Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Bay đi, những cơn mưa phùn
Vậy ư? Câu thơ trên, của Phạm Công Thiện, từ nhiều năm nay cứ lởn vởn trong đầu óc Tim này, nhất là thời gian gần đây. Có lẽ vì mình viết về mưa phùn hơi bị nhiều và có hơi cảm động (ấy là tự trong lòng mình chứ chẳng phải nó tác động đến người khác.) Nào là Ngồi Ở Cà Phê Starbucks, Những Cơn Mưa Phùn, nào là Mưa Phùn Trên Phố Cổ .v.v... Quả là những trang viết ẩm ướt, có thoảng chút mùi hương ấm nóng của cà phê và hơi thở mù sương...

Tim Nguyễn

Sáng nay, cũng một buổi sáng mưa phùn ở phố Ga (một lần nữa xài từ của cụ Tầm Xuân - cảm phiền, nha cụ). Ngoài ra, ở Atlanta dường như cũng mưa phùn. Khiến Tim tôi lại nhớ căn nhà ở số 3 Nguyễn Trường Tộ Đà Lạt, nơi khung cửa kính nhìn qua những ngọn thông xuống bờ hồ, thấp thoáng những đợt mưa phùn bay bay trên những ngọn đào khẳng khiu. Và nghĩ tới Phạm Công Thiện. Thật ra, Tim tôi không quen Phạm Công Thiện. Chỉ thoáng thấy ông một đôi lần ở đâu đó, trong nhà sách Khai Trí, ở Quán Chùa hay một phòng triển lãm tranh... Gần đây nhất được gặp ông là ở quán cà phê Lup Studio của Lê Uyên trên đường Brookhurst (nói là gần đây nhưng cũng đã ngoài 5 năm rồi và Lup Studio Coffee cũng không còn, ôi thời gian…). Đêm đó, Tim tôi được bạn văn Ninh Hạ đãi rượu ở ngoài hàng hiên. Bên trong quán, ca sĩ Thu Phương - từ Việt Nam qua - đang hát. Một lát, Lê Uyên ra xin rượu cho Ý Lan và Phạm Công Thiện. Trước khi tàn cuộc hát của người ca sĩ, Phạm Công Thiện từ biệt ra về, giọng nói có vẻ hơi say. Lúc này, tóc ông đã bạc.


Chỉ có thế. Những cuộc gặp gỡ thưa thớt không để lại gì và cũng chẳng nói lên điều gì cả. Về tác phẩm của Phạm Công Thiện, Tim tôi có đọc Hố Thẳm Tư Tưởng (bây giờ hầu như đã quên hết) và loáng thoáng một vài trang thơ. Trong đó, Tim thích nhất là bài thơ được Lê Uyên Phương phổ nhạc và hát trong CD Tình Như Mây Cõi Lạ. Bài Tôi Đứng Trên Đồi Mây Trổ Bông:

Mười năm qua, mười năm qua
Gió thổi đồi tây
Tôi long đong theo bóng chim gầy
Một sớm em về ru giấc ngủ
Bông trời bay
Trắng cả rừng cây...

Tôi Đứng Trên Đồi Mây Trổ Bông. Một lúc nào đó, trong một sáng mây xưa kéo về đầy trời hay một chiều mưa phùn trên khu rừng Dogwood, em nghe lại bài hát. Lời thơ, tiếng đàn thùng và tiếng hát đầy chất đàn ông của Lộc, ôi tuyệt vời!... Và Tim tôi vẫn nghĩ, Phạm Công Thiện đúng là một thi sĩ. Thế nhưng, có người đã nghĩ khác. Điều đó Tim được biết qua một đoạn văn Quỳnh Thi viết cách đây cũng đã khá lâu. Sau đây là những lời trong bài viết:

"Đọc bài viết của Phan Tấn Hải về nhà thơ Thiền sư Phạm Công Thiện, tất cả tôi hoàn toàn đồng ý. Chỉ duy một điều ông Phan Tấn Hải tôn vinh Phạm Công Thiện là một vị Bồ Tát hiện còn tại thế, tôi cho rằng ông Hải tâng bốc hơi quá đáng có phần lố lăng, và tôi cũng nghĩ rằng điều đó sẽ làm cho nhà thơ Phạm Công Thiện thêm phần bối rối ."

"Những sinh viên học sinh ở miên Nam Việt Nam vào thập niên 60 và 70 , hầu hết ai cũng đều đọc hoặc nghe danh Giáo sư Phạm công Thiện không nhiều thì ít. Ai cũng phải công nhận Phạm Công Thiện là một người hết sức thông minh hay là một thần đồng của văn học Việt Nam. Nhưng danh tiếng thì lẫy lừng, đồng thời tai tiếng về đời tư cũng không phải là ít. Thí dụ như ông là một người rất là kiêu ngạo . "

"Vài ba mươi năm trở lại đây chưa thấy Phạm Công Thiện có một công trình nghiên cứu hay quyển sách nào tầm cỡ viết suy luận về triết lý Phật giáo. Nếu tôi không lầm thì ông chỉ in có một quyển tùy bút "Đi Cho Hết Một Đêm Hoang Vu Trên Mặt Đất". Điều đó cũng không có gì đáng ngạc nhiên, vì phần nhiều những tài năng của văn nghệ sĩ, nếu họ phát rộ ra sớm thì thường lụi tàn sớm thế thôi. Có điều nếu đã được coi là một vi Đạo sư minh triết của Phật giáo thì không thể chỉ có một vài quyển sách mà đủ! Huống chi lại được gọi là vị Bồ Tát! (Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một vi học giả danh tiếng Thế Giới, dù có tôn kính cách mấy cũng chưa ai dám xưng tụng ngài là Bồ Tát ) "

"Được gọi là vị Bồ Tát của Đức Phật phải là một người hay một Thiền sư đã Giác Ngộ. Theo triết lý đạo Phật thì người nào chưa đạt được kinh nghiệm Giác Ngộ thì người đó chưa thể gọi được là Bồ Tát, mặc dù người đó là Đức Đạt Lai Lạt Ma , Suzuki hay Krishnamurti đi chăng nữa." (Houston 14 - 11 - 2006)

Theo Tim Nguyễn nghĩ, sở dĩ người ta gọi Phạm Công Thiện là Bố Tát chẳng qua vì ông có viết một hai cuốn sách về Phật Giáo thời khoác áo làm tu sĩ. Thế nhưng, đó chỉ là một thời, về sau chính ông từ bỏ: anh không còn làm tu sĩ / anh chỉ còn hương trong giấc ngủ (Ngày Sinh Của Rắn). Vả lại, chúng ta từng biết ngày xưa, trước 1975, có người cạo trọc đầu, mặc lên mình chiếc áo tu chẳng qua là "lánh việc quan, đi ở chùa". Thế thôi.

Trở lại với Phạm Công Thiện. Vậy chân dung đích thực của ông như thế nào? Như trên đã nói, Tim nghĩ ông là một nhà thơ đúng nghĩa. Cũng si mê những cuộc tình với người nữ (như Hương trong Ngày Sinh Của Rắn, chẳng hạn), cũng say sưa và đắm chìm trong men rượu ở những quán giang hồ dọc trên hành trình của kiếp nhân sinh. Cao Đông Khánh, lúc sinh thời, cũng phác họa chân dung Phạm Công Thiện như vậy. Ngoài ra, Khánh còn kể đã có lần Phạm Công Thiện đụng độ với Mai Thảo vì một mỹ nhân nào đó. Tim Nguyễn có hỏi Trần Nghi Hoàng về Phạm Công Thiện. Hoàng cho biết Phạm Công Thiện cũng như mọi anh em chúng ta. Ông khoái làm thi sĩ hơn là làm triết gia hay nhà tu.

Nhà thơ Nguyên Sa, lúc sinh thời, có lẽ đã nhìn thấy khá rõ chân dung Phạm Công Thiện qua bài thơ "Nói chuyện phải quấy với Phạm Công Thiện":

"Người vào tịnh thất sống ba năm
cất tiếng không lời để nói năng
buổi sáng thinh không chiều tới chậm
tiền kiếp chen vô cạnh chỗ nằm

Ta muốn cùng người một tối nay
Đầu sông uống rượu cuối sông say
Người từ trên núi ta từ biển
Từ giấc mơ nào đã tới đây

Dưới bóng tường im, giữa nhạc không
Đời như phía trước bỗng mông lung
Thơ như hữu thể mà vô thể
Có cũng xong mà không cũng xong

Sáng dậy ta nhìn tục lụy ta
Những đi không tới đến không ngờ
Xóa luôn thì dứt nhưng tâm thức
Kinh Pháp Hoa nào dậy cách xa?

Trong chín ngàn âm có hải triều
Còn thêm một kiếp nữa phiêu lưu
Này người bỏ sóng sang thuyền tĩnh
Nhớ đứng chờ ta ở cõi siêu..."
(trích theo Nguyễn Mạnh Trinh)

Tới đây, có lẽ ta đã có được nhận định khá chính xác về Phạm Công Thiện: Ông là một thi sĩ và chính ông lấy làm hãnh diện về điều ấy. Bây giờ thì Tim Nguyễn mời quý độc giả đọc một đoạn thơ của Phạm Công Thiện trong bài "Ngày Sinh Của Rắn"

trời mưa nữu ước cây mọc
nhớ hương trời mưa ngày tháng
nhớ hương đường hoang mái vắng
nữu ước chỉ còn hương trong giấc ngủ
tim anh tràn máu
con chim đã bay về rừng đạn
anh không còn làm tu sĩ
anh chỉ còn hương trong giấc ngủ
anh chỉ còn máu để đổ vào tim hương
đổ vào tám tách cà phê đen

anh uống mỗi đêm

tại greenwich village
tại làng thi sĩ
tại đường khói bay
tại hương trong giấc ngủ
tại chiều ba mươi tết ở việt nam
bây giờ anh xa hương đến

mấy đại dương xanh

mấy phương trời cỏ mọc
mấy phương trời hương khóc
hương còn ca hát
hương còn phơi áo giữa phố buồn
hương còn cười
mười năm rồi cây quế

vẫn mọc trên đời anh

Tới đây, để kết thúc bài Tản Mạn này, Tim Nguyễn xin mượn lời của Nguyễn Mạnh Trinh viết trên Cánh Én gần đây: "Với tôi, ông là một thi sĩ và là người viết về thi ca mà tôi yêu thích. Dù, ông "đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất" để tìm " ý thức mới trong văn nghệ và triết học "qua" hố thẳm của tư tưởng "để” im lặng hố thẳm "và”, cứ thế hành trình...

Cuối cùng, Tim tôi xin cảm ơn thi sĩ. Bay đi những cơn mưa phùn...

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Tản Mạn về Ngàn Năm Thăng Long

Mai Thanh Truyết
Chỉ còn non hai tháng nữa, Việt Nam sẽ tổ chức đại lễ Ngàn Năm Thăng Long. Buổi lễ sẽ diễn ra ngày 1/10/2010. Ông Lê Tiến Thọ, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao, và Du lịch, Chủ tịch Ban Chỉ đạo Quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long là người tổ chức và điều hành buổi lễ nầy.

Kinh phí cho buổi lễ là 94 ngàn tỷ Đồng Việt Nam (VNExpress) tương đương với 4,5 tỷ Mỹ kim (1tỷ Đồng # US$50.000). Với một kinh phí tương đương gần 10% ngân sách quốc gia chỉ để cho “lễ hội”. Quả thật Việt Nam đi đầu so với thế giới về việc phí phạm cho những cuộc vui chơi vô bổ nầy.

Nhưng chưa hết, vì buổi lễ diễn ra vào giữa mùa mưa Hà Nội, cho nên sác xuất mưa rất cao, và mái che của sân vân động Mỹ Đình, nơi hành lễ không đủ để che trên dưới 40.000 người dự khán. Vì vậy, có dự án dùng phi cơ “bắn mây” để ngăn mưa trong ngày khai mạc. Theo VNExpress, mỗi lần ”bắn mây” trong 3 ngày có thể tiêu hết hơn 1 tỷ Mỹ kim.

Trên đây là kinh phí dự trù cho 3 ngày “lễ hội”, nhưng chắc chắn kính phí thực sự sẽ “phải” lớn hơn nhiều vì những “rò rỉ” trong thời gian xây dựng và chuẩn bị!

Chương trình đại lễ rất đồ sộ. Theo dự trù, ngày khai mạc sẽ được tiến hành tại vườn hoa tượng đài Lý Thái Tổ và đường Đinh Tiên Hoàng chung quanh hồ Hoàn Kiếm. Sẽ có diễn binh và diễn hành tại Quảng trường Ba Đình. “Chương trình kỷ niệm sẽ được tổ chức trọng thể, sinh động, đậm đà bản sắc dân tộc, truyền thống lịch sử, văn hóa”, đó là lời của một thành viên trong Ban chỉ đạo.

Nhưng cho đến hôm nay (12/8), nhiều người dân Hà Nội, cũng như trong nước vẫn không hiểu buổi lễ hội nầy có mục đích để “mừng” cái gì? Vì, Ngày Đại lễ đã được Thủ tướng cọng sản ấn định khai mạc vào 1 tháng 10, rơi đúng vào ngày Quốc khánh của Trung Cộng. Đây là một sự trùng hợp vô tình hay cố ý, và chính vì vậy mà người dân hoang man!

Vài dòng tản mạn trong bài viết nhằm mục đích khơi dậy vài tự ái dân tộc, nếu còn sót lại trong lòng người dân Việt ở cả trong lẫn ngoài nước.

Một ngàn năm Thăng Long là một ngày đánh dấu mốc thời gian từ lúc tổ tiên dân Việt dành lại nềm độc lập tự chủ thoát khỏi gần 1000 năm bị giặc Tàu đô hộ. Mà nay, Việt Nam lại tổ chức đúng vào ngày quốc khánh của kẻ thù truyền kiếp (cho đến ngày nay và cả ngàn sau nữa).

Đây có phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên hay không? Cá nhân người viết nghĩ là không mà là một chủ đích có tính toán kỷ lưỡng của đảng Cọng sản Việt Nam.

