Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
saulong
Posts: 114
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:02 pm

Post by saulong »

Image

Tại sao Bắc Kinh lại sợ hãi ông Lưu Hiểu Ba?

Willy Lam,
Asia Sentinel
Giết gà để nhát khỉ có lẽ không nhằm nhò gì trong lần này
Quý vị không thể tìm đâu ra được một nhà bất đồng chính kiến trầm lặng, khiêm tốn, và ôn hoà hơn ông Lưu Hiểu Ba, người vừa mới bị tuyên án 11 năm tù vào ngày lễ Giáng Sinh - cái ngày mà người ta cho là thế giới phương Tây đang nghỉ lễ và không đọc báo.

Là một nhà phê bình văn học, tất cả những gì mà người cựu giảng viên văn học Trung Hoa này đã làm chỉ là viết những bài báo nhẹ nhàng phê phán chế độ của Ðảng Cộng sản Trung Hoa (ÐCSTH).

Sáu bài báo làm cho Bắc Kinh giận dữ - và được trưng ra làm bằng chứng cho cái "tội" là đã "khích động để lật đổ quyền lực nhà nước", tất cả đã được đăng tải trên các trang web ở nước ngoài, mà người dân Trung Hoa lục địa bị ngăn cấm không cho đọc bởi bức tường lửa do nhà nước dựng lên.

Ðúng với sự thật là ông Lưu và một số giáo sư cùng các chuyên gia luật pháp đã thảo ra và đưa lên mạng Internet bản Hiến Chương 08, nhằm kêu gọi nhà cầm quyền hãy cho phép người dân được hưởng các quyền dân sự vốn đã được đề cao trong Hiến pháp Trung Cộng. Khi Hiến Chương 08 lần đầu tiên xuất hiện cách đây một năm, thì ông Lưu và nhiều bạn hữu đã bị những kẻ chuyên môn đâm bị thóc thọc bị gạo trong giới trí thức Bắc Kinh mắng nhiếc là không đủ dũng cảm để đương đầu với nhà cầm quyền.

Yếu điểm của ÐCSTH trong vụ kiện cáo ông Lưu có lẽ đã giải thích cho lý do tại sao ông Lưu mặc dù bị an ninh mật vụ nhà nước mời đi làm việc vào lúc trước khi Hiến chương 08 được công bố vào ngày 7/12/08, thì nhà cầm quyền phải đợi cho đến cuối tháng Sáu năm ngoái mới "chính thức bắt giữ" ông về tội âm mưu lật đổ nhà nước. Cho dù không có "bí mật nhà nước" nào dính đáng đến vụ án của ông Lưu, thế nhưng vợ ông và những người ủng hộ cũng như giới ngoại giao nước ngoài lại không được phép vào tham dự phiên tòa chỉ kéo dài có 2 tiếng đồng hồ được tổ chức vào hôm 23/12/2009.

Và nhà cầm quyền Trung Cộng đã lựa một ngày lễ quốc tế lúc mà nhiều nhà báo ký giả đang nghỉ không làm việc, đồng thời cũng là khi nhiều người ăn mừng lễ không chú ý gì đến tin tức, để đưa ra một thông báo động trời về bản án tù giam được ấn định cho nhà trí thức 53 tuổi này.

Có nhiều lý do tại sao ÐCSTH lại quá sợ hãi một nhà bất đồng chính kiến lịch lãm biết tự kềm chế, mà những yêu sách của ông ta không bao giờ vượt qua cái mức đòi cải tổ chính trị một cách chậm rãi từng bước một. Ðầu tiên, giới lãnh đạo dưới quyền Chủ tịch Hồ Cẩm Ðào bị sững sờ trước sức mạnh của Internet như một luồng điện kích thích những tiếng nói đối lập. Chỉ trong vòng hai tháng sau khi Hiến chương 08 được phổ biến, hơn 10 ngàn công dân Trung Hoa lục địa đã ký vào bản tuyên ngôn này trên mạng Internet. Những chữ ký không phải chỉ bao gồm các nhà trí thức nhưng có cả thành phần công nhân, giới hưu trí và những người nội trợ. Người ta đã thấy trong hai năm qua có hàng trăm trang blogs, chatrooms và các mạng Facebook lẫn Twitter kiểu Tàu đang đưa ra nhiều tin tức làm cho nhà cầm quyền phải bối rối.

Ðó là lý do tại sao Ủy viên Quốc vụ Mạnh Kiến Trụ, viên chức cao cấp nhất trong ngành công an của Trung Cộng, mới đây đã cảnh báo rằng mạng Internet đã trở thành một "phương tiện quan trọng cho các thế lực chống Trung Hoa thực hiện các hoạt động xâm nhập và phá hoại".
Trừng phạt ông Lưu thật nặng nề là một lời cảnh cáo báo cho cộng đồng xử dụng mạng Internet đang gia tăng nhanh chóng và càng ngày càng bị kiểm soát biết là không nên dùng phương tiện thông tin mới mẻ này để chống lại nhà nước.

Thứ hai, trong khi Bắc Kinh mặc dù đang ngồi trên nguồn dự trữ ngoại hối trị giá 2.2 ngàn tỷ đô la, đã không bỏ qua bất cứ cái gì để xây dựng một bộ máy công an trị, thì càng lúc càng có thêm nhiều kẽ hở đang xuất hiện trong chiếc áo giáp của họ. Hãy lấy một thí dụ, như vụ bạo loạn xảy ra ở Tây Tạng vào mùa xuân năm 2008 và tại Tân Cương hồi tháng Bảy và tháng Tám năm ngoái. Nhiều tuần lễ trước khi bùng nổ ra các vụ lộn xộn này, thì nhiều đơn vị an ninh nhà nước đã thu nhận được nhiều tin tức tình báo liên quan - và Bắc Kinh đã huy động thêm công an, các toán chống khủng bố, cũng như "Công an Nhân dân Vũ trang" đến các khu vực bị ảnh hưởng.

Thình lình với con số tử vong cao - cũng như một số các cáo buộc về "những kẻ đánh đập, đập phá, hôi của" - đã tạo ra một vết lõm khá lớn đánh vào uy tín của cơ chế kiểm soát phức tạp của nhà nước.
Thêm nữa, trong khi Bộ chính trị do họ Hồ lãnh đạo đã đổ hàng tỷ Nhân dân tệ vào để củng cố "công cụ phục vụ cho giới lãnh đạo độc tài của giai cấp vô sản", thì con số đếm được trên toàn quốc về "các sự cố đám đông" - một từ ngữ mập mờ nhằm chính thức ám chỉ các hành động chống nhà cầm quyền - trong năm nay được ước lượng lên đến hơn 100,000 vụ.

Ngay cả việc Bộ chính trị đã bắt đầu mất tin tưởng vào lực lượng quân đội, công an, nhân viên an ninh mật vụ và "Công an nhân dân vũ trang", được minh chứng bằng sự kiện các đảng viên nòng cốt trong bộ phận bảo vệ an ninh, chẳng hạn như uỷ viên Bộ chính trị Chu Vĩnh Khang đã điên cuồng làm sống lại những cơ chế cũ kỹ của "Cách mạng Văn hóa" - và ngôn ngữ

Trong một nỗ lực nhằm phát động một "cuộc chiến tranh nhân dân mới để bảo vệ đảng", hai ông Chu và Mạnh đã cho tuyển mộ nhiều "mật báo viên nhân dân" và thành phần "quần chúng tự phát" để cung cấp tin tức về "những kẻ thù địch với nhà nước" và "tay sai các thế lực chống Trung Hoa ở phương Tây".

Bằng cách áp đặt một bản án nặng nề lên ông Lưu Hiểu Ba, giới lãnh đạo dưới quyền Hồ Cẩm Ðào dường như đang hy vọng ngược lại nguồn hy vọng rằng những thách thức đối với chế độ - được tin rằng là sẽ gia tăng do sự tức giận vì ngăn cách giàu nghèo cũng như một đống những bất công xã hội - sẽ bị chặn đứng.
Image
Ông Lưu Hiểu Ba và vợ là bà Lưu Hà
Nhưng lý do quan trọng nhất tại sao giới cầm đầu ÐCSTH lại quá lo sợ về - và tức giận với - ông Lưu Hiểu Ba là những lời phê phán chế độ của ông ta hình như rất đúng và không chê vào đâu được. Vị cựu giáo sư cao đẳng này đã ghi nhận rằng hoàn toàn không có cách nào để các biện pháp đàn áp của Bắc Kinh có thể "một cách cơ bản và liên tục chống đỡ được cho cái kết cấu độc tài mà trong đó vô số những rạn nứt đang xuất hiện."
Ông Lưu Hiểu Ba cũng đổ lỗi cho ÐCSTH là đang cố tình xử dụng sức mạnh dân tộc để kéo dài cái mệnh trời đang tả tơi của họ.
"Lòng yêu nước chính thức mà chế độ độc tài của ÐCSTH đang quảng bá", như ông Lưu viết, là ngang hàng với việc "kêu gọi nhân dân hãy yêu một chế độ độc tài và một đảng độc đoán". Nhà bất đồng chính kiến đã chỉ rõ ra cho thấy rằng tương lai của Trung Hoa không nằm với "cách hành xử mới của giới cầm quyền" nhưng với "sự lớn mạnh không ngừng của 'các thế lực' mới trong quần chúng".

Cái ngày mà ông Lưu bị tuyên án, hàng ngàn người có cảm tình với ông đã tìm cách nhảy rào vượt qua Bức tường lửa vĩ đại của Trung Hoa lục địa để bày tỏ tinh thần ủng hộ cho người anh hùng của họ vào những chỗ xa xôi trên mạng Internet, là những nơi đã tránh khỏi được sự theo dõi của nhà nước. Dù sao đi nữa thì bên cạnh hàng triệu công an và mật vụ đang vây quanh, 330 triệu cư dân mạng Trung Hoa lục địa càng ngày càng tinh thông hơn trong việc khôn khéo đánh lừa các cơ quan kiểm duyệt.
Thêm nữa, hàng chục người ký tên vào Hiến chương 08 đã tình nguyện cùng đi tù với ông Lưu Hiểu Ba. Sau khi ông Lưu bị tuyên án, vợ ông, bà Lưu Hà nói rằng ông sẽ 65 tuổi vào lúc được trả tự do vào năm 2020. Nhưng rồi bà Lưu Hà lại nói rằng "Tôi sẽ giữ vững niềm tin như [tôi chắc chắn rằng] ông ấy cũng sẽ giữ vững niềm tin".

Như Mao Trạch Ðông đã nói, chỉ cần "một tia sét là đốt cháy cả một giải bình nguyên". Sự bất công to lớn đầy ngu xuẩn đằng sau âm mưu tàn sát của ÐCSTH đối với ông Lưu Hiểu Ba dường như làm giận dữ thậm chí cả một người đã từ lâu vẫn sợ hãi đến im lặng và khúm núm. Và Bắc Kinh có lẽ cảm thấy rằng giết một con gà để nhát khỉ có lẽ không nhằm nhò gì trong lần này.

Phan Lưu Quỳnh phỏng dịch theo "Why is Beijing Afraid of Liu Xiaobo?", Asia Sentinel 26/12/08

Why is Beijing Afraid of Liu Xiaobo?
Written by Willy Lam
Killing the chicken to scare the monkey may not work this time
You cannot find a more low-key, modest, and moderate dissident than Liu Xiaobo, who was jailed on Christmas day – when presumably the western world was on holiday and not reading the newspapers – for 11 years.
A literary critic by training, all that the former lecturer in Chinese literature has done is write articles that are mildly critical of the Chinese Communist Party (CCP) regime. The six pieces that infuriated Beijing – and were cited as evidence of his "crime" of "inciting subversion against state power" were all published in overseas websites, to which Chinese are barred by state-imposed firewalls.
It is true that Liu and a score or so professors and legal experts drafted the Charter '08 Internet petition, which called on the authorities to allow citizens to enjoy civil rights already enshrined in the Chinese Constitution. When the Charter first appeared a year ago, Liu and his friends were attacked by firebrands among the Beijing intelligentsia for not being brave enough to take on the authorities.
The weakness of the CCP's case against Liu perhaps explains why although Liu was hauled in by state-security personnel on the eve of the Charter's publication on December 7, 2008, the authorities waited until last June before "formally arresting" him on subversion charges. Although no "state secrets" were involved in the Liu case, his wife, supporters as well as foreign diplomats were not allowed to attend the two-hour trial which was held on December 23.
And the authorities picked an international holiday when many journalists were off work and when festive revelers were hardly paying attention to the news, to make the shocking announcement of the jail term meted out the 53-year-old intellectual.
There are several reasons why the CCP is so afraid of a gentle and restrained dissident whose demands have never gone beyond incremental, gradualist political reform. First, the leadership under President Hu Jintao was shocked by the potency of the Internet as a galvanizer of the voices of dissent. Within two months of the appearance of Charter '08, more than 10,000 Chinese citizens signed on to the Net-based petition. The signatories included not only intellectuals but workers, retirees and housewives. The past two years have seen hundreds of blogs, chatrooms and Chinese-style Facebook and Twitter sites breaking news that have embarrassed the authorities.
That's why State Councillor Meng Jianzhu, the nation's top cop, warned recently that the Internet had become a "major means through which anti-China forces perpetrate their infiltration and sabotage activities."
Hitting Liu hard is a warning served on the China's fast-growing and increasingly politicized Internet community to not use the new media against the regime.
Second, while Beijing, which is sitting on $2.2 trillion worth of foreign-exchange reserves, has spared nothing to build up a police-state apparatus, more and more chinks have appeared in its armor. Take for example, the riots that hit Tibet in the spring of 2008 and in Xinjiang last July and August. Weeks before the outbreak of these disturbances, various state-security units had picked up relevant intelligence – and Beijing had dispatched additional police, anti-terrorism squads, as well as People's Armed Police (PAP) to affected areas.
The unexpectedly large casualties – as well as numbers of alleged "beaters, smashers and looters" – made a big dent on the credibility of the labyrinthine state-control establishment.
Moreover, while the Hu-led Politburo has poured billions of yuan into beefing up the "tools of the dictatorship of the proletariat," the nationwide count of "mass incidents" – an official euphemism for anti-government activities – this year is estimated at more than 100,000.
That the Politburo itself has started to lose faith in its troops, police, security agents and PAP officers is evidenced by the fact that law-enforcement cadres such as Politburo member Zhou Yongkang have been frenetically reviving Cultural Revolution-vintage mechanisms – and language.
In an effort to launch a "new people's warfare to protect the party," Zhou and Meng have been recruiting vigilantes and neighborhood spies to inform on "enemies of the state" and "agents of anti-China forces in the West."
By slapping a heavy sentence on Liu, the Hu leadership seems to be hoping against hope that challenges to the regime – which are expected to mount due to the exacerbation of the rich-poor divide as well as myriad social injustices – may be kept at bay.
Yet the most important reason why CCP honchos are so afraid of – and angry with – Liu is that his criticisms of the regime seem dead on target. The former college professor has noted that there is no way that Beijing's repressive measures can "fundamentally and perpetually sustain this edifice of dictatorship in which uncountable cracks have appeared."
Liu has also faulted the CCP for trying to use the force of nationalism to extend its tattered mandate of heaven.
"The official patriotism that the CCP dictatorial regime has advocated," wrote Liu, is tantamount to "asking the people to love a dictatorial regime and a dictatorial party." The dissident points out that China's future lies not with the "new deal of the rulers" but with "the ceaseless expansion of ‘new forces' within the people."
The day Liu was sentenced, thousands of his sympathizers managed to vault over the Great Firewall of China to express support for their hero in those far reaches of the Internet that have escaped official surveillance. After all, the CCP's millions of police and spies pale beside the nation's 330 million Internet users, who are becoming increasingly adept at outwitting the censors.
Moreover, dozens of signatories of Charter '08 have volunteered to go to prison with Liu. After Liu's sentence, his wife, Liu Xia, said he will be 65 upon his expected release in 2020. But then Ms Liu said that "I will hold up faith just as he will."
As Mao Zedong said, it only took "a spark from heaven to set the whole plain on fire." The gargantuan, mind-numbing injustice behind the CCP's pogrom against Liu seems to have outraged even a people long cowed into silence and subservience. And Beijing may find that killing the chicken to scare the monkey just may not work this time.

