợp/Vũ Hải Triều cũng là đảng.
***
Văn Ðình Ưng, phó chánh Văn Phòng Bộ GD-ÐT phân tích sâu sát rằng có 4 lý do khiến học sinh đỗ tốt nghiệp cao năm nay:
Thứ nhất do năm nay là năm thứ tư thực hiện cuộc vận động “hai không” nên những thí sinh yếu kém đã cố gắng học tập để thi đỗ.
Thứ hai, do công tác tư vấn tốt của các cơ quan truyền thông.
Thứ ba, do các ngày thi trên toàn quốc thời tiết mát mẻ.
Thứ tư là có thể do các em phấn đấu lập thành tích để chào mừng đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội!
Văn Ðình Hưng, đích thị là đảng.
***
Ban Tuyên Giáo thuộc Thành Ủy thành phố Ðà Nẵng vừa ra một văn bản, không rõ thuộc loại gì, nhưng có vẻ ngang với một cái lệnh, đề gửi cho “Văn phòng đại diện báo Ðại Ðoàn Kết tại Ðà Nẵng,” đòi cơ quan báo chí này cử phóng viên phải “là đảng viên” đến để “thông tin, tuyên truyền về Ðại hội lần thứ XX đảng bộ thành phố Ðà Nẵng.” Thế là... tịt, bởi văn phòng đại diện báo ÐÐK tại Ðà Nẵng không có nhà báo nào là đảng viên.
Các ban Tuyên Giáo, từ TW xuống tới địa phương đều tự coi mình là đảng.
***
Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch UBND TP Hà Nội, và Hoàng Tuấn Anh, bộ trưởng Văn-Thể-Du, đã hè nhau đề xuất một phương án thực sự động trời có tên là phương án... “bắn mây ngăn mưa,” với phí tổn vào tầm 1 tỷ USD cho 3 ngày đại lễ nhiệt liệt chào mừng 60 năm hữu nghị Việt-Trung và 1000 năm Thăng Long. Ðề án này được chuyển đường tắt lẫn đường vòng lên tới Phó TT Nguyễn Sinh Hùng. Tức là toàn giới IQ thượng hạng ngoại hạng. Không may cái là thời điểm của đề án này rớt vô sau vụ đường sắt cao tốc bị bác. Nguyễn Sinh Hùng, dù rất mê tính béo ngậy của dự án, nhưng cũng đành nuốt nước bọt nói “không,” kèm theo một lời phán nuối tiếc: “Nếu ta làm được thì nên làm, đằng này ta chưa làm được thì thôi.”
Kẻ đề xuất theo cảm hứng và trong tâm thức toàn quyền, tất nhiên là đảng.
Kẻ phê chuẩn, dù không được như ý, cũng vẫn xưng xưng rằng đảng là tao!
***
Chỉ riêng 16 bộ phận tổ chức của đảng CSVN, chưa phải toàn đảng, trong nhiệm kỳ 10 đã “vi phạm trong sử dụng tiền bạc” tăng gấp đội nhiệm kỳ 9: số tiền vi phạm phát hiện được ở cấp do trung ương kiểm tra là trên 80 tỷ đồng, tương đương 4,2 triệu đô la. Ở cấp cơ sở, con số này là 56 tỷ đồng. Lưu ý rằng đây chỉ là những con số “phát hiện được.”
Nguyễn Văn Chi, Chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương, thừa nhận “vi phạm qua kiểm tra tài chính đảng là đáng lo ngại, kiểm tra đâu cũng có vi phạm ở mức độ khác nhau.”
Thủ trưởng bất kỳ cơ quan nào của đảng cũng tự coi mình là đảng.
***
Hai anh em Trần Văn Chính (nguyên vụ phó Vụ Tổ Chức Cán Bộ của Bộ Giáo Dục & Ðào Tạo) quyết tâm chiếm lấy bằng được trường Ðại Học Phan Châu Trinh ở Hội An (một tư thục phi lợi nhuận). Theo một vài (trong số rất nhiều) đường dây (nổi tiếng của bộ), việc vận động của anh em Trần Văn Chính đã đưa đến kết quả là Nguyễn Thị Nghĩa, thứ trưởng Bộ GD- ÐT, cùng một đoàn công tác hùng hậu về “làm việc” với ban giám hiệu của trường trong suốt... một giờ đồng hồ, trên nguyên tắc định sẵn là... miễn đối thoại.
Hệ quả là 2 cái quyết định ngồi xổm trên luật pháp của Nguyễn Thị Nghĩa đều được hoàn trả cho khổ chủ: 1) Bãi miễn trách vụ hiệu trưởng của ông Phạm Hữu Thu; và 2) Ngưng tuyển sinh cho trường Phan Châu Trinh.
Hai anh em Trần Văn Chính tất nhiên là đảng.
Nguyễn Thị Nghĩa cũng là đảng. Thậm chí, còn hơn cả đảng, bởi đã bị mắng ngay trong buổi họp với thành ủy Hội An: “Chị là thứ trưởng thôi chứ chị to hơn đảng à?”
***
Trường Cao Ðẳng Nghề số 8 (thuộc bộ QP, ở Biên Hòa, Ðồng Nai), từng được vinh danh “Ðiểm sáng về dạy nghề,” là nơi mà mọi thí sinh đều an tâm đóng tiền đi thi “bảo đảm đậu.” Kể cả những thí sinh ngồi ngoài quán uống cà phê, thậm chí, đi tắm biển tận Vũng Tàu Bà Rịa, cho hết giờ thi, đều được cấp bằng. Ngô Phước Sánh, chủ tịch UBND thị trấn Tân Thạnh, cũng là 1 trong các tay cò mua bán bằng, tuyên bố: “Chỉ đạo của huyện là làm sao thì làm, miễn có bằng thì thôi!”
Hiệu trưởng trường nghề số 8, với toàn quyền cấp bằng, là đảng.
Các chủ tịch UBND đồng loại với Ngô Phước Sánh, cũng là đảng.
***
Một trong các bộ đứng đầu công nghiệp nuôi dưỡng nhiều cò lắm chợ là Bộ GD-ÐT. Ngoài chợ phao, các chợ tuyển sinh là nơi sầm uất phồn thịnh hơn cả. 200 triệu đồng/1 suất đại học! Khẩu hiệu bắt mắt thời đại là: “Trường nào cũng chạy được,” “Trôn kim nào cũng qua lọt.”...
Quan chức bộ GD-ÐT là đảng.
Cò chạy trường, không nhất thiết đảng viên, cũng hành xử không khác đảng.
***
Phạm Thanh Bình, chủ tịch HÐQT kiêm tổng giám đốc Vinashin, quản trị thua lỗ/thất thoát 86,000 tỷ đồng tiền thuế của dân. Tính trung bình ra là mỗi công dân VN phải trả khoảng một triệu đồng tiền nợ do Bình gây ra.
Nguyễn Sinh Hùng, phó thủ tướng, lãnh trách nhiệm vực dậy tập đoàn kinh tế khánh tận Vinashin bằng dự án vay nợ 56 tỷ USD dưới danh nghĩa xây dựng đường sắt cao tốc, nhưng rất tiếc là Quốc Hội phản bác, không thông qua.
Phạm Thanh Bình, kẻ phá hoại tài sản của nhân dân ở tầm kỷ lục bằng tính khí tùy tiện và ngu muội lộng quyền như trên, chính là đảng.
Nguyễn Sinh Hùng, nâng đỡ/bảo kê/bao che/cứu vớt cho một tội phạm như Bình, vẫn bằng tính khí tùy tiện và ngu muội lộng quyền như trên, cũng đã tự coi mình là đảng.
***
Võ Kim Cự, ủy viên Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Hà Tĩnh, từng “bị kỷ luật vì làm cho một cô giáo mầm non mang bầu,” từng mua bằng dỏm của Western Pacific University, vừa được bổ nhiệm giữ chức chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh.
Nguyễn Nhật, chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị, tổng giám đốc Tổng công ty Khoáng Sản và Thương Mại Hà Tĩnh, nổi danh xài bằng dỏm của Ðại Học Irvine và Nam Thái Bình Dương, cũng vừa được bổ nhiệm giữ chức phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh.
Quyết định bổ nhiệm mang số 1385/QÐ-TTg.
Võ Kim Cự và Nguyễn Nhật, lọc lừa cả nước, dùng bằng dỏm để thành lãnh đạo, chính là đảng.
Nguyễn Tấn Dũng, kẻ hồn nhiên bổ nhiệm cho mấy đứa xài bằng dỏm làm lãnh đạo như nó, tất nhiên, càng là đảng “gộc.”
***
Ngần ấy thời sự nhục nhã xảy ra chỉ trong khoảng trên dưới một quý.
Ðủ để cả nước thất kinh khi phải lược qua tình hình cần duyệt lại xem đảng là ai? tên gì? ở đâu? mấy đứa?
Ðảng ta là đạo đức, là văn minh, như thế ư?
Thẻ đảng là giấy chứng thực tất cả những lề thói đạo đức/văn minh như thế chăng?
Những đảng viên khác nghĩ sao?
Phải chăng đã đến lúc để vất bỏ những tấm thẻ đảng ô nhục đó?
Nơi nơi đang sục sôi. Chỉ cần Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp phát pháo tiên phuông, làm gương dẫn dắt, là trở thành động lượng đại trà, giúp cho mọi người mạnh dạn hơn để cùng vất bỏ thẻ đảng, chối từ cái hàng ngũ phi nhân đang nhân danh cộng sản mà vơ vét tư lợi; nhân danh xã hội chủ nghĩa mà bóc lột công nông; nhân danh Tổ Quốc mà bán đứng Tổ Quốc; nhân danh Dân Tộc mà đọa đày/giết hại Dân Tộc...
Hãy cùng nhau vất bỏ thẻ đảng để sang trang lịch sử.
Không chỉ thuần để giữ nguyên bờ cõi, mà còn để kiến tạo bệ phóng cho đất nước cất cánh, con người thăng hoa.
Chuẩn bị chào mừng 65 năm ngày Cách Mạng Tháng Tám.
14 tháng 8, 2010.
Blogger Ðinh Tấn Lực
Coi chừng! cuộc đảo chính không tiếng súng
… Đất nước lâm nguy! Thậm cấp! Chí nguy! Chí nguy! Kẻ thù không phải đã đến sát biên giới, không, kẻ bành trướng đã kéo quân vào sâu trong nội địa, chiếm lĩnh những lãnh vực, vị trí quyền lực xung yếu nhất. Mọi người Việt ta đã nhận rõ chưa?…Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh đột nhiên xuất hiện trên báo Quân đội Nhân dân sáng ngày thứ bẩy 14-8-2010 trong một cuộc trả lời phỏng vấn.
Trước đó 2 tuần, khi ông Vịnh với tư cách Thử trưởng Quốc phòng họp với 70 quan chức quốc phòng của các nước Đông Nam Á để chuẩn bị cho cuộc họp các bộ trưởng Quốc phòng vào tháng 10 tới, báo trong nước đều yên lặng, không đưa tin. Tin này chỉ được biết đến trên báo Thái lan, Xingapo… Cuộc trả lời phỏng vấn lần này nói về sự kiện tàu chiến Mỹ, tàu sân bay G. Washington và tàu khu trục Mc Cain đến gần và cặp bến Việt nam, về mối quan hệ về quốc phòng giữa Việt nam với Hoa kỳ, Trung quốc và các nước khác.
Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh
Ảnh: Nguyễn Hưng. Điều quan trọng là ở cuối cuộc phỏng vấn, trung tướng Vịnh cho biết đến ngày 17-8 tại đây sẽ diễn ra “cuộc đối thoại chiến lược về chính sách quốc phòng cấp thứ trưởng giữa Việt nam và Hoa kỳ”. Ông nói rõ: “Cuộc đối thoại sẽ nêu lên các vấn đề liên quan đến chính sách quốc phòng 2 nước, bàn các biện pháp để tăng cường quan hệ quốc phòng 2 nước, có thể tham khảo lập trường của nhau về các vấn đề cùng quan tâm”.
Một số bạn trong nước, – nhà báo, sỹ quan cấp cao tại chức – cho biết đây có thể là chuyện quan trọng, rất hệ trọng, quan hệ đến an ninh đất nước, thậm chí đến vận mệnh quốc gia, cần thông tin gấp, bàn luận rộng và kéo còi báo động cho bà con ta trong cả nước.
Đầu đuôi câu chuyện có thể nói tóm tắt là như sau. Nguyễn Chí Vịnh là nhân vật trung tâm của cái gọi là « Vụ án siêu nghiêm trọng » liên quan đến Tổng cục II, cơ quan tình báo quân sự, được nâng lên thành cơ quan tình báo quốc gia có quyền hạn không hạn chế, một nhà nước trong nhà nước, do Nguyễn Chí Vịnh làm thủ trưởng.
Những người ra sức ủng hộ, bênh che mọi tội lỗi, còn muốn và quyết đưa gấp lên cao hơn nữa Nguyễn Chí Vịnh là: 2 ông Đỗ Mười và Lê Đức Anh, nguyên Tổng bí thư và Chủ tịch nước, là Tổng bí thư đương quyền (sắp nghỉ) Nông Đức Mạnh. Đằng sau các vị này là thế lực bành trướng nước lớn, là cơ quan tình báo Hoa nam kết nghĩa keo sơn với Tổng cục II, như lời kể của trung tá Vũ Minh Trí cán bộ kỳ cựu của TCII.
Ý định hiện nay của các vị trên đây là đưa Vịnh vào chức cao trong Bộ quốc phòng, cao nhất là sẽ vào chức Bộ trưởng Quốc phòng thay Đại tướng Phùng Quang Thanh vào dịp Đại hội XI đầu năm 2011.
Cũng có sự phán đoán xa hơn về mưu đồ sẽ đưa Vịnh lên vị thế Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước vào Đại hội XII – năm 2016. Đó là kỳ vọng của những kẻ duy ý chí, tự tin quá mức.
Cản trở trên con đường danh vọng của Vịnh không ít. Có thể kể ra đây trước hết một loạt tướng lĩnh đã tỏ rõ thái độ, như các Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chu Huy Mân, Nguyễn Quyết, các Thượng ướng Lê Ngọc Hiền, Phùng Thế Tài, Đặng Vũ Hiệp, Hoàng Minh Thảo, các Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên , Nguyễn Nam Khánh, Lê Tự Đồng… và hơn 20 thiếu tướng, hơn 60 đại tá, một số lớn sỹ quan, cựu chiến binh không sao biết đích xác.
Thêm vào đó là hàng trăm vị đảng viên kỳ cựu, (có vị trước khi mất cũng dối dăng lại) – như Nguyễn Văn Xô, Đồng Văn Cống, Nguyễn văn Bé, Nguyễn Thị Cương, Trần Trọng Tân, Nguyễn Văn Thi, Nguyễn Trọng Vĩnh …
Ngày 15-7-2010 mới đây nhất, 12 đại tá đều từng là cấp trên, cấp chỉ huy của Vịnh lại gửi kiến nghị cho Bộ chính trị và Ban kiểm tra trung ương đảng, chỉ rõ: « Nguyễn Chí Vịnh vẫn được thăng Trung tướng, bổ nhiệm Thứ trưởng Quốc phòng là một sự xúc phạm lớn đến danh dự và uy tín của các thế hệ tướng lĩnh, sỹ quan và bộ đội chúng tôi » . Kiến nghị tán thành lá thư ngày 10-7-2010 của 38 tướng lĩnh và sỹ quan cấp cao , yêu cầu « không để làm Thứ trưởng Quốc phòng, không được cơ cấu vào đại biểu đi dự Đại hội đảng toàn quân, toàn quốc và vào danh sách bầu cử Ban chấp hành Trung ương khóa XI » .
Sau khi ông Nông Đức Mạnh vào giữa năm 2006 không ép được cuộc họp cuối của Ban chấp hành trung ương khóa X ghi tên Nguyễn Chí Vịnh và Nông Quốc Tuấn (con ông Mạnh) vào danh sách trung ương khóa X, bị thất bại, ông Mạnh và các ông Mười + Anh vẫn «cố đấm ăn xôi», dựa vào quyền lực đang còn; ông Mạnh ép được bộ Chính trị đưa Nguyễn Chí Vịnh vào chức Thứ trưởng Quốc phòng, và đang tận dụng ngày tháng còn tại chức, còn nắm quyền để đưa Vịnh lên gấp cao hơn nữa, thành chuyện đã rồi.
Ngày 17-8, tưóng Vịnh sẽ tiếp Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa kỳ Robert Scher tại Hànội. CIA biết rõ ông Vịnh là người của ai rồi. Họ rất ít khi lầm lẫn. Tiếp đó nếu không có gì xảy ra Vịnh sẽ dự cuộc họp các Bộ trưởng Quốc phòng 10 nước Asean + 8 bộ trưởng Quốc phòng các nước khác, trong đó có Trung quốc và Hoa kỳ. Vịnh sẽ dự bên cạnh Bộ trưởng Phùng Quang Thanh hay tự Vịnh dẫn đầu đoàn Việt nam?. Đây sẽ là cuộc họp rất lớn, được dư luận toàn thế giới theo dõi chặt chẽ, do tình hình căng thẳng ở biển Đông. Ngay sau đó sẽ là Đại hội đảng toàn quân. Vịnh có đi dự hay không, có được bầu đi dự Đại hội đảng toàn quốc XI hay không? đang là những dấu hỏi lớn.
