Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Kinh tế Trung Quốc thiếu quân bình, tạo bất công

Ngô Nhân Dụng
Hạ tuần tháng 8, 2010, Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đến đặt vòng hoa trước đài tưởng niệm Ðặng Tiểu Bình ở thành phố Thẩm Quyến, một nơi phát xuất cuộc cải cách kinh tế. Ôn Gia Bảo tuyên bố Trung Quốc cần phải cải tổ chính trị, nếu không thì những thành quả kinh tế đã đạt được sẽ bị mất.

Một nhóm 15 nhà trí thức đã họp tại Bắc Kinh để thảo luận về ý nghĩa lời tuyên bố trên. Người tổ chức cuộc họp mặt là Cù Vệ Bình, một thi sĩ 54 tuổi, giáo sư Học Viện Phim Ảnh Bắc Kinh, đã từng bị cấm không được sang Mỹ thuyết trình ở Ðại Học Havard đầu năm nay. Cô cho biết hầu hết các nhà trí thức rất hào hứng về lời tuyên bố, nhưng họ không tin ông Ôn Gia Bảo nói vậy có nghĩa là đảng cộng sản Trung Hoa sẽ thay đổi thật. Các nhà trí thức đang bàn luận với nhau thì nhà bị cúp điện, phải giải tán. Ngoài cửa có 2 công an đứng lảng vảng. Không khác gì cảnh ở Việt Nam!

Nhưng nếu Trung Quốc không cải tổ chính trị thì kinh tế sẽ bị ảnh hưởng, đó là điều ông Ôn Gia Bảo cũng biết. Nhiều nhà kinh tế đã báo trước như vậy, mặc dù hiện nay các tin tức đều có vẻ ngoạn mục.

Giữa tháng 8, 2010, Tài Chánh Thời Báo ở Anh Quốc (Financial Times) loan tin: “Trung Quốc qua mặt Nhật Bản!” Có gần 1,550 tờ báo khắp thế giới đăng tin này.

Tổng Sản Lượng Nội Ðịa Trung Quốc trong quý thứ nhì đã lên trên 1.34 ngàn tỷ đô la Mỹ, cao hơn Nhật Bản, chỉ có 1.29 ngàn tỉ đô la Mỹ, chiếm địa vị của Nhật, vẫn đứng hàng thứ hai sau kinh tế Hoa Kỳ trong 43 năm qua. Có nhà báo coi đây là biến cố lớn nhất trong lịch sử năm 2010.

Thực ra thì sức sản xuất của hơn 1 tỷ 300 triệu người Trung Hoa đã qua mặt 127 triệu người Nhật từ 10 năm trước đây, nếu không tính Tổng Sản Lượng Nội Ðịa bằng đô la dựa trên hối suất chính thức, mà tính theo phương pháp PPP, so sánh khả năng mua hàng (mãi lực) dựa vào giá cả trong nước Tầu thấp hơn ở nước ngoài. Nếu tính theo phương pháp mãi lực PPP thì GDP của Trung Quốc tương đương với gần 9 ngàn tỷ đô la.

Với những tin tức như trên, báo chí khắp nơi say sưa bàn tán cảnh nước Trung Hoa đang vươn lên trở thành một cường quốc kinh tế cạnh tranh với Mỹ, sẽ có ngày vượt Mỹ. Tuy nhiên, người Việt Nam, nhất là quý vị đang sống trong nước, nên bình tĩnh nhìn lại kỹ hơn, sẽ bớt sợ! Năm ngoái, nhật báo China Daily, ấn bản tiếng Anh của báo Nhân Dân, đã thăm dò ý kiến độc giả, họ cho thấy 91% người Trung Hoa không tin các con số thống kê về Tổng Sản Lượng Nội Ðịa của chính phủ họ (China Daily nói thêm, năm 2007 chỉ có 79% dân chúng nghi ngờ thôi). Tờ báo cũng tiết lộ khi làm tính cộng các báo cáo về sản lượng nội địa của 31 tỉnh và thành phố thì thấy tổng số này lớn hơn 10% so với Tổng Sản Lượng Nội Ðịa toàn quốc mà chính phủ trung ương báo cáo. Giả thử GDP của nước Trung Hoa là 5,000 tỷ đô la thì Lợi Tức Bình Quân cũng chỉ khoảng 3,800 đô la mỗi đầu người - so với 48,000 đô la cho mỗi người dân Mỹ. Nếu cứ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ 10% (một điều khó xẩy ra) thì cũng phải mất nửa thế kỷ nữa lợi tức của mỗi người Trung Hoa mới đuổi kịp người Mỹ, trong lúc đó thì lợi tức bình quân dân Mỹ lại tăng lên nữa rồi.

Nhưng các con số trên đây không phải là lý do khiến người ta bi quan khi phân tích nền kinh tế Trung Quốc. Nhìn kỹ sẽ thấy kinh tế Trung Quốc có những nhược điểm có thể gọi là “bệnh nan y” nếu không chữa trị sẽ có ngày cảnh phồn vinh tan như bong bóng. Biết rõ hơn về hiện trạng và tương lai của sự phát triển tại Trung Quốc trong bối cảnh thế giới, người ta sẽ “hạ hỏa,” bớt say sưa ngây ngất và cũng bớt hốt hoảng.

Không có gì phải lo hoảng trước nước Trung Hoa vĩ đại như báo chí và các đài truyền hình đang làm cho người ta hiểu lầm. Nói như vậy không phải vì chúng ta thù ghét hay coi thường người Trung Hoa ở lục địa. Họ có tiềm năng lớn, tương lai đầy triển vọng, rất đáng kính trọng. Nhưng sự phát triển của họ bị giới hạn vì những nhược điểm từ trong cơ cấu. Tất nhiên trước khi nói đến những nhược điểm của nền kinh tế Trung Quốc, hãy công nhận một điều là họ vẫn tiến bộ hơn Việt Nam rất nhiều. Tìm hiểu các phần yếu kém của họ, chính là rút kinh nghiệm để thấy rõ những sơ hở mà nước ta cần tránh. Bởi vì dù Trung Hoa không tiến mạnh thật như bề ngoài trông thấy, thì họ cũng vẫn tiến hơn Việt Nam. Những người cầm quyền ở Bắc Kinh có học và chịu học hơn, hiểu các vấn đề kinh tế hơn, có làm việc nhiều hơn giới lãnh đạo cộng sản ở nước ta. Những nhược điểm của họ là do họ cần bảo vệ quyền lợi của giai cấp lãnh đạo, cho nên không muốn đổi mới nhanh và rộng hơn, chứ không phải vì họ không biết.

Một trong những nhà phân tích về Trung Quốc tỉnh táo nhất là Minxin Pei, tên đọc theo lối Việt Nam là Bùi Mẫn Hân. Ông xuất thân từ Ðại Học Thượng Hải và Havard, làm việc cho Viện Carnegie Nghiên Cứu Hòa Bình Quốc Tế ở Mỹ. Một kết luận mà Giáo Sư Bùi Mẫn Hân đã nhắc đi nhắc lại từ mấy năm nay là kinh tế Trung Quốc lớn lên nhanh thật nhưng không bền vững. Ông nói thẳng: Cảnh suy thoái nặng nề sẽ xẩy ra. Sau đây xin tóm tắt một số điều ông Bùi Mẫn Hân đã nói hoặc viết trên nhiều diễn đàn quốc tế từ mấy năm nay, đặc biệt trong cuốn sách China's Trapped Transition...

Những yếu tố giúp kinh tế Trung Hoa phát triển không còn được như trước nữa, nếu không thay đổi cơ cấu nhiều hơn.

Bốn yếu tố chính giúp cho sự phát triển ngoạn mục của hơn một tỷ người Trung Hoa là: Thứ nhất việc cải tổ đã giải phóng các “lực lượng sản xuất” vẫn bị chế độ cộng sản bó chặt trong ba chục năm trước đó. Khi người dân được tự do hơn thì họ chắc chắn tăng gia sản xuất. Thứ nhì là Trung Quốc được hội nhập vào thế giới trong lúc kinh tế các nước đang toàn cầu hóa, đem lại cho họ nhiều mối lợi nhờ xuất cảng. Thứ ba là giá nhân công rẻ vì dân quá đông và thừa thãi vì chưa được sử dụng đúng, cho nên hàng hóa của họ dễ cạnh tranh trên thế giới. Và sau cùng là tỷ lệ tiết kiệm trong nước rất cao, vì đảng cộng sản theo chính sách ép buộc dân chúng phải chịu nhịn, không được tiêu thụ.

Trong 4 điều trên đây, theo Giáo Sư Bùi Mẫn Hân, hai yếu tố sau cùng đang mất đi dần dần và khó lòng duy trì được. Thành phần dân số Trung Hoa đang thay đổi, số người già tăng lên, số người trong tuổi lao động giảm; trong tình trạng đó giới lao động đang đòi tăng lương để được chia phần xứng đáng trong nồi cơm kinh tế cả nước. Họ sẽ bớt tiết kiệm đi, khi được bước vào lối sống của giai cấp trung lưu.

Trong khi đó, yếu tố đầu tiên đưa đến thành công là chính sách cởi trói kinh tế đã giảm hiệu lực vì đảng cộng sản không dám thay đổi nhiều hơn nữa. Họ lo sợ mất bớt quyền hành, như bất cứ chính quyền độc tài nào trên thế giới. Hiện trong số dưới 6 triệu đảng viên cộng sản Trung Hoa có hơn 500 ngàn người đang nắm các chức vụ quản đốc xí nghiệp lớn. Không còn đảng cộng sản thì địa vị của họ có thể lung lay. Chắc chắn họ muốn bảo vệ các quyền lợi đang được hưởng. Họ được hưởng lợi tức cao, vượt trên khả năng thực sự của họ nếu phải cạnh tranh trong một thị trường tự do. Do đó họ có khuynh hướng tự nhiên muốn giữ nguyên cơ cấu hiện tại, không thay đổi. Nhưng cơ cấu nửa thị trường nửa chỉ huy đó, sau khi vận dụng hết khả năng trong thời kỳ bắt đầu đổi mới, sẽ bắt đầu hết hiệu năng, trở thành chướng ngại kìm hãm sự phát triển trong những bước tiếp theo.

Nhược điểm trong cơ cấu kinh tế Trung Quốc hiện rõ trong tình trạng phát triển không quân bình. Trong một nền kinh tế bình thường, lợi tức chung của một quốc gia gồm nhiều thành phần: Phần dùng cho dân tiêu thụ; phần cho các xí nghiệp và chính quyền đầu tư; và phần để nhà nước chi tiêu vào những việc công ích. Hình ảnh kinh tế mất quân bình ở Trung Quốc ai cũng nhận thấy là kinh tế phát triển nhờ đầu tư quá nhiều vào tích sản cố định, phần dựa vào dân tiêu thụ thì quá thấp. Ðầu tư quá nhiều gây tình trạng dư thừa và phí phạm, như khi xây nhiều nhà mà người dân không được dùng vì lợi tức thấp quá. Kinh tế lệ thuộc vào xuất cảng, cho nên trong ba chục năm qua không mở mang được thị trường nội địa, người tiêu thụ phải nhịn thèm. Cũng vì thế, cơ cấu kinh tế Trung Quốc nghiêng hẳn về các hoạt động chế tạo và không mở mang các ngành dịch cho vụ tương xứng. Trong những nước tiến bộ, các hoạt động về dịch vụ vượt qua lãnh vực chế tạo rất xa. Ở những nước như Ấn Ðộ, Brazil, các ngành dịch vụ gia tăng cùng với ngành chế hóa. Còn ở Trung Quốc thì phần dịch vụ bị lãng quên.

Một lý do khiến đảng cộng sản Trung Quốc giữ một chính sách thiếu quân bình nặng đầu tư, nhẹ tiêu thụ, là vì họ muốn tạo ra các hình ảnh cụ thể, ai cũng trông thấy, chứng tỏ họ đang thành công. Cho nên họ chuyên lo xây cất, xây các nhà máy, đường sá, cầu, phi trường, và cao ốc, vân vân. Từ trung ương tới địa phương đều như vậy. Ðặc biệt, các quan chức cũng thấy xây dựng càng nhiều thì càng dễ “rút ruột.” Nhìn nhà cửa lên cao nhiều tầng, phi trường, xa lộ mở mang, dân chúng nghĩ là nước có tiến bộ, mặc dù hiệu năng của các công trình xây dựng đó rất thấp.

Khi đầu tư quá trớn, thì hiệu quả của việc đầu tư thế nào cũng giảm dần, đó là một định luật kinh tế. Nhưng ít có nơi nào mà hiệu quả lại giảm nhanh như ở Trung Hoa. Trong những năm từ 1991 đến 1995, mỗi một 100 triệu nhân dân tệ đầu tư mang lại thêm 66 triệu đồng gia tăng cho Tổng Sản Lượng Nội Ðịa, tạo thêm 400 công việc làm mới và trả lương hơn 10 triệu cho công nhân. Ðó là những hiệu quả rất cao. Trong những năm từ 2001 đến 2005, mỗi trăm triệu đồng đầu tư chỉ mang lại hơn 28 triệu gia tăng của Tổng Sản Lượng Nội Ðịa, tạo thêm 170 công việc làm mới, và trả thêm lương cho công nhân được dưới 4 triệu đồng. Những con số trên cho thấy hiệu quả của việc đầu tư đã giảm xuống còn dưới một nửa, trong vòng mươi năm. Tài nguyên quốc gia bị phí phạm, lý do chỉ vì chính sách chỉ nhắm duy trì và bảo vệ quyền lợi các đảng viên lãnh đạo kinh tế mà bỏ rơi khối người lớn là dân chúng.

Trong khi đó thì người dân tiêu thụ, đặc biệt là giới lao động bị hy sinh, chịu thiệt thòi. Ðầu tiên là mạng lưới xã hội tan rã. Khi cải tổ các xí nghiệp quốc doanh, chính quyền cộng sản Trung Quốc không những phải sa thải bớt công nhân (là chuyện đương nhiên) mà đồng thời cũng xóa bỏ các mạng lưới bảo hiểm xã hội trước đó do các xí nghiệp phụ trách, mà công nhân vẫn được hưởng. Người lao động mất bảo hiểm y tế, không được đương nhiên cho con vào trường học trước kia do xí nghiệp cung cấp; khổ nhất là họ phải tự lo lấy về hưu bổng lúc tuổi già.

Nước Trung Hoa có hơn hai ngàn tỷ đô la dự trữ ngoại tệ, chính quyền lại không sử dụng để lập mạng lưới an toàn xã hội mới. Ngược lại, họ đi cho nước ngoài vay đầu tư bành trướng khắp năm châu. Trung Quốc mua hàng tỷ đô la các trái phiếu của chính phủ, của các ngân hàng và công ty Mỹ; lại bán hàng giá rẻ cho dân Mỹ tiêu thụ, nhờ trả lương công nhân trong nước rất thấp. Mỗi năm trung bình một người Mỹ tiết kiệm được một ngàn đô la nhờ giao thương với nước Tầu, trong lúc các công nhân và nông dân Trung Hoa không được cung cấp các dịch vụ y tế và giáo dục đúng nhu cầu cần thiết.

Những con số bày rõ tình trạng bất công này. Năm 1986, sau khi cải tổ được 6 năm, nhà nước Trung Hoa chi 39% các phí tổn y tế toàn quốc, trong khi các cá nhân chỉ phải đóng góp 26%. Ðến năm 2005, phần góp của nhà nước vào chi tiêu y tế toàn dân chỉ còn 18% trong lúc phần dân phải trả lên tới 52%. Dân đô thị vào năm 1990 chỉ dùng 2% lợi tức cho y tế; đến năm 2006 đã phải dùng tới hơn 7%.

Trong cùng khoảng thời gian đó, tiền chi phí cho việc giáo dục con em mà cha mẹ phải gánh đã tăng lên. Năm 1991 người dân chi 4.5% ngân sách gia đình vào việc cho con cái đi học, đến năm 2004 số chi tiêu đó đã lên tới 19%, tức là cứ có 100 đồng để tiêu pha thì phải dùng 19 đồng vào việc học con em. Vì vậy, học sinh ở thôn quê không học lên được. Năm 1980 có 25% học sinh tốt nghiệp phổ thông leo lên bậc trên, đến năm 2003 chỉ còn 9% có thể tiếp tục đi học như vậy.

Tất nhiên, trong tình trạng đó mọi gia đình phải tiết kiệm nhiều hơn để lo cho y tế và giáo dục. Ðiều đó giải thích tại sao tỷ lệ tiết kiệm của người Trung Hoa hiện rất cao. Nhưng khi một quốc gia không đầu tư vào giáo dục và không chăm lo sức khỏe cho các bà mẹ và cho trẻ em thì quốc gia đó cũng không đầu tư cho tương lai kinh tế. Hai nhà nghiên cứu người Trung Quốc là Hoàng Á Sinh và Bùi Mẫn Hân đều công nhận là từ thập niên 1990, đầu tư vào giáo dục và y tế ở Trung Quốc không tăng mà còn giảm.

Ðã mất mạng lưới bảo đảm xã hội, giới lao động còn bị bóc lột vì phải chấp nhận lương thấp. Trong 10 năm từ 1995 đến 2004 chẳng hạn, lương bổng trong các xí nghiệp lớn đã tăng lên 3 lần, nhưng năng suất của người lao động thực sự đã tăng lên gấp 5 lần; đó là một lý do giúp các xí nghiệp có lời mau và dùng tiền để đầu tư. Cho nên, trong tổng cộng sản lượng quốc gia, phần lương bổng trả cho người lao động đã giảm xuống, từ 61% vào năm 1990, chỉ còn 53% vào năm 2007. So sánh với tình trạng ở ở Mỹ, tổng số lương bổng chiếm 67% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa, tức là cả nước làm ra 100 đồng thì người lao động Mỹ được lãnh 67 đồng; còn dân Trung Hoa chỉ được lãnh 53 đồng. Ðiều này ảnh hưởng đến tiêu thụ.

Tổng số tiêu thụ trong nền kinh tế Trung Quốc chiếm phần rất nhỏ so với lợi tức chung của quốc gia. Tỷ lệ tiêu thụ của tư nhân đã giảm đi, từ 49% GDP vào năm 1990 xuống chỉ còn 35% vào năm 2008. Mỗi năm hơn một tỷ dân Tầu tạo ra 100 đồng thì họ được xài 35 đồng để chi tiêu cho gia đình. Năm 2009 chính quyền đã giảm thuế để khuyến khích dân tiêu thụ, có thể lên thành 36%. Trong khi đó tỷ lệ tiêu thụ tại Mỹ là gần 70% tổng số lợi tức toàn dân. Tại Ấn Ðộ, Brazil, người dân cũng được chi tiêu nhiều hơn bên Trung Quốc, số tiêu thụ chiếm tỷ lệ hơn 60% GDP tức là cứ 100 đồng của chung thì có 60 đồng để cho dân tiêu thụ. Không nên nghĩ người Tầu tiết kiệm nhiều như vậy vì yếu tố văn hóa. Ở hai nước Á Ðông khác là Nhật Bản và Nam Hàn, tổng số tiêu thụ của dân chúng chiếm 55% GDP. Ðiều này cho thấy không phải dân Á Ðông nào cũng có truyền thống ăn tiêu ít đi để cho chính phủ xài tiền thay cho mình! Phải kết luận rằng đảng cộng sản đã ép dân Trung Hoa phải lãnh lương thấp hơn và tiêu thụ ít hơn, theo chính sách của một đảng độc quyền cai trị!

Vì lý do đó, giới lao động ở Trung Quốc đã bắt đầu chống đối các xí nghiệp chủ nhân, gián tiếp chông cả hệ thống xã hội chung quanh. Trong bài tới chúng ta sẽ trở lại đề tài này.