Vì, qua quá trình lịch sử trong vòng vòng 20 năm trở lại đây, rỏ ràng là đường lối, chính sách phát triển đều “rập khuôn” theo hướng phát triển của Tàu; thậm chí những sự khai thác khoáng sản, rừng phòng vệ, cùng những xây dựng khu kinh tế duyên hải miền Bắc đều nằm gọn trong tay những nhà đầu tư TC.

Như vậy có phải là Độc lập chăng?
Như vậy có phải là Tự chủ chăng?

Có xứng đáng tiêu tốn gần 10% ngân sách quốc gia cho những ngày lễ hội thể hiện một tinh thần nô lệ cho ngoại bang, trong lúc 1/3 dân số còn sống dưới mức nghèo tuyệt đối theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc là 1 Mỹ kim/ngày?

Trong Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam đã phê chuẩn, trong đó một số giá trị căn bản giữ vai trò thiết yếu trong quan hệ quốc tế của thế kỷ 21 là:

· Về Tự do: …Điều hành đất nước theo nguyên tắc dân chủ, có sự tham gia của người dân và trên căn bản ý chí của người dân là bảo đảm tốt nhứt cho việc thực hiện quyền tự do nầy.

· Về Bình đẳng:… Không được phép tước đoạt cơ hội thụ hưởng kết quả từ hoạt động phát triển của bất cứ cá nhân nào hoặc dân tộc nào.

· Về Khoan dung:… Con người phải tôn trọng lẫn nhau, trong sự đa dạng về tín ngưỡng, văn hóa, và ngôn ngữ.

Bản tuyên ngôn còn nêu rõ ý thức và hành động về hòa bình, an ninh và giải trừ quân bị, về phát triển và xóa đói giảm nghèo, về việc bảo vệ môi trường chung, về nhân quyền, dân chủ và điều hành tốt, về việc bảo vệ những người dễ bị tổn thương…

Tất cả chỉ nhằm vào mục đích là thế giới cùng nhau phát triển theo chiều hướng toàn cầu hóa nhắm vào 3 mục tiêu: 1- Phát triển xã hội, 2- Tăng trưởng phúc lợi cho người dân, và 3- Bảo vệ môi trường.

Trong tất cả những ghi nhận trên của Bản Tuyên ngôn, Việt Nam cho đến hôm nay vẫn chưa thực hiện được điều gì cả mà còn làm cho đất nước, xã hội Việt Nam ngày càng tệ hại thêm lên. Người dân ngày càng trực diện với với nhiều nỗi đau thường trực, nào là tệ trạng nguồn nước sinh hoạt và thực phẩm tiêu dùng, nào là tệ trạng y tế cùng hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống ngày càng xấu thêm, nào là tình trạng đạo đức suy đồi qua hệ hệ thống giáo gục còn quá lạc hậu. Và còn bao nhiêu tệ trạng khác nữa!

Phải chăng đã đến lúc người dân cần phải đứng lên để tự cứu lấy mình?

Câu hỏi trên xin dành cho tất cả bà con trong và ngoài nước suy nghĩ, suy nghĩ để cùng tháo gở việc thực thi qua lệnh truyền trong quân đội TC là:

Lộ ố Nàm phồ
Dìu ố Nàm sình
Chì ố Nàm tì

Nghĩa là: Lấy vợ An Nam – Tiêu tiền An Nam - Ở đất An Nam.

Lịch sử sẽ ghi thêm một tội ác của cường quyền, cam tâm làm nô lệ và dẫn dắt cả dân tộc đi làm nô lệ cho kẻ thù truyền kiếp.

Ngàn năm Thăng Long sắp đến không phải để đánh dấu mối vinh quang của dân tộc mà là một dấu ấn, chuẩn bị cho chính sách đô hộ lần thứ 5 của giặc Tàu, tiếp nối ngàn năm Việt Nam bị Tàu đô hộ trong quá khứ.

Mai Thanh Truyết

Nhớ về ngày Tết Kỷ Dậu,
Ngày Đại phá quân Thanh của
vua Quang Trung Nguyễn Huệ
8/2010

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image

Cali – Mưa Trên Ngày Tháng Cũ...

"Người đi qua đời tôi, trong những chiều đông sầu. Mưa mù lên mấy vai. Gió mù lên mấy trời.Người đi qua đời tôi, hồn lưng miền rét mướt, vàng xưa đầy dấu chân, đen tối vùng lãng quên... Anh đi qua đời em. Không nhớ gì sao anh? “ (1)
.......
Tiếng hát Thái Hiền hồn nhiên một thuở “ Oâng Trăng xuống chơi cây cau thì cau sẽ cho mo...” (2) của năm nào xa lắc, sao đêm nay chợt nghe nồng nàn đến vậy! Hay có phải vì Live Show nên tiếng hát chứa chan, bay lượn, chơi vơi trong nỗi tĩnh mịch của La Mirada Theater – Mưa trên đêm nhạc thính phòng. Hay bởi tôi đã có một chút rượu ấm ban chiều với Cung, trên ngọn đồi nắng gió hắt hiu của vùng Monterey Park, phố thấp, phố cao? Hay tiếng hát đã như tiếng sóng xa khơi vỗ về bước chân tôi quay về căn nhà cũ, với ánh mắt mẹ chờ, với tôi bôn ba quê người nổi trôi trong đời cơm áo?

Chuyến đi bất ngờ, không dự tính. Tôi muốn rời thành phố sáng mưa đá, chiều mưa tuyết này trong tuần lễ Easter, để quên đi một mùa đông dài còn đeo đẳng mãi, giống như những thứ oan khiên còn phủ chụp xuống lận đận đời tôi trong kiếp người lưu vong, xa xứ. Nhưng, Mark – boss của tôi- đã trả lời “ không”, thật busy cho công việc tôi trong thời gian đó. Tôi ngậm kín nỗi buồn, câm lặng nhận chịu, đôi mắt bỗng mở lớn, vô hồn nhìn Mark. Sao bỗng dưng tôi bị giam giữ khổ sai trong một tù ngục bao la như thế này? Không có quyền có một chọn lựa nào khác cho mình. Buổi sáng thức dậy theo tiếng chuông đồng hồ reo dục dã. Mỗi ngày ra khỏi nhà cùng một giờ khắc y hệt như nhau. Vào thang máy phải tất bật cởi ngay áo khoác, để tiết kiệm chút thời gian còn lại ở Ladies Locker Room. Buổi chiều trở về nhà, việc đầu tiên bao giờ cũng là nhấn nút đồng hồ reo cho ngày hôm sau nữa. Một điều thật phũ phàng, cái job quan trọng hơn cả mẹ cha, vợ chồng, người tình, người thương muôn thuở.

Vài ngày sau đó, không hiểu nghĩ gì, Mark gọi tôi, nếu đươc, nên lấy ngày off sớm hơn một tuần trước Easter vì slowdown, vé máy bay lúc này cũng dễ, Mark không muốn tôi bị căng thẳng quá. Thật ra, như tự bao giờ Mark vẫn là một nice boss, thông cảm, hiểu biết, thân thiện. Có thể sự im lặng của tôi đã làm Mark áy náy và tìm mọi cách cho tôi không buồn lòng mà công việc vẫn không bị ảnh hưởng vì sự vắng mặt của tôi. Có lần rãnh rỗi ngồi nói chuyện với nhau, ánh mắt Mark bỗng thật xa khi biết tôi còn một quê hương vời vợi bên kia trời, không thể trở về khi mưa vẫn còn giăng trên màu cờ đỏ, và tro cốt của Bố tôi cũng còn ở đó, một xã hội bất bình thường với đói nghèo, bệnh tật, bất công – thật tương phản với lớp người ăn trên ngồi trước, bạc tiền ngựa xe như thác đổ...

... Sau cơn mưa, phi trường Los Angeles mù sương, loáng nước. Đứa em trai đã chờ sẵn, ôm choàng lấy tôi, không ngờ cuối tuần lại có mặt ở Cali phải không? Nửa khuya rồi, hàng quán Little Saigon không còn ai mở cửa. Hay nếu có còn chăng những hàng quán không nằm trong ý thích của chị đâu. Về nhà ăn hủ tiếu Mỹ Tho đặc biệt mẹ nấu, và đang hâm nóng chờ chị em mình. Nghi nói, khi xe bắt đầu quẹo vào đường Brookurst.

Đêm yên tĩnh như một giòng sông... Muộn khuya , trễ tràng, rời rã. Khi con đường Lincoln hiện ra trước mặt, tôi bắt đầu hình dung ra mùi hương hoa Dạ Lý của mẹ ngọt ngào, chứa chan, trên bờ tường thấp, gợi nhớ những đêm trăng quê nhà ở một thành phố biển, tuổi thơ tôi ngọt lịm trong gió cát quê Ngoại theo bước những đường trăng.

Có những thứ tự dưng biến mất, mà không nằm trong ý niệm của không gian, thời gian biến động thường tình. Như tình tôi với Lữ. Vậy mà cũng có những tháng năm nào quấn quít, tưởng chừng như không bao giờ khuất hút, lìa tan. Khi biết lòng mình đã hết, tôi không còn viết nữa những trang thư.

“ Thôi thì thôi, chỉ là phù vân. Thôi thì thôi nhé chỉ ngần ấy thôi.” (3)

Cũng chẳng còn cần thiết để hỏi thăm nhau qua những đường dây nói. Nhận tin tức Lữ, tôi không mừng. Biết Lữ đang gặp những nỗi bất an, lòng tôi không xôn xao, xúc động.Tôi không muốn đóng kịch giả trá để làm một người lịch sự. Lữ bỗng lạ mặt trong tôi đến độ đôi khi tôi đã tự hỏi, có thật không ngày đó mình cũng đã có một thời thân thiết với kẻ vô tâm. Khi nhận ra Lữ chỉ là một người đàn ông thô bạo, độc đoán, ích kỷ,và thiếu một tấm lòng rộng mở, tôi lặng lẽ bỏ đi, và thu mình lại trong cái vỏ ốc mà tôi đã có sẵn tự bao giờ. Thì ra… đó chính là cuộc đời đó Thụy. Có thức khuya mới biết được đêm dài. Có sống lâu, mới biết đời không dễ gì qua được bến bờ trăm tuổi. Và khi lòng mình không yên ngàn nỗi, tôi biết rõ tôi, chỉ có một chỗ để trở về cho mình tìm thấy lại tuổi thơ xưa: Mẹ tôi – như một tiếng gọi mênh mông của đại dương muôn thuở.

Đêm – Tiếng Hát – Như một lối về cho ta tìm gặp lại ta! Cho ta ngủ yên giấc mơ đời dâu bể. Dàn Nhạc Giao Hưởng: Hội Nghệ Thuật Aâm Nhạc California. Nhạc Trưởng: Thomas Ngô. Tiếng nhạc có lúc bồng bềnh như trôi trên sóng, có lúc dục dã như kèn thúc quân, như tiếng gọi lên đường khi Anh Dũng quặn mình trăn trở trong một bài thơ được phổ nhạc của Hữu Loan:” Aùo anh sứt chỉ đường tà”. Tôi nhìn sang Mẹ tôi, Mẹ say mê thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư … từ một thời tuổi hồng con gái, nên bây giờ hồn mẹ lãng đãng bay theo từng nốt thăng trầm, níu lấy tay tôi, đã thật lâu rồi mẹ mới có một đêm vui như thế. Còn Nghi, chị Thụy này, thi ca qua âm nhạc thính phòng đúng gout của chị quá đi rồi, nhất là có tiếng hát Vũ Khanh “ chuyên trị “ của chị, chắc là chị phải thích lắm.

Nhớ lại, sau khi nghe tôi báo sẽ về thăm mẹ và Nghi, tiếng Nghi reo lên thích thú bên kia đầu dây nói, vậy em phải lấy ngay vé Nhạc Thính Phòng cho chị mới được. Vé được bán từ mấy tuần rồi, nếu cứ lừng khừng sẽ được xếp ngồi ở “ cánh gà chiên bơ “ thì tội nghiệp mẹ biết bao!

“ Đêm về trên bánh xe lăn. Tôi – trăng viễn xứ, hồn thanh niên vàng. Tìm tôi đèn thắp hai hàng. Lạc nhau cuối phố sương quàng cổ cây… Nhớ nghĩa trang xưa – quê hương bạn bè. Nhớ pho tượng lính buồn xe bụi đường…” (4).

Nhạc vẫn là nhạc cũ, những bài tôi yêu thích cất giữ trong ngăn nhạc CD trong phòng riêng.Để là một thứ thuốc ngủ lãng quên đời những lần mở trừng mắt trong đêm nghe gió hú. Như những lời âu yếm, vỗ về trên từng bước gian truân. Nhưng đêm nay, tiếng mưa rơi đều một nhịp, sâu lắng chìm trong tiếng hát vững chải như thông, sừng sững buồn im như núi, và dong ruổi, phiêu du như một cánh chim bằng. Đó tiếng hát Vũ Khanh – đã là một con tàu đưa tôi trở về bến bờ quá khứ lụi tàn, huyệt lạnh nhiều năm. Xưa, Đại Huynh tôi có lần khuyến cáo, khi thấy toàn bộ sưu tập nhạc của tôi, hầu hết là giọng ca Vũ Khanh. Tiểu Muội có biết không Vũ Khanh có một đời riêng rất…lãng bạt, phóng đãng. Ơ, huynh nói gì lạ vậy. Muội chỉ thích một giọng hát như người ta đã ái mộ, quý mến một tài thơ. Sự ngưỡng mộ rất khác xa tình yêu đôi lứa. Tôi chỉ đứng ở một góc thầm lặng nhìn ngắm cám ơn anh đã hát giùm tôi, đã nói giùm tôi, đã thở giùm tôi, những u uất nghẹn lời trong cuộc tình tôi đớn đau, nghiệt ngã. Tôi không có thói quen đi tìm hiểu những riêng tư của các nghệ sĩ tài hoa. Tôi cũng chẳng bao giờ quan tâm đến đời tư của họ. Họ cũng là người, cũng có một trái tim bằng máu đỏ, cũng lãng mạn, đam mê, sao ta buộc họ phải là một thầy tu khi đã là người của đám đông xôn xao chào đón?

