Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Lời tạ ơn hiếm hoi

Chuyện xảy ra tại một lớp bậc tiểu học như sau: Tiếng kẻng báo giờ ra chơi, cô giáo vừa ra hiệu nghỉ, thì cả lớp chen nhau ùa chạy ra sân. Trong lớp còn vỏn vẹn một em học sinh nữ và một nhóc tì nam có vẻ không mấy vội như các bạn. Em bé gái rụt rè lên bàn cô giáo, lấy từ chiếc cặp ra hai trái ổi và lí nhí: “em biếu cô”. Chưa nhận đủ đầy cái xoa đầu và lời cám ơn của cô giáo, cô bé chạy vụt ra sân chơi. Chuyện xảy ra không qua được mắt cậu nhóc. Tiến gần cô giáo, cậu ta tỉnh bơ: “Thưa cô, cho em xin một trái”. Mắt tròn xoe, cô giáo chia cho cậu nhóc lém lĩnh một trái và kèm thêm cái xoa đầu. Chuyện có vẻ lạ thường nhưng rất thật đó là cái tên của cậu nhóc ghi đậm trong ký ức của cô giáo hơn là tên của bé gái tặng hai trái ổi.

Chuyện bình thường của kiếp nhân sinh: người ta thường nhớ hoặc nói huỵch toẹt là khó quên người mà mình đã thi ân cho hơn là người đã thi ân cho mình. Quả thật chúng ta khó quên nhũng người đang mắc nợ chúng ta, nhưng lại ít nhớ nhưng người mà chúng ta đang mắc nợ họ. Xem ra cái được gọi là lòng biết ơn không phải dễ mà có được nếu không ý thức và chuyên cần luyện tập. Cùng với phần Phụng vụ Lời Chúa của Chúa Nhật XXVIII TN C, đặc biệt bài đọc thứ nhất và bài Tin mừng chúng ta cùng xét xem đôi điều về chủ đề lòng biết ơn.

Một Naaman người Syria được nói đến trong sách Các Vua và một người anh em Samaria trong câu chuyện tin mừng Luca kể đã sống có lòng biết ơn khiến chúng ta giật mình tự hỏi: Phải chăng anh em lương dân (có thể kể đến bà con khác đạo nữa) lại nhạy bén với sự biết ơn hơn là con cái Chúa? Thật khó trả lời cho câu hỏi đầy sự tế nhị này, tuy nhiên chúng ta có thể nhận ra một vài nguyên nhân gây nên tình trạng vong ân đáng buồn đang hiện hữu đó đây để rồi tìm cách khắc phục.

1.Ảo tưởng về công lao hay công trạng của mình: Một khi nghĩ rằng những ơn mình lãnh nhận là do công sức mình đã bỏ ra thì người ta khó mà nhận ra cội nguồn của ơn lành. Phải chăng chín người Israel phung hủi được chữa lành hôm ấy nghĩ rằng chính nhờ việc giữ luật “đi trình diện các Tư tế” mà họ được lành sạch? Cũng có thể lắm. Vì đây là điều mà viên tướng Naaman và người anh em lương dân phung hủi trong câu chuyện tin mừng kể hầu chắc là không biết.

2.Nhận được ơn lành nhiều lần: Sự gì mà lặp đi lặp nhiều lần quá cũng dễ bị xem là chuyện bình thường. Ở vùng nhiệt đới, có thể nói rằng ngày nào mặt trời cũng mọc lên và lặn xuống thì ít có người cảm thấy quý và từ đó nảy sinh tâm tình biết ơn “trời đất”. Trái lại, ở những vùng ôn đới, sau một quảng thời gian giá lạnh, tuyết rơi, bỗng một ngày mặt trời xuất hiện thì người người ùa ra hưởng ánh nắng cách hồ hởi sung sướng và thế nào cũng có nhiều người biết tạ ơn “đất trời” cách nào đó. Ngày 25 tháng 12 có nguồn gốc từ đây và giáo hội đã chọn ngày ấy để kính Sinh Nhật Đấng Cứu Thế vì Người được tôn xung là Mặt Trời Công Chính. Từ dữ kiện này chúng ta suy xét về tâm tình của các tín hữu trong giáo hội Công giáo. Tại những nơi có sinh hoạt tôn giáo bình thường, kiểu sáng lễ, chiều kinh thì hình như người ta ít tỏ lòng biết ơn các thừa tác viên. Trái lại, ở những nơi xa xôi hẻo lánh, dăm bảy tháng mới có một Thánh Lễ thì người ta không chỉ tạ ơn Chúa mà còn tỏ lòng biết ơn linh mục dâng Lễ cách rất nồng hậu.

3.Nhận được những ơn lành mà nhiều người khác cũng được hưởng như mình: Nếu giả như chỉ riêng mình tôi được hít thở khí trời thì chắc chắn tôi sẽ ý thức đó là một ơn lành và rồi biết tỏ lòng tri ân. Thử nhẩm xem có được bao nhiêu người biết tạ ơn Chúa vì được sống qua một ngày? Ngược lại khi chúng ta được chữa lành một bệnh nan y nào đó cách tỏ tường và lạ thường thì dường như không thể không tạ ơn cách này hay cách khác.

Đã xét các nguyên nhân về phía người thụ ân, giờ xin mạo muội nhìn đến phía Đấng ban phát ơn lành. Phải chăng cái thói xấu “vô ơn” của chúng ta cũng có nguyên cớ từ nơi Chúa? Thiên Chúa là Đấng giàu lòng xót thương và ơn lành Người tuôn đổ xuống trên nhân loại chúng ta quá vô biên và hầu như không ngơi nghỉ. Không dám to gan xin Chúa thỉnh thoảng cho trời tối ba ngày ba đêm hay cho bầu khí quyển cô lại vài ba tiếng đồng hồ. Chỉ mong sao chúng ta nhận ra ân tình vô giá trong những biến chuyển bình thường của vũ trụ thiên nhiên và ngay trong những chuyện của đời thường kiếp người.

Một lẽ nữa cần xét đến đó là Thiên Chúa thường giáng phúc thi ân qua các trung gian. Ngoài tấm linh hồn mỗi người là do Thiên Chúa tạo dựng và phú ban trực tiếp cho từng người, thì có thể nói rằng hầu hết mọi sự Thiên Chúa ban cho chúng ta đều qua những trung gian. Đó là những con người, là những loài vật, là các điều kiện thiên nhiên hay xã hội… Những người trung gian gần đó là mẹ cha, ông bà, thầy cô…Và còn có biết bao trung gian xa mà lắm khi chúng ta chưa hề nghĩ tới. Các trung gian đóng vai trò làm cầu nối chuyển thông ơn lành nhưng chính những trung gian ấy nhiều khi lại làm cản trở cho lòng tri ân của chúng ta đến với nguồn của ơn lành.

Đã là người thì chẳng có ai muốn mang tiếng vong ân bạc nghĩa. Xưa lẫn nay và bất cứ xã hội nào, người ta đều lên án kẻ vong ân,“ăn cháo đái bát”. Một vài phân tích để nhận diện rõ các nguyên cớ của sự vong ân quả là cần thiết để chúng ta phần nào tránh được sự bạc nghĩa vong ân đáng trách. Hơn nữa thực tế minh chứng rằng người vong ân thương sử dụng ân ban ít hiệu quả mà nhiều khi lại còn rất lãng phí. Như thế càng tránh sự vong ân thì chúng ta càng biết sử dụng ân ban hữu hiệu, và đúng với ý của người thi ân. Và chắc chắn khi đã sử dụng ân ban đúng với ý người thi ân thì đó là một cách thể tỏ lòng biết ơn tuyệt vời hơn cả.

Cử hành Bí tích Thánh Thể là hiện tại Hy Tế Thập Giá của Chúa Kitô. Bí Tích Thánh Thể còn được gọi là Hy Tế tạ ơn, vì chính trên thập giá là lúc Chúa Kitô sử dụng ơn Chúa Cha ban là thân xác, là sự sống của Người cách đẹp lòng Chúa Cha nhất: đó là dùng chính tấm thân Chúa Cha trao ban để sống đức vâng phục, để mạc khải cho nhân loại thấy chân dung Thiên Chúa Tình Yêu và để cứu sông nhân loại, đưa nhân loại về với phận làm con, được giao hoà với Cha trên trời.

Chúng ta cần phải biết ơn những ai và về những điều gì? Cũng nên tự hỏi xem tôi đang nhận lãnh ơn lành cao quý nào đây? Ai đã ban ơn ấy cho tôi và người ban ơn muốn tôi sử dụng ơn lành ấy như thế nào và vào mục đích gì? Thiết nghĩ rằng khi trả lời được những câu hỏi trên thì chúng ta sẽ tránh được phần nào sự vong ân dù hữu ý hay vô tình nhưng vẫn đáng trách và đáng ghét.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Thuận Hiếu – Ban Mê Thuột

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Cuộc đời hiện tại của nhạc sĩ :
Lê Trạch Lựu
1. Mời thưởng thức giọng ca Sĩ Phú và đọc chuyện tình của nhạc sĩ.

http://cuongde.org/index.php/nhac-vang/ ... -trach-luu

Em tôi - Lê Trạch Lựu

Em tôi ưa đứng nhìn trời xanh xanh.
Mang theo đôi mắt buồn vương giấc mơ.
Vu vơ đắm đuối, vương ngàn áng mây
Bao đêm thầm đếm trên trời đầy sao sáng.
Buồn vương man mác theo lời gió reo lời thơ
Trầm tư se sắt tơ lòng đắm theo đàn khóc
Bao nhiêu nước mắt chôn sầu đắng cho lời thơ,
Giờ này em hát câu chiều mơ.

Bao giờ tôi về gần em. Cùng đếm này trăng này sao kia nhé em,
Trăng sao dâng ý thơ, mây bay khắp trời,
Thuyền tình lung linh trong khói sương lam,
Ngày về xa quá người ơi...

Em mơ tiếng sáo, dập dìu bên trăng
Đêm đêm u tối về đây thắp sao ...
Dư âm tiếng hát vương buồn mắt nhung,
Tôi xin gió biếc ca ngợi mầu suối tóc...
Đừng quên em nhé môi còn thắm duyên còn xanh,
Đàn trăng phô sắc huy hoàng sáng hơn màu nắng.
Cho anh rót thắm đem về nhớ nhung lời thơ,
Đường đời anh muốn em còn mơ.
Image
Lê Trạch Lựu viết về "Em Tôi"
Tháng 05/1948 - Năm 1948 là năm tôi đi trại hè Sầm Sơn, đi với đoàn Hướng Đạo, cùng nhiều đoàn khác, tập trung tại sân ga Hà nội. Tôi thoáng thấy một cô gái xinh xinh, dáng người phong nhã, có đôi mắt đẹp tuyệt vời. Không hiểu sao tôi thấy tôi như choáng váng, má tôi nóng bừng như lên cơn sốt...

lần đầu tiên tôi thấy tôi có cái cảm giác lạ lùng này. Nhà đoàn tôi « đóng trại » to lớn, rộng rãi, đó là những biệt thự nghỉ mát của bọn Pháp thuộc điạ bỏ lại, trước nhà là bãi biển mênh mông, sau nhà có một cái giếng. Trưa nào tôi cũng thấy cô gái ấy, đội nón, dưới nắng trang trang rũ áo, tôi ngồi bên cửa sổ nhìn cô ta. Thỉnh thoảng cô nàng ngửng đầu lên, vành nón che đôi mắt, nhưng tôi biết là cô ta đang nhìn tôi. Thú thật, tim tôi đập thình thình. Chao ơi, yêu đương là như vậy hay sao? Đây là một rung động đầu tiên, nào đâu tôi có biết cảm giác này từ thuở ra đời.

Về Hà nội tôi tìm nhà cô ta, vì có duyên nên tìm được ngay, cô ta ở gần nhà tôi. Bây giờ ta phải tìm biết tên cô ta nữa! Chiều nào tôi cũng đi qua nhà cô ta, để nhìn vào nhà, tìm lại đôi mắt đẹp. Tôi thấy có nhiều cậu trai cỡ bằng tuổi tôi đi qua đi lại trước cửa nhà, như tôi. Lúc đó tôi cũng thấy hơi hơi lo... sợ mất !

Nhưng may cho tôi, hồi ấy có một chú bé đi theo tôi hoài, hỏi ra là chú Mỹ, em cô Phượng. Trời ơi là trời, đất ơi là đất! Chúng tôi đi chơi với nhau. Một hôm, tôi viết một lá thư và mạnh dạn tôi hăng hái ra đi, nhưng chiều hôm đó tôi không thấy cô ta ra đứng ngoài cửa hóng mát. Rồi chiều hôm sau, chiều sau nữa. Thế rồi một chiều nào đó, tôi lại thấy cô ta đứng rũ tóc bên thềm.

Tìm đủ nghị lực, tôi sán gần cô ta, tay đưa lá thư, miệng lắp bắp một câu: « Phượng... Phượng cầm... cầm lấy cho... cho... tôi... tôi... lá thư này... » Rồi xong, tôi cắm đầu đi mất, không dám quay lại, sợ nhìn thấy hoặc cô ta xé lá thư, hoặc quẳng xuống lề đường... tôi sẽ mắc cỡ ...

Để đỡ cho cái nặng nề đó, tôi tìm cách nói khéo với chú Mỹ, chú bằng lòng ngay. Thế là chú thành con chim xanh của tôi. Chiều nào chú cũng để một lá thư lên bàn. Bẩy tháng trời tôi viết đều đều, gần bẩy chục lá thư mà vẫn không thấy trả lời.

Tôi đau khổ quá không biết cô ta có yêu tôi không, tại sao cô ta không trả lời tôi, dù thuận dù không... Lúc bấy giờ tôi mới biết là tình yêu, thế nào là đợi chờ, là có nhiều đau khổ. Héo hon con người.

Thế rồi một hôm chú Mỹ tất tưởi chạy đến nhà tôi, đưa cho tôi một lá thư, hôm đó là một tuần trước ngày kháng chiến toàn quốc, tôi bồi hồi cầm lá thư, ở một góc có đề : Xin TRẠCH LỰU đừng giận KIM PHƯỢNG mà xé lá thư này..., tôi mở ra, đọc từng hàng chữ đều đều, tròn tròn, vuông vắn. Phượng nói yêu tôi từ ngay lúc đầu... nhưng muốn thử lòng tôi để xem tôi có phải là người đứng đắn rồi nói rằng ngày mai Phượng đi tản cư... ở Hà Ðông, cách làng tôi mấy làng... Tôi bàng hoàng như tỉnh một giấc mơ lâu dài chờ đợi từ bao nhiêu giờ, bao nhiêu phút. Thế là hai hôm sau, tôi đi bộ từ Hà nội qua làng tôi tới làng tạm trú của gia đình nàng, chúng tôi đi chơi dọc dòng sông Nhuệ cùng chú Mỹ, mẹ của Phượng, bà cụ nhìn chúng tôi âu yếm từ đằng xa ... đi chơi cùng nhau hết cả buổi chiều, tôi không dám cầm tay Phượng, tôi ân hận tới bây giờ. Tôi trở về thành, thế rồi chiến tranh, ba năm sau tôi sang Pháp. Không rõ Phượng ở đâu, tôi vẫn nhớ Phượng hoài. Một hôm trong trường cái nhớ nó làm tôi điên đầu... trong giờ Etude cuối lớp có anh chàng TRẦN BÍCH LAN NGUYÊN SA đang đọc Socrate hay sao, bên phải gần cửa sổ HOÀNG ANH TUẤN... không biết hắn làm gì, chắc đang làm thơ, tôi cầm cây đàn bấm bấm... hai ngày sau thành bài EM TÔI... cả nhạc lẫn lời. Chủ nhật ra Paris, đường Volontaires, sau bữa cơm trưa, quây quần với nhau, trong đó có Anh Tuấn, Thi Liên, Thoa em gái Nguyên Sa về sau lấy Trần đình Hòa, Bội Liên đã nhận được bài tôi gửi tới trường, hồi đó cô ta có yêu tôi, nhưng tôi tránh vì cô ta con nhà giầu... , Bội Liên dạo nhac trên mấy phím ngà... Nhạc EM TÔI vang lên khắp cả căn phòng, tôi tê tái nghe nhạc tôi, tôi thấy là lạ, chưa quen... vì mỗi lần tôi đã nghe trong tôi hay nghe cây đàn bên tôi nói với tôi, bây giờ những ngón tay ngà chạy qua phím đàn đến với tôi, tôi như ngỡ ngàng đi vào cơn mê...

Thế rồi tôi chép lại nhạc và lời trên trang giấy học trò, trên những giòng như đã kẻ nhạc, tôi gửi tới nhà xuất bản TINH HOA...
Những tháng năm qua...

KHI «EM TÔI» ĐƯỢC NỔI TIẾNG , TÔI KHÔNG ĐƯỢC SỐNG CÙNG VỚI THỜI ĐẠI ĐÓ VÌ TÔI Ở XA , TÔI KHÔNG ĐƯỢC NHÌN NHẬN RÕ RÀNG THẾ NÀO LÀ MỘT BẢN HÁT ĐƯỢC NGƯỜI ĐỜI YÊU CHUỘNG... TRAI HAY GÁI, AI AI CŨNG TƯỞNG LÀ MÌNH CÓ MỘT NGƯỜI YÊU , HAY MÌNH ĐƯỢC YÊU , HAY MÌNH TƯỞNG TƯỢNG CHÍNH MÌNH LÀ CÔ GÁI ẤY , CÒN CẬU TRAI ĐƯỢC YÊU CÔ GÁI DỊU DÀNG, THƠ NGÂY, ÂU YẾM , MƠ MÀNG CHO NÊN AI AI CŨNG HÁT... CŨNG TƯỞNG LÀ MÌNH... CŨNG CẦM LẤY CÂY ĐÀN...

