Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Khi Người Dân Đọc Tạp Chí Nhân Quyền

Gia Minh (RFA)
Hồi trung tuần tháng bảy vừa qua, chính phủ Hà Nội cho ra mắt Tạp chí Nhân Quyền, trong đó có bài viết của thứ trưởng Bộ Công An, thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, cho rằng tại Việt Nam không có chuyện vi phạm nhân quyền.

Nhiều người trong và ngoài nước đã lên tiếng về bài viết đó cho là không đúng thực tế tại Việt Nam. Ngày 5 tháng 8 vừa qua, một thư ngỏ gửi cho ông thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng nêu ra một số trường hợp vi phạm trầm trọng quyền con người ở Vịêt Nam, cũng như yêu cầu chính phủ Việt Nam thực thi những điều liên quan được qui định trong Hiến pháp.

Nhân quyền là vấn đề toàn cầu

Tác giả bức thư ngỏ là ông Nguyễn Anh Dũng, hội viên Hội Cựu Chiến Binh Việt Nam, ngụ tại Hà Nội. Gia Minh hỏi chuyện ông về bức thư ngỏ đó. Trước hết ông phản biện về lập luận mà các quan chức cao cấp Hà Nội cho rằng Việt Nam có những đặc trưng riêng nên không thể theo những chuẩn mà Phương Tây nêu ra về nhân quyền.

Ông Nguyễn Anh Dũng: Tôi cũng có nghe lãnh đạo Việt Nam nói vấn đề nhân quyền theo đặc điểm, văn hóa, xã hội của mỗi nước; không thể đem nhân quyền nước này áp dụng cho nước kia. Thực ra theo tôi cách nói đó chỉ là cách chống chế, bảo vệ của họ thôi. Trong thực tế, nhân quyền là vấn đề toàn cầu, không phải riêng của quốc gia nào.

Lãnh đạo Việt Nam nói vấn đề nhân quyền theo đặc điểm, văn hóa, xã hội của mỗi nước; không thể đem nhân quyền nước này áp dụng cho nước kia. Thực ra theo tôi cách nói đó chỉ là cách chống chế, bảo vệ của họ thôi. Trong thực tế, nhân quyền là vấn đề toàn cầu, không phải riêng của quốc gia nào.

Tất nhiên, mỗi nước có nền văn hóa riêng, nhưng không thể dựa vào văn hóa xã hội đó để bác bỏ các quyền mà chính bản thân họ ghi trong hiến pháp và pháp luật. Những điều đó cũng được thể hiện trong các công ước quốc tế. Người dân Việt Nam đòi quyền con người, những quyền mà chính bản thân luật pháp nước Việt Nam ghi nhận, chứ không đòi gì khác hơn.

Những điều đã nói trong Điều 50 của Hiến Pháp Việt Nam mà được thực hiện đúng thì dân chúng tôi sướng quá. Chỉ có điều họ nói một đằng, làm một nẻo và trở thành đường lối lãnh đạo của Nhà Nước Cộng sản này rồi. Chứ thực ra nước nào chẳng có đặc điễm văn hóa riêng của nước đó: Mỹ, Anh, Pháp… nước nào cũng có; nhưng đó là những nét đặc trưng của nước đó thôi; còn điều gì quốc tế đã công nhận, đã được hình thành và công nhận trong hiến pháp nước đó thì phải thực hiện một các nghiêm chỉnh. Đó mới là quyền con người.

Nhân quyền không của riêng ai

Gia Minh: Một số tổ chức quốc tế tiến hành làm khảo sát về sự lạc quan cuộc sống, thì kết quả cho thấy ‘đa số’ người Việt Nam được hỏi cho rằng họ bằng lòng với cuộc sống hiện tại; mà như thế thì hẳn nhiên quyền con người của họ không bị vi phạm?

Ông Nguyễn Anh Dũng: Tôi cũng chưa biết cơ quan nào thống kê và con số đó có chính xác hay không. Thực tế Việt Nam hiện nay có hiện tượng này: những người mà sống được nhờ vào cơ chế hiện nay, tất nhiên họ ủng hộ rồi, ví dụ các quan chức mà quyền vụ- chức hạn cho họ sống trên pháp luật; rồi đến những doanh nghiệp làm ăn, có tiền, phát triển được.

Đối với thực tế cơ chế hiện nay, người ta ngán lắm rồi; đa số người dân khổ. Cán bộ công chức trong bộ máy nhà nước nếu không có chức quyền, không có bổng lộc, sống bằng đồng lương, cuộc sống khó rồi; còn người lao động bình thường phải chịu đủ thứ thuế má.

Còn người dân bằng lòng vì ở Việt Nam có hiện tượng gần như ‘cam chịu’ . Chẳng lại gì: dân Việt Nam sau bao nhiêu năm chiến tranh quá khổ, người ta không muốn chuyện ‘nồi da, nấu thịt’, không muốn chuyện to lớn nữa, và người ta cam chịu. Còn đối với thực tế cơ chế hiện nay, người ta ngán lắm rồi; đa số người dân khổ. Cán bộ công chức trong bộ máy nhà nước nếu không có chức quyền, không có bổng lộc, sống bằng đồng lương, cuộc sống khó rồi; còn người lao động bình thường phải chịu đủ thứ thuế má. Xin nêu ra một ví dụ: vừa qua tôi đi làm khai sinh cho đứa cháu mới sinh, ủy ban nhân dân địa phương thu 200 ngàn, nói là tiền đóng góp tự nguyện cho quỹ bảo vệ- chăm sóc trẻ em. Tôi cũng đóng cho qua chuyện, nhưng về nghĩ lại thì đó là thứ thuế thân mà trước đây đâu có.

Cho nên nói ‘đa số’ người dân mà không biết số chính xác bao nhiêu thì những nguời dân lao động và những công chức bình thường không có quyền chức đều ngán chế độ, ngán đồng lương mà không dám nói. Nếu nói ra thì thủ trưởng cơ quan sẽ không cho lên lương, thậm chí có thể bị điều đi chỗ khác, bị đình chỉ công tác nên người ta sợ. Người ta ‘an phận, thủ thường’ để mà làm ăn; theo tôi nghĩ bằng lòng là như vậy đó.

Yêu cầu thực hiện Hiến pháp không phải là cái tội

Gia Minh: Có những người dám công khai nói lên ý kiến, khác với đường lối của Nhà Nước và bị bỏ tù vì nhà nước theo Điều 88 Bộ luật hình sự, và khi nói với nước ngoài thì Hà Nội cho rằng không có tù nhân chính trị tại Việt Nam?

Ông Nguyễn Anh Dũng: Bảo thế, thực ra tôi cũng chưa phân biệt được thế nào là chính trị. Tôi chỉ nói những điều tối thiểu trong cuộc sống mà thế giới công nhận đó là quyền con người. Tôi xin hỏi nếu không làm điều gì phạm pháp mà tự dưng lại bị chính quyền dùng những biện pháp, bản án trái pháp luật, tước đọat quyền sống của người ta thì họ phải đấu tranh.
Image
Công an và nhân quyền. RFA file.
Tôi xin hỏi nếu không làm điều gì phạm pháp mà tự dưng lại bị chính quyền dùng những biện pháp, bản án trái pháp luật, tước đọat quyền sống của người ta thì họ phải đấu tranh.

Lý thuyết theo nghị quyết 08 và 49 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam nói về vấn đề cải cách tư pháp; nhưng ở Việt Nam có tình trạng án ‘bỏ túi’ mà chính báo Công an, An Ninh Thế giới có bài viết về tình trạng đó: ra toà đâu được nói thật.

Bản thân tôi cũng không ủng hộ những người làm các việc ‘quá đà’, gây nên những xáo trộn lớn; nhưng điều gì được phép cần phài thực hiện. Tại sao khiếu nại tố cáo không trả lời: đó có phải vi phạm nhân quyền không? Chính bản thân những người đề ra luật pháp làm sai, còn người dân yêu cầu Hiến pháp cần được thực hiện chứ không làm gì sai cả.

Gia Minh: Ngoài việc yêu cầu làm đúng Hiến Pháp, thì điều ông hy vọng nhất để sao người dân có được những quyền căn bản là gì?

Ông Nguyễn Anh Dũng: Dù khổ lắm, nhưng tôi vẫn tôn trọng viết thư ngỏ gửi cho các cấp lãnh đạo Việt Nam. Dù là cơ chế nhưng tôi mong muốn khi làm sai họ phải sửa với nhau vì nếu tổ chức Đảng không xử lý thì chính quyền không xử lý được. Ông thứ trưởng Công An cho rằng Việt Nam là thiên đường Xã hội Chủ Nghĩa. Đúng đó là thiên đường của những người quyền cao chức trọng vì quyền của họ đem lại cho họ rất nhiều lợi nhuận.

Tôi viết thư ngỏ nhân dịp Nhà nước Việt Nam ra Tạp chí Nhân quyền Việt Nam để người dân và thế giới hiểu nhân quyền Việt Nam thế nào; tôi hy vọng chính quyền Việt Nam cầu thị, tìm lại lòng tin của người dân.

Việt Nam trước đây là một quốc gia ‘bế quan, tỏa cảng’ không ra vào được; nay do phát triển thông tin thế giới, Việt Nam không thể bưng bít được nữa nên phải cho ra Tạp chí Nhân quyền. Trong đó thì ông thứ trưởng Công An cho rằng Việt Nam là thiên đường Xã hội Chủ Nghĩa. Đúng đó là thiên đường của những người quyền cao chức trọng vì quyền của họ đem lại cho họ rất nhiều lợi nhuận.

Người dân bây giờ không đến nỗi ngu muội khi mà bùng nổ thông tin trên Internet, dù Nhà nước Việt Nam có muốn ngăn cấm đủ điều thì cũng không thể ngăn cấm được; do đó phải cảnh tỉnh cho nhà nước biết rằng những điều mà họ làm là sai trái.

Gia Minh: Cám ơn ông về những trình bày vừa rồi.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Khi công an cộng sản Việt Nam bàn về nhân quyền
Monday, August 23, 2010

LS. Trần Thanh Hiệp

Trong phiên họp công khai của Liên Hiệp Quốc nhằm kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam, được tổ chức năm ngoái tại Thụy Sĩ, nhà cầm quyền Hà Nội đã tuyên bố với thế giới rằng: “Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế-xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người. Hiến Pháp 1992, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, đảm bảo mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước pháp luật; quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam; quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe... không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo. Trên cơ sở Hiến Pháp, pháp luật Việt Nam tiếp tục cụ thể hóa các quyền này, phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế về nhân quyền.”

Nhưng đó chỉ là một luận điệu gian dối rất bỉ ổi để che giấu chính sách cai trị phi nhân quyền mà Hà Nội không ngừng theo đuổi suốt hơn nửa thế kỷ nay. Trong thực tế, người dân Việt Nam chẳng những bị tước đoạt hết tất cả những nhân quyền được Hà Nội liệt kê ở trên mà còn bị đàn áp một cách thô bạo có hệ thống và thường trực. Ðó là một sự thật mà nhân dân Việt Nam ở cả trong nước lẫn ngoài nước, cũng như các tổ chức quốc tế tranh đấu cho nhân quyền, không ngừng lên tiếng tố cáo và lên án.

Mới đây nhà cầm quyền Hà Nội lại không ngần ngại leo thang trắng trợn, qua sáng kiến một mặt, bịt miệng kín như bưng nhân dân và mặt khác, ngang nhiên để cho bộ máy đàn áp là công an ấn hành một tờ lá cải lập luận bừa bãi để biện minh cho thực trạng phi nhân quyền ở Việt Nam.

Người được chỉ định làm nhạc trưởng, đánh lên âm mẫu cho bản nhạc đại hòa tấu xuyên tạc và khinh miệt nhân quyền, có tên gọi đẹp đẽ Tạp Chí Nhân Quyền Việt Nam, là Thứ Trưởng Bộ Công An Nguyễn Văn Hưởng, người đã có những lời “thông tin miệng” để hù dọa những ai dám lấy thái độ đối lập với chế độ đảng trị rằng: “Nước ta Ðảng lãnh đạo, không có phản biện gì cả, phản biện là phản động,” “Các anh muốn phản biện hả? Nhà tù còn nhiều chỗ lắm! Mà cũng chẳng cần bắt bớ tù đày làm gì, thời buổi này, tai nạn giao thông là chuyện cơm bữa; mà cũng chẳng cần tông xe làm gì, buổi sáng các vị đi uống cà phê, về tới nhà cứng đơ, không làm gì được nữa; các nước người ta đều biết kĩ thuật này, chúng tôi cũng chẳng thua đâu.” Ðó không là gì khác hơn những điệp khúc làm nhớ lại thời vàng son của phát xít, quốc xã và vô sản toàn trị.

Vậy mà cái biểu tượng sống của những thủ đoạn thủ tiêu con người để xóa bỏ quyền con người ấy lại dám lớn tiếng giảng dạy về “nhân quyền,” chỉ vẽ cho mọi người phải làm sao để “hiểu đúng về nhân quyền ở Việt Nam.” Qua một bài báo đóng vai đầu trò cho cái gọi là Tạp chí Nhân Quyền ở Việt Nam dài gần 1000 từ, ông Thứ Trưởng Hưởng tuyệt nhiên không nói được gì nhiều về nhân quyền, chỉ đưa ra một hệ thống lập luận khẳng định suông một chiều để biện hộ một cách quá lộ liễu cho chính sách phi nhân quyền của Ðảng cầm quyền. Vì vậy, những luận cứ mà ông Hưởng triển khai để ngợi ca sự nghiệp đàn áp nhân quyền của Ðảng Cộng Sản đã chẳng có được một hiệu lực thuyết phục nào.