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Hãy Mở Cửa Nhà Tù

Trần Khải
Trong tuần này, chính phủ Hà Nội sẽ trả tự do cho 17.000 tù nhân, nhưng trong đó sẽ không có nhà hoạt động dân chủ nào. Trong khi đó, công an liên tục truy bức nhiều nhà hoạt động dân chủ khác, mấy tuần trước đã bắt giam giáo sư Phạm Minh Hoàng, và mới đây là bắt anh Nguyễn Bắc Truyễn để thi hành “lệnh quản chế.”
Tại sao những người hoạt động dân chủ lại trở thành đối tượng truy bức, đàn áp? Chế độ này là chế độ nào trong dòng lịch sử của dân tộc, khi những người nói lên ước mơ dân chủ của đất nước lại bị đẩy vào nhà tù? Thậm chí, ngay tới các nhà trí thức suốt một đời ra sức xây dựng chế độ hiện nay rồi bây giờ cũng thấy là không thể nào giúp Đảng CSVN duy trì mãi chế độ truy bức dân chủ này, để dẫn tới một trang web Bauxite Việt Nam ra đời, và rồi tiếng nói từ những người trong lòng chế độ, bậc lão niên như Nguyễn Huệ Chi, như Tống Văn Công cho tới trung niên như Cù Huy Hà Vũ, hay thanh niên như Lê Công Định, như Nguyễn Tiến Trung cũng liên tục đưa ra lời kêu gọi dân chủ.
Bản tin đaì VOA hôm Thứ Ba 31-8-2010 cho biết:
“Chủ tịch nước Việt Nam đã ký quyết định ân xá cho hơn 17.000 tù nhân nhân dịp Quốc khánh 2/9.
Theo AP, 20 người trong số được thả từng bị kết án với các tội trạng liên quan tới an ninh quốc gia, nhưng trong số này không có các nhà bất đồng chính kiến ủng hộ dân chủ được nhiều người biết tiếng.
Hãng tin của Hoa Kỳ nói rằng một số tù nhân thuộc các dân tộc thiểu số ở vùng tây nguyên bất ổn giáp ranh với Campuchia cũng được phóng thích sớm.
AP nói Việt Nam bị Hoa Kỳ và Liên Hiệp châu Âu chỉ trích vì đã tống giam các nhà bất đồng chính kiến cũng như sử dụng các điều luật về an ninh quốc gia để tống giam những ai bị coi là một mối đe dọa.”(hết trích)
Trong khi xiết chặt cổng nhà tù như thế, công an bên ngoàì lại tăng cường sức bố ráp. Một bản tin từ các nhà hoạt động dân chủ đưa ra hôm Thứ Ba cho biết:
“Tin Khẩn
Việt Nam - Sáng nay, lúc 10 giờ sáng anh Nguyễn Bắc Truyễn đã đến UBND xã Phạm Văn Hai để làm việc với công an về việc thi hành lệnh quản chế theo giấy mời do thiếu tá công an Nguyễn Quốc Thái ký. Cũng nên nhắc lại, anh Nguyễn Bắc Truyễn đã bị nhà cầm quyền Hà Nội tuyên án 3 năm rưỡi tù và 2 năm quản chế về tội danh gọi là "tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN". Sau khi đến công an xã làm việc thì gần 11giờ cùng ngày, công an Thành Phố đã bất ngờ đem xe đến chở anh Nguyễn Bắc Truyễn về Phường Nguyễn Cư Trinh để làm thủ tục thi hành lệnh quản chế.
Hiện nay anh Truyễn vẫn còn bị giữ ở Phường Nguyễn Cư Tri nh, Quận 1, Thành phố Sài Gòn.
Việt Nam, ngày 31 tháng 8 năm 2010.”
Anh Nguyễn Bắc Truyễn vừa mới rời nhà tù hôm giữa tháng 8-2010. Bản tin của Đỗ Hiếu, phóng viên RFA, trên đàì này hôm 18-5-2010 có phỏng vấn nhà dân chủ Nguyễn Bắc Truyển, thành viên khối 8406 và đảng Dân Chủ Nhân Dân, bị bắt vào tháng 8 năm 2006 vừa được trở về với gia đình hôm thứ hai vừa qua, có đoạn:
“...Đỗ Hiếu: Cảm tưởng của ông ra sao khi nghe lệnh phóng thích?
Ông Nguyễn Bắc Truyển:“Tôi rất là bình thường, vì thật ra 3 năm 6 tháng đối với tôi, trải qua cũng rất nhanh vì vào trong kia, tôi thấy nhiều anh em còn bị án nặng hơn mình rất nhiều, như trường hợp vừa rồi, anh Trần Huỳnh Duy Thức bị 16 năm tù, anh Nguyễn Hữu Cầu án chung thân 28 năm, anh Trần Văn Thiên 19 năm, còn mấy tháng nữa là anh được về thôi. Đối với tôi, 3 năm 6 tháng, giống như lớp đi học huấn nhục của người sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà trước đây vậy.”...”(hết trích)
Cũng nên nhắc, trong thời điểm anh Nguyễn Bắc Truyễn ra tù, Bác Sĩ Lê Nguyên Sang, một nhà hoạt động khác trong Khối 8406 và trong Đảng Dân Chủ Nhân Dân, cũng trả lời phỏng vấn của Đài RFA trên mạng ngày 17-8-2010, có đoạn:
“...Nhà bất đồng chính kiến, bác sĩ Lê Nguyên Sang, thuộc Đảng Dân chủ Nhân Dân, vừa trở về gia đình vào 8:30’ sáng ngày 17 tháng 8 năm 2010, sau bốn năm ở trong nhà tù vì bị kết tội ‘tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam’ theo điều 88 Bộ Luật Hình sự Việt Nam...
Bác sĩ Lê Nguyên Sang: Ở tù cộng sản, người ta bị đàn áp nhiều về mặt tinh thần, vật chất- mệt mỏi lắm. Nhưng khi bước ra khỏi tù, cảm giác tự do làm cho con người như ‘lâng lâng’: một thế giới mới đối với mình. Do đó, cảm giác chóang ngợp không thể diễn tả hết được. Thế nhưng tôi đoan chắc đã bước qua một giai đọan nghiệt ngã nhất trong cuộc đấu tranh vì dân chủ của đất nước. Sau khi bước ra khỏi tù tôi còn nhiều việc phải làm nữa.
Đối với tôi nhà tù cộng sản chỉ là nhà tù nhỏ thôi, ngoài nhà tù đó còn nhà tù lớn hơn nữa. Ai ở tù đều có cảm giác, đều biết sau bốn bức tường, còn thêm bốn bức tường, tiếp đó nữa là cái xà lim chỉ nhốt đủ một người mà thôi....
Uống trà với ‘người tù thế kỷ’ Nguyễn Hữu Cầu
Bác sĩ Lê Nguyên Sang: Tôi vừa nói chuyện, uống trà với anh Cầu trước khi bước ra khỏi cổng. Hòan cảnh anh Cầu rất đặc biệt- anh bị án chung thân. Đặc biệt ở chỗ ông bị bắt hồi ngày 9 tháng 10 năm 1982, vì những bài báo, bài viết, bài nhạc gì đó… tố cáo Viện truởng Viện Kiểm sát tỉnh Kiên Giang, và phó chủ tịch tỉnh này. Họ bắt và xét xử theo luật 003. Sắc luật 003 do Hồ Chí Minh ký năm 1967. Sắc luật này qui định xét xử của chính quyền không cần tòa án. Ông Cầu bị kết án chung thân và đến ngày 9 tháng 10 năm nay ông ở tù đủ 29 năm...
...Có thể tôi sẽ vào tù lại; nhưng con đường dân chủ Việt Nam là con đường không thể đảo ngược được. Có thể tôi đi nhanh hơn người khác; ngay cả cộng sản Việt Nam cũng muốn dân chủ hơn, chứ không thể quay lại hướng độc tài; bởi con đường dân chủ Việt nam là con đường không thể thay đổi được.”(hết trích)
Có thể tôi sẽ vào tù lại... lời của nhà hoạt động Lê Nguyên Sang đang ứng vào nhà dân chủ Nguyễn Bắc Truyễn.
Con đường dân chủ Việt Nam là con đường không thể đảo ngược được... lời này được trình bày bằng cách khác bởi Luật Gia Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ qua cuộc phỏng vấn trên đàì VOA ngày 19-6-2010 khi yêu cầu Đảng CSVN xóa bỏ Điều 4 Hiến Pháp.
Bài trả lời phỏng vấn nhan đề “TS Cù Huy Hà Vũ, từ khởi kiện Thủ tướng đến yêu cầu xóa bỏ điều 4 Hiến pháp” này có đoạn:
“...để tránh bị triệt tiêu thậm chí một cách thê thảm, ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam không còn sự lựa chọn nào khác là phải quay về với dân tộc, quay về với nhân dân bằng cách tự phá bỏ quy chế độc tài của bản thân và thực hiện một nền chính trị Đa đảng.

Vả lại, Đa đảng là cội nguồn, là đường lối của chính Đảng cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sau này - sáng lập.” (hết trích)
Tại sao phải nhắc tới ông Hồ Chí Minh có ý quảng bá khái niệm dân chủ?
Ông Tống Văn Công, cựu tổng biên tập báo Lao Động (1989-1994), trong bài gửi cho trang viet-studies ngày 17-5-2010, nhan đề “Nhân ngày sinh lần thứ 120 của Chủ tịch Hồ Chí Minh” đã viết, có đoạn:
“... xin được khơi lại vấn đề trọng đại này, bắt đầu từ "Bản yêu sách của nhân dân An Nam" mà Nguyễn Ái Quốc đứng tên gửi tới Hội nghị Versailles tháng 1 năm 1919 gồm 8 điều:

1 - Tổng ân xá tất cả người bản xứ bị án tù chính trị.
2 - Cải cách nền pháp lý Đông Dương bằng cách để cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo pháp lý như người châu Âu. Xóa bỏ hoàn toàn những tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực trong người dân An Nam.
3 - Tự do báo chí và tự do ngôn luận.
4 - Tự do lập hội và hội họp.
5 - Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương.
6 - Tự do học tập. Thành lập các trường kỹ thuật tại tất cả các tỉnh cho người bản xứ.
7 - Thay chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật.
8 - Có đại biểu thường trực của người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp,để giúp cho Nghị viện biết được nguyện vọng của người bản xứ...”(hết trích)
Hóa ra, Đảng CSVN đánh đuổi ngoại bang để rồi lại thực dân chính người đồng chủng, đồng bào của mình.

Hãy xem, Nhật Bản thua trận Thế Chiến 2, bị Mỹ cai trị nhiều thập niên và bây giờ trở thành siêu cường kinh tế và kỹ thuật. Hãy xem, Nam Hàn có hiện diện của hàng chục ngàn quân Mỹ đóng nhiều thập niên, và bây giờ Nam Hàn trở thành siêu cường kinh tế và kỹ thuật. Còn CSVN xẻ dọc Trường Sơn để đánh đuổi Mỹ, để rồi đáy Biển Đông bị tàù ngầm TQ cắm cờ vẫn im lặng, và rồi lui cả nước về hàng nhược tiểu.
Hóa ra, Đảng CSVN sang đoạt cuộc kháng chiến, trừ diệt các đảng pháí quốc gia và giành riêng cuộc đánh đuổi người Pháp để rồi lại đi lùi còn thê thảm hơn cho dân tộc. Thời Pháp thuộc, báo chí còn tự do, đi laị còn tự do, học tập còn tự do, lập hội còn tự do nhiều lần hơn chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN của hiện nay.
Tại sao, nhà tù hiện nay lại khốc liệt hơn nhà tù thời Pháp? Có phải đó là những phản ứng gay gắt khi thấy đúng là con đường dân chủ hiện nay không thể đảo ngược được?

TRẦN KHẢI

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

ĐỘC LẬP CÓ RỒI, DÂN CHỦ Ở ĐÂU?

Phạm Trần
Những người lãnh đạo của đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam (CSVN) nói nhiều đến “quyền làm chủ của nhân dân” trong dịp Lễ độc lập lần thứ 65 để tưởng nhớ đến Hồ Chí Minh và Bản tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, nhưng Độc lập có rồi, Dân chủ ở đâu?

Trước khi đi tìm xem “quyền làm chủ” của người dân nằm ở chỗ nào trong xã hội Việt Nam ngày nay, mọi người hãy nghe Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Nước nói tại Lễ kỷ niệm ngày 1/9 (2010) ở Hà Nội : “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc ta, một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người dân Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám lật đổ chế độ phong kiến nhiều thế kỷ đã lỗi thời, đập tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, giành chính quyền về tay nhân dân.

Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, một nhà nước kiểu mới - nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân được xây dựng.”

Nhưng 65 năm qua, cuộc đời của người dân Việt Nam đã thay đổi ra sao? Có phải Hồ Chí Minh đã tiêu diệt giấc mơ đổi đời của nhân dân ngay trong trứng nước bằng chiếc bánh vẽ đòan kết dân tộc, dân chủ trong việc thành lập các Chính phủ lâm thời (2-9-1945), Chính phủ Liên hiệp Lâm thời (1-1-1946) và Liên hiệp kháng chiến (2-3-1946) , trước khi lực lượng Cộng sản dùng mọi thủ đọan chính trị để nắm trọn vẹn Chính quyến trong Chính phủ mới ra đời ngày 3/11/1946.

Do đó khi Triết nói Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã tạo nên “nhà nước kiểu mới - nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” là hòan tòan nói dối, một sự bịa đặt bôi nhọ lịch sử. Bởi vì nhân dân chỉ được đóng vai bù nhìn trong một thời gian ngắncho nền dân chủ sơ khai gỉa tạo do đảng CSVN đại diễn.

Triết còn tự chế ra rằng : “Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi của trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần đấu tranh quật cường của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; là sự lựa chọn của chính nhân dân Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam qua nhiều thập kỷ khảo nghiệm, tìm tòi con đường cứu nước; là kết quả tổng hợp của các phong trào cách mạng liên tục diễn ra trong 15 năm sau Ngày thành lập Đảng và để lại nhiều bài học lịch sử vô cùng quý giá cho cách mạng Việt Nam.”

Làm gì có chuyện đảng CSVN lãnh đạo Cuộc Cách mạng tháng 8 năm 1945? Nếu không tin thì Triết cứ đi hỏi những người có mặt trong ngày này hãy còn sống ở Việt Nam.

Nhà văn Tô Hải, một cựu đảng viên kỳ cựu đã nói thẳng chuyện Việt Minh “Cướp chính quyền từ trong tay Nhật + Pháp không hề có!. Mà đơn giản chỉ là một cuộc lật đổ một chính quyền còn non trẻ: Chính phủ Trần trọng Kim với những nhân vật nổi tiếng cả trong lẫn ngoài nước.”

Ông viết như hét ra từng chữ : “Nói trắng ra rằng, dân Việt Nam chẳng hề biết đến cái sự lãnh đạo tài tình nào của Đảng Cộng Sản trước cái ngày 19 tháng 8 năm 1945 ấy.”

Trong bài viết “Nhân ngày Quốc khánh 2/9, bàn chuyện chính danh”, Phó Giáo sư, Tiến Sỹ (Đại học Quốc gia Hà Nội) Phạm Duy Nghĩa đã bổ túc thêm : “Cách mạng tháng 8, đánh Pháp, đuổi Nhật, giành lại nền độc lập – người ta vẫn nói như thế nhân ngày Quốc khánh. Trên thực tế, vào tháng 8 năm 1945, Pháp đã mất Đông Dương, hàng vạn quan, lính Pháp đang bị Nhật cầm tù hoặc lẩn trốn nhục nhã ê chề. Vào tháng ấy, Nhật cũng đã bại trận, quân tướng mất tinh thần ủ rũ chờ ngày nộp vũ khí cho quân Đồng minh (Mỹ, Anh, Trung Hoa Dân quốc). Việt minh trên thực tế cũng tránh đánh Nhật… Như vậy, Cách mạng tháng 8, về bản chất là một cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền trên danh nghĩa từ tay chế độ Bảo Đại - Trần Trọng Kim.”

Vậy mà Triết còn nói hươu nói vượn rằng sự thành công của Cuộc Cáh mạng tháng 8 năm 1945 đã để lại “ bài học về nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc.”

Liên kết độc lập với chủ nghĩa xã hội là hành động rất trơ trẽn. Hãy nhìn sang nước Ấn Độ, độc lập từ Anh quốc năm 1947 có cần phải đi theo chủ nghĩa xã hội theo kiểu Cộng sản chủ nghĩa để dành được độc lập đâu, hay người CSVN đã xã hội hóa chủ nghĩa Cộng sản để che đậy cho hành tung Cộng sản của mình?

Bằng chứng mặc “áo gấm đi đêm” của người CSVN còn lộ nguyên hình trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991) của Đại hội đảng kỳ VII tháng 6/1991. Cương lĩnh này, được coi như Kinh Thánh của đảng đã khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước ta theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Như vậy thì hành động phô trương theo “xã hội chủ nghĩa” bây giờ của người Cộng sản Việt Nam có khác chi với “chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng (Cộng sản) Hồ Chí Minh” không?

Tính gian dối của Bài diễn văn còn lộ ra khi Nguyễn Minh Triết kể công lực lượng Cộng sản đánh thắng quân Pháp năm 1954 ở Điện Biên Phủ.

Triết xuyên tạc rằng: “Thực dân Pháp vừa rút đi, đế quốc Mỹ lại nhảy vào xâm lược Việt Nam với mưu đồ biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự chống chủ nghĩa xã hội. Trước thách thức chưa từng có trong lịch sử dân tộc, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta và Lời hiệu triệu “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước nhất tề ra trận, quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Trải qua cuộc chiến đấu trường kỳ, đầy hy sinh, oanh liệt, cuối cùng bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta đã giành thắng lợi vẻ vang, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông về một mối.”

Triết sinh ngày 8 tháng 10 năm 1942 tại xã Phú An, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương ắt phải biết rõ hơn ai hết rằng Hoa Kỳ có xâm lược Việt Nam như quân đội Cộng sản miền Bắc xâm lăng miền Nam Việt Nam hay không?

Trong chiến dịch xâm lăng miền Nam của quân đội miền Bắc từ năm 1972 đến ngày chấm dứt chiến tranh 30 tháng 4 năm 1975 từ lâu đã được guồng máy tuyên truyền của đảng bịa đặt là “cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975” cũng được Triết lập lại như con vẹt trong Bài diễn văn. Triết không nhớ rằng khi lực lượng Bắc việt tiến gấn Sài Gòn thì lúc đó Triết là một Du kích quân Cộng sản miền Nam họat động ở vùng ven biên. Chẳng lẽ Triết không thấy dân miền Nam đã lũ lượt bồng bế nhau bỏ làng, bỏ xóm chạy về phía Quân đội Việt Nam Cộng hòa mỗi khi bị quân Cộng sản tấn công hay sao?

Vì vậy, kể cả người dân miền Bắc và Bộ đội Cộng sản chiếm Sài Gòn, ai cũng biết không làm gì có chuyện “nổi dậy” của người dân miền Nam chống Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trong chiến dịch tấn côn quân sự năm 1975 của quân đội Cộng sản.

Lớn lên ở miền Nam trong chiến tranh chẳng lẽ Triết không thấy sự thật này mà còn ngang nhiên xuyên tạc lịch sử và danh dự Chủ tịch Nước của mình khi đồng lõa với những cuộc được gọi là “nổi dậy” tự chế này.

Nhưng Triết đã làm mà còn nói dối trước mặt cả Ngọai giao đòan nước ngòai có mặt trong buổi lễ.

Đâu phải chỉ có một mình Triết đã ăn nói hồ đồ về quyền làm chủ đất nước của người dân.

Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng còn hăng say bôi bác chuyên nghiệp hơn.

Trong Bài viết “Phát triển nhanh và bền vững là quan điểm xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta” được phổ biến mới đây, chỉ trong một đọan ngắn mà Dũng đã dùng tới 11 chữ “Dân chủ” để to son cho chế độ độc tài đảng trị phi dân chủ bậc nhất ở Đông Nam Á.

Dũng viết trong điểm thứ 5 : “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ (1) rộng rãi, nhất là dân chủ (2) trực tiếp, xây dựng xã hội đồng thuận, cởi mở.

Thực hiện dân chủ (3) là một thành tố của phát triển bền vững, được Đảng ta nêu rõ tại Đại hội Đảng lần thứ X, nhằm hoàn thiện, làm phong phú thêm nội dung phát triển bền vững. Điều này xuất phát từ luận điểm rất quan trọng: con người vừa là mục tiêu vừa là chủ thể của phát triển. Nguồn lực con người là lợi thế cạnh tranh dài hạn, là yếu tố quyết định sự phát triển của một quốc gia. Thực hành dân chủ (4) rộng rãi sẽ phát huy khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Dân chủ (5) càng cao thì đồng thuận xã hội càng sâu, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng được củng cố vững chắc.

Để phát huy dân chủ, làm cho dân chủ (6) trở thành nguồn lực phát triển, phải bảo đảm hai điều kiện: (1) tạo cơ hội cho mọi người được học tập, xây dựng xã hội học tập nhằm nâng cao dân trí; (2) thực hiện quyền làm chủ của nhân dân thông qua các thiết chế bảo đảm dân chủ (7) trong mọi mặt của đời sống xã hội, mở rộng dân chủ (8) trực tiếp.

Dân chủ (9) phải gắn với kỷ luật, kỷ cương.

Có thể nói nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường đi liền với bảo đảm phúc lợi - an sinh xã hội và dân chủ (10) xã hội chủ nghĩa là 3 trụ cột chính trong tiến trình phát triển của đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong đó, dân chủ (11) vừa là mục tiêu vừa là động lực. Cả 3 trụ cột này phải mạnh và có sự phát triển tương thích, đồng bộ. Một trụ cột yếu sẽ cản trở sự vận động của các trụ cột khác và ảnh hưởng đến sự phát triển chung.”

Nhưng đâu phải cứ nói phát triển dân chủ hay thực hiện dân chủ là người dân có dân chủ ? Bằng chứng dân chủ ở đâu khi người dân không có quyền ứng cử và bầu cử tự do, không có quyền được hội họp, lập hội, ra báo, lập đài phát thanh, truyền hình, tự do tôn giáo mà không phải gia nhập Mặt trận Tổ quốc của đảng?

Nếu ai ở Việt Nam cũng được tự do ăn nói, tự do phê bình nhà nước, tự do chỉ trích lãnh đạo thì đất nước đâu có nhiều bất công và cán bộ tham nhũng ngập đầu như bây giờ?

Luật sư mới ra tù Lê Thị Công Nhân đã chứng minh cho tình trạng phi dân chủ của đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam trong Cuộc Phỏng vấn của Báo điển tử Đối Thọai ngày 28-8-2010.

Chị nói : “Mọi cái trong đời sống dân sinh cơ bản nhất đều quá tải: giao thông quá tải, bệnh viện quá tải, trường học quá tải, môi trường quá tải, nhà tù lại càng quá tải chỉ có có pháp luật dân chủ và văn hóa dân chủ là cực kỳ thiếu thốn, thậm chỉ gần như không có. Tôi cho rằng, hậu quả của những sự quá tải kia là do thiếu thốn về dân chủ, thiếu thốn không phải vì nó không có, mà nó đã bị hủy diệt, lừa đảo, đánh tráo từ khi Việt nam rơi vào ách cai trị độc tài của băng đảng cộng sản. Có lẽ là tôi hơi đi xa so với câu hỏi rồi, nhưng mong quý vị cũng thông cảm cho tôi vì nói lên được suy nghĩ của mình cũng làm nhẹ lòng, mà nhẹ lòng thì chắc chắn là sẽ đỡ mệt hơn.”

Do đó lý luận dân chủ kiểu “thùng rỗng kêu to” của Nguyễn Tấn Dũng có gía trị gì trong đời sống của dân bây giờ?

Dũng còn khoe Nhà nước của Việt Nam bây giờ là “nhà nước pháp quyền” nhưng lại đảng lại dung túng và nuôi dưỡng những cán bộ, đảng viên coi dân như con tôm, cái tép muốn chà, muốn đạp lúc nào cũng được.

Hơn nữa nếu là một nhà nước pháp trị thì tại sao những kẻ tham nhũng có chức có quyền lại được bao che, để cho lọt luới pháp luật còn kẻ an cắp cò con lại bị ngồi tù khói trán?

Và nếu Nguyễn Tấn Dũng thật lòng muốn thực thi dân chủ và tôn trọng quyền làm chủ của dân thì tại sao lại ra lệnh cho Công an đàn áp những người dân yêu nước xuống đường chống Tầu tiếp tục chiếm đóng Hòang Sa (từ ngày 19 tháng 1 năm 1974) và toan tính đánh cuớp Trường Sa, sau khi đã chiếm mất 8 đảo của quần đảo này năm 1989 như đã xẩy ra ở Sài Gòn và Hà Nội năm 2007?

Cả Triết và Dũng hãy trả lời trước nhân dân về những hành động phản dân chủ của mình để cho dân biết dân chủ đang nằm ở đâu khi họ ăn mừng lễ Độc lập ?

Phạm Trần
(09/010)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Chính Trị và Truyền thông dòng chính

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Dòng Chính

Lúc này, từ ngữ “Dòng Chính” được sử dụng khá phổ biến trong cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Nhan nhản trên báo chí, trên radio, trên talkshow, trên internet, người ta không ngớt nói đến báo chí dòng chính, chính trị dòng chính. Thiển nghĩ, trong tương lai, biết đâu sẽ có thêm: Tôn giáo dòng chính, Thương mại dòng chính, Kỹ nghệ dòng chính, Dịch vụ dòng chính nữa v.v. Những chữ mới ước đoán chưa đi vào sử dụng, chúng tôi chưa dám bàn tới, chỉ xin tản mạn đôi điều về hai từ ngữ đang được nói hoặc viết nhiều là các chữ truyền thông dòng chính, và chính trị dòng chính thôi.

