Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Tin Chấn động trong Giới Ngoại Giao:
Giới Truyền Thông Nhà Nước Iran gọi Phu nhân Tổng Thống Pháp là “con đĩ”


Tran Vu

Image
Vào hôm thứ hai 30/8, một quả bom ngoại giao đã nổ khi giới truyền thông chính thức của Iran gọi phu nhân tổng Thống Pháp, bà Carla Bruni-Sarkozy, là “con đĩ”!

Sau đó do thế giới lên án mạnh mẽ, vụ thi hành án tử hình đối với phạm nhân bị tạm đình hoãn. Tuy nhiên bà Ashtiani, năm nay 43 tuổi và là mẹ của 2 đứa con, vẫn có thể bị tử hình bằng hình thức treo cổ.

Sở dĩ có chuyện phản ứng nặng nề đến thế đối với bà Sarkozy vì trong thời gian qua bà đã tỏ ra ủng hộ mạnh mẽ số phận của một phụ nữ Iran sắp đối diện với bản án tử hình vì tội ngoại tình.

Sự ủng hộ mạnh mẽ của phu nhân tổng thống Pháp đã thật sự làm giới cầm quyền của Iran phát cáu, đưa tới ngôn từ xúc phạm mạnh mẽ đến phu nhân một vị Tổng Thống của một cường quốc hàng đầu ở Châu Âu.

Bà Sakineh Mohammed Ashtiani, vốn bị một tòa án ở Iran kết án tử hình bằng hình thức ném đá đến chết vì tội ngoại tình, đã bị cấm tiếp xúc ngay cả với con của bà, và bà Sarkozy đã kết án mạnh mẽ kiểu tử hình man rợ này.


Trong tuần qua, nhiều tờ báo Pháp đăng lại lá thư mà bà Sarkozy đã gửi cho bà Ashtiani, trong đó có đoạn: “Làm sao tôi có thể giữ im lặng khi biết bà bị bản án như thế?”
Bà Sarkozy viết: “Ném đá đến chết là hình thức làm tổn thương đến mọi phụ nữ, mọi trẻ thơ, mọi con người còn có tình cảm gọi là tình đồng loại. Chúng tôi sẽ không bao giờ bỏ rơi bà”.


Trần Vũ
Theo AP, Aug 30, 2010

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Bún bò giò heo mụ rớt
Hoàng Thi Thơ
Mai Lệ Huyền & Xuân Phát


[flash width=480 height=385][/flash]

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Bài chia sẻ của Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh
Ngày 28/8/2010, Thánh lễ phong chức Phó tế cho 6 tân phó tế tại Dòng Chúa cứu thế Sài Gòn, 38 Kỳ Đồng do Đức Cha Micae tấn phong.

Cũng gần đây, khi phong chức linh mục tại đây, có hai vị không được nhà nước đồng ý, vì vậy có Đức cha đã ngại ngần không dám nhận phong chức dù đã nhận lời. Đức cha Micae đã phong chức cho các linh mục này. Sau đó, một số cuộc gặp gỡ của cán bộ với ngài và ngài đã có ý kiến.
Mời quý vị đọc và nghe bài chia sẻ của ĐC Micae trong lễ Tấn phong phó tế ngày 28/8/2010:

Cách đây hai tháng tôi phong chức cho 9 anh em linh mục ở đây, trong đó có hai anh em không được sự chấp thuận của ‘xã hội’. Sau đó chúng tôi có dịp gặp gỡ những vị liên hệ, hôm nay tôi cũng chia sẻ với cộng đoàn một chút không ngoài mục đích để mỗi người chúng ta ý thức rằng chúng ta có ơn gọi, có sứ mạng loan báo Tin Mừng. Khi tôi trình bày ở đây tôi trình bày với tư cách là một người công dân hết lòng với quê hương đất nước này và trong mỗi trường hợp tôi làm thì tôi đặt quyền lợi của quê hương đất nước trên tất cả. Nhưng mà tôi cũng xác tín rằng quyền lợi của quê hương đất nước cũng là quyền lợi của Giáo hội, cũng là quyền lợi của mỗi người chúng ta.
Vì thế trước và sau khi truyền chức tôi có dịp gặp gỡ và trình bày với các vị liên hệ rằng bí tích là của Hội Thánh và truyền chức Thánh cho các tiến chức bên Giáo hội Công giáo làm rất thận trọng. Sau nhiều ngày đào tạo, tìm hiểu, điều tra, tham khảo ý kiến cũng như lời cầu nguyện của không riêng một người mà của cả Hội Thánh. Vì thế khi tôi nói chuyện với cá vị liên hệ tôi cũng nói đây là điều mà cần phải tôn trọng lẫn nhau. Trong các tổ chức, có những phạm vi, lãnh vực mà chúng ta phải tôn trọng không có giơ tay dài quá đụng đến nhau. Chúng ta cần phải nói để cho mọi người hiểu và giúp cho nhau mỗi ngày hiểu nhau hơn. Nhất là trong hoàn cảnh đặc biệt rất tế nhị, nhảy cảm của Việt Nam chúng ta. Tôi nghĩ rằng mỗi chúng ta cần phải nói lên để giúp nhau ngày càng hiểu nhau và biết tôn trọng lẫn nhau có như thế thì mới có thể gọi là yêu nước, yêu đồng bào, xây dựng cách thiết thực.

Cụ thể mỗi khi gặp khó khăn tôi nhớ lại câu chuyện cổ tích mà tôi có nhiều dịp nói lên với quý vị ở trung ương cũng như địa phương trên văn bản cũng như là qua cuộc nói chuyện và qua giảng dạy. Hôm nay tôi xin chia sẻ với cộng đoàn, tôi nghĩ rằng đây là một cách để chúng ta cùng nhau suy nghĩ để làm sao để cho mọi người khi tiếp cận với chúng ta ngày càng sát gần nhau hơn để cùng xây dựng dất nước Việt Nam thân yêu chúng ta. Tôi nhớ câu chuyện cổ tích thế này: Một hôm môn đệ hỏi thầy: thưa thầy, hạnh phúc là gì? Tự do là gì? Ông thầy không trả lời. Mấy ngày sau nhà hiền sĩ gọi người đệ tử đi chơi, đến nhại mồ hôi rồi nhảy xuống khúc sông tắm. Khi đang tắm vui vẻ mát mẻ, nói chuyện trời đất mông lung. Thì ông thầy bất thình lình túm tóc của người học trò dí xuống, nó ngộp thở nó ngoi lên. Dí xuống lần thứ hai, nó ngộp thở nó ngoi lên. Ông thầy dí lần thứ ba nó gần chết, nó đạp ổng một cái. Ông thầy buông nó ra, nó ngoi lên, ông thầy hỏi: Con đã hiểu hạnh phúc là gì chưa? Tự do là gì chưa?

Và tôi nói, người có niềm tin tôn giáo cũng như anh đệ tử kia vậy. Người có niềm tin tôn giáo cũng tha thiết được sống với niềm tin của mình. Hễ ai mà ép buộc thì chịu không nổi. Ép lần thứ nhất ráng chịu. Ép lần thứ hai cũng ráng mà chịu. Ép lần thứ ba thì chúng tôi cũng phải đạp (tràng pháo tay dài). Mà khi đạp như thế thì xin đừng ai hiểu là chúng tôi phản động hay là âm mưu lật đổ chính quyền hay diễn tiến này nọ […] Không có đâu, chỉ có muốn thở (…) thôi (tràng pháo tay dài)…

Nhiều khi chúng ta không gặp gỡ nhau hay là nói xa nói gần dễ bị hiểu lầm nhau. Và khi gặp gỡ thì cứ nói thật, nói thẳng với nhau đi, nói một cách chân tình và bác ái. […] đây là một cách mình xây dựng quê hương đất nước một cách hữu hiệu, cụ thể nhất. Hôm nay tôi tới Hội dòng, tôi tới với tư cách là một người yêu đồng bào, yêu nước, yêu quê hương. Và tôi cũng cố gắng làm tất cả những gì để giúp cho mỗi người chúng ta hiểu nhau, gần gũi nhau để cùng xây dựng quê hương đất nước này. Chính vì thế, một lần nữa tôi xin cám ơn cha Giám Tỉnh, cám ơn anh chị em. Tôi tỏ bày một chút tâm với anh chị em hy vọng rằng với ơn Chúa Thánh Thần giúp đỡ, mỗi người chúng ta có thể chu toàn sứ mạng của mình một cách tốt đẹp nhất đó cũng là một cách phục vụ quê hương tốt đẹp nhất.
Cám ơn anh chị em.

+ Micae Hoàng Đức Oanh, Gm. Kontum

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Sài Gòn - Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Đây không phải là một phóng sự hay một bài nghiên cứu xã hội với những phương pháp khoa học của nó - mà chỉ là những điều vụn vặt mắt thấy tận nơi , tai nghe tận chỗ - ghi lại môt cách trung thực ..Tôi thấy bộ mặt Saigòn đổi mới với : Những khách sạn 5 sao , 4 sao lộng lẫy . Đổi mới với những nhà hàng '' vĩ đại '' trên các tuyến đường du lịch . Với những trung tâm ''thư giản'' sang trọng, quý phái cở câu lạc bộ Lan Anh ..Với những vũ trường cực kỳ tráng lệ như vũ trường New Century Hànội . Với những trường Trung học tư thục mang tên Mỷ, giáo sư Mỷ, chương trình học của Mỷ, giảng dạy bằng tiếng Mỳ- học sinh phải trả học phí bằng tiền Mỷ - 600US$ đến 1000US$ /tháng (giai cấp nào đủ sức trả học phí nầy cho con?)Tôi cũng hiểu rằng các nơi nầy là nơi ăn chơi của vương tôn công tử ''đỏ'', các nhà giàu mới - thân nhân các quyền lực đỏ đứng đàng sau , các quan chức đỏ đô la đầy túi . Họ đến đây để ''thư giản'', uống rượu , đánh bạc ,cá độ và tìm gái . Uống chơi vài chai rượu ngoại VSOP , XO là chuyện thường. Mỗi đêm có thể tiêu hàng ngàn đô la Mỷ cũng không phải là điều lạ.
Trong khi lương tháng của một thầy giáo Trung học trường công không đủ để trả một chai rượu XỌ Vụ MPỤ18 cá độ hàng triệu US $ đã bị phanh phui..là một thí dụ cụ thể . Vũ trường New Century bị Công an đến giải tán vì các công tử và tiểu thư con các quan chức lớn nhảy đã rồi...'' lắc'' suốt đêm. Vài hôm sau - đâu cũng vào đó .Tôi cũng thấy Sàigòn- người, xe và phố xá dầy đặc, nghẹt thở - vài tòa cao ốc mọc lên vô trật tự - ở xa xa,có cái trông giống như chiếc hộp quẹt ..nhà cửa mặt tiền hầu hết đều lên lầu nhiều tầng. Kiến trúc hiện đại .Vật liệu nhập cảng đắc tiền . Nhà trong hẻm - phần lớn cũng lên nhiều tầng cao nghệu. Có nhiều khu xây cất bừa bãi, nhô ra thụt vào như những chiếc răng lòi sĩ vô duyên, lấn chiếm ngang ngược đất công hoặc lề đường...
Tôi thấy Sàigòn bị ô nhiểm trầm trọng với hằng triệu tiếng động cơ , ngày đêm đinh tai nhức óc và 3.000.000 chiếc Honda - phun khói mịt mù - chưa kể đến xe hơi. Và hệ thống cống rảnh lạc hậu - mỗi khi trời mưa lớn - nước rút không kịp, ứ đọng tràn ngập nhà cửa . Hệ thống đổ rác còn lạc hậu.. không đáp ứng nổi nhu cầu thải rác của 8.000.000 dân nhun nhúc như kiến..
Sàigòn đầy dẫy những hàng ngoại do công ty ngoại quốc sản xuất tại chỗ ..hàng lậu của Trung quốc tràn vào vô số kể.. Máu kinh tế Việt Nam bị loảng ra. Nhưng chế độ xã nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một lời phản kháng. Một chiếc xe Honda nhãn hiệu Trung quốc giá khoản chừng 1000 đô la Mỷ ..chưa kể hàng Trung quốc lậu thuế, rẻ mạt.. Thuốc lá và bia - bia nội, bia ngoại - có đủ .. Nhậu và hút là 2 cái mốt bình dân thời thượng nhứt ở Sàigòn. Đảng viên, cán bộ - giai cấp thống trị - nhậu .. Già nhậu, trẻ nhậu... con nít cũng tập tành nhậu .. Hút thì khỏi nói .. Giai cấp cán bộ răng đen mã tấu bây giờ là giai cấp nắm thống trị - đã lột xác - không còn quấn thuốc rê, bập bập phà khói mịt mù nữa - mà lúc nào cũng lấp ló một gói 3 con 5 , Craven A, trong túi. Lãnh đạo hút, cán bộ hút, dân chúng hút - thậm chí con nít 9,1 0 tuổi ở đồng quê cũng phì phà điếu thuốc một cách khoái trá.. Các hảng bia và thuốc lá ngoại quốc đã tìm được một thị trường tiêu thụ béo bở. Cán bộ lớn cũng âu phục, cà vạt hẳn hoi, xe hơi bóng loáng.. nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da mốc mốc .. cũng không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê lên Tỉnh ..Tôi còn thấy Sàigòn với hiện tượng ''tiếm công vi tư'' lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ .. bất thành văn trong chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê .. Chưa thỏa mãn - ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng .. Ông chủ bự nầy chắc chắc không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy . Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu - nơi gặp gở của 2 đường Nguyễn Trải và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ Huyện Sĩ - thì rõ .

Còn nhiều.. rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công,l ấn lề đường nhan nhãn ở khắp Saigòn. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể : Một công thự tại vườn Tao đàn (có lẽ là nhà cấp cho viên Giám đốc Công viên Tao đàn) - mặt tiền ngó vào trong - mặt hậu nhìn ra phía đường Nguyễn Du (Taberd cũ ) - bèn có màn trổ cửa mặt sau nhà , xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương mãi mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Du , trị giá mỗi căn, nhiều trăm ngàn mỷ kim - ngon ơ ! Tương tự như vậy - ở góc đường Thành Thái và Cộng Hoà cũ .. trước sân nhà của ông Hiệu Trưởng trường Quốc gia Sư Phạm trước 75 - phố thương mãi, quán xá la liệt chiếm mất mặt tiền. Ngang ngược và lộng hành nhứt là 2 căn phố thương mãi bên hông trường Trương minh Ký, đường Trần hưng Đạo , chễm chệ xây lên ngay bên góc phải sân trường như thách đố dân chúng ..Còn trên lề đường khá rộng trước câu lạc bộ CSS cũ, bây giờ là câu lạc bộ Lao động - nhiều gian hàng thương mãi bán quần áo ,giày vớ thể thao .. buôn bán ầm ỉ, náo nhiệt suốt ngày.Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của Công An. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà .. Không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn.Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với ai?Tất nhiên là phải thưa với công an. Không lẽ công an xử công an ? Tướng CS Trần Độ phản ảnh còn rõ rệt hơn : ''Xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Đảng. Không thể nào chống tham nhũng được vì nếu Đảng chống tham nhũng thì Đảng chống lại Đảng sao? '' ( Nhật ký ''Rồng rắn'' của Trần Độ ) .Nón cối, nón tai bèo, dép râu, áo chemise xùng xình bỏ ngoài chiếc quần màu xanh của người cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào Sàigòn - đã biến mất.. Cũng không còn thấy những chiếc áo dài tha thướt của những cô gái đi dạo phố ngày cuối tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê thánh Tôn, Tự do những ngày trước 75 nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ - mũi và miệng bịt kín bằng ''khẩu trang'', găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi Honda chạy như bay ... trên đường phố .Tôi còn thấy những người nghèo khổ chở trên chiếc xe thồ, những thùng carton và bao túi Ny long, chồng chất lên nhau cao ngất như sắp đổ xuống ...những bà cụ già, những cậu bé tuổi đáng được ngồi ở ghế nhà trường.. những anh phế binh cụt tay, cụt chưn, lê lết trên một miếng ván gổ ....đi bán vé số ( một cách ăn xin trá hình)

Bộ mặt Sàigòn ''đổi mới'' bằng những khách sạn lộng lẫy, những câu lạc bộ thời thượng, những phố xá thương mãi sang trọng, những hiệu kim hoàn lóng lánh kim cương, những nhà hàng ăn vĩ đại , những vũ trường cực kỳ tráng lệ, những biệt thự đồ sộ nguy nga mới xây bằng vật liệu ngoại đắt tiền .. trang trí cây cảnh như một mảng vườn Thượng uyển của vua chúa ngày xưa .. những xe hơi bóng loáng nhởn nhơ trên đường phố - nhiều người chóa mắt .. choáng váng , cho là ''Việt Nam bây giờ tiến bộ quá''. Riêng Phó thường dân tôi tự nghĩ : Như vậy có phải là tiến bộ không ? Sự tiến bộ của một nước cần phải nhìn về nhiều mặt : Mặt y tế và giáo dục, mặt đời sống vật chất và tinh thần của dân chúng.. Lợi tức đầu người của Việt Nam - theo thống kê của báo The Economist - bằng : 555 US$ năm 2007 ( Hà Nội bốc lên 730 US $ )chỉ hơn Lào và Cambodia chút đỉnh .. So với các nước láng giềng : Thái Lan : 2550 US $ - Phi luật Tân : 1040US$ - Nam Dương : 1160US$ .Tân gia Ba 24840US$ .( The Economist World, năm 2007 - p.158, 176, 238 ) - Việt Nam còn lẹt đẹt đàng sau rất xa . Và trước bộ mặt thay đổi choáng ngợp nầy - nếu đặt câu hỏi : Ai là chủ nhân của những xe hơi, khách sạn- vũ trường, những thương hiệu lớn, những biệt thự lộng lẫy kia ? - thì câu trả lời không sợ sai lầm là của cán bộ đảng viên (tại chức hoặc giải ngủ) hoặc con cháu thân nhân của họ. Và ở thôn quê - giai cấp giàu có bây giờ là ai ? giai cấp địa chủ là ai ? Có phải do của cải của ông cha để lại hay do sự kinh doanh tự do, mua bán làm ăn mà có ? ?Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng ''đánh Tây, đuổi Mỷ'' - cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa - thì dân miền Nam ( gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do ) vẫn thấy một sự thật. Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mãi trọng yếu của Sàgòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh Sàigòn .. và các khu phố sầm uất nhứt .. vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc Cộng sản - từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong - cũng toàn là người của xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Đắc, Phạm thị Trước ... hiện nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cât lại ..nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán dồ nhập cảng v.v.. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ .. Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sàigòn.. thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN . (Tất nhiên là vợ con,thân nhân cán bộ lớn ) .Những gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra ) . Các cô chiêu đãi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ - dĩ nhiên - vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc..Cán bộ, công nhân viên trọng yếu - cũng đều là người Bắc - trừ một số cán bộ gốc miền Nam tập kết - theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam - thì cũng kể họ là người XHCN miền Bắc ..Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới - từ Trung ương đến địa phương - từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xả gần - đều do đảng viên người miền Bắc XHCN - nắm giữ. Những công Ty dịch vụ có tầm cở, những công Ty thương mãi sản xuất lớn - điển hình là một công Ty vận tải và du lịch có đến 6000 xe hơi đủ loại.. chủ nhân cũng là người Bắc XHCN. Từ chính trị đến văn hóa , từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mãi, sản xuất - cũng do người miền Bắc XHCN nắm giữ ..

