Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Thời Gian Nước Rút

VI ANH
Còn mấy ngày nữa là tới ngày bầu cử 2 tháng 11 năm 2010. Phiếu bầu khiếm diện hay bầu bằng thơ cơ quan bầu cử ở Cali, tiểu bang đông dân, đông cử tri nhứt Mỹ đã gởi đến cho cử tri. Và có nhiều cử tri bầu bằng thơ, nhứt là cử tri Mỹ gốc Việt đã gởi phiếu bầu đi rồi. Đây là thời gian chạy nước rút của hàng mấy trăm ứng cử viên. Quan trọng nhứt là ứng cử viên liên bang tranh 435 ghế dân biểu Hạ Viện, 37 ghế Thượng Nghị Sĩ (1 phần 3 Thượng Viện), 37 ghế thống đốc tiểu bang, và rất nhiều ghề dân biểu, thượng nghị sĩ tiểu bang và nhiều chức vụ dân cử của chánh quyền tiểu bang, thành phố khác.

Theo thông lệ cuộc bầu cử nửa nhiệm kỳ tổng thống cử tri thường xem không quan trọng như kỳ bầu cử bốn năm một lần có bầu tổng thống. Nhưng kỳ bầu cử nửa nhiệm kỳ tổng thống này rất quan trọng với TT Obama, với hai Đảng Cộng Hoà, Dân Chủ, và với dân chúng Mỹ.
TT Obama còn hai năm nữa là hết nhiệm kỳ mà Ông còn nhiều dự luật cần sự ủng hộ của một Quốc Hội lưỡng viện với đa số do Dân Chủ nắm như quốc hội thời Ông mới lên làm tổng thống và hai năm đầu của nhiệm kỳ của Ông, mà nhiệm kỳ của Quốc Hội này sắp dứt sau cuộc bầu cử 2/11/2010.

Nếu Cộng Hoà chiếm đa số ở Quốc Hội sau cuộc bầu cử 2/11 này, thì TT Obama sẽ thành con “vịt què” quá sớm, nói theo danh từ chánh trị bình dân của người Mỹ. Tức là. Ông khó mà hoàn thành trong những dự luật liên quan đến chiến lược thay đổi mà Ông hứa khi ứng cử như kinh tế, tài chánh, thương mại, việc làm. Ngay cái đạo luật cải tổ y tế mà Quốc Hội đa số Dân Chủ đã thông qua và Ông đã ban hành, Cộng Hoà nếu chiếm đa số cũng có thể thay đổi gần hết như hủy bỏ vậy.
Nên TT Obama dấn thân sâu mạnh vào cuộc bầu cử Quốc Hội liên bang. TT Obama là vị tổng thống đi vận động cho gà nhà nhiều nhứt. Người đương quyền, chánh đảng, tổng thống, ứng cử viên lúc nào cũng nhiều lợi thế hơn người đối lập và mới ứng cử. TT Obama đi như con thoi ủng hộ gà nhà dưới nhiểu hình thức từ gây quỹ, cổ động. Ông cố gắng tái chinh phục lại thành phần cử tri trẻ, cấp tiến, thiên tả là thành phần nòng cốt bỏ phiếu cho Ông, làm nên sự nghiệp cho Ông. Ông mướn các kênh MTV, BET và CMT để trò chuyện trực tiếp với giới này. Ông cho chuyển trực tiếp trên Internet, cho phép hàng ngàn thanh niên mạng có thể tham gia đặt câu hỏi. Nhưng theo báo Figaro Pháp ít nhậy cảm với chuyện bầu cử Mỹ mà cũng phải nhận định tình thế không khá như thời Ông ứng cử. Ông bị giới trẻ chất vấn nhiều hơn ủng hộ. Hầu hết những lời Ông nói là để tự vệ hơn là vận động. Họ quây Ông về vấn đề thất nghiệp. Ông đã cố chống chế, cho rằng chính sách mà ông tiến hành đã giúp nước Mỹ tránh có thêm 3 triệu người thất nghiệp. Không phải mình Ông, mà Cựu TT Clinton, và vợ là Bà Hillary cũng nhảy vào tiếp.

Tình hình sắp đến ngày bầu cử Quốc Hội rất gay go cho TT Obama và chánh quyền Dân Chủ. Trước bầu cử, Dân Chủ chiếm đa số ở Thượng Viện với 17 nghị sĩ Dân Chủ, 2 Nghị sĩ độc lập thường bỏ thăm theo Dân Chủ và 1 Chủ Tịch Thượng Viện là Phó TT, là phiếu quyết định khi hai bên Cộng Hoà và Dân Chủ biểu quyết ngang ngửa.