Rồi một hôm tôi tìm ra điạ chỉ của Phượng tôi viết về cho chú Mỹ, Mỹ trả lời tôi:

« Em nhận được thư anh, thế là anh vẫn mạnh, chị Phượng đợi anh trong một năm dài, thấy anh không về, tưởng anh chết, rồi ba năm sau chị Phượng để tang anh. Nhiều người đến hỏi chị, chị chỉ lắc đầu. Chị vẫn đợi anh, nhưng hôm qua chị Phượng đi lấy chồng, chị đã 26 tuổi rồi, ngày ngày thầy me thúc dục. »

Thế là tôi cắt đứt, để Phượng đi lấy chồng cho êm thấm, có bổn phận với chồng với con. Tôi không muốn ám ảnh Phượng nữa để cho nàng yên phận.

Sáu chục năm rồi vẫn nhớ em,
Nhớ ai rũ tóc đứng bên thềm,
Nhớ người giặt áo bên bờ giếng,
Nhớ nhiều, nhớ mãi, mãi không quên...

Sáu chục năm sau, tôi được biết tin một người bạn cùng trường năm xưa, anh Nguyễn Thiệu Giang viết cùng một tờ báo với tôi hồi đó cùng Thanh Nam, tôi có nhờ anh ta đến căn nhà cũ, anh nói Phượng không còn ở đấy nữa. Nhưng có cho tôi số phone, tôi gọi Phượng, đầu giây Phượng trả lời, tôi nói là tôi, cô ta nhắc đi, nhắc lại ba lần, anh LÊ TRẠCH LỰU hả, anh LÊ TRẠCH LỰU hả, như không tin là có thật, khi tôi bảo là tôi thì cô ta òa ra khóc.

Nói chuyện cùng nhau hơn nửa tiếng, sau những lúc ân cần hỏi han. Phượng có nói, anh ấy có theo đuổi Phượng trong bốn năm trời, Phượng bảo Phượng có người, anh ta cứ đeo đẳng, Phượng có nói với anh ấy chuyện Phượng và anh. Anh ta chịu là trong lòng Phượng có một người. Tôi xin thành thật cảm ơn Phượng, tình yêu Phượng cho tôi. những năm đợi chờ, đau khổ. Một lúc sau tôi hỏi Phượng: «Thế Phượng còn giữ mấy lá thư ấy không? » Tôi muốn tìm hiểu văn thời 16 tôi viết ra sao chắc là văn lủng củng lắm. Phượng trả lời tôi:

« Em để vào trong một cái hộp, nó đi theo em tất cả mọi nơi, trong đó có cả tập ảnh chụp hồi đó, nhưng chồng em thấy lúc nào em cũng buồn, nói với em nên giấu nó đi một chỗ, khi nào vui thì hãy mở ra. Thế là ông ta bỏ vào đâu không rõ, mấy năm sau ông ta mất, tìm kiếm khắp nhà không ra. Em chỉ nhớ anh viết dài lắm... viết dài lắm... Hôm nọ em muốn tìm cái hình anh hồi đó, mà không thấy đâu. Tủi thân, em lại ngồi khóc, may rằng con, cháu em bữa đó tụi nó không có nhà...

Tháng mười năm 2009
Nhạc Sĩ Lê Trạch Lựu - Paris 2009

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Kêu gọi cử tri nhìn vào sự kiện để quyết định lá phiếu
Gặp gỡ cựu biệt kích Việt Nam


Ðỗ Dzũng
SANTA ANA, California (NV) - Như muốn lập lại lịch sử cách đây 14 năm, cựu Tổng Thống Bill Clinton xuất hiện tại một buổi tập hợp quần chúng ngay tại trước tòa nhà lịch sử Old Courthouse ở Santa Ana chiều Thứ Sáu trước hơn 1,000 người để ủng hộ Dân Biểu Loretta Sanchez tái tranh cử chức dân biểu liên bang Ðịa Hạt 47 và kêu gọi cử tri hãy nhìn vào sự kiện để quyết định lá phiếu của mình.
Image
Cựu Tổng Thống Bill Clinton cùng Dân Biểu Loretta Sanchez tại cuộc vận động cho bà ở Santa Ana hôm Thứ Sáu.
Bên trái là ông Frank Barbaro, chủ tịch đảng Dân Chủ Orange County. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Ngày 18 tháng 10, 1996, cũng tại địa điểm này, ông Bill Clinton, lúc đó là tổng thống Hoa Kỳ, đã vận động cho bà Sanchez, đảng Dân Chủ.
Lần đó, bà đã thắng người đương nhiệm của đảng Cộng Hòa, Dân Biểu Bob Dornan, và giữ chiếc ghế đại diện vùng trung tâm Orange County này trong 14 năm qua.
Cựu lãnh đạo Hoa Kỳ nói: “Ðừng để bất cứ ai lừa mình. Hãy nhìn vào sự kiện để quyết định lá phiếu vào ngày 2 tháng 11 tới đây. Hãy nhìn sự kiện, hãy nhìn những gì đang diễn ra.”
“Dân Biểu Sanchez là người ủng hộ người lao động và di dân. Nếu muốn có việc làm, quý vị phải bầu cho Loretta Sanchez. Nếu chúng ta muốn bảo đảm con cái chúng có việc làm sau này, phải bầu cho Sanchez,” cựu Tổng Thống Bill Clinton nói tiếp.
Ngay sau buổi lễ, cựu Tổng Thống Bill Clinton đã bước xuống các bậc thềm và thăm hỏi một số cựu biệt kích VNCH có mặt.
“Ngay khi vào Quốc Hội, tôi đã yêu cầu ông ký đạo luật bồi thường tiền cho các cựu biệt kích VNCH. Hôm nay, một số họ có mặt tại đây để cảm ơn ông,” bà Sanchez nói tiếp.
Cựu Tổng Thống Clinton đã nói chuyện, chụp hình và thăm hỏi những cựu biệt kích này trong khoảng 15 phút.
Ông Tống Văn Thái, một cựu biệt kích VNCH từng bị tù Cộng Sản 20 năm, chia sẻ: “Khi tôi còn ở Boston, bà Sanchez có gọi điện thoại nói ủng hộ dự luật bồi thường. Lúc đó chúng tôi khổ lắm, nói không ai tin, họ bảo chết hết rồi, còn ai nữa mà bồi thường. Chúng tôi phải đến tận Bộ Quốc Phòng Mỹ điều trần. Nhờ bà Sanchez mà chúng tôi có quyền lợi.”
Image
Sau buổi vận động, cựu Tổng thống Bill Clinton gặp gỡ một nhóm quân nhân biệt kích Việt Nam Cộng Hòa,
chụp hình và thăm hỏi những cựu biệt kích này trong khoảng 15 phút. Dân biểu Sanchez nói ngay khi vào Quốc Hội bà đã yêu cầu TT Clinton ký luật bồi thường cho biệt kích Việt Nam.
(Hình: Du Miên/VNA-TV)
“Người Việt mình có câu: ‘Ăn quả nhớ kẻ trồng cây’. Vì vậy, hôm nay chúng tôi đến đây để cảm ơn bà Sanchez và ông Clinton đã giúp anh em,” ông Thái nói tiếp.
“Tôi không cần biết Cộng Hòa hay Dân Chủ, cứ giúp cựu chiến binh là được.”
Ðối thủ tranh cử
Trong lúc ông Clinton nói chuyện, có khoảng 20 người cầm bảng và biểu ngữ ủng hộ Dân Biểu Trần Thái Văn, đảng Cộng Hòa, đứng cách đó không xa.
Ông Văn là đối thủ chính của bà Sanchez trong cuộc bầu cử lần này và từng làm việc cho ông Bob Dornan, người bị bà đánh bại 14 năm trước.
Về sự hiện diện của ông Bill Clinton, ông George Andrews, trưởng ban vận động của Dân Biểu Văn, cho rằng họ làm việc hiệu quả đến nỗi Dân Biểu Loretta Sanchez phải đưa cựu lãnh tụ quốc gia tới để vận động cho bà.
Trong một thông cáo báo chí được phát tại chỗ, ông Andrews viết: “Sự chăm chỉ làm việc của chúng tôi để đánh bại Loretta Sanchez cho thấy hiệu quả rất lớn, nhưng bây giờ bà lại cần sự giúp đỡ của những chính trị gia Washington. Cựu Tổng Thống Bill Clinton đến đây hôm nay là để cố gắng tìm kiếm sự ủng hộ cho bà Sanchez.”
Một người cầm bảng cho rằng ông Trần Thái Văn là ứng cử viên sáng giá nhất trong cuộc bầu cử. Bà Linda Barnes, cư dân Mission, nói: “Trần Thái Văn là ứng cử viên tốt nhất vì ông đại diện những giá trị bảo thủ. Chúng ta cần ông để thay đổi Quốc Hội.”
Nhưng bà Christine Nguyễn, cư dân Garden Grove, đại diện Nghiệp Ðoàn Chăm Sóc Người Già Tại Gia, thì lại ủng hộ bà Sanchez vì bà quan tâm đến người cao niên.
Bà nói: “Thấy bà ủng hộ người già, người bệnh, là tôi ủng hộ. Ðây là điều thiết thực nhất, và bà đã ủng hộ người già nhiều năm rồi.”
Trở lại sau 14 năm
Trong lời giới thiệu cựu Tổng Thống Bill Clinton, Dân Biểu Loretta Sanchez nói: “Cách đây 14 năm, ngay tại chỗ này, Tổng Thống Bill Clinton đã giúp tôi dấy lên một cao trào và đắc cử vào Quốc Hội. Ngày hôm nay, ông muốn nhắc nhở rằng chúng ta phải giữ chiếc ghế này của Orange County.”
Bà Sanchez cũng nói rằng Tổng Thống Clinton chính là người đã giúp bà mang hàng triệu đô la về cho Orange County, ký đạo luật cải tổ di trú năm 1997, tạo ra hàng triệu việc làm và, dưới thời ông, kinh tế Hoa Kỳ có thời kỳ thịnh vượng lâu nhất.
Trong suốt bài diễn văn, ông Clinton đưa ra nhiều sự kiện và cho rằng khi ông làm tổng thống, Hoa Kỳ không bị thâm thủng ngân sách. Nhưng khi đảng Cộng Hòa nắm chính quyền trong tám năm ở Tòa Bạch Ốc, nước Mỹ bị nợ thê thảm.
Ông nói: “Khi tôi làm tổng thống, chúng ta trả nợ được $600 tỉ và áp dụng chính sách ‘có bao nhiêu xài bấy nhiêu’. Khi họ (Cộng Hòa) kiểm soát Quốc Hội, họ đã bỏ chính sách này, mở ra hai cuộc chiến và chúng ta nợ chồng chất.”
“Rồi khi đảng Dân Chủ nắm quyền, chúng ta phải đưa ra $787 tỉ để kích thích kinh tế. Số tiền này đâu có thể san bằng hơn $1,000 tỉ tiền nợ. Liệu số tiền này có làm cho thâm thủng ngân sách không? Có một chút. Nhưng dần dần, chúng ta sẽ phục hồi được nền kinh tế, chúng ta sẽ có việc làm,” ông Clinton nói tiếp trong tiếng vỗ tay của mọi người.
Cũng theo cựu Tổng Thống Clinton, trong khi đảng Dân Chủ muốn giảm thuế cho người nghèo và doanh nghiệp nhỏ, đảng Cộng Hòa lại muốn giảm thuế cho tất cả, bao gồm cả những người giàu nhất nước Mỹ.
“Tôi không còn làm tổng thống trong 10 năm qua, nhưng tôi biết một điều. Trong khi chúng ta muốn giảm thuế cho doanh nghiệp nhỏ để tạo ra việc làm thì đảng Cộng Hòa muốn giảm thuế cho những triệu phú,” ông Clinton nói. “Cuộc bầu cử này là về vấn đề họ xài quá mức, chúng ta lên nắm quyền và chấm dứt sự tiêu xài của họ.”
Nhân dịp này, cựu tổng thống Hoa Kỳ cũng nói về đối thủ của bà Loretta Sanchez.
Ông Clinton nói: “Ðối thủ của Loretta Sanchez đã bỏ phiếu chống lại dự luật cấm dùng phân bón độc hại gần khuôn viên trường, chống lại dự luật cấm dùng các hóa chất độc hại trong các đồ chơi của trẻ em, chống lại dự luật cấm dùng các hóa chất độc hại trong các bình sữa, ly uống và các hộp đựng thức ăn, và chống lại dự luật kiểm soát an toàn của các vũ khí có đạn...”
Cựu Tổng Thống Clinton cũng nói rằng đối thủ của bà Loretta Sanchez đã bỏ phiếu cắt giảm $500 triệu ngân quỹ giáo dục cấp tiểu học đến trung học, đòi tư nhân hóa chương trình An Sinh Xã Hội, từ chối nâng cao mức lương tối thiểu cho gia đình lao động, chống lại dự luật bảo vệ người tiêu dùng; và chống lại dự luật cho phép các vị cao niên có lợi tức thấp được hoãn thuế tại Orange County.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Những Cánh Én Giữa Mùa Đông

Phạm Tín An Ninh
Tôi gặp anh trong buổi tiệc họp mặt mừng xuân của Hội Biệt Động Quân Nam Cali. Khi nghe giới thiệu, anh đến tìm tôi. Anh cầm tay hỏi lại tên tôi rồi nức nở với hai hàng nước mắt. Tôi ngạc nhiên, đứng dậy, im lặng xúc động nhìn anh khóc. Anh mặc bộ đồ bay màu đen, cao lớn, bô trai. Hàm râu mép vừa tăng vẻ cương nghị oai phong vừa đượm nét hào hoa lẫn một chút phong trần của những người đã từng một thời đi mấy về gió. Tôi vội vã cố lục lọi trong ký ức, nhưng không thể nhớ anh là ai, và đã từng gặp nhau chưa. Có thể là ngày xưa chúng tôi đã cùng tham dự một cuộc hành quân phối họp nào đó. Lúc ấy tôi là lính bộ binh, tham gia nhiều cuộc hành quân trực thăng vận, hoặc được L-19 bao vùng, Hỏa Long soi sáng hay được cận yểm bởi các oanh tạc cơ, mà chúng tôi xem như những chàng dũng sĩ, cứu tinh trong giờ phút lâm nguy. Tôi có dịp quen biết một số phi công, nhiều nhất là ở các Phi Đoàn trực thăng, nhưng không nhận ra chàng pilot vẫn còn đầy phong độ, đang đứng trước mặt mình.
Khi bớt xúc động, anh đưa tay lau nước mắt và tự giới thiệu:
- Xin lỗi anh, gặp anh tôi xúc động quá, vì nghĩ tới anh tôi. Tôi là em của anh Phạm văn Thặng.
Bây giờ tôi mới hiểu ra. Đúng là tôi chưa gặp anh bao giờ. Sở dĩ anh biết tôi, vì mới đây trong một ký sự về chiến trường xưa, tôi có nhắc lại những trận đánh tại Kontum, và trong đó có kể lại cái chết can trường của người phi công anh hùng Phạm văn Thặng, khi anh đang bay một phi vụ yểm trợ cho chính đơn vị của tôi.
Tôi cảm động, ôm lấy vai anh và mời anh ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh. Chỉ nói chuyện được một lúc, vì cả hội trường đang bừng lên với những bài hùng ca trên sân khấu. Anh cho tôi địa chỉ, số điện thoại và mong được gặp tôi tại nhà anh vào cuối tuần sau. Anh muốn biết tường tận hơn về cái chết của người bào huynh khả kính, cố Trung tá Phạm văn Thặng.
Qua tâm tình, tôi biết anh có một cái tên khá đẹp: Phạm Vương Thục. Trước 75 từng là phi công trực thăng võ trang của một Phi Đoàn kỳ cựu, tiếng tăm Vùng I: Song Chùy - 213. Đọc trên Cánh Thép, tôi còn biết anh từng là Lead Gun (trưởng toán trực thăng võ trang), tham gia trong suốt cuộc Hành Quân Lam Sơn 719. Một trận chiến mà địch quân tập trung hỏa lực phòng không mạnh mẽ nhất từ trước tới nay. Gây thiệt hại không nhỏ cho các đơn vị không quân Hoa Kỳ và Việt Nam tham chiên. Nhờ tài năng, phán đoán nhanh nhẹn cùng với sự bình tĩnh và can trường, anh đã vẫy vùng trên bầu trời trận mạc, bao lần vượt qua cái chết trong đường tơ kẻ tóc để yểm trợ hữu hiệu, cứu nguy cho các lực lượng chiến đấu cũng như cho chính những người bạn trong Phi Đoàn. Có lần phi cơ trúng đạn, anh đã phải đáp khẩn cấp xuống Căn Cứ Hỏa Lực Đồi 30, trong khi Đồi 31 đã bị thất thủ.
Image
Phạm Vương Thục với Tướng STEVE RICHIE , người cựu phi công từng hạ 5 Mig 21 của CSBV
Cuối tuần, trước khi đến anh, tôi báo cho anh biết, là tôi vừa gặp người bạn cùng tù thân thiết, là một sĩ quan Lôi Hổ thuộc Nha Kỷ Thuật, vào năm 1972 đồn trú tại căn cứ B-15 ở Kontum. Và cũng là người trưởng toán, chỉ huy việc lấy di thể của anh Phạm văn Thặng từ chiếc oanh tạc cơ bị bốc cháy bên bờ sông Dakbla ngày ấy. Anh Thục rất vui mừng và mong được gặp người bạn Lôi Hổ này sẽ cùng đến với tôi.

