Bình Luận Thời Sự
Ðảng Dân Chủ sẽ thất thế vì kinh tế
Ngô Nhân Dụng Ðảng Dân Chủ lo sẽ trở thành thiểu số ở Hạ Viện, vì kinh tế Mỹ không lên. Trong tháng 9 cả nước chỉ tạo được 95,000 việc làm mới; trong khi mỗi tháng cần có thêm 100,000 công việc cho lớp trẻ mới bước vào thị trường nhân dụng lần đầu.
Tỷ lệ thất nghiệp cao hơn 9.5% suốt 14 tháng chưa giảm bớt, dài nhất kể từ sau cuộc Ðại Khủng hoảng 1930. Không ai trách được dân chúng Mỹ bi quan trước tương lai.
Chỉ có một đốm sáng ở cuối đường hầm, là các công ty lớn ở Mỹ đều công bố gia tăng lợi nhuận, và thị trường chứng khoán đã lên. Nhưng đại đa số cử tri không thấy ảnh hưởng của giá trị các cổ phần bằng tin tức về công ăn việc làm vẫn thiếu.
Có hai kinh nghiệm trong chính trị nước Mỹ đã được coi gần như thành quy luật: Thứ nhất là đảng của vị tổng thống thường mất bớt ghế ở Quốc Hội trong các cuộc bỏ phiếu giữa nhiệm kỳ. Có lẽ dân Mỹ muốn cân bằng quyền lực giữa Hành pháp và Lập pháp. Thứ hai, khi kinh tế trì trệ thì hầu hết các đại biểu Quốc Hội đương nhiệm đều khó được dân bầu lại, đặc biệt là những người thuộc đảng nắm quyền. Căn cứ vào hai kinh nghiệm này thì trong gần hai tuần nữa các ứng cử viên Dân Chủ sẽ tơi tả!
Trong ba tháng vừa qua, các ứng cử viên Cộng Hòa đã vượt qua đối thủ trong việc gây quỹ ở những đơn vị tranh cử gay go nhất, gồm 40 đơn vị Hạ Viện và 10 nơi bầu lại nghị sĩ Thượng Viện. Những người góp tiền đã gom cho đảng Cộng Hòa 60 triệu đô la, còn đảng Dân Chủ chỉ nhận được 45 triệu ở các đơn vị trên. Thường thiên hạ hay hùn tiền cho những người có vẻ thắng lợi; các con số trên cho thấy người Mỹ đã đánh cá Cộng Hòa sẽ thắng, có thể sẽ chiếm lại đa số ở Hạ Viện!
Cử tri bỏ đảng Dân Chủ chính vì kinh tế còn yếu quá. Những đại biểu đương nhiệm mất ghế thế nào cũng than họ là nạn nhân của sự hiểu lầm. Vì theo đúng định nghĩa thì nền kinh tế Mỹ đã bắt đầu thoát ra khỏi cơn suy thoái rồi. Suy thoái (recession) tức là số lượng sản xuất cả nước (GDP) giảm, lần này đã giảm từ cuối năm 2007. Nhưng từ giữa năm 2009 GDP nước Mỹ bắt đầu tăng dần dần. Dựa vào các số thống kê về sản lượng thì trên nguyên tắc kinh tế đã hồi phục (recovery).
Nhưng người dân bình thường không coi thống kê. Họ chỉ nhìn vào túi tiền của chính họ. Khi những người thất nghiệp chưa tìm được việc làm, người còn việc làm thì vẫn đang lo trả nợ chứ không tính chuyện tiêu pha, thì ai cũng thấy kinh tế vẫn còn trì trệ. Cuộc suy thoái bắt nguồn từ những chính sách thời Tổng Thống Gorges W. Bush nắm quyền, nhưng khi kinh tế còn trì trệ thì bây giờ người ta chỉ biết Tổng Thống Obama phải chịu trách nhiệm, vì ông đã nắm quyền được gần 2 năm nay.
Tại sao trong 2 năm ông chưa giúp cho kinh tế Mỹ hồi phục lên bằng trước năm 2007?
Lý do chính là cơn suy thoái 2007-2009 lần này có hai điểm bất thường. Thứ nhất, nó kéo dài hơn thường lệ. Những lần kinh tế suy thoái mà bắt nguồn từ hệ thống tài chánh ngân hàng, rồi lan sang lãnh vực sản xuất, thì đều phục hồi rất chậm chạp.
Thứ hai là khi kinh tế đã bắt đầu lên thì nó lại tiến lên rất từ từ.
Một nguyên nhân khiến tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao là các xí nghiệp ở Mỹ tăng lợi nhuận mà không tuyển dụng thêm người hoặc đầu tư thêm vào máy móc, cơ xưởng. Bình thường, sau khi kinh tế bắt đầu hồi phục, các vị quản đốc đều đợi khoảng một thời gian, khi nào thấy chắc bụng mới bắt đầu tuyển mộ nhân viên mới. Kỳ suy thoái này, người ta còn đợi lâu hơn, trên 2 năm. Có người tiên đoán phải mất 5 năm mới trở lại với tỷ lệ thất nghiệp thấp 6% hồi 2006.
Tuy nhiên, lợi nhuận các công ty đã tăng lên. Các đại công ty kiếm lời hơn các xí nghiệp nhỏ, khiến thị trường chứng khoán lên. Ngân hàng Citicorp cho biết trong quý thứ ba họ đã kiếm lời hơn 2 tỷ đô la, so với số lỗ lã hơn 3 tỷ cùng thời gian năm ngoái thì đúng là ngân hàng này đã hồi phục.
Trong quý thứ nhì năm nay, từ tháng 4 đến tháng 6, tiền lời của các xí nghiệp Mỹ lên tới hơn 1 ngàn 200 tỷ Mỹ kim, tức là tăng thêm gần 4% so với ba tháng đầu năm; và tăng 27% so với cùng thời kỳ năm ngoái. Con số 27% là một tỷ lệ gia tăng cao hiếm có trong lịch sử! Ðặc biệt, các công ty lớn tăng nhiều hơn và tăng nhanh hơn các công ty nhỏ, nhờ thế mà thị trường chứng khoán lên cao. Lợi nhuận của 500 công ty lớn thuộc tỷ số S&P đã tăng thêm 38% so với năm ngoái, vượt xa tỷ lệ 27% chung cho tất cả các xí nghiệp. Số tiền lời của họ trong ba tháng thứ nhì lên tới 189 tỷ Mỹ kim, và có triển vọng sẽ còn tăng thêm trong quý thứ ba.
Các đại công ty có lời nhưng đối với người dân bình thường thì họ vẫn thấy kinh tế còn bết bát. Ðây là điều nghe như nghịch lý, nhưng lại dễ hiểu. Vì các công ty có lời mà chưa gia tăng sản xuất, không tuyển dụng thêm nhân viên; có khi họ còn làm ngược lại, giảm bớt hoạt động và sa thải công nhân.
Tại công ty Ford chẳng hạn, trong quý thứ nhì năm nay số lời lên tới 2.6 tỷ Mỹ kim; so với số lỗ lã 8.7 tỷ trong cùng thời gian năm 2008. Công ty Ford đã kiếm lời trong suốt 5 quý liên tiếp vừa qua; và tiên đoán trong năm 2010 này số lợi nhuận của họ sẽ đạt một kỷ lục mới. Nhưng, điều người ngoài không biết là trong khi lợi nhuận tăng thì chính công ty lại bán ít xe hơn! Khi so sánh số tiền thu được nhờ bán xe thì trong quý thứ nhì năm nay tiền thu nhập của Ford vẫn còn thấp hơn 15% so với cùng thời gian năm 2008, hai năm trước đây. Tại sao tiền thu nhờ bán xe thì xuống, nhưng tiền lời lại tăng. Ðằng sau các con số đi ngược chiều đó là kết quả do những nỗ lực cắt giảm chi tiêu của công ty. Trong đó, có việc đóng cửa bớt những nhà máy không có lời, tất nhiên cũng phải tiết giảm nhân sự. Nếu các công ty đều theo cùng một sách như vậy thì chúng ta hiểu tại sao vẫn còn nhiều người thất nghiệp.
Công ty Parker Hannifin, sản xuất các bộ phận máy móc ở Clevelend, Ohio là một trường hợp tiêu biểu. Trong quý thứ nhì năm nay, lợi nhuận của họ đã tăng, lên tới 222 triệu Mỹ kim. Tiền lời của công ty tăng gấp 4 lần so với năm ngoái, nhưng tổng số hàng bán tăng rất yếu, chỉ được 25%. Trong tình trạng số bán lên chậm như vậy, công ty vẫn chưa gọi các công nhân cũ đi làm trở lại. Họ chỉ yêu cầu các công nhân làm thêm giờ phụ trội và làm thêm cuối tuần. Với chính sách đó, họ không lo phải trả tiền về phúc lợi cho công nhân mới tuyển, mà cũng không lo sẽ phải sa thải người nếu tình hình lại đi xuống lần nữa.
Nhiều đại công ty khác cũng cắt giảm chi phí nên lợi nhuận tăng lên mặc dù số bán tăng rất nhẹ. Ngay trong năm 2008, Texas Instruments Inc đã quyết định cắt cả một bộ phận làm “chíp” gắn trong các điện thoại di động. Lúc đó bộ phận này đem lại 20% số thu nhập của công ty, nhưng mức lời rất thấp. Nhân lúc kinh tế suy thoái, công ty đã quyết định thay đổi cả chiến lược sản xuất, nhắm vào những thị trường có mức lời cao. Họ đã giảm bớt bộ phận nghiên cứu về chíp, giảm chi phí nghiên cứu. Ðối với công ty thì kết quả rất ngoạn mục: Tiền thu nhập trong quý thứ nhì năm 2010 đã tăng 4% so với cùng thời gian năm 2008, nhưng tiền lời thì tăng thêm 31%.
Một công ty quen thuộc là Starbucks, trong lúc kinh tế suy thoái đã đóng cửa 648 cửa hàng trên khắp nước Mỹ, đưa mấy ngàn người vào đạo quân thất nghiệp. Công ty này mới công bố số tiền lời trong quý thứ nhì năm 2010 lên tới mức cao nhất trong lịch sử! Họ tính tài khóa 2011 sẽ còn tiếp tục kiếm thêm lời kỷ lục nữa!
Một tên quen thuộc nữa là Coca Cola. Họ báo tin trong quý thứ nhì số thu nhập vẫn còn thấp, 4% ít hơn so với cùng thời gian năm 2008. Nhưng tiền lời do hoạt động sinh ra (operating profit) đã tăng thêm 85% so với 2 năm trước, và tiền lời ròng còn tăng nhiều hơn nữa. Trong cơn suy thoái kinh tế, công ty Coca Cola đã thay đổi phương pháp đặt hàng mua chai lọ, tái tổ chức cả hệ thống máy điện toán, riêng công việc này mỗi năm tiết kiệm được 500 triệu Mỹ kim trong mấy năm liền! Tiền bán hàng của Coca Cola đã tăng rất nhẹ, chỉ có 2% ở Mỹ; nhưng số bán trên thế giới thì tăng nhanh hơn, 5% ngay trong cơn suy thoái này.
Nói chung, những người cảm thấy kinh tế đang lên là quản đốc các xí nghiệp lớn. Nhưng một lý do khiến họ đạt được thành tích đó là vì đa số biết cắt chi phí. Mà khi họ cắt chi phí thì trong đó có việc bớt công việc và giảm bớt số công nhân. Nhiều người sẽ mất việc làm, đó là một sự thật đáng buồn nhưng không tránh được. Vì các vị quản đốc chỉ tuyển thêm nhân viên nếu thấy số bán tăng lên và có thể tiếp tục tăng lên nữa. Nhưng tại nhiều công ty, số tiền lời tăng nhanh mặc dù số hàng bán không tăng hoặc tăng rất ít.
Ðó là hiện trạng kinh tế mà chính phủ Obama đang phải đối phó: Kinh tế đang lên thật nhưng lên rất chậm. Mà thị trường nhân dụng thì lên chậm hơn thị trường sản xuất. Vì các xí nghiệp còn đợi bao giờ thấy tương lai có vẻ chắc ăn mới tuyển thêm người! Nếu trong hai tuần nữa đảng Dân Chủ mất quyền kiểm soát ở Hạ Viện, thì họ có thể đổ tại các nhà quản lý xí nghiệp! Họ điều hành xí nghiệp để gia tăng lợi nhuận, tránh rủi ro. Mà đó là kim chỉ nam giúp cho nền kinh tế thị trường phát triển!
Tại sao các nhà chính trị, ở Tòa Bạch Ốc và trong Quốc Hội trong 2 năm qua chưa giúp cho giới kinh doanh nức lòng đầu tư thêm và tuyển mộ thêm người? Với hơn 800 tỷ kích thích kinh tế và 700 tỷ cứu cấp các ngân hàng, người dân trông đợi kết quả sớm hơn nữa. Nhưng khi cuộc khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ lãnh vực tài chánh thì con đường phục hồi bao giờ cũng chậm chạp. Cả hệ thống tài chánh, ngân hàng trở nên dè dặt, thận trọng hơn, tự nhiên đồng tiền luân chuyển trong nền kinh tế chạy với tốc độ thấp hơn. Nói cách khác, tiền gần như cứ nằm ỳ một chỗ! Kể từ khi ngân hàng Lehman bị phá sản đến nay, các ngân hàng đều giảm bớt không cho tiền đi ra nhanh chóng như trước nữa. Vào giữa năm 2010, tổng số tiền mặt nằm chờ được trong hệ thống ngân hàng đã lên tới 1,800 tỷ Mỹ kim, tăng thêm 400 tỷ so với hai năm trước, chưa bao giờ tăng nhanh như vậy! Ðây là số tiền mặt bất động cao nhất kể từ nửa thế kỷ nay, theo phân tích của ông Alan Greenspan, cựu chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang tức Ngân Hàng Trung Ương Mỹ. Hiện các ngân hàng thương mại có dư 1,000 tỷ Mỹ kim gửi trong Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, một số thặng dư kỷ lục. Nếu số tiền đó được tháo ra cho chạy đều như xưa vào trong hệ thống sản xuất, thì số đầu tư của các xí nghiệp ở Mỹ đã tăng gấp đôi, theo sự tính toán của ông Greenspan.
Tại sao các người giữ tiền của nước Mỹ, các ngân hàng, lại dè dặt quá như vậy?
Vì họ lo bất trắc nhiều hơn trước. Sau một cuộc khủng hoảng khiến các ngân hàng lớn nhất cũng liểng xiểng, ai cùng sợ. Cuộc khủng hoảng cũng bắt buộc chính quyền các nước trên thế giới phải cải tổ hệ thống tài chánh. Cải tổ như thế nào? Hiện nay vẫn còn chưa rõ rệt. Trong khi chờ đợi để hiểu rõ những “luật chơi mới” thì các ngân hàng và quỹ đầu tư đều dè dặt. Ðó lại là một lý do khiến những người giữ tiền trong tay không chịu thả cho tiền chạy ra!
Cho nên chúng ta có thể đoán kinh tế Mỹ phải mất nhiều năm nữa mới lên thật sự được. Hai đảng chính trị đang nhắm vào cuộc bầu cử năm 2012, khi đó Tổng Thống Barack Obama sẽ phải tái ứng cử. Liệu trong 2 năm nữa kinh tế đã tăng lên rõ rệt hay chưa?
Ngô Nhân Dụng Ðảng Dân Chủ lo sẽ trở thành thiểu số ở Hạ Viện, vì kinh tế Mỹ không lên. Trong tháng 9 cả nước chỉ tạo được 95,000 việc làm mới; trong khi mỗi tháng cần có thêm 100,000 công việc cho lớp trẻ mới bước vào thị trường nhân dụng lần đầu.
Tỷ lệ thất nghiệp cao hơn 9.5% suốt 14 tháng chưa giảm bớt, dài nhất kể từ sau cuộc Ðại Khủng hoảng 1930. Không ai trách được dân chúng Mỹ bi quan trước tương lai.
Chỉ có một đốm sáng ở cuối đường hầm, là các công ty lớn ở Mỹ đều công bố gia tăng lợi nhuận, và thị trường chứng khoán đã lên. Nhưng đại đa số cử tri không thấy ảnh hưởng của giá trị các cổ phần bằng tin tức về công ăn việc làm vẫn thiếu.
Có hai kinh nghiệm trong chính trị nước Mỹ đã được coi gần như thành quy luật: Thứ nhất là đảng của vị tổng thống thường mất bớt ghế ở Quốc Hội trong các cuộc bỏ phiếu giữa nhiệm kỳ. Có lẽ dân Mỹ muốn cân bằng quyền lực giữa Hành pháp và Lập pháp. Thứ hai, khi kinh tế trì trệ thì hầu hết các đại biểu Quốc Hội đương nhiệm đều khó được dân bầu lại, đặc biệt là những người thuộc đảng nắm quyền. Căn cứ vào hai kinh nghiệm này thì trong gần hai tuần nữa các ứng cử viên Dân Chủ sẽ tơi tả!
Trong ba tháng vừa qua, các ứng cử viên Cộng Hòa đã vượt qua đối thủ trong việc gây quỹ ở những đơn vị tranh cử gay go nhất, gồm 40 đơn vị Hạ Viện và 10 nơi bầu lại nghị sĩ Thượng Viện. Những người góp tiền đã gom cho đảng Cộng Hòa 60 triệu đô la, còn đảng Dân Chủ chỉ nhận được 45 triệu ở các đơn vị trên. Thường thiên hạ hay hùn tiền cho những người có vẻ thắng lợi; các con số trên cho thấy người Mỹ đã đánh cá Cộng Hòa sẽ thắng, có thể sẽ chiếm lại đa số ở Hạ Viện!
Cử tri bỏ đảng Dân Chủ chính vì kinh tế còn yếu quá. Những đại biểu đương nhiệm mất ghế thế nào cũng than họ là nạn nhân của sự hiểu lầm. Vì theo đúng định nghĩa thì nền kinh tế Mỹ đã bắt đầu thoát ra khỏi cơn suy thoái rồi. Suy thoái (recession) tức là số lượng sản xuất cả nước (GDP) giảm, lần này đã giảm từ cuối năm 2007. Nhưng từ giữa năm 2009 GDP nước Mỹ bắt đầu tăng dần dần. Dựa vào các số thống kê về sản lượng thì trên nguyên tắc kinh tế đã hồi phục (recovery).
Nhưng người dân bình thường không coi thống kê. Họ chỉ nhìn vào túi tiền của chính họ. Khi những người thất nghiệp chưa tìm được việc làm, người còn việc làm thì vẫn đang lo trả nợ chứ không tính chuyện tiêu pha, thì ai cũng thấy kinh tế vẫn còn trì trệ. Cuộc suy thoái bắt nguồn từ những chính sách thời Tổng Thống Gorges W. Bush nắm quyền, nhưng khi kinh tế còn trì trệ thì bây giờ người ta chỉ biết Tổng Thống Obama phải chịu trách nhiệm, vì ông đã nắm quyền được gần 2 năm nay.
Tại sao trong 2 năm ông chưa giúp cho kinh tế Mỹ hồi phục lên bằng trước năm 2007?
Lý do chính là cơn suy thoái 2007-2009 lần này có hai điểm bất thường. Thứ nhất, nó kéo dài hơn thường lệ. Những lần kinh tế suy thoái mà bắt nguồn từ hệ thống tài chánh ngân hàng, rồi lan sang lãnh vực sản xuất, thì đều phục hồi rất chậm chạp.
Thứ hai là khi kinh tế đã bắt đầu lên thì nó lại tiến lên rất từ từ.
Một nguyên nhân khiến tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao là các xí nghiệp ở Mỹ tăng lợi nhuận mà không tuyển dụng thêm người hoặc đầu tư thêm vào máy móc, cơ xưởng. Bình thường, sau khi kinh tế bắt đầu hồi phục, các vị quản đốc đều đợi khoảng một thời gian, khi nào thấy chắc bụng mới bắt đầu tuyển mộ nhân viên mới. Kỳ suy thoái này, người ta còn đợi lâu hơn, trên 2 năm. Có người tiên đoán phải mất 5 năm mới trở lại với tỷ lệ thất nghiệp thấp 6% hồi 2006.
Tuy nhiên, lợi nhuận các công ty đã tăng lên. Các đại công ty kiếm lời hơn các xí nghiệp nhỏ, khiến thị trường chứng khoán lên. Ngân hàng Citicorp cho biết trong quý thứ ba họ đã kiếm lời hơn 2 tỷ đô la, so với số lỗ lã hơn 3 tỷ cùng thời gian năm ngoái thì đúng là ngân hàng này đã hồi phục.
Trong quý thứ nhì năm nay, từ tháng 4 đến tháng 6, tiền lời của các xí nghiệp Mỹ lên tới hơn 1 ngàn 200 tỷ Mỹ kim, tức là tăng thêm gần 4% so với ba tháng đầu năm; và tăng 27% so với cùng thời kỳ năm ngoái. Con số 27% là một tỷ lệ gia tăng cao hiếm có trong lịch sử! Ðặc biệt, các công ty lớn tăng nhiều hơn và tăng nhanh hơn các công ty nhỏ, nhờ thế mà thị trường chứng khoán lên cao. Lợi nhuận của 500 công ty lớn thuộc tỷ số S&P đã tăng thêm 38% so với năm ngoái, vượt xa tỷ lệ 27% chung cho tất cả các xí nghiệp. Số tiền lời của họ trong ba tháng thứ nhì lên tới 189 tỷ Mỹ kim, và có triển vọng sẽ còn tăng thêm trong quý thứ ba.
Các đại công ty có lời nhưng đối với người dân bình thường thì họ vẫn thấy kinh tế còn bết bát. Ðây là điều nghe như nghịch lý, nhưng lại dễ hiểu. Vì các công ty có lời mà chưa gia tăng sản xuất, không tuyển dụng thêm nhân viên; có khi họ còn làm ngược lại, giảm bớt hoạt động và sa thải công nhân.
Tại công ty Ford chẳng hạn, trong quý thứ nhì năm nay số lời lên tới 2.6 tỷ Mỹ kim; so với số lỗ lã 8.7 tỷ trong cùng thời gian năm 2008. Công ty Ford đã kiếm lời trong suốt 5 quý liên tiếp vừa qua; và tiên đoán trong năm 2010 này số lợi nhuận của họ sẽ đạt một kỷ lục mới. Nhưng, điều người ngoài không biết là trong khi lợi nhuận tăng thì chính công ty lại bán ít xe hơn! Khi so sánh số tiền thu được nhờ bán xe thì trong quý thứ nhì năm nay tiền thu nhập của Ford vẫn còn thấp hơn 15% so với cùng thời gian năm 2008, hai năm trước đây. Tại sao tiền thu nhờ bán xe thì xuống, nhưng tiền lời lại tăng. Ðằng sau các con số đi ngược chiều đó là kết quả do những nỗ lực cắt giảm chi tiêu của công ty. Trong đó, có việc đóng cửa bớt những nhà máy không có lời, tất nhiên cũng phải tiết giảm nhân sự. Nếu các công ty đều theo cùng một sách như vậy thì chúng ta hiểu tại sao vẫn còn nhiều người thất nghiệp.
Công ty Parker Hannifin, sản xuất các bộ phận máy móc ở Clevelend, Ohio là một trường hợp tiêu biểu. Trong quý thứ nhì năm nay, lợi nhuận của họ đã tăng, lên tới 222 triệu Mỹ kim. Tiền lời của công ty tăng gấp 4 lần so với năm ngoái, nhưng tổng số hàng bán tăng rất yếu, chỉ được 25%. Trong tình trạng số bán lên chậm như vậy, công ty vẫn chưa gọi các công nhân cũ đi làm trở lại. Họ chỉ yêu cầu các công nhân làm thêm giờ phụ trội và làm thêm cuối tuần. Với chính sách đó, họ không lo phải trả tiền về phúc lợi cho công nhân mới tuyển, mà cũng không lo sẽ phải sa thải người nếu tình hình lại đi xuống lần nữa.
Nhiều đại công ty khác cũng cắt giảm chi phí nên lợi nhuận tăng lên mặc dù số bán tăng rất nhẹ. Ngay trong năm 2008, Texas Instruments Inc đã quyết định cắt cả một bộ phận làm “chíp” gắn trong các điện thoại di động. Lúc đó bộ phận này đem lại 20% số thu nhập của công ty, nhưng mức lời rất thấp. Nhân lúc kinh tế suy thoái, công ty đã quyết định thay đổi cả chiến lược sản xuất, nhắm vào những thị trường có mức lời cao. Họ đã giảm bớt bộ phận nghiên cứu về chíp, giảm chi phí nghiên cứu. Ðối với công ty thì kết quả rất ngoạn mục: Tiền thu nhập trong quý thứ nhì năm 2010 đã tăng 4% so với cùng thời gian năm 2008, nhưng tiền lời thì tăng thêm 31%.
Một công ty quen thuộc là Starbucks, trong lúc kinh tế suy thoái đã đóng cửa 648 cửa hàng trên khắp nước Mỹ, đưa mấy ngàn người vào đạo quân thất nghiệp. Công ty này mới công bố số tiền lời trong quý thứ nhì năm 2010 lên tới mức cao nhất trong lịch sử! Họ tính tài khóa 2011 sẽ còn tiếp tục kiếm thêm lời kỷ lục nữa!
Một tên quen thuộc nữa là Coca Cola. Họ báo tin trong quý thứ nhì số thu nhập vẫn còn thấp, 4% ít hơn so với cùng thời gian năm 2008. Nhưng tiền lời do hoạt động sinh ra (operating profit) đã tăng thêm 85% so với 2 năm trước, và tiền lời ròng còn tăng nhiều hơn nữa. Trong cơn suy thoái kinh tế, công ty Coca Cola đã thay đổi phương pháp đặt hàng mua chai lọ, tái tổ chức cả hệ thống máy điện toán, riêng công việc này mỗi năm tiết kiệm được 500 triệu Mỹ kim trong mấy năm liền! Tiền bán hàng của Coca Cola đã tăng rất nhẹ, chỉ có 2% ở Mỹ; nhưng số bán trên thế giới thì tăng nhanh hơn, 5% ngay trong cơn suy thoái này.
Nói chung, những người cảm thấy kinh tế đang lên là quản đốc các xí nghiệp lớn. Nhưng một lý do khiến họ đạt được thành tích đó là vì đa số biết cắt chi phí. Mà khi họ cắt chi phí thì trong đó có việc bớt công việc và giảm bớt số công nhân. Nhiều người sẽ mất việc làm, đó là một sự thật đáng buồn nhưng không tránh được. Vì các vị quản đốc chỉ tuyển thêm nhân viên nếu thấy số bán tăng lên và có thể tiếp tục tăng lên nữa. Nhưng tại nhiều công ty, số tiền lời tăng nhanh mặc dù số hàng bán không tăng hoặc tăng rất ít.
Ðó là hiện trạng kinh tế mà chính phủ Obama đang phải đối phó: Kinh tế đang lên thật nhưng lên rất chậm. Mà thị trường nhân dụng thì lên chậm hơn thị trường sản xuất. Vì các xí nghiệp còn đợi bao giờ thấy tương lai có vẻ chắc ăn mới tuyển thêm người! Nếu trong hai tuần nữa đảng Dân Chủ mất quyền kiểm soát ở Hạ Viện, thì họ có thể đổ tại các nhà quản lý xí nghiệp! Họ điều hành xí nghiệp để gia tăng lợi nhuận, tránh rủi ro. Mà đó là kim chỉ nam giúp cho nền kinh tế thị trường phát triển!
Tại sao các nhà chính trị, ở Tòa Bạch Ốc và trong Quốc Hội trong 2 năm qua chưa giúp cho giới kinh doanh nức lòng đầu tư thêm và tuyển mộ thêm người? Với hơn 800 tỷ kích thích kinh tế và 700 tỷ cứu cấp các ngân hàng, người dân trông đợi kết quả sớm hơn nữa. Nhưng khi cuộc khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ lãnh vực tài chánh thì con đường phục hồi bao giờ cũng chậm chạp. Cả hệ thống tài chánh, ngân hàng trở nên dè dặt, thận trọng hơn, tự nhiên đồng tiền luân chuyển trong nền kinh tế chạy với tốc độ thấp hơn. Nói cách khác, tiền gần như cứ nằm ỳ một chỗ! Kể từ khi ngân hàng Lehman bị phá sản đến nay, các ngân hàng đều giảm bớt không cho tiền đi ra nhanh chóng như trước nữa. Vào giữa năm 2010, tổng số tiền mặt nằm chờ được trong hệ thống ngân hàng đã lên tới 1,800 tỷ Mỹ kim, tăng thêm 400 tỷ so với hai năm trước, chưa bao giờ tăng nhanh như vậy! Ðây là số tiền mặt bất động cao nhất kể từ nửa thế kỷ nay, theo phân tích của ông Alan Greenspan, cựu chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang tức Ngân Hàng Trung Ương Mỹ. Hiện các ngân hàng thương mại có dư 1,000 tỷ Mỹ kim gửi trong Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, một số thặng dư kỷ lục. Nếu số tiền đó được tháo ra cho chạy đều như xưa vào trong hệ thống sản xuất, thì số đầu tư của các xí nghiệp ở Mỹ đã tăng gấp đôi, theo sự tính toán của ông Greenspan.
Tại sao các người giữ tiền của nước Mỹ, các ngân hàng, lại dè dặt quá như vậy?
Vì họ lo bất trắc nhiều hơn trước. Sau một cuộc khủng hoảng khiến các ngân hàng lớn nhất cũng liểng xiểng, ai cùng sợ. Cuộc khủng hoảng cũng bắt buộc chính quyền các nước trên thế giới phải cải tổ hệ thống tài chánh. Cải tổ như thế nào? Hiện nay vẫn còn chưa rõ rệt. Trong khi chờ đợi để hiểu rõ những “luật chơi mới” thì các ngân hàng và quỹ đầu tư đều dè dặt. Ðó lại là một lý do khiến những người giữ tiền trong tay không chịu thả cho tiền chạy ra!
Cho nên chúng ta có thể đoán kinh tế Mỹ phải mất nhiều năm nữa mới lên thật sự được. Hai đảng chính trị đang nhắm vào cuộc bầu cử năm 2012, khi đó Tổng Thống Barack Obama sẽ phải tái ứng cử. Liệu trong 2 năm nữa kinh tế đã tăng lên rõ rệt hay chưa?
Ưu việt XHCN:
XẾP HẠNG TỰ DO BÁO CHÍ 2010: VN XẾP THỨ 165 TRÊN LÀO 3 BẬC
Tổ chức Nhà Báo Không Biên Giới, RSF, vừa công bố bảng xếp hạng mức tự do báo chí của các nước trên thế giới năm 2010 trong đó Rwanda và Syria vào danh sách 10 nước đàn áp báo chí nhất thế giới cùng Trung Quốc, Bắc Hàn và Miến Điện.Ở Đông Nam Á, Việt Nam được xếp thứ 165, trên được Lào và Miến Điện.
Theo danh sách của tổ chức này, Cuba lần đầu tiên không nằm trong số 10 nước này kể từ khi bảng xếp hạng này được đặt ra năm 2002.
Bảng xếp hạng thường niên này đánh giá mức độ tự do báo chí ở 178 quốc gia trên thế giới và năm nay đã ca ngợi 6 nước Bắc Âu: Phần Lan, Iceland, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển và Thụy Sĩ, các nước đứng đầu bảng.
Theo phúc trình của RSF thì bốn quốc gia cộng sản tại châu Á là trong số 15 quốc gia xếp hạng thấp nhất trong bảng xếp hạng trong đó Bắc Hàn đứng thứ 177, Trung Quốc thứ 171, Việt Nam thứ 165 và Lào 168.