Sắp đến ngày 25-8 sẽ là ngày sinh nhật thứ 99 – bước vào tuổi 100, của tướng Võ Nguyên Giáp. Nhớ lại năm kia, khi ông Nông Đức Mạnh đến chúc thọ tướng Giáp và khi tướng Giáp nhắc đến vụ Tổng cục II “cần giải quyết ngay cho triệt để, đúng luật nhà nước và kỷ luật quân đội”, ông Mạnh đã xoa dịu rằng: “xin vâng lời Đại tướng, chúng tôi đang tìm nơi để đưa cậu ta đi rèn luyện”.
Lời hứa của một tổng bí thư! Đưa đi rèn luyện? Rèn luyện ở chức Thứ trưởng Quốc phòng? rồi rèn luyện ở vị thế người giới thiệu Sách Trắng về Quốc phòng cho công luận? lại còn rèn luyện trong tư cách đi gặp chính thức bộ trưởng quốc phòng Trung quốc, Úc, và nay là rèn luyện trong vị thế đối thoại Quốc phòng với Hoa kỳ? để còn ‘rèn‘ tiếp nữa’.
Quả thật là Bộ chính trị hiện nay cầm đầu là ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh không coi những ý kiến, kiến nghị của đông đảo tướng lĩnh, sỹ quan, cựu chiến binh ra gì, vì già nua, không còn quyền lực chăng? Và cũng không coi chính kiến của ngàn vạn trí thức, văn nghệ sỹ, nhà báo yêu tự do, các luật sư đòi công bằng xã hội ra gì cả!
Và khi mà Trung quốc đã nắm trọn chìa khóa về kinh tế – hiện họ đã trúng thầu hầu hết các công trình trọng điểm về khai khóang, luyện kim, điện lực, cơ khí, giao thông… ; khi họ vào sâu tận vùng chiến lược Tây nguyên; khi về chính trị họ có thể sai bảo Bộ chính trị ngoan ngoãn đến vậy, và khi họ cài được vào Bộ quốc phòng một con người thân tín – tình báo đầu sỏ lợi hại đến vậy – , thì đất nước ta sẽ ra sao đây?
Diễn biến hòa bình là đây chứ ở đâu! Không gặp kháng cự mạnh mẽ, họ sẽ làm tới!
Và một cuộc đảo chính êm ru, theo tính toán, thăm dò từng bước, lặng lẽ, không tiếng súng, đang được thai nghén, đang diễn ra trước nhãn tiền.
Đất nước lâm nguy! Thậm cấp! Chí nguy! Chí nguy! Kẻ thù không phải đã đến sát biên giới, không, kẻ bành trướng đã kéo quân vào sâu trong nội địa, chiếm lĩnh những lãnh vực, vị trí quyền lực xung yếu nhất. Mọi người Việt ta đã nhận rõ chưa?
Đất nước Việt nam ta, đất nước Anh hùng. Khi Tổ quốc lâm nguy bao giờ cũng có triệu triệu tấm lòng hào khí bật dậy dấn thân cho Đại nghĩa Dân tộc.
Phải thế chăng? Mỗi người Việt, mỗi con dân Việt xin hãy trả lời!
16-8-2010
Bùi Tín
… Đất nước lâm nguy! Thậm cấp! Chí nguy! Chí nguy! Kẻ thù không phải đã đến sát biên giới, không, kẻ bành trướng đã kéo quân vào sâu trong nội địa, chiếm lĩnh những lãnh vực, vị trí quyền lực xung yếu nhất. Mọi người Việt ta đã nhận rõ chưa?…Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh đột nhiên xuất hiện trên báo Quân đội Nhân dân sáng ngày thứ bẩy 14-8-2010 trong một cuộc trả lời phỏng vấn.
Trước đó 2 tuần, khi ông Vịnh với tư cách Thử trưởng Quốc phòng họp với 70 quan chức quốc phòng của các nước Đông Nam Á để chuẩn bị cho cuộc họp các bộ trưởng Quốc phòng vào tháng 10 tới, báo trong nước đều yên lặng, không đưa tin. Tin này chỉ được biết đến trên báo Thái lan, Xingapo… Cuộc trả lời phỏng vấn lần này nói về sự kiện tàu chiến Mỹ, tàu sân bay G. Washington và tàu khu trục Mc Cain đến gần và cặp bến Việt nam, về mối quan hệ về quốc phòng giữa Việt nam với Hoa kỳ, Trung quốc và các nước khác.
Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh
Ảnh: Nguyễn Hưng. Điều quan trọng là ở cuối cuộc phỏng vấn, trung tướng Vịnh cho biết đến ngày 17-8 tại đây sẽ diễn ra “cuộc đối thoại chiến lược về chính sách quốc phòng cấp thứ trưởng giữa Việt nam và Hoa kỳ”. Ông nói rõ: “Cuộc đối thoại sẽ nêu lên các vấn đề liên quan đến chính sách quốc phòng 2 nước, bàn các biện pháp để tăng cường quan hệ quốc phòng 2 nước, có thể tham khảo lập trường của nhau về các vấn đề cùng quan tâm”.
Một số bạn trong nước, – nhà báo, sỹ quan cấp cao tại chức – cho biết đây có thể là chuyện quan trọng, rất hệ trọng, quan hệ đến an ninh đất nước, thậm chí đến vận mệnh quốc gia, cần thông tin gấp, bàn luận rộng và kéo còi báo động cho bà con ta trong cả nước.
Đầu đuôi câu chuyện có thể nói tóm tắt là như sau. Nguyễn Chí Vịnh là nhân vật trung tâm của cái gọi là « Vụ án siêu nghiêm trọng » liên quan đến Tổng cục II, cơ quan tình báo quân sự, được nâng lên thành cơ quan tình báo quốc gia có quyền hạn không hạn chế, một nhà nước trong nhà nước, do Nguyễn Chí Vịnh làm thủ trưởng.
Những người ra sức ủng hộ, bênh che mọi tội lỗi, còn muốn và quyết đưa gấp lên cao hơn nữa Nguyễn Chí Vịnh là: 2 ông Đỗ Mười và Lê Đức Anh, nguyên Tổng bí thư và Chủ tịch nước, là Tổng bí thư đương quyền (sắp nghỉ) Nông Đức Mạnh. Đằng sau các vị này là thế lực bành trướng nước lớn, là cơ quan tình báo Hoa nam kết nghĩa keo sơn với Tổng cục II, như lời kể của trung tá Vũ Minh Trí cán bộ kỳ cựu của TCII.
Ý định hiện nay của các vị trên đây là đưa Vịnh vào chức cao trong Bộ quốc phòng, cao nhất là sẽ vào chức Bộ trưởng Quốc phòng thay Đại tướng Phùng Quang Thanh vào dịp Đại hội XI đầu năm 2011.
Cũng có sự phán đoán xa hơn về mưu đồ sẽ đưa Vịnh lên vị thế Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước vào Đại hội XII – năm 2016. Đó là kỳ vọng của những kẻ duy ý chí, tự tin quá mức.
Cản trở trên con đường danh vọng của Vịnh không ít. Có thể kể ra đây trước hết một loạt tướng lĩnh đã tỏ rõ thái độ, như các Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chu Huy Mân, Nguyễn Quyết, các Thượng ướng Lê Ngọc Hiền, Phùng Thế Tài, Đặng Vũ Hiệp, Hoàng Minh Thảo, các Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên , Nguyễn Nam Khánh, Lê Tự Đồng… và hơn 20 thiếu tướng, hơn 60 đại tá, một số lớn sỹ quan, cựu chiến binh không sao biết đích xác.
Thêm vào đó là hàng trăm vị đảng viên kỳ cựu, (có vị trước khi mất cũng dối dăng lại) – như Nguyễn Văn Xô, Đồng Văn Cống, Nguyễn văn Bé, Nguyễn Thị Cương, Trần Trọng Tân, Nguyễn Văn Thi, Nguyễn Trọng Vĩnh …
Ngày 15-7-2010 mới đây nhất, 12 đại tá đều từng là cấp trên, cấp chỉ huy của Vịnh lại gửi kiến nghị cho Bộ chính trị và Ban kiểm tra trung ương đảng, chỉ rõ: « Nguyễn Chí Vịnh vẫn được thăng Trung tướng, bổ nhiệm Thứ trưởng Quốc phòng là một sự xúc phạm lớn đến danh dự và uy tín của các thế hệ tướng lĩnh, sỹ quan và bộ đội chúng tôi » . Kiến nghị tán thành lá thư ngày 10-7-2010 của 38 tướng lĩnh và sỹ quan cấp cao , yêu cầu « không để làm Thứ trưởng Quốc phòng, không được cơ cấu vào đại biểu đi dự Đại hội đảng toàn quân, toàn quốc và vào danh sách bầu cử Ban chấp hành Trung ương khóa XI » .
Sau khi ông Nông Đức Mạnh vào giữa năm 2006 không ép được cuộc họp cuối của Ban chấp hành trung ương khóa X ghi tên Nguyễn Chí Vịnh và Nông Quốc Tuấn (con ông Mạnh) vào danh sách trung ương khóa X, bị thất bại, ông Mạnh và các ông Mười + Anh vẫn «cố đấm ăn xôi», dựa vào quyền lực đang còn; ông Mạnh ép được bộ Chính trị đưa Nguyễn Chí Vịnh vào chức Thứ trưởng Quốc phòng, và đang tận dụng ngày tháng còn tại chức, còn nắm quyền để đưa Vịnh lên gấp cao hơn nữa, thành chuyện đã rồi.
Ngày 17-8, tưóng Vịnh sẽ tiếp Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa kỳ Robert Scher tại Hànội. CIA biết rõ ông Vịnh là người của ai rồi. Họ rất ít khi lầm lẫn. Tiếp đó nếu không có gì xảy ra Vịnh sẽ dự cuộc họp các Bộ trưởng Quốc phòng 10 nước Asean + 8 bộ trưởng Quốc phòng các nước khác, trong đó có Trung quốc và Hoa kỳ. Vịnh sẽ dự bên cạnh Bộ trưởng Phùng Quang Thanh hay tự Vịnh dẫn đầu đoàn Việt nam?. Đây sẽ là cuộc họp rất lớn, được dư luận toàn thế giới theo dõi chặt chẽ, do tình hình căng thẳng ở biển Đông. Ngay sau đó sẽ là Đại hội đảng toàn quân. Vịnh có đi dự hay không, có được bầu đi dự Đại hội đảng toàn quốc XI hay không? đang là những dấu hỏi lớn.
Sắp đến ngày 25-8 sẽ là ngày sinh nhật thứ 99 – bước vào tuổi 100, của tướng Võ Nguyên Giáp. Nhớ lại năm kia, khi ông Nông Đức Mạnh đến chúc thọ tướng Giáp và khi tướng Giáp nhắc đến vụ Tổng cục II “cần giải quyết ngay cho triệt để, đúng luật nhà nước và kỷ luật quân đội”, ông Mạnh đã xoa dịu rằng: “xin vâng lời Đại tướng, chúng tôi đang tìm nơi để đưa cậu ta đi rèn luyện”.
Lời hứa của một tổng bí thư! Đưa đi rèn luyện? Rèn luyện ở chức Thứ trưởng Quốc phòng? rồi rèn luyện ở vị thế người giới thiệu Sách Trắng về Quốc phòng cho công luận? lại còn rèn luyện trong tư cách đi gặp chính thức bộ trưởng quốc phòng Trung quốc, Úc, và nay là rèn luyện trong vị thế đối thoại Quốc phòng với Hoa kỳ? để còn ‘rèn‘ tiếp nữa’.
Quả thật là Bộ chính trị hiện nay cầm đầu là ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh không coi những ý kiến, kiến nghị của đông đảo tướng lĩnh, sỹ quan, cựu chiến binh ra gì, vì già nua, không còn quyền lực chăng? Và cũng không coi chính kiến của ngàn vạn trí thức, văn nghệ sỹ, nhà báo yêu tự do, các luật sư đòi công bằng xã hội ra gì cả!
Và khi mà Trung quốc đã nắm trọn chìa khóa về kinh tế – hiện họ đã trúng thầu hầu hết các công trình trọng điểm về khai khóang, luyện kim, điện lực, cơ khí, giao thông… ; khi họ vào sâu tận vùng chiến lược Tây nguyên; khi về chính trị họ có thể sai bảo Bộ chính trị ngoan ngoãn đến vậy, và khi họ cài được vào Bộ quốc phòng một con người thân tín – tình báo đầu sỏ lợi hại đến vậy – , thì đất nước ta sẽ ra sao đây?
Diễn biến hòa bình là đây chứ ở đâu! Không gặp kháng cự mạnh mẽ, họ sẽ làm tới!
Và một cuộc đảo chính êm ru, theo tính toán, thăm dò từng bước, lặng lẽ, không tiếng súng, đang được thai nghén, đang diễn ra trước nhãn tiền.
Đất nước lâm nguy! Thậm cấp! Chí nguy! Chí nguy! Kẻ thù không phải đã đến sát biên giới, không, kẻ bành trướng đã kéo quân vào sâu trong nội địa, chiếm lĩnh những lãnh vực, vị trí quyền lực xung yếu nhất. Mọi người Việt ta đã nhận rõ chưa?
Đất nước Việt nam ta, đất nước Anh hùng. Khi Tổ quốc lâm nguy bao giờ cũng có triệu triệu tấm lòng hào khí bật dậy dấn thân cho Đại nghĩa Dân tộc.
Phải thế chăng? Mỗi người Việt, mỗi con dân Việt xin hãy trả lời!
16-8-2010
Bùi Tín
Hỏa mù nguyên tử
* Lê Duy Nhân
(Nguồn: Thông Luận 2010)
Việt Nam có vẻ ngày càng đến gần Hoa Kỳ hơn, do sức ép bá quyền Trung Quốc. Nhưng mặt khác vẫn chưa có dũng cảm tháo gỡ cái vòng kim cô Bắc Kinh nên mới dùng dằng nửa ở nửa đi.
Sau khi được Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố sẵn sàng hợp tác bảo vệ Biển Ðông tại hội nghị ASEAN, Việt Nam tỏ ra rất “hưng phấn” trước triển vọng quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ, kẻ thù “vĩnh viễn” trong chiến tranh xâm lược miền Nam trước đây. Và Hoa Kỳ cũng ráo riết xóa hận thù cũ để xây dựng thế liên minh phòng vệ Biển Ðông với Việt Nam. Hai bên như chạy đua nước rút tiến tới liên minh quân sự khẩn cấp.
Ngày 5 tháng 8 vừa qua, tờ Wall Street Journal dẫn lời phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Mỹ, Phillip Crowley, tuyên bố rằng Hoa Kỳ và Việt Nam đã thỏa thuận về hợp tác hạt nhân dân sự. Trên nguyên tắc, thỏa thuận này không ngăn cấm Việt Nam tự làm giàu Uranium mặc dầu Bộ Ngoại Giao không đả động đến vấn đề “nhạy cảm” này. Ngay sau khi tin này được loan tải, phía Trung Quốc lên tiếng phản đối Hoa Kỳ thi hành chính sách phân biệt đối xử, cho phép Việt Nam làm giàu Uranium trong khi cấm các nước khác. Hầu hết các cơ quan truyền thông lớn trên thế giới đều chạy tít lớn tin Hoa Kỳ và Việt Nam hợp tác hạt nhân trong khi Việt Nam lại hoàn toàn im lặng một cách rất khó hiểu. Ðiều làm người ta ngạc nhiên hơn nữa là hai ngày sau, bà Nguyễn Phương Nga, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam lại còn đăng đàn phủ nhận hoàn toàn về hợp tác hạt nhân giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Tại sao lại có chuyện Hoa Kỳ đánh trống xuôi, Việt Nam thổi kèn ngược về một tin có lợi cho cả hai nước như vậy? Vì sợ thiên triều nổi cơn lôi đình hay vì chia rẽ trầm trọng trong nội bộ lãnh đạo Ðảng? Cách đây không lâu, “xung khắc” chính sách quốc phòng giữa hai ông, một ông Phùng Quang Thanh, bộ trưởng Quốc Phòng và một ông Thứ Trưởng Quốc Phòng Nguyễn Chí Vịnh. Ông Chánh thì mềm như bún trước kẻ thù phương Bắc, tuyên bố Trung Quốc chưa bao giờ dùng vũ lực với Việt Nam (ông Thanh quên hẳn “bài học” của Bắc Kinh năm 1979, quên hẳn các trận hải chiến giữa Trung Quốc và Việt Nam khi Tàu đem quân chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam), trong khi ông phó Nguyễn Chí Vịnh thì lại lên gân tuyên bố “Việt Nam đủ sức chống trả các cuộc xâm lăng.”
Tướng Phùng Quang Thanh được coi là người chủ trương hợp tác với Mỹ về quốc phòng, trong khi Tướng Nguyễn Chí Vịnh lui tới Bắc Kinh như cơm bữa. Tại sao lại có chuyện tréo cẳng ngỗng như vậy? Gió đã đổi chiều hay Hà Nội đang sắp xếp lại nhân sự quốc phòng?
Việt Nam không đủ sức chống lại tên bá quyền khổng lồ Trung Quốc nên phải tìm kiếm đồng minh, là điều bất cứ nước nào cũng phải làm. Nhưng hợp tác mà không thật tình thì chẳng sớm thì muộn cũng xôi hỏng bỏng không. Hoa Kỳ quả thật là một đồng minh rất khó chơi. Nhưng không phải là không chơi được nếu quyền lợi của Hoa Kỳ gắn chắt với quyền lợi của ta. Muốn làm đồng minh với Hoa Kỳ thì phải áp dụng “thủ pháp”: “Trust but verify.” Và Việt Nam không còn một lựa chọn nào khác.