Chúng tôi không mấy khó khăn khi tìm đến nhà anh, dù lúc trời đã tối và đang vần vũ một cơn mưa. Chưa kịp bấm chuông là anh đã mở cửa, vui mừng mời chúng tôi vào. Ngôi nhà khá đẹp, bày biện trang nhã. Điều làm chúng tôi bất ngờ cảm động là ở một góc của tầng trên là bàn thờ trang trọng với tấm ảnh chân dung lớn của cố Trung Tá Phạm văn Thặng, một số bạn bè không quân của anh đã hy sinh, năm vị tướng và một số sĩ quan khác đã tuẫn tiết vào giờ thứ 25 cuộc chiến. Chúng tôi đứng nghiêm trước các bức chân dung, lòng ngâm ngùi thương tiếc, cùng cảm kích tấm lòng của anh, người phi công dũng cảm hào hoa vẫn luôn giữ trọn tình với quê hương, chiến hữu.

Chị Thục từ dưới bếp chạy lên vui vẻ chào chúng tôi. Đúng là vợ phi công. Chị rất hiếu khách, bặt thiệp. Sau đó, khi nhìn trên bàn thờ gia đình, thấy tấm ảnh chân dung của Đại tá Trịnh Tiếu, tôi mới biết chị Thục là em gái của vị Trưởng Phòng Nhì Quân Đoàn mà tôi đã vài lần được gặp ở Kontum. Sau 75, Ông từng bị tù đày, tra tấn hành hạ nhiều năm, sức khỏe hao gầy, bệnh hoạn, nên vừa mới qua đời tại hải ngoại. Tấm ảnh của ông mới nhất trong số các bức ảnh chân dung khác trên bàn thờ. Anh Thục kể lại chuyện hai người tình cờ quen nhau, khi anh chỉ huy một phi đội vào Quảng Ngãi tham gia hành quân với Sư Đoàn 2BB. Buổi chiều, trước khi bay về Căn Cứ Phi Đoàn ở Đà Nẳng, anh được BTL/SĐ chuyển lại lời yêu cầu của Đại Tá Trịnh Tiếu (khi ấy là Trung Tá). Thục đã nhận lời chở quan tài của thân sinh đại tá Tiếu từ Quảng Ngãi ra Hội An an táng, và trong “phi vụ” đặc biệt này anh đã quen và làm xiêu lòng cô em gái xinh đẹp của ông, tháp tùng trên chuyến bay.

Trong bàn ăn, chúng tôi kể lại những chuyện vui buồn trong thời lính chiến ngày xưa. Anh Thục cho biết anh được tin máy bay anh Phạm văn Thặng lâm nạn tại Kontum vào lúc 5.30 giờ chiều ngày 26.5.72. Ngay sáng hôm sau Sư Đoàn 1 KQ cho một phi cơ A37 đưa anh từ Đà Nẵng vào phi trường Pleiku. Phi công của chiếc A37 này lại là người em cột chèo của anh, Thiếu Tá Trịnh Đức Tự (sau này đã anh dũng hy sinh tại chiến trường Quế Sơn). Nhưng khi đến Pleiku, anh được cho biết tình hình ở Kontum rất nặng nề, chưa thể tìm được anh Thặng nhưng sự sống sót rất mong manh, không còn chút hy vọng nào. Thục đã bay trở lại Đà Nẵng trong ngày. Đến tối, anh được BTL/KQ cho biết là thi thể anh Thặng đã được đưa về Tử Sĩ Đường ở Tân Sơn Nhất. Khi anh cùng người anh cả vào nhận xác, thấy đầu anh Thặng không còn, nên quyết định cho tẩm liệm ngay, không muốn cho gia đình biết thêm điều đau đớn này Anh đã tột cùng xúc động khi quá thương tiếc người anh khả kính đã từng có với mình cả một trời kỷ niệm tuổi thơ, đặc biệt khi còn ở miền Bắc. Anh Thặng là người con thứ sáu và anh Thục là người con thứ tám của gia đình. Năm Thục vừa tròn 12 tuổi và anh Thặng 16, đã cùng gia đình di cư vào Nam, sống và lớn lên ở thành phố Huế. Không chỉ là anh em, hai người còn là đôi bạn thân thiết, cùng theo học trường Pellerin nổi tiếng do sự giúp đỡ tận tình của các Linh mục và Sư huynh, trước khi chia tay vào quân ngũ. Vài ngày trước khi hy sinh, như là điềm báo trước, anh Thặng gọi điện thoại về Đà Nẵng thăm anh và hỏi han khá nhiều về mọi người trong gia đình.

Tôi kể lại hành động can trường của anh Thặng mà tôi đã được chứng kiến từ khi anh lên vùng cho đến lúc hy sinh, và người bạn tù Lôi Hổ của tôi kể lại việc lấy xác của anh sau khi lâm nạn. Anh Thục ngồi nghe và khóc sụt sùi. Trước khi chia tay, anh xin địa chỉ e-mail của bạn tôi, bảo sẽ báo tin này cho cô con gái lớn của anh Thặng, hiện định cư ở Đức để cháu cám ơn người đã giúp lấy xác ba cháu. Hai ngày sau, người bạn chuyển cho tôi bức điện thư với lời lẽ rất lễ phép, cảm động dễ thương của cháu Phạm Hồng Phương, con gái lớn của anh Thặng.

Vào tối ngày 29.4, được thư mời của anh Thục, chúng tôi đến nhà hàng Paracell tham dự một Chương Trình Tưởng Niệm do cá nhân anh phối họp với người bạn thân, chiến hữu Đặng Thành Long, một cựu SQ Hải Quân, tổ chức. Anh đón chúng tôi trước cửa Nhà Hàng, nơi có bàn thờ nhiều vị Tướng Lãnh và Sĩ Quan VNCH đã hy sinh tại chiến trường hay tuẫn tiết trước giờ mất nước. Buổi Tưởng Niệm được tổ chức thật chu đáo, và nhiều ý nghĩa, trong không khí tôn nghiêm và cảm động. Tất cả tiền thu được dành hổ trợ những người đấu tranh trong nước đang bị tù đày khốn khổ. Cũng trong đêm nay, tôi được hân hạnh gặp bác sĩ Ngô Thế Khanh, một cựu y sĩ Không Quân tại Pleiku, một người lúc nào cũng trọn tấm lòng với anh em. Cái tình chiến hữu anh đã dành cho làm tôi cảm động. Tôi cũng được gặp một số các anh phi công khác. Tất cả đều có một thời oanh liệt, ngang dọc trên bầu trời quê hương và hào hùng trên đầu quân địch. Đêm nay cũng có người phi công mà tên anh có lẽ người cựu lính nào cũng biết. Bởi những bài ký sự chiến trường, mà ai đọc qua cũng phải ngưỡng mộ anh, không những cảm phục về tài bay bổng mà còn có một trí nhớ thật phi thường. Người hùng Vĩnh Hiếu, Lead gun của Phi Đoàn Thần Tượng 215. Phi Đoàn mà đơn vị tôi có nhiều gắn bó nhất, lúc còn hoạt động ở khu vực Sông Mao, và khi ấy người anh cả cuối cùng của Phi Đoàn, Trung Tá Khưu văn Phát còn là Đại úy Trưởng Phòng Hành Quân. Đêm nay, đã trải qua 35 năm dâu bể, nhưng Vĩnh Hiếu vẫn rất trẻ trung, với đôi mắt sáng, hàm râu mép hào hoa, nụ cười rạng rỡ, với những cái bắt tay thật chặt ân tình và những chuyện chiến trường, chuyện đồng đội sôi nổi dường như không muốn dứt. Như vậy đó, mà anh đã từng là một phi công trực thăng võ trang gan dạ hào hùng trên khắp chiến trường Vùng 2 khói lửa năm nào. Ngồi nói chuyện với anh, tôi thầm nghĩ, nếu bây giờ trở lại chiến trường, Thần Tượng Vĩnh Hiếu này cũng vẫn là một Lead Gun hào hùng(và hào hoa) như thuở trước.

Qua anh Thục, hôm sau tôi liên lạc được một người bạn phi công anh hùng khác. Người mà tôi đã từng chứng kiến và ngưỡng mộ về tài năng và sự can đảm phi thường. Thiếu Tá Hàn văn Trung. Năm 1973, khi ấy Hàn văn Trung còn mang cấp bậc Đại Úy, giữ chức vụ Trưởng Phòng Hành Quân của Phi Đoàn 235 Sơn Dương ở Pleiku.

Hôm ấy, tôi nhận lệnh Đại Tá Bùi Hữu Khiêm, TMT Sư Đoàn 23BB, cùng bay trên chiếc C&C của Phi Đoàn 235, để bốc khẩn cấp số thương binh, trong đó có Thiếu Tá Cang, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 2/44 ra khỏi căn cứ Võ Định. Căn Cứ nằm phía Bắc Kontum khoảng 15 cây số, bên cạnh QL 14 trên đường đi Dakto, trên ngọn núi trọc, với một cao điểm có khả năng chế ngự các vùng chung quanh. Đặc biệt, ngay phía dưới là con sông Dak La. Bên kia sông trở về hướng Bắc là vùng địch chiếm từ cuối tháng 4/72, sau khi BTL/ SĐ 22BB tại Tân Cảnh bị tràn ngập và vị Tư Lệnh đã lẫm liệt hy sinh, vùi thân nơi chiến địa. Căn cứ này đã trải qua nhiều trận chiến, bao lần bỏ đi rồi chiếm lại, nên bây giờ chỉ còn là một ngọn đồi xám xịt, hoang tàn loang lổ dấu đạn bom.

Thiếu Tá Nguyễn Hữu Cang, tốt nghiệp khóa 17 Võ Bị Đà Lạt, nguyên là Sĩ Quan Nhảy Dù. Trong một cuộc hành quân trực thăng vận tại Đông Hà, anh bị thương nặng ở chân phải. Xụất viện, với một thanh sắt vĩnh viễn nằm trong cái chân khập khiễng, được lệnh thuyên chuyển ra khỏi Nhảy Dù về BTL/Quân Đoàn II, giữ một chức vụ tại Trung Tâm Hành Quân. Chỉ một thời gian ngắn, anh khẩn khoản xin ra đơn vị tác chiến, mặc dù Phòng Tổng Quản Trị từ chối vì tình trạng sức khỏe của anh. Anh tiếp tục xin vị Tư Lệnh, và cuối cùng được toại nguyện, bổ nhiệm về nắm Tiểu Đoàn 2/44, mà vị Trung Đoàn Trưởng trẻ tuổi thao lược, lại là người bạn cùng khóa: Trung Tá Ngô văn Xuân.

Đầu năm 1973, vài ngày trước khi có Hiệp Định Paris (Ngưng Bắn Da Beo), Tổng Thống Thiệu ra lệnh các đơn vị cố gắng mở rộng tối đa vùng kiểm soát, đặc biệt chiếm lấy những vị trí quan trọng để cấm ngọn cờ chủ quyền. Tiểu Đoàn 2/44 nhận lệnh phải chiếm bằng được căn cứ Võ Định, cao điểm trọng yếu tận cùng phía Bắc Kontum.

Với sự yểm trợ hỏa lực mạnh mẽ, hữu hiệu của Không Quân và Pháo Binh, Tiểu Đoàn 2/44 của Thiếu Tá Cang được trực thăng vận bất ngờ xuống ngay vùng địch, đánh một trận khá đẹp, nhanh chóng tiêu diệt lực lượng địch án ngữ phía dưới và dễ dàng chiếm lĩnh căn cứ trên ngọn đồi Võ Định. BCH Tiểu Đoàn, Đại Đội CHYT và một Đại Đại Đội tác chiến trách nhiệm phòng thủ căn cứ. Các Đại Đội còn lại bung ra hoạt động các vùng lân cận. Một toán Công Binh được thả xuống ngay sau đó để tu sửa lại hệ thống phòng thủ, nhất là vị trí dành cho một trung đội pháo binh 105 ly sẽ được thả xuống nay mai. Ngày N+1 tình hình hoàn toàn yên tĩnh, nhưng sáng sớm hôm sau, pháo địch từ bên kia sông thi nhau ập xuống. Địch đã có sẵn các yếu tố tác xạ và sử dụng tối đa các loại pháo, liên tục và chính xác. Những công sự phòng thủ chưa kịp tu bổ xong đã bị phá hủy. Thiếu tá Cang và một số sĩ quan và binh sĩ bị thương, kể cả anh Sĩ Quan trưởng toán Công Binh.

Ngày hôm sau, tình hình trở lại yên tĩnh trong không khí căn thẳng nặng nề. Sau khi Sao Mai 09, (phi cơ quan sát L-19) hướng dẫn hai phi tuần đánh bom vào các điểm nghi ngờ vị trí đặt pháo của địch, hai chiêc trực thăng tản thương, được yểm trợ bởi các gunships, đáp xuống căn cứ để bốc thương binh. Riêng Thiếu Tá Cang tình nguyện ở lại cùng đơn vị. Nhưng khi chiếc thứ nhất vừa đáp, hằng loạt pháo địch lại thi nhau rót xuống. May mắn chỉ có người co-pilot bị thương nhẹ, nhưng máy bay bị trúng đạn, không cất cánh được. Chiếc thứ nhì quyết không bỏ đồng đội, đáp xuống bốc phi hành đoàn trong tiếng nổ và khói lửa mù trời của pháo địch.

Sau khi nghiên cứu kỹ tình hình, BTL Sư Đoàn quyết định rời bỏ căn cứ Võ Định để tránh tổn thất do trận địa pháo của địch. Tiểu Đoàn 2/44 rút về Căn Cứ Eo Gió, nằm phía Nam Võ Định khoảng bốn cây số. Nhưng phải giải quyết số thương vong và anh Tiểu Đoàn Trưởng không thể di chuyển theo đoàn quân bộ chiến được. Tôi được vị Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn giao cho trách nhiệm tháp tùng trên chiếc C&C của Phi Đoàn 235 thi hành nhiệm vụ khá gay go nhưng rất khẩn cấp này.

Đến bãi đáp B15, tôi gặp người chị huy hợp đoàn trực thăng hôm ấy. Rất vui mừng khi gặp lại Đại Úy Hàn văn Trung, Trưởng Phòng Hành Quân Phi Đoàn 235. Tôi đã từng bay đổ quân với anh vài lần, thích bản tính vui vẻ và thầm thán phục về khả năng chỉ huy và bay bổng của anh. Sau khi nghe tôi trình bày tình hình và mục tiêu, cũng như lời dăn dò của vị TMT /SĐ, Đại Úy Trung gọi các phi công lại để bàn kế hoạch. Tôi lên chiêc C&C do Trung điều khiển, cất cánh trước cùng với hai trực thăng võ trang. Sau một vòng bay để quan sát kỹ lưỡng địa thế, anh Trung bay vòng lại và gọi tất cả phi cơ còn lại lên vùng. Tôi thấy anh cho một số phi cơ bay tản ra nhằm đánh lạc hướng địch, để hai trực thăng khác bất ngờ đáp xuống căn cứ. Nhưng không tránh được sự quan sát của địch. Chiếc trực thăng vừa can đảm xuống thấp và lấy hướng an toàn bay vào, thì pháo địch đã nổ ngay trên bãi đáp. Đại Úy Trung cùng hai trực thăng võ trang liền xuống thấp yểm trợ, và cùng lúc ra lệnh cho chiếc trực thăng này bay ra theo hướng an toàn nhất, chiếc thứ hai bay từ hướng khác tìm cách bất ngờ xuống bãi đáp. Nhưng pháo địch tiếp tục ập xuống. Nhìn chiếc trực thăng bay lên từ trong một vùng khói lửa, chúng tôi ai cũng căng thẳng, hồi họp lo âu. Đại úy Trung ra lệnh cho cả hợp đoàn bay về Kontum lấy xăng.

Sau gần một giờ nghỉ ngơi và nghiên cứu một kế hoạch khác, Đại úy Trung gọi các phi công lại, thảo luận kế hoạch và phân chia nhiệm vụ. Lần này anh sẽ đích thân lái chiếc C&C đáp xuống bốc thương binh. Dường như Trung vừa mới quyết định một điều bất thường, ngoại lệ, nên tất cả mọi người đều tròn mắt nhìn anh ái ngại. Anh nổ máy, đích thân điều khiển phi cơ. Anh bay thật thấp dọc theo con suối chảy dài phía bên trái quốc lộ 14, trong khi hai gunships bay hai bên và tác xạ trước vào các điểm nghi ngờ. Hơp đoàn còn lại bay theo phía sau xa. Anh bay thấp đến nỗi các hàng lau sậy nằm rạp xuống ngay dưới bụng máy bay, nước dưới suối bắn tung lên. Đã từng rất nhiều lần ngồi trên trực thăng, nhưng chưa bao giờ tôi bị “bay” rất nhanh với một độ thấp như thế. Mấy lần tôi suýt thét lên, khi chợt thấy phía trước là một cây cao hay một tảng đá, nhưng anh đã tài tình lách qua tránh khỏi. Tôi có cảm tưởng chiếc trực thăng như là một món đồ chơi nhỏ bé trong tay anh.

Con suối khá dài, dẫn tới triền đồi Võ Định. Anh Trung tiếp tục bay sát theo ngọn đồi. Tôi có cảm giác như chiếc trực thăng đang bò lên căn cứ. Địch quân không hề hay biết. Nhưng khi anh bất ngờ đáp xuống, bụi mù bốc lên, địch mới phát hiện và pháo bắt đầu nổ. Cát, sạn, và có thể có cả mảnh đạn nữa, bay rào rào vào thân và kiếng phi cơ. Nắm chặt khẩu M-18, tôi chưa biết xử trí thế nào, thì thấy anh Trung bảo người co-pilot giữ cần lái, rồi mở cửa máy bay nhảy xuống. Tôi nhảy theo anh, chạy về hướng hầm chỉ huy đốc thúc, phụ lực khiêng và dìu thương binh ra phi cơ. Thương binh khá đông, có tới trên 10 người. Thiếu Tá Cang nhìn chúng tôi lo lắng, nhưng đại úy Trung rất bình tĩnh ra dấu cho tất cả lên máy bay. Đạn pháo vẫn tiếp tục rót xuống, một vài thương binh lại bị thêm ít mảnh đạn. Trung là người cuối cùng bước lên tàu khi anh co-pilot điều khiển cho phi cơ quay đầu lại và bay nhanh xuống đồi.