Cũng là điều dễ hiểu thôi. Vì ông thứ trưởng càng lý luận thì người ta càng thấy nổi bật những mâu thuẫn đầy rẫy chứa đựng ở ngay trong hệ thống lập luận mà ông vận dụng. Ông đả kích kịch liệt “xã hội có nền chính trị đa nguyên, đa đảng... luôn luôn đề cao tự do cá nhân, nhân quyền là quyền không có biên giới, không bị phụ thuộc bởi chính trị, địa lý hay chủ quyền quốc gia, áp đặt những ‘tiêu chí’ về nhân quyền cho các quốc gia đang muốn chuyển hóa, thay đổi các thể chế chính trị, tạo ra ở các quốc gia này một lực lượng ‘dân chủ’ và sẽ trở thành lực lượng phản kháng, chống đối lại chính quyền...” Nhưng ông không chứng tỏ được rằng ông có một sự hiểu biết sâu rộng và chắc chắn về xã hội này. Ông chỉ đưa ra những lời buộc tội chung chung và vu vơ. Hơn nữa ông cũng không giải thích được sự kiện nếu “nhân quyền” của phương Tây mà tồi tệ như vậy thì tại sao Ðảng của ông năm 1982 lại tự nguyện xin tham gia không dè dặt? Rồi tham gia nhưng không tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh những cam kết của mình, chỉ hành động ngược lại những gì đã cam kết rồi kêu than là bị áp đặt. Ðể tìm cớ vi phạm. Ðể khẳng định rằng bộ máy cầm quyền đảng trị phi nhân quyền cộng sản ở Việt Nam hữu lý tự phong cho mình có đủ thẩm quyền, tư cách để làm ra những luật pháp đàn áp. Nhưng thử hỏi đó có phải là những cơ sở pháp lý, chính trị đích thực dân chủ không, hay chỉ là những quyết định tự quyền, độc đoán và đơn phương.

Ngoài ra, ông Thứ Trưởng Hưởng cũng dẫn ra một số hành vi đàn áp nhân quyền để kể là những thành tựu của việc thực hiện nhân quyền. Ông không ngần ngại giải thích hiện tượng “Việt Nam hiện nay có hơn 700 đầu báo và tạp chí; 25 triệu người được sử dụng Internet và rất nhiều người trong số đó đã sử dụng Internet để đóng góp ý kiến vào các vấn đề xã hội” là một thành tích đáng kể về mặt thực hiện nhân quyền. Ai không biết rằng Ðảng của ông đã tước đoạt hết quyền tự do ngôn luận của người dân để giành độc quyền ra báo, viết báo cho Ðảng của ông? 700 đầu báo và tạp chí, 25 triêu người sử dụng Internet ấy không phải là sự thể hiện của quyền tự do ngôn luận của dân mà là những công cụ đàn áp của Ðảng. Nhưng điều gây kinh ngạc lớn cho dân chúng cũng như cộng đồng quốc tế chính là sự táo bạo của một ông tướng công an cộng sản đã coi thường khả năng phán đoán bình thường của mọi người khi ông dám khẳng định tằng tất cả những tội ác vi phạm nhân quyền ở Việt Nam chính là “tự do, chính là nhân quyền. Người dân Việt Nam chấp nhận sự lãnh đạo của một Ðảng cầm quyền, bởi lẽ họ thấy rõ hơn ai hết về những gì mà Ðảng Cộng Sản đã đem lại cho người dân trong suốt bao nhiêu năm qua.”

Sự gian dối vụng về lại quá hiển nhiên của ông Thứ Trưởng Nguyễn Văn Hưởng tự nó đã là những phản chứng hùng hồn bác bỏ luận điệu ngụy biện của ông tướng Công an họ Nguyễn đổi trắng thay đen, bất chấp thực trạng để hòng biến “địa ngục nhân quyền” hiện nay tại Việt Nam thành một “thiên đàng quyền con người” chỉ có trong thế giới tuyên truyền lừa bịp của tập đoàn cầm quyền cộng sản. Ông Thứ Trưởng Hưởng chắc không ngờ rằng “tác phẩm” ngợi ca bừa bãi và lố bịch nhân quyền ở Việt Nam - nhân quyền lề phải - mà ông là tác giả đã trở thành bản cáo trạng vi phạm nghiêm trọng nhân quyền ông đã vô tình tuyên đọc cho chế độ mà ông có nhiệm vụ bảo vệ.

Người ta không thể không tự hỏi rằng trong những cuộc đối thoại về nhân quyền ở Việt Nam với chính giới quốc tế, liệu ông Thứ Trưởng Hưởng có cảm thấy rằng bản thân ông cũng như đất nước ông trong địa hạt nhân quyền vẫn còn lạc hậu hàng thế kỷ so với các nước tiên tiến trên thế giới.

Nghĩ cho cùng, ông Thứ Trưởng Công An Nguyễn Văn Hưởng cũng khó mà nói khác với tiếng nói của Ðảng về nhân quyền vì quan điểm của Ðảng của ông là Ðảng ấy đã đạt được “thành tựu to lớn trong việc thực hiện đường lối của Ðảng về bảo đảm và phát triển quyền con người.” Theo ông Phạm Bình Minh, ủy viên Trung Ương Ðảng, thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại Giao thì “sau gần 8 thập kỷ dưới sự lãnh đạo của Ðảng, có thể nói, những thành tựu dân tộc ta đạt được trong việc bảo đảm và phát triển quyền con người là rất cơ bản, rất to lớn. [...] Quan trọng hơn cả, vấn đề quyền con người xuất phát từ chính mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ và bao quát rộng rãi nhiều lĩnh vực. Vì vậy, bảo vệ và phát huy quyền con người là trách nhiệm chung mà tất cả các cấp, các ngành và địa phương phải tích cực, chủ động thực hiện.” “Ðường lối của Ðảng về quyền con người cũng được xây dựng từ một nền tảng lý luận vững chắc, trên cơ sở tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, áp dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ khác nhau.”

Sự kiện đến bây giờ mà đảng Cộng Sản vẫn còn coi nhân quyền là bắt nguồn từ chủ nghĩa Mac-Le-nin đã giải nghĩa vì sao mà nhân quyền của dân Việt Nam vẫn còn.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Kỳ thị hay bao dung

Ngô Nhân Dụng
Cuối tuần trước, hội Nippon Issuikai ở Nhật Bản đã tổ chức một hội nghị quốc tế thu hút những người theo “chủ nghĩa dân tộc,” thường được báo chí gọi là những phe phái “cực hữu” từ nhiều quốc gia tới dự. Ông Mitsuhiro Kimura, người sáng lập tổ chức có 10 ngàn hội viên này nói rằng ông muốn liên kết các đảng chính trị có khuynh hướng “chủ nghĩa dân tộc” trên toàn thế giới.

Hội nghị có tính chất quốc tế thật! Trong số 20 đại biểu của Nghị Viện Âu Châu có mặt, ông Philip Claeys, thuộc đảng Vlaams Belang ở Bỉ đang đòi tách ra lập một nước của những người cùng chủng tộc Flemmish; ông Geert Wilders đại biểu Hòa Lan nổi tiếng vì chống di dân, đặc biệt là người Hồi Giáo. Ngoài ra còn đại diện của các đảng cực hữu Hungary, Bồ Ðào Nha, Bulgaria, Ý, Ukraina, vân vân. Một đại biểu của Ðảng Dân Tộc Anh Quốc (BNP) là Adam Walker, đã từng sống 6 năm ở Nhật, bằng nghề dạy võ. Không thấy nói đến đại biểu nào từ Trung Quốc, Hàn Quốc hay Việt Nam đến dự!

Ngày 14 tháng 8, 2010 lãnh tụ Mặt Trận Dân Tộc (FN) ở Pháp là Jean-Marie Le Pen còn đến viếng ngôi đền Yasukuni tại Tokyo, là nơi thờ các anh hùng tử sĩ của Nhật Bản, nhưng cũng thờ cả các người lãnh đạo cuộc Chiến Tranh Thứ Hai, khi Nhật Bản xâm lăng các nước Á Châu. Mỗi lần các vị thủ tướng Nhật Bản đến viếng đền này vào tháng 8, các chính phủ Hàn Quốc và Trung Quốc đều phản đối. Năm nay Thủ Tướng Naoto Kan, trong khi lên tiếng xin lỗi dân Hàn Quốc về ách thống trị của Nhật Bản trên xứ họ từ năm 1910 đến 1945, đã không đến viếng đền Yasukuni nhân ngày kỷ niệm chấm dứt chiến tranh vừa qua. Nhật Hoàng Akihito chưa bao giờ đến viếng đền này.

Mitsuhiro Kimura trước đây là một người rất ngưỡng mộ Saddam Hussein, tổng thống Iraq đã bị Mỹ giết, vì coi ông Hussein là người theo Chủ nghĩa Dân Tộc Á Rập, nhưng cũng vì cả hai đều chống Mỹ. Ông tổ chức hội nghị vừa qua để bàn về “Tương lai của những phong trào Dân Tộc Chủ Nghĩa, để các “người ái quốc” trao đổi và học hỏi kinh nghiệm của nhau.

Ðây là một điều rất khó thực hiện. Vì những người tự xưng theo “Chủ Nghĩa Dân Tộc” quá khích thì cũng thường không coi người nước khác là ngang hàng với mình. Ông Kimura chẳng hạn, ông không chịu công nhận là quân đội Nhật Bản đã tàn sát hàng trăm ngàn thường dân Trung Hoa ở Nam Kinh, năm 1937; cũng như ông không đồng ý việc chính phủ Nhật xin lỗi đã đô hộ Hàn Quốc một cách tàn bạo.

Chủ nghĩa Dân Tộc là một khái niệm rất đáng trọng, đồng thời cũng rất nguy hiểm. Nếu chủ nghĩa này chỉ mang ý nghĩa đề cao tình yêu nước, thương nòi, lo bảo vệ quyền lợi quốc gia, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, thì rất đáng kính trọng; và nhiều khi cần thiết nữa. Tinh thần dân tộc của người Việt Nam hiện nay đang lên rất cao, vì mọi người cảm thấy mối đe dọa của nước láng giềng phía Bắc về kinh tế, chính trị cũng như quân sự. Khi sự sống còn bị đe dọa, một giống dân quay về với Chủ Nghĩa Dân Tộc để lập một hàng rào tự vệ; giống như cơ thể con người tự sinh ra các chất đề kháng khi bị vi trùng tấn công. Người Việt Nam ai cũng đồng ý phải củng cố tinh thần dân tộc trong lúc này.

Nhưng các lãnh tụ độc tài thường lợi dụng Chủ Nghĩa Dân Tộc để đánh lừa, mị hoặc dân chúng, nhằm bắt dân phải xếp hàng sau lưng họ, không được bàn cãi. Ðề cao chủng tộc, sắc thái của dân mình, coi là cao hơn các dân tộc khác, các đảng Phát Xít Ý, Quốc Xã Ðức, và Quân Phiệt Nhật đã dùng lối đó huy động dân các nước này hy sinh cho tham vọng bành trướng của họ. Hiện nay, chính quyền Cộng Sản Trung Hoa cũng sử dụng mánh khóe tương tự. Lâu lâu, họ cho phép các nhóm quá khích hô hào chống người ngoại quốc, như chống Nhật khi nhắc lại các tội ác của quân đội Nhật phạm trong thời gian 1937-1945; hoặc biểu tình chống Mỹ sau vụ ném bom nhầm ở Belgrade năm 1999. Trên nhiều mạng lưới ở Trung Quốc hiện nay có những thanh niên Trung Quốc đang hô hào chống người Việt Nam, miệt thị dân Việt Nam, có người còn vẽ ra kế hoạch tấn công Việt Nam. Chủ nghĩa Ðại Hán là một mối nguy hiểm đe dọa cả vùng Ðông Nam Á, người Việt Nam cần phải đánh thức các dân tộc láng giềng về hiểm họa này.

Tại nước Mỹ, chủ nghĩa dân tộc không thể mang tính chất quá khích, vì nước này là tập hợp của rất nhiều giống dân trên thế giới. Thời Ðại Chiến Thứ Hai, chính phủ Mỹ đã lập trại tập trung người Mỹ gốc Nhật, sau này chính phủ Mỹ đã phải chính thức xin lỗi và bồi thường thiệt hại. Gần đây, Nghị Viện California đã chính thức xin lỗi những người Mỹ gốc Ý trong tiểu bang vì đã đối xử bất công với họ trong thời Thế Chiến II. Mặc dù đại đa số dân Mỹ vẫn nghĩ rằng quốc gia của họ không những mạnh nhất mà còn “tốt” nhất thế giới vì tiêu biểu cho những giá trị cao thượng và phổ biến của nhân loại, nhưng các người lãnh đạo nước Mỹ lúc nào cũng tỏ ra khiêm tốn khi nói đến các dân tộc khác, các nền văn hóa khác. Nước Mỹ vẫn luôn luôn tìm cách chứng tỏ họ là một dân tộc bao dung về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo.

Cho nên, hiện nay cả nước đang xôn xao bàn tán về vụ xây dựng những “Trung tâm Hồi Giáo.” Ngay tại California, cuối tháng 7 nhiều người Mỹ trong quận Riverside đã biểu tình chống việc xây cất một Trung Tâm Hồi Giáo mới trên mảnh đất đã có một trung tâm cũ tại thị xã Temecula. Những người tổ chức biểu tình để cầu nguyện và hát những bài ca ái quốc, cũng kêu gọi ai tới dự hãy mang theo chó, vì người Hồi Giáo rất ghét chó! Cho đến nay, việc xây cất vẫn tiếp tục, và vị giám đốc về kế hoạch phát triển của thị xã tuyên bố tất cả mọi người Mỹ đều có quyền thực hành tín ngưỡng của mình theo cách nào họ thấy thích hợp nhất.

