Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

29 năm, hoàn tất một hành trình

'Ðã có văn bản không nhận người tị nạn lên tàu,' nhưng, một thuyền trưởng, cựu Navy Seal HK, đã cứu 52 thuyền nhân Việt Nam, 29 năm về trước.

Ngọc Lan/Người Việt
PROVIDENCE, Rhode Island (NV) - Một trong những “câu chuyện hay nhất” mà nhiều người dân của thành phố Providence ở Rhode Island từng được nghe, đã được kể ra vào trưa Chủ Nhật, 3 tháng 10 vừa qua, tại ngôi nhà thờ St. Martin Episcopal.

Image
Cuộc hội ngộ sau 29 năm có được nhờ tình cờ tìm lại được tấm “business card” mà mọi người đang chuyền nhau xem.
Từ trái: Ông Nguyễn Hữu Ðể, Bác Sĩ Denis Moonan (bạn ông Romano), bà Liên Hương, cô con gái lớn của thuyền trưởng Romano,
truyền trưởng Romano, vợ thuyền trưởng, và cô Carly, con gái thứ 3 của thuyền trưởng. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Ðó là câu chuyện của những thuyền nhân Việt Nam vượt biển tìm tự do bất chấp hiểm nguy.

Ðó là câu chuyện của người thuyền trưởng, vì “không muốn nhìn thấy người ta phải chết,” đã bất chấp lệnh cấm, và cho người tị nạn được lên tàu của mình.

Ðó là câu chuyện những người chịu ơn, đi tìm để được nói lời tri ân với ân nhân mình, sau gần ba thập kỷ.

Ðó là câu chuyện của ngày hội ngộ sau 29 năm.

Image
Những thuyền nhân Việt Nam năm xưa đến thăm nhà thuyền trưởng Romano. Vợ chồng thuyền trưởng đứng hàng trên cùng.
(Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
Tấm danh thiếp bị lạc

Nha Sĩ Nguyễn Diệu Liên Hương ở quận Cam, từ hai mươi mấy năm qua, cứ khắc khoải trong lòng mối ơn cứu mạng chưa kịp đền đáp với vị ân nhân của mình là thuyền trưởng chiếc tàu vớt thuyền vượt biên của cô.

Thuyền trưởng Charles Romano là người đã cứu bà Liên Hương, 2 người con nhỏ của bà, cùng 49 người khác đi cùng bà trên chiếc ghe vượt biên từ Mỹ Tho vào ngày 9 tháng 5 năm 1981. Tuy nhiên, sau khi sang đến Mỹ, bà Liên Hương đã làm thất lạc tấm business card, dấu tích duy nhất có thể liên lạc với người ơn của mình.

Sau hơn 29 năm, vào một ngày cuối tháng 8 vừa qua, trong một lúc tình cờ khi lát lại sàn nhà, bà Liên Hương đã vô tình nhìn thấy chiếc phong bì đựng “Tài liệu vượt biên” trong đó có tấm business card của thuyền trưởng Romano. Ngay sau đó, bà đã viết thư gửi đến cho viên thuyền trưởng năm nào.

Image
Xem lại những hình ảnh về Việt Nam mà thuyền trưởng Romano còn lưu giữ cùng thư của bà Liên Hương gửi năm 1981, 1982,
và danh sách 52 thuyền nhân được thuyền trưởng cứu vớt.
Từ trái: cô Nguyễn Thị Thuận, thuyền trưởng Romano, ông Châu Trần, chồng bà Liên Hương, bà Liên Hương, bà Debra, vợ thuyền trưởng,
anh Sơn Nguyễn và mẹ anh, bà Trúc Mai. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
Và cuộc gặp gỡ đã diễn ra ngay tại thành phố thuyền trưởng Romano đã sống suốt mấy mươi năm qua, và ngay tại ngôi nhà của ông ở tiểu bang Rhode Island .

Nước mắt và nụ cười

Thuyền trưởng Romano, 70 tuổi, với gương mặt phúc hậu, chống gậy đứng ngay cửa một căn phòng nhỏ bên trong nhà thờ chào đón mọi người.

Bà Debra Romano, vợ thuyền trưởng, tự tay nắn nót viết hai chữ “Chào Mừng” bằng tiếng Việt trên tấm giấy đặt trang trọng trên bàn.

Gương mặt người thuyền trưởng, gương mặt vợ ông, bạn bè ông và tất cả những người có mặt tại nhà thờ ngày hôm đó biểu lộ một sự cảm kích và một tình cảm thật đặc biệt.

Không phải chỉ có Nha Sĩ Liên Hương, mà có tới 3 gia đình đi gặp ông Romano hôm đó. Có ông Nguyễn Hữu Ðể cùng con trai tên Sơn Nguyễn đến từ tiểu bang Connecticut, và cô Nguyễn Thị Thuận, đến từ tiểu bang Massachusetts. Họ là những thuyền nhân năm xưa có mặt trên chiếc ghe được thuyền trưởng Romano cứu sống, nay cùng gia đình đến, để ôm chầm lấy vị ân nhân của mình sau ngần ấy năm gặp lại.

Câu chuyện năm nào sống lại trong lòng mọi người. Mọi người khóc, cười nhắc lại những ký ức.

Image
Thuyền trưởng Charles Romano, người đã bất chấp lệnh cấm để cứu 52 thuyền nhân Việt Nam. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
Bà Nguyễn Diệu Liên Hương, hiện là một nha sĩ ở Orange County, kể lại câu chuyện không chiếc tàu lớn nào đi ngang chịu đáp lại tín hiệu cầu cứu của những người trên ghe bà khi chiếc ghe bắt đầu gặp trục trặc, không nước uống, hết xăng, hư máy.

Bà nói trong nước mắt: “Tối đó, tôi nhìn các con tôi. Tôi thấy chúng hoàn toàn vô tội. Các con tôi còn quá nhỏ, một đứa mới lên 6, một đứa mới lên 5, chúng nào biết gì là tự do, biết gì là chế độ độc tài. Thế mà tôi đã mang chúng ra khỏi nhà, đặt chúng vào nguy hiểm. Tôi đã không bảo vệ được các con tôi. Tôi cảm thấy mình tồi tệ quá.”

Mang theo tấm ảnh chụp tất cả các thành viên trong gia đình cùng những nụ cười rạng rỡ, bà Hương nói với cựu thuyền trưởng Romano: “Những nụ cười này làm sao có được nếu không có tấm lòng của ông ra tay cứu chúng tôi?”

Ông Nguyễn Hữu Ðể, hiện là đang làm việc cho một công ty in ấn ở West Hartford , cũng xúc động nói về tình cảnh tuyệt vọng của ông khi đó. Ông Ðể nói cảm xúc của ông khi được chiếc tàu Rainbow của thuyền trưởng Romano cứu vớt giống như cảm giác “chết đi sống lại, sống như trên thiên đường vậy.”

“Ông thuyền trưởng cho chúng tôi ở phòng lạnh, cho ăn uống thỏa thuê. Ông còn cho mọi người viết thư và cho máy bay bay vào Singapore để gửi thư của chúng tôi về báo tin cho gia đình nữa,” ông Ðể kể.

Image
Một sốhình ảnhđược lưu giữ cùng tờ giấy bạc Việt Nam do một thuyền nhân trên tàu ký tặng lại cho thuyền trưởng Romano.
(Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Anh Sơn Nguyễn, con trai ông Ðể, đang làm CPA cho công ty Blum Shapiro ở Connecticut, cũng có mặt trên chiếc ghe năm xưa, khi mới 8 tuổi, nói một cách chân thành: “Tôi còn quá nhỏ để nhớ tường tận từng chi tiết. Nhưng tôi biết nhờ ông, nhờ tấm lòng của ông, tôi mới có được ngày hôm nay.”

Cô Nguyễn Thị Thuận, hiện đang làm việc tại Trung Tâm Y Tế Ðại Học Boston, ở Massachusetts, kể với mọi người câu chuyện về ngày mà cha mẹ cô đã muốn cô cùng anh trai cô theo chiếc tàu vượt biên tìm đường đến tự do. Cô chỉ biết rằng mình đã nằm bẹp suốt thời gian trên tàu, và điều mà cô nhớ nhất là “thuyền trưởng Romano đã làm tái sinh cuộc sống của tôi.”

Người kể chuyện khóc. Người nghe cũng khóc.

Cô Carly Romano, 25 tuổi, con gái thuyền trưởng Romano, vừa đứng nghe câu chuyện của các thuyền nhân, những người lần đầu tiên cô gặp trong đời, vừa nghe câu chuyện kể về hành động cha cô, vừa liên tục đưa tay lau nước mắt.

“Tôi không biết phải nói như thế nào nữa. Giờ đây tôi mới nghe được cả câu chuyện,” cô Carly vừa đưa tay đặt lên ngực, vừa cố kìm chế những giọt nước mắt rơi trên đôi mắt đỏ hoe. “Tất cả đều quá sức tưởng tượng. Cha tôi đã làm một điều tuyệt vời. Cha tôi đã chỉ cho tôi thấy bài học về lòng nhân ái. Tôi cũng hiểu những điều mà trước giờ tôi chưa bao giờ hiểu về những người tị nạn đã mang cả gia đình đi tìm tự do là như thế nào. Tôi tự hào về cha tôi. Tôi hiểu hơn về cuộc đời.”

Chuyện bây giờ mới kể

Sau cuộc gặp gỡ ở nhà thờ St. Martin Episcopal, thuyền trưởng Charles Romano mời mọi người đến thăm ngôi nhà của ông.

Sau những bỡ ngỡ của một người không quen nhận sự cám ơn, hay đúng hơn không ngờ hành động mà ông cho là “bình thường” lại được mọi người đón nhận bằng một sự trân trọng đến như vậy, thuyền trưởng Romano bắt đầu tâm sự về những điều mà đến tận bây giờ, sau hơn 29 năm, những người được ông cứu vớt mới được biết đến.

“Nhiều chiếc tàu đi qua đã không cứu các bạn, tôi biết chứ. Bởi đã có văn bản yêu cầu không được nhận bất cứ người tị nạn nào lên tàu. Chúng tôi chỉ được phép giúp đỡ thực phẩm hay những hỗ trợ để các bạn có thể đi đến Kuala Lumpur hay Indonesia thôi. Nhưng tôi biết trước là sẽ có bão, mà bão trên đại dương thì thật là kinh khủng.” Thuyền trưởng Romano nói.

Ông quay nhìn phóng viên Người Việt và nói một cách thoải mái: “Tôi nghĩ gì khi quyết định cứu họ à? Chỉ đơn giản là tôi không muốn họ chết. Tôi thấy có quá nhiều con nít và phụ nữ trên chiếc ghe đó.”

Thuyền trưởng Romano, một “Navy Seal” Hoa Kỳ, từng tham chiến ở Việt Nam tất cả ba lần, lần đầu vào năm 1960, sau đó là từ năm 1966 đến 1968, và được tặng thưởng cả thảy năm “Purple Hearts.”

Ông nhắc những địa danh mà ông đã đến trong tư cách một người lính như Long Xuyên, Củ Chi, Vàm Cỏ Ðông, Tây Ninh, Bến Lức.

Ông còn giữ lại rất nhiều hình ảnh ở Việt Nam ngày trước, trong đó, không chỉ có hình ảnh của những người lính, mà có rất nhiều những hình ảnh ông bất ngờ chụp được: hình những người thanh niên cỡi trâu, hình một cô nữ sinh mặc áo dài đi trên phố Sài Gòn, hình những làng xóm nông thôn.

Thuyền trưởng Romano nói về tâm trạng ông bị dằn vặt khi bị ném vào cuộc chiến. “Lần đầu tiên tôi giết người, tôi đã tự nói với lương tâm mình rằng tôi đã làm một điều tệ hại nhất trong đời. Bạn mà điều xấu, bạn sẽ nhận lấy hậu quả xấu. Tôi hiểu điều đó. Nhưng tôi phải làm gì đây?”

Tuy nhiên, sự xuất hiện của những thuyền nhân được ông cứu vớt năm xưa là một dấu hiệu lạc quan để thuyền trưởng có thể “vượt qua những băn khoăn ray rứt của một người sùng đạo,” như lời vợ ông chia sẻ.

Bà Romano mang ra cho mọi người xem lại một bảng danh sách viết tay tên họ, năm sinh, giới tính của 52 người trên tàu mà ông đã cứu.

Ông Ðể thốt lên: “Danh sách này tôi viết! Ðây là nét chữ của tôi!” Sau chừng nấy năm, chính ông Ðể cũng đã quên mất mình chính là người viết danh sách này.

Ông Romano cũng cho xem bức điện tín khiển trách ông đã vớt người tỵ nạn.

Thuyền nhân năm xưa Nguyễn Hữu Ðể thắc mắc: “Tại sao ông biết ông làm như vậy là trái luật mà ông vẫn làm? Ông không sợ điều gì sẽ ảnh hưởng đến ông sao?”

Thuyền trưởng rất tự tin: “Nếu tôi làm theo những lời họ yêu cầu, thì các bạn đã chết hết rồi. Khi ở trên tàu, tôi là thuyền trưởng, tôi có quyền quyết định. Tôi làm điều tôi cho là đúng và tôi phải làm.”

Ðiều bất ngờ hơn là trong số những thứ ông Romano vẫn còn cất giữ có cả 2 lá thư do bà Nguyễn Diệu Liên Hương gửi cho ông từ năm 1981, ngay sau khi bà tới Mỹ, và một lá thư viết năm 1982.

“Tôi không hề nhớ đến những lá thư này. Nhưng như vậy là tôi cũng vui lắm. Rõ ràng chúng tôi đã không quên ông ấy ngay từ lúc đó. Chỉ có điều có thể vì ông không trả lời, rồi cuộc sống bận bụi, tôi cũng quên đi, cho đến lúc muốn tìm thì lại không tìm ra tấm business card nữa,” bà Hương nói.

Thuyền trưởng thì cho rằng có lẽ thời gian đó ông không có nhà, ông đang trên những chuyến hải hành.

Tất cả đều trôi vào quên lãng, cho đến ngày ông nhận được lá thư của bà Hương.