Đáp xuống bãi đáp B-15. nhìn thấy trên thân và kiếng phi cơ lỗ chỗ nhiều vết đạn, Thiếu Tá Cang và tôi đã ôm chầm lấy Trung và người co-pilot. Giọt nước mắt biết ơn và cảm phục đã lăn xuống gò má của tất cả những người lính bộ binh vừa được Trung và phi hành đoàn bốc ra từ cõi chết.
Trở về Trung Tâm Hành Quân Sư Đoàn ở căn cứ B-12, tôi gặp hai ông Đại tá Tư Lệnh Phó và TMT Sư Đoàn. Kể lại phi vụ đặc biệt của Phi Đoàn 235, tôi hết lời ngợi ca và xin đề nghị tưởng thưởng cho đại úy Trung một Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, và các anh còn lại của phi hành đoàn mỗi người một ngôi sao vàng. Hai ông đại tá hứa sẽ làm theo đề nghị của tôi( Nhưng không biết sau này kết quả ra sao). Một vị Trung tá KQ ngồi cạnh anh Sĩ Quan Không Trợ, mà khi vừa mới bước vào tôi không để ý, quay sang nhìn tôi cười:

- Tay Trung này thì có tài và liều lĩnh lắm, nhưng cũng là một tay coi trời bằng vung. Nó đùa giỡn với chiếc máy bay như là một món đồ chơi. Thích biểu diễn kiểu nào là nó làm ngay, và dù có bị “ký củ” hơi nhiều, vẫn cứ cười tỉnh bơ. Vì vậy nên có thừa tài năng và can đảm, nắm Trưởng Phòng Hành Quân mà vẫn chưa mang Thiếu tá được!

Tôi không còn nhớ rõ là đó là Trung Tá Quang hay Trung Tá Vĩnh Quốc. Nhưng tất cả mọi người trong TTHQ đều cười và thán phục. Sau này Thiếu Tá Cang nhận Trung là người anh em kết nghĩa. Sau một cuộc hành quân trở về, hai chàng lại gặp nhau, bù khú ngay trong căn cứ dã chiến của Tiểu Đoàn. Mùa hè 2010, gặp lại anh Cang trong Buổi Họp Mặt Khóa 17 VBĐL tôi báo cho anh biết là tôi vừa nói chuyện với Hàn Văn Trung trong điện thoại. Mắt anh Cang sáng lên. Mừng như sắp được gặp lại người tri kỹ.

Trong cuộc chiến Việt Nam, những chàng pilot nổi tiếng hào hoa ở thành phố. Là thần tượng của các cô con gái đẹp. Nhưng có lẽ ít ai biết rằng, những chàng trai trẻ ấy lại là những chiến sĩ rất hào hùng trên khắp các chiến trường. Bao phen xem cái chết tựa lông hồng. Địch quân khiếp sợ. Không có chiến tích nào mà thiếu sự tham dự của các chàng trai hào hoa ấy. Với những người lính bộ binh như chúng tôi, các Bạn luôn là những cứu tinh, là niềm hy vọng khi đơn vị bị lâm nguy, hay gặp khó khăn trên con đường tiến quân vào vùng địch. Các Bạn cũng là ân nhân của bao nhiêu thương binh và gia đình tử sĩ. Không có sự can trường, sẵn sàng chấp nhận hiểm nguy của các Bạn, có biết bao chiến binh đã phãi vĩnh viễn nằm lại tại chiến trường, ở một vùng núi rừng lạnh lùng vô danh nào đó. Tôi đã từng theo dõi những phi vụ tản thương của Phi Đoàn 243 Mãnh Sư, từ căn cứ Phù Cát đã phải bay lên Cao Nguyên trong những đêm khuya gió mưa tầm tã. Có chiếc lạc vào những đám sương mù dày đặc, và rớt trên đỉnh núi cùng với số thương binh của chính đơn vị tôi vừa mới được bốc lên. Tôi đã đứng nghiêm trong TTHQ để đưa tay chào vĩnh biệt!

Các Bạn đúng là những cánh én đã từng mang lại bao mùa Xuân cho đồng đội, cho quê nhà. Những cánh én ấy, giờ đây, dù đã phải trải qua bao thăng trầm nghiệt ngã, dù tan tác chia lìa khắp muôn phương, nhưng vẫn luôn khát khao vẫy vùng trên bầu trời xưa cũ. Tiếc rằng, chúng ta đã phải trải qua một mùa Đông quá dài. Dài hơn cả đoạn đời đẹp đẽ nhất, khi các Bạn còn bay bổng trong bầu trời xanh, trong lửa đạn, mà vẫn vui đùa trước lằn ranh sống-chết nhiều khi còn mỏng hơn sợi tóc.
Mãi mãi các Bạn vẫn là những cánh én hào hùng. Cho dù những cánh én ấy đang phải ẩn mình để chờ đợi một mùa Xuân.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Gắn bó hữu cơ nào giữa một bài thơ của Xuân Diệu và tiếng hát Duy Trác?

Du Tử Lê
1.

“Tôi là con chim nhỏ
Một hôm đến giữa cuộc đời
Hót chơi dăm ba tiếng
Mặt đất
Nếu đầy đá sỏi
Tiếng hót tôi xin làm những hạt mầm
Mong cây xanh mọc trên sỏi đá
Nếu sớm mai nào
Em gặp những nụ hồng trong vườn bất chợt
Ðấy là chút quà bé mọn
Tôi mang tặng mọi người
Tôi là con chim nhỏ
Ðến giữa cuộc đời
Hót chơi.
……

Ðừng kiếm tìm nếu hôm nào em không gặp
Ðừng kiếm tìm và đừng thắc mắc
Tôi đã bay đi
Những nụ hồng để lại
Nếu còn nhớ đến cánh chim
Xin em hãy chăm chỉ vun trồng chút quà bé mọn
Và khi vui vẻ
Hãy kể chuyện cho mọi người nghe
Rằng: “Ngày xưa.
... xa lắm ... lâu rồi...
Có một con chim nhỏ
Ðến giữa cuộc đời hót chơi...”

(Lời giã từ, thơ Ðỗ Trung Quân)



Tôi không nhớ tôi đã nghe bao lần cái “intro” vốn là một bài thơ của Ðỗ Trung Quân, mở đầu đĩa nhạc “Giã Từ” tiếng hát (Khuất) Duy Trác, được đọc bởi chính giọng của họ Khuất. (1)

Tôi cũng không hiểu tại sao tôi không thể bước vào phần nhạc của tiếng hát này, nếu không nghe tới nghe lui nhiều lần, phần dẫn nhập đó.
Image
Gắn bó hữu cơ nào giữa một bài thơ của Xuân Diệu và tiếng hát Duy Trác?


Tôi không nghĩ giọng đọc ấm áp mang đầy tính thong dong, tự tại của ông cho tôi cảm tưởng đấy là lời xin lỗi dịu dàng dành cho riêng tôi (một trong những người yêu mến tiếng hát Duy Trác), khiến tôi cảm động.

Tôi cũng không nghĩ đa số những ca khúc ông chọn để làm thành “giã từ” hầu hết là những ca khúc mà tôi từng nghe/sống cùng. Như những “chứng nhân” hay những ngọn nến mà, sáp và tim bấc là những kỷ niệm bất hoại của đời sống tình cảm tôi gập ghềnh trải dài hơn nửa thế kỷ. Ðấy là những ca khúc như “Mắt Buồn” tức “Một Mùa Ðông,” thơ Lưu Trọng Lư, nhạc Phạm Ðình Chương, “Ðừng Lừa Dối Nhau” của Y Vân, “Tơ Sầu” của Lâm Tuyền, “Biệt Ly” của Dzoãn Mẫn, “Cô Láng Giềng” của Hoàng Quý...

Có dễ vì càng nghe, tôi càng thêm thấm thía lời nhắn nhủ: “Ðừng kiếm tìm nếu hôm nào em không gặp/Ðừng kiếm tìm và đừng thắc mắc/Tôi đã bay đi/Những nụ hồng để lại...”

Có dễ vì càng nghe, tôi càng ngậm ngùi với lời nhắn: “Nếu còn nhớ đến cánh chim/Xin em hãy chăm chỉ vun trồng chút quà bé mọn/Và khi vui vẻ/Hãy kể chuyện cho mọi người nghe/Rằng: “Ngày xưa... xa lắm... lâu rồi.../ Có một con chim nhỏ/Ðến giữa cuộc đời hót chơi...”

Phải chăng, vì thế, càng nghe, tôi càng thêm thấy “xa lắm...,” “lâu rồi...,” “ngày xưa...”

Phải chăng, vì thế, càng nghe tôi càng thấy rõ, sẽ không bao giờ tôi (chúng ta) còn gặp/nghe được tiếng hót của của con chim nhỏ đến giữa cuộc đời hót chơi...

Mặc dù họ Khuất vẫn còn đó. Nếu muốn, tôi (chúng ta) vẫn có thể gặp ông.

Nhưng cách gì thì gặp gỡ đó, cũng vẫn là gặp gỡ một con người, chứ không phải gặp gỡ một tiếng hát.

Và, tôi không biết, có phải vì con người là con vật có trí nhớ ngắn, nên tôi cũng không biết mỗi đi xa, mỗi biến mất khỏi địa cầu này của những tài năng, những trí tuệ sẽ được đám đông tưởng nhớ bao lâu?!!

Nhưng có hề chi! Cũng chẳng quan trọng gì với một con người, một nhân cách như Khuất Duy Trác.

Mỗi lần nghe tiếng của ông trong phần dẫn nhập trước khi bước vào đĩa nhạc “Giã Từ,” tôi luôn nhớ tới bài thơ vào tập “Gửi Hương Cho Gió” của Xuân Diệu, xuất bản cách đây trên 60 năm.

Hiển nhiên Ðỗ Trung Quân mượn ý của với Xuân Diệu khi viết: “Tôi là con chim nhỏ/đến giữa cuộc đời/hót chơi dăm ba tiếng”... để viết bài “Lời Giã Từ” dành riêng cho tiếng hát Duy Trác. Nhưng tôi vẫn thấy trường hợp Duy Trác gần thơ Xuân Diệu hơn. Nhất là với những nhấn mạnh mang tính khẳng định như “ngứa cổ hát chơi.” Hay “Kêu tự nhiên, nào biết tại sao kêu” trong nguyên bản.

Với riêng tôi, họ Khuất không hề là con “chim nhỏ.” Trí tuệ và tài năng của ông, như đôi cánh lớn, có khả năng đo đạc nhiều tầng không gian cao, rộng.

Xin quý vị cùng tôi đọc chậm hai khổ đầu thơ Xuân Diệu:

“Tôi là con chim đến từ núi lạ/Ngứa cổ hát chơi/Khi gió sớm vào reo um khóm lá/Khi trăng khuya lên ủ mộng xanh trời/Chim ngậm suối đậu trên cành bịn rịn/Kêu tự nhiên, nào biết bởi sao ca/Tiếng to nhỏ chẳng xui chùm trái chín/khúc huy hoàng không giúp nở bông hoa...” (2)

Tôi biết, trong lãnh vực trình diễn ca khúc, chúng ta có nhiều ca sĩ nổi tiếng. Tiếng hát của họ được rất nhiều người yêu thích. Nhưng khi hát, khi ra bộ, khi tác điệu... họ vẫn nhớ mình là ai!

Duy Trác thì không. Ông ở trường hợp khác. Trường hợp ngược lại. Tôi muốn nói tới sự gạn sạch hay biến mất mọi cá tính, mọi dấu vết một nhân thân.

Mỗi lần nghe Duy Trác hát, tôi thường có cảm nhận, lúc trình bày một tình khúc, Duy Trác không gửi trong tiếng hát mình một lý lịch trích ngang nào. Ông hát dễ dàng, thanh thản như thể ông đang thở. Ðang trò chuyện với khoảng không trước mặt.

Sự kiện Duy Trác hát như thở, như trò chuyện với khoảng không trước mặt, theo tôi, chính là tính “ngứa cổ,” là “kêu tự nhiên, nào biết bởi sao ca” mà Xuân Diệu đã viết xuống trong thơ của mình.

Phải chăng, cũng vì thế mà có khá nhiều ca khúc, dù ông là người đầu tiên được nhạc sĩ nhờ chuyển tải tới thính giả, như những ca khúc “Áo Lụa Hà Ðông,” thơ Nguyên Sa, nhạc Ngô Thụy Miên, “Mắt Biếc” nhạc và lời Ngô Thụy Miên - Hoặc đó là những ca khúc trước ông đã có người hát, như “Mắt Buồn,” thơ Lưu Trọng Lư, nhạc Phạm Ðình Chương,” “Biệt Ly” của Dzoãn Mẫn, “Ðừng Lừa Dối Nhau” của Y Vân, “Dạ Khúc” của Nguyễn Mỹ Ca, “Tơ Sầu” của Lâm Tuyền, “Cô Láng Giềng” của Hoàng Quý, “Ðường Về Miền Bắc” của Ðoàn Chuẩn, “Hương Xưa” của Cung Tiến, “Em Tôi” của Lê Trạch Lựu v.v... Thì những người hát sau ông, thường khiến người nghe nhớ tới tiếng hát của ông. Mặc dù, tôi lập lại: “Duy Trác hát như thở, như đang trò chuyện với khoảng không trước mặt. Không lưu một chút dấu vết nhân thân...”


2.

Vẫn là thơ Xuân Diệu, bài kể trên, ở những đoạn kế tiếp:

“Hát vô ích thế mà chim vỡ cổ/Héo tim xanh cho quá độ tài tình/Ca ánh sáng bao lần dây máu đỏ/Rồi một ngày sa rụng giữa bình minh./ Tôi réo rắt chẳng qua trời bắt vậy/Chiếc thuyền lòng, nước đẩy phải trôi theo/Gió đã thổi, cho nên buồm phải dậy/Hồn vu vơ, tội ấy ở mây đèo./ Nghiệp tài tử nghìn xưa đông lắm chắc/Chúng tôi hùn làm một kiếp đa duyên...”

Cảm thức riêng tôi cho thấy dường như có một tương tác hữu cơ nào đó, giữa thơ Xuân Diệu viết từ đầu thập niên 1940 và, tiếng hát Duy Trác, hai mươi năm sau (đầu thập niên 1960.)

Giữa lúc họ Khuất đang “...réo rắt chẳng qua trời bắt vậy/chiếc thuyền lòng, nước đẩy phải trôi theo” thì tai trời ách nước sập xuống nửa phần đất tự do còn lại của tổ quốc. Thảm kịch 30 tháng 4, 1975. Kịch bản này đã đóng lên trán Khuất Duy Trác (cũng như gần triệu người khác,) con dấu “ngụy quân ngụy quyền.” Cái giá họ Khuất phải trả cho kịch bản “hoành tráng” này là 11 năm tù cải tạo.

Mãi tới năm 1992, ra khỏi nước, tiếng hát hay cánh chim lớn có khả năng đo đạc rộng lớn đất, trời kia, mới có lại cho nó “nghiệp tài tử ngày xưa đông lắm chắc/chúng tôi hùn làm một kiếp đa duyên.”

Tiếc thay, chỉ ba năm sau, năm 1995, họ Khuất chọn rút lui khỏi tiền trường.

Chọn lựa ấy, không phải nghệ sĩ nào cũng làm được. Nhất là giữa khi đang trên đà nhận đón vinh quang.

Tóm lại, tôi muốn nói, nếu Xuân Diệu sinh ra để được/bị nhận nghiệp thi ca thì, Khuất Duy Trác sinh ra để được/bị nhận nghiệp ca hát... Họ có chung một mẫu số. Tôi muốn gọi đó là mẫu số “trời bắt vậy.” Mẫu số của “bao lần dây máu đỏ.” Mẫu số của “nghiệp tài tử.” Và, từ hai chân trời, hai thế hệ đủ xa cách để làm thành xa lạ, vậy mà họ đã “hùn” nhau... “làm một kiếp đa duyên.”

Khác nhau chăng, Xuân Diệu để “chiếc thuyền lòng, nước đẩy phải trôi theo.” Trong khi Duy Trác thì ngược lại. Ông dứt khoát “giã từ.”


3.

Năm 1995, giải thích về quyết định “giã từ” cuộc chơi hay, sự chấm dứt gửi tặng nhân gian món quà “bé mọn” theo cách nói khiêm tốn của ông, trong một trả lời phỏng vấn của nhạc sĩ Thanh Trang trên đài phát thanh VOVN ở Houston, Texas, họ Khuất nói:

“...Vâng thì dĩ nhiên đời sống thay đổi, hoàn cảnh sống thay đổi thì âm nhạc phải thay đổi, cái tình yêu nó cũng phải thay đổi, cái cách bày tỏ tình yêu nó cũng phải thay đổi. Vậy kết luận về âm nhạc tiền chiến mà anh thích thì tôi cũng đồng ý thôi, bởi vì đó là sự dịu dàng, đó là thơ, ngay cả thơ nói về hạnh phúc hay nói về sự bất hạnh chứ nó không phải là một chất rượu nó không phải là lừa, nó không phải là sự nồng nàn như là âm nhạc bây giờ... thì dĩ nhiên là khi những bài nhạc tiền chiến ngày xưa chúng mình nghe, rồi mình hát, mình thích bởi vì nó cũng đính kèm theo một chuỗi những cái kỷ niệm, kỷ niệm là chính. Bây giờ thì tuổi trẻ họ đã có đời sống khác, họ có những kỷ niệm khác, và họ thích bày tỏ tình yêu khác, cách yêu đương nó khác, do đó tôi nghĩ rằng là hát tình ca cũng phải khác đi.