Còn bây giờ theo các nhà quan sát bầu cử nhận thấy hai bên Cộng Hòa và Dân Chủ sát nút nhau trong hai tuần nước rút; Dân biểu Hạ viện Dân Chủ có thế mất 40 ghế, Cộng Hoà có thể thêm 39 ghế. Cơ khổ ứng cử viên Pelosi cũng không được nhiều ủng hộ từ đồng viện tái ứng cử và ứng cử viên đồng Đảng nhờ giới thiệu ở địa phương để gây quỹ hay tăng uy tín vì đồng viện và đồng đảng xem Bà là người hơi độc đoán. Nếu Bà đắc cử, Cộng Hòa đa số, Bà cũng mất ghế chủ tịch Hạ Viện và Dân Chủ đa số cũng chưa chắc các dân biểu tân cử chọn bà.

Cử tri coi vấn đề kinh tế là quan trọng nhứt. TT Obama luôn biện minh việc dùng 800 tỷ nợ thuế non do dân sẽ đóng để trả số tiền tài trợ cho các định chế tài chánh không sụp đổ và tạo thêm công ăn việc làm là có kết qủa. Nhưng con số thăm dò không cùng ngôn ngữ như Ông. Hồi Ông nhậm chức tỷ lệ thất nghiệp là 12%, sau gần 2 năm lãnh đạo đất nước, Ông xuất hàng ngàn tỷ cứu nguy kinh tài chánh nói để mong kích cầu kinh tế, tạo thêm việc làm mà tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức 9,6%.

Bộ tham mưu kinh tế chánh trị của Ông ra đi hàng loạt.
Dù TT Obama thừa nhận một số sai lầm chiến thuật nhưng Ông không tiếc uổng điều gì cả. Phe Cộng Hoà trước sau như một khai thác tối đa thất bại kinh tế này của Ông..

Cộng Hoà dồn mũi nhọn tấn công hai chương trình mà Cộng Hòa cho là thất bại nhứt của TT Obama và phe đảng Dân Chủ: cải tổ y tế và cứu nguy các công ty tài chánh của Wall Street.

Mùa bầu cử này tuy là mùa bầu cứ nửa nhiệm kỳ tổng thống nhưng chi phí kỷ lục, các cơ quan quảng cáo tranh cử và cơ quan truyền thông của Mỹ hốt bạc. Đại đa số các tổ chức quyền lợi đặc biệt hiến tiền cho ứng cử viên Cộng Hoà, theo báo chí Mỹ, đã giúp đến cuối tháng 9 là 100 triệu gấp đôi cùng thời kỳ trong mùa bầu cử 2006.
Những người Cộng Hoà muốn biến cuộc bầu cử 2010 trỏ thành một cuộc trưng cầu dân ý về sự tín nhiệm của dân chúng đối với TT Obama.
Nhiều người trong chánh phủ của TT Obama cũng nói với báo Times, Cộng Hoà đối lập chắc sẽ thêm ghế ở Quốc Hội./. ( Vi Anh)

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Tranh cử tự do, dù bẩn còn hơn không!

Chính vì sống trong những xã hội mở, có tự do thông tin và tự do phát biểu nên những “đòn bẩn” đó mới bị phơi bầy cho công chúng thấy và phán đoán về các nhà chính trị muốn đại diện cho họ! Ở những nước độc tài, mọi quyết định chính trị đều diễn ra trong phòng kín. Chỉ có các ông bà trong Bộ Chính Trị hay Trung Ương Ðảng được dự họp,
người ngoài không thể biết được các quan đã dùng những đòn bẩn như thế nào để hạ thủ nhau…

*

Một ứng cử viên vào hội đồng một thị xã ở phía Nam California nhận được cú điện thoại của người bạn hỏi: Tại sao anh lại dùng bích chương vận động bằng tiếng Á Rập? Ngạc nhiên, ứng cử viên cực lực cải chính mình không bao giờ biết tiếng Á Rập. Rồi ông đi tìm coi. Có một tấm bích chương in hình ông với hàng chữ, đại ý, “Ðây là người lãnh đạo Á Rập mà thành phố chung ta đang cần!” Bên cạnh đó là mấy chữ Á Rập ngoằn ngoèo không ai hiểu được.

Tại sao lại có tấm bích chương như vậy? Ai cũng đoán là những người chống vị ứng cử viên này đã in và đem trưng khắp nơi, với mục đích để nhiều cử tri hiểu lầm rằng ông ta, với cái tên Kalasho nghe lạ tai, là một người gốc Á Rập. Ai cũng biết, sau vụ 11 tháng 9 năm 2001 hiện nay nhiều dân Mỹ không có thiện cảm với người Á Rập. Gây ra vụ hiểu lầm như thế có thể làm cho ông Kalasho mất một số phiếu. Trong cuộc tranh cử nào cũng vậy, các ứng cử viên không những tìm cách đi kiếm từng lá phiếu ủng hộ mà còn cố làm sao cho đối thủ mất phiếu, mất một lá phiếu nào cũng đều tốt cả! Ông Kalasho phải nhắc cho mọi cử tri trong thị xã biết ông là người gốc Ba Lan. Ðối với nhiều người thì tên gốc Ba Lan, Ấn Ðộ, hay Ukraine đều khó đọc như tên Á Rập cả!