Đó là sự thật trước mắt ai cũng thấy . Còn những vàng bạc, kim cương, đô la ,tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thuơng nghiệp - nhà cửa của tù cãi tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại, những luợng vàng thu được từ những người vuợt biên bán chánh thức - tài sản những người thuộc diện tư sản - toàn bộ tài sản nầy từ Saigòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam - được đem đi đâu ?
- Không ai biết .Thông thường - những của cãi nầy phải được sung vào công quỷ - để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẻ.. Thế nhưng - sự thật trước nhứt - là các ông đem chia chác nhau . Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN ( Đọc Đất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang). Ông lớn lấy tài sản lớn .Ông nhỏ - nhà cửa nhỏ . Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết ... đem cho công Ty ngoại quốc thuê. Điều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy - vì lo sợ cái gì đó - bèn đem '' bán non'' những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cãi tạo đã sang tay đến 3 đời chủ. Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu - không ngoại lệ . Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại - là những biện pháp vá víu. Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN .. Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà người dân thường có nhà cửa phố xá ..đều bị '' giải phóng'' ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách : Đuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xả tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung (chủ nhà chịu không nổi... phải bỏ đi ), đổi tiền để vô sản hoá người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ..để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê ... Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào ''mua'' nhà Saigòn với giá gần như cho không...và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Saigòn.

Mang xe tăng T.54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên ''xẻ dọc Trường Sơn'' bằng máu , nước mắt và xác chết ... vào xâm chiếm miền Nam. Chiêu bài là ''giải phóng'' nhân dân miền Nam – nhưng sự thật khó chối cãi được - là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai , của cải, đuổi dân Saigòn (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do ) ra khỏi Thủ Đô bằng nhiều chánh sách khác nhau - để bây giờ chính các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi - những ông chủ công Ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực ... Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc (Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn tấn Dũng đang du học Mỷ là trường hợp điển hình) .. Như vậy hành vi nầy gọi là gì ? Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh - một mình đối diện với luơng tâm thuần luơng của mình - các ông tự gọi mình đi . Đến thời ''mở cửa'' - cơ hội hốt tiền còn nhiều hơn..gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương - đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công Ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đuờng xá, xây cất đại công tác. Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỷ tiền tệ quốc tế - những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt .. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn.. no bóc ké.. Nhiều công trình vừa xây cất xong ...đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ diển hình : Một bệnh viện gần chợ ''cua'' Long Hồ - quê hương của Phạm Hùng - nước vôi còn chưa ráo .. đã muốn sụp . Hiện đóng cửa không sử dụng được.
Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực , chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mãi ở những khu thương mãi quan trọng nhứt - là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ lớn đã trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực - những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử .
Trong khi dân chúng miền quê - nhứt là miền Nam - ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên .. Khoản cách giàu nghèo càng lớn - đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt ..Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì nghèo cùng
cực ..

Nhà văn - bác sĩ Hoàng Chính - gọi thời kỳ sau 75 là thời ''Bắc thuộc'' :
- ''Năm Bắc thuộc thứ 2 : Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh ..
- Năm Bắc thuộc thứ 6 : Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán.
- Năm Bắc thuộc thứ 12 : Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười ..'' Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.BÔ MẶT THÔN QUÊ MIỀN NAMCó nhìn tận mắt, nghe tận nơi , mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 32 năm dưới chế độ cọng sản . Để được trung thực - người viết ghi những điều thấy và nghe - không bình luận - tại những nơi đã đi qua . Thôn quê miền Nam - những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện . Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối . Đường sá có tu sửa phần nào ..Đường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn ( đường xóm Cái nứa,Cái chuối xã Long Mỷ VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. ''Cầu tre lắt lẻo'', cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ ) . Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái bè, Cái răng ) nay không còn thấy nữa . Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ - chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn - còn nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy - dọc theo bờ sông Long hồ - một số nhà gạch nhỏ mới cất ..xen kẻ những mái lá bạc màu . Vùng Trà ốp, Trà cú (Vĩnh Bình) , chợ Thầy Phó (Vĩnh Long ) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Đường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi..
Hai bên đường xe chạy từ Mỷ Tho, Cao Lãnh, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá ,Cần Thơ .. Nhìn chung - có một sự thay đổi rõ rệt . Nhà cửa, hàng quán dầy đặc , động cơ ồn ào, người ta chen chúc .. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở . Những vườn cây xanh um bên đường đã biến mất .. hoặc thụt sâu vào trong , không còn thấy nữa. Không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai hoằng, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu ,vườn mận Hồng Đào chạy dài hang mấy cây số ở Trung Lương ...
Dưới sông - từ kinh Vỉnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang - hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đở sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau. Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế - cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay đổi. Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá .. Basa, cá điêu hồng v.v.. ở dọc bờ sông khá dài ..Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh . Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tìền và sông Hậu - người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỷ A , chèo ghe tam bản , bơi xuồng như thời trước 75 nữa .. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng,được trả lời : '' Đi lấy Đại Hàn, Đài Loan hết rồi ông ơi !'' Tôi hỏi thêm : '' Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập .. các cô gái nầy không sợ sao ông ? - '' Biết hết - mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Đại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch .. Cô khác thấy vậy ham . Phần nghèo , phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông. Biết đâu gặp may.'' Câu chuyện gái Việt lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan hiện không ai là không biết .

Tờ Tuổi trẻ - số ra ngày mùng 1 Tết năm Đinh Hợi - trong bài : '' Nỗi đau từ những con số''- có nói đến số phận của 65000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Đài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con. Cũng do tờ báo nầy : ''Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang ''bày hàng'' để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến luợt mình '' Và cũng do tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007,viết : ''Hơn 60 cô gái ,tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Saigòn để dự tuyển .Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái. Dich vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng. Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện . Thậm chí - những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm''.

Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ : Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần luợt vào trong. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời : ' '' Đó là những người con gái đi lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn. Hàng bên trong là những đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa.''. Tôi nhìn kỷ các cô gái nầy tuổi rất trẻ .. khoản chừng 18 đến 20 ..đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện - tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Đây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề ..

Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức '' môi giới hôn nhân lậu''- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái , nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng làđể bán thẳng vào các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma cau.. để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục..các cô gái làm điếm .. hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ .. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An . Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhãn xảy ra hằng tuần - thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11..Sàigòn.

Cho dù chánh thức hay lậu.. hậu quả cũng gần giống nhau . Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí . Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An . Hậu quả gần giống nhau . Nhiều cô gái
về làm vợ mấy tên Đài Loan, Đại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn – ban ngày làm nô dịch.. ban đêm phục vụ tình dục.. rồi bán vào động mãi dâm lấy tiền gở vốn lại ..( Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Đài Bắc là một bằng chứng) Còn lậu thì .. bán thẳng vào ổ điếm. Biết bao nhiêu thảm cảnh .. biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại .Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu ...lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời !

Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập.. nầy khi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn không ? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện ? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở ? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt..? Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người - những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN . Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện , hối lộ để đuợc giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn ?

Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp . Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau : Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hoá..vừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng.. đất đai canh tác bị thu hẹp. Dân số gia tăng..Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào .. Nông dân miền Nam thiếu đất canh tác.. Các cô gái miền Tây.. quẩn bách vì không có việc làm kinh niên - cuộc sống vô vọng mịt mờ - có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến ..khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Đại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ .Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS (sinh sau 75 ) - những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ .. thang giá trị bị đảo lộn.. nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước.. Do vậy - khi bị dồn vào đường cùng .. họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn.. Nhưng động lực chánh là nghèo.. ;

NGHÈO.......Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Đại Hàn và Đài Loan ... để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực , vô vọng không lối thoát.. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - vựa lúa
nuôi sống cả nước - sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo nhưvậy - nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ĐBSH ) ? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê Việt Nam - thì tỷ lệ ĐBSCL năm 1998 : ĐBSC : 37% .. ĐBSH : 29% . Năm 2002 : ĐBSCL : 13 % . ĐBSH : 9% . ( Nhà x.b Thống kê - Hànội, trang 13 - LVB trích dẫn ). Dù theo tiêu chuẩn nào : tiền tệ (tính bắng tiền hay bằng gạo) - mức sống ( bao gồm lương thực, nhà ờ, mứcsống văn hóa ) - ĐBSCL vẫn nghèo hơn ĐBSH - bởi lẽ khi nghèo về lương thực - thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hoá .
Đó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa học . Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nhìn tận mắt , nghe tận nơi của người viết : Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau , ăn bữa sáng lo bữa chiều - cái nghèo của một nông dân , nhà dột nát .. khi trời mưa lúc ban đêm..không có chỗ để nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp.. trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc... Cái nghèo của một người đi mượn tiền , muợn gạo.. tới ngày hẹn không tiền trả.. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp ..cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ..mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân
.
Tục ngữ bình dân có câu : Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời .- Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chày lưới.. ở sông Long Hồ. Đời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy : nghề đi nhủi tép .. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay ( 2007 )tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch.. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te .Đời ông nội - nghèo
! Đời cha nghèo ! Đời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo - không đổi đời cho người nghèo thành giàu ..Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo. Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác - còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền ..trong khi dân số lại gia tăng quá tải . Cho nên thất nghiệp không thể tránh . Nghèo là hiện thực . Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng,viết : ''Nông dân đã nghèo,đất đã kém đi ,nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được ? '' MIỀN NAM - 32 NĂM DƯỚI CHẾ ĐÔ C.S ..Kinh tế Việt Nam - trong đó có miền Nam - có chút tiến bộ - so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa . Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Đối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt .. cầm lồng đèn đỏ... Và điều quantrọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia ,để tài trợ các chương trình y tế ,giáo dục ( hiện nhiều người nghèo không có tiền đóng học phí bậc Tiểu học cho con ) – các chương trình tạo công ăn việc làm , phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không ? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rổng tuếch ? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể .. Và hiện tại - muốn phát triển công nghiệp - nhà cầm quyền địa phương - theo lệnh Đảng - mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả , chiếm nhà dân một cách bạo ngược.. Lòng dân phẩn uất, kêu la than khóc.. Oán hận ngút trời xanh ! (19 Tỉnh miền Nam biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàgòn ) . Như vậy có gọi là phát triển không ?

KẾT LUẬN

- 32 năm nhìn lại :Người ta thấy miền Bắc đã ''giải phóng'' dân Sàigòn ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ . Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau . ''Giải phóng'' miền ĐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đãi từ nhiều thế kỷ.''Giải phóng''quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển ...'' Giải phóng'' phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm ''vợ nô lệ'' , đi làm điếm ở Kampuchia, Thái Lan .. - 32 năm nhìn lại : Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ. Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website(2003) - bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con súc vật ở Singapour (2005) . Chỉ trong năm 2005 - có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc .. (Theo UNICEF - LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam )

- 32 năm nhìn lại : Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L'express ngày 29-8-2002 :'' Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt
Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn . Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc - người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở đó ''

- 32 năm nhìn lại : Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam - khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc . Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước .Một trí thức Việt Nam lên tiếng cảnh cáo :'' Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc.Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu (Trích Người việt hải ngoại - Nguyễn văn Trấn)

PHÓ THƯỜNG DÂN

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Việt-Nam Đang Ở Đâu Trong Thế Giới Ngày Nay?

Trang Hien Vo
Biển Đông nỗi sóng khi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ chính thức tuyên bố trong cuộc họp các Ngoại Trưởng vùng Đông Nam Á rằng vùng biển này cũng là quyền lợi kinh tế của Hoa Kỳ. Hai quốc gia trong tuyến đầu của cuộc tiến công của Trung Cộng xuống Nam, Phi Luật Tân và Việt-Nam đã tỏ những thái độ lảo đảo trước những biến chuyển quá nhanh như thế này. Phi Luật Tân lạnh cẳng chỉ vài ngày sau những hồ hởi của buổi họp đã phải lên tiếng chấp nhận cách thức nói chuyện song phương - một chiến lược bẻ gãy từng chiếc đũa của Trung Cọng – và sự không cần thiết của Hoa Kỳ ở vùng này. Việt-Nam, như được cơ hội để phát tiết những bực tức của mình cũng đã phải cân nhắc về sự hữu hiệu của một đồng minh ở xa và những áp lực của một kẻ thù hung hãn ngay trên đầu mình. Cái ranh giới lần này khá rõ ràng vì cả 2, Trung Cộng và Hoa Kỳ đều rất thông minh để không cho một xảo thuật đu dây có thể lợi dụng được họ.

Yên tâm với chính sách tạm ngủ yên để dưỡng sức và xây dựng nội lực (hay là một thỏa hiệp ngầm?) của Trung Hoa Đại Lục – Hoa Kỳ mạnh dạn tiến vào Trung Đông. Và khi họ sa lầy là cơ hội bằng vàng cho Trung Cộng quật khởi. Có một câu phương ngôn nỗi tiếng của người Trung Hoa mà Tây Phương ai cũng nghe nhưng tin được bao nhiêu thì vẫn còn tùy vào thái độ kiêu ngạo của mình đó là câu “Quân tử trả thù mười năm chưa muộn”. Để vỗ về thế giới về thái độ chấp nhận ngủ yên và hòa hoãn của mình, Trung Cộng cho phép Hồng Kông tự trị trong 50 năm. Nhưng sự sa lầy và sa sút của Hoa Kỳ cũng như sự phát triển vượt bực về kinh tế của một quốc gia ở giai đọan đầu tư bản phát triển đã khiến Trung Cộng thêm niềm tin, kiêu hảnh rồi trở thành kiêu căng mà vội vã thức dậy cởi ngay chiếc áo ngủ của mình. Với tiềm lực ngày nay, Trung Cộng có đủ lý do để lo sợ những cuộc nội loạn nhiều hơn là những thách thức quốc tế. Nếu thất bại, họ trở về cố thủ trở lại, đóng cửa trấn áp người dân của chính mình, một chính sách mà Tây Phương không thể xữ dụng được nên chưa bao giờ hiểu?

Trong cái nhìn của một thương gia, Hoa Kỳ nghĩ rằng họ có thể mua chuộc thế giới bằng đồng tiền, quyền lợi, tham vọng?… Nhưng khi lòng tự trọng của một dân tộc bị xúc phạm thì những gía trị vật chất chưa chắc đã là yếu tố sau cùng. Rất khó(?) để cho họ hiểu rằng tinh thần tự tôn của người Trung Hoa đã bị chà đạp trong suốt cả 2 thế kỹ kể từ khi Tây Phương tiến công vào đại lục này. Mối nhục đã bị 8 nước vây đánh và phải ký những hòa ước bất bình đẳng dù sẽ không trả được cũng sẽ trở thành những căm thù sâu sắc. Mặc cảm một nước lớn như vậy mà bị Nhật Bản đánh cho tơi bời là những động cơ thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc phát huy cao độ, bất chấp chế độ chính trị lỗi thời và bất công của nhà cầm quyền.

Như vậy, sự giàu mạnh của Trung Hoa Lục Địa ngày nay không phải là hậu quả tất nhiên và duy nhất của sự lãnh đạo ưu việt mà các nhà lãnh đạo Trung Cộng đã hãnh diện là của một chủ nghĩa xã hội với màu sắc Trung Hoa - nếu người ta so sánh sự phát triển và giàu mạnh của Đài Loan, Hồng Kông với cái kích thước khổng lồ của Đại Lục này.

Nhiều lý thuyết gia, kinh tế gia đã nhìn vào sự phát triễn của Trung Cộng trong một giai đoạn và vẽ đường biểu diển theo một phương trình bậc nhất (?) với một hệ số phát triển cố định để tiên đoán sức mạnh của Trung Cọng vào những thập niên 2030 và 2040? Điều này dĩ nhiên không đúng vì nếu cùng suy luận như vậy thì nước Mỹ sẽ ở đâu như hôm nay khi lấy mốc thời gian từ sau Thế Chiến Thứ Hai chẳng hạn, cũng như họ đã không tiên liệu và ngăn chận được những suy thoái kinh tế của chính họ? Trong một thế giới mở ra toàn cầu như hiện nay, sự phát triễn của một quốc gia, nếu được định hướng đúng đắn sẽ được hưởng rất nhiều lợi điểm khi tiếp thu những tiến bộ của nhân loại để tiết kiệm trong cả 2 phương diện tài lực và thời gian. Thêm vào đó, sự phát triển của Tư Bản và đòi hỏi của thị trường là một món quà cho không các kỹ thuật, sáng kiến cho các quốc gia cần phát triển. Chính Trung Cộng là một trong những quốc gia thừa hưỡng những lợi ích này. Dù sao, với một diện tích rộng lớn, một dân dố áp đảo và những tài nguyên thiên nhiên có được, Trung Cộng, trong một chiều hướng phát triển bình thường cũng sẽ phải hơn xa hiện nay. Vấn đề là đi kèm với phát triển ấy, lòng tự tôn, mặc cảm bị chèn ép, thua sút trong quá khứ và sâu xa hơn cả là một nền văn hoá thần quyền (cọng sản cũng là một loại thần quyền!) đã làm cho tham vọng bá quyền của Trung Cọng trở nên hung hãn, cuồng tín – rõ ràng nhất là khi vị Ngoại Trưởng Trung Cộng châm biếm “Chủ Nghĩa Xã Hội Việt-Nam” và nhìn thẳng vào mặt vị Ngoại Trưởng Singapore mà nói rằng “Trung Quốc là một nước lớn, đây là một sự thật”…

Trong khi cả Nhật Bản, Đại Hàn và Trung Hoa đã biết áp dụng chủ nghĩa dân tộc như là một đòn bẩy để tạo bước nhảy vọt cho xứ sỡ mình thì Việt-Nam đang ở đâu trong thế giới ngày nay?. Người cọng sản Việt-Nam phải làm gì khi cả 2 lá cờ Độc Lập Dân Tộc và Chủ Nghĩa Xã Hội của họ không còn thích nghi nữa? Để níu kéo một quá khứ không tưởng sau khi các chế độ cộng sản ở Đông Âu và Liên Sô sụp đổ, họ gắng gượng copy mô hình một “Chủ Nghĩa Xã Hội với màu sắc Trung Hoa” để dựng nên một “Chủ Nghĩa Xã Hội với tư tưởng Hồ Chí Minh” cho mình - một chủ nghĩa đã phá sản trên toàn thế giới và một tư tưởng mà nếu đem phân tích trên giấy tờ thì không có gì khác hơn là những ráp nối của các câu nói đã từng được phát biểu.

Điều buồn cười là nhân vật chính (Hồ Chí Minh) cũng nhìn nhận rằng ông ta không có tư tưởng gì mới vì các điều cần nói thì các bác Mác và Lê đã nói hết rồi!

Được người Mỹ chính thức bày tỏ mong muốn hợp tác để chận đứng sự bành trướng của Trung Cộng, những người cầm quyền CSVN tin rằng họ rất có giá trong cuộc mặc cả lần này? Chưa chắc! Nếu chỉ vì giao thương trên biển Đông và quá thất vọng với những “lưu manh” của một “đồng minh” hoàn toàn không tin tưởng này, Hoa Kỳ có thể bỏ Việt-Nam để rút phòng thủ về một vòng ngoài xa hơn, qua các quốc gia Mã Lai, Singapore, Indonesia, Phi Luật Tân, Úc, Đại Hàn, Nhật Bản?