Và xa hơn nữa của thuở 15 … Tôi yêu văn NĐT. trên từng trang sách nhỏ. “ Giờ ra chơi “ của các cô học trò mới lớn sao mà ngọt ngào, êm ả, dễ thương. Tôi tưởng chừng như mình cũng là những nhân vật nhí nhảnh, hồn nhiên trong đó – áo lụa tơ vàng lúc nào cũng mang theo những lời chúc tụng, cho có kẻ ngẩn ngơ nhìn rồi làm cái đuôi lẽo đẽo theo sau…

“ Em tan trường về, đuờng mưa nho nhỏ. Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ. Oâm nghiêng tập vở. Tóc dài, tà áo vờn bay…” (5). Và tiếng nói nồng ấm, thì thầm của ông trong chương trình Nhạc Chủ Đề hàng tuần vào mỗi tối thứ năm: Hỡi em yêu dấu, mùa mưa rồi đó em, những cơn mưa Saigon có làm em nhớ tình ta? Hàng me xanh mướt lá sững im, anh biết tìm em nơi đâu trên lối về Vương Cung Thánh Đường ngày cũ….

Ê! Dã Thụy, mi cứ đi yêu cái lão nhà văn, một vợ, năm con, và nghiện thuốc phiện kinh niên ấy đi cho bỏ tội trời hành. Ơ hay, cũng là nhỏ Tỷ Muội. Nó là cái radio Catinat, đi lăng quăng ở đâu, nghe được tin tức gì là bắt đầu phổ biến. Tin của nó nhiều khi là tin đại cồ vịt vì chưa được phối kiểm, chẳng qua vì cái tính

nhiệt tình quá đáng của nó. Mi nghe rõ chưa,ta không yêu lão như cái đám fans ái mộ minh tinh màn bạc, thần thánh hóa họ trong ngưỡng vọng như một người tình. Lão là lão. Và ta là ta. Hay thì khen vậy thôi. Được chưa bà cụ non – phải chờ đến 3 năm nữa mới tròn 20 tuổi?

Và rồi đến lượt Bố tôi, Thụy, con phải xếp xó hết mọi thứ lỉnh kỉnh thơ văn, để còn lo học hành thi cử. Con phải đi đúng con đường Bố đã vạch. Phải có văn bằng và kiến thức khi bước vào đời mai sau…

Tôi phải tạm quên “giấc mộng văn chương “ của mình, để đẹp lòng Bố Mẹ, Nhưng khi những mảnh bằng đã có được trong tay, Bố tôi không kịp nhìn thấy ngày con gái đầu lòng công thành danh toại. Tai ương phủ chụp xuống đời tôi cùng với muôn người khi vận nước điêu linh, nghiêng ngã. Sư tuyệt vọng đến đường cùng tưởng chừng như chỉ còn một lối giải quyết là tự sát, đã cho tôi sống như một người mất trí, ngày không ra ngày, mà đêm chẳng là đêm. Tôi thường lang thang ngang qua những nơi chốn cũ - những tòa soạn tôi vẫn lui tới, vui chơi, viết lách lăng nhăng của tuổi học trò. Làm gì còn có ai ở đó nữa? Những người thân yêu đã đâu đó nằm im trong ngục tối, đã lênh đênh trên đường tìm kiếm tự do…Tôi chỉ còn lại tôi, với tiếng hát lưng trời :

“ Em đi qua cầu. Có gió bay theo. Thổi bùng khăn tang. Trắng giữa khung chiều…” (6)

Nhưng hình như lòng người cũng đổi thay theo đá nát, vàng phai, cơ trời, vận nước. Lưu lạc xứ người tình cờ gặp lại mọi cũ càng xưa, nước mắt ướt tràn mi, môi cười tôi lịm tắt. Vẫn là những người trong họ, nhưng không còn nữa nghĩa kim bằng, bẻ đôi chuyện ngày xưa Đào Viên kết nghĩa. Những Uy, những Ngạc, những Định,những Toàn… Có phải thà là đừng gặp lại để còn giữ mãi trong tôi thuở đời xanh mướt, để còn tự hào ta đã từng có anh em, bè bạn thâm giao…

Một ai đó đã hỏi tôi, sao thơ tôi muộn phiền, rũ rượi và văn tôi nhuốm mùi đắng cay, khinh bạc cuộc đời. Bởi đời đã dạy tôi như thế. Không phụ người, người cũng phụ ta. Thôi hãy cứ làm một người bỏ đi trước để biết rằng ta đã chọn lựa mất mát, ly tan.

Tiếng hát đêm nay bỗng làm tôi nhớ… Nhớ quá thuở 15, 16 tuổi mơ làm phóng viên đi khắp các mặt trận, các chiến trường. Những chiều tan trường về theo lá me bay trên đường Công Lý, nói cho chị Sao Hồng nghe về mộng ước mai sau… Cho đến một ngày tôi gặp Bắc Bình, như nhìn thấy chính cái bóng của tôi, người phóng viên quân đội băng mình trong lửa đạn, tôi ôm chặt lấy chị Sao Hồng kể lể, mừng reo, cuống quít. Đúng rồi, đúng người em chờ rồi, trời đất vẫn thương em, chị Sao Hồng ơi!

Nhưng biết thế nào là hạnh phúc?… Và tôi đã chẳng còn tôi, khi bóng tôi đã tắt, khi người muôn trùng cách biệt thiên thu. Nhưng tình yêu chúng tôi đích thực, nó còn đó hay đã qua đi chứ không bao giờ mất giống như mùa mưa vẫn đến hằng năm trong ngập tràn kỷ niệm.

Chuyến đi thăm mẹ tôi bốn ngày là đã hết ba ngày Cali mưa tầm tã vì ảnh hưởng bão đâu đó. Thành phố buồn hiu vắng vẻ người qua. Có lẽ vì tin tức bệnh Sars được loan truyền trong giới người Việt, bởi họ đi về Việt-Nam thường xuyên giống như Saigon đi Chợ-Lớn. Mà cũng lạ cho dân ta, những đồn đãi sai dường như đã thành một tập quán, không có không đươc. Hễ cứ ghét chợ nào là hê lên chợ đó đang mắc bệnh Sars, báo hại chẳng còn ai dám tới lui mua bán. Giống như lúc trước hễ cứ ghét tên nào là chụp ngay cho hắn cái nón cối và thế là… toàn dân chống Cộng cùng đoàn kết để “ làm thịt “ hắn. Chả trách sao biết bao gia đình sống biệt lập, cách xa cộng đồng người Việt vì họ không muốn phiền hà.

Mẹ tôi cứ phải dặn dò mãi hai chị em - tôi và Nghi - là bệnh Sars đang hoành hành, không được lê la hàng quán. Nhất là tôi – ở mãi hóc bà tó lạnh lẽo thiếu thức ăn Cali, đi đâu, thấy “ đói con mắt “ cũng mua về.

Me biết tôi thích bánh bèo chén tôm chấy Huế, nên tự làm từng ổ bánh nóng hổi cho tôi. Chuyến này mẹ để cho Gia Hội và Hỷ của con ế dài khi con vui chân thăm viếng Cali thì tội họ quá! Mẹ cười bằng mắt . Aên đi con. Xa xôi quá, mẹ không gần các con được để chăm sóc từng món các con yêu thích… Nhiều lúc nghe các con không an lành, lòng mẹ cũng quặn đau…

Sao mẹ lại nói vậy? Chúng con đâu còn nhỏ dại. Đáng lẽ, chúng con phải cận kề bên mẹ mới phải đạo làm con. Nhưng biết đến bao giờ những cách ngăn không còn nữa, gia đình vui trong sum họp, đoàn viên, khi đời sống xứ người không dễ dàng cho mọi đổi dời, toan tính.

Ngay cả điều nhỏ nhất, tôi cũng không ghé đốt được cho chú Hoan nén nhang muộn ở đồi Hồng. Tôi chỉ có bốn ngày phù du, mà đời sống xứ này việc gì cũng phải cuối tuần. Nghi không có thì giờ để đưa tôi đi giờ khắc tôi mong muốn. Tôi đành chịu lỗi với chú, chắc người nằm xuống ỡ Rose Hills đã tìm thấy bình yên ở cỏi vĩnh hằng cũng hiểu cho tôi.

“ Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách
Sắc bất ba đào dị nịch nhân “

Tôi không là khách, không ai lưu giữ được mình, nhưng sao cứ muốn ngồi im nhìn mưa lướt thướt trắng mù bên ngoài cửa. Chút mát mẻ ướt át gây se lòng ở những cơn mưa đầu mùa khiến người ta nhớ. Và tôi đã nhớ lại những điều tuyệt vời, những ngọt ngào êm ái đã đến trong đời mình. Những ngày tháng xôn xao ấm áp với những tình thân, với người yêu dấu. Để thấy có một chút hạnh phúc và để nghe lòng nuối tiếc khôn nguôi.Những cơn mưa tầm tã đã cầm chân tôi lại, không thể nào vui bưóc thăm ai, ngoại trừ Cung tình cờ nhìn thấy tôi ở phi trường Los Angeles qua chuyến công tác vội vàng. Cung nằn nì mãi. Thụy, ngày kia anh về lại xứ Cao Nguyên Tình Xanh rồi. Sao Thụy vẫn tránh anh? Không còn một chút gì hết trong lòng em sao? Tôi nói tôi như con cá đã làm quen và sống được trên cạn, bỏ xuống nước cho nó vẫy vùng nó sẽ chết đuối. Thời gian phủ lấp nhiều thứ quá. Khi phải tập quen với khổ đau, chính là lúc hồn tôi cũng đã phôi phai với hương hoa còn thoảng lại ở một đoạn đời. Nhưng cuối cùng… chúng tôi cũng đã gặp lại nhau. Trên một ngọn đồi. Trong một buổi chiều nắng quái. Cung – bên kia trời Tây Bắcù - cũng là một “ Giờ Ra Chơi “ của tôi một thời mới lớn. Thấy tôi vẫn e dè, ngần ngại, Cung kêu lên, Trời ơi sao Thụy chẳng khác xưa một chút nào hết, vẫn hoài mãi trong cái tháp ngà của mình. Tôi lắc đầu. Không phải vậy đâu anh. Tại Thụy vẫn là con Oác Hương khép mình trong tầng vỏ dày, nằm im nghe sóng vỗ. Bao nhiêu năm rồi, anh vẫn chỉ hỏi tôi có một điều ngày đó tôi có yêu anh không mà giờ ra chơi của chúng tôi đã vội vàng chấm dứt, cho mỗi người phiêu bạt một phương. Biết trả lời thế nào để mãi đẹp lòng nhau, khi ngày xưa không là của nhau và mấy mươi năm sau, cũng là mỗi đời riêng lẻ. Tôi giống như một người đi lạc xuống cỏi trần ai này, mãi tìm kiếm một điều gì, một người nào đó đã mất hút, và Cung đã bắt gặp, đã giữ tôi lại, đã không muốn tôi mãi ngơ ngác đi tìm những gì tôi đã không còn tìm thấy nữa. Tôi nhận ra rất rõ lòng mình, tôi không hề yêu Cung. Cung chưa bao giờ có trong hồi tưởng dù ngày vắng đêm thâu. Không chút vấn vương. Không nghe nao lòng, xao xuyến. Còn xa lắm để nói chuyện tình yêu của Cung và tôi, bởi hồn tôi chỉ có một Khôi An, cánh chim đại bàng đã gãy trong vòm trời quê hương bão bùng, giông tố.

Cali - những ngày ngắn ngủi trong vòng tay yêu thương của mẹ, tôi đã nghe lòng ấm áp dường bao. Tôi quên hết những lặn hụp, bon chen trong cảnh đời gian trá. Tôi biết mỉm cười tha thứ những kẻ đã dối gian tôi. Nhũng mánh khoé, điêu ngoa, những lọc lừa, bội phản. Bởi có nghĩa gì đâu … chút tạm bợ mượn vay trong kiếp sống lưu đày?

Tôi nhìn lại đời tôi trên từng hàng mưa lũ…... Tôi gọi tên Bắc Bình ngậm ngùi trong tưởng vọng xót xa... Bao giờ cho tôi quên, khi mùa mưa vẫn đến từng năm trong chứa chan kỷ niệm. Tiếng hát nào khàn đục “ Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” (7) cho tôi bật khóc nghẹn ngào trên từng âm thanh vỡ...

Minneapolis tháng 5/03.
MH Hoài Linh Phương

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Một ngày không vội vã...

Mỗi năm một lần , tôi về thăm Mẹ và các em hiện đang sống ở Montréal , Canada. Năm nay cũng như thuờng lệ, tôi về thăm nhà 2 tuần cuối tháng 6. Nói sao cho hết niềm vui gặp lại gia đình. Montréal vào mùa hè thật nóng bức, có ngày lên đến hơn 100 độ F, nên cả nhà thường rủ nhau đi ra ngoài chơi cho mát mẻ.

Tôi còn nhớ sáng hôm đó, cả nhà định dẫn mấy đứa cháu ra công viên cho tụi nhỏ hưởng chút khí trời . Tôi thì đã thay quần áo từ lâu, cứ chờ mãi mà mọi người cứ " xàng qua xàng lại ", gần 9 giờ vẫn chưa xong, nhất là mấy đứa nhóc thì cứ lăng xăng chơi game, không ai chịu thay quần áo.

Thế là tôi bắt đầu nổi quạu " Nhà mình sao làm gì cũng như rùa bò vậy ? Có đi hay không thì bảo ... ?

Cô em tôi nhỏ nhẹ " Thì từ từ, vacation mà lị , chị sống ở Mỹ riết rồi quen thói " stress out " hà ... ".

Cậu em trai thì nói " Chị làm gì mà dữ vậy, chị có biết hôm nay là " ngày không vội vã " hôn ?

Tôi ngạc nhiên, tưởng tai mình nghe lầm, nên hỏi lại " Ngày gì ? Không vội vã là sao ? " .

Thế là Má tôi bật tivi lên. Trên màn ảnh, đài nào cũng đang nói về cái ngày đặc biệt này. Ồ, thì ra là từ vài năm nay, mỗi năm chính phủ Canada chọn ra một ngày, thường là vào mùa hè, một ngày cuối tuần, và năm nay rơi vào ngày 26 tháng 6, gọi là " một ngày không vội vã ".