Truyền Thông Dòng Chính

Nhóm chữ “truyền thông dòng chính” là một chuyển ngữ từ Mainstream Media của tiếng Mỹ. Chắc chắn thế rồi. Đã “chính”, thì tất nhiên phải có “tà”. Chính/tà là hai phạm trù đối nghịch. Đã có truyền thông dòng chính thì ắt phải có truyền thông dòng tà, nhưng không nghe ai nói đến truyền thông dòng tà. Cũng vậy, có chính thì không thể không có phụ. Chính/phụ là hai giá trị đẳng cấp. Có truyền thông dòng chính, nhưng không thấy có truyền thông dòng phụ ở nước Mỹ này. Ít nữa bên VN hiện nay, người ta còn phân biệt ra báo chí lề phải của bọn thống trị, với báo chí lề trái tức báo chui của người dân bị trị. Hoặc, thông tin trong luồng do các ống loa chính thức phát ra, với thông tin ngoài luồng của dân chúng ngoài đường, ngoài chợ. Chung nhất, có cái chính thì ít ra cũng phải có cái gọi là “không chính” nào đó. Như thế mới phải. Nhưng đáng tiếc, chúng ta đã không có truyền thông nào là truyền thông ngoài dòng chính cả. Như thế có phải truyền thông dòng chính một mình một chợ trong cái chế độ dân chủ đa nguyên của nước Mỹ mà chúng ta đang sống không? Tò mò một chút, đi tìm câu giải đáp cho cái thắc mắc này có lẽ cũng không phải là chuyện vô ích.

Trong Thế Chiến I, qua những thỏa thuận bí mật và xảo quyệt, sau khi nước Mỹ cam kết tham gia vào cuộc chiến, các chiến lược gia chính trị nhận ra rằng mọi sự đã sẵn sàng, nhưng còn có một cái gì đó chưa ổn, đó là vấn đề lòng dân. Làm sao chinh phục được cảm tình của quần chúng là vấn đề cần phải đặt ra. Lúc đó Wall Street kiểm soát nhiều bộ phận quan trọng đáng kể của ngành truyền thông. Gia đình Morgan, một thế lực nổi tiếng về ngành ngân hàng, phát triển tới mức thành một đế quốc tài chánh và kỹ nghệ, đã lựa chọn những nhà quản lý hàng đầu để điều khiển nhà phát hành Harper & Brothers lúc đó đang gặp khó khăn. Riêng trong lãnh vực báo chí, Pierpont Morgan đã kiểm soát các tờ The New York Sun, The Boston, News Bureau, Barron’s magazine, và The Wall Street Journal. Tháng 3 năm 1915, khả năng của nhà Morgan, của các ngành sắt thép, đóng tầu và vũ khí, cũng như những cơ sở phụ thuộc của họ đã tập hợp được 12 nhà báo thượng thặng trên thế giới. Những nhà báo này được mướn để làm công việc là lựa ra một số tờ báo có ảnh hưởng nhất tại Hoa Kỳ và đủ hữu hiệu để kiểm soát chính sách chung hàng ngày của báo chí. Họ thấy rằng cần phải mua chuộc sự kiểm soát của 25 tờ báo và các hãng tin lớn như NewYork Times, Washington Post, NBC, CBS v.v. Sự thỏa thuận đạt được tức là đường lối của tờ báo đã bị mua đứt. Mỗi tờ báo được đặt một chủ bút để giám sát cặn kẽ mọi thông tin liên hệ tới các vấn đề thời sự, quân sự, các chính sách về tài chánh, và tất cả các vấn đề quốc gia cũng như quốc tế được coi là sống còn đối với lợi ích của những người đã bỏ tiền mua các tờ báo đó. Đến năm 1937, tập đoàn Morgan đã kiểm soát được dịch vụ quảng cáo hơn bất cứ một nhóm tài chánh đơn độc nào. Đấy là bước khởi đầu báo chí Mỹ sắp hàng đi vào hệ thống, có lãnh đạo, và được chỉ đạo cho mục đích làm ăn của các “đại gia”.

Qua thời gian và qua những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, truyền thông trở thành một sức mạnh có thể nói là vô địch. Kết quả thần sầu quỉ khốc của chiến dịch phản chiến của hệ thống truyền thông Mỹ trong cuộc chiến VN là một thí dụ điển hình nhất. Thời Đệ I VNCH, trong biến cố HT Thích Quảng Đức “tự thiêu”, chỉ có hai nhà báo thuộc truyền thông dòng chính Mỹ được mời đến chụp hình và làm phóng sự là David Halberstam của New York Times và Malcolm Brownes của AP. Hai nhà báo này sau đó được lãnh giải thưởng Pulitzer vì công lao thổi lửa thiêu rụi được cả chế độ Đệ I VNCH, đưa miền Nam dần đến chỗ mất nước hoàn toàn. Hệ thống này bao gồm không những báo viết, radio, mà lợi hại nhất là truyền hình và internet. Chính vì thế các tập đoàn tư bản, các chính quyền, dù là dân chủ hay độc tài, đều muốn nắm truyền thông trong tay. Hệ thống truyền thông đề cập đến trên đây hiện nay được xây dựng thành một đội ngũ, mà những cơ quan truyền thông khác của Mỹ nằm ngoài nó gọi nó là Truyền thông dòng chính, tức Mainstream Media. Cũng có khi người Mỹ gọi là truyền thông cấp tiến (Liberal Media). Và đôi khi nữa là truyền thông tả phái (Leftist Media). Mainstream Media do đó mà có. Như vậy là người Mỹ muốn gọi Mainstream Media là nhóm truyền thông khuynh tả hoặc cấp tiến để phân biệt với những cơ sở truyền thông khác theo đường lối bảo thủ (conservative) hay độc lập. Người Việt tỵ nạn thường quen gọi là báo chí khuynh tả hay truyền thông phản chiến. Mainstream Media là sở hữu của các tập đoàn tư bản. Nhiệm vụ của nó là phục vụ cho các mục tiêu của tư bản.

Truyền thông dòng chính hiện nay do Hội Đồng Liên Lạc Ngoại Giao (The Council On Foreign Relations viết tắt là CFR) nắm giữ. CFR do Edward Mandell House, một tay Marxist, cố vấn trưởng của TT Woodrow Wilson (1913-1921) sáng lập năm 1921 và được nhà Rockefeller tài trợ. CFR là một hội vô vị lợi (non profit), vô đảng phải (non partisan). Kết luận của phái đoàn điều tra Reece của Quốc Hội năm 1953 cho thấy CFR công khai truyền bá khái niệm toàn cầu hóa thế giới với mục tiêu thiết lập một Trật Tự Thế Giới Mới (New World Order). Ảnh hưởng của CFR tập trung vào các Bộ Ngoại Giao, Quốc Phòng, và Tài Chánh Mỹ. Hội viên của CFR có mặt và giữ nhiều trọng trách tại các bộ vừa kể và hầu như tại tất cả các cơ quan quyền lực khác của chính quyền Hoa Kỳ. Tháng 10-1993 Richard Harwood của tờ Washington Post tiết lộ một chút về phận sự của các nhà báo của CFR. Ông nói: Tư cách thành viên của CFR là việc thừa nhận mình được bước lên giai cấp cai trị, qua đó, họ không thuần chỉ phân tách và cắt nghĩa chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, mà còn giúp thiết lập ra chính sách nữa (Their membership is an acknowledgment of their ascension into the American ruling class where they do not merely analyze and interpret foreign policy for the United States, they help make it). Các tạp chí lớn có liên hệ với CFR là các tờ Life, Money, People, Fotune, Time, US News and World Report, Newsweek và một số khác nữa. Những nhà phát hành nổi tiếng đại diện cho CFR như IBM Publishing and Printing, Xerox, Viking Press, Harper and Row, Random House, và Harper Brothers. Song song với các hệ thống chính, báo và tạp chí, cơ sở Rockfeller còn có mặt ở trong ngành xuất bản sách. Tính ra có chừng 50 gia đình kiểm soát toàn bộ báo chí Mỹ. Qua CFR, Bộ Ngoại Giao, Ngũ Giác Đài, và Tòa Bạch Ốc đòi nắm quyền điều hành mọi tin tức. Do đó, người dân chỉ được nghe những gì mà người ta muốn cho nghe. Sự thể này chính đáng dẫn đến sự dị nghị về các giá trị của tính vô tư và trung thực của truyền thông dòng chính Mỹ.

Chính Trị Dòng Chính

Tiếng Mỹ chữ “Chính Trị Dòng Chính” có lẽ là Mainstream Politics? Trong phạm vi hiểu biết hạn hẹp của mình, người viết thú thực chưa gặp thấy chữ này trên sách báo Mỹ, mà chỉ thấy một số các nhà hoạt động chính trị và cộng đồng người Việt sử dụng. Nếu có thì hẳn là người Mỹ sử dụng với một ý nghĩa nào đó riêng của họ. Những người VN này hình như muốn ngụ ý rằng Chính Trị Dòng Chính tức là tham gia chính quyền các cấp thông qua các cuộc bầu cử. Như vậy, người ta có thể nêu thắc mắc rằng: vậy thì những người Mỹ hoạt động chính trị ngoài hệ thống công quyền và không do dân bầu, phải nên gọi họ là chính trị dòng gì? Nhiều người hoạt động chính trị rất thành công ngoài hệ thống công quyền như Mục Sư Luther Martin King Jr., các thành viên của CFR v.v., phải gọi họ là gì? Như trên vừa nói, CFR là một tổ chức phi chính phủ hoạch định ra các chính sách cho chính quyền Mỹ. Họ chỉ là một hội tư nhân, không đảng phái. Đàng khác từ trước tới nay, hai chính đảng Cộng Hòa và Dân Chủ thay nhau cầm quyền, nhưng đường lối chính sách của Mỹ tại VN vẫn liên tục chứ có thay đổi gì đâu. Điều đó cho thấy cái mà nhiều người VN gọi là chính trị dòng chính là một sản phẩm hoàn toàn tưởng tượng. Dù Cộng Hoà hay Dân Chủ, chỉ có một dòng là dòng nắm quyền thi hành mục tiêu toàn cầu hóa của tư bản Mỹ.

Bằng vào thực tại CFR, và như mọi người đều tin tưởng: nước Mỹ được cai trị bởi một chính phủ vô hình. Chính phủ vô hình nói trắng ra là CFR mới là những người lãnh đạo thật sư đang “Run” nước Mỹ tại hậu trường. Chính quyền Hoa Kỳ tại Washington chỉ là những nhà điều hành công việc của nước Mỹ. Hai hệ quả phát sinh từ thực tế chính trị này là: thứ nhất, nền dân chủ Mỹ trở thành một nền dân chủ có định hướng. Và thứ hai, chính quyền Mỹ là một cơ chế được điều hành bằng remote control. Nền dân chủ Mỹ được cả thế giới ngưỡng mộ, và coi là mô hình đáng bắt chước nó là như thế. Đường lối chính trị đặc thù này, ngoài việc phục vụ quyền lợi quốc gia, còn nhắm tới cái chủ đích của những người làm ra chính sách là thiết lập một trật tự thế giới mới (New World Order), hoặc còn gọi là nền Cộng Hòa Toàn Cầu (Universal Republic). Tất cả chính sách đối ngoại do CFR hoạch định đều nằm trong mục tiêu toàn cầu hóa (globalization) của Mỹ. Như thế thì những người cho rằng gia nhập cái gọi là chính trị dòng chính Hoa Kỳ để mưu đồ giải trừ chế độ CS trong nước, nghĩa là làm thay đổi chính sách của Mỹ về VN, là một chủ trương hoàn toàn phiêu lưu và không tưởng. Phiêu lưu bởi vì nó chẳng đi đến đâu cả. Và không tưởng ở chỗ là đã tỵ nạn CS trên đất Mỹ, sống với người Mỹ, mà cứ còn mơ tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ giúp mình tiêu diệt CS để khôi phục lại đất nước. Nhiều nhà lãnh đạo Mỹ và thế giới như Truman, Eisenhower, Nixon, cha con Bush, Churchill, Gorbachev … chủ trương việc toàn cầu hóa. TT Bush con trong bài Diễn Văn Tình Trạng Liên Bang năm 1991, cổ võ cho cái trật tự này như sau: …. để hoàn thành khát vọng của toàn nhân loại, dựa trên sự chia sẻ các nguyên tắc và luật lệ, nó là ánh sáng của hàng ngàn đốm sáng, là những luồng gió thay đối đến với chúng ta.

Xây dựng một trật tự thế giới thật ra không phải là một khái niệm mới mẻ gì. Khoảng năm thế kỷ trước Công Nguyên, ở bên Tầu, Khổng Tử đã rao giảng một trật tự xã hội phong kiến dựa trên 3 trụ cột “Quân, Sư, Phụ”. Người đàn bà trong xã hội phong kiến không có tư cách độc lập, mà chỉ là một nhân tố phụ thuộc: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, và phu tử tòng tử. It lâu sau tại Âu Châu, triết gia và nhà toán học Hy Lạp Plato cổ võ một mô hình quản lý xã hội khác. Ông hô hào dẹp bỏ chính phủ và các cấu trúc xã hội đang có, để thiết lập một trật tự mới, trong đó có 3 giai cấp: giai cấp cầm quyền, giai cấp quân nhân để bảo vệ giai cấp nắm quyền, và giai cấp lao động. Bãi bỏ hôn nhân, gia đình và tư hữu. Tất cả đàn bà là của chung đàn ông và ngược lại. Trẻ con sinh ra được xã hội nuôi. Khái niệm cộng sản bắt nguồn từ tư tưởng của Plato. Tầng lớp chóp bu nắm quyền quản lý xã hội, Plato gọi là triết gia (philosopher). Tại Mỹ ngày nay, philosopher là các elite của các hội kín như CFR, Trilateral Commision, Skull & Bones v.v. Trật tư xã hội của Plato được các elite cải biên và đang từ từ hình thành. Vì thế về nhiều mặt, tư bản và cộng sản có những điểm giống nhau, vì đều bắt nguồn từ tư tưởng của Plato, nhưng tư bản ở tầng trên cao hơn cộng sản.

Trật tự thế giới mới được thiết lập bằng con đường Toàn Cầu Hóa. Thế giới mới được điều hành bởi một nhà nước. Hội Quốc Liên rồi Liên Hiệp Quốc ngày nay là những bước hình thành của cái cơ chế nhà nước toàn cầu. Cơ chế toàn cầu này nắm tất cả quyền lực chính trị, tiền tệ, tinh thần và các giáo hội. Việc lưu động hóa các nhà máy sản xuất có tác dụng làm phát triển đồng đều tất cả mọi khu vực trên thế giới. Phong trào tự do luyến ái và tự do phá thai sẽ chận dứng sự bùng nổ dân số, quân bình và ổn định nền kinh tế trên toàn cầu. Điểm đáng nhấn mạnh là Nền trật tự thế giới mới sẽ đưa đến một tôn giáo toàn cầu, đó là đạo thờ Thần Tài (Mammonism, đúng ra là thờ Satan). Các chiến dịch chống phá, bài bác tôn giáo, đặc biệt là Thiên Chúa Giáo, tục hóa các nếp sống và văn hóa mang tính cách tôn giáo v.v. đều nhắm đến mục đích tối hậu này. Đại cương cho thấy những điểm gần như tương đồng giữa tư bản và cộng sản: xóa mờ các ranh giới quốc gia để tiến tới một thế giới “đại đồng”, biến con người thành công cụ sản xuất, phá bỏ mọi tôn giáo, cách riêng Thiên Chúa Giáo. Để tiến tới một thế giới như thế, CS áp dụng đường lối cưỡng bách, trong khi tư bản sử dụng các biện pháp kinh tế, nhẹ nhàng nhưng hiệu quả hơn nhiều. Tư bản ở bậc cao hơn CS là như thế.

Đường lối chính trị tại Mỹ có thể tóm gọn trong một câu ngắn, rất thông dụng: Có tiền mua tiên cũng được, hay, đồng tiền làm nên tất cả. Sự giầu sang luôn luôn mơ ước quyền lực, và quyền lực đẻ ra sự giầu sang. Quyền lực và tiền tài là chị em sinh đôi. Chúng là mơ ước bất tận của nhiều người. Để đạt được chúng, người ta gạt bỏ tinh thần dân tộc, lòng yêu tổ quốc, chối bỏ mọi lý tưởng, và đạp tên mọi lâp trường chính trị. Vì thế không lạ gì khi thấy nước Mỹ đã đẻ ra kẻ thù, nuôi dưỡng nó, rồi diệt nó. Tất cả chỉ để thu lợi. Sự thể xẩy ra đã quá nhiều. Mỹ đã giúp đỡ tiền bạc cho cuộc Cách Mạng Vô Sản Nga thành công. Mỹ đã giúp cho Sadam Hussein nắm quyền tại Irak. Mỹ đã giúp kỹ thuật nguyên tử và hỗ trợ kinh tế cho Trung Cộng trở thành một cường quốc như ngày nay. Và chính quyền Obama đang ngấm ngầm nâng đỡ khủng bố tại Hoa Kỳ. Tất cả những chính sách ngoài binh thơ đó đều được báo chí dòng chính ủng hộ triệt để.

Chính sách của Mỹ tại VN cũng nằm ngoài binh thư, sách vở như đã thấy. Trong khi chiến tranh nghiêng về phía có lợi là VNCH, thì truyền thông dòng chính Mỹ thổi phong trào phản chiến bùng lên để giúp quân đội Mỹ rút lui. Nước Mỹ chẳng cảm thấy hổ thẹn là một cường quốc số một phải thua trận. Đợi hơn ba thập niên sau cho đến khi VGCS cùng đường, rơi vào ngõ bí không lối thoát, Mỹ mới chứng minh việc tự ý thua trận của mình là có lý. Đây rõ ràng là mưu đồ của nước Mỹ mà những chính khách tỵ nạn không nhìn ra. Đã có đồng minh VNCH để ngăn Trung Cộng thì lý do gì Mỹ lại triệt bỏ VNCH? Tại sao Mỹ cố tình dung túng VGCS đến ngày nay để dùng nó làm lực lượng án ngữ Tầu cộng? Có ba lý do để giải thích:

- Thứ nhất, VN là một vị trí chiến lược tối quan trọng tại Á Châu, lại giầu tài nguyên trong mắt bất cứ một cường quốc nào. Do đó Mỹ không thể bỏ mặc.
- Thứ hai, bản chất của đảng VGCS là bán nước nên chúng sãn sàng làm đầy tớ cho bất cứ kẻ nào miễn là được sống còn. VGCS hiện ở vào cái thế nếu muốn sống bắt buộc phải làm tay sai, không tay sai cho Mỹ thì tay sai cho Tầu. Người Quốc Gia không như thế. Chịu cúi đầu làm tay sai phục vụ cho quyền lợi của ngoại bang để được sống, người QG không thể làm được. Người Mỹ hiểu điều này.
- Thứ ba, trên bình diện lý thuyết, với chủ trương xây dựng một Trật Tự Thế Giới Mới, Mỹ không thể chấp nhận học thuyết Cần Lao Nhân Vị, vì học thuyết này chủ trương phục vụ con người trong tư cách là một nhân vị, trong khi Trật Tự Thế Giới Mới cũng giống như CS, phục vụ tập thể (class) chứ không phục vụ cá nhân. Vì thế Mỹ phải giết TT Ngô Đình Diệm và lý thuyết Cần Lao Nhân Vị của ông. Nên nhớ, William Averell harriman, phụ tá Bộ Trưởng Ngoại Giao phụ trách Á Đông Sự Vụ dưới thời TT Kennedy, là người cực kỳ nham hiểm và độc ác đã dùng mọi thủ đoạn và biện pháp lươn lẹo để giết anh em TT Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu. Ông ta là hội viên hội kín Skull & Bones và là thành viên rất có thế giá của CFR. Năm 1968 khi làm đại diện Hoa Kỳ tại Hội Đàn Paris, Harriman thực hiện mưu đồ trao miền Nam cho cộng sản bắc Việt. Văn bản kết thúc hội đàm chứng minh điều đó.

Sự thật rành rành là Hoa Kỳ chủ tâm nuôi dưỡng và sử dụng VGCS, thế mà còn có nhiều ngưòi còn mơ ngủ, tưởng dựa vào Hoa Kỳ để giải quyết chế độ CS là xong thì có điên không. Họ không thể dựa vào Hoa Kỳ để muốn làm gì thì làm. Trái lại, chắc chắn họ sẽ bị người Mỹ lợi dụng cho những mục tiêu của Mỹ. Việc có thể tiên đoán được là một ngày nào đó, họ sẽ được tham gia vào chế độ dân chủ cuội tại VN, một kiểu hòa hợp hòa giải mà Mỹ và VGCS đang ra sức tiền chế. Nhưng nhiệm vụ chính của họ là làm chó canh giữ cho quyền lợi của các tập đoàn tư bản của Hoa Kỳ tại VN. Có ông chính khách còn đem cộng đồng Do Thái ra so sánh để bênh vực cho quan điểm của mình. Họ không biết rằng vào đầu thập niên 1990 người ta ước lượng nhà Rothschild có thể kiểm soát số tài sản tương tương với một nửa của cải của cả thế giới. Rothschild là một gia đình Âu gốc Do Thái. Cho nên người Do Thái nắm đầu các chính quyền Âu Mỹ bắt phải bảo vệ Israel không lạ gì.

Một vài ông dân cử VN cấp làng xã hoặc quận huyện trên nước Mỹ tin tưởng xoay chuyển được chính sách của Mỹ về VN là chuyện hão huyền. Một đàng họ nên học bài học của tướng Vang Pao của nước Lào. Một đàng hãy có thực lực như người Do Thái và đoàn kết mưu đồ phục quốc như người Do Thái rồi hãy nói đến chuyện lợi dụng Hoa Kỳ để làm việc này việc nọ. Một mình, không thương cũng chẳng ngựa, lại không được đồng hương hậu thuẫn như Hoàng Duy Hùng mà tính chuyện về VN để xoay chuyển càn khôn có phải là tức cười không? Dân cử cấp xã ấp hay tỉnh thành chỉ có thể làm công việc ở xã ấp tỉnh thành. Cho dù có là dân cử liên bang, việc xoay chuyển vận mệnh quốc gia nơi quê hương vẫn là chuyện đội đá vá trời, bởi vì quí vị không phải là người đẻ ra chính sách của nước Mỹ. Muốn đảo ngược lại chính sách Mỹ để cứu nước, quí vị cần có tiền bạc như nhà Rothschild hay ít là Rockefeller. Hoặc quí vị phải chui vào thật đông các tổ chức CFR, Illuminati, Trilateral, Skull & Bones. Nếu không, quí vị chỉ còn cách là người tỵ nạn nên làm theo cách thức riêng của người tỵ nạn. Dựa hơi mất mạng dễ như chơi. Có như thế, độc lập tự chủ cho dân tộc mới được bảo đảm, nhân dân VN mới có thể nhìn bạn bè năm châu một cách kiêu hãnh, và việc làm của quí vị mới vẻ vang được.

Nỗ lực đóng góp cho cộng đồng để thăng tiến và bảo vệ quyền lợi của cộng đồng, phát huy những giá trị truyền thống của cộng đồng đều là những việc làm rất đáng khen và cần được khuyến khích, nhưng cần phải biết người biết mình mới trăm trận trăm thắng được. Nói rằng tham gia chính trị dòng chính để dựa vào Mỹ hầu lật đổ CS chỉ là huênh hoang phét lác. Trên bình diện quốc tế, để giải quyết các vấn đề thế gìới, nước Mỹ đã có một sách lược chung do CFR làm ra. Chẳng hạn về vấn đề chống CS, sách lược độc đáo này được nữ biên tập viên Edith Kermit Roosevelt, cháu gái của TT Theodore Roosevelt, trình bầy đơn giản như sau: Cách chống cộng hữu hiệu nhất là dùng một nhà nước xã hội chủ nghĩa toàn cầu được cai trị bởi các chuyên gia theo chuyên môn của họ (The best way to fight communism is by a One World socialist state governed by experts like themselves). Từ sách lược chống CS, người ta có thể suy ra sách lược chống khủng bố cũng như vậy chăng: Cách chống khủng bố hữu hiệu nhất là dùng một nhà nước khủng bố toàn cầu được cai trị bởi các chuyên gia?!