….. Phải chận đứng sự bành trướng khó kiểm soát và rất “cuồng tín” của Trung Cộng là điều mà Hoa Kỳ đã thấy và phải làm. Nhưng có nhất thiết phải dùng Việt-Nam hay không thì chưa chắc. Có thể họ sẽ bỏ Việt-Nam và để cho Việt-Nam “trọn tình” với thiên triều. Sự việc Hoa Kỳ không (thèm) tham gia hội nghị kinh tế của các quốc gia Đông Nam Á từ 22 – 27 tháng 8 vừa qua có ý nghĩa gì? Là một thương gia điêu luyện, Hoa Kỳ sẽ chịu chi phí cho những phiêu lưu đầu tư ban đầu mà họ thường gọi là các “Seed Money”. Số tiền này thật ra đã được tính vào trong các kế hoạch kinh doanh chung mà một sự mất mát là đã được tiên liệu. “Không đồng minh với Hoa Kỳ”, Cộng Sản Việt Nam có thể sẽ vuột chuyến tàu cuối cùng để tách khỏi ảnh hưởng của Trung Cộng. Còn đi với Hoa Kỳ, CSVN phải chấp nhận mình là một tuyến đầu trên đường Trung Cộng phát triển xuống Nam…

Trước những hèn yếu của nhà cầm quyền đối với những xâm lấn của Trung Cọng, danh từ độc lập dân tộc trở nên một lời châm biếm cay đắng. Vai trò lãnh đạo của CSVN giờ đây coi như đã hết. Để phát triển quốc gia thì cái quái thai gọi là Kinh Tế Thị Trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa đã chứng minh nó chỉ một tình trạng hoạt động băng đãng mặc kệ hậu quả cho cả một quốc gia. Để đối phó với chủ nghĩa bành trướng bá quyền của Trung Cộng thì chỉ có những nhà cầm quyền Hà Nội mới cần cầu lụy Trung Hoa Lục Địa. Người dân Việt-Nam đủ thông minh để hiểu rằng trên đường xuống Nam, Trung Cộng bắc buộc phải dẳm lên quyền lợi của cái quốc gia bé nhỏ này, dù nhà cầm quyền CSVN có quì lạy van xin hay không. Cho nên chỉ có một con đường duy nhất là đối kháng để sống còn. Những người Việt-Nam yêu nước hôm nay cũng đủ thông minh để không tiếp tục hy sinh cho dân tộc dưới lá cờ của đảng CSVN nữa. Con đường đúng đắn nhất mà người CSVN nên làm là trả lại quyền tự quyết cho nhân dân Việt-Nam. Một quyết định mà hầu như chỉ là ảo tưởng trong tham vọng của các nhà lãnh đạo hôm nay để tiếp tục dẫn dắt đất nước Việt-Nam đi trong một con đường hầm tăm tối thêm bao nhiêu thế hệ nữa?

Trang Hien Vo

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Image

Nỗi Buồn Đàn Ông

- Trên bàn nhậu, các ông thường bàn về chuyện gì?
Đây là một câu hỏi mà tôi tin rằng 99% quý bà hay có chồng đi nhậu thường thắc
mắc...
Khi tửu nhập thì ngôn xuất từ chuyện sở làm, bạn bè, chuyện vợ nhà (với đủ thứ
thói xấu như tiền đong, gạo phát; ghen tuông trật chỗ - chỗ đáng ghen thì không
ghen, lại ghen chỗ khác)... Và, sau cùng, một đề tài thường hay nói đến, nhất là
ở bàn nhậu của các ông có tuổi trên 50 là nỗi buồn đàn ông.
Nếu quý bà không tin thì xin mời hãy tham dự một bàn nhậu đầu xuân mà thơ ca là
phương tiện thanh tao, cao cả để diễn tả một đề tài rất ư là... trần thế và trần
trụi. Tất nhiên, quý ông trong bàn nhậu này đều không phải là nhà thơ, nhưng
chính họ lại là người thuộc nhiều thơ và đọc thơ rất là diễn cảm.
Một ông có hàng tiền đạo trống vắng, những cái răng còn lại thì run lẩy bẩy
nhưng cố trệu trạo nói:
- Mấy ông biết không, về vụ có thể gọi là tóm tắt nhất cái bản chất của đàn ông
thì bài thơ này là “nămbờ oan”... Mà bài thơ này do các bậc tiền bối ngày xưa
truyền lại, có in vào sách trào phúng dân gian nữa nghe, chứ không phải là thơ
sáng tác bây giờ đâu! Nói rồi, ông “thiếu răng” đọc sang sảng. Có lẽ nhờ hàm
răng cửa thiếu và yếu, nên có gió đẩy đưa nghe sao mát dạ:

“Ngẫm rằng con tạo ý ra răng
... sao mà mọc trước răng
Lúc nhỏ cần răng thì mọc...
Khi già còn... lại không răng
Già nua hết thú, chèo queo..
Lọm khọm cần nhai rụng quách răng
Ngán ngẩm cho răng, buồn với...
Nghĩ rằng con tạo ý ra răng...”.

Cả bàn nhậu vỗ tay. Một tay gầy nhom như bộ xương trong bảo tàng viện châm biếm:

- Ông “thiếu răng” đọc bài này đầy tâm trạng. Bài thơ này diễn tả ông thiếu...
cả hai thứ... Ha... ha...
Ông Thiếu Răng hơi ức bèn khiêu khích:
- Bạch cốt linh tinh đại gia có thể cho tiểu đệ nghe bài thơ nào hay hay được
chăng?
Ông gầy “Bạch cốt linh tinh” hắng giọng:
- Chuyện nhỏ. Nghe nè... Hồi
“Sáng nay ngồi nấu nồi chè
Nhớ lại chuyện cũ nó đè trong tim
Ngồi buồn ngó xuống con... Chim
Xưa sao hùng dũng, nay im thế này
Lắc đi lắc lại mỏi tay
Mà sao nó vẫn ngây ngây khờ khờ
Bây giờ dù có ai rờ
Mà sao nó vẫn khờ khờ ngây ngây...

Một ông mập, lùn, với một cái mũi to và trán hói nên gương mặt hơi giống Trư Bát
Giới - bạn hữu gọi ông ta là lão Trư - chen vào:
- Ốm nhom, ốm nhách như con cò ma, khờ khờ là phải rồi. Tớ đây, mập khỏe mà cũng
có bài thơ diễn tả đúng tâm trạng và hoàn cảnh nha:

“Bây giờ sống cũng như không
Thôi rồi cái kiếp làm chồng làm cha
Bây giờ có sống đến già
Cho dù béo tốt cũng là công toi
Bây giờ pháo đã tịt ngòi
Gia tài còn lại một vòi nước trong
Suốt ngày nó chảy long tong
Đến khi hữu sự nó cong cái vòi...

Bạch cốt linh tinh lên tiếng:
- Ủa, đây là bài thơ nói về con heo bị thiến mà?
Ông Thiếu Răng huýt gió:
- Thì thằng lão Trư nói về nó mà! Chẳng thà ốm như mày mà “lắc đi lắc lại” là vì
không có sức khỏe, còn nó mập, béo như thế mà khóc ròng thì chỉ có nước là bị
thiến mà thôi...
“Thiến heo đây... thiến heo đây...”.
Quay qua người bạn ngồi cạnh bên đang im lìm như người đau bệnh trĩ (vì ông ta
hay ngồi cà niễng một bên ghế), ông Thiếu Răng mời mọc:
- Sao rồi, Thằng Hề đại nhân đã rặn ra bài nào chưa? Bản mặt buồn như cải úng,
Thằng Hề đại nhân lên tiếng:
- Có rồi. Bài này tôi mới được nghe giới giang hồ truyền tụng như là bài khẩu
quyết của bọn đàn ông còn trẻ (í... ẹ) chúng ta. Hãy nghe đây mà ngậm ngùi:

“Ngày xưa sung sức thì nghèo
Bây giờ rủng rỉnh thì teo mất rồi
Bây giờ sức khỏe tuyệt vời
Nhưng mà nó có đàn hồi nữa đâu
Ngày xưa sức khỏe như trâu
Bây giờ “công cụ” nát nhàu như dưa
Ngày xưa chẳng kể sớm trưa
Bây giờ loáng thoáng lưa thưa buồn lòng
Ngày xưa như sắt như đồng
Như đinh đóng cột như rồng phun mưa
Bây giờ như cải muối dưa
Mười thang Minh Mạng vẫn chưa ngẩng đầu
Trải qua một cuộc bể dâu
Cái thời oanh liệt còn đâu nữa mà...!”.

Cả bàn nhậu cùng làm một dàn đồng ca:
- Nay mai về với ông bà
Nấp sau nải chuối ngắm gà khỏa thân...

Rốt cuộc, mỗi khi xuân đến thì chuyện leo lên bàn thờ càng gần, nhưng chỉ buồn
một cái khi về với cát bụi, đàn ông chỉ được ngắm gà khỏa thân. Phải chi được
ngắm cẳng dài cho đời nó đỡ tủi!

LÊ VĂN

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

KẺ SĨ VỚI CHÍNH QUYỀN
Trong mọi nền văn hóa, đều thấy quây quần quanh chính quyền nếu không nắm hẳn chính quyền một lớp người có uy tín đặc biệt nhờ sự hiểu biết hay học thức thực sự hoặc quy cho của họ. Từ đẳng cấp Bà La Môn ở Ấn Ðộ hay giới scribes (thư lại) tại Ai Cập và Do Thái qua lớp clercs (thầy tu) và intellectuels (trí thức) tại Âu Châu tới giới sĩ rồi trí thức tại Việt Nam và Trung Hoa, tên đặt và sự đào tạo tuy có khác, vai trò và tâm lý dường như tương tự : người được coi hay tự cho là có học thường được coi hay tự cho là nắm chân lý và xứng đáng lãnh đạo quần chúng. Tại Trung Hoa và Việt Nam, sự (muốn) lãnh đạo đó thể hiẹn ra sao và quan hệ giữa kẻ sĩ với chính quyền hay quyền hành diễn tiến như thế nào, đó là vấn đề thử được phân tích trong bài này .

Nguyên chữ sĩ như ai cũng biết chỉ người học trò tức người có học, rồi theo đó kẻ làm trai vì thời xưa chỉ con trai mới được phép đi học (theo từ điển “Từ Hải” thì sĩ nguyên chỉ con trai đến tuổi lấy vợ nhưng chưa có vợ), rồi rộng hơn nữa mọi kẻ có chút kiến thức về chữ nghĩa hay nghề nghiệp (theo nghĩa đầu trong Từ Hải, sĩ là kẻ “nhậm sự” tức có công việc làm). Những từ ghép như bác sĩ, thạc sĩ..., binh sĩ, sĩ tốt..., nha sĩ, nghị sĩ..., phản chiếu ba định nghĩa trên của chữ sĩ. Nhưng chữ sĩ mà các sách báo đề cập đến bao hàm một ý nghĩa đặc biệt hơn, liên quan đến một kẻ sĩ lý tưởng hay trượng phu, một hình ảnh đầy huyền thuyết do hai ngàn năm nho giáo tạo truyền. Trong bài này kẻ sĩ chỉ chung những kẻ có học, bất kể nội dung của môn học.

Trước khi nho giáo chiếm thượng phong bên Trung Hoa và đưa ra triết thuyết về kẻ sĩ, kẻ sĩ đã được coi như lớp dân đứng hàng đầu trong nước. Hai trăm năm trước Khổng Tử, thang xã hội “sĩ, nông, công, thương” trong đó từ sĩ chỉ lớp người có học và sống nhờ cái học, đã được mặc nhiên công nhận. Nó là một tiết mục của thiên “Thặng mã” trong sách “Quản Tử” (xem bản dịch của Phạm Tất Ðắc, Houston, Xuân Thu in lại, 19.., t.1, tr. 71). Nhưng đọc Quản Tử không thấy ông tách hẳn kẻ sĩ ra như một tầng lớp đáng quý trọng hơn cả : sự phân biệt sĩ, nông, công, thương là một kiểu phân chia hàng ngang hơn hàng dọc, nhằm mục đích duy trì trật tự và tiện đường giáo huấn (Quản Tử,...,thiên Tiểu Khuông, tr.195-96), căn bản vẫn là nhà nông, sĩ công thương, khi không làm quan lại buôn bán hay hành công nghệ, cũng phải góp sức vào việc cầy cấy (Quản Tử,..., tr.74). Từ sĩ đến thương tất cả đều là dân, tức cùng chung số phận kẻ thừa hành. Vượt trên họ tuy xuất phát từ họ là một nhóm có đức có tài gọi là hiền nhân, đại nhân, cao trọng hơn nữa là thánh nhân (rất hiếm hoi – từ này thường dành cho nhà vua anh minh hay những bậc anh tài đã khuất), xứng đáng cầm quyền hành chính, tham gia vào việc quốc sự . Theo Quản Tử, người hiền là người “có đạo nghĩa, hiếu học, thông minh, nhân hậu, hiếu thảo với cha mẹ, thuận hòa với anh em, được tiếng khen trong hương lý” ngang với người tài là người “dũng cảm, có sức lực siêu quần xuất chúng” và người hiền tài có “công lao, đức hạnh đoan chính“ phải được đề cử để làm “phụ tá các quan thượng khanh, đại phu” (Quản Tử, ..., tr. 100-101). Hiền nhân, đại nhân không bắt buộc phải xuất từ lớp kẻ sĩ: trước khi làm tể tướng cho vua Thang ông Y Doãn cầy ruộng ở đất Hữu Sằn; Giao Cách đương bán cá bán muối được Văn Vương nhà Chu mời ra cộng sự; Bá Lý Hề, quan đại phu giúp Tần Mục Công, xuất thân là kẻ nuôi bò.

Vào thời Xuân Thu của Quản Tử, đế quyền nhà Chu bị hàng trăm vương hầu tranh giựt; ai nấy đều muốn tổ chức địa phận của mình thành một tiểu quốc có qui củ, số sĩ cần thiết cho việc hành chánh quản trị nhờ đó có nhiều cơ hội tiến thân hành sự không khỏi gia tăng. Phần đông làm gia thần cho nhà quyền quí, nhưng kẻ học giỏi biết nhiều có hy vọng gần nhà cầm quyền hơn. Vương hầu nào cũng có tham vọng làm bá chủ, thâu gồm các nước lân bang, nên sẵn sàng trọng dụng ai khéo dâng mưu cao kế lạ khiến nước họ giàu mạnh. Các học phái vì vậy đua nhau ra đời (bách gia chư tử), đả kích lẫn nhau, theo gót các nhà mưu sĩ thuyết khách. Nhưng biết nhiều đến đâu, kẻ sĩ cũng không cạnh tranh nổi đám thừa cơ ít học, thiện võ hơn thiện văn, và thường bị nhà cầm quyền, cầu lợi hơn cầu hiền, coi nhẹ. Giữa thời buổi Chiến quốc nhiễu nhương đó, nho giáo bảo cựu do Khổng Tử (551-479 ttl) đề xướng xuất hiện như một phản ứng tự nhiên của kẻ có học trước cảnh luân lý suy đồi và sự thiếu đạo đức của nhà cầm quyền khiến kẻ có tài phải lang thang nay đây mai đó (như chính trường hợp của Khổng Tử, nổi danh là hiền sĩ mà vẫn phải chu du khắp thiên hạ, mong gặp minh quân biết trao quyền nhiếp chính cho mình), phải biến thành phường giảo hoạt nếu muốn được tín dụng. Kể từ Khổng Tử, kẻ sĩ được lý tưởng hóa và đồng hóa với kẻ hiền tài, như sự thông dụng dần của những từ ghép như hiền sĩ, chí sĩ, dũng sĩ ... cho thấy.

Học thuyết đề cao kẻ sĩ của Khổng Tử dĩ nhiên gặp sự hưởng ứng nồng nhiệt của giới sĩ, như số đông học trò (khoảng 3000 vào cuối đời ông) đến thụ huấn ông chứng tỏ. Ðược các thế hệ học trò ông – xuất sắc nhất là Mạnh Tử - nối tiếp nhau tu bổ và truyền bá, sĩ đạo của ông bành trướng sâu rộng và lấy tên là nho đạo hay nho giáo. Cái tên này đủ tóm tham vọng của kẻ sĩ, vì nho có nghĩa là kẻ cần thiết, thông thái (“thông thiên địa nhân viết nho”). Vững mạnh nhờ số lớn kẻ theo cùng nhờ một học thuyết cố kết có thể biện luận được với các học thuyết khác như thuyết kiêm ái của Mặc Ðịch hay vị ngã của Dương Châu (bị Mạnh Tử công kích trong “Mạnh Tử”, chương Ðằng Văn Công thượng, tiết 5, và ÐVC hạ, tiết 9), Khổng phái tranh được sự nể nang của giới cầm quyền sẵn sàng thỉnh giáo các nho gia hay vời họ làm phụ tá, ví như Tử Tư làm quan đại phu cho Lỗ Mục Công và Tề Huệ Công, Mạnh Tử làm quân sư cho Lương Huệ Vương và Tề Tuyên Vương hay Nhạc Chính Tử là cận thần của Lỗ Bình Công .

Với nho giáo kẻ sĩ vượt hẳn dân thường, vì là kẻ được giào dục để trị dân. Xét theo kinh thư thì quan niệm này trải qua hai thế kỷ mới hình thành. Trong sách “Luận ngữ” gồm những lời giảng dạy của Khổng Tử (551-479), chỉ thấy nhấn mạnh đến đức độ phải có của kẻ sĩ . Ông cho kẻ sĩ là người có học, không hẳn học chữ mà học đạo làm người. Trong Luận ngữ, thiên Tử Lộ, ch.20 (Lê Phục Thiện dịch, Hà Nội, Văn học, 1992, tr. 471) ông tôn là sĩ những kẻ biết hổ thẹn cho mình và cho nước (“hành kỳ hữu sĩ, sử ư tứ phương bất nhục quân mệnh”), những kẻ hiếu đễ (“tông tộc xưng hiếu yên, hương đảng xưng đễ yên”) hay những kẻ dốt kém nhưng biết giữ lời và làm việc đến nơi đến chốn (“ngôn tất tín, hạnh tất quả...”). Kẻ sĩ có kiến thức hay nhà nho, nếu hội đủ đức tính được gọi là quân tử. Trong giới sĩ chỉ kẻ quân tử là đáng phục, và mục đích của sự học hỏi và tu thân của nhà nho chính là để thành người quân tử và tránh làm kẻ tiểu nhân. Bởi giữa nhà nho, cũng có sự phân biệt nho quân tử và nho tiểu nhân như Khổng Tử từng khuyên Tử Hạ : “Nhữ vi quân tử nho, vô vi tiểu nhân nho” (Luận ngữ, th.Ung dã, ch. 11, ... tr. 189). Nhưng phong độ quân tử theo ý của Khổng Tử thật khó đạt; chính ông cũng công nhận như vậy : “Bậc thánh nhân, ta chẳng được thấy! Được thấy bậc quân tử ấy là khá vậy!„ (“Thánh nhân, ngô bất đắc nhi kién chi hỹ! Ðắc kiến quân tử giả, tư khả hỹ » - Luận ngữ, th. Thuật nhi, ch. 24).

Nhưng phải làm sao mới đáng được gọi là quân tử? Các kinh thư của Khổng phái cốt viết cho kẻ sĩ nhằm mục đích trả lời câu hỏi này. Ngay như Kinh Dịch là sách về siêu hình học thường được dùng làm sách bói toán cũng lấy quân tử làm đối tượng qua trung gian các lời giải thích quẻ hào răn dạy kẻ sĩ đối phó với hoàn cảnh sao cho đúng tư cách bậc quân tử, ví như lời phê của đại tượng truyện quẻ càn là quẻ đầu tiên : “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức„ (Chu dịch, Phan Sào Nam diễn giải, Sàigòn, Khai Trí, t. 1, 1969, tr. 54). Duy nói về kẻ sĩ và quân tử nhiều nhất vẫn là hai bộ Luận ngữ và Mạnh Tử. Theo Luận ngữ, kẻ sĩ phải là kẻ học đạo lý, cho nên trước nhất phải luyện cho được đức nhân lấy sự hiếu đễ làm gốc, sau mới lo học lễ học văn (Luận ngữ, th. Học nhi, ch. 6; th. Ung dã, ch. 25), đủ chất đủ văn thì thành người quân tử (Luận ngữ, ch. Nhan Uyên, ch. 8 ). Mẫu người quân tử là một người ngay thẳng, ham điều nghĩa, biết nhận xét, cư xử khiêm tốn, có lễ độ, vừa ôn hòa, thư thái, thành tín, vừa can đảm cứng cỏi (Luận ngữ, th. Nhan Uyên, ch. 8, 20; th. Tử Lộ, ch. 23, 26; th. Vệ Linh Công, ch. 27; th. Dương Hóa, ch. 8 ).