“Thế thành ra bây giờ có cái điều mà bây giờ tôi mới dịp nói ra là cái lúc mà tôi ngưng hát đó, thì tôi bị vướng vào một sự lúng túng một sự luẩn quẩn là nhạc tiền chiến, đối với riêng cá nhân tôi, tôi thấy nó không còn thích hợp nữa, bởi đời sống nó đã thay đổi quá nhiều rồi, mà nhạc mới của các anh em trẻ ở đây, những người trẻ ở đây thì tôi chưa thấm được, nên tôi không biết hát cái gì, không biết hát cái gì thành thử tôi phải thôi.”

Du Tử Lê
(Thứ Năm, 22 tháng 9, 2010: “Triết lý sống với tuổi già của Khuất Duy Trác.”)

Chú thích:
(1) Trung Tâm Diễm Xưa thực hiện và phát hành tại Hoa Kỳ, 1995.
(2) Xuân Diệu là một trong những nhà thơ lớn của thời kỳ thơ Tiền Chiến. Ông sinh ngày 2 tháng 2 năm 1916 ở Bình Ðịnh, mất ngày 18 tháng 12, 1985 tại Hà Nội. Tác phẩm “Gửi Hương Cho Gió” là thi phẩm thứ hai của ông, xuất bản năm 1945.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

CHUYỆN MỘT NGƯỜI BẠN HỌC

Phạm Tín An Ninh


Trước khi vào đệ tam Võ Tánh, hai thằng cùng học một lớp bên trường Văn Hóa. Năm đệ ngũ, niên học khai giảng hơn hai tuần thì cô Hương, giám thị, dẫn một người vào lớp. Mới đầu, từ cô Tùng Linh, giáo sư hướng dẫn, đến học trò, không ai nghĩ là anh ta sẽ là học sinh vào lớp đệ ngũ này. Người cao lớn, vạm vỡ, đẹp trai, mái tóc bồng bềnh, mặc một cái áo sơ mi sọc đậm, ngắn tay, xăn cao, quần sans-pli bó ống với cái nịt to bản và đôi giày da bóng đi kêu lộp cộp. Lại còn cái kính đen dắt trên dây nịt nữa chứ. Một cuốn tập cuốn tròn trong túi sau.

Cả lớp tròn mắt ngạc nhiên khi nghe cô Hương, giới thiệu anh ta là học trò mới, từ xa đến.
Cái tên nghe cũng lạ: Lâm Ni.
(Sau này mới biết anh ta gốc Tàu Chợ Lớn, cha Tàu mẹ Việt. Gia đình giàu có. Cha anh làm chủ một công ty xuất nhập cảng. Vì không kiểm soát được anh, nên gởi anh ra Nha Trang ở với ông cậu, là chỉ huy phó quân trường Đồng Đế. Ba má anh tin tưởng ông cậu nhà binh này sẽ đưa thằng con cưng của mình đi vào nề nếp. Cùng với không khí mát mẻ, hiền hòa của thành phố biển này sẽ làm nó hiền lành ngoan ngoãn hơn).

Cô Tùng Linh chỉ cho Lâm Ni vào ngồi chung bàn với tôi ở phía sau. Anh chào tôi bằng cái rờ đầu rất kẻ cả. Tuần đầu anh im lặng, ít nói chuyện với ai. Mà có lẽ cũng chẳng có ai muốn làm quen với anh ta, ngoại trừ Trần Bá Hòa, người vui tính mà nghịch ngợm nhất lớp. Nhưng chỉ một tuần lễ sau là không khí cả lớp thay đổi hẳn. Mấy nàng nữ sinh ngồi phía trước liên tục bị bắn giây thun từ phía sau lưng, thi nhau quay ra phía bàn tôi chửi rủa. Có lần cô Linh đang viết trên bảng đen bị lạc đạn, cả lớp phải nín thở. Một lần khi thầy Nguyễn Đức Nhơn đang gọi điểm danh, thình lình cả lớp như chợ vỡ, khi mấy người đẹp phát hiện một đám chuột con đỏ hỏn nằm dưới hộc bàn. Ai cũng biết tôi là thằng gốc nhà quê, hiền lành. Nhưng vì ngồi chung bàn với Lâm Ni nên "có chửi cùng chia, có cười cùng hưởng". Nói vậy chứ chưa có bà chị nào quay xuống bàn tôi để nở nửa nụ cười, mà chỉ toàn là những cái liếc sắc như dao, và tiếng rủa lùng bùng trong miệng chưa kịp phát ra thành tiếng. Tôi bực mình anh ta nhưng không dám phản ứng.

Có lần tôi nhìn anh ta tỏ ra bực dọc, tôi liền bị một cái cú đầu. Dưới mắt anh, lúc nào tôi cũng là thằng nhóc con. Nghĩ thân phận nhược tiểu nên tôi đành im lặng chịu đựng bên cạnh một đại cường. Nhưng tới một ngày, chiến tranh cũng phải bùng nổ, khi anh ta mượn rồi làm mất luôn cuốn vở "kiểu mẫu" (mà sau khi ở trường về tôi phải ngồi hằng giờ cặm cụii viết lại, uốn nắn từng chữ bằng nhiều thứ màu mực), tôi đã ném vào người anh tất cả mấy cuốn sách mà tôi có trong tay, giữa đám học trò trong lớp. Kỳ lạ, lần này anh lại cười hiền khô, ôm tôi và bảo "xin lỗi toa nghe! " Đã thế ngày hôm sau anh còn mang cho tôi một bịch mấy trái thanh long. Từ hôm đó hai thằng xích lại gần nhau hơn một chút.

Cả trường biết anh, và có lẽ chẳng có ai ưa anh - tôi đoán thế - vì anh chạy một chiếc xe gắn máy hiệu Gobel màu đen mới toanh, trên bình xăng có vẽ hình con ó xòe đôi cánh, cái ghi-đông thật dài, ống pô được tháo bỏ phần hãm thanh nên nổ inh ỏi. Nghe nói tối nào anh cũng đi học võ ở võ đường của thầy Trọng Đãi. Có lần chính anh kể với đám tụi tôi, anh vào Judo Club để học lấy đai đen thì lại gặp thầy Trần Thanh Lý, dạy toán, cũng đang học trong đó, anh bèn rút lui. Khi ấy thầy Lý còn trẻ, nhưng anh nể thầy lắm. Mặc dù thầy Lý chưa hề phạt anh, bởi trong tất cả các môn học, môn toán và anh văn là anh giỏi nhất. Có lần thầy Lý còn gọi đùa anh là Lâm Bưu. Lúc ấy nhiều thằng trong đám tụi tôi chưa biết Lâm Bưu là gã trời đất nào, cũng cười theo. Nghe Lâm Ni kể là ông già của anh ta có cái mũi rất thính trong thương trường. Ông tin chắc là Mỹ thế nào cũng đổ quân vào Việt nam, nên mướn thầy dạy kèm anh văn cho con mình từ năm Lâm Ni mới vào đệ thất. Còn toán là nhờ cái thông minh và lanh lợi mà trời đã ban cho anh ta để bù vào mấy cái tật khác.

Lâu lâu, bọn tôi nghe Trần Bá Hòa thông báo là Lâm Ni hẹn đấu "pạc-co" với băng Lò Heo, băng thằng Điền, hay băng thằng Liên nào đó ở Xóm Mới. Mấy lần đám tụi tôi cũng tò mò theo Trần Bá Hòa đi xem, mới biết Lâm Ni võ nghệ cao cường mà còn có tinh thần võ sĩ đạo kiểu Nhật Bản nữa. Lúc nào cũng nhường cho đối thủ tấn công trước, và khi đối thủ ngã xuống, anh không thèm tấn công, mà còn đỡ đứng dậy. Trong khi những tay này đã từng chơi xấu anh sát ván bao lần trước.

Anh ở nhà ông cậu ruột, một biệt thự trên đường Yersin, nhưng bạn bè thường thấy anh chở đào chạy vòng vòng ngoài đường Duy Tân, bờ biển. Có khi còn thấy chiếc xe Gobel của anh dựng cả ngày trước Bar Thu Thủy ở đường HoàngTử Cảnh.

Sang năm đệ tứ, không hiểu là vì mọi người đã quá quen cảnh cũ người xưa, hay là chính anh ta thay đổi, tự dưng "lòng chợt từ bi bất ngờ ", không thèm phá phách nữa, nên một số bắt đầu làm thân với anh. Mấy bà chằng lúc trươc bây giờ cũng có nàng đã cười nửa miệng với anh ta. Tôi bây giờ lại là thằng thân nhất với Lâm Ni. Những ngày nghỉ cuối tuần hay ngày lễ, anh đến nhà trọ chở tôi lên Phú Vinh, thăm khu vườn nuôi gà của anh Khanh, trưởng lớp. Khi ấy anh Khanh đã có vợ hai con. Có lần anh ta còn dám lấy xe jeep của ông cậu tới chở bọn tôi đi lên Thành thăm cô bạn Tuyết Phượng ở bên kia cầu Phú Lộc, nhưng mới đến Mã Vòng bị quân cảnh chặn lại hỏi giấy. Cả đám phải vào ngồi trong đồn để chờ ông cậu của Lâm Ni cho người đến nhận xe và nhận người luôn.

Có lẽ tôi có duyên nợ gì với Lâm Ni. Ngày thi trung học đệ nhất cấp, vì tên cùng vần N, nên tôi lại bị xếp ngồi bên cạnh anh ta. Tí nữa thì tôi khốn khổ. Môn toán và anh văn, không cấn nháp nhiết, anh ta làm một cái vèo, nộp bài ra trước nhất. Nhưng mấy môn khác, tôi làm chưa xong, thì anh thò tay qua chộp. Chút nữa là ông giám thị bắt được, tôi hú vía. Kỳ thi ấy cả hai thằng đều đậu.

Từ hôm ấy, anh ta càng thân với tôi hơn. Cứ vài ngày là chạy xe lại nhà tôi, chở tôi đi xuống quán số 1 duới bờ biển ăn bò bảy món, đi Cầu Đá ăn phở gà trước khi tôi về quê nghỉ hè.

Quê tôi ở ngoài Vạn Giã, vào Nha Trang tôi ở trọ nhà ông chú, một hiệu buôn, trước ở đường Độc Lâp, bên rạp ci-né Moderne của ông Bác Ái, sau chuyển về đầu đường QL 1 trước Ty Thông Tin. Chú thím tôi hơi nghiêm khắc, nên không muốn bạn bè tôi lui tới nhiều. Hơn nữa ông bà chỉ có một đứa con gái rượu, xinh gái, gọi tôi bằng anh nhưng lớn hơn tôi hai tuổi và học trên tôi một lớp, bên trường Lê Quí Đôn, nên ông bà cũng muốn "kín cổng cao tường" một chút. Lần đầu tiên Lâm Ni tới tìm tôi, ông bà nhìn anh ta từ trên xuống dưới, rồi bảo là tôi không có ở nhà. Thực ra lúc ấy tôi đang ngồi phía trong phòng khách. Thấy Lâm Ni tới tôi định chạy ra, nhưng nghe ông bà bảo vậy tôi im luôn. Sau này tôi dặn Lâm Ni cứ dựng cái xe gắn máy phía trước ngồi chờ, thấy chiếc xe là tôi chạy ra.

Về quê nghỉ hè chưa tròn một tháng, thì chú tôi nhắn ba tôi đưa tôi vào Nha Trang gặp ông có chuyện gấp. Vào đến nơi, vừa bước vào nhà tôi mới tá hỏa. Ông chú hò hét chửi tôi một trận xối xả, rồi bảo ba tôi tìm một chỗ khác cho tôi ở sau mùa hè.

Không biết tài tán gái thế nào mà chưa đầy một tháng Lâm Ni đã cua được cô con gái cưng của ông chú tôi, mà tôi chẳng hề hay biết. Tôi bực anh ta nhưng cũng phục anh ta sát đất. Mà cũng xui cho anh - phải nói xui cho chính tôi mới đúng- Ông chú tôi là dân Nha Trang chính hiệu nhưng chưa hề biết nước biển Nha Trang ngọt mặn ra sao. Tôi nghĩ có lẽ cái lý do chính là ông không muốn cho bất cứ ai nhìn thấy cái bụng phệ hơi quá khổ của ông. Vậy mà hôm đó, có mấy ngưới bạn từ Sài-Gòn ra bàn chuyện làm ăn. Nể tình, ông mới chiều khách đưa họ đi biển tắm. Bất ngờ khi bước vào Quán số 3 bên bờ biển thì ông thấymột cặp tình nhân đang ôm nhau say đắm. Ông giận đến không biết mình đang ăn món gì trong miệng khi khám phá đôi tình nhân kia là cô con gái cưng của ông và thằng bạn trời đánh của tôi, cháu ông.

Tôi mất mẹ từ nhỏ, nên Ba tôi cưng lắm, chưa hề la tôi một tiếng. Vậy mà hôm đó ông la tôi một trận. Câu cách ngôn "gần mực thì đen gần đèn thì sáng" hồi xửa hồi xưa, cũ như trái đất, được ông đem ra giảng tới giảng lui mấy lần, măc dù tôi cố gắng hết sức để bào chữa cho Lâm Ni; nào anh ta là con nhà giàu và tử tế, bên ngoài như thế chứ học hành giỏi, nào là hiền lành và tốt bụng lắm. Nhưng tôi đành đứng chịu trận khi ông chú tôi lỡ nóng dại mồm dám xác nhận ngay trước mặt bà thím là chính ông ta gặp Lâm Ni mấy lần trong Bar Thu Thủy, và dưới Grand Hôtel. Tôi nghĩ tối hôm đó chắc ông cũng mệt với bà. Nói thì nói vậy, chứ gì thì ông chú cũng nể ông già tôi, và cũng cần tôi để làm cho ông mấy bài toán cộng trừ, tính lời lỗ mỗi ngày, nên sau khi ông hết giận, rồi đâu cũng vào đó.

Bị chửi quá nên tôi cũng giận Lâm Ni, định bụng sau hè vào phải dũa cho chàng ta một trận và nhất định nghỉ chơi với anh ta để vào Võ Tánh yên ổn mà lo học hành.

Ngày nhập học, khi đang ngơ ngác tìm lớp, thì có người vỗ vai. Quay lại, thì đúng là Lâm Ni. Anh ta vào Tam B còn tôi vào Tam C. Gặp lại trong giờ ra chơi, tôi kéo Lâm Ni ra ngoài, thụi vào bụng mấy cái, kể lại chuyện tôi bị ông chú đuổi. Anh ta không thèm an ủi tôi một tiếng mà còn bảo tôi lên nhà ông cậu ở với anh ta. Thực ra chàng ta cũng là một thằng tốt bụng, nhưng tôi nghĩ thầm nếu tiếp tục quen với Lâm Ni sẽ còn gặp phiền phức nữa, nên kể từ hôm ấy tôi lánh mặt anh ta.

Vào Võ Tánh, dường như Lâm Ni cũng thay đổi nhiều. Mặc đồng phục và cắt tóc tai đàng hoàng. Nhưng bây giờ đi học bằng chiếc Vespa mới toanh. Chắc là phần thưởng thi đậu của ông già. Lâu lâu tôi thấy anh đứng ngoài cửa sổ lớp Tam C của tôi trêu ghẹo mấy người đẹp ngồi trong lớp.

Cái lớp Tam C của tôi sao hiền lành quá. Chắc là thiên hạ chuẩn bị để làm người lớn, hay là các bà chị trong lớp vừa đẹp vừa hiền như ma soeur, nên không còn tên nào muốn làm ma quỷ nữa. Ba năm ở Võ Tánh trôi qua rất êm đềm, như mặt nước hồ thu, không còn lại trong tôi điều đặc biệt nào đáng nhớ.

Ngày nhập học lớp Đệ Nhất, tôi có ý tìm nhưng không thấy bóng dáng của Lâm Ni. Tôi nghĩ chắc chàng ta rớt tú tài 1, nên sang trường khác học lại. Sau đó, tôi nghe mấy người học cùng lớp với Lâm Ni bảo là anh ta đậu tú tài 1 kỳ hai, nhưng đã theo ông cậu thuyên chuyển đi nơi khác. Tôi thoáng một chút bùi ngùi, khi nghĩ là chẳng bao giờ còn gặp lại anh ta.

Ba năm sau tôi vào quân trường Thủ Đức. Ra trường được chuyển ra một đơn vị tác chiến lưu động ở Ban Mê Thuột, (mà lính tụi tôi thường gọi là xứ Buồn Muôn Thuở, hay là Bụi Mù Trời) làm trung đội trưởng.

Trong một cuộc hành quân phối hợp, tiếp viện cho một chi đoàn thiết quân vận bị phục kích tại Quãng Nhiêu, sau khi giải tỏa tình hình, tiểu đoàn tôi rút về, trung đội tôi được lệnh ở lại tăng phái cho một đại đội Biệt Động Quân. Thấy tôi có vẻ lo âu khi trung đội phải ở lại một mình giữa chiến trường khói lửa chưa tan, ông tiểu đoàn trưởng bảo:
- Chú mày yên chí, Đại đội BĐQ này khá lắm, thằng đại đội trưởng này đánh đấm có tiếng trong binh chủng mũ nâu đó.

Khi dắt trung đội hơn hai chục thằng lính, nửa kinh nửa thượng, đến trình diện đại đội BĐQ, tôi sửng sốt khi nhận ra ông đại đội trưởng chính là Lâm Ni. Tôi đứng nghiêm đưa tay chào:
- Tôi đem trung đội tới trình diện trung úy.

Lâm Ni nhận ra tôi ngay. Anh ta hét lên:
- Có phải mày là thằng Ninh không.? Đ.m. trung úy cái con c.., tao là Lâm Ni đây, mày không nhận ra sao? Rồi anh ta ôm tôi quay mấy vòng.