“Thật không thể tưởng tượng được khi nhận được lá thư của bà Hương. Tôi không tin đó là thật. Tôi bị shock. Thật là tuyệt vời khi nghe tin con trai bà ấy nay đã là một kỹ sư làm việc cho hải quân. Tôi nhớ khi đó nó còn nhỏ lắm, tôi còn băn khoăn không biết nó sẽ sống sót, tồn tại như thế nào, vậy mà bây giờ nó đã là một người đàn ông. Tôi vẫn nhớ con tàu ấy. Sau đó thì tôi không còn có cơ hội cứu thêm con tàu nào khác.” Viên thuyền trưởng cười nói.

Sau gần 3 thập kỷ, cuộc hội ngộ trong một ngày dường như không đủ cho nhiều điều muốn nói, nhiều câu chuyện muốn kể.

Bà Elke Moonan, một giáo sư đại học đã về hưu, một người bạn lâu năm của thuyền trưởng Romano, tham dự buổi gặp gỡ từ đầu đến cuối, nói: “Tôi chỉ có thể nói câu chuyện này quá cảm động. Tôi là bạn của thuyền trưởng từ mấy chục năm nay. Tôi biết ông ấy đã có một đời sống tinh thần không mấy ổn định kể từ khi về hưu. Nhưng rất cám ơn sự hiện diện của mọi người ngày hôm nay, sau khi đã cố công tìm kiếm tin tức của ông ấy. Tôi tin rằng sau lần này tinh thần ông ấy sẽ được vực dậy. Thật là tuyệt vời. Tôi sẽ kể tiếp câu chuyện này cho bạn bè tôi nghe. Ðó là một câu chuyện hay nhất trong số những câu chuyện hay tôi từ trước đến giờ.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Một cái tát vào mặt Tr.Q:
Nobel Hòa bình cho Lưu Hiểu Ba !

Giải Nobel Hòa bình năm 2010 được trao cho nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc đang ngồi tù, Lưu Hiểu Ba.Trước đó, các phỏng đoán nêu ra rằng ông Lưu Hiểu Ba, nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc cùng một số nhà hoạt động nhân quyền Nga và Afghanistan được cho là ứng viên sáng giá nhất. Ngoài ông Lưu, người ta kỳ vọng

các nhân vật như bà Sima Samar, nhà hoạt động quyền phụ nữ của Afghanistan và nhà hoạt động nhân quyền Nga, bà Svetlana Gannushkina có nhiều khả năng được giải.
Người phụ nữ được giải Nobel Hòa bình gần đây nhất là bà Wangari Maathai của Kenya vào năm 2004.

Hãng thông tấn Na Uy, nước có Ủy ban trao giải Nobel Nhân quyền cũng nêu rằng cựu thủ tướng Đức Helmut Kohl có nhiều cơ hội nhận giải nhờ vai trò thống nhất hai nước Đức hồi 20 năm trước.

Cuối tháng Chín, Trung Quốc cảnh cáo ủy ban giải thưởng Nobel Hòa bình đừng trao giải cho nhà bất đồng chính kiến Lưu Hiểu Ba.

Bộ Ngoại giao nói việc trao giải cho ông sẽ đi ngược lại nguyên tắc của giải Nobel.

Ông Lưu đang thụ án tù vì kêu gọi dân chủ và đòi hỏi nhân quyền ở Trung Quốc.

Người phát ngôn ở Bắc Kinh nói với các phóng viên rằng ông Lưu Hiểu Ba ở tù vì ông vi phạm luật, và rằng trao giải Nobel Hòa bình sẽ gửi ra thông điệp sai trái.

Bà nói nó sẽ đi ngược lại mục tiêu của người sáng lập giải là thúc đẩy hòa bình giữa các dân tộc.

Ông Lưu đang chịu án 11 năm tù vì soạn thảo Hiến chương 08 kêu gọi dân chủ đa đảng và tôn trọng nhân quyền ở Trung Quốc.

Trong hơn hai thập niên, ông Lưu Hiểu Ba đã là người phát ngôn mạnh mẽ cho nhân quyền tại Trung Quốc.

Ủy ban Nobel

Hơn 100 học giả, luật sư và nhà vận động người Trung Quốc đã kêu gọi Ủy ban vinh danh ông trong năm nay. Cựu tổng thống Czech Vaclav Havel cũng ủng hộ.

Loan báo được chủ tịch Ủy ban Nobel tại Oslo, Thorbjørn Jagland, thông báo buổi sáng hôm nay, giờ Âu châu:

"Trong hơn hai thập niên, ông Lưu Hiểu Ba đã là người phát ngôn mạnh mẽ cho nhân quyền tại Trung Quốc. Ông đã tham gia các cuộc biểu tình Thiên An Môn năm 1989. Ông là tác giả hàng đầu của Hiến chương 08, công bố vào dịp kỷ niệm 60 năm Tuyên ngôn nhân quyền Liên Hiệp Quốc."

"Một năm sau, ông Lưu bị án tù 11 năm cộng thêm hai năm mất quyền chính trị vì chống lại quyền lực nhà nước. Ông Liu luôn nói rằng các mức án này vi phạm hiến pháp và nhân quyền căn bản của Trung Quốc. Qua bản án hà khắc dành cho ông, ông Lưu đã là biểu tượng tiêu biểu nhất cho cuộc đấu tranh vì nhân quyền ở Trung Quốc."

Bình luận

Phóng viên BBC tại Bắc Kinh, Martin Patience cho hay "giới dân tộc chủ nghĩa tại Trung Quốc sẽ coi quyết định này là cú tấn công của Phương Tây vào Trung Quốc".

Anh cũng cho hay chính quyền Trung Quốc đã cảnh báo Ủy ban Hòa bình Na Uy rằng "Lưu Hiểu Ba không phải là một ứng viên xứng đáng."

"Chính quyền Trung Quốc gọi ông Lưu là một tên tội phạm."

Bình luận viên Trần Thời Vinh của BBC Tiếng Trung tại London thì nói:

"Ông bị tù và bị tước hết quyền công dân chỉ vì cùng soạn ra Hiến chương 08 về dân chủ hóa và nhân quyền tại Trung Quốc."

"Nhiều người Trung Quốc trong trái tim sẽ đón chào giải Nobel Hòa bình cho Lưu Hiểu Ba vì dù mức sống lên cao nhưng các quyền như nhân quyền, quyền tự do chính trị bị bó hẹp."

"Người Trung Quốc cũng từ lâu nay đã hỏi vì sao chưa bao giờ một công dân nước Trung Quốc được giải Nobel, nay thì lần đầu tiên có công dân Trung Quốc được giải, dù không phải trong các lĩnh vực như khoa học nhưng vẫn là Nobel."

Các báo Phương Tây hôm nay trích lời vợ ông Lưu nói chồng bà "sẽ không sớm biết tin về giải Nobel cho ông vì ông không được dùng điện thoại trong tù".

Trong một cuộc phỏng vấn khác trước lúc trao giải với giả thiết Lưu Hiểu Ba là người được Nobel, Phelim Kline từ tổ chức nhân quyền Human Rights Watch giải thích tầm quan trọng

"Việc Lưu Hiểu Ba được giải Nobel Hòa bình vô cùng quan trọng vì hai lý do. Trước hết, ông là người đấu tranh không mệt mỏi để có thay đổi dân chủ bằng phương thức hòa bình."

"Lý do thứ hai, ông đã chịu trừng phạt vì niềm tin của mình. Ông bị nhiều năm tù, bị quản thúc, cải tạo. Chính phủ Trung Quốc cũng mở chiến dịch chống lại việc đề cử giải cho ông. Họ thậm chí đe dọa chính phủ Na Uy và Ủy ban Nobel." ( BBC)

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Hào khí Thăng Long thời Tự chủ hay ám khí thời Bắc thuộc mới

Bùi Tín

Ðại lễ kỷ niệm Ngàn Năm Thăng Long được chuẩn bị đã 8 năm nay. Khi được biết mục đích của lễ kỷ niệm là nhắc lại lịch sử oanh liệt của đất nước ta thời nhà Lý đã dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long (Hà Nội ngày nay) mở ra một thời kỳ độc lập tự chủ thịnh trị cho đất nước, ai là người Việt Nam lại không vui mừng.
Image
Tượng Lý Thái Tổ. (Hình: Wikimedia)

Một kế hoạch rộng lớn có thể nói là hoành tráng được vạch ra. Nào là dựng một số tượng đài, từ tượng Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ), người khai sáng ra Triều Lý, đến nâng cấp tượng Lê Thái Tổ, dựng tượng Thánh Gióng, dựng tượng đài phù điêu Hà Nội Kháng chiến; dựng Tháp Ngàn Năm Thăng Long, khánh thành công viên Hòa Bình ở Xuân Ðỉnh-Từ Liêm, có tượng đài Hòa Bình ở giữa; xây dựng một loạt công trình như Bảo tàng Hà Nội ở Mễ Trì-Từ Liêm, Thư viện Thủ đô cùng Tủ sách Ngàn Năm Văn Hiến; xây dựng một số tuyến đường vành đai quanh thủ đô, dựng công trình mỹ nghệ độc đáo Ðường Gốm Sứ ven sông Hồng dài 4 kilômét, xây khu tổ hợp kiến trúc 65 tầng Liễu Giai-Ðào Tấn, xây dựng Ðại Lộ Thăng Long dài 29 kilômét, làm mới đường Ðội Cấn-Hồ Tây, đường Láng-Hòa Lạc...

Về văn hóa nghệ thuật, sẽ ra mắt một số bộ phim dã sử như: Trần Thủ Ðộ, Về Ðất Thăng Long, Khát Vọng Thăng Long, Huyền Sử Thiên Ðô và quan trọng nhất là bộ phim dài 19 tập Ðường Tới Thăng Long do tổng đạo diễn Trung Quốc Cận Ðức Mậu chỉ đạo, nhà biên kịch Trung Quốc, Kha Chương Hòa, viết kịch bản. Về phim tài liệu, có phim Thành Phố Rồng Bay và Hà Nội 36 Phố Phường.

Ðêm 2 tháng 10 là đêm đại nhạc hội Hà Nội tiến hành tại nhà hát Âu Cơ, gồm có 32 ca khúc do 42 ca sĩ đã được tuyển lựa trình diễn.

Nổi đình đám nhất sẽ là lễ diễu binh và diễu hành tiến hành tại lễ kỷ niệm chính thức tại quảng trường Ba Ðình sáng 10 tháng 10, do 10 trực thăng chiến đấu mở đầu, bay cách mặt đất 80 mét.

Tối 10 tháng 10, từ 20 giờ là cuộc mít tinh trọng thể cấp nhà nước tại quảng trường Ba Ðình. Sau đó, đêm hội văn hóa nghệ thuật và lễ bế mạc Ðại lễ Kỷ niệm Ngàn Năm Thăng Long tại sân vận động quốc gia Mỹ Ðình.

Ngoài những công trình kỷ niệm và lễ hội kể trên, còn có nhiều hoạt động phong phú khác, như bắn pháo hoa, thắp sáng cầu Long Biên, lễ hội Dời Ðô tái hiện cảnh dời đô bằng đường thủy từ Hoa Lư-Ninh Bình qua Phố Hiến-Hưng Yên đến bến Chèm-Hà Nội.

Tại đền Ngọc Sơn, hồ Hoàn Kiếm, suốt trong 10 ngày từ 1 tháng 10 đến 10 tháng 10, 2010, mỗi buổi sáng, có tái diễn lễ đăng quang của vua Lê Thái Tổ và sau đó là lễ nhà vua trả gươm cho Rùa thần. Các buổi lễ được tiến hành với 500 nghệ sĩ, trình diễn những bản hòa tấu cổ, hòa tấu trống hội, nhạc cung đình, các nhạc điệu Ðăng Ðàn, Lục Công Hoa Ðăng...

Chưa bao giờ Hà Nội sôi nổi chuẩn bị những lễ hội to lớn, dài ngày, nhiều việc, tốn kém như Ðại lễ kỷ niệm lần này. Chưa kể những chi phí theo ngân sách hàng năm, riêng chi phí thêm cho đại hội này ước tính lên đến 7 đến 8 tỉ đô la.

Nhưng điều làm cho người dân thủ đô, và người Việt trong và ngoài nước thiếu hưng phấn, vui vẻ, lạc quan là việc chuẩn bị về ý nghĩa tinh thần của lễ hội đã bị buông lỏng, không lột tả được niềm tự hào dân tộc, không biểu dương được ý chí tự lập tự cường, đúng vào lúc nền độc lập, tự chủ của nước ta bị đe dọa, toàn vẹn lãnh thổ bị xâm lấn uy hiếp. Ðó là điều đáng chê trách, đáng tiếc nhất ở những người lãnh đạo và nhà đương quyền các cấp. Lẽ ra họ phải đề cao hào khí Thăng Long thời tự chủ, thì trái lại họ lại bị ám khí của thái độ ươn hèn phụ thuộc vây bủa và chỉ huy.

Một loạt câu hỏi lớn xoáy sâu trong lòng mọi công dân yêu nước chưa được giải đáp.

Vì sao lại lấy ngày 1 tháng 10, ngày quốc khánh Trung Quốc làm ngày khai mạc đại lễ hội, trong khi ngày này không có dính dáng gì đến việc dời đô ngàn năm trước? Ðúng theo lịch sử thì phải lấy một ngày tháng 8, 2010. Ai đề xướng ra ngày 1 tháng 10? Với lý lẽ ra sao?

Vì sao công trình văn học nghệ thuật lớn nhất, tiêu tốn tiền nhất, có ý nghĩa chính trị - tinh thần hệ trọng nhất, được coi là chiếc “đinh vàng” đại lễ hội là bộ phim dã sử “Ðường Tới Thành Thăng Long” lại để cho phía Trung Quốc thực hiện hầu như toàn bộ, từ kịch bản, đạo diễn, dàn dựng, hậu cảnh, phục trang, hóa trang, đạo cụ,... cho đến cả quần chúng.

Khi chiếu thử một số đoạn cho các quan chức xem, đã có phản ứng khó chịu, lắc đầu, phải ngừng phát hành để cắt xén, sửa chữa, nhưng không còn thời gian, vì bộ phim đã phạm sai lầm tận gốc. Nói thẳng ra là phải bỏ hẳn đi, phải làm lại từ đầu.