Tổng thư ký RSF, ông Jean-Francois Julliard nhắc lại kêu gọi Trung Quốc hãy thả người mới được giải thưởng Nobel vì hòa bình, ông Lưu Hiểu Ba, "một biểu tượng của tình trạng đàn áp tự do ngôn luận đang gia tăng tại Trung Quốc".
"Trung Quốc, mặc dù năng động về truyền thông và internet, vẫn ở vị trí thấp vì tình trạng kiểm duyệt và đàn áp không ngừng, đặc biệt tại Tây Tạng và Tân Cương."
Ông Julliard nói thêm rằng "trong khi tại Bắc Hàn là độc đoán như địa ngục" nơi ông Kim Chính Nhất vừa đưa con trai lên nối vị "tình trạng đàn áp đã trở nên mạnh tay hơn".
Bảng xếp hạng này cũng nhấn mạnh sự khác biệt lớn giữa tự do báo chí tại 4 nền kinh tế lớn trên thế giới - Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga.
Nhờ có những thay đổi về luật pháp, Brazil lên 12 bậc và ở vị trí thứ 58 trong khi Ấn Độ tụt 17 bậc xuống tứ 122, chủ yếu do tình trạng bạo động dữ dội tại Kashmir.
Còn tại Nga, ở vị trí 140, "cơ chế vẫn duy trì sự kiểm soát chặt chẽ vốn từ xưa đến nay".
Tại các nước Đông Nam Á còn lại, Thái Lan tụt 23 bậc, xuống vị trí thứ 53, trong khi Philippines tụt 34 bậc, xuống vị trí thứ 156.
Các nền dân chủ châu Á như Đài Loan, thứ 11, và Hàn Quốc, thứ 27, được khen về sự tiến bộ trong tự do báo chí.
( Nguồn: BBC )
XẾP HẠNG TỰ DO BÁO CHÍ 2010: VN XẾP THỨ 165 TRÊN LÀO 3 BẬC
Tổ chức Nhà Báo Không Biên Giới, RSF, vừa công bố bảng xếp hạng mức tự do báo chí của các nước trên thế giới năm 2010 trong đó Rwanda và Syria vào danh sách 10 nước đàn áp báo chí nhất thế giới cùng Trung Quốc, Bắc Hàn và Miến Điện.Ở Đông Nam Á, Việt Nam được xếp thứ 165, trên được Lào và Miến Điện.
Theo danh sách của tổ chức này, Cuba lần đầu tiên không nằm trong số 10 nước này kể từ khi bảng xếp hạng này được đặt ra năm 2002.
Bảng xếp hạng thường niên này đánh giá mức độ tự do báo chí ở 178 quốc gia trên thế giới và năm nay đã ca ngợi 6 nước Bắc Âu: Phần Lan, Iceland, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển và Thụy Sĩ, các nước đứng đầu bảng.
Theo phúc trình của RSF thì bốn quốc gia cộng sản tại châu Á là trong số 15 quốc gia xếp hạng thấp nhất trong bảng xếp hạng trong đó Bắc Hàn đứng thứ 177, Trung Quốc thứ 171, Việt Nam thứ 165 và Lào 168.
Tổng thư ký RSF, ông Jean-Francois Julliard nhắc lại kêu gọi Trung Quốc hãy thả người mới được giải thưởng Nobel vì hòa bình, ông Lưu Hiểu Ba, "một biểu tượng của tình trạng đàn áp tự do ngôn luận đang gia tăng tại Trung Quốc".
"Trung Quốc, mặc dù năng động về truyền thông và internet, vẫn ở vị trí thấp vì tình trạng kiểm duyệt và đàn áp không ngừng, đặc biệt tại Tây Tạng và Tân Cương."
Ông Julliard nói thêm rằng "trong khi tại Bắc Hàn là độc đoán như địa ngục" nơi ông Kim Chính Nhất vừa đưa con trai lên nối vị "tình trạng đàn áp đã trở nên mạnh tay hơn".
Bảng xếp hạng này cũng nhấn mạnh sự khác biệt lớn giữa tự do báo chí tại 4 nền kinh tế lớn trên thế giới - Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga.
Nhờ có những thay đổi về luật pháp, Brazil lên 12 bậc và ở vị trí thứ 58 trong khi Ấn Độ tụt 17 bậc xuống tứ 122, chủ yếu do tình trạng bạo động dữ dội tại Kashmir.
Còn tại Nga, ở vị trí 140, "cơ chế vẫn duy trì sự kiểm soát chặt chẽ vốn từ xưa đến nay".
Tại các nước Đông Nam Á còn lại, Thái Lan tụt 23 bậc, xuống vị trí thứ 53, trong khi Philippines tụt 34 bậc, xuống vị trí thứ 156.
Các nền dân chủ châu Á như Đài Loan, thứ 11, và Hàn Quốc, thứ 27, được khen về sự tiến bộ trong tự do báo chí.
( Nguồn: BBC )
Ký giả mất việc vì kỳ thị?
Ngô Nhân Dụng Hệ thống truyền thanh NPR ở Mỹ mới sa thải một nhà báo vì lý do ông ta nói những lời bị coi là “kỳ thị.” Hành động này làm nổ bùng một cuộc tranh luận: Như thế nào thì một người bị coi là có ý kiến kỳ thị đối với những người khác?
Ở nước Mỹ, hầu như mọi người đều đồng ý “kỳ thị là xấu.” Nhất là nhà báo thì không nên có tư tưởng kỳ thị, tức là không được nuôi giữ thành kiến về một nhóm người nào, dựa trên chủng tộc, tôn giáo, phái tính, tuổi tác, vân vân. Những đối tượng hay được nêu lên để tránh thái độ và thành kiến phân biệt là người da đen, phụ nữ, người già, các sắc dân hoặc các tôn giáo thiểu số như người Do Thái, người gốc La Tinh, người Á Châu, người Hồi Giáo, vân vân. Ðặc biệt, các nhà báo phải tránh thái độ phân biệt. Một cơ quan truyền thông tỏ thái độ kỳ thị sẽ không được độc giả, thính giả tín nhiệm. Ðây là những nguyên tắc hầu như ai cũng đồng ý, thường được viết trong những bản văn về trách nhiệm và lương tâm chức nghiệp.
Nhưng thi hành các nguyên tắc đạo đức nhiều khi rất phức tạp. Hôm Thứ Tư vừa qua, ký giả Juan Williams, chuyên gia phân tích thời sự của hệ thống NPR (National Public Radio) đã tham dự một cuộc thảo luận trên đài ti vi của hệ thống Fox, do ký giả Bill O'Reilly điều khiển. NPR tuy gọi là “public,” nghĩa là của công, nhưng chỉ có 2% ngân sách là được chính phủ giúp, còn 98% là do gây quỹ lấy. NPR vốn có khuynh hướng “cấp tiến” (liberal), khác với Fox theo khuynh hướng bảo thủ (conservative). Ký giả Juan Williams là nhân viên của NPR nhưng đã cộng tác với Fox từ nhiều năm, cũng như nhiều ký giả khác vẫn làm cho cả hai đài.
Tuần trước, ông O'Reilly mới làm nhiều người bực mình khi ông nói hớ một câu, trong chương trình truyền hình của ông, rằng: “Người Hồi Giáo đã giết chúng ta ngày 11 tháng 9.” (Thay vì nói “một nhóm người Hồi Giáo” đã gây cuộc khủng bố đó). Lập tức, hai người cộng tác ngồi với ông trong “sô” (show) là Joy Behar và Whoopi Goldberg đã đứng dậy phản đối câu nói “vơ đũa cả nắm” này; họ còn bỏ đi luôn để tỏ ý bất bình. Nhân đó, trong “sô” ngày Thứ Hai vừa rồi, Bill O'Reilly mới hỏi bạn đồng nghiệp Juan Williams rằng ông có thấy người Mỹ đang gặp khó khăn mỗi khi đề cập đến người Hồi Giáo hay không? Williams đồng ý, và nói thêm rằng: “Bill, anh biết tôi không phải người kỳ thị; tôi đã viết những sách về phong trào đòi dân quyền (của người da đen) ở xứ này.” Juan Williams cũng là một người Mỹ da đen, ông nói tiếp, “Nhưng, tôi phải nói với anh, khi bước chân lên một cái máy bay mà tôi trông thấy một người ăn mặc kiểu như người Hồi Giáo, và tự nhiên tôi nghĩ, anh hiểu không, tôi muốn nói những người tự nhận họ trước hết là người Hồi Giáo, thế là tôi sợ, tôi lo lắng.” (Nguyên văn, I get worried. I get nervous).
Ngay sau khi cuộc đối thoại trên phát hình đi khắp nơi, nhiều tổ chức bảo vệ dân quyền của người Hồi Giáo đã phản đối. Tổ chức AIR, Ban Liên Lạc người Hồi Giáo Mỹ, ra thông cáo yêu cầu hệ thống đài NPR phải có thái độ. Ông Nihad Awad, giám đốc điều hành của AIR nói ông Williams hình như có ý nói rằng: “Tất cả những hành khách trông có vẻ Hồi Giáo đáp máy bay đều có thể coi là một mối đe dọa về an ninh một cách chính đáng.” Một ký giả Mỹ khác, Andrew Sullivan sáng Thứ Tư đã viết rằng câu Williams nói, rằng thấy người Hồi Giáo trên máy bay thì lo sợ, đúng là thái độ kỳ thị; “Nếu bây giờ có người da trắng nói thấy một người da đen đi trên đường với bộ dạng hung dữ, thì nghĩ ngay là anh da đen này sắp sửa trấn lột mình, như vậy có đáng gọi là kỳ thi hay không?”
Tối Thứ Tư, bà giám đốc tin tức đài NPR, Ellen Weiss, gọi điện thoại báo tin cho Williams biết anh bị sa thải khỏi đài NPR. Bà từ chối không cho anh gặp để giải thích, mặc dù Williams đã làm việc cho đài này từ 10 năm.
Một người lên tiếng bênh vực cho Williams là Whoopi Goldberg, ký giả đã bước ra khỏi phòng thâu hình để phản đối O'Reilly về câu nói vơ đũa cả nắm kết tội người Hồi Giáo. Goldberg nói: “Chẳng qua Williams chỉ muốn nói là anh ta lo lắng (nervous), nói như vậy có gì đâu? Sa thải anh ta thật là chuyện lố bịch.” Bernie Goldberg, một người cộng tác khác với Fox News, nói thẳng: “Nhiều người cấp tiến khi bước lên máy bay cũng cảm thấy giống như Juan vậy. Trong đó có những người cấp tiến làm việc cho NPR. Cái tội của Juan là nói nói thẳng ý nghĩ đó ra! Thêm một bằng chứng cho thấy họ chẳng cấp tiến chút nào cả!” Ðài Fox News cũng bênh vực Williams, và lập tức mời anh ký một hợp đồng cộng tác nhiều năm sắp tới. Hôm nay, Thứ Sáu 22 tháng 100, anh sẽ được mời điều khiển sô của O'Reilly.
Chủ tịch tổng giám đốc (CEO) đài NPR, Vivian Schiller, cho biết Juan Williams đã từng vi phạm các quy tắc đạo đức nghề nghiệp nhiều lần trước khi nói những câu mà đài coi là kỳ thị người Hồi Giáo hôm Thứ Hai vừa qua. Bà Shiller gửi thư giải thích với nhân viên rằng Quy Tắc Ðạo Lý Nghề Nghiệp của NPR nói rõ: “Các nhà báo và nhà phân tích tin tức của đài NPR không được phép tham dự những hoạt động truyền thông khuyến khích lối nói dạy đời và phỏng đoán (punditry and speculation) thay vì hành động phân tích dựa trên sự kiện xác thực.” Hội Các Ký Giả Chuyên Nghiệp (Society of Professional Journalists) hôm qua thông báo mặc dù hội ủng hộ quyền tự do phát biểu của Williams, nhưng “dựa trên đạo lý nghề nghiệp, yêu cầu các ký giả phải tránh nuôi thành kiến vì bất cứ lý do nào và chúng tôi thông cảm lý do đài NPR đã nêu ra trong quyết định (sa thải Williams).”
Ðiều mà mọi người sẽ tiếp tục bàn cãi là quả thật Juan Williams có “óc kỳ thị” hay không? Phát biểu một ý tưởng mà nhiều người Mỹ khác cũng nghĩ như vậy nhưng không dám nói ra, có nên coi là truyền bá tư tưởng kỳ thị hay không? Nếu trước đây Williams không bao giờ có thái độ, ý kiến ngược với chủ trương của đài NPR thì liệu anh ta có bị trừng phạt vì một câu nói hớ hôm Thứ Hai rồi hay không?
Việc sa thải một ký giả vì phát biểu quan điểm có tính cách kỳ thị xảy ra rất thường xuyên trong làng truyền thông ở Mỹ. Ðầu tháng 10 vừa qua, đài CNN đã cho nhà điều khiển chương trình Rick Sanchez nghỉ việc, vì ông đã nói những câu ám chỉ người Do Thái ở Mỹ không phải là một nhóm thiểu số. Rick Sanchez, một người Mỹ gốc Cuba. Sanchez đã phê bình một nhà hài hước, Jon Stewart, người vẫn đem Sanchez ra chế diễu trên ti vi. Anh bảo Stewart là người kỳ thị, và nói thêm trong nghề nghiệp chính anh hay bị đối xử phân biệt. Khi có người hỏi anh có biết Stewart là người Do Thái hay không, Sanchez nói: “Hầu hết mọi người điều khiển đài CNN cũng giống như Stewart!” Ngày hôm sau Sanchez bị đài CNN sa thải, mặc dù anh đã tuyên bố trên ti vi rằng anh ân hận đã nói những lời hàm hồ, chỉ trích Jon Stewart một cách bất công.
Giới truyền thông Mỹ lúc nào cũng cố tránh thái độ cho thấy họ có tinh thần phân biệt chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, văn hóa, vân vân. Nhưng ngay trong phạm vi chính trị, người ký giả cũng phải tránh không phô bày các thành kiến có tính cách thiên lệch, đảng phái. Ðó là một quy tắc đạo lý nghề nghiệp rất nghiêm nhặt, và rất khó theo!
Hồi tháng 6 vừa qua, một lý giả nhật báo Washington Post là blogger David Weigel đã phải từ chức, ngay sau khi nhận việc được ba tháng, chỉ vì những ý kiến anh đã bày tỏ trên blog của mình, trước khi nhận việc với tờ Post. Nhật báo Washington Post thường có khuynh hướng cấp tiến và nghiêng về đảng Dân Chủ. David Weigel cũng là một ký giả cấp tiến, từng gây thù oán với các ký giả bảo thủ. Một người làm blog bảo thủ đã tìm ra trong quá khứ David Weigel từng viết những lời chỉ trích (thóa mạ) rất nặng nề đối với một số nhà chính trị Cộng Hòa và các ký giả bảo thủ khác. Mặc dù chỉ viết trên blog riêng của anh, nhưng các ý kiến mà Weigel đã bày tỏ thuộc phạm vi thông tin công khai, ai cũng đọc được. Vì thế báo Washington Post phải cho anh nghỉ việc. Vì họ sợ rằng khi độc giả biết Weigel, một nhân viên của tờ báo, có tư tưởng thiên lệch chống các nhà chính trị đối nghịch như vậy, thì các ý kiến của anh ta khi phân tích, phê bình về các nhân vật trên sẽ không còn được độc giả tin tưởng là khách quan, vô tư nữa. Chính Weigel cũng thấy anh có thể không còn được độc giả tín nhiệm trong nghề làm báo, cho nên xin rút khỏi tờ báo.
Mọi người có quyền mang tư tưởng, ý kiến chính trị riêng. Nhưng khi một ký giả cho thấy vì thiên kiến của mình mà hy sinh đức công bằng, khách quan khi loan tin hay phân tích tin tức, thì người đó nên quay ra viết truyền đơn vận động bầu cử, tốt hơn là viết báo hay làm đài truyền hình. Ðó là một quy tắc đạo đức nghề nghiệp để bảo vệ uy tín của cơ quan truyền thông. Một tờ báo không thể đóng vai tờ truyền đơn chính trị! Người dân một nước dân chủ đã được cung cấp rất nhiều truyền đơn cổ động chính trị rồi. Làm báo, đài chuyên nghiệp phải cung cấp những sản phẩm khác!
Nhưng theo đúng được quy tắc trên rất khó, vì đại đa số chúng ta đều có ít nhiều thiên kiến về chính trị! Một biện pháp được các báo, đài ở Mỹ áp dụng để bớt thiên lệch trong việc làm tin và phân tích tin tức. Nhiều báo và đài đã tuyển các ký giả có khuynh hướng đối nghịch với chính tờ báo, và đăng bài của các nhà bình luận thuộc khuynh hướng trái nghịch nhau, để tạo nên những dư luận cân bằng.
Cuối cùng, quý vị độc giả thấy các anh Juan Williams, David Weigel và Rick Sanchez có đáng bị sa thải hay không? Câu trả lời của quý vị sẽ cho biết quý vị nghĩ sao về đạo lý nghề truyền thông và vai trò của truyền thông trong một xã hội tự do dân chủ. Ký giả này có ý kiến riêng, nhưng xin phép giữ kín không nêu ra. Vì muốn nêu ra một ý kiến sẽ phải trình bày thêm rất nhiều dữ kiện, một bài báo không thể đủ chỗ!
Ngô Nhân Dụng Hệ thống truyền thanh NPR ở Mỹ mới sa thải một nhà báo vì lý do ông ta nói những lời bị coi là “kỳ thị.” Hành động này làm nổ bùng một cuộc tranh luận: Như thế nào thì một người bị coi là có ý kiến kỳ thị đối với những người khác?
Ở nước Mỹ, hầu như mọi người đều đồng ý “kỳ thị là xấu.” Nhất là nhà báo thì không nên có tư tưởng kỳ thị, tức là không được nuôi giữ thành kiến về một nhóm người nào, dựa trên chủng tộc, tôn giáo, phái tính, tuổi tác, vân vân. Những đối tượng hay được nêu lên để tránh thái độ và thành kiến phân biệt là người da đen, phụ nữ, người già, các sắc dân hoặc các tôn giáo thiểu số như người Do Thái, người gốc La Tinh, người Á Châu, người Hồi Giáo, vân vân. Ðặc biệt, các nhà báo phải tránh thái độ phân biệt. Một cơ quan truyền thông tỏ thái độ kỳ thị sẽ không được độc giả, thính giả tín nhiệm. Ðây là những nguyên tắc hầu như ai cũng đồng ý, thường được viết trong những bản văn về trách nhiệm và lương tâm chức nghiệp.
Nhưng thi hành các nguyên tắc đạo đức nhiều khi rất phức tạp. Hôm Thứ Tư vừa qua, ký giả Juan Williams, chuyên gia phân tích thời sự của hệ thống NPR (National Public Radio) đã tham dự một cuộc thảo luận trên đài ti vi của hệ thống Fox, do ký giả Bill O'Reilly điều khiển. NPR tuy gọi là “public,” nghĩa là của công, nhưng chỉ có 2% ngân sách là được chính phủ giúp, còn 98% là do gây quỹ lấy. NPR vốn có khuynh hướng “cấp tiến” (liberal), khác với Fox theo khuynh hướng bảo thủ (conservative). Ký giả Juan Williams là nhân viên của NPR nhưng đã cộng tác với Fox từ nhiều năm, cũng như nhiều ký giả khác vẫn làm cho cả hai đài.
Tuần trước, ông O'Reilly mới làm nhiều người bực mình khi ông nói hớ một câu, trong chương trình truyền hình của ông, rằng: “Người Hồi Giáo đã giết chúng ta ngày 11 tháng 9.” (Thay vì nói “một nhóm người Hồi Giáo” đã gây cuộc khủng bố đó). Lập tức, hai người cộng tác ngồi với ông trong “sô” (show) là Joy Behar và Whoopi Goldberg đã đứng dậy phản đối câu nói “vơ đũa cả nắm” này; họ còn bỏ đi luôn để tỏ ý bất bình. Nhân đó, trong “sô” ngày Thứ Hai vừa rồi, Bill O'Reilly mới hỏi bạn đồng nghiệp Juan Williams rằng ông có thấy người Mỹ đang gặp khó khăn mỗi khi đề cập đến người Hồi Giáo hay không? Williams đồng ý, và nói thêm rằng: “Bill, anh biết tôi không phải người kỳ thị; tôi đã viết những sách về phong trào đòi dân quyền (của người da đen) ở xứ này.” Juan Williams cũng là một người Mỹ da đen, ông nói tiếp, “Nhưng, tôi phải nói với anh, khi bước chân lên một cái máy bay mà tôi trông thấy một người ăn mặc kiểu như người Hồi Giáo, và tự nhiên tôi nghĩ, anh hiểu không, tôi muốn nói những người tự nhận họ trước hết là người Hồi Giáo, thế là tôi sợ, tôi lo lắng.” (Nguyên văn, I get worried. I get nervous).
Ngay sau khi cuộc đối thoại trên phát hình đi khắp nơi, nhiều tổ chức bảo vệ dân quyền của người Hồi Giáo đã phản đối. Tổ chức AIR, Ban Liên Lạc người Hồi Giáo Mỹ, ra thông cáo yêu cầu hệ thống đài NPR phải có thái độ. Ông Nihad Awad, giám đốc điều hành của AIR nói ông Williams hình như có ý nói rằng: “Tất cả những hành khách trông có vẻ Hồi Giáo đáp máy bay đều có thể coi là một mối đe dọa về an ninh một cách chính đáng.” Một ký giả Mỹ khác, Andrew Sullivan sáng Thứ Tư đã viết rằng câu Williams nói, rằng thấy người Hồi Giáo trên máy bay thì lo sợ, đúng là thái độ kỳ thị; “Nếu bây giờ có người da trắng nói thấy một người da đen đi trên đường với bộ dạng hung dữ, thì nghĩ ngay là anh da đen này sắp sửa trấn lột mình, như vậy có đáng gọi là kỳ thi hay không?”
Tối Thứ Tư, bà giám đốc tin tức đài NPR, Ellen Weiss, gọi điện thoại báo tin cho Williams biết anh bị sa thải khỏi đài NPR. Bà từ chối không cho anh gặp để giải thích, mặc dù Williams đã làm việc cho đài này từ 10 năm.
Một người lên tiếng bênh vực cho Williams là Whoopi Goldberg, ký giả đã bước ra khỏi phòng thâu hình để phản đối O'Reilly về câu nói vơ đũa cả nắm kết tội người Hồi Giáo. Goldberg nói: “Chẳng qua Williams chỉ muốn nói là anh ta lo lắng (nervous), nói như vậy có gì đâu? Sa thải anh ta thật là chuyện lố bịch.” Bernie Goldberg, một người cộng tác khác với Fox News, nói thẳng: “Nhiều người cấp tiến khi bước lên máy bay cũng cảm thấy giống như Juan vậy. Trong đó có những người cấp tiến làm việc cho NPR. Cái tội của Juan là nói nói thẳng ý nghĩ đó ra! Thêm một bằng chứng cho thấy họ chẳng cấp tiến chút nào cả!” Ðài Fox News cũng bênh vực Williams, và lập tức mời anh ký một hợp đồng cộng tác nhiều năm sắp tới. Hôm nay, Thứ Sáu 22 tháng 100, anh sẽ được mời điều khiển sô của O'Reilly.
Chủ tịch tổng giám đốc (CEO) đài NPR, Vivian Schiller, cho biết Juan Williams đã từng vi phạm các quy tắc đạo đức nghề nghiệp nhiều lần trước khi nói những câu mà đài coi là kỳ thị người Hồi Giáo hôm Thứ Hai vừa qua. Bà Shiller gửi thư giải thích với nhân viên rằng Quy Tắc Ðạo Lý Nghề Nghiệp của NPR nói rõ: “Các nhà báo và nhà phân tích tin tức của đài NPR không được phép tham dự những hoạt động truyền thông khuyến khích lối nói dạy đời và phỏng đoán (punditry and speculation) thay vì hành động phân tích dựa trên sự kiện xác thực.” Hội Các Ký Giả Chuyên Nghiệp (Society of Professional Journalists) hôm qua thông báo mặc dù hội ủng hộ quyền tự do phát biểu của Williams, nhưng “dựa trên đạo lý nghề nghiệp, yêu cầu các ký giả phải tránh nuôi thành kiến vì bất cứ lý do nào và chúng tôi thông cảm lý do đài NPR đã nêu ra trong quyết định (sa thải Williams).”
Ðiều mà mọi người sẽ tiếp tục bàn cãi là quả thật Juan Williams có “óc kỳ thị” hay không? Phát biểu một ý tưởng mà nhiều người Mỹ khác cũng nghĩ như vậy nhưng không dám nói ra, có nên coi là truyền bá tư tưởng kỳ thị hay không? Nếu trước đây Williams không bao giờ có thái độ, ý kiến ngược với chủ trương của đài NPR thì liệu anh ta có bị trừng phạt vì một câu nói hớ hôm Thứ Hai rồi hay không?
Việc sa thải một ký giả vì phát biểu quan điểm có tính cách kỳ thị xảy ra rất thường xuyên trong làng truyền thông ở Mỹ. Ðầu tháng 10 vừa qua, đài CNN đã cho nhà điều khiển chương trình Rick Sanchez nghỉ việc, vì ông đã nói những câu ám chỉ người Do Thái ở Mỹ không phải là một nhóm thiểu số. Rick Sanchez, một người Mỹ gốc Cuba. Sanchez đã phê bình một nhà hài hước, Jon Stewart, người vẫn đem Sanchez ra chế diễu trên ti vi. Anh bảo Stewart là người kỳ thị, và nói thêm trong nghề nghiệp chính anh hay bị đối xử phân biệt. Khi có người hỏi anh có biết Stewart là người Do Thái hay không, Sanchez nói: “Hầu hết mọi người điều khiển đài CNN cũng giống như Stewart!” Ngày hôm sau Sanchez bị đài CNN sa thải, mặc dù anh đã tuyên bố trên ti vi rằng anh ân hận đã nói những lời hàm hồ, chỉ trích Jon Stewart một cách bất công.
Giới truyền thông Mỹ lúc nào cũng cố tránh thái độ cho thấy họ có tinh thần phân biệt chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, văn hóa, vân vân. Nhưng ngay trong phạm vi chính trị, người ký giả cũng phải tránh không phô bày các thành kiến có tính cách thiên lệch, đảng phái. Ðó là một quy tắc đạo lý nghề nghiệp rất nghiêm nhặt, và rất khó theo!
Hồi tháng 6 vừa qua, một lý giả nhật báo Washington Post là blogger David Weigel đã phải từ chức, ngay sau khi nhận việc được ba tháng, chỉ vì những ý kiến anh đã bày tỏ trên blog của mình, trước khi nhận việc với tờ Post. Nhật báo Washington Post thường có khuynh hướng cấp tiến và nghiêng về đảng Dân Chủ. David Weigel cũng là một ký giả cấp tiến, từng gây thù oán với các ký giả bảo thủ. Một người làm blog bảo thủ đã tìm ra trong quá khứ David Weigel từng viết những lời chỉ trích (thóa mạ) rất nặng nề đối với một số nhà chính trị Cộng Hòa và các ký giả bảo thủ khác. Mặc dù chỉ viết trên blog riêng của anh, nhưng các ý kiến mà Weigel đã bày tỏ thuộc phạm vi thông tin công khai, ai cũng đọc được. Vì thế báo Washington Post phải cho anh nghỉ việc. Vì họ sợ rằng khi độc giả biết Weigel, một nhân viên của tờ báo, có tư tưởng thiên lệch chống các nhà chính trị đối nghịch như vậy, thì các ý kiến của anh ta khi phân tích, phê bình về các nhân vật trên sẽ không còn được độc giả tin tưởng là khách quan, vô tư nữa. Chính Weigel cũng thấy anh có thể không còn được độc giả tín nhiệm trong nghề làm báo, cho nên xin rút khỏi tờ báo.
Mọi người có quyền mang tư tưởng, ý kiến chính trị riêng. Nhưng khi một ký giả cho thấy vì thiên kiến của mình mà hy sinh đức công bằng, khách quan khi loan tin hay phân tích tin tức, thì người đó nên quay ra viết truyền đơn vận động bầu cử, tốt hơn là viết báo hay làm đài truyền hình. Ðó là một quy tắc đạo đức nghề nghiệp để bảo vệ uy tín của cơ quan truyền thông. Một tờ báo không thể đóng vai tờ truyền đơn chính trị! Người dân một nước dân chủ đã được cung cấp rất nhiều truyền đơn cổ động chính trị rồi. Làm báo, đài chuyên nghiệp phải cung cấp những sản phẩm khác!
Nhưng theo đúng được quy tắc trên rất khó, vì đại đa số chúng ta đều có ít nhiều thiên kiến về chính trị! Một biện pháp được các báo, đài ở Mỹ áp dụng để bớt thiên lệch trong việc làm tin và phân tích tin tức. Nhiều báo và đài đã tuyển các ký giả có khuynh hướng đối nghịch với chính tờ báo, và đăng bài của các nhà bình luận thuộc khuynh hướng trái nghịch nhau, để tạo nên những dư luận cân bằng.
Cuối cùng, quý vị độc giả thấy các anh Juan Williams, David Weigel và Rick Sanchez có đáng bị sa thải hay không? Câu trả lời của quý vị sẽ cho biết quý vị nghĩ sao về đạo lý nghề truyền thông và vai trò của truyền thông trong một xã hội tự do dân chủ. Ký giả này có ý kiến riêng, nhưng xin phép giữ kín không nêu ra. Vì muốn nêu ra một ý kiến sẽ phải trình bày thêm rất nhiều dữ kiện, một bài báo không thể đủ chỗ!
Bầu Cho Cộng Hòa Hay Dân Chủ?
Không bao lâu nữa là sẽ đến ngày bầu cử giữa mùa, ngày 2 Tháng 11 tới. Một số lớn dân Mỹ sẽ không đi bầu, nhất là trong khối Dân Chủ. Đối với những người có đủ quan tâm và chịu khó đi bầu thì vấn đề đặt ra là bầu cho ai?
Một cách thực tế, cuộc bầu này là một trưng cầu dân ý về TT Obama. Phe Dân Chủ hiểu rõ vấn đề nên đưa ra chiến lược tranh cử thật giản dị: nhắc lại những tội cũ của TT Bush với hàm ý bầu Cộng Hòa là bầu cho “căn nhà đổ nát” của Bush, trong khi đúng ra thì phải bầu cho những thành quả vĩ đại của TT Obama.
Trên cột báo này, cả hai vấn đề đã được viết khá nhiều, nhưng cũng cần nhắc lại, để có dịp nhìn rõ sự thật trong cái khói hỏa mù của truyền thông “phe ta”, và có một kết luận: bầu cho ai?
TỘI CỦA TT BUSH
Trên căn bản, phe Dân Chủ mang tình trạng kinh tế của Bush ra đe dọa cử tri. Bush bị tố cáo hai tội chính, dĩ nhiên không kể một vạn tội lớn nhỏ khác.
Tội thứ nhất mà TT Bush bị tố cáo là cắt thuế nhà giàu, mà lại tiêu xài vung vít, biến dư thừa ngân sách của TT Cinton thành thâm thủng hàng ngàn tỷ.