Cũng không ai cấm Việt Nam phải “mềm dẻo” với Trung Quốc khi chưa đủ vây cánh. Nhưng cái lối “đâm sau lưng ngoại giao” của Việt Nam trong vấn đề hợp tác hạch nhân với Mỹ là hành động khó nước nào chấp nhận được. Sau vụ “đính chính” này của Bộ Ngoại Giao Việt Nam, không hiểu Bộ Ngoại Giao Mỹ có còn dám tuyên bố điều gì về hợp tác Việt-Mỹ nữa không!
Liên tiếp trong mấy ngày đầu tháng 8, hết siêu hàng không mẫu hạm George Washington đến khu trục hạm John McCain đến Việt Nam “đánh dấu” 15 năm bình thường ngoại giao giữa hai nước đang làm Trung Quốc rất khó chịu. Không hiểu lần này Bộ Ngoại Giao Mỹ còn dám biểu lộ “hưng phấn” trước các tiến triển hợp tác quốc phòng Việt-Mỹ nữa hay không.
* Lê Duy Nhân
(Nguồn: Thông Luận 2010)
Việt Nam có vẻ ngày càng đến gần Hoa Kỳ hơn, do sức ép bá quyền Trung Quốc. Nhưng mặt khác vẫn chưa có dũng cảm tháo gỡ cái vòng kim cô Bắc Kinh nên mới dùng dằng nửa ở nửa đi.
Sau khi được Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố sẵn sàng hợp tác bảo vệ Biển Ðông tại hội nghị ASEAN, Việt Nam tỏ ra rất “hưng phấn” trước triển vọng quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ, kẻ thù “vĩnh viễn” trong chiến tranh xâm lược miền Nam trước đây. Và Hoa Kỳ cũng ráo riết xóa hận thù cũ để xây dựng thế liên minh phòng vệ Biển Ðông với Việt Nam. Hai bên như chạy đua nước rút tiến tới liên minh quân sự khẩn cấp.
Ngày 5 tháng 8 vừa qua, tờ Wall Street Journal dẫn lời phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Mỹ, Phillip Crowley, tuyên bố rằng Hoa Kỳ và Việt Nam đã thỏa thuận về hợp tác hạt nhân dân sự. Trên nguyên tắc, thỏa thuận này không ngăn cấm Việt Nam tự làm giàu Uranium mặc dầu Bộ Ngoại Giao không đả động đến vấn đề “nhạy cảm” này. Ngay sau khi tin này được loan tải, phía Trung Quốc lên tiếng phản đối Hoa Kỳ thi hành chính sách phân biệt đối xử, cho phép Việt Nam làm giàu Uranium trong khi cấm các nước khác. Hầu hết các cơ quan truyền thông lớn trên thế giới đều chạy tít lớn tin Hoa Kỳ và Việt Nam hợp tác hạt nhân trong khi Việt Nam lại hoàn toàn im lặng một cách rất khó hiểu. Ðiều làm người ta ngạc nhiên hơn nữa là hai ngày sau, bà Nguyễn Phương Nga, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam lại còn đăng đàn phủ nhận hoàn toàn về hợp tác hạt nhân giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Tại sao lại có chuyện Hoa Kỳ đánh trống xuôi, Việt Nam thổi kèn ngược về một tin có lợi cho cả hai nước như vậy? Vì sợ thiên triều nổi cơn lôi đình hay vì chia rẽ trầm trọng trong nội bộ lãnh đạo Ðảng? Cách đây không lâu, “xung khắc” chính sách quốc phòng giữa hai ông, một ông Phùng Quang Thanh, bộ trưởng Quốc Phòng và một ông Thứ Trưởng Quốc Phòng Nguyễn Chí Vịnh. Ông Chánh thì mềm như bún trước kẻ thù phương Bắc, tuyên bố Trung Quốc chưa bao giờ dùng vũ lực với Việt Nam (ông Thanh quên hẳn “bài học” của Bắc Kinh năm 1979, quên hẳn các trận hải chiến giữa Trung Quốc và Việt Nam khi Tàu đem quân chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam), trong khi ông phó Nguyễn Chí Vịnh thì lại lên gân tuyên bố “Việt Nam đủ sức chống trả các cuộc xâm lăng.”
Tướng Phùng Quang Thanh được coi là người chủ trương hợp tác với Mỹ về quốc phòng, trong khi Tướng Nguyễn Chí Vịnh lui tới Bắc Kinh như cơm bữa. Tại sao lại có chuyện tréo cẳng ngỗng như vậy? Gió đã đổi chiều hay Hà Nội đang sắp xếp lại nhân sự quốc phòng?
Việt Nam không đủ sức chống lại tên bá quyền khổng lồ Trung Quốc nên phải tìm kiếm đồng minh, là điều bất cứ nước nào cũng phải làm. Nhưng hợp tác mà không thật tình thì chẳng sớm thì muộn cũng xôi hỏng bỏng không. Hoa Kỳ quả thật là một đồng minh rất khó chơi. Nhưng không phải là không chơi được nếu quyền lợi của Hoa Kỳ gắn chắt với quyền lợi của ta. Muốn làm đồng minh với Hoa Kỳ thì phải áp dụng “thủ pháp”: “Trust but verify.” Và Việt Nam không còn một lựa chọn nào khác.
Cũng không ai cấm Việt Nam phải “mềm dẻo” với Trung Quốc khi chưa đủ vây cánh. Nhưng cái lối “đâm sau lưng ngoại giao” của Việt Nam trong vấn đề hợp tác hạch nhân với Mỹ là hành động khó nước nào chấp nhận được. Sau vụ “đính chính” này của Bộ Ngoại Giao Việt Nam, không hiểu Bộ Ngoại Giao Mỹ có còn dám tuyên bố điều gì về hợp tác Việt-Mỹ nữa không!
Liên tiếp trong mấy ngày đầu tháng 8, hết siêu hàng không mẫu hạm George Washington đến khu trục hạm John McCain đến Việt Nam “đánh dấu” 15 năm bình thường ngoại giao giữa hai nước đang làm Trung Quốc rất khó chịu. Không hiểu lần này Bộ Ngoại Giao Mỹ còn dám biểu lộ “hưng phấn” trước các tiến triển hợp tác quốc phòng Việt-Mỹ nữa hay không.
Báo Nhân Dân tả cảnh Cộng Sản thoát hình thành tư bản
Ngô Nhân Dụng
Có thể nào viết bài trên nhật báo Nhân Dân báo trước sự sụp đổ của đảng cộng sản trên hay không? Có thể nào viết ngay trên mặt báo đó vẽ ra quá trình sụp đổ của chế độ cộng sản được không? Có thể! Cả hai đều có thể làm được! Một cách là vừa viết vừa lách ghi lại một tài liệu về “Những bài học lịch sử từ sự sụp đổ của Ðảng Cộng sản Liên Xô.” Ðó là nhan đề loạt bài thuộc loại Hồ Sơ được đăng nhiều kỳ trên mạng báo Nhân Dân Ðiện Tử từ mấy tuần qua, nay vẫn chưa đăng hết.
Người đọc loạt bài này có thể đoán: Trong tờ báo “cơ quan chính thức của đảng cộng sản Việt Nam” chắc có nhiều người muốn đưa những thông tin đầy đủ hơn giúp cho độc giả biết rõ sự thật về sự sụp đổ của Cộng Sản Liên Xô. Căn cứ vào các thông tin đó, người dân và các cán bộ sẽ tự suy diễn rằng ngày tàn của đảng Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu từ lâu rồi! Vì người đọc sẽ thấy tại Việt Nam đang diễn ra đầy đủ những triệu chứng suy đồi của đảng Cộng Sản Liên Xô trước khi tan rã. Nhìn cảnh Việt Nam bây giờ người ta thấy ngay cùng những căn bệnh đó thì không thuốc nào chữa khỏi!
Không những thế, những người viết Hồ Sơ này đã nhân cơ hội lấy cớ “viết lịch sử” để dẫn ra những lời người Nga từng kết án cả chủ nghĩa cộng sản lẫn thực tế của đảng cộng sản. Họ có thể công khai nhắc lại trên mặt báo Nhân Dân những lời người Nga đã nói về chế độ Xô Viết. Trên căn bản, họ cũng nói giống như lời ông Nguyễn Khắc Toàn hay bà Trần Khải Thanh Thủy đã viết; mà gần đây nhất là nhà văn Trần Mạnh Hảo viết bài lên án chế độ, trước hội nghị các nhà văn vừa qua! Nhắc lại các lời người Nga kết tội đảng ở Liên Xô là một cách nhắc nhở cho độc giả báo Nhân Dân biết những điều mà Nguyễn Khắc Toàn, Trần Mạnh Hảo, Trần Khải Thanh Thủy vạch ra chính là sự thật, Liên Xô ngày xưa cũng vậy! Ðây là một thủ đoạn rất khéo léo có tác dụng truyền bá những ý kiến lên án chế độ cộng sản nhưng lại đội dưới chiêu bài rút kinh nghiệm Liên Xô, làm như viết để bảo vệ chế độ cộng sản!
Chẳng hạn, Hồ Sơ đã thuật lời Gorbachev đánh giá chủ nghĩa Marx như thế này: “Trong toàn bộ những kết luận kinh tế cụ thể mà Marx dựa vào đó để xây dựng lâu đài thế giới quan của chủ nghĩa xã hội khoa học của ông không có cái nào được chứng thực trong thực tiễn.”
Phần 1 của mục Hồ Sơ này là bài, “Sự tan rã của Ðảng CS Liên Xô và Liên Bang Xô Viết.” Bài đầu giúp người đọc nhớ lại các biến cố đưa tới cảnh chấm dứt chế độ cộng sản ở Nga. Mặc dù tường thuật với quan điểm của đảng cộng sản, trút tội cho các cá nhân như Gorbachev, nhưng người đọc đủ thông minh cũng hiểu ý kiến và hành động của một cá nhân không thể nào làm đổ cả một đế quốc lớn như Liên Xô được. Chắc chắn phải có những nguyên nhân sâu xa. Thí dụ trong Hồ Sơ viết: Năm 1990 Cộng Sản Liên Xô họp đại hội lần thứ 28 thông qua tuyên bố có tính cương lĩnh “tiến tới xã hội chủ nghĩa dân chủ hóa nhân đạo.” Ðọc điều này ai cũng phải hiểu là chủ nghĩa cộng sản thiếu tính nhân đạo và tại Liên Xô chưa hề có dân chủ! Vì cả một đại hội đảng phải quyết định làm cho chính họ dân chủ hơn và nhân đạo hơn!
Khi chế độ Xô Viết sập, Hồ Sơ trên cho biết bao nhiêu tài sản của Ðảng CS Liên Xô đều bị chính phủ Nga niêm phong và tịch thu. “Trong hồ sơ của Trung Ương hay của địa phương, đều không thấy ghi chép gì về việc đảng viên Ðảng Cộng Sản Liên Xô tập hợp lại một cách có tổ chức để tiến hành bất cứ một hoạt động phản đối quy mô lớn nào nhằm bảo vệ Khu ủy, Thành ủy hoặc Huyện ủy của mình.” Ðọc tới đây, người đọc nào cũng hiểu rằng gần 20 triệu đảng viên cộng sản không mấy người còn thiết tha bảo vệ đảng nữa? Tại sao? Tất nhiên không phải vì một anh Gorbachev nó bắt được 20 triệu người! Người Nga không phải đều ngu cả, đảng viên cộng sản Nga cũng không ngu. Thế thì tại sao họ thản nhiên nhìn chế độ cộng sản tan rã? Ai cũng biết câu trả lời!
Câu trả lời được loạt bài Hồ Sơ này dẫn ra, khỏi phải tìm đâu xa: “Trước khi Ðảng CS Liên Xô sụp đổ không lâu đã có một cuộc điều tra dân ý về chủ đề: ‘Ðảng CS Liên Xô đại diện cho ai?’”
Kết quả là, có 7% số người trả lời rằng Ðảng CS Liên Xô đại diện cho nhân dân Liên Xô , 4% nói Ðảng đại diện cho công nhân, và 11% nghĩ Ðảng đại diện cho toàn thể đảng viên. Nếu Ðảng không đại diện cho dân chúng, cũng không đại diện cho quyền lợi đảng viên và các công nhân; vậy họ là cái gì? Bài số 2 trong Hồ Sơ kể: “Có tới 85% số người được hỏi trả lời rằng: Ðảng CS Liên Xô đại diện cho các quan chức, cán bộ và nhân viên nhà nước.” Ðó là những người gọi là nomenclatura, giai cấp đặc quyền, một đề tài được viết trong hai bài thuộc phần 4.
Bài “Lý luận cơ bản và phương châm chỉ đạo của Ðảng CS Liên Xô” thuộc phần 2. Các tác giả đã viết về các biến chuyển từ thời Khrushchev phủ nhận toàn bộ Stalin, tiến tới phủ nhận Lenin, qua thời Brezhnev, vân vân, tới khi cộng sản tan rã. Nhờ các tác giả Hồ Sơ này, người đọc báo được biết từ năm 1961 ở Liên Xô “Chuyên chính vô sản không cần thiết nữa, Liên Xô là một nhà nước chuyên chính vô sản hiện nay đã biến thành nhà nước của toàn dân.” Qua các giai đoạn, có lúc tác giả Hồ Sơ phê bình Stalin làm đúng chủ nghĩa Marx, có lúc chê ông ta làm sai. Ít nhất, trong bài này người đọc thấy không phải bao giờ Ông Sít cũng đúng, như Hồ Chí Minh thường quả quyết!
Phần 3 là bài “Công tác tư tưởng và tác phong của Ðảng CS Liên Xô” mô tả cảnh sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản trong phạm vi ý thức hệ. Thí dụ, Yakovlev viết: “Chủ nghĩa Marx đã chà đạp phong trào tiến tới dân chủ.” Tháng 1, 1987, Gorbachev gây ra một phong trào “ào ào, dấy lên như bão” đòi thẩm tra, xem xét lại, cho đến thanh toán toàn bộ Ðảng CS Liên Xô và lịch sử Liên Xô xã hội chủ nghĩa. Năm 1987, Gorbachev chính thức đưa ra “quan điểm mới” như “tính công khai, dân chủ hóa, đa nguyên hóa, đặt giá trị của toàn nhân loại cao hơn tất cả, để thay thế một loạt nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Marx.” Năm 1989, Liên Xô bãi bỏ môn học Chủ nghĩa Marx-Lenin trong trường học. Các tác giả Hồ Sơ viết: “Một số tờ báo và tạp chí đặc biệt cấp tiến như Họa Báo, Tia Lửa và Tin Tức Moscow, dần dần bộc lộ bộ mặt thật của nó, phủ định quá khứ, phủ định lịch sử Ðảng CS Liên Xô, phủ định chủ nghĩa xã hội.” Người đọc phải mừng cho các người làm báo ở Nga được sống với “bộ mặt thật” của họ, chứ không cần đeo mặt nạ đi ca ngợi, tô vẽ cho chủ nghĩa cộng sản nữa!
Khi các cơ sở truyền thông đổi chiều quay ra chống cộng sản, kết quả là họ được dân chúng hoan nghênh. Hồ Sơ kể thí dụ: “Tạp chí Thế Giới Mới nhờ đăng tiểu thuyết Quần đảo Gulag của Solzhenitsyn mà lượng phát hành từ 420,000 bản tăng lên 2,500,000 bản. Tác phẩm này của Solzhenitsyn là tập tài liệu lên án chế độ tàn khốc cộng sản! Cùng lúc đó, “một số người một thời là danh nhân trong giới trí thức Liên Xô” như nhà kinh tế học Popov, nhà chính trị học Bolaski, nhà triết học Phlor, vân vân, đua nhau phê phán chế độ và thể chế của Liên Xô. Hàng triệu lần lặp đi lặp lại rằng Ðảng Cộng Sản Liên Xô và chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô thất bại, trong khi đó “không còn ai đứng lên để bảo vệ Ðảng Cộng Sản và chủ nghĩa xã hội.” Người đọc nào cũng phải hiểu: Trừ khi nghĩ cả nước Nga toàn người ngu đần, quả tình Chủ Nghĩa Xã Hội không có gì đáng bảo vệ!
Phần thứ 4 của Hồ Sơ gồm 2 bài nói về tầng lớp đặc quyền Nomenclatura từ thời Brezhnev cho tới Gorbachev, có lẽ là phần lý thú nhất. Ðọc những hàng chữ mô tả sau đây, người đọc nào cũng thấy cảnh Liên Xô thời xưa sao giống cảnh Việt Nam bây giờ đến thế: “Con cái tầng lớp đặc quyền chỉ cần dựa vào địa vị đặc quyền của bố mẹ là có thể dễ dàng được vào học tại những trường đại học tốt nhất. Sau khi tốt nghiệp lại được nhận vào các ban, ngành ưu việt nhất, đồng thời nhanh chóng được nắm giữ những cương vị quyền lực quan trọng. Ðặc quyền còn có thể trở thành ‘lá bùa hộ mệnh’ để cán bộ lãnh đạo mặc sức tham nhũng mà không bị cản trở.”