Tại sao nền điện ảnh dân tộc có hơn nửa thế kỷ phát triển, với những xưởng phim, bộ phim, đạo diễn, diễn viên, biên kịch không yếu kém, có hàng trăm huân chương, hàng chục giải thưởng quốc gia và quốc tế, lại hèn kém, không tự tin làm nổi một bộ phim thuần Việt?

Ta làm lấy bộ phim của ta, do ta viết kịch bản, đạo diễn ta chỉ huy, nghệ sĩ ta diễn xuất, với cảnh cây đa giếng nước ta, đền chùa ta, đồng ruộng ta, đồng bào ta, sĩ nông công thương ta, sĩ tử ta,... dù cho kém cỏi đến đâu thì vẫn mang đậm hồn dân tộc ta, niềm tự chủ tự cường của ta. Sao ngành điện ảnh ta lại tự ty, hèn nhát, bạc nhược đến vậy?

Hay là các nghệ sĩ ta vẫn tự tin, muốn tự lực tự cường nhưng bị sự lãnh đạo bạc nhược ngăn cản, bị mua chuộc và bó buộc phải nhường cho những ông bạn vàng của họ?

Hãy ngắm nhìn bức tượng Lý Công Uẩn ở cạnh Hồ Hoàn Kiếm, đến các em học sinh thủ đô đi ngang qua cũng thốt lên: đây là Tần Thủy Hoàng, đội mũ bình thiên, và một nhà văn thủ đô thốt lên khi chỉ vào tượng này: đây là Tần Thủy Hoàng đi kinh lý phương Nam.

Bỏ cũng dở, mà để cũng không yên, lại càng dở. Một số nhà nhân chủng học cho rằng hình dáng, kích thước cơ thể bức tượng không đặc tả mảy may những đặc điểm đo đạc, thống kê cơ thể học người Việt phương Nam. Ðúng là ông Tàu 100 phần trăm, đến từ phương Bắc, với chiều cao ấy, vai rộng như thế, mũi, mắt, cằm như thế, với áo triều phục và mũ bình thiên như thế, không trộn vào đâu được. Rồi hôm khai mạc bức tượng sắp đến, sẽ là một nỗi đau cho người này, trò cười cho kẻ khác, nỗi nhục cho kẻ đương quyền& Một vết nhơ giữa thanh thiên bạch nhật, ai tẩy xóa được nữa!

Mời bạn vào mạng của một Blogger Trung Quốc, ngày 28 tháng 8 vừa rồi, viết bằng chữ Hán, đưa tin về bộ phim nói trên quay tại trường quay Hoành Ðiểm, tỉnh Triết Giang, khẳng định một cách tùy tiện lếu láo rằng “Lý Công Uẩn là dân Trung Hoa, quê ở tỉnh Phúc Kiến, sang Việt Nam nhập cư ở thôn Cổ Pháp, Bắc Việt.”

Nhà sử học Lê Văn Lan, chủ tịch Hội Nghiên Cứu Lịch Sử VN, nhận xét rằng trong phim nói trên, phục trang đều xa lạ với người Việt ngàn năm trước, kiểu buộc tóc dựng ngược cũng là giả tạo.

Nhà thơ Bằng Việt, chủ tịch Hội Liên Hiệp Văn Hóa Nghệ Thuật Thủ Ðô vừa làm bài thơ với đầu đề Phim về Lý Công Uẩn, với 2 câu kết:

Tôi bèn tặc lưỡi: thôi, thuê quách diễn viên Hàn Quốc

Thật ăn khách, bảnh trai, vào vai Lee Koong Wan!

(tên tiếng Hàn)

Một bộ phim hoành tráng dài, 19 tập, màu sắc sặc sỡ, kèn trống inh ỏi, chỉ thiếu có một điều, lại là thiếu sót quyết định, đó là cái linh hồn sống, là Hồn dân tộc; không có nó, mọi sự là vô nghĩa.

Cũng là tất yếu thôi. Gần 20 năm trước, cuối năm 1991, sau cuộc họp cấp cao bí mật Việt-Trung ở Thành Ðô, ông Nguyễn Cơ Thạch ngao ngán thốt lên: khởi đầu một thời kỳ Bắc thuộc nữa đây. Ðể ngay sau đó ông Thứ Trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ từ khước chức ủy viên Trung Ương Ðảng và cả chức bộ trưởng Ngoại Giao vì nhận rõ bộ mặt gian xảo và dã tâm bành trướng của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh.

20 năm đã là quá đủ. Tổn thất thời gian, tài sản, sức lực, tiềm năng của đất nước, kể không xiết. Lãnh đạo là nhìn xa trông rộng, chỉ đường vạch lối cho đất nước, chọn bạn tốt mà kết thân, nhưng như tôi đã lẩy kiều trong một bài trước, 4 khóa Bộ Chính Trị đã:

Ma đưa lối, quỷ dẫn đường

Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi!

Ðúng vào lúc cực kỳ nguy hiểm này, các bạn bè dân chủ khắp thế giới đang dang tay bè bạn với nước ta, khuyên răn ta nên chọn cách sống hòa thuận với nước láng giềng lớn, không gây sự với họ, nhưng luôn ngẩng cao đầu, tự chủ, tự cường, dựa vững vào Liên Hợp Quốc, vào công lý quốc tế, kết thân thật tình với các nước dân chủ trong ASEAN, các nước Ấn Ðộ, Nhật Bản ở Châu Á, các nước EU ở Châu Âu, với Hoa Kỳ, Canada, Úc,... Việt Nam ta sẽ biết tự tạo nên một thế mạnh chưa từng có về chất, để đất nước mở mày mở mặt với 5 châu 4 biển, để không ai có thể khinh nhờn, lấn lướt, hà hiếp được.

Ðại lễ Ngàn Năm Thăng Long có những vấp váp, đường đi nước bước sai lầm nghiêm trọng, làm mất niềm tin của toàn dân, nhưng lãnh đạo biết lắng nghe, biết giật mình, tỉnh ngộ, thì lại thành dịp may, từ đại vận hạn có thể chuyển thành đại hồng phúc cho nhân dân, tìm ra bí quyết để thống nhất dân tộc, phát triển vững bền quê hương, xây dựng xã hội thật sự dân chủ, bình đẳng văn minh và hạnh phúc.

Bỏ qua thời cơ vào dịp ngàn năm một thuở và vào dịp tiếp thu góp ý của dân vào văn kiện Ðại Hội XI này, lãnh đạo sẽ vấp phải sự phẫn nộ gay gắt của toàn dân, của tầng lớp trí thức có trí tuệ và tâm huyết, của đảng viên có lòng yêu nước thương dân, của mọi công dân lương thiện, của cả cựu binh sĩ cũng như binh sĩ tại ngũ luôn gắn bó với nhân dân. Họ sẽ tự bịt chặt con đường thoát hiểm của chính họ và làm hại thêm cho đất nước.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Dư luận Trung Quốc xôn xao về 'Hiện Tượng Ôn Gia Bảo'
VOA - Trong thời gian gần đây nhiều người ở Trung Quốc và các nhà quan sát tình hình Á châu đã xôn xao bàn tán về điều được gọi là “hiện tượng Ôn Gia Bảo”, sau khi vị Thủ tướng của Trung Quốc liên tiếp đưa ra những phát biểu hô hào cho dân chủ, tự do và kêu gọi giới lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc nhanh chóng tiến hành cải cách chính trị.

Trong cuộc phỏng vấn được đài truyền hình CNN trình chiếu hôm chủ nhật mồng 3 tháng 10 vừa qua, ông Ôn Gia Bảo tuyên bố rằng “nguyện vọng và đòi hỏi của dân chúng về dân chủ, tự do là một sức mạnh không thể kháng cự.” Ông cũng nói với phái viên Fareed Zakaria của CNN rằng Đảng Cộng Sản Trung Quốc cần phải hành động theo đúng hiến pháp và pháp luật, chứ không thể đứng trên hiến pháp và pháp luật như trong thời kỳ còn là một đảng cách mạng đang đấu tranh để giành chính quyền.

Theo các nhà quan sát, đây là lần thứ 7 trong vòng chưa đầy 2 tháng mà nhà lãnh đạo được tiếng gần gũi với dân chúng công khai đề cập tới nhu cầu cải cách chính trị. Trước đó, vào ngày 22 tháng 8, vị thủ tướng của Trung Quốc cũng tuyên bố ở thành phố Thẩm Quyến nhân dịp kỷ niệm 30 năm đổi mới kinh tế rằng chính quyền cần phải tạo điều kiện để người dân có thể giám sát và phê phán những hoạt động chính phủ và giải quyết điều mà ông gọi là “sự tập trung quá độ của những quyền lực không hạn chế.” Ông nói thêm rằng nếu không có sự bảo đảm của cải cách thể chế chính trị, những thành quả của cải cách kinh tế có thể bị mất đi.
Những tuyên bố của ông Ôn Gia Bảo đã gây xôn xao trong giới quan sát chính trị ở Trung Quốc. Ông Dương Kế Thằng, chủ biên tờ “Viêm Hoàng Xuân Thu” – một tạp chí chính trị nổi tiếng ở Trung Quốc, cho biết như sau:
"Đây là hành vi cá nhân hay là hành vi tập thể? Ông ấy nói như vậy mà có báo trước với các nhà lãnh đạo khác hay không? Hàng ngũ lãnh đạo có đạt được đồng thuận về vấn đề này hay không? Tất cả những nghi vấn đó đều chưa có lời giải đáp. Mọi người chỉ có thể suy đoán mà thôi. Vì vậy hiện tượng Ôn Gia Bảo hiện giờ vẫn là một điều bí ẩn."

Tường thuật hôm thứ hai của tờ The Guardian ở Anh trích lời Giáo sư Edward Friedman, một chuyên gia về chính trị Trung Quốc của Đại học Wisconsin-Madison, nói rằng hiện giờ nhiều người Trung Quốc tán thành các ý kiến mà ông Ôn Gia Bảo đưa ra cũng chưa biết rõ là ông tham gia cuộc đấu tranh chính trị này vì quyền lợi của người dân hay chỉ vì muốn khẳng định vị trí của ông trong lịch sử.
Trong cuộc phỏng vấn trên đài CNN, Thủ tướng Ôn Gia Bảo khẳng định rằng tự do ngôn luận là một quyền không thiếu ở tất cả mọi nước, bất kể là nước đang phát triển hay đã phát triển, nước nghèo hay nước giàu. Tuy nhiên ông cũng viện dẫn vấn đề “trật tự” để tự bào chữa đối với những lời chỉ trích cho rằng ông đã làm ngơ trước những hành động chà đạp tự do ngôn luận của chính phủ Trung Quốc.
Mặc dù vậy, ông Phạm Á Phong, một nhà nghiên cứu luật học ở Bắc Kinh, cho rằng phát biểu của ông Ôn Gia Bảo về tự do ngôn luận là một diễn tiến tích cực cho phong trào dân chủ Trung Quốc. Ông nói:
"Tự do ngôn luận, tự do lập đảng, và tự do bầu cử là 3 mắc xích then chốt của cải cách thể chế chính trị. Hiện nay sức mạnh tổng thể cho sự thay đổi hiến chính ở Trung Quốc đang tích lũy và cô đọng. Một cao trào thay đổi hiện đang trong vòng âm ỉ. Trong lúc chờ đợi sự bùng phát của cao trào, những phát biểu liên tục, bền bỉ và tương đối sáng suốt của ông Ôn Gia Bảo có một ý nghĩa tích cực và có ích cho việc gầy dựng một ý thức và quan niệm rõ ràng về cải cách chính trị."

Ông Chương Lập Phàm là một nhà chính trị học nổi tiếng Trung Quốc. Ông tán đồng nhận định vừa kể và cho biết ông ủng hộ ông Ôn Gia Bảo hơn những nhà lãnh đạo khác ở Trung Nam hải:
"Ông ấy đã có thể minh xác niềm tin chính trị của mình, có thể trình bày một cách hoàn chỉnh về những gì mà ông tin tưởng. Nói cho cùng thì làm được như vậy vẫn tốt hơn là không làm hay chống lại những người hô hào cải cách. Như quí vị đã thấy, sau khi ông Ôn Gia Bảo đưa ra những phát biểu ở Thâm Quyến, một số thế lực đã phát động một chiến dịch mới để công kích ông ấy. Tôi nghĩ rằng so với những người khác thì ông ấy tốt hơn cho nên tôi ủng hộ ông ấy."
Ông Chương Lập Phàm cho biết việc ông Ôn Gia Bảo nói rằng Đảng Cộng Sản Trung Quốc cần phải hành động theo đúng hiến pháp và pháp luật thật ra là một chủ trương đã được đưa ra tại Đại hội Đảng lần thứ 13 vào năm 1987. Ông Chương nói thêm rằng việc quay lại với đường lối của Đại hội 13 là cách duy nhất để cữu vãn vị thế chính trị của đảng Cộng Sản Trung Quốc, nhưng việc này gặp phải những sức cản rất lớn:
"Mặc dù các nhân vật lãnh đạo đảng nhận thức được là đã tới lúc phải quay lại với thể chế cai trị theo hiến pháp, nhưng việc này có thể gặp phải những trở lực vô cùng to lớn. Như quí vị đã biết, hơn 20 năm đã trôi qua. Đã trễ nãi nhiều lắm rồi. Những nhóm đặc quyền đặc lợi đã hình thành một mạng lưới rất chặt chẽ rồi."