Trước hết phải nói dư thừa ngân sách của TT Clinton là nhờ vào sự kiện hai cơn sốt điện toán dot.com và cơn sốt gia cư đã tạo ra một bong bóng phồn vinh giả tạo, gia tăng thu hoạch thuế rất lớn cho cả nước. Trong khi đó, ngay từ năm 1994, tức là hai năm sau khi Clinton đắc cử, Cộng Hoà đã chiếm được đa số tại cả Thượng Viện lẫn Hạ Viện, không cho Clinton tung ra những chương trình tốn kém nào nữa. Ta còn nhớ tháng 11 năm 1995, quốc hội Cộng Hòa không chấp thuận ngân sách của TT Clinton, khiến guồng máy chính quyền bế tắc, ngưng hoạt động mất mấy ngày vì hết tiền. Hai yếu tố bội thu thuế và giới hạn chi tiêu Nhà Nước đã đưa đến tình trạng bội thu ngân sách mà phe Dân Chủ không ngừng khoe khoang, trong khi TT Clinton thật ra không có công trạng gì. Đảng Dân Chủ không phát minh ra internet như ông Phó Al Gore khoác lác, do đó cũng không tạo ra cơn sốt dot.com, và TT Clinton cũng không phải người chặn đứng các chi tiêu của Nhà Nước.
Cuối trào Clinton, ngay trước khi Bush nhậm chức thì bong bóng dot.com xì hơi, hàng ngàn công ty điện toán dot.com vỡ nợ, và nhà nước không còn thu được tiền thuế trên hàng ngàn tỷ lợi nhuận của mấy công ty này nữa. Nước Mỹ đi vào suy trầm kinh tế. Rồi vài tháng sau đó là vụ 9/11, với hậu quả là hàng ngàn tỷ phải chi vào công tác an ninh trong nước, và diệt khủng bố ngoài nước, tại Afghanistan và Iraq. Hai yếu tố thất thu thuế do suy trầm kinh tế, và chi phí chiến tranh chống khủng bố đã đưa đến thâm thủng ngân sách không tránh được, mà khó có thể nói là lỗi của Bush được. Bush không tạo ra suy trầm kinh tế năm 2000, và Bush cũng không chủ mưu vụ 9/11 (mặc dù không thiếu gì người đầu óc không bình thường vẫn tố Bush ngụy tạo vụ này).
Phe Dân Chủ luôn tố cáo Bush nâng đỡ nhà giàu, cắt thuế cho họ. Nhưng lại không nói cho rõ là TT Bush năm 2003 cắt thuế cho tất cả mọi giới, giàu cũng như nghèo. Trên thực tế, giới nhà nghèo dưới thời Bush đóng thuế ngày một ít trong khi giới nhà giàu đóng thuế ngày một nhiều hơn. Thống kê của sở thuế IRS cho tám năm của TT Bush cho thấy tỷ lệ thuế thu được từ khối 1% những người giàu nhất đã tăng từ 33% tổng số thu năm 2001, lên đến 40% năm 2008. TT Obama đòi tăng thuế của “nhà giàu” vì nhu cầu “công bằng” (fairness). Còn công bằng gì khi 1% những người giàu nhất đóng góp 40% tổng số thuế thu được của cả nước; trong khi 40% dân Mỹ không đóng một xu thuế nào, nhưng lại lãnh tới hai phần ba tiền trợ cấp an sinh xã hội của cả nước. Con bò vắt mãi cũng sẽ hết sữa thôi.
Tội thứ hai TT Bush bị tố là tạo ra khủng hoảng gia cư và tài chánh cuối năm 2008, đưa đến khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp cao hiện nay. Thực tế, cuộc khủng hoảng lớn nhất lịch sử Mỹ này đã manh nha từ hơn ba chục năm, và lớn mạnh trong các chính sách gia cư và tín dụng mỵ dân của các TT Dân Chủ Carter và Clinton, chứ không phải mới nẩy sinh ra trong mấy năm của Bush. Phe Dân Chủ tố giác Bush thả lỏng tín dụng gia cư để giúp tài phiệt Wall Street làm giàu, mà cố ém nhẹm chuyện đảng Dân Chủ đã nắm quyền kiểm soát quốc hội từ 2006, hai năm trước khi khủng hoảng bùng nổ, và đã ngăn cản không cho Bush ra luật kiểm soát tín dụng gia cư.
Đài CNN ngày 8 tháng 10 vừa qua đã mở cuộc thăm dò so sánh Bush và Obama. Kết quả Obama thắng Bush 47%-45%, cách biệt có 2% trong khi xác xuất sai trật là 4%. Tức là cả hai ngang ngửa nhau. Cách đây chưa tới hai năm, mức hậu thuẫn của Obama là gần 70% trong khi của Bush là 35%. TT Obama càng đổ thừa Bush bao nhiêu thì khoảng cách biệt lại càng ít đi.
Lạ lùng hơn nữa, theo thăm dò của báo phe ta Washington Post, một phần tư đảng viên đảng Dân Chủ (Dân Chủ!) cho rằng trở về với các chính sách của Bush là điều … tốt! (… but almost a quarter of Democrats say a GOP-led Congress would take the country in a new and better direction or say a return to Bush’s policies would be good.)
Đổ thừa mãi thì cũng hết người tin. Dân Mỹ hình như có trình độ hiểu biết cao hơn TT Obama nghĩ, mặc dù gần đây TT Obama đã công khai than phiền dân Mỹ hơi kém thông minh khi không nhìn thấy những thành quả cùa ông.
THÀNH QUẢ CỦA TT OBAMA
TT Obama khoe bốn “thành tích vĩ đại” của ông. Chấm dứt cuộc chiến tại Iraq, ra các luật “làm nên lịch sử” kích cầu kinh tế, cải tổ y tế, và cải tổ tài chánh.
Tháng 7 vừa qua đánh dấu ngày quân lực Mỹ chấm dứt tham chiến tại Iraq. Phó TT Biden lớn tiếng khoe là sách lược của TT Obama đã thành công, giúp cho ông giữ đúng lời hứa chấm dứt việc lính Mỹ tham chiến tại đây. Không ít đệ tử của Obama đã tung hô ông ngay. Điều ông Biden –và cả Obama- không nói ra và các đệ tử ngây ngô không biết, là quân tác chiến Mỹ rút ra khỏi Iraq là tuân theo hiệp ước đã được TT Bush (không phải Obama) ký kết với Thủ Tướng Al Maliki năm 2008. Trên căn bản, tình hình Iraq vẫn nghiêm trọng. Nhưng hiển nhiên là đã có thành quả và đó là thành quả của chiến lược đôn quân của TT Bush năm 2007, không liên quan gì đến Obama lúc đó còn đang lo tranh cử và lớn tiếng chỉ trích việc đôn quân đó. Cả ông Biden lúc đó cũng lớn tiếng chỉ trích chiến thuật đôn quân, mà ông cho là mang thêm lính Mỹ vào chỗ chết. Nếu TT Bush lúc đó áp dụng chiến lược không đôn quân mà Obama và Biden kêu gọi thì chắc chắn quân Mỹ đã không rút lui êm thắm năm 2010, mà đã tháo chạy có lẽ từ ngày “30 Tháng 4” năm 2009 bằng trực thăng bay từ nóc tòa đại sứ Mỹ rồi.
Thành quả thứ hai, luật kích cầu kinh tế đã hoàn toàn thất bại, chẳng giảm được nạn thất nghiệp, mà chỉ giúp nước Mỹ ôm một khối nợ khổng lồ. Kinh tế vẫn chưa ra khỏi lủng củng gần hai năm sau khi TT Obama nhậm chức. Nguyên ê-kíp kinh tế đã tháo chạy trở về dạy học. Họ đều là “siêu giáo sư” của Harvard, Stanford, …, tuyệt hảo về lý thuyết trừu tượng nhưng không biết giá một ổ bánh mì là bao nhiêu ngoài chợ.
Tháng Chín vừa qua, đã có thêm 95.000 người mất việc (đúng ra là 159.000 người mất việc, 64.000 kiếm được việc, kết số thuần là mất 95.000). Gần hai năm sau 800 tỷ kích cầu kinh tế, thiên hạ vẫn tiếp tục mất việc. Theo các chuyên gia, muốn trở về tỷ lệ thất nghiệp 5% của thời “đổ nát” Bush, thì mỗi tháng phải có thêm 300.000 việc làm (thay vì mất 95.000), liên tục trong 60 tháng từ nay cho đến tháng 9 năm 2015. Đấng Tiên Tri cho dù có đi trên mặt nước được, cũng không thể nặn ra từng đó việc làm.
Thành quả thứ ba, luật cải tổ y tế biểu quyết bằng cửa sau, dù chưa áp dụng, đã bị gần 60% dân Mỹ chống. Một thăm dò mới nhất của cơ quan Penn-Schoen (cả hai ông đều là cựu phụ tá cao cấp của TT Dân Chủ Clinton) cho thấy ngay cả 23% đảng viên Dân Chủ cũng muốn thu hồi luật này. Trong số gần 300 dân biểu và thượng nghị sĩ Dân Chủ đang tranh cử trở lại, không có một người nào dám khoe là mình đã bỏ phiếu thông qua luật cải tổ y tế.
Tình trạng thất nghiệp cao có liên quan trực tiếp đến cải tổ y tế. Mặc dù tăng trưởng kinh tế đã hết tuột dốc từ tháng 6 năm 2009, nhưng phần lớn các công ty đã không thuê thêm nhân viên vì còn cân nhắc tác hại của luật cải tổ y tế. Công ty McDonald đe dọa cắt bảo hiểm y tế của 39.000 nhân viên bán thời vì nếu áp dụng luật mới, chi phí bảo hiểm cho các nhân viên này sẽ quá đắt, khiến chính quyền Obama phải vội vã đặc miễn không áp dụng luật cải tổ y tế cho McDonald trong ít nhất là một năm nữa. Hàng loạt công ty và nghiệp đoàn khác đã mau mắn bắt chước theo McDonald, đòi được hưởng đặc miễn này. Và TT Obama đã phải đồng ý đặc miễn cho nghiệp đoàn giáo chức (United Federation of Teachers), và khoảng ba chục công ty (tính cho đến ngày bài này được viết, sẽ còn nhiều công ty đòi hưởng đặc miễn trong những ngày tới).
Luật mới chưa áp dụng đã phải “đặc miễn” không áp dụng cho các đại công ty và nghiệp đoàn. Thế thì áp dụng cho ai? Tiểu thương và những người dân bình thường thôi sao? Những người nào vẫn còn tin TT Obama tranh đấu cho tiểu thương, cho dân nghèo thấp cổ bé họng, chống các thế lực tài phiệt và nghiệp đoàn nên suy gẫm về chuyện đặc miễn này. Cũng nên coi lại sao luật mới lại khiến chi phí bảo hiểm y tế sẽ quá đắt như McDonald và các nghiệp đoàn than phiền đến độ phải chấp nhận đặc miễn? Sao không giống lời hứa hẹn giảm chi phí y tế của TT Obama vậy?
Thành quả thứ tư là luật cải tổ tài chánh. Thiên hạ chưa ai thấy gì cụ thể. Chỉ thấy các ngân hàng vẫn than vắn thở dài, để có lý do không cho ai mượn tiền trong khi vẫn công bố lời cả trăm tỷ.
Trong bốn “thành quả vĩ đại” của TT Obama thì cái đầu là thành quả nhận vơ, còn ba cái sau là hão huyền.
Ngoài những thành quả giả tưởng này ra, thì cũng còn đầy rẫy những tin xấu khác.
- Cuộc chiến tại Afghanistan ngày càng rối mù. TT Karzai, không còn tin tưởng vào đồng minh Mỹ nữa và bắt đầu đi đêm với Taliban, đề phòng một buổi sáng tươi đẹp nào đó, TT Obama tuyên bố “đại thắng mùa xuân” rồi rút quân Mỹ về “trong danh dự”, cho Karzai vài tháng ngoi ngóp trước khi chìm, mà tiếng Mỹ gọi là “decent interval”.
- Nguy cơ khủng bố Hồi giáo quá khích vẫn không suy giảm bất chấp những vuốt ve xin lỗi của TT Obama.
- Rồi tin mới nhất: tướng Jim Jones, Cố Vấn An Ninh của TT Obama cũng ca bài cáo biệt, thay thế bằng ông Tom Donilon, là một phụ tá thân cận lâu năm của Obama từ ngày còn tranh cử. Điều đáng nói là trong cuốn sách mới đây của nhà báo Bob Woodward (đã nói qua trên cột báo này tuần trước), Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates, khi bình luận về ông Donilon, đã phát biểu ông Donilon mà làm Cố Vấn An Ninh thì sẽ là đại họa (disaster). Xào xáo gia cang vẫn tiếp tục trong khi lãnh đạo … đi du lịch (đầu tháng 11 này, TT Obama sẽ công du thăm bốn nước Á Châu). Theo thông tấn xã Reuters, bộ trưởng Gates, đô đốc Mike Mullen, tổng tham mưu trưởng quân đội, và ngay cả phát ngôn viên Robert Gibbs cũng sẽ ra đi đầu năm tới, sau bầu cử. Con tàu tiếp tục chìm, thủy thủ tiếp tục nhẩy khỏi tàu.
Nếu cuộc bầu cử tới là một cuộc trưng cầu dân ý về thành tích của TT Obama, thì không cần coi thăm dò dư luận cũng biết là đa số dân Mỹ sẽ bầu cho đảng nào.
Vấn đề Việt Nam
Đối với cử tri Việt, ngoài những vấn đề về việc làm, y tế, an sinh, giáo dục, xiết nhà, v.v…, mà chúng ta phải cân nhắc kỹ khi bỏ phiếu cho một dân cử địa phương, tương tự như những công dân Mỹ khác cũng phải làm, còn có vấn đề chính sách của Mỹ đối với các vấn đề liên quan đến Việt Nam.
Nói chung, các chính quyền Mỹ, Cộng Hòa hay Dân Chủ, cũng đều ưu tư về vấn đề nhân quyền, tự do dân chủ tại Việt Nam, và hầu hết các vị dân cử của cả hai đảng trong các khu vực đông người tỵ nạn định cư, đều chia sẻ những ưu tư đó, và cũng đã sốt sắng tranh đấu bên cạnh cộng đồng tỵ nạn. Công bằng mà nói, một hay hai vị dân cử Mỹ -hay Mỹ gốc Việt- đòi nhân quyền cho Việt Nam chẳng thể khiến VN biến thành một nước tự do dân chủ, cho nên chúng ta cũng cần cân nhắc một cách thực tế vai trò và ảnh hưởng cụ thể của họ trong chính sách đối ngoại của Mỹ cũng như trong chính sách đối nội của nhà cầm quyền Việt Nam.
Nhưng nhìn vào chính sách của Mỹ đối với các vấn đề tại Đông Nam Á, người ta không khỏi lo lắng cho những biến chuyển gần đây. Người ta có thể đặt câu hỏi những vụ Trung Quốc công khai lấn lướt Việt Nam, từ Hoàng Sa, Trường Sa, bắt dân đánh cá Việt Nam, rồi vụ bauxit, tất cả đã xẩy ra không phải dưới thời cao bồi Bush, mà dưới thời tổng thống “ôn hòa” Obama. Có phải chính sách ôn hòa đó đã gửi một thông điệp yếu đuối đến Bắc Bình, khiến họ đã mạnh dạn hơn không? Và đối phó với sự “mạnh dạn” đó thì chính quyền Obama sẽ làm gì? TT Obama có thể gửi hàng không mẫu hạm qua Việt Nam cho các quan chức lên xem chơi, nhưng không ai tin ông sẽ gửi thủy quân lục chiến qua bảo vệ Việt Nam chống “Thiên Triều” hết. (10-10-10)
Vũ Linh
Một cách thực tế, cuộc bầu này là một trưng cầu dân ý về TT Obama. Phe Dân Chủ hiểu rõ vấn đề nên đưa ra chiến lược tranh cử thật giản dị: nhắc lại những tội cũ của TT Bush với hàm ý bầu Cộng Hòa là bầu cho “căn nhà đổ nát” của Bush, trong khi đúng ra thì phải bầu cho những thành quả vĩ đại của TT Obama.
Trên cột báo này, cả hai vấn đề đã được viết khá nhiều, nhưng cũng cần nhắc lại, để có dịp nhìn rõ sự thật trong cái khói hỏa mù của truyền thông “phe ta”, và có một kết luận: bầu cho ai?
TỘI CỦA TT BUSH
Trên căn bản, phe Dân Chủ mang tình trạng kinh tế của Bush ra đe dọa cử tri. Bush bị tố cáo hai tội chính, dĩ nhiên không kể một vạn tội lớn nhỏ khác.
Tội thứ nhất mà TT Bush bị tố cáo là cắt thuế nhà giàu, mà lại tiêu xài vung vít, biến dư thừa ngân sách của TT Cinton thành thâm thủng hàng ngàn tỷ.
Trước hết phải nói dư thừa ngân sách của TT Clinton là nhờ vào sự kiện hai cơn sốt điện toán dot.com và cơn sốt gia cư đã tạo ra một bong bóng phồn vinh giả tạo, gia tăng thu hoạch thuế rất lớn cho cả nước. Trong khi đó, ngay từ năm 1994, tức là hai năm sau khi Clinton đắc cử, Cộng Hoà đã chiếm được đa số tại cả Thượng Viện lẫn Hạ Viện, không cho Clinton tung ra những chương trình tốn kém nào nữa. Ta còn nhớ tháng 11 năm 1995, quốc hội Cộng Hòa không chấp thuận ngân sách của TT Clinton, khiến guồng máy chính quyền bế tắc, ngưng hoạt động mất mấy ngày vì hết tiền. Hai yếu tố bội thu thuế và giới hạn chi tiêu Nhà Nước đã đưa đến tình trạng bội thu ngân sách mà phe Dân Chủ không ngừng khoe khoang, trong khi TT Clinton thật ra không có công trạng gì. Đảng Dân Chủ không phát minh ra internet như ông Phó Al Gore khoác lác, do đó cũng không tạo ra cơn sốt dot.com, và TT Clinton cũng không phải người chặn đứng các chi tiêu của Nhà Nước.
Cuối trào Clinton, ngay trước khi Bush nhậm chức thì bong bóng dot.com xì hơi, hàng ngàn công ty điện toán dot.com vỡ nợ, và nhà nước không còn thu được tiền thuế trên hàng ngàn tỷ lợi nhuận của mấy công ty này nữa. Nước Mỹ đi vào suy trầm kinh tế. Rồi vài tháng sau đó là vụ 9/11, với hậu quả là hàng ngàn tỷ phải chi vào công tác an ninh trong nước, và diệt khủng bố ngoài nước, tại Afghanistan và Iraq. Hai yếu tố thất thu thuế do suy trầm kinh tế, và chi phí chiến tranh chống khủng bố đã đưa đến thâm thủng ngân sách không tránh được, mà khó có thể nói là lỗi của Bush được. Bush không tạo ra suy trầm kinh tế năm 2000, và Bush cũng không chủ mưu vụ 9/11 (mặc dù không thiếu gì người đầu óc không bình thường vẫn tố Bush ngụy tạo vụ này).
Phe Dân Chủ luôn tố cáo Bush nâng đỡ nhà giàu, cắt thuế cho họ. Nhưng lại không nói cho rõ là TT Bush năm 2003 cắt thuế cho tất cả mọi giới, giàu cũng như nghèo. Trên thực tế, giới nhà nghèo dưới thời Bush đóng thuế ngày một ít trong khi giới nhà giàu đóng thuế ngày một nhiều hơn. Thống kê của sở thuế IRS cho tám năm của TT Bush cho thấy tỷ lệ thuế thu được từ khối 1% những người giàu nhất đã tăng từ 33% tổng số thu năm 2001, lên đến 40% năm 2008. TT Obama đòi tăng thuế của “nhà giàu” vì nhu cầu “công bằng” (fairness). Còn công bằng gì khi 1% những người giàu nhất đóng góp 40% tổng số thuế thu được của cả nước; trong khi 40% dân Mỹ không đóng một xu thuế nào, nhưng lại lãnh tới hai phần ba tiền trợ cấp an sinh xã hội của cả nước. Con bò vắt mãi cũng sẽ hết sữa thôi.
Tội thứ hai TT Bush bị tố là tạo ra khủng hoảng gia cư và tài chánh cuối năm 2008, đưa đến khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp cao hiện nay. Thực tế, cuộc khủng hoảng lớn nhất lịch sử Mỹ này đã manh nha từ hơn ba chục năm, và lớn mạnh trong các chính sách gia cư và tín dụng mỵ dân của các TT Dân Chủ Carter và Clinton, chứ không phải mới nẩy sinh ra trong mấy năm của Bush. Phe Dân Chủ tố giác Bush thả lỏng tín dụng gia cư để giúp tài phiệt Wall Street làm giàu, mà cố ém nhẹm chuyện đảng Dân Chủ đã nắm quyền kiểm soát quốc hội từ 2006, hai năm trước khi khủng hoảng bùng nổ, và đã ngăn cản không cho Bush ra luật kiểm soát tín dụng gia cư.
Đài CNN ngày 8 tháng 10 vừa qua đã mở cuộc thăm dò so sánh Bush và Obama. Kết quả Obama thắng Bush 47%-45%, cách biệt có 2% trong khi xác xuất sai trật là 4%. Tức là cả hai ngang ngửa nhau. Cách đây chưa tới hai năm, mức hậu thuẫn của Obama là gần 70% trong khi của Bush là 35%. TT Obama càng đổ thừa Bush bao nhiêu thì khoảng cách biệt lại càng ít đi.
Lạ lùng hơn nữa, theo thăm dò của báo phe ta Washington Post, một phần tư đảng viên đảng Dân Chủ (Dân Chủ!) cho rằng trở về với các chính sách của Bush là điều … tốt! (… but almost a quarter of Democrats say a GOP-led Congress would take the country in a new and better direction or say a return to Bush’s policies would be good.)
Đổ thừa mãi thì cũng hết người tin. Dân Mỹ hình như có trình độ hiểu biết cao hơn TT Obama nghĩ, mặc dù gần đây TT Obama đã công khai than phiền dân Mỹ hơi kém thông minh khi không nhìn thấy những thành quả cùa ông.
THÀNH QUẢ CỦA TT OBAMA
TT Obama khoe bốn “thành tích vĩ đại” của ông. Chấm dứt cuộc chiến tại Iraq, ra các luật “làm nên lịch sử” kích cầu kinh tế, cải tổ y tế, và cải tổ tài chánh.
Tháng 7 vừa qua đánh dấu ngày quân lực Mỹ chấm dứt tham chiến tại Iraq. Phó TT Biden lớn tiếng khoe là sách lược của TT Obama đã thành công, giúp cho ông giữ đúng lời hứa chấm dứt việc lính Mỹ tham chiến tại đây. Không ít đệ tử của Obama đã tung hô ông ngay. Điều ông Biden –và cả Obama- không nói ra và các đệ tử ngây ngô không biết, là quân tác chiến Mỹ rút ra khỏi Iraq là tuân theo hiệp ước đã được TT Bush (không phải Obama) ký kết với Thủ Tướng Al Maliki năm 2008. Trên căn bản, tình hình Iraq vẫn nghiêm trọng. Nhưng hiển nhiên là đã có thành quả và đó là thành quả của chiến lược đôn quân của TT Bush năm 2007, không liên quan gì đến Obama lúc đó còn đang lo tranh cử và lớn tiếng chỉ trích việc đôn quân đó. Cả ông Biden lúc đó cũng lớn tiếng chỉ trích chiến thuật đôn quân, mà ông cho là mang thêm lính Mỹ vào chỗ chết. Nếu TT Bush lúc đó áp dụng chiến lược không đôn quân mà Obama và Biden kêu gọi thì chắc chắn quân Mỹ đã không rút lui êm thắm năm 2010, mà đã tháo chạy có lẽ từ ngày “30 Tháng 4” năm 2009 bằng trực thăng bay từ nóc tòa đại sứ Mỹ rồi.
Thành quả thứ hai, luật kích cầu kinh tế đã hoàn toàn thất bại, chẳng giảm được nạn thất nghiệp, mà chỉ giúp nước Mỹ ôm một khối nợ khổng lồ. Kinh tế vẫn chưa ra khỏi lủng củng gần hai năm sau khi TT Obama nhậm chức. Nguyên ê-kíp kinh tế đã tháo chạy trở về dạy học. Họ đều là “siêu giáo sư” của Harvard, Stanford, …, tuyệt hảo về lý thuyết trừu tượng nhưng không biết giá một ổ bánh mì là bao nhiêu ngoài chợ.
Tháng Chín vừa qua, đã có thêm 95.000 người mất việc (đúng ra là 159.000 người mất việc, 64.000 kiếm được việc, kết số thuần là mất 95.000). Gần hai năm sau 800 tỷ kích cầu kinh tế, thiên hạ vẫn tiếp tục mất việc. Theo các chuyên gia, muốn trở về tỷ lệ thất nghiệp 5% của thời “đổ nát” Bush, thì mỗi tháng phải có thêm 300.000 việc làm (thay vì mất 95.000), liên tục trong 60 tháng từ nay cho đến tháng 9 năm 2015. Đấng Tiên Tri cho dù có đi trên mặt nước được, cũng không thể nặn ra từng đó việc làm.
Thành quả thứ ba, luật cải tổ y tế biểu quyết bằng cửa sau, dù chưa áp dụng, đã bị gần 60% dân Mỹ chống. Một thăm dò mới nhất của cơ quan Penn-Schoen (cả hai ông đều là cựu phụ tá cao cấp của TT Dân Chủ Clinton) cho thấy ngay cả 23% đảng viên Dân Chủ cũng muốn thu hồi luật này. Trong số gần 300 dân biểu và thượng nghị sĩ Dân Chủ đang tranh cử trở lại, không có một người nào dám khoe là mình đã bỏ phiếu thông qua luật cải tổ y tế.
Tình trạng thất nghiệp cao có liên quan trực tiếp đến cải tổ y tế. Mặc dù tăng trưởng kinh tế đã hết tuột dốc từ tháng 6 năm 2009, nhưng phần lớn các công ty đã không thuê thêm nhân viên vì còn cân nhắc tác hại của luật cải tổ y tế. Công ty McDonald đe dọa cắt bảo hiểm y tế của 39.000 nhân viên bán thời vì nếu áp dụng luật mới, chi phí bảo hiểm cho các nhân viên này sẽ quá đắt, khiến chính quyền Obama phải vội vã đặc miễn không áp dụng luật cải tổ y tế cho McDonald trong ít nhất là một năm nữa. Hàng loạt công ty và nghiệp đoàn khác đã mau mắn bắt chước theo McDonald, đòi được hưởng đặc miễn này. Và TT Obama đã phải đồng ý đặc miễn cho nghiệp đoàn giáo chức (United Federation of Teachers), và khoảng ba chục công ty (tính cho đến ngày bài này được viết, sẽ còn nhiều công ty đòi hưởng đặc miễn trong những ngày tới).
Luật mới chưa áp dụng đã phải “đặc miễn” không áp dụng cho các đại công ty và nghiệp đoàn. Thế thì áp dụng cho ai? Tiểu thương và những người dân bình thường thôi sao? Những người nào vẫn còn tin TT Obama tranh đấu cho tiểu thương, cho dân nghèo thấp cổ bé họng, chống các thế lực tài phiệt và nghiệp đoàn nên suy gẫm về chuyện đặc miễn này. Cũng nên coi lại sao luật mới lại khiến chi phí bảo hiểm y tế sẽ quá đắt như McDonald và các nghiệp đoàn than phiền đến độ phải chấp nhận đặc miễn? Sao không giống lời hứa hẹn giảm chi phí y tế của TT Obama vậy?
Thành quả thứ tư là luật cải tổ tài chánh. Thiên hạ chưa ai thấy gì cụ thể. Chỉ thấy các ngân hàng vẫn than vắn thở dài, để có lý do không cho ai mượn tiền trong khi vẫn công bố lời cả trăm tỷ.
Trong bốn “thành quả vĩ đại” của TT Obama thì cái đầu là thành quả nhận vơ, còn ba cái sau là hão huyền.
Ngoài những thành quả giả tưởng này ra, thì cũng còn đầy rẫy những tin xấu khác.
- Cuộc chiến tại Afghanistan ngày càng rối mù. TT Karzai, không còn tin tưởng vào đồng minh Mỹ nữa và bắt đầu đi đêm với Taliban, đề phòng một buổi sáng tươi đẹp nào đó, TT Obama tuyên bố “đại thắng mùa xuân” rồi rút quân Mỹ về “trong danh dự”, cho Karzai vài tháng ngoi ngóp trước khi chìm, mà tiếng Mỹ gọi là “decent interval”.
- Nguy cơ khủng bố Hồi giáo quá khích vẫn không suy giảm bất chấp những vuốt ve xin lỗi của TT Obama.
- Rồi tin mới nhất: tướng Jim Jones, Cố Vấn An Ninh của TT Obama cũng ca bài cáo biệt, thay thế bằng ông Tom Donilon, là một phụ tá thân cận lâu năm của Obama từ ngày còn tranh cử. Điều đáng nói là trong cuốn sách mới đây của nhà báo Bob Woodward (đã nói qua trên cột báo này tuần trước), Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates, khi bình luận về ông Donilon, đã phát biểu ông Donilon mà làm Cố Vấn An Ninh thì sẽ là đại họa (disaster). Xào xáo gia cang vẫn tiếp tục trong khi lãnh đạo … đi du lịch (đầu tháng 11 này, TT Obama sẽ công du thăm bốn nước Á Châu). Theo thông tấn xã Reuters, bộ trưởng Gates, đô đốc Mike Mullen, tổng tham mưu trưởng quân đội, và ngay cả phát ngôn viên Robert Gibbs cũng sẽ ra đi đầu năm tới, sau bầu cử. Con tàu tiếp tục chìm, thủy thủ tiếp tục nhẩy khỏi tàu.
Nếu cuộc bầu cử tới là một cuộc trưng cầu dân ý về thành tích của TT Obama, thì không cần coi thăm dò dư luận cũng biết là đa số dân Mỹ sẽ bầu cho đảng nào.
Vấn đề Việt Nam
Đối với cử tri Việt, ngoài những vấn đề về việc làm, y tế, an sinh, giáo dục, xiết nhà, v.v…, mà chúng ta phải cân nhắc kỹ khi bỏ phiếu cho một dân cử địa phương, tương tự như những công dân Mỹ khác cũng phải làm, còn có vấn đề chính sách của Mỹ đối với các vấn đề liên quan đến Việt Nam.
Nói chung, các chính quyền Mỹ, Cộng Hòa hay Dân Chủ, cũng đều ưu tư về vấn đề nhân quyền, tự do dân chủ tại Việt Nam, và hầu hết các vị dân cử của cả hai đảng trong các khu vực đông người tỵ nạn định cư, đều chia sẻ những ưu tư đó, và cũng đã sốt sắng tranh đấu bên cạnh cộng đồng tỵ nạn. Công bằng mà nói, một hay hai vị dân cử Mỹ -hay Mỹ gốc Việt- đòi nhân quyền cho Việt Nam chẳng thể khiến VN biến thành một nước tự do dân chủ, cho nên chúng ta cũng cần cân nhắc một cách thực tế vai trò và ảnh hưởng cụ thể của họ trong chính sách đối ngoại của Mỹ cũng như trong chính sách đối nội của nhà cầm quyền Việt Nam.
