Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Mùa Thu Ở Trại Sikew

Trần Trung Đạo


Boston hôm nay trời mưa. Mùa thu đang qua trên thành phố. Lá rơi đầy trên con đường nhỏ và nhiều nhất là trên bãi đậu xe bên hông nhà. Nhìn ra vườn tôi chợt nghĩ đến một cuối tuần bận rộn đang chờ đợi và những việc phải làm để tiễn đưa đám lá vàng khô đi theo luật tuần hoàn của vũ trụ.

Tôi đã đến với nhiều mùa thu trên nước Mỹ nhưng mùa thu New England với tôi vẫn là mùa thu đẹp nhất. Mỗi năm hàng trăm ngàn người đổ về các tiểu bang miền Đông Bắc chỉ để xem lá vàng. Hầu hết khách sạn thường được giữ chỗ từ nhiều tháng trước. Dân chúng trong các khu vực quanh hồ Winnipesaukee hay vùng ven núi White Mountain ở New Hampshire và Washington Mountain ở Vermont lại có dịp sửa soạn nhà cửa để cho du khách mướn. Thật vậy. Khi đứng trên đỉnh Loon Mountain nhìn xuống mặt hồ thu phản chiếu những cánh rừng phong đỏ rực, dù một người có tâm hồn khô khan, chai đá bao nhiêu cũng không khỏi nghe lòng dâng lên một niềm xúc cảm đầy thi vị. Đó là phút hồi sinh của mối tình đầu để nghe lòng khe khẻ hát “người ngỡ đã đi xa nhưng người vẫn quanh đây”.

Mùa thu là mùa của thi ca, là nguồn cảm hứng cho bao nhiêu bài thơ tình tuyệt vời của nhiều thi sĩ. Hai câu thơ “Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô” có thể là tưởng tượng của nhà thơ Lưu Trọng Lư nhưng ở Vermont là chuyện rất thường xảy ra vào mỗi đầu tháng Mười. Có khi xe phải dừng lại một đoạn khá dài để chờ cho cặp tình nhân nai chầm chậm dẫm lên trên xác lá băng qua đường. Phải chăng vì những gì đẹp nhất thường dễ tàn phai nên mùa thu thường được đưa vào văn chương gắn liền với những hạnh phúc vội vàng và chia ly tan nát.

Mười tám năm trước tôi có viết một bài thơ về mùa thu:

Một chiếc lá vừa rơi trên nấm mộ
Thu đã về rồi đó phải không em?

Thoạt nghe như mang âm hưởng của Đinh Hùng trong “Trời cuối thu rồi em ở đâu/Nằm trong đất lạnh chắc em sầu“. Nhưng không phải. Tôi không viết cho một người tình mà viết về một cô gái không quen, 26 tuổi, đã sống, chịu đựng và chết trong một hoàn cảnh vô cùng thương tâm ở trại Sikew Thái Lan.

Tôi nhắc đến mùa thu chỉ vì đó thời điểm tôi viết bài thơ và cũng vì tên em là Thu Cúc, Hoàng Thị Thu Cúc. Ba của em là một cựu công chức chính quyền Việt Nam Cộng Hòa bị tù và chết trong tù. Em dắt bốn người em và một người cháu vượt biên sang Thái Lan. Cuối năm 1992, gia đình em bị từ chối quyền tỵ nạn chính trị. Phẫn uất trước quyết định quá phũ phàng của Cao Ủy, em treo cổ tự tử. Tấm hình em nằm bên cạnh cuộn dây đã được nhiều báo Pháp đăng và câu chuyện cũng đã được các hãng tin quốc tế gởi đi từ Bangkok.

Các trại chính tại Thái Lan gồm có Banthad, Learn Sing, Phanat Nikhom, Sikew, Phanat Nikhom, Songkhla. Trong lúc trại tại các quốc gia khác, đồng bào tỵ nạn là những thuyền nhân đúng với định nghĩa, đồng bào tỵ nạn tại Thái Lan bao gồm một số không ít đã vượt biên bằng đường bộ qua ngã Campuchia. Tôi không biết Thu Cúc và các em đến Thái bằng ngã nào. Nói đến Thái Lan là nói đến thảm cảnh hải tặc đã và đang ám ảnh trong tâm trí của nhiều đồng bào bất hạnh. Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, mỗi ghe tỵ nạn trong hải lộ từ Việt Nam vào vịnh Thái Lan đã bị hải tặc tấn công trung bình 3.2 lần. Cao Ủy Liên Hiệp Quốc ghi nhận 881 vụ hảm hiếp. Tuy nhiên con số đó như chúng ta biết chỉ là con số rất nhỏ so với thực tế bi thảm mà đồng bào ta đã gánh chịu.

Những năm đầu của thập niên 90, tôi và bạn bè sinh hoạt trong phong trào Chống Cưỡng Bách Hồi Hương ở Mỹ để yểm trợ đồng bào đang chống cưỡng bách hồi hương ở các trại tỵ nạn. Chúng tôi không phải là hội đoàn hay tổ chức gì mà chỉ là một nhóm nhỏ từ VietNet và các tổng hội sinh viên. Công việc chính của chúng tôi là quyên tiền cho các trại qua hình thức các buổi đi bộ phần lớn do LAVAS tổ chức, cho các cơ quan đang giúp đồng bào làm hồ sơ tỵ nạn và gởi thư đến chính giới của nhiều nước kêu gọi họ tiếp tục nhận người tỵ nạn Việt Nam. Chúng tôi thường đặt bàn ở các chợ để phân phối tài liệu về các thảm cảnh đang diễn ra cho số phận hàng trăm ngàn đồng bào đang chờ thanh lọc ở các trại Đông Nam Á.

Những cố gắng của chúng tôi chỉ là những hạt nước nhỏ, không thay đổi được gì. Rất nhiều đồng bào ở các trại Sikew, Galang, Pulau Bidong, Whitehead phẫn uất và đã chọn cách phản đối trong tuyệt vọng. Một Hoàng Thị Thu Cúc ở Sikew, 26 tuổi, treo cổ, một Lâm Hoàng Mạnh ở Pulau Bidong, 22 tuổi, nhảy xuống vực sâu, và cũng có trường hợp đáng thương hơn như em Lưu Thị Hồng Hạnh chỉ mới 16 tuổi trong diện không thân nhân đã tự thiêu.

Nhân loại có nhiều cách sống nhưng có lẽ trên thế giới này không có một dân tộc nào lại có nhiều cách chết hơn dân tộc Việt Nam.

Tôi hay nghĩ đến đến những chịu đựng, những cách chết thương tâm của đồng bào mình trong một giai đoạn lịch sử đầy biến cố. Đất nước chúng ta có một thời như thế. Một thời, hàng triệu người Việt Nam đã phải bỏ lại sau lưng những gì mình trân quý nhất để ra đi tìm tự do. Một thời, những bài ca không còn được phép hát lên thay cho lời tỏ tình của những kẻ mới yêu nhau. Một thời, những bài thơ không còn được khắc lên hàng phượng đỏ trong sân trường làm chứng tích cho mối tình học trò đầy kỷ niệm. Một thời những căn nhà thân yêu đã bị thay đổi chủ và những trường học, những con đường thân quen đã bị đổi thay tên.

Trên website của tôi, bên cạnh bài thơ Vĩnh Biệt Em, Thu Cúc, là bức hình bốn người em ruột và một người cháu đang ngồi chung quanh thi hài đắp vải trắng của Thu Cúc. Chiếc dây đã được tháo khỏi cổ ra nhưng vẫn còn đặt bên cạnh em. Cả gia đình ngồi chung quanh em trong căn phòng đầy bóng tối. Không một ai nói lời nào. Bến bờ tự do còn quá xa xôi nhưng cánh chim đầu đàn vừa trúng đạn. Vách đá vô tri. Lời than vô nghĩa. Ngôn ngữ dù phong phú bao nhiêu cũng không thể nào tả được nỗi đau thương của các em lúc đó.

Mười tám năm sau.

Cách đây không lâu, một độc giả viết vào mục ý kiến bằng tiếng Anh phía dưới bài thơ. Tôi xin dịch ra tiếng Việt: “Tôi đánh tên của chị tôi trong Google và tìm được bài thơ này, và cũng thấy hình của 3 người anh, tôi, và cháu trai. Tôi cảm thấy thật buồn. Đó là ngày buồn nhất trong đời. Tôi sẽ không bao giờ quên ngày đó. Cám ơn ông Trần Trung Đạo, người đã viết bài thơ để san sẻ với hương hồn của chị tôi và san sẻ với chúng tôi về cái ngày khủng khiếp trong cuộc đời của chúng tôi. Tôi sẽ thương, sẽ nghĩ về và sẽ không bao giờ quên chị cho đến cuối đời mình. Tất cả gia đình tôi hiện đang sống ở Mỹ (tiểu bang Maryland). Tôi là người ngồi thứ hai từ phía trái và bà con trong trại ngày đó gọi tôi là CuBi”.

Tôi rất mừng khi đọc được ý kiến của CuBi. Hoàng Thị Thu Cúc đã chết trên đất Thái xa xôi để lại bốn người em trong đó có CuBi, ngày đó còn rất nhỏ. Chết là thách thức, võ khí và hy vọng cuối cùng của một con người trước hoàn cảnh. Em chọn cái chết, có thể một phần, vì nghĩ rằng chỉ với cách đó Cao Ủy mới chấp thuận cho các em của em được định cư. Thu Cúc nghĩ đúng, gia đình còn lại sau đó đã được công nhận quy chế tỵ nạn như CuBi đã viết dù đã trả bằng một giá quá đắt.

Đúng, sai, nên, không nên đều chỉ là những phán xét của hôm nay và vô nghĩa đối với những người ngày đó đang quằn quại trong vực thẳm.

Cám ơn Hoàng Thị Thu Cúc. Thân xác em như chiếc lá thu ngoài sân trại tỵ nạn Sikew ngày nào, đang hòa tan vào trong lòng đất nhưng cũng từ nơi đó những bụi Cúc vàng xinh đẹp và đầy hy vọng cho tương lai sẽ vươn lên.

Trần Trung Đạo

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Nhỏ mà không học lớn làm MC
Saturday, 23 October 2010


(Thương tặng các bạn trong diễn đàn Ô Thước) Câu nói đùa này không biết nhập vào đầu tôi từ bao giờ mà mỗi lần nghe thiên hạ bàn chuyện gẫu về MC tức người dẫn chương trình, nó lập tức bật ra khiến tôi tự cười thầm. Chúng ta biết, làm một MC (Master of Ceremonies), Emcee, không phải dễ và đơn giản; trở thành một MC giỏi, nổi tiếng và thành công còn khó hơn.

Tôi xin thu hẹp phạm vi bài viết này trong khu vực hải ngoại hơn là trong nước vì tôi đang sống ở hải ngoại.

Một buổi sáng cuối tuần, bạn bè tôi cùng nhau họp mặt vì có một người từ Việt Nam mới qua chơi. Chúng tôi đang chuyện trò, bỗng chú ý đến một chương trình truyền hình trực tiếp liên quan tới một tiếp viên hàng không của hãng JetBlue. Anh Steven Slater, tiếp viên hàng không Mỹ nổi điên và chửi hành khách, rồi trượt ra ngoài theo máng thoát hiểm. Câu chuyện của anh bùng nổ và trở thành một hiện tượng trên mạng. Người dẫn chương trình phỏng vấn các hành khách và có người phê bình anh Steven quá thô lỗ.

Người bạn trong nước qua chơi đang coi bỗng phán lên một câu: “Tại sao ở Mỹ người ta trả lời phỏng vấn hay như vậy, nghe thiệt là sướng. Người trả lời phỏng vấn là một thường dân mà ăn nói trên TV như một xướng ngôn viên chuyên nghiệp. Trong khi ở Việt Nam, có nhiều chương trình phỏng vấn trên TV, người dẫn chương trình cũng như người được phỏng vấn ăn nói rất là rề rà, lục cục không thông suốt.”

Thế là câu chuyện vòng quanh hai chữ MC nổ như bắp rang.

Câu chuyện lan man bắt đầu từ cái gốc của ngôn ngữ. Một anh bạn cho rằng Anh ngữ trong đối thoại nghe trôi chảy hơn, tiếng Việt nghe lục cục, giựt giựt, lại thiếu mạch lạc, thiếu từ vựng. Có lẽ vì tiếng Việt đơn âm, tiếng Anh đa âm, vả lại phong cách Việt không hợp cho “ngôn ngữ nói”. Anh dẫn chứng rằng, cứ để ý trên các chương trình của Paris by Night hay Asia, sẽ thấy các ca sĩ trả lời bằng tiếng Anh thường nói lưu loát, ngon lành hơn các ca sĩ trả lời bằng tiếng Việt dù khả năng Anh ngữ của họ chắc chắn không bằng khả năng Việt ngữ của người kia. Hay nếu ta phỏng vấn một người cán sự xã hội Việt Nam, bằng tiếng Việt, về chuyện Việt Nam và một người cán sự xã hội Mỹ bằng tiếng Anh, chuyện xứ Hoa Kỳ, thì có nhiều khả năng là người cán sự Mỹ sẽ trả lời đâu ra đó thông suốt hơn người Việt. Cũng như một người lãnh đạo Việt Nam đọc diễn văn sẽ không hay bằng một nhà lãnh đạo Mỹ, dù không xét đến nội dung.