Giải tỏa tình hình xong, trung đội của tôi tiếp tục được đặt dưới quyền của Lâm Ni, nhận lệnh ở lại tìm kiếm một số chiến binh thất lạc và giữ an ninh cho quân cụ lên kéo mấy chiếc M113 bị bắn cháy và hư hại về Ban Mê Thuột. Tối hôm ấy Lâm Ni giữ trung đội tôi đóng quân chung với ban chỉ huy đại đội của anh. Một điều chưa từng xảy ra cho một đơn vị tăng phái. Hai đứa uống hết bi đông rượu đế, nhắc lại bao nhiêu kỷ niệm vui buồn thời còn đi học. Anh nhớ từng tên thầy cô giáo và bạn bè lúc trước. Anh ân hận đã phá phách nghịch ngợm làm buồn lòng thầy, bạn. Anh bảo tôi, ngay sau khi rời Võ Tánh là anh đi lính ngay. Anh thích đời quân ngũ và hy vọng nó sẽ làm thay đổi cuộc sống của một thằng nhà giàu vô tích sự như anh. Khi biết anh chọn BĐQ, cha mẹ anh giận và buồn lắm, nhờ ông cậu, bây giờ làm lớn trong Bộ TTM, rút anh về, nhưng anh nhất quyết chối từ. Trước khi đi ngủ, anh ta còn hỏi tôi:
- Con nhỏ em mày, con gái ông chú của mày ở Nha Trang đó, bây giờ theo thằng cốt đột nào rồi? rồi cười ha hả.

Hai hôm sau chúng tôi có lệnh di chuyển vị trí, và phải bung rộng ra phòng thủ. Lâm Ni cho trung đội tôi xuống đóng trong một cái đồn bên chân cây cầu sắt (của một đơn vị địa phương quân bỏ lại) để giữ cây cầu khỏi bị phá hoại trước khi quân cụ lên kéo hết mấy chiếc thiết giáp bị hư. Cây cầu cách ngọn đồi, nơi đặt ban chỉ huy của Lâm Ni khoảng hai cây số.

Gần hai giờ sáng, trung đội tôi bất ngờ bị tấn công. Địch áp dụng chiến thuật cổ điển tiền pháo hậu xung. Sau mấy loạt 82 ly, chúng ào ạt tấn công. Trung đội tôi có vài người bị thương sau đợt pháo kích đầu tiên, nhưng tất cả đều chống trả mãnh liệt. Tôi chỉ kịp cầm ống liên hợp máy PRC 25 báo cáo với Lâm Ni là đơn vị tôi bị tấn công mạnh, cần ngay pháo binh và một lực lượng tiếp ứng, đánh từ phía sau lưng địch. Lâm Ni bảo tôi cứ bình tĩnh yên tâm chiến đấu, anh ta sẽ gọi pháo binh và gởi ngay một bộ phận tiếp ứng. Không ngờ lực lượng địch khá đông. Chúng tôi bắn ngã tên này thì tên khác lại xông lên. Chúng đã dùng bêta phá mấy lớp rào bên ngoài rồi hô xung phong. Pháo binh ta cũng bắt đầu rót xuống bên ngoài. Lúc này tôi chiến đấu hoàn toàn như một khinh binh. Quả lựu đạn cuối cùng tôi vừa mới ném ra, cũng là lúc một vài tên địch đã xâm nhập vào phía bên trong hàng rào phòng thủ. Khi đạn đã cạn, chúng tôi chuẩn bị đánh cận chiến, thì nghe được tiếng súng bạn khắp nơi bên ngoài và tiếng hò hét: Biệt Động sát ! Địch vội vàng tháo chạy, hai tên đặc công vào bên trong bị chúng tôi bắt sống. Tạm thời kiểm tra đơn vị: 3 chết, 7 bị thương. Chưa kịp gọi máy báo cáo, thì toán biệt động quân đầu tiên vào bên trong, võng theo một thương binh. Nghe một sĩ quan BĐQ gọi máy xin trực thăng tản thương khẩn cấp vì "đại bàng bị thương nặng", tôi giật mình chạy đến chiếc võng: Lâm Ni mặt đầy máu và thở rất nhẹ. Tôi lay anh ta:
- Lâm Ni ơi, có làm sao không ? Ninh đây.

Dưới ánh đèn pin yếu ớt, gương mặt anh ta xanh xao, mở hé mắt nhìn tôi. Đôi môi rung động như muốn nói với tôi điều gì. Tôi đưa tay sờ lên môi anh, như là tôi đã hiểu những gì anh muốn nói.

Vị thiếu úy BĐQ vỗ vai tôi:
- Đúng ra đâu có phải nhiệm vụ của trung úy, tôi bảo ông nên ở lại, vì chúng tôi chỉ đi có một trung đội và toán thám báo, nhưng ông đã lệnh cho ông đại đội phó ở lại và ông trực tiếp dẫn đầu toán thám báo chạy bay tới đây, xông ngay vào sau lưng địch mà đánh. Tội nghiệp chỉ có ông bị thương.

Trực thăng tản thương tới, tôi bế Lâm Ni lên, nắm chặt tay anh trước khi máy bay cất cánh. Tôi bùi ngùi lo lắng khi biết là anh đã vì tôi mà bị thương, cầu nguyện cho anh qua khỏi hiểm nghèo.

Lần ấy anh còn sống, nhưng phải nằm điều trị ở QYV hết 4 tháng, còn để lại mấy vết sẹo trên cổ, và vì bị thương ở thanh quản, nên giọng nói của anh bị khàn đi. Sau đó đơn vị của anh có lệnh chuyển lên Pleime, Pleiku. Tôi có liên lạc thăm anh vài lần trên hệ thống vô tuyến.

Bẵng đi một thời gian, đầu mùa hè 72, đơn vị tôi đang hành quân ở mật khu Lê hồng Phong, Phan Thiết, thì có lệnh về phi trường Sông Mao để được không vận toàn bộ lên Kontum. Chiến trường đang tới hồi quyết liệt. Trong một lần chuyển quân hoán đổi vị trí phía bắc Kontum tôi bất ngờ gặp lại Lâm Ni. Lúc này anh đã mang lon Thiếu tá và nắm một tiểu đoàn BĐQ. Hai thằng chỉ kịp ôm nhau chửi thề vài câu. Chưa kịp nói lời chia tay, thì mỗi thằng đã mỗi ngả.

Cuối năm 1972, khi hiệp định Paris vừa ký xong, địch quân chưa trở cờ. Hai bên tạm thời hưu chiến kiểu da beo. Các đơn vị tham chiến được chuyển về các vị trí dưỡng quân. Tiểu Đoàn của Lâm Ni được về Hàm Rồng. Đơn vị tôi thì về Đồi Đức Mẹ, Pleiku.

Đêm tiểu đoàn Lâm Ni làm lễ tái xuất quân tại Hàm Rồng được tổ chức rất hùng tráng. Lâm Ni có mời tôi đến dự. Buổi tiệc ra quân kết thúc bằng một chương trình văn nghệ khá đặc sắc, do biệt đoàn văn nghệ trung ương từ Sài Gòn ra, phối hợp với các toán văn nghệ tâm lý chiến QĐ II đảm trách. Tôi ngồi hàng ghế đầu với Lâm Ni. Khi có một nữ ca sĩ từ Pleiku lên hát bài Chiều Trên Phá Tam Giang, Lâm Ni rất cảm động. Cô tên Giáng Vân, có khuôn mặt khá xinh, phảng phất buồn, và giọng hát trầm ấm thiết tha. Bài hát vừa chấm dứt, Lâm Ni bước lên nắm tay cô cám ơn và bất ngờ cởi tặng cô chiếc đồng hồ Longine mới toanh mà anh vừa mới mua từ Sài Gòn, khi được bảy ngày phép về thăm cha mẹ anh.

Đêm đó tôi ở lại với Lâm Ni. Anh kể là cha mẹ anh cứ năn nỉ anh đổi về Sài Gòn. Ông bà sẽ lo cho anh về BTL Cảnh Sát hoặc bất cứ nơi nào ở Sài Gòn, anh muốn. Ông bà cũng đưa anh đến thăm gia đình một người Tàu, có cô con gái làm chủ một nhà hàng, mà ông bà định hỏi cưới cho Anh. Ông bà nôn nóng có đứa cháu đích tôn nối dõi. Nhưng anh chỉ im lặng. Rồi khi bị hỏi quá, anh hứa cho Anh ba năm nữa. Anh bảo tôi, đời lính sống nay chết mai, vợ con làm gì cho vướng chân vướng cẳng.

Đầu năm 73, trong trận tái chiếm căn cứ Charlie, tôi bị thương nặng, phải nằm điều trị hơn hai tháng ở QYV Pleiku. May mà chưa bị cưa mất chân phải. Lâm Ni có ghé lại thăm tôi một lần vội vã, khi có dịp về Pleiku họp hành quân. Khi chia tay, anh rút từ túi quần sau ra một xấp tiền đưa cho tôi:
- Tiền ba tháng lương của tao, mày cầm lấy mà gởi cho vợ con mày. Mày đông con. Tao độc thân, suốt cả năm sống ở trong rừng, lỡ có chết, tiền không ai xài uổng lắm.
- Tôi từ chối, nhưng Anh nhét xấp tiền vào dưới chiếc gối tôi nằm.

Sau đó tôi được theo học một khóa tham mưu tại Long Bình. Mãn khóa, được điều về Phòng hành Quân QĐ II. Lâm Ni thì vẫn nay đây mai đó, nhưng chúng tôi vẫn thường liên lạc hỏi thăm tin tức nhau trên hệ thống vô tuyến. Một lần khi bay bao vùng, biết anh vừa lên trung tá, tôi đáp xuống thăm, và mang mừng anh ta chai Hennessy, loại rượu anh thích nhất. Anh bảo, BCH/BĐQ dự định đưa anh ra nắm một Liên Đoàn ngoài vùng 1 thay cho anh Liên Đoàn trưởng vừa tử trận, nhưng tình hình ở đây đang nguy ngập, nên anh chưa rời đơn vị được.

Tháng 3/75, ngay sau khi Ban Mê Thuột mất, tôi may mắn đuợc theo BTL Tiền Phương. Nói là Tiền Phương nhưng lại đóng ở Nha Trang và một đôi khi ở Khánh Dương.

Có lệnh bỏ Kontum và Pleiku. Tiểu Đoàn BĐQ của Lâm Ni là một trong những đơn vị được chỉ định đi đầu, mở đường cho đoàn quân di tản từ Pleiku xuống Tuy Hòa theo tỉnh Lộ 7. Một kế hoạch triệt thoái tồi tệ nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, kéo theo sự sụp đổ cả miền Nam.

Tôi được chỉ định làm trưởng toán, dùng một hợp đoàn trực thăng bay đi liên lạc và hướng dẫn những toán quân thất lạc trong rừng. Ngày N+3, trong lúc chiến trường ác liệt và tồi tệ nhất, tôi may mắn liên lạc được Lâm Ni trên tần số không lục. Tôi tìm mấy bãi đáp tương đối an toàn, giục Lâm Ni đến đó để tôi bốc. Nhưng anh ta từ chối, bảo là mặc dù tiểu đoàn của anh bị tan tác, quân số chỉ còn gần một trung đội, nhưng anh không thể bỏ anh em vào lúc này.

Không ngờ đó cũng là lần cuối cùng tôi nghe giọng nói của Lâm Ni. Năm 1977, trong một trại cải tù ở Sơn La, tôi gặp lại một sĩ quan của Lâm Ni lúc trước. Anh ta là sĩ quan duy nhất trong đơn vị còn sống sót. Anh cho biết là khi bị địch vây và kêu buông súng đầu hàng, Lâm Ni đã bắn tới viên đạn cuối cùng. Anh tự sát bằng một quả lựu đạn loại tấn công, và đã chết chung với một đám địch quân định vây bắt anh.

Mùa hè năm ngoái, tôi có cô con gái út lấy chồng bên London. Cả nhà tôi sang đó dự tiệc cưới do nhà trai khoản đãi. Sau đám cưới, vợ chồng cô con gái đi Thái Lan hưởng tuần trăng mật. Chúng tôi muốn ở lại London ít hôm để xem vài thắng cảnh và đến thăm gia đình một người bạn học cũ của bà xã tôi ở thành phố Birmingham, cách London chừng ba giờ lái xe. Cậu rể nhờ một người bạn chí thân, một bác sĩ trẻ khá bảnh trai, và cũng là phụ rể trong đám cưới, làm tài xế và hướng dẫn viên cho chúng tôi. Hơn nữa nhà cậu ta cũng ở Birmingham.

Ngày cuối cùng, trước khi rời khỏi Birmingham, cậu ta mời chúng tôi ghé lại nhà để dùng một bữa cơm với gia đình. Nói là gia đình, nhưng thực ra chỉ có hai mẹ con thôi. Cậu bảo thế.

Trới nóng như lửa đốt, lại biết chúng tôi đang đói, cậu ta gọi cell- phone về nhà bảo bà mẹ chuẩn bị thức ăn sẵn. Về đến nhà, cậu ta vội vã đi lấy khăn, hường dẫn chúng tôi vào phòng tắm rửa mặt, rồi chạy vào bếp phụ mẹ. Vào phòng ăn, khi chúng tôi kéo ghế ra chưa kịp ngồi thì bà mẹ bưng thức ăn ra vui vẻ chào, và xin lỗi vì bận tay nên không ra cổng đón được. Thấy người đàn bà này có nét giống một người nào đó mà tôi đã gặp, tôi cố gắng lục lọi ký ức, nhưng vẫn không nhớ ra.

Khi cơm nuớc xong, bà mời chúng tôi lên phòng khách uống nước và ăn tráng miệng. Nhìn một tấm ảnh phóng lớn treo trên vách. Lại là một người lính. Tôi tò mò bước lại xem và sững sờ khi người trong ảnh chính là Lâm Ni.

Sau một lúc hàn huyên, tôi mới nhận ra người đàn bà này chính là cô ca sĩ tâm lý chiến có tên Giáng Vân, trong đêm làm lễ tái xuất quân của đơn vị Lâm-Ni trên Hàm Rồng lúc trước. Một cô ca sĩ tâm lý chiến, mà ngày xưa nhiều kẻ đánh giá chẳng ra gì, chết chồng từ thuở mới 20, có nhan sắc, trải qua bao nhiêu khốn khổ, vậy mà không hề bước thêm một bước nào, ở vậy nuôi con học hành thành đạt, đức hạnh nên người. Điều bất ngờ hơn, cậu thanh niên dễ thương, tốt bụng, đón đưa chúng tôi mấy ngày hôm nay, cũng là người bạn chí thân của thằng rể chúng tôi, lại là giọt máu duy nhất của Lâm Ni còn lại trên thế gian này.

Tôi có hỏi về ông bà nội cháu, Giáng Vân cho biết là sau khi chạy từ Pleiku về, cô phải nằm bệnh viện cho đến mấy tháng sau ngày miền Nam thất thủ, nên đã phải sinh non, may mà mẹ tròn con vuông. Khi sanh cháu xong, chị có đi hỏi thăm cha mẹ Lâm Ni, nhưng đuợc mấy người láng giềng cho biết là ông bà đã đi về Trung quốc.

Tôi bùi ngùi nghĩ tới Lâm Ni, người bạn học có nhiều duyên nợ với tôi, đã gây cho tôi một vài phiền muộn, nhưng cũng đã để lại trong tôi biết bao điều xúc động. Không hiểu, ở một nơi xa xăm nào đó, anh có biết là tôi đã bất ngờ gặp lại vợ con anh. Cũng có thể chính anh đã linh thiêng đưa tôi đến đây. Một nơi xa lạ, ngàn trùng cách biệt với quê hương, với Nha Trang. Nơi mà một thời, anh đã có biết bao kỷ niệm với thầy với bạn và nhất là với tôi, thằng bạn nhóc tì của anh ngày trước. Ông bà già của Lâm Ni chắc không ngờ là mình đang có một đứa cháu đích tôn trên thế gian này, mà trước đây ông bà đã từng mơ ước

Trước khi từ biệt vợ con Lâm Ni, tôi đứng lặng lẽ một mình trước tấm ảnh của anh, ôn lại bao nhiêu chuyện cũ rồi buộc miệng thì thầm hai câu thơ quen thuộc:

Những người muôn năm cũ,
Hồn ở đâu bây giờ ?

Từ trong tấm ảnh, dường như Lâm Ni đang nhìn tôi mỉm cười.

phạmtínanninh
(1C Võ Tánh 62)

Ghi chú của người viết: Bài viết này xin được gởi đến chị Lâm Ni và cháu Lâm Bình như một món quà muộn màng. Bạn bè Võ Tánh, nếu có ai quen biết và còn nhớ đến Lâm Ni, muốn hỏi thăm vợ con anh, xin liên lạc với người viết. Cám ơn.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Một ngày không vội vã

Hoàng Thanh


“Nếu chỉ còn một ngày để sống
Chợt nhận ra cuộc đời quá đẹp
Phải chăng ta sống quá vội vàng
Nên ra đi chưa được bình an …”


Mỗi năm một lần, tôi về thăm Mẹ và các em hiện đang sống ở Montréal, Canada. Năm nay cũng như thuờng lệ, tôi về thăm nhà 2 tuần cuối tháng 6. Nói sao cho hết niềm vui gặp lại gia đình. Montréal vào mùa hè thật nóng bức, có ngày lên đến hơn 100 độ F, nên cả nhà thường rủ nhau đi ra ngoài chơi cho mát mẻ.

Tôi còn nhớ sáng hôm đó, cả nhà định dẫn mấy đứa cháu ra công viên cho tụi nhỏ hưởng chút khí trời. Tôi thì đã thay quần áo từ lâu, cứ chờ mãi mà mọi người cứ “xàng qua xàng lại”, gần 9 giờ vẫn chưa xong, nhất là mấy đứa nhóc thì cứ lăng xăng chơi game, không ai chịu thay quần áo. Thế là tôi bắt đầu nổi quạu “Nhà mình sao làm gì cũng như rùa bò vậy? Có đi hay không thì bảo…? Cô em tôi nhỏ nhẹ “Thì từ từ, vacation mà lị, chị sống ở Mỹ riết rồi quen thói ‘stress out’ hà… Cậu em trai thì nói “Chị làm gì mà dữ vậy, chị có biết hôm nay là ‘ngày không vội vã’ hôn?