Không một cuộc tranh cử nào tránh được những “đòn bẩn” như vụ in bích chương vu vạ này. Các nhà chính trị “thiết tha muốn làm đại biểu cho dân” thường dùng nhiều thủ đoạn để “làm xấu” lẫn nhau. Chúng tôi viết hai chữ “làm xấu” cho nhẹ, không hàm ý phê phán dạy đời. Thông thường mọi người gọi đó là những thủ đoạn “bôi bẩn.” Theo một tổ chức nghiên cứu về bầu cử ở Mỹ, từ đầu năm 2010 đến tháng 10 này, các ứng cử viên ở khắp nước Mỹ đã in 900,000 tài liệu cổ động tranh cử, mà trong đó có 20% nhắm bới móc đời tư đối thủ. Tỷ lệ này đã tăng vọt vì hai năm trước đây, chỉ có 14% các bài quảng cáo nhắm bôi bẩn cá nhân mà thôi.

Khi cần “đánh” đối thủ để giành chức đại biểu cho dân, người ta “bới móc” coi trong cuộc đời bên kia có cái gì đáng “bêu xấu” hay không. Một ứng cử viên dân biểu ở Florida bị phe địch tố cáo là đã “không trả tiền nợ khi dùng thẻ tín dụng” cho đến lúc bị ngân hàng tố cáo. Ở một nước tự do, đi tìm các tin tức như vậy rất dễ. Hồ sơ tín dụng của mọi cá nhân đều được các ngân hàng lưu trữ và trao đổi cho nhau, cái gì cũng được công khai hóa dễ dàng. Nhưng ứng cử viên bị tố cáo “trốn nợ” trên đã có dịp thanh minh. Quả nhiên có lần ông dùng thẻ tín dụng rồi quên không trả tiền nợ đúng hạn đến nỗi bị nhà băng truy tố. Ông giải thích, trong thời gian đó ông đang đi lính đánh nhau ở Afghanistan, gia đình ông ở nhà lơ là không coi hết các lá thư ngân hàng đòi nợ! Thế là các cử tri được nhắc nhở thành tích của ông trong quân ngũ, và đối thủ bôi nhọ ông bị mang tiếng “quấy hôi bôi nhọ!”

Tại California, vừa rồi ông Thống Ðốc Arnold Schwarzenegger mới gặp cả hai vị đang muốn kế vị ông, trên đài truyền hình. Trước ống kính ti vi, ký giả điều khiển chương trình bất ngờ đề nghị hai ứng cử viên Cộng Hòa và Dân Chủ hãy cam kết kể từ nay không tấn công nhau về cá nhân nữa, mà chỉ cãi nhau trong những chuyện đứng đắn về đường lối, chính sách mà thôi. Ông Schwarzenegger ủng hộ ý kiến đó. Ứng cử viên Jerry Brown nói sẵn sàng cam kết như thế nếu bên kia cũng chịu. Bà Meg Whitman đồng ý sẽ không đả kích nhau về đời tư, nhưng sẽ tiếp tục tấn công cá nhân đối thủ về những điều liên quan đến việc công. Thế là vụ cam kết không thành. Trong tuần lễ cuối cùng trước ngày bỏ phiếu, quý vị sẽ tiếp tục nhận được những truyền đơn của hai ứng cử viên này nói về tiểu sử của nhau! Chắc số tài liệu về ông Brown sẽ nhiều hơn, vì bà Whitman chi số tiền tranh cử gấp bẩy lần địch thủ (tổng cộng bà dùng đến gần 46 triệu Mỹ kim cho cuộc chạy đua này, trong đó 39 triệu là tiền túi bà bỏ ra). Ông Brown cũng không ngại ngần bới móc đời tư của bên địch. Trong một tờ truyền đơn in rất đẹp trên giấy cứng gửi tới nhà mọi người dân California, người ta thấy hình bà Whitman với bao nhiều đồng đô la $100 bay trước mặt. Cả tờ truyền đơn chỉ cốt gây cảm tưởng là bà Whitman đại diện cho giới đại phú ở Wall Street chứ không phải cho người dân bình thường. Truyền đơn này chỉ đưa ra một sự kiện: Bà đã bị tòa phạt vì dùng tin mật mua bán cổ phiếu kiếm lời gần 2 triệu đô la, phải trả lại hết.

Lịch sử tranh cử ở nước Mỹ ngay từ thời lập quốc đã có những vụ bôi bẩn lẫn nhau. Một vị tổng thống lớn như Thomas Jefferson từng bị nghi là đã trả tiền cho một người viết lời vu cáo, ám chỉ đối thủ John Adams là người “ái nam ái nữ.” Tổng Thống Martin Van Buren đã bị tố cáo là người thích mặc quần áo lót phụ nữ! Và Tổng Thống James Buchanan từng bị đối thủ bới móc là ông có lúc đã định treo cổ nhưng không thành công! Tất nhiên, nước Mỹ không chiếm độc quyền về nạn bêu xấu nhau trong mùa tranh cử. Các nhà chính trị Pháp, Anh hay Ðức cũng không ngần ngại dùng “mọi phương tiện trong vòng hợp pháp” để hạ lẫn nhau, không mấy quan tâm đến đạo lý, miễn là mình thắng cử.