Nước Mỹ Bừng Tỉnh

Thời gian hai tuần lễ đầu tháng 8-2010, sinh viên Mỹ tại Texas và một số tiểu bang kề cận đã kéo nhau xuống đường biểu tình. Họ xuống đường không mang khẩu hiệu “Make love, not war” (làm tình chứ không gây chiến) như thời xưa, mà với biểu ngữ rất khác lạ là “ May God protect America from Socialism” (xin Chúa gìn giữ nước Mỹ khỏi chủ nghĩa xã hội). Và đây là vài câu trao đổi chớp nhoáng trên đường phố:

- Các em thấy xã hội chủ nghĩa có gì mà khó chịu? - một người phụ nữ đi đường hỏi.

Sinh viên trả lời:

- Có nhiều lắm, ăn cắp của người giầu cho người ngèo là một. Điều đó không đúng. Không chỉ là sai lầm, mà bất cứ ở đâu có chủ nghĩa xã hội hoặc CS, chỉ có người nghèo càng nghèo thêm. Hãy nhìn vào các nước mà lý tưởng đại đồng ngự trị như Cuba, Tầu, Vietnam, Nga, Venezuela, ở đó mọi tư hữu bị triệt tiêu hết.

Thứ Bẩy cuối tuần rồi (28-8-2010), một cuộc xuống đường tuần hành khác vĩ đại với trên nửa triệu người tham dự diễn ra tại Washington do nhà truyền thông Glenn Beck tổ chức. Cuộc tuần hành đặt tên là Phục Hồi Danh Dự (Restoring Honor Rally). Cuộc tuần hành kêu gọi sự hồi sinh tôn giáo và văn hóa Mỹ, bởi vì nước Mỹ ngày nay đã đi lạc quá lâu vào đêm tối. Nước Mỹ cần trở về với Thượng Đế.

Từ hai năm nay, phong trào Tea Party (Tea Party Movement) với mục đích kêu gọi nước Mỹ trở về nguồn với các giá trị truyền thống đã gây được những ảnh hưởng đáng kể. Tại nhiều nơi, các ứng cử viên đi theo đường lối của Phong Trào và được Phong Trào ủng hộ đã gặt hái thành công.

Nước Mỹ lâu nay đi vào đêm tối do cái mà một số người tưởng tượng ra và gọi nó là “chính trị dòng chính” hướng dẫn và được giới “truyền thông dòng chính” hỗ trợ. Đó là con đường nhầm lạc. Sự thật là nước Mỹ đang đi theo vết chân xã hội chủ nghĩa qua toàn cầu hóa. Và sự thật còn là truyền thông dòng chính thiên tả đã từng hủy diệt VN, và nay đang hủy hoại các giá trị nhân bản của nước Mỹ. Nhiều người Mỹ đã nhận thức điều đó, và họ đã bầy tỏ ý thức bằng hành động. Các chính khách, các nhà truyền thông tỵ nạn không biết đã thức tỉnh chưa?

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Đâu Là Chỗ Thực Sự Đáng Sợ Của Nước Mỹ? (Đây là phần lược dịch bài nói ngày 11/9/2002 của ông Lưu Á Châu, hiện đang là Chủ nhiệm chính trị bộ đội Không quân của Quân khu Bắc Kinh.)

Trong quá khứ, vì để giúp Trung Quốc thoát khỏi ách thống trị thực dân mà Mỹ đánh bại Nhật, họ có cống hiến lớn đối với tiến bộ văn minh của xã hội Trung Quốc. Hai nước Trung Quốc- Mỹ không có xung đột lợi ích căn bản. Ngày nay, do lợi ích của Mỹ rải khắp toàn cầu nên 2 nước có xung đột. Nhưng chúng ta vẫn phải dùng tấm lòng đạo đức để bình xét sự vật chứ không thể kích động. Tôi từng nói rằng đối với Nhật, một nước từng tàn sát mấy chục triệu đồng bào ta, mà chúng ta thường xuyên nói 2 nước "phải đời đời kiếp kiếp hữu hảo với nhau". Thế thì chúng ta có lý do nào để căm ghét nhân dân Mỹ từng giúp ta đánh bại Nhật?

Đâu là chỗ thực sự đáng sợ của nước Mỹ?

Tuy rằng Mỹ có quân đội mạnh nhất thế giới, khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất thế giới, nhưng tôi cho rằng những cái đó không đáng sợ. Nghe nói máy bay tàng hình của Mỹ thường xuyên ra vào bầu trời Trung Quốc rất thoải mái, nhưng điều ấy chẳng có gì đáng sợ cả. Cái đáng sợ của họ không phải là những thứ ấy.

Năm 1972, tôi học ở Đại học Vũ Hán, lên lớp giờ chính trị. Một thầy giáo khoa chính trị nói: "Nước Mỹ là đại diện của các nước tư bản mục nát, suy tàn, đã sắp xuống mồ, hết hơi rồi." Tôi, một sinh viên công nông binh mặc bộ quân phục, đứng ngay lên phản bác: "Thưa thày, em cảm thấy thầy nói không đúng ạ. Tuy rằng nước Mỹ không giống Trung Quốc là mặt trời nhô lên lúc 8- 9 giờ sáng, nhưng Mỹ cũng chẳng phải là mặt trời đang lặn gì gì đó, mà là mặt trời lúc giữa trưa ạ."
Thầy giáo bực mình, tái mét mặt ấp úng nói: "Cái cậu học sinh này, sao dám nói thế hả!" Ông ấy không hỏi tôi tại sao lại nói thế, mà dùng một chữ "dám". Lúc đó tôi thấy hết tâm trạng của ông.
Chính là cái nước tư bản mục ruỗng suy tàn ấy vào thập niên 90 thế kỷ trước đã lãnh đạo cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới nhất trên thế giới. Tôi tốt nghiệp đại học đúng vào lúc bắt đầu cải cách mở cửa. Tôi lại có một quan điểm: Nước Mỹ là quốc gia do hàng chục triệu con người không yêu tổ quốc mình hợp thành, nhưng họ đều rất yêu nước Mỹ. Hồi ấy rất nhiều người lãnh đạo vừa chửi Mỹ vừa gửi con cái mình sang Mỹ. Một sự tương phản lớn!

Nói một thôi một hồi rồi, vậy thì cái đáng sợ của Mỹ là ở đâu? Tôi cảm thấy có ba điểm.

Điểm thứ nhất, không thể coi thường cơ chế tinh anh của Mỹ. Chế độ cán bộ, chế độ tranh cử của Mỹ có thể bảo đảm những người quyết sách đều là tinh anh. Bi kịch của Trung Quốc chúng ta, lớn đến nhà nước, nhỏ tới từng đơn vị, phần lớn tình hình là người có tư tưởng thì không quyết sách, người quyết sách thì không có tư tưởng. Có đầu óc thì không có cương vị, có cương vị thì không có đầu óc.

Nước Mỹ ngược hẳn lại, cơ chế hình tháp của họ đưa được những người tinh anh lên. Nhờ thế, 1 là họ không mắc sai lầm; 2 là họ ít mắc sai lầm; 3 là mắc sai lầm thì có thể nhanh chóng sửa sai. Chúng ta thì mắc sai lầm, thường xuyên mắc sai lầm, mắc sai lầm rồi thì rất khó sửa sai.

Mỹ dùng một hòn đảo Đài Loan nhỏ xíu để kiềm chế Trung Quốc chẵn nửa thế kỷ. Nước cờ này họ đi thật linh hoạt, thật thần kỳ. Một Đài Loan làm thay đổi hẳn sinh thái chính trị quốc tế. Điều tôi lo ngại nhất là bộ khung chiến lược phát triển Trung Quốc trong thế kỷ mới sẽ vì vấn đề Đài Loan mà biến dạng. Ngày nay, đối với các dân tộc có thế mạnh thì tính quan trọng của lãnh thổ đã giảm nhiều, đã chuyển từ tìm kiếm lãnh thổ sang tìm kiếm thế mạnh của quốc gia.

Người Mỹ không có yêu cầu lãnh thổ đối với bất cứ quốc gia nào. Nước Mỹ không quan tâm lãnh thổ, toàn bộ những gì họ làm trong thế kỷ XX đều là để tạo thế. Tạo thế là gì? Ngoài sự lớn mạnh về kinh tế thì là lòng dân chứ còn gì nữa! Có lòng dân thì quốc gia có lực ngưng tụ, lãnh thổ mất rồi sẽ có thể lấy lại. Không có lòng dân thì khẳng định đất đai anh sở hữu sẽ bị mất. Có nhà lãnh đạo quốc gia chỉ nhìn một bước. Nước Mỹ hành sự thường nhìn 10 bước. Vì thế cho nên mỗi sự kiện lớn toàn cầu xảy ra sau ngày Thế chiến II chấm dứt đều góp phần làm tăng cường địa vị nước Mỹ. Nếu chúng ta bị họ dắt mũi thì có thể sẽ mất hết mọi con bài chiến lược.

Tôi nhiều lần nói là trung tâm chiến lược của Mỹ sẽ không chuyển sang châu Á đâu, song điều đó không có nghĩa là Mỹ không bao vây Trung Quốc. Rất nhiều bạn chỉ thấy Mỹ bao vây Trung Quốc về quân sự, cũng như rất nhiều người chỉ thấy khoảng cách chênh lệch về KHKT và trang bị vũ khí giữa 2 nước mà chưa nhìn thấy sự mất cân đối nghiêm trọng hơn sự lạc hậu về trang bị trên mặt chiến lược lớn, nhất là trên tầng nấc ngoại giao.

Sau vụ 11/9, Mỹ nhanh chóng chiếm Afghanistan trong vòng 2 tháng, từ phía Tây bao vây Trung Quốc. Sức ép quân sự của Nhật, Đài Loan, Ấn Độ cũng chẳng bớt đi. Xem ra chúng ta giành được từ vụ 11/9 một số lợi ích trước mắt, song các lợi ích đó không quá 1- 2 năm có thể biến mất. Tôi cho rằng bao vây chiến lược đối với Trung Quốc là một kiểu khác, không phải là quân sự mà là siêu việt quân sự.

Bạn xem đấy, mấy năm gần đây các nước xung quanh Trung Quốc tới tấp thay đổi chế độ xã hội, biến thành cái gọi là quốc gia "dân chủ". Nga, Mông Cổ thay đổi rồi, Kazakhstan thay đổi rồi. Cộng thêm các nước trước đây như Hàn Quốc, Phillippines , Indonesia , lại cộng thêm vùng Đài Loan. Đối với Trung Quốc, sự đe doạ này còn ghê gớm hơn đe doạ quân sự. Đe doạ quân sự có thể là hiệu ứng ngắn hạn, còn việc bị cái gọi là các quốc gia "dân chủ" bao vây là hiệu ứng dài hạn.
Điểm thứ hai, sự độ lượng và khoan dung của nước Mỹ. Bạn nên sang châu Âu, sau đó sang Mỹ, bạn sẽ thấy một sự khác biệt lớn: Sáng sớm, các đường phố lớn ở châu Âu chẳng có người nào cả, còn tại Mỹ sáng sớm các phố lớn ngõ nhỏ đều có rất nhiều người tập thể dục, thậm chí cả ngày như thế. Tôi có một câu nói: Tập thể dục là một phẩm chất, tập thể dục đại diện cho một kiểu văn hoá khí thế hừng hực đi lên. Một quốc gia có sức sống hay không, chỉ cần xem có bao nhiêu người tập thể dục là biết.

Người Mỹ có thể lấy quốc kỳ làm quần lót để mặc. Hồi ở Mỹ tôi có mua một chiếc quần cộc cờ sao vạch. Tôi thường xuyên mặc chiếc quần ấy. Tôi mặc nó là để khinh miệt nó, là để trút giận, là một dạng trút sự bực bội và thoả mãn về tâm lý. Người Mỹ mặc nó là sự trêu chọc bỡn cợt, bản chất khác. Người Mỹ có thể đốt quốc kỳ nước mình ngoài phố. Đới Húc [7] nói: Nếu một quốc gia có thể đốt cả quốc kỳ của mình thì anh còn có lý do nào đi đốt quốc gia ấy nữa?

Điểm thứ ba, sức mạnh vĩ đại về tinh thần và đạo đức. Đây là điều đáng sợ nhất. Vụ 11/9 là một tai nạn. Khi tai hoạ ập đến, thể xác ngã xuống trước tiên, nhưng linh hồn vẫn đứng. Có dân tộc khi gặp tai nạn thể xác chưa ngã mà linh hồn đã đầu hàng. Trong vụ 11/9 có xảy ra 3 sự việc đều có thể để chúng ta qua đó nhìn thấy sức mạnh của người Mỹ. Việc thứ nhất, sau khi phần trên toà nhà Thương mại thế giới bị máy bay đâm vào, lửa cháy đùng đùng, tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Khi mọi người ở tầng trên qua cửa thoát hiểm chạy xuống phía dưới, tình hình không rối loạn lắm.

Người ta đi xuống, lính cứu hoả xông lên trên. Họ nhường lối đi cho nhau mà không đâm vào nhau. Khi thấy có đàn bà, trẻ con hoặc người mù tới, mọi người tự động nhường lối đi để họ đi trước. Thậm chí còn nhường đường cho cả một chú chó cảnh. Một dân tộc tinh thần không cứng cáp tới mức nhất định thì dứt khoát không thể có hành vi như vậy. Đứng trước cái chết vẫn bình tĩnh như không, e rằng không phải là thánh nhân thì cũng gần với thánh nhân.

Việc thứ hai, hôm sau ngày 11/9, cả thế giới biết vụ này do bọn khủng bố người A Rập gây ra. Rất nhiều cửa hàng, tiệm ăn của người A Rập bị những người Mỹ tức giận đập phá. Một số thương nhân người A Rập cũng bị tấn công. Vào lúc đó có khá nhiều người Mỹ tự phát tổ chức đến đứng gác trước các cửa hiệu, tiệm ăn của người A Rập hoặc đến các khu người A Rập ở để tuần tra nhằm ngăn chặn xảy ra bi kịch tiếp theo.

Đó là một tinh thần thế nào nhỉ. Chúng ta thì từ xưa đã có truyền thống trả thù. Thành Đô nơi tôi ở, ngày xưa Đặng Ngải [8] sau khi chiếm được Thành Đô, con trai của Bàng Đức [9] giết sạch giá trẻ gái trai gia đình Quan Vũ. Trả thù đẫm máu, lịch sử loang lổ vết máu không bao giờ hết.

Việc thứ ba, chiếc máy bay Boeing 767 bị rơi ở Pennsylvania vốn dĩ bị không tặc dùng để đâm vào Nhà Trắng. Sau đấy hành khách trên máy bay vật lộn với bọn khủng bố nên mới làm máy bay rơi. Vì lúc ấy họ đã biết tin toà nhà Thương mại thế giới và Lầu Năm Góc bị máy bay đâm vào nên họ quyết định không thể không hành động, phải đấu tranh sống chết với bọn khủng bố.
Cho dù trong tình hình ấy họ còn làm một chuyện thế này: Quyết định biểu quyết thông qua có nên chiến đấu với bọn khủng bố hay không. Trong giờ phút quan hệ tới sự sống chết ấy, họ cũng không cưỡng chế ý chí của mình lên người khác. Sau khi toàn thể mọi người đồng ý, họ mới đánh bọn không tặc. Dân chủ là gì; đây tức là dân chủ. Ý tưởng dân chủ đã thấm vào sinh mạng của họ, vào trong máu, trong xương cốt. Một dân tộc như thế mà không hưng thịnh thì ai hưng thịnh. Một dân tộc như thế không thống trị thế giới thì ai có thể thống trị thế giới.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Một phụ nữ sắp bị hành hình kiểu trung cổ Luật sư của một phụ nữ Iran - bị kết án tử hình bằng cách ném đá vì tội ngoại tình - hôm qua cho biết người mẹ của hai con này có thể bị giết bất cứ lúc nào.

Ngoài án tử hình, luật sư cho hay cô Sakineh Mohammadi Ashtiani, 43 tuổi, còn bị đánh 99 roi trong tuần vừa rồi vì một tờ báo Anh đã đăng ảnh của một phụ nữ không che mạng mà họ cho là cô. Theo luật Hồi giáo, phụ nữ phải che tóc khi xuất hiện trước công chúng. Tờ báo trên sau đó đã xin lỗi vì sai sót.

Do tháng lễ Ramadan vừa kết thúc tuần trước, án tử hình sẽ được thực thi "bất kỳ lúc nào", luật sư Javid Houtan Kian cho AP hay.
Image
Một phụ nữ Italy đi qua tấm poster ủng hộ Ashtiani ở Rome, Italy. Trên poster viết: "Vì tính mạng của Ashtiani". Ảnh: AFP.


Bản án được hoãn thi hành hồi tháng bảy, sau một làn sóng phản đối từ cộng đồng quốc tế. Hiện nay án đang được tòa tối cao Iran xem xét lại.

Năm 2006, cô Ashtiani bị kết tội có quan hệ bất chính với hai người đàn ông sau khi chồng cô chết một năm trước đó. Cô bị kết án 99 roi. Năm ngoái, Ashtiani bị kết tội ngoại tình kèm án tử hình bằng cách ném đá. Người phụ nữ này đã phản cung đối với một bản khai mà cô cho biết là do bị ép.

Sau khi việc thi hành án ném đá được tạm dừng, Iran tuyên bố Ashtiani có tham gia trong vụ giết chồng cô năm 2005. Luật sư của cô khiếu nại. Tháng 8 vừa rồi, truyền hình Iran phát hình ảnh một phụ nữ tự xưng là Ashtiani, thừa nhận có vai trò trong vụ giết chồng.

Mới đây nhất, sau khi tờ Times of London đăng bức ảnh một phụ nữ được cho là Ashtiani, cô bị đòn roi trong tù, một người mới ra tù kể cho luật sư như vậy.

Một loạt quốc gia đã lên tiếng yêu cầu Iran có sự linh hoạt trong trường hợp này, trong đó có Pháp và Italy. Ngoại trưởng Pháp Bernard Kouchner phát biểu cho rằng bản án này là tàn bạo, và rằng ông "sẵn sàng làm bất cứ điều gì để cứu mạng bà ấy. Nếu tôi phải đi Tehran để cứu bà ta, tôi sẽ đi Tehran".

Con trai 22 tuổi và con gái 18 tuổi của Ashtiani hiện vẫn ở Iran. "Chúng tôi rất nhớ mẹ", người con trai nói. "Chúng tôi mong tất cả cac cơ quan hữu trách giúp cứu mạng mẹ tôi".

Hôm chủ nhật vừa rồi, Vatican cũng đã nêu khả năng sử dụng các biện pháp ngoại giao hậu trường để cứu tính mạng Ashtiani.

Mai Trang

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Nước Mỹ của Tôi và Ước Mơ Về Nguồn

Sơn Tùng
“Có điều gì vượt xa hơn con người đang xảy ra. Hôm nay nước Mỹ bắt đầu quay trở về với Thượng đế.” Glenn Beck nói lớn và được các loa khuếch âm chuyển tới gần nửa triệu người đã đáp lời kêu gọi của ông ta từ mọi nơi về tụ họp trước Điện Tưởng niệm Abraham Lincoln ở thủ đô Washington sáng ngày Thứ bảy 28.8.2010.

Nhưng, Glenn Beck là ai?

Ông ta không phải là một nhà truyền giáo lớn. Không phải là lãnh tụ một đảng chính trị đang nuôi mộng vào toà Bạch ốc. Cũng không phải là một siêu sao màn ảnh hay âm nhạc.

“Tôi chỉ là một người cha, một công dân ưu tư,” Glenn Beck trả lời trong một cuộc phỏng vấn của Chris Wallace trên hệ thống truyền hình Fox News sau cuộc biểu dương khổng lồ được gọi là “Restoring Honor” (Phục hồi Danh dự).

Số người tham dự (được ước tính từ 300,000 tới nửa triệu) được so sánh với năm cuộc biểu dương quan trọng nhất tại Washington trước đây.

Vụ đầu tiên diễn ra vào ngày 3.3.1913 khi khoảng 5,000 phụ nữ và những người ủng hộ tập họp và diễn hành tại Washington để đòi quyền đi bầu cho phụ nữ. Họ đã bị đám đông la ó chống đối gây ra bạo động khiến nhiều người bị thương.

Vụ thứ hai vào ngày 17.6.1932, khoảng 20,000 cựu chiến binh cuộc Thế Chiến I đã diễn hành tại Washington để đòi trả trước tiền thưởng được hứa hẹn khi họ đầu quân. Nhiều người đã bị thương và chết khi xô xát bùng nổ.

Vụ thứ ba là cuộc biểu dương và diễn hành của 250,000 người ngày 28.8.1963 do TS. Martin Luther King Jr. lãnh đạo để đòi việc làm và tự do cho người da đen với bài diễn văn đi vào lịch sử “I Have A Dream”.

Vụ thứ tư là cuộc biểu tình của hơn nửa triệu người ngày 15.11.1969 do “Phong trào Phản chiến” tổ chức để đòi Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam và chấm dứt chiến tranh.

Vụ thứ năm là cuộc biểu dương của người da đen được mệnh danh là “Million Man March” để đàn ông da đen tự hối và tự hứa cải thiện mối quan hệ với gia đình và cộng đồng. Số người tham dự được ước tính từ 400,000 tới 800,000.

Cuộc biểu dương ngày 28.8.2010 của Glenn Beck trùng với ngày của Martin Luther King 47 năm trước, nhưng Beck nói rằng đó chỉ là ngẫu nhiên, không có chủ tâm. Tuy nhiên, đã có những liên hệ giữa hai biến cố lịch sử này.

Glenn Beck, 46 tuổi, chưa sinh ra đời khi Martin Luther King đọc bài diễn văn “I Have A Dream”, nay đứng trước thềm Điện Tưởng niệm Lincoln, chỉ cách vài bước nơi mà Mục sư King đã đứng gần nửa thế kỷ trước, ông ta và các diễn giả khác đã kêu gọi dân Mỹ trở về với những giá trị và nguyên tắc của các Cha già Lập quốc đã tạo nên đất nước vĩ đại này. Trong các diễn giả nổi tiếng có cựu Thống đốc Alaska Sarah Palin và Tiến sĩ Alveda King, cháu của Martin Luther King. Bà Alveda King nói: “Tôi cũng có một ước mơ. Tôi có một ước mơ rằng…mỗi người trong mọi sắc tộc sẽ tiếp nhận tất cả mọi người như anh chị em trong tình yêu thương của Thượng đế.”