Tôi ngạc nhiên, tưởng tai mình nghe lầm, nên hỏi lại “Ngày gì? Không vội vã là sao?”. Thế là Má tôi bật tivi lên. Trên màn ảnh, đài nào cũng đang nói về cái ngày đặc biệt này. Ồ, thì ra là từ vài năm nay, mỗi năm chính phủ Canada chọn ra một ngày, thường là vào mùa hè, một ngày cuối tuần, và năm nay rơi vào ngày 26 tháng 6, gọi là “một ngày không vội vã”. Khoảng chừng vài tuần truớc đó, là báo chí, các cơ quan truyền thông đều loan báo và nhắc nhở để mọi người chuẩn bị.

“Ngày không vội vã” bắt đầu từ 8 giờ sáng cho đến 9 giờ tối. Mọi người được khuyên là “Bạn hãy ngủ cho thẳng giấc, thức dậy khi nào mình muốn. Hãy nhâm nhi tách cà phê, và ngồi ngắm khu vườn của bạn, nghe tiếng chim hót líu lo. Hãy đi ra ngoài nếu bạn thích, vào ăn trưa ở một restaurant nào mà bỗng dưng bạn muốn. Còn nếu không, bạn có thể mời bè bạn đến nhà làm BBQ. Bạn cũng có thể chạy xe đạp một vòng thành phố, hay nằm dài trên bãi cỏ của một công viên gần nhà, vân vân và… vân vân”. Tóm lại, chính phủ khuyến khích người dân” hãy enjoy từng phút giây hạnh phúc, bình an của… một ngày không vội vã. Hãy biết sống và tận hưởng Hạnh phúc ở quanh ta”, như lời của một người phóng viên trên đài tivi đang nói. Rồi còn có các màn phỏng vấn vài người dân, hỏi xem họ dự định sẽ làm gì trong cái ngày đặc biệt này trong năm, thì đa số câu trả lời đều là “spend time với gia đình, người thân”. Có một cảnh trên màn hình làm tôi nhớ mãi. Hình ảnh một cụ già tóc bạc phơ, lụm cụm trả lời phỏng vấn với nụ cười móm mém “Tôi luôn mong đợi và yêu nhất cái ngày này trong năm, vì đó là ngày duy nhất mà tất cả con cháu tôi không… bận rộn, chúng nó tề tựu đông đủ để họp mặt với tôi. Cám ơn chính phủ, cám ơn ân nhân nào đã “đặt ra” cái ngày ý nghĩa này …”

Thế là bỗng dưng tôi đổi ý. Tôi bảo gia đình “Hôm nay là ngày đặc biệt, vậy thôi mình làm chương trình gì special đi nhe…”. Thế là cả nhà nhao nhao hưởng ứng, người thì bảo “khỏi nấu cơm, đi ăn tiệm cho khỏe”, kẻ thì nói “nhà hàng đông lắm, đi xuống downtown chơi”. Em trai tôi thì muốn đi xe đạp (ở Montréal có rất nhiều bãi cho mướn xe đạp, bạn chỉ cần “quẹt” cái credit card vô là có thể lấy xe đạp đi ngay). Mấy cháu nhỏ lại muốn đi tàu Bateau Mouche. Rồi lại có ý kiến đi câu cá, hay đi xe ngựa một vòng thành phố. Và thế là giơ tay biểu quyết. Cuối cùng thì đa số thắng thiểu số: đi xuống Vieux-port (khu phố cổ) chơi và sẽ đi tàu Bateau Mouche. Thế là chúng tôi lên đường, thảnh thơi, không vội vã …

Đường xuống phố đông nghẹt, và kẹt xe, thế mà không một xe nào bóp kèn. Thiên hạ ngồi trong xe, an nhiên chờ đợi, còn mở cửa kiếng xuống nhìn nhau cười, và vẫy tay “No hurry! Be happy!”. Tôi thật sự “thấm” được thế nào là ý nghĩa của 3 chữ “không vội vã!”. Đến chừng xếp hàng mua vé đi tàu, thì lại là một hàng thật dài, trong cái nắng gắt của mùa hè. Vậy mà ai ai cũng cười, cũng nói, cũng bắt tay, với cả những người… không quen biết. Dường như con người ở đây, ngày hôm nay, không ai bị stress cả. Cả một thế giới hoà bình, thanh thản quanh tôi …

Lúc bước xuống tàu, David, thằng cháu nhỏ 5 tuổi hối hả muốn chạy đến dành chỗ, thì bị Christina – cô cháu 4 tuổi , “chỉnh” ngay: “David! Bữa nay là “No hurry day” mà, sao David cứ hurry hoài vậy?”, làm cả nhà cùng cười. Tôi cũng bật cười theo vì sự nhận thức dễ thương của cô bé này.

Trưa đến, đói bụng, chúng tôi ghé vô một nhà hàng Tàu. Lại đông nghẹt khách, nhưng ai ai cũng vui vẻ xếp hàng đợi đến lượt mình. Đang đứng chờ thì người bên cạnh tôi, một phụ nữ Quebécois bắt chuyện hỏi tôi đã làm gì ngày hôm nay. Tôi kể lại một ngày vui chơi với gia đình cùng các cháu. Bà cười, chỉ hai người con “Chồng tôi mất lâu rồi, năm nào vào ngày này, tôi cũng để tụi nó quyết định muốn đi đâu, làm gì… Cuộc sống mà, có gì mà phải vội vã…”. Rồi bà tiếp “Như trưa nay nè, bỗng dưng con gái tôi thèm ăn món lẩu Tàu, thế là chúng tôi vô đây, xếp hàng, nghe nói nhà hàng này món nào cũng ngon lắm”. Tôi gật đầu đồng ý và cảm thấy vui vui trong long…

Ăn no xong, thì đến chiều. Không ai muốn về nhà, thế là kéo nhau ra park chơi. Nhìn quanh, thiên hạ đông như kiến, tự dưng tôi thấy lòng mình vui chi lạ. Trải tấm chiếu trên bãi cỏ, tôi nằm xoải người, vươn vai một cái thật đã. Dường như hơn 10 năm sống trên đất Mỹ, tôi chưa hề có được cái “đã” nào như thế này. Cứ để mặc tụi nhỏ tha hồ chơi xích đu, cầu tuột, chạy chơi, la hét… tôi nằm đeo cặp mắt kính mát, tận hưởng từng làn gió thoảng qua một cách khoái chí, do… nothing, lim dim… ngẫm nghĩ sự đời. Kể cũng lạ, nhờ có cái ngày này, mà tôi mới nhận ra là hình như trong đời, tôi chưa hề bao giờ có được một ngày không… vội vã…

… Sinh ra và lớn lên ở Saigòn, trong một gia đình nghèo, nên tôi biết rất rõ là chỉ có ráng học thì mới có thể giúp tôi thoát khỏi cái kiếp nghèo muôn thuở đó. Ngay từ nhỏ tôi đã rất hiếu học. Từ lớp tiểu học, đến phổ thông, rồi đại học, cả đời tôi chỉ biết có sách vở, và suốt ngày chỉ cắm đầu cắm cổ mà học. Tuổi thơ tôi chưa hề có một ngày không vội vã. Hôm nào cô giáo bệnh, được nghỉ và về sớm, trong khi các bạn bè cùng trang lứa lăng xăng tìm chỗ đi chơi, hay la cà các hàng quán, thì tôi lại vui mừng vì… có thêm giờ để học bài. Tôi hối hả đạp xe về nhà, rửa mặt vội vàng và ngồi vào ngay bàn học. Bài thi nào cũng vậy, được 9 điểm là tôi buồn, vì phải điểm 10 cơ thì tôi mới chịu. Mọi người luôn bảo là tôi thích sự tuyệt đối, và như vậy thì đời tôi sẽ khổ…

Vào đại học, 5 năm, tôi lại chưa hề có được một ngày không vội vã. Lúc nào tôi cũng bận rộn, với bài vở và với những cuộc thi. Tôi luôn tham lam, mong muốn mình phải đạt điểm 10 trong mọi bài thi. Tôi sẵn sàng thức khuya, dậy sớm, miễn sao đạt được điểm tối đa là tôi vui. Có lần nhỏ bạn thân bảo tôi một câu chí lý “Học mà không chơi đánh rơi tuổi trẻ, Chơi mà không học bán rẻ tuơng lai.”. Tôi nói ngay “thì bởi vậy, tao học nè, chỉ có cái học mới giúp mình thoát ra khỏi nghèo khó”, nhỏ bạn cười “Tao thì chọn… cả hai, vừa học vừa chơi, miễn sao không thi lại là “đủ xài” rồi, rồi mai này mày sẽ hối tiếc khi tuổi trẻ trôi qua uổng phí…”. Tôi chỉ cười, nhưng bây giờ mới nhận ra là nó có lý…

Ra trường ở Canada, đi làm, tôi lại lao vào công việc, làm thật nhiều, để mong kiếm thật nhiều tiền trong thời gian ngắn nhất. Tôi tình nguyện làm 7 ngày 1 tuần, mỗi ngày 13 tiếng. Ròng rã 3 năm thì tôi đuối sức, nên đành giảm bớt chỉ làm 5 ngày. Mười năm trời, tôi dành dụm đựơc một số tiền, và nỗi ao ước làm giàu thật nhanh đẩy tôi vào thị trường chứng khoán. Tôi say mê chơi stock, nên ngày nào tôi cũng luôn bận rộn với Wallstreet, với giá cả và những con số lên xuống của từng công ty. Trúng stock, chỉ qua một đêm, tôi bỗng nhiên thành triệu phú. Ấy thế mà tôi vẫn chưa có được một ngày không bận rộn. Ngay hôm đó, đầu tôi lại tính toán cách đầu tư nào để nhân đôi, nhân ba số tiền tôi đang có. Thế là lại mạo hiểm, lại chơi những ván bài to hơn. Ông bà ta đã có câu “Có gan làm giàu kia mà”. Tôi đã có gan, và tôi đã giàu, thì bây giờ nếu muốn giàu hơn, tôi cần phải có gan hơn…

Thị trường chúng khoán sụp đổ, tôi trở tay không kịp, thế là mất trắng. Tôi không nản “không sao, còn sức khoẻ, còn quyết tâm, ta có thể làm lại từ đầu, thì sẽ có tất cả”. “Có chí thì nên”, nên tôi quyết định qua Mỹ, vì Hoa kỳ là đất nước của cơ hội. Tôi lại lao vào công việc, cần cù, ky cóp… để dành tiền. Vào những năm sau 2000, ngành dược và computer đang lên cơn sốt thiếu người. Thế là thiên hạ ùn ùn đổ sang Mỹ, vì làm việc nhiều tiền hơn. Tôi lại đi làm full time, 5 ngày một tuần, và luôn sẵn sàng làm overtime bất cứ khi nào công ty cần. Tôi đi làm từ sáng đến tối, ăn thì cơm chỉ food to go, không xài gì cả, cắc ca cắt củm để dành từng đồng xu, hy vọng sẽ có cơ hội đổi đời… Và rồi thì cơ hội đến thật, khi cơn sốt bất động sản bùng nổ. Giá nhà cửa tăng vùn vụt, từng ngày. Hễ ai chậm tay là… sorry, ráng mà chịu khó ngồi nhìn “căn nhà mơ ước” vuột khỏi tầm tay, bạn nhé. Và tôi lại bị cuốn xoáy vào cơn lốc này, như hàng triệu người ở xứ Mỹ.

Mỗi tuần chỉ có được hai ngày nghỉ làm, tôi rời nhà từ 8 giờ sáng đến 9 giờ tối, lái xe khắp mọi ngõ ngách, để tìm xem có căn nhà nào “For sale by owner” không, hay có căn nào trông lụp xụp mà mình có thể tân trang chút đỉnh lại rồi “flip”, kiếm vài chục ngàn bỏ túi. Có những bữa tôi không có cả thời giờ để ăn cơm, mua vội vàng chút food to go bỏ bụng. “Thảy” 1 căn nhà, wow, ngon ăn quá, tôi làm căn thứ nhì, rồi thứ ba. Lòng tham con người là không đáy kia mà. Thì đùng một cái, cái “bong bóng” nhà đất nổ tung. Bao nhiêu kẻ mất nhà, tay trắng, và có tôi trong số đó. Từ một triệu phú (lần thứ hai) , tôi trở thành người mang nợ ngập đầu. Và thế là tôi phải đi làm bù đầu bù cổ để ráng cầm cự mấy căn nhà. Đến chừng thật sự đuối, thì tôi đành phải buông, trong cay đắng, vì không còn sự lựa chọn nào khác. Tôi shortsale mấy căn nhà, trước khi để nhà bank kéo. Rồi giờ thì tôi phải tiếp tục đi cày, cả đời, để mà trả nợ. Một bài học suốt đời không thể nào quên. Cho đáng kiếp mày, một kẻ tham lam…

Hôm nay nằm dài trên bải cỏ, hít thở bầu không khí trong lành của một ngày nắng ấm, chẳng có việc gì phải làm, thế mà tôi thấy lòng mình, tâm mình sao mà thảnh thơi chi lạ. Giờ phút này, tôi không giàu, nhưng sao tôi lại có được sự bình an, điều mà đã hai lần là triệu phú, tôi hoàn toàn chưa bao giờ có được. Thật sự tôi phải cám ơn chính phủ Canada, hay cám ơn người ân nhân “trí tuệ” nào đó, đã nghĩ ra cái ngày đặc biệt này trong năm, để giúp người dân biết trân quý sự thanh thản mà cuộc sống ban cho chúng ta…

Bỗng dưng tôi chợt nhớ mới cách đây vài tuần, tôi tình cờ gặp lại cô bạn cũ hồi trung học, khi vô tiệm food to go ở Cali mua đồ ăn. Hai đứa chỉ kịp chào hỏi vài câu, thì cô bạn vội vã về đón con, còn tôi thì lật đật đi ra xe sợ trễ giờ làm. Cô bạn than “Sao cuộc sống tụi mình lúc nào cũng tất bật quá há, chỉ khi nào hết thở thì mới hết… bận rộn…”. Tôi chỉ cười “Xứ Mỹ mà lị…”. Cô bạn tự dưng hỏi xin địa chỉ email của tôi, rồi bảo rằng “sẽ email gửi cho bồ một bài ý nghĩa lắm”, rồi cô cười nói thêm “nhưng đọc thì hay, mà làm có được hay không lại là chuyện khác…”. Tối đó check mail, tôi nhận được ngay, với vài dòng nhắn nhủ “Bồ ráng cố gắng thực hành theo lời khuyên trong bài này nhé, còn mình thì… đời vẫn lăng xăng…”. Tôi bật cười, và click vô đọc bài viết ngắn của cô bạn:

BẬN RỘN làm cho ta không có bình an và hạnh phúc
BẬN RỘN làm cho sự hành xử của ta vụng dại
BẬN RỘN làm cho cái hiểu biết của ta khô cằn
BẬN RỘN làm cho sự sống của ta ngắn lại
BẬN RỘN khiến ta không thấy được cái đẹp của người ta thương yêu
BẬN RỘN khiến ta đi trên đường như ma rượt…


Đời sống bận rộn là đời sống… bất hạnh nhất trên đời…!
Thế đấy, nhưng con người ai ai cũng luôn tìm đủ mọi lý do để mà… BẬN RỘN.
Và rồi một ngày kia, thử hỏi có ai mang theo được cái “BẬN RỘN” về bên kia thế giới?

Hãy biết dừng lại
Hãy biết ngơi nghỉ
Hãy tập thanh thản
và buông xả, thảnh thơi …

thì khi cái ngày ấy đến, chúng ta mới có thể ra đi với cái tâm… KHÔNG… BẬN RỘN…!!!

Đúng vậy, dường như chúng ta, ai ai cũng luôn tự tìm cho mình một “lý do” để mà bận rộn, mà chưa hề bao giờ biết cách “nếm” được hương vị cuộc sống của mỗi ngày. Tôi chợt nhớ đến cô Kim Anh, cô cũng đã bảo tôi câu này khi bác sĩ cho biết là cô chỉ còn vài tháng để sống, và cô đã nói với tôi “Mỗi người đều có số phần, cô cũng mừng là cô còn ‘vài tháng’, thì ít nhất cô cũng sẽ có được vài tháng sống trong bình an, không vội vã…”.