Sau khi phân tích vấn đề bắt nguồn từ giọng nói và cấu trúc ngôn ngữ Việt, một anh khác nêu lên yếu tố giáo dục và văn hoá.

Trong nghệ thuật hùng biện, nói năng trước công chúng (public speaking), khả năng của người mình còn kém. Người phỏng vấn hay được (bị) phỏng vấn thường không quen tiếp xúc với đám đông nên nhút nhát, thiếu bình tĩnh, vụng về, lúng túng. Kỹ năng này phải được tập luyện trong trường lớp từ cấp nhỏ đến cấp đại học. Tôi thấy ở Mỹ các em nhỏ học tiểu học, mới từ lớp 1 đã rất dạn dĩ trong các buổi trình diễn kịch, múa, hát cuối năm, nói gì đến thanh thiếu niên ở cấp trung học và đại học. Học sinh trung học phải tập luyện khả năng hùng biện trước công chúng hầu như mỗi ngày trong các môn học, vì các em phải giới thiệu cũng như trình bày (presentation) bài làm của mình hay làm chung với nhóm mình trước mặt giáo viên và bạn học. Do đó khi qua cái cầu trung học, người dân Mỹ đã có khả năng nói chuyện trước công chúng. Ở cấp đại học còn có những lớp dạy về hùng biện (speach) mà sinh viên có thể học như môn nhiệm ý hay môn học tổng quát nên chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy người Mỹ tỏ ra rất tự nhiên khi tiếp xúc với đám đông.

Hơn nữa, lối giáo dục của người Mỹ không chuộng từ chương, lại khuyến khích học sinh phát biểu cảm tưởng của mình nên các em không e ngại khi giơ tay phát biểu ý kiến riêng của mình. Tự do ngôn luận khiến con người không bị cái cảm giác sợ sệt, e ngại khi cần nói bất cứ điều gì. Việt Nam ta còn có câu “Trước khi nói hãy uốn lưỡi 7 lần”. Suy nghĩ và uốn lưỡi kỹ lưỡng như thế xong, thì hết cả muốn nói! Sống trong một xã hội tự do ngôn luận bị cấm đoán, con người khi đối diện trước công chúng, nói năng thất thố có thể đi tù như chơi. Vạ miệng đôi lúc sẽ là tai hoạ không ai biết trước được, vì thế tinh thần dân chủ ảnh hưởng luôn cả đến khả năng tranh luận của công dân trong một nước.

Điều này minh chứng rõ khi chúng ta thử quan sát một cuộc phỏng vấn tay đôi hay một cuộc tranh luận bàn tròn dăm ba người. Các chính khách của ta nói chuyện rất rề rà, không có lửa, thiếu thu hút, khiến chúng ta có thể thấy vấn đề không hẳn nằm trong ngôn ngữ nói. Những người này thường biết trước nội dung, đề tài, câu chuyện trình bày hơn là từng câu hỏi. Hay biết trước từng câu hỏi cũng vậy, khi nói chuyện họ cũng bị mất tự nhiên, cung cách nói như bị gò bó theo điều chuẩn bị, nên xem ra lại càng lúng túng hơn. Rốt cuộc màn phỏng vấn mang lại cảm giác buồn ngủ, thiếu sinh động. Ngược lại, chúng ta xem những cuộc đối thoại phỏng vấn của Mỹ như với Donald Rumsfeld hay Colin Powell sẽ thấy hào hứng hơn nhiều.

Có người cho rằng ăn nói lưu loát phần nào do bẩm sinh. Không phải ai cũng có khoa ăn nói hay và quyến rũ, nên có những người được thượng đế ưu đãi, ban riêng cho cái tài vượt trội này. Làm một MC, đối thoại trước đám đông cần thông minh, ứng đáp nhanh, nghĩ nhạy, phản ứng lẹ, nói với tất cả lòng hăng say, nhiệt tình, pha thêm chút hài hước làm khán giả thấy thú vị. Những điều này người Việt mình lại thiếu nên chúng ta ít có nhân tài xuất chúng trong nghệ thuật hùng biện. Người mình lại hay nghiêm và buồn, không biết pha trò trước đám đông nên thiếu sự thu hút cần có.

Làm MC không những phải tập luyện, sửa soạn kỹ mà còn phải biết ứng xử lẹ với những điều bất ngờ như David Letterman, Jay Leno đáp ứng rất lẹ, lém và khôi hài. Ngay cả đến Ronald Regan cũng khôi hài dù là Tổng thống. Người Mỹ xem trọng nụ cười và óc hài hước vì trong đời sống tất bật nhiều áp lực, tiếng cười làm nhẹ và vơi đi sức nặng ngàn cân của công việc hàng ngày. Những sản phẩm trí tuệ được ưa chuộng của người Mỹ được sản xuất chung quanh chữ “hài” rất nhiều. Nhiều diễn viên tấu hài hàng năm thâu nhập những lợi tức cao ngất ngưởng nhờ vào năng khiếu biết chọc cười thiên hạ này.

Văn hoá Á Đông tiêm nhiễm tam giáo (Khổng, Phật, Lão) nên người Việt đặt nặng chữ “lễ” làm đầu, trong đó có sự nghiêm chỉnh, thành ra khi tiếp xúc với người lạ hay công chúng, chúng ta thiếu hẳn nụ cười. Tuy nhiên một vài MC Việt Nam ta ở hải ngoại đã biết tận dụng khả năng hài hước để tung hoành trên sân khấu và gặt hái nhiều thành công trong lãnh vực điều khiển chương trình.

Trong một vài bài viết nổi tiếng được soạn ra với mục đích giúp một người làm MC sao cho thành công, có những điều như sau: phải có cá tính và sức thu hút, có khả năng gây được ảnh hưởng và khuấy động đám đông trong khi giới thiệu đến người kế tiếp. Nói nhanh và sẵn sàng ứng biến, có được một phong cách riêng, hiểu khán giả, hiểu về người mà bạn sắp giới thiệu. Cần sự tự tin, linh hoạt, nhạy bén. Tuy vậy, nghề MC còn đòi hỏi bạn có nhiều kỹ năng và vốn kiến thức phong phú để có thể đảm nhận nhiều vị trí khi cần. MC đôi lúc là người biên tập chương trình, là người thiết kế sáng tạo cho chính chương trình của mình chứ không đơn giản là học thuộc lời và đứng nói như cái máy. Ngoài ra bạn cần có một giọng nói tốt, phải nói cho tròn vành, rõ chữ nữa.

Cộng đồng người Việt nhỏ bé ở hải ngoại có dân số không đông bằng trong nước nhưng số MC hành nghề dẫn chương trình nếu kể ra, chúng ta thấy không phải là ít. Trong các chương trình ca nhạc, kể theo thứ tự A,B,C, chúng ta có Dương Nguyệt Ánh, Đặng Tuyết Mai, Leyna Nguyễn, Nam Lộc, Nguyễn Cao Kỳ Duyên, Nguyễn Ngọc Ngạn, Phan Nhật Nam, Thùy Dương, Trịnh Hội, Vân Sơn, Việt Dũng, Việt Thảo, Vĩnh Lạc v.v…

Ngoài ra, sự phát triển của HD Tivi ngày nay đã kéo theo sự nở rộ của các chương trình truyền hình Việt ngữ. Do đó số người dẫn chương trình, đọc tin, làm phóng sự, phỏng vấn vụt gia tăng theo định luật cung cầu. Trong lãnh vực truyền thông, truyền hình, radio ở khắp nơi người Việt định cư, chúng ta đã có những MC hay xướng ngôn viên riêng của từng tiểu bang, từng quốc gia, từng chương trình phát thanh, phát hình khác nhau. Nếu kể tên, có lẽ kể không hết, tôi chỉ xin đơn cử vài thí dụ điển hình ở địa phương (Nam Cali) nơi tôi cư ngụ có: Bùi Bảo Trúc, Bùi Bích Hà, Hoàng Trọng Thụy, Hương Thơ, Minh Phượng, Mộng Lan, Ngọc Ân, Thanh Lan, Thanh Toàn, Trọng Nghĩa, Vũ Chung, Vũ Kiểm v.v…

Trước 75, chúng ta có các xướng ngôn viên với những giọng hay như Đỗ Văn, Phạm Đình Chương, Tô Kiều Ngân, Đinh Hùng, Vũ Dũng, Dạ Lan v.v…

Phải nói là bá nhân, bá ý vì mỗi MC có một lượng khán thính giả mến mộ khác nhau. Các bạn tôi thay nhau bênh vực thần tượng MC của mình. Khuyết điểm của các MC Việt Nam tôi đã nói ở trên, giờ tôi chỉ nêu các ưu điểm của một vài MC có cá tính nổi bật được họ đem ra tranh cãi.

Có người thích lối nói chuyện mới lạ, tự nhiên, mạnh, trực tiếp, duyên dáng pha chút hài rất miền Tây của Việt Thảo. Một mình ông một sân, Rock, Rap, kịch, hài, nhún nhảy, vui vẻ, đơn giản, không cứng đơ, không nói chuyện khoa học, chính trị, văn chương hay văn học như một hình thức tải đạo, không làm mất thì giờ người nghe.

Người thì khen giọng Bắc ông Bùi Bảo Trúc ấm, điệu nghệ, rõ ràng và sang hơn giọng Bắc của ông Nguyễn Ngọc Ngạn. Các cô thì mến dáng vẻ bình dị, khuôn mặt dễ nhìn, dễ gây thiện cảm, tự nhiên và thân thiện của ông Ngạn. Có người lại thích nét lạ đời của ông khi kể chuyện cười mà mặt lạnh như băng, tỉnh queo không một nụ cười. Người cảm cái giọng Sơn Tây, trầm trầm, giản dị, cách đẩy đưa mạch lạc, cách ngắt chuyện khi cần của ông. Ông đã chịu khó nghiên cứu khi soạn bài, biết chọn đề tài, các chi tiết hài được đẩy đưa tung hứng khéo léo cùng Nguyễn Cao Kỳ Duyên tạo nên sự trôi chảy duyên dáng cho cả hai. Muốn có được sự mến mộ của đám đông nhiều lúc người dẫn chương trình như ông phải có một tâm hồn thực tế và còn phải chạy theo trình độ của quần chúng.

Nhắc đến những MC trên sân khấu âm nhạc, chúng ta không thể không nhắc đến MC Vĩnh Lạc như một nhân vật gây nhiều ấn tượng và rất được giới trẻ yêu nhạc ái mộ. Ông là một dương cầm thủ (concert pianist) nên có kiến thức vững vàng về âm nhạc, lại có khoa ăn nói nên khi làm MC cho các chương trình hoà tấu hay trình diễn âm nhạc, ông khéo léo đưa các vấn đề liên hệ vào. Vĩnh Lạc có một trí nhớ tốt, chịu khó đọc cặn kẽ, lại thuộc Kiều nên hay mang những nghiên cứu về Kiều như những dẫn chứng Đông Phương. Những kiến thức triết học về Kant, Nietzsche, Bach, Mozart… cũng được ông mang ra phân tích khi bàn đến một nhạc phẩm, khiến người nghe có cái cảm giác hoà hợp dung dị giữa hai nền văn hoá Đông Tây trong một bài hát Việt Nam. Mỗi MC có một tài năng, thế đứng riêng. Nghe Vĩnh Lạc nói lưu loát về một đề tài, khung cảnh, cách nói, sẽ thấy ông mượn phong cách, âm hưởng, cấu trúc của Tây phương, nghĩa là ông nói như một người Tây về một chuyện Tây, khiến khán giả có cảm tưởng Vĩnh Lạc thoát ra khỏi cái cung cách nghiêm nghị, tẻ nhạt mà một MC Việt thường có.

Tôi có một cô bạn mê lối nói đầy đam mê, cuốn hút, có lửa, kiến thức rộng, lý luận lại thú vị đó, nên nghe ở đâu có tổ chức trình diễn âm nhạc có Vĩnh Lạc làm MC, cô không ngại mua vé máy bay đi xem Vĩnh Lạc nói. Cô kể, có lần đi xem buổi hoà nhạc có Vĩnh Lạc làm MC, ngoài lúc dẫn chương trình, trong giờ nghỉ giảo lao 15 phút khán giả không nghỉ mà kiên nhẫn ngồi lại nghe Vĩnh Lạc nói tiếp về Trịnh Công Sơn. Ông vừa bàn về nhạc thuật vừa phân tích ca từ, chỉ ra cái hay của bài hát “Đêm thấy ta là thác đổ” ở chỗ nó thấm nhuần triết lý Đông phương, Tây phương, cả nhạc cổ điển của Bach và Beethoven. Ông nói say mê, xúc động đến độ đứng khóc giống hệt như Bùi Giáng ngâm thơ Kiều trong giảng đường Đại học Vạn Hạnh ngày xưa ở Việt Nam. Có lẽ vì quá nhiều tình cảm và say sưa diễn tả cảm nghĩ của mình về những bài hát mà Vĩnh Lạc không biết dừng, khiến các ca sĩ phải chờ dài cả cổ mà chưa tới phiên mình. Sự đam mê, đầy nhiệt huyết của ông với âm nhạc là một trong những yếu tố thành công chính của một MC nhưng nó cũng làm ông thất bại vì ông vốn quen “quá đà”, khiến sau này ít ai mời ông làm MC vì sợ tốn thời giờ của ban tổ chức.