See the Human rights in Beijing Winter slideshow of prisoners serving sentences for criticism of the government.

http://www.asiasentinel.com/index.php?o ... Itemid=171

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

ĐÂU LÀ CHỖ THỰC SỰ ĐÁNG SỢ CỦA NƯỚC MỸ? (Đây là phần lược dịch bài nói ngày 11/9/2002 của ông Lưu Á Châu, hiện đang là Chủ nhiệm chính trị bộ đội Không quân của Quân khu Bắc Kinh.)

Trong quá khứ, vì để giúp Trung Quốc thoát khỏi ách thống trị thực dân mà Mỹ đánh bại Nhật, họ có cống hiến lớn đối với tiến bộ văn minh của xã hội Trung Quốc.

Hai nước Trung Quốc- Mỹ không có xung đột lợi ích căn bản. Ngày nay, do lợi ích của Mỹ rải khắp toàn cầu nên 2 nước có xung đột. Nhưng chúng ta vẫn phải dùng tấm lòng đạo đức để bình xét sự vật chứ không thể kích động. Tôi từng nói rằng đối với Nhật, một nước từng tàn sát mấy chục triệu đồng bào ta, mà chúng ta thường xuyên nói 2 nước "phải đời đời kiếp kiếp hữu hảo với nhau". Thế thì chúng ta có lý do nào để căm ghét nhân dân Mỹ từng giúp ta đánh bại Nhật?

Đâu là chỗ thực sự đáng sợ của nước Mỹ?

Tuy rằng Mỹ có quân đội mạnh nhất thế giới, khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất thế giới, nhưng tôi cho rằng những cái đó không đáng sợ. Nghe nói máy bay tàng hình của Mỹ thường xuyên ra vào bầu trời Trung Quốc rất thoải mái, nhưng điều ấy chẳng có gì đáng sợ cả. Cái đáng sợ của họ không phải là những thứ ấy.

Năm 1972, tôi học ở Đại học Vũ Hán, lên lớp giờ chính trị. Một thầy giáo khoa chính trị nói: "Nước Mỹ là đại diện của các nước tư bản mục nát, suy tàn, đã sắp xuống mồ, hết hơi rồi." Tôi, một sinh viên công nông binh mặc bộ quân phục, đứng ngay lên phản bác: "Thưa thày, em cảm thấy thầy nói không đúng ạ. Tuy rằng nước Mỹ không giống Trung Quốc là mặt trời nhô lên lúc 8- 9 giờ sáng, nhưng Mỹ cũng chẳng phải là mặt trời đang lặn gì gì đó, mà là mặt trời lúc giữa trưa ạ."

Thầy giáo bực mình, tái mét mặt ấp úng nói: "Cái cậu học sinh này, sao dám nói thế hả!" Ông ấy không hỏi tôi tại sao lại nói thế, mà dùng một chữ "dám". Lúc đó tôi thấy hết tâm trạng của ông. Chính là cái nước tư bản mục ruỗng suy tàn ấy vào thập niên 90 thế kỷ trước đã lãnh đạo cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới nhất trên thế giới. Tôi tốt nghiệp đại học đúng vào lúc bắt đầu cải cách mở cửa. Tôi lại có một quan điểm: Nước Mỹ là quốc gia do hàng chục triệu con người không yêu tổ quốc mình hợp thành, nhưng họ đều rất yêu nước Mỹ. Hồi ấy rất nhiều người lãnh đạo vừa chửi Mỹ vừa gửi con cái mình sang Mỹ. Một sự tương phản lớn!

Nói một thôi một hồi rồi, vậy thì cái đáng sợ của Mỹ là ở đâu? Tôi cảm thấy có ba điểm.

Điểm thứ nhất, không thể coi thường cơ chế tinh anh của Mỹ. Chế độ cán bộ, chế độ tranh cử của Mỹ có thể bảo đảm những người quyết sách đều là tinh anh. Bi kịch của Trung Quốc chúng ta, lớn đến nhà nước, nhỏ tới từng đơn vị, phần lớn tình hình là người có tư tưởng thì không quyết sách, người quyết sách thì không có tư tưởng. Có đầu óc thì không có cương vị, có cương vị thì không có đầu óc.

Nước Mỹ ngược hẳn lại, cơ chế hình tháp của họ đưa được những người tinh anh lên. Nhờ thế, 1 là họ không mắc sai lầm; 2 là họ ít mắc sai lầm; 3 là mắc sai lầm thì có thể nhanh chóng sửa sai. Chúng ta thì mắc sai lầm, thường xuyên mắc sai lầm, mắc sai lầm rồi thì rất khó sửa sai.

Mỹ dùng một hòn đảo Đài Loan nhỏ xíu để kiềm chế Trung Quốc chẵn nửa thế kỷ. Nước cờ này họ đi thật linh hoạt, thật thần kỳ. Một Đài Loan làm thay đổi hẳn sinh thái chính trị quốc tế. Điều tôi lo ngại nhất là bộ khung chiến lược phát triển Trung Quốc trong thế kỷ mới sẽ vì vấn đề Đài Loan mà biến dạng. Ngày nay, đối với các dân tộc có thế mạnh thì tính quan trọng của lãnh thổ đã giảm nhiều, đã chuyển từ tìm kiếm lãnh thổ sang tìm kiếm thế mạnh của quốc gia.

Người Mỹ không có yêu cầu lãnh thổ đối với bất cứ quốc gia nào. Nước Mỹ không quan tâm lãnh thổ, toàn bộ những gì họ làm trong thế kỷ XX đều là để tạo thế. Tạo thế là gì? Ngoài sự lớn mạnh về kinh tế thì là lòng dân chứ còn gì nữa! Có lòng dân thì quốc gia có lực ngưng tụ, lãnh thổ mất rồi sẽ có thể lấy lại. Không có lòng dân thì khẳng định đất đai anh sở hữu sẽ bị mất. Có nhà lãnh đạo quốc gia chỉ nhìn một bước. Nước Mỹ hành sự thường nhìn 10 bước. Vì thế cho nên mỗi sự kiện lớn toàn cầu xảy ra sau ngày Thế chiến II chấm dứt đều góp phần làm tăng cường địa vị nước Mỹ. Nếu chúng ta bị họ dắt mũi thì có thể sẽ mất hết mọi con bài chiến lược.

Tôi nhiều lần nói là trung tâm chiến lược của Mỹ sẽ không chuyển sang châu Á đâu, song điều đó không có nghĩa là Mỹ không bao vây Trung Quốc. Rất nhiều bạn chỉ thấy Mỹ bao vây Trung Quốc về quân sự, cũng như rất nhiều người chỉ thấy khoảng cách chênh lệch về KHKT và trang bị vũ khí giữa 2 nước mà chưa nhìn thấy sự mất cân đối nghiêm trọng hơn sự lạc hậu về trang bị trên mặt chiến lược lớn, nhất là trên tầng nấc ngoại giao.

Sau vụ 11/9, Mỹ nhanh chóng chiếm Afghanistan trong vòng 2 tháng, từ phía Tây bao vây Trung Quốc. Sức ép quân sự của Nhật, Đài Loan, Ấn Độ cũng chẳng bớt đi. Xem ra chúng ta giành được từ vụ 11/9 một số lợi ích trước mắt, song các lợi ích đó không quá 1- 2 năm có thể biến mất. Tôi cho rằng bao vây chiến lược đối với Trung Quốc là một kiểu khác, không phải là quân sự mà là siêu việt quân sự.

Bạn xem đấy, mấy năm gần đây các nước xung quanh Trung Quốc tới tấp thay đổi chế độ xã hội, biến thành cái gọi là quốc gia "dân chủ". Nga, Mông Cổ thay đổi rồi, Kazakhstan thay đổi rồi. Cộng thêm các nước trước đây như Hàn Quốc, Phillippines , Indonesia , lại cộng thêm vùng Đài Loan. Đối với Trung Quốc, sự đe doạ này còn ghê gớm hơn đe doạ quân sự. Đe doạ quân sự có thể là hiệu ứng ngắn hạn, còn việc bị cái gọi là các quốc gia "dân chủ" bao vây là hiệu ứng dài hạn.

Điểm thứ hai, sự độ lượng và khoan dung của nước Mỹ. Bạn nên sang châu Âu, sau đó sang Mỹ, bạn sẽ thấy một sự khác biệt lớn: Sáng sớm, các đường phố lớn ở châu Âu chẳng có người nào cả, còn tại Mỹ sáng sớm các phố lớn ngõ nhỏ đều có rất nhiều người tập thể dục, thậm chí cả ngày như thế. Tôi có một câu nói: Tập thể dục là một phẩm chất, tập thể dục đại diện cho một kiểu văn hoá khí thế hừng hực đi lên. Một quốc gia có sức sống hay không, chỉ cần xem có bao nhiêu người tập thể dục là biết.

Người Mỹ có thể lấy quốc kỳ làm quần lót để mặc. Hồi ở Mỹ tôi có mua một chiếc quần cộc cờ sao vạch. Tôi thường xuyên mặc chiếc quần ấy. Tôi mặc nó là để khinh miệt nó, là để trút giận, là một dạng trút sự bực bội và thoả mãn về tâm lý. Người Mỹ mặc nó là sự trêu chọc bỡn cợt, bản chất khác. Người Mỹ có thể đốt quốc kỳ nước mình ngoài phố. Đới Húc [7] nói: Nếu một quốc gia có thể đốt cả quốc kỳ của mình thì anh còn có lý do nào đi đốt quốc gia ấy nữa?

Điểm thứ ba, sức mạnh vĩ đại về tinh thần và đạo đức. Đây là điều đáng sợ nhất. Vụ 11/9 là một tai nạn. Khi tai hoạ ập đến, thể xác ngã xuống trước tiên, nhưng linh hồn vẫn đứng. Có dân tộc khi gặp tai nạn thể xác chưa ngã mà linh hồn đã đầu hàng. Trong vụ 11/9 có xảy ra 3 sự việc đều có thể để chúng ta qua đó nhìn thấy sức mạnh của người Mỹ. Việc thứ nhất, sau khi phần trên toà nhà Thương mại thế giới bị máy bay đâm vào, lửa cháy đùng đùng, tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Khi mọi người ở tầng trên qua cửa thoát hiểm chạy xuống phía dưới, tình hình không rối loạn lắm.

Người ta đi xuống, lính cứu hoả xông lên trên. Họ nhường lối đi cho nhau mà không đâm vào nhau. Khi thấy có đàn bà, trẻ con hoặc người mù tới, mọi người tự động nhường lối đi để họ đi trước. Thậm chí còn nhường đường cho cả một chú chó cảnh. Một dân tộc tinh thần không cứng cáp tới mức nhất định thì dứt khoát không thể có hành vi như vậy. Đứng trước cái chết vẫn bình tĩnh như không, e rằng không phải là thánh nhân thì cũng gần với thánh nhân.

Việc thứ hai, hôm sau ngày 11/9, cả thế giới biết vụ này do bọn khủng bố người A Rập gây ra. Rất nhiều cửa hàng, tiệm ăn của người A Rập bị những người Mỹ tức giận đập phá. Một số thương nhân người A Rập cũng bị tấn công. Vào lúc đó có khá nhiều người Mỹ tự phát tổ chức đến đứng gác trước các cửa hiệu, tiệm ăn của người A Rập hoặc đến các khu người A Rập ở để tuần tra nhằm ngăn chặn xảy ra bi kịch tiếp theo.

Đó là một tinh thần thế nào nhỉ. Chúng ta thì từ xưa đã có truyền thống trả thù. Thành Đô nơi tôi ở, ngày xưa Đặng Ngải [8] sau khi chiếm được Thành Đô, con trai của Bàng Đức [9] giết sạch giá trẻ gái trai gia đình Quan Vũ. Trả thù đẫm máu, lịch sử loang lổ vết máu không bao giờ hết.