Trước đây, tại Murfreesboro, Tennessee; tại Brooklyn và Staten Island trong tiểu bang New York, và tại tiểu bang Wisconsin cũng có những cuộc biểu tình chống xây dựng giáo đường Hồi Giáo. Năm 2007, một dự án xây thánh đường Hồi Giáo đã bị bãi bỏ vì áp lực dân chúng thị xã Walkersville, tiểu bang Maryland.

Nhưng sôi nổi nhất hiện nay là dự án xây dựng một Trung Tâm Hồi Giáo, hai con đường cách “Ground Zero” là nơi gần 3,000 người Mỹ đã chết trong vụ khủng bố 11 tháng 9 năm 2001.

Rất nhiều người đang kịch liệt chống lại dự án này, trong đó có cựu Thị Trưởng Giuliani, và bà Palin nguyên ứng cử viên phó tổng thống năm 2008. Một người lên tiếng ủng hộ việc xây cất là Tổng Thống Obama, nhưng ông không xác định nên xây ở địa điểm nào. Thị Trưởng New York Michael Bloomberg chính thức ủng hộ việc xây dựng tại địa điểm dự trù gần “Ground Zero.” Tối Thứ Ba, mặc dù là người Do Thái giáo, ông Bloomberg đã mở một dạ yến nhân lễ Iftar, ngày người Hồi Giáo chấm dứt tháng chay Ramadan. Ông Bloomberg, thuộc đảng Cộng Hòa, nói rằng “chính phủ không bao giờ có quyền bảo người ta hãy cầu nguyện cái gì và cầu nguyện ở đâu!”

Ngày hôm qua, Thống Ðốc New York David Paterson đã mời Ðức Tổng Giám Mục Timothy Dolan gặp gỡ để chuẩn bị một cuộc họp gồm nhiều tôn giáo tìm một giải pháp cho vấn đề này. Ông Paterson và Chủ Tịch Nghị Viện New York Sheldon Silver, dại diện đơn vị bầu cử gồm Ground Zero đang đề nghị di chuyển dự án sang một miếng đất khác, xa khu vực này, để tránh tranh cãi.

Giáo sĩ (Imam) Feisal Abdul Rauf, và bà vợ Daisy Khan là những người đưa ra dự án lập Trung Tâm Hồi Giáo trên. Ông Rauf sinh năm 1948 ở Kuwait, đã sống tại New York từ lâu, từ năm 1983 ông đã là Imam của một thánh đường Hồi Giáo ở thành phố này. Ðịa vị Imam không có tính cách thiêng liêng như chức vị giáo sĩ trong nhiều tôn giáo; vì Hồi Giáo không có hàng giáo phẩm chính thức. các imam chỉ là những “giáo sư luật” theo Kinh Kuran, tương tự các giáo sĩ Do Thái Giáo. Hiện nay ở New York đã có 200 thánh đường Hồi Giáo; nhưng trung tâm mới dự trù lập ra trong một tòa nhà 13 tầng, chi phí xây cất khoảng 100 triệu Mỹ kim, sẽ là một trụ sở rất lớn. Ông Rauf định đặt tên trung tâm này là Cordoba, tên một thành phố ở Tây Ban Nha từng là nơi người theo ba tôn giáo gồm Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo, và Hồi Giáo đã sống chung hòa bình với nhau từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 15.

Trong trung tâm Cordoba sẽ có nhiều tiện nghị cho sinh hoạt cộng đồng, mà thánh đường Hồi Giáo chỉ là một. Trong bản thiết kế có nhiều tiện nghị cho công chúng, một phòng cầu nguyện chung cho các tôn giáo, có cả nơi tập thể dục và lớp dạy nấu ăn, và có một đài kỷ niệm những nạn nhân của vụ khủng bố 11 tháng 9. Những người chống đối dự án này viện lẽ khu vực Ground Zero có tính cách thiêng liêng, mà những thủ phạm đều đã nhân danh Hồi Giáo khi gây tội ác. Nhiều người quá khích nói rằng một trung tâm như Cordoba sẽ là nơi nuôi dưỡng tinh thần Hồi Giáo quá khích. Ngược lại, những người ủng hộ dự án này coi việc xây dựng trung tâm Cordoba chỉ chứng tỏ nước Mỹ là nơi bao dung, hòa bình, cho tất cả mọi tôn giáo, chứng tỏ bọn quá khích là sai lầm. Họ còn thấy nếu từ chối không cho xây một trung tâm Hồi Giáo thì sẽ chỉ giúp cho các nhóm Hồi Giáo quá khích có thêm lý do để khích động thanh niên của họ đi làm các hành động khủng bố khác. Người Mỹ vẫn kêu gọi người Hồi Giáo ôn hòa hợp tác với mình, nay một nhóm người ôn hòa ra mặt thì không nên từ chối.

Ông Abdul Rauf đang đi Bahrain, trong một chương trình do bộ Ngoại Giao Mỹ bảo trợ, đã tuyên bố rằng ông mong muốn đưa ra một hình ảnh tốt về Tây phương cho thế giới Hồi Giáo nhìn thấy, ông cũng muốn tất cả những người Hồi Giáo ở Mỹ hãy hoàn toàn yêu nước Mỹ (complete nationalism) và thi hành mọi quyền, làm mọi bổn phận với nước này.

Tuy nhiên, như Dân Biểu Tiểu Bang Sheldon Silver nói, những người dự định xây dựng Trung Tâm Cordoba cũng nên quan tâm đến tình tự của những người dân New York còn đang bị ám ảnh về vụ khủng bố 11 tháng 9.

Chúng ta có thể tin rằng các nhà chính trị ở New York sẽ tìm ra giải pháp thỏa hiệp về vụ Trung Tâm Cordoba này. Nhưng hiện tượng nhiều người Mỹ chống đối việc xây cất các Thánh đường Hồi Giáo ở Mỹ là điều đáng quan tâm.

Vì là một quốc gia lập nên bởi những người di dân từ khắp thế giới, vẫn tiếp tục thu hút những di dân ưu tú từ khắp các lục địa, nước Mỹ không có lựa chọn nào khác là phải đề cao, nuôi dưỡng tinh thần bao dung về chủng tộc, cũng như về văn hóa, tôn giáo. Mối tị hiềm đối với người Hồi Giáo có lý do lịch sử, là vụ 11 tháng 9 năm 2001. Nhưng sau một tời gian, có thể dài một hay nhiều thế hệ, mối tị hiềm đó cũng sẽ được xóa bỏ. Người Do Thái Giáo đã từng bị kỳ thị như vậy cho đến thời 1940. Trước đây một thế kỷ, người theo Thiên Chúa Giáo giáo hội La Mã vẫn bị kỳ thị, cho nên khi ông J.F. Kennedy ứng cử tổng thống nhiều người không tin ông có thể nào đắc cử được - cũng như năm 2008 nhiều người nghĩ vậy về ông Obama, vì ông da đen. Vào năm 1960 đó, cũng không ai có thể ngờ có ngày đa số các thẩm phán Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ là người Thiên Chúa Giáo La Mã!

Ðiều đáng mừng nhất trong cuộc tranh luận sôi nổi về dự án Trung Tâm Cordoba là mọi người vẫn tôn trọng tinh thần đấu tranh ôn hòa. Ở Ấn Ðộ, nhiều người theo Ấn Giáo đã chống việc xây đền thờ Hồi Giáo hay nhà thờ đạo Sikh bằng phương cách bạo động. Chính tinh thần tôn trọng phá luật của đại đa số dân Mỹ là một điểm son khiến người Mỹ có quyền hãnh diện về dân tộc họ, một dân tộc rất trẻ. Những lãnh tụ theo Chủ Nghĩa Dân Tộc ở Âu Châu hay Á Châu có thể học hỏi phương pháp đấu tranh ôn hòa này, chính thức lên án những nhóm quá khích ở nước họ lúc nào cũng tìm cách tấn công các di dân. Người Việt Nam ở Nga, ở Ðức và nhiều nước Ðông Âu đã từng là nạn nhân của các nhóm quá khích như vậy.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Phía trong chiếc áo choàng sặc sỡ của phát triển

* Lê Diễn Ðức

Nếu không bị những chính sách sai lầm của đảng Cộng Sản và thất thoát, đất nước có khả năng phát triển hơn gấp nhiều lần nữa với số tiền hàng trăm tỷ đô la do nhân dân trong nước làm ra, do người Việt hải ngoại gửi về, do nước ngoài đầu tư trực tiếp và những khoản tiền lớn vay của các tổ chức tài chính quốc tế... trong hơn 20 năm qua.

Một Chicago Hoa Kỳ ở Trung Quốc
Image
Thành phố Trùng Khánh tại Trung Quốc. (Hình: OLLI GEIBEL/AFP/Getty Images)
Tờ “Foreign Policy” trong bài “The Global Cities Index 2010” hôm 16 tháng 8 có nói về Chongqing - tức là Trùng Khánh, một trong bốn thành phố Trung Quốc cấp tỉnh với cảng lớn trên sông Dương Tử, cạnh đường thoát của hồ chứa nước Ðập Tam Hiệp.

Trong chiến lược tăng trưởng của Trung Quốc, Trùng Khánh phải đạt được những gì của Chicago bên Hoa Kỳ.

Từ những ngày cải cách đầu tiên, các nhà hoạch định chính sách đã đổ dày lên đất Trùng Khánh nhiều tỷ đô la với hy vọng thúc đẩy nền kinh tế nghèo của Trung Quốc Ðại Lục. Người ta đã đầu tư xây dựng sân bay Trùng Khánh tuyệt vời, rất nhiều tòa nhà chọc trời, những đại lộ ven sông sáng chói ánh đèn neon...

Nhưng song song, Trùng Khánh cũng là ổ của căn bệnh tham nhũng và các tổ chức mafia lớn.

Trong năm 2009, bí thư đảng ủy địa phương Bo Xilai đã cho biết có gần 5,000 người được xem là bố già của các băng nhóm hình sự. Trong các băng đảng này, nhiều bố già có quan hệ mật thiết với các thẩm phán và cảnh sát.

Năm nay, cái nóng ở Trùng Khánh phải nói là khủng khiếp, người ta ví như một lòng cái chảo bị đốt nóng của Trung Quốc.

Ðường phố Trùng Khánh rất dốc nên vắng bóng xe đạp.

Ðội quân nông dân nghèo không sống nổi trên cánh đồng, rủ nhau đổ về đây làm dịch vụ cửu vạn rất đông đảo, được gọi là “bang bang”.

Với cây gậy tre và dây gai, “bang bang” chuyên chở trên đôi vai của mình đồ đạc, hàng hóa, va li, thiết bị gia dụng từ các cửa hàng đến địa chỉ của những người thuê mướn. Mỗi chuyến đi nặng nhọc như vậy họ được trả công từ 2 đến 10 Nhân dân tệ, tức là vài chục cent cho tới hơn 1 đô la!

Bề ngoài của Trùng Khánh cho ta cảm giác một đô thị hiện đại, nhưng với khái niệm đúng của hai chữ “thành phố” thì Trùng Khánh tuyệt đối không phải là thành phố lớn nhất thế giới.

Trên địa giới hành chính của Trùng Khánh có 32 triệu người dân sinh sống nhưng riêng thành phố Trùng Khánh thì không quá 5 triệu người.

Trùng Khánh nếu nói đúng thì là một thành phố lớn, có khu vục kinh tế khổng lồ, cộng cả khu vực nông thôn với hàng trăm làng mạc.


Từ Trùng Khánh nghĩ đến Vinashin Việt Nam

Trùng Khánh cho ta bức tranh là đặc thù của các thành phố Trung Quốc và của cả Việt Nam: phát triển không đồng bộ và khoảng cách như trời với đất của một bộ phận nhỏ giàu có và đa số người nghèo.

Ðối mặt với sự khuếch trương phát triển kinh tế, sự giàu có, hiện đại là sự thiếu vắng văn minh đô thị về vệ sinh công cộng, giao thông đường phố, hoạt động tội phạm kinh tế, xã hội có tổ chức và cuộc sống nghèo nàn, cực nhọc, chạy cơm từng bữa của dân lao động bình thường.

Các tòa nhà chọc trời, sang trọng ở đô thị thường là những trung tâm thương mại, dịch vụ, giải trí, dành riêng cho một giai cấp đặc biệt mới phất lên nhờ những đồng tiền bất chính, tham nhũng, ăn cắp, rút ruột các công trình hoặc nhờ tận dụng cơ chế đặc quyền đặc lợi, móc ngoặc với giới chức nhà nước, thậm chí với cả xã hội đen, để đầu cơ trục lợi.

Cho nên, chỉ những người có suy nghĩ nông cạn mới ngợi ca khơi khơi sự phát triển của đất nước nhờ sự lãnh đạo tài tình của đảng Cộng Sản Việt Nam.
Image
Chủ Tịch Vinashin Phạm Thanh Bình vừa bị cách chức. (Hình: VietNamNet)

Nếu không bị những chính sách sai lầm của đảng Cộng Sản và thất thoát, đất nước có khả năng phát triển hơn gấp nhiều lần nữa với số tiền hàng trăm tỷ đô la do nhân dân trong nước làm ra, do người Việt hải ngoại gửi về, do nước ngoài đầu tư trực tiếp và những khoản tiền lớn vay của các tổ chức tài chính quốc tế... trong hơn 20 năm qua, chỉ tính từ năm 1986 khi có chính sách “đổi mới và “cởi trói”.

Ðây không phải là nhận định của chỉ riêng cá nhân tôi.