Chiều xuống, trời bắt đầu ngả tối. Thiên hạ lần lượt rời công viên. Cả nhà tôi cũng lục đục thu xếp đồ lại. Bé Tina có vẻ nuối tiếc, bé hỏi bà chị tôi “Mommy, ngày mai có còn là ‘No hurry day’ hôn?”. Chị tôi cười “Hết rồi con, mỗi năm ở Canada có một ngày hà”. Na phụng phịu “Na muốn every day đều là ‘No hurry day’ cơ…”. Chị tôi nói ngay “Dễ thôi con, nếu mỗi ngày mà con biết enjoy, thư thả, con đừng làm việc gì gấp gáp hết, thì mỗi ngày sẽ là ‘No hurry day’ rồi.”. Tôi đứng đó, nuốt từng lời bà chị nói, và cảm thấy “ganh tỵ” với đứa cháu của mình, vì chỉ mới 4 tuổi, mà cháu đã được học một bài học quý giá nhất trên đời, còn tôi, gần nửa đời người mới được học bài học đó…

Lên xe, cậu em trai mở nhạc, vặn thật lớn bài hát mà tôi rất thích:

” Nếu chỉ còn một ngày để sống
Chợt nhận ra cuộc đời quá đẹp
Phải chăng ta sống quá vội vàng
Nên ra đi chưa được bình an…”


Đúng thật, cả một đời tôi luôn sống quá vội vàng, thì làm sao có thể ra đi bình an? Một lần nữa, xin cám ơn cái ngày đặc biệt này, đã giúp tôi có một cái nhìn mới, khác hơn về cuộc sống…

Tự dưng tôi nhớ đến hai cô bạn thân. Cô bạn đạo Chúa thì chủ nhật nào cũng đi nhà thờ, hễ rảnh là đọc cuốn Thánh kinh nhỏ lúc nào cũng kè kè trong bóp. Cô hay nói với tôi “Chúng ta nên làm theo lời dạy của Ngài, thì lúc ra đi, mình sẽ được lên Thiên đàng với Chúa”. Nhỏ bạn đạo Phật thì hễ rảnh là đến Chùa, niệm Phật, nó nói với tôi “Ở lành, giữ ngũ giới, làm từ thiện, thì chắc chắn sẽ được về với Phật”. Còn giờ phút này, tôi hiểu ra một điều “Nếu như chúng ta biết tự làm cho mỗi ngày của mình thành “MỘT NGÀY KHÔNG VỘI VÔ , thì chúng ta sẽ có được 365 ngày mỗi năm đang sống ở Thiên đàng, hay Niết bàn… rồi đó…

Chúc mỗi người trong cuộc đời, luôn có được những ngày… không vội vã…

Hoàng Thanh
August 29, 20102

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Bầy diệc ở Hoàng Sa

(Nguồn: Bauxite Việt Nam)

Lời giới thiệu của Hoàng Hưng: Bài thơ này Ngô Mai Phong viết từ lâu, bây giờ tôi mới được đọc trong chùm thơ anh gửi cho. Dễ hiểu vì sao nhà thơ nghẹn ngào, có phần buồn tủi và như bất lực. Khi chính quyền còn coi người dân biểu tình, in áo, kẻ khẩu hiệu “Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam” là “tội phạm an ninh quốc gia”, thì ngay cả những bài thơ lặng lẽ như thế này cũng không thể được in trên các báo “lề phải”. Có bao giờ lòng yêu nước của người dân Việt Nam phải thầm thì như ở thời buổi này? Ðau quá! Nhưng Mẹ Việt Nam nhìn thấy hết, những đứa con tuẫn tiết cho Người và cả những đứa con phản bội Người.

Ngô Mai Phong

Image

Họ đứng như bầy diệc

Bị chôn chân giữa dải đá ngầm

Bốn mặt sóng đen rầm chiến hạm

Những con diệc không thể bay

Không có chỗ ẩn nấp

Những con diệc lặng băng như ngọn cờ tuẫn tiết

Buổi sáng ấy chỉ mẹ tôi nhìn thấy

Có đàn chim đẫm máu về trời

Hai mươi năm Hoàng Sa thành Nam Sa

Hà Nội chiều nay thanh bình thế

Triệu Vi hát trên truyền hình

“Thu thủy vô ngân” *

Nước mùa thu không vết dấu ...
Chú thích:
* Lời một bài hát trong phim “Kinh hoa yên vân” do Triệu Vi - diễn viên và ca sĩ nổi tiếng của Trung Quốc thể hiện.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Nếu Trung tâm Thúy Nga đóng cửa...
Mấy cuốn video gần đây, Thúy Nga Paris cứ hăm he là sẽ đóng cửa sau cuốn 100 vì nạn băng đĩa lậu. Đến cuốn 100 vừa rồi thì lại nửa úp nửa mở chả nói là đóng hay không đóng. Nhưng tinh ý thì thấy ngay sức mấy mà nó đóng!... Vì thằng ngu nào biết sắp đóng cửa mà lại bỏ ra 6 tháng trời để chuẩn bị cái website bán đĩa online để charge tiền qua card?

Chiêu than khóc gây ấn tượng thôi chứ đóng cửa rồi thì ca sĩ trong nước sẽ mệt mỏi với làn sóng ca sĩ từ Hải ngoại tràn về, coi bộ sẽ rất dzui!
Trong cuốn video 100, ông Ngạn đọc rất nhiều thư từ rên rỉ từ khán thính giả khắp nơi thể hiện tình yêu mến & mong TN Paris không đóng cửa. Tui xem một hồi thấy hơi quá lố. Nhưng mà ngẫm lại, mấy cái thư đó thì nhằm nhò gì! Có một số cực lớn khán giả khác, họ không biết cách chi, có biết cũng e dè không dám liên hệ, bởi thực sự, không có TN Paris thì đời sống văn hóa của họ, có lẽ sẽ trở về một con số gần 0 đáng sợ. Đó là hàng triệu gia đình Việt Nam trên khắp các vùng quê, thị trấn, thị tứ, tỉnh thành mà cả vùng không có lấy một rạp hát, không có lấy một rạp chiếu phim ra hồn, có người cả đời chưa từng ngồi trong nhà hát mà xem kịch, ca nhạc thì may lắm là xem trên TV với những bài hát vớ vẩn được kiểm duyệt gắt gao, ca sĩ diễn viên thì đối với họ giống như thần thánh từ trên trời rơi xuống... Khắp VN này, làm sao đếm xuể những vùng như thế?

Quê tui cách Tp.HCM chỉ 50km, tui ở thị xã, nay đã thành thành phố. Thế nhưng tính từ lúc tui biết nghĩ, biết nhớ, biết cảm thụ, đến năm 18 tuổi, chắc tui từng được xem biểu diễn ca nhạc sống (xem trực tiếp trên sân khấu hơi hơi chuyên nghiệp pha lẫn chợ trời khi có show Duy Ngọc từ Tp.HCM về diễn ở Sân vận động tỉnh) khoảng 3 lần. Xem kịch 1 lần từ lúc mới 8 - 9 tuổi, tui nhớ lúc đó là vở Nhân danh công lý của đoàn Kim Cương. Xem phim vài ba lần trong rạp phim tư nhân ngồi ghế băng dài cứng đau cả mông sau một buổi chen lấn suýt tắt thở, cải lương cũng xem được 2 lần, vở Tô Hiến Thành xử án & vở Tô Ánh Nguyệt. TV thì đến năm tui 16 tuổi, nhà tui mới có TV để khỏi đi nhà hàng xóm coi ké!

Đấy, cả thời niên thiếu của tui, tui hưởng thụ được bao nhiêu đó cái gọi là "văn hóa". Trong khi tui sống tại một vùng chỉ cách Tp.HCM có 50 cây số. Tui cũng là đứa máu mê văn nghệ, có dịp là tui liều chết leo rào, khoét vách, chui cả vào đường hầm sân vận động để bẻ song sắt chui ra sân... Vậy mà tui còn khốn khó như thế, huống chi là nơi khác?!

Cho nên tui chỉ sống bằng TN Paris thôi! Tui qua nhà hàng xóm xem Khánh Ly, Lệ Thu, Lê Uyên Phương, Ngọc Lan, Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Duy Quang, Thái Châu, Elvis Phương,...hát mỗi ngày. Sau này là Don Hồ, Ý Lan, Mạnh Đình, Như Quỳnh... Sau nữa là Trường Vũ, Phi Nhung, Như Loan, Loan Châu, Ngọc Hạ,... Tui thuộc lòng như cháo! Nhìn mặt là biết ai liền, nghe giọng là kể ra vanh vách. Mà nhạc những người này hát thì còn gì mà bàn cãi?! Nhất là thế hệ đầu tiên. Nếu không nhờ TN Paris thì làm sao tui biết được âm nhạc VN ngoài Trịnh Công Sơn còn có Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Vũ Thành An, Cung Tiến, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên...? Làm sao tui biết được ngoài Cây điệp vàng, Phượng hồng, Lá xanh,... còn có Kiếp nào có yêu nhau, Tưởng niệm,...? Và còn cả nhạc dịch nữa, nghe lời VIệt trên TN Paris xong thì tìm nghe lời nước ngoài. Xem ra cũng hiểu biết thêm nhiều ấy chứ!

Nhớ lúc đó, mỗi lần thấy TV phát chương trình ca nhạc theo yêu cầu mỗi tối thứ 6 là tui cười khinh bỉ. Tui không bao giờ xem ba cái thứ nhạc "dựng xây đất nước" thiệt là nhảm nhí đó, tui chỉ thích xem TN Paris mà thôi. Hơn nữa, nhìn Lê Tuấn mặc áo sơ mi rộng bỏ vào quần xếp 1 lượt mấy chục li là tui muốn ói. Thấy chẳng có gì sang trọng hấp dẫn cả! Sân khấu ca nhạc thì quay trong nhà đài nhìn giống y như nhau, backdrop nhà cao tầng lấp lánh, chận ngang cái bậc thấp, phía trước và xung quanh hơn chục chậu bông đủ màu với vài chậu kiểng. Đèn chiếu qua chiếu lại đều tăm tắp! Đó là những thứ mà công an văn hóa bắt người ta ăn suốt gần 20 năm trời. Không ói mới lạ. Trong khi TN Paris thì khỏi chê, hoành tráng nhìn phải choáng! Nhìn chị Linda Trang Đài là thấy, toàn da với thịt, toàn vú với mông, sexy cực kỳ. Ai như mấy con mụ Thu Hà, Cẩm Vân,... lên hát mà ăn mặc như đi nhà thờ. Chán chết!

Đó là hoàn cảnh mà tui nghĩ không chỉ riêng tui đã từng trải qua. Nên tui thiệt tình mang ơn TN Paris lắm lắm! Không phải tui bợ đít Việt kiều đâu! Nhưng tui nói thiệt, không có TN Paris thì bây giờ tui không thể nào làm được nghề này.Tui sẽ y như chị Mỹ Linh nhà mình, khi được mời hát trong live show Phạm Duy, chị ấy trố mắt lên: Ô hay! Phạm Duy là ai thế nhỉ?! Thế là suốt mấy show, chị ấy toàn hát sai lời đến phát khiếp. Đến nỗi mới đây thôi, trong show Mơ giấc mộng dài, khán giả cứ ôm bụng cười, bảo ML hát nhạc...chế, nhạc Phạm Duy, lời ML, nhụt như cá nục!

Trong cuốn 100, ông Ngạn nói có một nhà nghiên cứu người Mỹ nói về văn hóa đương đại VN, ông ta bảo rằng văn hóa VN có một nét đặc biệt là nhà ai trên khắp VN & cả người VN ở Hải ngoại khắp thế giới đều có ít nhất 1 cuốn TN Paris trong nhà. Tui tin ông Ngạn không có nổ. Tui có cơ hội đi khá nhiều nơi, tui thấy đúng vậy. Ít ra là ở VN, khắp hang cùng ngõ hẻm, không nơi nào mà vắng TN Paris cả! Chắc chắn là như thế.

Mặc dù bây giờ, thế hệ ca sĩ trẻ của TN Paris đã dỏm lắm rồi, có khi còn thua xa ca sĩ trong nước. Nhất là sau khi âm nhạc trong nước sống lại với thời hoàng kim năm 1997 trở đi đến đầu những năm 2000. Thời đó nghe nhạc trong nước rất sướng, rất khoái. Lúc đó mới biết là có những dòng nhạc khác cũng rất hấp dẫn & Thanh Lam, Hồng Nhung, Thu Phương... hát cũng đâu có thua ai! Nhưng giờ thì nhạc trong nước thế nào ai cũng biết, kể ra dơ miệng.

Nếu 10 năm nữa mà TN Paris đóng cửa thì được. Đóng lúc đó chả ai mà thương tiếc. Lúc đó lớp ca sĩ vượt biên chắc theo ông bà cả rồi. Lứa kế tiếp thì quá già, ai mà coi nữa?! Còn các lứa sau thì nhìn giò nhìn cẳng chả hơn gì bọn trong nước. Lúc đó cá mè một lứa, xem ai mà chả được. Lùng sục mua đĩa lậu làm gì cho mệt? Chứ bây giờ mà đóng cửa thì tiếc quá!

Nhưng nói vậy thôi, xem ra còn lâu cửa kia mới đóng...

Cứ yên tâm mà enjoy. He he!

http://hanwonders.multiply.com/journal/item/429

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Việt Nam ngày tôi trở về

Lê Thị Thấm Vân
Hè 1995

về, về lại Việt Nam
hai mươi năm sống xa. Xa như tuổi thơ
người đàn ông ngồi cạnh trên máy bay nói với tôi đủ thứ chuyện
nhưng tôi chỉ nhớ một câu, đủ để lòng phấn khởi, thêm chút tự tin. “Việt Nam của cô giờ là quốc gia, không còn là cuộc chiến.”

Việt Nam ngày tôi trở về
tai không còn nghe đạn bom, còi hụ giới nghiêm, tin tức chiến trường
mắt không còn thấy hỏa châu rực cháy. kẽm gai nhọn hoắt, xanh màu lính trận, mẹ già ôm xác con gào khóc
và không gian thôi phảng phất mùi nhang khói.

Việt Nam ngày tôi trở về
người trở thành thây ma
lang thang vất vưởng bầy đàn
phô bày bản năng tiền sử.
thời gian đứng lại cả ngàn năm

bà già tám mươi
cổ “gắn” thanh sắt, lòng bàn chân “bọc” đồng
đầu đội thúng khoai
băng băng bốn phương tám hướng
mong đổi bữa ăn lưng dạ

thanh niên
sáng ngủ dậy súc miệng bằng bia
đêm dỗ giấc ngủ bằng rượu
ngày tay cầm điếu thuốc thay bút mực

cô gái mười sáu
màng trinh đã vá ba lần
lần thứ tư bị lộ
khách thương gia Đài Loan chỉ trả nửa giá

đàn ông
sau nhiều năm cầm súng
nay đất nước thanh bình
bỗng biến thành phỗng đá

bên lề đường
thằng bé lên ba
ngồi phùng mang trợn mắt
ráng, ráng, ráng rặn…
cục cứt
những hột bắp vẫn còn nguyên si

Việt Nam ngày tôi tôi trở về
bầu trời ban ngày vẫn xanh biêng biếc, mây trắng nõn bồng bềnh
bầu trời ban đêm vẫn đan kết hàng ngàn vì sao lấp lánh

Việt Nam
ngày trở về
tôi đứng sững nhìn tôi.

Hè 2010

Việt Nam ngày tôi trở về
ba mươi lăm năm sống xa… ngái xa… xa thật xa
lướt net để (được) thở, sờ, ngửi, nếm
thỉnh thoảng (buồn) cười nghĩ đến lời bác trăn trối: “thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng mười lần hơn.”

thân xác chuẩn bị cho cái nóng thế kỷ
những hố hầm phải nhảy không được (phép) hụt chân

xứ sở
thời chiến đấu tranh vì giai cấp
thời bình không được đấu tranh vì giai cấp

hai vị thành niên Nguyễn Thị Thanh Thúy và Nguyễn Thúy Hằng biến thành nô lệ tình dục cho kẻ nắm giữ quyền lực
sinh viên Phan Minh Mẫn “giết” cha vì bảo vệ mẹ và em
luật pháp đảng áp dụng mạng đổi mạng
quyền làm người chỉ áp dụng cho đại gia


người đàn bà ngồi ôm mặt khóc vì chồng hiếp con gái 12 tuổi
ổng nói: “trồng cây thì tôi phải ăn quả” chứ bà
bà nói: “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” thì sao đây hả trời?

xe chở cây lộc vừng trị giá trăm triệu cho căn nhà mới xây trị giá tám tỉ đâm thằng bé đang đi học về. Cảnh sát tới, ai đó đã phủ mặt em bằng mũ và xác thân em bằng cặp

người đàn bà có ba đứa con
đứa lớn nhất xuất khẩu lao động
đứa thứ nhì vượt biên
đứa út lấy chồng Hàn Quốc
sáng sáng bà ngồi thõng chân trên mộ chồng, tay vọc cát tay xoa xoa hốc mắt gỉ sét

vì đảng
vì xã hội chủ nghĩa
xong mẫu giáo bé phải nhận ra hình bác, ước đi thăm lăng bác, thuộc làu thơ bác, thích hát ca ngợi bác, ngủ mơ được thấy bác.

trái muỗm ngọt thanh trong vườn lưu niệm Nguyễn Du
chén chè bắp nhà người quen ở Cồn Hến
đĩa bánh cuốn hấp hơi ở chợ Đà Lạt
gió nồng mùi biển giữa phố phường Nha Trang
bánh gai Ninh Giang
ô cửa sổ lớp bốn tuổi thơ
măng cụt Lái Thiêu chua chua ngọt ngọt
nước múc lên từ giếng ngâm mát lạnh hai bàn chân
…
những niềm vui nho nhỏ
vẫn không lau được mồ hôi lăn chảy giữa rãnh ngực vì nắng vì nóng vì Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm! Fuck! Vì Hồ Chủ tịch vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp chúng ta! Fuck!
ngồi trên máy bay quay lại Mỹ, tôi lẩm nhẩm những cái nhiều cùng những cái nhất của xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Thi hoa hậu nhiều nhất. Hô khẩu hiệu nhiều nhất. Nhiều quán nhậu nhất. Giao thông lộn xộn nhất. Giàu và nghèo cách xa nghìn vạn dặm nhất. Cầu tiêu công cộng hiếm hoi nhất. Con đường gốm sứ rườm rà, quê kệch và dài nhất. Con số phá thai cao nhất. Môi sinh tệ hại nhất. Treo hình cố lãnh tụ Hồ Chí Minh nhiều nhất. Truy cập web sex nhiều nhất. Hối lộ và tham nhũng có trình độ nhất. Thù và yêu Mỹ nhất. Đảng càn quét những ai công khai đấu tranh tự do dân chủ nhất.… vậy mà theo Happy Planet Index, Việt Nam được xếp hạng 12/178. Chịu và chào my “quê hương là chùm khế (không) ngọt”.

© 2010 Lê Thị Thấm Vân© 2010 talawas

Post Reply