Nhưng, cách đó vài khu phố, con trai của Martin Luther King Jr., Martin Luther King Jr. III, đã tham dự một cuộc mít-tinh khác do Mục sư Al Sharpon tổ chức để tưởng niệm ngày này 47 năm trước nhưng với số người tham dự nhỏ hơn nhiều – vài ngàn tụ họp quanh bức tượng của Mục sư King. Các diễn giả đã thay nhau chỉ trích cuộc biểu dương của Glenn Beck được cho là những người cực hữu với sự căm hờn. Hầu hết báo chí, truyền thông dòng chính tại Mỹ cũng dán nhãn hiệu như vậy cho Glenn Beck và miệt thị cuộc biểu dương mang tính chất “về nguồn” của ông ta.

Glenn Beck nhắc nhở người tham dự không nên mang theo những biểu ngữ chính trị và xác nhận rằng đây không phải là một cuộc biểu dương chính trị. Ông ta và các diễn giả thuộc nhiều thành phần trong xã hội Mỹ đã thay phiên nhau kêu gọi mọi người hãy trở về với đức tin tôn giáo và làm một cái gì để thay đổi con đường đang đưa nước Mỹ xa dần những giá trị và nguyên tắc của thời lập quốc.

Những tiếng reo hò đáp ứng của một biển người đáp lại đã vang dội vùng trời Washington một ngày nắng đẹp cuối tuần nhưng đã không xảy ra một vụ bạo động nào, không có một vụ bắt giữ nào. Mấy trăm ngàn người đã biểu lộ sự hiền hoà và ý thức công dân rất cao. Khi họ rời khu vực tập họp sau mấy tiếng đồng hồ đứng dưới trời nắng, không một vỏ chai hay bao giấy bỏ lại trên những bãi cỏ xanh. Trái với cũng nơi này vào ngày Tổng thống Obama tuyên thệ nhậm chức đầu năm 2009, khi đám đông ra về đã để lại phiá sau một biển rác.

Cuộc biểu dương đã không xảy ra một sự đáng tiếc nào ngoài chương trình. Tuy nhiên, ít người biết chính Glenn Beck đã phải mặc một chiếc áo giáp chống đạn khi ông ta say sưa truyền giảng về đức tin, hy vọng và lòng nhân ái trên thềm Điện Tưởng niệm Lincoln. Beck biết rõ tính mạng ông ta bị đe dọa, và sau cuộc biểu dương, ông ta đã không tiết lộ danh tánh những người đã tham gia vào việc tổ chức vì không muốn họ phải sống trong ác mộng như mình.

Từ mấy năm nay, Glenn Beck, một người đàn ông cai rượu và tín đồ Mormon cải đạo, đã trở thành kẻ thù số một của phe tả tại Mỹ trong khi ông ta được hàng triệu người coi như một nhà tiên tri tân thời qua một chương trình phát thanh và một “sô” truyền hình hàng ngày trên Fox News. Với kiến thức uyên bác, với lối lập luận đanh thép và trình bày đầy nhiệt tình pha lẫn hài hước, Glenn Beck liên tục tấn công phe tả qua những dẫn chứng cụ thể cho thấy họ đang đưa nước Mỹ đi vào chỗ suy đồi bằng cách phủ nhận những giá trị và nguyên tắc mà George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, John Adams… theo đuổi để không đầy 200 năm đã đưa đất nước của những người di dân tạp chủng lên hàng siêu cường số một thế giới.

Quả thật không thể chối cãi trong hơn 200 năm qua, Hoa Kỳ đã vươn lên từ miền bắc tây bán cầu hoang dã để đóng vai trò lãnh đạo thế giới về chính trị, khoa học, kinh tế…, và với sức mạnh quân sự vô địch, Hoa Kỳ đã hai lần cứu Âu Châu và thế giới khỏi họa độc tài qua hai trận Thế Chiến, và đã loại trừ mối đe dọa của Đế quốc Đỏ Liên-Sô trong Thế kỷ 20.

Sau Chiến tranh Lạnh, vị thế siêu cường duy nhất trên thế giới của Hoa Kỳ bị lung lay vì sự vươn lên của nước Trung Hoa Đỏ và cuộc chiến tranh kéo dài với Hồi giáo cực đoan. Ngày nay, Hoa Kỳ không còn hùng mạnh như trước, và đang bị chỉ trích ở khắp nơi, của cả thù lẫn bạn, nhưng người ta khó chối cãi rằng nếu thế giới không có nước Mỹ thì trong vòng 48 tiếng đồng hồ, mặt đất này sẽ biến thành biển lửa và nhân loại sẽ sống trong cảnh điêu linh chưa từ từng thấy với những địa ngục ở Trung Đông, ở Bắc Á, Trung Á, ở Đông Âu mà lâu nay chiến tranh không bùng nổ là vì những hung thần hiếu chiến vẫn còn sợ sức mạnh của anh “sen đầm quốc tế” Hoa Kỳ.

Người Mỹ là dân tộc hào hiệp đã đóng góp nhiều nhất cho tiến bộ và hoà bình thế giới, nhưng cũng bị ganh ghét và ít được biết ơn, đúng như nhận định của một người ngoại quốc, Gordon Sinclair, một nhà bình luận trên truyền hình Canada, sau khi Mỹ bị khủng bố Hồi giáo tấn công ngày 11.9.2001:

“Người Gia-nã-đại này nghĩ rằng đây là lúc để nói thay cho người Mỹ, một dân tộc quảng đại nhất và có thể cũng ít được biết ơn nhất trên mặt đất.

“Nước Đức, nước Nhật và, ít kéo dài hơn, Anh và Ý, đã được Mỹ vực lên từ đống gạch vụn của chiến tranh bằng cách đổ vào vài tỉ đô-la và xóa bỏ nhiều tỉ đô-la tiền nợ khác. Ngày nay, không nước nào trong số này đang trả ngay cả chỉ tiền lời của số nợ còn thiếu Hoa Kỳ.

“Khi nước Pháp ở trong nguy cơ sụp đổ năm 1956, chính người Mỹ đã kéo nước ấy dậy, và phần thưởng cho họ là bị lăng mạ và vu khống trên đường phố Paris. Khi ấy tôi đã ở đó. Tôi đã nhìn thấy.
“Khi động đất xảy ra tại các thành phố xa xôi, chính Hoa Kỳ đã vội vã tới trợ giúp. Mùa xuân năm nay, 59 cộng đồng tại Mỹ bị san bằng vì những trận bão lốc. Không một ai giúp đỡ.

“Kế hoạch Marshall và Chính sách Truman đã bơm nhiều tỉ đô-la vào những quốc gia không còn hy vọng. Ngày nay, báo chí tại những nước này đang viết về những người Mỹ tồi bại, gieo rắc chiến tranh…

“Tôi có thể kể tên cho bạn năm ngàn lần khi người Mỹ chạy tới cứu các dân tộc khác trong cơn nguy khốn. Bạn có thể nói cho tôi chỉ một lần khi ai đó chạy tới giúp người Mỹ trong lúc khó khăn?”

Hiển nhiên trên đây chỉ là một phần trong những đóng góp của người Mỹ về của cải vật chất để cứu nguy các dân tộc khác, chưa kể đến những đóng góp trong những lãnh vực khác, và chưa kể đóng góp quý nhất: máu của hàng triệu thanh niên Mỹ đã đổ xuống mọi miền đất trên thế giới để Tự do có thể nở hoa.

Ngày nay nước Mỹ đang trên đà xuống dốc, về kinh tế tài chánh, quân sự, cũng như đạo đức xã hội. Và đúng như Glenn Beck đã khẩn thiết kêu gọi người Mỹ:

- Chỉ có một người có thể thay đổi tình trạng này. Người ấy là bạn. Nếu bạn không làm gì cả, sẽ không có gì xảy ra.

Hàng triệu người đã nghe lời ông ta, và hàng trăm ngàn người đã đổ tới Washington ngày 28.8 từ mọi nơi trên nước Mỹ để tạo nên một biến cố mà ít ai nghĩ có thể xảy ra. Sau biến cố vĩ đại ấy, Chris Wallace hỏi Glenn Beck có ý định ra tranh cử tổng thống vào năm 2012 không. Beck trầm ngâm cho biết không có ý định ấy và giải thích: “Nước Mỹ đang có vấn đề, và chính trị không phải là giải pháp vì chính trị quá chia rẽ.”

Giải pháp mà Glenn Beck đưa ra là “về nguồn”. Trở về với những giá trị và nguyên tắc khởi thủy đã làm nên nước Mỹ vĩ đại trước đây. Nhờ dựa trên những giá trị và nguyên tắc ấy, những người di dân lớp trước đã đặt nền móng cho một quốc gia tự do đầu tiên khác hẳn Âu Châu, nơí mà họ đã rời bỏ để đi tìm đất mới, giải phóng mọi trói buộc, tạo điều kiện cho sự phát triển tối đa của con người về trí tuệ cũng như tâm linh. Và “phép lạ” đã xảy ra. Chỉ hơn 100 năm, miền đất hoang dã ở phiá bắc tây bán cầu đã trở thành một siêu cường dân chủ giàu mạnh nhất thế giới, thiên đường ước mơ của mấy tỉ con người chìm đắm trong lầm than trên mặt đất.

Rồi những người di dân lớp sau tiếp tục đến từ mọi lục địa đã có được cơ hội để mưu tìm hạnh phúc và thành công lớn, đồng thời cũng đóng góp vào sự hùng mạnh của xứ sở này.

Đất nước quảng đại này đã đón nhận khoảng hai triệu người Việt Nam trong một hoàn cảnh đặc biệt, và sau ba mươi năm, đã xác định một điều: họ đã hội nhập dễ dàng, và trong môi trường tự do người Việt Nam đã phát triển tài năng và góp mặt bình đẳng trong mọi lãnh vực của xã hội Mỹ.

Nhưng cộng đồng người Mỹ gốc Việt đã mang những nét đặc thù: nói chung, người Việt Nam đã đến Mỹ vì lý do chính trị nên đã mang theo những quá khứ khó thể xóa mờ và có nhiều gắn bó với quê hương cũ. Thậm chí, có những người vẫn coi đất nước này chỉ là nơi tạm dung thân, dù đã trở thành công dân Mỹ hàng chục năm. Họ quan tâm tới những gì diễn ra tại Việt Nam hơn là chuyện thời sự nơi xứ sở này”, và chưa bao giờ sử dụng lá phiếu của một công dân Mỹ. Họ coi đó là chuyện của người khác.

Từ nhiều năm nay, dù không thể dứt bỏ những ràng buộc tâm linh với quê hương cũ, và vẫn tự coi mình là một người Việt tị nạn, tôi cảm nhận sâu xa đất nước này là quê hương thứ hai của mình với mối liên hệ mỗi ngày một thêm đâm rễ nẩy cành. Tôi không thấy mình khác với những di dân lớp trước. Với tư cách là một công dân xứ này, tôi vui niềm vui của họ, tôi buồn nỗi buồn của họ, tôi lo cái lo của họ.

Tôi hiểu dân Mỹ đang có những mối ưu tư, và sẽ có những quyết định lớn vào ngày bầu cử đầu tháng 11 sắp tới. Tôi cũng có mối ưu tư và chuẩn bị như họ. Những cuộc bầu cử sắp tới sẽ có những kết quả khít khao mà tôi nghĩ lá phiếu của công dân Mỹ gốc Việt sẽ có tính cách quyết định ở vài nơi.

Xin Thượng đế phù hộ cho “nước Mỹ của tôi”.

Sơn Tùng (5.9.2010)

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

MỘT VÀI NHẬN ÐỊNH VỀ
quan niệm và thái độ PHI CHÁNH TRỊ của người Việt hải ngoại
cùng công cuộc đấu tranh cho một nước
VIỆT NAM TỰ DO - DÂN CHỦ hiện nay

Nguyễn Thế Phong

Tôi là một kẻ hậu sinh, không có được cái diễm phúc diện kiến hay chính tai nghe được những gì Gs Nguyễn Ngọc Huy đã nói hoặc trình bày. Tuy nhiên như hàng triệu triệu những sinh viên học sinh và thanh niên khác của VN, tôi đã thổn thức và dâng trào lòng yêu nước, tự hào về di sản và sự hy sinh của hằng ngàn thế hệ cha ông cho sự độc lập và vẹn toàn lãnh thổ qua những vần thơ và tấm gương tận tuỵ, mẫu mực, khiêm tốn và tận hiến vô bờ bến cho dân tộc và đồng bào của giáo sư.

Từ sự kính phục đó, tôi đã tìm hiểu nhiều hơn về tinh thần, học thuyết và những di cảo mà giáo sự Huy đã để lại. Những di sản và công trình nghiên cứu quý giá mà GS để lại đã giúp rất nhiều cho những người hậu sanh như chúng tôi để hiểu và xử dụng trong nỗ lực giải quyết những bài toán hóc búa mà dân tộc VN và cộng đồng người Việt hải ngoại đã và đương phải đương đầu.

Một trong những bài toán ấy là một câu nói, một quan niệm và môt hiện tượng đã xãy ra truớc năm 1975 và càng ngày càng phổ biến hiện nay trong cộng đồng ngưòi Việt tỵ nạn hải ngoại của một số tổ chức tôn giáo, từ thiện và văn hoá, văn nghệ hoặc cá nhân cho rằng: “Tôi/chúng tôi/ tổ chức của chúng tôi chỉ làm từ thiện, tôn giáo hay văn hoá văn nghệ chứ không làm chánh trị” hay “ Không nên đem chính trị vào tôn giáo, từ thiện, văn nghệ văn hoá v.v..” và “Tôi/chúng tôi/ tổ chức của chúng tôi là một tổ chức phi chánh trị” để từ đó không tham gia vào hay đứng ngoài các sinh hoạt hay nỗ lực chống Cộng, tranh đấu dân chủ nhân quyền hay lên án CSVN của cộng đồng người Việt hải ngoại, thậm chí có người và tổ chức còn cho rằng việc tiếp xúc, thương lượng, đối thoại, kể cả việc ca ngợi nhà cầm quyền CSVN của mình hay tổ chức mình là một điều cần hoặc đáng làm vì nhu cầu nhân đạo, văn hoá, văn nghệ hay tôn giáo.

Là một vị giáo sư lỗi lạc và uyên thâm về chánh trị thế giới cũng như chánh trị VN, giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã nhìn ra và phân tách một cách tỉ mĩ những nguyên nhân đưa đến tình trạng và quan niệm sai lạc về chánh trị và hoạt động chánh trị này của người Việt cách đây 4, 5 thập niên. Thể theo giáo sư, để hiểu và phân tách một cách đúng đắn về thực trạng này việc đầu tiên mọi người cần phải biết đó là: Ðịnh Nghĩa của 2 chữ Chánh Trị: "Chánh Trị" là gì, trước khi bàn và phân tách về những thái độ và quan niệm “Phi Chánh Trị” của người VN không Cộng Sản.

Trong tập “Tài Liệu Huấn Luyện Trung Cấp - Tập I “ của Liên Minh Dân Chủ VN, giáo sư đã sơ lược qua những định nghĩa từ Âu đến Á về hai chữ “chánh Trị” mà theo ông thì nhiều người dân Việt, ngay cã một số nhà lãnh đạo quốc gia trước đây đã không hiểu rỏ và thấu đáo. Thể theo giáo sư việc hiểu cho đúng đắn về chánh trị là gì là bước đầu căn bản trong việc quyết định về thái độ và quan điểm chánh trị của mỗi cá nhân đối với quốc gia và dân tộc. Giáo sư cũng cho thấy bên cạnh việc không hiểu rỏ thấu đáo ý nghĩa của hai chử chánh trị hay hiểu sai lạc về chánh trị ấy, những kinh nghiệm chánh trị của người dân miền Nam VN trong hai nền đệ I và đệ II Cộng Hoà và sự cấm đoán, độc tài đảng trị của CSVN ở miền Bắc và sau năm 1975 đã khiến cho nhiều người chán nản, coi thường, không muốn dính líu đến hay thậm chí còn sợ hay chống những gì mà họ cho là chánh trị hay liên can đến chánh trị.

Để giúp cho người đọc hiểu rỏ ý nghĩa của danh từ “chánh trị”, giáo sư trình bày về định nghĩa chánh trị của người Trung Hoa thời cổ. Trong Hán văn chử “Chánh” bao gồm hai chữ gộp lại đó là “ngay thẳng” và “hành động”. Nói một cách khác là làm cho ngay thẳng. Chử “Trị” mang ý nghĩa chửa trị bệnh, về sau chử này được mỡ rộng nghĩa ra để chỉ việc trừng trị để loại bỏ những phần tử xấu xa cho xã hội được lành mạnh. Như thế theo nghĩa gốc thì “chánh trị” nói chung là việc làm cho xã hội được ngay thẳng và lành mạnh. Kế đến GS dẫn chứng cho thấy người Tây phương ngày xưa cũng đã có chung một quan điểm với Á châu qua đó họ cho rằng: “Chánh trị là sự điều khiển ngay thẳng nhiều gia đình và những gì chung của những gia đình ấy với một quyền lực chủ tể”.

Theo giáo sư, nếu hiểu được ý nghĩa của chánh trị như thế thì chúng ta thấy chánh trị, có thái độ chánh trị, có tiếng nói chánh trị và có hành động chánh trị là một điều đáng kính và đáng làm, hữu ích và quan trọng cho sự sống còn của xã hội nhơn loại, không có gì là xấu cã!! và mọi người trong xã hội – không phân biệt là kẻ tu hành hay giáo dân, già hay trẻ, giàu hay nghèo, nam hay nữ, đảng phái hay không đảng phái- ai cũng đều có quyền, có bổn phận và nên đóng góp và LÀM CHÁNH TRỊ cho xã hội, dân tộc, quốc gia trở nên ngay thẳng, công bằng, nhơn vị nhơn quyền được tôn trọng và tốt đẹp hơn.

Vì nhiều người đã hiểu sai hay bị hướng dẫn, tuyên truyền, nhồi sọ, đe doạ, cấm đoán và nhập tâm bỡi những thế lực hay ngay cã bỡi sự suy diễn sai danh từ chánh trị trong một thời gian dài trong xã hội VN theo nghĩa tiêu cực, hạn hẹp và một chiều như:

- Chánh trị là việc xử dụng quyền lực quốc gia , chánh trị là đồng nghĩa với chánh phủ và chánh quyền
- Làm chánh trị là tranh giành quyền lợi, địa vị hay có thủ đoạn lưu manh
- Làm chánh trị là muốn cầm quyền,
- Chánh trị là việc riêng của những người cầm quyền, không phải là chuyện của người dân thường, không nên dính vào để tránh phiền phức v.v…

Nên nó đã đưa đến tình trạng hễ nhắc đến chử “làm chánh trị” là đại đa số người Việt - có học cũng như không có học, có địa vị cũng như không có địa vị, tham gia đảng phái hay không đảng phái, thành thị cũng như thôn quê - đều bị dị ứng, nghĩ hoặc hiểu lầm là muốn làm chánh quyền, muốn tham chánh, là phe nhóm, là tranh giành, là thủ lợi chứ không còn phải là “LÀM/THAM GIA/ĐÓNG GÓP/LÊN TIẾNG HAY GÓP PHẦN CẢI THIỆN CỘNG ĐỒNG, XÃ HỘI, QUỐC GIA CHO TỐT ĐẸP, CÔNG BẰNG VÀ NHƠN VỊ HƠN” như nó đáng lý ra phải được hiểu nữa.

Nếu hiểu cho đúng như những gì GS Huy đã định ngĩa thì làm chánh trị đâu phải là bổn phận hay vai trò duy nhất và độc tôn của một đảng phái hay một phe nhóm nào, nó càng không phải chỉ là của chánh quyền hay ai muốn ra cầm quyền mà là BỔN PHẬN THIÊNG LIÊNG CỦA MỘT CÔNG DÂN, MỘT PHẦN TỬ TRONG XÃ HỘI VÀ QUỐC GIA bất kể người đó là ai và ở vị trí nào kể cã tôn giáo. AI CŨNG CÓ QUYỀN VÀ CÓ BỔN PHẬN CÓ THÁI ĐỘ CHÁNH TRỊ, NÓI VỀ CHÁNH TRỊ VÀ LÀM CHÁNH TRỊ vì chánh trị không có nghĩa và không đồng nghĩa với nắm quyền hay chánh quyền.
Nhìn lại lịch sữ cận đại của xã hội VN, chúng ta có thể hiểu được phần nào lý do tại sao những quan niệm sai lạc về “hành động chánh trị” nêu trên đã trở thành phổ biến và ăn vào tiềm thức của người VN.

• Đối với người dân sống dưới chế độ CS miền Bắc, danh từ “làm chánh trị” chẳng những bị cấm xử dụng mà còm đem tai hoạ lại cho bản thân và gia đình của người nói vì đảng CSVN và chánh quyền CS tuyệt đối cấm không cho ai làm chánh trị hay bàn thảo về chánh trị.

Là chế độ độc tài, độc đảng toàn trị, họ luôn lo sợ nhơn dân và mọi hành động mang tính cách bàn bạc hay thảo luận về chánh trị. “Có tật giật mình” vì độc tài nên nơi nào có ai tụ tập họ cũng cho là âm mưu lật đổ chánh quyền, là phản động. Vì thối nát, họ bị dị ứng với mọi hình thức hay những cuộc bàn luận về ích nước, lợi dân, tốt đẹp, công bằng và dân chủ. Sống dưới họng súng, ngục tù, đe dọa, theo dõi, rình rập và bắt bớ triền miên, đa số người dân miền Bắc trước 1975 trở thành thụ động, chỉ biết tuân phục để sống còn. Những người đối kháng dám lên tiếng thì bị thủ tiêu hay cầm tù không nương tay như thi sĩ Nguyễn Chí Thiện v.v..

Chữ “chánh trị” vì thế trở thành một danh từ đồng nghĩa với “cách mạng”, “quốc cấm”, “chống chánh quyền” vì thế “chuyên chế, độc tài, đảng trị” và chánh trị thuộc về giai cấp cai trị của đảng chứ không còn là của dân nữa. Những kẽ cầm quyền làm chánh trị thì coi dân còn thua cã con vật, không có một thứ quyền hạn gì ngoài quyền “dạ, vâng” Người dân miền Bác trước 1975, không phải là chán 2 chử “chánh trị” mà là SỢ hai chữ này.

• Ðối với người dân không cộng sản sống dưới chế độ Cộng Hoà miền Nam, danh từ “chánh trị”, tuy được nói đến, bàn bạc và làm một cách tự do, nhưng lại bị nhiều người đồng hoá hay hiểu lầm nó với “có ý tham gia hay tranh giành chức vụ gì đó trong chánh quyền” nói một cách khác làm chánh trị bị coi là đồng nghĩa với “làm chánh quyền hay muốn cai trị”. Trong cã nền đệ I và đệ II Cộng hoà mà người dân miền Nam được hưởng, tình trạng gia đình trị, bè phái, tư lợi, lấn áp cách đảng phái nhỏ hoặc đối lập và tham những bỡi những giới cầm quyền đã khiến cho nhiều người dân miền Nam trước 1975 coi thường hay thậm chí còn khinh khi những gì liên quan đến hai chử “chánh trị” vì nó có vẽ “xôi thịt” quá.