Thêm nữa: “Ðể bảo vệ những lợi ích hiện có, tầng lớp đặc quyền chống lại bất cứ sự cải cách nào ảnh hưởng đến đặc quyền của mình. Bởi vậy, không thể chủ động ngăn chặn tình trạng tham nhũng đang lan tràn trong toàn Ðảng, toàn xã hội.” Trong bài có kể các chi tiết về những vụ buôn lậu (kim cương), xuất cảng lậu (trứng cá hồi, caviar, mà các tác giả viết là cavian), cảnh trong căn nhà của Gorbachev (người đọc liên tưởng đến cảnh trong nhà của Lê Khả Phiêu, tuy Việt Nam nghèo hơn Nga). Ðó là những cảnh mục nát vì tham nhũng, lộng quyền mà người Việt Nam đã biết cả rồi. Câu kết luận có tính cách cảnh báo: “Khi Ðảng Cộng Sản Liên Xô đã bị khối u ác tính làm cho thối rữa, biến chất thì bản thân nó bị nhân dân phỉ nhổ.” Nghe câu này, người Việt Nam nào cũng cảm thấy hả dạ! Ðây là một lời cảnh cáo hay tiên tri?
Phần đáng chú ý nhất, có lẽ quan trọng nhất trong Hồ Sơ, trong phần 4, là đoạn mô tả nước Nga chuyển tiếp từ cộng sản sang tư bản. Vì nó cũng giống hệt như cảnh đang diễn ra ở Việt Nam, mặc dù đảng cộng sản nước ta vẫn đeo cái mặt nạ “xã hội chủ nghĩa.”
Cuộc cải tổ kinh tế chính trị ở Nga “là cơ hội tuyệt vời để tầng lớp đặc quyền tha hồ mưu lợi cá nhân.” Nhân danh đổi mới, trong Hồ Sơ viết: “tầng lớp đặc quyền chuyển biến thành giai cấp tư sản mới.”
Xin đọc rõ hơn để xem đây là cảnh ở Nga hay ở Việt Nam: Tầng lớp đặc quyền quyền lợi dụng quyền lực đang nắm trong tay để ra sức vơ vét, làm giàu cho bản thân không đủ, họ còn “muốn chiếm hữu lâu dài mọi đặc quyền. Thậm chí còn để lại cho con cháu đời sau. Nhất là các vị quan kinh tế trực tiếp quản lý tài sản của doanh nghiệp nhà nước.”
Cho nên sau khi Liên Xô sập rồi, “trong số hàng vạn triệu phú ở Moscow, đại bộ phận nguyên là những cán bộ làm việc trong các cơ quan Ðảng, chính quyền.” Các tác giả Hồ Sơ biết hài hước, trích lời một kinh tế gia Mỹ David Code: “Ðảng cộng sản Liên Xô là đảng chính trị duy nhất làm giàu qua đám tang của chính mình.”
Phần 5 của Hồ Sơ mới bắt đầu tuần này với bài “Những vi phạm về nguyên tắc xây dựng Ðảng.” Bài đầu tiên kể lại lịch sử từ thời Lenin qua Stalin. Trái với quan điểm của Hồ Chí Minh coi Stalin như thánh sống, các tác giả Hồ Sơ phê phán ông Sít rất nặng nề, coi như ông ta đã vi phạm nhiều nguyên tắc. Thí dụ, dưới thời ông Sít “Ủy Ban Giám Sát chỉ giới hạn trong việc kiểm tra hoạt động của tổ chức cấp dưới, không thể giám sát cơ quan mỹ kim,... bản thân cơ quan giám sát được giao trọng trách điều tra, xử lý chủ nghĩa quan liêu lại cũng bị nhiễm căn bệnh quan liêu... Kiểu kiểm tra qua loa, chiếu lệ diễn ra ngày càng nhiều,” vân vân.
Sau khi đọc những bài trong loạt Hồ Sơ này chúng ta thấy Ðảng Cộng Sản Liên Xô không hề bị ai tấn công, mà đã tự nổ ra từ bên trong! Những nguyên nhân đưa tới vụ bùng nổ này là chế độ tham nhũng, đặc quyền khiến toàn dân chán ghét, kể cả các đảng viên cộng sản. Làm sao để tránh? Muốn tránh, phải đi theo chính sách cũ, độc tài triệt để, không chấp nhận dân chủ tự do. Nhưng điều này rất khó. Vì giai cấp đặc quyền sẽ bị dân chán ghét quá rồi. Mà chính họ cũng tìm kế thoát thân bằng con đường tự tư sản hóa, mà không sợ mất các đặc quyền!
Chắc chắn trong các bài tiếp theo, các tác giả Hồ Sơ sẽ tìm cách chứng tỏ họ vẫn trung thành với đảng cộng sản, vẫn quyết tâm bảo vệ chủ nghĩa Mác, vân vân. Nhưng qua những bài kể đã đăng, chúng ta thấy họ đã cố tình cho thấy khi chủ nghĩa cộng sản hết thời, thì ngay tại nước Nga, bọn “chiếm đặc quyền nomenclatura” đã tìm cách “tiến tới chủ nghĩa tư bản” cho chính họ và con cháu họ. Ðó là một lời cảnh báo cho toàn thể mọi người Việt Nam. Chúng ta có chấp nhận một cảnh tương tự như vậy tiếp tục diễn ra tại nước ta hay không?
Các tác giả loạt bài Hồ Sơ này viết rất công phu. Tuy nhiên họ không thực sự viết lịch sử cho nên đã lựa chọn các chi tiết thích hợp với ý kiến của họ, bỏ qua các điều quan trọng khác. Thí dụ, Hồ Sơ không nói gì về tình trạng nguy kịch của kinh tế Nga khiến cho giới lãnh đạo Cộng Sản Liên Xô không có đường nào khác ngoài việc tháo gỡ toàn thể bộ máy làm lại từ đầu. Có lúc Hồ Sơ cũng viết nhầm tên, hoặc nói Khrushchev qua đời khi còn đương tại chức, thực ra ông ta bị cất chức năm 1964 trước khi chết vào năm 1971.
Ngô Nhân Dụng
Có thể nào viết bài trên nhật báo Nhân Dân báo trước sự sụp đổ của đảng cộng sản trên hay không? Có thể nào viết ngay trên mặt báo đó vẽ ra quá trình sụp đổ của chế độ cộng sản được không? Có thể! Cả hai đều có thể làm được! Một cách là vừa viết vừa lách ghi lại một tài liệu về “Những bài học lịch sử từ sự sụp đổ của Ðảng Cộng sản Liên Xô.” Ðó là nhan đề loạt bài thuộc loại Hồ Sơ được đăng nhiều kỳ trên mạng báo Nhân Dân Ðiện Tử từ mấy tuần qua, nay vẫn chưa đăng hết.
Người đọc loạt bài này có thể đoán: Trong tờ báo “cơ quan chính thức của đảng cộng sản Việt Nam” chắc có nhiều người muốn đưa những thông tin đầy đủ hơn giúp cho độc giả biết rõ sự thật về sự sụp đổ của Cộng Sản Liên Xô. Căn cứ vào các thông tin đó, người dân và các cán bộ sẽ tự suy diễn rằng ngày tàn của đảng Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu từ lâu rồi! Vì người đọc sẽ thấy tại Việt Nam đang diễn ra đầy đủ những triệu chứng suy đồi của đảng Cộng Sản Liên Xô trước khi tan rã. Nhìn cảnh Việt Nam bây giờ người ta thấy ngay cùng những căn bệnh đó thì không thuốc nào chữa khỏi!
Không những thế, những người viết Hồ Sơ này đã nhân cơ hội lấy cớ “viết lịch sử” để dẫn ra những lời người Nga từng kết án cả chủ nghĩa cộng sản lẫn thực tế của đảng cộng sản. Họ có thể công khai nhắc lại trên mặt báo Nhân Dân những lời người Nga đã nói về chế độ Xô Viết. Trên căn bản, họ cũng nói giống như lời ông Nguyễn Khắc Toàn hay bà Trần Khải Thanh Thủy đã viết; mà gần đây nhất là nhà văn Trần Mạnh Hảo viết bài lên án chế độ, trước hội nghị các nhà văn vừa qua! Nhắc lại các lời người Nga kết tội đảng ở Liên Xô là một cách nhắc nhở cho độc giả báo Nhân Dân biết những điều mà Nguyễn Khắc Toàn, Trần Mạnh Hảo, Trần Khải Thanh Thủy vạch ra chính là sự thật, Liên Xô ngày xưa cũng vậy! Ðây là một thủ đoạn rất khéo léo có tác dụng truyền bá những ý kiến lên án chế độ cộng sản nhưng lại đội dưới chiêu bài rút kinh nghiệm Liên Xô, làm như viết để bảo vệ chế độ cộng sản!
Chẳng hạn, Hồ Sơ đã thuật lời Gorbachev đánh giá chủ nghĩa Marx như thế này: “Trong toàn bộ những kết luận kinh tế cụ thể mà Marx dựa vào đó để xây dựng lâu đài thế giới quan của chủ nghĩa xã hội khoa học của ông không có cái nào được chứng thực trong thực tiễn.”
Phần 1 của mục Hồ Sơ này là bài, “Sự tan rã của Ðảng CS Liên Xô và Liên Bang Xô Viết.” Bài đầu giúp người đọc nhớ lại các biến cố đưa tới cảnh chấm dứt chế độ cộng sản ở Nga. Mặc dù tường thuật với quan điểm của đảng cộng sản, trút tội cho các cá nhân như Gorbachev, nhưng người đọc đủ thông minh cũng hiểu ý kiến và hành động của một cá nhân không thể nào làm đổ cả một đế quốc lớn như Liên Xô được. Chắc chắn phải có những nguyên nhân sâu xa. Thí dụ trong Hồ Sơ viết: Năm 1990 Cộng Sản Liên Xô họp đại hội lần thứ 28 thông qua tuyên bố có tính cương lĩnh “tiến tới xã hội chủ nghĩa dân chủ hóa nhân đạo.” Ðọc điều này ai cũng phải hiểu là chủ nghĩa cộng sản thiếu tính nhân đạo và tại Liên Xô chưa hề có dân chủ! Vì cả một đại hội đảng phải quyết định làm cho chính họ dân chủ hơn và nhân đạo hơn!
Khi chế độ Xô Viết sập, Hồ Sơ trên cho biết bao nhiêu tài sản của Ðảng CS Liên Xô đều bị chính phủ Nga niêm phong và tịch thu. “Trong hồ sơ của Trung Ương hay của địa phương, đều không thấy ghi chép gì về việc đảng viên Ðảng Cộng Sản Liên Xô tập hợp lại một cách có tổ chức để tiến hành bất cứ một hoạt động phản đối quy mô lớn nào nhằm bảo vệ Khu ủy, Thành ủy hoặc Huyện ủy của mình.” Ðọc tới đây, người đọc nào cũng hiểu rằng gần 20 triệu đảng viên cộng sản không mấy người còn thiết tha bảo vệ đảng nữa? Tại sao? Tất nhiên không phải vì một anh Gorbachev nó bắt được 20 triệu người! Người Nga không phải đều ngu cả, đảng viên cộng sản Nga cũng không ngu. Thế thì tại sao họ thản nhiên nhìn chế độ cộng sản tan rã? Ai cũng biết câu trả lời!
Câu trả lời được loạt bài Hồ Sơ này dẫn ra, khỏi phải tìm đâu xa: “Trước khi Ðảng CS Liên Xô sụp đổ không lâu đã có một cuộc điều tra dân ý về chủ đề: ‘Ðảng CS Liên Xô đại diện cho ai?’”
Kết quả là, có 7% số người trả lời rằng Ðảng CS Liên Xô đại diện cho nhân dân Liên Xô , 4% nói Ðảng đại diện cho công nhân, và 11% nghĩ Ðảng đại diện cho toàn thể đảng viên. Nếu Ðảng không đại diện cho dân chúng, cũng không đại diện cho quyền lợi đảng viên và các công nhân; vậy họ là cái gì? Bài số 2 trong Hồ Sơ kể: “Có tới 85% số người được hỏi trả lời rằng: Ðảng CS Liên Xô đại diện cho các quan chức, cán bộ và nhân viên nhà nước.” Ðó là những người gọi là nomenclatura, giai cấp đặc quyền, một đề tài được viết trong hai bài thuộc phần 4.
Bài “Lý luận cơ bản và phương châm chỉ đạo của Ðảng CS Liên Xô” thuộc phần 2. Các tác giả đã viết về các biến chuyển từ thời Khrushchev phủ nhận toàn bộ Stalin, tiến tới phủ nhận Lenin, qua thời Brezhnev, vân vân, tới khi cộng sản tan rã. Nhờ các tác giả Hồ Sơ này, người đọc báo được biết từ năm 1961 ở Liên Xô “Chuyên chính vô sản không cần thiết nữa, Liên Xô là một nhà nước chuyên chính vô sản hiện nay đã biến thành nhà nước của toàn dân.” Qua các giai đoạn, có lúc tác giả Hồ Sơ phê bình Stalin làm đúng chủ nghĩa Marx, có lúc chê ông ta làm sai. Ít nhất, trong bài này người đọc thấy không phải bao giờ Ông Sít cũng đúng, như Hồ Chí Minh thường quả quyết!
Phần 3 là bài “Công tác tư tưởng và tác phong của Ðảng CS Liên Xô” mô tả cảnh sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản trong phạm vi ý thức hệ. Thí dụ, Yakovlev viết: “Chủ nghĩa Marx đã chà đạp phong trào tiến tới dân chủ.” Tháng 1, 1987, Gorbachev gây ra một phong trào “ào ào, dấy lên như bão” đòi thẩm tra, xem xét lại, cho đến thanh toán toàn bộ Ðảng CS Liên Xô và lịch sử Liên Xô xã hội chủ nghĩa. Năm 1987, Gorbachev chính thức đưa ra “quan điểm mới” như “tính công khai, dân chủ hóa, đa nguyên hóa, đặt giá trị của toàn nhân loại cao hơn tất cả, để thay thế một loạt nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Marx.” Năm 1989, Liên Xô bãi bỏ môn học Chủ nghĩa Marx-Lenin trong trường học. Các tác giả Hồ Sơ viết: “Một số tờ báo và tạp chí đặc biệt cấp tiến như Họa Báo, Tia Lửa và Tin Tức Moscow, dần dần bộc lộ bộ mặt thật của nó, phủ định quá khứ, phủ định lịch sử Ðảng CS Liên Xô, phủ định chủ nghĩa xã hội.” Người đọc phải mừng cho các người làm báo ở Nga được sống với “bộ mặt thật” của họ, chứ không cần đeo mặt nạ đi ca ngợi, tô vẽ cho chủ nghĩa cộng sản nữa!
Khi các cơ sở truyền thông đổi chiều quay ra chống cộng sản, kết quả là họ được dân chúng hoan nghênh. Hồ Sơ kể thí dụ: “Tạp chí Thế Giới Mới nhờ đăng tiểu thuyết Quần đảo Gulag của Solzhenitsyn mà lượng phát hành từ 420,000 bản tăng lên 2,500,000 bản. Tác phẩm này của Solzhenitsyn là tập tài liệu lên án chế độ tàn khốc cộng sản! Cùng lúc đó, “một số người một thời là danh nhân trong giới trí thức Liên Xô” như nhà kinh tế học Popov, nhà chính trị học Bolaski, nhà triết học Phlor, vân vân, đua nhau phê phán chế độ và thể chế của Liên Xô. Hàng triệu lần lặp đi lặp lại rằng Ðảng Cộng Sản Liên Xô và chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô thất bại, trong khi đó “không còn ai đứng lên để bảo vệ Ðảng Cộng Sản và chủ nghĩa xã hội.” Người đọc nào cũng phải hiểu: Trừ khi nghĩ cả nước Nga toàn người ngu đần, quả tình Chủ Nghĩa Xã Hội không có gì đáng bảo vệ!
Phần thứ 4 của Hồ Sơ gồm 2 bài nói về tầng lớp đặc quyền Nomenclatura từ thời Brezhnev cho tới Gorbachev, có lẽ là phần lý thú nhất. Ðọc những hàng chữ mô tả sau đây, người đọc nào cũng thấy cảnh Liên Xô thời xưa sao giống cảnh Việt Nam bây giờ đến thế: “Con cái tầng lớp đặc quyền chỉ cần dựa vào địa vị đặc quyền của bố mẹ là có thể dễ dàng được vào học tại những trường đại học tốt nhất. Sau khi tốt nghiệp lại được nhận vào các ban, ngành ưu việt nhất, đồng thời nhanh chóng được nắm giữ những cương vị quyền lực quan trọng. Ðặc quyền còn có thể trở thành ‘lá bùa hộ mệnh’ để cán bộ lãnh đạo mặc sức tham nhũng mà không bị cản trở.”
Thêm nữa: “Ðể bảo vệ những lợi ích hiện có, tầng lớp đặc quyền chống lại bất cứ sự cải cách nào ảnh hưởng đến đặc quyền của mình. Bởi vậy, không thể chủ động ngăn chặn tình trạng tham nhũng đang lan tràn trong toàn Ðảng, toàn xã hội.” Trong bài có kể các chi tiết về những vụ buôn lậu (kim cương), xuất cảng lậu (trứng cá hồi, caviar, mà các tác giả viết là cavian), cảnh trong căn nhà của Gorbachev (người đọc liên tưởng đến cảnh trong nhà của Lê Khả Phiêu, tuy Việt Nam nghèo hơn Nga). Ðó là những cảnh mục nát vì tham nhũng, lộng quyền mà người Việt Nam đã biết cả rồi. Câu kết luận có tính cách cảnh báo: “Khi Ðảng Cộng Sản Liên Xô đã bị khối u ác tính làm cho thối rữa, biến chất thì bản thân nó bị nhân dân phỉ nhổ.” Nghe câu này, người Việt Nam nào cũng cảm thấy hả dạ! Ðây là một lời cảnh cáo hay tiên tri?