Việc thứ ba, chiếc máy bay Boeing 767 bị rơi ở Pennsylvania vốn dĩ bị không tặc dùng để đâm vào Nhà Trắng. Sau đấy hành khách trên máy bay vật lộn với bọn khủng bố nên mới làm máy bay rơi. Vì lúc ấy họ đã biết tin toà nhà Thương mại thế giới và Lầu Năm Góc bị máy bay đâm vào nên họ quyết định không thể không hành động, phải đấu tranh sống chết với bọn khủng bố.

Cho dù trong tình hình ấy họ còn làm một chuyện thế này: Quyết định biểu quyết thông qua có nên chiến đấu với bọn khủng bố hay không. Trong giờ phút quan hệ tới sự sống chết ấy, họ cũng không cưỡng chế ý chí của mình lên người khác. Sau khi toàn thể mọi người đồng ý, họ mới đánh bọn không tặc. Dân chủ là gì; đây tức là dân chủ. Ý tưởng dân chủ đã thấm vào sinh mạng của họ, vào trong máu, trong xương cốt. Một dân tộc như thế mà không hưng thịnh thì ai hưng thịnh. Một dân tộc như thế không thống trị thế giới thì ai có thể thống trị thế giới.

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Vạch Áo Cho Mọi Người Cùng Xem

Phan Thanh Tâm
Ông Phan Thanh Tâm, tác giả bài này, là cháu năm đời của cụ Phan Thanh Giản. Trước 1975, ông làm ở Việt Tấn Xã, Saigòn. Sau 75, ông vượt biển trên một chiếc thuyền nhỏ 13 người từ năm 1976. Lưu lạc một tháng trời giáp một vòng bờ biển các nước Đông Nam Á, đâu đâu ông cũng bị người ta đẩy trở lui ra biển cả. Chặng cuối cùng là đảo Palawan, Phi Luật Tân, thuyền được nhận trở lại vào bờ, nhờ sự can thiệp của một ông cố đạo người Ý đang coi một họ đạo tại đảo này. Ông là một trong nhũng « thuyền nhân » đầu tiên được đặt chân lên đảo nói trên. Bài này viết cách đây sáu năm rồi, với một phong thái thẳng thắn, nhưng ôn hòa, về một vấn đền tự-bản khá gay gắt. Tác giả sẵn lòng cho phép đăng lại để độc giả có dịp chia sẻ những suy nghĩ với ông .

Tốt khoe ra, xấu xa đậy lại và nhất định không có chuyện vạch aó cho mọi người cùng xem. Đó là phương châm của phe ta. Tại sao vậy? Tự cho là thuộc dòng giống con rồng cháu tiên, và có quá khứ hơn bốn ngàn năm văn hiến nên người mình lúc nào cũng tốt , cũng bãnh, cũng anh hùng, xuất chúng. Hễ nói tới người ngọai quốc thì xách mé, trịch thượng; gọi họ bắng thằng, bắng con. Còn nước VN phải là minh châu trời đông, là bó đuốc soi đường. Tuy nhiên gần đây, có dư luận lên tiếng là phải xét lại cái ý tưởng tự tôn, tự đại, ngông cuồng đó. Họ cho rằng cứ hót ca, nâng bi dân tộc mình một cách lộ liễu như vậy hoài thì ta sẽ mãi mãi ngất ngư như con gà mắc dây thun. Chắc hằn phải có vấn đề, có trục trặc đâu đó vì tài khôn như vậy mà chưa ra cái con gì cả trong khi các nước lân bang ở Đông Nam Á nay đã là con cọp, con beo, con sư từ rồi.

Cái hay ở chỗ, người tạo ra dư luận là một nhà thơ hồi nhỏ ở Saigon, du học ỏ Nhật; năm 1966, định cư ở Pháp; năm 1996, trong khi sang Tàu, vớ đựơc một cuốn sách khiến ông “thích thú quá cơ” và ông nghĩ rằng “bất cứ người VN nào khác đọc được, bảo đảm cũng sẽ thích thú”' như ông. Ông tin rằng quyển sách sẽ “giúp nhìn lại mà đánh giá bản thân, dân tộc và văn hóa của mình trong giai đoạn hiện nay”. Vì thiện ý, ông bỏ công ra dịch và mong có nhiều người đọc. Nhà xuất bàn Chân Mây Cuối Trời phát hành bản dịch lấn đầu tiên tại Paris năm 1998. Cuốn sách được đón tiếp nồng hậu. Giới báo chí đua nhau nói về nó. Nhà xuất bản Văn Nghệ ở quận Cam, thủ đô người tị nạn, hưởng ứng in lại; quyển sách được coi là bán chạy trong năm 1999.

Nhà báo Lê Đình Điểu, trước khi qua đời, trong lúc nằm trên giường bệnh, viết bài điểm sách đăng trên Thế Kỷ 21 số tháng 4/99: “Đọc Người Trung Quốc Xãu Xí của Bá Dương, người VN nào cũng liên tưởng đến việc đây là chuyện của mình. Có lẽ chỉ thay cái tựa là Người Việt Nam Xãu Xí cuốn sách cũng vẫn có ý nghĩa. Phải chăng đó là lý do nhà thơ Nguyễn Hồi Thủ bỏ thì giờ, công sức ra dịch cuốn sách sang Việt Ngữ?”.Trả lời câu hỏi cuả nhà phê bình văn học Đặng Tiến, đăng trong Việt Mercury, dịch giả, tên thật là Nguyễn Khôi Minh, sinh năm 1945 tại Hà Bắc nói sự đời là thuốc đắng đả tật; có chướng tai cũng phải lên tiếng. Ông tâm sự, “không đọc quyển sách này có khi đở phải nghĩ ngơị lôi thôi; còn chẳng may đọc cò thể sẽ bị đau khổ nhiều hơn là thích thú”.

Trong bàì phỏng vấn hồi tháng 10/99, khi đề cập về những cuốn sách như Người Việt Đáng Yêu, Người Việt Cao Qúi, dịch giả, đã có bảy tập thơ xuất bàn ờ ngoại quốc từ năm 1968, cho biết, “Đó là chuyện ngược đời. Ở những nước tiên tiến giàu mạnh, chưa có nước nào bốc thơm dân tộc mình một cách lố bịch như thế cả. Người Mỹ, người Nhật, người Pháp, người Đại Hàn đều chỉ có những sách nói lên khuyết điểm, những cái tồi dở của dân tộc, đất nước mình. Bây giờ đến lượt người Trung Quốc. Cuốn Người Trung Quốc Xãu Xí xuất bản ban đầu ở Đài Loan; sau đó được tái bản ở lục địa. Họ đã biết nghĩ, tuy là môt nước lớn, văn hóa lâu đời, nhưng nếu cứ mãi ra rã về những cái vĩ đại thì theo nhá báo Bá Dương, tác giả cuốn sách, Trung Hoa sẽ đi đến chỗ diệt vong mà thôi”.

Nhà thơ Nguyễn Hồi Thủ, trong phần lời người dịch viết, ngay sau khi từ Trung Quốc về đến VN, ông đã đưa bản sao cho một ngươi bạn ở Hà Nội và động viên người này dịch ra tiếng Việt. Nước Trung Hoa Cọng Sản đã chấp nhận cuốn sách. Người Âu Mỹ cũng thế, thì không có lý do gì người VN lại không thề được đọc nó, cho dù không phải đề học hỏi, mà có thể vì hiếu kỳ, thông tin về một nước láng giềng. Ông đã hy vọng cuốn sách sẽ xuất hiện tại VN; nhưng cho đến nay, người trong nước vẫn chưa được đọc. Theo dịch giả, cuốn sách sẽ rất có ích cho tất cả các cộng đồng có liên quan it nhiều đến văn hóa Trung Quốc. Chủ đích của tác giả Bá Dương là nếu muốn phục hưng dân tộc, phải bắt đầu bằng việc thừa nhận các khuyết điểm, sai trái của mình.

Đọc người rồi ngẫm đến ta

Tác giả Bá Dương, là nhà báo, nhà văn, nhà thơ và là sử gia, sinh năm 1920, chạy sang Đài Loan năm 1949, ở tù 10 năm vì các bài viết bị xem là phạm thượng. Ra tù ông đi diễn thuyết về hiện tượng Người Trung Quốc Xấu Xí. Cuốn sách gồm những bài nói chuyện của ông và của những người tranh luận với ông. Có người cho rằng nếu không đọc được sách của Ba Dương là một sự thiệt thòi lớn. Sách hấp dẫn hơn chuyện chưởng của Kim Dung vì nó khiến thiên hạ phải: đọc người rồi ngẫm đến ta. Thấy sao nó giống dữ vậy. Giống dễ sợ. Theo ông, văn hóa Trung Hoa đã biến thành một đầm nước chết, càng lâu càng thối, thành một vại tương rồi. Đăc tính rõ nhất của người Trung Quốc là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Có nhiều nơi, nếu người Trung Quốc đến ở là những người khác dọn đi.

Bất kỳ ở chân trời góc biển nào hễ có người Trung Quốc là có cắn xé nhau. Mỗi người Trung Quốc đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ổ dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Nhưng nếu ba người Trung Quốc họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi . Người Trung Quốc vĩnh viễn không đòan kết được. Mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tai sao họ lại không đòan kết. Bất cư xã hội người Hoa nào it nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau. Họ chưa biết tầm quan trọng của sự hợp tác; nhưng họ có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đòan kết, hay ho đến Thượng Đế cũng có thể khóc được. Những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: chết cũng không chịu nhận lỗi. Họ thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa. Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hay tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định.
Người Trung Quốc sống tại Mỹ cũng vậy, nào cánh tả, cánh hưũ, trung lập, độc lập, thiên tả, trung, trung thiên hưũ, hưũ thiên trung vân vân và vân vân, chẳng biết đường nào mà mò.Người này đối với kẻ nọ đều mang mối cựu thù như nó giết bố mình. Thật không hiểu là thứ dân tộc gì? Đối xử với người Trung Quốc tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính là ngươi Trung Quốc với nhau. Bán rẻ, hăm dọa người Trung Quốc lại không phải là ngưới Mỹ mà là người Hoa. Người Tây Phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc đã đánh nhau rồi thì cưù hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đơi cũng chưa hết .Sống trường kỳ trong cái hũ tương lâu ngày quá tự nhiên sinh ra tâm lý cẩu thả. Một mặt tự đại khoe khoang, còn mặt khác tự ti, ích kỷ; không có can đảm dám khen người khác, chỉ có dũng khí dùng để đả kích kẻ khác; chửi bới sau lưng; yêu thì sợ chúng cười, ghét thì sợ chúng thù. Họ vĩnh viễn không thể nào so sánh được với ngươi Do Thái, chỉ cần so sánh với người Nhật, ngươi Đại Hàn là cũng thấy bị thua tới cả trăm nghìn năm ánh sáng rồi.
Người Trung Quốc sợ sệt đủ moi thứ trên đờì. Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chuá, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa, bạo quan không bao giờ bị tiêu diệt, và đã biến dân tộcTrung Quốc thành một dân tộc hèn mọn. Sức tưởng tượng, óc suy xét, tư duy củu giới trí thức bị bóp chết, xơ cứng. Trong 4000 năm, từ Khổng Tử trở đi, không còn có một nhà tư tưởng nào lớn nữa. Cái hũ tương văn hóa, cái hũ tương thối làm cho người Trung Quốc xấu xí, không thể dùng tư duy của mình giải quyết, phải bắt chước, phải dùng cái tư duy của kẻ khác; lớn lên trong tham ô, hỗn loạn, chiến tranh, giết chóc, bần cùng, cho nên chẳng bao giờ có cảm giác an toàn, lúc nào cũng hoảng hốt, lo âu. Trung Quốc diện tích rộng thế, lâu đời thế mà người Trung Quốc lại có một tâm điạ thật hẹp hòi, không muốn ai hơn mình. Phải chăng Thượng Đế đã phú cho chúng ta có một nội tâm xấu xa?

Trên đây là những đọan trích các ý tưởng tàn mạn trong sách của nhà báo Bá Dương. Ai cũng biết, gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Hơn một ngàn năm bị đô hộ, lại sống sát nách một kẻ như thế, chẳng lẽ ta gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn? Họ sao ta vậy hay ta tệ hơn thì chẳng có gì lạ cả. Hơn nữa, mỗi dân tộc có mỗi bệnh trạng xã hội. Bệnh trạng của ta cọng thêm bệnh trạng của anh bạn láng giềng thì chắc phải hết thuốc chữa; hèn gì nước ta lúc nào cũng loay hoay như gà mắc đẻ, lệt bệt đi sau hửi đít thiên hạ. Nếu văn hóa Trung Hoa đã biến thành một cái hũ tương thối thì văn hóa ta là cái hũ gì? Hũ vàng hay là hũ mắm thối? Còn Người VN ra sao? Thử nhìn thoáng vào gương xem .

Mẫu người Việt Nam

Trong cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim có đoạn tả tính tình người VN trước năm 1930 như sau: Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người VN có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lấy sự nhân nghỉa, lễ, trí, tín làm năm đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy cũng có hay tính tinh vặt, cũng có khi quỉ quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình nhưng mà đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỹ luật. Tâm điạ thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang, và ưa trang hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma, tin quỉ, sùng sự lễ bái nhưng mà vẫn không nhiệt tin tôn giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng nhân, biết thương người và hay nhớ ơn. Đán bà thì hay làm lụng và hay đảm đang, khéo chân, khéo tay, làm được đủ moi việc mà lại biết lấy việc gia đạo làm trọng, hết lòng chiều chồng, nuôi con, thường giữ được các đức tính rất quí là tiết, nghĩa, cần, kiệm.