Tuy nhiên nếu đặt tài năng Vĩnh Lạc vào đúng chỗ, có lẽ khán thính giả sẽ được lợi hơn, được hiểu thêm về lý thuyết âm nhạc của các tác phẩm mà mình yêu thích. Ông có phụ trách một chương trình âm nhạc cho một đài phát thanh, được nhiều thính giả khen hay vì nó có tính giáo dục cách thưởng thức âm nhạc của thính giả. Đáng lưu ý là phần đông thính giả thích nghe ông nói thường có thể sẽ bị ảo tưởng vì ông hay lấy dẫn chứng từ những tác phẩm cổ điển để làm tăng thêm giá trị cho nhạc phẩm được ông đem ra so sánh, trong khi thật ra chúng lại rất đỗi bình thường. Điều này như một cường điệu quá đà có tính nặng phần trình diễn làm loá mắt người nghe vì chắc chắn đối tượng thính giả của ông trong những chương trình kia sẽ không phải là người có chuyên môn âm nhạc cao.

Nhạc sĩ Thanh Trang cũng có một chương trình tương tự như Vĩnh Lạc trên đài phát thanh nhưng cung cách của Thanh Trang khác hẳn Vĩnh Lạc. Khi phê bình âm nhạc, Ông ít lời, nhiều ý, với các thí dụ cụ thể làm thính giả mường tượng được ra cái đó là cái gì (ý chính của Thanh Trang là giai điệu quan trọng hơn lời ca, nhằm nâng trình độ ca nhạc người nghe lên cao hơn). Còn người rành nhạc thì có cơ hội so sánh hoặc có hứng tìm hiểu kỹ hơn.

Đây là một trích đoạn bài nói chuyện của Thanh Trang trên VOA: “Thế nhưng người nghe nhạc bình thường, cảm nhận một bài hát qua sở thích riêng tư, qua cảm tính của mình thì không nói làm gì, mà ngay cả đến các nhạc sĩ có tên tuổi nhất, đuợc đào tạo chính quy nhất về mặt âm nhạc, cũng không thể dựa vào những kiến thức chuyên môn của mình để có thể giải thích được cái hay cái đẹp nơi một bài hát. Cảm nhận đuợc mặt đó là do nơi mấy chữ người ta thường nhắc đến là ‘trình độ thẩm âm’.”

Có lẽ khi phân tích về mỹ thuật hay thơ ca, người ta dễ tập trung hơn phân tích về âm nhạc vì nó đụng tới những lý thuyết khô khan khó hiểu. Mà nói đến trình độ thẩm âm của thính giả chúng ta càng thấy trừu tượng, mông lung hơn. Nghệ thuật luôn luôn song hành với hai khuynh hướng, giải trí và trí tuệ. Mỗi MC có một địa hạt riêng của mình, không thể đòi hỏi người này phải giống người kia hay người này hay hơn người kia. Điều quan trọng là mỗi khán giả tự quyết định, xác định thứ nghệ thuật giải trí, hay nghệ thuật trí tuệ, là món ăn tinh thần của mình. Có thể Nguyễn Ngọc Ngạn và Nguyễn Cao Kỳ Duyên thích hợp với Paris by Night show vì tính giải trí của nó. Và nếu nhu cầu của người nghe chọn lọc hơn thì MC Vĩnh Lạc thích hợp với các show ca nhạc thính phòng. Còn như muốn nghe phê bình âm nhạc mà kết hợp được Vĩnh Lạc và Thanh Trang với nhau chúng ta có thể có những bài phê bình âm nhạc rất tuyệt vời.

Nói tóm lại vai trò của một MC trong một buổi trình diễn không phải nhỏ. Nó giúp cho buổi diễn được trôi chảy, hâm nóng bầu không khí cho sôi động, giữ cho khán thính giả không nhàm chán trong thời gian chờ đợi và càng không phải là một công việc thuần túy giới thiệu chương trình. Người dẫn chương trình không những quản lý giỏi giờ giấc của mình trên sân khấu, còn phải kiểm soát giờ giấc của ca sĩ hay diễn giả cho phù hợp với thời lượng của chương trình đã định sẵn. Một MC thành công là một MC biết sáng tạo, biết tạo hứng khởi cho người nghe, biết thể hiện, linh hoạt, thông minh, tự tin, mạnh mẽ mà còn phải nói với tất cả cảm hứng, đầy nhiệt huyết và say mê.

Nghe mớ lý thuyết này sao khó quá các bạn nhỉ, thực tế thì sao? Chắc chắn không phải là câu nói đùa “Nhỏ mà không học lớn làm MC”.

© 2010 Trịnh Thanh Thủy

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image

Giàn đậu tím leo

Trần Khánh Liễm.

Anh tôi thích chơi cây từ nhiều năm nay.Trong vườn của anh có đủ mọi thứ cây.Chị tôi thường hay cằn nhằn:vườn nhà anh trông giống như cái rừng, chỗ nào trống là cấy bất cứ thứ cây nào vào đó.

Chúng tôi thường tới thăm anh chị một hai lần trong năm, nhưng anh chị thừơng hẹn những dịp thuận tiện khisau tết, lúc cây cối trong vườn trổ bông hoặc vào những ngày muàthu, khi cây cối của anh chị tôi vừa hồi tỉnh lại sau những tháng nóng bỏng của Houston mà anh chị thường gọi là cái đất ‘khỉ ho cò gáy’.

Ðể chứng minh anh thường nói: những người từ Cali thường hay mời anh chị sang chơi, vì cảnh đẹp, nhưng cảnh có đẹp thực với những quyến rũ của chúng, còn nơi đây ít ai tới.Mỗi lần nói tới là ai phía bên đó cũng sợ cái nắng nóng bỏng.

Có lần nghe anh kể: khi mới tới định cư tại xứ này, vào mùa hè thì ôi thôi, khí nóng bừng bực bốc lên từ những ống cống, không khác gì khi ở Sàigòn, buổi trưa hè đi qua ống cống xông lên mùi oi bức không thể chịu được.

Hình như những gì hay, những gì đẹp thì nó ở đâu ấy(!), không thấy ở xứ sở này.Cộng đồng người mình cũng thế: đông nhất ở Cali, những người đẹp, nhạc sỹ, thi sỹ, văn sỹ. Cũng vì người mình thích qui tụ với nhau ở một nơi, cái gì qui tụ vẫn tô đậm những vẻ tinh hoa của nơi đó, cái văn hoá của một lớp người di dân như chúng ta cũng thế.

Ðó cũng là nhận xét của đa số quần chúng. Anh kể: anh cũng đã ở Cali ba năm, cũng đi làm, cũng đi ngao du đây đó, nhưng tính anh thích chạy ngược chạy xuôi, tới một lúc hết chạy nổi, anh dừng chân ở đây và chọn nơi này làm quê hương.

Ba mươi mốt năm dừng chân tại đây, sau khi công ăn việc làn ổn định, con cái đi học đều hoà lại thì đời anh cũng phải trải ra trên một môi trường mà tạo nên cảnh sống cho chính mình và cho những người liên hệ, cho thân nhân, cho bạn bè.

Anh kể lại,ngày rời Cali về Texas, cô em gái khóc ròng như cha chết, vợ chồng ông bạn ngồi một đống không biết nói sao lời từ biệt.Anh ngậm ngùi ra đi.

Một tuần lễ trước khi đi xa,người em gái vừa tạo được căn nhà xinh xắn, Anh mua đủ mọi loaị cây từ kè, tới bông giấy, tới lựu, những cây xanh che bóng bên thềm.Sau khi hàng cây vừa cấy xuống, khung cảnh trở nên mượt mà quyến rũ. Anh an ủi người em: khi nào nhìn cây là đủ để nhớ đến anh, như thế là đủ. Có người bảo anh tôi: đi đâu anh cũng cấy cây nọ cây kia, mà thực như thế ai mà quên anh được.
Thập niên sau trở về Cali thăm anh em bà con, Anh ngỡ ngàng thấy mọi cảnh vật thay đổi nhiều quá: thành phố khang trang, cây kiểng khác nào đi vào những nơi thắng cảnh của xứ phù tang.Buổi chiều khi trở lại thăm vườn cũ của cô em, Anh thấy thú vị: cây bông giấy lúc này trông đẹp quá.Thân to bằng bắp vế, những cành đen nâu xậm mọc chằng chịt quanh tường, luồn vào những khúc gỗ dưới mái.Những cành hoa giấy mầu tím ôm chặt vào căn nhà diễm lệ.Cánh bông rơi đầy trên lối đi, trên thềm.Anh bước nhẹ trên những cánh bông đó, rón rén vì sợ mình quá tàn nhẫn đạp lện trên bức thảm đầy hoa yếu ớt ấy. Cô em nói nhỏ: Anh có nghĩ rằng, những cành hoa xậm mầu nâu này mọc chằng chịt, có lúc em tưởng chừng cánh tay anh đang ôm lấy hai vợ chồng em cả những lúc cuộc đời đầy sóng gió. Cứ nghĩ tới đó là em lại lên tinh thần, sống can đảm hơn, sống vững chãi hơn!..

Khi rời Cali,anh tôi bỏ lại người bạn đã học lâu năm ở Văn Khoa với nhau.Bạn của anh tôi có cử nhân Hán Học. Khi di tản, anh mang theo đầy đủ những sách cần cho việc tìm kiếm và xây dựng lại một nền văn hóa Việt nam.Việc làm và mộng ước của anh cũng giống như bất cứ những bậc thức giả nào rời quê hương sống nơi hải ngọai.Bạn của anh tôi cũng như những nhà văn, những bậc thức giả khác, ai mà chả có cái tâm với nền văn học nứơc nhà. Anh ở trên một khu chung cư tại Los Angeles. Khu chung cư được xây cất có nhiều cấp bậc cao thấp khác nhau.

Một hôm anh tôi tới thăm bạn, khi nói về việc làm văn hoá tại đây.Anh tôi rất tán thành với ý định đó. Thế nhưng anh tôi nói: bạn là con thày thuốc bắc, cả dòng họ làm nghề này từ Bắc vào Nam, rồi bây giờ sang đây nữa, nghĩ thật thuận chiều. Anh tôi thấy trên cao nhất cuả khu chung cư có ba đơn vị gia cư. Anh nói với bạn: “này bạn, tôi có ý nghĩ như thế này: chúng ta thuê cả ba căn trên nơi cao nhất này, căn giữa để tượng Phật, căn bên cạnh phò một thày đến lo phật sự, bên kia hai chúng ta mở phòng mạch bốc thuốc cho thiện nam tín nữ, cho chúng sinh”. Người bạn của anh tôi nhìn trừng trừng trả lời: “ ông bạn không nghĩ tôi đã đi học thuốc tây rồi bỏ cuộc, bây giờ trở về làm nghề thuốc bắc, người ta cười vào mặt cho chứ ”.

Anh tôi nói cho bạn: cứ nghĩ thế thì chúng ta không làm được gì hết, kìa ông bạn của chúng ta trước ở nhà làm trưởng ty quan thuế, nay đi bốc thuốc bắc, thì đã sao. Anh tôi quả quyết : “bảo đảm bạn hơn anh chàng kia nhiều đấy”.

Cái lý luận của những bậc thức giả như bạn của anh tôi không thể thành công ở xứ sở này.Anh tôi lại kể chuyện lập am, thỉnh thày về làm việc Phật sự với một số bạn lúc đó học cùng lớp ở California. Cả thập niên sau, một vị trong lớp của anh tôi đã nghe anh tôi kể chuyện, anh này đã làm dự án lập am, thỉnh thaỳ về, thế là anh bạn này đã thành công. Anh ta có tới hai ngôi chùa được tổ chức y hệt như dự án anh tôi đã nói với người bạn thức giả kia.

Bạn của anh tôi đãhọc mấy khóa làm nhà in, bây giờ nghề nghiệp đã vững,ông bắt tay vào việc. Ông nói:“ mọi chuyện điều hành là ở cậu đó”.Anh tôi ư hự,trao cho bạn năm trăm dollars làm vốn. Anh tôi bỏ California vào cuối tháng tám, muà bão tố ở đây.Năm 1979, anh tôi đã học được bài di tản mau lẹ.Bão lụt hoan hỉ đón gia đình anh tôi.Anh cắn răng chịu,“chẳng cái dại nào bằng cái dại nào”!

Ít tháng sau vào cuối năm 1979, anh tôi nhận được hai mươi cuốn báo Văn Hiến số một ( tập san văn hóa xã hội ) của người bạn gửi từ Cali sang. Khổ báo trông gọn gàng bằng khuôn khổ bình thường 5.5 x 73/4 như tất cả sách khác, bìa hình mầu tím có tranh của Tú Duyên vẽ cảnh chị em Kiều đi du xuân với:chủ đề Tửơng Niệm Ðại Thi HàoNguyễn Du. Bài vở đầy đủ về Nguyễn Du tiên sinh.Vị đại diện có tên trên trang 2:cụ Ðào Ðăng Vỹ,người phụ trách điều hành Phạm Biển Thứơc,bạn anh tôi.