Phần đáng chú ý nhất, có lẽ quan trọng nhất trong Hồ Sơ, trong phần 4, là đoạn mô tả nước Nga chuyển tiếp từ cộng sản sang tư bản. Vì nó cũng giống hệt như cảnh đang diễn ra ở Việt Nam, mặc dù đảng cộng sản nước ta vẫn đeo cái mặt nạ “xã hội chủ nghĩa.”
Cuộc cải tổ kinh tế chính trị ở Nga “là cơ hội tuyệt vời để tầng lớp đặc quyền tha hồ mưu lợi cá nhân.” Nhân danh đổi mới, trong Hồ Sơ viết: “tầng lớp đặc quyền chuyển biến thành giai cấp tư sản mới.”
Xin đọc rõ hơn để xem đây là cảnh ở Nga hay ở Việt Nam: Tầng lớp đặc quyền quyền lợi dụng quyền lực đang nắm trong tay để ra sức vơ vét, làm giàu cho bản thân không đủ, họ còn “muốn chiếm hữu lâu dài mọi đặc quyền. Thậm chí còn để lại cho con cháu đời sau. Nhất là các vị quan kinh tế trực tiếp quản lý tài sản của doanh nghiệp nhà nước.”
Cho nên sau khi Liên Xô sập rồi, “trong số hàng vạn triệu phú ở Moscow, đại bộ phận nguyên là những cán bộ làm việc trong các cơ quan Ðảng, chính quyền.” Các tác giả Hồ Sơ biết hài hước, trích lời một kinh tế gia Mỹ David Code: “Ðảng cộng sản Liên Xô là đảng chính trị duy nhất làm giàu qua đám tang của chính mình.”
Phần 5 của Hồ Sơ mới bắt đầu tuần này với bài “Những vi phạm về nguyên tắc xây dựng Ðảng.” Bài đầu tiên kể lại lịch sử từ thời Lenin qua Stalin. Trái với quan điểm của Hồ Chí Minh coi Stalin như thánh sống, các tác giả Hồ Sơ phê phán ông Sít rất nặng nề, coi như ông ta đã vi phạm nhiều nguyên tắc. Thí dụ, dưới thời ông Sít “Ủy Ban Giám Sát chỉ giới hạn trong việc kiểm tra hoạt động của tổ chức cấp dưới, không thể giám sát cơ quan mỹ kim,... bản thân cơ quan giám sát được giao trọng trách điều tra, xử lý chủ nghĩa quan liêu lại cũng bị nhiễm căn bệnh quan liêu... Kiểu kiểm tra qua loa, chiếu lệ diễn ra ngày càng nhiều,” vân vân.
Sau khi đọc những bài trong loạt Hồ Sơ này chúng ta thấy Ðảng Cộng Sản Liên Xô không hề bị ai tấn công, mà đã tự nổ ra từ bên trong! Những nguyên nhân đưa tới vụ bùng nổ này là chế độ tham nhũng, đặc quyền khiến toàn dân chán ghét, kể cả các đảng viên cộng sản. Làm sao để tránh? Muốn tránh, phải đi theo chính sách cũ, độc tài triệt để, không chấp nhận dân chủ tự do. Nhưng điều này rất khó. Vì giai cấp đặc quyền sẽ bị dân chán ghét quá rồi. Mà chính họ cũng tìm kế thoát thân bằng con đường tự tư sản hóa, mà không sợ mất các đặc quyền!
Chắc chắn trong các bài tiếp theo, các tác giả Hồ Sơ sẽ tìm cách chứng tỏ họ vẫn trung thành với đảng cộng sản, vẫn quyết tâm bảo vệ chủ nghĩa Mác, vân vân. Nhưng qua những bài kể đã đăng, chúng ta thấy họ đã cố tình cho thấy khi chủ nghĩa cộng sản hết thời, thì ngay tại nước Nga, bọn “chiếm đặc quyền nomenclatura” đã tìm cách “tiến tới chủ nghĩa tư bản” cho chính họ và con cháu họ. Ðó là một lời cảnh báo cho toàn thể mọi người Việt Nam. Chúng ta có chấp nhận một cảnh tương tự như vậy tiếp tục diễn ra tại nước ta hay không?
Các tác giả loạt bài Hồ Sơ này viết rất công phu. Tuy nhiên họ không thực sự viết lịch sử cho nên đã lựa chọn các chi tiết thích hợp với ý kiến của họ, bỏ qua các điều quan trọng khác. Thí dụ, Hồ Sơ không nói gì về tình trạng nguy kịch của kinh tế Nga khiến cho giới lãnh đạo Cộng Sản Liên Xô không có đường nào khác ngoài việc tháo gỡ toàn thể bộ máy làm lại từ đầu. Có lúc Hồ Sơ cũng viết nhầm tên, hoặc nói Khrushchev qua đời khi còn đương tại chức, thực ra ông ta bị cất chức năm 1964 trước khi chết vào năm 1971.
Mỹ và Trung Quốc đối đầu
Ngô Nhân Dụng
Trung Quốc có lý do để than phiền với Mỹ. Cả hai nước trong tháng qua đã biểu diễn sức mạnh quân sự ở vùng biển phía Ðông lục địa Á Châu. Nhưng hiển nhiên là vùng này nằm sát bên nước Tầu và rất xa nước Mỹ. Thử tượng tượng nếu Tầu hay Nga đem một hạm đội tới vùng biển Trung Mỹ thao diễn cùng với Hải Quân Cuba, dân Mỹ có ngồi im ngó hay không? Phải to tiếng!
Như vậy, liệu hai nước sắp đụng độ nhau chăng? Trong ngắn hạn thì chuyện đó khó xảy ra. Vì nếu đánh nhau cả hai đều sẽ thiệt hại nhiều hơn là được lợi. Hồi 1960 Nga đem hỏa tiễn sang Cuba, tình trạng gay cấn hơn nhiều. Nhưng không ai có thể đoán chắc trong 25 hoặc 30 năm nữa sẽ không có chiến tranh. Cũng như năm 1910, Dân Biểu Anh Quốc Norman Angell đã in một cuốn sách quả quyết hai nước Anh và Ðức không thể nào đánh nhau được vì không được lợi gì về kinh tế. Cuốn sách “Ảo tưởng vĩ đại” của ông được tái bản nhiều lần trước khi hai nước lăn vào cuộc giết chóc năm 1914.
Mà hiện nay thì Mỹ và Trung Quốc có quá nhiều xung khắc. Vào tháng 7, 2010, ba tầu ngầm của Mỹ mang theo tổng cộng 452 hỏa tiễn Tomakawk đến ba hải cảng vùng Á Châu chung quanh nước Tầu. Cuối tháng, bà ngoại trưởng Mỹ nói tại hội nghị ASEAN ở Hà Nội về chủ trương bảo vệ quyền lợi của Mỹ trong vùng biển Ðông nước ta, khuyến cáo không nước nào nên dùng vũ lực. Mấy ngày sau, Hải Quân Trung Quốc đã mở cuộc thao diễn ngay trong vùng biển này. Ðó là một cuộc tập dượt lớn nhất từ trước đến nay của quân đội Trung Hoa. Bộ ngoại giao Trung Quốc phản đối Mỹ có ý quốc tế hóa các tranh chấp ở biển Ðông và cảnh cáo chính quyền Việt Nam về hùa với Mỹ trong âm mưu quốc tế hóa này, cũng như việc ký kết hợp tác nghiên cứu nguyên tử.
Cùng lúc đó, Hải Quân Mỹ và Nam Hàn thao diễn trong biển Nhật Bản, với hàng không mẫu hạm USS George Washington đóng vai chính. Mỹ còn báo trước lần sau sẽ tập diễn trong biển Hoàng Hải. Biển này nằm giữa Hàn Quốc và Trung Quốc, máy bay F 18 từ mẫu hạm có thể bay tới Bắc Kinh rồi trở về. Bắc Kinh lại lên tiếng phản đối lần nữa.
Sau cuộc tập trận ở phía Bắc, hàng không mẫu hạm USS George Washington đi về phía Nam, tới ngoài biển Ðà Nẵng. Nhiều viên chức quân sự Việt Nam lên thăm chiếc tầu này trong lúc nó lượn vòng qua các đảo thuộc Hoàng Sa. Nhiều người Việt Nam yên tâm hơn khi thấy Hải Quân Mỹ vẫn có mặt trong vùng Biển Ðông của nước ta. Vì ai cũng ghi nhớ, Hải Quân Trung Cộng vẫn không ngừng tấn công các tầu đánh cá Việt Nam, bắn thuyền, cướp của, bắt cóc các ngư phủ đòi tiền chuộc; và không biết trong tương lai sẽ còn làm gì nữa. Indonesia, Malaysia, Phi Luật Tân cũng thường xuyên lo Trung Cộng gây sự về chủ quyền trên các đảo. Ít nhất, bây giờ có tầu chiến Mỹ ở đó, vùng này không thể là cái “ao nhà” của người Trung Hoa.
USS George Washington là chiếc tầu lớn nhất của Hải Quân Mỹ, hoạt động trong vùng biển từ Nhật Bản tới Singapore; có đường bay diện tích 18,000 mét vuông và dài hơn 300 mét. Tầu có sức chở 6,250 quân; nhà bếp có thể dọn 18,000 bữa ăn mỗi ngày với bốn máy lọc nước sản xuất 1.5 triệu lít nước; 4 thang máy dùng vào việc đưa 80 chiếc máy bay từ hầm lên sân bay hoặc ngược lại. Mẫu hạm này có mặt thường xuyên ở phía Tây Thái Bình Dương.
Trung Quốc đang học chế tạo hàng không mẫu hạm, chiếc đầu tiên mua lại của Ukraina đang được cải thiện để người Trung Hoa học phương pháp chế tạo. Phải mất một vài thế hệ nữa họ mới có được một lực lượng hải quân tương đương với Mỹ. Trong khi chờ đợi, họ chế các vũ khí nhằm hạn chế khả năng hành động của Mỹ. Trung Quốc đang sản xuất một loại hỏa tiễn Ðông Phong mới, Dong Feng 21D. Ðến cuối năm nay thì sẽ được bắn thử lần cuối cùng, hỏa tiễn này bay với tốc độ gấp 10 lần âm thanh và có khả năng bắn trúng chính xác một hàng không mẫu hạm đang di chuyển ở cách xa 1,500 cây số. Tầm bắn này sẽ ngăn chặn tầu chiến ngoại quốc từ khoảng cách rất xa, trước khi tới gần bờ biển Trung Quốc 18,000 kilô mét. Tháng 9 năm 2009, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates đã nói trước một đại hội Không Quân rằng Hải Quân Trung Quốc còn lâu mới có thể so sánh với Mỹ, nhưng ngay bây giờ họ có thể đe dọa trên sự vận chuyển và giảm bớt ưu thế chiến lược của Mỹ. Năm 2007 họ cũng đã bắn hỏa tiễn phá vỡ một vệ tinh đang bay ngoài khí quyển trái đất. Từ đầu năm 2010, Trung Quốc đã thí nghiệm thành công loại hỏa tiễn phòng thủ có thể bắn hạ những hỏa tiễn đang bay tấn công họ. Cả hai loại vũ khí đó đều nhắm vô hiệu hóa vũ khí Mỹ khi hai nước xung đột vì Mỹ muốn bảo vệ Ðài Loan. Nhưng mặt khác, Mỹ cũng vẫn bán hỏa tiễn Patriot cho Ðài Loan có thể bắn hạ các hỏa tiễn Trung Quốc đang bày hơn một ngàn chiếc trên bờ biển Phúc Kiến nhắm vào Ðài Loan.
Trên mạng Xinhuanet.com của Tân Hoa Xã, một bài không ký tên gần đây đã tưởng tượng cảnh một ngày nào đó Trung Quốc tấn công Ðài Loan và Mỹ đưa USS George Washington tới bảo vệ hòn đảo này. Trong câu chuyện giả tưởng này, Trung Quốc phóng một trận mưa Ðông Phong 22D, mấy đầu đạn chọc thủng sườn chiếc tầu Mỹ, phá hỏng sân bay làm tê liệt các phi cơ Mỹ. Ðợt phóng DF 22D thứ nhì phá hư động cơ tầu, cùng lúc đó phi cơ Trung Quốc từ lục địa bay ra tấn công. Các hỏa tiễn đợt thứ ba đưa chiếc USS George Washington chìm xuống đáy biển.
Ðó là chuyện Tầu. Ở Mỹ cũng có người viết truyện giả tưởng. Cựu sĩ quan hải quân James Kraska viết một bài trên tạp chí Orbis, số đầu năm (Winter) 2010, nhan đề “Nước Mỹ đã thua trận hải chiến năm 2015 như thế nào?” Kraska tưởng tượng vào năm 2015 một ngày USS George Washington, trong lúc đang di chuyển về hải cảng Yukosuka thì bị hỏa tiễn DF 22D đánh đắm. Hơn 4,000 thủy thủ và phi công thiệt mạng, mất 80 chiếc phi cơ. Từ đó, Trung Quốc làm bá chủ phía Tây Thái Bình Dương và cả Châu Á! Bài báo này cốt kêu gọi các nhà chính trị Mỹ phải quan tâm tăng cường sức mạnh hải quân, không nên chỉ chú tâm vào việc chống khủng bố và những trận chiến tranh nho nhỏ như Iraq và Afghanistan!
Hai câu chuyện giả tưởng trên đây cho thấy trong cả 2 nước Mỹ và Trung Quốc có người đã lo có ngày, một ngày không xa, hai nước sẽ đụng độ! Nhưng trong vòng 20 năm nữa, đó là chuyện khó xảy ra. Trước hết, cán cân quân sự vẫn nghiêng về phía Mỹ, trên toàn thế giới và trong vùng Á Châu. Hơn nữa, kinh tế Trung Quốc chưa đủ mạnh để gây chiến với Mỹ dù trong phạm vi địa phương Á Châu.
Tuy đến cuối năm nay Trung Quốc có thể bắt đầu chế tạo DF 22D nhưng tốc độ sản xuất vẫn còn hạn chế. Việc chế hỏa tiễn không giản dị như việc may quần áo hoặc ráp máy móc điện tử. Với ngân sách quân sự chỉ lớn bằng một phần mười của Mỹ (một phần năm, nếu nghi ngờ họ che giấu ngân sách) thì phải mất nhiều chục năm số tầu thủy, máy bay, hỏa tiễn của nước Tầu mới có khả năng so sánh với lực lượng của Mỹ ở trong vùng Á Châu, Thái Bình Dương. Ngay việc hoàn thiện một loại hỏa tiễn tối tân như FD 21, cũng phải mất hàng chục năm mới tiến đến các bộ phận điện tử phức tạp để tìm mục tiêu và tránh đạn, tinh xảo như Mỹ.
Ngân sách quân sự của Trung Quốc lên tới gần 80 tỷ đô la Mỹ, nhưng cũng chưa lớn bằng ngân sách quốc phòng của ba nước Nhật Bản, Nam Hàn và Ðài Loan cộng lại. Riêng một vụ bán vũ khí cho Ðài Loan mà Tổng Thống Obama mới ký cũng trị giá trên 6 tỷ đô la rồi. Sức mạnh vũ khí của Không Quân Trung Quốc chỉ bằng một phần 10 của Mỹ, và xấp xỉ bằng Nhật Bản. Chính phủ Mỹ mới giảm bớt một chiếc hàng không mẫu hạm cho “về hưu” chỉ còn 10 chiếc, nhưng vẫn gấp 10 Trung Quốc. Số tầu ngầm của Trung Quốc ít hơn của Mỹ, tuy rằng lớn gần gấp đôi tổng số của Nhật, Nam Hàn và Ðài Loan. Với tương quan lực lượng như vậy, chắc những người lãnh đạo Trung Quốc không nghĩ tới chiến tranh với Mỹ và các đồng minh của Mỹ.
Hiện nay không ai tin Mỹ và Trung Quốc phải đánh nhau. Tháng 4 vừa qua, chiến hạm U.S.S. Fitzgerald, 6,800 tấn, thuộc Ðệ Thất Hạm đội đã tới Thanh Ðảo cùng hải quân của 21 nước khác tham dự lễ kỷ niệm ngày thành lập Hải Quân Trung Cộng, khi mấy chiếc tầu chiến của Quốc Dân đảng đào tẩu sang phía địch, năm 1950, thay vì chạy sang Ðài Loan!
Nhưng lý do lớn nhất để hai nước không đánh nhau là các quyền lợi kinh tế của họ gắn bó chặt chẽ. Mỗi ngày công ty Wal Mart nhập cảng một tỷ Mỹ kim hàng hóa từ Trung Quốc để bày bán khắp nước Mỹ. Tiền do dân tiêu thụ ở Mỹ trả không được đưa tới tay người lao động Trung Hoa mà một số lớn lại được đem trở về Mỹ. Vì Bắc Kinh đang cầm trong tay những giấy nợ trị giá 800 tỷ Mỹ kim của chính phủ Mỹ, chưa kể các món đầu tư vào các ngân hàng và công ty của Mỹ. Bắc Kinh không thể nào rút hết các “món nợ” đó về, vì chính họ sẽ bị mất hàng trăm tỷ Mỹ kim nếu các chứng khoán đó mất giá trên thị trường khi đem bán nhiều quá.