Khá nhiều người Việt trong nước, ít thông tin, duy ý chí và bảo thủ vẫn thường coi nhẹ ý kiến của các tác giả viết độc lập trong dòng báo chí “Lề trái”. Họ cho rằng, báo chí Lề trái cố tình nói xấu, vạch lá tìm sâu, bôi nhọ đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam (đôi khi còn đánh đồng luôn cả với đất nước, dân tộc!), thậm chí dễ dàng áp đặt cho người khác chính kiến hai từ “phản động” một cách trâng tráo, mà không biết chính họ mới là kẻ “phản động” vì đi ngược lại lẽ phải và tiến bộ.

Cho nên, tôi vẫn thường dùng phương pháp “nói có sách, mách có chứng”, cố gắng đưa vào các bài viết của mình nhận định của những người trong cuộc, trong nước, với mục đích đảm bảo tính khách quan.

Trên trang web của “Viện Những Vấn đề Phát triển” (VIDS), cơ quan được xem là một think-tank của nhà nước Cộng Sản Việt Nam - cũng đã chỉ ra cho thấy nguồn gốc của đồng tiền tạo ra khuôn mặt và cái áo choàng phồn vinh, phát triển làm nhiều người ngợp đến mức ngộ nhận, kể cả một vài bạn đọc trên Weblog này. Tác giả Vũ Duy Phú trên VIDS viết:

“...Tỷ lệ thất thoát của các công trình đầu tư nhà nước được thừa nhận từ chính thức đến chưa chính thức là từ 15% đến 30-45%. Từ đó, chỉ trong số tiền thống kê chính thức là 29 tỷ đô la ta sẽ thấy phần thất thoát tài sản của nhà nước (chỉ phần đi vay) là không nhỏ: từ 4.38 tỷ đô la đến 8.7-12.75 tỷ đô la!

Số tiền khổng lồ sinh ra do thất thoát này lan tỏa vào xã hội dưới các dạng đầu tư chứng khoán, mua cổ phần, cổ phiếu, xây nhà xây cửa, mua sắm, tiêu xài, du lịch... và các dịch vụ ăn theo, làm cho nền kinh tế xã hội của chúng ta cứ dường như đang ‘phát triển’ mạnh từ vốn tự có, nhưng thực ra phần đáng kể sự ‘sôi nổi’, ‘năng động’, ‘đổi đời’ đó là do đồng vốn vay chưa trả nói trên thất thoát lan tỏa ra”.

Ðể minh chứng, chỉ cần nói đến số tiền hơn 4,5 tỷ đô la mà đảng và chính phủ đẩy đất nước vào gánh nặng nợ nần qua “quả đấm thép” Vinashin, chúng ta đã choáng và có thể ngất xỉu.

Trong bài “Trách nhiệm cá nhân và Vinashin” trên tờ “Ðại Ðoàn Kết” của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 13 tháng 7 năm 2010, tác giả Thái Duy làm phép so sánh cụ thể như sau:

“Ðất nước chưa bao giờ có một vụ thua lỗ như Vinashin. Tiền đều là của dân đóng thuế. Năm xuất khẩu gạo nhiều nhất là năm 2009, được 6 triệu tấn thu về hơn 2 tỷ USD, cũng chỉ bằng nửa số nợ của Vinashin. Cơn bão lớn nhất ở Ðà Nẵng, Quảng Nam năm 2007, thiệt hại tính thành tiền là 8,000 tỷ đồng, cũng chỉ bằng 1 phần 10 nợ của Vinashin. Số vốn nhà nước tung ra cho gói kích cầu hỗ trợ lãi suất 4% cho cả nền kinh tế trong đợt suy thoái vừa qua cũng chỉ bằng phần nợ của Vinashin. Tổng số vốn nhà nước đầu tư cho cả chương trình xóa đói giảm nghèo chỉ bằng một nửa nợ của Vinashin”.

Có bao nhiêu cái lỗ của các “quả đấm thép” khác như Vinashin còn chưa được biết đến? Nên nhớ rằng, toàn bộ chính sách làm ăn dẫn Vinashin đến bờ phá sản và núi nợ trên đã được những người có trách nhiệm và lương tri cảnh báo từ 5 năm trước. (Xem bài “Sự phá sản của Vinashin đã được cảnh báo trước 5 năm” - 6 tuần trước khi có quyết định 104/TTG ngày 15/5/2006 thành lập Vinashin - trên trang Bauxite Việt Nam ngày 20/08/2010.) Ðiều này có nghĩa là, biết trước hậu quả nhưng lãnh đạo đảng và nhà nước vẫn nhắm mắt làm. Ðến khi “cháy nhà ra mặt chuột” thì than ôi, tiền đã mất mà tật thì dân phải mang với lòng xót xa, cay đắng!

Câu hỏi đặt ra là: Vậy thì tại sao bộ ba cặp bài trùng Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ Trưởng Tài Chính Nguyễn Sinh Hùng, Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải Hồ Nghĩa Dũng vẫn rót tiền bạc liên tiếp cho Phạm Thanh Bình? Và giờ đây họ lại tiếp tục kêu gào “toàn đảng, toàn dân” xúm tay cứu để Vinashin không trở thành đống sắt vụn! Tiền bạc của ai mà họ cứ cho phép mình mãi mãi rót hoài vào cái thùng không đáy vậy?

Lời đáp, thiết nghĩ không có gì khó, nếu chúng ta nhìn vào các yếu tố kể trên.

(Nguồn: Lê Diễn Ðức Blog)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Về Trong Tiếng Reo
- Reng… reng….

- Đức Cha về rổi..

- Reng….. reng..

- Đức Cha Kiệt về rồi….

Vâng cứ thế, bắt đầu là những nhịp phách rời rạc. Rồi từng chập, từng chập cứ thế reo vang, reo vang mãi. Tiếng reo tuởng chừng bất tận, chuyên chở tiếng gọi nhau từ hải ngoại về trong nước, rồi chạy ngược ra hải ngoại. Tiếng reo vang từ bắc vào nam, rồi lại vọng từ Nam ra bắc. Và sau những tiếng chuông reo, điện báo là những tiếng nói, hơi thở gấp rút trong hân hoan, phấn khởi. Hà Nội như bừng lên một sức sống khác. Rạng rỡ, tin tưởng. Cả nước như chia nhau chuyền tai nhau một bản tin mà làm như sợ có người khác đã đưa tin trước mình.

Lạ! Câu chuyện chỉ ngắn là thế, GM Kiệt đã trở về, nhưng lại mang theo một sức sống mãnh liệt ngoài sức tưởng tưởng của mọi ngườ?. Ngay như Hà Nội, đang gồng mình trong cái nóng của ngày cuối hạ, bỗng nở ra một chiều êm dịu, hiền hòa, người người vui cười. Hà Nội đang uất nghẹn trong đau thương, giận hởn từ đêm Ngài bị đưa đi trong cô đơn, bỗng nhiên những bàn tay đưa ra nắm lấy nhau như hòa giải, tha thứ. Và Hà Nội ngay sau phút ngỡ ngàng chạm được niềm vui, bàn chân nào cũng muốn bước, muốn chạy ngay đến nơi mà ngưòi ta bảo là có Ngài để mong chính mắt mình được nhìn thấy biểu tượng của Niềm Tin của Công Lý còn đứng sừng sững giữa trời.

Rồi từng chiéc xe, từng đoàn xe, từ những chiếc xe đạp, xe gắn máy, đến những chiếc ô tô sang trọng hay xe khách cũng cùng chung một hưóng đến. Xe nối đuôi xe, người nối bước chân người, tất cả đều rộn ràng, gọi bảo nhau khua chiêng lên, đánh cồng lên. Tiếng cồng xuyên nước non, thông báo cho mọi ngưòi một tin đáng vui mừng: Này Công Lý đã trở về. Ngày Công Lý đã tới.

Lạ thật, mới hôm nào thì nghẹn ngào trong nước mắt, mẹ và con tựa cửa tức tuởi với khuôn mặt chảy dài, con ruồi đậu vào mép không buồn đuổi. Nay mới nghe loáng thoáng được vài câu ngắn truyền tai nhau là đưa tay quyệt ngang dấu lê mừng. Rồi khi đoàn người, đoàn xe lủ lượt theo nhau kéo đến Châu Sơn thăm Ngài. Nhưng chẳng ai gặp được GM Kiệt, tệ hơn, chưa ai nhìn thấy Ngài, vậy mà nỗi thất vọng không dâng lên. Trái lại, mẹ nắm tay con, em nắm lấy tay anh, tay chị, con níu lấy tay cha để nước mắt mừng vui lăn xuống trên gò má vì biết chắc Niềm Tin của họ đang hiện diện trước mặt, trong căn nhà đóng kín cổng kia! Nghĩa là Ngài đã hiện diện giữa anh em, dù anh em chưa nom thấy. Thế là Niềm Tin sống lại, đủ mừng, đủ hân hoan, đủ cho những dòng lệ rơi xuống, xóa tan đi nhừng âu lo khắc khoải, xóa tan đi những đau thương uất nghẹn hôm nào!

Lạ, lạ qúa. Người Việt Nam ta nhân bản quá, gì cũng khóc. Buồn cũng khóc, mà mừng qúa cũng khóc òa. Hơn thế, còn ôm lấy nhau mà khóc! Mà nào chỉ có một Hà Nội mau nước mắt khi chạm vào hơi thở tin yêu, vui mừng. Nhưng là mọi nơi mọi chốn. Từ Cao Bắc Lạng về đến cao nguyên, xuống đồng bằng Cửu Long, Sài Gòn, không một nơi nào không có câu chuyện hân hoan từ lúc nghe tin Ngài về. Nghe tin ngày Công Lý đã tới!

Tại sao câu chuyện lại reo vui như thế nhỉ?

Nhà nước đón nhận bản tin này ra sao?

Giào Hội VN, cách riêng là qúy GM trong HD đón tin này thế nào?

1. Tại sao câu chuyện lại reo vui thế nhỉ?
Đơn giản là vì chữ về mà không phải là chữ đi! Nghĩa là Chân Lý, Sự Thật về với ta. Ta được Công Lý, được Sự Thật che chở. Mà không phải vì Chân Lý và Sự Thật ra đi, và ta sẽ mất Chân Lý, mất Sự Thật, mất luôn an bình!

2. Nhà nước đón bản tin này ra sao?
Bụng dạ của người lương thiện dễ đoán, bụng của thằng gian thì thật khó lường. Tuy nhiên trong trường hợp này có lẽ họ cũng đánh ngậm qủa bồ hòn mà làm vui. Bỡi lẽ, GM Kiệt ngày nay đã bước ra khỏi vòng cương tỏa của thời cuộc. Danh không màng, lợi không ham, địa vị chức quyền cũng đã từ bỏ. Mộng ước của một đời người sau khi đã xả thân vì tha nhân chỉ còn gòi trọn lại trong mấy chữ: “ước muốn của ngài là được sống ở một nơi im lặng trong một tu viện là tu viện Châu Sơn, để cầu nguyện cho quê hương Việt Nam”.

Có lẽ nào mấy chứ ấy nhà nước cũng ghét ghen hay đố kỵ để tạo thêm phẩn uất căm hơn cho người dân. Tạo thêm thế đối đầu cho đến đoạn một mất một còn? Bởi lẽ, GM Kiệt đã không tiếc mạng sống của mình vì Công Lý, vì Sự Thật vì Hạnh Phúc của nhân dân, lẽ nào toàn dân ích kỷ với Ngài? Đó là thế tất yếu, thương yêu thì được, ghét ghen là mất. Nếu nhà nước quyết tạo nên hận thù cho dân, cái thế của cộng sản cũng không tồn tại.

Bài học của những tháng qua đã chứng minh. Không phải đến hôm nay mới có những chủ tịch UBND như Nguyễn Tường Tô, hiệu trưởng Sầm đức Sưong thể hiện cuộc sống của loài dã nhân, hãm hiếp và mua dâm học trò vị thành Niên. Nhưng từ trước, Hồ chí Minh, Lê Duẫn và các cấp trung ương cũng đã từng trác táng tên thân thể các nhi đồng Việt Nam, nhưng không một ai dám nói động đến quan cán. Nay tinh thần Ngô Quang Kiệt, không sợ hãi, đã thấm, đọng sâu trong lòng người nên chúng bị quật ngã như Tô, như Sương và dĩ nhiên là không dừng lại ở đó.

Rồi chuyện công an cán bộ giết người là độc quyền của nhà nước cộng sản, người dân chỉ biết nhận lấy phần thua thiệt, không dám nói ra nửa lời, Nay tinh thần vì Công Lý vì Sự Thật với hàng vạn bước chân rầm rập trên đường phố đã làm cho bọn cán bộ từ Trung Ương đến Bắc Giang vỡ mật. Đành vuốt mặt đưa một vài con tép ra làm cờ thí. Tóm lại cái thói bịt mắt, bịt miệng dân nay đã không còn hiệu lực. Cường bạo xem ra khó thẳng lòng người khi tất cả nhân dân đã đọc và điểm danh được từng tên gian ác buôn dân bán nước.

Theo dó, dẫu không vui vẻ gì về chuyện “Ông Kiệt“ lại xuát hiện trong địa bàn Hà Nội, nhưng tôi tin rằng vào lúc này Việt cộng không dám nghĩ đến cái kế “ nhổ cỏ, nhổ tận gốc” Bởi lẽ, mưu đồ nhổ gốc này không dễ và sẽ nhận tai họa tái quy. Vì gốc của GM Kiệt là Công Lý là Sự Thật. Gốc của GM Kiệt là niềm tin, hy vọng, là sức sống nằm ở trong lòng nhân dân. Đó là sức mạnh mà nhà cầm quyền này chắc chắn không muốn trực diện. Nên câu chuyện làm hòa có thê được mở ra và rồi lại có một phái đoàn nho nhỏ nào đó của nhà nước đến thăm…. dò và vấn an sức khỏe của Ngài để gọi là sống chung hòa bình! Bởi lẽ, không ai nằm vắt tay lên trán từ tối đến sáng, và cũng chẳng có một thế lực nào là tồn tại vĩnh viễn, trừ ra là Công Lý và Sự Thật.