Chính vì sống trong những xã hội mở, có tự do thông tin và tự do phát biểu nên những “đòn bẩn” đó mới bị phơi bầy cho công chúng thấy và phán đoán về các nhà chính trị muốn đại diện cho họ! Ở những nước độc tài, mọi quyết định chính trị đều diễn ra trong phòng kín. Chỉ có các ông bà trong Bộ Chính Trị hay Trung Ương Ðảng được dự họp, người ngoài không thể biết được các quan đã dùng những đòn bẩn như thế nào để hạ thủ nhau. Ở các nước cộng sản, các lãnh tụ có thể giết đối thủ, gây ra những tai nạn bất ngờ, vừa kín đáo lại vừa rẻ tiền hơn các cuộc tranh cử trong các nước dân chủ! Lâu lâu những tin mật nới bị tiết lộ, cho thấy chẳng hạn Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ đã vu cáo Võ Nguyên Giáp làm tay sai mật thám Pháp như thế nào để hạ Giáp trước kỳ đại hội đảng. Chỉ đến khi các lãnh tụ cộng sản viết hồi ký người ngoài mới biết các thủ đoạn nhơ bẩn mà họ dùng để đánh nhau. Ông Ðoàn Duy Thành, cựu phó thủ tướng, đã kể nhiều thủ đoạn bẩn mà Ðỗ Mười dùng để hạ ông suốt mấy năm, vì Thành từng được Lê Duẩn nhắm cho lên kế vị, chặn đường không cho Lê Ðức Thọ lên. Sau khi Duẩn chết, các con ông có lúc lo sợ đã hỏi thẳng Ðoàn Duy Thành không biết “họ có giết chúng cháu không?”

Nếu phải chọn lựa, chúng ta sẽ chọn những cuộc tranh đấu công khai (sạch và bẩn) hay chọn những trận đấu đá ngầm trong bí mật, và các vụ ám sát? Hai cách tổ chức chính trị dân chủ và độc tài đó, phương cách nào dễ tạo cơ hội cho người dân tuyển lựa được những người cai trị hợp với ý muốn của đa số hơn? Tất nhiên, cha con ông Kim Chính Nhật, Kim Vĩnh Ân sẽ chọn lối tuyển chọn trong vòng bí mật! Ở những nước quen sống tự do dân chủ thì người ta không thể chấp nhận để cho một nhóm người họp nhau bí mật quyết định tất cả vận mạng toàn dân. Thà rằng cho tranh cử công khai; dù có lúc có người dùng thủ đoạn nhơ bẩn, nhưng cuối cùng chính người dân bỏ phiếu sẽ quyết định ai là người cai trị.

Chế độ Dân Chủ không phải là phương cách hoàn hảo để tổ chức xã hội loài người, điều này ai cũng biết. Nếu như loài người biết trước được tất cả mọi điều sẽ xẩy ra trong tương lai, đời sống không có rủi ro bất trắc nào cả, thì chúng ta hy vọng nghĩ ra được một cách tổ chức xã hội hoàn hảo!

Chúng ta cũng biết chỉ khi đem so sánh với các chế độ khác đã thí nghiệm trên trái đất này thì nhân loại mới thấy rằng thể chế dân chủ là đỡ sai lầm hơn tất cả! Ngay việc bỏ phiếu của người dân cũng không nhất thiết bảo đảm lúc nào họ cũng chọn được những người có chính sách tốt đẹp nhất. Các cử tri có thể lầm lẫn khi lựa chọn. Nhưng chính vì người dân có quyền lựa chọn cho nên mọi nhà chính trị đều biết phải tự kiềm chế mình, không để xẩy ra những sai lầm lớn. Mà khi lầm lẫn thì chính mình phải sửa ngay, kẻo đến kỳ bỏ phiếu tới sẽ bị dân lật đổ!

Chế độ Dân Chủ là một hình thức mua bảo hiểm cũng giống như khi lái xe, để khi tai nạn xẩy ra thì người dân, chủ nhân của xã hội, sẽ được bồi thường, chỉ thiệt hại chút đỉnh! Còn các chế độ độc tài thì người dân hoàn toàn không được bảo hiểm, tất cả phó cho bọn chuyên quyền, may nhờ, rủi chịu!

Nhưng ai là người yêu tự do dân chủ cũng rất lấy làm buồn khi chứng kiến những “đòn bẩn” mà các ứng cử viên tung ra để giành lá phiếu. Người ta tự hỏi tại sao trong một thể chế chính trị được coi là tử tế nhất, một niềm hãnh diện của nhân loại, mà những người muốn cai trị dân lại làm những việc không ai có thể hãnh diện như vậy?

Sở dĩ nhiều nhà chính trị trong xã hội dân chủ tự do không giữ được đạo lý thuần khiết như chúng ta muốn, có lẽ bởi vì chính những người sẽ đi bỏ phiếu bầu họ, tức là tất cả chúng ta, cũng không hoàn hảo!