Khoảng chừng vài tuần truớc đó, là báo chí, các cơ quan truyền thông đều loan báo và nhắc nhở để mọi người chuẩn bị. " Ngày không vội vã " bắt đầu từ 8 giờ sáng cho đến 9 giờ tối. Mọi người được khuyên là " Bạn hãy ngủ cho thẳng giấc, thức dậy khi nào mình muốn. Hãy nhâm nhi tách cà phê , và ngồi ngắm khu vườn của bạn, nghe tiếng chim hót líu lo . Hãy đi ra ngoài nếu bạn thích, vào ăn trưa ở một restaurant nào mà bỗng dưng bạn muốn. Còn nếu không, bạn có thể mời bè bạn đến nhà làm BBQ. Bạn cũng có thể chạy xe đạp một vòng thành phố, hay nằm dài trên bãi cỏ của một công viên gần nhà, vân vân và .. vân vân " .

Tóm lại, chính phủ khuyến khích người dân : " Hãy enjoy từng phút giây hạnh phúc, bình an của ... một ngày không vội vã. Hãy biết sống và tận hưởng Hạnh phúc ở quanh ta ", như lời của một người phóng viên trên đài tivi đang nói.

Rồi còn có các màn phỏng vấn vài người dân , hỏi xem họ dự định sẽ làm gì trong cái ngày đặc biệt này trong năm, thì đa số câu trả lời đều là " spend time với gia đình, người thân ".

Có một cảnh trên màn hình làm tôi nhớ mãi. Hình ảnh một cụ già tóc bạc phơ, lụm cụm trả lời phỏng vấn với nụ cười móm mém " Tôi luôn mong đợi và yêu nhất cái ngày này trong năm, vì đó là ngày duy nhất mà tất cả con cháu tôi không ... bận rộn, chúng nó tề tựu đông đủ để họp mặt với tôi. Cám ơn chính phủ, cám ơn ân nhân nào đã " đặt ra " cái ngày ý nghĩa này ... " .

Thế là bỗng dưng tôi đổi ý . Tôi bảo gia đình " Hôm nay là ngày đặc biệt, vậy thôi mình làm chương trình gì special đi nhe .. " .

Thế là cả nhà nhao nhao hưởng ứng, người thì bảo " khỏi nấu cơm, đi ăn tiệm cho khỏe ", kẻ thì nói " nhà hàng đông lắm, đi xuống downtown chơi ".

Em trai tôi thì muốn đi xe đạp ( ở Montréal có rất nhiều bãi cho mướn xe đạp, bạn chỉ cần " quẹt " cái credit card vô là có thể lấy xe đạp đi ngay ) .

Mấy cháu nhỏ lại muốn đi tàu BateauMouche. Rồi lại có ý kiến đi câu cá, hay đi xe ngựa một vòng thành phố. Và thế là giơ tay biểu quyết. Cuối cùng thì đa số thắng thiểu số : đi xuống Vieux-port ( khu phố cổ ) chơi và sẽ đi tàu BateauMouche. Thế là chúng tôi lên đường , thảnh thơi, không vội vã ...

Đường xuống phố đông nghẹt, và kẹt xe, thế mà không một xe nào bóp kèn. Thiên hạ ngồi trong xe, an nhiên chờ đợi, còn mở cửa kiếng xuống nhìn nhau cười, và vẫy tay " No hurry ! Be happy ! ". Tôi thật sự " thấm " được thế nào là ý nghĩa của 3 chữ " không vội vã ! ".



Đến chừng xếp hàng mua vé đi tàu, thì lại là một hàng thật dài, trong cái nắng gắt của mùa hè. Vậy mà ai ai cũng cười, cũng nói, cũng bắt tay, với cả những người ... không quen biết. Dường như con người ở đây, ngày hôm nay, không ai bị stress cả. Cả một thế giới hoà bình, thanh thản quanh tôi ...

Lúc bước xuống tàu, David, thằng cháu nhỏ 5 tuổi hối hả muốn chạy đến dành chỗ, thì bị Christina - cô cháu 4 tuổi , " chỉnh " ngay : " David ! Bữa nay là " No hurry day " mà, sao David cứ hurry hoài vậy ? ", làm cả nhà cùng cười. Tôi cũng bật cười theo vì sự nhận thức dễ thương của cô bé này .

Trưa đến, đói bụng, chúng tôi ghé vô một nhà hàng Tàu. Lại đông nghẹt khách, nhưng ai ai cũng vui vẻ xếp hàng đợi đến lượt mình. Đang đứng chờ thì người bên cạnh tôi, một phụ nữ Quebécois bắt chuyện hỏi tôi đã làm gì ngày hôm nay. Tôi kể lại một ngày vui chơi với gia đình cùng các cháu. Bà cười , chỉ hai người con " Chồng tôi mất lâu rồi, năm nào vào ngày này, tôi cũng để tụi nó quyết định muốn đi đâu, làm gì... Cuộc sống mà, có gì mà phải vội vã ...". Rồi bà tiếp " Như trưa nay nè, bỗng dưng con gái tôi thèm ăn món lẩu Tàu, thế là chúng tôi vô đây, xếp hàng, nghe nói nhà hàng này món nào cũng ngon lắm .. " . Tôi gật đầu đồng ý và cảm thấy vui vui trong lòng......

Ăn no xong, thì đến chiều. Không ai muốn về nhà, thế là kéo nhau ra park chơi. Nhìn quanh, thiên hạ đông như kiến , tự dưng tôi thấy lòng mình vui chi lạ.Trải tấm chiếu trên bãi cỏ, tôi nằm xoải người, vươn vai một cái thật đã . Dường như hơn 10 năm sống trên đất Mỹ, tôi chưa hề có được cái " đã " nào như thế này . Cứ để mặc tụi nhỏ tha hồ chơi xích đu, cầu tuột, chạy chơi, la hét ... tôi nằm đeo cặp mắt kính mát, tận hưởng từng làn gió thoảng qua một cách khoái chí, do ... nothing , lim dim ... ngẫm nghĩ sự đời. Kể cũng lạ, nhờ có cái ngày này, mà tôi mới nhận ra là hình như trong đời , tôi chưa hề bao giờ có được một ngày không ...vội vã ...
... Sinh ra và lớn lên ở Saigòn, trong một gia đình nghèo, nên tôi biết rất rõ là chỉ có ráng học thì mới có thể giúp tôi thoát khỏi cái kiếp nghèo muôn thuở đó. Ngay từ nhỏ tôi đã rất hiếu học. Từ lớp tiểu học, đến phổ thông, rồi đại học, cả đời tôi chỉ biết có sách vở, và suốt ngày chỉ cắm đầu cắm cổ mà học. Tuổi thơ tôi chưa hề có một ngày không vội vã. Hôm nào cô giáo bệnh , được nghỉ và về sớm , trong khi các bạn bè cùng trang lứa lăng xăng tìm chỗ đi chơi, hay la cà các hàng quán , thì tôi lại vui mừng vì .. có thêm giờ để học bài. Tôi hối hả đạp xe về nhà, rửa mặt vội vàng và ngồi vào ngay bàn học. Bài thi nào cũng vậy, được 9 điểm là tôi buồn, vì phải điểm 10 cơ thì tôi mới chịu. Mọi người luôn bảo là tôi thích sự tuyệt đối, và như vậy thì đời tôi sẽ khổ...

Vào đại học, 5 năm, tôi lại chưa hề có được một ngày không vội vã. Lúc nào tôi cũng bận rộn, với bài vở và với những cuộc thi . Tôi luôn tham lam, mong muốn mình phải đạt điểm 10 trong mọi bài thi. Tôi sẵn sàng thức khuya , dậy sớm, miễn sao đạt được điểm tối đa là tôi vui. Có lần nhỏ bạn thân bảo tôi một câu chí lý " Học mà không chơi giết mòn tuổi trẻ, Chơi mà không học giết cả tuơng lai .. ". Tôi nói ngay " thì bởi vậy, tao học nè , chỉ có cái học mới giúp mình thoát ra khỏi nghèo khó ", nhỏ bạn cười " Tao thì chọn ... cả hai, vừa học vừa chơi, miễn sao không thi lại là " đủ xài " rồi, rồi mai này mày sẽ hối tiếc khi tuổi trẻ trôi qua uổng phí ... ". Tôi chỉ cười, nhưng bây giờ mới nhận ra là nó có lý ...

Ra trường ở Canada, đi làm, tôi lại lao vào công việc, làm thật nhiều, để mong kiếm thật nhiều tiền trong thời gian ngắn nhất. Tôi tình nguyện là 7 ngày 1 tuần, mỗi ngày 13 tiếng. Ròng rã 3 năm thì tôi đuối sức, nên đành giảm bớt chỉ làm 5 ngày. Mười năm trời, tôi dành dụm đựơc một số tiền, và nỗi ao ước, làm giàu, thật nhanh , đẩy tôi vào thị trường chứng khoán. Tôi say mê chơi stock, nên ngày nào tôi cũng luôn bận rộn với Wallstreet, với giá cả và những con số lên xuống của từng công ty. Trúng stock, chỉ qua một đêm, tôi bỗng nhiên thành triệu phú. Ấy thế mà tôi vẫn chưa có được một ngày không bận rộn. Ngay hôm đó, đầu tôi lại tính toán cách đầu tư nào để nhân đôi, nhân ba số tiền tôi đang có. Thế là lại mạo hiểm, lại chơi những ván bài to hơn . Ông bà ta đã có câu " Có gan làm giàu kia mà ". Tôi đã có gan, và tôi đã giàu, thì bây giờ nếu muốn giàu hơn, tôi cần phải có gan hơn ...



Thị trường chúng khoán sụp đổ, tôi trở tay không kịp, thế là mất trắng . Tôi không nản " không sao, còn sức khoẻ, còn quyết tâm , ta có thể làm lại từ đầu, thì sẽ có tất cả " . " Có chí thì nên " , nên tôi quyết định qua Mỹ, vì Hoa kỳ là đất nước của cơ hội. Tôi lại lao vào công việc, cần cù, ký cóp ... để dành tiền.

Vào những năm sau 2000, ngành dược và computer đang lên cơn sốt thiếu người. Thế là thiên hạ ùn ùn đổ sang Mỹ, vì làm việc nhiều tiền hơn. Tôi lại đi làm full time, 5 ngày một tuần , và luôn sẵn sàng làm overtime bất cứ khi nào công ty cần. Tôi đi làm từ sáng đến tối, ăn thì " cơm chỉ " , food to go, không xài gì cả, cắc ca cắt củm để dành từng đồng xu, hy vọng sẽ có cơ hội đổi đời ... Và rồi thì cơ hội đến thật, khi cơn sốt bất động sản bùng nổ. Giá nhà cửa tăng vùn vụt , từng ngày. Hễ ai chậm tay là ... sorry, ráng mà chịu khó ngồi nhìn " căn nhà mơ ước " vuột khỏi tầm tay, bạn nhé. Và tôi lại bị cuốn xoáy vào cơn lốc này, như hàng triệu người ở xứ Mỹ .

Mỗi tuần chỉ có được hai ngày nghĩ làm, tôi rời nhà từ 8 giờ sáng đến 9 giờ tối , lái xe khắp mọi ngõ ngách, để tìm xem có căn nhà nào " For sale by owner " không, hay có căn nào trông lụp xụp mà mình có thể tân trang chút đỉnh lại rồi " flip ", kiếm vài chục ngàn bỏ túi . Có những bữa tôi không có cả thời giờ để ăn cơm, mua vội vàng chút food to go bỏ bụng . " Thảy " 1 căn nhà, wow , ngon ăn quá, tôi làm căn thứ nhì, rồi thứ ba. Lòng tham con người là không đáy kia mà . Thì đùng một cái, cái " bong bóng " nhà đất nổ tung . Bao nhiêu kẻ mất nhà, tay trắng, và có tôi trong số đó . Từ một triệu phú ( lần thứ hai ) , tôi trở thành người mang nợ ngập đầu. Và thế là tôi phải đi làm bù đầu bù cổ để ráng cầm cự mấy căn nhà. Đến chừng thật sự đuối, thì tôi đành phải buông - trong cay đắng, vì không còn sự lựa chọn nào khác. Tôi shortsale mấy căn nhà, trước khi để nhà bank kéo . Rồi giờ thì tôi phải tiếp tục đi cày , cả đời , để mà trả nợ. Một bài học .. suốt đời không thể nào quên. Cho đáng kiếp mày, một kẻ tham lam ...

Hôm nay nằm dài trên bải cõ, hít thở bầu không khí trong lành của một ngày nắng ấm, chẳng có việc gì phải làm, thế mà tôi thấy lòng mình , tâm mình sao mà thảnh thơi chi lạ. Giờ phút này, tôi không giàu, nhưng sao tôi lại có được sự bình an, điều mà đã hai lần là triệu phú, tôi hoàn toàn chưa bao giờ có được. Thật sự tôi phải cám ơn chính phủ Canada, hay cám ơn người ân nhân " trí tuệ " nào đó, đã nghĩ ra cái ngày đặc biệt này trong năm, để giúp người dân biết trân quý sự thanh thản mà cuộc sống ban cho chúng ta. ...

Bỗng dưng tôi chợt nhớ mới cách đây vài tuần , tôi tình cờ gặp lại cô bạn củ hồi trung học, khi vô tiệm food to go ở Cali mua đồ ăn . Hai đứa chỉ kịp chào hỏi vài câu, thì cô bạn vội vã về đón con, còn tôi thì lật đật đi ra xe sợ trễ giờ làm. Cô bạn than " Sao cuộc sống tụi mình lúc nào cũng tất bật quá há, chỉ khi nào hết thở thì mới hết ... bận rộn ... ".

Tôi chỉ cười " Xứ Mỹ mà lị ... " .

Cô bạn tự dưng hỏi xin địa chỉ email của tôi, rồi bảo rằng " sẽ email gửi cho bồ một bài ý nghĩa lắm ", rồi cô cười nói thêm " nhưng đọc thì hay, mà làm có được hay không lại là chuyện khác . .. ".

Tối đó check mail, tôi nhận được ngay , với vài dòng nhắn nhủ " Bồ ráng cố gắng thực hành theo lời khuyên trong bài này nhé, còn mình thì ... đời vẫn lăng xăng .. ".