Ban biên tập gồm nhiều bậc thức giả như cụ Bùi Kỷ, tựa đề truyện Kiều (Chu Mạnh Trinh ), thân thế sự nghiệp và tâm tình của Nguyễn Du do cụ Lê Xuân Giáo, người hàng xóm của bạn anh tôi, lâu lâu các anh lui tới thăm viếng. Cũng nên kể thêm tên cụ Ðào Ðăng Vỹ, GS Trần Ngọc Ninh, Nghiêm Xuân Hồng,, Nguyễn Ngọc Huy, Bùi hữu Sủng v. v.. đủ mọi khuôn mặt đáng giá trong nền văn học Việt Nam đã di tản sang đây.Anh tôi nghĩ nếu có ai viết về chuyện Kiều, không thể nào hơn được những điều các cụ viết trong tập Văn Hiến này.

Sau đây là bài mừng Ðặc san Văn Hiến do cụ Hồng Liên Lê Xuân giáo, cũng là để tưởng nhớ đến một vị lão thành yêu văn hoá:

Ðặc san Văn Hiến mới ra đời
Mừng báo nay xin có mấy lời
Hào khí bay tràn muôn dặm tuyết
Hùng tâm rung động mấy ngàn khơi
Việt Nam muôn thuở thêm bền vững
Văn Hiến ngàn năm vẫn sáng ngời
Chúc báo ngày ngày thêm lớn mạnh
Tiếng vang dội khắp bốn phương trời.

Chiều ý bạn,anh tôi đưa tới chợ khá nổi tiếng ở Houston, sau này biết được ông chủ không bao giờ hoàn lại những khoản tiền cho những người trao hàng cho ông, cả cộng đồng đêù biết việc này.Anh tôi thương bạn đã cố gắng nhiều để gom góp bài vở của những bậc thức giả, khởi đầu công việc xây dựng lại nền văn hoá Việt Nam nơi hải ngoại.

Ít lâu sau, nghe nói bạn anh tôi mời một người khác cộng tác,thay thế cho anh tôi đã được dự đoán trong đầu của bạn anh tôi.Toà soạn có nhà in đàng hoàng, nhưng không thấy số báo thứ hai.Sau này nghe tin người bạn đó đã đưa nhà in lên miền bắc.Bạn anh tôi buồn vì anh tôi đã đi xa. Tờ báo chết yểu ! tài sản bị tiêu tan : tin bạn ‘mất vốn’.

Như đã nói, khi tới lập nghiệp ở đây,gia đình anh tôi phải đương đầu vơí giông tố, bão lụt. Nổi đình đám hơn hết là bão Alicia.Khi radio của thành phố báo động,ngừơi dân tại đây đổ xô ra đường.Lúc đó mưa như đổ trút nước xuống. Ðường ba lanes biến thành năm,cộng thêm hai feeder hai lanes thành ba. Thế mà xe chỉ đi được từ năm tới mười dặm một giờ.Ra đường từ bảy giờ tối, mãi năm giờ sáng gia đình anh tôi mới tới được Hantsville, cách Houston trên một trăm dặm.Ðoàn người được hồng thập tự dẫn vào khu trường học gần đó.Chăn chiếu đã có sẵn, càfé, bánh ngọt đầy đủ.Anh em quen thuộc trong lối xóm qui tụ lại một phòng của lớp học. Nhân cơ hội này, anh tôi lại bắt đầu có những liên hệ mới,quen cả một gia tộc của người đàn anh cùng trường thuở xa xưa, cùng cư ngụ trong lối xóm.Thế là sau đó các gia đình lại thân thiện, nối tình đồng hương trong mọi sinh hoạt vào cuối tuần hay trong những dịp lễ lớn.
Cách đây trên thập niên, một người bạn tới thăm anh tôi, nhìn những cây kiểng mượt mà, bạn tôi lắc đầu : “ tôi biết anh đang hướng về một lối sống khác, anh đã dừng chân lại”.

Dừng chân lại có thể là tránh những hoạt động ồn ào để đi vào im lặng,để có thì giờ ngồi thiền nhiều giờ, để có thì giờ nhìn từng cánh hoa, từng búp măng đang nẩy mầm trong vườn.

Cái tật đi đâu cũng thế thôi,anh tôi tìm tới những chỗ ít ồn ào, dăm bangười ngồi nói chuyện với nhau bên chén trà đầy hương thơm.Ở nơi đất xa lạ này, anh tôi cũng có những ngừơi bạn.Khi xưa anh tôi nên người vì anh chơi với những ngừơi lớn tuổi để học khôn, nay lớn tuổi anh chơi với những người bạn trẻ để lấy lại sức sống.

Qua nhiều thập niên, thành phố này cũng đón nhận nhiều bậc thức giả.Thế là những chuyện văn học, báo chí.Tất cả những vẻ đẹp lại bắt đầu thăng hoa.Anh tôi lại có dịp chơi với những người bạn ưa làm văn hoá.


*


Một buổi chiều thu, anh tôi mang theo một chậu hoa đậu tím cho vợ chồng bạn văn. Do bàn tay khéo léo của ngừơi chồng, giàn hoa đã trở nên tươi tốt leo trên những khung gỗ, luồn lọt vào những chiếc xà trên mái nhà. Người vợ cảm thấy những rung cảm cho hồn thơ mỗi khi ngồi một mình bên phiá hiên nhà.Những khi rảnh rỗi vợ chồng cảm thấy thoải mái ngồi nói chuyện bên hàng hiên.Dàn đậu nở hoa sau những cơn lạnh nghiệt ngã làm chết đa số cây trong vườn.

Cuối tuần qua,anh tôi tới thăm một cặp vợ chồng bạn văn với anh. Ngồi dưới giàn hoa đậu tím, cành cây chen nhau mọc lả lướt với những chùm hoa quyến rũ, anh tôi cảm thấy tâm hồn thỏai mái, tâm tình anh với bạn bè thân thiết như thế. Chén trà thơm khói bay như quện vào tâm tình cặp bạn trẻ. Anh đang tìm lại những liên hệ tạo nên sức sống của con ngừơi.

Trần Khánh Liễm.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Bí ẩn thiên nhiên: di cư kỷ lục 8 triệu cá hồi Hàng chục nghìn người đã đổ về tỉnh British Columbia của Canada để chứng kiến một trong những hiện tượng bí ẩn của tự nhiên: cuộc di cư lớn nhất trong vòng 100 năm trở lại đây của hàng triệu cá hồi đỏ.

Image
Sẽ có khoảng 6-8 triệu cá hồi di cư từ biển vào sông Adams. Ảnh: Internet.



Dự kiến, sẽ có khoảng 6-8 triệu con cá hồi đỏ sẽ di cư từ biển vào sông Adams, thuộc khu vực Shuswap, tỉnh British Columbia, Canada. Theo các chuyên gia, số lượng cá hồi đỏ di cư năm nay cao gấp đôi so với dự đoán trước đó và là cuộc di cư kỷ lục kể từ năm 1913 trở lại đây.

Những chú cá hồi này sẽ phải vượt qua một cuộc hành trình cực kỳ gian nan kéo dài hơn 500 km. Tuy nhiên, ở cuối cuộc hành trình, khi đã trở về nhà, cá hồi đỏ sẽ chết vì kiệt sức sau khi đã đẻ trứng.
Image
Cá hồi đỏ sẽ phải vượt qua cuộc hành trình hơn 500 km.


Những chú cá hồi con được sinh ra từ trứng sẽ lại rong ruổi ra biển lớn, để 3 năm sau, chúng lại tiếp tục cuộc hành trình “về nhà” như bố mẹ chúng ngày nay.

Loài cá hồi định hướng di chuyển bằng mùi. Mỗi con cá nhớ đều nhớ mùi của dòng sông nơi nó sinh ra. Khi di chuyển từ đại dương trở về con sông sinh sản, con cá sẽ tìm thấy đường của nó nhờ khả năng nhớ mùi này. Khi vào lại vùng nước ngọt, cá hồi sẽ không ăn và chuyển sang màu đỏ sáng.

Image
Cá hồi đỏ chết sau khi đẻ trứng. Những cá hồi con được sinh ra sẽ lại tiếp tục cuộc hành trình của bố mẹ chúng.


Hiện tượng di cư bí ẩn và độc đáo của cá hồi đỏ đã thu hút được sự quan tâm của người dân và khách du lịch đến với sông Adams. Tuy nhiên, năm nay cuộc di cư của loài cá hồi đỏ càng trở nên đặc biệt khi nó phá kỷ lục trong suốt một 100 năm qua

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

New York đau đầu vì bọ hút máu

Image
Rận rệp, loài côn trùng hút máu người. Ảnh: AP.
Rận rệp ở New York rời khỏi giường và hành quân tới những địa điểm nổi tiếng và sang trọng, khiến nhiều khách du lịch hoảng sợ đến mức hủy chuyến đi ngay trong mùa cao điểm.
> Côn trùng gieo rắc kinh hoàng
Một số khách đã có kế hoạch đến New York, Mỹ, cho biết họ lo sợ viễn cảnh ở chung khách sạn với rận rệp, trong khi cứ vài ngày lại có tin phát hiện loại côn trùng này ở thành phố. Một quan chức tòa thị chính nói rằng họ đang lo ngại đội quân rận rệp làm vấy bẩn hình ảnh và gặm nhấm khoản tiền 30 tỷ USD có được từ ngành du lịch của thành phố.

Việc phát hiện những động vật hút máu người ở các nơi sang trọng và nổi tiếng thường chỉ được công khai phần nào. Tổ hợp mua sắm hạng sang Bloomingdale cho hay chỉ phát hiện đúng một con; tòa nhà Empire State tìm thấy rận ở tầng hầm; còn ở trung tâm Center, rệp được phát hiện trong phòng để đồ.

Nhưng những thông báo đó, kèm với việc người ta thất rận rệp ở trong các rạp chiếu phim, khách sạn và cửa hàng quần áo, đang khiến những du khách kỹ tính nghĩ đến chuyện hủy tour.

Các quan chức ngành du lịch - những người đã nhiều lần nói với giới chức thành phố rằng việc công bố có bọ hút máu có thể ảnh hưởng tới hình ảnh của New York - khẳng định không có chuyện hủy chuyến vì sợ rệp. Tuy nhiên AP cho hay thực tế đã có nhiều người không đến New York nữa vì sợ đội quân hút máu này.

"Chúng tôi có bốn người, định đi tàu, đi ô tô, vào cửa hàng và nhà hát, và rận rệp thì có thể ở bất kỳ đâu tại những nơi đó. Tôi không muốn nói thế này, nhưng chưa chắc tôi đã đi New York đâu", Patty Majerik, sống ở Baltimore, nói.

Susannah Johnston, một hướng dẫn viên yoga ở ngoại ô New York, kể rằng chị và chồng định ở qua đêm ở Manhattan cuối tuần trước sau khi xem một vở kịch muộn, nhưng cuối cùng lại thôi vì lo ngại loài bọ hút máu.

"Chúng tôi tìm kiếm khách sạn và xem giá cả, rồi đọc nhận xét của khách", chị kể lại. "Khách sạn nào cũng có một vài chuyện kinh hoàng liên quan đến rận rệp".
Image
Một con rệp được phát hiện trong nhà dân ở bang Ohio, Mỹ hồi tháng 8. Ảnh: AP.
Thị trưởng Michael Bloomberg hôm qua phát biểu rằng ông lo ngại làn sóng sợ hãi những con bọ sẽ làm tan nát hình ảnh của thành phố.

Người ta có thể bắt gặp ngày càng nhiều hình ảnh của những con bọ màu nâu xỉn, to cỡ bằng hạt táo ở New York trong những năm gần đây. Các nhà khoa học cho rằng việc du lịch khắp thế giới ngày càng dễ dàng, cũng như lệnh cấm dùng một số loại hóa chất diệt côn trùng có thể là nguyên nhân khiến bọ lan tràn.

Theo số liệu của tòa thị chính New York, năm 2004 có 537 lời phàn nàn về rận rệp, nhưng năm 2009 con số này lên đến 11.000. Cùng năm đó, lần đầu tiên thành phố đưa câu hỏi về loài bọ hút máu này vào bản điều tra tình hình y tế. Có tới 6% số người dân cho biết họ từng phải đối phó với rận rệp.

Rận rệp nổi tiếng là khó trừ. Ngoài giường ngủ, chúng có thể sống ở rất nhiều chỗ khác và có thể tồn tại cả năm mà không cần ăn. Thị trưởng Bloomberg mới đây còn đùa rằng những con bọ hút máu đó thậm chí còn cứng đầu hơn cả lũ chuột cống nổi tiếng của thành phố này.

Người dân New York ngày càng lo ngại hơn, bởi các thông báo về rận rệp không chỉ ở khách sạn mà đã lan cả ra trường học.

"Tôi có những bệnh nhân nói rất nhiều về nó, họ tăng mức độ quan tâm và tìm kiếm dấu hiệu của rận rệp - những con bọ đã ám ảnh tâm trí một số người và làm thay đổi cách sống của họ", Lisa Tischler, một nhà tâm lý học ở Manhattan chuyên trị các chứng rối loạn thần kinh, cho bieeset. "Người ta nói về nó một cách nghiêm trọng, thậm chí có những người mất kiểm soát bản thân vì rận rệp".