Vì muốn giáo hóa dân chúng Khổng Tử nhấn mạnh vào đạo đức và chú trọng đến việc tu dưỡng nhiều hơn chuyện thành đạt. Công trình phổ biến nho giáo, nâng cao uy tín của nhà nho rồi củng cố địa vị xã hội chính trị của kẻ có học thức sẽ do học trò ông và những người theo họ chủ trương. Từ đức nhân (không hẳn là yêu thương người mà là cư xử hợp đạo với người - x. Luận ngữ, th. Dương Hóa, ch. 6) là nòng cốt của Khổng giáo, Mạnh Tử (371-289) chuyển sang đức nghĩa (biết phải trái – thời Khổng Tử đã là một điều căn bản) là đạo lý phải theo (“Nhân, nhân tâm giã; nghĩa, nhân lộ giã” - x. Mạnh Tử, Ðoàn Trung Còn dịch, Sàigòn, Trí Ðức, 1950, T.2, chương Cáo Tử thượng, tiết 11, tr. 166) bởi nhân do lương tâm mà ra mà tâm sở dĩ có nhờ chứa sẵn lý nghĩa, nên làm người phải noi theo lý nghĩa. Mà lo việc nghĩa tức là lo bằng tâm trí, tức thuộc vào tầng lớp cai trị. Mạnh Tử đã không ngần ngại chia xã hội ra làm hai thành phần có thứ bậc trong đó lớp kẻ sĩ đóng vai bề trên : “Có phần việc của người đại nhân, lại có phần việc của người tiểu nhân ... Có người làm việc bằng tâm trí, có kẻ làm việc bằng tay chân. Người làm việc bằng tâm trí thì cai trị dân chúng; kẻ làm việc bằng tay chân thì chịu quyền điều khiển. Kẻ chịu điều khiển có phận sự cung cấp cho người bề trên; nhà cai trị dân chúng được dân chúng phụng dưỡng.” (“Hữu đại nhân chi sự, hữu tiểu nhân chi sự ... Hoặc lao tâm, hoặc lao lực. Lao tâm giả trị nhân; lao lực giả trị ư nhân. Trị ư nhân giả tự nhân; trị nhân giả tự ư nhân“ – Mạnh Tử, t.1, ch. Ðằng Văn Công thượng, tiết 4, tr. 166-67).

Lời lẽ trên của Mạnh Tử cho thấy tư thế của kẻ sĩ đã biến đổi lớn lao từ thời Quản Tử, trội hẳn trên lớp nhà nông. Thời Khổng Tử, nhờ sự sùng bái đức nhân, tư tưởng tự tôn của kẻ sĩ chưa quá trớn, tuy (theo Luận ngữ, th. Tử Lộ, ch.4) Khổng Tử đã bắt đầu tách kẻ sĩ rời đám nông dân, coi việc nông không xứng đáng với phận sự của kẻ sĩ. Nhưng với Mạnh Tử kẻ sĩ vượt hẳn nhà nông. Không còn có chuyện kẻ sĩ cũng phải cầy cấy khi không làm quan như Quản Tử đề nghị : đã có công phu học thành người hiếu đễ, biết noi theo đạo thánh vương để truyền lại cho học giả hậu lai là xứng đáng được cung cấp vật thực hơn những người hành nghề khác không cao xa bằng (“U thử hữu nhân yên, nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, thủ tiên vương chi đạo, dĩ đãi hậu chi học giả, nhi bất đắc thực ư tử. Tử hà tôn tử, tượng, luận, dư, nhi khinh vi nhân nghĩa giả tai ?” – Mạnh Tử, t.1, ÐVC hạ, tiết 4, tr. 190-191). Vào cuối thời chiến quốc, kẻ sĩ không còn (muốn) là một thành phần xã hội ngang hàng với các thành phần khác tuy đã có thể tách rời khỏi quần chúng nếu có tài đức hay gặp vận may, mà (muốn) trở thành một đẳng cấp biệt lập với đặc quyền dính liền với phẩm thế : được dành nhiệm vụ cai trị dân và bất kỳ có giữ quan chức hay không cũng được dân cung phụng. Dân, bị xếp vào hạng tiểu nhân, và kẻ sĩ được coi như tất nhiên phải là người quân tử, gắn bó với nhau theo thứ tự trên dưới : “Vô quân tử, mạc trị dã nhân; vô dã nhân mạc dưỡng quân tử” (Mạnh Tử, t.1, ÐVC thượng, tiết 3, tr. 158 ).

Suy theo sách Mạnh Tử, có thể nghĩ rằng vào thời cuối đời Chu, đám nho gia đủ đông đủ mạnh và đủ uy tín để đương đầu với nhà cầm quyền, dám viện lý để đòi tham gia chính quyền thay vì chờ đợi lòng sủng ái thất thường của nhà vua. Dĩ nhiên tham vọng của họ vấp vào sự chống đối của các học phái khác cũng như của những nhà cầm quyền độc đoán không muốn chia quyền. Vụ tàn sát các môn đồ nho giáo bởi Tần Thủy Hoàng dễ hiểu trong phối cảnh này. Nếu không cùng tư tưởng, chịu sao được tính cao ngạo của các nho gia tự cho mình là kẻ thừa kế của các bậc thánh nhân xưa (ngay thời Khổng Tử, nho sĩ đã bị Án Anh quan đại phu nước Tề chê là “kiêu ngạo vị kỷ”), am hiểu đạo lý hơn người, có tài “bình trị thiên hạ” (Mạnh Tử, t.1, Công Tôn Sửu hạ, tiết 12, 13) đặt mình trên cả nhà vua, vua không thể triệu mà phải đến viếng, bởi theo đạo đức vua có bổn phận phụng sự trang hiền sĩ (Mạnh Tử, t.2 , Vạn chương hạ, tiết 7)? Các pháp gia, cũng xuất thân từ lò nho giáo (họ chịu ảnh hưởng của Tuân Tử là một nhà nho uyên bác) nhưng thiên về “tri tân” thay vì “ôn cố”, hiểu rằng trong chế độ quân chủ tập quyền mới được gây dựng trên xã hội phong kiến đã tan, kẻ sĩ muốn có chức vụ không còn giải pháp bỏ đất này sang đất kia, chỉ còn nước phục vụ hết mình kẻ duy nhất nắm quyền thế, giúp nhà cầm quyền duy trì địa vị. Bài học này cũng như thuật lấy hình pháp làm phương cách trị dân, giới nho sĩ được phục hưng dưới triều Hán sẽ để lòng ghi nhớ.

Trái với dư luận thông thường, tư tưởng của các pháp gia không hề nhất thời và tan vào dĩ vãng với sự đắc thắng của nho giáo vào đời Hán; những ý chính của phái họ, như sự tôn quân tuyệt đối và sự dùng pháp dùng danh để cai trị, tồn tại mạnh mẽ hơn bao giờ sau khi được sáp nhập vào nho giáo, phủ dưới tấm khăn đạo lý và lễ nghĩa. Những bộ luật do các nho gia soạn thảo từ đây là những khí cụ bảo vệ đắc lực nhà cầm quyền, giúp họ thống trị thần dân. Ngõ hầu thực hiện yêu sách tham chính của mình, các nho sĩ sốt sắng theo gương pháp gia biện hộ cho quyền thế của nhà vua, bổ túc thuyết thiên mệnh mà bỏ quên những lời đặt dân trên vua (Mạnh Tử, ch. Tận tâm hạ, t. 14) hay khinh miệt nhà vua bất nhân và những quan lại thờ họ (Mạnh Tử, ch. Cáo Tử hạ, t. 9) của Mạnh Tử, đồng thời nguyện làm “kẻ phụng sự”, vì “kẻ sĩ không tới bậc làm việc cảm hóa (như bậc đại phu) chỉ nên giữ phận theo người trên mà thôi” (theo Ðổng Trọng Thư, trích trong Nguyễn Ðăng Thục, Lịch sử triết học phương đông, Sàigòn, nxb Thành phố HCM, 1991, t.4, tr. 77).

Ðể cai trị một đế quốc rộng mênh mông, các tiên đế nhà Hán đã hiểu rằng triều đình cần dựa trên một đẳng cấp quan lại vừa có học vừa ưa chuộng lễ nghi và tôn ti trật tự nhưng cũng cần kiểm soát nghiêm ngặt lớp sĩ đầy thế lực kia. Kết quả của sự hội tụ quyền lợi giữa nhà cầm quyền và các nho sĩ là Hán Vũ đế cho nhận Khổng Tử là bậc thánh cao nhất trong đám bách gia và chọn nho giáo làm quốc giáo độc tôn sau khi nho giáo được tu bổ và chấn chỉnh theo một ý thức hệ chặt chẽ xoay quanh chữ hiếu với cha mẹ và chữ trung với nhà vua, có hiệu lực củng cố và duy trì chế độ phụ quyền chuyên chính. Phần lớn các chức vụ quản trị và hành chánh được dành cho nho sĩ miễn họ thỏa mãn một cuộc khảo hạch hay thi cử do triều đình tổ chức. Tuy mang tiếng là có mục đích chọn nhân tài cho nhà nước, các cuộc thi thực ra có tác dụng lọc giữ những kẻ sĩ theo thời có tinh thần phục tùng chính quyền cùng gạt bỏ những kẻ sĩ còn cá tính hay ương ngạnh, cho nên chương trình và bài thi có khuynh hướng (càng ngày càng rõ với sự nho giáo hóa xã hội và trung ương tập quyền) trọng hình thức nhiều hơn trình độ học vấn (quay quanh kinh thư chính thức của nho giáo).

Trên nguyên tắc, với sự thắng lợi của nho giáo,giới sĩ thỏa được nguyện vọng “sự đạo” mang được cái học của mình ra hành với thế gian. Trong thực tế, vì muốn bảo toàn địa vị và mua chuộc lòng tin của nhà cầm quyền, các nho sĩ đã ra công đả phá các kẻ sĩ thuộc học phái khác, dù là những phái cũng xuất thân từ cửa Khổng như môn phái của Tuân Tử (ngược lại cũng rất đối nghịch với phái “chân” nho) khiến các học phái ấy suy yếu dần và danh từ kẻ sĩ tới đời Tống chỉ còn chỉ nho sĩ; tệ hại hơn, họ đã bóp nghẹt tính năng động của nho học (là sức đã có năng lực đem quyền hành vào tay nho giáo) với ý chí áp đặt một chủ thuyết thiên vị có lợi cho chính quyền nhờ lối chú giải kinh sách một cách hẹp hòi khô cứng. Như sự học (được nhắc đi nhắc lại trong kinh sách, đặc biệt trong “Ðại học”) là căn bản của đạo nho, tuy trên hết chỉ sự học đạo, chính ra bao gồm cả sự học hỏi mọi môn mọi ngành (“văn” - trong Luận ngữ, th. Nhan Uyên, ch.15, Khổng Tử cho sự học rộng về các môn “văn” không trái tức hợp đạo lý) và sự tìm hiểu đến nơi đến chốn (“cách vật trí tri”), nhưng đối với triều đình và các nhà nho chính thống nó vẹn chỉ là sự học đạo thánh hiền, các môn học khác không bị cấm thì thôi đừng mong được nâng đỡ.

Theo nho giáo, kẻ sĩ chăm lo học hỏi chỉ với mục đích cai trị dân hay ra làm quan. Cho nên “Kẻ sĩ mất chức cũng như vua chư hầu mất nước nhà ... Kẻ sĩ đối với việc ra làm quan cũng như nhà nông đối với việc cầy ruộng“ (Mạnh Tử, t.1, Ðằng Văn Công hạ, tiết 3, tr. 187). Nhưng số chức vụ có hạn mà số sĩ tử tương đối quá đông, thi cử đâm khó, lại thêm nhà vua không khỏi sử dụng quyền chuyên chế thăng cách tùy hứng, khiến cho đường quan hoạn của kẻ sĩ bấp bênh không lường. Ðể giữ vững tinh thần của họ, thuyết “xuất xử” đã được đưa ra làm qui tắc xử sự của bậc quân tử hay trượng phu đối với quan chức : đắc chí hay được thời, kẻ trượng phu phải “xuất“ (gia) tức nhập thế tham gia chính sự, ra làm quan chung sức với dân thi hành đạo nghĩa; không được thời (tình thế hỗn loạn, vua bạo ngược hoặc không biết dùng hay nghe người) hay bất đắc chí (hỏng thi, bị truất với lý do này nọ), kẻ trượng phu phải biết “xử” tức ở nhà ẩn dật mà tu thân hành đạo với riêng mình. Thuyết này dựa trên những lời răn học trò nên biết giữ chí khí không vì hoàn cảnh mà xao nhãng đạo lý của hai ông Khổng Mạnh như: “Thiên hạ hữu đạo tắc hiện, vô đạo tắc ẩn” (Luận ngữ, th. Thái bá, ch. 13, tr. 276) hay “Hữu quan thủ giả, bất đắc kỳ chức tắc khứ” (Mạnh Tử, Công Tôn Sửu hạ, tiết 5) và “Hành thiên hạ chi đại đạo, đắc chí dữ dân do chi, bất đắc chí độc hành kỳ đạo“ (Mạnh Tử, Ðằng Văn Công hạ, tiết 2).

Trong chủ quan của các nho sĩ, thuyết xuất xử biểu lộ tiết tháo của kẻ sĩ không lệ thuộc sự cất nhắc tùy tiện của nhà cầm quyền và các bài thơ tự sự của các danh sĩ đều nêu tâm chí ấy. Xét ra, thuyết đó có công giúp nhà cầm quyền nắm giữ và kiểm soát kẻ sĩ một cách hết sức tinh tế. Trước nhất nó xoa dịu lòng oán hận dễ có của kẻ tài danh không được trọng dụng, thanh cao hóa một sự kiện bất đắc dĩ, tránh sự nẩy nở óc đa tâm phản loạn đối với chính quyền. Ngay khi kẻ sĩ là một người không ham danh lợi, qui ẩn vì ghét chính trường thế tục, nó cũng có hiệu lực của một van an toàn, ru kẻ xử sĩ an phận với thú ngao du sơn thủy, không còn thì giờ và ý muốn bận tâm với các vấn đề xã hội có cơ khích động lòng bất mãn đối với chính quyền. Sau nữa, với sự biểu dương lòng trung quân (song song với đức hiếu thuận) như một lý do để xuất và đặc biệt để xử, nhà cầm quyền ngăn sự thay lòng đổi dạ của các viên chức thuộc hạ có thể vào thời biến loạn bị dụ chạy theo kẻ đối đầu họ. Khỏi nói, chính Khổng Tử không hề quyết đoán về sự xuất xử, nhiều trường hợp ông tỏ ra khó nghĩ về việc này (Luận ngữ, th. Vi Tử, ch. 5,6,7), trong khi Mạnh Tử rất uyển chuyển, để kẻ sĩ tùy nghi xuất xử miễn “giữ cho thân mình được trong sạch”, nếu cần có thể vì nhân dân đánh phạt vua vô đạo như ông Y Doãn chống vua Kiệt (Mạnh Tử, ch. Vạn Chương thượng, t. 2).

Sự ca ngợi chữ trung đúng là một phát kiến của các nhà nho phục tùng chính quyền. Hai ông Khổng Mạnh chẳng hề khen kẻ trung thành với một vua và không thờ hai vua như các nho gia sau này đề xướng, mà chỉ dặn học trò khi thờ vua nào thì nên hết lòng kính cẩn (Luận ngữ, th. Vệ Linh Công, ch. 37). Vả lại, thời hai ông, sự thay vua đổi chúa là lệ thường, chính hai ông từng chu du thiên hạ để mong không được vua này thì được vua khác vời làm quan. Nhân bàn về thái độ khác biệt của ba ông Bá Di (“chẳng phải vua mình thì chẳng phục sự, chẳng phải dân mình thì chẳng sai khiến, đời bình trị thì tấn lên làm quan, đòi loạn lạc thì lui về ẩn”), Y Doãn (“vua nào chẳng phải là vua mà mình phục sự, dân nào chẳng phải là dân mà mình sai khiến, đời bình trị cũng tấn lên làm quan, đời loạn lạc cũng chẳng bỏ chức phận”), và Liễu Hạ Huệ (“chẳng lấy làm xấu hổ mà phục sự một vua ô nhược”, vì “người vẫn là người, ta vẫn là ta”), Mạnh Tử (x. Mạnh Tử, Công Tôn Sửu thượng, tiết 2, và Vạn chương hạ, tiết 1) tôn trọng cả ba vì mỗi người một vẻ, họ có phong độ của bậc thánh nhân (thanh khiết, trọng nhiệm, ôn hòa), tuy đối với ông quan niệm trung dung thức thời của Khổng Tử (“lúc nên làm quan thì làm quan, lúc nên bỏ chức thì bỏ chức, cần làm quan lâu thì làm quan lâu, cần ra đi gấp thì ra đi gấp”) đáng phục nhất.

Thời Bắc thuộc, Hán học dưới hình thức nho học xâm nhập Việt Nam theo gót quan quân Tàu. Nhờ uy quyền của Trung quốc cùng một học thuyết vững chắc, nho học áp đảo dễ dàng nền học bản xứ (không rõ cao thấp tới đâu), nhưng gặp sự cạnh tranh của Lão học và nhất là Phật học được đồng thời truyền vào Việt Nam (có thể Phật giáo du nhập Việt Nam qua đường biển từ lâu trước). Nếu trước kia kẻ được tôn trọng là có kiến thức chắc hẳn là các thầy pháp giỏi chuyện ma thuật biết thiên văn địa lý phụ tá cho nhà vua hay tù trưởng (thần Kim Qui giúp An Dương Vương có thể là một nhân vật như vậy), kẻ sĩ từ đây là các nho sĩ, đạo sĩ và sư tăng. Ngay từ đời Hán và đặc biệt vào đời Ðường, nho học rất thịnh tại Việt Nam với một số danh sĩ có tên ghi trong sử sách như Trình Bỉnh dưới thời Tam quốc được Tôn Quyền cử làm thái phó cho thái tử, đến độ có nho sĩ thi đậu đại khoa bên Trung quốc làm đến tể tướng như Trương Công Phụ dưới đời Ðường Ðức Tông. Nhưng Lão học và Phật học lan rộng hơn nhiều nhờ sức hấp dẫn đối với quần chúng, Lão vì tính cách thần bí hợp với tín ngưỡng vật linh trong dân gian, Phật với triết thuyết từ bi siêu phàm thỏa mãn khát vọng tâm linh trong mỗi người.

Vì những người thụ huấn nho học sẵn sàng tuân theo tôn chỉ trung hiếu (đối với chính quyền tại vị) của nho giáo và phục tùng Thiên triều, các bậc anh hùng đối kháng Trung Hoa thường xuất phát từ đám người hoặc còn giữ tín ngưỡng vật linh xưa, hoặc theo Phật giáo. Cho nên thời Việt Nam tự trị trở lại cũng là thời huy hoàng của Phật Lão. Vua cuối cùng nhà Tiền Lý có tên là Lý Phật Tử (571-602), đủ thấy đạo Phật thời đó được tôn sùng ra sao. Khi lên ngôi vua, Ðinh Bộ Lĩnh (968-979) lập giai phẩm cho các sư tăng đạo sĩ, dùng cả tăng (Ngô Châu Lưu tức Khuông Việt, Ðặng Huyền Quang) lẫn đạo (Trương Ma Ni) làm quan cạnh các quan văn võ. Nhà Tiền Lê tiếp tục chính sách này. Triều Hậu Lý (1010-1225), đạo Phật phát triển mạnh nhờ các vua Lý ngoan đạo. Ðược dạy dỗ dưới cửa thiền, vua Lý Thái Tổ hết sức nâng đỡ Phật giáo, xây dựng chùa chiền, khuyến khích nhân dân làm sãi (năm 1086, cấp độ điệp cho hơn 1000 người làm tăng đạo tại Kinh sư), đặt tên thái tử là Phật Mã (Lý Thái Tông), và dĩ nhiên biệt đãi sư tăng, cho các đại sư như Vạn Hạnh ra vào thường xuyên trong cung, tham gia triều chính.