Có thể nào bảo đảm là mọi cử tri lúc nào cũng chỉ thích nghe các cuộc tranh luận về các vấn đề trọng đại, như phương pháp cân bằng ngân sách, về nhu cầu cải tổ hệ thống nhà tù, về những cách đối phó với quỹ hưu bổng đang lâm nguy, hay về kế hoạch kích thích kinh tế tạo thêm công việc làm? Có phải người dân không ai muốn nghe chuyện xấu về các ứng cử viên hay không?

Nghi lắm. Loài người không phải ai cũng chỉ thích nghe những chuyện trừu tượng và nghiêm trọng. Họ cũng nhiều khi thích thú nghe những chuyện tầm phào, bá láp. Ðó là một thứ quyền tự do phải được hiến pháp bảo đảm! Nếu không thì những tờ báo chuyên đăng tin giật gân và chuyện tầm phào làm sao sống được? Những tờ báo đó cũng đáp ứng một nhu cầu tự nhiên trong xã hội, mà khi xã hội có tự do thì các nhu cầu đó được đáp ứng. Chỉ trong các xã hội chuyên chế độc tài thì nhà nước mới bắt mọi người dân lúc nào cũng phải “Nghiêm Văn Túc!” (Nhân vật Nghiêm Văn Túc do nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đặt ra để chế nhạo các cán bộ cộng sản lúc nào cũng giả dối, che đậy mọi thói hư tật xấu của mình bằng bộ mặt nghiêm túc).

Nếu trong xã hội còn có người thích đọc chuyện đời tư các ca sĩ hoặc tài tử, thích đọc chuyện cướp ngân hàng hay băng đảng giết nhau, thì tự nhiên trong các cuộc tranh cử có những ứng cử viên bới lông tìm vết để bêu xấu lẫn nhau! Loài người không hoàn hảo như các thiên thần. Chính vì thế mà những cuộc tranh cử cũng không hoàn toàn lương hảo!

Nước Nga mới tập đi bầu tự do được vài chục năm nay, nhưng các thủ đoạn bôi nhọ đã đầy dẫy. Một nhóm các nhà báo làm mạng (web site) ở vùng Saratov mới thú nhận hồi tháng 2 năm 2010, rằng họ đã được thuê tiền để bêu xấu các đối thủ của ông Vyacheslav Volodin, đại biểu Duma vùng này. Ở Liên Bang Xô Viết ngày xưa không bao giờ có những vụ bôi nhọ nhau trong các cuộc bầu cử Duma như vậy! Thậm chí nhiều ứng cử viên không cần phải nói một câu nào với cử tri mà vẫn đắc cử với 90% số phiếu. Có người Nga nào muốn quay trở lại sống như vậy hay không?

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/an ... 122395&z=7

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »



Image

Người Do Thái ở Mỹ - lực lượng quyết định chính sách của Mỹ tại Trung Đông

Thật không quá lời khi nói rằng người Do Thái ở Mỹ là lực lượng có tiếng nói quyết định đường lối kinh tế chính trị nước Mỹ, nhất là chính sách đối với vấn đề Trung Đông .Vì sao vậy ? Đó là do cộng đồng Do Thái ở Mỹ chiếm một nửa tổng số người Do Thái trên toàn thế giới (7 trong 14 triệu), nhiều hơn toàn bộ số dân Do Thái tại nước Israel.

Và quan trọng nhất là do họ nắm quyền chi phối đời sống kinh tế, văn hóa, nhất là ngành truyền thông nước Mỹ. Có người nói: nước Mỹ lãnh đạo thế giới còn người Do Thái kiểm soát nước Mỹ.

Lịch sử người Do Thái di cư đến Mỹ

Người Do Thái đầu tiên di cư tới đất Mỹ vào năm 1654. Họ gồm 23 người, đi từ Brazil, nơi họ bị thực dân Bồ-đào-nha theo chủ nghĩa bài Do Thái xua đuổi. Nước Mỹ là xứ sở đầu tiên người Do Thái được hưởng quyền sống của con người, được thực hiện tự do tôn giáo và dân chủ về chính trị, kinh tế. Điều này vô cùng quý giá với họ, vì trong ngót hai nghìn năm sống lưu vong đi tới đâu người Do Thái cũng bị dân chúng nhiều nước kể cả châu Âu văn minh hắt hủi, xua đuổi, hãm hại. Bởi thế họ đua nhau vượt biển di cư sang Mỹ. Khi nước Mỹ lập quốc (1776) cộng đồng Do Thái ở Mỹ đã có 2500 người. Tiếp đó hàng loạt người Do Thái ở châu Âu, chủ yếu từ Đức, di cư sang Mỹ. Năm 1841, người Do Thái đầu tiên được bầu vào Quốc hội Mỹ. Năm 1880 quần thể Do Thái ở Mỹ lên tới 150 nghìn người. Cuối thế kỷ XIX, do bị nước Nga Sa hoàng giết hại dã man, 2,1 triệu người Do Thái ở Nga và Đông Âu chạy sang Mỹ. Thập niên 30, đảng Quốc xã của Hitler điên cuồng xua đuổi giết hại người Do Thái. Số người Do Thái di cư sang Mỹ thời gian 1933-1945 lên đến hơn 200 nghìn, trong đó có nhiều nhà trí thức cấp cao, khiến nước Mỹ được lợi rất nhiều. Do chịu khó lao động, học tập và có biệt tài kinh doanh buôn bán, đa số người Do Thái ở Mỹ đã thành công lớn.