Tôi bật cười , và click vô đọc bài viết ngắn của cô bạn :

BẬN RỘN làm cho ta không có bình an và hạnh phúc
BẬN RỘN làm cho sự hành xả của ta vụng dại
BẬN RỘN làm cho cái hiểu biết của ta khô cằn
BẬN RỘN làn cho sự sống của ta ngắn lại
BẬN RỘN khiến ta không thấy được cái đẹp của người ta thương yêu
BẬN RỘN khiến ta đi trên đường như ma rượt ...

Đời sống bận rộn là đời sống ... bất hạnh nhất trên đời ... !

Thế đấy, nhưng con người ai ai cũng luôn tìm đủ mọi lý do để mà ... BẬN RỘN.

Và rồi một ngày kia, thử hỏi có ai mang theo được cái " BẬN RỘN " về bên kia thế giới ?

Hãy biết dừng lại
Hãy biết ngơi nghĩ
Hãy tập thanh thản
và buông xả, thảnh thơi ...

thì khi cái ngày ấy đến , chúng ta mới có thể ra đi với cái tâm ... KHÔNG ... BẬN RỘN .... !!!

Đúng vậy, dường như chúng ta , ai ai cũng luôn tự tìm cho mình một " lý do " để mà bận rộn , mà chưa hề bao giờ biết cách " nếm " được hương vị cuộc sống của mỗi ngày. Tôi chợt nhớ đến cô Kim Anh , cô cũng đã bảo tôi câu này khi bác sĩ cho biết là cô chỉ còn vài tháng để sống, và cô đã nói với tôi " Mỗi người đều có số phần, cô cũng mừng là cô còn " vài tháng ", thì ít nhất cô cũng sẽ có được vài tháng sống trong bình an, không vội vã.. ".

Chiều xuống, trời bắt đầu ngã tối. Thiên hạ lần lượt rời công viên. Cả nhà tôi cũng lục đục thu xếp đồ lại.

Bé Tina có vẻ nuối tiếc, bé hỏi bà chị tôi " Mommy, ngày mai có còn là " No hurry day " hôn ? " .

Chị tôi cười " Hết rồi con, mỗi năm ở Canada có một ngày hà .. ".

Na phụng phịu " Na muốn every day đều là " No hurry day " cơ... ".

Chị tôi nói ngay " Dễ thôi con , nếu mỗi ngày mà con biết enjoy, thư thả, con đừng làm việc gì gấp gáp hết, thì mỗi ngày sẽ là " No hurry day " rồi.. .".

Tôi đứng đó, nuốt từng lời bà chị nói, và cảm thấy " ganh tỵ " với đứa cháu của mình, vì chỉ mới 4 tuổi, mà cháu đã được học một bài học quý giá nhất trên đời, còn tôi , gần nữa đời người mới được học bài học đó ...
Lên xe, cậu em trai mở nhạc, vặn thật lớn bài hát mà tôi rất thích :

... " Nếu chỉ còn một ngày để sống
Chợt nhận ra cuộc đời quá đẹp
Phải chăng ta sống quá vội vàng
Nên ra đi chưa được bình an ... "

Đúng thật , cả một đời tôi luôn sống quá vội vàng , thì làm sao có thể ra đi bình an ? Một lần nữa, xin cám ơn cái ngày đặc biệt này, đã giúp tôi có một cái nhìn mới , khác hơn về cuộc sống ...

Tự dưng tôi nhớ đến hai cô bạn thân. Cô bạn đạo Chúa thì chủ nhật nào cũng đi nhà thờ, hễ rảnh là đọc cuốn Thánh kinh nhỏ lúc nào cũng kè kè trong bóp. Cô hay nói với tôi " Chúng ta nên làm theo lời dạy của Ngài, thì lúc ra đi, mình sẽ được lên Thiên đàng với Chúa .. ".

Nhỏ bạn đạo Phật thì hễ rảnh là đến Chùa, niệm Phật, nó nói tôi " Ở lành, giữ ngũ giới, làm từ thiện, thì chắc chắn sẽ được về với Phật .. ". Còn giờ phút này, tôi hiểu ra một điều " Nếu như chúng ta biết tự làm cho mỗi ngày của mình thành " MỘT NGÀY KHÔNG VỘI VÃ " , thì chúng ta sẽ có được 365 ngày một năm đang sống ở Thiên đàng, hay Niết bàn ... rồi đó ...

Chúc mỗi người trong cuộc đời, luôn có được những ngày ... không vội vã ...

Hoàng Thanh

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Lòng Người Là Giấy
‘Lòng người ta là giấy, chứ không phải vàng đá’.
Là giấy nhưng sao người ta cứ nghĩ là vàng để đem đi thử lửa? Đến lúc cháy mất rồi lại thất vọng lòng dạ bạc đen?
Sao ta không hiểu rằng, bởi là giấy, nên cái cần và nên làm là chúng ta phải nâng niu, giữ gìn cho nhau để tránh khỏi nắng mưa của cuộc đời?
Tôi muốn được kể một câu chuyện:
Chuyện xưa kể rằng, có một đạo sĩ nổi tiếng thần thông, trong một lần ngao du sơn thuỷ, thấy một phụ nữ đang quỳ bên một ngôi mộ mới, vừa khóc vừa quạt.
Lấy làm lạ, đạo sĩ đến hỏi sự tình. Mới hay rằng, người dưới mộ là người chồng vừa khuất của thiếu phụ.
Ngán thay, trước khi chết có trăn trối lại rằng đến khi mộ khô thì người vợ trẻ hãy tái giá.
Người thiếu phụ vì thế mới ở đây, quạt cho mộ nhanh khô. Người đạo sĩ động lòng, mới hoá phép giúp cho thiếu phụ, ngôi mộ thoắt cái đã khô như những ngôi mộ cũ.
Người thiếu phụ vui vẻ cảm ơn đạo sĩ để về nhà, nơi người tình mới của mình mong đợi.

Người đạo sĩ về nhà, đem chuyện kể với vợ của mình. Vợ của đạo sĩ chê cười người đàn bà kia thật bạc tình. Được một thời gian, bỗng dưng người đạo sĩ mắc phải bạo bệnh, liệt giường và tạ thế.
Trước khi nhắm mắt mới trăng trối lại rằng hãy giữ quan tài đủ bảy bảy bốn chín ngày rồi hãy an táng. Người vợ khóc vâng lời.
Một ngày kia, có một người xưng là học trò đến xin ở lại chịu tang người đạo sĩ.
Dung mạo người học trò thật khôi ngô tuấn tú.
Thế rồi, chỉ ba ngày sau, người vợ đạo sĩ đã ăn nằm với người học trò.
Được bảy ngày sau, người học trò lăn ra ốm.
Bệnh ngày một nặng. Mới nói với người vợ đạo sĩ rằng, ta mắc phải bạo bệnh, chỉ có ăn óc người mới khỏi được.
Người vợ liền lấy vồ, bật nắp quan tài định đập vỡ đầu xác chết để lấy óc cho nhân tình ăn.

Nào ngờ, vừa bật nắp quan tài thì vị đạo sĩ tỉnh lại. Người thiếu phụ quay lại thì chàng trai trẻ đã biến mất tự khi nào.
Mới hay, đó là do phép thuật phân thân của người đạo sĩ cao tay. Người vợ xấu hổ quá, mới tự tử mà chết.
Người đạo sĩ đó là Trang Chu (còn gọi là Trang Tử), cũng là một hiền triết của phương Đông chúng ta.
Câu chuyện đó, câu chuyện “vợ thầy Trang Chu” lưu truyền gần hai nghìn năm để chê cười cái gọi là “lòng dạ đàn bà”.
...Lại có người lấy email giả, để chính mình chat và “thử lòng” người chồng mà mình hết mực thương yêu.
Để đến khi anh ta trở nên lạnh nhạt tình cảm vì cho rằng người vợ thiếu tin tưởng tình yêu của mình.
Rồi lấy bạn gái của mình để thử chồng, và rước đau khổ vào mình khi người chồng chẳng “trước sau như một”.
Còn bao nhiêu câu chuyện trớ trêu nữa mới đủ để chúng ta hiểu rằng, lòng người ta là giấy, chứ nào đâu phải vàng đá… Vì là giấy, nên sao ta cứ nghĩ là vàng để đem đi thử lửa?
Đến lúc cháy mất rồi lại thất vọng lòng dạ bạc đen?
Sao ta không hiểu rằng, bởi là giấy, nên cái cần và nên làm là chúng ta phải nâng niu, giữ gìn cho nhau để tránh khỏi nắng mưa của cuộc đời?
Sao ta không hiểu rằng, bởi là giấy nên đẹp xấu là do ta vẽ nên, tốt lành là do ta viết nên mà thù hận cũng là ta đặt bút.
Sao ta không viết lời hay, vẽ lấy bức tranh yên bình để xây dựng, gìn giữ cái hạnh phúc mong manh của gia đình?
Tôi chẳng cho cách làm của thầy Trang Chu là hay
Tôi cũng chẳng ủng hộ việc thử lòng của các chị thời nay với email và các phương tiện khác.
Thời gian thì trôi đi, nhưng lòng người thì vẫn vậy thôi, vẫn là giấy. Mà đá cũng mòn, vàng cũng phai, huống hồ là giấy…
Người ta, cùng là một người, sao có lúc nhân từ đáng yêu, lại có lúc cay nghiệt thế?
Ấy bởi ai cũng có hai mặt tốt xấu trắng đen lẫn lộn.
Là những người thề non hẹn biển với nhau, cam kết gắn bó với nhau để xây dựng tổ ấm của mình, tôi thiết nghĩ việc nên làm là mang cái mặt tốt ra để đối đãi với nhau.
Lấy mặt trắng mà đối đãi với nhau (Phu phụ tương kính như tân – Vợ chồng kính nhau như khi còn mới).
Đó mới là cái kế vạn toàn. Chứ nếu cứ mang cái mặt trái để đối đãi với nhau, mang cái xấu để dành cho nhau, như thế thì đồng sàng mà dị mộng.
.. Cái đó gần với sự tan vỡ lắm.
Ai ơi, nếu còn thương nhau, chớ có thử lòng nhau. Và hãy hiểu, lòng con người là giấy.
Ai không động lòng trước một cử chỉ ân cần?
Ai vô cảm bởi một lời khen?
Ai vắng nhau lâu ngày mà không hề ham muốn& nhớ mong ?
Chẳng phải lòng mình cũng vậy ư?
Vậy nên, nâng niu bao nhiêu vẫn chưa đủ. Một chút nghi kỵ đã là thừa.

Giáng Uyên

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

BS bất đồng chính kiến Lê Nguyên Sang:
Không có cái tội gọi là “tuyên truyền”


Image
Bác sĩ bất đồng chính kiến Lê Nguyên Sang (phải). (Hình: VOA)

Một nhà tranh đấu dân chủ trẻ vừa được trả tự do sau 4 năm tù giam về tội danh“ tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCNVN”. Phiên tòa phúc thẩm ngày 17/8/2006 giảm án từ 5 xuống còn 4 năm tù đối với bác sĩ bất đồng chính kiến Lê Nguyên Sang, người có những hoạt động mà giới cổ súy dân chủ cho là kêu gọi dân chủ và cổ võ đa nguyên đa đảng tại Việt Nam. Bác sĩ Sang từng theo chuyên khoa tâm thần, công tác tại Bệnh viện Tâm thần Hòa Khánh, Đà Nẵng, trước khi anh vào Sài Gòn học cao học về khoa Nội Tổng quát rồi tốt nghiệp và hành nghề tại Phòng khám Đa Khoa Thị Nghè.

Bốn năm trước, dư luận đột ngột hay tin bộ ba trí thức trẻ gồm bác sĩ-luật sư-doanh nhân là Lê Nguyên Sang, Nguyễn Bắc Truyển, và Huỳnh Nguyên Đạo bị phạt tù vì vi phạm điều 88 Bộ luật hình sự, tức tội “tuyên truyền chống phá nhà nước”.

Bốn năm sau, ngay ngày ra tù, trong cuộc trao đổi với Tạp chí Thanh Niên đài VOA, bác sĩ Sang chia sẻ về niềm tin, lý tưởng, cũng như những hoạt động của anh dẫn tới bản án này:

Từ năm 2000, tôi viết bài trên Câu lạc bộ Dân chủ Việt Nam, tiền thân của Đảng Dân chủ Nhân dân. Ngày 31/5/2005, tôi cùng với Đỗ Thành Công thành lập Đảng Dân chủ Nhân dân, kêu gọi đa đảng và đòi thả tù nhân chính trị. Sau đó, an ninh Việt Nam theo dõi và bắt tôi, xử tôi 4 năm tù giam. Tôi được “tự do” ngày 17/8, “tự do” theo đúng nghĩa là ra khỏi bốn bức tường nhỏ. Còn đối với bốn bức tường lớn thì những ai đã từng sống trong chế độ cộng sản, họ sẽ hiểu được sự chèn ép như thế nào. Nhiều lúc đến mức chịu không nổi muốn tự sát chết. Khi vô tù, tôi thấy rằng sai lầm của tôi là đã không đi vượt biên mà trước đây bao nhiêu người đã cố tìm cách đi ra nước ngoài, thoát khỏi cái ngục tù lớn đó. Bản thân tôi vì nghĩ là đất nước sẽ ngày một thay đổi khác đi và sẽ tiến bộ hơn nên tôi ở lại để rồi cuối cùng tôi phải vào cái ngục tù nhỏ. Những việc tôi làm là đúng. Ra trước tòa, tôi chưa bao giờ nhận tội. Họ ép tội tôi, bảo là nhận tội tôi sẽ được khoan hồng, nhưng tôi dứt quyết không. Tôi cho rằng hành vi của tôi là cần thiết vì đảng CSVN đã đánh mất lòng tin của dân chúng và để lại quá nhiều sai lầm trong sự lãnh đạo của họ. Thứ hai, xã hội Việt Nam đang xuống cấp. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải vực dậy cái xã hội đó, thức tỉnh nhiều người. Tôi là một trí thức. Tôi hiểu được trách nhiệm của mình đối với đất nước này thì tôi làm tròn nghĩa vụ của tôi thôi. Còn chuyện ở tù hay không đối với tôi không quan trọng lắm.