Tuy đạo Phật chỉ chú trọng đến sự giải thoát cá nhân khỏi vòng khổ não cũng như Lão giáo chỉ khuyên lánh đời với thuyết vô vi, không mấy thực tế và không dạy việc xử thế chính trị, các cao tăng đạo sĩ cố vấn cho vua quan thường là những người giỏi chữ nghĩa hiểu rộng việc đời. Không biết trước thời Hán thuộc dân Việt có chữ viết hay không, có thể họ dùng một lối chữ rằn ri như chữ Mường, nhưng sau gần ngàn năm đô hộ Tàu, chỉ mỗi sách Tàu tồn tại, kinh sách Phật truyền sang Việt Nam cũng được viết bằng tiếng Tàu nếu không bằng tiếng Phạn, sư tăng đạo sĩ muốn học đạo bắt buộc phải thông chữ Tàu tức thông nho vì nền học do người Tàu để lại là nho học. Ngược lại, tới đời Trần, do ảnh hưởng của Phật Lão, các nho sĩ Việt Nam cũng như nho sĩ nhà Ðường có tinh thần phóng khoáng không câu nệ ý hệ nho giáo. Do đó mới có sự cả nhà nho Ðào Cam Mộc lẫn nhà sư Vạn Hạnh, đều là đại thần nhà Lê, không hiềm tội bất trung ác đức, xúi Lý Công Uẩn (Thái Tổ) soán ngôi vua Lê.

Nhưng dù chính họ rất hâm mộ Phật giáo, các vua Lý ý thức sự hữu ích của một học thuyết biểu dương đức trung hiếu như nho giáo trong nỗ lực duy trì ngai vàng. Năm 1028, sau khi xuýt mất ngôi vì bị các em vây đánh, Lý Thái Tông ép triều thần hàng năm phải dự lễ thề “làm con phải có hiếu, làm tôi phải biết trung, ai bất hiếu bất trung xin quỷ thần làm tội” (lời thề ghi trong Ðại Việt sử ký toàn thư, đời Lý Thái Tông ; bản dịch của Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược – lệ thề này được tiếp tục tới cuối triều Lê). Vả lại muốn trị vị lâu dài (lần đầu tiên từ thời Bắc thuộc có một triều đại qua được hai đời vua), cần phải quy định phép tắc (Hình thư được ban năm 1041), chấn chỉnh phong tục hành chánh, tức cần đào luyện một lớp người có kiến thức để bổ nhiệm vào việc quan nha. Mà thời bấy giờ văn học được đồng nhất hóa với nho học. Cho nên để khuyến khích văn học, Lý Thánh Tông cho lập Văn miếu thờ Khổng Tử và chư hiền, cho thái tử đến đấy học (1070). Sang đời Lý Nhân Tông thì khoa cử bắt đầu được mở để lựa nhân tài cho ra làm quan (năm 1075 với khoa thi minh kinh bác sĩ và nho học tam trường). Ngoài các đại khoa còn có cuộc thi viết chữ, toán và luật (kể từ 1077) nhằm tuyển thư lại để đáp ứng nhu cầu của các cơ quan hành chánh mới được thiết lập.Vào buổi đầu sĩ tử chắc hẳn không nhiều, số thí sinh được cho đậu cũng ít, ảnh hưởng của nho sĩ trong guồng máy nhà nước do giới quý tộc thân thuộc nhà vua nắm giữ không là bao so với uy tín của các sư tăng.

Vào cuối triều Lý, dưới thời Lý Cao Tông (1175-1210), mặc dầu vẫn được triều đình che chở và sùng bái, Phật giáo dường như mất địa vị ưu việt đối với nhà cầm quyền. Khoa thi tam giáo được tổ chức lần đàu tiên năm 1195 chứng tỏ Thích đã bị đặt ngang Khổng Lão tức nho giáo đã bành trướng mạnh (cuộc thi tam giáo này cũng có thể được giải thích như một nhượng bộ của nhà cầm quyền đối với giới nho sĩ thường chê bọn mũ vàng áo thâm là hạng thất học). Trên đà phát triển, nho giáo bắt đầu ganh đua với Phật giáo : năm 1198, nghe lời thái phó Ðàm Sĩ Mông, vua cho sa thải bớt sư sãi. Sự hưng thịnh dần của nho giáo cùng sự tranh chấp giữa Nho Phật tiếp tục gắt gao hơn dưới đời Trần. Nho học được cổ súy với sự mở khoa thái học sinh năm 1232 (được đổi thành tiến sĩ năm 1347) và sự lập viện Quốc học năm 1253 rồi học đường giảng dạy tứ thư ngũ kinh. Trong khi nho sĩ được trao càng ngày càng nhiều trọng trách trong triều đình (năm 1267 chức Hành khiển là chức then chốt về chính sự cho phép bàn việc nước với vua và thân vương trong Nội mật viện, xưa nay chỉ dành cho hoạn quan, lần đầu tiên được trao cho người có học tức nho sĩ đỗ đại khoa), trừ nhà vua và các thân vương đi tu, không thấy sư tăng tham dự triều chính nữa. Sau năm 1247, là lần thứ nhì và lần cuối sách sử nhắc tới khoa thi tam giáo, có thể không còn sự bổ tăng đạo lam quan nữa.

Phật giáo rút lui khỏi chính trường nhưng không vì thế mà suy sút; vào cuối đời Trần, đạo Phật ngự trị trong dân gian. Theo lời Lê Quát ghi trên văn bia chùa Thiệu Phúc, thôn Bái, tỉnh Bắc Giang, khoảng trước 1370,“từ trong kinh thành đến ngoài châu phủ, kể cả những nơi thôn cùng ngõ hẻm, không bảo mà người ta cứ theo, không hẹn mà người ta cứ tin; hễ nơi nào có nhà ở là ắt có chùa chiền, bỏ rồi lại dựng, hỏng rồi lại sửa, số chuông trống lâu đài chiếm gần một nửa dân cư” (trong Ðại Việt sử ký toàn thư, đời Trần Nghệ Tông; bản dịch của Tuấn Nghi đăng trong “Thơ văn Lý Trần”, Hà Nội, nxb Khoa học xã hội, T.3, 1978, tr.145). Song chính sự quá sùng đạo của dân chúng và sự phung phí ngân quỹ vào việc xây cất chùa chiền kích thích sự đối lập của đám nho sĩ cho nho giáo là “chính đạo phải được phục hưng” ngược với các đạo khác là trò “dị đoan đáng phải truất bỏ” như bài văn bia chùa Khai Nghiêm do Trương Hán Siêu viết năm 1339 cho thấy (Thơ văn Lý Trần, T.2, 1988, tr. 748-9 – Ðọc bộ Thơ văn này có thể theo dõi diễn biến của cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa Nho Phật : văn chương siêu thoát đượm ý hư không dần dần nhường chỗ cho văn chương thế tục càng ngày càng sặc mùi Tàu vì đầy điển tích Tàu). Nhưng cái chính đạo mượn của Tàu, mà các nho sĩ muốn áp dụng triệt để, có nhiều điểm nghịch với truyền thống văn hóa Việt Nam (điển hình là tục nội hôn của nhà Trần) bị họ chê là “phong tục đồi bại”. Thói tôn sùng văn hóa Tàu bất chấp dân tộc tính của lớp sĩ đã bị vua Trần Minh Tông (1314-1329) cảnh cáo : “Nhà nước đã có phép tắc nhất định. Nam Bắc khác nhau, nếu nghe theo kế của kẻ học trò mặt trắng tìm đường tiến thân thì sinh ra loạn ngay“ (Ngô Sĩ Liên, Ðại Việt sử ký toàn thư, Hà Nội, 1967, T.2, tr. 145). Trí sáng suốt của nhà vua (và một số triều thần) không cầm được óc vọng ngoại gia tăng của lớp nho sĩ do chính triều đình đào tạo khi chọn nho học làm quốc học, nên năm 1370 Trần Nghệ Tông lại mất công minh định : “Triều trước dựng nước, tự có pháp độ, không theo chế độ nhà Tống, là vì Nam Bắc đều chủ nước mình, không phải noi nhau. Khoảng năm Ðại Trị, kẻ học trò mặt trắng không hiểu ý sâu xa của sự lập pháp, đem phép cũ của tổ tông thay đổi theo tục của phương Bắc cả, như về y phục nhạc chương, không thể kể hết” (ÐVSKTT, t.2, tr. 158 ).

Nhờ các vua Trần khôn ngoan, có óc rộng rãi cởi mở (Trần Minh Tông còn dặn con cái “nên xem việc làm của người đời xưa, việc gì phải thì theo, việc gì không phải thì lánh xa, không cần gì cha phải dạy” - Nên so sánh câu này với lời dụ của Lê Thánh Tông năm 1471 : “Từ nay trở đi, là con cháu ta nên biết rằng, làm ra quy chế này là do ở sự bất đắc dĩ, pháp thức một khi đã định, nên kính cẩn giữ theo, chớ cậy mình thông minh còn ví với tiên triều mà đổi lại, thành ra lật đổi điển hình, mắc tội bất hiếu”, ÐVSKTT, t.3, tr.241), thế quân bình giữa các học phái (chia nhau sự chiếu cố của các nhà quyền quí) được giữ vững khoảng một thế kỷ tới cuối đời Trần Hiến Tông (1329-1341), xui nên một không khí cạnh tranh bổ ích và một nền văn học phong phú đa dạng. Sĩ phu đời Trần có tinh thần tự do ít câu nệ hình thức và thích tìm hiểu : Chỉ đời Trần mới thấy những nhân vật thông thái như Trần Quang Khải hay Trần Nhật Duật, học cả tiếng mường mán nên dễ chiêu dụ các bộ lạc) đến trình độ dịch được sách mán sang chữ nho. Tiếc một điều là tinh thần dân tộc tự chủ của triều đình nhà Trần không đủ cao để khích lệ một nền quốc học dựa trên quốc ngữ (như triều đình Heian bên Nhật Bản ngay từ thế kỷ thứ 9), mặc dầu Nguyễn Thuyên và Nguyễn Sĩ Cố đã chứng tỏ chữ nôm có đủ điều kiện để chống đỡ một nền quốc văn phồn thịnh. Chắc hẳn có nhiều người trong chính quyền (như Hồ Quí Ly đã mạnh dạn dùng chữ nôm trong công văn) ý thức sự bất tiện của việc dùng một ngoại ngữ (khác hẳn văn phạm cũng như từ ngữ) thay vì quốc âm làm chính ngữ, nhưng nho học do chính triều đình sắp đặt từ thời dựng nước đã huấn luyện quá nhiều nho sĩ (ngay trong hoàng tộc) với một bản chất sùng nho tức sùng cả nền văn hóa Tàu đã sản xuất ra nho giáo. Không bị nhà cầm quyền thúc ép, lớp nho sĩ này không thể không theo đà bảo thủ tự nhiên, quyết duy trì Hán học.

Ngay Hồ Quý Ly, sính nôm như vậy, cũng vẫn giữ Hán học làm gốc cho các khoa thi được mở dưới triều ông. Nhiều sử gia bị lòe bởi số lớn cải tổ trong một thời gian ngắn ngủi của họ Hồ cho ông là một nhà cách mạng dân tộc. Xét kỹ đến mấy cũng không thấy tính dân tộc hay cách mạng trong mấy cải cách về thi cử va hành chánh (những sửa sang về kinh tế gồm việc ban hành tiền giấy bắt chước nhà Tống, chỉ là cách gây quĩ hầu có phương tiện chuẩn bị chiến tranh chống quân Minh không kể) của ông mà chỉ thấy sự áp dụng một số tư tưởng nho giáo được dịp bành trướng vì không còn sự cản trở của các vua Trần đa đoan : phép thi dùng văn thể cho bốn trường và bỏ bài thi ám tả chỉ là sự mô phỏng lệ nhà Nguyên thiên về hình thức gò bó ; việc làm sổ hộ và phép hạn nô nhằm hạn chế quyền lực của lớp quý tộc là một bước tiến của ý chí tập quyền của các nho gia (bấy giờ là Hoàng Hối Khanh, Nguyễn Hy Chu...) rất thù địch với chế độ phong kiến thời Lý Trần. Sự Hồ Quí Ly “dám” phê bình vài điểm trong kinh thư nho trong sách “Minh đạo” do ông soạn năm 1392 nếu chứng tỏ tính độc lập của ông đối với nho học, cũng thể hiện óc nặng nho (dù là nho không hoàn toàn chính thống, theo gương Vương An Thạch) cùng lòng tự phụ về sự thông nho của ông (hiện rõ trong thái độ khinh mạn của ông đối với những nho sĩ thủ cựu). Lại nữa, tính chuyên chính của ông (sẵn sàng giết hại những kẻ hơi ho he đối lập) có tác động dung dưỡng óc phục tùng sẵn có của lớp sĩ khiến họ thêm thụ động và bảo thủ.

Các tác giả cũng thường kêu họ Hồ thất bại vì không được giới quan liêu vẫn trung thành với nhà Trần và nhân dân ủng hộ bởi coi ông như một gian thần tiếm nghịch. Thật ra có thể họ Hồ bị ghét vì gây nhiều xáo trộn với các cải cách liên tiếp, nhưng sự thất bại của họ chỉ có nguyên do là sự kém tài quân sự. Còn thì, cũng như thời đầu Trần dân chúng chẳng buồn oán vua Trần thoán ngôi nhà Lý, ít ai để ý (nếu chống đối đã bị giết rồi) đến chuyện nhà Hồ với nhà Trần. Vả lại đến như cha con Nguyễn Trãi thuộc gia tộc nhà Trần mà còn chẳng ngượng ra làm quan với kẻ đã tàn sát gần toàn thể họ ngoại mình (vụ giết quí tộc năm 1399), huống hồ chi dân thường. Như Lê Quí Ðôn có than trong “Kiến văn tiểu lục” (Sài Gòn, Bộ giáo dục, 1964, t.2, q.5, Tài phẩm) số cao sĩ biết giữ tiết tháo dám can vua và bỏ quan về ẩn thời Trần (cũng như sau này) chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Ngay trong những vị được ông kể tên chỉ Chu Văn An vì không xin được đầu 7 kẻ nịnh thần với Trần Dụ Tông bèn bỏ về Chí Linh, và Lý Tử Cấu nhất định từ chối quan tước của họ Hồ, thực có khí phách mà thôi. Tính nhút nhát cầu vinh của giới nho sĩ nếu chỉ nằm ở sự qui thuận nhà Hồ cũng vô thưởng vô phạt, nhưng nhục nhã là khi quân Minh thắng đuổi nhà Hồ (rất dễ dàng vì họ Hồ là một kẻ võ rát, chỉ biết chạy khi chạm chán với quân Chiêm năm 1389 hay quân Minh năm 1407, đã thế lại không có tướng giỏi, mấy tướng lão thành thuộc lớp quí tộc nhà Trần như Trần Khát Chân đã bị giết hại cả), đặt nền đô hộ trên nước ta, các nho sĩ từng làm quan cho nhà Trần và nhà Hồ không ngại đua nhau ra ứng thí vào những kỳ thi lấy nhân sĩ đưa về làm quan bên Tàu. Theo Lê Quý Ðôn (tr. sách trên) chỉ có vài người như ông Lý Tử Cấu và Bùi Ứng Ðẩu từ chối không ra thi. Mà những sĩ nhân ra thi hay làm quan với nhà Minh, nếu không có hành vi bợ đỡ quá trớn quân Tàu, chẳng lo bị giết phạt khi Việt Nam tự trị trở lại, vì họ thừa biết dưới triều nào kẻ có học chịu phục tùng cũng có chỗ đứng, như sắc lệnh năm 1429 vài tháng sau khi Lê Thái Tổ lên ngôi minh chứng : “Phàm những người văn võ hào kiệt, hoặc bị bỏ sót trẩm trệ, không có chức tước, không ai tiến cử, vì thù hằn mà bị đè nén che giấu thì đến ngay chỗ thiếu phó Lê Văn Linh mà tự tiến, xét ra thực có tài đức thì tâu trình đẻ cất dùng, không kể là ngụy quan hay là sĩ thứ, lấy tài đức (đức đây phải hiểu là qui phục tân triều) là hơn” (ÐVSKTT, T. 3, tr. 69-70). Với tinh thần xu thời của sĩ phu Việt Nam lúc đó, dễ hiểu tại sao họ hân hoan đón nhận lối học nhồi sọ của Tống nho do quân Tàu du nhập.

Tống nho là chữ dùng dưới nhà Thanh để chỉ học thuyết nho dưới hình thức hoàn chỉnh và hệ thống hóa nhờ sự đóng góp của các nho gia đời Tống (Chu Liêm Khê, Thiệu Khang Tiết, Trương Hoành Cư, Trình Minh Ðạo, Trình Y Xuyên, và đặc biệt Chu Hy, là người đúc kết lại thành hệ các thuyết). Nó không phải là một mớ học dốt rỗng theo lời những người bài bác nó, mà là kết tinh của ba tư tưởng Nho Thích Lão do sự sáp nhập của phần lý và siêu hình trong Phật học và Lão học vào Nho học (xem Nguyễn Ðăng Thục, Lịch sử triết học phương Ðông, Sài Gòn, nxb Thành phố HCM, 1991, T. 5). Nhờ sự bao gồm này, nho học không còn chỉ là một luân lý xã hội mà trở thành một triết thuyết có mạch lạc quán triệt mọi khía cạnh đời sống con người. Nhưng cũng như mọi thuyết hoàn bị, có câu trả lời đáp sẵn mọi thắc mắc, nó là đầu mối cho sự tắt cạn tư tưởng của những ai chỉ biết có nó, và dễ biến từ một cái học phong phú thành một cái học giáo điều, tự tôn mình là chân chính và bác các học thuyết khác (dù chỉ hơi khác) như tà hoặc ngụy thuyết. Huỳnh Thúc Kháng có viết một bài rất hăng và tha thiết về sự tệ hại của Tống nho (dưới đề “Lối học khoa cử và lối học của Tống nho có phải là học đạo Khổng Mạnh không?”, đăng trên báo Tiếng Dân, in lại tr. Phan Bội Châu, Khổng học đăng, Houston, Xuân Thu, ?, tr.774-787, và tr. Chương Thâu, Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, Ðà Nẵng, nxb Ðà Nẵng, 1989, tr. 292-312), nhưng ông chỉ biết than về sự hấp thụ Tống nho bởi sĩ phu Việt Nam mà không hỏi tại sao họ lại nồng nhiệt hay ngoan ngoãn đón nhận lối học đó để rồi từ trên xuống dưới trong hàng thế kỷ, tới tận thời Pháp thuộc, không mấy ai lên tiếng đả kích nó.