Nhưng nhìn vào chính sách của Mỹ đối với các vấn đề tại Đông Nam Á, người ta không khỏi lo lắng cho những biến chuyển gần đây. Người ta có thể đặt câu hỏi những vụ Trung Quốc công khai lấn lướt Việt Nam, từ Hoàng Sa, Trường Sa, bắt dân đánh cá Việt Nam, rồi vụ bauxit, tất cả đã xẩy ra không phải dưới thời cao bồi Bush, mà dưới thời tổng thống “ôn hòa” Obama. Có phải chính sách ôn hòa đó đã gửi một thông điệp yếu đuối đến Bắc Bình, khiến họ đã mạnh dạn hơn không? Và đối phó với sự “mạnh dạn” đó thì chính quyền Obama sẽ làm gì? TT Obama có thể gửi hàng không mẫu hạm qua Việt Nam cho các quan chức lên xem chơi, nhưng không ai tin ông sẽ gửi thủy quân lục chiến qua bảo vệ Việt Nam chống “Thiên Triều” hết. (10-10-10)
Vũ Linh
Mặt Thật (cũng là Mặt Trái) của Ban Việt ngữ BBC hiện tại
Ban Việt ngữ đài BBC và Việt Nam
Nguyễn Tường Tâm Kỳ 1
Trong thời gian gần 10 năm trở lại đây, người Việt hải ngoại nhận xét với nhiều bất mãn cho rằng các nhân viên ban tiếng Việt của đài BBC là Việt Cộng, ý nói họ là nhân viên của nhà cầm quyền Việt nam, chuyên loan tin một chiều. Nhưng đó chỉ là những đồn đãi và bất mãn mà chưa ai nêu lên một bằng chứng nào. Nhưng qua dip tiếp xúc trực tiếp, một thành viên trong ban Việt Ngữ đài BBC đã vô tình hé lộ cho người viết rằng gần như họ làm việc khá chặt chẽ với sự chỉ đạo của nhà cầm quyền Cộng sản Việt nam.
Tác giả và Ban Việt Ngữ đài BBC 2001. Tác giả đứng thứ 3 từ bên phải - người đối đáp
với tác giả đứng thứ 3 từ bên trái. HÌNH DO TÁC GIẢ CUNG CẤP
Nghe giọng nói của các xướng ngôn viên trong ban tiếng Việt BBC trong gần 10 năm trở lại, người Việt hải ngoại nhận ra ngay đó là giọng nói của những người miền Bắc hay từ miền Bắc vào Nam sau 1975 hay con cháu của những người này dù được sinh đẻ trong Nam. Kể từ ngày 30/4/1975, cùng với hàng triệu người miền Bắc tràn vào Nam là giọng nói đặc biệt của họ, giọng của người Hà Nội hiện nay mà họ tự hào là một giọng nói chuẩn. Cộng đồng người Việt hải ngoại thì không cho rằng đó là giọng nói chuẩn của người Hà Nội trước 1954.
Nhưng với chương trình phát thanh Việt Ngữ của một đài hải ngoại như đài VOA mà người viết có thời gian làm việc thì nhận định của người Việt hải ngoại về giọng nói của người miền Bắc hiện nay không thành vấn đề. Điều quan trọng là các chương trình đó đang nhắm tới các thính gỉa trong nước và họ thấy rằng người Việt hải ngoại xa nước lâu ngày rồi, giọng nói không còn dễ nghe đối với người trong nước nữa, vì thế về lâu về dài họ muốn tuyển các xướng ngôn viên và biên tập viên từ trong nước để dễ tiếp cận thính giả trong nước hơn. Tuy nhiên hiện nay đại đa số nhân viên kỳ cựu của ban Việt ngữ đài VOA vẫn là người Việt hải ngoại thế hệ thứ nhất và cộng đồng người Việt hải ngoại thế hệ thứ nhất tại Hoa Kỳ, thông thạo cả tiếng Anh và tiếng Việt vẫn còn thừa khả năng cung ứng nhân lực cho nên ban Việt ngữ đài VOA chưa tuyển nhiều nhân viên từ trong nước.
Có lẽ đài BBC cũng có mục tiêu tuyển dụng nhân viên ban Việt ngữ từ trong nước như đài VOA. Đồng thời tại Anh quốc, đa số thuyền nhân thế hệ thứ nhất đều gốc miền Bắc, trình độ văn hóa thấp, lại không chịu và không có khả năng theo học đại học Anh quốc nên không cung cấp được đủ nhân lực thông thạo cả hai ngôn ngữ cho ban Việt ngữ đài BBC. Hai lý do vừa nêu khiến BBC phải tìm mướn những người trẻ tốt nghiệp đại học trong nước. Trong 10 năm qua, những giọng nói quen thuộc với thính giả từ trước 1975 của các xướng ngôn viên người miền Nam đã biến mất, chỉ còn các xướng ngôn viên gốc miền Bắc với giọng nói của đặc thù của họ.
Việc tuyển dụng người từ trong nước chính là đầu mối để nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam thực hiện 2 mục tiêu: 1-Lợi ích cá nhân: Chỉ cho phép các con cái những cấp lớn được thu dụng vào BBC. 2-Lợi ích tình báo: Thực hiện chiến thuật cổ điển về tình báo của miền bắc là “Nằm sâu, leo cao” để thu thập tin tức của nước ngoài và dần dần tiến tới khuynh đảo cơ quan truyền thông nước ngoài, biến cơ quan truyền thông nước ngoài thành cái loa tại hải ngoại của truyền thông “lề phải” ở trong nước. Chiến thuật tình báo “nằm sâu, leo cao” đã được chính quyền miền Bắc áp dụng thành công trong rất nhiều trường hợp trong chiến tranh Việt nam, ví dụ họ đã cài được cả nhân viên tình báo làm cố vấn tổng thống miền Nam (điệp viên Huỳnh Văn Trọng) và cài được một nhà báo có uy tín trong giới báo chí quốc tế (điệp viên Phạm Xuân Ẩn.)
Việc đòi hỏi văn bản qui định trọng trách đảng giao cho các nhân viên ban Việt ngữ đài BBC gốc miền Bắc sẽ không bao giờ có. Nhưng tất cả những ai từng làm việc trong đảng hay chính quyền cộng sản đều biết một qui luật bất thành văn là đảng cộng sản có thói quen và khả năng lãnh đạo hữu hiệu không cần văn bản. Ví dụ mới nhất của lối cai trị không cần văn bản là vụ cấp trên (không biết là ai) chỉ thị miệng cho nhà thơ Phạm Sĩ Sáu, trưởng ban Giám Khảo phải hủy bỏ giải nhất mà Liên Chi Hội Nhà Văn Đồng Bằng Sông Cửu Long đã trao cho bài thơ “Trăng Nghẹn” của Hoài Tường Phong (1)
Chính quyền Việt nam hiện nay có cơ quan chuyên quản lý những người làm việc cho cơ quan nước ngoài. Về mặt hành chánh không chính phủ ngoại quốc nào có thể chê trách việc nhà nước Việt Nam tổ chức một cơ quan như thế. Nhưng các cơ quan nước ngoài, với truyền thống tự do và trong sáng (transparency), họ không biết rằng nhiệm vụ chính thức của cơ quan này thực là đáng lên án. Với quyền điều tra lý lịch những người trong nước trước khi được cơ quan nước ngoài thuê mướn, trên danh nghĩa là để bảo vệ cơ quan nước ngoài, cơ quan an ninh & tình báo của nhà nước đã có quyền tuyệt đối trong việc quyết định ai được BBC tuyển dụng. Thật dễ dàng nhận ra rằng cơ quan an ninh Việt nam sẽ lợi dụng quyền tuyển dụng tối thượng này để gài đặt, ép buộc những người này phải làm thêm nhiệm vụ tình báo, thu thập các tin tức liên quan tới cơ quan nước ngoài để báo cáo về cơ quan an ninh trong nước.
Ở những văn phòng tại Việt Nam của nước ngoài hay cơ quan quốc tế, ngay cả những nhân viên thường như nhân viên hành chánh, hay lao công cũng bị ép buộc nhận thêm nhiệm vụ báo cáo định kỳ những tin tức của cơ quan họ làm việc. Đối với những cơ quan quan trọng về chính trị, truyền thông như Phòng thông tin Hoa Kỳ ở Hà Nội hay BBC, thì việc cơ quan an ninh Việt Nam cài người và ép buộc người được thu nhận phải làm thêm việc thu thập tin tức cho cơ quan an ninh là điều đương nhiên.
Bằng chứng của việc nhà cầm quyền Việt nam đã thành công trong việc gài các con ông cháu cha của họ vào ban Việt ngữ đài BBC thật dễ thấy khi thính gỉa còn nhớ cách nay khoảng hơn một năm, trong cuộc phỏng vấn một bộ trưởng trong nước, thay vì trả lời lịch sự với một phóng viên của cơ quan truyền thông có uy tín quốc tế như BBC, ông bộ trưởng nọ lại ăn nói với người phóng viên đó như với chính con em của ông ta. Ông ta dõng dạc lên tiếng dậy dỗ người phóng viên BBC phỏng vấn ông là, “Này, cần phải học hỏi thêm về văn hóa Việt nam đi nhá!” Tôi không nhớ chính xác câu “dậy dỗ” của ông ta, nhưng đại khái là như vừa trích dẫn. Rõ ràng vì anh phóng viên nọ là người của chính quyền cài vào cho nên vị lãnh đạo trong chính quyền mới coi thường và dám có giọng kẻ cả như vậy.
Việc muốn được Phòng thông tin Hoa Kỳ tại Hà Nội hay BBC thu dụng, thì người trong nước phải bị điều tra lý lịch và thi hành nhiệm vụ gián điệp do cơ quan an ninh trao phó đã được một thanh niên làm việc cho Phòng thông tin Hoa Kỳ tại Hà Nội và một thành viên trong ban Việt ngữ đài BBC xác nhận với tôi.
Năm 2000, khi tôi còn làm việc tại đài VOA ở Washington D.C., chợt thấy một thanh niên trẻ tới thăm đài tôi hỏi anh ta ở đâu tới thì anh ta cho biết làm việc tại Phòng thông tin Hoa Kỳ tại Hà Nội cho nên được cho sang Hoa Kỳ tham quan. Tò mò tôi hỏi trước khi vào làm cho Phòng thông tin Hoa Kỳ anh ta có bị điều tra lý lịch không thì anh ta nói là không. Tôi không tin nên nói với anh ta rằng trước 1975, ở miền Nam, rất là tự do, nhưng cho dù chỉ xin vào làm quét dọn cho các căn cứ Mỹ cũng phải qua cơ quan cảnh sát điều tra lý lịch, huống chi là ngày nay với đảng cộng sản mà anh lại được Phòng thông tin Hoa Kỳ tuyển dụng thì làm sao không khỏi bị cơ quan an ninh điều tra lý lịch. Anh ta cười thật thà cho biết, “Với em thì mấy bác ấy không phải điều tra nữa vì trước kia em làm ở cơ quan khác các bác ấy đã điều tra lý lịch của em rồi.” Tôi không hỏi trước kia anh ta làm cơ quan gì. Nhưng tôi hỏi tiếp, “Thế vào làm ở Phòng thông tin Hoa Kỳ tại Hà Nội anh có phải báo cáo thường xuyên cho cơ quan an ninh không?” Lần này thì anh ta không cố dấu nữa mà thú thật ngay, “Khi nào có gì thì mới báo cáo.” Như thế là đã quá rõ, và tôi không hỏi tiếp nữa.
Vài tháng sau, năm 2001, khi đi du lịch London, tôi ghé thăm ban Việt Ngữ đài BBC. Anh trưởng ban và các anh chị em trong ban tiếp tôi với thái độ niềm nở. Lúc bấy giờ trưởng ban là con em miền Nam và là một tiến sĩ ở Úc. Anh này rất trẻ, có lẽ mới ngoài 30, công dân Úc nhưng là thường trú nhân Hoa Kỳ. Anh cho biết sau khi hết khế nước với BBC anh sẽ tới sinh sống tại Nam California. Tất cả 8 nhân viên còn lại gồm có 5 nam và 3 nữ, đều rất trẻ. Tôi không thấy một nhân viên phát thanh nào người miền Nam trước kia mà tên tuổi đã được độc giả biết tới. Người miền Nam duy nhất tôi gặp là chị Lê Phan, con bác sĩ Phan Huy Quát. Nhưng lúc đó tôi thấy chị không làm phần hành phát thanh mà lại đang lo về mặt kỹ thuật, tức là cắt và lắp ráp các cuốn băng thu trước để chuẩn bị cho phát thanh.
Một thanh niên trẻ đang làm việc bên computer cho tôi biết anh đang theo học đại học tại London. Tôi không biết ai là sinh viên du học được BBC thu nhận ai là người được BBC thuê từ trong nước.
Trong câu chuyện, chị nhiều tuổi nhất có vẻ lanh lợi tiếp chuyện nhiều với tôi. Nhân đó tôi hỏi chị một câu như trước kia tôi đã hỏi anh thanh niên làm việc cho Phòng thông tin Hoa Kỳ tại Hà Nội, “Khi vào làm cho BBC anh chị có phải thường xuyên báo cáo cho công an không?” Tôi hỏi rất nhỏ nhẹ vì tò mò. Nhưng khi nghe câu hỏi, dường như chị bị sốc, bèn lên giọng “tấn công” tôi: “Báo cáo thì cũng như các anh phải báo cáo với CIA vậy.” Các anh chị khác nghe vậy không nói gì. Với tôi, câu nói của chị cũng là quá đủ để xác nhận “Quí anh chị làm cho ban Việt ngữ đài BBC đều phải thường xuyên báo cáo cho công an.” Tôi không giải thích sự hiểu lầm của chị về CIA mà chuyển sang đề tài khác vui vẻ hơn. Các anh chị trong ban Việt ngữ đài BBC không biết rằng, tại Hoa Kỳ, một xứ sở tự do, không một cơ quan an ninh nào (CIA hay FBI) có thể cưỡng ép một người nào làm việc cho họ. Thêm nữa tất cả các anh chị trong ban Việt Ngữ đài VOA trưởng thành trong nền giáo dục tự do của miền Nam, tương tự của mọi quốc gia tiền tiến phương tây, nên hiểu rõ đạo đức nghề nghiệp của người làm truyền thông cũng như hiểu rõ quyền tự do cá nhân trong một xã hội dân chủ Hoa Kỳ nên họ không bị đảng phái hay chính quyền nào ép buộc phải báo cáo mà chỉ chú tâm làm tròn nhiệm vụ truyền thông trung thực khách quan theo hướng dẫn của đài mà thôi.
Với quyền sưu tra an ninh, đảng cộng sản Việt nam đã thủ đắc một quyền tối thượng trong việc quyết định sự tuyển dụng người của BBC để khuynh đảo ban Việt ngữ đài này. Điều này thật dễ hiểu bởi vì lâu nay bằng biên pháp tương tự nhà cầm quyền Hà Nội đã khuynh đảo hàng giáo phẩm lãnh đạo giáo hội Thiên chúa tại Việt nam. Bài “Vatican, Việt Nam hy sinh một con người của chúa” của the Hanoist đăng trên trang mạng Asia Times Online ngày mùng 7-5-2010 viết, “Hà Nội chỉ cho phép một giáo hội Thiên chúa dưới sự kiểm soát của toà Thánh Vatican trên danh nghĩa. Trên thực tế nhà cầm quyền hạn chế việc phong chức các linh mục và chấp thuận tất cả mọi bổ nhiệm các tu sĩ. Điều này đưa tới việc hình thành một hàng giáo phẩm lãnh đạo giáo hội Thiên Chúa dễ bị khuynh loát tại Việt nam” (Hanoi allowed a Catholic church to exist under nominal Vatican control. In practice, Vietnamese authorities restricted the ordainment of clergy and cleared all appointments. This led to a generally pliant Catholic church leadership in Vietnam.-Nguồn: Vatican, Vietnam sacrifice a holy man Asia Times Online, by the Hanoist, 7 May 2010)
Một khi đã là công cụ của nhà cầm quyền Việt nam thì việc loan tin một chiều có lợi cho cộng sản Việt nam là điều đương nhiên.
Kỳ 2
Xét trên toàn bộ, các tin tức và bình luận của ban Việt ngữ đài BBC đã có tính cách một chiều khi giảm nhẹ những điểm yếu của xã hội Việt nam về mọi mặt nhất là về sự tôn trọng nhân quyền nói chung, trong đó có sự đàn áp các người bất đồng chính kiến, đàn áp các phong trào công nhân và nông dân khiếu kiện, đàn áp các tín đồ đòi tự do tôn giáo, đàn áp các người đòi tự do dân chủ v.v… Trái lại qua các bài vở của ban Việt ngữ đài BBC, thính giả thấy xã hội, chính trị Việt nam sáng sủa hơn thực tế. Nhưng để giúp giới lãnh đạo cao cấp nhất của BBC nhận ra được tính cách một chiều, không trung thực này thì thực là khó. Phải là người Việt nam chính gốc thì mới nhận ra được cái bầu không khí ngụy tạo của bản tin. Cho nên cổ nhân mới có câu “Ý tại ngôn ngoại”. Và người phương tây cũng có câu “Đọc giữa hai hàng chữ” (Read betwe.en the lines)
Nhưng thỉnh thoảng, nhân viên ban Việt ngữ đài BBC cũng để lộ rõ khuyết điểm loan tin không trung thực, một chiều. Tình trạng loan tin một chiều đó đã đủ nhiều để trong một chương trình phát thanh của người Việt hải ngoại “Little SRadio” do chị Mai Hân phụ trách đã phải mở cuộc phỏng vấn trưởng ban Việt Ngữ Nguyễn Giang về vấn đề này khi anh viếng thăm tiểu bang California cách nay vài năm. Trước câu hỏi này của chị Mai Hân, thay vì trả lời, anh Nguyễn Giang đã cao giọng, hỏi lại một cách thách thức những bằng chứng của việc loan tin một chiều đó. Vì người hỏi chỉ phản ảnh suy nghĩ của thính giả cho nên không có chuẩn bị các bằng chứng để trả lời Nguyễn Giang. Cuộc phỏng vấn cũng không sắp xếp cho thính giả gọi vào cho nên bằng chứng về việc ban Việt ngữ đài BBC loan tin một chiều lần đó không đưa đến một kết luận nào.
Nhưng lần này, bằng chứng rõ ràng nhất của việc loan tin một chiều là bài viết của ban Việt ngữ đài BBC về ngày 30/4/2010, có tựa đề “Nhớ về một ngày 30/4”, (cập nhật: 08:44 GMT – thứ Sáu, 30 tháng 4, 2010.) Bài viết mở đầu với một tấm hình mô tả “rất là hoành tráng” cuộc diễu hành ăn mừng ngày “Giải Phóng Miền Nam” do chính quyền Saigon tổ chức.
Dưới tấm hình là cuộc phỏng vấn những người thuộc phe chiến thắng mà không một ghi nhận nào về tâm tư, suy nghĩ về ngày này của phe miền nam chiến bại. Ban Việt ngữ đài BBC cũng không có một ghi nhận nào về hành động, phát biểu của người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại liên quan tới ngày này.
Bài báo khiến những người thuộc phe miền Bắc chiến thắng hồ hỡi khi đọc những phát biểu về chiến cuộc và tình hình chính trị tại miền nam trước 1975 của mấy nhân vật nằm vùng là các ông Triệu Quốc Mạnh, luật sư, đảng viên cộng sản, từng giữ chức chỉ huy trưởng cảnh sát Sài Gòn-Gia Định trong chính phủ Dương Văn Minh, ông Nguyễn Thành Tài, cựu sinh viên nằm vùng, Phó Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thanh Tùng, cựu biệt động Sài Gòn, anh hùng lực lượng vũ trang.
Để cho có vẻ cân bằng, bài báo có phỏng vấn ông Hoàng Văn Cường, một phóng viên nhiếp ảnh từng làm việc cho hãng thông tấn UPI của Hoa Kỳ. Nhưng để tránh hình ảnh chế độ mới đối xử tàn nhẫn với các cựu nhân viên nước ngoài tại miền Nam trước 1975, bài báo viết với những thông tin ngụy tạo rằng:
“Sáng 30/4, từ rất sớm tôi có mặt ở quốc lộ 1. Đến ngay ngã ba Vũng Tàu – Biên Hòa, tôi gặp một đoàn xe tăng T54 của Nga và linh cảm bảo tôi đó là đoàn tăng của Việt Cộng. Tôi vội vàng bỏ hết các quân trang mà tình cờ có trên người, chỉ đeo máy hình để đón chiếc xe tăng đầu tiên. Tôi trở thành người chỉ đường bất đắc dĩ vì họ không biết đường trong thành phố. Ngay cả quãng đường từ Ngã tư Hàng Xanh vào Dinh Tổng thống họ cũng không biết nên tôi đi theo xe tăng 390 để chỉ đường cho họ. Thực ra tôi đã từng gặp bộ đội Bắc Việt rồi nên không quá bỡ ngỡ. Năm 1972, tôi đã được đưa vào mật khu Hố Bò để tiếp xúc với bộ đội trong đó, xem họ sinh hoạt khó khăn vất vả như thế nào để chụp hình và viết bài.
Tháng Tư 1975, các phóng viên làm cho báo chí nước ngoài và người nước ngoài lần lượt đi nhiều, nhưng tôi quyết định ở lại vì nghĩ rằng mình là người Việt Nam.
Chiến tranh sắp chấm dứt, tôi phải có quyền ở lại, có quyền hưởng độc lập tự do.
Những năm đầu sau chiến tranh, tất nhiên tôi cũng gặp nhiều sự nghi ngờ, đố kỵ vì tôi làm cho hãng của Mỹ. Cải tạo thì chưa phải đi, nhưng mà cũng khổ lắm.”
Trong khi thực ra bài “Dưới bia hồi niệm” trên Tuổi trẻ online, một tờ báo của đảng xuất bản ở trong nước ngày Chủ Nhật mùng 1/5/2005, (http://tuoitre.vn/chinh-tri-Xa-hoi/7...-hoi-niem.html) tường thuật nguyên văn, “Trong ngày đó, văn phòng hãng tin UPI tại Saigòn chỉ còn lại hai nhà báo tác nghiệp và một trưởng văn phòng. Từ tinh mơ, Hoàng Văn Cường đã lái xe ra xa lộ Biên Hòa để tìm kiếm sự kiện trước giờ G. Đến ngã ba Vũng Tàu, anh bắt gặp xe tăng giải phóng ầm ầm tiến vào Sài Gòn… Sợ bị bắn lầm, chàng phóng viên ảnh này bỏ xe và ra đứng giữa đường với máy ảnh đầy ngực vẫy tay chặn đoàn xe tăng rồi quá giang trở lại Sài Gòn. Quân giải phóng ngỡ anh là một phóng viên nước ngoài nên đã cho anh tham gia (một cách bất ngờ) vào lịch sử, và đó là cách để có mặt tại dinh Độc Lập của phóng viên Hãng UPI duy nhất.” Như vậy ông Cường mang đồ nghề phóng viên nhiếp ảnh đi đón đoàn quân giải phóng Sai Gòn từ ngã ba Biên Hoà-Vũng Tầu để tác nghiệp và ông chặn chiếc tăng đi đầu để xin quá giang trở ngược lại Saigon là để thu thập hình ảnh làm phóng sự cuộc tiến quân chứ không phải ông tình cờ tới đó hay ông hân hoan đi đón giải phóng quân như giọng văn của đoạn mở đầu tạo ra.
Vì tác giả bài báo của BBC cố tình bóp méo sự kiện nên để lộ mâu thuẫn ở hai giòng trong cùng một đoạn văn: Giòng trên BBC viết “Đến ngay ngã ba Vũng Tàu – Biên Hòa, tôi gặp một đoàn xe tăng T54 của Nga và linh cảm bảo tôi đó là đoàn tăng của Việt Cộng.”
Dưới đó 4 giòng, BBC lại viết, “Thực ra tôi đã từng gặp bộ đội Bắc Việt rồi nên không quá bỡ ngỡ. Năm 1972, tôi đã được đưa vào mật khu Hố Bò để tiếp xúc với bộ đội trong đó…”
Tác giả bài báo của BBC cũng bịa ra một chi tiết quan trọng mà mấy bài báo khác viết về sự kiện ông lái xe tới Ngã ba Biên Hoà –Vũng Tầu ngày hôm đó không nói tới là “Ông vội vàng bỏ hết các quân trang mà tình cờ có trên người.”
Cũng theo bài “Dưới bia hồi niệm”, ông Cường ở lại để tiếp tục làm công việc của một phóng viên nhiếp ảnh của UPI chứ không phải như bài báo của BBC bịa đặt rằng ông Cường “quyết định ở lại vì nghĩ rằng mình là người Việt Nam.” Ông cũng không suy nghĩ “Chiến tranh sắp chấm dứt, tôi phải có quyền ở lại, có quyền hưởng độc lập tự do.” như bài viết của BBC. Bài “The Stories: Cuong” trên mạnghttp://www.pbs.org/vietnampassage/st....coung.01.html viết nguyên văn, “Cuối cùng khi hoà bình lập lại vào năm 1975, Cường nghĩ rằng đất nước cuối cùng sẽ hàn gắn đau thương (heal). Nhưng thay vì vậy, ông cùng 300,000 đồng bào miền nam của ông bị đau khổ và nhục nhã thêm bởi chế độ cộng sản mới thiết lập.” Những đau khổ và nhục nhã đó được mô tả chi tiết hơn trong bài “ONE JOURNALIST’S STORY của GRACE CUTLER, phóng viên đài VOA-TV, (http://ibb7.ibb.gov/thisweek/library...00/jounal.html). Theo bài này thì khi chiến tranh chấp dứt, chính quyền mới ở Việt nam coi ông ta như gián điệp. Chính bởi những tấm hình ông ấy chụp “gương mặt âu lo của một bà mẹ chạy nạn chiến tranh…một em bé đau khổ và sợ hại…các hình ảnh thù ghét chiến tranh… đã biến ông trở thành kẻ có tội (crime) khiến ông phải chịu 7 năm trong trại tù cải tạo. Ông nói rằng chính quyền mới canh chừng những kẻ như tôi vì họ không hiểu UPI là gì. Mà họ coi UPI, API, CIA đều như nhau. Họ gọi chung là những tên CIA.” Sau khi cộng sản chiếm miền Nam thì ông Cường, lúc đó là một phóng viên nhiếp ảnh trẻ có liên hệ mật thiết với kẻ thù cũ, phải chạy xuống đồng bằng sông Cửu Long ẩn trốn. Ông Cường thuật, “Trong năm năm tôi đi cầy ruộng, đi đánh cá, tôi mua một cái thuyền nhỏ và sống trên đó một mình…” Tới năm 1983 ông ta mới ra khỏi vùng ẩn trốn trở lại thành phố Saigon sống với gia đình. Chẳng bao lâu sau ông ta bị bắt và gửi đi tù cải tạo. Trong đó nhờ triết lý sống của ông (thiền) giúp ông sống sót. Như vậy kể từ sau ngày “giải phóng miền Nam” ông Cường bị đau khổ tổng cộng 12 năm chứ không phải như bài báo của ban Việt Ngữ đài BBC ngụy tạo là “Những năm đầu sau chiến tranh, …Cải tạo thì chưa phải đi, nhưng mà cũng khổ lắm.”
Tất cả những chi tiết vừa nêu cho thấy rõ bài báo “Nhớ về một ngày 30/4” của ban Việt ngữ đài BBC chỉ nhằm tô vẽ một chiều cho cho đảng cộng sản đương quyền tại Việt nam nhân ngày 30-4.
Trong khi đó, mỗi năm ngày 30-4 lại được hai cộng đồng người Việt Quốc Cộng đối lập nhau giải thích theo hai hướng khác nhau. Trong khi chính quyền tổ chức lễ hội ăn mừng ở trong nước thì ở hải ngoại cộng đồng người Việt lại tổ chức một ngày mà họ gọi là “để tang ngày đau thương cho đất nước”.
Vậy mà bài báo của ban Việt ngữ đài BBC tuyệt nhiên không đả động tới một người nào ở phía đối nghịch, là phe đang chiếm đa số tại miền nam và tuyệt đại đa số tại hải ngoại. Thành phần không “hồ hỡi” này thường gọi cái ngày lịch sử đó là ngày “30 tháng Tư Đen”. Thành phần đối nghịch với chính quyền hiện tại này rất đông đảo, nếu không muốn nói là chiếm đại đa số người dân miền Nam, không kể đến những người mới từ miền Bắc vào Nam sau 1975. Chính cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, một trong những người có công đầu trong việc đưa bộ đội miền Bắc vào miền Nam, cũng phải công nhận “ngày 30/4/1975 có nhiều triệu người vui thì cũng có nhiều triệu người buồn”. Không cần khó khăn để ước tính khá chính xác số lượng đông đảo người không hồ hỡi với ngày 30-4. Con số chính thức được Cao ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc công bố cho thấy ngay sau ngày 30-4-1975 lúc chiếc xe tăng đầu tiên của quân Bắc Việt húc đổ cổng sắt Dinh Độc Lập, biểu tượng của chính quyền miền Nam, đã có gần 200 ngàn người được Hoa Kỳ giúp di tản ra khỏi nước. Và liên tục trong 20 chục năm sau đó, mặc cho nguy cơ chết chóc vì bão tố và hải tặc, đã có 1 triệu 436 ngàn 556 người (1,436,556) vượt biển thành công.
Dư luận quốc tế cũng ước lượng có con số tương đương những người bỏ xác trên biển khơi. Ngoài ra chắc chắn nhà nước Việt nam nắm rất rõ bao nhiêu triệu người vượt biên bất thành bị bắt cầm tù. Với từng đó triệu con người cùng với thân nhân họ, không ai có thể bảo rằng họ hồ hỡi với ngày 30-4. Thế nhưng ban Việt ngữ đài BBC làm ngơ tâm tư của số người đông đảo “bị thất trận” này trước những lễ lạc “hoành tráng” do nhà cầm quyền tổ chức trên toàn quốc.
Dư luận bất mãn với bài “Nhớ về một ngày 30/4” của ban Việt ngữ đài BBC thì khá nhiều. Dưới đây là 2 trong nhiều email người viết nhận được từ những diễn đàn (email group) mà tác giả là những người không quen biết:
Email 1: “Hinh nhu dai BBC ngay cang xuong cap? Xem ho tuong thuat ve ngay 30/4 http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2010/04/100430_ 30april_faces. shtml”
Email 2: “Đây là một điều xấu xa và nhục nhã cho dân tộc VN trong thời buổi tìm đúng lối đi cho đất nước khi có một cơ quan thông tin quốc tế nhưng lại chỉ loan tin một chiều, phỏng vấn một chiều, công bố những chuyện có lợi cho độc tài Cộng sản.
Đáng lý ra, BBC phải làm gương cho báo chí trong nước thay vì chỉ truyền thông như chính mình là công cụ là cái loa của nhà nước.
Tôi đề nghị mọi người ký tên một kiến nghị lên ban quản lý BBC, khiếu kiện ban Việt ngữ BBC, đề nghị thay đổi Ban Trị sự.”
Những bực bội của thính giả quả thực có duyên cớ bởi vì ban Việt ngữ đài BBC trong gần 10 năm nay ngày càng loan tin thiếu chuyên nghiệp, không trung thực, sai đường lối cố hữu của đài BBC, và nhiều khi bịa đặt (như đoạn báo vừa viện dẫn). Uy tín quốc tế lâu nay của của ban Việt ngữ đài BBC đang dần dần bị sói mòn làm tổn thương uy tín của BBC, một cơ quan truyền thông quốc tế có uy tín lâu đời. Chỉ khi nào ban lãnh đạo cao cấp nhất của BBC biết được điều này và tìm cách chống đỡ các biện pháp xâm nhập và khuynh đảo của cơ quan an ninh tình báo của Việt nam thì uy tín của BBC mới hy vọng được phục hồi.