Tuy nhiên, khác với miến Bắc, dưới cã 2 chế độ Cộng Hoà, người dân miền Nam và báo chí vẫn có quyền chỉ trích, xuống đường biểu tình, đã đảo và tự do lập đảng phái chánh trị để ra tranh cữ và chánh quyền các cấp và vào các cơ quan lập pháp và hành pháp mà không sợ bị ở tù hay thủ tiêu. Có nhiều người còn cho rằng người dân miền Nam đã đi quá xa vì không hiểu rỏ chánh trị là gì và giới hạn của chánh trị nằm ở đâu và làm sao để làm chánh trị mà không phương hại đến sự an nguy của quốc gia, đặc biệt là khi quốc gia và chánh phủ đương nhiệm đang phải đương đầu với một thế lực mạnh, lớn và độc tài toàn trị hơn gấp bội phần là CSVN.

Kết quả của hơn 30 năm dưới 2 chế độ tự do của miền Nam là “chánh trị” trở thành một thứ “dirty word” hơn là một điều mà người lớn khuyến khích hay đôn đốc con cháu của mình tham gia vào. Nói một cách khác, là người dân miền Nam VN đã “Chán” chánh trị và bị “Dị ứng” với chánh trị.Vì đại đa số quần chúng miền Nam không được giáo dục, cỗ suý để hiểu được chính xác danh từ và ý nghĩa của 2 chử chánh trị và vai trò đúng đắn mà mọi người, mọi giới cần phải có ( như GS Huy đã làm) nên việc hiểu sai và có thái độ tiêu cực, sai lạc về hai chữ “chánh trị” vẫn còn kéo dài cho đến ngày hôm nay và được CSVN khai thác và lợi dụng tối đa qua hình thức “không làm chánh trị hay phi chánh trị”.
Thể theo GS Huy thì vấn đề then chốt của chánh trị là: việc “làm (Hành) chánh trị” và “Xử dụng Chánh Trị” (cho mục đích gì)?

GS cho thấy có hai loại hành xử chánh trị đó là:

a/ các loại giải pháp và xử thế chánh trị với những hành động khôn ngoan, khéo léo nhưng chánh trực, đạo đức và ngay thẳng nhằm phục vụ quyền lợi chung của cã xã hội hoặc quốc gia đúng như định nghĩa của danh từ “chánh trị”, đó là làm cho xã hội được ngay thẳng, tốt đẹp và lành mạnh hơn kể cã việc loại bỏ những phần tử xấu xa hầu đạt được mục tiêu ấy. Đó là CHÁNH TRỊ.

b/ các loại giải pháp và hành động chánh trị phản đạo đức, bất nhơn bất nghĩa, bất chấp luân thường đạo lý, lấy cứu cánh biện minh cho mọi thủ đoạn lường gạt, dối trá hay phương tiện xấu xa, tàn ác để đạt được mục đích cho quyền lợi tiêng tư, đảng phái hay chủ nghĩa và đặt những quyền lợi này lên trên quyền lợi của đa số quần chúng và xã hội hay đất nước. Đây là TÀ TRỊ chứ không phải là CHÁNH TRỊ

Đây là hai thực tại mà ngưòi bình dân hay gọi nôm na là “vương đạo và tà đạo”

Nhưng muốn thay đổi hay phát triển xã hội cho lành mạnh, dầu muốn hay không, chúng ta cũng đều cần phải có sự tổ chức chung và tập hợp nhân sự c ủa những người hay thành phần đồng chí hướng để điều hành và tham gia ứng cử vào chánh quyền để lãnh đạo hầu đạt đến mục tiêu chung có hiệu quả, công bình và trật tự. Đây là lý do tại sao chúng ta cần phải có các đảng phái, phong trào, đoàn thể và tổ chức để thực thi công tác chánh trị.Với tư cách cá nhân không ai có thể đơn phương làm được chánh trị cho cã xã hội hay quốc gia, vì thế nếu không trực tiếp tham gia vào được thì cũng nên ủng hộ, đóng góp tinh thần hay vật chất vào các sinh hoạt tranh đấu chánh đáng về chánh trị của cộng đồng hay những tổ chức chánh trị nào mà mình cho rằng trong sáng, chánh đạo, thật sự vì nước vì dân hơn là thờ ơ, bỏ mặc hay cho rằng:

Tháp đổ đã có vua xây
Tội gì gái goá lo ngày lo đêm

Hay

Quan có cần nhưng dân không vội
Quan có vội quan lội quan đi

Chính thái độ thờ ơ, bỏ mặc, không hiểu hay không muốn hiểu, không tích cực, không chủ động hay không để ý đến chánh trị và không hành xử bổn phận và quyền hạn đóng góp vào việc chánh trị của mỗi cá nhân sẽ hoặc đã tạo cơ hội cho những phần tử bá đạo lợi dụng tình trạng ấy để thao túng, ra tay nắm lấy hay cướp chánh quyền và tiếp tục cầm quyền gây ra không biết bao nhiêu thảm hoạ cho xã hội, quê hương, dân tộc, tổ quốc và đặc biệt là cho chính bản thân và gia đình của chúng ta. Lúc ấy, có thức tỉnh thì cũng đã quá muộn rồi. Nói một cách khác, “We are deserved for what we have or have not done politically” (“khi nói đến chánh trị, thể chế hay chánh quyền mà chúng ta có là do chính những gì chúng ta đã hay không làm chánh trị ”) hay “ Thành môn thất hoả, uơng cập trì ngư - Cửa thành cháy thì cá dưới ao cũng bị vạ lây”.

Cách đây gần 3 thập niên, trong tập “Tài Liệu Huấn Luyện Trung Cấp - Tập I “ của Liên Minh Dân Chủ VN, giáo sư Huy đã viễn kiến nhận ra được và tỏ ý quan ngại về hệ quả của quan điểm “phi chánh trị” này của người Việt Quốc Gia hải ngoại như sau:

“Đối với người Việt Nam hiện cư ngụ ở quốc ngoại, thái độ phi chánh trị có thể có nhiều ý nghĩa khác nhau. Nó có thể phát xuất từ nhu cầu phải tôn trọng luật pháp của nước trong đó mình cư ngụ bắt buộc mình phải tự chế trong lời nói hay việc làm có liên hệ trực tiếp đến nền chánh trị nước ấy. Sự tự chế này thật sự không ngăn cản người VN thương nước tích cực hoạt động để giúp đỡ đồng bào hay tranh đấu để giải thoát dân tộc mình khỏi ách độc tài của bọn cộng sản Hà Nội. Nhưng thái độ phi chánh trị cũng có thể phát xuất từ ý muốn chối bỏ nguồn gốc Việt Nam của mình và bỏ mặc đồng bào còn đói rách khổ sở trong nước để hoàn toàn hội nhập vào xã hội đã tiếp đón mình. Trong trường hợp sau này, phi chánh trị có nghĩa là chấp nhận cho CSVN cai trị VN mãi mãi. Bỡi vậy, bọn CSVN khi nhận thấy rằng chúng không có hy vọng lôi kéo người VN cư ngụ nước ngoài theo chúng, đã mỡ chiến dịch xúi giục mọi người theo thái độ phi chánh trị. Do đó chủ trương phi chánh trị lại trở thành một hành động giúp cho bọn CSVN duy trì chánh quyền của chúng ở VN”.

Cộng Sản VN hôm nay đang khai thác tối đa những quan điễm sai lầm và tiêu cực này trong cộng đồng người Việt hãi ngoại cũng như người dân ở trong nước để duy trì quyền lực và địa vị độc tôn độc đảng của mình trên dân tộc VN bất kể hậu quả. Một mặt họ tung ra những hình thức bôi nhọ và chia rẽ mọi hội đoàn đoàn thể, cộng đồng đặc biệt là các tổ chức hay đoàn thể hay cộng đồng có uy tín hay khả năng về đấu tranh chánh trị để cho quần chúng hãi ngoại hoang mang, không tin tưởng và xa lánh. Một mặc khác họ khai thác tối đa quan niệm “làm từ thiện, làm đạo, làm văn hoá, làm văn nghệ, làm nghệ thuật là phải không làm chánh trị” để thủ lợi, để tránh bị chỉ trích lên án về những hành vi và chánh sách TÀ TRỊ của họ, đồng thời chia rẽ gây mâu thuẫn giửa cộng đồng người Việt hãi ngoại với những người trẻ, những tổ chức từ thiện và tôn giáo trong cũng như ngoài nước. Nói một cách khác, tiền trợ giúp giảm đói, giảm nghèo thì đảng nhận, đảng cho nhưng nguyên nhân và thủ phạm TÀ TRỊ đưa đến cái nghèo cái đói thì là “chánh trị” không được nói, miễn bàn chỉ nên nhắm mắt, bịt tai làm từ thiện và tôn giáo mà thôi. Vì lên tiếng hoặc có phản ứng là “làm chánh trị”.

Nếu chúng ta không lên tiếng nói cho CHÁNH TRỊ thì chúng đã vô tình cho phép CSVN tiếp tục tạo ra, duy trì và phát triển một thứ KỸ NGHỆ (Industry) TÔN GIÁO và TỪ THIỆN tại VN: một bên thì tiếp tục bỏ tiền của ra để giảm đói, giảm nghèo (CHÁNH), một bên kia thì tiếp tục sản xuất ra nghèo, đói và bất công (TÀ) nhưng bên chánh thì bị chiêu dụ để cho rằng việc GIÚP hay GÓP PHẦN LÊN TIẾNG để TẮT cái máy sản xuất ra nghèo đói không phải là chuyện hay bổn phận của tôi vì tôi “KHÔNG LÀM CHÁNH TRỊ”. Phe điều khiển máy sản xuất ra nghèo đói và bất công chỉ mong có thế!!!
Như đã nói trên, nếu chúng ta hiểu cho thấu đáo và đúng đắn ba chử “làm chánh trị” thì chúng ta càng theo đạo, chúng ta càng theo đuổi những công việc từ thiện xã hội, chúng ta viết lách hay sáng tác VÀ LÊN TIẾNG để cho xã hội tốt đẹp hơn, công bằng hơn và hoàn mỹ hơn đều là làm chánh trị rồi đó. Vì làm chánh trị không đồng nghĩa với làm chánh quyền hay tham chánh, mà là lên tiếng, bày tỏ thái độ, có phản ứng, và tranh đấu bảo vệ lẽ phải, công bằng, sự thật và quyền làm người của xã hội, quốc gia và dân tộc như là một bổn phận và nghĩa vụ thiên liêng, bất khả phân ly và bất khả xâm phạm của một con người, nên dù là một tu sĩ hay là một nghệ sĩ, văn nhân hay là một người bình thường không là ai hết chúng ta vẫn có bổn phận LÀM CHÁNH TRỊ và có thái độ, tiếng nói chánh trị đối với chính quền TÀ TRỊ song song với những công việc từ thiện hay tôn giáo hay văn hoá, văn nghệ mà chúng ta đang làm.

Vì thế, đi biểu tình, lên án những hành vi vi phạm nhân quyền, phản đối hành động bán nước của CSVN, lên tiếng chính thức bênh vực cho những quyền lợi căn bản của giáo dân, của người nghèo, cô thế để cho con người và đất nước VN được tốt đẹp và công bằng hơn là LÀM TỪ THIỆN ĐÚNG NGHĨA, LÀ HÀNH ĐẠO ĐÚNG NGHĨA VÀ LÀM VĂN HOÁ, VĂN NGHỆ ĐÚNG NGHĨA. Những công việc tốt đẹp và cao cã của chúng ta phải có những điều kiện và giới hạn được đặt ra đối với TÀ QUYỀN CSVN. Nếu cần chúng ta thà không làm còn hơn là mang tội đồng loã hay trợ giúp làm lợi cho bóng tối, tội ác và đi ngược lại với lương tâm.

Cộng sản VN cho rằng ai chỉ trích hay để ý đến việc của “Nhà Nước” là làm chánh trị, nhưng đi theo, ủng hộ và tùng phục Đảng CS thì lại không là chánh trị. Đảng CSVN chỉ mong mọi người tiếp tục nghĩ rằng hễ đã làm đạo, từ thiện, văn hoá, văn nghệ thì không thể có thái độ, lập trường và lên tiếng về chánh trị và quốc sự. Hoà thượng Quảng Độ, Linh mục Nguyễn Văn Lý, các nhà văn đang bị bắt bớ, giam cầm trong nước đã và đang là những tấm gương cho thấy thế nào là làm chánh trị trong khi vẫn làm trọn vẹn vai trò tôn giáo, văn sĩ của mình. Xin đừng để TÀ QUYỀN và TÀ TRỊ CS tiếp tục lừa gạt và diễn giải sai lạc vai trò và quyền hạn CHÁNH TRỊ của chúng ta một lần nữa.

Xin Giáo sư linh thiêng soi sáng và phù hộ cho người Việt hãi ngoại và trong nước tinh thần và trí tuệ minh mẫn để nhìn ra thủ đoạn “Phi Chánh Trị” này của CSVN đễ sớm đoàn kết và quang phục quê hương.

Nguyễn Thế Phong
Melbourne, 31-7-2010

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Tranh chấp Mỹ – Trung, một cảnh giác
cho lòng yêu nước


Trần Trung Đạo
Tại Diễn đàn Khu vực về Hợp tác an ninh ở châu Á tổ chức tại Hà Nội hôm 23 tháng Bảy, 2010, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tuyên bố: “Hoa Kỳ, giống như các quốc gia khác, có quyền lợi quốc gia về tự do hàng hải, mở cửa những thủy lộ chung tại châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế trên Biển Đông. Hoa Kỳ chia sẻ quyền lợi này chẳng những với các quốc gia thành viên ASEAN hoặc các quốc gia tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN; mà còn với các quốc gia có nhu cầu về hàng hải khác và cộng đồng quốc tế rộng lớn hơn”. Ngoài ra bà cũng tuyên bố Hoa Kỳ ủng hộ việc quốc tế hóa cuộc tranh chấp hải phận và giải quyết tranh chấp trên cơ sở công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển và “chống lại việc bất cứ một quốc gia tranh chấp nào xử dụng vũ lực”. Mặc dù Ngoại Trưởng Clinton xác định vai trò trung lập của Hoa Kỳ, những lời tuyên bố của bà rõ ràng nhằm bênh vực các nước nhỏ trong vùng, nhất là Viêt Nam. Ngoại Trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì giận dữ phản ứng: “Nhận xét của bà Clinton có vẻ như thực sự nhằm mục đích tấn công Trung Quốc bằng cách tạo ra một ảo ảnh rằng tình hình Biển Đông là đáng báo động”. Theo bình luận của báo New York Times, đây là “một chiến thắng đầy ý nghĩa đối với Việt Nam”.

Trong ba tuần qua, lần đầu tiên sau 35 năm, các phương tiện truyền thông của Đảng lẫn chống Đảng từ trong nước cũng như chống Cộng từ ngoài nước đã loan tải những lời tuyên bố cứng rắn của bà Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton kèm theo những lời bình luận vui mừng, tích cực giống nhau.

Điều đó cũng dễ hiểu. Khoan kể mối thù truyền kiếp giữa Trung Quốc và Việt Nam từ mấy ngàn năm trước, khi tổ tiên chúng ta phải sáng xuống biển tìm ngọc trai, chiều lên non tìm ngà voi, trầm hương, châu báu; khoan kể đến hàng triệu tấn súng đạn, xe tăng, đại pháo Trung Quốc đã cày xéo lên quê hương Việt Nam trong suốt cuộc chiến dài; khoan kể những tư tưởng độc hại Cộng sản Trung Quốc đã cấy vào tâm hồn bao thế hệ Việt Nam, chỉ nhắc đến Hoàng Sa Trường Sa, chỉ nhắc đến ngư dân Thanh Hóa thôi là máu hận đã xông lên trong mỗi con người Việt Nam. Trong lúc đang hoàn cảnh sức yếu thế cô, có một người mạnh như Mỹ từ xa đến bênh vực và nói lên lời phải trái, vui mừng là chuyện tự nhiên.

“Mỹ đang trở lại !”. Câu nói đó, suốt tháng qua, hẳn đã dội lại từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam trong tâm trạng hồi hộp đợi chờ của rất đông người Việt. Hình ảnh một hàng không mẫu hạm George Washington hùng mạnh đậu ngoài khơi Đà Nẵng như nhắc nhở câu chuyện của tháng Ba 1965 khi Chuẩn Tướng Frederick J. Karch và các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Viễn Chinh đổ bộ xuống thành phố này mở đầu cho cuộc chiến lâu dài nhất mà Mỹ đã tham gia. Khác chăng lần này Mỹ trở lại không phải để bảo vệ miền Nam nhưng bảo vệ Việt Nam. Ở hải ngoại, thậm chí có người còn đi xa hơn khi cho rằng người Mỹ sẽ giúp xây dựng một chế độ tự do dân chủ để họ sớm trở về sống những ngày cuối đời trong thanh bình, an lạc. Ở trong nước có vị còn nóng lòng cho rằng Việt Nam phải gấp rút chế bom nguyên tử. Tất cả không hẹn đã vô tình sắp hàng dưới ngọn cờ của Đảng. Như thế mới biết tình yêu nước, dù trong một thanh niên hay một chính trị gia giàu kinh nghiệm, có khi cũng vội vàng và đầy cảm tính như nhau.

Những lời tuyên bố của bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton thật ra phát xuất từ chính sách ngăn chận (containment) đã bắt nguồn từ sau Thế Chiến thứ Hai. Một số nhà bình luận gọi chính sách Mỹ đang áp dụng là ngăn chận mới (new containment) mang nội dung kinh tế quân sự để phân biệt với chính sách ngăn chận thời Chiến Tranh Lạnh mang nội dung chống Cộng sản. Để hiểu các hoạt động của Mỹ trong vùng Đông Nam Á, thiết tưởng nên đọc lại chính sách ngăn chận mà Mỹ đã và đang áp dụng.

Tháng 2 năm 1946, George F. Kennan còn là một nhân viên ngoại giao trung cấp làm việc cho tòa đại sứ Mỹ tại Liên Xô. Để đáp lại câu hỏi của Bộ Tài Chánh Mỹ gởi tòa đại sứ tại sao Liên Xô lại chống lại việc thành lập Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế, George F. Kennan gởi Bộ Ngoại giao Mỹ một bản phân tích qua hình thức một điện tín dài 5,500 chữ, trong đó ông trình bày một cách chi tiết quan điểm của Stalin về tương lai nhân loại, mục tiêu và chiến lược của Liên Xô sẽ được áp dụng trên phạm vi toàn thế giới, điểm mạnh và điểm yếu của chế độ Cộng sản, đồng thời đề nghị một số biện pháp cần thiết phải được áp dụng để ngăn chận làn sóng Cộng sản.

Bài phân tích của George Kennan không có tựa đề nên chỉ được biết ngày nay như là Bức Điện Tín Dài. Nếu bản phân tích được gởi đến Bộ Ngoại giao Mỹ một năm trước đó, có lẽ nó đã vào sọt rác hay đi thẳng vào phòng lưu trữ vì Mỹ và Liên Xô còn đang liên minh nhau tấn công Đức từ hai hướng Đông, Tây. Nhưng tháng 2 năm 1946, văn kiện đã làm Bộ Ngoại giao chú ý. Chính tổng thống Harry S. Truman cũng chỉ thị thành lập một nhóm nghiên cứu để phân tích bản tường trình của George Kennan và phát thảo một chính sách đối ngoại dựa trên các dữ kiện mà ông đưa ra. Bức điện tín của George Kennan được xem như một trong những văn kiện lịch sử bởi vì nó ảnh hưởng đến toàn bộ chính sách đối ngoại của Mỹ trong gần nửa thế kỷ, từ sau Thế chiến thứ Hai cho đến khi hệ thống Liên Xô sụp đổ năm 1991. Chính sách đối ngoại chỉ đạo của Mỹ đặt cơ cở trên những phân tích của George Kennan được gọi là ngăn chận (containment).

Hàng loạt các chủ thuyết như Domino, Nixon, Reagan; các kế hoạch kinh tế như Marshall Plan; các liên minh như Liên phòng Bắc Đại Tây Dương (The North Atlantic Treaty Organization) gọi tắt là NATO tại châu Âu, Liên Phòng Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization) gọi tắt là SEATO tại Đông Nam Á hay Hiệp ước Hỗ tương Liên Mỹ Châu (Inter‐American Treaty of Reciprocal Assistance) tại Mỹ Châu cũng đều phát xuất từ chính sách chỉ đạo ngăn chận đó. Suốt 9 đời tổng thống từ Harry Truman đến George Herbert Walker Bush, tùy thuộc vào điều kiện chính trị quốc tế trong mỗi giai đoạn, các chiến lược chiến thuật cũng được thay đổi thích nghi nhưng đều không đi xa mục tiêu chính là ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản. George Kennan được xem như là cha đẻ của lý thuyết ngăn chận.

Chính sách ngăn chặn đã diễn ra dưới nhiều hình thức. Bên cạnh cuộc chạy đua vũ trang, Star Wars, viện trợ và phản viện trợ, đảo chánh và phản đảo chánh, cách mạng và phản cách mạng, các cuộc giành dân chiếm đất bằng súng đạn cũng đã diễn ra tại một số quốc gia độn với nhiều mức độ khác nhau.

Các lý thuyết về quốc gia độn có nguồn gốc rất xa xưa nhằm chỉ các vùng đất hay quốc gia nhược tiểu nằm giữa hai cường quốc đối nghịch. Từ thời La Mã, các hoàng đế của đế quốc mênh mông đó đã nghĩ đến việc thiết lập các vùng đất rộng được gọi là vùng giới hạn nằm ngoài biên giới. Về sau, các học giả giải thích khái niệm vùng độn một cách rộng rãi chứ không chỉ thuần nguyên nhân địa lý. Vùng độn có khi chỉ là một dải đất rộng vài chục cây số vuông để bảo đảm cho an ninh nội địa như trường hợp các làng xã nằm phía Nam Lebanon và khu vực Golan Height đối với nền an ninh Do Thái, có khi là một quốc gia như trường hợp Ba Lan sau Thế chiến thứ Nhất nằm giữa Nga và Đức, có khi bao gồm nhiều quốc gia như hàng loạt các nước Đông Âu nằm giữa Liên Xô và khối dân chủ Tây phương, cũng có khi bao gồm chỉ một quốc gia và một khối như trường hợp Thổ Nhĩ Kỳ, Phần Lan.

Sau chiến tranh Việt Nam, chính sách Ngăn Chặn của Mỹ dưới thời Tổng thống Jimmy Carter và nhất là Ronald Reagan đã chuyển từ thế thủ sang thế công ở Afghanistan như Brzezinski kể lại “Nay chúng ta cơ hội để tặng cho Nga một Việt Nam riêng của họ”, bằng việc yểm trợ vũ khí cho phe Contras ở Nicaragua, giúp đỡ cho Liên minh Dân tộc Vì Độc lập Hoàn toàn của Angola (The National Union for the Total Independence of Angola, UNITA) ở Angola, đồng thời đẩy mạnh với kế hoạch chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém nhằm làm phá sản nền kinh tế Liên Xô. Cuối cùng hệ thống Liên Xô kiệt quệ và tan rã.

Hiện nay, chủ nghĩa Cộng sản chỉ còn thoi thóp ở vài nơi, Chiến tranh Lạnh đã chấm dứt nhưng chính sách ngăn chận đối với Nga và Trung Quốc, hai đối thủ nguyên tử đang cạnh tranh kinh tế và quân sự với Mỹ vẫn được tiến hành.