Thanh Mai

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

THĂM HỎI BÀ NGÔ ĐÌNH NHU


Các phương tiện truyền thông của người Việt ở khắp nơi trên thế giới đã có những thông báo về ngày giờ và địa điểm lễ tưởng niệm Tổng Thống Ngô Đình Diệm, một nhà lãnh đạo kiệt xuất hết lòng vì nước, một lãnh tụ đạo đức thánh thiện hết lòng vì dân, đã bị thảm sát bởi chính người bạn đồng minh và bè lũ tay sai.
Trong những giây phút đau buồn tiếc thương Tổng Thống Ngô Đình Diệm rất nhiều người cũng nghĩ tới và đặt câu hỏi Bà Ngô Đình Nhu bây giờ ra sao? Sức khoẻ và đời sống như thế nào?
Image Ngày 22 tháng 8 năm 2010, Bà Ngô Đình Nhu đã mừng sinh nhật thứ tám mươi sáu với đầy đủ các con cháu nội ngoại tại ngôi nhà của các con cháu cách thủ đô La Mã của nước Ý vào khoảng mười cây số. Từ ba năm nay, Bà Nhu không còn ở căn phòng (apartment) ở thủ đô Ba Lê nữa. Bà sống ở La Mã để các con cháu săn sóc giúp đỡ khi trái nắng trở trời. Nói là nhà của các con cháu vì đây là một ngôi nhà trệt có tầng hầm (basement), gia đình ông con trai lớn Ngô Đình Trác ở tầng trên và gia đình cô gái út Ngô Đình Lệ Quyên ở tầng hầm. Con dâu con rể và các cháu nội ngoại sống chung dưới một mái nhà rất đầm ấm và đầy tràn yêu thương. Ông con trai thứ Ngô Đình Quỳnh vẫn có cuộc sống độc thân như một thầy tu và làm việc ở thủ đô của nước Bỉ.

Về sức khoẻ thì với tuổi đời đã cao nhưng Bà Nhu không có những căn bệnh thông thường của người già, ngoại trừ cái chân trái nhiều khi gây đau nhức khó chịu. Vài tuần lễ trước ngày sinh nhật thứ tám mươi sáu, Bà Nhu đã vào bệnh viện để các bác sĩ giải phẫu thay các con ốc bằng kim loại ở xương chân trái đã hai lần bị gẫy bằng các trợ cụ y khoa hiện đại nên đã cảm thấy dễ chịu hơn. Bà chưa đi lại bình thường được nhưng cũng không còn trở ngại nhiều khi đi đứng. Tuổi già thường hay bị suy yếu về trí tuệ, nói cách khác là bị lú lẫn, đặc biệt là những người đã kinh qua nhiều truân chuyên dâu bể, nhưng Bà Nhu vẫn có một trí óc rất minh mẫn với những nhận xét và quyết đoán thông minh, hợp lý và quyết liệt. Nhiều người đưa ra một giả thuyết là nếu Bà Nhu có mặt ở Sài Gòn vào ngáy 1 tháng 11 năm 1963 thì rất có thể tình thế đã không diễn biến tồi tệ như vậy.

Bà Nhu không có nhu cầu nhiều về sinh sống nên số tiền cho mướn căn phòng ở thủ đô Ba Lê chắc cũng dư thừa cho những chi phí thường ngày. Bà có cuộc sống rất đơn sơ và tự giam hãm trong những giới hạn của một đời sống thanh bần. Bà đã qua những ngày tháng túng thiếu vất vả với cái ăn cái mặc. Bây giờ bà không còn phải đối đầu với những khó khăn vật chất nữa nhưng cũng chưa thể nói là sung túc.

Bà Nhu góa bụa ở vào tuổi mặn nồng nhất của người phụ nữ. Với sắc đẹp và danh tiếng, Bà Nhu có thừa điều kiện và rất nhiều cơ hội để hái ra tiền, nhưng Bà Nhu còn màng gì đến danh lợi nữa khi mà cả một dân tộc mà bà hết lòng yêu thương và phục vụ đang chìm đắm trong máu lửa. Bà Nhu sống trong thinh lặng và đạo hạnh. Nhìn vào cuộc sống phóng túng của bà quả phụ Jacky Kennedy hoặc cách ăn nói đi đứng thiếu nghiêm túc của bà quả phụ Imelda Marcos thì ai cũng phải khâm phục và kính trọng Bà Nhu. Ngay cả những người thù ghét chống báng Bà Nhu cũng không có được một dịp dù nhỏ nhoi để bới móc bêu xấu bà.

Nói về cuốn sách của Bà Nhu mà rất nhiều người đang trông đợi thì qua cuộc điện đàm mới nhất tôi đã trình bầy cho bà biết là không thể nào phổ biến đến người đọc vào ngày 2 tháng 11 năm 2010, lễ giỗ thứ bốn mươi bẩy kính nhớ Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị thảm sát, vì thời gian quá cấp bách. Thời điểm thuận lợi nhất là vào mùa hè năm 2011, cuốn sách sẽ ‘ra mắt” tại các cộng đồng người Việt trên toàn thế giới. Tôi sẽ thông báo rộng rãi trên các phương tiện truyền thông để mọi người cùng biết.

Chỉ vài tuần lễ nữa nhiều nơi sẽ làm lễ tưởng niệm Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhiều nhà thờ sẽ có lễ cầu nguyện cho Tổng Thống. Chắc hẳn nhiều người cũng không khỏi ngậm ngùi nhớ đến Bà Ngô Đình Nhu với lòng kính trọng và quí mến.

TRƯƠNG PHÚ THỨ

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Michael Jackson qua đời, vẫn có lợi tức đến $275 triệu
NEW YORK (Forbes) - Theo tạp chí chuyên về kinh tế-tài chánh Forbes, mặc dù danh ca Michael Jackson đã qua đời từ hôm 25 tháng 6, 2009, nhưng trong năm 2010 này, các nguồn lợi tức của cố danh ca Jackson, vẫn còn lên đến $275 triệu, khiến Michael Jackson trở thành nghệ sĩ quá cố, có mức lợi tức cao nhất.
Image
Các loại đồ kỷ niệm về cố danh ca Michael Jackson, vẫn được bán chạy trên thị trường thế giới, mang lại lợi tức bản quyền quan trọng cho gia đình cố ca sĩ này.
(Hình: Kazuhiro Nogi/AFP/Getty Images)

Tạp chí Forbes ghi nhận là cố danh ca Jackson có mức lợi tức còn cao hơn tổng lợi tức của 12 cố văn nghệ sĩ còn lại trên danh sách, trong khi hồi năm ngoái, Jackson chỉ mới được xếp hạng ba trong danh sách các cố nghệ sĩ có mức lợi tức cao nhất, với mức thu là $90 triệu.

Khi qua đời hồi năm 2009 tại Los Angeles, hưởng dương 50 tuổi, Michael Jackson để lại ba đứa con và một tổng số nợ lên đến khoảng $500 triệu.

Người đứng đầu danh sách hồi năm ngoái (2009), là nhà vẽ kiểu thời trang Pháp Yves Saint Laurent, có mức lợi tức lên đến $350 triệu nhờ bán hết tài sản của ông, trong đó có các cơ sở làm ăn sau khi ông qua đời, nên năm nay đã không còn ở trong danh sách này nữa, cũng như nhà văn Michael Crichton, nghệ sĩ Andy Warhol...

Trong danh sách năm nay, sau Michael Jackson, có cố danh ca nhạc rock, Elvis Presley, có mức lợi tức là $60 triệu, nhờ tiền bán vé vào cửa thăm căn nhà cũ của Presley, Graceland, nay trở thành một Viện Bảo Tàng và địa điểm du lịch tại Memphis, Tennessee, cũng như một show của đoàn ca nhạc Cirque du Soleil, và hơn 200 sản phẩm hàng hóa khác, có lấy tên hay sử dụng hình ảnh của Elvis Presley, nên phải trả tiền bản quyền.

Nhà văn quá cố J. R. R. Tolkien, tác giả của cuốn “The Lord of the Rings,” gồm 3 tập, được đạo diễn Peter Jackson quay thành phim, đã được tạp chí Forbes xếp thứ ba trong danh sách các văn nghệ sĩ quá cố có mức thu cao nhất, vì Tolkien cũng có mức lợi tức là $50 triệu trong năm nay.

Cố họa sĩ Charles Schulz, người tạo ra nhân vật Charlie Brown và Snoopy trong các tranh vui đăng trên báo, về hạng tư, với mức lợi tức là $33 triệu.

Cố “Beatle” John Lennon, mà nếu còn sống thì năm nay cũng được tròn 70 tuổi, được xếp hạng 5, với mức lợi tức là $17 triệu.

Nhà văn gốc Thụy Ðiển Stieg Larsson, tác giả cuốn tiểu thuyết bán chạy “The Girl with the Dragon Tatoo,” cũng đã được quay thành phim, có mức lợi tức là $18 triệu, được xếp hạng 6.

Thứ tự kế tiếp, với những văn nghệ sĩ, nhạc sĩ có mức lợi tức dưới $10 triệu, trong khoảng thời gian từ ngày 1 tháng 10, 2009 cho đến ngày 1 tháng 10, 2010 - hạng 7: Dr. Seuss (Theodor Geisel); hạng 8: Nhà bác học Albert Einstein; hạng 9: George Steinbrenner; hạng 10: Richard Rodgers. (L.T)

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

VŨ HỮU ĐỊNH -
Người đội vương miện cho thành phố Pleiku

Đầu thập niên 70, sau khi bỏ ngôi nhà thuê ở cuối đường Ngô Tùng Châu, gia đình chúng tôi dọn về cư xá Bưu Điện.

Chúng tôi ở căn đầu, có chiếc cửa số ngó vào đường Hồng Thập Tự, mà bên kia đường là cư xá Thành Tín, nơi làm việc của Vũ Quang Ninh, Hoàng Quốc Bảo, Từ Công Phụng, Hồ Đăng Tín, Dương Nghiễm Mậu, Nguyên Huy,... thuộc đài Phát thanh Tiếng Nói Tự Do. Sau, tới phiên tôi, cũng thường ra vào cư xá đó, đưa bài cho đài Mẹ Việt Nam ; và, kịch cho nghệ sĩ Bích Sơn...

Mặt tiền cư xá Bưu Điện, là con đường dẫn qua nhà bạn tôi, Phạm Tuấn Bách, và đài phát thanh Saigòn: nơi làm việc của một số bạn tôi, như Nguyễn Đình Toàn, Uyên Thao, Vũ Thành An...

Bên hông ngôi nhà tôi ở, có một xe phở và một xe bún bò Huế khá nổi tiếng. Nhiều buổi sáng, nhà văn Thảo Trường bắc tay làm loa gọi tôi, bảo khôn hồn thì dậy cho mau, ông sẽ cho ăn bún bò... Tiếng gọi của ông cùng mùi ban mai thức sớm trên những cành, trái trứng cá, mùi bún bò Huế, mùi phở, bay tới tận chỗ tôi nằm. Hẻm kiệt này, không biết từ lúc nào, đã trở thành những buổi sáng của văn nghệ miền Nam tụ tập, đấu láo, cười, nói, ồn ào, váng vất tới trưa, vẫn khôn tan, lắng.

Không biết có phải ngôi nhà chúng tôi ở là một địa điểm thuận lợi về nhiều mặt hay không, mà thời gian này, rất nhiều anh em văn nghệ cũ, mới thường xuyên viếng thăm, lui tới... Có tuần lễ các phái đoàn văn nghệ ở xa về, đổ bộ đông quá, nhà tôi phải đem cháu về bên ngoại, nhường chỗ ở cho họ.

Thời gian này cũng là thời gian Nguyễn Tất Nhiên “tha” người về nhà tôi nhiều nhất. Từ Lê Vĩnh Ngọc, Phạm Đình Thống, tức Phạm Chu Sa, tới Ngụy Ngữ, Hạc Thành Hoa, Hoàng Yên Duy, Chung Đình Ngọc, vân vân... Trong số những người Nhiên “tha” về đó, có Vũ Hữu Định.

Một buổi trưa, từ cục Tâm Lý Chiến về nhà, tôi đã thấy Nguyễn Tất Nhiên đang ngồi uống cà phê với một thanh niên đậm người, thấp, đen... Nhiên cười toe bảo, Vũ hữu Định đấy anh. Em Pleiku má đỏ môi hồng đó anh...

Lúc này ca khúc Còn Chút Gì Để Nhớ của Phạm Duy đang trở thành phổ thông. Anh em văn nghệ rất lấy làm thích thú khi được biết thêm rằng, lời của ca khúc này là thơ của Vũ Hữu Định. Tôi nghĩ, phải thành thật ghi nhận rằng, trước khi có ca khúc Còn Chút Gì Để Nhớ, ít ai biết Vũ Hữu Định. (Có phải vì thơ anh ít xuất hiện trên mặt báo?)

Gặp gỡ thứ nhất, với Vũ Hữu Định, tôi đã có thiện cảm ngay với người làm thơ có dáng vẻ hiền lành này. Những lần trở lại sau này của họ Vũ, càng gia tăng thêm lòng yêu mến ở nơi tôi. Điều tôi thích nhất nơi Vũ Hữu Định, là Định không bao giờ thảo luận văn chương. Định cũng không mầu mè, không lên gân, không tác điệu cho ra vẻ của một người làm thơ. Cần gì, Định nói thẳng thành lời, chẳng quanh co rào đón. Bên trong cái dáng vẻ cục mịch, hơi ngơ ngác, Vũ Hữu Định, trong ghi nhận của tôi còn là một người rất ý tứ. Tôi nhớ những lần trong nhà tôi gần hết cà phê, hết thuốc lá, Định tế nhị từ chối không uống, không hút.. Cùng lắm, Định bảo tôi mua cho Định một bao thuốc đen Quân Tiếp Vụ. Định nói Định quen hút loại thuốc đó. Tôi hiểu, sự thực, Định muốn nhường thuốc thơm cho người khác.