Vì sao Tống nho gặp sự hưởng ứng của sĩ phu Việt Nam, lý do bề ngoài (sự áp đặt bởi nhà cầm quyền Minh rồi Lê và óc phục tùng của sĩ nhân Việt Nam) đã thấy ở trên. Nhưng sâu hơn là sức quyến rũ tự muôn thuở của quyền lực đối với lớp sĩ. Khổng Tử cũng như Mạnh Tử đều mặc nhận quyền lực (làm quan, cai trị kẻ khác) là mục đích của kẻ sĩ, nên triết học của hai ông cốt rèn kẻ sĩ biết giữ lòng nhân và làm điều nghĩa khi quyền vào tay; đồng thời vì kẻ sĩ ít khi là kẻ nắm quyền tối cao, hai ông cũng mách nước cho kẻ sĩ khéo ăn khéo ở để bảo toàn chức vụ và tính mệnh, kiểu như :“Người quân tử làm cho dân tin rồi sau mới khiến dân làm việc khó nhọc, nếu dân chưa tin thì cho là làm hại mình. Ðối với người trên có được lòng tin rồi sau mới khuyên can; nếu người trên chưa tin thì cho là hủy báng mình” (Luận ngữ, th. Tử Trương, ch. 11). Hai ông mong học trò luyện lấy những đức hiếu, tín, liêm, sỉ, vv. nhưng hai ông cũng biết đấy là những đức tính mơ tưởng (trên cả ngàn học trò trực tiếp của Khổng Tử, chỉ vài người vừa lòng ông) hiếm thấy nơi kẻ sĩ ngoài thực tế. Và sau này những châm ngôn điển tích mà các nho gia sưu tập để giáo dục học trò tuy nhắc đến những đức tính ấy, hầu hết là những công thức xử sự thực tiễn (chớ khoe khoang, chớ hấp tấp, chớ lộ ý, chớ ăn hối lộ, vv.) chú trọng vào tính cẩn mật, rất xa tính quảng đại vị tha của đức nhân hay tính cao thượng của đức nghĩa (xem Lê Quí Ðôn, Vân đài loại ngữ, q.8, Sĩ qui, do Tạ Quang Phát dịch, Sài Gòn, Phủ QVKFT Văn hóa, 1973 - và Lê Quí Ðôn,Kiến văn tiểu lục, q. 1, Châm cảnh, do Lê Mạnh Liêu dịch, Sài Gòn, Bộ QGGD, 1962).

Với Tống nho, trước nhất nho giáo bước lên địa vị độc tôn, các nho sĩ không còn sợ sự cạnh tranh của các sư tăng đạo sĩ bị gán tội “làm mê hoặc chúng sinh”, “làm cho hư nát đạo thường, hao phí tiền của“ (theo văn Trương Hán Siêu trong bài ký tháp Linh Tế, núi Dục Thúy - Thơ văn Lý Trần, t.2, tr.754). Một trong những lệnh đầu tiên của Lê Thái Tổ (tháng 3 và 12/1429) là kiểm soát và hạn chế số tăng đạo, bắt họ phải thi kinh điển, có trúng thì mới được cấp giấy (độ điệp) cho phép tu hành (chứ không phải để làm quan như xưa kia), nếu trượt phải hoàn tục. Bộ luật triều Lê được ban bố sau đó (1430) cấm tự tiện in và bán sách Phật Lão cũng như xây chùa chiền, và ấn định chỉ người trên 50 tuổi mới được cấp giấy phép cho làm tăng đạo, không có giấy phép không được tu, mà tu rồi còn ham thói tục (ăn mặn, uống rượu, thông dâm) thì bị sung quân hay tội đồ (điều 215,288, 289 trong bản “Quốc triều hình luật”, Hà Nội, nxb Pháp lý, 1991).

Kế tiếp, khoa cử, dựa trên một mớ sách chính thức có hạn, trở thành lối tuyển quan lại gần như (vì vẫn còn ngoại lệ vua cất nhắc gia thần, và lệ bảo cử để vớt những nhân tài bị bỏ sót, thêm thỉnh thoảng triều đình muốn gây quỹ sẵn sàng bán chức vụ nhỏ cho dân giàu có dù thất học – tục bán chức tước có từ triều Lý, chứ không phải chỉ vào thời Lê Trung hưng - x. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Hà Nội, nxb Sử học, t.2, Quan chức chí) độc nhất. Tất nhiên sự học và dạy học (chỉ cần chú trọng vào một ít kinh điển, không cần hiểu sâu xa –dần dà kể từ thời Lê Trung hưng bài mẫu theo những đề thi có thể ra được đưa cho học trò học thuộc lòng, bữa thi trúng tủ cứ thế viết ra là có nhiều hy vọng đậu) đâm dễ hơn và số sĩ tử được chấm đậu tức sẽ có quan chức bổng lộc đông hơn. Số quan chức dành cho sĩ tử cao hơn nhiều con số suy ra từ số người đậu tiến sĩ (trung bình khoảng 5 người một năm kể từ đời Trần đến cuối đời Nguyễn) và cử nhân hay tứ trường (khoảng mười lần lớn hơn), vì các nho sinh qua được các cuộc thi khảo hạch tiên quyết tại phủ huyện và những người chỉ đỗ tam trường (cả 1000 người mỗi khoa) cũng được bổ dụng (vào các chức nhỏ cho tới tri huyện). Thêm vào những người chỉ cần biết viết và làm tính có thể được tuyển vào hàng thư lại, có thể nói thời xưa kẻ đi học (cả nước chỉ có từ 3000 đến nhiều nhất hơn 10 000 dưới cuối triều Nguyễn đọc và viết thạo chữ nho, dám đi thi) có may có công ăn việc làm hợp với bằng cấp hơn học sinh sinh viên ngày nay. Các chức vụ quan trọng trong nước hầu như nằm trong tay kẻ sĩ, về văn cũng như võ (theo một lý tưởng nho giáo được Vương An Thạch đời Tống đề cao, kẻ sĩ kiêm toàn phải biết cả văn lẫn võ; cho nên sách sử cho thấy rất nhiều nhân vật đương làm quan văn bỗng đổi sang ngạch võ hay ngược lại). Các chính sách, luật lệ, sắc dụ, tiếng gọi là của vua, thật ra do đám triều thần đề nghị và soạn thảo.

Dĩ nhiên, nho sĩ trong triều gặp sự cạnh tranh của lớp vương hầu trong hoàng tộc, nhưng so với thời phong kiến Lý Trần, sứ cạnh tranh ấy giảm đi nhiều. Nhờ ý hệ nho giáo cho tài đức cá nhân (chọn qua thi cử) là trọng, các vương tôn công tử không được truyền y chức của cha, chỉ được tập tước, tập ấm (được cho giữ quan tước nhưng kém dần mỗi đời), phải có công riêng mới được thăng thưởng.Thân nhân nhà vua chỉ được lĩnh bổng lộc cao nhưng không được phong thái ấp nữa, và cũng không được dự triều chính nếu không có tài cán đặc biệt.

Nho sĩ có quyền tức có lợi. Ngay những học trò chưa đỗ đạt gì nhưng có quan khảo hạch chứng nhận là thông chữ nghĩa, đã được hưởng lộc vì được miễn thuế thân lại không phải đi lính. Có quan chức, là có lương bổng (từ 6 đến 92 quan thời Hồng Ðức, chưa kể sự miễn thuế và điền sản). Quan niệm chung của các tác giả là lương lậu của các quan quá ít, nhiều danh sĩ (như Ngô Thời Sĩ với bài “văn trách con ma nghèo”) có thơ văn than nghèo (bởi liêm khiết hay không có quan chức), nhưng nghèo giàu là một sự tương đối, trong một xã hội chậm tiến, thường dân bị đánh mỗi năm hơn 1 quan tiền thuế mà còn không trả nổi, làm việc lam lũ mà không đủ ăn, đám nho sĩ không chịu thuế, không phải làm việc nặng nhọc, có ăn có mặc, có sách, có trà, là sung túc rồi, nếu còn than nghèo là so với người ngang hàng quyền quí.

Sau rốt, luân lý Tống nho không cốt ở tâm mà ở hình thức. Với sáo văn và hành vi hợp thức kẻ sĩ có thể tự đắc về đức hạnh của mình. Ăn ở trong gia đình sao không có tai tiếng và cử hành tang lễ đúng phép là được coi như kẻ hiếu đễ (có đạo đức theo nho giáo), ý tứ trong lòng ra sao không ai cần biết. Dưới nghi thức lễ mễ tỏ lòng tôn kính, kẻ sĩ che đậy dễ dàng sự khúm núm sợ sệt của mình trước kẻ có quyền thế. Thái độ phục tùng, lời lẽ khiêm cung, nếu không xu nịnh, thay thế cho chữ trung, một chữ trung co rãn tùy theo tư cách của mỗi người. Từ nghĩa rộng như trong bài “Minh quán Trung Tân” của Nguyễn Bỉnh Khiêm (“Còn như biết trung với vua, kính người huynh trưởng, hòa thuận với anh em vợ chồng, giữ điều tín với bè bạn, tức là trung đó. Thấy tiền tài mà không tham lam, thấy lợi mà không tranh giành, thích làm việc thiện để dạy người, đem tấm lòng thành để xử thế, cũng là trung đó” – tr. Hoàng Việt văn tuyển, Nguyễn Ðình Diệm dịch, Sài Gòn, PQVKDT Văn hóa, 1971, t.2, tr. 130), đến nghĩa hẹp là một lòng một dạ với người nâng đỡ ban ơn cho mình (như trong bài tạ của một bác sĩ trường Quốc tử giám nhà Lê : “chỉ biết lòng trung giữ vững, nhớ ơn thánh chúa sáng soi”- tr. Hoàng Việt văn tuyển, t.3, tr.170), đức trung được gán cho cả những quan thờ hai “thánh thượng”, cả vua lẫn chúa (thời Trịnh), hay cho kẻ vì vua rước giặc dầy xéo nước nhà (như Bùi Bá Kỳ, hai lần vì vua sang Tàu rước quân Minh sang đuổi nhà Hồ và nhà Mạc, được Lê Quí Ðôn khen là kẻ đại trung (Kiến văn tiểu lục, t.2, tr. 34).

Chữ trung eo hẹp không bó buộc phải đi với chữ liêm chữ sỉ vì nhà vua sẵn sàng dung túng kẻ tiểu nhân để đổi lấy lòng phụng thờ của họ : Ông vua nho sĩ Lê Thánh Tông coi nhẹ sự ăn của lót (đùa cợt với Vũ Hữu về tính thích ăn hối lộ của ông ta – x. ÐVSKTT, t.3, tr.219), gạt bỏ những vụ tố cáo triều thần không thanh liêm như năm 1464 với lời lẽ rằng : “Khoảng năm Thái hòa Diên ninh, trên thì tể tướng, dưới đến các quan, mưu lợi lẫn nhau, bừa bãi hối lộ, ngươi (thiêm đô ngự sử Nguyễn Thiện) bảo Nguyễn Ðình Mỹ là kẻ tiểu nhân, không nên tin dùng. Trẫm lên ngôi báu đến nay 5 năm, Ðình Mỹ bôn tẩu phục vụ, hết lòng hết sức, khi trước là nịnh hót về sau là lương thiện, có hại gì đâu?...” . Nho giáo, đặc biệt dưới hình thức Tống nho, sở dĩ thích hợp với nhà cầm quyền, không phải vì những nét cao đẹp nó đòi hỏi nơi kẻ sĩ, mà vì thuyết trung hiếu bắt toàn dân thờ vua như thờ cha mẹ, khiến kẻ sĩ coi quan chức như ơn mưa móc vua ban. Với thuyết trung hiếu, nhu cầu một lớp phụ tá thừa hành trung thành dễ bảo được đáp ứng. Lại nữa, nhờ qui mọi mối về ngôi vua, sánh vua với ông trời trong vũ trụ, nho giáo ăn khớp với ý chí tập quyền và củng cố quyền lực của nhà vua kể từ triều Lê. Trong bối cảnh của một sự đồng lõa giữa nho giáo và quyền lực, vẫn còn nho sĩ lo giữ tiết tháo, thanh liêm thẳng thắn, như Vũ Tụ thời Lê Thánh Tông hay Ngô Tuấn Kiệt thời Lê Chiêu Tông (ghi trong Lê Quí Ðôn, Kiến văn tiểu lục, t.2, tr.28) nhưng số người như vậy rất hiếm và ngoại lệ.

Sự phù hợp quyền lợi giữa sĩ phu và vương quyền kể từ triều Lê đưa đến sự áp đặt trên Việt Nam một chế độ chuyên chế dựa trên nho giáo kéo dài khoảng sáu thế kỷ, tới cuối triều Nguyễn (dấu ngoặc Tây Sơn không mang lại thay đổi gì trong thể chế). Nhờ Lê Thái Tổ, sĩ phu Việt Nam đã đạt được tham vọng nắm giữ guồng máy chính quyền, thực hiện cái thiên hướng cai trị của kẻ sĩ do Mạnh Tử đề xướng. Nhưng sự mãn nguyện của họ đã được trả bằng một sự tha hóa chưa từng thấy trong lịch sử thế giới : trong khi cũng bị ảnh hưởng bởi văn hóa Tàu, Nhật Bản có quốc ngữ từ thế kỷ 12 và Cao Ly từ thế kỷ 15, khởi nguồn cho nước họ một nền văn hóa độc đáo (cũng như bên Âu Châu, vào cuối thời Trung cổ, các quốc gia ngưng sử dụng la-tinh để trở về với một ngôn ngữ bản xứ toàn dân hiểu được), tại Việt Nam, tới thế kỷ 19, các cụ đồ nho vẫn khăng khăng coi Hán ngữ là “quốc văn”, đáng quí trọng hơn chữ nôm chỉ là “quốc âm”. Nội dung cái học mà kẻ sĩ Việt Nam tự hào thông hiểu và vin vào đó để cai trị dân vỏn vẹn là cách viết văn Tàu, một triết thuyết sơ lược của Tàu và lịch sử Tàu tới đời Tống (năm 1823 Minh Mạng tính nới sử Tàu tới triều Minh Thanh nhưng rồi bỏ qua). Lê Thái Tổ cũng như Gia Long, khi tái lập thiết chế, cho toa rập gần y nguyên thể chế Minh Thanh, tin tưởng mình giáo hóa dân chúng khi ép dân chúng chấp nhận phong tục và văn hóa nước ngoài. Quân Tàu bị nhà Lê đánh đuổi, nhưng nhờ nhà Lê văn hóa Tàu đại thắng Việt Nam, trói sĩ phu Việt Nam bằng một chuỗi xiềng xích vô hình đến giờ chưa phá gỡ nổi.

Tự ru mình trong sự tự mãn (lời tự tán dương đầy rẫy trong văn chương Việt Nam, nhất là trong công văn) vua quan triều Nguyễn không để ý đến mối nguy từ phương Tây tới, mặc dầu từ thời Gia Long quần thần đã biết sự hiện hữu và thế lực của các quốc gia Tây phương. Trước khi quân Pháp chiếm đóng miền Nam, sĩ phu quá chịu ảnh hưởng của nho học, không biết (hay dám) tố cáo sự hủ lậu của nó. Ngay Cao Bá Quát, bất mãn với chế độ đến nỗi nổi loạn chống triều đình, cũng chỉ tỏ ý thức trong vài câu thơ như : “Từ vượt bể qua Ba Sơn đất mới, Bừng mắt trông ôi sáu cõi mênh mang ! Rõ trò chơi tự trước chuyện văn chương.” (trong bài “Ðề sau khúc Yên Ðài anh ngữ của ông đô sát họ Bùi”, Hoàng Tảo dịch, tr. Thơ văn Cao Bá Quát, Hà Nội, nxb Văn học, 1984, tr. 171). Phải đợi năm 1867 mới thấy một Nguyễn Trường Tộ mạnh dạn lên án cái học ngược đời “chân không đi đến, mắt không trông thấy” (trong “Tế cấp bát điều” - x. Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo, Sài Gòn, nxb Thành phố HCM, 1988, tr. 249) của nho giáo, dạy học trò chuyện xưa của Trung quốc trong khi việc làm phải theo nước Việt ngày nay. Song, dù lớp sĩ có nhận thức được sự tệ hại của cái học từ chương vay mượn, quán tính của họ, do áp lực vun xới của nhà cầm quyền chuyên chế không dung thứ sự phản biện (nói chi đến sự đối lập) và của nho giáo khuyên họ trung cẩn, thúc họ thụ động trì hoãn mọi cải tổ để tránh phiền phức. Lòng sốt sắng của vài thức giả không lay chuyển nổi sức trơ ì đó.

Cuộc đô hộ Pháp, tuy nhục nhã cho đất nước, ít nhất có lợi ích làm lung lay niềm tin cứng nhắc của lớp sĩ, khiến họ đặt cái học và bản thân thành vấn đề. Sau sự tự xét đau đớn các sĩ phu đã đoạn tuyệt hẳn với nho học, quyết chạy theo tân học Tây phương, nhưng muốn cứu vớt nho giáo bằng cách quay về nguyên lý Khổng Mạnh, định nghĩa lại những từ như trung tiết khí khái xưa nay vẫn là căn bản của lòng tự kiêu của nho sĩ. Trung không còn là trung với vua chúa hay triều đại, mà là trung với nước, cho nên đặc tính của kẻ sĩ xứng với cái danh sĩ trở thành lòng yêu nước (“dựng cái tiếng nước độc lập, đấy là trách nhiệm của người đức sĩ vậy ... kêu linh hồn yêu nước về, đấy là trách nhiệm của người chí sĩ vậy”, theo Phan Bội Châu trong “Hòa lệ cống ngôn“ - x. Thơ văn Phan Bội Châu, Hà Nội, nxb Văn học, 1985, tr. 80). Vì bị đánh giá bằng lòng yêu nước, dù chọn thái độ đối kháng hay cộng tác với Pháp, sĩ nhân (cũng được chỉ bằng danh từ “trí thức” mới đặt, thích hợp hơn vì không gắn bó với nho học) nào cũng lấy nó để giải thích thái độ của mình. Chẳng bao lâu, chút bột phát lương tâm do cái nhục mất nước gợi lên nhường chỗ cho một sự mù quáng mới bắt nguồn từ một lòng yêu nước tự tôn tự mãn, coi đường lối yêu nước của mình là chính đáng nhất và phủ nhận lòng yêu nước của kẻ khác, với kết quả là một cuộc nội chiến hại nước hại dân vô tiền khoáng hậu.

Trí thức Việt Nam sở dĩ dễ lăn vào vết cũ cũng tại không triệt để tự đặt

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Người lính, người tù và kẻ tha hương
trong tác phẩm Thảo Trường


Nhân ngày ra đi của nhà văn Thảo Trường
“Phải luôn luôn nhớ rằng hãy quên đi tất cả!” (Thảo Trường)


Huy Phương
Những ai chưa đọc Thảo Trường sẽ không hiểu nhan đề cuốn sách này: “Những Miểng Vụn của Tiểu Thuyết.” Theo Thảo Trường thì những miểng vụn đó là những mảnh từ pho tượng khổ nạn của cuộc đời ông, đó cũng là những chất liệu dùng để viết một truyện dài, nhưng ông đã đem dùng hết vào trong những truyện ngắn, và tác giả cho đó là một thất bại lớn của đời viết văn của mình.

Theo tôi, nhà văn Thảo Trường chưa hề thất bại.

Thảo Trường cũng nói rằng ông “cố nhét cả cuộc chiến Việt Nam vào trong một chuyện ngắn,” thì điều này chúng ta lại thấy ông đã thành công.

Chúng tôi, người đọc qua những mảnh vụn mà ông đã khiêm nhường nói đến, đã hình dung được toàn bộ của đời người, một người Việt Nam qua những khổ đau, tàn khốc của lịch sử. Chính là ông, chứ không phải ai hết, thể hiện bằng một nhân vật nào đó trong tiểu thuyết, một nhân vật rất thực không hề được hư cấu đã đi suốt qua ba giai đoạn của một đời người:

- Giai đoạn thứ nhất của một người lính, dù đó là ông chuẩn úy tò te trấn đóng giữ một làng Thượng hay một vị thiếu úy nhảy toán xuống đất địch...