Họ chưa bao giờ cho tôi là khủng bố hết. Nếu họ bắt tôi vì tội khủng bố thì họ sẽ giam tôi 15-20 năm. Còn tôi bị họ bắt về tội “tuyên truyền chống nhà nước XHCNVN”. Và tôi đã lý luận rằng không có cái tội gọi là “tuyên truyền”. Nếu tôi nói sai sự thật thì bắt tôi về tội vu khống, nhưng mà đây tôi đâu có vu khống? Nếu anh bắt người ta về tội “tuyên truyền” thì anh đã giết chết tư tưởng phản biện và bỏ tù một trí thức. Trí thức mà không nói được những suy nghĩ, tư tưởng, tư duy của mình đối với sự mất mát, tổn thất của đất nước thì đâu còn là trí thức. Tôi nói tiếng nói phản biện, sáng tạo thì người ta lại cho tôi tội “tuyên truyền”. Tôi bác bỏ chuyện “tuyên truyền” là không đúng sự thật. Tôi nói đúng sự thật, tôi không nói gì sai. Hỏi tôi có tội không? Tôi không có tội. Hành vi tôi có làm không? Tôi có làm, nhưng tôi không có tội.

Tôi cảm thấy rằng trong 4 năm qua, cái nhìn của đảng CSVN này đối với tôi khác. Hôm nay, tôi nói với chị với tính cách mạnh mẽ, tự tin hơn. Trước đây, đài cũng phỏng vấn tôi, nhưng tôi phải nói lén lút, không dám nói trước mặt mọi người. Nhưng hôm nay, tôi tự tin đứng trước mọi người nói cho họ biết tôi là một lực lượng đối lập với đảng CSVN. Nếu cộng sản không chấp nhận đối lập, đến một ngày nào đó, nó sụp đổ, nó sẽ đè chết hết, nhưng nếu có một lực lượng khác cùng gánh vác thì sự sụp đổ đó ít tổn hại hơn. Chúng tôi làm nhiệm vụ đó. Còn nếu CSVN cho rằng chúng tôi “sai lầm, vu khống, xuyên tạc, nói xấu, tuyên truyền”…, họ có quyền bắt chúng tôi. Bắt là quyền của họ vì trong tay họ có công an, nhà tù, nhưng họ nên nhớ rằng họ bắt tôi cũng không làm thay đổi được cục diện của đất nước Việt Nam và sự sụp đổ của chính họ.

Tôi đã từng cầm súng đi bộ đội chiến đấu. Một điều tôi muốn nói là giới trẻ phải chọn con đường lý tưởng mà đi. Khi đã chọn được rồi, thì phải quyết đi đến cùng và phải cương nghị, không bao giờ thay đổi. Tôi chọn con đường dân chủ là con đường đúng cho đất nước này, và tôi theo đuổi con đường đó. Tôi có thể gặp thất bại, bị ở tù lại, bị ngược đãi, hay bị hành hạ, nhưng tôi cho rằng con đường mình chọn là đúng, mang lại lợi ích cho 86 triệu dân Việt Nam thì tôi vẫn cứ làm. (Theo VOA)

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Bóng chiều xưa

Quỳnh Giao
Nữ danh ca Minh Trang, thân mẫu của tác giả Quỳnh Giao, vừa từ trần hôm 17 tháng 8, 2010. Bài viết dưới đây, do tác giả Quỳnh Giao viết, và đăng trên Người Việt, hôm 21 tháng 4, 2010. Nay tòa soạn đăng lại bài viết này, để tưởng nhớ một trong những tiếng hát kỳ cựu nhất của nền tân nhạc Việt Nam, và cũng để độc giả được biết thêm nguồn gốc một số nhạc phẩm nổi tiếng xung quanh cuộc đời của bà.

Tuần rồi, Quỳnh Giao đã dùng tựa đề bài tạp ghi là “Phút Say Hương.” Ðó là mượn tên một ca khúc của Dương Thiệu Tước (là kế phụ của người viết) sáng tác cách đây gần 60 năm...
Image
Ba mẹ con. Từ trái: Bửu Minh, Minh Trang và Ðoan Trang
(tức Quỳnh Giao hồi bé). (Hình: tác giả cung cấp)

Mấy tháng vừa qua, cùng với mấy cô em, người viết chạy qua chạy lại như chong chóng giữa mấy nhà thương và nơi an dưỡng của mẫu thân để thăm nom cụ đã đến tuổi gần chín chục. Dù thân thể yếu ớt kiệt quệ, tinh thần của cụ vẫn minh mẫn tỉnh táo đến lạ thường. Không quên tên một người nào cả, từ họ hàng cho đến bằng hữu. Nào là Châu Hà, Kim Tước, Mai Hương, Kiều Chinh, cụ đều nhắc kỷ niệm thật chính xác. Cả đến người cụ chỉ thỉnh thoảng gặp gỡ cũng nhận ra tức khắc, như trường hợp anh Huy Phương đến nhà thương thăm cụ. Hôm ấy vì ngờ cụ bị cúm H1N1, nhà thương bắt buộc mọi người phải bịt kín mặt khi vào thăm. Nhác thấy anh, mặt nạ che chỉ còn hai con mắt, cụ reo lên: “Ồ, anh Huy Phương, anh đến thăm, tôi vui mừng lắm!” Cụ tỉnh táo nhận ra những người mấy chục năm mới gặp như cô Tâm Vấn, làm cô không cầm được nước mắt. Thấy Nhã Ca và Trần Dạ Từ đến bên giường thăm hỏi, cụ gọi đích danh tên thật của cô Nhã - “Thu Vân đây này!” và bảo rằng “Trần Dạ Từ này, chị coi như em ruột từ mấy chục năm về trước.”

Mấy chục năm về trước, phụ nữ chưa được đi học đông đảo như thời sau. Ðàn bà mà đỗ đến Tú Tài thì đã được coi là “hiếm có lắm.” Trong đài phát thanh, cụ viết và đọc tin bằng tiếng Pháp nên ai cũng cho là giỏi. Ðã vậy, khi một ca sĩ bị đau bất ngờ, ông Giám Ðốc Hoàng Cao Tăng của đài Pháp Á nhờ cụ hát thay, cụ hát ngay, đúng ton, trúng nhịp vì đã học piano và nhạc lý vững vàng. Rồi nổi danh như cồn nhờ tiếng hát! Nhưng, những người đã biết danh ca Minh Trang từ trước thì đều biết rằng đấy là một xướng ngôn viên và biên tập viên thuộc loại “văn võ toàn tài,” Pháp Việt gì thì cũng làu thông! Ðấy là chuyện của hơn nửa thế kỷ về trước. Mà giờ này thần trí của cụ còn nhớ hết khi thân thể đã như ngọn bấc đang cạn dầu...

Vì nghĩ đến mẹ mình suốt ngày nên vô tình tựa đề của bài tạp ghi về nước hoa kỳ trước dùng bài hát liên quan đến cụ. Mà cũng chính cụ đã mở con đường thơm tho cho mình khi tuổi còn thơ, khi mình ngồi ngắm mẹ sửa soạn trước gương, chải mái tóc, và bôi nước hoa vào sau vành tai trước khi đi ra ngoài.

Khi mẫu thân Quỳnh Giao gặp gỡ nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, bà đã nổi danh như cồn với giọng ca điêu luyện. Lúc ấy là một góa phụ trẻ đẹp, nghệ danh là tên ghép của hai đứa con: Minh (Bửu Minh) Trang (Ðoan Trang, tên thật của người viết). Nói là hai người gặp nhau, nhưng cũng chỉ mới “gặp” trên làn sóng âm thanh mà thôi. “Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình” mà! Người nhạc sĩ tài hoa đã mê giọng hát và tương tư hình ảnh qua bức ảnh in trên bìa bài hát, nên soạn ra bài “Sóng Lòng,” nhịp Slow chậm rãi, trên cung Ré Trưởng với những lời lẽ sau:

Vắng người ta ước mơ
Khiến lòng bao ngẩn ngơ
Bến đời u ám như mây mờ
Cách trùng dương núi sông
Cánh hồng say ngóng trông
Biết ngày nào thấy nhau, hoài mong...
Trên án thư kìa hình ai tươi nét mơ,
mắt thu huyền dịu dàng bao ý thơ.
Tiếng ca u hoài ôi lâm ly từ đâu tới đây
Trên làn sóng âm thanh như đắm say hồn mơ...

Thời kỳ theo đuổi này, người nhạc sĩ hàng đầu của nền tân nhạc phôi thai còn soạn thêm những bài như “Buồn Xa Vắng” nhịp luân vũ chậm (valse lente) trên cung Sol Trưởng, cũng là âm giai thích hợp với chất giọng của bà nhất vì xuống nốt Sol trầm và lên cao là nốt Fa, không quá thấp mà cũng không quá cao, vừa vặn với thang âm (échelle) của bà. Ca khúc này được bà yêu thích nhất với lời từ đầy nỗi nhớ nhung.

Buồn ơi xa vắng, cung huyền réo rắt
Mênh mông sầu
Hồn mộng bâng khuâng, tơ trùng rung phím
suốt đêm thâu
Tàn canh thao thức, mây sầu theo gió
tới phương nao
Nhớ ai đàn ơi, u hoài
Khúc nhạc ly tao...

Nhưng độc đáo nhất vẫn là “Ngọc Lan” mà ai cũng biết:

Ngọc Lan giọng ướp men thơ
Mát êm làn lụa bóng là
Ngọc Lan trầm ngát thu hương
Bờ xanh bóng dương phút giây chìm sương...

Khi đã chung sống, hai người viết những ca khúc đầy yêu đương tình tứ như “Phút Say Hương.” Bài hát này có tiết điệu vui, lời ca thi vị:

Nhớ những phút vui đêm thâu thả hồn mơ
Nhìn mây gió tới đâu.
Nhớ những phút vui bên nhau tìm hồn hoa
Nhìn trăng khuất non xa
Nhớ những phút vui canh thâu nhạc vàng êm
Hòa đêm trắng bên nhau...

Thời kỳ này có ba bài hát do Minh Trang làm lời trên giai điệu của Dương Thiệu Tước. Ðó là “Ôi Quê Xưa,” “Bóng Chiều Xưa” và “Vui Xuân.” Nếu nghe cho kỹ thì lời ca của hai bài đầu vẫn còn là niềm luyến nhớ cảnh xưa, và người xưa đã khuất.

Hãy nhớ lại “Ôi Quê Xưa” với nhịp Habanera tha thiết:

Rồi một chiều xưa,
tôi về cố hương
Nhìn cảnh làng xưa,
vết hoang tàn đìu hiu gió sương
Nhìn xóm nhà vắng thưa,
nhớ chốn đây năm nào
Chiều chiều hai người hẹn nhau
đến bên nhịp cầu...
Tối tối quây quần mơ đón trăng lên vui lời trao duyên
Hôm nay chốn đây thôn làng quạnh hiu , người vắng xa...

Và tác phẩm “Bóng Chiều Xưa” bất hủ theo nhịp slow habanera. Sau này, một số ca sĩ đổi thành nhịp tango làm mất nhiều tình cảm nhẹ nhàng đằm thắm của lời từ lãng mạn. Vào thời ấy mà viết lời đầy ắp nỗi nhớ nhung chốn cũ người xưa, mình thấy lạ, và hãy cùng nghe lại để hiểu ra tâm tư của người nghệ sĩ:

Một chiều gió mưa em về thăm chốn xưa
Non nước u buồn nào đâu bóng cố nhân
Lòng xót xa tình xưa...
Lâng lâng chiều mơ,
một chiều bâng khuâng đâu nguồn thơ
Mây vương sầu lan, gió ơi đưa hồn về làng cũ
Nhắn thầm lời nguyền ước trong chiều xưa...

Với con cái, bà mẹ không bao giờ giờ cắt nghĩa hay giải thích lời ca cụ đã viết. Nhưng khi hát lên với sự trân trọng, làm con thì tự nhiên mình thấu hiểu được nỗi niềm của mẹ. Càng hát lại, ngẫm lại, Quỳnh Giao càng thương yêu mẹ và tiếc thương cho người cha tài hoa bạc mệnh, qua đời lúc mới 46 tuổi, khi con bé mới lên năm...

Mỗi ngày vào ngồi bên mẹ, người viết luôn nói cho bà biết bằng ánh mắt của mình. Rằng “con thương mẹ lắm,” và mẹ tôi nhìn tôi với ánh mắt biết cười: “Mẹ thấy mình hạnh phúc và mãn nguyện rồi...”

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

CHÚNG TA CÓ THỂ HỌC ĐƯỢC GÌ TỪ NGUYỄN TRƯỜNG TỘ?

Giáp Văn Dương
Bài học lớn nhất mà chúng ta học được từ Nguyễn Trường Tộ chính là sự thất bại của ông trong việc kiến nghị những giải pháp canh tân đất nước với tư cách một trí thức. Từ đó thấy rằng, chỉ khi nào người trí thức tự giác tránh con đường cụt mang tên “trí thức cận thần” để đi trên con đường mới – con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân – thì đất nước mới có thể tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần” và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

Mỗi khi nói về sự canh tân của nước Nhật, ta không khỏi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi.

Mỗi khi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi, ta không khỏi nghĩ đến Nguyễn Trường Tộ.

Cả Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ đều là là những nhà tư tưởng về cải cách, sống cùng giai đoạn lịch sử. Nhưng một người thành công, một người thất bại.

Câu hỏi đặt ra là: Vì sao Fukuzawa Yukichi thành công, còn Nguyễn Trường Tộ thì thất bại?

Một phần của câu trả lời đến từ sự khác nhau trong cách tiếp cận của hai người.

Trí thức độc lập


Sau khi tiếp thu nền văn minh phương Tây, và nhận thấy cần phải tiến hành cải cách để canh tân đất nước nhằm giữ nền độc lập, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc phương Tây, Fukuzawa Yukichi tiến hành chương trình hành động của mình.

Các việc làm của Fukuzawa Yukichi tương đối phong phú, nhưng có thể khái quát ngắn gọn như sau: mở trường dạy học, dịch sách, viết sách, làm báo để truyền bá văn minh phương Tây cho trí thức và dân chúng Nhật Bản.

Ông tìm cách khai sáng cho dân chúng và trí thức Nhật Bản, lúc đó còn chìm đắm trong lối học từ chương ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa, thông qua việc cổ vũ lối thực học của phương Tây; xây dựng hình mẫu trí thức độc lập và chủ trương “độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân”.