Ông Trần Vĩnh Miêu, một học giả và là một nhân vật bất đồng chính kiến ở Trung Quốc, cũng cho rằng sức cản đối với nỗ lực cải cách chính trị hiện nay rất lớn. Tường thuật hôm mồng 4 tháng 10 của tờ The Guardian ở Anh trích lời ông Trần Vĩnh Miêu nói rằng ông Ôn Gia Bảo chỉ còn nắm quyền được hai năm nữa; cho nên dù ông ấy có thật sự muốn cải cách đi nữa thì cũng không thể đạt được mục tiêu. Ông Trần nói thêm rằng việc thực hiện cải cách chính trị ở Trung Quốc cần tới một nhà lãnh đạo thật sự có nhiều thế lực, như Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình, để đương cự và đánh bại guồng máy thư lại do quá nhiều người tạo nên. Ông Trần Vĩnh Miêu nhận định như sau trong cuộc phỏng vấn mới đây dành cho đài VOA:
"Nếu ông Ôn Gia Bảo không có hành động có thực chất nào thì những tuyên bố của ông ấy chỉ có thể được xem là một sự trình bày ý kiến dựa theo lương tâm của mình, hay thậm chí chỉ là một sự tuyên truyền hay một trò tung hỏa mù mà thôi. Việc suy đoán động cơ của ông Ôn Gia Bảo thật ra là không cần thiết. Bởi vì bất kể là động cơ của ông ta là gì thì rốt cuộc ông ta cũng gặp thất bại trước sức mạnh mà thể chế độc tài và guồng máy cai trị chuyên chính đã tích lũy ở Trung Quốc trong hơn 60 năm qua."

Nhà nghiên cứu luật học Phạm Á Phong không bi quan như vậy, nhưng ông nói rằng điều mà Trung Quốc cần có hiện nay là một cuộc cách mạng chính trị chứ không phải chỉ sửa đổi như ông Ôn Gia Bảo hô hào:
"Điều mà thể chế hiện nay cần có là một sự thay đổi lớn về các nguyên tắc, chứ không phải chỉ là những sự sửa đổi lẻ tẻ, vụn vặt. Điều này có nghĩa là những nguyên tắc từ trước tới nay của chính thể độc tài toàn trị, như những nguyên tắc của thời Mao Trạch Đông, cần phải được thay thể bởi những nguyên tắc dân chủ pháp trị. Xét theo khía cạnh này thì điều mà chúng ta cần có là một cuộc cách mạng chính trị chứ không phải là cải cách chính trị."

Hôm thứ 6 (08-10-2010), với việc Ủy ban Nobel Hòa bình Na Uy loan báo quyết định trao giải Nobel năm nay cho ông Lưu Hiểu Ba, một nhà tranh đấu dân chủ Trung Quốc đang thọ án tù 11 năm, chính phủ ở Bắc Kinh đã trở thành chính quyền thứ nhì trên thế giới, sau Miến Điện, giam cầm một người đoạt giải Nobel.

(Theo VOA)

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Hai câu chuyện

Chuyện thứ nhất
Có rất nhiều quân nhân can trường trong thế chiến thứ Hai, một trong những anh hùng đó là Trung Tá phi công Hải Quân Butch O’Hare. Trung tá O’Hare là phi công khu trục tùng sự trên hàng không mẫu hạm Lexington trong vùng biển khu vực Nam Thái Bình Dương.

Một hôm toàn thể phi đoàn của ông được giao phó thi hành một phi vụ quan trọng. Sau khi cất cánh và gia nhập đội hình bay, liếc nhìn bảng phi cụ, ông nhận ra có chuyện không ổn, hoặc là đồng hồ báo xăng bị hư hoặc là ai đó không bơm đẩy xăng cho ông. Với tình trạng này, ông không đủ xăng để hoàn thành nhiệm vụ và trở về tầu được. Trung tá O’Hare báo với Phi ĐoànTrưởng và được lệnh phải quay về. Ông miễn cưỡng rời khỏi đội hình của phi đoàn và quay trở lại hàng không mẫu hạm.

Trên đường về tầu, bỗng nhiên, trung tá O’Hare thấy một cảnh tượng làm ông dựng tóc gáy: dưới thấp xa xa trước mặt ông là nguyên một phi đoàn oanh tạc cơ của Nhật đang trên đường tìến về hải đội Hoa kỳ. Phi đoàn khu trục của Hoa Kỳ đã bay đi thi hành nhìệm vụ và hải đội không còn ai bảo vệ cả. Dù có gọi, phi đoàn khu trục cũng không thể trở về kịp để cứu và cũng không còn thời gian để báo với hải đội những nguy hiểm sắp đến. Việc duy nhất còn có thể làm là bằng bất cứ giá nào cũng phải xua đuổi phá tan và chuyển hướng đội oanh tạc cơ Nhật.

Không còn nghĩ đến an nguy cho mình, trung tá O’Hare lao thẳng vào đội hình đoàn oanh tạc cơ Nhật, với bốn nòng súng 50 ly gắn trên cánh đỏ rực, ông tấn công tới tấp bắn hết chiếc này đến chiếc khác. Đến khi hết đạn, ông vẫn tiếp tục tấn công, liều lĩnh đâm thẳng vào các phi cơ Nhật, cố gắng cắt đuôi chiếc này, hay cắt cánh chiếc kia mong cho họ không điều khiển và bay được. Trong đáy cùng tuyệt vọng, ông làm bất cứ gì có thể làm để các oanh tạc cơ Nhật không đến được hải đội Hoa kỳ.

Cuối cùng, đoàn phi cơ Nhật bối rối và chuyển hướng. Thở ra nhẹ nhõm, trung tá O’Hare lê lết chiếc máy bay tả tơi của mình về lại hàng không mẫu hạm. Ông báo lại sự việc, chiếc máy quay phim gắn trên phi cơ là bằng chứng hùng hồn nhất. Nỗ lực trong tuyệt vọng để bảo vệ hải đội Hoa kỳ, ông đã hạ 5 chiếc oanh tạc cơ Nhật.

Đó là ngày 20 tháng 2 năm 1942. Trung tá O’Hare là phi công Hải Quân đầu tiên trong quân chủng được trao tặng Huân Chương Danh Dự của Quốc Hội Liên Bang Hoa kỳ.

Năm 1943, trung tá O’Hare tử trận trong một cuộc không chiến lúc ông 29 tuổi. Để không ai có thể quên được người anh hùng này, phi trường của thành phố Chicago , quê hương ông, đã được đặt tên là phi trường O’Hare. Dịp nào đó nếu dừng chân tại phi trường O’Hare, xin hãy đi thăm khu kỷ niệm O’Hare, nhìn tận mắt Huân Chương Danh Dự đã gắn lên ngực áo của ông. Khu lưu niệm này nằm giữa Terminal 1 và Terminal 2.
Chuyện thứ hai Hơn mười lăm năm trước đó, tại thành phố Chicago có một người mang biệt danh là Easy Eddie. Trong thời gian này, Trùm tội ác Al Capone hầu như làm chủ thành phố. Capone nổi tiếng không do các hành động anh hùng mà vì các việc làm bóc lột, tàn nhẫn và hung ác. Thành phố Chicago , qua Capone, tràn ngập những nơi bán rượu lậu, các động mãi dâm và các vụ giết người không gớm tay.

Easy Eddie là luật sư của Al Capone. Chắc chắn Eddie rất giỏi. Việc rành rẽ và biết lợi dụng các kẽ hở pháp luật của Eddie đã giúp Capole nhởn nhơ ngoài vòng tù tội. Để tỏ lòng biết ơn, Capole trả công Eddie rất hậu. Không chỉ về tiền bạc mà còn chu cấp về tài sản nữa. Chẳng hạn như gia đình Eddie sống trong một lâu đài lớn, kín cổng cao tường và thừa mứa các tiện nghi của lúc đó với kẻ hầu người hạ ngay trong nhà. Lâu đài này lớn đến độ chiếm nguyên một đoạn đường của thành phố Chicago . Dĩ nhiên với cuộc sống giầu có quyền thế của kẻ đương thời, làm sao Eddie có thể nhận và hiểu được những khốn cùng của xã hội chung quanh.

Như mọi người, Eddie có một yếu điểm. Có một con trai và Eddie thương con vô cùng. Cậu bé có đủ thứ ở trên cõi đời, toàn những loại thượng hảo hạng: quần áo, xe cộ ngay cả trường học nồi tiếng vì giá cả tiền bạc không thành vấn đề, không gì có thể ngăn cản được. Mặc dù liên hệ chặt chẽ và chìm ngập trong tội ác, Eddie cũng đã có những cố gắng dậy con thế nào là phải và trái.

Vâng, Eddie đã cố dậy cậu con trai vượt lên từ cuộc sống nhớp nhúa của chính mình, ước mong con sẽ là người tốt. Cho dù giầu có và quyền thế xiết bao nhưng vẫn có hai thứ Eddie không thể cho con được, hai thứ mà chính Eddie đã chót bán cho Capone: làm gương và để lại cho con niềm danh dự.

Qua nhiều đêm trằn trọc thao thức, Eddie quyết định việc để lại danh dự cho con cần thiết, quan trọng và có ý nghĩa hơn là cho con cuộc sống giầu có với những đồng tiền từ máu và nước mắt của người khác. Phải thay đổi hoàn toàn những việc làm lầm lỡ trước kia, phải báo với chính quyền những sự thật vế Al Capone. Eddie cố gắng rửa sạch những nhơ nhớp trên cái tên của mình, ngõ hầu cho con biết thế nào là trung thực và ngay thẳng.

Để hoàn tất mọi chuyện, Eddie phải ra trước toà làm nhân chứng chống lại ông Trùm, biết rằng giá phải trả sẽ không nhỏ. Hơn tất cả mọi chuyện trên đời, Eddie muốn phục hồi tên tuổi mình, hy vọng sẽ để lại cho con tấm gương và niềm danh dự.

Eddie ra trước toà làm nhân chứng, Trùm Al Capone vào tù. Vài tháng sau, Eddie gục ngã trong cơn mưa đạn trên một con đường lẻ loi ở Chicago . Eddie đã để lại cho con trai một món quà lớn nhất trên thế gian này, mua bằng giá cao nhất là sinh mạng của chính mình.

Hai câu chuyện này có liên hệ gì với nhau ? Trung tá phi công Hải Quân Butch O’Hare là con trai của Easy Eddie. Ước mong bạn cũng ngậm ngùi và cảm khái như tôi khi đọc những giòng này.

(sưu tầm)

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Khi ông Trần Thiện Khiêm trở lại với cộng đồng!

Vũ Ánh

Hồi còn nằm trong tù Cộng sản, anh em chúng tôi thường an ủi và khuyến khích nhau giữ vững tinh thần bằng những “hot news”, một thứ Anh ngữ tự chế để chỉ những tin tức nóng bỏng thẩm lậu từ ngoài vào trại qua con đường thân nhân thăm nuôi. Ở trong nghề, tôi hiểu những tin tức do những bạn tù với tôi đem vào trại sau những lần thăm gặp gia đình là những tin vô căn cứ, nhiều khi buồn cười vì mang nhiều tính khôi hài, do chính các bạn tôi “chế”ra, hoặc do chính thân nhân cũng chỉ nghe tin đồn đại thôi, nhưng vẫn nói cho người thân của mình biết để nuôi hy vọng hầu giúp họ vượt qua những hoàn cảnh khốn khó trong chốn lưu đầy.

Trong giai đoạn đầu, tôi nghiệm ra một điều. Ðó là hầu hết những tin tức đưa vào trại đều hướng vào những tin tức liên quan đến việc “trở về kháng chiến trong rừng sâu” của những ông như Nguyễn Cao Kỳ, Ngô Quang Trưởng, Dư Quốc Ðống, Bùi Thế Lân, Cao Văn Viên. Nào là ông Kỳ “râu” về Thái Lan và từ Thái Lan đã xâm nhập vùng U Minh Hạ lập căn cứ kháng chiến, nào là tướng Ngô Quang Trưởng về Rừng Lá Bình Tuy rải truyền đơn kêu gọi thanh niên gia nhập lực lượng Phục Việt, nào là tướng Dư Quốc Ðống được Mỹ hỗ trợ trở về thành lập sư đoàn nhảy dù Ðông Dương, nào là báo chí ngoại quốc đã chụp được hình tướng Bùi Thế Lân tại Bảy Núi Châu Ðốc vân vân và vân vân.

Tuy thế, có một điểm khá lạ là trong những “hot news”, các anh em bạn tù của tôi không bao giờ nhắc tới hai tướng lãnh, một là tướng Nguyễn Văn Thiệu và hai là Tướng Trần Thiện Khiêm. Có lẽ anh em tù cải tạo chúng tôi phần lớn là quân nhân và công chức nên vẫn còn lòng hờn giận nhà lãnh đạo hàng đầu của VNCH đã không giữ đúng cam kết ở lại chiến đấu bên cạnh quân đội mà bỏ đi không kèn không trống cho nên họ không còn kỳ vọng gì vào ông ấy nữa, nên cũng chẳng buồn chế ra trong tin. Còn Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm thì khỏi nói. Ông “thủ khẩu như bình” nổi tiếng trong hàng ngũ các thủ tướng của VNCH cho nên nhiệm kỳ thủ tướng của ông kéo dài từ 1969 đến 1975, và nếu không có biến cố 30 tháng 4-1975 và ông Thiệu không từ chức thì có lẽ ông Khiêm còn ngồi lâu hơn nữa.

Tướng Khiêm làm thủ tướng nhưng chưa bao giờ ông mở miệng có ý kiến về những dự luật được thảo luận ở Quốc Hội, chưa bao giờ lên tiếng hay đề nghị những phương thức chấm dứt nạn tham nhũng, nạn mua quan bán tước, chưa bao giờ tự mình đứng ra trả đũa những lời chỉ trích của phe đối lập. Hàng năm ông xuất hiện trên hệ thống truyền hình của chính phủ THVN-9 một lần để đọc thông điệp chúc tết đồng bào với nội dung vô thưởng vô phạt. Rồi thôi, rồi bắt vô âm tín. Ngoài ra, Tướng Trần Thiện Khiêm còn là một thủ tướng ít đi kinh lý hay thăm dân cho biết sự tình nhất. Vì thế, trong tù nếu có ai trong chúng tôi thắc mắc: “Không biết bây giờ ông Khiêm ở đâu ha?” sẽ bị kê tủ đứng ngay: “Mẹ kiếp, giờ này chắc người đang ôm vợ ở đâu trên đất cờ hoa, chúng mày còn trông mong gì ở cái anh ngậm miệng ăn tiền muôn năm ấy chứ!”.