Trước làn sóng người Do Thái dồn dập kéo đến Mỹ và thành đạt trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, những người Mỹ theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc bắt đầu có tư tưởng bài Do Thái, nhất là sau Cách mạng tháng Mười Nga, nhiều nhà giàu Mỹ coi chống Do Thái và chống cộng sản là một, vì hầu hết người Do Thái ở Nga đều chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản. Đảng 3K khét tiếng dã man bắt đầu tấn công người Do Thái như chúng đã làm với người da đen. Một số người Mỹ còn quy kết cuộc đại khủng hoảng kinh tế hồi đầu thập niên 30 là do người Do Thái gây ra. Người Mỹ gốc Đức chống Do Thái hăng hái nhất, hồi ấy ở Mỹ đã có trên 100 tổ chức bài Do Thái. Sau khi nước Mỹ tham gia chiến tranh chống Đức (12-1941), dư luận Mỹ bắt đầu đồng tình mạnh mẽ với người Do Thái và lên án các tổ chức chống Do Thái.

Hiện nay số lượng người Mỹ có tư tưởng bài Do Thái chỉ còn rất ít. Đó một phần là do dân Mỹ căm phẫn trước tội ác diệt chủng người Do Thái của phát xít Đức, nhưng nguyên nhân chính là do cộng đồng Do Thái ở Mỹ ngày một lớn mạnh và có địa vị ngày càng cao trong xã hội, đủ để kiềm chế mọi quan điểm bài Do Thái, thậm chí họ có ảnh hưởng chi phối đời sống mọi mặt của nước này. Vì thế chính phủ Mỹ trước đây thờ ơ với vấn đề xung đột giữa người A Rập với người Do Thái ở Palestine, nhưng về sau ngày càng quan tâm và trực tiếp can thiệp vấn đề này. Tháng 5-1942 đại hội người Do Thái họp tại New York thông qua Cương lĩnh ủng hộ dân tị nạn Do Thái ở Palestine xây dựng quốc gia riêng của họ. Sau đại chiến II, trung tâm của chủ nghĩa Phục quốc Do Thái (Zionism) đã từ châu Âu chuyển sang Mỹ. Tháng 11-1947, dưới tác động của Mỹ và Liên Xô, Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết thành lập trên mảnh đất Palestine hai quốc gia riêng: một của người Do Thái (gọi là Israel) và một của người A Rập. Truman muốn dùng Israel để tuyên truyền tư tưởng tự do dân chủ, Xtalin muốn xây dựng Israel trở thành một tiền đồn của chủ nghĩa xã hội (vì đa số người Do Thái ở Nga đều ủng hộ CHXH).

Sức mạnh của cộng đồng Do Thái ở Mỹ

Người Do Thái ở Mỹ chỉ chiếm 2,5% dân số Mỹ nhưng là cộng đồng dân thiểu số thành công nhất trên hầu hết các mặt của đời sống nước này, khiến các cộng đồng khác đều phải vì nể. Họ có mức thu nhập cao hơn mức trung bình toàn dân Mỹ, người Do Thái chiếm khoảng một nửa trong số 200 danh nhân văn hóa nước Mỹ, cũng chiếm tỷ lệ tương tự trong số các nhà khoa học được tặng giải Nobel và chiếm khoảng một phần ba số giáo sư và sinh viên đại học Mỹ (56% sinh viên ĐH Brandeis, 30% sinh viên ĐH Harvard, Columbia ….). Một phần tư số luật sư ở Mỹ và rất nhiều nghệ sĩ, nhân vật giới khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn là người Do Thái, nổi tiếng nhất là các nhạc sĩ Irving Berlin, hai anh em George và Ira Gershwin, nhà bác học Albert Einstein, nhà sáng chế vắc-xin bệnh viêm tủy xám Jonas E. Salk, giải Nobel văn học 1978 Isaac Bashevis Singer...

Đặc biệt cộng đồng Do Thái giữ vai trò quan trọng trong giới truyền thông Mỹ. Họ sáng lập và kiểm soát mấy tờ báo lớn như New York Times, Washington Post, Newsweek, các mạng truyền hình quan trọng như ABC, CBS, NBC, Bloomberg và 3 công ty điện ảnh lớn Warner, Paramount, Metro-Goldwin-Mayer. Nhiều nhà báo, nghệ sĩ và đạo diễn điện ảnh là người Do Thái, như đạo diễn lừng danh Steven Spielberg ...