Nhưng lý do quan trọng nhất khiến Trung Quốc không muốn gây chiến tranh là nền kinh tế của họ còn rất mong manh. Ðằng sau những con số về Tổng Sản Lượng Nội Ðịa gia tăng là những chính sách không thể kéo dài được vì thiếu quân bình và quá tùy thuộc thị trường xuất cảng. Chế độ cộng sản bảo vệ các doanh nghiệp nhà nuớc khiến cho tài nguyên đất nước bị phí phạm, trong khi hai nền tảng của sự thịnh vượng hiện nay đang bắt đầu yếu dần. Ðó là số nhân lực rẻ tiền và dân chúng bị cưỡng ép phải tiết kiệm với một tỷ lệ rất cao. Dân số Trung Hoa đang thay đổi, số người trong tuổi lao động giảm dần, số người già tăng lên. Chi tiêu cho những người về hưu sẽ gia tăng, làm giảm bớt số tiết kiệm chung của xã hội. Khi bị mất 2 “lợi thế tương đối” đó, kinh tế Trung Hoa sẽ bước chậm lại. Với tình trạng kinh tế còn đang phát triển và dựa vào xuất cảng, Trung Quốc không thể nào gây chiến tranh mà không bị các nước khác trừng phạt. Chỉ cần Nhật Bản, Mỹ và Âu Châu cấm vận trong một thời gian ngắn là đủ khiến kinh tế Trung Quốc ngưng chạy. Chế độ cộng sản sẽ sụp đổ nếu kinh tế không tiếp tục tăng lên như hiện nay.
Về phía nước Mỹ, họ cũng không có lý do nào để gây chiến với Trung Quốc. Chính sách của Mỹ vẫn là đóng vai ông nhà giầu, buôn bán làm ăn với tất cả các nước trong hòa bình thì có lợi hơn là đánh nhau.
Nhưng nếu giữa Mỹ và Trung Quốc xảy ra xung đột quân sự thì có thể đoán chắc lý do không thể nào vì Việt Nam. Có thể nói, trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, từ thế kỷ trước đến giờ, Việt Nam không phải là điểm quan trọng nhất, mà chỉ là một quân cờ trong cả bàn cờ Á Châu. Từ năm 1950 Mỹ lo bảo vệ Nam Hàn, Ðài Loan, và Việt Nam vì lo khối cộng sản sẽ bành trướng khắp Á Châu, sẽ lan sang Nhật Bản, Phi Luật Tân, Mã Lai, Thái Lan, Ấn Ðộ, v.v... Khi thấy các quốc gia trong vùng này đã đủ mạnh nhờ phát triển kinh tế, và khối cộng sản rạn nứt vì xung đột Nga, Hoa, thì lúc đó Mỹ sẵn sàng buông Nam Việt Nam ngay, không muốn tốn tiền thêm nữa. Có thể nói dân Mỹ chống chiến tranh Việt Nam trong những năm từ 1965 vì họ thấy Tổng Thống Johnson đã bỏ quá nhiều tiền vốn vào một cuộc đầu tư nhỏ, không tương xứng. Có thể đạt được cùng những mục tiêu địa lý chính trị đó với số đầu tư nhỏ hơn nhiều. Ông Nixon trong khi tranh cử năm 1968 đã báo trước cho Ðại Sứ Nga Anatoly Dobrynin biết nếu đắc cử ông sẽ rút quân, sau đó miền Nam Việt Nam trở thành cộng sản cũng được. Và khi lên làm tổng thống rồi, ông Nixon đã đi Tầu, vấn đề Việt Nam càng trở thành thứ yếu.
Liệu bây giờ, đối với quyền lợi nước Mỹ, Việt Nam có trở thành quan trọng hơn thế kỷ trước hay không? Chắc là không. Liệu bây giờ mối đe dọa của Trung Quốc đối với miền Ðông Á Châu có lớn hơn cuối thế kỷ trước hay không? Chắc là có. Nhưng để đối đầu với Trung Quốc trong vùng này, người ta phải dựa vào những nước mạnh như Nhật Bản, Nam Hàn, Ðài Loan, Indonesia, chứ không phải những nước còn nghèo chưa thực sự phát triển.
Ngô Nhân Dụng
Trung Quốc có lý do để than phiền với Mỹ. Cả hai nước trong tháng qua đã biểu diễn sức mạnh quân sự ở vùng biển phía Ðông lục địa Á Châu. Nhưng hiển nhiên là vùng này nằm sát bên nước Tầu và rất xa nước Mỹ. Thử tượng tượng nếu Tầu hay Nga đem một hạm đội tới vùng biển Trung Mỹ thao diễn cùng với Hải Quân Cuba, dân Mỹ có ngồi im ngó hay không? Phải to tiếng!
Như vậy, liệu hai nước sắp đụng độ nhau chăng? Trong ngắn hạn thì chuyện đó khó xảy ra. Vì nếu đánh nhau cả hai đều sẽ thiệt hại nhiều hơn là được lợi. Hồi 1960 Nga đem hỏa tiễn sang Cuba, tình trạng gay cấn hơn nhiều. Nhưng không ai có thể đoán chắc trong 25 hoặc 30 năm nữa sẽ không có chiến tranh. Cũng như năm 1910, Dân Biểu Anh Quốc Norman Angell đã in một cuốn sách quả quyết hai nước Anh và Ðức không thể nào đánh nhau được vì không được lợi gì về kinh tế. Cuốn sách “Ảo tưởng vĩ đại” của ông được tái bản nhiều lần trước khi hai nước lăn vào cuộc giết chóc năm 1914.
Mà hiện nay thì Mỹ và Trung Quốc có quá nhiều xung khắc. Vào tháng 7, 2010, ba tầu ngầm của Mỹ mang theo tổng cộng 452 hỏa tiễn Tomakawk đến ba hải cảng vùng Á Châu chung quanh nước Tầu. Cuối tháng, bà ngoại trưởng Mỹ nói tại hội nghị ASEAN ở Hà Nội về chủ trương bảo vệ quyền lợi của Mỹ trong vùng biển Ðông nước ta, khuyến cáo không nước nào nên dùng vũ lực. Mấy ngày sau, Hải Quân Trung Quốc đã mở cuộc thao diễn ngay trong vùng biển này. Ðó là một cuộc tập dượt lớn nhất từ trước đến nay của quân đội Trung Hoa. Bộ ngoại giao Trung Quốc phản đối Mỹ có ý quốc tế hóa các tranh chấp ở biển Ðông và cảnh cáo chính quyền Việt Nam về hùa với Mỹ trong âm mưu quốc tế hóa này, cũng như việc ký kết hợp tác nghiên cứu nguyên tử.
Cùng lúc đó, Hải Quân Mỹ và Nam Hàn thao diễn trong biển Nhật Bản, với hàng không mẫu hạm USS George Washington đóng vai chính. Mỹ còn báo trước lần sau sẽ tập diễn trong biển Hoàng Hải. Biển này nằm giữa Hàn Quốc và Trung Quốc, máy bay F 18 từ mẫu hạm có thể bay tới Bắc Kinh rồi trở về. Bắc Kinh lại lên tiếng phản đối lần nữa.
Sau cuộc tập trận ở phía Bắc, hàng không mẫu hạm USS George Washington đi về phía Nam, tới ngoài biển Ðà Nẵng. Nhiều viên chức quân sự Việt Nam lên thăm chiếc tầu này trong lúc nó lượn vòng qua các đảo thuộc Hoàng Sa. Nhiều người Việt Nam yên tâm hơn khi thấy Hải Quân Mỹ vẫn có mặt trong vùng Biển Ðông của nước ta. Vì ai cũng ghi nhớ, Hải Quân Trung Cộng vẫn không ngừng tấn công các tầu đánh cá Việt Nam, bắn thuyền, cướp của, bắt cóc các ngư phủ đòi tiền chuộc; và không biết trong tương lai sẽ còn làm gì nữa. Indonesia, Malaysia, Phi Luật Tân cũng thường xuyên lo Trung Cộng gây sự về chủ quyền trên các đảo. Ít nhất, bây giờ có tầu chiến Mỹ ở đó, vùng này không thể là cái “ao nhà” của người Trung Hoa.
USS George Washington là chiếc tầu lớn nhất của Hải Quân Mỹ, hoạt động trong vùng biển từ Nhật Bản tới Singapore; có đường bay diện tích 18,000 mét vuông và dài hơn 300 mét. Tầu có sức chở 6,250 quân; nhà bếp có thể dọn 18,000 bữa ăn mỗi ngày với bốn máy lọc nước sản xuất 1.5 triệu lít nước; 4 thang máy dùng vào việc đưa 80 chiếc máy bay từ hầm lên sân bay hoặc ngược lại. Mẫu hạm này có mặt thường xuyên ở phía Tây Thái Bình Dương.
Trung Quốc đang học chế tạo hàng không mẫu hạm, chiếc đầu tiên mua lại của Ukraina đang được cải thiện để người Trung Hoa học phương pháp chế tạo. Phải mất một vài thế hệ nữa họ mới có được một lực lượng hải quân tương đương với Mỹ. Trong khi chờ đợi, họ chế các vũ khí nhằm hạn chế khả năng hành động của Mỹ. Trung Quốc đang sản xuất một loại hỏa tiễn Ðông Phong mới, Dong Feng 21D. Ðến cuối năm nay thì sẽ được bắn thử lần cuối cùng, hỏa tiễn này bay với tốc độ gấp 10 lần âm thanh và có khả năng bắn trúng chính xác một hàng không mẫu hạm đang di chuyển ở cách xa 1,500 cây số. Tầm bắn này sẽ ngăn chặn tầu chiến ngoại quốc từ khoảng cách rất xa, trước khi tới gần bờ biển Trung Quốc 18,000 kilô mét. Tháng 9 năm 2009, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates đã nói trước một đại hội Không Quân rằng Hải Quân Trung Quốc còn lâu mới có thể so sánh với Mỹ, nhưng ngay bây giờ họ có thể đe dọa trên sự vận chuyển và giảm bớt ưu thế chiến lược của Mỹ. Năm 2007 họ cũng đã bắn hỏa tiễn phá vỡ một vệ tinh đang bay ngoài khí quyển trái đất. Từ đầu năm 2010, Trung Quốc đã thí nghiệm thành công loại hỏa tiễn phòng thủ có thể bắn hạ những hỏa tiễn đang bay tấn công họ. Cả hai loại vũ khí đó đều nhắm vô hiệu hóa vũ khí Mỹ khi hai nước xung đột vì Mỹ muốn bảo vệ Ðài Loan. Nhưng mặt khác, Mỹ cũng vẫn bán hỏa tiễn Patriot cho Ðài Loan có thể bắn hạ các hỏa tiễn Trung Quốc đang bày hơn một ngàn chiếc trên bờ biển Phúc Kiến nhắm vào Ðài Loan.
Trên mạng Xinhuanet.com của Tân Hoa Xã, một bài không ký tên gần đây đã tưởng tượng cảnh một ngày nào đó Trung Quốc tấn công Ðài Loan và Mỹ đưa USS George Washington tới bảo vệ hòn đảo này. Trong câu chuyện giả tưởng này, Trung Quốc phóng một trận mưa Ðông Phong 22D, mấy đầu đạn chọc thủng sườn chiếc tầu Mỹ, phá hỏng sân bay làm tê liệt các phi cơ Mỹ. Ðợt phóng DF 22D thứ nhì phá hư động cơ tầu, cùng lúc đó phi cơ Trung Quốc từ lục địa bay ra tấn công. Các hỏa tiễn đợt thứ ba đưa chiếc USS George Washington chìm xuống đáy biển.
Ðó là chuyện Tầu. Ở Mỹ cũng có người viết truyện giả tưởng. Cựu sĩ quan hải quân James Kraska viết một bài trên tạp chí Orbis, số đầu năm (Winter) 2010, nhan đề “Nước Mỹ đã thua trận hải chiến năm 2015 như thế nào?” Kraska tưởng tượng vào năm 2015 một ngày USS George Washington, trong lúc đang di chuyển về hải cảng Yukosuka thì bị hỏa tiễn DF 22D đánh đắm. Hơn 4,000 thủy thủ và phi công thiệt mạng, mất 80 chiếc phi cơ. Từ đó, Trung Quốc làm bá chủ phía Tây Thái Bình Dương và cả Châu Á! Bài báo này cốt kêu gọi các nhà chính trị Mỹ phải quan tâm tăng cường sức mạnh hải quân, không nên chỉ chú tâm vào việc chống khủng bố và những trận chiến tranh nho nhỏ như Iraq và Afghanistan!
Hai câu chuyện giả tưởng trên đây cho thấy trong cả 2 nước Mỹ và Trung Quốc có người đã lo có ngày, một ngày không xa, hai nước sẽ đụng độ! Nhưng trong vòng 20 năm nữa, đó là chuyện khó xảy ra. Trước hết, cán cân quân sự vẫn nghiêng về phía Mỹ, trên toàn thế giới và trong vùng Á Châu. Hơn nữa, kinh tế Trung Quốc chưa đủ mạnh để gây chiến với Mỹ dù trong phạm vi địa phương Á Châu.
Tuy đến cuối năm nay Trung Quốc có thể bắt đầu chế tạo DF 22D nhưng tốc độ sản xuất vẫn còn hạn chế. Việc chế hỏa tiễn không giản dị như việc may quần áo hoặc ráp máy móc điện tử. Với ngân sách quân sự chỉ lớn bằng một phần mười của Mỹ (một phần năm, nếu nghi ngờ họ che giấu ngân sách) thì phải mất nhiều chục năm số tầu thủy, máy bay, hỏa tiễn của nước Tầu mới có khả năng so sánh với lực lượng của Mỹ ở trong vùng Á Châu, Thái Bình Dương. Ngay việc hoàn thiện một loại hỏa tiễn tối tân như FD 21, cũng phải mất hàng chục năm mới tiến đến các bộ phận điện tử phức tạp để tìm mục tiêu và tránh đạn, tinh xảo như Mỹ.
Ngân sách quân sự của Trung Quốc lên tới gần 80 tỷ đô la Mỹ, nhưng cũng chưa lớn bằng ngân sách quốc phòng của ba nước Nhật Bản, Nam Hàn và Ðài Loan cộng lại. Riêng một vụ bán vũ khí cho Ðài Loan mà Tổng Thống Obama mới ký cũng trị giá trên 6 tỷ đô la rồi. Sức mạnh vũ khí của Không Quân Trung Quốc chỉ bằng một phần 10 của Mỹ, và xấp xỉ bằng Nhật Bản. Chính phủ Mỹ mới giảm bớt một chiếc hàng không mẫu hạm cho “về hưu” chỉ còn 10 chiếc, nhưng vẫn gấp 10 Trung Quốc. Số tầu ngầm của Trung Quốc ít hơn của Mỹ, tuy rằng lớn gần gấp đôi tổng số của Nhật, Nam Hàn và Ðài Loan. Với tương quan lực lượng như vậy, chắc những người lãnh đạo Trung Quốc không nghĩ tới chiến tranh với Mỹ và các đồng minh của Mỹ.
Hiện nay không ai tin Mỹ và Trung Quốc phải đánh nhau. Tháng 4 vừa qua, chiến hạm U.S.S. Fitzgerald, 6,800 tấn, thuộc Ðệ Thất Hạm đội đã tới Thanh Ðảo cùng hải quân của 21 nước khác tham dự lễ kỷ niệm ngày thành lập Hải Quân Trung Cộng, khi mấy chiếc tầu chiến của Quốc Dân đảng đào tẩu sang phía địch, năm 1950, thay vì chạy sang Ðài Loan!
Nhưng lý do lớn nhất để hai nước không đánh nhau là các quyền lợi kinh tế của họ gắn bó chặt chẽ. Mỗi ngày công ty Wal Mart nhập cảng một tỷ Mỹ kim hàng hóa từ Trung Quốc để bày bán khắp nước Mỹ. Tiền do dân tiêu thụ ở Mỹ trả không được đưa tới tay người lao động Trung Hoa mà một số lớn lại được đem trở về Mỹ. Vì Bắc Kinh đang cầm trong tay những giấy nợ trị giá 800 tỷ Mỹ kim của chính phủ Mỹ, chưa kể các món đầu tư vào các ngân hàng và công ty của Mỹ. Bắc Kinh không thể nào rút hết các “món nợ” đó về, vì chính họ sẽ bị mất hàng trăm tỷ Mỹ kim nếu các chứng khoán đó mất giá trên thị trường khi đem bán nhiều quá.
Nhưng lý do quan trọng nhất khiến Trung Quốc không muốn gây chiến tranh là nền kinh tế của họ còn rất mong manh. Ðằng sau những con số về Tổng Sản Lượng Nội Ðịa gia tăng là những chính sách không thể kéo dài được vì thiếu quân bình và quá tùy thuộc thị trường xuất cảng. Chế độ cộng sản bảo vệ các doanh nghiệp nhà nuớc khiến cho tài nguyên đất nước bị phí phạm, trong khi hai nền tảng của sự thịnh vượng hiện nay đang bắt đầu yếu dần. Ðó là số nhân lực rẻ tiền và dân chúng bị cưỡng ép phải tiết kiệm với một tỷ lệ rất cao. Dân số Trung Hoa đang thay đổi, số người trong tuổi lao động giảm dần, số người già tăng lên. Chi tiêu cho những người về hưu sẽ gia tăng, làm giảm bớt số tiết kiệm chung của xã hội. Khi bị mất 2 “lợi thế tương đối” đó, kinh tế Trung Hoa sẽ bước chậm lại. Với tình trạng kinh tế còn đang phát triển và dựa vào xuất cảng, Trung Quốc không thể nào gây chiến tranh mà không bị các nước khác trừng phạt. Chỉ cần Nhật Bản, Mỹ và Âu Châu cấm vận trong một thời gian ngắn là đủ khiến kinh tế Trung Quốc ngưng chạy. Chế độ cộng sản sẽ sụp đổ nếu kinh tế không tiếp tục tăng lên như hiện nay.