- Giai đoạn thứ hai nói về một người tù không bản án, người tù từ lúc còn sức lực 37 tuổi cho đến khi được gọi là “bác tù già” sau hơn 16 năm bị giam cầm.

- Giai đoạn thứ ba là sự trở về và trôi giạt của một ông già lưu vong đến xứ người, dù là ông già đi lượm lon ở vùng đầm lầy Bolsa Chica, hay là ông già được gia đình cho đi rong chơi trên không phận Grand Canyon bằng trực thăng, thì vẫn là một ông già luôn ám ảnh bởi quá khứ, qua những giấc mơ, những ý tưởng bất chợt không bao giờ dứt bỏ đi được.

Ba giai đoạn này nối tiếp lẫn lộn vào nhau, là một cuốn tiểu thuyết dài rồi, một cuốn tiểu thuyết về con người trong chiến tranh tàn khốc, và cả trong cả hòa bình áp bức. Nếu ai muốn hiểu được con người Việt Nam đó trong bối cảnh chiến tranh và hòa bình qua một giai đoạn dài từ năm 1945 đến 1990, sẽ tìm thấy trong các tác phẩm của Thảo Trường.

Ðọc “Những Miểng Vụn của Tiểu Thuyết” chúng ta thấy rõ chân dung của Thảo Trường trên từng trang một.

Về giai đoạn của một người lính, là những cái chết bất chợt và vô lý, về cái sống và những cuộc tình trong thời loạn. “Viên Ðạn Bắn Vào Nhà Thục” viết sau trận Mậu Thân ở Saigon hay “Người Ðàn Bà Mang Thai Trên Kinh Ðồng Tháp” viết trong thời gian Thảo Trường đang lặn lội tại Vùng 4 Chiến thuật là những chuyện rất nổi tiếng trước năm 1975, đã đưa tên tuổi Thảo Trường đến gần với người đọc, người đọc đang sống trong không khí chiến tranh mỗi ngày. Những câu chuyện như thấm sâu vào lòng người những điều phi lý, xót xa của những con người trong chiến tranh. Thấy bùi ngùi cảm nhận mà không giải thích được lý do.

Chia sẻ nỗi bất hạnh miền Nam là giai đoạn người lính buông súng để vào nhà tù, dưới danh nghĩa là những “trại học tập cải tạo” mọc lên như nấm tại hai miền Nam Bắc của đất nước. Những trang sách viết về những hoạt cảnh trong nhà tù Cộng Sản của người tù 16 năm hơn là những trang sách hấp dẫn người đọc nhất. Nếu quý vị đã ở tù Cộng Sản, đã thấy nhưng hành động, đã nghe những ngôn ngữ trong nhà tù thì đây là những trang sách gần gũi nhất, nếu quý vị ở ngoài vòng cương tỏa, đứng bên lề cuộc chiến, thì lại càng nên đọc. Cũng là loại tù đó chúng ta đã đọc Bùi Ngọc Tấn, Vũ Thư Hiên... nhưng chỉ ở Thảo Trường chúng ta mới nhận thấy những nghịch lý, những xót xa, những ngôn ngữ, những nét khôi hài của cái gọi là tù “cải tạo.” Phải chăng sự cách biệt giữa “tù trong” và “tù ngoài” dưới chế độ CS không khác nhau cho lắm, nhưng dưới con mắt của một người tù từ miền Nam được áp giải ra Bắc thì đây là một vở bi hài kịch gây những ấn tượng rất khó phai mờ.

Có cái gì nhân bản hơn chuyện “Con Bò,” trong cái đói khát tận cùng của người tù mà không ai đám đụng đến miếng thịt bò của trại phát ra. Có gì xót xa hơn, một ông chánh án quyền cao chức trọng của miền Nam , đã bị kết án, cùm trong hang vì bị kết tội là ăn cắp mấy tảng đường của một người bạn tù nhỏ.

Một chuyện trong nhà tù của Thảo Trường mà gần đây nhiều trang báo trích dẫn và phê bình là chuyện “Những Ðứa Trẻ Ðầu Thai Giữa Hàng Rào” nói về một bà tù hình sự muốn có một đứa con, và đã thông đồng với một tù hình sự nam ra giữ hàng rào ngăn cách giữa hai khu tù nam và tù nữ, (chắc chắn là hàng rào kẽm gai) để đánh mạnh, đánh mau và “bụp.” Sau đó vì người nữ tù hình sự này muốn giữ cái thai nên đã chịu những trận đòn khốc liệt của bọn cai tù. Vai chính của truyện này là người đàn bà tù hình sự mang thai, chứ không phải là đứa trẻ. Ðáng lẽ ra chuyện này ông Thảo Trường phải đặt tựa là “Người Ðàn Bà Mang Thai Giữa Hàng Rào Dây Thép Gai” mới đúng, nhưng có lẽ Thảo Trường đã có một chuyện “Người Ðàn Bà Mang Thai Trên Kinh Ðồng Tháp” rồi, sợ truyện của ông có nhiều người đàn bà mang thai quá, nên ông phải đặt tên trệch đi chăng?

Nếu ai đã sống qua những trại tù ở miền Bắc, đã gần các trại tù hình sự thì mới thấy cái ghê tởm của CS trong việc điều hành các trại tù này. Các ông tù cải tạo nói khổ, nhưng cái khổ còn đứng được hai chân, còn cái khổ của người tù hình sự ở miền Bắc là cái khổ phải bò lết như một con chó ghẻ.

Những điều Thảo Trường viết trong tập truyện này có thật hay không? Ðến đây tôi xin nhắc lại mấy dòng viết tâm tình của Thảo Trường: “Xã hội tan rã đến nỗi cái gì cũng có thể có và cái gì cũng có thể không? Cái gì cũng thật, cái gì cũng giả.” Nhưng vậy câu chuyện ở trong “Ðá Mục” sau đây có lẽ là một câu chuyện thật, một chuyện vui khiến ai đọc cũng phải bật cười. Một bác già tù có nhiệm vụ giữ chuồng heo, trong đó có một con heo giống tức là heo nọc. Sau một lần gieo giống vất vả, bà “cán bộ gái” mới giao cho bác tù già hai quả trứng gà nói là “để bồi dưỡng.” Bác tù già này rất cảm động, có lẽ trong lòng bác đã nghĩ đến hai chữ “tình người,” bác đun nước và thưởng thức rất tận tình hai quả trứng. Khi bà cán bộ trở lại, hỏi đã đập hai quả trứng vào máng để bồi dưỡng cho con heo nọc chưa, thì bác mới thú nhận là đã xơi hai quả trứng vì cứ nghĩ là bà cán bộ đã bồi dưỡng cho bác. Kết quả là bà cán bộ đã nổi trận lôi đình và mắng nhiếc bác tù già: “Nó nhảy, chứ anh có làm gì đâu...mà bồi dưỡng?” “Anh tranh ăn của nó là anh bốc lột nó. Các anh bốc lột của nhân dân quen rồi, bây giờ lại bốc lột của lợn nữa!” Cũng vì nhận lầm hai quả trứng gà “bồi dưỡng” mà bác tù già phải trở về đội nông nghiệp, để lại tìm “chỗ dựa vững chắc” là cây cuốc. Nếu không có giai đoạn tù “cải tạo,” (tôi xin bỏ hai chữ này vào dấu ngoặc), làm sao Thảo Trường có thể dựng nên chuyện “Những Ðứa Trẻ Ðầu Thai Giữa Hàng Rào” một chuyện rất người mà cũng rất khốn nạn chỉ có thể xẩy ra trong nhà tù CS hay “Tiếng Thì Thầm Trong Bụi Tre Gai” nói đến cái chết oan khuất của một người tù binh trẻ tuổi.

Giai đoạn cuối cùng của cuộc đời chính là giai đoạn bác tù già đang lưu vong nơi chốn này. Giai đoạn của ray rứt, của hồi tưởng. Thảo Trưởng đã luôn luôn nhủ người và tự nhủ mình: “Phải luôn luôn nhớ rằng hãy quên đi tất cả!” nhưng trong một phần ba cuộc đời còn lại, lúc mê lúc tỉnh, Thảo Trường lại không thể quên. Ðó là nỗi ám ảnh khôn nguôi của quãng đời tù đã để lại trong tâm hồn tác giả những ấn tượng buồn rầu và sợ hãi. Ðang ở Mỹ, chuyện “Trong Hẻm” khi tác giả dọn về ở, con hẻm cụt chỉ có một lối ra, thì ông nói: “Việt Cộng chốt đầu ngõ thì hết đường thoát.” Trong “Ðá Mục,” đi băng qua đường thì ông viết “chần chờ nó mà tóm được thì đi học tập cải tạo mút mùa...”

Sự liên tưởng này luôn luôn hiện ra rất đậm nét. Thảo Trường có quên không, trong khi bọn chúng đang kêu gọi xóa bỏ hận thù, hãy quên quá khứ. Thảo Trường không quên, ông đã chửi: “Bố tiên sư nhà nó... Ðéo mẹ nó... Cha tiên sư nhà nó cách mạng... Bố tiên sư nhà nó Ðồng Minh,” nghĩa là chửi cả Việt Cộng, chửi cả Mỹ. Thảo Trường có căm thù không? Thưa có.

Nhà văn Thảo Trường, lác đác trong cuốn “Những Miểng Vụn của Tiểu thuyết” đã có những định nghĩa mà tôi rất thích như ông nói: “Cách mạng là đi giựt lại cái mà mình thèm muốn và thiếu thốn,” “Cả hai phía, tất cả ai nghiêm chỉnh tuân lệnh đều bị thiệt thòi như nhau,” ông còn nói: “Chúng ta đã phạm nhiều sai lầm liên tiếp, đó là thua trận, sa cơ mà không biết tự xử, để CS bắt vào tù, ở tù mà còn sống và bị thả ra và đi nước ngoài...” Nhưng ông lại có một định nghĩa rất táo bạo, câu đó ở trang 282: “Ở đàn bà quý nhất là sự đần độn!”

Nhưng Thảo Trường lại cho rằng mình đã mất hết, niềm nương tựa cuối cùng và nơi trở về là gia đình:

“Chúng ta là những tù binh vô thừa nhận.
chúng ta không còn tổ quốc
không còn chế độ
không còn đồng minh
chúng ta chỉ còn gia đình.”

Ông Thảo Trường đừng quên rằng ông còn có anh em, còn có những người yêu quý ông đến với ông, với tác phẩm của ông.

Nhà văn Thảo Trường đã thú nhận, ông có tham vọng nhốt cả cuộc chiến VN vào trong một truyện ngắn. Ngắn thì không ngắn, nhưng những chuyện vừa như “Từ Dưới Ðỉnh Ðồi Nhìn Lên Chân Núi” đã đạt mục đích. Tôi đồng ý với Trần Dạ Từ về nhận xét này.

Thân phận của con người Việt Nam qua ba đoạn đời của tác giả đã thể hiện đầy đủ trong “Những Miểng Vụn của Tiểu Thuyết,” trong chiến tranh, thất trận và nỗi cô đơn lưu lạc xứ người với ba hình ảnh: người lính, tên tù và kẻ tha hương. Theo như tiểu sử thì nhà văn Thảo Trường Trần Duy Hinh đã bị tập trung trong trại tù Cộng Sản 16 năm, 4 tháng 4 ngày. Ở tù kiểu này không điên thì cũng thành dại. Sang đây có nhiều nhà văn gác bút hay viết không còn hay nữa, nhưng đối vối Thảo Trường, những truyện như “Mây Trôi,” “Ðá Mục,” “Trong Hang,” “Từ Dưới Ðỉnh Ðồi Nhìn Lên Chân Núi” và nhất là truyện “Những Ðứa Trẻ Ðầu Thai Giữa Hàng Rào” đã chứng tỏ chất liệu sống đã giúp ông thành đạt hơn trong văn chương.

Qua bề dày của những tác phẩm, bề dày sinh hoạt văn chương của Thảo Trường, cả quãng đời ba bốn mươi năm của một người lính, người tù, người lưu vong trôi giạt trên mảnh đất này, chúng ta không có thể có những nhận xét một cách tổng quát, hời hợt, sơ sài trong một hai trang giấy.

Tôi xin mượn câu nói của một tên tù hình sự nói về bác tù già trong một câu chuyện của Thảo Trường: “Bác không thuộc về chế độ nào nữa, bác thuộc về lịch sử.” Bác Thảo Trường ơi! Bác cũng vậy. Mai sau đến lúc người ta phải công nhận nền văn học hải ngoại này, bác không còn là một nhà văn của chế độ nào nữa, bác thuộc về lịch sử! Chúng tôi hãnh diện vì có Bác. Xin chào Bác!

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Ông bạn đồng minh cồng kềnh

Bùi Tín

Hai nhà lãnh đạo Trung Quốc và Bắc Triều tiên gặp nhau 3, 4 hôm nay tại một thành phố ở phía Ðông Bắc Trung Quốc, nhưng nội dung ra sao, Bắc Kinh và Bình Nhưỡng đều kín tiếng. Chỉ có những lời đồn đoán của báo chí Nhật Bản, Nam Triều Tiên và phương Tây.

Có gì mà phải giấu kín vậy?

Bên ngoài chỉ biết rằng ông Kim Jong-il ốm khá nặng từ 3 năm nay, gần đây phải mời thầy thuốc từ Pháp sang để chữa bệnh về tim; ông đi trên đoàn xe lửa đặc biệt - như bố ông là ông Kim Il-sung khi sinh thời, vì 2 cha con đều bị chóng mặt khi đi máy bay; và lần này ông Kim Jong-il dắt theo cậu con trai thứ 3, là con út, tên là Kim Jong-un, 27 tuổi, là người ông đã chọn làm thế tử, để giới thiệu với ông Hồ Cẩm Ðào, người vừa là tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc, vừa là chủ tịch nước CHND Trung Hoa. Ở Bắc Triều Tiên, báo chí, đài phát thanh, đảng viên và nhân dân từ 2 tháng nay đã gọi “đồng chí Kim Jong-un” là “Ðồng chí xuất sắc”, sau khi ông nội của cậu ta đã mang danh hiệu “Lãnh tụ vĩ đại” và bố cậu mang danh hiệu “Lãnh tụ kính yêu”. Theo ý ông Kim Jong-il, khi ông qua đời, người thay ông sẽ là cậu Kim Jong-un, vừa là người đứng đầu đảng Lao Ðộng, vừa đứng đầu Nhà nước, lại vừa là Tổng tư lệnh tối cao một quân đội được khoe là đã có vũ khí hạt nhân, và đã hơn một lần đe dọa thiên hạ về bom hạt nhân của mình.

Có nhiều phỏng đoán rằng đây chính là nỗi phân vân, do dự, không mặn mà của phía Trung Quốc. Việc chọn người kế thừa kiểu phong kiến, hoàng đế thời xưa, sao mà lạc lõng, khi thế giới đã bước vào thế kỷ XXI. Ông Hồ Cẩm Ðào e ngại là rất có lý, vì ông Hồ Cẩm Ðào cùng tuổi với ông Kim Jong-il - 68 tuổi. Khi cậu Kim Jong-un lên ngôi, chẳng lẽ ông sẽ bằng vai ngang vế với một cậu bé 27 tuổi, còn non nớt, chưa hiểu biết gì chuyện triều chính, trong tay lại cầm bom hạt nhân, thống lĩnh ba quân luôn hò hét hiểu chiến, sẵn sàng nghe lời lãnh tụ tối cao để lao vào lửa.

Chuyện lựa chọn thế tử của họ nhà Kim cũng có lắm lời đàm tiếu. Cậu cả Kim Jong-nam đã được bố chọn, nhưng vấp sai lầm là năm 2001 đã vô kỷ luật, dùng hộ chiếu giả lẻn du hành sang Tokyo để tham quan khu giải trí Disneyland của Hoa Kỳ tại đó, nhưng bị lộ. Cậu thứ hai Kim Jong-chul đã được tính đến, nhưng bị 2 vị xem tướng và tử vi ở thủ đô Bình Nhưỡng cho là mệnh yểu, tính tình ẻo lả như con gái, giọng cũng the thé kiểu á nam á nữ, không ổn. Cậu con út được cử đi học ở Berne, Thụy Sĩ, học hành chỉ đạt trung bình, trình độ chỉ hết bậc trung học phổ thông, chỉ được cái mặt mũi giống bố, biết trượt tuyết, cưỡi ngựa, chơi bóng rổ, vừa lòng ông bố nhất. Nhưng nhược điểm của cậu út là phì nộn, ăn uống quá độ, 27 tuổi đã gần 80 kilô, chỉ số thông minh thấp, lại sớm bị 2 bệnh là tháo đường và cao huyết áp.

Ông Hồ Cẩm Ðào còn nhiều mối lo khác về người bạn đồng minh phía Ðông Bắc này. Ðó là 2 lần thử nghiệm hạt nhân - vào tháng 4 và tháng 5 - 2009 - mà không bàn bạc trước với người láng giềng khổng lồ. Ngay cả việc bắn chìm tàu Choenan của Nam Triều Tiên gần đây.

Bắc Kinh cũng để mọi người hiểu rằng họ không được bàn trước, lại phải bênh người anh em đồng minh Cộng Sản (cũ) khi sự đã rồi. Bắc Kinh cũng không hài lòng khi Kim Jong-il tâm thần bất định, lên cơn cao ngạo, dùng lời lẽ ngang ngược đe dọa Nam Triều Tiên, “sẽ biến các ngươi không phải thành biển lửa, mà là thành tro, thành bụi hết!” Bắc Kinh lo vì cảm thấy Kim có máu điên, bướng, không thăng bằng, rất khó kiểm soát. Nghĩa là một đồng minh rất cồng kềnh, dễ gây chuyện bất ngờ trong quan hệ quốc tế.

Gần đây, Trung Quốc càng thêm lo ngại về Bắc Triều Tiên vì bao nhiêu tai ương trên đất này Bắc Kinh đều phải gánh chịu phần lớn. Mất mùa liên miên, lụt lớn 2 bên bờ sông Áp Lục, dân di cư từng đoàn hàng ngàn người tràn sang... toàn là những gánh nặng liên miên, gây bất ổn cho cả vùng Ðông Bắc.

Mới đây, chính quyền Barak Obama tỏ ra kiên quyết, rõ ràng, trừng phạt Bình Nhưỡng do đã vi phạm thỏa ước ngừng chương trình vũ khí nguyên tử và khiêu khích quân sự Nam Triều Tiên là đồng minh của Hoa Kỳ. Dù cho Bình Nhưỡng hứa sẽ ngồi vào đàm phán 6 bên, Hoa Kỳ vẫn trừng phạt, và trừng phạt nặng. Washington vừa ghi vào danh sách đen những nhân vật khả nghi có những việc làm phi pháp trên đất Hoa Kỳ, trong đó có 4 nhân vật thân cận với Kim Jong-il, kể cả Kim Yong-chol là thủ lãnh cơ quan tình báo Bắc Triều Tiên, cánh tay phải của Kim Jong-il.

Ðã vậy, đầu tháng 9 này, Washington yêu cầu các ngân hàng Hoa Kỳ ngưng ngay các chuyển khoản tài chính với 8 cơ quan tài chính Nam Triều Tiên để mở những cuộc điều tra do bị nghi ngờ phạm pháp. Việc này sẽ ảnh hưởng rõ đến tài chính Trung Quốc vì các cơ quan tài chính Bắc Triều Tiên vốn có quan hệ gắn bó với Trung Quốc.