Người Do Thái ở Mỹ thành công nhất trên lĩnh vực kinh tế, tài chính. Họ chiếm khoảng một nửa số doanh nhân giàu có nhất và chiếm một phần ba số tỷ phú Mỹ. 21/40 nhà giàu đứng đầu bảng xếp hạng của tạp chí Forbes (trong đó có Paul Allen ...) cùng rất nhiều nhà kinh tế học nổi tiếng và khoảng 50% giới tinh anh của phố Wall là người Do Thái. Nổi danh hơn cả có lẽ là Alan Greenspan 17 năm làm Chủ tịch Cơ quan Dự trữ Liên bang FED quyền lực lớn nhất trong giới tài chính Mỹ, trùm tài chính George Soros, chủ tịch Ngân hàng Thế giới Paul Wolfowitz cùng người tiền nhiệm James D. Wolfensohn, các chủ nhân giải Nobel kinh tế Paul Samuelson (1970), Milton Friedman (1976), Paul Krugman (2008) ...

Cộng đồng Do Thái cũng từng bước chiếm lĩnh chính trường Mỹ: hai bộ trưởng Ngoại giao Henry Kissinger và Madeleine Albright; bộ trưởng Quốc phòng Casper Weinberger. Năm 2000, một người Do Thái là Joe Lieberman ra ứng cử chức Phó Tổng thống Mỹ và hiện nay nếu ông Michael Bloomberg đương kim Thị trưởng New York từ 2001 (và là ông chủ kênh truyền hình cùng tên) ra ứng cử Tổng thống thì rất có khả năng trúng cử. Cộng đồng Do Thái chỉ chiếm 2,5 % dân Mỹ nhưng hiện chiếm 7% số Hạ nghị sĩ và 13% số Thượng nghị sĩ. Tân Tổng thống Barack Obama cũng vừa mới chọn một người Do Thái - ông Rahm Emanuel vào một chức vụ rất quan trọng là Chánh văn phòng Nhà Trắng.

Đạo Do Thái là một trong các tôn giáo quan trọng nhất ở Mỹ chiếm 1,7% số người Mỹ trưởng thành, có hơn 5000 nhà thờ Do Thái giáo, một trường đại học đào tạo Rabbi (giáo sĩ), nhiều cơ quan truyền thông riêng. Một phần ba tín đồ Do Thái giáo có trình độ sau đại học.

Ảnh hưởng to lớn của cộng đồng Do Thái đối với đời sống chính trị Mỹ thể hiện trên nhiều mặt. Thứ nhất là việc tham gia bầu cử Tổng thống và hai viện Quốc hội. Nhìn chung chỉ có khoảng một nửa dân Mỹ đi bầu, trong khi đó tỷ lệ người Do Thái đi bỏ phiếu cao tới 90%, cao nhất trong các cộng đồng ở Mỹ. Hơn nữa họ lại sống tập trung tại các bang có tiếng nói quyết định kết quả bầu cử, như New York, California, Pennsylvania … Do nắm nhiều cơ quan truyền thông xuất bản nên tiếng nói của người Do Thái rất lớn, mỗi khi xảy ra sự việc nào liên quan tới quyền lợi của người Do Thái hoặc Israel thì các cơ quan này đều rầm rộ lên tiếng nhất trí bênh vực. Thứ hai là quyên góp tiền cho ứng viên tranh cử. Các cuộc bầu cử ở Mỹ ngốn hàng chục hàng trăm triệu USD, đều do dân tự nguyện quyên góp cho các quỹ tranh cử của ứng viên. Người Do Thái tuy nổi tiếng căn cơ tiết kiệm nhưng khi quyên góp vì mục đích chính trị thì họ rất hào phóng, vả lại họ rất giàu. 4 trong 5 người quyên góp nhiều nhất trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 2000 là người Do Thái. Các ứng viên chức Tổng thống, Thống đốc bang hoặc nghị sĩ dựa vào tiền đóng góp của ai thì phải biết lấy lòng người ấy. Cho nên khi đã trúng cử, họ đều bênh vực lợi ích người Do Thái và Israel.

Mặt khác, người Do Thái làm việc gì cũng có tổ chức và đoàn kết nhất trí. Họ lập ra rất nhiều quỹ quyên góp bầu cử, gọi là “Ủy ban hành động chính trị”. Hiện nay nước Mỹ có khoảng 80 ủy ban như vậy, trong khi người A Rập ở Mỹ chỉ có 10 tổ chức tương tự. Các Ủy ban ấy đã quyên góp được hàng tỷ USD ủng hộ Israel. Năm xưa, khi nổ ra chiến tranh với các nước A Rập, bà Golda Meir Thủ tướng Israel sang Mỹ quyên góp tiền mua vũ khí, ngay lập tức quyên được 70 triệu USD (số tiền rất lớn hồi đó).