3. Giáo hội VN đón nhận tin này thế nào?
Hẳn nhiên là một niềm vui lớn. Niềm vui không những chỉ cho giáo dân là những người con ngoan hiền, hiếu thảo biết đi theo đường công lý và bảo vệ sự thật, mà còn là niềm khích lệ cho những mục tử còn rụt rè. Bởi lẽ, nếu có một chút lầm lẫn nào đã là nguyên cớ để tạo ra một chuyến đi như loại trừ nhau, để tạo ra một vết thương cho giáo hội, tạo ra một sự nghi ngở, hoang mang trong đoàn chiên để dìm uy tín của giáo hội xuống vực thẳm thì chuyến vê này, được xem là một cơ hội tốt nhất để hàn gắn và tạo lại niềm tin cho nhau và cho giáo dân.

Nhưng ngay trước mắt, chuyến về này đã tự nhiên tháo gỡ đi gánh nặng ngàn cân đã đè xuống trên vai HD nóí chung và GM Nhơn, nóí riêng, mà trong mấy tháng qua, dù muốn nói, nhưng cũng không biết phải nói gì. Nói theo kiểu DC Linh, càng cố tháo gở càng thêm rối rắm hiểu lầm và thật ra, cũng chẳng biết nói những gì! Nhưng lúc này, xem ra cơ hội đã có, để các Ngài có thể giải thích thế nào là “đồng cảm không đồng thuận,” thế nào là lên tiếng hay không lên tiếng: hoặc gỉa, “ ai không thích cộng sản thì cũng không nên yêu cầu chúng tôi khích bác họ”. Khi giải tỏa được những ẩn ý nay, Giáo hội sẽ có cơ hội mở ra một hướng đi mới. Hướng đi đích thực của thầy chí thánh đã dạy là “ Ta là Đường là Chân Lý cà là Sự Sống” (Ga.14:6)

Về phía Rôma, bề ngoài thì xem ra việc một giám mục nghỉ hưu thì Ngài đi chữa bệnh ở ngoại quốc hay về trong nước uống thuốc nam chỉ là chuyện cá nhân. Nhưng thực tế, trường hợp GM Kiệt là một ngoại lệ. Bời lẽ, theo bản tin đăng trên tờ Catholic của Tổng Giáo Phận Sydney phát hành tuần 14-5-2010 trên ấy có bản tin khá đặc biệt với tựa đề: Archbishop of Hanoi resigns. Vietnamese Government Rejoices. Catholic Communications, Sydney Archdiocese, 14 May 2010.

The Vatican accepted the resignation Archbishop of Hanoi, Joseph Kiêt. He was known as a key opponent against the Vietnamese government.Even though the archbishop says he's resigning for health reasons, the move is widely viewed as the price the Vatican must pay to establish diplomatic relations with Vietnam. tạm dịch:” TGM Hà Nội từ chức, nhà cầm quyền nhảy mừng! Vatican đã chấp thuận sự từ nhiệm của TGM Hà Nội, Joseph Kiệt, là người được biết đến như một biểu tượng chống lại nhà cầm quyền Việt Nam. Mặc dầu TGM nói là xin nghỉ vì lý do sức khoẻ, nhưng sự việc ra đi này cho thấy đây là cái gía mà Vatican phải trả khi muốn có quan hệ ngoại giao với Việt Nam.”

Nếu đúng, thì cái giá Roma đã trả rồi. Nay Ngài trở về nước thì đến lượt nhà cầm quyền Việt cộng phải trả cái giá ấy. Gía của tinh thần Ngô Quang Kiệt đi tìm Chân Lý và Sự Thật sẽ như mưa lâu thấm đất. Giá của tinh thần đi tìm Chân Lý không dễ trói buộc ngướì dân Việt Nam vào chữ sợ hãi, tiếp tục yên lặng trước những bất công do xã hội tạo ra. Nhưng biết đâu, đó lại là cái gía hồng phúc cho Việt Nam.

Như thế, đây là bản tin đáng vui mừng. Vui mừng cho chính cá nhân của Ngài đã đạt ước nguyện là được sống và chết với hơi thở của quê hương yêu dấu của mình.

Vui mừng ví đoàn chiên được thoả lòng với Người đã tạo cho họ niềm tin, dù Ngài có thể không còn công tác trực tiếp với họ. Nhưng sức sống và hướng đi tìm Công Lý và Sự Thật sẽ không bao giờ còn ngừng lại nữa. Trái lại sẽ tiếp nối đi lên để hoàn thành ngày Công Lý cho Việt Nam.

Đơn giản hơn, đây là một cơ hội lớn để hòa giải và làm lành giữa anh em. Một cơ hội tốt để hiểu biết và cảm thông rồi giải tỏa mọi áp lực gữa chủ chăn và đoàn chiên. Một cơ hội, nếu cần, tất cả phải đấm ngực để nhìn ra những lầm lẫn của chính mình để rồi cùng nhau đưa con thuyền Giáo Hội Việt Nam vượt qua nghi nan, đến nơi có trọn vẹn niềm tin, trung tín, hiệp nhất Hơn thế, phải nhìn ra được đây là một cơ hội lớn, một hồng ân đặc biệc Chúa ban cho GHVN. Để nhờ vào đó, mọi người, mọi nhà, mọi giáo xứ, mọi địa phận đều có cơ hội canh tân đổi mới.

Đổi mới! Hoàn toàn đổi mới! Đổi mới toàn diện bộ mặt sống của mình, của gia đình, của địa phương để cùng hoà mình và dấn thân vào cuộc sống chung của Giao Hội nơi trần thế. Là nơi mà đức tin đã chỉ đường là “Đem ánh sáng vào nơi tối tăm, đem chân lý vào chốn lỗi lầm” để sẽ không còn ai ủ ê sống trong nghi vấn, hoang mang.

Để từ đó, niềm reo vui của ngày về biến thành niềm tin tưởng dấn thân. Để ngày về của Công Lý biến thành Ngày Công Lý cho mọi nơi, cho mọi nhà và cho mọi người.

Bảo Giang

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Hai hình ảnh hai cuộc đời !

Cậu bé Bill Clinton 16 tuổi

Image
Ngày 24 tháng 7 năm 1963, một cậu bé 16 tuổi ở bang Arkansas, tên là Bill Clinton, đã được diện kiến tổng thống John F. Kennedy tại White House.
Tổng thống John F. Kennedy đã thân mật bắt tay cậu bé.

Ba mươi năm sau, cậu bé Bill Clinton trở thành vị tổng thống thứ 42 của Hoa Kỳ.
Hồi tưởng giây phút được bắt tay tổng thống John F. Kennedy 30 năm trước, tổng thống Bill Cinton nói: “Giây phút đó gây một tác động sâu sắc trong tôi. Tôi nghĩ rằng giây phút đó là một điều gì tôi luôn luôn mang theo, và tôi rất may mắn vì có một người nào đã chụp ảnh giây phút đó và cho tôi bức ảnh để tôi có thể tưởng nhớ.” (It had a very profound impact on me... I thinh that it was something that I carry with me always, and I was very fortunate that someone took the photo of it and gave it to me so I was able to remember it.)
Giây phút đó đã được thu vào phim tài liệu của White House và hiện nay đã được chiếu lại trên Youtube để cả thế giới có thể xem.
*
Cậu bé Ngô Bảo Châu 16 tuổi

Ở Việt Nam, cậu bé Ngô Bảo Châu 16 tuổi, mới học lớp 11, đã đoạt Huy Chương Vàng Olympic Toán quốc tế 1988 tại Canberra. Năm sau đó, một lần nữa cậu lại đoạt Huy Chương Vàng Olympic Toán quốc tế 1989 tại Braunschweig. Sau kỳ tích này, thần đồng toán học đã phải đến báo cáo thành tích với ông Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười với tư thái như thế này:
Image
Ông Đỗ Mười (trình độ học vấn như thế nào thì ai cũng biết cả rồi!) ngồi chễm chệ trên ghế dựa, mắt không nhìn cậu bé Ngô Bảo Châu.
Trong khi đó, cậu bé thần đồng toán học đứng khép nép rụt rè báo cáo về những điều mà ông Đỗ Mười không bao giờ hiểu nổi.
Trong tuần qua, tấm hình này đã được đăng lại trên rất nhiều báo ở Việt Nam. Dưới tấm hình, báo Vietnamnet ghi:

Ngô Bảo Châu báo cáo thành tích với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng khi đó là Đỗ Mười, sau khi đạt Huy chương vàng Olympic Toán quốc tế.
Báo Tuổi Trẻ ghi:

Ngô Bảo Châu báo cáo thành tích với nguyên Thủ tướng Đỗ Mười sau khi đạt Huy chương vàng Olympic Toán quốc tế.
Báo Bình Định, Cơ quan của Đảng bộ Đảng CSVN tỉnh Bình Định, ghi:

Ngô Bảo Châu báo cáo thành tích với lãnh đạo Đảng.

Tôi muốn hỏi: Tại sao một cậu bé thần đồng toán học lại phải báo cáo thành tích cho một ông lãnh đạo Đảng (mà chính ông ấy lại là một kẻ dốt toán)?
Cái thái độ quan liêu dửng dưng của ông lãnh đạo Đảng chứng tỏ rằng Đảng không hề quan tâm đến toán học hay khoa học gì cả. Đảng chỉ quan tâm đến những thành tích mà cậu bé thần đồng đạt được. Cái trò này chỉ là cái trò chực giành lấy thành tích của một cá nhân làm thành tích của Đảng.
Bình thường, học sinh Việt Nam sống đói rách, học hành nhếch nhác trong một hệ thống giáo dục tệ hại ra sao, thì ai cũng biết, nhưng Đảng mặc kệ. Đợi đến khi có một ai đạt thành tích gì to lớn, thì Đảng vội vàng vơ lấy, theo kiểu “nhờ ơn Đảng mà mày mới được thế này!”
Trò này cứ tái diễn mãi. Ai cũng biết cả rồi.

Lương Thị Nữ Nhi
Source: http://tienve.org/home/activities/viewT ... rkId=11205

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tân tổng giám đốc Vinashin, vừa lên lại bị cách chức



SGTT.VN - Theo nguồn tin riêng của Sài Gòn Tiếp Thị, ông Trần Quang Vũ - người mới nhậm chức tổng giám đốc tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) 2 tháng qua - lại vừa bị Thủ tướng Chính phủ ký quyết định đình chỉ chức vụ. Ông Trần Văn Liêm, trưởng ban Kiểm soát thuộc Vinashin cũng bị đình chỉ chức vụ.

Ngoài ông Vũ, ông Liêm, còn có một số cá nhân khác làm việc tại Vinashin cũng bị đình chỉ trong dịp này nhưng chưa được tiết lộ tên tuổi cụ thể.

Nguyên nhân của việc ông Vũ, ông Liêm bị đình chỉ không được nêu rõ nhưng theo nguồn tin của Sài Gòn Tiếp Thị, có liên quan đến những sai phạm trong quản lý, điều hành Vinashin. Một nguồn tin của Sài Gòn Tiếp Thị cho biết, cơ quan chức năng đang làm rõ những sai phạm nêu trên.

Được biết, trước đây, ông Trần Quang Vũ là tổng giám đốc tổng công ty công nghiệp Tàu thủy Nam Triệu (NASICO), cũng thuộc tập đoàn Vinashin. Tổng công ty này cũng hoạt động, kinh doanh đa ngành: đóng tàu, sửa chữa tàu biển, cung ứng dịch vụ hàng hải, xây lắp công trình điện, du lịch và khách sạn, xuất nhập khẩu… Theo đánh giá của cơ quan chức năng, tổng công ty này hoạt động cũng kém hiệu quả, thua lỗ và hiện có số nợ phải trả, nợ quá hạn khá lớn.

Hiện chưa rõ ai sẽ thay ông Vũ làm tổng giám đốc Vinashin.

M.Q

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Cảnh giác với con bài Nguyễn Chí Vịnh

Bùi Quang Vơm

Image
Tướng Nguyễn Chí Vịnh của QÐND Việt Nam. (Hình: Báo QÐND)
Ðúng là gần đây, một hiện tượng gây nhiều nghi ngại, thắc mắc là sự xuất hiện liên tục của Nguyễn Chí Vịnh trên các phương tiện thông tin đại chúng cả trong nước và nước ngoài. Nhưng đáng chú ý nhất là cuộc trả lời phỏng phấn của báo Quân Ðội Nhân Dân ngày 10 tháng 8, 2010. Nhiều người cho rằng, cuối cùng, phe thân Tàu trong đảng cộng sản đã buộc phải “xuất tướng.” Bởi vì, người ta biết, sau Nông Ðức Mạnh, người được coi là có thế lực nhất (thế lực ngầm) thuộc phe này là Nguyễn Chí Vịnh. Dư luận ngoài nước nhiều ý kiến trái ngược nhau, trong khi báo chí trong nước không hề có một bình luận nào. Bác Bùi Tín lúc đầu đã cảnh giác dư luận “một cuộc đảo chính không tiếng súng” (*), nhưng ngay sau đó, khi có ý kiến của bác Trần Bình Nam rằng “ý kiến mạnh dạn, cứng cỏi của thành phần sĩ quan cao cấp trong đảng Cộng Sản đã tạo nên sự thay đổi quan trọng này” và “rằng qua việc cử Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh dự cuộc đối thoại cấp cao quốc phòng Việt-Mỹ ngày 17 tháng 8, Hà Nội muốn nhắn với Trung Quốc rằng đừng hy vọng gì vào các con bài Ðỗ Mười, Lê Ðức Anh, Nguyễn Chí Vịnh của họ, những người này đang tìm cách xếp hàng vào với đa số “chống Tàu cứu nước,” và vì vậy mà bác Bùi Tín đã phấn khởi đính chính rằng có thể đây là sự “bẻ lái chiến lược.” (1)

Ðọc bài phỏng vấn, người ta có cảm giác rằng, người hỏi không phải là phóng viên báo Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam, mà là một phóng viên của một tờ báo nào đó đến từ Trung Quốc. Và không phải là Nguyễn Chí Vịnh trả lời phỏng vấn mà là Nguyễn Chí Vịnh thanh minh với Trung Quốc.