Với mẫu người nói trên và nếu cho rằng, văn hóa là sinh hoạt, ta không hiểu văn hóa ta là văn hóa gì, lại có thề sản sinh một tay gian hùng nhưng rất thành công như Trần Thủ Độ. Việt Nam Sử Lược của học gỉả Trần Trọng Kim cho biết, vì cốt gây dựng cơ nghiệp cho nhà Trần, dù tàn bạo đến đâu Trần Thủ Độ cũng làm cho được. Ông đã chôn sống cả giòng họ Lý. Trước đó, Trần Thủ Độ nói với vua Lý Huệ Tông, tuy đã bỏ ngôi vua, xuất gia đi tu, môt câu để đời “nhổ cỏ thì phải nhổ cả rể cái”. Trong khi đó, Nguyễn Trãi, đại công thần của vua Lê Lợi , thảo ra Bình Ngô Đại Cáo, môt bản văn chương giá trị, và là tác gỉả câu đầy tình người 'Thương người như thể thương thân', trong tập Gia Huấn Ca, thì lại bị giết cả họ vì bị kết tội là dùng người thiếp đẹp và giỏi thơ, Nguyễn Thị Lộ, để mưu hại nhà vua.

Trong cuốn Từ Thực Dân Đến Cộng Sản, tác giả Hoàng văn Chí cho biết, vào những năm 1954 và 1956, khi Cộng Sản Việt Nam đem chiến thuật “Cải Cách Ruộng Đất” cuả Mao Trạch Đông, áp dụng tại Bắc Việt, mới thấy người mình sao lại có đầu óc nô lệ dữ vậy. Đúng như cụ Trần Trọng Kim phê bình:”từ tư tưởng cho chí công việc làm, điều gì mình cũng lấy Tàu làm gương. Hễ ai bắt chước được Tàu là giỏi, không bắt chước được là dơ”'. Mà theo Bá Dương, Trung Quốc hiện tại còn là một nước dã man nguyên thủy, thì việc Cọng Sản Việt Nam đưa ra phương châm: “thà sai hơn là bỏ sót” trong khi phát động chiến dịch long trời lỡ đất nói trên cũng là điều hiển nhiên thôi. Ở các nước văn minh thì khác. Nguyên tắc luật pháp của họ là: thà tha lầm hơn bắt lầm.

Mặc khác, trên sân khấu chình trị nước ta có một “diễn viên kỳ tài”, chữ cuả nhà văn Vũ Thư Hiên khi nói về Hồ Chí Minh, một người làm cách mạng chuyên nghiệp, được huấn luyện tại Nga, tên thật là Nguyễn Sinh Cung. Ông tiến, ông thoái, khi hai bước, khi ba bước, khi khóc, khi cười, khi ôm hôn thắm thiết, biến ảo khôn lường. Cả thế giới đều nghe danh ông. Cho đến nay chưa ai biết rõ “con đường bác đi”. Theo giaó sư Nga Anatoli Sokolov, chuyên viên Liên Sô về Việt Nam Học, tại Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Phương ở Mạc Tư Khoa, trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh, ông có trên 150 bí danh. Để cho “chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới” ông sẵn sàng mua chiến thắng đó “dẫu phải đốt sạch cả dãy Trường Sơn” hay phải “đánh Mỹ đến người VN cuối cùng” .Không hiểu khí thiêng sông núi VN thế nào mà lại có thể sản sinh ra một con ngươi kỳ dị như vậy? Chính ông đã gây ra bao cuộc bể dâu, chết chóc.

Hồi thập niên 60, có bài Tâm Ca Số Năm của Phạm Duy mang tên Để Lại Cho Em nói lên thực tế của đất nước: “bây giờ chỉ còn là một mảnh đất bị chia cắt, cày xới lên bởi bom đạn. Hận thù nhân danh chủ nghĩa, bạo lực vênh vang bề thế”; và “Đường về tương lai nghẽn lối”. Thế hệ đàn anh chỉ đề lại “những giả dối, đê hèn, và vụng dạI”. Bài hát lưu hành ở miền Nam rồi rơi vào quên lãng, bị át bởi tiếng xe tăng, máy bay, hỏa tiển, AK, M16. Vũ khí này được cung cấp bởi các nước đồng minh của hai miền Nam Bắc. Đó là hệ quả của việc tìm đường cứu nước của bậc tiền bối. Kè đi Tàu, đi Nga, ngưòi đi Tây, đi Nhật, đi Mỹ. Ai cũng cho là thuốc mình mang về là thuốc tiên; nhưng vì muốn độc quyền trị nước nên VN thành nơi thử lửa cuộc chiến tranh lạnh. Nước ta hết nạn hủ nho, thì đến nạn hủ Marx, hủ Mao. “Tôi không có tư tưởng ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác Lê Nin”. Ông Hồ Chí Minh đã khẳng định như thế .(1)

Trong ba mươi năm nội chiến từng ngày, nửa nước từ con sông Bến Hải trở ra bắc theo Nga, theo Tàu; nừa nước phía nam chống lại bằng dựa vào Tây, vào Mỹ. Cuối cùng miền Nam sụm vì đỡ hoài thì ắt có ngày bị đánh gục. Lại nữa, Hoa Kỳ rút lời cam kết, ngưng viện trợ. Chỉ nội hai tháng ba và tư năm 1975, cả một chế độ tan tành. Khôn sống, mống chết. Tướng tá cao chạy xa bay, tìm đường thoát thân. Trong lúc trời đất nổi cơn gió bụi mới thấy nhân tài, khôn lanh thì nhiều như lá mùa thu, còn tuấn kiệt thì như sao mai buổi sớm. Có bao nhiêu người đứng lại chịu chết, chịu tù, chịu nhục, chịu chia xẽ với thuộc cấp ? Anh hùng tất phải hiếm. Điều đó dễ hiểu. Nhưng đâu rồi câu hát “Dân ta hằng anh dũng, dân ta vẫn oai hùng, dân ta dù nguy biến không nao”?

Ngày 30/4/1975 là ngày phơi bày rõ ràng bộ mặt của cấp lãnh đạo hai miền: miền Nam hèn kém, miền Bắc xảo trá, đê tiện, đầu óc nô lệ. Sau khi chiếm Saigon, chính quyền Cọng Sản tìm cách tiêu diệt các thành phần tinh nhuệ bằng học tập cải tạo và vơ vét, cướp bóc tài sản của miền Nam một cách có hệ thống bằng hai chữ quản lý. Họ lại đốt sách baó và cấm lưu trữ các sản phẩm văn hóa cũ như thời Tần Thủy Hoàng. Họ cố xoá bỏ căn cước của dân miền Nam. Dân miền naỳ không thấy được giải phóng mà thấy mình là dân bị trị, bị người anh em làm nhục, trả thù vì thế mới có chuyện người Việt dù chết vẫn tìm cách lao đầu ra biển, làm mồi cho hải tặc, cho sóng dữ. Đến ngay “cả cái cột đèn nếu biết đi cũng còn muốn bỏ nước ra đi”. Dân tộc VN, có quá khứ dài lâu; anh em như thể chân tay, sao lại không thể sống chung với nhau, mà lại đi ra xứ người sống với thiên hạ?

Con Rồng Cháu Tiên?

Sau thế chiến thứ hai, chỉ trong vòng 20 năm, hai nước chiến bại, Đức và Nhật đã phục hưng nhanh chóng, trở thành cường quốc kinh tế. Ông Bá Dương đã ví họ, “chẳng khác nào, một anh khổng lồ ba đầu sáu tay, đùng một cái bị đánh gục xuống đất, một lúc sau từ từ hồi tỉnh, đứng dậy phủi quần aó bước đi, vẫn đường đường là một hảo hán”. Còn nước ta, Việt Nam là một nước nghèo. Đời sống nói chung so với các nủớc ở Đông Nam Á hãy còn thấp. Theo tin báo, nhà nước lại tăng cường tốc độ các bức tường lửa để kiểm soát các ngươì vào Internet. Người dân chưa được tự do xử dụng máy in, một phát minh từ thế kỷ 15 của ông Johann Gutenberg. Mọi ấn phẩm đều phải có giấy phép của chính quyền. Ở thời đại tin học mà còn phải làm báo chui, báo lậu như tờ Thao Thức của một số sinh viên thì phải kể là chuyện lạ bốn phương.

Tháng 5/1999, nhà văn Dương Thu Hương, từ trong nước đã gửi lén ra hải ngoại một đoản văn. Theo cô: “sau chiến tranh ngót một phần tư thế kỷ, trên dãi đất này vẫn chỉ nghe rõ tiếng vỗ cánh của bầy quạ đen trên các nghĩa địa nối dài từ bắc vào nam, từ nam ra bắc” và “Chiến tranh không làm cho các công dân chín chắn hơn , khôn ngoan hơn, xử dụng quyền công dân mạnh bạo hơn mà ngược lại nó khiến đám đông hèn nhát hơn, dễ thỏa hiệp hơn vơi sự nhục nhã, dễ cúi đầu hơn trước tội ác”. Tại sao vậy? Ông Nguyễn Gia Kiểng, thuộc nhóm Thông Luận trong bài Vết Thương 30/4/1999 cho rằng:''Đó là vì dân tộc ta đã rã hàng, mỗi người tự thấy mình cô đơn, có muốn cũng chẳng làm được gì. Đó cũng là vì đã quá chán đất nước, đã mệt mõi, đã mất ý chí và lòng tự hào. Đảng Cọng Sản không phải chỉ đánh gục phe quốc gia hay miền Nam. Họ đã đánh gục được cả dân tộc VN. Chúng ta đã bị đả thương quá đau nên không thể đứng dậy”.

Còn hải ngoại, được coi như là một VNCH nối dài thì thế nào? Tờ báo Hợp Lưu số 49 viết: “có nước nào trên thế giới chỉ bé tí bằng lỗ chân lông như Bolsa tiểu quốc, thế mà cái gì cũng thặng dư lạm phát. Báo chí thì rợp trời kín đất như lá mùa thu.Văn bút thì chúng tôi có đến nhị vị chủ tịch (dù bây giờ chả còn ai trên thế giới công nhận, nhưng mặc xác thế giới, chúng tôi cứ là văn bút , cứ là chủ tịch, làm gì nhau?), cộng đồng cũng đương kim hai ngài tổng thống (dù thật thà mà nói, trông mặt các ngài, con nít sẽ khóc thét như gặp ma, người lớn sẽ nôn nao ruột gan muốn ói), và chính phủ lưu vong cùng đảng phái yêu nước, nói không phải khoe, trung bình mỗi tháng mọc thêm chừng mươi cái, nhanh , nhiều như nấm dại mùa đông”. Sang đây, mất tất cả, thiên hạ mơ có quyền lực, mong có cái danh. Ông nào cũng tự cho mình có sứ mệnh, như “ai bao năm từng lê gót nơi quê người” của thuở nào. Vàng thau lẫn lộn, không biết đâu là thật, đâu là giả.

Năm 1958 hai tác giả William J.Lederer và Eugene Burdick cho phát hành cuốn The Ugly American (Người Mỹ Xấu Xí), nói về thói hư, vụng về, ngu dốt, tham nhũng, dốc tướng, của các chính khách Mỹ. Cuốn sách gây xôn xao trong chính trường Hoa Kỳ, bán rất chạy. Hơn sáu triệu ấn bản được bán ra. Tổng Thống Mỹ Eisenhower phải cho thành lập một ủy ban gồm chín nhân vật có uy tín để duyệt xét lại các chương trình viện trợ quân sự. Thựơng viện Hoa Kỳ cùng lập một nhóm nghiên cưú cuốn sách và gửi cho mỗi Nghị sĩ mỗi người một cuốn. Ông Bá Dương viết, họ có năng lực sưả sai, tự điều chỉnh mình. Thay vì lấy tay che đít, họ nói toáng lên cho mọi người biết “'tôi có bệnh trĩ đây”. Họ có được cái trí tuệ và dũng cảm, tìm cách sửa đổi và giải quyết một cách thỏa đáng những lỗi lầm.

Nước Việt Nam cứ lẫn quẫn trong vòng chậm tiến, cũng “hoang mang lúng túng chẳng kém các cụ nhà Nho cách đây một thế kỷ” là vì ta không biết mình biết ta. Ta cần có một cuốn Người Việt Xãu Xí để “nôn ra được tất cả những thứ dơ bẩn trong ruột”, rồi tìm ăn những thứ có chất dinh dưỡng tốt, giúp ta có thể tự phản tỉnh. Bỏ chuyện tự kiêu hảo, giấy rách giữ lấy lề hay đói cho sạch rách cho thơm, thẳng thắng nói lên những tệ hại của dân tộc mình, để cùng nhau cải tiến. Trong thế kỷ và thiên niên kỷ mới, nhân loại đang tiến nhanh tiến mạnh trong cuộc cách mạng thông tin, chúng ta phải lẹ lẹ lên. Chậm thì chết. Chúng ta hãy hè nhau vạch áo cho mọi người cùng xem, nếu không, thay vì Con Rồng Cháu Tiên lại trở thành con khùng cháu điên mất. Phải không quí vị?

Phan Thanh Tâm
(1) Viết cho Mẹ & Quốc Hội của Nguyễn văn Trấn, nhà xuất bản Văn Nghệ năm 1995

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Những tập tục mai táng kỳ lạ nhất trên thế giới

Tuỳ vào mỗi nền văn hoá, tín ngưỡng mà các dân tộc có những tập tục mai táng khác nhau, nhưng có những tập tục mai táng hết sức kỳ lạ, thậm chí… hơi đáng sợ.

Thiên táng

Image
Đây là một tập tục kỳ lạ ở Tân Cương. Theo truyền thống lâu đời của người dân địa phương, sau khi chết,
xác của những người quá cố phải được đưa lên cao trên trời. Vì vậy, những người quá cố thường được đem lên những đỉnh núi cao sau khi chết,
để cho kền kền và các loài chim ăn thịt khác rỉa xác. Sau đó, phần xương cũng phải được xay ra để cho chim ăn.

Treo quan tài

Image
Treo quan tài là tập tục kỳ lạ của tộc người Bo ở Tây Nam Trung Quốc.
Quan tài của người chết sẽ được treo lên những vách núi đã dựng đứng trong vùng.