Giao tiếp lâu với Định, tôi được biết Định có một đời sống rất cơ cực.
Sinh trưởng ở thành phố Quảng Nam trong một gia đình nghèo, nên việc học của Định vì thế, cũng lỡ dở. Ngay từ tấm bé Vũ Hữu Định đã phải lao vào đời để kiếm sống. Hoàn cảnh này, đưa tới sự kiện Vũ Hữu Định lập gia đình sớm. Định mơ ước một ngày nào có nhiều tiền, Định sẽ đền đáp công ơn cho người vợ tào khang của mình.

Định nói, chính vì không kiếm ra tiền nuôi vợ con cho nên tôi mới phải bỏ vào Saigòn, để khỏi thấy cảnh gia đình nheo nhóc. Vào đây, tưởng kiếm được việc, ai ngờ việc không có mà lại còn là gánh nặng cho bạn bè vì hoàn cảnh trốn lính của tôi nữa!

Tuy không khá, nhưng Vũ Hữu Định là một người rất trọng nhân cách.
Ít năm sau biến cố 30 tháng 4-75, tôi được tin Vũ Hữu Định mất tại Đà Nẵng. Đã nhiều năm qua, tôi không được gặp những người bạn chung, nên không kiểm chứng được tin này. Nhưng, ở quê người, mỗi khi tình cờ được nghe ca khúc Còn Chút Gì Để Nhớ, tôi không nhớ Pleiku, (cái nơi chốn ảnh hưởng rất nhiều tới đời sống riêng của tôi,) mà, tôi lại chỉ nhớ Vũ Hữu Định. Tôi nhớ tới anh, như từng nhớ tới Hàn Mặc Tử; người, bằng những vần thơ của mình, đã đội vương miện cho Thôn Vỹ Dạ; hoặc, như Nguyễn Nhược Pháp, người đã làm cho những thước đường dẫn tới Chùa Hương ngạt ngào trầm, hương vĩnh cửu.

Như Hàn Mặc Tử, như Nguyễn Nhược Pháp..., Vũ Hữu Định không còn nữa, nhưng những phần đất, những địa danh (những phần xương thịt của tổ quốc, của quê hương,) nhờ họ mà thơm tho hơn, đáng yêu hơn, vẫn còn đó. Và, tấm lòng chúng ta yêu mến họ, các thi sĩ, vẫn còn đó, dù có trải qua bao vật đổi sao dời.

Du Tử Lê

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý:
Giữa cảnh nghèo cô đơn
Ông nằm đó, im lìm trên chiếc giường sắt nhỏ. Căn phòng chật chội ngột ngạt, hầm hập hơi nóng của buổi trưa Sài Gòn. Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý trở mình khó khăn khi thấy chúng tôi đến thăm ông. Ông yêu cầu đỡ ông ngồi dậy, thay áo cho ông ra ghế uống trà nói chuyện dù chúng tôi muốn ông cứ nằm nghỉ và trò chuyện. Nhạc sỹ lừng danh Nguyễn Văn Tý, thần tượng của nhiều thế hệ người Việt Nam yêu tình ca, nhạc cách mạng hiện ở trong căn nhà nhỏ, cũ kỹ, tường vôi tróc lở, thiếu thốn tiện nghi ở số 94/19 đường Trần Khát Chân - quận 1 - TP HCM.

Nhìn quanh căn nhà, vài chiếc ghế cũ kỹ, bộ ấm chén cọc cạch ố vàng, chiếc đài cát sét han gỉ từ những năm 80. Bên cạnh giường ông nằm là chiếc đàn organ bám bụi, hỏng mất vài phím, có tuổi thọ không dưới 15 năm ông dùng để viết nhạc. Trên tường trơ trọi chiếc đàn tì bà cũ sờn, tróc hết nước sơn đã lâu rồi không cất tiếng vì những ngón tay của ông 5 năm nay không còn nghe lời nhạc sỹ nữa. Ông với chiếc gậy chống ba chân, khó khăn đứng lên, chúng tôi dìu ông ra ghế. Nhạc sỹ nói: "Bác quen rồi, nếu không có ai dìu, để có thể đi từ đây ra nhà vệ sinh, bác phải mất gần 10 phút". Lòng nghẹn đắng, chúng tôi run run khi chạm vào người nhạc sỹ - thần tượng của ông bà, cha mẹ chúng tôi một thời giờ như ngọn nến trước gió, lê đi từng bước nhỏ khó khăn.

Trên ban thờ, hai lư hương của hai bà vợ lạnh lẽo. Ông ngồi xuống thở dốc, khó khăn và cười: "Bác không biết các cháu là ai, nhưng thấy có người đến thăm bác mừng lắm. Cả tuần nay bác chẳng trò chuyện với ai. Buồn chỉ nhìn lên ban thờ, lẩm nhẩm tâm sự với hai bà ấy thôi". Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý có hai đời vợ. Bà vợ đầu tiên sống với ông một năm, sinh hạ một con gái thì qua đời. Bà Bạch Lê là vợ thứ hai - em gái nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, mất năm 2004. Năm nay nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý 85 tuổi, tuổi mà người ta đang vui vầy cùng cháu con, hưởng phúc ấm những ngày cuối đời bình lặng. Nhưng hiện ông sống cô đơn lay lắt trong căn nhà lạnh lẽo. Hai lần tai biến mạch máu não khiến nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý bị liệt nửa người. Lần thứ 3 - lần tai biến cuối cùng không biết lúc nào xảy ra với ông khi sức khỏe của ông càng ngày càng yếu.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đi lại phải có chiếc gậy 3 chân và phải có người dìu. Cô giúp việc mà ông coi như con hàng ngày đến đỡ đần ông việc nhà, nấu nướng. Ngồi bên ông, ôm lấy bàn tay run run của ông và nghe thời gian, không gian như dừng lại. Một lúc sau, người nhạc sĩ già nói: "Từ khi bà ấy mất năm 2004, bác sống cô đơn và buồn lắm. Hai năm sau bác bị liệt. Con ở Hà Nội hơn 10 năm mới vào một lần. Đứa ở Sài Gòn thì một tháng đến thăm bác một lần. Nhiều lúc mong thấy các con lắm, nhưng bác biết chúng nó cũng bận bịu, vả lại cũng khó khăn đủ đường. Mỗi lần Tết đến, vào mồng 2, bác đi thăm các con và lì xì cho các con từ số tiền bác cố gắng mỗi tháng để dành ra một ít. Đó là thời gian bác thấy vui nhất. Giống như hồi trẻ thơ vậy, mong Tết về trước cả tháng. Ngày xưa mong Tết vì pháo thơm, vì có quà lì xì của bố mẹ, giờ mong Tết để nhìn thấy nụ cười của con cháu". Chúng tôi hỏi bác sinh sống hàng ngày thế nào, tiền hưu có đủ trang trải cuộc sống, thuốc men không? Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý buồn buồn nói: "Một tháng bác có 3 triệu tiền lương hưu, nhưng phần lớn dùng để mua thuốc trị bệnh. Còn lại vài trăm ngàn để ăn uống sinh hoạt. Rau cháo đạm bạc qua ngày thôi. Bác phải uống nhiều thuốc lắm, toàn thuốc đắt tiền phải tự mua, còn thuốc được cấp ít dùng vì không hiệu quả.

Lâu lâu bác lại được người ta trả một ít tiền bản quyền, cũng chả biết có ở đâu để đòi, mà có biết thì cũng làm sao mà đi đòi?".
- Thế còn bạn bè có biết bác ốm đau để đến thăm hỏi giúp đỡ bác không ạ?
- Chỉ có một người thôi, mỗi tháng qua biếu bác 200 ngàn. Tháng nào quên thì tháng sau biếu bác 400 ngàn.
Thỉnh thoảng nhà thơ Đỗ Trung Quân và vài người bạn qua thăm, động viên giúp đỡ bác. Có lúc buồn quá, bác gọi điện cho nhà thơ Đỗ Trung Quân hỏi có chương trình ca nhạc gì hay, dẫn bác đi xem với, bác buồn quá. Bây giờ có người để bác gặp mặt, nói chuyện cũng là niềm hạnh phúc, an ủi lớn với bác rồi. Thấy các cháu qua chơi bác vui lắm. Có người trò chuyện bác thấy khỏe ra. Nhạc sỹ nhìn chúng tôi mắt rưng rưng. Dừng lại một lúc, tay run run cầm tách trà, nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý nói tiếp: - Bác không trách bạn bè vì có nhiều người cũng không biết bác hiện thời ra sao, hoặc xa xôi cách trở, người còn người mất. Có người thành đạt, gia tài đồ sộ như ông Phạm Duy, danh tiếng lẫy lừng bác cũng ngồi đây mừng thay cho bạn thôi. Bác mong họ hạnh phúc, khỏe mạnh và không lâm vào tình trạng như bác. Nhiều khi, bác buồn quá ngồi ngẫm lại những kỷ niệm cũ, với anh em bạn bè, với những người phụ nữ bác từng yêu, thời kháng chiến hào hùng ấm tình đồng đội. Rồi những “Dư âm”, “Người đi xây hồ kẻ gỗ”, “Mẹ yêu con”… vọng về từ đâu đó của ký ức để bác nguôi ngoai". Ông nhìn lên ban thờ và mỉm cười: "Bà ấy đẹp lắm, mặn mà và thanh tao.

Những năm bác đi công tác biền biệt, bà ấy (chỉ bà vợ sau - Bạch Lê) phải về ở với mẹ chồng ở Thanh Chương - Nghệ An. Về sau bà ấy kể lại, những khi máy bay địch vần vũ trên bầu trời, bụng mang dạ chửa bà được mẹ bác đỡ lên bè chuối đẩy ra giữa sông để tránh bom. Khi bác về thăm nhà, nghe kể lại mà bác vừa xúc động vừa mừng vì mẹ và vợ mình vẫn an toàn qua cơn bom đạn. Mừng hơn khi bác được làm cha lần thứ hai.

Bác không biết diễn tả thế nào cho các cháu hiểu cảm giác khi bác run run vén mùng nhìn đứa con gái bầu bĩnh, mắt to tròn thích thú nhìn bác, đôi môi chúm chím bập bẹ… Những hình ảnh thiêng liêng ấy là dòng suối âm nhạc tuôn trào cho ca khúc “Mẹ yêu con” ra đời. Các cháu chắc cũng từng nghe bài hát đó"

Nguyễn Phúc

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


Giọt mưa trên tóc
Đường Hai Bà Trưng. Chiều. Một trai một gái tuổi độ 17, 18, đạp xe về hướng Tân Định, đi song song. Bỗng, trời nổi gió ào ào rồi mây đen kéo về vần vũ. Mọi người đều hối hả, đi như chạy, để tránh mưa. Đứa con trai giục:

- Đạp lẹ lên Kim! Qua khỏi đoạn này mới có chỗ đụt.

Đứa con gái gật đầu, chồm lên nhấn mạnh bàn đạp, nhưng chỉ vài phút sau mưa đã rơi lắc rắc xuống hai đứa làm chúng nó cười lên hăng hắc, cái cười hồn nhiên thanh thoát khi thấy mình bị mưa đuổi kịp, cái cười còn nguyên nét trẻ con trong trò chơi “cút bắt”! Chúng nó vội tấp vào mái hiên một tiệm giày. Sau khi dựng xe đạp lại ngay ngắn, Kim nhìn bạn, hơi ân hận:

- Tại Nghĩa đợi Kim mới bị mưa ướt đó. Phải hồi nãy Nghĩa đạp đi trước thì đâu có sao?

Đứa con trai tên Nghĩa vừa nhìn quanh vừa trả lời, người hơi lắc qua lắc lại giống như cành cây đong đưa trong cơn gió thoảng:

- Mình đi chung mà Kim.

Nghe bạn nói, Kim yên lặng nhìn ra mưa mà nghe lòng thật ấm cúng. Sự nhạy cảm của người con gái ở tuổi đó đã giúp Kim nhận thấy một tình yêu nho nhỏ đang nhen nhúm giữa hai đứa, một “cái gì” vừa nhẹ nhàng vừa tinh khiết, mà lại vừa thật là rung động. Một “cái gì” cứ bắt phải cần có nhau; một “cái gì” cứ bắt phải nghĩ đến nhau. Một “cái gì”... Một “cái gì”... Không biết nữa! Kim cảm thấy nóng hai vành tai. Kim nhìn xuống chiếc áo bà ba trắng đang dán vào người từng mảng nhỏ. Tự nhiên, Kim khoanh tay lại che ngực, rồi tự trách thầm: “Phải nghe lời má đội nón thì bây giờ đã có cái gì để ôm cho đỡ ngượng. Con gái gì mà đi đâu cũng đầu trần! Cho đáng...”. Thật ra, Kim thấy đội nón bực bội quá, cứ nghe ngứa ngáy trên đầu như mấy ngày chưa gội và sau đó khi lấy nón ra tóc cứ như bị dán keo nằm nhẹp xuống coi thật chướng mắt. Cho nên, thảng hoặc có đi đâu với má thì Kim cầm theo cái nón lá cho khỏi bị rầy, kỳ dư là đi đầu trần – dù đi học hay đi lao động cũng vậy. Thành ra, tóc Kim bồng lên thật đẹp, đen huyền xõa xuống ngang vai, chao qua chao lại khi Kim nghiêng đầu và lúc nào cũng tự do phất phơ theo chiều gió. Mấy thằng bạn cùng lứa – nhứt là Nghĩa – thường hát ghẹo: “Nắng lên, gió lên cho tóc em bồng...” Và Kim thấy hãnh diện với “mái tóc em bồng” đó.