Các thính giả của BBC, đặc biệt các thính giả Anh quốc, là những người đóng thuế tài trợ cho BBC, có thể viết thư cảnh báo về tình trạng này gửi về ban lãnh đạo BBC tới văn phòng của hai vị hiện trực tiếp lãnh đạo đài là ông Sir Michael Lyons (Chairman) BBC Trust và ông Mark Thompson (General-Director) (Chairman of the Executive Board). *
(1) Đọc ‘Trăng nghẹn’, nhớ ‘Lời mẹ dặn’ Trùng Dương Thứ Ba, 09 tháng 3 2010 (VOA) http://www1.voanews.com/vietnamese/n...rang-nghen-nho -Loi-me-dan-03-09-10-87153522.html
Ban Việt ngữ đài BBC và Việt Nam
Nguyễn Tường Tâm Kỳ 1
Trong thời gian gần 10 năm trở lại đây, người Việt hải ngoại nhận xét với nhiều bất mãn cho rằng các nhân viên ban tiếng Việt của đài BBC là Việt Cộng, ý nói họ là nhân viên của nhà cầm quyền Việt nam, chuyên loan tin một chiều. Nhưng đó chỉ là những đồn đãi và bất mãn mà chưa ai nêu lên một bằng chứng nào. Nhưng qua dip tiếp xúc trực tiếp, một thành viên trong ban Việt Ngữ đài BBC đã vô tình hé lộ cho người viết rằng gần như họ làm việc khá chặt chẽ với sự chỉ đạo của nhà cầm quyền Cộng sản Việt nam.
Tác giả và Ban Việt Ngữ đài BBC 2001. Tác giả đứng thứ 3 từ bên phải - người đối đáp
với tác giả đứng thứ 3 từ bên trái. HÌNH DO TÁC GIẢ CUNG CẤP
Nghe giọng nói của các xướng ngôn viên trong ban tiếng Việt BBC trong gần 10 năm trở lại, người Việt hải ngoại nhận ra ngay đó là giọng nói của những người miền Bắc hay từ miền Bắc vào Nam sau 1975 hay con cháu của những người này dù được sinh đẻ trong Nam. Kể từ ngày 30/4/1975, cùng với hàng triệu người miền Bắc tràn vào Nam là giọng nói đặc biệt của họ, giọng của người Hà Nội hiện nay mà họ tự hào là một giọng nói chuẩn. Cộng đồng người Việt hải ngoại thì không cho rằng đó là giọng nói chuẩn của người Hà Nội trước 1954.
Nhưng với chương trình phát thanh Việt Ngữ của một đài hải ngoại như đài VOA mà người viết có thời gian làm việc thì nhận định của người Việt hải ngoại về giọng nói của người miền Bắc hiện nay không thành vấn đề. Điều quan trọng là các chương trình đó đang nhắm tới các thính gỉa trong nước và họ thấy rằng người Việt hải ngoại xa nước lâu ngày rồi, giọng nói không còn dễ nghe đối với người trong nước nữa, vì thế về lâu về dài họ muốn tuyển các xướng ngôn viên và biên tập viên từ trong nước để dễ tiếp cận thính giả trong nước hơn. Tuy nhiên hiện nay đại đa số nhân viên kỳ cựu của ban Việt ngữ đài VOA vẫn là người Việt hải ngoại thế hệ thứ nhất và cộng đồng người Việt hải ngoại thế hệ thứ nhất tại Hoa Kỳ, thông thạo cả tiếng Anh và tiếng Việt vẫn còn thừa khả năng cung ứng nhân lực cho nên ban Việt ngữ đài VOA chưa tuyển nhiều nhân viên từ trong nước.
Có lẽ đài BBC cũng có mục tiêu tuyển dụng nhân viên ban Việt ngữ từ trong nước như đài VOA. Đồng thời tại Anh quốc, đa số thuyền nhân thế hệ thứ nhất đều gốc miền Bắc, trình độ văn hóa thấp, lại không chịu và không có khả năng theo học đại học Anh quốc nên không cung cấp được đủ nhân lực thông thạo cả hai ngôn ngữ cho ban Việt ngữ đài BBC. Hai lý do vừa nêu khiến BBC phải tìm mướn những người trẻ tốt nghiệp đại học trong nước. Trong 10 năm qua, những giọng nói quen thuộc với thính giả từ trước 1975 của các xướng ngôn viên người miền Nam đã biến mất, chỉ còn các xướng ngôn viên gốc miền Bắc với giọng nói của đặc thù của họ.
Việc tuyển dụng người từ trong nước chính là đầu mối để nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam thực hiện 2 mục tiêu: 1-Lợi ích cá nhân: Chỉ cho phép các con cái những cấp lớn được thu dụng vào BBC. 2-Lợi ích tình báo: Thực hiện chiến thuật cổ điển về tình báo của miền bắc là “Nằm sâu, leo cao” để thu thập tin tức của nước ngoài và dần dần tiến tới khuynh đảo cơ quan truyền thông nước ngoài, biến cơ quan truyền thông nước ngoài thành cái loa tại hải ngoại của truyền thông “lề phải” ở trong nước. Chiến thuật tình báo “nằm sâu, leo cao” đã được chính quyền miền Bắc áp dụng thành công trong rất nhiều trường hợp trong chiến tranh Việt nam, ví dụ họ đã cài được cả nhân viên tình báo làm cố vấn tổng thống miền Nam (điệp viên Huỳnh Văn Trọng) và cài được một nhà báo có uy tín trong giới báo chí quốc tế (điệp viên Phạm Xuân Ẩn.)
Việc đòi hỏi văn bản qui định trọng trách đảng giao cho các nhân viên ban Việt ngữ đài BBC gốc miền Bắc sẽ không bao giờ có. Nhưng tất cả những ai từng làm việc trong đảng hay chính quyền cộng sản đều biết một qui luật bất thành văn là đảng cộng sản có thói quen và khả năng lãnh đạo hữu hiệu không cần văn bản. Ví dụ mới nhất của lối cai trị không cần văn bản là vụ cấp trên (không biết là ai) chỉ thị miệng cho nhà thơ Phạm Sĩ Sáu, trưởng ban Giám Khảo phải hủy bỏ giải nhất mà Liên Chi Hội Nhà Văn Đồng Bằng Sông Cửu Long đã trao cho bài thơ “Trăng Nghẹn” của Hoài Tường Phong (1)
Chính quyền Việt nam hiện nay có cơ quan chuyên quản lý những người làm việc cho cơ quan nước ngoài. Về mặt hành chánh không chính phủ ngoại quốc nào có thể chê trách việc nhà nước Việt Nam tổ chức một cơ quan như thế. Nhưng các cơ quan nước ngoài, với truyền thống tự do và trong sáng (transparency), họ không biết rằng nhiệm vụ chính thức của cơ quan này thực là đáng lên án. Với quyền điều tra lý lịch những người trong nước trước khi được cơ quan nước ngoài thuê mướn, trên danh nghĩa là để bảo vệ cơ quan nước ngoài, cơ quan an ninh & tình báo của nhà nước đã có quyền tuyệt đối trong việc quyết định ai được BBC tuyển dụng. Thật dễ dàng nhận ra rằng cơ quan an ninh Việt nam sẽ lợi dụng quyền tuyển dụng tối thượng này để gài đặt, ép buộc những người này phải làm thêm nhiệm vụ tình báo, thu thập các tin tức liên quan tới cơ quan nước ngoài để báo cáo về cơ quan an ninh trong nước.
Ở những văn phòng tại Việt Nam của nước ngoài hay cơ quan quốc tế, ngay cả những nhân viên thường như nhân viên hành chánh, hay lao công cũng bị ép buộc nhận thêm nhiệm vụ báo cáo định kỳ những tin tức của cơ quan họ làm việc. Đối với những cơ quan quan trọng về chính trị, truyền thông như Phòng thông tin Hoa Kỳ ở Hà Nội hay BBC, thì việc cơ quan an ninh Việt Nam cài người và ép buộc người được thu nhận phải làm thêm việc thu thập tin tức cho cơ quan an ninh là điều đương nhiên.
Bằng chứng của việc nhà cầm quyền Việt nam đã thành công trong việc gài các con ông cháu cha của họ vào ban Việt ngữ đài BBC thật dễ thấy khi thính gỉa còn nhớ cách nay khoảng hơn một năm, trong cuộc phỏng vấn một bộ trưởng trong nước, thay vì trả lời lịch sự với một phóng viên của cơ quan truyền thông có uy tín quốc tế như BBC, ông bộ trưởng nọ lại ăn nói với người phóng viên đó như với chính con em của ông ta. Ông ta dõng dạc lên tiếng dậy dỗ người phóng viên BBC phỏng vấn ông là, “Này, cần phải học hỏi thêm về văn hóa Việt nam đi nhá!” Tôi không nhớ chính xác câu “dậy dỗ” của ông ta, nhưng đại khái là như vừa trích dẫn. Rõ ràng vì anh phóng viên nọ là người của chính quyền cài vào cho nên vị lãnh đạo trong chính quyền mới coi thường và dám có giọng kẻ cả như vậy.
Việc muốn được Phòng thông tin Hoa Kỳ tại Hà Nội hay BBC thu dụng, thì người trong nước phải bị điều tra lý lịch và thi hành nhiệm vụ gián điệp do cơ quan an ninh trao phó đã được một thanh niên làm việc cho Phòng thông tin Hoa Kỳ tại Hà Nội và một thành viên trong ban Việt ngữ đài BBC xác nhận với tôi.
Năm 2000, khi tôi còn làm việc tại đài VOA ở Washington D.C., chợt thấy một thanh niên trẻ tới thăm đài tôi hỏi anh ta ở đâu tới thì anh ta cho biết làm việc tại Phòng thông tin Hoa Kỳ tại Hà Nội cho nên được cho sang Hoa Kỳ tham quan. Tò mò tôi hỏi trước khi vào làm cho Phòng thông tin Hoa Kỳ anh ta có bị điều tra lý lịch không thì anh ta nói là không. Tôi không tin nên nói với anh ta rằng trước 1975, ở miền Nam, rất là tự do, nhưng cho dù chỉ xin vào làm quét dọn cho các căn cứ Mỹ cũng phải qua cơ quan cảnh sát điều tra lý lịch, huống chi là ngày nay với đảng cộng sản mà anh lại được Phòng thông tin Hoa Kỳ tuyển dụng thì làm sao không khỏi bị cơ quan an ninh điều tra lý lịch. Anh ta cười thật thà cho biết, “Với em thì mấy bác ấy không phải điều tra nữa vì trước kia em làm ở cơ quan khác các bác ấy đã điều tra lý lịch của em rồi.” Tôi không hỏi trước kia anh ta làm cơ quan gì. Nhưng tôi hỏi tiếp, “Thế vào làm ở Phòng thông tin Hoa Kỳ tại Hà Nội anh có phải báo cáo thường xuyên cho cơ quan an ninh không?” Lần này thì anh ta không cố dấu nữa mà thú thật ngay, “Khi nào có gì thì mới báo cáo.” Như thế là đã quá rõ, và tôi không hỏi tiếp nữa.
Vài tháng sau, năm 2001, khi đi du lịch London, tôi ghé thăm ban Việt Ngữ đài BBC. Anh trưởng ban và các anh chị em trong ban tiếp tôi với thái độ niềm nở. Lúc bấy giờ trưởng ban là con em miền Nam và là một tiến sĩ ở Úc. Anh này rất trẻ, có lẽ mới ngoài 30, công dân Úc nhưng là thường trú nhân Hoa Kỳ. Anh cho biết sau khi hết khế nước với BBC anh sẽ tới sinh sống tại Nam California. Tất cả 8 nhân viên còn lại gồm có 5 nam và 3 nữ, đều rất trẻ. Tôi không thấy một nhân viên phát thanh nào người miền Nam trước kia mà tên tuổi đã được độc giả biết tới. Người miền Nam duy nhất tôi gặp là chị Lê Phan, con bác sĩ Phan Huy Quát. Nhưng lúc đó tôi thấy chị không làm phần hành phát thanh mà lại đang lo về mặt kỹ thuật, tức là cắt và lắp ráp các cuốn băng thu trước để chuẩn bị cho phát thanh.
Một thanh niên trẻ đang làm việc bên computer cho tôi biết anh đang theo học đại học tại London. Tôi không biết ai là sinh viên du học được BBC thu nhận ai là người được BBC thuê từ trong nước.
Trong câu chuyện, chị nhiều tuổi nhất có vẻ lanh lợi tiếp chuyện nhiều với tôi. Nhân đó tôi hỏi chị một câu như trước kia tôi đã hỏi anh thanh niên làm việc cho Phòng thông tin Hoa Kỳ tại Hà Nội, “Khi vào làm cho BBC anh chị có phải thường xuyên báo cáo cho công an không?” Tôi hỏi rất nhỏ nhẹ vì tò mò. Nhưng khi nghe câu hỏi, dường như chị bị sốc, bèn lên giọng “tấn công” tôi: “Báo cáo thì cũng như các anh phải báo cáo với CIA vậy.” Các anh chị khác nghe vậy không nói gì. Với tôi, câu nói của chị cũng là quá đủ để xác nhận “Quí anh chị làm cho ban Việt ngữ đài BBC đều phải thường xuyên báo cáo cho công an.” Tôi không giải thích sự hiểu lầm của chị về CIA mà chuyển sang đề tài khác vui vẻ hơn. Các anh chị trong ban Việt ngữ đài BBC không biết rằng, tại Hoa Kỳ, một xứ sở tự do, không một cơ quan an ninh nào (CIA hay FBI) có thể cưỡng ép một người nào làm việc cho họ. Thêm nữa tất cả các anh chị trong ban Việt Ngữ đài VOA trưởng thành trong nền giáo dục tự do của miền Nam, tương tự của mọi quốc gia tiền tiến phương tây, nên hiểu rõ đạo đức nghề nghiệp của người làm truyền thông cũng như hiểu rõ quyền tự do cá nhân trong một xã hội dân chủ Hoa Kỳ nên họ không bị đảng phái hay chính quyền nào ép buộc phải báo cáo mà chỉ chú tâm làm tròn nhiệm vụ truyền thông trung thực khách quan theo hướng dẫn của đài mà thôi.
Với quyền sưu tra an ninh, đảng cộng sản Việt nam đã thủ đắc một quyền tối thượng trong việc quyết định sự tuyển dụng người của BBC để khuynh đảo ban Việt ngữ đài này. Điều này thật dễ hiểu bởi vì lâu nay bằng biên pháp tương tự nhà cầm quyền Hà Nội đã khuynh đảo hàng giáo phẩm lãnh đạo giáo hội Thiên chúa tại Việt nam. Bài “Vatican, Việt Nam hy sinh một con người của chúa” của the Hanoist đăng trên trang mạng Asia Times Online ngày mùng 7-5-2010 viết, “Hà Nội chỉ cho phép một giáo hội Thiên chúa dưới sự kiểm soát của toà Thánh Vatican trên danh nghĩa. Trên thực tế nhà cầm quyền hạn chế việc phong chức các linh mục và chấp thuận tất cả mọi bổ nhiệm các tu sĩ. Điều này đưa tới việc hình thành một hàng giáo phẩm lãnh đạo giáo hội Thiên Chúa dễ bị khuynh loát tại Việt nam” (Hanoi allowed a Catholic church to exist under nominal Vatican control. In practice, Vietnamese authorities restricted the ordainment of clergy and cleared all appointments. This led to a generally pliant Catholic church leadership in Vietnam.-Nguồn: Vatican, Vietnam sacrifice a holy man Asia Times Online, by the Hanoist, 7 May 2010)
Một khi đã là công cụ của nhà cầm quyền Việt nam thì việc loan tin một chiều có lợi cho cộng sản Việt nam là điều đương nhiên.
Kỳ 2
Xét trên toàn bộ, các tin tức và bình luận của ban Việt ngữ đài BBC đã có tính cách một chiều khi giảm nhẹ những điểm yếu của xã hội Việt nam về mọi mặt nhất là về sự tôn trọng nhân quyền nói chung, trong đó có sự đàn áp các người bất đồng chính kiến, đàn áp các phong trào công nhân và nông dân khiếu kiện, đàn áp các tín đồ đòi tự do tôn giáo, đàn áp các người đòi tự do dân chủ v.v… Trái lại qua các bài vở của ban Việt ngữ đài BBC, thính giả thấy xã hội, chính trị Việt nam sáng sủa hơn thực tế. Nhưng để giúp giới lãnh đạo cao cấp nhất của BBC nhận ra được tính cách một chiều, không trung thực này thì thực là khó. Phải là người Việt nam chính gốc thì mới nhận ra được cái bầu không khí ngụy tạo của bản tin. Cho nên cổ nhân mới có câu “Ý tại ngôn ngoại”. Và người phương tây cũng có câu “Đọc giữa hai hàng chữ” (Read betwe.en the lines)
Nhưng thỉnh thoảng, nhân viên ban Việt ngữ đài BBC cũng để lộ rõ khuyết điểm loan tin không trung thực, một chiều. Tình trạng loan tin một chiều đó đã đủ nhiều để trong một chương trình phát thanh của người Việt hải ngoại “Little SRadio” do chị Mai Hân phụ trách đã phải mở cuộc phỏng vấn trưởng ban Việt Ngữ Nguyễn Giang về vấn đề này khi anh viếng thăm tiểu bang California cách nay vài năm. Trước câu hỏi này của chị Mai Hân, thay vì trả lời, anh Nguyễn Giang đã cao giọng, hỏi lại một cách thách thức những bằng chứng của việc loan tin một chiều đó. Vì người hỏi chỉ phản ảnh suy nghĩ của thính giả cho nên không có chuẩn bị các bằng chứng để trả lời Nguyễn Giang. Cuộc phỏng vấn cũng không sắp xếp cho thính giả gọi vào cho nên bằng chứng về việc ban Việt ngữ đài BBC loan tin một chiều lần đó không đưa đến một kết luận nào.
Nhưng lần này, bằng chứng rõ ràng nhất của việc loan tin một chiều là bài viết của ban Việt ngữ đài BBC về ngày 30/4/2010, có tựa đề “Nhớ về một ngày 30/4”, (cập nhật: 08:44 GMT – thứ Sáu, 30 tháng 4, 2010.) Bài viết mở đầu với một tấm hình mô tả “rất là hoành tráng” cuộc diễu hành ăn mừng ngày “Giải Phóng Miền Nam” do chính quyền Saigon tổ chức.
Dưới tấm hình là cuộc phỏng vấn những người thuộc phe chiến thắng mà không một ghi nhận nào về tâm tư, suy nghĩ về ngày này của phe miền nam chiến bại. Ban Việt ngữ đài BBC cũng không có một ghi nhận nào về hành động, phát biểu của người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại liên quan tới ngày này.
Bài báo khiến những người thuộc phe miền Bắc chiến thắng hồ hỡi khi đọc những phát biểu về chiến cuộc và tình hình chính trị tại miền nam trước 1975 của mấy nhân vật nằm vùng là các ông Triệu Quốc Mạnh, luật sư, đảng viên cộng sản, từng giữ chức chỉ huy trưởng cảnh sát Sài Gòn-Gia Định trong chính phủ Dương Văn Minh, ông Nguyễn Thành Tài, cựu sinh viên nằm vùng, Phó Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thanh Tùng, cựu biệt động Sài Gòn, anh hùng lực lượng vũ trang.
Để cho có vẻ cân bằng, bài báo có phỏng vấn ông Hoàng Văn Cường, một phóng viên nhiếp ảnh từng làm việc cho hãng thông tấn UPI của Hoa Kỳ. Nhưng để tránh hình ảnh chế độ mới đối xử tàn nhẫn với các cựu nhân viên nước ngoài tại miền Nam trước 1975, bài báo viết với những thông tin ngụy tạo rằng:
“Sáng 30/4, từ rất sớm tôi có mặt ở quốc lộ 1. Đến ngay ngã ba Vũng Tàu – Biên Hòa, tôi gặp một đoàn xe tăng T54 của Nga và linh cảm bảo tôi đó là đoàn tăng của Việt Cộng. Tôi vội vàng bỏ hết các quân trang mà tình cờ có trên người, chỉ đeo máy hình để đón chiếc xe tăng đầu tiên. Tôi trở thành người chỉ đường bất đắc dĩ vì họ không biết đường trong thành phố. Ngay cả quãng đường từ Ngã tư Hàng Xanh vào Dinh Tổng thống họ cũng không biết nên tôi đi theo xe tăng 390 để chỉ đường cho họ. Thực ra tôi đã từng gặp bộ đội Bắc Việt rồi nên không quá bỡ ngỡ. Năm 1972, tôi đã được đưa vào mật khu Hố Bò để tiếp xúc với bộ đội trong đó, xem họ sinh hoạt khó khăn vất vả như thế nào để chụp hình và viết bài.
Tháng Tư 1975, các phóng viên làm cho báo chí nước ngoài và người nước ngoài lần lượt đi nhiều, nhưng tôi quyết định ở lại vì nghĩ rằng mình là người Việt Nam.
Chiến tranh sắp chấm dứt, tôi phải có quyền ở lại, có quyền hưởng độc lập tự do.
Những năm đầu sau chiến tranh, tất nhiên tôi cũng gặp nhiều sự nghi ngờ, đố kỵ vì tôi làm cho hãng của Mỹ. Cải tạo thì chưa phải đi, nhưng mà cũng khổ lắm.”
Trong khi thực ra bài “Dưới bia hồi niệm” trên Tuổi trẻ online, một tờ báo của đảng xuất bản ở trong nước ngày Chủ Nhật mùng 1/5/2005, (http://tuoitre.vn/chinh-tri-Xa-hoi/7...-hoi-niem.html) tường thuật nguyên văn, “Trong ngày đó, văn phòng hãng tin UPI tại Saigòn chỉ còn lại hai nhà báo tác nghiệp và một trưởng văn phòng. Từ tinh mơ, Hoàng Văn Cường đã lái xe ra xa lộ Biên Hòa để tìm kiếm sự kiện trước giờ G. Đến ngã ba Vũng Tàu, anh bắt gặp xe tăng giải phóng ầm ầm tiến vào Sài Gòn… Sợ bị bắn lầm, chàng phóng viên ảnh này bỏ xe và ra đứng giữa đường với máy ảnh đầy ngực vẫy tay chặn đoàn xe tăng rồi quá giang trở lại Sài Gòn. Quân giải phóng ngỡ anh là một phóng viên nước ngoài nên đã cho anh tham gia (một cách bất ngờ) vào lịch sử, và đó là cách để có mặt tại dinh Độc Lập của phóng viên Hãng UPI duy nhất.” Như vậy ông Cường mang đồ nghề phóng viên nhiếp ảnh đi đón đoàn quân giải phóng Sai Gòn từ ngã ba Biên Hoà-Vũng Tầu để tác nghiệp và ông chặn chiếc tăng đi đầu để xin quá giang trở ngược lại Saigon là để thu thập hình ảnh làm phóng sự cuộc tiến quân chứ không phải ông tình cờ tới đó hay ông hân hoan đi đón giải phóng quân như giọng văn của đoạn mở đầu tạo ra.
Vì tác giả bài báo của BBC cố tình bóp méo sự kiện nên để lộ mâu thuẫn ở hai giòng trong cùng một đoạn văn: Giòng trên BBC viết “Đến ngay ngã ba Vũng Tàu – Biên Hòa, tôi gặp một đoàn xe tăng T54 của Nga và linh cảm bảo tôi đó là đoàn tăng của Việt Cộng.”
Dưới đó 4 giòng, BBC lại viết, “Thực ra tôi đã từng gặp bộ đội Bắc Việt rồi nên không quá bỡ ngỡ. Năm 1972, tôi đã được đưa vào mật khu Hố Bò để tiếp xúc với bộ đội trong đó…”
Tác giả bài báo của BBC cũng bịa ra một chi tiết quan trọng mà mấy bài báo khác viết về sự kiện ông lái xe tới Ngã ba Biên Hoà –Vũng Tầu ngày hôm đó không nói tới là “Ông vội vàng bỏ hết các quân trang mà tình cờ có trên người.”
Cũng theo bài “Dưới bia hồi niệm”, ông Cường ở lại để tiếp tục làm công việc của một phóng viên nhiếp ảnh của UPI chứ không phải như bài báo của BBC bịa đặt rằng ông Cường “quyết định ở lại vì nghĩ rằng mình là người Việt Nam.” Ông cũng không suy nghĩ “Chiến tranh sắp chấm dứt, tôi phải có quyền ở lại, có quyền hưởng độc lập tự do.” như bài viết của BBC. Bài “The Stories: Cuong” trên mạnghttp://www.pbs.org/vietnampassage/st....coung.01.html viết nguyên văn, “Cuối cùng khi hoà bình lập lại vào năm 1975, Cường nghĩ rằng đất nước cuối cùng sẽ hàn gắn đau thương (heal). Nhưng thay vì vậy, ông cùng 300,000 đồng bào miền nam của ông bị đau khổ và nhục nhã thêm bởi chế độ cộng sản mới thiết lập.” Những đau khổ và nhục nhã đó được mô tả chi tiết hơn trong bài “ONE JOURNALIST’S STORY của GRACE CUTLER, phóng viên đài VOA-TV, (http://ibb7.ibb.gov/thisweek/library...00/jounal.html). Theo bài này thì khi chiến tranh chấp dứt, chính quyền mới ở Việt nam coi ông ta như gián điệp. Chính bởi những tấm hình ông ấy chụp “gương mặt âu lo của một bà mẹ chạy nạn chiến tranh…một em bé đau khổ và sợ hại…các hình ảnh thù ghét chiến tranh… đã biến ông trở thành kẻ có tội (crime) khiến ông phải chịu 7 năm trong trại tù cải tạo. Ông nói rằng chính quyền mới canh chừng những kẻ như tôi vì họ không hiểu UPI là gì. Mà họ coi UPI, API, CIA đều như nhau. Họ gọi chung là những tên CIA.” Sau khi cộng sản chiếm miền Nam thì ông Cường, lúc đó là một phóng viên nhiếp ảnh trẻ có liên hệ mật thiết với kẻ thù cũ, phải chạy xuống đồng bằng sông Cửu Long ẩn trốn. Ông Cường thuật, “Trong năm năm tôi đi cầy ruộng, đi đánh cá, tôi mua một cái thuyền nhỏ và sống trên đó một mình…” Tới năm 1983 ông ta mới ra khỏi vùng ẩn trốn trở lại thành phố Saigon sống với gia đình. Chẳng bao lâu sau ông ta bị bắt và gửi đi tù cải tạo. Trong đó nhờ triết lý sống của ông (thiền) giúp ông sống sót. Như vậy kể từ sau ngày “giải phóng miền Nam” ông Cường bị đau khổ tổng cộng 12 năm chứ không phải như bài báo của ban Việt Ngữ đài BBC ngụy tạo là “Những năm đầu sau chiến tranh, …Cải tạo thì chưa phải đi, nhưng mà cũng khổ lắm.”
Tất cả những chi tiết vừa nêu cho thấy rõ bài báo “Nhớ về một ngày 30/4” của ban Việt ngữ đài BBC chỉ nhằm tô vẽ một chiều cho cho đảng cộng sản đương quyền tại Việt nam nhân ngày 30-4.
Trong khi đó, mỗi năm ngày 30-4 lại được hai cộng đồng người Việt Quốc Cộng đối lập nhau giải thích theo hai hướng khác nhau. Trong khi chính quyền tổ chức lễ hội ăn mừng ở trong nước thì ở hải ngoại cộng đồng người Việt lại tổ chức một ngày mà họ gọi là “để tang ngày đau thương cho đất nước”.
Vậy mà bài báo của ban Việt ngữ đài BBC tuyệt nhiên không đả động tới một người nào ở phía đối nghịch, là phe đang chiếm đa số tại miền nam và tuyệt đại đa số tại hải ngoại. Thành phần không “hồ hỡi” này thường gọi cái ngày lịch sử đó là ngày “30 tháng Tư Đen”. Thành phần đối nghịch với chính quyền hiện tại này rất đông đảo, nếu không muốn nói là chiếm đại đa số người dân miền Nam, không kể đến những người mới từ miền Bắc vào Nam sau 1975. Chính cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, một trong những người có công đầu trong việc đưa bộ đội miền Bắc vào miền Nam, cũng phải công nhận “ngày 30/4/1975 có nhiều triệu người vui thì cũng có nhiều triệu người buồn”. Không cần khó khăn để ước tính khá chính xác số lượng đông đảo người không hồ hỡi với ngày 30-4. Con số chính thức được Cao ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc công bố cho thấy ngay sau ngày 30-4-1975 lúc chiếc xe tăng đầu tiên của quân Bắc Việt húc đổ cổng sắt Dinh Độc Lập, biểu tượng của chính quyền miền Nam, đã có gần 200 ngàn người được Hoa Kỳ giúp di tản ra khỏi nước. Và liên tục trong 20 chục năm sau đó, mặc cho nguy cơ chết chóc vì bão tố và hải tặc, đã có 1 triệu 436 ngàn 556 người (1,436,556) vượt biển thành công.
Dư luận quốc tế cũng ước lượng có con số tương đương những người bỏ xác trên biển khơi. Ngoài ra chắc chắn nhà nước Việt nam nắm rất rõ bao nhiêu triệu người vượt biên bất thành bị bắt cầm tù. Với từng đó triệu con người cùng với thân nhân họ, không ai có thể bảo rằng họ hồ hỡi với ngày 30-4. Thế nhưng ban Việt ngữ đài BBC làm ngơ tâm tư của số người đông đảo “bị thất trận” này trước những lễ lạc “hoành tráng” do nhà cầm quyền tổ chức trên toàn quốc.
Dư luận bất mãn với bài “Nhớ về một ngày 30/4” của ban Việt ngữ đài BBC thì khá nhiều. Dưới đây là 2 trong nhiều email người viết nhận được từ những diễn đàn (email group) mà tác giả là những người không quen biết:
Email 1: “Hinh nhu dai BBC ngay cang xuong cap? Xem ho tuong thuat ve ngay 30/4 http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2010/04/100430_ 30april_faces. shtml”
Email 2: “Đây là một điều xấu xa và nhục nhã cho dân tộc VN trong thời buổi tìm đúng lối đi cho đất nước khi có một cơ quan thông tin quốc tế nhưng lại chỉ loan tin một chiều, phỏng vấn một chiều, công bố những chuyện có lợi cho độc tài Cộng sản.
Đáng lý ra, BBC phải làm gương cho báo chí trong nước thay vì chỉ truyền thông như chính mình là công cụ là cái loa của nhà nước.
Tôi đề nghị mọi người ký tên một kiến nghị lên ban quản lý BBC, khiếu kiện ban Việt ngữ BBC, đề nghị thay đổi Ban Trị sự.”
Những bực bội của thính giả quả thực có duyên cớ bởi vì ban Việt ngữ đài BBC trong gần 10 năm nay ngày càng loan tin thiếu chuyên nghiệp, không trung thực, sai đường lối cố hữu của đài BBC, và nhiều khi bịa đặt (như đoạn báo vừa viện dẫn). Uy tín quốc tế lâu nay của của ban Việt ngữ đài BBC đang dần dần bị sói mòn làm tổn thương uy tín của BBC, một cơ quan truyền thông quốc tế có uy tín lâu đời. Chỉ khi nào ban lãnh đạo cao cấp nhất của BBC biết được điều này và tìm cách chống đỡ các biện pháp xâm nhập và khuynh đảo của cơ quan an ninh tình báo của Việt nam thì uy tín của BBC mới hy vọng được phục hồi.
Các thính giả của BBC, đặc biệt các thính giả Anh quốc, là những người đóng thuế tài trợ cho BBC, có thể viết thư cảnh báo về tình trạng này gửi về ban lãnh đạo BBC tới văn phòng của hai vị hiện trực tiếp lãnh đạo đài là ông Sir Michael Lyons (Chairman) BBC Trust và ông Mark Thompson (General-Director) (Chairman of the Executive Board). *
(1) Đọc ‘Trăng nghẹn’, nhớ ‘Lời mẹ dặn’ Trùng Dương Thứ Ba, 09 tháng 3 2010 (VOA) http://www1.voanews.com/vietnamese/n...rang-nghen-nho -Loi-me-dan-03-09-10-87153522.html
Biểu tình phản đối Putin tại Matxcơva
Một cuộc biểu tình hiếm hoi phản đối Vladimir Putin diễn ra tại trung tâm Matxcơva, yêu cầu thủ tướng Nga từ chức.