Có thể thấy rất rõ rằng, cuộc trả lời phỏng vấn này nhằm vào 3 mục đích:

1. Tầm thường hóa quan hệ Việt Mỹ.

2. Khẳng định trước sau như một, quan hệ với Trung Quốc mới là một quan hệ bạn hữu chiến lược.

3. Chỉ Bộ Quốc Phòng có quyền thông tin các vấn đề liên quan tới quân sự.


Thứ nhất:


“Hoa Kỳ bày tỏ mong muốn cử một đoàn tàu quân sự vào thăm Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 15 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, và chúng ta đã chấp thuận ý kiến này.”

Và: “Chúng ta chấp nhận lời mời của phía Hoa Kỳ vì mong muốn thể hiện thiện chí trong quan hệ giữa hai nước, đồng thời khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên vùng đặc quyền kinh tế theo quy định của luật pháp quốc tế.”

Có thể hiểu điều mà Nguyễn Chí Vịnh muốn nói là: những hoạt động giao lưu hợp tác giữa quân sự hai nước sôi nổi và dồn dập gần đây chỉ là theo”thông lệ” và hoàn toàn do phía Hoa Kỳ chủ động, phía Việt Nam không tìm kiếm và có vẻ như bắt buộc phải “chấp nhận” hay “chấp thuận.” Nguyễn Chí Vịnh nhấn mạnh: “Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự, không dựa vào nước này để chống nước kia,” và những hoạt động này đều do “chính quyền địa phương chủ trì, các bộ, ngành có liên quan và các đơn vị quân đội ở địa phương tham gia và phối hợp.” nghĩa là không thuộc trách nhiệm lãnh đạo Bộ Quốc Phòng! Tóm lại, quan hệ Việt Mỹ chẳng có gì mới, chẳng có gì quan trọng.

Và làm như là trích lời của báo chí, Nguyễn Chí Vịnh nói: “Việt Nam theo đuôi Mỹ”... đây thực chất chính là sự kết tội phe phái thân Mỹ trong nội bộ đảng cộng sản.


Thứ hai:


“Phát triển quan hệ hải quân với Trung Quốc là một hướng ưu tiên trong quan hệ đối ngoại quốc phòng của Việt Nam, mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai nước.”

Và “Có thể nói, quan hệ hải quân giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được phát triển theo đúng tinh thần quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mà lãnh đạo hai Ðảng, hai Nhà nước đã cam kết.”

“Hiện nay, mối quan hệ đó đã đạt được nhiều thành tựu, hai bên thường xuyên trao đổi các đoàn đại biểu cấp cao, tiến hành giao lưu sĩ quan hải quân, tuần tra chung, lập đường dây nóng và gần đây nhất đã tiến hành diễn tập cứu hộ, cứu nạn trên biển.”

Không có gì thay đổi trong mối quan hệ ‘thân hữu anh em’ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Người Việt chúng tôi vẫn trước sau trung thành với Trung Quốc, dù cho ai ‘nói ngả nói nghiêng’ lòng trung thành trước sau như một đó vẫn ‘vững như kiềng ba chân.’”

“Cây ngay không sợ chết đứng.” Lời thanh minh này dành cho ai? Ai đã nghi ngờ lòng “ngay” của Nguyễn Chí Vịnh? Ai đã quy tội oan cho phe phái của Vịnh?

Không! Cú đánh vỗ mặt bất ngờ của Hà Nội ngày 23 tháng 7 tại Hội nghị Ngoại Giao ASEAN là của phe Nguyễn Tấn Dũng, Phạm Gia Khiêm. Ðó là cú đánh quá độc và quá bất ngờ, ngay chính Nông Ðức Mạnh cũng không ngờ. Cú đánh có thể làm Dương Khiết Trì, đương kim bộ trưởng Ngoại Giao Trung Quốc, mất chức.

Nhưng thưa, chúng tôi vẫn làm chủ tình hình, vẫn toàn quyền kiểm soát tình hình. Bằng chứng là ngay sau đó, báo chí cả nước đã buộc phải im bặt. Không một lời tán tụng. Không một sự tôn vinh. Một không khí đang hừng hực ngây ngất, náo nức đột ngột tắt lịm như bị giội nước lạnh.


Thứ ba:


“...một số báo chí Việt Nam cũng đưa chưa thật chính xác về vấn đề này. Rất tiếc là giới truyền thông không tìm đến địa chỉ cần thiết là Bộ Quốc Phòng để tìm hiểu thông tin chính xác về sự kiện này cũng như các vấn đề tương tự.”

Hãy coi chừng. Nếu không có sự cho phép của Bộ Quốc Phòng, các người sẽ chịu hoàn toán trách nhiệm về những gì mà các người say sưa đưa lên mặt báo. Hãy luôn nhớ rằng Ta là tất cả, Ta có thể làm được tất cả, có thể nghiền nát mọi thứ! Ðã như thế và vẫn như thế.

Người phát ngôn bộ Ngoại Giao Nguyễn Phương Nga ngay lập tức bác bỏ hợp tác hạt nhân Việt-Mỹ do Wall Street loan báo (2), bất chấp danh dự quốc gia, để thanh minh với Trung Quốc rằng: không phải lãnh đạo cao nhất của đảng Cộng Sản Việt Nam chủ trương, Gói thầu lớn nhất của hai trung tâm năng lượng hạt nhân đầu tiên vẫn được giữ nguyên để dành cho Trung Quốc.

Rõ ràng rằng việc xuất hiện của Nguyễn Chí Vịnh trên tờ báo tiếng nói của Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam là báo cáo chính thức với “thượng cấp” rằng: “Nguyễn Chí Vịnh và phe đảng đang kiểm soát Bộ Quốc Phòng” và luôn sẵn sàng tung “quả đấm thép” trừng trị bất kỳ thế lực cản trở nào.

Việc im bặt của giới báo chí chính thống cả nước trong suốt thời gian từ sau sự kiện “Ða phương hóa Biển Ðông” ngày 23 tháng 7, 2010, chứng tỏ rằng đã có sự liên minh chính thức giữa Nguyễn Chí Vịnh (tức là Nông Ðức Mạnh) với Nguyễn Phú Trọng và Tô Huy Rứa. Và rất có thể, một chiến dịch “thanh lọc và tiêu diệt kẻ thù của Chủ nghĩa Xã hội” sẽ được phát động. Với sức mạnh tàn độc của Tổng Cục II và bằng tiền bạc và kỹ thuật đến từ Trung Nam Hải, mọi trở lực sẽ biến thành tro bụi.

Cùng với sự xuất hiện liên tục của Nguyễn Chí Vịnh, người ta có thể thấy:

1. Cuộc chiến giữa các phe phái trong nội bộ Bộ Chính Trị trong cuộc giành giật quyền lực trước Ðại Hội XI đã đến vòng chung kết. Trước thất bại 20 tháng 7, 2010, buộc lòng Nguyễn Chí Vịnh phải xuất hiện để khẳng định với quan thầy. Bởi vì, rất có thể, sự nghi ngờ đang đe dọa an ninh của chính bản thân Nguyễn Chí Vịnh và phe đảng cùng với nguy cơ biến mất của những mối lợi kếch xù mà sự gắn bó với Trung Quốc đem lại.

2. Bằng sự xuất hiện, Nguyễn Chí Vịnh chứng tỏ “quả đấm thép” là có thật. Nguyễn Chí Vịnh đang là người duy nhất chi phối Bộ Quốc Phòng chứ không phải người nào khác. Nguyễn Chí Vịnh là người phát ngôn Bộ Quốc Phòng, Nguyễn Chí Vịnh vừa đàm phán với thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, và Nguyễn Chí Vịnh sẽ là người tham dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN tháng 10. Hãy coi chừng, những tướng lĩnh vừa lớn tiếng ầm ĩ sẽ phải nhận đòn, hoặc sẽ phải “biến.” Những thế lực nào dám cản trở sẽ bị trừng trị không thương tiếc. Chiến dịch này có thể đã bắt đầu bằng cuộc tàn sát hàng loạt báo mạng dân chủ. Thông luận, Talawas, Tienve,... và hôm nay là Danchimviet. Bịt mồm trước để đánh không kêu được.

3. Bằng sự xuất hiện chính thức ngày càng nhiều trên sân khấu chính thống, người ta đang tiến hành việc tô son lên khuôn mặt thiếu đạo đức, vô liêm sỉ của Nguyễn Chí Vịnh, dạo nhạc và dọn dẹp dư luận cho một chiến dịch biến Nguyễn Chí Vịnh thành một tượng đài của lòng yêu nước và một tài năng xuất chúng, để nhảy vào Trung Ương và Bộ Chính Trị, bước đầu tiên để Nguyễn Chí Vịnh leo lên vị trí tột đỉnh của quyền lực. Có thể thấy trước một equipe sẽ hình thành xung quanh Nông Quốc Tuấn và Nguyễn Chí Vịnh. Và khi đó, từ chế độ độc đảng, Việt Nam sẽ trở thành Phát xít. Hận thù và khát vọng trừng trị trong lòng Nguyễn Chí Vịnh nhiều năm nay sẽ có cơ hội để thỏa mãn và một cuộc thanh trừng khốc liệt sẽ không thể tránh khỏi. Ngược lại, nếu thất bại, Nông Ðức Mạnh ra đi, Nguyễn Chí Vịnh không vào được Trung Ương. Ðại Hội XI sẽ đưa hồ sơ Tổng Cục II ra xét lại, và Nguyễn Chí Vịnh sẽ không tránh được một cái án tử hình, hoặc chí ít cũng chung thân. Ðó là lý do sự vội vã hấp tấp và hung hăng này của Nguyễn Chí Vịnh.

Sau sự lồng lộn ầm ĩ của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc cùng vói một loạt công bố tăng cường sức mạnh uy hiếp của Trung Quốc (tập trận bắn đạn thật trên vùng biển Trường Sa, thiết lập căn cứ thứ hai tên lửa đầu đạn hạt nhân tại Quảng Châu, đẩy mạnh chương trình xây dựng hàng không mẫu hạm...), người Trung Quốc đang nhắc đến “sự khiêm tốn Trung Quốc,” tìm lại chính sách “Thao cương dưỡng thổ” của Ðặng Tiểu Bình, im lặng phục binh, âm thầm như núi Thái Sơn... Vì vậy có thể dự đoán, Trung Quốc sẽ bớt múa mép, đe dọa ồn ào, mà sẽ im lặng hành động. Mặc dù Li Hongmei trên Nhân Dân Nhật Báo, tờ báo của đảng Cộng Sản Trung Quốc đã cảnh cáo Việt Nam “không nên chơi với lửa,” cách hành xử tại Biển Ðông sẽ có hình thái khác, hiệu quả hơn, nhưng ít tạo ra phản ứng hơn. Ðối phó với Việt Nam sẽ được tính toán cẩn thận và chuẩn xác hơn. Mục tiêu là biến ASEAN thành cái xác không hồn, những kẻ theo Mỹ ở Việt Nam và các nước sẽ phải biến mất, bằng mọi giá.

Trong chiến lược này, người Việt sẽ tự diệt người Việt. Nguyễn Chí Vịnh sẽ phải thể hiện lòng trung thành bằng cách lần lượt “hô biến,” trước hết là Phùng Quang Thanh, tiếp đến là Phạm Gia Khiêm và nếu cần thì ngay cả Nguyễn Tấn Dũng, rồi đến Lê Hồng Anh, Nguyễn Minh Triết

Nếu chuyện sẽ xảy ra theo kịch bản này, thì hãy yên phận. Người Việt Nam rồi sẽ nói tiếng Trung Quốc, tiêu tiền Nhân Dân tệ và thoát được nỗi khổ phải phân định ranh giới, cả trên đất liền lẫn trên biển.

Có một điều khá lạ nhưng vô lý là: dư luận cả trong và ngoài nước hình như hiển nhiên thừa nhận tính chính danh của công cụ khủng bố trong tay đảng cộng sản. Bắt và xử, một vụ tai nạn máy bay, ô tô, xe máy, một vụ tai biến mạch máu não, một vụ đột tử không rõ nguồn gốc v.v... là độc quyền của đảng cộng sản và dư luận chính thống. Ðể bảo vệ mình, tại sao “người ta” không có quyền mơ ước cũng học được phép thuật “hô biến” đó?

Những người bất đồng chính kiến Cuba đã biết thành lập Tòa án dân chủ từ tháng 10 năm ngoái, để tập hợp tội phạm phản dân chủ và xử công khai những kẻ có tội. Họ đã có một Ủy Ban Thi Hành Án với đầy đủ uy lực.

Ước gì bác Trần Bình Nam có được tin tức tình báo có thật từ nội bộ Trung Ương Ðảng cộng sản. Cầu trời bác không bị là công cụ của trò chơi “hư hư, thực thực.”