Quan tài theo mong ước

Image
Một tập tục hết sức thú vị. Quan tài của người chết sẽ được thiết kế như mong ước của họ khi còn sống.
Ví dụ như những người yêu thích máy bay, sẽ được chôn trong met chiếc quan tài hình máy bay.
Tập tục này xuất hiện ở một số nước châu Phi và khá nhiều nơi trên thế giới.


Mai táng tại gia

Image
Tập tục này được cho là có nguồn gốc từ nền văn minh Maya. Người chết sẽ được chôn ngay dưới ngôi nhà nơi họ sống,
người ta tin rằng việc này sẽ khiến người chết được gắn bó với người thân và gia đình mình mãi mãi.

Mai táng gia đình, người thân

Image
Theo truyền thống của người Fiji, khi một người đàn ông qua đời, sẽ có rất nhiều nghi thức được tổ chức trước khi an táng.
Đặc biệt, một số người thân và bạn bè của người đàn ông cũng sẽ đi theo người chết (thường là tự nguyện).
Người Fiji tin rằng chôn những người thân cận theo người chết sẽ giúp họ cùng đi với nhau trong cuộc sống tiêp theo của họ.
Tập tục này bắt nguồn từ văn hoá của người Ai Cập và vua chúa Trung Quốc thời xưa.

Táng vợ theo chồng

Image
Sati là tên của một hình thức an táng người chết cổ xưa ở Ấn Độ. Theo truyền thống Sati, khi một người đàn ông có vợ qua đời,
người vợ cũng sẽ phải chết theo chồng để chứng tỏ lòng trung thành của mình.

'Lễ hội mai táng'

Image
Tại Trung Quốc, người ta tin rằng khi một gia đình có đám tang, càng nhiều người đến dự và đám tang
càng “xôm tụ” thì tang gia lại càng gặp nhiều may mắn.
Vì vậy, các gia đình có người chết luôn cố gắng kéo càng nhiều người đến càng tốt, thậm chí họ còn thuê cả vũ công và ca sĩ về biểu diễn trong đám tang.

Famadihana

Image
Famadihana là cách tưởng nhớ người đã chết của cư dân ở Madagascar. Sau 7 năm người chết được mai táng,
những người trong gia đình sẽ quật mộ người quá cố lên, sau đó thay mới những tấm vải liệm đã rách nát.
Vải liệm cũ sẽ được giao cho những cặp vợ chồng trẻ, người ta tin rằng những tấm vải liệm này sẽ đem đến may mắn trong việc thụ thai.


Mai táng sinh thái

Image
Vì trong cơ thể con người chứa nhiều kim loại nên sau khi chết, ngưới quá cố sẽ được hoả thiêu, sau đó đem tro cốt đi tách kim loại,
phần còn lại sẽ được đem chôn. Đây được xem là một cách mai táng "thân thiện với môi trường" ở Thuỵ Điển.

Chôn' trong vũ trụ

Image
Đây là “xu hướng” mai táng mới nhất hiện nay. Để có thể mai táng theo cách này,
người ta phải bỏ ra ít nhất là 1.000 USD để đem tro cốt vào không gian bằng tên lửa.

Hoá kim cương

Image
Cách thức mai táng này khá kỳ lạ. Cơ thể chúng là được cấu tạo từ cacbon, vì vậy, sau khi hoả thiêu sẽ còn lại tro.
Tro này sẽ được đem tạo thành kim cương và người thân có thể giữ bên cạnh mãi mãi.

Tự ướp xác

Image
Một trong những phương pháp mai táng khó nhất được biết đến, thường được thực hiện bởi các nhà sư.
Để có thể tự ướp xác, người ta phải có một chế độ ăn uống đặc biệt trong ba năm. Khi cảm thấy đã sẵn sàng,
người tự ướp xác sẽ tự chui vào mộ của mình và ở đó cho đến lúc chết.
Mỗi ngày, người tự ướp xác sẽ rung chuông một lần,
đến khi nào không còn nghe thấy tiếng chuông nữa nghĩa là họ đã chết.
Từ trước đến nay, chỉ có khoảng 24 nhà sư đã tự an táng theo hình thức này.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

EATING CHINESE BUFFET,
Chết vì thức ăn nhập cảng từ Trung Cộng,
Đừng mua thức ăn "made in China
"

ĐỪNG ĂN SỦI CẢO CỦA TRUNG CỘNG
Càng ngày người ta càng khám phá thực phẩm TC có chứa độc tố hại sức khỏe. Cá nhân gian thương hay chủ trương của nhà nước TC ??? Tôi nghĩ rằng đây là một chủ trương của đảng CS Tàu.

Bánh sủi cảo Trung Cộng, một thí dụ khác về đạo đức nghề nghiệp kiểu “xã hội chủ nghĩa”.
Chiến tranh ngày nay có tính cách toàn diện, không chỉ về mặt quân sự, kinh tế mà còn về mặt xã hội. Một đất nước gồm những công dân bịnh tật có thể an bình được không ? Dân Tàu nghĩ xa hàng trăm năm (trồng người !) nên nhắm mục tiêu xa: tạo cho
xã hội tư bản Tây phương những công dân bịnh hoạn để tạo một gánh nặng cho chính phủ trong thời bình, khi có chiến tranh thì không cầm súng được !

Có những thực phẩm nhà nước cấm dân trong nước ăn, nhưng khuyến khích xuất cảng.
Taị sao? Câu trả lời quá rõ.

Tuyệt đối tẩy chay, không mua bất cứ hàng hóa nào của TC, ngay cả không đi ăn nhà hàng Tàu.


Nhà hàng Tàu ở Mỹ sống được là nhờ người tị nạn. Những nhà hàng này nhập cảng thực phẩm thẳng từ TC. "Diểm Sắm" đông lạnh nhập cảng từ TC, nhà hàng Tàu chỉ hâm
nóng rồi bán (xem hình "sùi cảo").

Chúng ta chấp nhận nguy hiểm để tìm tự do, không phải để ĂN, BỆNH, rồi CHẾT !
Chết vì... ăn, nhất là ăn thức ăn TC là một cái chết lảng xẹt !!!


Đầu tháng 2 năm 2008, người dân các nước có nhập khẩu thực phẩm đông lạnh của Trung quốc thật sự bàng hoàng khi biết được bánh sủi cảo dưới dạng đông lạnh có chứa độc tố Methamidophos. Nhiều người phải vào bệnh viện cấp cứu vì trúng độc khi ăn bánh sủi cảo của Trung quốc. Chính phủ các nước, đặc biệt là Nhật Bản (nơi nhập cảng bánh sủi cảo của Trung quốc nhiều nhất thế giới), đã yêu cầu chính quyền Trung quốc điều tra nguyên nhân. Nhưng, như thường lệ, Bắc Kinh lên tiếng bác bỏ ngay, vì cho rằng hàng xuất khẩu từ Trung quốc đều có phẩm chất tốt,

không chứa độc tố, và cho rằng, nếu có thì hẳn là do ai đó thêm vào sau khi được nhập khẩu vào các nước khác, rồi đổ lỗi cho Trung quốc nhằm phá hoại nền kinh tế xuất khẩu của họ. Trung Quốc cũng lớn tiếng lên án là một số thế lực và giới truyền thông Nhật muốn làm lớn chuyện này để thực hiện ý đồ chính trị đen tối.

Trước thái độ của Bắc Kinh, chính phủ các nước đã tăng cường biện pháp kiểm tra hoặc cấm nhập khẩu một số mặt hàng thực phẩm đông lạnh từ Trung Quốc bị tình nghi có độc tố. Về phía người tiêu thụ thì tuy chẳng có một sự vận động nào, nhưng hầu hết không ai dám mua bánh sủi cảo của Trung quốc nữa. Không chỉ bánh sủi cảo, mà hầu hết các mặt hàng thực phẩm đông lạnh “Made in China ” đều bị nhìn bằng con mắt ngờ vực.

Trước tình trạng này, chính quyền Bắc Kinh không còn cách nào khác hơn là phải hứa cho điều tra vụ việc, đồng thời tiết lộ các cơ quan kiểm phẩm của họ cũng đã phát hiện mấy trường hợp bánh sủi cảo ở thị trường nội địa có chứa độc tố Methamidophos.
Nhưng từ đó đến nay, không hề nghe Bắc Kinh cho biết gì thêm về kết quả điều tra...
Bỗng dưng ngày 27 tháng 3 năm 2010, Tân Hoa Xã loan tải một bản tin ngắn cho biết công an đã bắt được thủ phạm bỏ chất độc Methamidophos vào bánh sủi cảo. Tuy nhiên chính quyền Bắc Kinh lại cấm không cho các ký giả tường thuật nội vụ theo sự điều tra riêng của giới truyền thông, mà chỉ cho phép đăng lại bản tin của Tân Hoa Xã.


Chính quyền Hồ Cẩm Đào biết chắc là sẽ bị người dân Trung Quốc lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ trên mạng Internet, nên từ hai tuần qua nhà nước Trung Quốc đã khống chế các mạng thông tin gắt gao hơn. Bộ công an Trung Quốc cũng có tổ chức họp báo để công bố một số chi tiết về thủ phạm vụ bỏ độc tố vào bánh sủi cảo. Theo công an thì thủ phạm là một người đàn ông trung niên, tên Lữ Nguyệt Đình, quê ở tỉnh Hà Bắc, trước đây làm bếp cho công ty thực phẩm đông lạnh Thiên Dương. Vì bất mãn chế độ lương bổng của công ty, Lữ Nguyệt Đình đã dùng ống chích bơm chất độc Methamidophos vào bánh sủi cảo !!!

Cũng theo công an thì thủ phạm đã khai rằng, sau khi thi hành xong, họ Lữ đã vứt ống chích và một ít chất Methamidophos gói trong bao ni-lông xuống ống cống của hãng, và công an đã phát hiện và thu giữ các vật chứng này. Ngoài ra Bắc Kinh còn cho biết, ở khâu sản xuất và khâu bao bì của hãng thực phẩm Thiên Dương đều có đặt máy quay phim để kiểm soát và theo dõi rất gắt gao nhân viên làm việc và bất cứ ai ra vào ở hai khâu này, nhưng không tìm thấy, chứng tỏ không có ai bỏ độc tố Methamidophos vào bánh sủi cảo. Từ đó suy ra độc tố có trong bánh sủi cảo là do ai đó ở khâu nhận hàng ở các nước bỏ vào, và vì vậy nằm ngoài sự kiểm soát của hãng Thiên Dương cũng như không thuộc trách nhiệm của chính phủ Trung Quốc.


Do vấn đề thực phẩm Trung Quốc chứa độc tố liên quan đến sức khỏe và sinh mạng người dân Nhật, nên truyền thông, báo chí ở Tokyo không những đã liên tục đưa tin, mà còn vạch ra những sự mập mờ, vô lý trong cách giải thích của công an Trung Quốc. Chẳng hạn như, thủ phạm Lữ Nguyệt Đình phục vụ ở nhà bếp, không liên hệ gì đến khâu sản xuất hay khâu bao bì bánh sủi cảo, thì không thể nào tiêm độc tố Methamidophos vào bánh xuất khẩu được. Và nếu đúng như lời giải thích nêu trên của Bắc Kinh thì một nhân viên làm bếp của hãng Thiên Dương không thể nào chích độc tố vào bánh sủi cảo được. Thế nhưng tại sao bây giờ Bắc Kinh lại bảo rằng thủ phạm là một anh làm bếp.

Những sự vô lý trong lối giải thích của Bắc Kinh cho thấy, đây chỉ là lối giải thích để cho qua chuyện. Họ vẫn quen dùng lối giải thích lấp liếm này đối với người dân của họ. Nếu có ai bất mãn, phản đối là bị trù dập ngay. Nhẹ thì bị gọi tới sở công an làm việc đôi ba ngày, nặng thì phải vào tù... Nhưng đối với dư luận các nước thì chẳng ai chấp nhận được lối giải thích lấp liếm đó. Ngoài dư luận báo chí Nhật, về phía các quan chức của sở Vệ sinh An toàn thực phẩm Nhật thì nói rằng họ không muốn “sùi bọp mép” với Bắc Kinh về vụ bánh sủi cảo nữa, và yêu cầu Bắc Kinh trưng dẫn bằng chứng cũng như kết quả điều tra, nhưng cứ bị khất lần..


Thực ra vụ bánh sủi cảo của Trung Quốc có độc tố chẳng phải là vụ đầu tiên khiến người ta nghi ngờ và đặt vấn đề về phẩm chất các mặt hàng thực phẩm xuất khẩu của Trung Quốc. Chỉ trong vòng một vài năm gần đây, sau khi bị thế giới khám phá và nêu lên, Trung Quốc đã phải thừa nhận những sự việc đáng xấu hổ không chỉ về những mặt hàng thực phẩm của họ, mà còn trong nhiều sản phẩm và sự kiện khác. Từ sự dấu nhẹm sự bộc phát của dịch cúm gà cho đến thực phẩm cho chó mèo, hay sữa bột cho người có chất độc... Với lối làm ăn và “đạo đức nghề nghiệp xã hội chủ nghĩa”, chắc chắn những tai tiếng về phẩm chất đáng nghi ngờ của các mặt hàng Trung Quốc sẽ không dừng lại ở vụ bánh sủi cảo. Đối với thế giới thì những hậu quả chết người do dùng hàng hoá của Trung Quốc không đáng kể, vì hầu hết các chính quyền đều ý thức được trách nhiệm của họ trong việc bảo vệ sức khoẻ cho người dân; bên cạnh đó, còn có tự do báo chí, vừa để cảnh giác người dân, vừa khiến nhà nước không thể lơ là được khi phát hiện những điều bất thường. Điều đáng lo là, không chỉ các mặt hàng thực phẩm đông lạnh có độc tố của Trung Quốc bán không được, bị trả về Trung quốc, mà nhiều mặt hàng khác cũng vậy; tuy nhiên những thứ này sau đó lại được tống sang Việt Nam bằng nhiều ngõ, mà chính quyền Hà Nội không dám ngăn cản, vì sợ mất lòng đàn anh phương bắc.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Tòan bộ Ban Việt Ngữ đài BBC có thể bị đóng cửa!
Tin từ nghiệp đòan Ký Giả Anh Quốc vừa phổ biến bản tin cho biết, họ lên án việc cắt giảm ngân sách của chính phủ Anh đối với Thế Giới Vụ đài BBC bắt đầu từ tài khóa năm tới 5.4.2011. Nghiệp đòan sợ rằng các Ban tiếng Macedonian, Serbian, Moldovan và ban tiếng Việt sẽ bị đóng cửa hòan tòan.