Bản thân ông cũng hành động như một hình mẫu của trí thức độc lập, không phụ thuộc vào giới cầm quyền.

Ông kêu gọi trí thức Nhật Bản lúc bấy giờ hãy "coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ", tự tin vào sức mạnh và vị thế độc lập của mình. Từ đó dẫn đến niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của tri thức và nền văn minh mới mẻ có tác dụng giải phóng tư duy và bồi đắp sự độc lập của cá nhân.

Khi trường Đại học Keio do ông sáng lập có nguy cơ phải đóng cửa vì nội chiến, chỉ còn 18 học sinh, ông vẫn tin tưởng: “Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.

Fukuzawa Yukichi sống và làm việc như một trí thức độc lập điển hình.

“Trí thức cận thần”

Khác với Fukuzawa Yukichi, Nguyễn Trường Tộ, sau khi tiếp thu văn minh phương Tây, không truyền bá để khai sáng cho đại chúng mà dành phần lớn tâm sức cho việc viết tấu trình gửi nhà vua. Tất cả các bản tấu trình và điều trần của ông đều không được đưa ra sử dụng, dù hơn ai hết, ông biết được giá trị thật của chúng: "Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay... Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết".

Bằng cách đó, ông đã phụ thuộc tuyệt đối vào nhà cầm quyền, đánh mất vị thế độc lập của người trí thức. Nói cách khác, ông hành xử như một “trí thức cận thần”: Viết tấu trình và chờ đợi sự sáng suốt của nhà vua.

Như thế, ông đã tự tước đi cơ hội của chính mình, và rộng ra là của cả dân tộc, vì trong suốt lịch sử, số lượng các minh quân vô cùng ít.

Những kiến nghị cải cách của ông, dù đúng đắn và có tầm vóc thời đại, nhưng rốt cuộc lại trở nên vô dụng.

Do hành xử như một “trí thức cận thần”, không có được sự độc lập cho bản thân mình, dẫn đến không có đóng góp gì đáng kể vào sự hình thành giới trí thức đúng nghĩa, nên sau khi ông mất đi, không có người tiếp nối. Tư tưởng canh tân đổi mới của ông vì thế bị chìm vào quên lãng.

Bài học cho hậu thế

Sự thất bại của Nguyễn Trường Tộ chính là bài học lớn nhất dành cho hậu thế. Tiếc rằng, bài học này, dù phải trả học phí rất đắt bởi không chỉ Nguyễn Trường Tộ mà còn cả dân tộc, không được sử dụng.

Những người có trách nhiệm thậm chí còn cỗ vũ và yêu cầu trí thức phải đi theo lối con đường “trí thức cận thần” của Nguyễn Trường Tộ khi cho rằng: Trí thức muốn kiến nghị hay phản biện xã hội, cần gửi cho các cơ quan hữu trách trước khi phổ biến ra ngoài xã hội.

Lịch sử đã chứng minh: Đi theo còn đường đó là đi vào ngõ cụt. Làm theo cách đó là kéo lùi bước đi của dân tộc.

Trước tình cảnh đó, không còn cách nào khác, người trí thức phải tự giác tránh con đường cụt đó, con đường “trí thức cận thần”, để đi con đường mới: con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân.

Chỉ khi đó, đất nước mới tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần”, và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

Việc Quốc hội lắng nghe tiếng nói của những trí thức độc lập trong thời gian gần đây cho thấy con đường trí thức độc lập đã được khai mở, chỉ chờ người dấn bước.

Ghi chú:

1. Trái với dự đoán, sau khi kiểm tra tôi thấy: cụm từ “trí thức cận thần” chưa phổ biến, và chưa thấy xuất hiện trên mạng internet.

2. Tôi được biết cụm từ này trong một thảo luận với một người bạn, TS. Nguyễn Đức Thành, vào khoảng đầu tháng 5/2010. Theo anh Thành, cụm từ này được hình thành trong một thảo luận của anh với một người bạn khác, TS. Nguyễn An Nguyên. Tuy nhiên, anh cũng không rõ đã có ai sử dụng cụm từ này trước đó hay chưa.

3. Có một cụm từ khác có nghĩa gần tương tự với “trí thức cận thần”, đó là “trí thức phò chính thống”, do nhà văn Phạm Thị Hoài nêu ra. Tuy nhiên, theo tôi, nội hàm của hai cụm từ này có nhiều điểm khác biệt khá tinh tế.

4. Nếu ai đã thấy văn bản nào có cụm từ này rồi thì vui lòng báo cho tôi biết. Cá nhân tôi thấy cụm từ này có một nội hàm đáng suy ngẫm.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Mẹ vẫn chờ con bên cửa

(Huy Phương)

“Con, đứa trẻ lạc loài trên xứ lạ
Ðang quay cuồng theo cơm áo, ngựa xe
Mà thương mạ vẫn thường hay tựa cửa
Bên mâm cơm chờ bóng đứa con về!”


(hp)

Chúng ta thường có thành ngữ “trông như trông Mẹ đi chợ về!” Thời ấu thơ, tôi cũng như các bạn đều có thời gian trông Mẹ, không phải trông “như” trông Mẹ đi chợ về, mà trông Mẹ đi chợ về thật, để có chút đồ chơi, củ khoai hay chiếc bánh. Chúng ta chỉ trông Mẹ trong một thời gian quá ngắn ngủi, khoảng thời gian học ở trường sơ cấp hay tiểu học, rồi sau đó bắt đầu lớn xác, ham chơi, theo bạn bè và thú vui thời niên thiếu, chúng ta đâu còn trông gì ở Mẹ nữa. Nhưng ngay trong thời gian đó Mẹ đã trông chờ chúng ta mỗi ngày, mỗi bữa, chờ trông cho đến cuối cuộc đời của Mẹ.

Ngày Mẹ mang thai con, Mẹ tính từng ngày từng tháng, để chờ đợi đứa con khóc oe oe mấy tiếng chào đời. Khi bà mụ cho biết đứa con tay chân lành lặn, Mẹ sờ tay để biết chắc là mình có một thằng con trai, Mẹ vui sướng, mừng đến chảy nước mắt. Mẹ ơi, thằng con trai đó, lớn lên đã làm được gì để Mẹ vui, để đền ơn những giọt nước mắt ngày xưa của Mẹ. Lớn lên, thời gian con đến trường, Mẹ nghe chừng tiếng trống trường, chờ con bên ngưỡng cửa, dở nón hay cởi áo tơi mưa cho con. Biết con háu đói, Mẹ không đợi cha về, bát cơm nóng được xới ra chờ con, hạnh phúc nhìn con cầm đôi đũa. Rồi Mẹ nôn nóng chờ ngày con trưởng thành, ra đời bắt đầu kiếm được miếng ăn. Ðiều đó, Mẹ chẳng bao giờ là chờ từ nơi con món quà nhỏ, tấm vải hay món tiền đem về biếu Mẹ. Rồi một ngày kia con phải rời gia đình đi xa nhưng con chim rời tổ, hớn hở trước những phương trời rộng mở có bao giờ nhìn lại. Mẹ vẫn trông chờ một buổi chiều nào đó, bước chân con giẫm trên bậc cửa về thăm Mẹ, để Mẹ nhớ những ngày thơ ấu con có thói quen gì, thích những món ăn nào để Mẹ vội vàng ra chợ, nấu sẵn bữa cơm cho con ngày về.

Rồi Mẹ đã nhắc nhở, chờ đợi ngày con lập gia đình, đó là nguồn vui của một người Mẹ thấy con khôn lớn, thành gia thất, cho Mẹ yên lòng. Nhà có con dâu rồi, Mẹ lại trông con sớm có cháu cho Mẹ bồng. Một đứa còn quá ít, Mẹ lại trông chờ những đứa tiếp theo. Ngày con ra chiến trận, phải chăng hàng đêm Mẹ vẫn thường thức giấc, lo sợ nghe những tiếng súng từ xa vọng về, và mong một ngày nào đó đứa con trở về bình yên, lành lặn. Những ngày Lễ Tết, lẽ ra là thời gian sum họp, nhưng sự xa cách vẫn còn: “Con biết bây giờ mẹ chờ tin con/Khi thấy mai đào nở vàng bên nương.” “Mẹ thương con ngồi cầu Ái Tử!”, câu ca dao ngày xưa muốn lập lại địa danh Ái Tử với lòng “thương con” của Mẹ, nhưng cầu phải chăng là nơi Mẹ đứng đợi con về. Nỗi buồn vọng phu chắc không cao bằng niềm đau chờ con. Chúng ta đã chứng kiến bao nhiêu cảnh “tre khóc măng”, “lá xanh rụng xuống, lá vàng trên cây” để thấy rằng nỗi đau mất Mẹ không cao bằng niềm đau xót của Mẹ mất con. Trong chiến tranh, đã có bao nhiêu chiếc quan tài phủ lá cờ tổ quốc trở về, thời gian đã làm cho người góa phụ nguôi ngoai vì có những đứa con lớn lên bên mình, nhưng khoảng trống vắng mất con trong lòng người Mẹ làm sao lấp nổi.

Rồi lòng Mẹ xót xa khi con phải vào nhà tù, trong những ngày vận nước điêu linh. Hình ảnh người Mẹ già tóc bạc, lưng còng đứng trước cổng trại tù chờ con ngày đó làm sao con quên được. Và mỗi đêm phải chăng Mẹ vẫn chờ, như nghe có tiếng còi tàu xa xa, hay tiếng xe đỗ trước cửa nhà, mơ hồ có tiếng ai gõ cửa, phải chăng con của Mẹ đã trở về để gọi hai tiếng “Mẹ ơi!”

Ở nơi xứ người, Mẹ vui vì đã nuôi đàn con khôn lớn, nhưng rồi mỗi ngày con mỗi xa, để lại cha mẹ trong ngôi nhà trống vắng. Mẹ biết con không về, Mẹ biết con giờ này đang có bao nhiêu điều bận rộn, không còn một khoảnh khắc nào nghĩ đến Mẹ. Nhưng người mẹ vẫn chờ, chờ người phát thư dừng lại trước cửa nhà, dù là với một tấm thiệp vô hồn mua trong một tiệm tạp hóa; chờ tiếng điện thoại reo, dù là một lời hỏi thăm vội vàng, vắn tắt. Nhưng không, tuyết trước nhà vẫn rơi lạnh lùng, và ngôi nhà vắng lặng, nghe rõ cả nhịp chiếc đồng hồ treo trên vách.

Trong phút lâm chung của Mẹ, con cái đã tề tựu bên giường, nhưng Mẹ vẫn còn những đứa con xa. Mẹ bịn rịn cuộc đời này chưa muốn ra đi vì đang chờ đợi những đứa con chưa về. Nghe lời thì thầm trên đôi môi của mẹ: “Thằng Hai, con Út đã về chưa?” Thôi, xin Mẹ hãy bình thản ra đi, những đứa con vô tình của Mẹ đang còn mải mê “mơ Khanh, mơ Tướng”, đang chạy theo những lôi cuốn của cuộc đời, để không bao giờ cầm được bàn tay khô héo của Mẹ, nói được tiếng “con đã về đây” cho Mẹ vui lòng.

Chúng ta chờ Mẹ được bao lâu, trong khi Mẹ chờ chúng ta suốt cả cuộc đời, từ khi đặt con vào dạ cho đến khi trút hơi thở cuối cùng vẫn còn chờ con.

Quả thật chúng ta là đứa con vô tâm, bạc bẽo, nếu đợi đến ngày Vu Lan mới nhắc đến Mẹ, mới nhớ đến bông hồng đỏ, hồng trắng! Mẹ ơi! Khi nuôi con, con cũng chưa thấm thía được tình yêu của cha mẹ, nhưng lúc về già mới thấy mình bất hiếu!

Hạnh phúc thay cho những đứa con còn Mẹ, nên con thường ao ước phải chi mình còn Mẹ, nhưng liệu còn Mẹ, con đã làm gì được cho Mẹ vui lòng. Phải chăng những gì khi đã mất đi mới thấy quý, và trong cuộc đời chúng ta, đã có bao nhiêu điều hối tiếc.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Món ăn của mẹ hồi xưa… Những món mẹ tôi cho tôi ăn hồi nhỏ, tôi xin để trên bàn thờ, chỉ xin phép gợi lại vài món “vô tư” mà ai cũng có điều kiện nếm qua, gọi là chút quà mộc mạc, như bông bụp đầu hè, xin gửi tới bạn đọc gần xa.

Đọc báo SGTT đặt bài về những món ăn quen, lạ của Sài Gòn năm xưa, phản xạ tôi là nhận lời trước rồi băn khoăn sau. Quả thế, bình sanh tôi biết bằng lòng với cái ngon nhất định của món ăn, cho nên ăn gì cũng ngon. Hơn nữa cái ngon trong món ăn, như cái tốt trong con người, lúc nào cũng có, nhưng phải tìm mới thấy để dễ ăn, dễ chơi và nếu có thể, để khen cho đúng chỗ, làm mát dạ người nấu bởi nấu ăn cực lắm, tôi biết! Thôi thì cứ lấy bụng ở đời, ráng viết bằng tấm lòng, thì họa may có thể dễ được tha thứ.

Tôi biết Sài Gòn lần đầu tiên vào năm 1947, lúc Tây đã trở lại, khi theo má tôi từ Long Xuyên lên thăm ba tôi (đã về hưu) trốn Tây mới ra làm việc trở lại. Tôi được thấy nhà lồng chợ Bến Thành bị cháy rụi, còn đen thui, chợ hợp ở mấy chỗ chưa cháy và trên lòng các đường chung quanh, khi xuống bến xe ở ga Cuniac, bến xe buýt bây giờ. Tôi cũng được thấy hai bên đường Nancy (Nguyễn Văn Cừ), ở khúc từ đường Galliéni (Trần Hưng Đạo) đổ xuống mé sông, ruộng còn xanh um tới tận sau hè Thanh tra lao động (trước công an TP) với mấy cây rơm và đàn bò vàng óng đang phè ra nhơi cỏ, khi đi xe điện Sài Gòn – Chợ Lớn.

Ba tôi ở đậu nhà thầy Hai, gần chân cầu Kiệu, phía chợ Phú Nhuận. Phần vì nhà chật chội trời nóng bức, sáu giờ chiều đã còi hụ giới nghiêm, phố xá ai nấy đều đóng cửa kín mít, phần vì hồi chiều ăn cơm không no, đêm đó tôi trằn trọc, chờ sáng dậy nói má tôi về. Hết ham Sài Gòn rồi! Nhớ nhà muốn chết.