Thế rồi thời gian từ 1989 đến 1992 là thời gian được thêm một tí tự do hơn ở cái nhà tù lớn hơn là Saigon, lũ chúng tôi sống nhếch nhác với nghề lao động chân tay kiếm sống. Tưởng không khí “hot news” sẽ qua đi, nhưng không, “hot news” còn bạo hơn và còn nhiều tin thú vị hơn. Công viên trước trụ sở Bộ Ngoại Giao cũ lúc nào cũng đông ngạt nguồn tin. Bọn tôi không thường xuyên đứng ngóng tin được ở công viên đó được, chỉ thỉnh thoảng ghé qua, nhưng mỗi lần ghé chiếc xích lô để đổ khách hàng đến Sở Ngoại Vụ tiện thể tạt qua đây là tôi có thể ôm một lô những bản tin “lèo” về nhà coi chơi. Tin nóng vào giai đoạn này là tin về chương trình H.O và số phận những người Việt Nam tị nạn ở các trại Ðông Nam Á và Hong Kong. Hồi đó anh em chúng tôi biết bà Nguyễn Văn Thơ, ông mục sư Nguyễn Xuân Bảo nhiều hơn là cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu hay cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm.

Rồi cũng đến ngày sang định cư ở Hoa Kỳ, vùng đất tự do và dân chủ nhưng cũng là nơi phơi bầy tất cả sự thật về những nhà lãnh đạo hàng đầu của VNCH nhanh chân chạy sang đây trước. Sang định cư đúng lúc xảy ra một vụ kiện cáo của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh ở San Jose, rồi nghe bạn bè kể lại hoạt động của mặt trận này, hoạt động của ông Thiệu, một số các ông tướng trung tâm của những “hot news” khi còn ở trong trại giam Cộng sản, tôi đâm ra hoài nghi sự thông minh của mình. Ngồi gặm những chiếc hamburger đầu tiên trên đất Mỹ, lòng tôi nặng trĩu lo âu không biết làm sao kiếm được công việc làm khi bắt đầu làm lại cuộc đời từ tuổi 51 và nghe các bạn bè nói đến chuyện đi tìm lãnh tụ với giọng khinh bạc: “Mẹ kiếp, lo kiếm chân bus boy, rồi sau đó tìm cách đi học lại đi con. Bọn mình đã tiêu phí quá nửa đời chỉ vì nghe lệnh mấy anh lãnh tụ này rồi. Sau khi chạy trước sang đây, họ chuyển sang người nhái tuốt luốt”. Tôi còn ngây thơ: “Già như vậy còn nhái nhiếc gì nữa?”. Một thằng cười hộc lên: “Nhái tức là lặn kỹ đó thằng ông nội này. Tù cộng sản lâu thế mà đ... vỡ ra được!

Thế rồi thời gian thấm thoát qua đi. Và phải đợi đến khi thế hệ chúng tôi có cháu nội, ngoại đầy đàn rồi mấy ông thợ lặn hàng đầu của VNCH mới xuất hiện gọi là “đến với cộng đồng” nhân cơ hội có một vài nhà hoạt động cộng đồng này vẫn chưa dứt được cái bệnh “thích tìm lãnh tụ xưa để suy tôn”. Hết lễ giỗ Ngô Ðình Diệm lại đến lễ giỗ Nguyễn Văn Thiệu. Mà ông nào cũng có người thương người ghét, ông nào cũng để lại nhiều nạn nhân, ít ân sủng. Vì thế mà cộng đồng cứ rối tinh rối mù, phe phái ngày càng nhiều, rạn nứt khắp nơi, khắp chốn. Gần đây, không biết lý do nào thúc đẩy mà mấy ông trong Tập Thể Chiến Sĩ lại đưa ông tướng 4 sao “thủ khẩu như bình” Trần Thiện Khiêm ra làm cái dù cho một hội đoàn cựu quân nhân được coi như quan trọng vào bậc nhất ở hải ngoại. Cái tập thể của những người từng mặc áo lính này lúc đầu đưa ông Tướng Lê Minh Ðảo ra thì còn tạo được niềm hy vọng, vì dù muốn dù không ông Ðảo cũng là một vị tướng đánh trận đánh cuối cùng rất ngoạn mục và nổi tiếng thế giới trước 30 tháng 4 năm 1975. Ông cũng là vị tướng đương quyền vào lúc ấy không bỏ chạy trước địch quân và bằng lòng chung số phận thất trận rồi bị tù đầy rất lâu cùng với những sĩ quan và binh sĩ VNCH. Rồi đến tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh, hoạt động được vài năm thì cũng “cháy” luôn. Ðến nay tập thể chiến sĩ lại đưa một khuôn mặt xa lạ với cộng đồng với các hội đoàn quân đội ở đây là Tướng Trần Thiện Khiêm ra làm “bùa hộ mạng” thì đúng như nhận định của nhiều người “quả là hết thuốc chữa”. Bệnh đi tìm lãnh tụ của một số các ông cựu binh đã trở thành ngày càng nặng, không còn hy vọng gì chữa khỏi nữa khi cố tình đưa ông thủ tướng “ngậm miệng ăn tiền” ra làm mẫu mực lãnh tụ.

Có thể là vì không quen “ánh đèn sân khấu chính trị” ở quận Cam, hoặc vì xa rời đồng hương đến 35 năm rồi, nên Tướng Khiêm có vẻ “lạng quạng” ngay khi ông nói rằng ông nhờ ông Phan Tấn Ngưu tổ chức bữa cơm cho ông gặp mặt anh em cựu chiến sĩ VNCH để cám ơn họ đã chiến đấu để bảo vệ đất nước. Lập tức những lời lẽ của ông Trần Thiện Khiêm đã bị phản ứng ngay từ phía những người có thể là đồng đội với ông trước đây. Phản ứng ấy không có gì khó hiểu hay khó giải thích. Cách ông Khiêm đến với họ làm sự giận dữ trong lòng họ lại bùng lên. Lý do: từ ngày 25 tháng 4 năm 1975 tới nay, nghĩa là từ ngày gia đình ông và gia đình ông Thiệu lên chiếc C-118 rời khỏi Việt Nam giữa lúc đất nước nghiêng ngửa tới tháng 9 năm 2010, ông chưa nói một lời nào gọi là chia sẻ những nỗi đau và những nỗi nhục mà các đồng đội của ông phải nhận lãnh sau ngày Miền Nam Việt Nam sụp đổ, chưa từng một lời an ủi các đồng đội của ông đang giam thân trong các nhà tù trên khắp lãnh thổ Việt Nam nhân chiến dịch nhân quyền mà Tổng Thống Ronald Reagan mở ra năm 1982, chưa một lần nào ông lên tiếng ái ngại, an ủi những người vợ lính có chồng, con đang bị trả thù trong chốn lưu đầy, chưa một lần ông lên tiếng hay có hành động trợ giúp, hoặc đến thăm những đồng hương tỵ nạn trên các đảo tỵ nạn ở Ðông Nam Á, Hồng Kông, chưa một lần nào ông quan tâm đến những đồng hương khi họ chân ướt chân ráo đến nước Mỹ, chưa một lần nào ông bỏ ra một vài chục đô la để gởi đến các thương phế binh VNCH còn kẹt tại quê nhà... Nghĩa là chạy sang được Ðài Loan, Anh rồi tới Mỹ, chưa một ngày nào ông cũng như ông Thiệu tỏ ra quan tâm chứ đừng nói gì đến sự giúp đỡ đồng hương và đồng đội của ông tại nước Mỹ cũng như ở Việt Nam. Làm lãnh đạo mà như thế thì ngày nay không trách được có những người viết trên e-mail, trên các trang mạng gọi ông Khiêm là cái “thây ma” đã rữa thối.

Cá nhân, cũng như rất nhiều bạn tù với tôi không hề giận dữ tướng Khiêm, nhưng chúng tôi cho rằng ông Khiêm không xứng đáng làm tướng, và càng không xứng đáng ngồi vào ghế lãnh đạo. Chúng tôi cũng thừa biết ông mang những 4 sao, ngồi vào ghế “thừa tướng” thời đại cũng chỉ do phe cánh và người Mỹ đặt vào. Có điều chúng tôi rất ngạc nhiên, là với thành phần lãnh đạo chóp bu như thế mà mãi 30 tháng 4, 1975 Miền Nam Việt Nam mới rơi vào tay Cộng sản thì cũng là điều lạ. Nhưng suy đi nghĩ lại thì mới ngộ ra được rằng sỡ dĩ thượng tầng của VNCH thối nát, thiếu sáng suốt, dựa dẫm, phe phái mà VNCH vẫn đứng vững được cho tới hết tháng Tư năm 1975 được là nhờ sức chiến đấu, tinh thần, nhiệt tình và xương máu của quân đội VNCH. Nhưng nghĩ được như thế lòng lại đau thắt như có ai cắt từng đoạn. Hóa ra, một số các nhà lãnh đạo chóp bu của VNCH chỉ biết thổi kèn thúc quân và chúng tôi lao vào trận, đến khi nhìn lại để mong nhờ họ trợ giúp tinh thần giữa lúc đất nước nghiêng ngửa thì đã thấy các ông ấy lên máy bay rời khỏi Việt Nam mất hút! Than ôi!

Nhưng nghĩ cho cùng, thôi thì 35 năm đã trôi qua. Cộng đồng đã nếm trải nhiều cay đắng và phũ phàng vì sự thật diễn ra trước mắt. Ðất nước đã mất, cộng đồng đã nát tan vì chia rẽ, vì những trò múa rối chính trị, vì những mưu độc của Cộng sản, vì những tiếp tay của những kẻ lợi dụng chiêu bài chống Cộng để gây rối trong cộng đồng. Bây giờ, dù có chỉ trích cách mấy thì những tấn tuồng nói trên cũng sẽ lại tái diễn. Vấn đề của chúng ta ngày nay là bằng mọi giá hãy để những ông lãnh tụ trước đây của VNCH nằm yên trong những kho chứa. Bởi vì khi những “mummy” này được khóa vào đúng vị trí của nó và không ai có thể đem ra trưng bày được, thì sẽ không còn những tranh cãi trong cộng đồng nữa. Lúc ấy có hy vọng cộng đồng được sống bình yên và đồng hương có thể nắm tay nhau để chỉ hướng vào mục tiêu duy nhất: chống Cộng. (V.A.)

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Tiếng Việt thời thượng

Tác giả: Trịnh Thanh Thủy
Nói đến tiếng Việt thời thượng, chúng ta có thể hình dung hay nhớ đến nhiều cụm từ lạ tai bao gồm cả những tiếng lóng hay ngôn ngữ mạng được ưa thích và sử dụng rộng rãi trong những tầng lớp xã hội khác nhau. Tỷ như khi vào ăn trong một quán mì gõ chúng ta nghe tiếng gọi:

- Cho 2 cái hầm, 2 bộ hài cốt nghen…
- Thêm “2 xị vô sinh” nữa…
- Chài, trời nóng mà mần vô sinh chi? cho 2 cái “bật nắp là thấy” đi…

Hoặc ngôn ngữ trên một lá thư của 2 học trò teen đang chuyền tay nhau trong giờ học.

“H. à, nhớ su súp ghia mà nghè mơi có ktra, hem đi đc, star life mình “khổ hơn cún” á. Ừ, bi h cóa ai bỉu mình not learn hén, chắc mình sướng die granma lun hén mày. Eh, hn mày nhận đc tn của B. k? Hwa nó vừa bị broke ktra đó. Thấy tía rồi, thôi stop 8, tao xách đik dzìa nhà học thoai, chớ hông là bài nì “dzục cho cún ăn” đóa, tao chưa có chữ nào trong não hết, b h cóa nhét iốt dzô não cũng cóc dzô”.

Nhắc đến những tiếng lóng lạ lùng như trên là nhắc đến một thế giới ngôn ngữ đầy bí ẩn cần phải có giải mã nên tôi định chỉ thu hẹp bài viết này trong phạm vi những tiếng Việt thời thượng có xuất xứ hay liên quan tới những ngôn ngữ khác như Pháp hay Anh chẳng hạn.

Như chúng ta đã thấy, Anh ngữ ngày nay được xem như một sinh ngữ quốc tế được nhiều người sử dụng và giảng dạy như một ngôn ngữ thứ hai trong nhiều quốc gia trên thế giới. Việc sử dụng Anh ngữ như một ngôn ngữ chung cho toàn cầu ngày càng tăng trưởng và đã trở thành một tiện ích. Nó mang lại sự cảm thông trong sinh hoạt toàn cầu không những trong các lãnh vực thông tin, truyền thông, liên mạng mà cả ở những lãnh vực giáo dục, kinh tế, thương mại, nghiên cứu, âm nhạc, du lịch, cũng như các hoạt động tôn giáo, chính trị hay văn hóa khác.

Trong nền kinh tế thị trường, Việt Nam là một nước mới phát triển. Các nước tiên tiến mang tài chánh và nhân lực vào Việt Nam để đầu tư nên nhu cầu học và hiểu tiếng Anh như một nhịp cầu thông cảm cần thiết hơn bao giờ. Thêm nữa, vì phải mở cửa ngành du lịch, Việt Nam cần phải nói và viết Anh ngữ thông thạo, ngõ hầu phục vụ tinh thần giao tiếp cho thật hữu hiệu. Để chạy cho kịp bánh xe tiến hoá toàn cầu, Việt Nam đã du nhập tiếng Anh vào nước như một nhu cầu thiết yếu. Sự ưa chuộng và sử dụng tiếng Anh cho nhuần nhuyễn của người Việt như một hấp lực mạnh mẽ đưa đến một việc lạm dụng không thể tránh. Hậu quả là nhiều thứ tiếng Anh-Việt thời thượng lai tạp ra đời.

Người Việt trong thói quen ứng xử rất thích dùng phương pháp tiện và lợi. Tiếng Việt là tiếng đơn âm tiết không như tiếng Anh là tiếng đa âm tiết, nên muốn tạo từ mới phương pháp ghép chữ là một phương pháp khả thi. Do đó chúng ta hay ghép tắt các từ vào với nhau, như “điều nghiên” là từ ghép của “điều tra và nghiên cứu”. Để tân tiến hơn, tiếng Anh được mang vào ngôn ngữ hàng ngày và bỗng nhiên những từ lắp ghép Anh Việt trở thành thông dụng. Nhất là giới trẻ, việc học và dùng tiếng Anh đã biến thành phong trào. Khắp nước đi tới đâu ta cũng thấy thứ tiếng Việt pha tạp mà Việt kiều hay dùng, gọi là tiếng ba rọi. Trong công sở, ngoài xã hội, trên truyền hình, các trang mạng, face book hay blog, đâu đâu cũng có.