Chính phủ Anh dự tính sẽ cắt giảm từ 25 đến 40% tức khỏang 300 triệu bảng của Thế Giới Vụ sẽ dẫn đến cắt giảm các dịch vụ và nhân viên đang phục vụ khắp nơi trên thế giới khỏang 2 ngàn người, phát thanh bằng 32 ngôn ngữ khác nhau với các thông tín viên và biên tập viên riêng.

Thế Giới Vụ được tài trợ trực tiếp từ Bộ Ngọai Giao Anh (Foreign and Commonweath Office) khác với các nghiệp vụ BBC khác được lấy từ tiền sử dụng truyền hình của người dân (TV Licence).

Ông Peter Horrocks, giám đốc Ban Tin Tức thế giới của BBC Thế Giới Vụ vừa thông báo đến tòan thể nhân viên rằng việc tái bố trí lại cơ cấu Thế Giới Vụ là cần thiết để tăng cường hiệu năng thông tin và phuơng cách làm việc chung với nhau sẽ hiệu quả hơn để tiết kiệm ngân sách. Chỉ còn một tuần nữa Chính Phủ sẽ chính thức thông báo việc cắt giảm này nhưng việc công bố tin tức hôm nay là cần thiết.

Được hỏi về sự kiện có thể đóng cửa Ban Việt Ngữ đài BBC, ông Vũ Khánh Thành, cựu Nghị Viên thành phố Hackney London, nơi có đông người Việt nhất tại Anh sinh sống, ông phát biểu rằng, “đó là một tin đáng buồn cho người Việt Nam cả trong nước lẫn hải ngọai vì đài BBC từ hơn 50 năm qua đã như là nguồn tin đáng tin cậy nhất cho người Việt. Nhưng rất tiếc những năm gần đây chính trị đi vào thì công chính đội nón ra đi. Ban Việt Ngữ đài BBC đã làm mất niền tin của dân chúng Việt Nam. Cụ thể nhất là sự kiện “Đỗ Ngọc Bích” mạ lị tổ tiên Việt do Nguyễn Giang trưởng ban Việt Ngữ đài BBC đạo diễn đã gây phẫn nộ trong cộng đồng Việt Nam từ trong nước đến hải ngọai. Hàng ngàn lá thư phản đối đã gửi đến đài BBC nhưng không được trả lời. Phải chăng ban lãnh đạo BBC để đến thời điểm này xóa xổ hẳn ban Việt Ngữ BBC ? Một mặt khác với phương tiện truyền thông hiện tại, tin tức đến từ nhiều nguồn khác nhau, bản tin BBC không trung thực, không phong phú như các báo đài, các trang mạng khác, tất nhiên sẽ bị đào thải.”
NUJ condemns plans to cut World Service budget
19 October 2010
By Press Gazette reporters
The National Union of Journalists has condemned the Government’s rumoured plans to cut the budget of the BBC World Service from next year as part of its comprehensive spending review, which is being revealed tomorrow.
The union said it feared that cuts of between 25-40 per cent of the World Service’s near £300m annual budget were likely to lead to service closures and significant redundancies in the UK and across the globe.
The Guardian reports today that the BBC is facing an overall cut of £556m to its £3.7bn a year licence fee income by being forced to fund the cost of free TV licences for the over-75s. It also reveals that BBC director general, Mark Thompson, is prepared to assume part of the World Service cost as a compromise measure.
The NUJ said it feared the Macedonian; Serbian, Vietnamese and Moldovan language services may close entirely or be drastically cut while the Ukrainian and Russian services could be based solely in those countries with the Russian radio serviced closed by the end of the year.
Journalism jobs were expected to go from the BBC World Service newsroom in London, the union said, with further cuts and restructuring expected across the Turkish TV service, the Central Asian and Bengali services, the Spanish American service and the Arabic service.
The union also claimed that cuts have been proposed for the BBC Monitoring Service based in Caversham which could impact on 300-350 jobs in the UK and 150 jobs overseas.
Jeremy Dear, NUJ General Secretary said: “The BBC World Service employs more than 2,000 people and a significant proportion are based outside of the UK and spread across 45 countries.
“The diversity of staff and presence in so many locations around the world helps make the BBC World Service the leading voice in international broadcasting.”
“At its best the World Service challenges corruption, expose human rights abuses and promote democratic values.
“The World Service is a vital source of quality journalism; people all over the world rely on the BBC to tell them the truth in times of crisis.
“If the Government slashes these essential services they will land a blow on objective news reporting and undermine Britain’s international reputation.”
Currently the World Service is paid for out of the budget of the Foreign Office but as the Coalition Government is set to slash the amount of money the service receives as it seeks huge public sector savings as part of its comprehensive spending review.

BBC World Service could shed 1,000 jobs in spending review

By Neil Midgley, Assistant Editor (Media)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Cuộc chiến tranh Á châu giữa Ấn Độ -
Trung Cộng chuẩn bị khai mào.


Anh-Huy
Hai Đại Cường Quốc Trung Cộng & Ấn Độ. Sự phát-triển kinh-tế vượt bực,kèm theo sự bành-trướng quân-sự hiện-đại một cách hùng-hậu trong hai thập-niên vừa qua ( 1990-2010 )đả đưa Trung-Cộng và Ấn-Độ lên hàng Đại-Cường Quốc khu-vực Viển-Đông và Nam-Á .

Cạnh-tranh kinh-tế,chạy đua quân-sự,thế lực đôi bên càng xung-hãn,một cuộc xung -đột trầm-trọng qua nhiều mặt thế nào cũng xảy ra không tránh được.

Vào năm 1947 Ấn-Độ dành lại Độc-lập,kế đến năm 1949 sau cuộc chiến Quốc cộng, CS Trung-Hoa gồm thâu Hoa-lục, thành lập nước CHND Trung-Quốc.

Đầu thập-niên 1950 Hoa Ấn rất thân thiện nhau, hai quốc-gia hợp cùng một số quốc-gia vừa mới Độc-lập vận-động Phong-trào Phi Liên-kết,kêu gọi Sống-chung Hòa-bình,hô-hào thành-lậpThế-giới Thứ 3 ( trong lúc Chiến -tranh Lạnh phát khởi giửa Thế-giới Cộng-sản Liên-sô và Thế-giới Tự-do Hoa-kỳ ) .

Chiến-tranh Triều-Tiên 1953 và Chiến-tranh Đông-Dương 1954, Trung-Cộng hiện thân tham vọng Cộng-Sản,chủ trương Đông-Phương Hồng ồn ào và hùng hổ hơn cả Liên-Sô,tham gia trực tiếp và gián tiếp cả hai cuộc chiến.

Trong nước,chế-độ độc tài đảng trị sắt máu,chủ nghỉa Cộng-Sản chuyên chế trấn áp nhân dân bằng bạo lực...

Đối ngoại, hô hào "Đập chết Con Cọp Giấy Mỹ ". Tác động và bảo trợ các Tổ chức CS trong những nước Láng Giềng nhằm lật đổ Chính-quyền thân Tây phương. Thực hiện mưu đồ CS hóa trên toàn vùng Viển Đông; Đông-Nam Á và Nam-Á .

Cuộc Đấu-tranh Bất Bạo-Động qua sự lảnh đạo của Thánh Gandhi và Đảng Quốc-Đại, Ấn-Độ đả dành lại Độc-Lập.

Thủ-tướng Nerhu thực thi Chế-độ Đại-nghị cho Quốc-Gia mình Dân-chủ Tự-do như Âu-Mỹ.

Thi hành Kế hoạch Ngũ niên Canh-tân Đất nước và Cải-tiến Xả-hội...

Đối ngoại, Ấn-Độ chủ trương Trung-lập trong thời Chiến-tranh Lạnh. Không chen vào nội bộ những nước Láng Giềng, cổ súy phong trào Phi Liên-Kết và tha thiết sự thành hình Thế-giới Thứ 3 .

Vấn đề Pakistan; Cachemire và Sikkim cho thấy hai Quốc-gia có sự bất hòa.

Sau hội nghị Bandung 04/1955 ( Indonesia ) lập trường hai nước càng mâu thuẩn rỏ rệt và tiến dần đến đối nghịch nhau.

Vào năm 1959, Trung-Cộng dùng bạo lực cưỡng chiếm Tây-Tạng. Đức Đạt-Lai Lạt-Ma bôn đào, vượt Hy-Mã-Lạp Sơn đến Ấn-Độ.

Kế tiếp hằng trăm ngàn người Tây-Tạng không chấp nhận sự thống trị của Trung-Cộng, cùng vượt núi non hiểm trở đến Ấn-Độ tỵ nạn.

Bang giao hai nước trở nên căng thẳng, mức độ nghiêm trọng càng gia tăng...

Năm 1962, Trung-Cộng xua quân tấn công chiếm lỉnh vài vùng biên giới của Ấn-Độ ...Cuộc xung đột xảy ra rất ngắn ngủi nhưng hai nước trở thành thù nghịch và cắt đứt bang giao gần hai thập niên.

Khoảng hai thập niên gần đây, quan hệ ngoại giao được cải thiện, tình hình căng thẳng biên giới lắng dịu nhưng sự thân hữu không còn như xưa. Giờ đây, Trung-Cộng và Ấn-Độ đều là Đại Cường-Quốc Kinh-Tế và Nguyên-Tử. Vị trí Địa-lý Chính-trị của Trung-Cộng khống-chế vùng Trung-Á và Viển-đông với một lực lượng quân sự như sau :

Ngân sách Quốc phòng tăng dần :
Năm 2008 : 60,1 Tỷ Đô la
Năm 2009 : 70,3 Tỷ Đô la
Năm 2010 : 77,8 Tỷ Đô la

Quân đội gồm 2.285 000 lính ( quân dịch 2 năm ).
Bộ binh :1.600 000 ( 800 000 lính quân dịch ) trang bị súng ống hỏa lực hiện đại kèm theo 6550 Thiết giáp đủ loại.

Hải quân : 255 000 ( 40 000 lính quân dịch ) với 65 Tiềm Thủy Đỉnh trong đó có 7 Tiềm Thủy Đỉnh trang bị Hỏa tiển, tấn công bằng đầu đạn nguyên tử.
28 Khu Trục Hạm, 52 Hộ Tống Hạm.
Không quân : 300 000 lính với 1600 Chiến Đấu Cơ đủ loại.
Lực Lượng Chiến Lược với vũ khí Nguyên tử gồm 100 000 lính.
Lực lượng dự bị khoảng chừng 510 000 lính.

Vị trí Địa-lý Chính-trị của Ấn Độ án ngử vùng Nam Á và Ấn Độ Dương( con đường hàng hải vận chuyển dầu lửa và hàng hóa nối liền Trung-đông ; Đông- nam Á và Viển-đông ) với một lực lượng quân sự như sau :

Ngân sách Quốc Phòng tăng dần :
Năm 2008 : 28,39 Tỷ Đô la.
Năm 2009 : 35,88 Tỷ Đô la
Chi tiêu về Quốc phòng thực sự vào năm 2008 là 31,54 Tỷ Đô la.
Quân đội gồm 1.325 000 lính hổn hợp ( đa số tình nguyện ) Bộ binh : 1.129 900 lính trang bị súng ống hỏa lực hiện đại kèm theo 4047 Thiết giáp đủ loại.
Hải quân : 58 350 lính và 9950 lính biên hải với 16 Tiềm Thủy Đỉnh trang bị hỏa tiển tấn công bằng đầu đạn nguyên tử; 1 Hàng Không Mẫu Hạm; 8 Khu Trục Hạm và 12 Hộ Tống Hạm.

Không quân : 127 200 lính với 632 Chiến Đấu Cơ đủ loại
Lực lượng chiến lược với vũ khí nguyên tử bảo mật.
Lực lượng dự bị : 1.155 000 lính.

Vào năm 1990 / 91 Liên Sô phá sản và sụp đổ sau khi chịu đựng cuộc chiến tranh lạnh với Hoa Kỳ dần dai gần 45 năm.
Mất thế dựa Liên Sô, CSVN quay qua cầu lụy và lệ thuộc Trung Cộng. Ảnh hưởng Trung Cộng lan rộng khắp vùng Đông Nam Á và xâm nhập vào vùng Nam Á.

Ấn Độ đã từng ký Hiệp Ước Bất Tương Xâm với Liên Sô trong thời chiến tranh Lạnh. Liện Sô tan vỡ, Ấn Độ liền bắt tay thân thiện với Hoa Kỳ, Liên Âu và Nhật Bản đồng thời hợp tác ngầm với cả Do Thái đã tạo điều kiện để Ấn Độ trở thành một đối thủ cân xứng với Trung Cộng về mọi mặt

" Xâu chuỗi Ngọc trai " của Trung Cộng

Chiến lược liên hợp của Hoa Kỳ và Ấn Độ đã làm cho Trung Cộng lo ngại. Từ nhiều năm qua.Trung Cộng thiết kế xây đựng và đã hoàn thành một hệ thống căn cứ Quân sự Hãi quân hùng mạnh từ cửa biển Hồng hải băng qua Ấn Độ Dương bọc hết vùng Vịnh Bengale xuyên qua eo biển Malacca cho đến Vịnh Xiêm la .