Putin phát biểu tại một hội thảo ở Matxcơva hôm 20/10. Ảnh: AFP.
Gần 500 người biểu tình thuộc cánh tả và các nhóm chống đối Kremlin đã tập trung tại quảng trường Pushkin kêu gọi Putin phải rời nhiệm sở. Họ tuyên bố đây chỉ là màn khởi động cho phong trào nhằm hạ bệ ông.
Theo Telegraph, những người biểu tình đã bắt đầu bằng một đơn khiếu nại trực tuyến đòi Putin từ chức vào đầu năm. Họ cho biết nhằm vào ông bởi ông là nhân vật chủ chốt trong hệ thống chính trị
Garry Kasparov, cựu vô địch cờ vua thế giới, phát biểu rằng nạn tham nhũng lan tràn và tự do ngôn luận bị kìm hãm kể từ khi Putin lên lãnh đạo nước Nga vào năm 2000. Những băng rôn mang dòng chữ "Đả đảo Putin" được treo khắp quảng trường lịch sử trong khi cảnh sát chống bạo loạn đứng canh chừng.
Những cuộc biểu tình như vậy hiếm khi được phép xảy ra và thường bị các lực lượng an ninh phá vỡ. Nhưng cuộc biểu tình hôm 23/10 đã diễn ra trong hòa bình và được cho phép tiến hành.
Những người biểu tình cũng kêu ca về các cuộc bầu cử. "Chẳng ai bầu họ cả".
Cuộc biểu tình diễn ra giữa những phỏng đoán rằng Putin sẽ tranh cử tổng thống năm 2012.
Song Minh
Một cuộc biểu tình hiếm hoi phản đối Vladimir Putin diễn ra tại trung tâm Matxcơva, yêu cầu thủ tướng Nga từ chức.
Putin phát biểu tại một hội thảo ở Matxcơva hôm 20/10. Ảnh: AFP.
Gần 500 người biểu tình thuộc cánh tả và các nhóm chống đối Kremlin đã tập trung tại quảng trường Pushkin kêu gọi Putin phải rời nhiệm sở. Họ tuyên bố đây chỉ là màn khởi động cho phong trào nhằm hạ bệ ông.
Theo Telegraph, những người biểu tình đã bắt đầu bằng một đơn khiếu nại trực tuyến đòi Putin từ chức vào đầu năm. Họ cho biết nhằm vào ông bởi ông là nhân vật chủ chốt trong hệ thống chính trị
Garry Kasparov, cựu vô địch cờ vua thế giới, phát biểu rằng nạn tham nhũng lan tràn và tự do ngôn luận bị kìm hãm kể từ khi Putin lên lãnh đạo nước Nga vào năm 2000. Những băng rôn mang dòng chữ "Đả đảo Putin" được treo khắp quảng trường lịch sử trong khi cảnh sát chống bạo loạn đứng canh chừng.
Những cuộc biểu tình như vậy hiếm khi được phép xảy ra và thường bị các lực lượng an ninh phá vỡ. Nhưng cuộc biểu tình hôm 23/10 đã diễn ra trong hòa bình và được cho phép tiến hành.
Những người biểu tình cũng kêu ca về các cuộc bầu cử. "Chẳng ai bầu họ cả".
Cuộc biểu tình diễn ra giữa những phỏng đoán rằng Putin sẽ tranh cử tổng thống năm 2012.
Song Minh
Ai Diễn Biến Hòa Bình?
Trần Khải Chuyện khá là trùng hợp: trên cùng số báo Quân Đội Nhân Dân ngày chủ nhật 24/10/2010, hai bài viết từ hai quan chức lớn đều cùng nêu lên cuộc chiến chống “diễn biến hòa bình.” Có phảỉ đây là một hù dọa trước một số dư luận đòi cởi mở dân chủ tiền Đạị Hội Đảng? Hay đây là một cách lớn tiếng để tự chứng minh rằng bản thân các người viết đều sống trong tình trạng cảnh giác thường trực. Hay là lo sợ khi đã có một số dấu hiệu chuyển biến trong nhận thức của nhiều cán bộ, vì thấy rằng đất nước mình cần phải có diễn biến hòa bình thực sự?
Hai tác giả của hai bài viết trên cùng số báo QĐND hôm chủ nhật là: Trung tướng Dương Xuân Vinh, Chính ủy Tổng cục II; và TS Cao Đức Thái.
Bài viết của Tướng Vinh có nhan đề “Tình báo Quốc phòng - Lực lượng trọng yếu, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân” có một số câu đáng chú ý:
“...Tính chất, nhiệm vụ của ngành là lĩnh vực công tác đặc thù, phức tạp, căng thẳng, khẩn trương, địa bàn phân tán… công tác chính trị tư tưởng phải kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, lấy xây dựng mục tiêu lý tưởng, bản chất cách mạng, bản lĩnh chính trị làm cơ sở, giữ vững trận địa tư tưởng trong mọi tình huống. Đặc biệt là tuyên truyền, giáo dục để mọi cán bộ, chiến sĩ TBQP đề cao cảnh giác, nhận rõ âm mưu phá hoại cách mạng nước ta ngày càng thâm độc và quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, phân biệt rõ bạn, thù, đối tác, đối tượng. …
...nhất là nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn nhằm phục vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, xây dựng ngành TBQP về chính trị trước tác động của những biến đổi kinh tế - xã hội thì mới “dựa vào dân, đi sát địch”...” (hết trích)
Câu hỏi cần nêu với Tướng Dương Xuân Vinh là: Ai là “thế lực thù địch” mà ông nêu ra trong bàì viết? Còn “bạn, thù, đối tác, đối tượng...” là những ai? Thêm nữa, khi nói “đi sát địch,” thì địch là ai?
Có phải “thế lực thù địch” là Mỹ, một cựu thù bốn thập niên trước? Hay là Trung Quốc, một cựu thù từng gây chiến với VN những năm 1979, 1984, đã chiếm gọn Hoàng Sa và phần lớn Trường Sa, và liên tục bắt cóc ngư dân Việt?
Hay “thế lực thù địch... để diễn biến hòa bình” của chế độ là các doanh nhân phải hối lộ để dễ làm ăn kinh doanh (nhiều tới không kể xiết), là các dân oan bị mất đất, mất nhà và khiếu nại hoài không ngưng (như Tu Viện Bát Nhã, Giáo Xứ Cồn Dầu...), là các thiếu nữ chân dài tuyệt sắc đang làm hư hỏng cán bộ (như 2 nữ sinh vị thành niên đã làm Đảng mất một cán bộ trung thành là Chủ Tịch Tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô), là các Việt Kiều (như chị Võ Hồng) về nước để hô hào giữ đảo và cảnh giác hiểm họa Bắc Triều, là các blogger viết lên tấm lòng yêu nước của họ (đang trong nhà tù như Điếu Cày, Anh Ba Sài Gòn... hay còn đang bị theo dõi ngoài phố, như Mẹ Nấm, Người Buôn Gió...), là các luật sư nhân quyền liều thân đứng ra cãi cho các hồ sơ bị cán bộ trù dập bất công (như các luật sư Trần Lâm, Cù Huy Hà Vũ)?
Vậy rồi, Trung Quốc là bạn, hay là thù, là đối tác, hay đối tượng? Tại sao Tướng Dương Xuân Vinh cố ý nói mơ hồ chỗ này, sao không chỉ đích danh thẳng mặt “bạn” để dân cả nước VN ngợi ca tình hữu nghị, sao không chỉ thẳng mặt “địch” để dân cả nước rủ nhau biểu tình đấu tố?
Trong khi đó, bài của Tiến Sĩ Cao Đức Thái cố ý sử dụng nhiều chữ tối tăm hơn, cách đặt câu lại cố ý làm cho trúc trắc để như dường là “uyên bác” – nhưng nhan đề đã nói rõ trọn chủ đề là “Làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”: Sự lựa chọn đúng đắn...”
Bài viết trích như sau:
“Trong chiến lược "Diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc và các lực lượng tay sai, tấn công vào hệ tư tưởng – phần “hồn” của Đảng Cộng sản - lực lượng lãnh đạo, cầm quyền nhà nước và xã hội, luôn được xem là hoạt động quan trọng nhất. R. Ních-xơn trong sách: “1999 – chiến thắng không cần chiến tranh” rút ra kết luận: Rút cuộc sự cạnh tranh giữa các hệ thống xã hội cuối cùng, cái có tác dụng quyết định đối với lịch sử là tư tưởng chứ không phải là vũ khí. Chính vì vậy, chủ nghĩa đế quốc đã đồng thời thực hiện hai chiến lược: Chiến tranh xâm lược và "Diễn biến hòa bình" để chống phá hệ thống XHCN. Đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường…, chiến lược "Diễn biến hòa bình" có những thời cơ mới, mà chúng ta cần phải tính tới khi đấu tranh chống lại chiến lược đó.” (hết trích)
Đoạn văn trên của TS Cao Đức Thái khi dẫn ra sách của Nixon đã ám chỉ rằng chủ nghĩa đế quốc là Mỹ. Bởi vì mục tiêu nhắm vào là để tấn công Đảng Cộng sản. Và chủ nghĩa đế quốc, theo ông Thái, đã “đồng thời thực hiện 2 chiến lược: Chiến tranh xâm lược và "Diễn biến hòa bình" để chống phá hệ thống XHCN.”
Câu hỏi nên nêu ra, rằng tại sao ông Thái nói rằng Mỹ là đế quốc? Tại sao nói Mỹ đang tấn công Đảng Cộng sản? Tại sao nói Mỹ đang đồng thời chiến tranh xâm lược và diễn biến hòa bình?
Mỹ là đế quốc, là xâm lược? Nói như thế, dân Nhật sẽ nổi giận, bởi vì Nhật đã thua trận Thế Chiến 2, bị Mỹ chiếm đóng từ hơn 6 thập niên, mà không tấc đất nào cuả Nhật bị sáp nhập vào lãnh thổ Mỹ. Trong khi đó, quân đội Mỹ phảỉ năn nỉ, phảỉ vận động, phảỉ trả tiền thuê đất cho Nhật để được tiếp tục đóng quân ở Okinawa nhằm ngăn ngừa những biến động từ Trung Quốc và Bắc Hàn vì có cơ nguy sẽ nhắm vào Đài Loan và Nam Hàn.
Nói như thế dân Việt Nam sẽ nổi giận, vì Trung Quốc được hiểu “là bạn, là đối tác chiến lược toàn diện” mà tại sao lãnh thổ VN lại mất tới nửa Thác Bản Giốc, mất vài chục mét (hay vài trăm mét?) ở Ải Nam Quan, mất ngọn núi Lãõ Sơn ở tỉnh Hà Giang, mất trọn Hoàng Sa và nhiều đảo Trường Sa? TQ được hiểu là bạn mà tại sao liên tục làm tiền giả đưa nhập lậu vào VN, liên tục bắt và khủng bố ngư dân Việt ở vùng biển Việt, liên tục cấm VN kết thân với Đài Loan, liên tục hù dọa là đừng cho nước khác thuê cảng Cam Ranh...
Tuy nhiên, còn một điểm đáng chú ý, Tiến Sĩ Thái đã viện dẫn các ngôn ngữ đao to búa lớn để giảỉ thích về sự sụp đổ của nhiều nước xã hội chủ nghĩa, trong đó chê các lãnh đạo Liên Xô và Đông Âu là sai nghiệm trọng về lý luận và hoạt động. Nhưng có phải, cũng mượn ý đó để ngầm chê Đảng CSVN đã không chịu hòa hợp dân tộc, không chịu phát triển kinh tế thị trường?
Bài viết của Cao Đức Thái có những ý kiến sau cần suy nghĩ:
“Thực tiễn đã chỉ ra rằng, những người kế thừa chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã phạm sai lầm nghiêm trọng về nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn. Sau khi tiến hành cách mạng, giành và giữ chính quyền bằng các biện pháp bạo lực và chuyên chính vô sản, lẽ ra các đảng cộng sản có thể chuyển sang công tác tổ chức và xây dựng đất nước dựa trên nguyên tắc hòa hợp dân tộc, phát triển kinh tế thị trường… Song, ở các nước XHCN đã duy trì mô hình CNXH dựa trên các nguyên tắc phủ nhận kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản (ngay cả khi nhà nước đã thuộc về tay nhân dân)… Tình hình đó đã dẫn đến tình trạng xã hội trì trệ, sự thoái hóa về chính trị - tư tưởng, đạo đức trong đảng cầm quyền… Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến khủng hoảng, sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô, Đông Âu. Xét về phương diện lý luận, sai lầm đó bắt nguồn từ chủ nghĩa giáo điều về lý luận, đồng nhất lý luận với phương pháp luận, đồng nhất “kiến trúc cảnh quan với kiến trúc xây dựng”, không biết vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận Mác – Lê-nin khi tình hình đã thay đổi...”(hết trích)
Hòa hợp dân tộc? Có thời nào đàn áp người dân Miền Nam khốc liệt như CSVN thời sau 1975 không?
Nhưng tại sao trên một số báo QĐND đột khởi lại có hai bài mang nỗi lo sợ “diễn biến hòa bình” như thế? Có phải CSVN lo sợ quân đội sẽ đứng dậy để sẽ bênh vực những người dân oan, để sẽ đòi hỏi cứng rắn bảo vệ ngư dân ở Biển Đông, và để sẽ đòi các quyền tự do căn bản?
Hay có phải CSVN lo sợ làn sóng ký tên kiến nghị chống Bô Xít đang lôi cuốn cả nhiều vị công thần sẽ tạo ra một cơ nguy sụp đổ chế độ?
Hay có phải CSVN lo sợ những lời kêu gọi dân chủ từ chính Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo sẽ có sức chấn động, sẽ gây tỉnh thức cho tất cả những người có quan tâm về một hướng xây dựng đất nước?
Điều thấy rõ hiện nay là chính phủ Hà Nội đang kinh hoảng về “diễn biến hòa bình”... Đơn giản, hãy thấy rằng, người dân muốn có quyền tự do phát biểu, ký giả muốn có quyền tự do báo chí, trí thức muốn có quyền tự do lập hội...
Và khát vọng tự do đó, chính là diễn biến hòa bình. Khát vọng trong tim đó được nuôi dưỡng rồi sẽ tới lúc bỏng cháy, sẽ phựt ra tia lửa để thiêu rụi mọi áp bức kềm kẹp. Không gì khác hơn, diễn biến hòa bình không phảỉ do từ đế quốc nào cả, mà chính là khởi lên từ những tỉnh thức lặng lẽ trong tim mỗi người.
TRẦN KHẢI
Trần Khải Chuyện khá là trùng hợp: trên cùng số báo Quân Đội Nhân Dân ngày chủ nhật 24/10/2010, hai bài viết từ hai quan chức lớn đều cùng nêu lên cuộc chiến chống “diễn biến hòa bình.” Có phảỉ đây là một hù dọa trước một số dư luận đòi cởi mở dân chủ tiền Đạị Hội Đảng? Hay đây là một cách lớn tiếng để tự chứng minh rằng bản thân các người viết đều sống trong tình trạng cảnh giác thường trực. Hay là lo sợ khi đã có một số dấu hiệu chuyển biến trong nhận thức của nhiều cán bộ, vì thấy rằng đất nước mình cần phải có diễn biến hòa bình thực sự?
Hai tác giả của hai bài viết trên cùng số báo QĐND hôm chủ nhật là: Trung tướng Dương Xuân Vinh, Chính ủy Tổng cục II; và TS Cao Đức Thái.
Bài viết của Tướng Vinh có nhan đề “Tình báo Quốc phòng - Lực lượng trọng yếu, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân” có một số câu đáng chú ý:
“...Tính chất, nhiệm vụ của ngành là lĩnh vực công tác đặc thù, phức tạp, căng thẳng, khẩn trương, địa bàn phân tán… công tác chính trị tư tưởng phải kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, lấy xây dựng mục tiêu lý tưởng, bản chất cách mạng, bản lĩnh chính trị làm cơ sở, giữ vững trận địa tư tưởng trong mọi tình huống. Đặc biệt là tuyên truyền, giáo dục để mọi cán bộ, chiến sĩ TBQP đề cao cảnh giác, nhận rõ âm mưu phá hoại cách mạng nước ta ngày càng thâm độc và quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, phân biệt rõ bạn, thù, đối tác, đối tượng. …
...nhất là nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn nhằm phục vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, xây dựng ngành TBQP về chính trị trước tác động của những biến đổi kinh tế - xã hội thì mới “dựa vào dân, đi sát địch”...” (hết trích)
Câu hỏi cần nêu với Tướng Dương Xuân Vinh là: Ai là “thế lực thù địch” mà ông nêu ra trong bàì viết? Còn “bạn, thù, đối tác, đối tượng...” là những ai? Thêm nữa, khi nói “đi sát địch,” thì địch là ai?
Có phải “thế lực thù địch” là Mỹ, một cựu thù bốn thập niên trước? Hay là Trung Quốc, một cựu thù từng gây chiến với VN những năm 1979, 1984, đã chiếm gọn Hoàng Sa và phần lớn Trường Sa, và liên tục bắt cóc ngư dân Việt?
Hay “thế lực thù địch... để diễn biến hòa bình” của chế độ là các doanh nhân phải hối lộ để dễ làm ăn kinh doanh (nhiều tới không kể xiết), là các dân oan bị mất đất, mất nhà và khiếu nại hoài không ngưng (như Tu Viện Bát Nhã, Giáo Xứ Cồn Dầu...), là các thiếu nữ chân dài tuyệt sắc đang làm hư hỏng cán bộ (như 2 nữ sinh vị thành niên đã làm Đảng mất một cán bộ trung thành là Chủ Tịch Tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô), là các Việt Kiều (như chị Võ Hồng) về nước để hô hào giữ đảo và cảnh giác hiểm họa Bắc Triều, là các blogger viết lên tấm lòng yêu nước của họ (đang trong nhà tù như Điếu Cày, Anh Ba Sài Gòn... hay còn đang bị theo dõi ngoài phố, như Mẹ Nấm, Người Buôn Gió...), là các luật sư nhân quyền liều thân đứng ra cãi cho các hồ sơ bị cán bộ trù dập bất công (như các luật sư Trần Lâm, Cù Huy Hà Vũ)?
Vậy rồi, Trung Quốc là bạn, hay là thù, là đối tác, hay đối tượng? Tại sao Tướng Dương Xuân Vinh cố ý nói mơ hồ chỗ này, sao không chỉ đích danh thẳng mặt “bạn” để dân cả nước VN ngợi ca tình hữu nghị, sao không chỉ thẳng mặt “địch” để dân cả nước rủ nhau biểu tình đấu tố?
Trong khi đó, bài của Tiến Sĩ Cao Đức Thái cố ý sử dụng nhiều chữ tối tăm hơn, cách đặt câu lại cố ý làm cho trúc trắc để như dường là “uyên bác” – nhưng nhan đề đã nói rõ trọn chủ đề là “Làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”: Sự lựa chọn đúng đắn...”
Bài viết trích như sau:
“Trong chiến lược "Diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc và các lực lượng tay sai, tấn công vào hệ tư tưởng – phần “hồn” của Đảng Cộng sản - lực lượng lãnh đạo, cầm quyền nhà nước và xã hội, luôn được xem là hoạt động quan trọng nhất. R. Ních-xơn trong sách: “1999 – chiến thắng không cần chiến tranh” rút ra kết luận: Rút cuộc sự cạnh tranh giữa các hệ thống xã hội cuối cùng, cái có tác dụng quyết định đối với lịch sử là tư tưởng chứ không phải là vũ khí. Chính vì vậy, chủ nghĩa đế quốc đã đồng thời thực hiện hai chiến lược: Chiến tranh xâm lược và "Diễn biến hòa bình" để chống phá hệ thống XHCN. Đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường…, chiến lược "Diễn biến hòa bình" có những thời cơ mới, mà chúng ta cần phải tính tới khi đấu tranh chống lại chiến lược đó.” (hết trích)
Đoạn văn trên của TS Cao Đức Thái khi dẫn ra sách của Nixon đã ám chỉ rằng chủ nghĩa đế quốc là Mỹ. Bởi vì mục tiêu nhắm vào là để tấn công Đảng Cộng sản. Và chủ nghĩa đế quốc, theo ông Thái, đã “đồng thời thực hiện 2 chiến lược: Chiến tranh xâm lược và "Diễn biến hòa bình" để chống phá hệ thống XHCN.”
Câu hỏi nên nêu ra, rằng tại sao ông Thái nói rằng Mỹ là đế quốc? Tại sao nói Mỹ đang tấn công Đảng Cộng sản? Tại sao nói Mỹ đang đồng thời chiến tranh xâm lược và diễn biến hòa bình?
Mỹ là đế quốc, là xâm lược? Nói như thế, dân Nhật sẽ nổi giận, bởi vì Nhật đã thua trận Thế Chiến 2, bị Mỹ chiếm đóng từ hơn 6 thập niên, mà không tấc đất nào cuả Nhật bị sáp nhập vào lãnh thổ Mỹ. Trong khi đó, quân đội Mỹ phảỉ năn nỉ, phảỉ vận động, phảỉ trả tiền thuê đất cho Nhật để được tiếp tục đóng quân ở Okinawa nhằm ngăn ngừa những biến động từ Trung Quốc và Bắc Hàn vì có cơ nguy sẽ nhắm vào Đài Loan và Nam Hàn.
Nói như thế dân Việt Nam sẽ nổi giận, vì Trung Quốc được hiểu “là bạn, là đối tác chiến lược toàn diện” mà tại sao lãnh thổ VN lại mất tới nửa Thác Bản Giốc, mất vài chục mét (hay vài trăm mét?) ở Ải Nam Quan, mất ngọn núi Lãõ Sơn ở tỉnh Hà Giang, mất trọn Hoàng Sa và nhiều đảo Trường Sa? TQ được hiểu là bạn mà tại sao liên tục làm tiền giả đưa nhập lậu vào VN, liên tục bắt và khủng bố ngư dân Việt ở vùng biển Việt, liên tục cấm VN kết thân với Đài Loan, liên tục hù dọa là đừng cho nước khác thuê cảng Cam Ranh...
Tuy nhiên, còn một điểm đáng chú ý, Tiến Sĩ Thái đã viện dẫn các ngôn ngữ đao to búa lớn để giảỉ thích về sự sụp đổ của nhiều nước xã hội chủ nghĩa, trong đó chê các lãnh đạo Liên Xô và Đông Âu là sai nghiệm trọng về lý luận và hoạt động. Nhưng có phải, cũng mượn ý đó để ngầm chê Đảng CSVN đã không chịu hòa hợp dân tộc, không chịu phát triển kinh tế thị trường?
Bài viết của Cao Đức Thái có những ý kiến sau cần suy nghĩ:
“Thực tiễn đã chỉ ra rằng, những người kế thừa chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã phạm sai lầm nghiêm trọng về nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn. Sau khi tiến hành cách mạng, giành và giữ chính quyền bằng các biện pháp bạo lực và chuyên chính vô sản, lẽ ra các đảng cộng sản có thể chuyển sang công tác tổ chức và xây dựng đất nước dựa trên nguyên tắc hòa hợp dân tộc, phát triển kinh tế thị trường… Song, ở các nước XHCN đã duy trì mô hình CNXH dựa trên các nguyên tắc phủ nhận kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản (ngay cả khi nhà nước đã thuộc về tay nhân dân)… Tình hình đó đã dẫn đến tình trạng xã hội trì trệ, sự thoái hóa về chính trị - tư tưởng, đạo đức trong đảng cầm quyền… Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến khủng hoảng, sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô, Đông Âu. Xét về phương diện lý luận, sai lầm đó bắt nguồn từ chủ nghĩa giáo điều về lý luận, đồng nhất lý luận với phương pháp luận, đồng nhất “kiến trúc cảnh quan với kiến trúc xây dựng”, không biết vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận Mác – Lê-nin khi tình hình đã thay đổi...”(hết trích)
Hòa hợp dân tộc? Có thời nào đàn áp người dân Miền Nam khốc liệt như CSVN thời sau 1975 không?
Nhưng tại sao trên một số báo QĐND đột khởi lại có hai bài mang nỗi lo sợ “diễn biến hòa bình” như thế? Có phải CSVN lo sợ quân đội sẽ đứng dậy để sẽ bênh vực những người dân oan, để sẽ đòi hỏi cứng rắn bảo vệ ngư dân ở Biển Đông, và để sẽ đòi các quyền tự do căn bản?
Hay có phải CSVN lo sợ làn sóng ký tên kiến nghị chống Bô Xít đang lôi cuốn cả nhiều vị công thần sẽ tạo ra một cơ nguy sụp đổ chế độ?
Hay có phải CSVN lo sợ những lời kêu gọi dân chủ từ chính Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo sẽ có sức chấn động, sẽ gây tỉnh thức cho tất cả những người có quan tâm về một hướng xây dựng đất nước?
Điều thấy rõ hiện nay là chính phủ Hà Nội đang kinh hoảng về “diễn biến hòa bình”... Đơn giản, hãy thấy rằng, người dân muốn có quyền tự do phát biểu, ký giả muốn có quyền tự do báo chí, trí thức muốn có quyền tự do lập hội...
Và khát vọng tự do đó, chính là diễn biến hòa bình. Khát vọng trong tim đó được nuôi dưỡng rồi sẽ tới lúc bỏng cháy, sẽ phựt ra tia lửa để thiêu rụi mọi áp bức kềm kẹp. Không gì khác hơn, diễn biến hòa bình không phảỉ do từ đế quốc nào cả, mà chính là khởi lên từ những tỉnh thức lặng lẽ trong tim mỗi người.
TRẦN KHẢI
ASEAN -Việt Nam và biển Ðông sau hội nghị thượng đỉnh ADMM+8
Wednesday, October 27, 2010
Ðào Như Khi nhìn về Việt Nam dưới bất cứ góc độ, nhãn quan nào, không ai có thể chối cãi được sự thật là trong gần 1 năm qua, sau khi lên thay thế Thái Lan nắm giữ chức Chủ Tịch Hiệp Hội Ðông Nam Á (ASEAN).
Cờ của các quốc gia tham dự Hội Nghị Thượng Ðỉnh ADMM+8 tại Hà Nội. (Hình: Chiristophe Archambault/AFP/Getty Images)
Việt Nam đã cố gắng chụp lấy thời cơ, vươn mình ra thế giới: Hà Nội, Sài Gòn, Ðà Nẵng, luân phiên tổ chức thành công những cuộc họp thượng đỉnh giữa các thành viên ASEAN cũng như ASEAN nới rộng. Cùng trong cuối tháng 10 này, Hà Nội sẽ tổ chức hội nghị thượng đỉnh ASEAN+6 gồm có Nhật, Nam Hàn, Trung Quốc, Ấn Ðộ, Nga, Úc và hội nghị Ðông Á lần thứ 5 (Ðông Á-5).
Vào ngày 29 tháng 10, Hà Nội sẽ tổ chức hội nghị thượng đỉnh về sông Mekong với Nhật. Việt Nam cũng sẽ tổ chức nhiều hội nghị thượng đỉnh quốc tế khác tại Hà Nội vào 2 tháng cuối cùng 11, 12 của năm 2010. Việt Nam đã biết cách tự nâng cao phẩm chất của mình. Vì thế ông Ban Ki-moon (Phan Cơ Văn), tổng thư ký LHQ, quyết định sẽ đến thăm Việt Nam vào cuối tháng 10, trùng ngày với hội nghị thượng đỉnh Ðông Á-5 với sư hiện diện của nữ ngoại trưởng Mỹ, bà Hillary Clinton, và các lãnh tụ quốc tế khác. Riêng Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton, trong gần 4 tháng qua bà đã đi lại, giao du thân mật với Hà Nội như bà đi chợ Ðồng Xuân hàng tháng trong thời gian cư trú ở Việt Nam. Ngay cả các nạn nhân lũ lụt ở các tỉnh phía Bắc Trung Bộ Việt Nam, hồi đầu tháng 10 này cũng nhận được lời ủy lạo và quà cứu trợ của bà. Tuy nhiên, mỗi khi đến chợ Ðồng Xuân bà ngoại trưởng Mỹ lại thường xuyên tìm mua món vịt quay Bắc Kinh (Roasted Beijing Ducks). Ðây là món ăn không mấy hợp khẩu với người Mỹ, nhưng hình như bà ngoại trưởng cảm nhận được hương vị lạ của nó giống như bà có cái nhìn gần gũi hơn vào thực chất quan hệ chính trị giữa Việt Nam và TQ. Nhờ vậy, trong hội nghị thượng đỉnh ARF-17 hồi tháng 7 vừa rồi, tiếng nói của bà ngoại trưởng Mỹ có trọng lượng hơn, đã gây hoang mang cả đất nước TQ với hội chứng Hillaryphobia.
Trong khi đó vị thế của Việt Nam thật sự được nâng cấp sau thượng đỉnh ARF-17. Tiếng nói của Việt Nam về biển Ðông đã thu hút sự chú ý, quan tâm của thế giới, của khối ASEAN, của Mỹ và Trung Quốc. Bên cạnh đó là quyết định của Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama, đưa Mỹ trở lại Châu Á Thái Bình Dương. Mỹ đã chọn Việt Nam như một đối tác đáng tin cậy cho quyết định này. Vị thế của Việt Nam do đó lại nổi cộm lên trong phong cảnh địa chánh trị mới tại Châu Á Thái Bình Dương. Trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt này, hội nghị thượng đỉnh các Bộ Trưởng Quốc Phòng ÐNÁ nới rộng ADMM+8, Hà Nội trở thành nơi qui tụ những lực lượng kinh tế và quốc phòng hùng mạnh nhất thế giới, là nơi tập trung những buổi họp quốc phòng song phương cũng như đa phương giữa các quốc gia: Nhật và Trung Quốc, Mỹ và Nhật, Nhật và Nga, Nga và Mỹ, Trung Quốc và Ấn Ðộ, Mỹ và Trung Quốc...
Có một điều đáng chú ý: trước khi ADMM+8 khai mạc, đại sứ Trung Quốc tại Manilla, ông Lưu Kiến Siêu, hôm 1 tháng 10, 2010 đã khẳng định: “TQ và các nước ASEAN đã và đang bắt đầu thảo luận qui tắc ứng xử - Codes Of Conducts (CoC) - tại biển Ðông ở cấp bậc các chuyên viên nhằm ngăn chận những tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải bùng nổ thành xung đột vũ trang...”
Tuy nhiên, Ðại Sứ Lưu không hề cho biết những đàm phán ấy đang xảy ra ở đâu? Có thật là đàm phán đa phương giữa TQ và các đối tác ASEAN? Ðại Sứ Lưu Kiến Siêu cũng cho hay tại hội nghị này, Trung Quốc nhất quyết loại trừ sự can thiệp từ các quốc gia bên ngoài. Mỹ được xem như kẻ bên ngoài vô phận sự, không được quyền can thiệp cũng như tham dự vào tiến trình đàm phán của hội nghị.
Sau lời tuyên bố của đại sứ TQ, ngoại trừ Philipines, các quốc gia trong khối ASEAN nhất là Việt Nam im hơi lặng tiếng một cách khác thường, khó hiểu, đến hôm nay vẫn chưa nghe ASEAN hay TQ báo cáo về kết quả của cuộc đàm phán ở cấp các chuyên viên ấy như thế nào? Ðiều này dễ khiến dư luận hiểu nhầm có điều gì bất ổn, mờ ám, bí mật, qua lời tuyên bố của đại sứ TQ tại Manila.