Hết còi hụ, má tôi kêu hàng bánh. Một lát sau, một bà người Bắc mặc áo nâu, vấn khăn đen đã tróc hết nhung, tay bưng cái thúng trên đậy cái trẹt có mấy cây chả lụa xếp ngay ngắn, tươi cười duyên dáng để lộ hai hàm răng đen bóng láng, bước vào đặt thúng xuống bộ ngựa.

Tôi liền xáp vào. Bà nhẹ nhàng nhấc cái trẹt, lật tấm vải bố làm bốc lên mùi thơm nức của bánh mì thứ thiệt của Sài Gòn. Bà khoan thai lựa ổ vàng lườm, lấy dao ăn trầu cực bén xẻ ngọt một đường, rồi cắt một khoanh chả lụa, xắt làm hai, nhét vào ổ bánh mì và rắc muối tiêu từ một hũ nhỏ. Xong bà trao cho tôi với thái độ ân cần, nụ cười đôn hậu và lối mời của một bà dì hơn là bá bán hàng: “Bánh ngon lắm, ăn đi cho chóng nhớn!”.

Tôi chụp ổ bánh, chạy ra hàng ba ngồi. Chưa kịp nuốt tôi đã kêu trời: “Trời ơi, bánh mì ngon quá!”. Mùi thơm nức ban nãy đã biến thành vị cực ngon của vỏ bánh giòn rụm, ruột bánh xốp xộp khô ráo, đẩy vị ngọt đằm thắm của bột mì Pháp nguyên chất vào tận mỗi chân răng tôi. Úy cha! Còn cái chả lụa mịn màng, thơm lừng mùi thịt, tưởng chừng như có thể dựng dậy người đang hấp hối. Hồi nãy, khi cắt ra, tôi thấy ruột nó hồng hồng, có mấy cái lỗ tứa nước trong trong chắc là bổ lắm!

Cha chả! Tôi hết muốn đòi về nhà, tôi ăn trọn ổ bánh hồi nào không hay và còn thèm lắm. Tôi đâm ra yêu Sài Gòn, quên mất cái đêm trắng hôm qua. Lát sau, ba tôi dẫn má tôi đi đón xe thổ mộ ra chợ Bến Thành. Tôi liền tranh thủ ăn thêm hai ổ bánh mì chả lụa nữa của hai bà đi ngang qua, tuy không “đắm say” như ổ bánh mì “tình đầu”, nhưng cũng đáng yêu lắm! Bỗng tôi nhận thấy xéo bên kia đường, có cái xe giống xe mì, đế mấy chậu kiểng đựng đồ gì không rõ nhưng bắt mắt lắm.

Thấy tôi đứng quan sát, chú chệt còn trẻ đon đả mời: “Cái lầy, chú nhỏ “muấn” uống nước “lá” gì?”. Được mời, tôi bước sát tới để xem cho mãn nhãn. Ồ! Cũng mấy thứ như ở dưới tôi: chè đậu đỏ, bánh lọt, sương sa, hột lựu, chè nhãn nhục, hột é, lười ươi, mủ trôm… và một chậu nước gì trắng tinh như nước vôi quét vách và một tô bự đựng nước gì kẹo kẹo trong trong. Chú chệt hỏi tôi muốn ăn đậu đỏ không hay là với bánh lọt? Tôi ngạc nhiên vì ở dưới tôi ăn chè đậu là chè đậu, ăn bánh lọt là bánh lọt, không ăn chung bao giờ trừ phi là khùng. Chấp nhận phiêu lưu, tôi dõng dạc: “Với bánh lọt chớ!” và không quên kèo nài theo tật nhà quê của mình: “Chú cho thêm mỗi thứ nhiều nhiều nhen!”. Chú chệt cười lạt nhưng ra chiều thông cảm.

Màu trắng ngần và xanh cẩm thạch của bánh lọt tương phản với màu nâu đen của đậu đỏ trông rất bắt mắt.

Tôi lấy muỗng xăm xăm, trộn cho đều các thứ, rồi húp từ muỗng. Cái bùi của đậu đỏ tẩm đường được chế ngự bằng cái lạt chơn chất của bánh lọt thơm mùi tự nhiên trinh trong của gạo ngon và lá dứa, được chi viện bằng cái béo thơm của nước cốt dừa tươi, tất cả, trong cái mát lạnh sảng khoái của nước đá bào. Tôi ăn xong, còn đang chép miệng, thì chú chệt, sành tâm lý, gợi ý tôi đổi món, ăn thêm ly bánh lọt, sương sa, hột lựu. Tôi đồng ý liền.

Ba ổ bánh mì, hai ly đá bánh lọt làm bụng tôi nặng xuống, và túi tôi vơi đi đáng kể, nhưng những món quà lạ miệng này làm tôi khoai khoái, thấy mình đã hóa nhộng, sắp thành bướm Sài Gòn. Mấy hôm sau, mẹ con tôi rời Sài Gòn, sau khi được ba tôi dẫn đi ăn nhiều món “cao cấp” như mì La Cai (Nguyễn Tri Phương), cháo cá Chợ Cũ, phở Hồ Huấn Nghiệp (Mạc Thị Bưởi), cơm tây Hotel de la Gare (góc Tản Đà – Trần Hưng Đạo) mà tôi vừa ăn, vừa kêu trời, vì ngán quá, nuốt không vô, chỉ chực ói ra.

Mấy năm sau, tôi trở lên Sài Gòn học ban tú tài trường Pháp Chasseloup-Laubat (Lê Quí Đôn) và ở luôn cho tới ngày hôm nay. Mặc dù tôi ở Sài Gòn lâu hơn ở Hà Tiên, Rạch Giá, Long Xuyên cộng lại, và hiểu biết yêu mến Sài Gòn như người chính gốc, nhưng sao tôi vẫn coi mình là đứa con của đồng bằng sông Cửu Long mà tôi không hề muốn gột rửa hết chất quê mùa, coi đó là căn tính đích thực của mình. Món ăn quê hương luôn luôn thu hút tôi và ở trong hồn tôi, mặc dù tôi không bao giờ chê phô mai Camembert, rượu chát Bordeaux hay whisky “on the rock” (nước đá) nhắm với hạt dẻ, hạnh nhơn!

Vào những năm trước Điện Biên Phủ, Sài Gòn không ngớt nhởn nhơ ăn chơi, tuy không đục ngầu như thời bác Vương Hồng Sển, nhờ có cách mạng ở sát bên nhắc nhở canh chừng, nhưng cũng khá rôm rả. Tuy nhiên ai ăn thì ăn, ai chơi thì chơi. Chơi thì có sòng bạc Đại thế giới, Bình Khang, tiệm hút. Ăn thì vô thiên lủng,vì phù hợp với túi tiền của số đông dân chúng bình dân.

“Truyền thống” hơn hết là bia bốc, la ve củ kiệu, mà nổi tiếng theo hạn chế tôi biết là quán ở góc Chợ Đũi (Cách Mạng Tháng Tám – Võ Văn Tần) ngó xéo qua rạp Nam Quang. Chiếu chiều, mấy “thầy” công, tư chức đổ về đó “giao lưu” rất rôm rả, mặc dù chỉ uống vài ly trước khi về nhà ăn cơm với vợ con, không ai uống cả két, thách đố, nói xàm, mất tư cách như nhiều đám chơi trội bây giờ.

Chưa lên đại học, tôi cũng đã mon men tới đó, vì nhà gần đó. Là con nít mà bày đặt, tôi ngồi khiêm tốn ở một góc vắng.

Ông chủ đứng vặn vòi bia bốc đổ ào xuống ly, khi ông tắt thì bọt bia cũng vừa sủi tới miệng ly, không bao giờ trào. Bà chủ ngồi thâu tiền và sắp củ kiệu tôm khô sẵn trong đĩa.

Chỉ có vậy thôi mà tiếng cười vang dội đây đó không dứt, do những chuyện “Tư-trời-biển-nghe-qua-rồi-bỏ-đi-nhe-Tám” của mấy tay tổ xạo có ba tăng (môn bài) làm dấy lên như sóng vỗ. Rõ ràng, nói theo kiểu bây giờ, đây đúng là một “tụ điểm” văn hóa-bình dân-Nam bộ-Sài Gòn-Chợ Đũi của thời Tây đô hộ.

Dòm vô quán dựa gốc me phía Võ Văn Tần, là gánh của chị bán cháo lòng, tồn tại ở đó rất lâu. Sau tôi đi làm, nhà ở tận cư xá Phạm Văn Hai nhưng tôi thường đi Vespa, hay xe hơi, ghé qua đó ăn cháo lòng của chị, vì nó giống cháo lòng của thím Hai Thăng ở sát nhà tôi, trên đường vô lò heo Bà Bầu, thị xã Long Xuyên, thời tôi học tiểu học. Cứ sáng sớm, tôi co ro qua nhà thím, ngồi bên bếp lửa chờ thím múc cho tôi tô cháo lòng đặc biệt gồm những thứ đặc biệt thím chọn cho tôi như thịt đầu mềm mụp, thị ba rọi xắt nhỏ rứt như bì, tim có mỡ, có động mạch ăn sựt sựt, gan xắt không mỏng, không dày, phèo, bao tử, cuống họng, dồi, huyết đúng ba cục, bỏ hành, rắc tiêu, nặn chút chanh bằng ngón tay út, thêm chút ớt bằm, rồi thím tươi cười chìa cho tôi xem cái “hột mít” xẻ hai thím dành cho tôi ăn vô bùi ơi là bùi, tới chết chưa quên. Ấy vậy mà thím chỉ tính cho tôi có năm xu, thay vì một cắt mà ít thịt hơn, như thím bán cho người ta. Tôi ăn xong, thím mới gánh ra chợ Long Xuyên bán.

Bia bốc ế, rồi dẹp tiệm, cháo lòng vẫn còn. Tôi vẫn kết với nó. Đến đỗi mỗi lần đi hội nghị ra nước ngoài, tôi cứ nhớ nhà, chỉ mong cho mau rồi để “về tắm ao ta”. Vừa bước xuống sân bay, tôi để mặc cho anh em ra đón tôi, đưa hành lý về nhà tôi. Tôi cởi cà vạt, áo ngoài, lái xe xuống Chợ Đũi, làm một tô cháo lòng bự xộn, cho trút cơn nhớ nhà. Xong tôi đứng dậy cười với chị, chị cười với tôi. Nghi thức vẫn thế, cho tới khi con gái sồn sồn của chị nối nghiệp, chị không biết tôi từ đâu đến, tôi không biết chị tên gì. Ấy vậy mà “mối tình cháo lòng” của tôi, như mối tình Quốc văn giáo khoa thư của Sơn Nam, kéo dài cả chục năm.

Cách gánh cháo lòng chừng vài trăm thước, nhưng ở đường Nguyễn Đình Chiểu, là quán Sing Sing, một thời gian khá dài là “ngai vàng” của bánh canh cua, bánh tằm bì, bánh bèo bì, về sau tối tối có cà ri gà. Sau 75, mới té ngửa “ngai vàng” đó là bình phong, là địa đạo để bà Sing Sing phục vụ cách mạng. Tôi quen bà qua bánh canh cua, nhưng rất quí bà là hiện thân của người phụ nữ Nam bộ rất mực khôn ngoan, trong hoàn cảnh nào cũng biết “dữ răn việc trước, lành dè thân sau”, cho nên, trong xóm tôi, ai cũng mến bà, kể cả người khó tính.

Món số 1 của quán bà là bánh canh cua, đơn sơ như bức tranh thủy mặc, nhưng đạt chất lượng ẩm thực cao cấp (gastronomie). Bún bánh canh cua, bột lọc dai giòn, còn nguyên mùi gạo ngon nhưng không một thoáng mùi chua nào. Nước dùng trong vắt, ngọt lịm hương vị giò heo và thịt cua tươi rói, rửa sạch, nấu chín tới. Miếng giò heo vừa phải, cân đối da, thịt, mỡ, xương mềm mụp, không có sót lông. Thịt cua nguyên miếng, ăn nhai được để thưởng thức vị ngọt biển cả của cua, chớ không nát vụn.

Món số 2 chính là bánh tằm bì đó, lúc đầu bánh tằm còn xe bằng tay, người ta đồ (ẩu) là xe trên bắp vế non của trinh nữ, cho nên ăn nghe đậm đà, dẻo dai đặc biệt. Bì được trộn theo lối nhà giàu, thịt nhiều hơn bì da, hơn nữa có mùi thơm của thính xay từ gạo ngon rang vàng, của tỏi phi đậm đà trong mỡ tưới lên bì và chút bí quyết là tí nước củ riềng vừa đủ để người thích nhận ra nó và người chưa quen chỉ thấy một mùi hương lạ mà thôi. Nước cốt dừa bồng con chan một muỗng nhỏ là đủ béo ngậy và thơm lừng dĩa bánh rồi.

Trên đây là một số món ăn bình dân để ấn tượng nhiều nhứt trên tôi, vì gắn với một quãng đời tôi. Không biết người đọc có chê chán ngắt như chuyện mối tình đầu của bác nông dân? Nhưng ngẫm lại, có món ăn nào khách quan và tuyệt đối ngon không? “Chân lý ở triền bên này núi Pyrénées, nhưng sai lầm ở triền bên kia”.

Chỉ có những món ăn tuyệt đối ngon là món ăn của mẹ cho ăn hồi nhỏ, mà suốt đời không bao giờ tìm lại được hương xưa, như phân nửa này của Androgyne của Platon suốt đời lăn mãi tìm phân nửa kia, nhưng không bao giờ gặp khiến cho tới chết ta chỉ mang nặng một hoài niệm thương nhớ khôn nguôi và quá muộn. Những món mẹ tôi cho tôi ăn hồi nhỏ, tôi xin để trên bàn thờ, chỉ xin phép gợi lại vài món “vô tư” mà ai cũng có điều kiện nếm qua, gọi là chút quà mộc mạc, như bông bụp đầu hè, xin gửi tới bạn đọc gần xa để chào đón xuân sang.

Lâm Võ Hoàng

Post Reply