Hệ thống căn cứ Hải quân Trung Cộng này được gọi là Xâu chuỗi Ngọc trai gồm 6 viên Ngọc trai :

1- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Gwadar / Pakistan.
2- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Marao / Maldives.
3- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Hambantota / Sri Lanka.
4- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Chittagong / Bangladesh.
5- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Iles Cocos/ Birmanie.
6- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Sihanoukville / Cambodge.

Xây dựng và thực hiện được " Xâu chuỗi Ngọc trai ", Trung cộng đã viện trợ quân sự, kinh tế, tài chính và kỷ thuật cho 6 quốc gia sở tại : Pakistan, Maldives,Sri Lanka, Bangladesh, Birmanie và Cambodge.
" Xâu chuỗi Ngọc trai " rõ ràng là Trung Cộng giăng chặt màng lưới Hải quân bao vây Ấn Độ toàn bộ phía Nam. Trong khi lực lượng Bộ binh ước lượng trên 100.000 người, trang bị vũ khí hiện đại án ngữ vùng biên giới dài 4057 Km phía bắc Hy Mã Lạp Sơn, sẳn sàng khai hỏa tấn công Ấn Độ.

Mặt khác, " Xâu chuỗi Ngọc trai " cũng là kế hoạch bảo vệ con đường hàng hải nếu xảy ra một cuộc chiến tranh với Hoa Kỳ.
Sự kiện hai viên Ngọc trai Hambantota / Sri Lanka và Chittagong / Bangladesh rơi vào tay Trung Cộng là điều Ấn Độ không chấp nhận được.
Bangladesh ( Đông Hồi ) độc lập vào năm 1971, thoát khỏi vòng kềm tỏa của Pakistan ( Tây Hồi ) do sự hổ trợ quân sự của Ấn Độ.
Từ lâu, ảnh hưởng của Ấn Độ rất sâu đậm vào nội tình chính trị của Bangladesh, không thể nào bất động trước mủi dao Chittagong dí vào hông, bằng bất cứ giá nào Ấn Độ cũng sẽ phải tìm phương cách hóa giải.

Sri Lanka từ khi độc lập vào năm 1948 chịu ảnh hưởng Ấn Độ. Trong cuộc nội chiến giữa dân Tamoul 25% và dân Cinghalais 75%, chính quyền Ấn Độ trung ương chủ trương hòa giải sống chung. Mặt dù, tiểu bang Tamoul Nadu ngăn cách Sri Lanka bởi một eo biển 30 Km luôn luôn ủng hộ giải pháp thành lập một nước Tamoul độc lập tách rời Sri Lanka.

Lợi dụng đường lối chính trị giữa chính quyền Liên bang Ấn Độ và Tiểu bang Tamoul Nadu mâu thuẩn, Trung Cộng chen vào viện trợ quân sự tài chính giúp chính quyền Cinghalais đánh tan lực lượng " Cọp Tamoul Tự do ", đổi lại Sri Lanka thỏa thuận cho Trung Cộng xây dựng căn cứ Hải quân Hambantota đâm thẳng vào cực nam của Ấn Độ.
Căn cứ Hải quân Hambantota là yếu huyệt kiểm soát con đường hàng hải chuyển vận mậu dịch từ Âu châu - Á Rập sang Viễn đông-Đông Nam Á - Úc Châu và ngược lại.

Từ căn cứ Hambantota, Trung Cộng có thể kiểm soát Ấn Độ Dương !
"Xâu chuỗi Ngọc trai"của Trung Cộng chính là dây thòng lọng thắt cổ Ấn Độ. 7516 km bờ biển cùng 1197 ốc đảo, quần đảo bao quanh Tiểu lục địa Ấn Độ rơi vòng kiểm soát của Trung Cộng. 95% hàng hóa xuất cảng của Ấn Độ cũng như 70% nguyên liệu dầu thô, khí đốt nhập cảng đều vận chuyển bằng con đường hàng hải ngang qua " Xâu chuỗi Ngọc trai " của Trung Cộng.

Trong 5 năm tới, khi Trung Cộng hoàn tất công trình xây dựng 3 Hàng Không Mẫu Hạm xong. Sáu căn cứ quân sự Hải Quân này chính là những cứ điểm để Hải Quân Trung Cộng diệu võ dương oai và hoành hành trên toàn vùng Viễn động, Đông Nam Á / Thái Bình Dương và Nam Á / Ấn Độ Dương.

Ấn Độ đối đầu với " Xâu chuỗi Ngọc trai "

Sự hợp tác tăng cường quân sự giữa Việt Nam Cộng Sản và Ấn Độ nhất là trên bình diện hải quân, cũng như việc chọn Cam Ranh và Hải Phòng là 2 căn cứ tiếp liệu cho Hải quân Ấn Độ, đồng thời Ấn Độ canh tân căn cứ Hải quân Blair trên quần đảo Andaman thuộc Ấn Độ nằm giữa vịnh Bengale, hiện đại hóa lực lượng Hải quân, kiện toàn hệ thống phòng thủ toàn vùng duyên hải 7516 Km đều nằm trong chiến lược của Ấn Độ đối đầu lại "Xâu chuỗi Ngọc trai" của Trung Cộng .

Mặt khác, chính lược và chiến lược toàn cầu mỗi Siêu cường mỗi khác :
- Hoa Kỳ muốn Thế giới đơn cực nhưng Á châu đa cực.
- Trung Cộng chủ trương một Thế giới đa cực nhưng Á châu đơn cực.
- Còn Ấn Độ, Nhật Bản, Nga Sô và Việt Nam Cộng Sản muốn Châu Á đa cực và một Thế giới cũng đa cực.
Sự mâu thuẩn đó chính là mầm mống sẽ tạo nên chiến tranh tại Á Châu, điểm cực nóng chính là toàn vùng Đông Nam Á.

Anh-Huy
Paris 19.10 .2010

Phụ chú :

Lực lượng Quân sự Hoa Kỳ ( bao trùm Thế giới )
Ngân sách Quốc phòng :
- 2008 : 696,3 Tỷ Dôla
- 2009 : 693,6 Tỷ Đôla
- 2010 : 692,78 Tỷ Đôla
Quân nhân tại ngũ : 1.580 255
Lục quân : 662 232 với 5850 Chiến xa đủ loại.
Hải quân : 335 822 với 71 Tiềm Thủy Đỉnh Nguyên tử
trong đó đặc biệt 14 chiếc trang bị hỏa tiển " balistiques " đầu đạn nguyên tử.
11 Hàng Không Mẫu Hạm hiện đại ; 22 Tuần Dương Hạm hiện đại ; 56 Khu
Trục Hạm hiện đại ; 22 Hộ Tống Hạm hiện đại .
Không quân : 334 342 với 2708 Chiến Đấu Cơ đủ loại.
Thủy Quân Lục Chiến : 204 261 với 403 Chiến Xa và 371 Phi Cơ đủ loại
Phòng ngự duyên hải : 43596
Lực lượng dự bị : 864 547
Ngoài ra còn nhiều lực lượng đặc biệt bảo mật.

Lực lượng Quân sự Việt Nam Cộng Sản :

Ngân sách Quốc Phòng :
- 2008 : 2,90 Tỷ Đôla
- 2009 : 2,80 Tỷ Đôla
Quân đội tại ngũ : 455 000 ( chế độ quân dịch từ 24 đến 36 tháng phục vụ )
Bộ đội : 412 000 với 1315 Chiến Xa.
Hải quân : 13 000 với 2 Tiềm Thủy Đỉnh và 5 Hộ Tống Hạm.
Không quân : độ chừng 30 000 với 219 Chiến Đấu Cơ.
Lực lượng dự bị : 5 000 000 .
( Căn cứ theo tài liệu Bilan Géostratégie - Le Monde 2010 )

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Lỡ hẹn

Mẹ Nấm
(Trích menam0.multiply.com)
LTS: Blogger Mẹ Nấm đoạt giải nhân quyền Hellman-Hammett của tổ chức Human Rights Watch năm 2010.

Image
Vậy là sau hai năm rưỡi chờ đợi, những blogger có mặt trong buổi biểu tình chống Trung Cộng ngày 9 tháng 12 năm 2007
lại tiếp tục lỡ hẹn một cuộc tao ngộ với anh Nguyễn Văn Hải (tức blogger Ðiếu Cày).

Tôi, chưa gặp anh lần nào, và tôi cũng đã từng nghĩ, nhất định mình sẽ đến gặp anh, người đầu tiên mà mình lấy hình làm avatar từ dạo còn trên Yahoo 360!

Buồn, thậm chí là buồn nhiều, đó là cảm giác của riêng tôi, và có lẽ cũng là của nhiều người khác trong ngày hôm qua khi nhận tin anh Ðiếu Cày tiếp tục bị bắt giam.

Tôi không biết mọi người nghĩ gì, nhưng với tôi, đây là lúc phải nhìn nhận lại bản án trốn thuế khôi hài mà anh Ðiếu Cày đã phải nhận.

Hai năm rưỡi, người ta bắt giam một người yêu nước không theo định hướng để phục vụ công tác điều tra cho một vụ án khác.

Một ngày trước khi trả anh về với gia đình, nhân danh luật pháp, người ta lại tống giam một người bạn khác của anh, anh Phan Thanh Hải - blogger Anh Ba Sài Gòn - với tội danh “tuyên truyền chống phá nhà nước”.

Những đứa con của anh Ðiếu Cày sau khi trải qua một cuộc hỗn loạn vì nhà bị khám xét hôm qua (ngày 20 tháng 10 năm 2010) sẽ nghĩ gì về nhà nước khi chứng kiến cảnh mẹ mình (chị Dương Thị Tân) bị đánh đập, bị tước đoạt tài sản và đổ máu trước mặt mình?

Những đứa con của Anh Ba Sài Gòn, cả cháu bé chưa chào đời trong bụng chị Liên nữa, sẽ nghĩ gì về nhà nước này khi hỏi mẹ mình về tội danh mà bố mình đã bị gán ghép.

Những đứa trẻ ấy, sẽ phải thấy tự hào vì cha mình, chắc chắn là như vậy. Tự hào nhưng đau xót, vì sẽ chẳng bao giờ bọn trẻ tìm được câu trả lời cho câu hỏi: “Vì sao, tôi yêu tổ quốc tôi mà tôi bị bắt?”

Hôm qua, ngày 20 tháng 10, ngày phụ nữ Việt Nam, có hai người phụ nữ bị lỡ hẹn với người chồng - người thân của mình trong một ngày lẽ ra phải là ngày của niềm vui sum họp gia đình.

Hôm qua, ngày lỡ hẹn cho một câu trả lời thật rõ ràng “Hoàng Sa-Trường Sa là của ai?”

Hôm qua, ngày lỡ hẹn của tự do ngôn luận - tự do thông tin ở Việt Nam.

Hôm qua, ngày lỡ hẹn của những người thực sự có trách nhiệm với đất nước.

Tương lai của dân tộc này sẽ có màu gì, nếu cứ hoài viết tiếp những khúc ca lỡ hẹn?????

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Image

Xóa bỏ hận thù: tại sao không?

Phan Kiến Quốc

Giáo sư Phạm Minh Hoàng, một trí thức từ Pháp về giảng dạy tại Đại học Bách khoa TPHCM đã bị công an cộng sản bắt giữ hôm 13-8-2010, với tội danh "hoạt động lật đổ chính quyền". Giáo sư Phạm Minh Hoàng đã viết nhiều bài phổ biến trên internet dưới bút hiệu Phan Kiến Quốc.

Một trong những điều người ta cảm nhận được trên truyền thông trong hai tuần gần đây là những bài viết kêu gọi sự hòa hợp, xóa bỏ hận thù. Dễ có đến hơn chục bài, thậm chí còn có cả những cuộc giao lưu giữa những người có tiếng tăm trong xã hội. Điều này cũng dễ hiểu vì chúng ta đang bước sang năm thứ 35 ngày chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước.

Chủ đề này đã nhiều lần được đưa lên báo, đã nhiều cuộc hội thảo, đã có nhiều phát biểu nhưng hình như nó vẫn còn nguyên vẹn, nếu không báo chí và truyền thông chẳng có hàng loạt bài “bức xúc” như vậy. Nhưng sau khi đọc những bài viết này thì những trăn trở trong tôi chẳng những không bớt mà còn nổi sóng hơn.

Cái thắc mắc trước tiên là các bài viết hầu như đều bắt đầu bằng điệp ngữ “Không có kẻ thắng người thua mà cả dân tộc Việt Nam thắng”, nhưng tất cả các bài viết đều xuất phát từ “kẻ thắng”, họa hoằn lắm thì cũng thấy ông Nguyễn Cao Kỳ, Tướng Nguyễn Hữu Có, nhưng những nhân vật này từ lâu cũng chẳng còn ở phía “kẻ thua”. Điều đó có nghĩa rằng ngay trong lúc đi tìm sự hòa hợp, chúng ta vẫn chỉ đi tìm từ phía “kẻ thắng” (tạm gọi là như thế cho dễ hiểu), nên khó mà tìm ra sự đồng thuận.

Khi đọc các bài viết, tôi thấy tât cả hình như vẫn đóng khung - cả về hình thức lẫn nội dung – và chẳng có một cái gì mới để giải quyết một vấn đề xưa cũ từ 35 năm. Tôi có thể ví chúng như một bài luận cấp 2 gồm 3 phần, nhập đề, thân bài và kết luận:

- Nhập đề: Đại thắng mùa Xuân 1975 là kết quả tổng hợp của thời cơ cách mạng, sự phát triển có tính bước ngoặt về thế và lực của cách mạng Việt Nam, sự hội tụ các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa để làm nên một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của dân tộc… (Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết).

- Thân bài: Tuy nhiên sự nghiệp đặt ra sau khi thống nhất giang san là thống nhất lòng người dường như vẫn chưa hoàn thành trọn vẹn. Bằng chứng là chúng ta vẫn phải nói về hòa giải, hòa hợp dân tộc. Phải chăng 35 năm là một thời gian quá dài cho hòa giải và hòa hợp dân tộc (Phỏng vấn cựu đại sứ Võ Văn Sung).