Như vậy thì niềm hy vọng khiến phải chuyển lập trường từ “cuộc đảo chính” sang “bẻ lái chiến lược” của bác Bùi Tín khả dĩ được an ủi, và thực sự là một hạnh phúc vô bờ bến đối với người Việt Nam. Mặc dù nhìn vào diễn biến công khai thì có thể khó tin được.

Cũng có thể những suy luận trên đây chỉ là suy diễn vô căn cứ của một cá nhân. (Nguồn: Ðối Thoại Online)

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Trung Quốc sẽ khủng hoảng địa ốc

Ngô Nhân Dụng

Image
Công nhân Trung Quốc làm việc tại một công trình xây dựng ở Hefei, tỉnh An Huy, miền Trung Trung Quốc. (Hình: STR/AFP/Getty Images)

Bây giờ nhớ lại cơn sốt nhà cửa lên giá ở California trong mấy năm trước 2008, nhiều người vẫn rùng mình. Hồi đó mỗi năm giá nhà có thể tăng lên đến 20% ở nhiều khu vực, trong 5 năm giá lên hơn gấp đôi. Nhiều người đi mua nhà để tính bán lại kiếm lời tức thì, không cuộc đầu tư nào lợi bằng. Phần lớn tin tưởng một cách ngây thơ là giá nhà chỉ có lên, vĩnh viễn không thể nào xuống được. Nhiều người khôn hơn, biết là giá lên quá nhanh thế nào cũng sẽ xuống “tàn bạo,” nhưng vẫn lạc quan tin chắc chắn có nhiều kẻ còn liều lĩnh hơn hoặc dại dột hơn mình, lúc mình bán vẫn có người mua. Khi giá sập, bao nhiêu người vỡ nợ.

Nhớ lại tình trạng cũ ở Mỹ rồi ngó xem thị trường địa ốc bên Tầu, người ta không những rùng mình mà có thể “rợn tóc gáy!”

Muốn so sánh với tình trạng ở Mỹ dăm năm trước đây, chỉ cần biết giá các căn hộ trong chung cư (apartment) ở những thành phố lớn bên Trung Quốc đã tăng với tỷ lệ 20% MỘT THÁNG! Tháng 6 vừa qua, Giáo Sư Lý Ðạo Quỳ (Li Daokui) trả lời một cuộc phỏng vấn ở Nhật Bản đã tiên đoán mối rủi ro về địa ốc ở Trung Quốc đang trầm trọng hơn tình trạng ở Anh Quốc và Mỹ trước cơn khủng hoảng năm 2008. Vị giáo sư Ðại Học Thanh Hoa (Tsinghua) là một thành viên trong hội đồng tiền tệ của Ngân Hàng Nhà Nước, nói rằng Trung Quốc không phải sẽ chỉ đối đầu với một vụ bong bóng phồng to bùng nổ mà còn có những hậu quả xã hội nữa. Một vụ bể vỡ quả bong bóng địa ốc sẽ có hậu quả chính trị, “Nhất là đối với giới trẻ, họ đang thăng tiến nhưng bị chặn lại không bước vào được thị trường địa ốc.”

Trong ba tháng đầu năm 2010, giá các căn hộ chung cư, người mình gọi là “áp” tăng lên gần 70% so với cùng thời kỳ năm trước. Trong quý thứ nhì giá lại tăng hơn 12% so với quý thứ nhất. Từ tháng 7, năm 2010 giá địa ốc không tăng nhanh như trước nữa, nhưng vẫn tăng. Và những người mua nhà hoặc đang làm chủ các căn hộ trong chúng cư vẫn chưa tin rằng quả bong bóng địa ốc sẽ bùng nổ bất cứ lúc nào. Vì họ tin ở số mệnh, hoặc tin rằng chính phủ sẽ không bao giờ để cho giá xuống. Ðây là niềm tin có căn cứ, vì nhà nước thường vẫn đem công quỹ can thiệp vào thị trường để tránh bất ổn xã hội. Nhưng mỗi lần can thiệp như vậy là đem tài nguyên chung của quốc gia đổ vào những cái thùng không đáy, phí phạm bao công sức lao động mà người dân tạo ra rồi đóng thuế.

Cơn sốt nhà cửa diễn ra theo trình tự thế này: Tiền công quỹ được đưa cho các ngân hàng do nhà nước quản lý, các ngân hàng đem cho những công ty xây cất vay. Khi nào xây xong một khu cao ốc lại có người đặt mua liền, thì họ cứ việc xây tiếp. Ðối với chính quyền thì đó là một chính sách để “kích thích” kinh tế. Họ cần tạo công việc làm cho các công nhân dư thừa, nhất là đám nông dân đang lên các thành phố tìm việc làm. Có hơn 100 triệu “di dân nội địa” lêu bêu như vậy, không thể để họ thất nghiệp dài dài!

Một hậu quả là khi đi qua các thành phố lớn ban đêm, các du khách thấy nhiều căn áp trong các cao ốc tối om, ở ngoại ô nhiều cao ốc hoàn toàn không người ở. Trong tháng trước người ta biết khoảng 65 triệu áp ở các thành phố không hề dùng tới điện trong 6 tháng liền, tức là đã bỏ trống không người ở suốt nửa năm. Cứ 4 áp ở các thành phố lớn lại có một căn áp bỏ trống, tính ra đủ chỗ chứa 200 triệu người! Ðó là những căn hộ do các tay đầu cơ làm chủ, mua chỉ để chờ ngày bán lại. Không riêng gì cá nhân, mà nhiều công ty quốc doanh có tiền cũng đem mua nhà để “đầu tư” vì không biết dùng vào việc gì! Tổng số các căn hộ bỏ trống ở bên Tầu trị giá khoảng 750 tỷ Mỹ kim, bằng 15% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa.

Hiện các ngân hàng thương mại khi cho vay để xây nhà hay mua nhà đều tính lãi suất theo dự trù là 60% các món nợ sẽ không trả được. Cũng các ngân hàng này đang tiên đoán 20% những món nợ cho các cấp chính quyền địa phương vay để mua xe hơi sẽ không trả được. Tổng số tiền cho vay về xe cộ này lên tới 7 ngàn 7 trăm tỷ đồng nhân dân tệ, tức là hơn 1.1 ngàn tỷ Mỹ kim! Tưởng tượng có 220 tỷ đô la tiền nợ sẽ tan ra mây khói để các quan chức địa phương mua xe. Bao nhiêu tiền của dân bị nhà nước đem tiêu phí như vậy!

Trong khi đó, các nhà xây cấy vẫn tiếp tục đầu tư! Giang Tân (Zhang Xin), 44 tuổi, vốn làm thợ trong các xưởng may, đã trở nên một tỷ phú nhờ quay sang xây nhà. Cô đã ký nhiều hợp đồng xây cất tại Bắc Kinh và Thượng Hải đang sắp xây cất, trị giá vài trăm triệu Mỹ kim. Cô trả lời nhật báo Nam Trung Bưu Báo Buổi Sáng (South China Morning Post) ở Hồng Kông là cô không thấy dấu hiệu nào là sẽ có vụ giá nhà sẽ sụp đổ! Vay được tiền lãi suất thấp thì cứ việc xây. Nếu vỡ nợ thì các ngân hàng nhà nước chịu thiệt. Các cấp chính quyền địa phương cũng đi xây thêm cao ốc, sắp xây khoảng 20 tới 30 triệu căn áp, so với con số 20 triệu do các công ty xây dựng lên; đồng thời các xí nghiệp sản xuất cũng xây thêm chúng cư cho công nhân. Số cung cứ thế tăng lên, dù chưa trông thấy số cầu đâu.

Tháng 4 năm nay, trước cảnh đầu tư nhiều quá trớn, Thủ Tướng Ôn Gia Bảo đã ra lệnh các ngân hàng của nhà nước giảm bớt số tiền cho vay vào việc xây dựng. Trong tháng 6, hội đồng chính phủ chuẩn y đánh một thứ thuế gia cư, lần thứ nhất ở Trung Quốc, đó cũng là một biện pháp để làm nguội bớt thị trường địa ốc. Quyết định này làm cho thị trường chứng khoán sụt giảm ngay 2.4%. Nhưng các người đầu cơ địa ốc vẫn tin rằng chính phủ sẽ không thi hành việc kiềm chế ngân hàng một cách gắt gao. Và chắc lệnh cấm đó sẽ được rút lại dần dần, để kinh tế tiếp tục gia tăng với tỷ lệ trên dưới 10% một năm. Chính ông Ôn Gia Bảo mới nói là các nước đều cần tiếp tục kích thích kinh tế! Mức độ phát triển này đạt được phần lớn là nhờ đầu tư vào các tích sản cố định: nhà cửa, đường sá, phi trường, vân vân, cùng với thị trường xuất cảng; nhưng chỉ có một phần nhỏ dựa vào dân chúng gia tăng tiêu thụ. Ðó là một nhược điểm lớn của nền kinh tế Trung Quốc.

Nhưng các nhà đầu tư địa ốc Trung Hoa có thể sẽ bị thất vọng. Chính phủ Bắc Kinh sẽ khó thả lỏng cho nền kinh tế tiếp tục gia tăng bằng những vụ đầu tư không mang lại hiệu quả nào ngoài việc tạo công việc làm ngắn hạn. Lệnh giảm bớt số tiền ngân hàng cho vay có thể được thi hành một cách gắt gao hơn. Niềm tin của giới đầu cơ vào sự can thiệp của nhà nước cũng không có căn cứ vững chắc. Như Andy Xie, một nhà kinh tế từng làm cho ngân hàng Mỹ nhận xét: Thị trường vẫn lớn mạnh hơn nhà nước. Nhà nước có thể làm trì hoãn ảnh hưởng của luật cung cầu, nhưng không thể viết lại luật cung cầu được. Sớm hay muộn, khi cung quá lớn và cầu quá nhỏ, tình trạng mất thăng bằng sẽ phải được thị trường tính sổ, khi đó giá nhà sẽ sập đổ, như bất cứ thị trường nào ở bất cứ đâu.

Lý do quan trọng nhất là lợi tức của đa số dân lao động không tăng, hoặc không tăng lên kịp so với giá nhà. Trong khi nền kinh tế Trung Quốc (GDP) gia tăng với tốc độ ngoạn mục 9% đến 10% mỗi năm, giới lao động luôn luôn chịu thiệt thòi, không được chia phần xứng đáng trong nồi cơm kinh tế quốc gia. Trong 10 năm từ 1995 đến 2004 chẳng hạn, lương bổng công nhân trong các xí nghiệp lớn đã tăng lên được 3 lần, nhưng năng suất của người lao động thực sự đã tăng lên gấp 5 lần; đó là một lý do giúp các xí nghiệp có lời mau còn người dân vẫn chưa tăng số tiêu thụ theo cùng một nhịp với GDP. Cho nên, trong tổng cộng sản lượng quốc gia, phần lương bổng trả cho người lao động đã giảm xuống; từ tỷ số 61% của GDP vào năm 1990, chỉ còn 53% vào năm 2007 (So với ở Mỹ, tổng số lương bổng chiếm 67% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa).

Vì lương bổng không tăng cùng nhịp với cả nền kinh tế, nhiều người lao động không thể mua nhà. Ký giả Gordon G. Chang viết trên tạp chí Forbes kể chuyện đi taxi ở thành phố Thẩm Quyến đầu tháng 8 năm nay, nghe anh tài xế tâm sự: “Dù tôi cố nhịn ăn suốt 50 năm cũng không đủ tiền mua một căn hộ trong chung cư ở thành phố này!” Anh tài xế kiếm mỗi tháng 4,000 nhân dân tệ (khoảng 600 đô la Mỹ) nhưng một căn áp cho hai vợ chồng và 2 đứa con anh phải tốn đến một triệu, gấp 250 lần lợi tức một tháng.

Ðúng như Giáo Sư Lý Ðạo Quỳ suy luận, khi cơn khủng hoảng địa ốc xẩy ra, hậu quả sẽ là biến động xã hội. Hiện nay giới lao động Trung Quốc đang bắt đầu “giác ngộ quyền lợi giai cấp” của họ. Theo một tuần báo, trong năm 2008 tòa án Trung Quốc đã phải xử 280,000 vụ tranh chấp về quyền lợi lao động; và trong nửa đầu năm 2009 số các vụ kiện tụng đó đã tăng thêm 30% so với năm trước. Nhật báo China Daily, bản tiếng Anh của nhật báo Nhân Dân, Bắc Kinh, công nhận trong 48 ngày, từ 25 tháng 4 đến 12 tháng 7 năm 2010, riêng tỉnh Quảng Ðông có 36 cuộc đình công. Ðây là một đề tài sẽ được đề cập trong một bài sau.

Trước mối lo đó, khi quả bóng địa ốc xì hơi chính quyền Bắc Kinh chắc chắn sẽ can thiệp bằng cách bỏ tiền ra giúp các nhà đầu cơ địa ốc, cũng như chính phủ Mỹ đã bảo vệ các ngân hàng và công ty xe hơi. Nhưng các ngân hàng Mỹ và hãng General Motors đã bắt đầu sinh lợi và sắp trả lại nợ cho công quỹ, cộng với tiền lãi. Còn tiền trợ giúp các nhà đầu cơ địa ốc ở Trung Quốc, thí dụ bằng cách mua lại các căn hộ để bán chịu cho các công chức, cán bộ, sẽ hoàn toàn tan vào không gian! Chỉ có người dân đóng thuế ở Trung Quốc, đặc biệt là giới lao động, sẽ chịu thiệt thòi. Họ chịu nhịn nhục cho đến bao giờ? Ðiều này khó tiên đoán được, nhưng theo Karl Marx thì phải có ngày họ sẽ “giác ngộ quyền lợi giai cấp!” Lúc đó sẽ có người hát: Vùng lên hỡi những nô lệ...