Về phía nước Mỹ, họ cũng không có lý do nào để gây chiến với Trung Quốc. Chính sách của Mỹ vẫn là đóng vai ông nhà giầu, buôn bán làm ăn với tất cả các nước trong hòa bình thì có lợi hơn là đánh nhau.
Nhưng nếu giữa Mỹ và Trung Quốc xảy ra xung đột quân sự thì có thể đoán chắc lý do không thể nào vì Việt Nam. Có thể nói, trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, từ thế kỷ trước đến giờ, Việt Nam không phải là điểm quan trọng nhất, mà chỉ là một quân cờ trong cả bàn cờ Á Châu. Từ năm 1950 Mỹ lo bảo vệ Nam Hàn, Ðài Loan, và Việt Nam vì lo khối cộng sản sẽ bành trướng khắp Á Châu, sẽ lan sang Nhật Bản, Phi Luật Tân, Mã Lai, Thái Lan, Ấn Ðộ, v.v... Khi thấy các quốc gia trong vùng này đã đủ mạnh nhờ phát triển kinh tế, và khối cộng sản rạn nứt vì xung đột Nga, Hoa, thì lúc đó Mỹ sẵn sàng buông Nam Việt Nam ngay, không muốn tốn tiền thêm nữa. Có thể nói dân Mỹ chống chiến tranh Việt Nam trong những năm từ 1965 vì họ thấy Tổng Thống Johnson đã bỏ quá nhiều tiền vốn vào một cuộc đầu tư nhỏ, không tương xứng. Có thể đạt được cùng những mục tiêu địa lý chính trị đó với số đầu tư nhỏ hơn nhiều. Ông Nixon trong khi tranh cử năm 1968 đã báo trước cho Ðại Sứ Nga Anatoly Dobrynin biết nếu đắc cử ông sẽ rút quân, sau đó miền Nam Việt Nam trở thành cộng sản cũng được. Và khi lên làm tổng thống rồi, ông Nixon đã đi Tầu, vấn đề Việt Nam càng trở thành thứ yếu.
Liệu bây giờ, đối với quyền lợi nước Mỹ, Việt Nam có trở thành quan trọng hơn thế kỷ trước hay không? Chắc là không. Liệu bây giờ mối đe dọa của Trung Quốc đối với miền Ðông Á Châu có lớn hơn cuối thế kỷ trước hay không? Chắc là có. Nhưng để đối đầu với Trung Quốc trong vùng này, người ta phải dựa vào những nước mạnh như Nhật Bản, Nam Hàn, Ðài Loan, Indonesia, chứ không phải những nước còn nghèo chưa thực sự phát triển.
Ngành toán học Pháp thành công
nhờ hệ thống tuyển chọn sinh viên ưu tú

Hai nhà toán học đoạt giải Fields 2010 :
Ngô Bảo Châu ( trái ) et Cédric Villani ( phải).
Ảnh : MFO và Valerie Touchant-Landais / RFI ghép hình.
Thụy My RFI
« Các nhà toán học Pháp lên đến tột đỉnh vinh quang ». Đó là tựa đề bài xã luận đăng ngay trên trang nhất của nhật báo uy tín Pháp, tờ Le Monde ra từ chiều hôm qua, bình luận về sự kiện hai nhà toán học Ngô Bảo Châu và Cédric Villani đã đoạt được giải thưởng Fields, được coi như giải Nobel ngành toán.
Tờ báo nói đến một nghịch lý : trong cuộc thi Olympic toán quốc tế năm nay, nước Pháp chỉ đứng hàng thứ 31. Nhưng hôm qua tại Hyderabad, Ấn Độ, trong số bốn nhà toán học đoạt giải thưởng Fields vốn có giá trị như một giải Nobel toán học, đã có đến hai người Pháp. Đó là Ngô Bảo Châu, giáo sư đại học Chicago và Cédric Villani, giám đốc Viện nghiên cứu Poincaré ở Paris. Hai nhà toán học này đại diện cho hai mặt khác nhau của ngành toán học nước Pháp.
Ngô Bảo Châu là người gốc Việt, nghiên cứu về lý thuyết số học, và anh đã mở được một cánh cửa mà nhiều người tin là không thể xâm nhập nổi. Còn Cédric Villani nghiên cứu những hiện tượng vật lý cụ thể hơn. Le Monde cho biết thêm, kèm theo giải thưởng Fields – được trao bốn năm một lần cho các nhà toán học dưới 40 tuổi – còn có giải thưởng Gauss, cũng được trao cho một người Pháp là Yves Meyer, cho các nghiên cứu về lý thuyết các làn sóng nhỏ cho phép phát triển các hệ thống nén hình như JPEG.
Le Monde nhận định, như vậy ngành toán học Pháp đã được vinh danh trên mọi phương diện. Và sự kiện này cũng đã khẳng định truyền thống quốc gia xưa nay : từ khi giải thưởng cao quý này được khai sinh vào năm 1936, gần một phần tư số huy chương Fields đã được trao cho các nhà toán học Pháp, hay đã từng học tại Pháp, mà thường nhất là xuất thân từ trường đại học lẫy lừng của Pháp là Ecole Normal Supérieur, tạm dịch là trường đại học sư phạm. Vui mừng trước thành tựu mới này, nhưng tờ báo cũng cho rằng chưa nên ca khúc khải hoàn.
Nếu ngành toán vẫn đứng đầu trong các ngành khoa học và đã leo lên tột đỉnh vinh quang tại Hyderabad, thì trong bảng xếp hạng Thượng Hải cách đây vài ngày, trường đại học danh giá của Pháp là Paris VI chỉ được xếp thứ 39 trong số các trường đại học trên thế giới.
Như vậy vinh quang do ngành toán học Pháp mang lại vẫn là một ngoại lệ. Ngành này cho đến nay vẫn được hưởng lợi từ hệ thống đào tạo lâu nay, với các lớp dự bị để tuyển chọn vào những trường đại học nổi tiếng, khiến cho các trường đại học Sư phạm và Bách khoa thu hút được những bộ óc thông minh nhất. Hơn nữa, đây là một ngành học ít tốn kém, so với các ngành như vật lý hay sinh học, vốn cần nhiều hỗ trợ trên các phương diện tài chính, kỹ thuật, công nghiệp…để có thể lao vào cuộc đua trên trường quốc tế. Theo nhận định của Le Monde, sự cạnh tranh trên thế giới đặc biệt về lương bổng là rất gay gắt. Tờ báo cảnh giác, mức lương cao thường thu hút các nhà toán học Pháp đem tài năng của mình phục vụ cho nước khác.
Le Monde kết luận, sự kiện hai nhà toán học Pháp giành được giải thưởng cao quý nhất là một câu trả lời đích đáng cho những nghi ngờ lâu nay, thậm chí ở cấp cao nhất của nhà nước, về sự hữu ích của các ngành nghiên cứu cơ bản vốn không cho ra kểt quả cụ thể trước mắt. Đây là một bài học cần được
Các tờ báo Pháp xuất bản hôm nay cũng đưa tin về giải thưởng Fields, với tấm ảnh cả hai nhà toán học đang cầm chiếc huy chương, và đều thống nhất với ý kiến cho rằng thành tựu của ngành toán Pháp phần lớn nhờ vào hệ thống tuyển chọn sinh viên ưu tú vào các trường đại học nổi tiếng qua các lớp dự bị.
Nhật báo cánh hữu Le Figaro cũng đưa tin trang nhất, và ở bài viết trang trong, đã phấn khởi nhận xét, sau những huy chương vàng của thể thao Pháp, đến lượt những huy chương vàng khác, lần này dành cho chất xám. Chiếc huy chương bằng vàng thật của giải Fields, mặt sau có chân dung nhà toán học thời cổ đại Archimède, có giá trị trên 10.000 euro.
Tờ báo cho biết, tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy và thủ tướng François Fillon đều lên tiếng khen ngợi thành tựu của hai nhà toán học trẻ, còn Bộ trưởng Bộ Nghiên cứu Valérie Pécresse cho rằng giải thưởng năm nay «Một lần nữa cho thấy sự xuất sắc của ngành nghiên cứu toán học Pháp ». Tính đến nay, nước Pháp đã chiếm 11/52 giải thưởng Fields, đứng nhì sau Hoa Kỳ.
Le Figaro thông tin, cả hai khuôn mặt đoạt giải đều đến với toán học rất sớm. Tờ báo nhấn mạnh đến trường hợp Ngô Bảo Châu, sinh năm 1972 tại Hà Nội, nhập quốc tịch Pháp vào năm 2010, nhờ khả năng toán học đáng kinh ngạc đã được học bổng nghiên cứu tại đại học Paris VI, và sau khi đậu tiến sĩ đã giảng dạy tại Hoa Kỳ. Công trình của ông đã đặt chiếc cầu nối giữa hai lãnh vực tách biệt là hình học và lý thuyết nhóm, được tuần báo Times vào cuối năm qua đánh giá là « Một trong những phát hiện ngoạn mục nhất trong năm ».
Nếu Le Figaro đặt câu hỏi, bao giờ mới có được một nhà toán học nữ người Pháp đoạt được huy chương, thì nhật báo Le Parisien tỏ ra lo âu trước tình hình học sinh trung học Pháp ngày càng dở toán. Còn nhật báo kinh tế Les Echos nhấn mạnh đến sự tự chủ của trường đại học Paris VI trong việc quản lý công tác nghiên cứu, việc kết hợp với các trường danh tiếng để tổ chức các khoa song ngành chọn lọc.
Trả lời nhật báo cánh tả Libération, ông Jean-Pierre Bourguignon, giám đốc Viện Nghiên cứu Chuyên sâu Khoa học cho rằng, sở dĩ nước Pháp vẫn là một trong những quốc gia hàng đầu về toán học, là do đã có sẵn truyền thống. Học lên cao trong ngành toán lâu nay vẫn được quý trọng, thêm vào đó là vai trò của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia CNRS. Các tiến sĩ trẻ có thể tìm được việc làm ổn định, và có thể yên tâm lao vào các công trình nghiên cứu gai góc.
Ông cho biết, hiện nay có 3.500 nhà toán học tại Pháp, trong đó có 500 đến 600 nhà nghiên cứu ở độ tuổi 30 đến 40. Đây là một thế hệ trẻ đầy tương lai, cần phải tạo điều kiện cho họ. Ngành toán tuy ít tốn kém nhưng cũng cần khoảng 15 triệu euro một năm, và ông Bourguignon hy vọng với thành tựu mới đây của hai nhà toán học trẻ Ngô Bảo Châu và Cédric Villani, chính phủ sẽ tiếp tục hỗ trợ cho ngành này.
nhờ hệ thống tuyển chọn sinh viên ưu tú

Hai nhà toán học đoạt giải Fields 2010 :
Ngô Bảo Châu ( trái ) et Cédric Villani ( phải).
Ảnh : MFO và Valerie Touchant-Landais / RFI ghép hình.
Thụy My RFI
« Các nhà toán học Pháp lên đến tột đỉnh vinh quang ». Đó là tựa đề bài xã luận đăng ngay trên trang nhất của nhật báo uy tín Pháp, tờ Le Monde ra từ chiều hôm qua, bình luận về sự kiện hai nhà toán học Ngô Bảo Châu và Cédric Villani đã đoạt được giải thưởng Fields, được coi như giải Nobel ngành toán.
Tờ báo nói đến một nghịch lý : trong cuộc thi Olympic toán quốc tế năm nay, nước Pháp chỉ đứng hàng thứ 31. Nhưng hôm qua tại Hyderabad, Ấn Độ, trong số bốn nhà toán học đoạt giải thưởng Fields vốn có giá trị như một giải Nobel toán học, đã có đến hai người Pháp. Đó là Ngô Bảo Châu, giáo sư đại học Chicago và Cédric Villani, giám đốc Viện nghiên cứu Poincaré ở Paris. Hai nhà toán học này đại diện cho hai mặt khác nhau của ngành toán học nước Pháp.
Ngô Bảo Châu là người gốc Việt, nghiên cứu về lý thuyết số học, và anh đã mở được một cánh cửa mà nhiều người tin là không thể xâm nhập nổi. Còn Cédric Villani nghiên cứu những hiện tượng vật lý cụ thể hơn. Le Monde cho biết thêm, kèm theo giải thưởng Fields – được trao bốn năm một lần cho các nhà toán học dưới 40 tuổi – còn có giải thưởng Gauss, cũng được trao cho một người Pháp là Yves Meyer, cho các nghiên cứu về lý thuyết các làn sóng nhỏ cho phép phát triển các hệ thống nén hình như JPEG.
Le Monde nhận định, như vậy ngành toán học Pháp đã được vinh danh trên mọi phương diện. Và sự kiện này cũng đã khẳng định truyền thống quốc gia xưa nay : từ khi giải thưởng cao quý này được khai sinh vào năm 1936, gần một phần tư số huy chương Fields đã được trao cho các nhà toán học Pháp, hay đã từng học tại Pháp, mà thường nhất là xuất thân từ trường đại học lẫy lừng của Pháp là Ecole Normal Supérieur, tạm dịch là trường đại học sư phạm. Vui mừng trước thành tựu mới này, nhưng tờ báo cũng cho rằng chưa nên ca khúc khải hoàn.
Nếu ngành toán vẫn đứng đầu trong các ngành khoa học và đã leo lên tột đỉnh vinh quang tại Hyderabad, thì trong bảng xếp hạng Thượng Hải cách đây vài ngày, trường đại học danh giá của Pháp là Paris VI chỉ được xếp thứ 39 trong số các trường đại học trên thế giới.
Như vậy vinh quang do ngành toán học Pháp mang lại vẫn là một ngoại lệ. Ngành này cho đến nay vẫn được hưởng lợi từ hệ thống đào tạo lâu nay, với các lớp dự bị để tuyển chọn vào những trường đại học nổi tiếng, khiến cho các trường đại học Sư phạm và Bách khoa thu hút được những bộ óc thông minh nhất. Hơn nữa, đây là một ngành học ít tốn kém, so với các ngành như vật lý hay sinh học, vốn cần nhiều hỗ trợ trên các phương diện tài chính, kỹ thuật, công nghiệp…để có thể lao vào cuộc đua trên trường quốc tế. Theo nhận định của Le Monde, sự cạnh tranh trên thế giới đặc biệt về lương bổng là rất gay gắt. Tờ báo cảnh giác, mức lương cao thường thu hút các nhà toán học Pháp đem tài năng của mình phục vụ cho nước khác.
Le Monde kết luận, sự kiện hai nhà toán học Pháp giành được giải thưởng cao quý nhất là một câu trả lời đích đáng cho những nghi ngờ lâu nay, thậm chí ở cấp cao nhất của nhà nước, về sự hữu ích của các ngành nghiên cứu cơ bản vốn không cho ra kểt quả cụ thể trước mắt. Đây là một bài học cần được
Các tờ báo Pháp xuất bản hôm nay cũng đưa tin về giải thưởng Fields, với tấm ảnh cả hai nhà toán học đang cầm chiếc huy chương, và đều thống nhất với ý kiến cho rằng thành tựu của ngành toán Pháp phần lớn nhờ vào hệ thống tuyển chọn sinh viên ưu tú vào các trường đại học nổi tiếng qua các lớp dự bị.
Nhật báo cánh hữu Le Figaro cũng đưa tin trang nhất, và ở bài viết trang trong, đã phấn khởi nhận xét, sau những huy chương vàng của thể thao Pháp, đến lượt những huy chương vàng khác, lần này dành cho chất xám. Chiếc huy chương bằng vàng thật của giải Fields, mặt sau có chân dung nhà toán học thời cổ đại Archimède, có giá trị trên 10.000 euro.
Tờ báo cho biết, tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy và thủ tướng François Fillon đều lên tiếng khen ngợi thành tựu của hai nhà toán học trẻ, còn Bộ trưởng Bộ Nghiên cứu Valérie Pécresse cho rằng giải thưởng năm nay «Một lần nữa cho thấy sự xuất sắc của ngành nghiên cứu toán học Pháp ». Tính đến nay, nước Pháp đã chiếm 11/52 giải thưởng Fields, đứng nhì sau Hoa Kỳ.
Le Figaro thông tin, cả hai khuôn mặt đoạt giải đều đến với toán học rất sớm. Tờ báo nhấn mạnh đến trường hợp Ngô Bảo Châu, sinh năm 1972 tại Hà Nội, nhập quốc tịch Pháp vào năm 2010, nhờ khả năng toán học đáng kinh ngạc đã được học bổng nghiên cứu tại đại học Paris VI, và sau khi đậu tiến sĩ đã giảng dạy tại Hoa Kỳ. Công trình của ông đã đặt chiếc cầu nối giữa hai lãnh vực tách biệt là hình học và lý thuyết nhóm, được tuần báo Times vào cuối năm qua đánh giá là « Một trong những phát hiện ngoạn mục nhất trong năm ».