Những từ như: show hàng, áo chip hai màu xì-tin, quần xì cực cute, quần sock ngắn, chip ukie, điện thoại Bikini, hot teen múa cột, hot boy nói gì, tiệm bánh snack, slogan thể hiện, đang hot, top tuần v.v… đầy rẫy trên báo chí và các trang mạng.

Sự phát triển tiếng Anh quá nhanh mang đến việc nhiều người sử dụng ngoại ngữ một cách cẩu thả mà không nghiên cứu cũng như học hỏi đến nơi đến chốn. Nhưng thái độ dễ dãi và xuề xoà đi tới chấp nhận của người Việt trước những sai lầm đôi khi biến những thứ tiếng Việt thời thượng kỳ dị ấy dùng lâu thành tiếng Việt thực thụ.

Tỷ như chữ Mô-đen mà chúng ta dùng đã lâu nhưng dùng sai ngữ pháp nguyên thủy mà không biết.

Chữ Mô-đen nguyên thủy từ chữ Modèle phát âm trại đi theo tiếng Pháp là Mô-đen. Modèle có nghĩa là: mẫu mã, mẫu mực, gương mẫu hay mô hình, vật mẫu. Trong tiếng Anh, người ta dùng chữ Model cho nghĩa này. Nhưng khi nói tới nghĩa mới và thời trang thì người Pháp dùng chữ Mode, tiếng Anh là Fashion, trong khi tiếng Việt ta lại dùng chữ Mô-đen cho hai nghĩa này. Những chữ Modèle, Moderne và chữ Mode có âm giọng giông giống nhau. Người Việt chúng ta chắc khó phân biệt, dùng lâu thành nếp nên phân biệt chi cho mệt, tiện thì dùng luôn, thế là mô-đen được sử dụng với nghĩa thời thượng hay hiện đại trong khi tiếng Pháp phải dùng chữ Moderne hay Modern trong tiếng Anh.

Rốt cuộc, Mô-đen bị Việt hoá với đủ các nghĩa như mẫu mã, mẫu mực, gương mẫu, mô hình, vật mẫu, mới, thời trang, thời thượng hay hiện đại. Ngạc nhiên hơn, một từ mới sau này phát sinh từ chữ Mô-đen và có một nghĩa khác biệt chẳng dính dấp gì tới cái nghĩa xưa cũ từ lúc nó sơ sinh là từ “Kết Mô-đen” lạ hoắc.

Đây là những ví dụ điển hình trong sự lạm dụng từ Mô-đen:

Nó có nghĩa rất mới, rất tân tiến, đúng thời trang, thời thượng như: “Cực kỳ mô-đen”. Hoặc ngược lại “Lạc quẻ với mô-đen bùng nhùng”. Từ này còn ám chỉ một mẫu hàng “Mô-đen 3100”. Nó còn là tiếng gọi một người mẫu, “Thin nít sờ Mô đen(teenist model)”. Hay là “mô đen sống mình ên”, không gì “vắt vai” đang là môđen của nhiều người trẻ thành đạt, Môđen bây giờ là đi “tàu nhanh”, mô đen Hàn Quốc, mô đen wằn wại. Ghế ngồi chờ xe buýt quá “mô-đen”, Các bạn ơi con gái thời nay mô đen lắm đó, thời trang ý ẹ: Mô-đen dây và rây, Tóc “mô đen” – Nhìn và thấy Mô đen bây giờ là tóc càng dựng càng đẹp.

Và nó còn được dùng cả trong lãnh vực tình cảm như “Tin tức, Trần Kiều Ân kết mô-đen Lam Chính Long”.

Người Việt đã tỏ ra ứng xử ngôn ngữ rất nhanh nhạy trước giai đoạn đổi mới khi đối đầu với lượng ngoại ngữ quá lớn từ bên ngoài ồ ạt đổ vào. Chưa bao giờ tiếng Việt phát triển cực độ như bây giờ. Kho tàng từ vựng của ngôn ngữ Việt Nam ngày một dồi dào thêm và du nhập về những “tiếng lạ” do nhu cầu giao tiếp cùng người ngoại quốc. Hàng ngày chúng ta thấy nhan nhản việc dịch sai, nói sai, dùng sai ngữ pháp khiến sự việc trở thành một trò cười được lưu hành khắp nơi trên mạng thông tin. Chính thói quen thích sử dụng tùy tiện, lại thích tỏ ra chúng ta có óc sáng tạo nên nhiều từ vựng được sinh ra nghe rất ngô nghê và không đúng ngữ pháp nguyên thủy của những từ được vay mượn.

Có lần tôi đọc được thực đơn những thức giải khát của một nhà hàng ở Hà Nội. Họ bán một thứ nước uống gọi là Milk Sex. Tôi ngạc nhiên, ngồi ngẫm nghĩ mãi mới đoán ra là có lẽ họ bán thứ nước uống giống sinh tố bên Mỹ gọi là Milk Shake làm bằng sữa. Vì khi người Mỹ phát âm Shake, họ nghe không rõ nên tưởng lầm là Sex, rồi tỏ ra sáng tạo hơn sao không gọi là Milk Sex. Thế là thứ nước uống rất Việt Nam gọi là Milk Sex ra đời!!!

Học tiếng nước người không những chúng ta học từ vựng, ngữ pháp, cách đặt câu, cách viết bài mà chúng ta còn học cả văn hoá của ngôn ngữ đó nữa.

Trong việc chuyển ngữ, dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt đã khó, dịch từ tiếng Việt sang Anh còn khó hơn. Nó đòi hỏi người thông dịch phải thật giỏi cả hai ngôn ngữ mà còn cần có kinh nghiệm sống dồi dào trên đất nước của hai ngôn ngữ được sử dụng để hiểu cách dùng cho nhuần nhuyễn.

Do đó vì kém ngoại ngữ mà trong một thực đơn của nhà hàng ở Vịnh Hạ Long món Mực nướng được dịch ra tiếng Anh là ink baked thay vì baked squid mới đúng. Tuy con squid có ink (mực) nhưng con squid (con mực) không được gọi là con ink. Và chữ động từ nướng bake phải có thêm (e)d để thay đổi thành tiếng tính từ và đứng trước danh từ squid để thành baked squid.

Một nơi khác không ngần ngại dịch phăng món Ốc thành Screw!!! tức là cái đinh ốc thay vì dùng chữ Snail. Và nước đá là Water stone, hi light viết thành Hair light, Fast food viết thành fat food hay fast foot, welcome viết thành wellcome, cua dịch sai thành crap thay vì crab. Sai một ly đi một dặm chữ crap trong tiếng lóng có nghĩa là “cứt”.

Việc dịch sai một vài thực đơn trong nhà hàng có thể đem lại vài trận cười tiếu lâm cho người đọc. Nhưng nó biến thành hỏng trầm trọng khi một nhóm chuyển ngữ gồm các bác sĩ, sinh viên, nghệ sĩ có tên là BSP Entertainment (TPHCM) tung ra một CD gồm 10 bài hát với tên gọi Tình ca 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội nhân đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội. Tặng phẩm này dành cho chương trình Những tấm lòng với Thăng Long – Hà Nội là công trình dịch thuật những bài hát viết về Hà Nội nổi tiếng được dịch ra tiếng Anh.


Dịch ca từ không phải là việc dễ, dịch từ tiếng Việt sang Anh còn khó hơn. Nó đòi hỏi một kiến thức Việt và ngoại ngữ lưu loát mà còn phải biết rành âm nhạc cũng như am hiểu đặc tính thơ ca trong ca từ. Không biết vì kém tiếng Anh, thời gian thực hiện lại gấp gáp hay sao mà nhóm BSP đã tung ra một sản phẩm dịch thuật thiếu chuyên nghiệp, kém chất lượng, tồi tệ đến nỗi một bài viết trên báo Lao Động phải kêu lên “ca từ trong CD này đã bị chuyển ngữ một cách vô cùng cẩu thả, thô thiển” (xin xem các link về những bài báo này dưới mục Tài liệu tham khảo).

Bài báo còn dẫn ra những câu dịch sai: “Hanoi’s this season… absent the rains. The first cold of winter make your towel’s gently in the wind. Flower stop falling, you inside me after class on Co Ngu street in our step slowly return…” – đây chính là phần chuyển ngữ của ca khúc “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa” (Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa/ Cái rét đầu đông khăn em bay hiu hiu gió lạnh/ Hoa sữa thôi rơi, em bên tôi một chiều tan lớp/ Đường Cổ Ngư xưa chầm chậm bước ta về).” Xin trích ý kiến của một số bạn đọc trên mạng sau khi đọc bài báo. Bạn đọc lang doan viết: “Sau khi đọc được lời dịch qua tiếng Anh (Mỹ), tôi phải bật cười vì cách dịch cứ như người mới học sinh ngữ được 2-3 lớp sơ đẳng, hoặc chưa hề tập viết văn chương bằng tiếng Anh. Từ cú pháp, ẩn dụ thật tối nghĩa cho tới văn phạm đều sai. Cho nên, nếu dịch cẩu thả là không thể chấp nhận, vì như vậy là coi thường thính giả trong và ngoài nước, đồng thời thiếu tôn trọng văn hoá Việt. Không những thế, người ta sẽ đánh giá trình độ văn hoá của cả nước khi những tác phẩm này được quảng bá đại diện cho văn hoá VN. Lấy thí dụ nhỏ, cái “khăn” để đội đầu hay cuốn quanh cổ mà dịch thành “Towel” (khăn tắm, khăn rửa mặt, khăn lau xe) thì hết ý kiến!”. Trớ trêu hơn, bạn Nhựt Hồng phát hiện: “You inside me after class” theo nghĩa Mỹ có nghĩa là… “anh và em quan hệ tình dục sau lớp học” chứ chẳng phải “em bên tôi một chiều tan lớp”. Không chỉ dừng ở việc “tàn sát” các ca từ trong ca khúc “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa”, kiểu dịch “từ đối từ” sai về cú pháp, ngữ pháp tiếp tục được lặp đi lặp lại trong các ca khúc nổi tiếng về Hà Nội khác như: “Có phải em mùa thu Hà Nội?” (Are you the autumn in Hanoi?): “August autumn, did leaf fall come yellow. Since you’ve been gone, I miss you silent” – (phải hiểu là: Tháng tám mùa thu, lá rơi vàng chưa nhỉ. Từ độ người đi, thương nhớ âm thầm) hay “One day return, I visit sad Thanglong” (cần hiểu là: Một ngày về xuôi, chân ghé Thăng Long buồn). Còn trong bài “Hà Nội niềm tin và hy vọng” có đoạn “Đường lộng gió thênh thang năm cửa ô, nghe tiếng cười không quên niềm thương đau” được chuyển ngữ thành “The windy road immense the doorway, hear the laugh but don’t forget the pain”.

Bây giờ nếu đem phân tích những lỗi lầm dịch thuật đã phạm trong những ca khúc này, chúng ta cần phải học bao nhiêu bài học, viết bao nhiêu bài phân tích về Anh ngữ cho đủ. Nên tôi xin miễn bàn thêm. Chỉ có điều đáng tiếc và đáng buồn không phải ở chỗ khả năng người dịch kém, ca sĩ phát âm không đúng mà ở chỗ sản phẩm kém vẫn được quảng cáo và truyền thông đến người tiêu dùng. Bài quảng cáo “Chắp cánh cho ca khúc Việt bay xa” được đăng trên trang web chính thống của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trang web của Ủy ban Người Việt Nam ở nước ngoài TPHCM, và những trang thông tin kết nối với bạn bè quốc tế, người Việt xa xứ. Điều này cho thấy cơ quan chức năng cũng tệ không thua gì sản phẩm!!!

Việc toàn cầu hoá ngôn ngữ trong việc dùng tiếng Anh đã mang lại nhiều tiện ích cho Việt Nam. Nó giải quyết được nhiều lúng túng trong việc thiếu từ vựng trong nhu cầu tạo từ mới trong các lãnh vực, kỹ thuật, tin học, kinh tế, y khoa, chính trị, khoa học cũng như văn hoá. Do đó sự ưa thích được gọi là sính dùng tiếng Anh đã lan nhanh như cơn sóng lớn có ảnh hưởng chiều ngang đến ngôn ngữ mẹ đẻ của người Việt và dần dà ăn sâu đến văn hoá theo chiều dọc của bản chất dân tộc Việt. Tuy nhiên cái gì cũng có hai mặt tích cực và tiêu cực. Việc sử dụng sai phạm, kém hiểu biết, thiếu chuyên nghiệp, cẩu thả sẽ biến thành trò cười cho người ngoài và những người thông hiểu tiếng Anh. Mà trên đà toàn cầu hoá, trên thế giới đã có khoảng trên dưới 500 triệu người đang sử dụng tiếng Anh như là một quốc ngữ, và khoảng phân nửa dân số thế giới dùng Anh ngữ như là một ngôn ngữ thứ hai.

Còn một nguy cơ nữa chúng ta cần lưu ý là đừng để mất bản sắc dân tộc khi đắm chìm trong việc chạy theo lực cuốn hút của tiếng Anh. Đã đến lúc chúng ta phải nhìn lại và dừng lại sự say mê lạm dụng tiếng Anh trong đời sống hàng ngày. Đừng để một ngày nào đó nhìn lại một trang viết hay trong một câu nói của một học sinh chỉ còn lõm bõm hai ba chữ quốc ngữ, phần còn lại chỉ toàn là tiếng Anh. Lúc đó chúng ta sẽ đánh mất luôn cái hồn nước cuối cùng của dân tộc.