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

CHẾ ĐỘ DU ĐÃNG TRỊ

Chu Tất Tiến.
Ngày 15 tháng 6 năm 2010, dư luận xôn xao về việc Mục Sư Tôn, cô Quỳnh Trâm, và chị Hồ thị Bích Khương bị công an cộng sản bắt cóc, đem về đồn tra tấn, khiến chị Bích Khương phải nhập viện trong tình trạng nguy kịch. Cũng trong tháng 6, nhà báo tự do Tạ Phong Tần cho biết cô không thể rời nhà bất cứ lúc nào vì luôn luôn có một bọn du đãng đứng rình bên ngoài cửa, hễ cô đi ra, thì chúng lập tức bao vây, chụp lấy, trói giật cánh khuỷu về phía sau, rồi bị liệng lên xe cây như bao gạo. Sau vài tiếng đồng hồ, hay vài ngày, chúng thả cô về, không một lời xin lỗi. Kỹ Sư Đỗ Nam Hải cũng trong tình trạng như vậy, cũng bị du đãng tấn công. Chị Dương Thị Tân, vợ cũ của nhà báo mạng Điếu Cầy, thỉnh thoảng bị du đãng đánh đập dã man. Các nhà Dân Chủ khác, không ai thoát khỏi một lần bị bọn du đãng trấn lột. Nhín chung, thì chế độ Cộng Sản đang biến hình thành MỘT CHẾ ĐỘ DU ĐÃNG TRỊ.

Chế Độ Du Đãng Trị là một hiện thực, bên cạnh các chế độ Dân Chủ, Tư Bản, hay Cộng Sản. Chế Độ Du Đãng Trị không phải là một sản phẩm tưởng tượng mà đã hình thành ngay trong cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, và cái chế độ quái đản, kỳ cục đó chính là cái chế độ đang được áp đặt lên đất nước Việt Nam yêu quý của chúng ta. Điều đau lòng và công phẫn là hiện nay, các bạn củng với 80 triệu dân chúng đang sống dưới chế độ đó từng ngày từng giờ mà hình như chưa rõ ràng nhận thức được.

Để có thể nhìn rõ hơn bộ mặt của chế độ Du Đãng đó, người viết sẽ trình bầy sự khác biệt giữa 4 loại thể chế: Dân Chủ, Tư Bản, Cộng Sản, và Du Đãng.

1-Dân Chủ (Democracy): Theo Oxford American Dictionary, chế độ Dân Chủ là một hệ thống chính trị được điều hành bởi toàn thể dân chúng, những ai có đủ tư cách công dân được bầu lên qua các cuộc bỏ phiếu công khai. Ý niệm Dân Chủ, thực sự, đã thể hiện rực rỡ nhất dưới thời kỳ Pericles, người điều hành xứ Athen, 495(?) – 429 trước Công Nguyên. Vào giai đoạn này, người dân được tự mình điều hành công việc chính trị bằng những buổi thảo luận công khai, trong đó, quyền phát biểu của mọi người dân đều ngang bằng nhau. Người quản lý quốc gia chỉ giữ vai trò điều hành trật tự trước sau và thi hành những nghị quyết của toàn dân. Cảnh sát giữ nhiệm vụ thứ yếu vì khi mà toàn dân đã đồng thuận về mọi vấn đề kinh tế và tài chánh, sẽ không có chênh lệch quá đáng giữa người giầu và người nghèo, vì thế sẽ không có trộm cướp. Tội ác rất hiếm xẩy ra, vì mọi người đều quan tâm lẫn nhau. Nếu có tội ác, nguyên nhân thường do bệnh hoạn tâm trí cá nhân mà thôi. Quân đội được lập ra để bảo vệ biên cương, mà không có bất cứ quyền hạn gì trên dân chúng. Vì thế, hầu như toàn dân đều cảm thấy hạnh phúc, thoải mái. Đất nước Dân Chủ được phát triển mạnh mẽ trên mọi phương diện. Ý niệm Dân Chủ hiện đang được theo đuổi trên các đất nước văn minh và tiến bộ.

2-Tư Bản (Capitalism): Cũng theo Oxford American Dictionary, chế độ Tư Bản là một hệ thống chính trị và kinh tế trong đó những sự trao đổi thương mại và kỹ nghệ đều do tư nhân điều hành chứ không phải do chính phủ. Thực tế, quan niệm này bổ xung cho quan niệm Dân Chủ, chứ không phải một hệ thống chính trị biệt lập với chế độ Dân Chủ, vì trong Dân Chủ có Tư Bản, ngược lại, dưới chế độ Tư Bản, người dân vẫn được hưởng quyền lợi về Dân Chủ. Các quốc gia được gọi là nước tư bản như Mỹ, Anh, Pháp.. vẫn áp dụng lý thuyết Dân Chủ nhưng đồng thời đề cao giá trị Tư Bản của mọi người dân.

3-Cộng Sản (Communism): Lý thuyết chính trị được đề ra bởi Karl Marx và Engels, cổ võ cuộc chiến tranh giai cấp để dẫn tới một xã hội trong đó nhà cầm quyền làm chủ mọi công cụ sản xuất, tư liệu sản xuất, tài sản cũng như trí tuệ và bản thân nhân dân. Mọi người làm việc theo năng lực và hưởng theo nhu cầu. Theo Carl Marx và Engels, chế độ Tư Bản là một sự bóc lột không dân chủ, nói đúng ra, là kẻ thù của nhân dân và cần phải trừng trị tuyệt đối bằng cách lật đổ chế độ Tư Bản qua bạo lực của nhân dân. Những ý tưởng cực đoan, quá khích này đã được phổ biến rộng rãi trên nhiều địa lục, tạo ra các cuộc chiến tranh tàn khốc, tiêu diệt hàng trăm triệu người. Riêng tại Liên Xô, trên 10 triệu người đã bị giết vì bị ghép tội mang theo người tư tưởng Tư Bản. Các nước Ba Lan, Hung ga ry, Tiệp Khắc, Đông Đức.. vẫn kỷ niệm những năm tháng khủng khiếp dưới chế độ Cộng sản với hàng triệu triệu người bị treo cổ, bị bắn, bị thủ tiêu tàn nhẫn. Tại Trung Cộng, trên 30 triệu người đã bị giết một cách kinh hoàng qua các cuộc đấu tố, cải cách, sự bùng nổ của Hồng Vệ Binh, và các lần thanh trừng đẫm máu các đấu thủ chính trị.

Đến nay, sau gần 1 thế kỷ tung hoành, lý thuyết Cộng Sản đã hiện rõ là một lý thuyết không tưởng, mãi mãi không bao giờ có thể thực hiện được trên bất kỳ một đất nước nào. Campuchea là một thí dụ điển hình gần gụi nhất. Với những lãnh tụ Cộng Sản cực đoan Pôn Pốt, Iêng Sari, gần một phần tư dân số bị tiêu diệt thê thảm. Tất cả những ai có học, có đeo kính, có chút tài sản đểu bị giết sạch để thể hiện một chế độ Cộng Sản đầy tính súc vật. Những cánh đồng chết mênh mông đầy sọ người. Những căn nhà giam cuối đời lủng lằng dây xích và xương. Và điều Bất Hạnh cho nhân loại là lý thuyết Cộng Sản, tuy được chứng minh là đầy tính súc vật như thế, vẫn còn được đề cao tại một số quốc gia chậm tiến tại Phi Châu, hoặc đang phát triển trong vòng kềm tỏa chính trị như Trung Cộng, Cuba và Việt Nam,

4-Chế Độ Du Đãng Trị: Hiện nay, chế độ chính trị tại Việt Nam vẫn còn mệnh danh là chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, một giai đoạn trung gian, chuyển tiếp trước khi tiến đến chế độ Cộng Sản toàn trị. Nhưng, thực tế, có khi nào mà đất nước Việt Nam trở thành Cộng Sản được không? Như đã viết ở trên, vì tính chất súc vật tàn bạo như vậy, chắc chắn là KHÔNG BAO GIỜ, VĨNH VIỄN không có một cái chế độ Cộng Sản được thực hiện trên trái đất này. Với trình độ văn minh tiên tiến, với tốc độ thông tin đi xa hàng triệu dặm vòng quanh trái đất chỉ trong một nháy mắt, nhân loại sẽ hiểu rõ bộ mặt thực của lý thuyết Cộng sản và sẽ không chấp nhận cho một chế độ Cộng Sản nào được xây dựng.

Nhưng, vậy thì, chế độ hiện nay đi về đâu? Những đảng viên Cộng Sản đã từng giơ tay thề trung với Đảng sẽ như thế nào? Xin thưa: chế độ này sẽ trở thành một chế độ Du Đãng, các Đảng viên Cộng Sản sẽ biến hình thành các tay Du Đãng có vũ khí, có sức mạnh đàn áp nhân dân trên một mặt trận toàn diện, toàn điểm, và khốc liệt.

Tại sao lại gọi là chể độ hay thể chể Du Đãng? Nhìn lại các cuộc đàn áp nhân dân gần đây, từ Thái Hà, Tòa Khâm Sứ, Tam Tòa, rồi Bát Nhã, Lâm Đồng, và hàng trăm vụ hành hung các nhà Dân Chủ.. đâu đâu chúng ta cũng thấy lực lượng Du Đãng được cử đến để tiêu diệt nhân dân. Những tên vô lại có hung khí, gào thét những câu chửi bới thô tục, hăm dọa giết dân, rồi dùng vũ lực trấn áp những người dân, những tín đồ Công Giáo, Phật Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo không có vũ khí trong tay. Từ Linh Mục, Thượng Tọa, hay Mục Sư đến các vị lãnh đạo các tôn giáo khác, đểu bị đánh, đập, xô đẩy, giật, cướp. Các em Thiếu Nhi Thánh Thể bên Công Giáo cũng không tránh khỏi bị lôi lên xe, đấm đá. Trong các vụ Dân Oan biểu tình từ Bắc xuống Nam, đều có Du Đãng đến tấn công. Lực lượng Công An được gửi tới hiện trường thì chỉ để nhằm bắt giữ những người Yêu Nước, những Dân Oan chỉ biết nói lên tiếng nói công chính, đòi nhà cầm quyền Du Đãng trả lại tài sản và công lý cho nhân dân.

Những kẻ vẫn tự xưng là “đầy tớ của nhân dân” thì ung dung nhậu nhẹt “mút chỉ cà tha” tại các nhà hàng sang trọng mà một bữa nhậu của họ tương đương với một,hai năm lương của nhân dân, những người mà họ xưng tụng là “người chủ của đất nước”. Các Giám Đốc, Tổng Giám Đốc, sống huy hoàng như những Đại Gia Mafia, có người hầu xách cặp, bưng bô, có cận vệ nữ, có nguyên một dàn hộ tống trước sau, có những em Trợ Lý xinh như “gái gọi”, có nhiệm vụ duy nhất là chi tiền ăn, uống, tẩm bổ, mát xa, mát gần… Các biệt thự, sân Gôn của các Đại Gia Mafia đều được đánh giá là 4,5 sao, có nơi nghĩ mát còn hơn siêu sao, nghĩa là đạt giải nhất quốc tế. Những nhà lãnh tụ này điều hành đất nước như chuyện Du Đãng, nghĩa là tùy ý các quan, muốn sao được vậy, không cần tính toán hạch toàn kinh tế cấp quốc gia. Xây xưởng, xây công trình cả ngàn tỷ đồng rồi bỏ xó. Các đại gia hể hả thi hành câu: “nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá”, vung tay chặt cây, phá rừng, mặc cho bão lụt tràn xuống giết dân, chưa kể dựng đập thủy điện bừa bãi, cả trăm cái đập trong một phạm vi đủ cho hai, ba cái, rồi thu hết nước hạ nguồn, giết ngư dân, nông dân chết khô. Khi bão lũ kéo tới, các tay du đãng này cho xả lũ, cứu đập, lôi luôn ra biển hàng trăm mạng người và hàng chục làng xã. Toàn bộ thiên nhiên, môi trường đều biến thành mục tiêu cho các nhà lãnh đạo Du Đãng này chơi xả láng, tiêu hủy tiềm năng của đất nước, tiêu diệt nguồn sống của muôn thế hệ mai sau. Đất đai mà Tổ Tiên hàng 4000 năm gầy dựng bán tuốt cho Tầu, miễn sao tiền vào đầy túi.

Để bảo vệ đặc quyền đặc lợi này, nhà nước lại vung tay bắt nhốt tất cả những ai dám nói lên lời “Yêu Nước”, những người phản đối việc bán đất, dâng biển, những ai dám nói lên câu: “Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam”, những người viết trong “blog” những lời yêu nước. Nhà nước Du Đãng này, vì muốn tiêu diệt triệt để các tâm hồn yêu nước nên gán cho họ tội danh “âm mưu lật đổ chế độ” như đã gán cho người trẻ Nguyễn Tiến Trung, Phạm Thanh Nghiên, và tất cả những nhà đấu tranh cho Dân Chủ, cho một nước Việt Nam toàn vẹn lãnh thổ. Nhưng, theo quy luật muôn đời của xã hội, bạo phát bạo tàn, tất cả thái độ du đãng này cùng chế độ du đãng trị sẽ có một ngày bị diệt vong, khi toàn dân ý thức được đây là một chế độ đi ngược lại tiến trình tiến hóa của nhân loại, lúc đó, thì không một lực nào cản được sức mạnh của toàn dân Việt, trên đường tiến đến Độc Lập và Vinh Quang.

Chu tất Tiến.

Post Reply