Theo báo cáo của Jim Stevenson, thông tín viên của điện báo VOA, tình trạng biển Ðông vẫn còn bất ổn sau hội nghị ADMM+8, và dĩ nhiên uy thế của Việt Nam đối với ASEAN cũng như đối với lãnh đạo Bắc Kinh vẫn còn nhiều thử thách, nhất là trong hợp tác hỗ tương chiến lược với Mỹ tại biển Ðông.
Về phạm vi này, Việt Nam đang đối mặt với hai vấn đề khó khăn:
1. Với Mỹ, theo Kurt Campbell, trợ lý bộ trưởng Ngoại Giao Mỹ, Hoa Kỳ chỉ có ước vọng đơn thuần là muốn giữ biển Ðông được sử dụng như một khu vực hàng hải quốc tế tự do và an toàn. Hoa Kỳ có một lợi ích quốc gia rất lớn tại vùng biển này nếu Hoa Kỳ bảo vệ được quyền tự do thông thương và giữ vùng biển này là một vùng biển tự do. Như vậy sự can thiệp của Mỹ vào biển Ðông hoàn toàn khách quan, không phải là sự bắt buộc hay đúng hơn chỉ là một cam kết vì quyền lợi nhất thời.
2. Với Trung Quốc, vì dư luận của thế giới và nhất là của Mỹ, TQ có thể từ bỏ cụm từ “lợi ích cốt lõi” trong hình thức, nhưng TQ sẽ không bao giờ từ bỏ mô hình “lưỡi bò” trên biển Ðông. Trước sau như một, TQ sẽ bảo vệ đến cùng mô hình “lưỡi bò” của họ bằng mọi cách, ngay cả bằng chiến tranh vũ trang. Mô hình “lưỡi bò” TQ trên biển Ðông là một bằng chứng không chối cãi được ý chí bành trướng của nước này. Với mô hình “lưỡi bò,” TQ chiếm hữu gần 80% diện tích biển Ðông.
Tất nhiên không một quốc gia nào trong Hiệp Hội ÐNÁ có thể chấp nhận sư tham lam quá đáng này của Trung Quốc. Do đó, tình hình an ninh trong khu vực biển Ðông vẫn tiếp tục bị hăm dọa, bất ổn.
Theo điện báo Thanh Niên (Hà Nội, 17 tháng 10), có lẽ để thử nghiệm một lần nữa sức tranh chấp tại biển Ðông của Việt Nam, vào ngày 14 tháng 10, một ngày sau hội nghị ADMM+8, một chiếc “tàu lạ” đã cố ý đâm chìm một tàu đánh cá của Việt Nam lúc mờ sáng trên vùng biển ngoài khơi Bà Rịa, sau đó “tàu lạ” bỏ chạy không tìm ra tông tích. Chín ngư phủ của chiếc tàu bị đâm chìm được một chiếc tàu cùng nghiệp đoàn đánh cá gần đó đến tiếp cứu. Có điều lạ hơn là mãi đến hôm nay vẫn chưa nghe được lời giải thích từ chính phủ Việt Nam về phát xuất và ý đồ của chiếc “tàu lạ” ấy. Tuy nhiên, thông thường theo “ngôn ngữ ngoại giao” của giới đánh cá, “tàu lạ” đồng nghĩa với tàu của Trung Quốc.
ASEAN sẽ làm gì? Việt Nam sẽ phản ứng như thế nào, trước sự tồn tại mô hình “lưỡi bò” của Trung Quốc tại biển Ðông? Chúng ta cần biết rằng mô hình “lưỡi bò” của của TQ không đem đến hệ lụy gì với Mỹ nếu TQ biết thỏa mãn ý muốn của Mỹ: tàu bè của Mỹ được quyền thông thương tự do và được bảo đảm an toàn trên biển Ðông. Mỹ được quyền xem Biển Ðông như hải phận quốc tế hoàn toàn tự do. Và chắc chắn dại gì mà TQ không biết thỏa mãn những yêu cầu này của Mỹ. Sau đó đương nhiên TQ loại Mỹ ra khỏi mọi cuộc đàm phán về biển Ðông và có thể chính Mỹ cũng hy vọng được như vậy, như một thắng lợi nhưng không tốn một viên đạn, không nổ phát súng nào. Tiến trình đàm phán giữa TQ và Mỹ về biển Ðông tới đây sẽ được coi là đủ.
Những sư kiện trên vẫn còn là giả thuyết, nhưng có nhiều khả năng trở nên hiện thực. Các nước trong hiệp hội ÐNÁ, nhất là Việt Nam, phải nhận chân điều đó để “liệu mà cao chạy xa bay.” Quan hệ với Mỹ, chúng ta phải luôn nhớ phương châm xử thế của các nhà lãnh đạo Mỹ là bao giờ quyền lợi quốc gia cũng đặt lên trên hết. Nghĩ cho cùng phương châm ấy là chân lý, không phải chỉ là chân lý riêng của Mỹ mà còn là chân lý chung cho những ai yêu nước.
(Nguồn: Thông Luận 2010)
Wednesday, October 27, 2010
Ðào Như Khi nhìn về Việt Nam dưới bất cứ góc độ, nhãn quan nào, không ai có thể chối cãi được sự thật là trong gần 1 năm qua, sau khi lên thay thế Thái Lan nắm giữ chức Chủ Tịch Hiệp Hội Ðông Nam Á (ASEAN).
Cờ của các quốc gia tham dự Hội Nghị Thượng Ðỉnh ADMM+8 tại Hà Nội. (Hình: Chiristophe Archambault/AFP/Getty Images)
Việt Nam đã cố gắng chụp lấy thời cơ, vươn mình ra thế giới: Hà Nội, Sài Gòn, Ðà Nẵng, luân phiên tổ chức thành công những cuộc họp thượng đỉnh giữa các thành viên ASEAN cũng như ASEAN nới rộng. Cùng trong cuối tháng 10 này, Hà Nội sẽ tổ chức hội nghị thượng đỉnh ASEAN+6 gồm có Nhật, Nam Hàn, Trung Quốc, Ấn Ðộ, Nga, Úc và hội nghị Ðông Á lần thứ 5 (Ðông Á-5).
Vào ngày 29 tháng 10, Hà Nội sẽ tổ chức hội nghị thượng đỉnh về sông Mekong với Nhật. Việt Nam cũng sẽ tổ chức nhiều hội nghị thượng đỉnh quốc tế khác tại Hà Nội vào 2 tháng cuối cùng 11, 12 của năm 2010. Việt Nam đã biết cách tự nâng cao phẩm chất của mình. Vì thế ông Ban Ki-moon (Phan Cơ Văn), tổng thư ký LHQ, quyết định sẽ đến thăm Việt Nam vào cuối tháng 10, trùng ngày với hội nghị thượng đỉnh Ðông Á-5 với sư hiện diện của nữ ngoại trưởng Mỹ, bà Hillary Clinton, và các lãnh tụ quốc tế khác. Riêng Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton, trong gần 4 tháng qua bà đã đi lại, giao du thân mật với Hà Nội như bà đi chợ Ðồng Xuân hàng tháng trong thời gian cư trú ở Việt Nam. Ngay cả các nạn nhân lũ lụt ở các tỉnh phía Bắc Trung Bộ Việt Nam, hồi đầu tháng 10 này cũng nhận được lời ủy lạo và quà cứu trợ của bà. Tuy nhiên, mỗi khi đến chợ Ðồng Xuân bà ngoại trưởng Mỹ lại thường xuyên tìm mua món vịt quay Bắc Kinh (Roasted Beijing Ducks). Ðây là món ăn không mấy hợp khẩu với người Mỹ, nhưng hình như bà ngoại trưởng cảm nhận được hương vị lạ của nó giống như bà có cái nhìn gần gũi hơn vào thực chất quan hệ chính trị giữa Việt Nam và TQ. Nhờ vậy, trong hội nghị thượng đỉnh ARF-17 hồi tháng 7 vừa rồi, tiếng nói của bà ngoại trưởng Mỹ có trọng lượng hơn, đã gây hoang mang cả đất nước TQ với hội chứng Hillaryphobia.
Trong khi đó vị thế của Việt Nam thật sự được nâng cấp sau thượng đỉnh ARF-17. Tiếng nói của Việt Nam về biển Ðông đã thu hút sự chú ý, quan tâm của thế giới, của khối ASEAN, của Mỹ và Trung Quốc. Bên cạnh đó là quyết định của Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama, đưa Mỹ trở lại Châu Á Thái Bình Dương. Mỹ đã chọn Việt Nam như một đối tác đáng tin cậy cho quyết định này. Vị thế của Việt Nam do đó lại nổi cộm lên trong phong cảnh địa chánh trị mới tại Châu Á Thái Bình Dương. Trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt này, hội nghị thượng đỉnh các Bộ Trưởng Quốc Phòng ÐNÁ nới rộng ADMM+8, Hà Nội trở thành nơi qui tụ những lực lượng kinh tế và quốc phòng hùng mạnh nhất thế giới, là nơi tập trung những buổi họp quốc phòng song phương cũng như đa phương giữa các quốc gia: Nhật và Trung Quốc, Mỹ và Nhật, Nhật và Nga, Nga và Mỹ, Trung Quốc và Ấn Ðộ, Mỹ và Trung Quốc...
Có một điều đáng chú ý: trước khi ADMM+8 khai mạc, đại sứ Trung Quốc tại Manilla, ông Lưu Kiến Siêu, hôm 1 tháng 10, 2010 đã khẳng định: “TQ và các nước ASEAN đã và đang bắt đầu thảo luận qui tắc ứng xử - Codes Of Conducts (CoC) - tại biển Ðông ở cấp bậc các chuyên viên nhằm ngăn chận những tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải bùng nổ thành xung đột vũ trang...”
Tuy nhiên, Ðại Sứ Lưu không hề cho biết những đàm phán ấy đang xảy ra ở đâu? Có thật là đàm phán đa phương giữa TQ và các đối tác ASEAN? Ðại Sứ Lưu Kiến Siêu cũng cho hay tại hội nghị này, Trung Quốc nhất quyết loại trừ sự can thiệp từ các quốc gia bên ngoài. Mỹ được xem như kẻ bên ngoài vô phận sự, không được quyền can thiệp cũng như tham dự vào tiến trình đàm phán của hội nghị.
Sau lời tuyên bố của đại sứ TQ, ngoại trừ Philipines, các quốc gia trong khối ASEAN nhất là Việt Nam im hơi lặng tiếng một cách khác thường, khó hiểu, đến hôm nay vẫn chưa nghe ASEAN hay TQ báo cáo về kết quả của cuộc đàm phán ở cấp các chuyên viên ấy như thế nào? Ðiều này dễ khiến dư luận hiểu nhầm có điều gì bất ổn, mờ ám, bí mật, qua lời tuyên bố của đại sứ TQ tại Manila.
Theo báo cáo của Jim Stevenson, thông tín viên của điện báo VOA, tình trạng biển Ðông vẫn còn bất ổn sau hội nghị ADMM+8, và dĩ nhiên uy thế của Việt Nam đối với ASEAN cũng như đối với lãnh đạo Bắc Kinh vẫn còn nhiều thử thách, nhất là trong hợp tác hỗ tương chiến lược với Mỹ tại biển Ðông.
Về phạm vi này, Việt Nam đang đối mặt với hai vấn đề khó khăn:
1. Với Mỹ, theo Kurt Campbell, trợ lý bộ trưởng Ngoại Giao Mỹ, Hoa Kỳ chỉ có ước vọng đơn thuần là muốn giữ biển Ðông được sử dụng như một khu vực hàng hải quốc tế tự do và an toàn. Hoa Kỳ có một lợi ích quốc gia rất lớn tại vùng biển này nếu Hoa Kỳ bảo vệ được quyền tự do thông thương và giữ vùng biển này là một vùng biển tự do. Như vậy sự can thiệp của Mỹ vào biển Ðông hoàn toàn khách quan, không phải là sự bắt buộc hay đúng hơn chỉ là một cam kết vì quyền lợi nhất thời.
2. Với Trung Quốc, vì dư luận của thế giới và nhất là của Mỹ, TQ có thể từ bỏ cụm từ “lợi ích cốt lõi” trong hình thức, nhưng TQ sẽ không bao giờ từ bỏ mô hình “lưỡi bò” trên biển Ðông. Trước sau như một, TQ sẽ bảo vệ đến cùng mô hình “lưỡi bò” của họ bằng mọi cách, ngay cả bằng chiến tranh vũ trang. Mô hình “lưỡi bò” TQ trên biển Ðông là một bằng chứng không chối cãi được ý chí bành trướng của nước này. Với mô hình “lưỡi bò,” TQ chiếm hữu gần 80% diện tích biển Ðông.
Tất nhiên không một quốc gia nào trong Hiệp Hội ÐNÁ có thể chấp nhận sư tham lam quá đáng này của Trung Quốc. Do đó, tình hình an ninh trong khu vực biển Ðông vẫn tiếp tục bị hăm dọa, bất ổn.
Theo điện báo Thanh Niên (Hà Nội, 17 tháng 10), có lẽ để thử nghiệm một lần nữa sức tranh chấp tại biển Ðông của Việt Nam, vào ngày 14 tháng 10, một ngày sau hội nghị ADMM+8, một chiếc “tàu lạ” đã cố ý đâm chìm một tàu đánh cá của Việt Nam lúc mờ sáng trên vùng biển ngoài khơi Bà Rịa, sau đó “tàu lạ” bỏ chạy không tìm ra tông tích. Chín ngư phủ của chiếc tàu bị đâm chìm được một chiếc tàu cùng nghiệp đoàn đánh cá gần đó đến tiếp cứu. Có điều lạ hơn là mãi đến hôm nay vẫn chưa nghe được lời giải thích từ chính phủ Việt Nam về phát xuất và ý đồ của chiếc “tàu lạ” ấy. Tuy nhiên, thông thường theo “ngôn ngữ ngoại giao” của giới đánh cá, “tàu lạ” đồng nghĩa với tàu của Trung Quốc.
ASEAN sẽ làm gì? Việt Nam sẽ phản ứng như thế nào, trước sự tồn tại mô hình “lưỡi bò” của Trung Quốc tại biển Ðông? Chúng ta cần biết rằng mô hình “lưỡi bò” của của TQ không đem đến hệ lụy gì với Mỹ nếu TQ biết thỏa mãn ý muốn của Mỹ: tàu bè của Mỹ được quyền thông thương tự do và được bảo đảm an toàn trên biển Ðông. Mỹ được quyền xem Biển Ðông như hải phận quốc tế hoàn toàn tự do. Và chắc chắn dại gì mà TQ không biết thỏa mãn những yêu cầu này của Mỹ. Sau đó đương nhiên TQ loại Mỹ ra khỏi mọi cuộc đàm phán về biển Ðông và có thể chính Mỹ cũng hy vọng được như vậy, như một thắng lợi nhưng không tốn một viên đạn, không nổ phát súng nào. Tiến trình đàm phán giữa TQ và Mỹ về biển Ðông tới đây sẽ được coi là đủ.
Những sư kiện trên vẫn còn là giả thuyết, nhưng có nhiều khả năng trở nên hiện thực. Các nước trong hiệp hội ÐNÁ, nhất là Việt Nam, phải nhận chân điều đó để “liệu mà cao chạy xa bay.” Quan hệ với Mỹ, chúng ta phải luôn nhớ phương châm xử thế của các nhà lãnh đạo Mỹ là bao giờ quyền lợi quốc gia cũng đặt lên trên hết. Nghĩ cho cùng phương châm ấy là chân lý, không phải chỉ là chân lý riêng của Mỹ mà còn là chân lý chung cho những ai yêu nước.
(Nguồn: Thông Luận 2010)
Trung Quốc Vào Khúc Quanh
NGUYỄN XUÂN NGHĨA Kinh tế Chính trị học Trung Quốc trước Đại hội đảng...
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, kỳ V, khoá 17 của đảng Cộng Sản Trung Quốc đã khai mạc hôm Thứ Sáu 15.
Dự trù kết thúc vào ngày 18, Hội nghị Trung ương kỳ V sẽ thông qua kế hoạch năm năm 2011-2015 trước khi công bố chi tiết vào năm tới. Chúng ta sẽ nói về kế hoạch này sau. Ngoài ra, Hội nghị cũng sẽ có một quyết định chuẩn bị việc kế nhiệm lãnh đạo. Đó là đề cử Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, năm nay 47 tuổi, vào Trung ương Quân Ủy hội. Trung Quốc có hai cơ chế cùng tên (Trung Quốc Quân sự Ủy viên hội), cùng thành phần nhân sự, để cùng chỉ đạo về quân sự, một cơ chế trong đảng, một cơ chế của nhà nước. Bất cứ ai lên lãnh đạo đều phải nằm trong cơ chế này để thực tế lãnh đạo quân đội. Việc Tập Cận Bình phải vào Quân ủy hội là bước cần thiết để lên thay thế Chủ tịch Hồ Cẩm Đào sau Đại hội đảng của khoá 18, sẽ triệu tập trong năm 2012. Sau Đại hội, đến 2013, Trung Quốc sẽ có lãnh đạo mới trong cơ chế đảng và nhà nước, Quốc hội và Chính phủ, v.v....
Trung Quốc đang ở vào giai đoạn chuyển giao lãnh đạo khi thế hệ thứ tư của những Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo và Uý Kiện Hành sẽ về hưu sau khi được để cử từ Đại hội 16 năm 2002.
Trong Hội nghị kỳ V, 371 Trung ương Ủy viên đề ra chủ trương của kế hoạch năm năm tới, bên trong có đường lối chánh sách kinh tế chính trị của hai năm giao thời, trước Đại hội 18.
Về các kế hoạch năm năm, ngày xưa người ta thường nói đùa rằng nếu chỉ tiêu về đinh là 50 triệu tấn thì kinh tế sản xuất ra toàn đinh 15 phân. Để sửa sai, chỉ tiêu là 500 tỷ cái đinh sẽ đẻ ra toàn... đinh đóng guốc! Sau 30 năm hoang tưởng thời Mao (1949-1979), Trung Quốc đã cải cách nhưng còn duy trì khái niệm kế hoạch năm năm, với mức khả tín cao hơn xưa mà vẫn chỉ có giá trị chỉ dẫn. Bài này không đi sâu vào chuyện đó.
Nhưng xuyên qua những phát biểu của Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo, người ta có thể dự đoán là kế hoạch năm năm tới sẽ chú ý đến phẩm hơn lượng, cụ thể là thu hẹp dị biệt về lợi tức, nâng cao phẩm chất cuộc sống của người dân, mở rộng mạnh lưới an sinh xã hội và kiểm soát được phần nào tình trạng hủy hoại môi sinh. Nếu không thì xứ này sẽ có loạn vì làn sóng bất mãn đã dâng cao. Động loạn có thể bùng nổ vì bất công xã hội hay tham nhũng, nhưng cũng có thể xảy ra vì một số thành phần tương đối no đủ đang đòi hỏi nhiều quyền tự do hơn.
Đáng chú ý hơn cả là một hiện tượng mới: xu hướng đòi hỏi tự do lại xuất phát từ trong đảng, với lời kêu gọi hy hữu là đảng còn phải tiến hành cải cách về chính trị, nếu không, xứ sở sẽ tụt hậu!
Một thí dụ là trong khi đảng đang chuẩn bị Hội nghị kỳ V thì một lá thư ngỏ đã được công bố hôm Thứ Hai 11.
Do 23 đảng viên lão thành và cán bộ cao cấp đề xướng, lá thư có chữ ký ủng hộ của hơn 500 người, trong đó 90% là đảng viên. Lá thư ngỏ được gửi cho Ban Thường vụ Quốc hội và lãnh đạo đảng với lời kêu gọi cải cách chính trị. Cụ thể là giải toả chánh sách kiểm duyệt thông tin, tăng cường tự do báo chí và cải tổ ban Tuyên truyền Trung ương.
Trong số các nhân vật đề xướng có Lý Duệ, nguyên bí thư của Mao Trạch Đông, Ủy viên Trung ương từ Khoá 12 (1982-1987) và Phó chủ tịch của một cơ chế quan trọng là Ban Tổ chức Trung ương. Ngoài Lý Duệ và nhiều nhân vật có uy tín trong hệ thống đảng, nhà nước, truyền thông, giáo dục, kinh doanh và cả quân đội, còn có Hồ Kỷ Vỹ, nguyên Tổng biên tập cơ quan thông tin chính thức của Trung ương đảng là Nhân dân Nhật báo.
Lá thư này được soạn thảo từ đầu Tháng 10, trước khi Ủy ban Nobel công bố trao giải Nobel Hoà bình 2010 cho ông Lưu Hiểu Ba vào Thứ Sáu mùng tám. Lá thư được phổ biến từ Thứ Hai 11 trên Internet, nhất là qua hệ thống truyền thông tương đối vẫn còn tự do của Hong Kong.
Đến Thứ Tư 13 thì nó gây ra một trận bão. Các tác giả lá thư yêu cầu lãnh đạo Bắc Kinh đừng quên lời cam kết cải cách chính trị ghi trong Hiến pháp năm 1982 và phê phán quyền tự do báo chí còn quá hạn chế so với báo chí Hong Kong và Ma Cao ngay dưới thời thuộc địa.
Từ ít lâu này, báo chí Hong Kong đã gặp sức ép của Bắc Kinh trong chế độ kiểm duyệt, nên lập tức quảng bá lời kêu gọi cải cách này. Tháng Tám vừa qua, cũng báo chí Hong Kong đã công bố lời phát biểu của Tướng Lưu Á Châu, nguyên Chính ủy Binh chủng Không quân và vừa lên Chính ủy Học viện Quốc phòng, trong đó ông tướng hai sao có truyền thống nói thẳng này đã kêu gọi đảng phải cải cách theo mô thức... Hoa Kỳ. Nếu không thì sẽ tiêu vong như Liên bang Xô viết.
Vì những chi tiết đó, ta nên chú ý đến lời kêu gọi của các nhân vật lão thành này.
Về bối cảnh thì ta thấy Tháng Tám vừa qua, Tổng lý Quốc vụ viện (Thủ tướng) Ôn Gia Bảo đã có chuyến "Nam du" - như Đặng Tiểu Bình năm xưa - nơi ông công khai kêu gọi phải cải cách chính trị. Kế tiếp là bài diễn văn ông đọc cuối Tháng Chín tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc ở New York với cùng lập luận. Nhưng cả hai bài diễn văn đầy tính cởi mở này đã bị bộ Tuyên truyền Trung ương của Trung ương đảng ("Trung Cộng Trung Ương Tuyên Truyền Bộ") kiểm duyệt! Trước đó, đã có tin đồn, dĩ nhiên là nhảm, rằng Thủ tướng Ôn Gia Bảo sẽ phải từ chức...
Đáng chú ý hơn là ngay sau đó, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào gián tiếp phủ nhận chuyện cải cách, trong khi Trường đảng Trung ương ("Trung Cộng Trung Ương Học Hiệu") ra tuyên cáo ủng hộ quan điểm của Ôn Tổng lý và phản bác lời phê phán của truyền thông nhà nước. Cũng vậy, Tháng Chín vừa qua, khi cựu Ngoại trưởng Đường Gia Triền, Ủy viên Trung ương đảng từ khóa 14, muốn nói lời ôn hòa với Nhật Bản thì lại bị một ông Tướng (Chu Thành Hổ) gián tiếp kê tủ đứng vào miệng!
Nghĩa là ngay trên thượng tầng đảng thì đã có nhiều dị biệt quan điểm về chính trị.
Lá thư hôm 11 châm dầu vào lửa ở trên thượng tầng khi nêu câu hỏi vì sao các đảng viên cán bộ về tuyên truyền lại dám kiểm duyệt lời phát biểu của một đồng chí lãnh đạo đứng hàng thứ nhì trong đảng là Thủ tướng Ôn Gia Bảo?
Cũng trong lá thư, các đảng viên lão thành còn nhấn mạnh đến lời yêu cầu chính là "phải bãi bỏ chế độ kiểm duyệt để thiết lập một chế độ hữu trách về luật pháp" - làm sai thì phải chịu trách nhiệm. Và rằng "trong lịch sử đảng thì không thể có những mảng bị xóa. Người dân phải có quyền biết về những quyết định sai lầm của đảng!"
Vài lý luận khác cũng đáng quan tâm.
Như "trong khi kinh tế Trung Quốc tăng trưởng mạnh thì quyền tự do ngôn luận lại tụt hậu - từ nhiều thập niên rồi!" Hoặc "trong thế giới toàn cầu hóa với mạng lưới Internet đang mở ra cơ hội trao đổi thông tin và quan điểm, chế độ kiểm duyệt có thể khiến người dân Trung Quốc đi tìm sự yểm trợ của nước ngoài để quảng bá ý kiến của mình, và đấy sẽ là một vấn đề cho quốc gia!"
Trước hiện tượng có vẻ mới lạ này, ta nên nghĩ sao?
Đầu tiên, về văn hoá thì trong xã hội Á Châu, các bậc "lão thành" đều được đa số nể nang kính trọng vì tuổi đời và kinh nghiệm. Về văn hoá chính trị, trong xã hội cộng sản thì các đồng chí lão thành này đã ra ngoài vòng đỉnh chung - khỏi cần tranh giành quyền lực hay quyền lợi. Và nhiều người lên tiếng thực ra cũng đã có vị trí no đủ về vật chất và uy tín về thành tích. Họ không còn sợ gì nữa nên dám nói ra những điều nhạy cảm về chính trị.
Chuyện ấy, thật ra cũng dễ hiểu, y như sự kiện là sau khi hết quyền lực và về hưu rồi, họ mới dám nói ra những sự thật mà bản thân đã biết từ lâu, từ trước.
Cũng về văn hóa, Trung Quốc không có truyền thống của loại xã hội dân sinh, nơi mà người dân có quyền nêu vấn đề về kinh tế hay chính trị với chính quyền hay triều đình ở trên. Dưới chế độ Cộng sản, quyền lực lại tập trung vào trong tay một thiểu số, với cái thế quân bình hay đối trọng không được công khai hóa giữa các cơ chế có thẩm quyền. Cái gọi là "dân chủ trong đảng" chỉ là một tấm kính mờ, mờ ảo và nhiều khi mờ ám.
Vì vậy, đảng viên phụ trách về tuyên truyền có thể nhảy qua kiểm duyệt lời phát biểu của đảng viên phụ trách về bộ máy nhà nước, dù là một đảng viên lãnh đạo, ủy viên Bộ Chính trị, cầm đầu Quốc vụ viện là Hội đồng Chính phủ!
Về kinh tế thì 30 năm sau cải cách, chiến lược phát triển của đảng đã đi hết sự vận hành của nó và bắt đầu gặp giới hạn. Đó là hàng loạt vấn đề kinh tế xã hội như lương bổng, nhà cửa, phúc lợi y tế, việc làm, giá lương thực, môi sinh bị ô nhiễm, hay nạn tham nhũng vô tội vạ của các đảng viên cán bộ cường hào ác bá, v.v...
Thế hệ lãnh đạo như Hồ Cẩm Đào thì thấy ra vấn đề và muốn cải cách. Họ muốn tái phân lợi tức cho các thành phần và địa phương cùng khốn để san bằng dị biệt về lợi tức và nhận thức, nhưng lại gặp sự cản trở của các đảng bộ địa phương. Vì vậy họ mới muốn tập trung quyền lực vào trung ương và dùng việc thanh trừng tham nhũng cho mục tiêu ấy.
Nếu không cải cách về kinh tế và xã hội thì khủng hoảng sẽ dội ngược lên chính trị, và quyền lực cùng lẽ chính danh của đảng bị đe dọa. Nhưng tập trung quyền lực về trung ương cũng có thể dẫn tới hậu quả bất ngờ là quân mình đánh quân ta: ban tuyên truyền trung ương đòi bịt miệng thủ tướng!
Các quốc gia Đông Á đã cải cách kinh tế theo xu hướng tự do đều đi qua giai đoạn này. Họ chủ động cải cách chính trị cho thông thoáng rồi dân chủ hơn, như trường hợp Đài Loan, Nam Hàn hay nhiều nước Đông Nam Á. Đảng Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam không thể tự ý cải cách như vậy và đang lâm bế tắc.
Lên cầm quyền từ Đại hội khoá 16, năm 2002, thế hệ lãnh đạo thứ tư chỉ còn hai năm để hoàn tất nhiệm vụ trước khi chuyển quyền cho thế hệ thứ năm như Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường hay Bạc Hy Lai. Họ đã hụt cơ hội cải cách rộng lớn từ năm 2008 vì nạn Tổng suy trầm toàn cầu và còn chưa đầy hai năm là sẽ ra đi. Trong thời gian ngắn ngủi ấy, họ không thể ban hành cải cách về kinh tế, chưa nói gì về chính trị, vì những biến động xảy ra sẽ để lại một di sản tai hại cho tên tuổi trong lịch sử.
Nhưng chính là việc trì hoãn cho an toàn này lại thiếu an toàn vì sức ép kinh tế đã dội lên chính trị trong một thế giới đang có những thay đổi lớn cũng từ vụ tổng suy trầm 2008-2009 mà ra.
Và trong nội bộ, cách thẩm định về rủi ro chính trị cũng có khác biệt.
Một số người thì cho rằng phải cấp tốc cải cách cả kinh tế lẫn chính trị, nếu không thì sẽ quá trễ. Một số người khác thì nhắc đến kinh nghiệm Gorbachev khi cải cách cả kinh tế (perestroika) lẫn chính trị (glasnost) làm Liên Xô tan rã! Họ chỉ thống nhất quan điểm về một chuyện: làm sao bảo vệ được quyền lực của đảng trong khúc quanh nguy hiểm này.
Chính là để giải nguy, người ta mới nghĩ đến một thủ thuật chính trị. Đó là gây ấn tượng.
Phải gây ấn tượng là đảng ta đã thấy vấn đề, đang thảo luận về yêu cầu cải cách để tiến tới một hình thái kinh tế công bằng, xã hội cởi mở và chính trị minh bạch hơn. Họ phả ra một chút hy vọng thay đổi cho người dân bớt nóng ruột và đừng bất mãn. Rồi tùy khả năng của từng nơi mà kín đáo thi hành một số cải cách theo kiểu "thí điểm" để rút tỉa kinh nghiệm sẽ áp dụng sau Đại hội 18.
Nhưng, người dân có kiên nhẫn được như vậy không? Và "lộng giả thành chân" cũng là một quy luật chính trị của hiện tượng ra gọi là "hậu quả bất lường". Chúng ta nên theo dõi chuyện này. Trong những kỳ sau, chúng ta sẽ điểm mặt lãnh đạo tương lai của Trung Quốc, để xem là họ sẽ xoay trở thế nào với hệ thống kinh tế chính trị.
Điều đó cũng có thể soi sáng một vấn đề nóng là việc bành trướng ra ngoài có khi làm banh ruột ở trong..
NGUYỄN XUÂN NGHĨA
NGUYỄN XUÂN NGHĨA Kinh tế Chính trị học Trung Quốc trước Đại hội đảng...
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, kỳ V, khoá 17 của đảng Cộng Sản Trung Quốc đã khai mạc hôm Thứ Sáu 15.