Cơn mưa thật lớn. Vỉa hè, mặt đường... đều lai láng nước. Làm như là nước từ dưới đất dâng lên!

Bên kia đường là nhà thờ Tân Định với bức tường cao kéo dài. Bên này, chỗ nào có mái hiên là có người đứng đụt. Cách chỗ hai đứa đứng vài căn phố là tiệm nước mà phía trước là chiếc xe mì với hàng ghế đẩu đứng trong mưa chờ khách.

Mái hiên chỗ hai đứa đụt bỗng nghiêng triền qua một bên, đổ ào nước xuống như một dòng thác. Không bảo nhau mà cả hai đứa cùng nhảy lùi vào trong và cùng đứng về phía mái hiên không đổ nước. Khoảng trống không bị ướt dưới mái hiên bây giờ thu hẹp lại chỉ còn một góc nhỏ vừa đủ cho hai đứa đứng. Không đứng sát vào nhau, nhưng đứng thật gần nhau...

Nghĩa quay nhìn phía sau: cửa lưới sắt tiệm giày đóng im lạnh ngắt. Bên trong tủ kiếng, kệ hàng trống bốc, bụi đầy. Nhìn sang Kim, Nghĩa nói:

- Kim biết không? Ông chủ tiệm giày này đã đưa gia đình vượt biên cách đây ba bốn tháng...

- Sao Nghĩa biết?

Kim ngạc nhiên, bởi vì nhà Nghĩa ở xóm Chi Lăng, còn đây là chợ Tân Định.

Nghĩa chỉ tay sang nhà thờ:

- Con nhỏ em của Nghĩa học ở trường nhà thờ bên kia. Chiều nào Nghĩa cũng tới đón nó. Trong khi chờ đợi, nghe mấy anh xích lô nói chuyện với nhau mới biết.

- Họ đi thoát không?

- Không biết nữa. Mà không phải có tiệm giày đi thôi đâu. Cả dãy phố này đều lần lượt chui hết. Cho nên nhà nào nhà nấy đóng cửa im ỉm, Kim thấy không? Nhà Nước tịch thâu lâu rồi sao không thấy cấp cho ai hết.

Kim nhìn ra mưa, bâng khuâng:

- Không biết họ đi có thoát không?

Im một lúc, bỗng Nghĩa ngập ngừng hỏi nhỏ:

- Gia đình Kim có định... có định... đi không Kim?

Kim nhìn bạn, nửa ngạc nhiên, nửa dò xét. Rồi khi thấy không có gì khác lạ trên gương mặt của người bạn trai, Kim thở dài nhìn ra mưa:

- Gia đình Kim mà đi đâu, Nghĩa! Chạy gạo hằng ngày thì lấy vàng đâu mà đi chui?

Nghĩa bối rối, người hơi lắc lư:

- Thì... hỏi là hỏi vậy thôi, chớ Nghĩa cũng biết...

Ba của Kim làm thầy giáo. Hồi thời “ngụy”, bị động viên, rồi chạy chọt được biệt phái trở về đi dạy học – để khỏi đi đánh giặc. Qua trào Việt Cộng, hai chữ “biệt phái” đã làm cho họ nghi là CIA nên bắt đi học tập từ đó đến giờ. Ở nhà, má và chị Hai của Kim chạy ngược chạy xuôi lảnh đồ về may để nuôi năm miệng ăn và góp nhóm chút đỉnh để lâu lâu đi thăm ba của Kim một chuyến. Cho nên, nói chuyện “lo đi vượt biên” cũng như chuyện xuống biển mò trăng...

Bên gia đình Nghĩa cũng không hơn. Ngày xưa, ba Nghĩa làm kế toán ngân hàng, bây giờ đan giỏ chầm nón ở tổ “Mây Tre” Phú Nhuận với má Nghĩa. Hai ông bà sáng đi tối về, đèo nhau trên xe đạp. Nghĩa và con nhỏ em đi học, tối về dán bao giấy bỏ mối cho mấy bà ngoài chợ gói hàng. Bữa cơm gia đình thường là tương chao hoặc ba cái trứng luộc dầm nước mắm. Chuyện “vượt biên” đúng là chuyện mò trăng đáy biển!

Bỗng Kim nhìn Nghĩa, một thoáng tinh ranh nằm trong ánh mắt:

- Còn Nghĩa? Có tính đi không?

Nghĩa phì cười, miệng rộng huệch:

- Kim trả thù hả?

Kim cười bằng mắt, nhái lại câu của Nghĩa khi nãy, người cũng nhẹ lắc lư:

- Thì... hỏi là hỏi vậy thôi.

Không bảo nhau mà cả hai cùng phá lên cười, cái cười che giấu sự sung sướng bên trong của mỗi đứa, cái cười của những người cùng cảnh ngộ gặp nhau, cái cười không phải của niềm vui mà là của sự an ủi. Rồi chúng nó nhìn nhau một thoáng, trước khi quay nhìn đi nơi khác để cảm thấy thật gần gũi nhau vô cùng.

Mưa thôi ồ ạt nhưng vẫn chưa dứt hột thì nửa vùng trời đã hé nắng ở đằng kia. Ánh nắng xiên xiên thật sáng, thật trong làm như vừa được mưa lau sạch bụi! Nắng chiều mà giống như nắng sáng.

Nắng xuyên mưa đổ xuống chỗ Kim và Nghĩa, giống như vệt đèn pha sân khấu. Nghĩa nhìn Kim đứng trong vùng ánh sáng đó bỗng nhớ tới vở kịch thần thoại Liên Xô mà hai đứa đóng trong trường cách đây mấy tháng, trong đó Nghĩa làm người cùng khổ còn Kim là bà tiên áo trắng, mái tóc đầy kim tuyến lấp lánh như kim cương. Bây giờ, những giọt mưa đọng lại trên tóc Kim cũng lấp lánh như kim cương trong tia nắng chiều nghiêng chụp xuống. Đẹp quá!

Kim chợt bắt gặp cái nhìn ngây dại của bạn, nóng bừng hai tai.

- Nhìn gì kỳ vậy Nghĩa?

Nghĩa giật mình, người hơi lắc lư:

- Nghĩa đang nhìn mấy giọt nước trên tóc Kim. Nó... Nó...

Kim mỉm cười, lắc mạnh đầu mấy cái rồi đưa hai tay vuốt tóc tém vào ót. Tóc được gom lại, dính vào nhau thành một cái đuôi cong cong.

Nghĩa tiếp:

- Nó giống như kim cương. Thật giống kim cương. Uổng quá!

- Cái gì uổng?

Kim ngạc nhiên hỏi. Nghĩa đang tiếc rẻ hình ảnh đẹp của Kim khi nãy với những giọt mưa trên tóc, bất ngờ bị hỏi vặn, không biết phải trả lời làm sao. Nghĩa đưa tay gãi ót, chặc lưỡi:

- Thì...

Mắt Nghĩa bỗng sáng lên, mặt hí hửng. Một ý nghĩ vừa thoáng qua trong đầu, Nghĩa chụp lấy như người sắp chết đuối chụp lấy cái phao:

- Uổng quá chớ! Nếu là kim cương thiệt thì Kim dư sức đưa gia đình đi vượt biên rồi.

Rồi Nghĩa cười lên ha hả, cái cười của người vừa thoát nạn. Kim cũng cười theo bạn, nhưng cười vì cái ý nghĩ ngộ nghĩnh bắt nguồn từ những giọt mưa trên tóc.

Trời cũng vừa hết mưa. Đường phố khi nãy vắng tanh, bây giờ đầy người trở lại. Làm như mưa ngừng cho nước rút xuống để rừng người mọc lên! Nghĩa và Kim nhập vào đoàn người đạp xe về ngã Phú Nhuận. Không khí sau mưa mát rượi. Hai đứa đều có cảm giác như mặt mũi mình vừa được rửa sạch trong cơn mưa.

Đến ngã tư Phú Nhuận, Nghĩa vẫy tay chào bạn:

- Thôi, “bye” nghe Kim.

Rồi cắm đầu đạp nhanh về hướng Gia Định trong lúc Kim quẹo sang trái để về cổng Phi Long.


***

Sau bữa cơm tối, ba gọi Nghĩa và con nhỏ em vào buồng, kéo ngồi xuống chiếc chiếu trải dưới đất, vẻ nghiêm trọng, thấp giọng nói:

- Hổm rày ba má giấu tụi con. Bây giờ, tới lúc phải cho tụi con biết. Khuya nay mình vượt biên.

Nghĩa cảm thấy choáng váng mày mặt, mồ hôi đổ ra như tắm. Trước mắt Nghĩa bỗng là một khoảng trống không mơ hồ. Nghĩa không còn thấy ba. Nghĩa không còn thấy em. Nhưng Nghĩa còn loáng thoáng nghe tiếng ba nửa xa nửa gần:

- Ba sẽ chở má. Nghĩa chở em. Mình đạp xuống cầu Kinh, bỏ xe ở nhà bác Tám rồi băng ruộng ra bờ sông cách đó chừng năm trăm thước. Ghe chờ ở đó. Tụi con đừng đem gì theo hết. Cứ đi tay không như mình đi thăm bác Tám vậy. Hiểu chưa?

Nghĩa gật đầu như người máy, nhưng Nghĩa không hiểu. Thật tình không hiểu! Ba má vẫn hay than vắn thở dài: “Phải chi nhà mình có chút đỉnh gì để liều một chuyến vượt biên như thiên hạ coi ra sao”. Khi gặp bạn bè, ba thường chép miệng: “Tôi mà biết bị kẹt lại như vầy, tôi đã đưa gia đình di tản cha nó hồi bảy mươi lăm rồi! Bây giờ thì thôi. Đành muôn năm ở lại với Bác!”. Vậy mà bây giờ... bây giờ... Nghĩa không hiểu! Thật tình không hiểu! Mới hồi nãy đây, còn đứng đụt mưa chung với Kim, còn đùa nhau về chuyện vượt biên – lý do để hai đứa thấy gần nhau hơn nữa – còn đạp xe song song trên đường dài – dù đường dài có dài thăm thẳm chắc hai đứa lúc nào cũng đạp xe song song... Vậy mà bây giờ... bây giờ... Sao nó giống như ngã tư Phú Nhuận, mỗi đứa đi về một hướng, hai hướng ngược nhau trên một đường thẳng, nghĩa là chẳng bao giờ gặp lại nhau dù có kéo mãi về vô tận. Và những giọt mưa trên tóc. Ờ... những giọt mưa trên tóc! Những gì hồi nãy mới thấy đây, mới hiện diện đây, những rung động, những cảm nhận thật rõ ràng mới đây, hồi nãy, khi đứng đụt mưa với Kim dưới mái hiên tiệm giày... bây giờ sao giống như giọt mưa trên tóc, chỉ một cái lắc đầu đã rơi mất trong không gian! Còn Kim?... Kim?... Kim sẽ làm sao? Một câu hỏi thật ngớ ngẩn nhưng nói lên chiều sâu của tình yêu vừa chớm, thứ tình yêu chưa rõ nét như bước chân chập chững của trẻ thơ, thứ tình yêu còn thơm mùi giấy mực học trò, còn thật thà như đọc cửu chương hai! Nghĩa bỗng thấy cần phải gặp Kim. Gặp ngay bây giờ. Không biết để làm gì, nhưng phải gặp. Không biết sẽ nói cái gì, nhưng cứ gặp trước cái đã. Có một cái gì thúc đẩy từ bên trong. Có một cái gì kêu gọi từ bên ngoài. Nghĩa không hiểu nữa. Cảm thấy thật cần thiết, thật cấp bách!

Nghĩa bước ra phòng khách, với tay lên kệ lấy đại hai quyển sách gì đó rồi nói với ba đang soạn giấy tờ trên bàn:

- Con đem trả sách cho thằng Tuân.

Khi thấy ba nhìn mình soi mói, Nghĩa tiếp:

- Trả cho nó học.

Ba gật đầu:

- Ờ... Nhưng ba cấm con nói “chuyện đó” với bất cứ ai, dù là bạn thân cũng vậy. Nghe chưa?

Nghĩa gật đầu, đẩy xe đạp ra sân. Ba nói với theo:

- Trả rồi về ngay nghe con, Nghĩa.

Nghĩa "dạ" rồi phóng lên xe, đạp thật nhanh. Trên đường Phan Đăng Lưu (Chi Lăng cũ), Nghĩa ném hai quyển sách vào một đống rác rồi đi thẳng.