Đối với Nga, bất chấp lời hứa vào những năm đầu 1990 rằng NATO sẽ không mở rộng ra khỏi biên giới Đức, Mỹ đã mời hàng loạt quốc gia, không chỉ các nước thuộc khối Cộng sản Đông Âu trước đây mà còn những quốc gia nhỏ nhưng có biên giới sát với Nga như Latvia, Lithuania, Estonia tham gia vào NATO. Ngoài ra, Mỹ còn dự tính thiết lập hàng rào hỏa tiễn tại Ba Lan để gọi là “phòng thủ” nhưng thực tế là “trung lập hóa” hàng rào hỏa tiễn Nga.

Lãnh tụ Nga Vladimir Putin xem kế koạch của Mỹ chẳng khác gì dựng lên một Cuba ở Đông Âu. Ở phía Nam, Mỹ bao vây Nga bằng cách ủng hộ Ukraine và Georgia. Ukraine giữ một vị trí cực kỳ quan trọng về cả chiến lược lẫn văn hóa. Các sử gia Nga theo truyền thống vẫn gọi thủ đô Kiev là “Mẹ của các thành phố Nga”. Mỹ cũng ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Kosovo và công khai phản đối Nga khi họ thẳng tay đàn áp phong trào đòi ly khai của dân Chechnya, một trong 83 Cộng hòa độc lập trong Liên bang Nga.

Dù sao, chuyến viếng thăm Nga của tổng thống Barack Obama vào đầu tháng 7, 2009 đã giúp làm dịu một số căng thẳng giữa hai nước. Nga đơn phương cho phép võ khí và quân đội Mỹ được sử dụng không phận Nga trên đường đến Afghanistan thay vì phải vượt qua đèo Khyber hiểm trở. Hai tháng sau đó, Obama đã làm Vladimir Putin ngạc nhiên khi tuyên bố hủy bỏ kế hoạch xây dựng phòng tuyến hỏa tiễn tại Ba Lan. Đáp lại, Nga cũng hủy bỏ ý định trả đũa các dự tính quân sự tại Ba Lan của cựu tổng thống George W. Bush.

Việc làm dịu quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Nga cũng dễ hiểu vì đối thủ chính trong thế kỷ 21 của Mỹ không phải Nga mà là Trung Quốc.

Nếu tính từ thời điểm 1978, khi chính sách đổi mới của Đặng Tiểu Bình ra đời đến nay, Trung Quốc là quốc gia phát triển nhanh nhất thế giới. Chỉ trong vòng chưa đầy 30 năm, lợi tức bình quân tính theo đầu người của Trung Quốc vào năm 2005 tăng gấp 9 lần. Mới đây, đệ nhị cá nguyệt của 2010, Trung Quốc chính thức qua mặt Nhật Bản để trở thành nước có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Trung Quốc là nhà máy sản xuất hàng tiêu dùng cho cả thế giới. Dù thương hay ghét, dù ủng hộ hay bài trừ, một nửa đồ dùng trong trong nhà một gia đình Mỹ được chế tạo tại Trung Quốc. Từ chiếc DVD, TV, máy in, máy điện toán cá nhân, giày dép, áo quần và ngay cả lá cờ Mỹ, cũng “Made in China”.

Ngoài các lý do chủ quan phát xuất từ chính sách kinh tế của họ Đặng, một yếu tố khách quan thuận lợi cho việc phát triển nhanh chóng là việc nước này hội nhập vào thế giới đúng thời điểm nền kinh tế thế giới đang bắt đầu chuyển động theo hướng toàn cầu hóa. Chỉ trong vòng 25 năm, từ một quốc gia tự cô lập, Trung Quốc trở thành một cường quốc và đang tiếp tục xuất hiện như một siêu cường của thế kỷ 21. Chính sách của Trung Quốc ảnh hưởng cả thế giới, không phải chỉ trong lãnh vực kinh tế, tài chánh, ngân hàng mà cả chính trị và quân sự.

Nếu lịch sử là một chu kỳ lặp lại, tham vọng bành trướng của Trung Quốc không khác nhiều so với thời kỳ sau cuộc cách mạng kỹ nghệ và chủ nghĩa Thực dân Âu châu bắt đầu xâm thực các nước Á, Phi vào đầu thế kỷ 18. Chỉ trong vòng 6 năm, từ 2001 đến 2006, quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và các nước Phi Châu đã tăng từ 1 tỉ đô la đến 50 tỉ đô la. Hai chục năm trước đây, ít khi các lãnh đạo Trung Quốc đặt chân đến Phi châu, nhưng chỉ trong 5 năm qua, các lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc đã viếng thăm Phi châu 5 lần để tăng cường các hợp tác kinh tế quân sự giữa Trung Quốc và lục địa đầy tài nguyên thiên nhiên này. Trung Quốc hiện diện cùng khắp Phi Châu, từ bệnh viện đến trường học, từ cầu cống đến phi trường và đang tiêu diệt tận gốc rễ mọi mầm mống phát triển kinh tế của các quốc gia mới vừa thoát khỏi ách thực dân và nội chiến. Giấc mơ độc lập của các nước châu Phi chỉ là một giấc mơ trong quá khứ.

Tuy nhiên, con bạch tuộc Trung Quốc rất hùng hổ, rất đe dọa đối với thế giới bên ngoài nhưng lại rất yếu đuối, mong manh trong nội bộ. Bà Susan L.Shirk, một học giả quan tâm đến Trung Quốc khi còn là một những sinh viên Mỹ thăm viếng Trung Quốc và được Thủ tướng Chu Ân Lai chào đón vào năm 1971, trong tác phẩm Trung Quốc, siêu cường dễ vỡ cho rằng đe dọa lớn nhất của Trung Quốc là từ bên trong.

Về chính trị. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc không phải lo ứng cử đề cử như các quốc gia dân chủ, nhưng lại cho sợ mất quyền hành hơn là các lãnh đạo Tây phương dân chủ. Bài học Liên Xô và các chế độc tài khác trong lịch sử đã cho giới lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc biết không sớm thì muộn tòa lâu đài xây trên cát hiện nay cũng bị ngọn sóng dân chủ cuốn ra khơi. Các lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc luôn bị ám ảnh với các những cuộc nổi dậy như Thiên An Môn có thể xảy ra bất cứ lúc nào và bất cứ tại đâu trên lãnh thổ mênh mông và đầy dị biệt sâu sắc về kinh tế, văn hóa, xã hội. Sự thay đổi các triều đại phong kiến Trung Quốc là những cuộc thanh toán nhau bằng máu. Ngày nay, những mâu thuẫn giữa mức độ xã hội hóa của nền kinh tế và cơ chế chính trị ngày càng trầm trọng đến nỗi nhiều học giả cho rằng vấn đề không phải chế độ độc tài Cộng sản tại Trung Quốc có sụp đổ hay không mà là sớm hay muộn.

Về kinh tế. Nền kinh tế Trung Quốc tăng liên tục trong mấy chục năm qua nhưng không có nghĩa là sẽ tăng mãi mãi. Nền kinh tế Trung Quốc tuy nằm trong tay một đảng có tổ chức rất cao, nhưng sự tăng trưởng kinh tế Trung Quốc phần lớn lệ thuộc vào kinh tế thế giới. Một định luật có tính lặp lại theo chu kỳ của nền kinh tế thị trường là tăng trưởng, suy thoái và điều chỉnh. Và khi có sự điều chỉnh, kinh tế thị trường sẽ dẫn đến hậu quả thất nghiệp trong kỹ nghệ và trong nông nghiệp, lạm phát gia tăng, giá cả đắt đỏ, tiền lương hạ thấp, tiền tiết kiệm ký thác trong ngân hàng sẽ bị hàng trăm triệu người đạp lên nhau để rút ra. Thời đại tin học có lợi nhưng cũng vô cùng tác hại khi các nguồn tin được tung ra quá nhanh chóng, nhưng lại không có phương tiện để kiểm chứng. Quân đội dù có đông đảo và tàn bạo bao nhiêu cũng không thể ngăn được làn sóng của một tỉ người từ Hải Nam đến Tân Cương đều có một phản ứng tiêu cực giống nhau. Các cuộc biểu tình ở Tân Cương mới đây cho thấy không nhất thiết phải có một tổ chức quy mô nhưng chỉ cần một tin ngắn được phát ra đúng lúc và đúng chỗ cũng có thể tạo nên một biến cố lớn. Bom nguyên tử, hỏa tiễn, chiến hạm, tàu ngầm đều trở thành vô dụng.

Về quân sự. Trung Quốc là một đất nước có lịch sử phân hóa và nội phản từ trong xương tủy. Là một nước lớn, nhưng Trung Quốc thường không đủ khả năng bảo vệ chính mình. Đừng nói chi thời cuối đời nhà Thanh bị 8 nước Mỹ và Âu Châu cấu xé, mà ngay thời nhà Tống vàng son nhất của Trung Quốc cuối cùng rơi vào tay Mông Cổ, một nước rất nhỏ trên thảo nguyên phía Bắc. Và một lần nữa vào thế kỷ 17, khi nhà Minh, một triều đại rất mạnh về quân sự nhưng cũng không tránh bị tiêu diệt trong bàn tay của dân tộc Mãn Thanh nhỏ bé. Lịch sử Trung Quốc cũng để lại rất nhiều bài học về các cuộc nổi loạn lớn làm lung lay tận gốc rễ nhiều đế chế trước đó tưởng chừng không thể nào sụp đổ. Cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc là một ví dụ điển hình. Mặc dù loạn Hồng Tú Toàn bị dẹp nhưng đã mang theo sinh mạng của 20 triệu người trong 15 năm khói lửa. Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ không được may mắn như nhà Thanh vì họ sẽ không tồn tại được lâu như thế.

Về xã hội. Trước thời mở cửa kinh tế, đại đa số người dân Trung Quốc lớn lên từ nơi họ sinh ra nhưng từ khi kinh tế phát triển, lực lượng lao động của Trung Quốc đổ dồn vào các thành phố. Sự chênh lệch giữa giàu và nghèo, đô thị và nông thông ngày càng trầm trọng. Tại Trung Quốc, chỉ 10 phần trăm dân số chiếm hữu 45 phần trăm tài sản quốc gia. Sự phân cực trong xã hội do hậu quả của phát triển kinh tế không cân bằng sẽ dẫn đến tình trạng bất ổn xã hội. Giống như các nước dân chủ, khi gặp khó khăn, người dân sẽ đặt vấn đề với hàng ngũ lãnh đạo, nhưng khác với các nước dân chủ, cách giải quyết tại Trung Quốc cũng như tại hầu hết các nước độc tài thường diễn ra bằng sắc máu. Với sự phân cách về địa lý và dị biệt về chủng tộc tại Trung Quốc, sẽ không có một hình thức cách mạng nhung, cách mạng da cam, da vàng nào dành cho Trung Quốc. Cách giải quyết dùng xe tăng, đại pháo bắng thẳng vào những thanh niên tay trắng tại Thiên An Môn của Đặng Tiểu Bình đối với phần lớn nhân loại là dã man nhưng lại phù hợp với truyền thống dã man của Trung Quốc. Biến cố Thiên An Môn đã qua gần 20 năm nhưng vẫn là mối ám ảnh thường xuyên trong giấc ngủ của các lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc bởi vì đảng chỉ dập tắt ngọn lửa trên quảng trường Thiên An Môn nhưng không dập tắt được ngọn lửa chống đối trong lòng người. Ngọn lửa tự do dân chủ đó vẫn sáng và sẽ một ngày bùng cháy.

Về đối ngoại. Trung Quốc có nhiều đối thủ lợi hại, trong đó gồm Nhật Bản, Ấn Độ, và Mỹ. Quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Mỹ trong 10 năm qua đã phát triển đến một mức độ vô cùng phức tạp. Mỹ là một trong những quốc gia nhập cảng nhiều nhất từ Trung Quốc, từ 100 tỉ đô la năm 2000 đến 296 tỉ đô-la vào năm 2009. Trung Quốc nhập cảng từ Mỹ cũng tăng từ 16 tỉ đô-la năm 2000 đến 70 tỉ đô-la năm 2009. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào nhau về mặt kinh tế không có nghĩa là các chính quyền Mỹ không xem Trung Quốc là đối thủ nguy hiểm trong tương lai gần và không có nghĩa là Mỹ ngồi yên để nhìn bàn tay tham vọng của Trung Quốc vươn xa toàn thế giới.

Ngày 29 tháng Giêng, 2010, chính quyền Obama chấp thuận thương vụ trị giá 6.4 tỉ đô-la gồm trực thăng Black Hawk và võ khí chống hỏa tiễn Patriots, tàu vét mìn cho Đài Loan, cùng với việc hợp tác để sản xuất tàu ngầm hoạt động trong vùng biển mà Trung Quốc cho là thuộc lãnh hải của họ. Trung Quốc luôn xem Đài Loan thuộc về Trung Quốc, do đó, như Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc He Yafei tức khắc phản đối cho rằng Mỹ đã can thiệp vào vấn đề nội bộ của Trung Quốc. Trung Quốc trả thù bằng cách hủy bỏ các thương vụ của Trung Quốc với các công ty Mỹ đang bán võ khí cho Đài Loan. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ đáp lại: “Đây là một bằng chứng rõ ràng, chính phủ Mỹ phải cung cấp cho Đài Loan các võ khí phòng thủ mà họ cần”. Ngoài ra, chính phủ Mỹ xác định tiếp tục xem xét nhu cầu phòng thủ không phận Đài Loan trước khi bán cả phi cơ chiến đấu F-16 tinh xảo cho Đài Loan.

Sau đó hai tuần lễ, ngày 18 tháng Hai 2010, Tổng Thống Barack Obama đã tiếp kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma tại tòa Bạch Ốc. Lần nữa, Trung Quốc đã phản đối mạnh mẽ và cho rằng việc tiếp vị lãnh đạo tinh thần nhân dân Tây Tạng là vi phạm lời cam kết của Mỹ rằng Tây Tạng là một phần của Trung Quốc. Mỹ đáp lại, mặc dù Mỹ công nhận Tây Tạng là một phần của Trung Quốc nhưng Trung Quốc cũng phải tôn trọng sự khác biệt văn hóa giữa Tây Tạng và phần còn lại của Trung Quốc. Để làm nhẹ ảnh hưởng của buổi tiếp kiến, chính quyền Obama không cho phép báo chí vào chụp hình, nhưng sau buổi tiếp kiến, tòa Bạch Ốc đã công bố bức hình Đức Đạt Lai Lạt Ma và Tổng Thống Obama ngồi cạnh nhau. Phát ngôn viên tòa Bạch ốc ca ngợi Đức Đạt Lai Lạt Ma đã theo đuổi mục tiêu bằng phương pháp bất bạo động và cho báo chí biết tổng thống Obama đã ủng hộ một cách mạnh mẽ việc giữ gìn đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa, và tôn giáo độc đáo của dân tộc này.

Nhưng dù bán bao nhiêu võ khí cho Đài Loan hay tiếp kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma, Đài Loan và Tây Tạng cũng chỉ là những yếu tố tĩnh chứ không phải yếu tố động. Cả hai đều không hội đủ điều kiện để tạo nên những biến cố có ảnh hưởng vùng hay thế giới. Những cuộc nổi dậy của nhân dân Tây Tạng đều mang tính địa phương, gây được thiện cảm nhưng không có tác dụng lớn với chính quyền Trung Quốc. Chuyện Trung Quốc thanh toán Đài Loan bằng võ lực cũng rất khó xảy ra vì Trung Quốc biết Hoa Kỳ không bao giờ để xảy ra và dù có xảy ra cũng chưa chắc đã thắng, còn chuyện Đài Loan giải phóng Trung Hoa lục địa thì đã chết theo Tưởng Giới Thạch từ 1975. Chỉ có hai quốc gia độn là Bắc Hàn và Việt Nam mới thật sự đóng vai trò quan trọng.

Không ai biết rõ, hiểu rõ Bắc Hàn và Việt Nam hơn đàn anh Trung Quốc và cũng không ai hiểu thế mạnh thế yếu của đàn anh Trung Quốc hơn Bắc Hàn và Việt Nam. Như lịch sử chứng minh, Trung Quốc sẽ phải làm tất cả những gì có thể làm, kể cả hy sinh mạng sống của nhân dân họ để duy trì ảnh hưởng với hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Bắc Hàn.

Đối với Bắc Hàn, ngoài mấy chục ngàn chí nguyện quân Trung Quốc đã bỏ thây trong chiến tranh Nam Bắc Hàn, Trung Quốc hàng năm đã phải dành riêng một nguồn tài nguyên, của cải lớn để nuôi dưỡng Bắc Hàn. Mặc dù không có tài liệu chính thức nào cho biết tổng số viện trợ Trung Quốc dành cho Bắc Hàn là bao nhiêu nhưng cả thế giới đều biết nguồn viện trợ chính của Bắc Hàn không đến từ đâu khác hơn là Trung Quốc. Theo báo Korea Times, Trung Quốc cung cấp gần hết nguồn năng lượng cho Bắc Hàn và một nửa số thực phẩm người dân Bắc Hàn đang dùng mang nhãn hiệuTrung Quốc.

Một số nhà phân tích chính trị cho rằng hành vi và cách cư xử bất thường của lãnh tụ Bắc Hàn Kim Chính Nhật trong quan hệ ngoại giao quốc tế nhiều khi đặt giới lãnh đạo Trung Quốc vào vị thế khó xử. Nhận xét đó chỉ đúng một nửa. Với Trung Quốc, một Kim Chính Nhật bất bình thường vẫn tốt hơn là một Kim Chính Nhật bình thường, một Bắc Hàn tự cô lập vẫn tốt hơn là một Bắc Hàn mở rộng. Giả thiết, vì bất cứ lý do gì, Bắc Hàn trở mặt với Trung Quốc, quay sang bắt tay với Mỹ, hòa giải với Nam Hàn, mở cửa ngoại thương, hội nhập vào thế giới v.v… quả thật vô cùng bất lợi cho Trung Quốc. Nếu một ngày nào đó Kim Chính Nhật giống như nhà độc tài Libya Muammar al-Gaddafi, người mà trước đây từng bị cố Tổng Thống Reagan gọi là “Chó dại vùng Trung Đông”, bỗng dưng “buông đao đồ tể” lên tiếng kết án khủng bố, xin lỗi nạn nhân, Trung Quốc sẽ phải lo lắng nhiều hơn là mừng rỡ. Không có Kim Chính Nhật, chung quanh Trung Quốc sẽ còn lại toàn là kẻ thù. Ngoài mấy chục ngàn quân Mỹ và Hạm đội thứ Bảy hùng hậu đặt bản doanh ở Yokosuka, Trung Quốc bị bao vây bởi hai anh khổng lồ Nhật Bản và Ấn Độ. Kim Chính Nhật biết rõ thế yếu của Trung Quốc nên sử dụng vị trí sân sau và lá bài võ khí nguyên tử của mình một cách có lợi cho việc duy trì quyền lãnh đạo tuyệt đối trên bán đảo Triều Tiên. Không có tài trợ từ Trung Quốc, Bắc Hàn sẽ sụp đổ; nhưng không có Bắc Hàn, phòng tuyến an ninh dài 1400 km phía Đông Bắc sẽ bị phá vỡ. Trung Quốc ưa thích Kim Chính Nhật? Chắc chắn là không, nhưng cần thì quá sức cần.

Khác với Phi Châu, chính sách bành trướng của Trung Quốc tại Đông Nam Á không chỉ nhằm mục đích kinh tế mà quan trọng hơn là an ninh và quân sự. Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm phần lớn các đảo trong vùng Biển Đông mà nhiều nước đang tranh chấp chủ quyền. Tháng Hai 1992, quốc hội Trung Quốc ngang ngược thông qua một đạo luật tuyên bố rằng 80 phần trăm biển Đông là của họ. Năm 1994, Trung Quốc ngang nhiên thiết lập các căn cứ quân sự trên các đảo bất chấp sự phản đối của thế giới. Trong quá trình bành trướng của Trung Quốc, Việt Nam là nước bị thiệt hại nặng nhất về lãnh thổ, lãnh hải và nhân mạng.

Quan hệ giữa Trung Quốc và Cộng sản Việt Nam có một lịch sử lâu dài từ ngày Đảng Cộng sản hai nước được thành lập. Năm 1950, Trung Quốc là nước đầu tiên công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Cả hai nước đã thừa nhận sự đóng góp của cải và xương máu của Trung Quốc vào mục đích thiết lập chế độ Cộng sản tại Việt Nam.

Không giống như Kim Nhật Thành đầu độc cán bộ đảng và nhân dân Bắc Hàn bằng mớ lý luận Juche mơ hồ, không tưởng, các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam là những người Cộng sản đệ Tam chính thống, vốn thấm nhuần lý thuyết Mác Lê và tư tưởng Mao Trạch Đông. Các lãnh đạo đảng là những người tuyệt đối trung thành với lý tưởng Cộng sản và có một thời rất lâu tin một cách chân thành vào đàn anh Trung Quốc. Việc chọn đứng về phe Liên Xô và tiến chiếm Campuchia của Việt Nam đã dẫn đến cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 và hàng loạt các cuộc đụng lớn vào những năm sau đó như trận Cao Bằng 1980, Lạng Sơn và Hà Tuyên 1981,Vị Xuyên Hà Tuyên 1984, Lão Sơn Hà Giang 1984, Vị Xuyên lần nữa vào 1985 và 1986.

Sau khi hệ thống Liên Xô sụp đổ, chỗ dựa vững chắc của Đảng Cộng sản Việt Nam về tư tưởng lý luận, bang giao quốc tế, viện trợ kinh tế cũng sụp đổ theo. Đảng Cộng sản Việt Nam đứng bên bờ vực thẳm và không còn con đường nào khác là lần nữa tìm nơi nương tựa dưới tàng cây Trung Quốc.

Tháng 9 năm 1990, lãnh đạo cao cấp của hai đảng gặp ở Thành Đô để bàn về việc giải quyết xung đột Campuchia và tái lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Ngay vào thời điểm một siêu cường như Liên Xô và cả khối Đông Âu đã sụp đổ mà các lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn tin rằng Trung Quốc sẽ thay thế Liên Xô lãnh đạo phong trào Cộng sản thế giới và tiếp tục giương cao ngọn cờ Xã hội Chủ nghĩa. Cựu Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ đã viết lại trong hồi ký của ông: “Sở dĩ ta dễ dàng bị mắc lừa ở Thành Đô là vì chính ta đã tự lừa ta. Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và CNXH thế giới, chống lại hiểm hoạ ‘diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Tư tưởng đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm ‘giải pháp Đỏ’, tức giải pháp nhằm loại bỏ các thành phần không Cộng sản ra khỏi chính quyền liên hiệp tại Campuchia.