Dự trù kết thúc vào ngày 18, Hội nghị Trung ương kỳ V sẽ thông qua kế hoạch năm năm 2011-2015 trước khi công bố chi tiết vào năm tới. Chúng ta sẽ nói về kế hoạch này sau. Ngoài ra, Hội nghị cũng sẽ có một quyết định chuẩn bị việc kế nhiệm lãnh đạo. Đó là đề cử Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, năm nay 47 tuổi, vào Trung ương Quân Ủy hội. Trung Quốc có hai cơ chế cùng tên (Trung Quốc Quân sự Ủy viên hội), cùng thành phần nhân sự, để cùng chỉ đạo về quân sự, một cơ chế trong đảng, một cơ chế của nhà nước. Bất cứ ai lên lãnh đạo đều phải nằm trong cơ chế này để thực tế lãnh đạo quân đội. Việc Tập Cận Bình phải vào Quân ủy hội là bước cần thiết để lên thay thế Chủ tịch Hồ Cẩm Đào sau Đại hội đảng của khoá 18, sẽ triệu tập trong năm 2012. Sau Đại hội, đến 2013, Trung Quốc sẽ có lãnh đạo mới trong cơ chế đảng và nhà nước, Quốc hội và Chính phủ, v.v....
Trung Quốc đang ở vào giai đoạn chuyển giao lãnh đạo khi thế hệ thứ tư của những Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo và Uý Kiện Hành sẽ về hưu sau khi được để cử từ Đại hội 16 năm 2002.
Trong Hội nghị kỳ V, 371 Trung ương Ủy viên đề ra chủ trương của kế hoạch năm năm tới, bên trong có đường lối chánh sách kinh tế chính trị của hai năm giao thời, trước Đại hội 18.
Về các kế hoạch năm năm, ngày xưa người ta thường nói đùa rằng nếu chỉ tiêu về đinh là 50 triệu tấn thì kinh tế sản xuất ra toàn đinh 15 phân. Để sửa sai, chỉ tiêu là 500 tỷ cái đinh sẽ đẻ ra toàn... đinh đóng guốc! Sau 30 năm hoang tưởng thời Mao (1949-1979), Trung Quốc đã cải cách nhưng còn duy trì khái niệm kế hoạch năm năm, với mức khả tín cao hơn xưa mà vẫn chỉ có giá trị chỉ dẫn. Bài này không đi sâu vào chuyện đó.
Nhưng xuyên qua những phát biểu của Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo, người ta có thể dự đoán là kế hoạch năm năm tới sẽ chú ý đến phẩm hơn lượng, cụ thể là thu hẹp dị biệt về lợi tức, nâng cao phẩm chất cuộc sống của người dân, mở rộng mạnh lưới an sinh xã hội và kiểm soát được phần nào tình trạng hủy hoại môi sinh. Nếu không thì xứ này sẽ có loạn vì làn sóng bất mãn đã dâng cao. Động loạn có thể bùng nổ vì bất công xã hội hay tham nhũng, nhưng cũng có thể xảy ra vì một số thành phần tương đối no đủ đang đòi hỏi nhiều quyền tự do hơn.
Đáng chú ý hơn cả là một hiện tượng mới: xu hướng đòi hỏi tự do lại xuất phát từ trong đảng, với lời kêu gọi hy hữu là đảng còn phải tiến hành cải cách về chính trị, nếu không, xứ sở sẽ tụt hậu!
Một thí dụ là trong khi đảng đang chuẩn bị Hội nghị kỳ V thì một lá thư ngỏ đã được công bố hôm Thứ Hai 11.
Do 23 đảng viên lão thành và cán bộ cao cấp đề xướng, lá thư có chữ ký ủng hộ của hơn 500 người, trong đó 90% là đảng viên. Lá thư ngỏ được gửi cho Ban Thường vụ Quốc hội và lãnh đạo đảng với lời kêu gọi cải cách chính trị. Cụ thể là giải toả chánh sách kiểm duyệt thông tin, tăng cường tự do báo chí và cải tổ ban Tuyên truyền Trung ương.
Trong số các nhân vật đề xướng có Lý Duệ, nguyên bí thư của Mao Trạch Đông, Ủy viên Trung ương từ Khoá 12 (1982-1987) và Phó chủ tịch của một cơ chế quan trọng là Ban Tổ chức Trung ương. Ngoài Lý Duệ và nhiều nhân vật có uy tín trong hệ thống đảng, nhà nước, truyền thông, giáo dục, kinh doanh và cả quân đội, còn có Hồ Kỷ Vỹ, nguyên Tổng biên tập cơ quan thông tin chính thức của Trung ương đảng là Nhân dân Nhật báo.
Lá thư này được soạn thảo từ đầu Tháng 10, trước khi Ủy ban Nobel công bố trao giải Nobel Hoà bình 2010 cho ông Lưu Hiểu Ba vào Thứ Sáu mùng tám. Lá thư được phổ biến từ Thứ Hai 11 trên Internet, nhất là qua hệ thống truyền thông tương đối vẫn còn tự do của Hong Kong.
Đến Thứ Tư 13 thì nó gây ra một trận bão. Các tác giả lá thư yêu cầu lãnh đạo Bắc Kinh đừng quên lời cam kết cải cách chính trị ghi trong Hiến pháp năm 1982 và phê phán quyền tự do báo chí còn quá hạn chế so với báo chí Hong Kong và Ma Cao ngay dưới thời thuộc địa.
Từ ít lâu này, báo chí Hong Kong đã gặp sức ép của Bắc Kinh trong chế độ kiểm duyệt, nên lập tức quảng bá lời kêu gọi cải cách này. Tháng Tám vừa qua, cũng báo chí Hong Kong đã công bố lời phát biểu của Tướng Lưu Á Châu, nguyên Chính ủy Binh chủng Không quân và vừa lên Chính ủy Học viện Quốc phòng, trong đó ông tướng hai sao có truyền thống nói thẳng này đã kêu gọi đảng phải cải cách theo mô thức... Hoa Kỳ. Nếu không thì sẽ tiêu vong như Liên bang Xô viết.
Vì những chi tiết đó, ta nên chú ý đến lời kêu gọi của các nhân vật lão thành này.
Về bối cảnh thì ta thấy Tháng Tám vừa qua, Tổng lý Quốc vụ viện (Thủ tướng) Ôn Gia Bảo đã có chuyến "Nam du" - như Đặng Tiểu Bình năm xưa - nơi ông công khai kêu gọi phải cải cách chính trị. Kế tiếp là bài diễn văn ông đọc cuối Tháng Chín tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc ở New York với cùng lập luận. Nhưng cả hai bài diễn văn đầy tính cởi mở này đã bị bộ Tuyên truyền Trung ương của Trung ương đảng ("Trung Cộng Trung Ương Tuyên Truyền Bộ") kiểm duyệt! Trước đó, đã có tin đồn, dĩ nhiên là nhảm, rằng Thủ tướng Ôn Gia Bảo sẽ phải từ chức...
Đáng chú ý hơn là ngay sau đó, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào gián tiếp phủ nhận chuyện cải cách, trong khi Trường đảng Trung ương ("Trung Cộng Trung Ương Học Hiệu") ra tuyên cáo ủng hộ quan điểm của Ôn Tổng lý và phản bác lời phê phán của truyền thông nhà nước. Cũng vậy, Tháng Chín vừa qua, khi cựu Ngoại trưởng Đường Gia Triền, Ủy viên Trung ương đảng từ khóa 14, muốn nói lời ôn hòa với Nhật Bản thì lại bị một ông Tướng (Chu Thành Hổ) gián tiếp kê tủ đứng vào miệng!
Nghĩa là ngay trên thượng tầng đảng thì đã có nhiều dị biệt quan điểm về chính trị.
Lá thư hôm 11 châm dầu vào lửa ở trên thượng tầng khi nêu câu hỏi vì sao các đảng viên cán bộ về tuyên truyền lại dám kiểm duyệt lời phát biểu của một đồng chí lãnh đạo đứng hàng thứ nhì trong đảng là Thủ tướng Ôn Gia Bảo?
Cũng trong lá thư, các đảng viên lão thành còn nhấn mạnh đến lời yêu cầu chính là "phải bãi bỏ chế độ kiểm duyệt để thiết lập một chế độ hữu trách về luật pháp" - làm sai thì phải chịu trách nhiệm. Và rằng "trong lịch sử đảng thì không thể có những mảng bị xóa. Người dân phải có quyền biết về những quyết định sai lầm của đảng!"
Vài lý luận khác cũng đáng quan tâm.
Như "trong khi kinh tế Trung Quốc tăng trưởng mạnh thì quyền tự do ngôn luận lại tụt hậu - từ nhiều thập niên rồi!" Hoặc "trong thế giới toàn cầu hóa với mạng lưới Internet đang mở ra cơ hội trao đổi thông tin và quan điểm, chế độ kiểm duyệt có thể khiến người dân Trung Quốc đi tìm sự yểm trợ của nước ngoài để quảng bá ý kiến của mình, và đấy sẽ là một vấn đề cho quốc gia!"
Trước hiện tượng có vẻ mới lạ này, ta nên nghĩ sao?
Đầu tiên, về văn hoá thì trong xã hội Á Châu, các bậc "lão thành" đều được đa số nể nang kính trọng vì tuổi đời và kinh nghiệm. Về văn hoá chính trị, trong xã hội cộng sản thì các đồng chí lão thành này đã ra ngoài vòng đỉnh chung - khỏi cần tranh giành quyền lực hay quyền lợi. Và nhiều người lên tiếng thực ra cũng đã có vị trí no đủ về vật chất và uy tín về thành tích. Họ không còn sợ gì nữa nên dám nói ra những điều nhạy cảm về chính trị.
Chuyện ấy, thật ra cũng dễ hiểu, y như sự kiện là sau khi hết quyền lực và về hưu rồi, họ mới dám nói ra những sự thật mà bản thân đã biết từ lâu, từ trước.
Cũng về văn hóa, Trung Quốc không có truyền thống của loại xã hội dân sinh, nơi mà người dân có quyền nêu vấn đề về kinh tế hay chính trị với chính quyền hay triều đình ở trên. Dưới chế độ Cộng sản, quyền lực lại tập trung vào trong tay một thiểu số, với cái thế quân bình hay đối trọng không được công khai hóa giữa các cơ chế có thẩm quyền. Cái gọi là "dân chủ trong đảng" chỉ là một tấm kính mờ, mờ ảo và nhiều khi mờ ám.
Vì vậy, đảng viên phụ trách về tuyên truyền có thể nhảy qua kiểm duyệt lời phát biểu của đảng viên phụ trách về bộ máy nhà nước, dù là một đảng viên lãnh đạo, ủy viên Bộ Chính trị, cầm đầu Quốc vụ viện là Hội đồng Chính phủ!
Về kinh tế thì 30 năm sau cải cách, chiến lược phát triển của đảng đã đi hết sự vận hành của nó và bắt đầu gặp giới hạn. Đó là hàng loạt vấn đề kinh tế xã hội như lương bổng, nhà cửa, phúc lợi y tế, việc làm, giá lương thực, môi sinh bị ô nhiễm, hay nạn tham nhũng vô tội vạ của các đảng viên cán bộ cường hào ác bá, v.v...
Thế hệ lãnh đạo như Hồ Cẩm Đào thì thấy ra vấn đề và muốn cải cách. Họ muốn tái phân lợi tức cho các thành phần và địa phương cùng khốn để san bằng dị biệt về lợi tức và nhận thức, nhưng lại gặp sự cản trở của các đảng bộ địa phương. Vì vậy họ mới muốn tập trung quyền lực vào trung ương và dùng việc thanh trừng tham nhũng cho mục tiêu ấy.
Nếu không cải cách về kinh tế và xã hội thì khủng hoảng sẽ dội ngược lên chính trị, và quyền lực cùng lẽ chính danh của đảng bị đe dọa. Nhưng tập trung quyền lực về trung ương cũng có thể dẫn tới hậu quả bất ngờ là quân mình đánh quân ta: ban tuyên truyền trung ương đòi bịt miệng thủ tướng!
Các quốc gia Đông Á đã cải cách kinh tế theo xu hướng tự do đều đi qua giai đoạn này. Họ chủ động cải cách chính trị cho thông thoáng rồi dân chủ hơn, như trường hợp Đài Loan, Nam Hàn hay nhiều nước Đông Nam Á. Đảng Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam không thể tự ý cải cách như vậy và đang lâm bế tắc.
Lên cầm quyền từ Đại hội khoá 16, năm 2002, thế hệ lãnh đạo thứ tư chỉ còn hai năm để hoàn tất nhiệm vụ trước khi chuyển quyền cho thế hệ thứ năm như Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường hay Bạc Hy Lai. Họ đã hụt cơ hội cải cách rộng lớn từ năm 2008 vì nạn Tổng suy trầm toàn cầu và còn chưa đầy hai năm là sẽ ra đi. Trong thời gian ngắn ngủi ấy, họ không thể ban hành cải cách về kinh tế, chưa nói gì về chính trị, vì những biến động xảy ra sẽ để lại một di sản tai hại cho tên tuổi trong lịch sử.
Nhưng chính là việc trì hoãn cho an toàn này lại thiếu an toàn vì sức ép kinh tế đã dội lên chính trị trong một thế giới đang có những thay đổi lớn cũng từ vụ tổng suy trầm 2008-2009 mà ra.
Và trong nội bộ, cách thẩm định về rủi ro chính trị cũng có khác biệt.
Một số người thì cho rằng phải cấp tốc cải cách cả kinh tế lẫn chính trị, nếu không thì sẽ quá trễ. Một số người khác thì nhắc đến kinh nghiệm Gorbachev khi cải cách cả kinh tế (perestroika) lẫn chính trị (glasnost) làm Liên Xô tan rã! Họ chỉ thống nhất quan điểm về một chuyện: làm sao bảo vệ được quyền lực của đảng trong khúc quanh nguy hiểm này.
Chính là để giải nguy, người ta mới nghĩ đến một thủ thuật chính trị. Đó là gây ấn tượng.
Phải gây ấn tượng là đảng ta đã thấy vấn đề, đang thảo luận về yêu cầu cải cách để tiến tới một hình thái kinh tế công bằng, xã hội cởi mở và chính trị minh bạch hơn. Họ phả ra một chút hy vọng thay đổi cho người dân bớt nóng ruột và đừng bất mãn. Rồi tùy khả năng của từng nơi mà kín đáo thi hành một số cải cách theo kiểu "thí điểm" để rút tỉa kinh nghiệm sẽ áp dụng sau Đại hội 18.
Nhưng, người dân có kiên nhẫn được như vậy không? Và "lộng giả thành chân" cũng là một quy luật chính trị của hiện tượng ra gọi là "hậu quả bất lường". Chúng ta nên theo dõi chuyện này. Trong những kỳ sau, chúng ta sẽ điểm mặt lãnh đạo tương lai của Trung Quốc, để xem là họ sẽ xoay trở thế nào với hệ thống kinh tế chính trị.
Điều đó cũng có thể soi sáng một vấn đề nóng là việc bành trướng ra ngoài có khi làm banh ruột ở trong..
NGUYỄN XUÂN NGHĨA
Câu chuyện con Thiên nga Đen
Bùi Tín.
Mấy ngày nay dư luận toàn cầu xôn xao về chuyện Bắc Triều Tiên đang chuẩn bị thử bom hạt nhân. Ảnh vệ tinh cho thấy những hoạt động khác thường xung quanh căn cứ Punggye Ri trong tỉnh Bắc Hamgyong, nơi đã diễn ra cuộc thử thứ nhất – năm 2006, và cuộc thử thứ hai – năm 2009. Cái chế độ cộng sản độc đảng còn sót lại này có kiểu xử sự không giống ai.
Họ cứ rêu rao thử bom hạt nhân mỗi khi muốn lên gân dọa nạt dân trong nước và làm giá cao với thế giới, khi thì muốn ăn vạ, mặc cả với thế giới để vòi vĩnh viện trợ cho không.
Hai lần trước, sau khi tiến hành thử nghiệm hạt nhân, Bình Nhưỡng úp mở không hề nói kết quả thử ra sao, bom to hay nhỏ, nhưng đều gián tiếp chịu ngừng thử để được nhận 2 triệu tấn lương thực và 2 triệu tấn dầu thô cho các nhà máy cạn dầu và cho hàng hàng chục triệu bụng dân đói.
Lần này, cảm thấy lòng dân, binh sỹ, nội bộ đảng cầm quyền không yên khi lãnh tụ Kim Jong Il phong cho con thứ 3 mới 27 tuổi cùng cô em gái làm đại tướng 4 sao, thấy cả thế giới đàm tiếu về chuyện nhố nhăng này, cho đến ông bạn láng giềng lớn cũng lúng túng khó xử, chế độ Bắc Triều Tiên lại dở ra chuyện thử bom hạt nhân để dọa dân họ và làm giá để thương lượng với thế giới.
Lần này thì công luận quốc tế rất lo âu. Một số báo lớn ở Hoa Kỳ, Đức, Anh, Pháp…cho rằng đây không phải là chuyện nhỏ, không thể coi thường được.
Một số nhà bình luận nổi tiếng nhất nhắc đến lý luận và hiện tượng Thiên nga đen – Theory and Event of Black Swan – để bàn luận về bom hạt nhân của Bắc Triều Tiên.
Trong các Bách khoa Toàn thư, từ điển Wipikedia mấy năm nay xuất hiện danh từ kép Thiên nga đen, với định nghĩa và dẫn chứng ngày càng phong phú.
Nội dung chính của Thiên nga đen là để chỉ một hiện tượng cực kỳ hy hữu, đơn lẻ, rất khó phán đoán và báo trước, bất ngờ xảy ra thật, rồi biến mất.không theo một quy luật nào cả.
Hiện tượng như thế có thể diễn ra cả trong chính trị, kinh tế, tàì chính, nghệ thuật…Các nhà nghiên cứu cho rằng việc bùng nổ Thế chiến I năm 1914, cuộc khủng bố 11-9-2001, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu mới đây là những hiện tượng Thiên nga đen.
Sở dĩ đặt ra cái tên ngộ nghĩnh Thiên nga đen vì từ thượng cổ đến nay, đã là thiên nga thì đều là thiên nga lông trắng toát hoặc lông màu hồng nhạt. Đã có biết bao bài thơ văn, điệu múa, bài nhạc tả con Thiên nga, bầy Tuyết nga hay bầy Hồng nga làm đẹp cho cuộc sống văn hóa của thế giới.
Thế mà hồi thế kỷ 17, vào năm 1697 một con thiên nga lông đen nhánh xuất hiện ở một địa điểm phía tây của nước Úc, để lại vết tích rõ ràng, rồi biến mất.
Năm 2007 nhà văn kiêm triết gia người gốc Li Băng Nassim Nicholas Taleb (sinh năm 1960) viết một cuốn sách dày bàn về lý luận và hiện tượng Thiên nga đen, rât được chú ý.
Dư luận thế giới gần đây không phải chỉ bàn về những cuộc thử bom hạt nhân của Bắc Triều Tiên, mà vấn đề lớn hơn, đó là sự sụp đổ của chế độ đảng trị kỳ quặc ở nước đó, được ví như hiện tượng Thiên nga đen có khả năng xảy ra trong thời gian sắp tới.
Rất khó phỏng đoán nó sẽ xảy ra bao giờ, và như thế nào. Đây là 2 vấn đề thách đố các nhà bình luận chính trị quốc tế, xem ai có những dự cảm và dự đoán gần với sự thật sẽ xảy ra nhất.
Trong những chế độ mang danh Cộng sản còn sót lại ở Trung Quốc, Việt Nam, Cuba và Bắc Triều Tiên thì Bắc Triều Tiên là mong manh nhất. Nhưng nó sẽ sụp đổ bao giờ thì thật khó phỏng đoán.
Đã có một số dự đoán nó sẽ sụp đổ như thế nào.
Hoặc là khi những «con đê công an, cảnh sát và quân đội» ngăn chặn những dòng người như nước lũ, bị vỡ, hàng triệu nhân dân đói khổ, bất mãn, tràn xuống phía Nam, tràn qua giới tuyến quân sự, vì sức hút tự do, no ấm của Nam Triều Tiên là không có gì cản nổi. Miền Nam có dân chủ, có nhân quyền, có tự do báo chí, tư do tôn giáo. Thu nhập tính theo đầu người trong năm qua của Nam Triều Tiên cao gấp 15 lần Bắc TriềuTiên (27.000 đôla /1.800 đôla).
Nhưng sự kiện như thế có dễ dàng, thuận lợi hay không? Ngay nhà cầm quyền và nhân dân Nam Triều Tiên có trông đợi một diễn biến như thế không? Chế độ Nam Triều Tiên có thừa cơ hội như thế để thống nhất đất nước không? Hay là họ ngần ngại vì nhiều lẽ, sẽ là một gánh nặng ghê gớm, kéo lùi sự phát triển của Nam Triều Tiên xuống hàng chục năm, như ở nước Đức sau khi thống nhất? Phản ứng của Trung Quốc, của Mỹ, của Nhật Bản khi xảy ra sự kiện trên sẽ ra sao? thái độ các nước châu Á, thế giới và Liên Hợp Quốc sẽ như thế nào? Tình hình sẽ ngả ngũ ra sao?
Hoặc là khi sự đói khổ đạt đến tận cùng, lũ lụt, hạn hán, mất mùa, chết đói hàng loạt, sự bất mãn của dân chúng lên đến cao điểm, dân miền Bắc Triều Tiên theo hướng phía Bắc rủ nhau tràn qua sông Áp Lục, như từng tràn qua hàng chục năm nay, vào đất Đông bắc Trung Quốc và cả phía Đông của nước Nga, không phài hàng vạn mà hàng triệu con người, vì dù sao ở đó cũng dễ thở hơn, no ấm hơn. Khi ấy Trung Quốc có sẽ tận dụng thời cơ để bành trướng và thôn tính Bắc Triều Tiên không? Và thái độ Nam Triều Tiên, Mỹ, Nhật Bản, nước Nga và các nước khác sẽ ra sao?
Còn đối với nhà máy hạt nhân và cơ sở sản xuất bom hạt nhân của Bắc Triều Tiên sẽ ra sao? ai sẽ quyết định số phận của chúng, ai sẽ kiểm soát và chiếm lĩnh? Có thể xảy ra xung đột, va chạm quyền lợi giữa những nước nào? và sẽ ngả ngũ ra sao?
Và ngay trước mắt, nếu như Bắc Triều Tiên vẫn cứ ngang ngược thử nghiệm hạt nhân lần thứ ba, kiện toàn bom hạt nhân thì sẽ bị trừng phạt ra sao? nhất là cậu «Ủn» từng liều lĩnh lái xe Mercedès khi lên 7, nốc rựơu mạnh khi lên 10 và và cô «Huổi» từng bướng bỉnh cải lời cha và lãnh tụ tôi cao trong chuyện lấy chồng, nay đã là đại tướng 4 sao nắm vận mệnh quốc gia, với bom hạt nhân trong tay, an ninh thế giới gặp nguy cơ không nhỏ, và thế giới sẽ phản ứng cụ thể ra sao đây?
Đây đúng là một con Thiên nga đen. Hy hữu, khó dự đoán được rõ cho mọi trường hợp, nhưng vẫn có thể xảy ra rất bất ngờ, chưa ai dự đoán được cụ thể diễn biến, kéo dài và kết thúc như thế nào.
Một vấn đề nóng bỏng của thế giới, liên quan đến an ninh mọi nước, mọi người, rất mong được các nhà bình luận dày dạn kinh nghiệm lên tiếng luận bàn cho ra lẽ. ( VOA )
Bùi Tín.
Mấy ngày nay dư luận toàn cầu xôn xao về chuyện Bắc Triều Tiên đang chuẩn bị thử bom hạt nhân. Ảnh vệ tinh cho thấy những hoạt động khác thường xung quanh căn cứ Punggye Ri trong tỉnh Bắc Hamgyong, nơi đã diễn ra cuộc thử thứ nhất – năm 2006, và cuộc thử thứ hai – năm 2009. Cái chế độ cộng sản độc đảng còn sót lại này có kiểu xử sự không giống ai.
Họ cứ rêu rao thử bom hạt nhân mỗi khi muốn lên gân dọa nạt dân trong nước và làm giá cao với thế giới, khi thì muốn ăn vạ, mặc cả với thế giới để vòi vĩnh viện trợ cho không.
Hai lần trước, sau khi tiến hành thử nghiệm hạt nhân, Bình Nhưỡng úp mở không hề nói kết quả thử ra sao, bom to hay nhỏ, nhưng đều gián tiếp chịu ngừng thử để được nhận 2 triệu tấn lương thực và 2 triệu tấn dầu thô cho các nhà máy cạn dầu và cho hàng hàng chục triệu bụng dân đói.
Lần này, cảm thấy lòng dân, binh sỹ, nội bộ đảng cầm quyền không yên khi lãnh tụ Kim Jong Il phong cho con thứ 3 mới 27 tuổi cùng cô em gái làm đại tướng 4 sao, thấy cả thế giới đàm tiếu về chuyện nhố nhăng này, cho đến ông bạn láng giềng lớn cũng lúng túng khó xử, chế độ Bắc Triều Tiên lại dở ra chuyện thử bom hạt nhân để dọa dân họ và làm giá để thương lượng với thế giới.
Lần này thì công luận quốc tế rất lo âu. Một số báo lớn ở Hoa Kỳ, Đức, Anh, Pháp…cho rằng đây không phải là chuyện nhỏ, không thể coi thường được.
Một số nhà bình luận nổi tiếng nhất nhắc đến lý luận và hiện tượng Thiên nga đen – Theory and Event of Black Swan – để bàn luận về bom hạt nhân của Bắc Triều Tiên.
Trong các Bách khoa Toàn thư, từ điển Wipikedia mấy năm nay xuất hiện danh từ kép Thiên nga đen, với định nghĩa và dẫn chứng ngày càng phong phú.
Nội dung chính của Thiên nga đen là để chỉ một hiện tượng cực kỳ hy hữu, đơn lẻ, rất khó phán đoán và báo trước, bất ngờ xảy ra thật, rồi biến mất.không theo một quy luật nào cả.
Hiện tượng như thế có thể diễn ra cả trong chính trị, kinh tế, tàì chính, nghệ thuật…Các nhà nghiên cứu cho rằng việc bùng nổ Thế chiến I năm 1914, cuộc khủng bố 11-9-2001, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu mới đây là những hiện tượng Thiên nga đen.
Sở dĩ đặt ra cái tên ngộ nghĩnh Thiên nga đen vì từ thượng cổ đến nay, đã là thiên nga thì đều là thiên nga lông trắng toát hoặc lông màu hồng nhạt. Đã có biết bao bài thơ văn, điệu múa, bài nhạc tả con Thiên nga, bầy Tuyết nga hay bầy Hồng nga làm đẹp cho cuộc sống văn hóa của thế giới.
Thế mà hồi thế kỷ 17, vào năm 1697 một con thiên nga lông đen nhánh xuất hiện ở một địa điểm phía tây của nước Úc, để lại vết tích rõ ràng, rồi biến mất.
Năm 2007 nhà văn kiêm triết gia người gốc Li Băng Nassim Nicholas Taleb (sinh năm 1960) viết một cuốn sách dày bàn về lý luận và hiện tượng Thiên nga đen, rât được chú ý.
Dư luận thế giới gần đây không phải chỉ bàn về những cuộc thử bom hạt nhân của Bắc Triều Tiên, mà vấn đề lớn hơn, đó là sự sụp đổ của chế độ đảng trị kỳ quặc ở nước đó, được ví như hiện tượng Thiên nga đen có khả năng xảy ra trong thời gian sắp tới.
Rất khó phỏng đoán nó sẽ xảy ra bao giờ, và như thế nào. Đây là 2 vấn đề thách đố các nhà bình luận chính trị quốc tế, xem ai có những dự cảm và dự đoán gần với sự thật sẽ xảy ra nhất.
Trong những chế độ mang danh Cộng sản còn sót lại ở Trung Quốc, Việt Nam, Cuba và Bắc Triều Tiên thì Bắc Triều Tiên là mong manh nhất. Nhưng nó sẽ sụp đổ bao giờ thì thật khó phỏng đoán.
Đã có một số dự đoán nó sẽ sụp đổ như thế nào.
Hoặc là khi những «con đê công an, cảnh sát và quân đội» ngăn chặn những dòng người như nước lũ, bị vỡ, hàng triệu nhân dân đói khổ, bất mãn, tràn xuống phía Nam, tràn qua giới tuyến quân sự, vì sức hút tự do, no ấm của Nam Triều Tiên là không có gì cản nổi. Miền Nam có dân chủ, có nhân quyền, có tự do báo chí, tư do tôn giáo. Thu nhập tính theo đầu người trong năm qua của Nam Triều Tiên cao gấp 15 lần Bắc TriềuTiên (27.000 đôla /1.800 đôla).
Nhưng sự kiện như thế có dễ dàng, thuận lợi hay không? Ngay nhà cầm quyền và nhân dân Nam Triều Tiên có trông đợi một diễn biến như thế không? Chế độ Nam Triều Tiên có thừa cơ hội như thế để thống nhất đất nước không? Hay là họ ngần ngại vì nhiều lẽ, sẽ là một gánh nặng ghê gớm, kéo lùi sự phát triển của Nam Triều Tiên xuống hàng chục năm, như ở nước Đức sau khi thống nhất? Phản ứng của Trung Quốc, của Mỹ, của Nhật Bản khi xảy ra sự kiện trên sẽ ra sao? thái độ các nước châu Á, thế giới và Liên Hợp Quốc sẽ như thế nào? Tình hình sẽ ngả ngũ ra sao?
Hoặc là khi sự đói khổ đạt đến tận cùng, lũ lụt, hạn hán, mất mùa, chết đói hàng loạt, sự bất mãn của dân chúng lên đến cao điểm, dân miền Bắc Triều Tiên theo hướng phía Bắc rủ nhau tràn qua sông Áp Lục, như từng tràn qua hàng chục năm nay, vào đất Đông bắc Trung Quốc và cả phía Đông của nước Nga, không phài hàng vạn mà hàng triệu con người, vì dù sao ở đó cũng dễ thở hơn, no ấm hơn. Khi ấy Trung Quốc có sẽ tận dụng thời cơ để bành trướng và thôn tính Bắc Triều Tiên không? Và thái độ Nam Triều Tiên, Mỹ, Nhật Bản, nước Nga và các nước khác sẽ ra sao?
Còn đối với nhà máy hạt nhân và cơ sở sản xuất bom hạt nhân của Bắc Triều Tiên sẽ ra sao? ai sẽ quyết định số phận của chúng, ai sẽ kiểm soát và chiếm lĩnh? Có thể xảy ra xung đột, va chạm quyền lợi giữa những nước nào? và sẽ ngả ngũ ra sao?
Và ngay trước mắt, nếu như Bắc Triều Tiên vẫn cứ ngang ngược thử nghiệm hạt nhân lần thứ ba, kiện toàn bom hạt nhân thì sẽ bị trừng phạt ra sao? nhất là cậu «Ủn» từng liều lĩnh lái xe Mercedès khi lên 7, nốc rựơu mạnh khi lên 10 và và cô «Huổi» từng bướng bỉnh cải lời cha và lãnh tụ tôi cao trong chuyện lấy chồng, nay đã là đại tướng 4 sao nắm vận mệnh quốc gia, với bom hạt nhân trong tay, an ninh thế giới gặp nguy cơ không nhỏ, và thế giới sẽ phản ứng cụ thể ra sao đây?
Đây đúng là một con Thiên nga đen. Hy hữu, khó dự đoán được rõ cho mọi trường hợp, nhưng vẫn có thể xảy ra rất bất ngờ, chưa ai dự đoán được cụ thể diễn biến, kéo dài và kết thúc như thế nào.
Một vấn đề nóng bỏng của thế giới, liên quan đến an ninh mọi nước, mọi người, rất mong được các nhà bình luận dày dạn kinh nghiệm lên tiếng luận bàn cho ra lẽ. ( VOA )