Nhà Kim ở xóm cổng Phi Long. Nghĩa vẫn quen lui tới. Vậy mà bây giờ sao thấy nó xa thăm thẳm. Mặc dù xe đã lao nhanh nhưng Nghĩa vẫn có cảm tưởng như hãy còn quá chậm. Nghĩa vừa nhấn mạnh bàn đạp vừa nghĩ miên man: “Không biết phải nói làm sao đây? Ba đã cấm thì mình làm sao nói? Mà không nói làm sao Kim hiểu? Không biết mình đi có thoát không? Rồi cuộc đời sẽ ra sao? Không có Kim mình sẽ ra sao? Còn Kim? Kim sẽ ra sao? Ra sao?... Ra sao?...”. Thật nhiều câu hỏi để không có được một câu trả lời. Người con trai đó cảm thấy thật chơi vơi, tất cả đều vuột khỏi tầm tay, tất cả đều vượt khỏi tầm suy luận của nó, nó không hiểu được gì hết, không chủ động được chuyện gì hết! Lần đầu tiên, người con trai đó nhận thấy cuộc đời này quá nhiều rắc rối chớ không đơn giản như những bài toán ở trong trường, mà mình thì giống thằng học trò dốt nhìn tấm bảng đen thấy nó rộng bằng cái sân banh...

Khi Nghĩa vừa thắng xe trước cổng nhà Kim thì con chó chạy ra sủa mấy tiếng rồi chồm lên cửa sắt vẫy đuôi mừng. Có tiếng má của Kim hỏi vọng ra:

- Ai đó?

- Dạ thưa cháu.

Nghĩa trả lời.

- Nghĩa hả? Đi đâu tối vậy?

Rồi đèn dưới hiên được bật lên, một bóng đèn nhỏ xíu tỏa ánh sáng vàng vọt như ánh sáng cây đèn dầu. Má của Kim bước ra mở cổng:

- Cháu ngồi chơi. Em nó tắm rồi ra bây giờ. Bác còn phải vô may tiếp mớ đồ để mai giao...

Nghĩa “dạ”, rồi dựng xe vào tường rào. Con chó chạy lại quắn quýt mừng rồi chạy vào trong sủa mấy tiếng như để báo là nhà có khách! Nghĩa nhìn quanh: nhà vắng teo, chỉ nghe có tiếng máy may xành xạch đều đều. Nghĩa nghĩ: “Chắc mấy đứa nhỏ về dưới quê hết rồi. Chớ không thì đã chạy ào ra mừng như mọi khi”. Sân nhà Kim tuy nhỏ nhưng tráng xi măng sạch sẽ. Ở góc sân có cây mận khá lớn, tàng gie ra phủ lấy sân như cây lộng. Dưới gốc mận, có mấy gộc củi to đặt đứng để làm ghế ngồi. Trên thân cây mận, hãy còn treo mấy giỏ phong lan mà ba của Kim trồng hồi đó.

Khi Nghĩa vừa ngồi xuống cạnh gốc mận thì Kim cũng vừa bước ra hiên nhà. Tóc Kim chải ngược về phía sau, để lộ khuôn mặt đều đặn với đôi mắt ngời tinh anh. Kim dừng ở hiên một chút... như để định hướng, rồi mới bước tiếp ra sân. Chỉ trong một thoáng đó thôi – một thoáng dừng lại của Kim – Nghĩa bỗng thấy không gian chìm mất chỉ còn lại gương mặt của người bạn gái là hiện hữu, là sinh động, là rạng rỡ... Nghĩa thấy gương mặt đó thật rõ, thật sáng. Thấy mái tóc hãy còn láng nước, tóc mai còn dán vào má vào tai. Thấy vầng trán rộng, thấy đôi mày dài. Thấy ánh sao trong mắt, thấy nét cười phớt nhẹ làn môi... Chỉ trong có một giây thật ngắn ngủi – như một chớp mắt – mà sao ngần đó nét, ngần đó chi tiết được Nghĩa nhìn thấy hết, thâu nhận rõ hết. Phải chăng đó là hình ảnh của Kim mà Nghĩa muốn ghi lần cuối cùng vào tim vào óc? Ghi lấy để giữ lấy mãi mãi, bởi vì, sẽ không còn có lần nào khác nữa để Nghĩa được nhìn Kim như bây giờ...

Kim vừa bước về hướng Nghĩa, vừa hỏi:

- Ủa? Đi đâu mà tối vậy Nghĩa?

Yên lặng. Từ cái thoáng dừng lại khi nãy của Kim, từ cái thoáng đặt hết tâm tư vào gương mặt của người bạn gái, Nghĩa không còn cảm nhận được sự hiện diện của mình. Tiếng của Kim, Nghĩa nghe loáng thoáng như trong chiêm bao.

Nghĩa chỉ sực tỉnh khi Kim đã ngồi đối diện. Người con gái đó có dáng ngồi thật thẳng, thật ngoan, thật dễ thương với hai bàn tay đặt nằm thoai thoải trên đầu gối. Ở Kim, toát ra một cái gì vừa tươi mát vừa tinh khiết, lại vừa trầm lặng với sức sống căng đầy. Nghĩa cảm thấy bối rối, không biết phải nói cái gì, nói làm sao, rồi miên man nghĩ: “Chắc Kim sẽ buồn lắm khi nghe mình nói. Chắc Kim cũng sẽ... cũng sẽ đau khổ lắm khi biết mình đi. Bây giờ còn ngồi đây với nhau chớ lát nữa đây, rồi ngày mai, rồi mãi mãi sẽ không còn gặp nhau nữa. Vĩnh viễn không gặp nhau nữa. Vĩnh viễn... Vĩnh viễn...”. Nghĩa thấy thương Kim. Nghĩa thấy thương Nghĩa. Nghĩa thấy thương hai đứa. Nghĩa muốn khóc! Nghĩa không dám nhìn thẳng mặt Kim. Nghĩa nhìn đôi bàn tay thon nhỏ của Kim, đôi bàn tay ngoan hiền nằm trên đầu gối. Đôi bàn tay đó đã từng vẫy gọi Nghĩa trong đám đông, đã từng vỗ vào nhau thành nhịp khi Nghĩa đàn, và một hôm, đã từng kết lại giùm Nghĩa cái nút áo, sau một lần vật lộn với bầy em của Kim. Đôi bàn tay đó, rồi đây, suốt cuộc đời về sau, Nghĩa sẽ không còn được cầm lấy, nắm lấy, hay nhìn thấy, dù là trong giấc mộng. Không tự chủ được, Nghĩa nghiêng người tới cầm lấy hai bàn tay của Kim. Một cử chỉ thật đột ngột làm Kim sửng sốt định rút tay về, nhưng khi thấy Nghĩa chẳng có nét gì sỗ sàng nên để yên. Nghĩa giữ tay Kim trong tay mình như giữ một vật gì đẹp nhứt, quí nhứt của cuộc đời này. Như hơi thở. Như nhịp tim. Như tình yêu... tình yêu... tình yêu...

Yên lặng. Nghĩa ngồi như pho tượng. Lưng khom khom, đầu chúc xuống, cùi chỏ chống lên đùi làm hai vai nhô lên. Kim không nhìn thấy mặt Nghĩa, nhưng Kim “nhìn” thấy tâm tư của Nghĩa trong đôi bàn tay và trong dáng ngồi của bạn. Đôi bàn tay muốn nắm thời gian ngừng lại và dáng ngồi nói lên niềm thống khổ vô biên...

Yên lặng. Rồi có tiếng Kim hỏi, thật trầm tĩnh: "Nghĩa đi hả?"

Không có tiếng trả lời. Nhưng Nghĩa gật gật đầu, cái đầu đã ở sẳn tư thế cúi thấp xuống của một người nhận chịu số phận! Rồi vai Nghĩa bỗng run run, Nghĩa gục xuống tay nấc lên khóc. Bấy giờ – và chỉ bấy giờ – những ngón tay của hai đứa mới đan vào nhau, tự nhiên đan vào nhau, giữ lấy nhau, giữ chặt lấy nhau. Không biết tại sao? Không biết để làm gì? Mà cần gì phải biết, khi tất cả đều vô nghĩa? Vô nghĩa!

Yên lặng. Không gian không còn nữa. Thời gian không còn nữa. Vũ trụ bây giờ nằm trọn trong lòng tay hai đứa, một vũ trụ rách nát, đau thương. Ở đó, giữa những ngón tay đan chặt vào nhau, tình yêu vừa mới sinh ra, còn măng non nhưng sao đã thấy già nước mắt....

Yên lặng. Kim không khóc. Kim vẫn ngồi thẳng, nhìn thẳng, tuy tâm hồn đã tê dại. Phải một lúc lâu sau, thật lâu sau, Kim mới trở về với chính mình để nhận thấy rằng bỗng nhiên mình già đi mười mấy tuổi! Kim nhìn xuống Nghĩa, chỉ thấy cái đầu tóc ngắn, cái ót gầy gầy, đôi vai nhô cao. Hình ảnh cuối cùng của Nghĩa là đây chăng? Người con trai có đôi mắt xếch xếch, có cái cười rộng huỵch làm cho một bên má lúm đồng tiền, người con trai đã làm Kim rung động, người con trai đã làm Kim xao xuyến, người con trai đó, bây giờ, Kim chỉ nhìn thấy được có cái ót và đôi vai thôi! Rồi mai mốt... mai mốt... Một chua xót đang trạo trực dâng lên. Kim cắn môi kềm lại. Yên lặng...

Một lúc sau, Kim hỏi, giọng lạc đi:

- Chừng nào?

Nghĩa ngồi thẳng lên, tay vẫn không rời tay Kim, mặt còn đầy nước mắt, giọng cũng lạc đi:

- Khuya!

Kim nhìn gương mặt méo mó vì đau khổ của Nghĩa bỗng nghe xúc động dạt dào. Kim muốn chồm tới ôm lấy Nghĩa, ôm lấy gương mặt đầy nước mắt đó áp vào má mình, ôm thật chặt, xiết thật chặt, để mọi niềm đau được cùng chia sớt, để mọi nỗi hận được cùng xẻ đôi. Nhưng Kim gượng lai, gượng lại vì lễ giáo, và gượng lại vì sợ không rời nhau ra được nữa... Trào lòng dâng dậy miên man, Kim nhắm nghiền mắt lại, siết những ngón tay của Nghĩa, siết với hết sức mình, siết thật mạnh, siết thật đau, siết như để nén một trời thống khổ, siết như để bóp vỡ một cái gì uất nghẹn trong tim, siết như đang cố gắng nuốt một liều thuốc đắng, siết như... siết như để chia tay lần cuối trước khi lìa đời… Kim cắn răng để đừng bật khóc!

Yên lặng. Lâu sau, Nghĩa buông tay Kim đứng lên, lủi thủi lại lấy xe đạp. Kim bước theo, nhẹ như một cái bóng. Kim mở cổng, tiếng cổng rỉ sét rên lên. Nghĩa dẫn xe ra, không dám nhìn lại cũng không dám nói một lời, chỉ phóng lên xe đi thẳng. Kim đóng cổng, cổng sắt lại rên lên trước khi kêu cái rầm khô khan. Kim có cảm tưởng như mình vừa bị nhốt trong tù. Ngoài kia, đã là một thế giới khác.

Khi Kim bước lên cầu thang để lên gác – cái gác lửng ba làm cho Kim ngủ và học riêng một mình trên đó – Kim bỗng nghe hai chân mình yếu đi, chẳng còn chút sức lực nào hết. Kim cố bám từng nấc thang, mồ hôi đổ ra như tắm. Lên đến bên trên, Kim chỉ còn đủ sức gieo mình xuống giường, úp mặt xuống gối, khóc ngất... Bao nhiêu nước mắt trần gian xin gởi hết cho Kim, người con gái mang tâm trạng người góa phụ.


***

Trời mưa Paris. Ở đây không có “mưa rồi chợt nắng” như ở Sàigòn. Ở đây, mưa không ngập tràn cống rãnh, mưa không đưa rác trôi quanh phường phố. Cũng không có trẻ con cởi truồng chạy giỡn trong mưa. Cho nên, chẳng có gì để gợi nhớ như mưa Sàigòn...

Nghĩa ngồi một mình uống cà phê trong một bar ở khu Maubert. Hai cô đầm tránh mưa kéo vào ngồi bàn trước mặt. Những giọt mưa trên mái tóc vàng gợi nhớ những giọt mưa trên mái tóc đen của Kim hồi đó. Hồi đó, nghĩa là đã hơn bảy năm. Bảy năm không một tin tức gì hết của Kim, mặc dù đã gởi không biết bao nhiêu thơ, đã nhắn không biết bao nhiêu lời qua bạn bè của hai đứa! Cứ im lìm trống rỗng, làm như những chuyện gì đã xảy ra hồi đó chỉ là một ảo ảnh, một giấc mơ...

Những giọt mưa trên tóc hai cô đầm trước mặt vẫn lấp lánh dưới ánh đèn trong bar càng gợi lại hình ảnh Kim trong lần đụt mưa hồi đó với những giọt mưa trên tóc, rõ ràng như Nghĩa đang nhìn bây giờ. Vậy mà bây giờ….

Nghĩa đốt điếu thuốc. Hít một hơi dài bỗng nghe khói thuốc thật đắng và làm cay chảy nước mắt!

Tiểu Tử

Post Reply