Tài liệu tham khảo

- “Thảm hoạ ca từ nhạc Việt”
- “Chắp cánh cho ca khúc Việt bay xa”
- “Ha Noi’s this season absent the rain- video clip”
- “Đặc sản tiếng Việt”

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Trung Cộng Đã Chuẩn Bị Khai Chiến ! Nguồn tin tình báo từ Nhật, Đài Loan và Tây Phương cho biết Trung Cộng đã sẵn sàng đánh phủ đầu và chiếm đóng VN trong kế hoạch 5 năm ( 2011-2016) và đánh chiếm Đài Loan ( 2016-2018). Hàng trăm Hỏa tiển tầm xa Đông Phong 21 đã được chuyển đến đảo Hải nam với tọa độ phóng đến Hà Nội, Đà Nẵng, Saigon trong ngày 30 tháng 9 năm 2010.
Image
Hỏa Tiển tầm xa Đông Phong 21 của Trung Cộng.
Kế hoạch Đại chiến lược
Trung Cộng và an nguy của
Việt Nam, Taiwan, Nhật Bản


Nữ ký giả Sakurai Yoshiko của báo Sankei của Nhật, một cây bút chính luận nổi tiếng vừa có một bài đăng trên tạp chí Tuần san Xuân Thu với nhan đề ” Kế hoạch Đại chiến Lược của Trung Quốc và an nguy của Việt Nam, Taiwan, Nhật Bản”. Theo bài chính luận đó thì 28 năm trước Đề đốc Hải quân Trung Quốc tướng Lưu Hoa Thanh đã đưa ra kế hoạch Đại Chiến Lược này và được Quân ủy Trung ương Trung Quốc đồng ý tạo cơ sở phát triển hiện đại hóa quân đội. Theo kế hoạch này thì giai đoạn 4 của nó tức vào năm 2040 thì Hải quân Trung Quốc sẽ không chế toàn bộ biển Thái Bình Dương và một nửa phía Đông của Ấn Độ Dương để tạo hành lang bảo vệ cho sự phát triển kinh tế của Trung Quốc. Để đạt được mục tiêu này thì cho tới năm 2040 Trung Quốc phải nhổ cho được 2 cái gai cản trở đường tiến xuống phía Nam của hải quân Trung Quốc là Việt nam và Đài Loan, bình định đưa Việt nam và Đài loan trở lại lãnh thổ Trung Hoa.

Theo cách suy nghĩ của giới lãnh đạo Trung Quốc thì trong quá khứ Taiwan là của Trung Quốc và Việt nam là một quốc gia sách phong thuộc Trung Quốc, việc thu hồi sát nhập Việt nam vào Trung Quốc là có cơ sở lịch sử. Đối với Nhật bản thì vị trí địa chính trị của Việt nam và Taiwan rất quan trọng với Nhật, nếu Việt nam và Taiwan rơi vào tay Trung Quốc thì Nhật bản cũng bị uy hiếp vì toàn bộ tuyến đường vận tải biển huyết mạch kinh tế của Nhật phải đi ngang qua vùng Nam phương quần đảo (tức Trường Sa, Hoàng Sa, Đông Sa).

Nhìn thấy mối nguy này nên 6 năm trước thủ tướng Koizumi của Nhật đương thời đã đề nghị với thủ tướng Phan Văn Khải cho Nhật bản thuê căn cứ Cam Ranh để Hải Thượng Tự vệ Đội của Nhật làm căn cứ trên danh nghĩa để ngăn ngừa cướp biển dọc eo Malacca nhưng thực tế là để tạo một mũi dao chọc thủng kế hoạch này ngăn ngừa đường tiến xuống phía nam bành trướng biển Đông của Trung Quốc. Tuy nhiên lời đề nghị đó của ông Koizumi đã bị thủ tướng Phan Văn Khải bác bỏ sau khi có áp lực của Trung Quốc cũng muốn Việt nam nhượng cho họ Cam ranh để làm căn cứ hải quân.

Việc thủ tướng Koizumi rồi đến thủ tướng Abe của Nhật ve vãn muốn tạo ảnh hưởng của Nhật lên giới lãnh đạo VN như ông Phan Văn Khải , Nguyễn Tấn Dũng thông qua viện trợ ODA ưu tiên đặc biệt cho VN, Thiên hoàng tặng huân chương cho Phan Văn Khải, mời Nguyễn Tấn Dũng phát biểu trước quốc hội Nhật, các chương trình giáo dục về nghiệp vụ hành chánh, trợ giúp về việc biên soạn cải sửa Luật pháp theo hướng Dân Chủ kiểu Nhật v.v.. đều nhằm mục đích kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc lên VN. Với các chính trị gia của Đảng Tự Do Dân Chủ Nhật bản một nước VN dân chủ, kinh tế vững mạnh, đứng thẳng trước Trung Quốc là chiếc khiên chống đỡ cho sự an nguy sống còn của Nhật. Vấn đề là giới lãnh đạo VN có biết lợi dụng cơ hội này để nâng cao vị thế uy tín cũng như phát triển quốc gia hay không?

Minh Thanh

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Chile: Kỹ thuật + Tình người đưa tới thành công

Ngô Nhân Dụng
Người Chile có quyền hân hoan và hãnh diện. Cả nhân loại được chia sẻ niềm vui. Vụ cứu sống 33 thợ mỏ ở Chile, sau 69 ngày bị kẹt 620 mét dưới lòng đất, cho thấy loài người có khả năng chia sẻ tình thương yêu và khả năng kỹ thuật để thực hiện được những công trình đáng hãnh diện.

Thi sĩ César Vellejo, người Peru, đã cảm hứng sáng tác ngay một bài thơ, đang được truyền tụng trong thế giới nói tiếng eapagnol. Khi người thợ mỏ đầu tiên, anh Florencio Avalos được đưa từ đáy vực nóng và ẩm lên trên mặt đất, anh ôm lấy vợ, con rồi ngước mắt nhìn lên bầu trời đầy sao trong một đêm lạnh lẽo giữa sa mạc Atacama. Có ký giả đã bình luận hình ảnh đó bằng câu thơ của Dante Alighieri, một thi sĩ Ý vào thế kỷ 13: “Tình yêu làm chuyển động mặt trời và tất cả các vì sao!”

Một người đáng được tuyên dương là trưởng toán công nhân, ông Luis Alberto Urzua, 54 tuổi. Trong 17 ngày đầu tiên bị “chôn sống” trong lòng đất không liên lạc được với thế giới bên ngoài, Urzua đã đóng vai trò lãnh đạo một cách xứng đáng, giữ vững tinh thần của các đồng đội. Trong những ngày sau đó, khi đã được tiếp tế thực phẩm, thuốc men qua một cái ống rỗng chừng 10 cm, nhóm thợ mỏ đã tự động biến thành một tổ chức có quy củ. Họ đặt ra quy tắc quyết định tập thể để kiềm chế những bản năng ích kỷ, ganh tị, tham lam của con người, họ chia ba phiên thức canh cho nhau, săn sóc người bệnh, an ủi người mất tinh thần, chia sẻ thực phẩm, thuốc men, không một thiểu số nào được ưu đãi. Loài người quả thật có khả năng cộng tác với nhau trong cơn hoạn nạn theo tinh thần tự do dân chủ.

Trong tình thế tuyệt vọng, một người khác đáng được khen ngợi nữa là Tổng Thống Chile Sebastián Piỹera. Ông mới nhậm chức vào Tháng Ba năm nay, vị tổng thống hữu phái đầu tiên sau nhiều năm cánh tả nắm quyền. Nhiều cố vấn đã khuyên ông thận trọng, đừng xuất hiện trước ống kính ti vi nói về tai nạn hầm mỏ này. Hãy chờ đến ngày lễ quốc tang hãy xuất hiện chia buồn với gia đình các nạn nhân. Như vậy thì hình ảnh chính trị của ông sẽ không bị dính đến sự thất bại và kết cục bi thảm khi các nạn nhân đều tử nạn. Chưa ai từng sống sót được sau khi bị vùi 15, 17 ngày trong lòng đất, tuyệt vô âm tín. Nhưng ông Sebastián Piỹera, vốn là một nhà chính trị rất khôn ngoan, thủ đoạn, đã nghe theo trái tim chứ không theo mánh khóe tính toán. Ông dấn thân vào công cuộc cứu người, ông nuôi niềm tin và hy vọng, mặc dù thực tế không thấy có hy vọng. Người Chile đã sống trong hy vọng nhờ tấm gương của ông. Khi các chính trị gia ngưng “làm chính trị” thì họ cũng được người dân kính trọng hơn. Ông Piỹera được 56% dân chúng ủng hộ, so với 46% trước tai nạn này. Ông bộ trưởng Hầm Mỏ, lăn lộn nhiều ngày tại chỗ, được dân chúng coi như một anh hùng; trong tương lai chắc sẽ ứng cử chức tổng thống! Nhưng ông Piỹera vẫn là con người ưa tính toán. Ông nói tất cả số tiền trị giá 22 triệu Mỹ kim trong việc cứu 33 mạng người đã được chi tiêu rất đúng, “không một đồng nào bị phí phạm.” Nếu như các số tiền để bày vẽ ra công ty Vinashin hay để tổ chức Ðại lễ 1000 năm Thăng Long khi chi tiêu cũng được tính toán theo tinh thần trách nhiệm như vậy, thì nhiều người Việt Nam cũng đỡ đói, và đã tránh được nạn kẹt đường khiên tất cả ngoại giao đoàn phải chờ đợi mấy giờ rồi bỏ ra về!

Nhà báo đối lập Arturo Fontaine khen ngợi ông Piỹera, nhắc lại ý kiến của Machiavelli rằng trong một quốc gia cộng hòa người dân phê phán không căn cứ vào hiểu biết của lãnh tụ mà dựa trên tánh khí của họ. Piỹera quả thật có linh tính và sự can đảm của một nhà chính trị.

Khi tai nạn xẩy ra ngày 5 Tháng Tám vì đá trồi lấp cả khu hầm mỏ cũ, ông tổng thống đang công du ở Ecuador. Ông cử ngay ông bộ trưởng Hầm Mỏ về đêm nơi tai nạn. Ông bay về, đến tận hiện trường mặc dù các cố vấn khuyên ông nên tránh xa; rồi yêu cầu công ty khai mỏ đồng Codelco cử chuyên viên tới nghiên cứu. Họ cho biết các nạn nhân có thể sống sót. Khi các chuyên viên cho biết các công nhân bị nạn vẫn còn sống, họ cho đục ba đường đi xuống tìm. Hai công ty quốc tế cung cấp dụng cụ khoan đào trúng con đường tới nơi tụ tập các nạn nhân. Chính phủ Chile huy động các chuyên viên tàu ngầm của Hải Quân tới giúp, vì họ có kinh nghiệm về cuộc sống ở nơi chật chội. Khoang cấp cứu được chế tạo ở Hải Quân công xưởng tại Talcahuano. Hai y tá Hải Quân được cho chui xuống săn sóc sức khỏe các công nhân.

Ðêm Thứ Ba vừa qua, cả nước Chile vắng bóng xe chạy ngoài đường. Mọi người ở trong nhà chăm chú nhìn máy ti vi chờ tưng công nhân mỏ được kéo lên, lúc đầu một giờ đưa được một người lên, sau một giờ đưa lên được 3 người. Cả thế giới chia vui với dân tộc Chile khi họ gửi 2,000 ký giả tới theo dõi cuộc cứu nạn, như báo Người Việt viết: “...ngay cả đài truyền hình nhà nước Bắc Hàn cũng có mặt tại chỗ.” Cả loài người có thể chia sẻ niềm vui của anh Jimmy Sanchez, 19 tuổi, khi được ôm đứa con đầu lòng mới sinh được một tháng, trong lúc bố ở dưới lòng đất. Cũng chia sẻ được niềm vui của ông Mario Gomez, 63 tuổi khi ôm lấy bà vợ cùng với lá cờ Chile. Trong 2 tháng ở dưới đất sâu ông đã hứa với bà nhiều lần qua điện thoại là khi được cứu lên ông sẽ đưa bà tới nhà thờ làm phép cưới theo đúng luật Thánh, điều mà bà vẫn mong ước từ bao nhiêu năm chung sống. Họ sẽ làm lễ cưới, rồi đi tuần trăng mật! Từ Mỹ sang Pháp, từ Brazil tới Trung Quốc, loài người chia sẻ một niềm vui chung, không phân biệt chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chế độ chính trị, vân vân.

Nhưng trong thế kỷ 21 này, muốn làm “chuyển động mặt trời và tất cả các vì sao” thì con người có kỹ thuật giúp việc. Khi 33 người thợ mỏ lần lượt được kéo lên mặt đất suốt 22 giờ liên tục, trong một khoang cấp cứu hình con nhộng có tên là “Phượng Hoàng 2” đi lên trong một đường ống xuyên từ trên xuống, thì đằng sau thắng lợi tập thể đó là những “anh hùng vô danh” đã đóng góp kỹ thuật vào công tác cứu nạn. Hình ảnh những máy móc đào được xuống 600 mét đá cứng, một hệ thống cơ khí vẽ ra để đưa được 33 con người lên chỗ an toàn, đó là một thành tích của kỹ thuật hiện đại. Tổng Thống Piỹera ca ngợi: “Các kỹ sư, chuyên viên cấp cứu, công nhân Chile đã chứng tỏ họ có khả năng làm được những gì!

Báo chí Mỹ cho biết nhiều người Mỹ cũng đóng góp vào công cuộc cứu nạn. Công ty Mỹ-Chile Geotec Boyles Bros. đã mở mũi khoan thành công đào ống xuyên mặt đất cho tới khi gặp được những người thợ bị nạn; và họ đã tìm được sự hỗ trợ từ khắp thế giới. Hai công ty tại Philadelphia, một tiểu bang hầm mỏ ở Mỹ, dùng kinh nghiệm cứu nạn của họ gửi xuống Chile mũi khoan đặc biệt. Mũi khoan này có thể đào con đường xuyên xuống đất đủ rộng cho người đi qua lọt, và giữ cho vách đá không bị lở, đổ. Mũi khoan này được đưa tới San Jose, Chile trong vòng 48 giờ, nhờ hãng gửi đồ UPS. Và nhà bưu điện tư UPS đã chuyển hàng đi miễn phí. Nhờ nỗ lực của Geotec Boyles nên các thợ mỏ đã được cứu lên trong tuần này, trong khi trước đó các chuyên gia tính rằng phải tới lễ Giáng Sinh 2010 mới hy vọng đưa được họ lên mặt đất.