Nếu Le Figaro đặt câu hỏi, bao giờ mới có được một nhà toán học nữ người Pháp đoạt được huy chương, thì nhật báo Le Parisien tỏ ra lo âu trước tình hình học sinh trung học Pháp ngày càng dở toán. Còn nhật báo kinh tế Les Echos nhấn mạnh đến sự tự chủ của trường đại học Paris VI trong việc quản lý công tác nghiên cứu, việc kết hợp với các trường danh tiếng để tổ chức các khoa song ngành chọn lọc.
Trả lời nhật báo cánh tả Libération, ông Jean-Pierre Bourguignon, giám đốc Viện Nghiên cứu Chuyên sâu Khoa học cho rằng, sở dĩ nước Pháp vẫn là một trong những quốc gia hàng đầu về toán học, là do đã có sẵn truyền thống. Học lên cao trong ngành toán lâu nay vẫn được quý trọng, thêm vào đó là vai trò của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia CNRS. Các tiến sĩ trẻ có thể tìm được việc làm ổn định, và có thể yên tâm lao vào các công trình nghiên cứu gai góc.
Ông cho biết, hiện nay có 3.500 nhà toán học tại Pháp, trong đó có 500 đến 600 nhà nghiên cứu ở độ tuổi 30 đến 40. Đây là một thế hệ trẻ đầy tương lai, cần phải tạo điều kiện cho họ. Ngành toán tuy ít tốn kém nhưng cũng cần khoảng 15 triệu euro một năm, và ông Bourguignon hy vọng với thành tựu mới đây của hai nhà toán học trẻ Ngô Bảo Châu và Cédric Villani, chính phủ sẽ tiếp tục hỗ trợ cho ngành này.

Tự Do Cho Phạm Minh Hoàng Kính gởi quí vị và các bạn khắp nơi,
Chúng tôi là một vài học trò của thày Phạm Minh Hoàng và đã vô cùng bàng hoàng trước tin tức tràn ngập trên mạng về vụ thày Hoàng bị bắt giữ điều tra về tội "âm mưu lật đổ chính quyền", theo điều 79 của luật hình sự.
Chúng tôi bàng hoàng vì thày Hoàng là một người rất hiền lành, rất nhiệt tình trong giảng dạy và luôn luôn quan tâm, lo lắng cho sinh viên. Chúng tôi tin tưởng là thày vô tội và rất mong cơ quan điều tra sớm làm sáng tỏ sự việc để trả tự do cho thày Hoàng.
Trong khi chờ đợi thày Hoàng được tự do, theo ý kiến của một số bạn, chúng tôi thiết lập trang blog này để tập trung hết cả tin tức, phản ứng và những quan điểm chung qunh vụ thày Hoàng.
Trang blog là :
http://tudophamminhhoang.wordpress.com/
Chúng tôi kính nhờ quí vị và các bạn phổ biến rộng rãi đường truyền của trang blog nói trên.
Cam ơn quí vị và các bạn
Một nhóm sinh viên Đại Học Bách Khoa TP HCM
Tính chính danh của Ðại lễ Ngàn Năm
Friday, August 20, 2010
* Nguyễn Phương Anh
(Nguồn: Thông Luận 2010)
Phàm việc lễ lạt từ bé đến lớn từ xưa đến nay đều có cái tích của nó. Ðại lễ mang tính chất kinh đô, thủ đô thì càng phải cẩn thận. Tính chính danh phải được đặt lên hàng đầu. Ðâu phải kiểu thương vay khóc mướn mà được việc!
Ðại lễ ngàn năm Thăng Long-Hà Nội đã được duyệt và sẽ cử hành vào ngày 1 đến 10 tháng 10, 2010 với lý do là vào năm 1010 vua Lý Công Uẩn đã dời đô từ Hoa Lư về Ðại La và sau đó đặt tên là Thăng Long. Xét về nội dung của chiếu dời đô:
Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Ðại, lấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Ðinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.
Huống chi thành Ðại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế “long bàn, hổ cứ,” chính giữa Nam Bắc Ðông Tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Chiếu dời đô này hoàn toàn không thấy tinh thần độc lập dân tộc ở chỗ: Bản chiếu dời đô không thấy vị vua Việt Nam nào được vua Lý nêu tới để làm gương mà chỉ thấy chê bai nhà Ðinh, nhà (Tiền) Lê. Lý Thái Tổ lấy việc làm của các triều đại của cường quyền đế quốc Trung Hoa để noi gương. Ông gọi đô hộ Cao Biền là Cao Vương, gọi thành Ðại La là đô cũ. Ðiều này khiến “chiếu dời đô” không thể sánh được với “Nam quốc sơn hà” và “Bình Ngô Ðại Cáo.” Từ đây suy ra việc dùng đại lễ từ 1-10 tháng 10, 2010 với lý do chiếu dời đô, đổi tên Thăng Long là không có tính độc lập dân tộc.
Nếu thực sự cần thiết phải dùng đại lễ vì sự tồn tại của Thăng Long đến nay là 1000 năm thì càng khiên cưỡng. Trong chiếu dời đô Lý Công Uẩn đã nói rõ là ông lấy thành Ðại La làm kinh đô mới chứ không phải là ông phát minh ra vùng đất đó. Tính từ Ðại La đến Hà Nội hiện nay sẽ nhiều hơn 1000 năm rất nhiều, tại sao lại không gọi đại lễ là Ðại La-Hà Nội? Ðại La cũng là nơi định đô của Phùng Hưng chứ đâu chỉ là phủ đô hộ? Kể cả khi coi thành Ðại La là bất chính vì là do Cao Biền xây nên thì tại Hà Nội cũng có vô số kinh đô của các vị vua Việt đóng đô trước cả Lý Thái Tổ; như vùng Cổ Loa của An Dương Vương, Ngô Quyền; vùng Mê Linh của hai Bà Trưng... mà tính độc lập dân tộc luôn được chính danh. Chính Ngô Quyền đóng đô ở Cổ Loa-Hà Nội là người đã đập tan quân Nam Hán và chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc. Có thể là đại lễ Cổ Loa-Hà Nội hay Mê Linh-Hà Nội hay không? Vì lẽ gì ta cứ phải lấy mốc là triều Lý? Ðại lễ này có phải là lễ của riêng triều Lý? Chẳng thể vì một nhẽ là số 1000 vừa tròn vừa đẹp mà làm đại lễ cho số đó; tức là đại lễ MỘT NGÀN. Nếu vì sính chữ thấy Thăng Long mang nghĩa hay mà lờ đi chữ khác và lờ Cổ Loa đi vì dính đến con số 1000 nằm ở chỗ nhạy cảm để làm đại lễ lần này thì thử hỏi lịch sử Việt Nam đâu có còn là sử?
Tính về việc trị vì thì nhà Lý ở Thăng Long cũng chỉ được có 216 năm; Cao Biền trước ở đó cũng chỉ được vài chục năm, đâu phải nhà Lý ở lâu mà phải làm lễ. Nhà Hậu Lê (Lê sơ và Lê trung hưng) cộng lại cũng hơn 356 năm và cũng đặt kinh đô ở Thăng Long sau khi dời từ Lam Kinh ra, tại sao lại không lấy mốc đó để làm đại lễ? Thời đó cũng nổi tiếng với Bình Ngô Ðại Cáo và câu nói của vua Lê Thánh Tông “Ta phải giữ gìn cho cẩn thận, đừng để ai lấy mất 1 phân núi, 1 tấc sông do vua Thái Tổ để lại.” Thời nhà Lê với nhiều bộ luật tiến bộ ra đời cũng như việc mở mang bờ cõi được phát huy mạnh mẽ vậy chẳng lẽ không bằng nhà Lý. Cách so sánh khác cũng thú vị, đó là nhà Lý thực chất không kinh qua chiến tranh vệ quốc mà cướp được ngôi vương của nhà tiền Lê từ tay Lê Ngọa Triều. Nhà Hậu Lê có công đánh giặc ngoại xâm và giành ngôi vương trong cuộc chiến giành độc lập. Vậy tại sao không là Lam Kinh-Hà Nội?
Nếu tính về tính xuyên suốt thì vùng đất Hà Nội cũng đâu có là nơi đặt kinh đô của triều Lê và Nguyễn? Triều Lê đã có kinh đô mới là Tây Ðô còn triều Nguyễn là Huế. Rõ ràng tính xuyên suốt của việc kinh đô luôn nằm trên đất Hà Nội là khó chấp nhận được để làm đại lễ. Các triều đại phong kiến định đô rồi dời đô là chuyện thường tình, đâu vì lẽ nhà Lý dời đô đến khu đất cũ của “Cao Vương” mà lại được coi là việc tốt độc nhất vô nhị? Thăng Long thành cũng bị đốt phá bao phen; các vị vua cũng đã bao lần phải bỏ thành chạy giặc phương Nam lẫn phương Bắc đó thôi.
Việc chọn thời gian để hành lễ cũng mang tính chất quá cẩu thả. Lý Công Uẩn viết chiếu dời đô vào mùa Xuân năm 1010 và đến tháng 7 thì dời đô. Ngày xưa cũng như nay việc lễ lạt, cúng bái tổ tiên... đều theo âm lịch và phải đúng ngày, việc chọn kỷ niệm vào tháng 10 Dương lịch là hoàn toàn sai lệch về mặt tích cổ. Nên nhớ rằng cứ đến 10 tháng 3 Âm lịch là dân ta nhớ đến giỗ tổ chứ không phải bất cứ ngày nào khác.
Xét tất cả những yếu tố tích cổ và so sánh giữa các lý do để tổ chức đại lễ thì hoàn toàn không nên làm đại lễ Thăng Long-Hà Nội. Chỉ có một lý do duy nhất để làm đại lễ này ở 1000 năm, đó là đổi tên Hà Nội thành Thăng Long thì may ra mới hợp. Mặt khác, thời điểm nhạy cảm hiện nay với Trung Quốc về mặt toàn vẹn lãnh thổ ở biên giới, biển, Hoàng Sa, Trường Sa... mà dựa vào bản “Chiếu dời đô” không có tinh thần độc lập dân tộc và lại tổ chức khai mạc vào 1 tháng 10 là ngày quốc khánh Trung Quốc thì thử hỏi có nên không?
Nguyễn Phương Anh
Hà Nội, 17 tháng 8, 2010
Friday, August 20, 2010
* Nguyễn Phương Anh
(Nguồn: Thông Luận 2010)
Phàm việc lễ lạt từ bé đến lớn từ xưa đến nay đều có cái tích của nó. Ðại lễ mang tính chất kinh đô, thủ đô thì càng phải cẩn thận. Tính chính danh phải được đặt lên hàng đầu. Ðâu phải kiểu thương vay khóc mướn mà được việc!
Ðại lễ ngàn năm Thăng Long-Hà Nội đã được duyệt và sẽ cử hành vào ngày 1 đến 10 tháng 10, 2010 với lý do là vào năm 1010 vua Lý Công Uẩn đã dời đô từ Hoa Lư về Ðại La và sau đó đặt tên là Thăng Long. Xét về nội dung của chiếu dời đô:
Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Ðại, lấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Ðinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.
Huống chi thành Ðại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế “long bàn, hổ cứ,” chính giữa Nam Bắc Ðông Tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Chiếu dời đô này hoàn toàn không thấy tinh thần độc lập dân tộc ở chỗ: Bản chiếu dời đô không thấy vị vua Việt Nam nào được vua Lý nêu tới để làm gương mà chỉ thấy chê bai nhà Ðinh, nhà (Tiền) Lê. Lý Thái Tổ lấy việc làm của các triều đại của cường quyền đế quốc Trung Hoa để noi gương. Ông gọi đô hộ Cao Biền là Cao Vương, gọi thành Ðại La là đô cũ. Ðiều này khiến “chiếu dời đô” không thể sánh được với “Nam quốc sơn hà” và “Bình Ngô Ðại Cáo.” Từ đây suy ra việc dùng đại lễ từ 1-10 tháng 10, 2010 với lý do chiếu dời đô, đổi tên Thăng Long là không có tính độc lập dân tộc.
Nếu thực sự cần thiết phải dùng đại lễ vì sự tồn tại của Thăng Long đến nay là 1000 năm thì càng khiên cưỡng. Trong chiếu dời đô Lý Công Uẩn đã nói rõ là ông lấy thành Ðại La làm kinh đô mới chứ không phải là ông phát minh ra vùng đất đó. Tính từ Ðại La đến Hà Nội hiện nay sẽ nhiều hơn 1000 năm rất nhiều, tại sao lại không gọi đại lễ là Ðại La-Hà Nội? Ðại La cũng là nơi định đô của Phùng Hưng chứ đâu chỉ là phủ đô hộ? Kể cả khi coi thành Ðại La là bất chính vì là do Cao Biền xây nên thì tại Hà Nội cũng có vô số kinh đô của các vị vua Việt đóng đô trước cả Lý Thái Tổ; như vùng Cổ Loa của An Dương Vương, Ngô Quyền; vùng Mê Linh của hai Bà Trưng... mà tính độc lập dân tộc luôn được chính danh. Chính Ngô Quyền đóng đô ở Cổ Loa-Hà Nội là người đã đập tan quân Nam Hán và chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc. Có thể là đại lễ Cổ Loa-Hà Nội hay Mê Linh-Hà Nội hay không? Vì lẽ gì ta cứ phải lấy mốc là triều Lý? Ðại lễ này có phải là lễ của riêng triều Lý? Chẳng thể vì một nhẽ là số 1000 vừa tròn vừa đẹp mà làm đại lễ cho số đó; tức là đại lễ MỘT NGÀN. Nếu vì sính chữ thấy Thăng Long mang nghĩa hay mà lờ đi chữ khác và lờ Cổ Loa đi vì dính đến con số 1000 nằm ở chỗ nhạy cảm để làm đại lễ lần này thì thử hỏi lịch sử Việt Nam đâu có còn là sử?
Tính về việc trị vì thì nhà Lý ở Thăng Long cũng chỉ được có 216 năm; Cao Biền trước ở đó cũng chỉ được vài chục năm, đâu phải nhà Lý ở lâu mà phải làm lễ. Nhà Hậu Lê (Lê sơ và Lê trung hưng) cộng lại cũng hơn 356 năm và cũng đặt kinh đô ở Thăng Long sau khi dời từ Lam Kinh ra, tại sao lại không lấy mốc đó để làm đại lễ? Thời đó cũng nổi tiếng với Bình Ngô Ðại Cáo và câu nói của vua Lê Thánh Tông “Ta phải giữ gìn cho cẩn thận, đừng để ai lấy mất 1 phân núi, 1 tấc sông do vua Thái Tổ để lại.” Thời nhà Lê với nhiều bộ luật tiến bộ ra đời cũng như việc mở mang bờ cõi được phát huy mạnh mẽ vậy chẳng lẽ không bằng nhà Lý. Cách so sánh khác cũng thú vị, đó là nhà Lý thực chất không kinh qua chiến tranh vệ quốc mà cướp được ngôi vương của nhà tiền Lê từ tay Lê Ngọa Triều. Nhà Hậu Lê có công đánh giặc ngoại xâm và giành ngôi vương trong cuộc chiến giành độc lập. Vậy tại sao không là Lam Kinh-Hà Nội?
Nếu tính về tính xuyên suốt thì vùng đất Hà Nội cũng đâu có là nơi đặt kinh đô của triều Lê và Nguyễn? Triều Lê đã có kinh đô mới là Tây Ðô còn triều Nguyễn là Huế. Rõ ràng tính xuyên suốt của việc kinh đô luôn nằm trên đất Hà Nội là khó chấp nhận được để làm đại lễ. Các triều đại phong kiến định đô rồi dời đô là chuyện thường tình, đâu vì lẽ nhà Lý dời đô đến khu đất cũ của “Cao Vương” mà lại được coi là việc tốt độc nhất vô nhị? Thăng Long thành cũng bị đốt phá bao phen; các vị vua cũng đã bao lần phải bỏ thành chạy giặc phương Nam lẫn phương Bắc đó thôi.
Việc chọn thời gian để hành lễ cũng mang tính chất quá cẩu thả. Lý Công Uẩn viết chiếu dời đô vào mùa Xuân năm 1010 và đến tháng 7 thì dời đô. Ngày xưa cũng như nay việc lễ lạt, cúng bái tổ tiên... đều theo âm lịch và phải đúng ngày, việc chọn kỷ niệm vào tháng 10 Dương lịch là hoàn toàn sai lệch về mặt tích cổ. Nên nhớ rằng cứ đến 10 tháng 3 Âm lịch là dân ta nhớ đến giỗ tổ chứ không phải bất cứ ngày nào khác.
Xét tất cả những yếu tố tích cổ và so sánh giữa các lý do để tổ chức đại lễ thì hoàn toàn không nên làm đại lễ Thăng Long-Hà Nội. Chỉ có một lý do duy nhất để làm đại lễ này ở 1000 năm, đó là đổi tên Hà Nội thành Thăng Long thì may ra mới hợp. Mặt khác, thời điểm nhạy cảm hiện nay với Trung Quốc về mặt toàn vẹn lãnh thổ ở biên giới, biển, Hoàng Sa, Trường Sa... mà dựa vào bản “Chiếu dời đô” không có tinh thần độc lập dân tộc và lại tổ chức khai mạc vào 1 tháng 10 là ngày quốc khánh Trung Quốc thì thử hỏi có nên không?
Nguyễn Phương Anh
Hà Nội, 17 tháng 8, 2010