Hay:

Sự mấ́t mát, đau khổ ở cả hai phía, trong nhiều gia đình Việt Nam. Có những vết thương lòng rất sâu nên sự hàn gắn không dễ dàng, đòi hỏi thời gian... Chúng ta đã giành được độc lập nhưng đất nước còn nghèo, còn thua kém nhiều nước xung quanh. Về mặt dân tộc, họ không có gì nổi trội hơn dân tộc Việt Nam cả nhưng họ lại hơn chúng ta về trình độ phát triển kinh tế - xã hội. (Phỏng vấn Cựu phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình).

- Kết luận: Bởi vậy, phải làm thế nào để xây dựng và phát triển một nước Việt Nam phồn vinh và vững mạnh, một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Trước mắt là tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Đó là mục tiêu mà với mọi người Việt Nam yêu nước ai cũng thấy day dứt. (Phỏng vấn Bà Nguyễn Thị Bình).

Thú thật, cũng là một giảng viên đại học đấy nhưng tôi không đủ can đảm đọc hết chục bài viết nhưng có cùng một nội dung sáo mòn kiểu này. Hoàn toàn không có một cái gì mới và cụ thể để giải quyết vấn đề cực kỳ cấp bách như vấn đế hòa hợp, xóa bỏ hận thù. Đó là chưa kể đến văn phong của một vài vị đi ngược lại nội dung bài viết, chẳng hạn như trong bài phỏng vấn ông Võ Văn Sung, ông đã viết :”thời điểm cuối tháng 4/1975 nếu Nguyễn Văn Thiệu và bè lũ còn nắm quyền và thực hiện tử thủ như ở Xuân Lộc…”, hoặc lời phát biểu của ông Nguyễn Trọng Huấn, người đã tiếp quản miền Nam năm 1975 trong cuộc giao lưu do báo Doanh nhân Sài Gòn tổ chức:“Chúng tôi phải cải tạo các anh (…) vì rằng đó chỉ là một phần của cuộc đấu tranh giai cấp”.

Trở lại vấn đề hòa hợp, xóa bỏ hận thù, chắc chắn chúng ta không thể không đề cập đến nghị quyết 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Và cũng chính vì nội dung này tôi đã có dịp tham dự một buổi hội thảo tại Sài Gòn vào tháng 7/2006 do Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức, tại đây tôi đã ghi nhận được hai phát biểu khá lý thú. Phát biểu thứ nhất: Theo ông Nguyễn Trí Dũng (Việt kiều Nhật có nhiều đóng góp xuất sắc về công nghệ) thì ông đã tham dự "gần một trăm" cuộc hội thảo về chính sách thu hút việt kiều; điều đó cho thấy rằng đảng đã không tập hợp thêm được nhân tố mới và Nghị định 36 không tạo được chuyển biến. Phát biểu thứ hai từ ông Bùi Kiến Thành, một việt kiều Mỹ, đã có kinh nghiệm về tài chánh ngay từ thời chế độ VNCH và hiện đang là cố vấn tài chính cho chính phủ Việt Nam. Ông Thành nói: ”Sau hơn 30 năm chấm dứt chiến tranh, hố chia rẽ giữa hai chiến tuyến chưa được dẹp bỏ. Trên báo đài, trên các phương tiện truyền thông, các diễn văn chính thức người ta vẫn hô hào xóa bỏ quá khứ, xóa bỏ hậu quả chiến tranh... nhưng tất cả chỉ là những hô hào suông”. Rõ là bài toán nan giải.

Gần đây báo chí hay trích lời Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:”Tôi mong bà con, hãy vì quê hương đất nước, gác bỏ những khác biệt của mình, hãy đoàn kết lại, cùng nhau xây dựng Mẹ hiền Việt Nam, đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường. Đó không chỉ là lời nói và ý kiến của tôi mà là tâm nguyện của cả dân tộc Việt Nam, là ý chí của Đảng và Nhà nước Việt Nam”.

Tôi cực kỳ ngạc nhiên khi đọc những giòng này hoa mỹ này, đơn thuần là vì nó xuất phát từ một người lãnh đạo đất nước. Ông Triết được bầu ra (tạm gọi là như thế) để quản lý, vậy thì nếu đó là ý Đảng và Nhà Nước thì ông cứ làm bằng cách ban hành các biện pháp cần thiết thay vì cứ kêu gọi chung chung như thế. Nhân dân đang dài cổ trông chờ những biện pháp chứ không phải những ước mơ. Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý mà cứ “huấn dụ” bằng nghị quyết hoặc bằng những từ hoa mỹ thì người dân (vốn chỉ… làm chủ) còn biết phương nào để vái?

Trong cái tận cùng bế tắc của những “bài luận cấp 2” thì bất ngờ vớ được một bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Thân trên Phụ Nữ ngày 30/4/2010 với tựa đề “Từ vòng tay của mẹ”. Ông Thân viết :”Có lẽ vấn đề mấu chốt ở chỗ chúng ta rất dễ thống nhất với nhau, hòa hợp với nhau trên chủ trương, lời nói, nhưng cả hai phía lại khá khó khăn và thiếu những thay đổi phù hợp trong việc làm, trong từng chi tiết nhỏ như cách tiến hành một ngày kỷ niệm, thậm chí một cách xưng hô chẳng hạn”.

Tôi xin được phép khai triển ý kiến tác giả, nếu không đúng xin nhà văn và mọi người bỏ qua:

1. Cách tiến hành một ngày kỷ niệm: Cho dù đứng về phe nào đi nữa thì ngày 30/4 đúng là một ngày kỷ niệm, ngày chấm dứt chiến tranh. Nhưng cái cung cách ăn mừng rầm rộ như vừa qua rõ ràng là không có lợi cho việc xóa bỏ hận thù. Trong suốt hai tuần cuối tháng tư, đài VTV3 trong mục thời sự liên tục phát sóng về những chiến thắng từ Buôn Ma Thuột cho đến Sài Gòn. Tôi chắc chắn là sẽ chẳng có gia đình cán bộ, công viên chức, binh sĩ Việt Nam Cộng hòa (VNCH) nào có thể xem một cách vô tư mà không công chiếu thì các binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) cũng sẽ bất mãn vì xương máu của họ bị lãng quên. Nhưng nếu tôi không lầm thì xương máu của các binh sĩ VNCH cũng là máu đỏ da vàng thì phải.

Thử nghĩ nếu có ngày “30/4 ngược”, nghĩa là xe tăng M-48 của VNCH húc đổ trụ sở Trung ương Đảng và bắt sống Tổng Bí thư Lê Duẩn và “bè lũ” (xin được mượn từ ngữ của nhà ngoại giao Võ Văn Sung), và trong suốt 35 năm sau đó bắt cả miền Bắc xem lại cảnh các binh sĩ của mình lũ lượt ra hàng lính miền Nam, thì chắc chắn là chúng ta sẽ lại cùng nhau ngồi tìm giải pháp cho vấn đề xóa bỏ hận thù như ngày hôm nay.

Vậy có thể nào chúng ta sẽ kỷ niệm ngày 30/4 một cách khác? Đó sẽ là ngày tưởng niệm tất cả mọi người Việt không phân biệt phe phái đã nằm xuống sau 20 năm nồi da nấu thịt? Quyết không phải là lạc quan tếu mà chỉ có ý nghĩa khơi động tình cảm cao thượng trong dân chúng nếu chúng ta cho phép một chiến sĩ QĐNDVN và một chiến binh VNCH cùng thắp hương trước bàn thờ Tổ quốc?

2. Cách xưng hô: Trong các phóng sự, mỗi khi đánh chiếm được một cơ quan, một tỉnh thành nào của Chính phủ VNCH thì bây giờ người ta dùng những từ như "đánh chiếm sào huyệt của địch", "xóa tan hang ổ của ngụy quyền". Thiết nghĩ chữ "sào huyệt, hang ổ" chỉ nên dùng cho bọn cướp, cho súc vật, không nên dùng cho người, nhất nữa lại là những người mình đang kêu gọi cùng nhau xóa bỏ hiềm khích, cùng nhau sống chung. Cũng về cách xưng hô, các binh sĩ, sĩ quan VNCH thường được gọi là tên lính ngụy, tên tướng, tá ngụy kèm theo những tính từ có tính cách mạt sát, mạ lỵ... chẳng hạn tên tướng ngụy Nguyễn Khoa Nam,tên tướng ngụy Phạm Văn Phú, tên đại tá ngụy Hồ Ngọc Cẩn... Nếu ngày “30/4 ngược” xảy ra, nhân dân miền Bắc sẽ nghĩ sao khi suốt 35 được “rót vào tai” những từ “tên cộng nô” tiếp sau đó là tên các vị như Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Đồng Sỹ Nguyên? Những từ ngữ có tính cách thóa mạ này nên bỏ.

Làm như thế có thực sự xóa bỏ hận thù? Tôi nghĩ là cần nhưng chưa đủ. Đây là một vết thương nhức nhối đã kéo dài quá lâu nên không thể một sớm một chiều có thể biến mất, nhưng nếu không bắt đầu từ bây giờ thì chu kỳ 5 năm sau, kỷ niệm 40 năm chấm dứt chiến tranh, chúng ta lại phải đọc lại những “bài luận cấp 2” mà mọi người đã thuộc lòng.

Và đã làm là làm đến nơi đến chốn. Tất cả hai điều trên phải được luật hóa chứ không phải là những lời kêu gọi suông hoặc những nghị quyết không có giá trị pháp luật.

Để kết thúc, tôi xin lấy lại lời của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt vào năm 2005:”ngày 30/4/75 là ngày có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn, đó là một vết thương chung của dân tộc".

Phan Kiến Quốc

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Đại Lễ Vinh Quang và Lũ Lụt Tang Thương http://nguoibuongio1972.multiply.com/journal/item/178

Hàng chục nghìn tỉ đồng chi cho đại lễ, các phương tiện truyền thông ra rả tung hô, vẽ vời cho đại lễ 1000 năm xứng đáng với đồng tiền bỏ ra. Như thể muốn nói rằng hàng chục nghìn tỷ ấy xứng đồng tiền, bát gạo lắm, nào là có bắn pháo hoa nghệ thuật, có trực thăng bay trên trời, hàng chục nghìn người tham gia diễu binh, đội ngũ mừng đại lễ. Rồi đèn hoa khắp nơi, nhất là cái trò nhân dân, doanh nghiệp hưởng ứng nữa, chỗ này làm cái nọ, chỗ nọ làm cái kia để mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long.

Lúc định làm mấy cái cổng chào, dân hỏi phí tiền thế. Ông Nghị nói tiền của doanh nghiệp tự nguyện đóng góp, thôi nếu ý kiến nhiều thì thôi vậy. Rồi lại có ông nào hứng lên tính chuyện chi hàng triệu đô bắn mây ngăn mưa. Hình như lúc ấy sẵn tiền lắm, các ông tha hồ hào hứng tính chuyện làm cái này cái nọ sao cho thật oách.

Gặp con bạn, nó bảo đại lễ là bộ mặt đất nước, thế giới nhìn vào phải làm thật to họ mới nể mình chứ.

Đất nước đang còn đi vay tiền về để làm vốn phát triển, đã mang thân đi vay mà lại ăn chơi hoàng tráng thế bố thằng nào dám cho vay. Tao hỏi mày nhé, ví dụ giờ tao còn đang vay tiền mày để làm vốn kiếm ăn nuôi con , nhưng nhân dịp sinh nhật tao, tao làm một bữa ăn chơi gấp 3 lần số mày cho vay. Xong mai tao đi vay anh mày, vay chị mày hay bạn bè khác. Họ biết chuyện tao vay mày mà sinh nhật thế họ có cho vay để tao làm ăn không.?

Con bạn nói nói bảo thôi không cần biết, chỉ cần giờ thấy ở đâu cũng hoa đèn rực rỡ sướng mắt mình cái đã.

Không biết con bạn mình có phải là dẫn chứng của phóng viên báo Hà Nội Mới đã nhắc đến tấm lòng người dân hướng về đại lễ 1000 năm Thăng Long không. Nếu quả thực những màn trình diễn hàng nghìn tỷ để cho những khán giả như thế xem thì không đáng đồng tiền bát gạo tí nào cả.

Những ngày đại lễ không thấy tin gì về bão lụt miền Trung,nhưng sau vụ nổ kho pháo hoa thì mới biết tin mấy chục người chết vì lũ, vì thế thôi không nhập pháo hoa về bắn nữa.

Miền Trung giờ lũ lại chồng thêm lũ, thêm mấy chục người nữa chết đưa con số lên tới hàng trăm, chỉ trong vòng nửa tháng. Cũng trong tháng 10 đại lễ Thăng Long cũng là đại lụt của bà con miền Trung, nhưng lúc còn trong dịp đại lễ , thông tin về cơn lũ hiếm hoi đến mức sau này khi công bố số người chết, thiên hạ mới giật mình sao lũ lúc nào mà chết lắm vậy.

Hôm nay xem cảnh trục vớt cái ô tô mới đau xót, xà lan cũ rích hoen gỉ, dây cáp kéo cũng không an toàn còn bị đứt giữa chừng khiến chiếc xe trôi văng đi. Cuộc tìm kiếm kéo dài mấy ngày, trang thiết bị tìm kiếm thô sơ, huy động cả ngoại cảm tìm hú họa cầu may. Những từ hiện đại, công nghệ cao tiên tiến, hùng hậu, kỹ càng dùng trong đại lễ chỉ thiết bị, nhân lực giờ không thấy bóng dáng trong cuộc tìm kiếm nạn nhân trong vùng lũ đau thương. Rồi cảnh người dân bơi dưới nước chìa tay đón nhận một hay hai gói mỳ tôm nữa, lại nghĩ cảnh tiền đổ đại lễ mà đắng ngắt miệng.

Dường như trời phật ý điều gì, nhưng sao lại nỡ trút xuống miền Trung nơi toàn dân nghèo khó. Hay trời làm vậy để cho nghịch cảnh được phân biệt rõ ràng từ đại lễ đến đại lụt.

Post Reply