Một chuyên viên được nêu tên là Jeff Hart, người Denver, Colorado. Ông đang thầu đào giếng nước cho cho quân đội Mỹ ở Afghanistan, đã được gọi về. Nhà thầu 40 tuổi này đã làm việc suốt 33 ngày liền để khoan con đường xuống mỏ. Sau khi những công nhân Chile được đưa lên mặt đất, Hart nói một câu giản dị: “Xong việc!” Ba bác sĩ làm việc cho NASA đã góp ý kiến về chăm sóc sức khỏe cho các nạn nhân bị kẹt dưới hầm sâu, dùng kinh nghiệm về các phi hành gia sống cô đơn xa trái đất. Một chuyên gia nữa của NASA là Clinton Cragg, cựu đại tá Hải Quân Mỹ đã dùng kinh nghiệm điều khiển tầu ngầm để chỉ huy 20 chuyên viên chế ra cái ống dài hơn 4 mét để đưa từng người lên một. Tình thương nhân loại và khả năng kỹ thuật đã cứu được 33 người thợ mỏ Chile!

Nhưng biến cố cứu nạn này không phải chỉ chấm dứt tấm thảm kịch 69 ngày mà còn mở ra một chương sử mới cho nước Chile trong luật lệ bảo vệ quyền lợi công nhân, an toàn lao động. Công ty San Esteban Mining đang trốn trách nhiệm bằng cách tuyên bố phá sản. Một hậu quả có thể xảy ra là không có tiền trả lương cho 33 công nhân mới thoát nạn. Ông tổng thống đã lập một ủy ban cải tổ. Luật lệ về hầm mỏ ở Chile sẽ thay đổi để tránh không xẩy ra những tai nạn tương tự. Năm ngoái đã có 35 vụ chết người trong hầm mỏ.

Người Chile đang hào hứng về khả năng của các chuyên viên nước họ trong cuộc cứu nạn này; trong khi mọi người Việt Nam đang xấu hổ về vụ kẹt xe, tắc nghẽn trên đường tới nơi cử hành Ðại lễ 1000 năm Thăng Long được chuẩn bị trong 10 năm qua; vụ kẹt đường khiến hàng trăm các đại diện ngoại giao quốc tế chờ đợi mấy tiếng đồng hồ rồi phải bỏ ra về. Một nhà ngoại giao Âu Châu đã hỏi: “Không biết sau vụ này ai sẽ phải từ chức?” Ai cũng biết, ở Việt Nam thì không ai từ chức cả, vì không ai có trách nhiệm về cái gì cả!

Tổng Thống Piỹera đã hứa với dân chúng rằng đến năm 2018 nước ông sẽ được xếp hạng như một quốc gia tiên tiến về kinh tế - đúng vào năm kỷ niệm ngày lập quốc khi Chile đánh bại đạo quân thực dân Tây Ban Nha trong trận đánh sau cùng. Một nước trẻ trung như Chile cũng đáng làm gương cho nước ta, với hơn 2000 năm lịch sử!

Cuối cùng, loài người cùng chia sẻ thành công trong công cuộc cứu nạn của nước Chile. Chúng ta cũng có thể chia sẻ những kinh nghiệm rất người mà cũng vượt lên trên thân phận con người của các công nhân đã thoát nạn.

Như thi sĩ César Vellejo viết về những người thợ mỏ ngoi lên trên mặt đất:

“Họ biết, qua bầu trời thấp thoáng nhìn từ những bậc thang
Con người có thể trèo xuống mà ngước mắt nhìn lên
Khi leo lên mắt vẫn biết nhìn xuống.”

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Hà Nội, Và Hoàng Anh Tuấn, Và…
Thứ Sáu, 08 tháng 10 2010



Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội



Sáng nay San Jose mưa. Mưa nhỏ thôi. Những ngày đầu tháng Mười, mùa Thu miền Bắc Cali không lạnh. Một người bạn quen từ Quận Cam vừa gửi tặng tôi một CD trong đó có ca khúc Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội. Đây là một bài hát khi mới ra đời, ban hợp ca Thăng Long đã mang đến cho người nghe nhiều ấn tượng. Bài hát đã lâu tôi không nghe. Nhưng lời của ca khúc tôi vẫn nhớ là do Hoàng Anh Tuấn viết cho nhạc của Phạm Đình Chương. Chúng tôi vẫn gọi anh là thi sĩ của Hà Nội. Hà Nội yêu, anh vẫn yêu muốn khóc/ Mấy chục năm, xa đến mấy nghìn năm. Đó là hai câu thơ đã ở lại rất lâu trong tôi.

Tôi nhớ lần cuối gặp anh năm 2006 trong nhà dưỡng lão Mission De La Casa ở San Jose. Hôm đó, anh ngồi xe lăn, cười hỏi tôi. “Đi đâu?” “Thì đi thăm anh, chứ đi đâu!” “Này cậu, thế mà đã hai mươi năm rồi đấy!” Hoàng AnhTuấn không nhớ những lần gặp nhau gần đây, trước ngày anh vào Viện Dưỡng Lão, mà chỉ nhớ chuyện của 20 năm trước, những ngày Đà Lạt , Sài Gòn... Đúng, năm 1986 tôi gặp anh ở Virginia khi vừa đặt chân xuống vùng đất tự do. Hôm đó, uống chưa hết ly rượu, tôi đọc lại hai câu thơ trên và trêu anh:

“Trời ơi, tại sao yêu mà yêu muốn khóc là thế nào?” Hồi đó anh chỉ cười, không trả lời. Bây giờ chính anh nhắc lại, và nói, “Nghe đây, yêu mà không lấy được thì khóc chứ sao? Cậu vớ vẩn bỏ mẹ!” Và chúng tôi đã cười với nhau.

Tôi vớ vẩn thật, đi thăm một người nằm trong nhà dưỡng lão mà trêu chọc, y như ngày ngồi bên anh trong một quán ăn ở Virginia giữa những chai bia. Cái chất gì của Hà Nội khiến anh yêu mê thành phố ấy đến thế? Tôi không biết. Nhưng tôi biết một điều: nhắc đến Hoàng Anh Tuấn là nhắc đến Hà Nội và nhắc đến Hà Nội cũng là nhắc đến Hoàng Anh Tuấn.

Mặc dù, năm 1949, mới 17 tuổi, Hoàng Anh Tuấn đã rời Hà Nội đi Pháp du học. Paris, Sài Gòn, Dalat, rồi lại Paris, Virginia, San Jose … và bao thành phố khác. Chưa một lần trở lại Hà Nội, thế nhưng, Hà Nội lúc nào cũng nguyên vẹn trong anh. Hà Nội tràn ngập trong những trang chữ của anh. Như thể sau năm 1949, ngày anh bỏ Hà Nội ra đi cho đến năm mươi năm sau, Hà Nội vẫn còn đập nhịp trong trái tim anh.

Tôi kiếm hồn tôi xưa Hà Nội
Thuở còn trong vắt gió vào Thu
Thoảng nghe ngọt tiếng cô hàng cốm
Chênh vênh đâu cuối phố Sinh Từ

Xa Hà Nội, Hoàng Anh Tuấn mang theo Ga Hàng Cỏ những sáng sớm ngái ngủ, Hồ Tây những buổi chiều tà, mang theo Hàng Đường, Hàng Gai, mang theo năm cửa ô… Anh không bứt được Hà Nội ra khỏi ký ức mình, không thể quên được những “hoa sấu lẳng lơ” (mà hoa sấu sao lại lẳng lơ nhỉ?) … Trong văn học Việt Nam, có lẽ không một thi sĩ nào dành cho thơ nhiều Hà Nội như Hoàng Anh Tuấn.

Khi Mai Thảo viết Đêm Giã Từ Hà Nội, anh đã chia tay Hà Nội thật sự. Rồi Tháng Giêng Cỏ Non, Để Tưởng Nhớ Mùi Hương, Mười Đêm Ngà Ngọc… và sau cùng với Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền, Hà Nội có vẻ như đã ra khỏi anh.

Khi Thanh Tâm Tuyền viết Bếp Lửa sau ngày vào Nam, rồi Tôi Không Còn Cô Độc, Một Chủ Nhật Khác, có lẽ Hà Nội vẫn còn trong Thanh Tâm Tuyền, nhưng những trang chữ của anh không còn tắm đẫm mùi hương Hà Nội nữa.

Còn ai Hà Nội hơn Nguyên Sa, vậy mà thơ anh tràn ngập Paris, tràn ngập chất sống phương Tây, tắm đẫm hơi thở thời hiện đại hơn là quá khứ. Chỉ có Hoàng Anh Tuấn vẫn chung thủy với thành phố của anh.

Em Hà Nội, Hàng Đường trong giọng nói
Để Hàng Bông êm ái lót cơn mơ
Thương những buổi chiều Bác Cổ ngày xưa
Anh nắn nót một trường thi lãng mạn
…..

Hàng Vôi đó nồng nàn trong ngây ngất
Ý Hàng Đào chín mộng trái môi chia
Xin Hàng Than rực cháy lửa đam mê
Khi quấn quít trong ái ân Hà Nội
(Bài thơ Hà Nội)

Hoặc

Hà Nội yêu xin cầm tay lần nữa
Một lần thôi cho vừa đủ hai lần
Thêm ngày xưa hạnh phúc rất thiên thần
Anh chết lặng trong tình yêu công chúa

Cho đến tận khi sắp xa lìa ‘cõi tạm’, Hà Nội vẫn là nỗi day dứt không nguôi trong anh. Xin được trích một đoản thi buồn của anh trong những ngày cuối đời:

Hà Nội anh giờ là giấc chiêm bao
Cùng thơ ấu đã già đi trăm tuổi
Buổi sáng nay tâm hồn nghe thơ dại
Một thoáng vui chợt tới chợt bay đi
Rồi nỗi buồn như lũ mọt ngu si
Gậm nhấm nốt nửa linh hồn rữa mục.

Bây giờ ngồi đây, trong căn phòng nhỏ của mình, giữa mùa thu San Jose, nghe lại Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội cũng chỉ là nghe lại một kỷ niệm:

Mưa hoàng hôn
Trên thành phố buồn gió heo may vào hồn
Thoảng hương tóc em ngày qua
Ôi người em Hồ Gươm về nương chiều tà…

Vũ Ngọc Phan, trong “Hồi Ký Những Năm Tháng Ấy” viết:

“Những người đã ở Hà Nội đến ba, bốn, năm đời, khi đi xa Hà Nội mà nhớ Hà Nội là thường tình, nhưng có người chỉ mới ở Hà Nội được một vài năm, có khi chỉ được mấy tháng, mà khi ra đi vẫn cứ nhớ cảnh, nhớ người, có thể là nhớ người hơn cả, thì đủ thấy Hà Nội có sức quyến rũ thật.”

Có lẽ ông nói đúng, khi nghe ca khúc Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội của Trần Quang Lộc người ta đâu biết nhạc sĩ là người Quảng Trị. Nếu những người con của Hà Nội như Trọng Đài mô tả một Hà Nội Đêm Trở Gió với Cành me thì thầm gục đầu vào dĩ vãng, với Cô đơn sấu rụng ngoài ngõ vắng thì nhạc sĩ Trịnh, người con của cố đô Huế cũng dâng tặng Hà nội một ca khúc đầy hình ảnh và xúc cảm:

Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ,
nằm kề bên nhau, phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu .
Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội,
mùa hoa sữa về thơm từng ngọn gió,
mùa cốm xanh về, thơm bàn tay nhỏ,
cốm sữa vỉa hè, thơm bước chân qua .

Hồ Tây chiều thu, mặt nước vàng lay bờ xa mời gọi .
Màu sương thương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời.
(Nhớ Mùa Thu Hà Nội. Trịnh Công Sơn)

Hà Nội giờ đây có còn nguyên vẹn như những gì Hoàng Anh Tuấn, Mai Thảo, Trịnh Công Sơn … đã nhìn thấy không? Hà Nội ngày xưa đó có sẽ chỉ còn là một hoài niệm trong lòng những người nhớ thương nó không? Tôi nhớ những câu thơ của Phan Vũ mà tôi đọc cách đây không lâu

Em ơi! Hà Nội phố!
Ta còn em năm cửa ô
Năm cửa gió
Cơn bão thường niên qua đó
Ba mươi sáu phố,
Bao nhiêu mảnh vỡ?

Ta còn em một màu xanh thời gian.
Một màu xám hư vô,
Chợt nhòe,
Chợt hiện.
Chợt lung linh ngọn nến,
Chợt mong manh
Một dáng,
Một hình,
Nhợt nhạt vàng son,
Đậm đầy cay đắng…

Sao chỉ sống một thời với Hà Nội thôi mà ông viết nên một Hà Nội phố thật đến thế, sâu đến thế, và buồn đến thế? Điều gì đã đưa chân ông trong những chiều lang thang trên các con phố xưa, tìm lại cái hồn sâu lắng còn quanh quất đâu đây của Hà Nội, miên man nghĩ, miên man nhớ đến độ: “bỗng thấy mình chẳng nhớ nổi con đường”.

Thơ, nhạc về Hà Nội dường như thời nào cũng đầy cảm xúc, nhưng sao vẫn thấy chất chứa nhiều nỗi nhớ quá, nhiều day dứt quá, nhiều hoài niệm quá… Và tôi tự hỏi giờ đây nếu Hoàng Anh Tuấn có một lần trở lại Hà Nội, liệu những bài thơ của anh về Hà Nội có còn mang vẻ đẹp như anh vẫn say mê làm cho đến tận ngày giã từ cuộc sống không? Hay kỷ niệm nào về những ngày xưa cũng đẹp, hay kỷ niệm thật ra chỉ đẹp khi đã là chuyện ngày xưa?

Nhớ Hoàng Anh Tuấn, mà tôi đã tản mạn đủ chuyện trên trời dưới đất. Cũng chỉ vì một thành phố trong thơ ông: Hà Nội. [NXH]

Post Reply