Dù sao, sau lần gặp gỡ đó, quan hệ Việt Trung đã cải thiện. Hàng loạt các thỏa hiệp đã được ký kết. Năm 1999, Giang Trạch Dân đề ra một khẩu hiệu để biểu hiện cho mối quan hệ mới giữa hai nước và được gọi là 16 chữ vàng: “Láng giềng hữu nghị. Hợp tác toàn diện. Ổn định lâu dài. Hướng tới tương lai”. Một vài quan điểm cho rằng mười sáu chữ vàng là chiếc vòng kim cô Đảng phải đội trên đầu, nhưng cũng có nguồn tin khác cho rằng Đảng còn muốn lệ thuộc hơn thế nữa bằng việc thay chữ hợp tác “toàn diện” thành hợp tác“chiến lược” nhưng Trung Quốc không đồng ý.

Trung Quốc hiểu vị trí khó khăn của Đảng Cộng sản Việt Nam, do đó, trong lúc Việt Nam tìm cách để được phụ thuộc vào Trung Quốc như một đàn anh Xã hội Chủ nghĩa, Trung Quốc tỏ ra thiếu tin tưởng vào người đàn em có một quá khứ đầy phản trắc này. Ngoài miệng tuy không ngừng lặp lại mười sáu chữ vàng, trong thâm tâm, Trung Quốc không từ bỏ tham vọng nước lớn bằng việc ra lịnh hải quân Trung Quốc bắn thủng các tàu thuyền đánh cá của Việt Nam một cách không thương tiếc. Hành động coi thường sinh mạng người Việt là một cách thể hiện thái độ khinh bỉ giới lãnh đạo Cộng sản Việt Nam.

Ngày 23 tháng Bảy vừa qua, cái nút chặn Việt Nam mà Trung Quốc tin rằng không thể nào thoát được bỗng dưng lỏng lẻo. Chiếc vòng kim cô Trung Quốc gắn lên đầu Đảng Cộng sản Việt Nam có nguy cơ rơi xuống. Chuyến viếng thăm Việt Nam của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và một loạt những biến cố chung quanh bao gồm việc hợp tác hạch nhân mà không bao gồm các điều khoản cấm tinh chế Uranium và chuyến viếng thăm vùng biển Đà Nẵng của Hàng không Mẫu hạm USS George Washington đã làm thay đổi cán cân quyền lực trong vùng. Và lần nữa, Việt Nam lại đóng vai trò của một vị trí chiến lược trong chính sách ngăn chận của Mỹ đối với Trung Quốc tại Đông Nam Á.

Đất Việt Nam, máu Việt Nam, xương thịt Việt Nam trong số phận của một sân sau an toàn của Trung Quốc và một tiền đồn của phe chống Trung Quốc bành trướng, do nhu cầu của chính sách ngăn chận mới, có thể sắp bắt đầu lên giá.

Nhìn vào bản đồ Á châu, chúng ta không khỏi nghĩ đến chiến tranh Trung Mỹ rồi sẽ phải xảy ra. Dù các nhà bình luận có cho rằng quyền lợi của các siêu cường ngày nay đã phụ thuộc, quyện lẫn vào nhau đến mức độ không thể có một bên thắng, một bên bại nếu chiến tranh bùng nổ. Nhưng quan niệm đó không phải là mới. Trước đây đã có nhiều người nói như thế. Sau Thế chiến thứ Nhất, Hội Quốc Liên được thành lập với chức năng duy nhất là bảo đảm nhân loại sẽ không bị tàn sát khủng khiếp như thế nữa. Bao nhiêu tài năng và nỗ lực đã được dành vào mục đích đó, nhưng chưa đầy 20 năm sau, nhân loại lại phải lao vào cuộc chém giết với hậu quả trầm trọng gấp nhiều lần hơn trước.

Cuộc xung đột Mỹ, Trung, Nga trong Chiến tranh Lạnh để lại nhiều bài học quý giá về số phận của những sân sau, tiền đồn và vùng độn. Có những tiền đồn chìm đắm trong chiến tranh hận thù nghèo đói như Cu Ba, Việt Nam, Bắc Hàn, Afghanistan nhưng cũng có những tiền đồn nhờ xung đột đã trở nên giàu có như Nam Hàn, Tây Đức, Đài Loan. Có những vùng độn phải trở thành chư hầu lệ thuộc như các nước Đông Âu thời Liên Xô nhưng cũng có những vùng độn nhờ tài năng của những người lãnh đạo mà duy trì được độc lập như Phần Lan, Thụy Điển, Thổ Nhĩ Kỳ. Và đặc điểm chung rõ nét của những quốc gia vượt qua được số phận sân sau, tiền đồn và vùng độn để trở nên thăng tiến giàu mạnh chính là dân chủ. Dân chủ là đôi cánh thời đại đã giúp Nam Hàn, Đài Loan, Tây Đức, Phần Lan, Thổ Nhĩ Kỳ vượt qua những vị trí địa lý chính trị khó khăn và trở thành quốc gia giàu mạnh, được kính trọng, có tiếng nói độc lập trong bang giao quốc tế.

Không ai có thể tiên đoán một ngàn năm nữa Việt Nam sẽ ra sao. Nhưng dù ra sao thì đó cũng là trách nhiệm của các thế hệ sau này. Trách nhiệm của các thế hệ hôm nay là giữ nguyên vẹn được mảnh đất mà tổ tiên để lại và xây dựng trên đó một căn nhà thương yêu, đoàn kết, tự do, dân chủ và giàu mạnh. Dân chủ sẽ là vũ khí hữu hiệu nhất để ngăn chận những đe dọa từ Trung Quốc và dân chủ cũng là phương tiện giúp Việt Nam thăng tiến cùng thế giới.

Những lời tuyên bố của bà Ngoại trưởng Hillary Clinton chưa hẳn giúp gì cho số phận của các anh Nguyễn Văn Đài, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Xuân Nghĩa, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim v.v… đang ở trong tù như một số người đang nghĩ, trái lại các nỗ lực của họ có thể bị quên đi hay bị cuộc tranh chấp Mỹ – Trung che mờ đi. Với Mỹ, chủ nghĩa Cộng sản thế giới đã chết. Những chế độ độc tài còn rơi rớt ở Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba, Bắc Hàn phát xuất từ điều kiện riêng của các quốc gia này chứ không phải nhờ vào các tinh hoa tinh huyết gì của chủ nghĩa Cộng sản. Ngày nay, Mỹ đối xử với các chính quyền Trung Quốc hay Việt Nam như là những chính quyền hợp pháp mặc dù Mỹ biết không ai bầu các chính quyền này ra.

Cuộc vận động dân chủ tại Việt Nam, vì thế, còn nhiều khó khăn và sẽ đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, hy sinh. Tuy nhiên như bác sĩ Lê Nguyên Sang vừa phát biểu sau khi vừa ra khỏi tù “Con đường dân chủ Việt Nam là con đường không thể đảo ngược được”. Đúng vậy. Dân chủ, tự do, bình đẳng là quyền bẩm sinh của mỗi con người. Không một ông Harry Truman nào đến Nam Hàn để trao món quà dân chủ trước đây và cũng không có bà Hillary Clinton nào đến Việt Nam để ban phát tự do hôm nay. Sáu chục năm trước, từ đống tro tàn của cuộc chiến, nếu có người tiên đoán rằng năm 2010, Nam Hàn sẽ là một cường quốc kinh tế thứ tư của Á Châu và thứ mười hai của thế giới, người đó có thể bị cho là mỉa mai dân tộc Triều Tiên hay là điên khùng. Tương tự hôm nay, có thể cũng có người cười mai mỉa khi nghe rằng dân tộc Việt Nam rồi cũng sẽ đạt đến điểm hẹn huy hoàng tự do, dân chủ, giàu mạnh như bất cứ dân tộc nào khác trên thế giới đã từng đạt được. Đó không phải là một khẩu hiệu, một ước mơ, nhưng là sự thật, là chân lý: Đảng Cộng sản Việt Nam muốn có mặt trong cuộc vận hành lịch sử của dân tộc Việt Nam trước hết họ phải tự tan biến đi.

© 2010 Trần Trung Đạo

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Thử thách của mọi người Mỹ

Ngô Nhân Dụng

Một người bạn trên mạng kể chuyện anh đi coi phim “Invictus” về Nelson Mandela; anh nhắc lại sau khi lên làm tổng thống Nam Phi, ông Mandela vẫn sử dụng hộ vệ là lính da trắng cũ. Người da trắng lúc đó hoang mang, sợ bị trả thù hay bị cướp hết tài sản, chuẩn bị sẵn sàng “vượt biên.” Ông Mandela giữ nguyên đội bóng bầu dục (rugby) quốc gia mặc dù dân da đen đa số muốn giải tán. Chỉ có dân da trắng thích chơi rugby, môn thể thao vẫn bị coi là biểu tượng của chế độ phân biệt chủng tộc. Sau khi đội rugby này thắng một giải quốc tế 1995, thì cả dân da trắng lẫn da đen đều cảm thấy hãnh diện. Nhờ thế họ thân thiện, đoàn kết hơn, Nam Phi cũng không bị khủng hoảng kinh tế hay chính trị. Ðội trưởng đội bóng rugby thắc mắc, không hiểu sao một người đã từng bị chế độ phân biệt chủng tộc bỏ tù 27 năm mà không thù người da trắng?

Nelson Mandela không phải chỉ là một vĩ nhân của Nam Phi. Ông là một biểu tượng của một người có mắt nhìn xa về chính trị, người có đức bao dung đáng làm gương cho mọi người thuộc tất cả mọi chủng tộc. Chúng ta nhìn những tấm gương như vậy để tự bảo mình cũng phải học cách sống độ lượng, bao dung. Vì thế giới lúc nào cũng cần những gương sáng như Mandela.

Một người Mỹ đang gây sóng gió, bị khắp nước phản đối, vì có ý định đi ngược lại với đức bao dung và quyền tự do tôn giáo ở Mỹ. Ông Terry Jones, một mục sư tại thành phố Gainesville, Florida, đang tính tổ chức một cuộc đốt Kinh Thánh Hồi Giáo vào Thứ Bẩy này, để tưởng niệm các nạn nhân ngày 11 tháng 9 năm 2001. Ông Jones không thuộc giáo hội lớn nào, lãnh đạo một nhà thờ chỉ có 30 tín đồ chính thức. Ðang là một người vô danh bỗng nhiên ông nổi tiếng khắp thế giới.

Ông Jones nhân danh quyền tự do phát biểu ghi trong Hiến Pháp Mỹ. Ông nói rằng: “Cảnh sát bảo vệ chúng tôi, Sở Cứu Hỏa nói việc chúng tôi đốt lửa trại không có vấn đề gì cả.” Ông kêu gọi người Mỹ khắp nước ai có cuốn Kinh Kuran nào cứ gửi về cho ông đốt. Trong khi đó, hội đồng thị xã Gainesville nói họ chưa hề cấp giấy phép.

Ðiều may mắn là ông Terry Jones cuối cùng đã quyết định không đốt kinh Kuran nữa. Nhưng câu chuyện không phải vì thế mà dừng lại.

Mạng điện tử mang tên Nhà thờ The Dove World Outreach Center của ông Jones đang bán những chiếc áo thun (T-shirts) với khẩu hiệu: Hồi Giáo là Quỷ dữ. Ðó cũng là khẩu hiệu treo trước nhà thờ của ông. Với dự án đốt kinh Kuran khiến ông nổi tiếng, có thể Jones sẽ thu hút thêm nhiều tín đồ, nhà thờ của ông sẽ nhận được thêm nhiều tiền quyên tặng. Ông có thể sẽ được mời đi diễn thuyết ở nhiều nơi, với thù lao lớn. Vì ở nước Mỹ cũng như ở bất cứ quốc gia nào khác, có rất nhiều người sẵn sàng ủng hộ những ý kiến quá khích như vậy, khi nó phù hợp với khuynh hướng kỳ thị và đầu óc thù hận của họ.

Vì vậy, cả nước Mỹ đã nỗ lực không để diễn ra việc đốt kinh sách ở Gainesville, Florida. Một mối lo cụ thể là người ta sợ hình ảnh công khai đốt Kinh Kuran ở Mỹ sẽ được chiếu trên ti vi khắp thế giới; sẽ khích động thêm nhiều người Hồi Giáo thù ghét nước Mỹ. Tất cả mọi người Mỹ, các quân nhân hay du khách Mỹ tới các nước như Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, hoặc Indonesia, Mã Lai, vân vân, có thể sẽ trở thành mục tiêu để trả thù, trút hận. Việc đó có thể xẩy ra ngay bây giờ và sẽ kéo dài trong nhiều năm sắp tới. Ðức bao dung thường giúp nẩy sinh thêm đức bao dung. Hành động cuồng tín sẽ cũng khích động các hành động cuồng tín khác. Những tổ chức khủng bố như al Qeda sẽ thêm hình ảnh làm động cơ tuyển mộ các thanh niên cuồng nhiệt với đầu óc chống Mỹ. Nhiều thanh niên mù quáng sẽ sẵn sàng tự sát trong những vụ khủng bố giống như ngày 11 tháng 9 năm 2001.

Trước mối lo cụ thể này, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc đã lên án dự định của ông Terry Jones, vì lo cho quân đội Mỹ ở khắp nơi. Tổng thư ký khối Minh Ước Bắc Ðại Tây Dương (NATO) Anders Fogh Rasmussen sau khi gặp Tổng Thống Barck Obama, đã lên án dự định đốt Kinh Kuran, gọi đó là một hành động bất kính, có thể gây thêm nguy hiểm cho quân đội NATO tại ở Afghanistan. Tướng David Petraeus, chỉ huy quân đội Mỹ và đồng minh ở Afghanistan cũng cảnh cáo như vậy. Sau khi ông Jones loan báo vào cuối tháng 7 dự định đốt Kinh Kuran ở nhà thờ của ông, trong tháng qua nhiều người đã biểu tình phản đối tại các nước Hồi Giáo. Mấy trăm thanh niên, phần lớn là học sinh các trường Hồi Giáo đã tập họp trước Thánh đường Milad ul-Nabi ở Kabul, thủ đô Afghanistan hô khẩu hiệu “Death to America” - Giết Chết Mỹ! Ông Terry Jones đã vô tình hỗ trợ tích cực cho các nhóm Taliban và al Qaeda. Họ không những sẽ lợi dụng vụ đốt kinh sách này mà sẽ nhắc nhở các tín đồ Hồi Giáo khác hãy nhớ đến những cuộc chiến tranh, thù hận xẩy ra từ hàng ngàn năm trước, để khích động mối hận thù lịch sử.

Nhưng mối lo sợ của người Mỹ, của nước Mỹ không phải chỉ liên quan tới sinh mạng của binh sĩ và thường dân của mình. Ðiều quan trọng hơn cả mạng sống con người, là linh hồn của quốc gia trẻ trung này. Người Mỹ thường vẫn hãnh diện về các quyền tự do mà họ muốn giúp tất cả loài người đều được hưởng, trong đó có tự do tín ngưỡng. Họ cũng hãnh diện là, trong suốt lịch sử, họ đã cố gắng phát triển đức bao dung, vượt qua được óc kỳ thị hẹp hòi dưới nhiều hình thức: chủng tộc, tôn giáo, màu da. Từ thế kỷ 17, vùng đất miền Bắc Châu Mỹ đã là nơi tỵ nạn của những người dân Âu Châu bị bức hại về tôn giáo; cho nên các di dân tị nạn này rất thiết tha với quyền tự do hành đạo. Từ tình trạng trước đây một thế kỷ rưỡi nhiều dân Mỹ coi người da đen không đáng gọi là người, hoặc không đáng được chấp nhận là công dân; nước này giờ đã bầu một vị tổng thống da mầu đen. Cuộc hành trình dài hơn 200 năm không đơn giản, chắc chắn không dễ dàng; nhưng đã được thể hiện thực sự trong luật pháp, trong các định chế quốc gia và trong hành động. Ðức bao dung và quyền tự do tôn giáo là những niềm tin tưởng nhiệt thành, tự nhiên gần như một bản năng của mọi người Mỹ biết suy nghĩ. Mọi người Mỹ đều muốn bảo vệ được những giá trị tinh thần là đức bao dung và quyền tự do tôn giáo, như những đặc tính của dân tộc trẻ trung và phức tạp này; nếu họ không bảo vệ được tất cả mọi binh sĩ, mọi thường dân có thể trở thành nạn nhân của khủng bố ở khắp nơi.

Cho nên, trước dự án đốt kinh sách của một tôn giáo với hàng tỷ tín đồ khắp thế giới, những người có tín ngưỡng ở Mỹ đã lên án mạnh mẽ. Cuộc họp của các nhà lãnh đạo tôn giáo, trong đó có Ðức Hồng Y tổng giám mục vùng thủ đô Washington, Cardinal Theodore McCarrick, Tiến Sĩ Michael Kinnamon thuộc Hồi Ðồng Quốc Gia Các Giáo Hội (National Council of Churches) và Pháp Sư Do Thái Giáo David Saperstein, đứng đầu Liên Hiệp Do Thái Giáo Cải Cách (Union for Reform Judaism), đã đưa bản tuyên cáo bày tỏ mối quan tâm về hiện tượng chống Hồi Giáo đang lên một cách cuồng nhiệt ở Mỹ, và sự “kinh hoàng trước thái độ bất kính với một kinh sách thiêng liêng” là Kinh Kuran.

Cũng trong ngày Thứ Bẩy, sau một lễ tưởng niệm các nạn nhân ngày 11 tháng 9 năm 2001, hai cuộc biểu tình dự trù sẽ được tổ chức song song tại nơi đã xảy ra vụ khủng bố đó tại New York. Những người ủng hộ, và những người chống việc xây một Thánh đường Hồi Giáo trong khu phố này sẽ tập họp để cổ động cho lập trường của họ. Hai cuộc biểu tình ôn hòa đó có thể sẽ bị những phần tử quá khích quấy rối biến thành bạo động nếu không ai kiểm soát được họ.

Buổi tối ngày Thứ Sáu này cũng là Lễ Iftar, khi mọi tín đồ Hồi Giáo ăn mừng ngày chấm dứt Tháng Chay Ramadan. Người Hồi Giáo khắp thế giới và trên nước Mỹ sẽ tụ họp nhau trong bữa tiệc Iftar này, và chắc chắn câu chuyện được mọi người nói tới nhiều nhất sẽ là vụ đốt Kinh Kuran ở thành phố Gainesville nước Mỹ.

Ngoại Trưởng Hillary Rodham Clinton tổ chức một tiệc Iftar mời các tín đồ Hồi Giáo tham dự. Bà đã tuyên bố ủng hộ bản tuyên ngôn của các nhà lãnh đạo tôn giáo vừa qua, lên án việc đốt kinh Thánh của Hồi Giáo là hành động bất kính và không có tư cách. Ông P J Crowley, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao kêu gọi mọi công dân Mỹ hãy đứng lên bảo vệ những giá trị tinh thần của đất nước họ. Ông lên án hành động đốt kinh sách là “phản Mỹ” (un-American).

Nhiều người Mỹ theo Hồi Giáo đã đứng lên. Ủy Hội Liên Lạc Mỹ-Hồi Giáo (Council on American-Islamic Relations) đã kêu gọi các tín đồ ở quanh vùng Gainesville hãy tổ chức một sinh hoạt “Chia Sẻ Kinh Kuran,” đem Kinh Thánh Hồi Giáo tặng cho mọi người muốn tìm hiểu, cho người thường, các cảnh sát viên và báo chí.

Chúng ta hy vọng sau khi cả nước Mỹ lên tiếng một cách rõ ràng như vậy, người Hồi Giáo khắp thế giới sẽ hiểu nhóm ông Terry Jones chỉ là một thiểu số không đáng kể. Họ phải hiểu rằng ông này không đại diện cho nước Mỹ hay cho nền văn minh theo truyền thống Do Thái và Thiên Chúa Giáo. Cũng như mọi người Mỹ phải hiểu rằng Osama bin Laden không đại diện tất cả người Hồi Giáo.

Nhưng chính phủ Mỹ và mọi người Mỹ sẽ còn phải tiếp tục giải thích thêm nhiều nữa. Hoa Kỳ là một xứ sở tự do, quyền tự do của mọi người, kể cả những thiểu số quá khích cũng được tôn trọng. Ðừng hiểu lầm hành động của một nhóm người Mỹ là tiêu biểu cho cả nước Mỹ. Tiến Sĩ Ingrid Mattson, chủ tịch Hội Hồi Giáo Bắc Mỹ (Islamic Society of North America) đã giúp việc giải thích đó. Bà kêu gọi các tín đồ Hồi Giáo trên thế giới hãy “lui một bước,” xin họ đừng lợi dụng những “lời ăn to nói lớn” của một thiểu số người Mỹ để biện hộ cho các hành động chống các người Mỹ theo đạo Thiên Chúa hoặc đạo Do Thái. Bà Mattson cũng là người tổ chức và tham dự cuộc họp của các tôn giáo ở Washington vừa qua.

Hy vọng dự án đốt kinh của nhóm ông Terry Jones sẽ bị chính quyền thành phố Gainesvilles ngăn chặn một cách khôn khéo, tìm được những lý do để cấm việc làm tai hại của nhóm này. Như thi sĩ Heinrich Heine đã viết: “Kẻ đốt sách sẽ có ngày giết người.” Nếu những cuốn sách bị đốt lại là kinh thánh của một tôn giáo, thì không phải chỉ một người giết một người. Cảnh giết chóc có thể trở thành tập thể và kéo dài, còn kinh khủng, khó tưởng tượng nổi.

Chúng ta biết hành động của một cá nhân có thể gây ra những phản ứng dây chuyền làm thay đổi lịch sử, khi các điều kiện chín mùi vì quyền lợi xung khắc giữa các quốc gia thúc đẩy. Tháng 7 năm 1914, một thanh niên 20 tuổi bị bệnh lao sắp chết Gavrilo Princip đã bắn chết Arch Duke Ferdinand, người sẽ kế vị hoàng đế Áo Hung, tại thành phố Sarajevo, lúc đó thuộc Serbia. Vụ ám sát này do một nhóm ái quốc Serbia chủ mưu, đã châm ngòi cho cuộc Ðại Chiến Thứ Nhất, kéo dài 4 năm, giết 8 triệu người, làm 22 triệu người bị thương nặng, và 4 đế quốc sụp đổ. Hiệp ước chấm dứt cuộc chiến đó lại gieo mầm cho Ðại Chiến Thứ Hai, hơn 20 năm sau.

Chúng ta phải ngăn ngừa không cho những hành động lẻ loi của một cá nhân châm ngòi cho mối thù hận kéo dài giữa các tập thể. Nhiều cuộc chiến tranh vì lý do tôn giáo đã từng diễn ra nhiều lần trong lịch sử, có khi kéo dài hàng trăm, hàng ngàn năm chưa dứt. Phải dập tắt những ngọn lửa hận thù, dù nhỏ bé nhất, khi chúng mới chớm lóe lên. Ðể tránh hậu họa, có thể là thảm họa.

Nếu nước Mỹ có một nhân vật như Thánh Gandhi hoặc Nelson Mandela thì chắc người đó có thể tự mình đi tới thành phố Gainesvilles yêu cầu người ta hãy đốt chính mình cùng với các cuốn Kinh Kuran. Các vị lãnh đạo tôn giáo có thể phát động cuộc hành trình này. Chắc nhiều người Mỹ khác sẽ cùng đi theo họ, để cho thấy nước Mỹ thực sự là một quốc gia bao dung và tôn trọng các tôn giáo. Có ai sẵn sàng hay không?

Post Reply