Ngay khi Bắc Triều Tiên tiến hành thử nghiệm hạt nhân lần thứ hai vào tháng 6-2009, Hoa Kỳ đã lập tức phong tỏa nhiều ngân hàng có quan hệ với Bình Nhưỡng. Washington cũng vạch mặt cái cơ quan mang bí danh “Văn phòng 39” làm kinh tài quốc tế, chuyên cung cấp những hàng xa xỉ cao cấp mà Kim Jong-il rất ham muốn, bao gồm những đồ trang sức, mỹ phẩm hảo hạng, rượu, thuốc lá, xì gà, đồ hộp hiếm; Kim Jong-il quen dùng kho hàng quý hiếm này để hưởng riêng, còn phân phát cho nhóm cận thần để mua lòng trung thành của họ. Sau đó, việc cung cấp cho Bình Nhưỡng 2 chiếc du thuyền nhỏ rất lộng lẫy, trị giá 15 triệu đôla Mỹ, cũng bị ngăn lại, nhiều chuyến xuất khẩu vũ khí do Bình Nhưỡng thực hiện bị chận bắt và tịch thu. Khi tàu chiến Cheonan của Nam Triều Tiên bị bắn chìm ở Hoàng Hải tháng 3 vừa qua, Hoa Kỳ đã cùng Nam Triều Tiên và Nhật Bản phản ứng mạnh mẽ, bằng những cuộc thao diễn, tập trận chung lớn nhất chưa từng có bằng thực binh, để khẳng định thái độ có trách nhiệm của Hoa Kỳ cùng đồng minh ở vùng Ðông Bắc Á.

Hãy nghe nhà Ngoại Giao Robert J. Einhorn theo chỉ thị của bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố: “Chúng ta cần làm cho Bắc Triều Tiên hiểu rằng những hành động khiêu khích của họ không thể tránh khỏi bị trừng phạt”.

Ðáng chú ý là Hoa Kỳ đã tỏ ra cứng rắn ngay cả khi Bắc Kinh đứng ra cùng Bình Nhưỡng hứa hẹn sẽ ngồi vào đàm phán 6 bên, với nội dung chính là Bình Nhưỡng phải ngừng ngay mọi cuộc thử hạt nhân.

Thông điệp của Hoa Kỳ rất rõ ràng. Mỹ trở lại Châu Á. Với trách nhiệm đàng hoàng, với lẽ phải và trên thế mạnh. Mỹ trở lại rõ ràng, ở cả Ðông Nam Á và Ðông Bắc Á.

Mỹ có nhiều đồng minh vững chắc ở cả Ðông Bắc Á và Ðông Nam Á. Hiện tại và lâu dài.

Còn Trung Quốc, tham vọng bành trướng của họ tuy lớn, dai dẳng, nhưng lực bất tòng tâm. Hiện nay và còn rất lâu nữa. Họ cần biết rõ điều ấy.

Ở Ðông Bắc Á họ đang có một bạn đồng minh truyền thống ốm yếu, hung hăng không phải lúc, đang là gánh nặng, và khá là cồng kềnh, vướng cẳng, rất khó xử cho chính họ.

Ðể xem cuộc gặp Hồ-Kim sẽ thai ngén ra được một bản tuyên bố ấp úng ra sao đây

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Bà Sakineh Ashtiani bị tử hình

Ngô Nhân Dụng
Một gia đình thuê căn lầu có lối đi riêng trong ngôi nhà cháu tôi ở Montréal, Canada. Bữa đầu tháng 7 khi tôi đang ở đây, ông thuê nhà xuống gõ cửa, lễ phép nói: “Thưa bà, chúng tôi sắp về Tunisie nghỉ hè, thăm gia đình. Xin nhờ bà đưa cho chồng bà hai ngân phiếu này, chúng tôi trả tiền nhà tháng 7 và tháng 8 luôn.”

Cô cháu tôi kể lại chuyện, lắc đầu: Tháng nào ông ấy cũng nói như vậy. Không bao giờ ông ta trả tiền nhà trực tiếp cho mình mà luôn luôn nhờ đưa tiền nhà “cho chồng bà!” Hai vợ chồng họ còn trẻ, ăn ở rất lịch sự, tử tế; họ giữ nhà cửa sạch sẽ, gọn gàng hơn nhà mình nữa, không thể chê vào đâu được. Cả hai đều đi làm, ông ấy làm nghề kế toán, đã tốt nghiệp đại học ở đây, nói tiếng Anh, tiếng Pháp trôi chảy; đứa con trai thì đi học, rất ngoan ngoãn, lễ phép. Nhưng hình như họ không thể nào chấp nhận được rằng một người đàn bà cũng là một chủ nhà, như người chồng!

Nhiều người gốc từ các xứ Hồi Giáo đã trở thành công dân Canada nhưng vẫn giữ phong tục, văn hóa cổ truyền. Một câu chuyện bi thương mới xẩy ra năm qua khi một gia đình người gốc Afghanistan đã giết đứa con gái 16 tuổi, vì cô gái đã đi chơi với bạn trai, dù bố mẹ cấm. Người mẹ cũng tham dự vào vụ giết con này với chồng và con trai. Sau khi giết con gái, người cha điện thoại báo cho cảnh sát biết để đến bắt ông ta đưa ra tòa. Là công dân Canada, họ muốn tỏ ra biết bảo vệ danh dự, ăn ở lương thiện, có trách nhiệm, tôn trọng luật lệ của xứ sở này. Nhưng mặt khác họ vẫn thấy bổn phận phải “bảo vệ danh dự gia đình” theo truyền thống quê hương họ. Họ coi truyền thống đó có tính chất thiêng liêng, vượt lên trên luật lệ của thế gian. Ông Jose Manuel Barroso, chủ tịch Ủy Hội Cộng Ðồng Aạu Châu có thể kết án những hành động như vậy là “dã man không thể tả được,” như ông đã kết án chính quyền Iran trong vụ xử tử một phụ nữ về tội ngoại tình bằng cách ném đá. Nhưng những người tin tưởng và thực hành các truyền thống lâu đời đó lại coi chính họ mới thực sự sống văn minh, những người khác họ mới là dã man, mọi rợ.

Cả thế giới đang chăm chú nhìn về nước Iran, chờ đợi quyết định của tòa án tối cao của các giáo sĩ. Từ mấy năm nay nhiều người đã ký kiến nghị gửi chính quyền và giáo quyền ở đó xin đừng giết bà Sakineh Mohammad Ashtiani. Bà Sakineh đã bị kết tội “ngoại tình.” Bà có thể bị xử tử bằng cách ném đá cho tới chết theo phong tục cổ. Bà bị truy tố vì, sau khi chồng đã chết vào năm 2006, bà ăn nằm với người đàn ông khác. Ðối với họ, đó là tội ngoại tình. Bà bị kết án phạt đánh đòn 99 roi. Người con trai lớn, lúc đó 17 tuổi, đã yêu cầu có mặt lúc mẹ bị hành hạ, vì anh “không muốn bỏ rơi mẹ tôi phải chịu bao đau đớn, sỉ nhục trong cảnh cô đơn.”

Chính quyền Iran từng tố cáo bà Sakineh Ashtiani đồng lõa trong vụ giết chồng bà. Họ còn nói rằng bà đã thú nhận tội giết chồng - chắc cũng như Bukharin ra tòa đã thú tội phản bội đảng cộng sản sau khi được công an của Stalin hỏi cung! Khi ra tòa bà đã phủ nhận lời thú tội đó. Sau khi được tòa án ở thành phố Tabriz tha bổng vì thiếu bằng cớ, bà Sakineh bị đem ra xử lại về tội ngoại tình, với bản án tử hình sau được đổi cho chết bằng cách treo cổ thay vì bị ném đá. Hai người con của bà Sakineh đã vận động khắp nơi với sự hỗ trợ của các tổ chức nhân quyền trong nước Iran, để cứu mẹ. Các nhân vật nổi danh và nhiều tổ chức trên trên thế giới lên tiếng can thiệp; cho nên bản án tử hình đáng lẽ thi hành vào tháng 7 vừa qua, đã được hoãn lại, cho Tòa án Tối Cao phúc thẩm.

Người con trai lớn Sajad, 22 tuổi, lại báo tin mẹ anh còn bị kết thêm tội về hành vi phản đạo đức, sau khi tờ Thời Báo ở Teheran đăng bức hình bà không quàng khăn trùm đầu. Bà bị kết án đánh roi 99 lần, vì chụp hình để đầu trần, trái pháp lệnh của các giáo sĩ. Tờ báo này sau đó đã đính chính, giải thích đó là hình một phụ nữ Iran khác, nay đã sống tị nạn ở Thụy Ðiển. Nhưng người con trai không biết bà Sakineh Ashtiani đã bị đánh hay chưa.

Cả thế giới bày tỏ lòng phẫn nộ trước cách đối xử của chính quyền Iran đối với một góa phụ 43 tuổi. Nhiều cuộc biểu tình ở London, Paris, Washington. Thành phố Roma treo một chân dung lớn của bà (đội khăn kín đầu) trước cửa tòa đô chính. Tòa Thánh Vatican, với chủ trương bác bỏ án tử hình ở mọi nơi, đã can thiệp một cách tín đáo để xin hội đồng giáo sĩ tối cao ở Iran trả tự do cho bà. Tổng Thống Brazil Luiz Inácio Lula da Silva nói ông đã ra lệnh đại sứ nước ông trực tiếp can thiệp với Tổng Thống IranMahmoud Ahmadinejad xin ân xá, và hứa sẽ cho bà Sakineh được sang Brazin tị nạn. Bà Carla Bruni, vợ Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy viết cho bà một lá thư ngỏ, nói: “Sakineh, bà nên biết tên của bà đang là một biểu tượng của cả thế giới. Chồng tôi sẽ lên tiếng bênh vực bà, nước Pháp sẽ không bỏ rơi bà.”

Sau khi bức thư được công bố, các tờ “báo đảng” ở Teheran chửi tác giả bằng những từ thô lỗ. Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton cũng can thiệp, yêu cầu chính phủ Iran tôn trọng quyền tự do làm người của dân, đặc biệt là các phụ nữ.

Chính quyền Iran đã tự bào chữa hệ thống pháp luật của họ bằng cách chỉ trích lại các nước Tây Phương. Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Iran nói các nếu chính phủ Âu Châu coi việc xử tử hình một người đàn bà ngoại tình và giết chồng là vi phạm nhân quyền, thì hãy thả tất cả các tên sát nhân trong nhà tù của họ đi! Họ còn lên giọng dạy bảo các nước Âu Mỹ hãy coi lại hệ thống xã hội của mình xem có tốt hay không trước khi phản đối Iran. Họ hỏi tại sao các nước Âu Châu lại ủng hộ Israel khi nước này đối xử bất công với người Palestine?

Những phản ứng trên có thể cho thấy quan niệm về công lý và nhân quyền của chế độ thần quyền ở Iran khác hẳn thế giới bên ngoài. Nhưng việc tự bào chữa mình bằng cách kể những lỗi lầm của người khác, như chính quyền Iran hay làm, không phải là phương cách hợp lý nhất để chối bỏ tội lỗi. Không phải vì có nhiều người đã vi phạm nhân quyền mà hành động vi phạm của mình được coi là hữu lý. Một người ăn cắp trong một cửa hàng không thể tự biện hộ bằng cách tố cáo lại rằng chủ hàng đã bán giá đắt để kiếm lợi quá nhiều. Những chính quyền độc tài ở Miến Ðiện, Bắc Hàn,Việt Nam, Sudan, thường chỉ trích các cảnh bất công trong xã hội Tây phương để biện hộ cho các chính sách khinh thường quyền tự do của người dân trong nước họ.

Trên thế giới đã có nhiều nơi xử tử các phụ nữ ngoại tình bằng cách ném đá tới chết. Luật cổ truyền của Do Thái Giáo nói đến 18 trường hợp có thể xử tử bằng cách ném đá. Có chứng tích cho thấy lối hành hình này cũng đã phổ biến ở Hy Lạp thời cổ đại. Trước đây 2000 năm có thể đó là một phương pháp xử án bình thường ở vùng Trung Ðông; vì vậy mới có câu chuyện chúa Giê Su hỏi, “Ai thấy mình không có tội thì ném hòn đá đầu tiên đi!” Phong tục ném đá chắc rất phổ biến trong thời đó, không ai muốn đi ngược lại. Cho nên những tác giả Tân Ước cũng không ghi lại ý kiến của Chúa Giê Su, ngài có thể phản đối ngay việc giết người, dù người đó bị coi là có tội trong cõi nhân gian này. Nhiều tác giả công nhận một Hội Ðồng Phán Quan (Sanhedrin) của Do Thái Giáo đã bãi bỏ hẳn án tử hình từ năm 30, Tây lịch, vì tin con người không thể cướp quyền sống chết do Thượng Ðế ban cho người khác.

Các học giả cho biết trong Kinh Kuran của Hồi Giáo không hề có một chữ nào viết về “rajm” tức là Ném Ðá hay ném đá cho đến chết. Một số quốc gia Hồi Giáo đã áp dụng cách xử tội này dựa trên những luật lệ được phát triển sau này, nhân danh Kinh Kuran. Hiện nay một số quốc gia Hồi Giáo còn áp dụng hình phạt ném đá như Afghanistan, Iran, Saudi Arabia, Somalia, Sudan, và Nigeria. Nhưng hiện có nhiều phong trào phụ nữ tại các nước Iran hoặc Afghanistan đang công khai vận động bãi bỏ phong tục này.

Phong tục hành hình bằng cách ném đá hầu như chỉ áp cho các phụ nữ ngoại tình, ít khi dùng cho các tội khác. Ðúng ra, đó không phải chỉ là việc xử tử hình mà còn là tra tấn, hành hạ nữa. Ðiều đó cho thấy tinh thần trọng nam khinh nữ cũng là một phong tục phổ biến từ mấy ngàn năm trước còn lưu cữu tới giờ.

Loài người được coi là càng ngày càng văn minh hơn vì đã biết thay đổi các phong tục, trong đó có việc bác bỏ thái độ trọng nam khinh nữ. Phụ nữ có thể đã bị kỳ thị từ khi có sự phân công, phái nam đi săn bắn, đàn bà phải cho con bú nên chỉ đi hái lượm ở gần. Nhưng nhân loại đã tiến bộ từ tình trạng săn bắn du mục sang công việc chăn nuôi, trồng trọt là nhờ phụ nữ. Chỉ có những người đàn bà sống ở gần hang ổ, nhà cửa, mới có cơ hội và đủ tính kiên nhẫn để thí nghiệm các việc trồng trọt và chăn nuôi. Loài người thực sự văn minh, một số ít người sản xuất đủ thực phẩm cho nhiều người, nhờ phát minh vĩ đại đó. Nhờ phát minh căn bản đó mà mỗi xã hội cổ sơ mới có thể nuôi những người không cần làm ra thực phẩm, nhưng các nghệ sĩ, những nhà phát minh, các thợ khéo, giúp tiến tới những hoạt động thương mại, công nghệ, vân vân sau này. Không phải vì biết ơn phụ nữ đã sáng tạo ra nền văn minh nhân loại, mà vì tôn trọng quyền của tất cả mọi người được quyền sống như nhau, mà loài người đã đề cao quyền bình đẳng giữa nam và nữ.

Một cổ tục khác rất phổ biến trong lịch sử là tội tử hình, theo một điều luật cổ của Hoàng Ðế Hammurabi, ban hành 17 thế kỷ trước Công nguyên, đưa tới câu tục ngữ nổi tiếng: “Mắt trả bằng mắt, răng trả bằng răng.” Nhưng loài người văn minh cũng nhận thấy việc giết chết một phạm nhân không giúp cho tội ác giảm bớt, mà có thể vì muốn tập thể trả thù một cá nhân.

Hiện nay có 95 quốc gia trên thế giới đã bãi bỏ án tử hình. Những nước còn giữ, chiếm kỷ lục là Trung Quốc, năm 2009 đã giết 1700 người (nghi có thể trên 10,000 người nhưng không được báo cáo), rồi đến Iran, giết 388 người, sau tới Iraq (120), Á Rập Saudi (69), nước Mỹ đứng hàng thứ 5 với 52 vụ hành hình vào năm đó. Ở những nước còn giữ án tử hình, người ta cũng tìm cách làm cho việc nhân danh xã hội, nhân danh công lý mà giết người có thể nhân đạo hơn. Dân chúng Mỹ hiện còn đang tranh luận về phương pháp xử tử bằng ghế điện hay chích thuốc, cách nào nhanh hơn và bớt gây đau đớn hơn.

Tiến từ tình trạng dã man sang văn minh, người ta cũng không muốn để cho việc xử tử hình mang tính chất trả thù, và nhất là không khích động thú tính trong con người. Những vụ hành hình công khai, nhất là những vụ treo cổ, ném đá, đều là những dịp để nhiều người thỏa mãn khuynh hướng giết chóc của họ. Ở các nước, kể cả ở Việt Nam, khi còn những vụ hành hình trước công chúng, nói là để răn đe người khác, thực sự có nhiều người đã kéo nhau đi xem, như một cuộc giải trí. Các bạo chúa thường lợi dụng thú tính tiềm tàng trong mọi người dân để biện hộ cho những cuộc hành hình công khai đó. Những vụ đấu tố bằng “tòa án nhân dân” do cộng sản Trung Hoa tổ chức thời cải cách ruộng đất cũng vậy. Những “phiên tòa” đó vừa kích thích óc trả thù, máu giết người của đám bần cố nông, vừa là cơ hội để bọn cướp được chính quyền tiêu diệt những người bất đồng ý kiến. Cộng sản Việt Nam đã học được phương pháp đó của các đồng chí Trung Quốc, đem áp dụng ở nước ta, dưới sự chỉ đạo của các “cố vấn.” Trong lịch sử dân tộc Việt Nam chưa bao giờ người Việt lại đối xử với nhau một cách tàn bạo, như đem chôn sống người, chôn đứng người còn sống chỉ để hở cái đầu rồi cho cầy bừa đi qua. Phương pháp đó chắc phải là sáng kiến của các đồng chí “cố vấn Trung Quốc vĩ đại,” đem sang nước ta từ một quốc gia đã sáng chế ra những phương pháp giết người tinh vi mô tả trong Ðàn Hương Hình của Mặc Ngôn. Hoàn toàn do thú tính thúc đẩy. Nghĩ lại, chúng còn thấy chia sẻ nỗi nhục, khi người Việt Nam lại giết nhau như vậy.

Chúng ta cùng góp lời cầu nguyện cho bà Sakineh Mohammad Ashtiani. Bà hiện là biểu tượng cho cả thế giới nhìn vào, như Carla Bruni viết. Chúng ta thẩm lượng trình độ văn minh của nước Iran qua vụ này. Việc họ có làm bom nguyên tử hay không cũng không quan trọng cho danh dự quốc gia của họ bằng cách họ đối xử với bà Ashtiani. Hy vọng các giáo sĩ ở Iran sẽ không giết bà chỉ vì muốn chứng tỏ họ coi thường các lời nói của bà Hillary Clinton ở Mỹ hay ông Jose Manuel Barroso ở Âu Châu. Một dân tộc đã sản xuất ra những bậc Thánh như Zaratgustra, Mani, các triết gia như Jalaleddin Ashtiani, Kazem Assar, Ibrahim Ashtyani (không biết có họ với bà Ashtiani ngày nay hay không), những thi sĩ như Omar Khayyam, Rubi, Sadi, vân vân, chắc sẽ cố sống xứng đáng với tiền nhân của họ. Cũng như người Việt Nam mình sẽ cố sống xứng đáng là con cháu của Lý Nhân Tông, Trần Thái Tông, Nguyễn Trãi. Phải sống hòa vào chiều tiến hóa của nền văn minh nhân loại.

Post Reply