Tóm lại, cộng đồng Do Thái ở Mỹ do nắm được quyền kiểm soát nhiều mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị nước này nên đã có ảnh hưởng quyết định tới đường lối của chính quyền Mỹ trong việc giải quyết vấn đề Trung Đông nói chung và cuộc xung đột Israel-Palestine nói riêng. Vì thế bao năm nay nước Mỹ bao giờ cũng là hậu thuẫn vững chắc nhất của Israel; không có Mỹ thì quốc gia Do Thái này khó có thể tồn tại và phát triển được.

Nguyễn Hải Hoành
http://htx.dongtak.net/spip.php?article2587

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Chín năm bên cạnh Tổng thống Ngô Đình Diệm

Image
1957 President Ngo Dinh Diem visits Vietnam Central Highlands
Tuy là bạn tâm giao với người viết từ lâu, ông Quách Tòng Đức luôn luôn tỏ ra dè dặt và thận trọng khi nhắc đến những năm dài làm Đổng lý Văn phòng cho Tổng thống Ngô Đình Diệm, người khai sáng nền Đệ nhứt Cọng hoà Việt Nam. Sau chính biến 1.11.1963, ông Đức trở lại ngành tư pháp và được cử nhiệm Chủ tịch Tham Chính Viện năm 1969. Tháng 4.1975, Sàigòn thất thủ, ông và gia đình xin tị nạn chánh trị tại Paris. Chánh phủ Pháp tuyển dụng ông vào Phòng Tố tụng Tổng quát của thị xã Paris, thời Thị trưởng Jacques Chirac. Ông về hưu đầu năm 1984. Nay 89 tuổi, trí tuệ còn minh mẫn tuy sức khoẻ không tốt như trước. Gần đây, trong những lần gặp nhau lại ở Pháp cũng như qua nhiều cuộc điện đàm có ghi âm, ông Đức đã chịu thố lộ với người viết nhiều điều liên hệ đến giai đoạn chín năm phục vụ vị nguyên thủ quốc gia bị sát hại năm 1963.

Lần đầu gặp ông Ngô Đình Diệm

Ông Quách Tòng Đức (QTĐ) sanh tại An xuyên năm 1917, thuộc một gia đình trung lưu, đậu cử nhân và Cao học Luật Đông Dương năm 1941, Đại học Hà nội, sau khi lấy bằng tú tài tại trường Pétrus Ký, Sàigòn. Ông thuộc toán cử nhân đầu tiên gồm có Nguyễn Thành Cung và Lê Văn Mỹ thi đậu năm 1942 vào ngạch huyện, phủ tại Miền Nam VN mà cấp bậc cao nhứt là Đốc phủ sứ thượng hạng ngoại hạng tương đương với chức Tổng Đốc đứng đầu tỉnh ở ngoài Trung và Bắc. Khi vua Bảo Đại chỉ định Trần Văn Hữu lập Chánh phủ, Thủ hiến Nam Việt Thái Lập Thành (xuất thân là một Đốc phủ sứ như các ông Nguyễn Ngọc Thơ, Lê Tấn Nẩm, Dương Tấn Tài, Lê Quang Hộ …) bổ nhiệm ông QTĐ năm 1951 làm Chánh Văn phòng và thiếu tá Dương Văn Minh, Chánh Võ phòng. Năm 1953, thủ hiến Thành và Thiếu tướng Chanson bị nhóm Cao Đài kháng chiến của Trình Minh Thế ám sát tại Sa đéc trong một cuộc kinh lý.
Image
Ông Quách Tòng Đức
Bốn muơi chín (49) ngày sau Điện Biên Phủ thất thủ, tức là 26.6.1954, vua Bảo Đại giao cho cựu Thượng thơ Ngô Đình Diệm lập chánh phũ, thay thế hoàng thân Bửu Lộc. Trước đây, ông Diệm đã ba lần từ chối lời mời của Bảo Đại: năm 1937, 1945 và 1948. Ông giao thiệp thân tình với nhà cách mạng Phan Bội Châu lúc sanh tiền, có ghé Nhựt năm 1950 để hội kiến với Kỳ Ngọai Hầu Cường Để.

Hiệp định Genève, ký ngày 20.7.1954, chia đôi VN nơi vĩ tuyến 17. Trong đám đông quần chúng đón tiếp nồng nhiệt Thủ tướng Diệm tại phi trường Tân Sơn Nhứt có ông Nguyễn Ngọc Thơ, nguyên bí thơ của Toàn quyền Decoux, cùng đi với ông QTĐ. Thủ tướng Diệm – kiêm luôn Bộ Quốc phòng và Nội Vụ – mời ông Thơ tham gia Nội các với tư cách Bộ trưởng Nội Vụ. Ông Thơ chọn ông Đức làm Đổng lý Văn phòng năm 1954. Ngày 23.10.1955, một cuộc trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại. Ngày 26.10.1956, từ Thủ tướng trở thành Tổng thống, ông Diệm thiết lập nền Đệ nhứt Cọng hoà VN. Quân đội tổ chức một cuộc diễn binh huy hoàng tại đại lộ Trần Hưng Đạo Sàigòn dưới quyền điều khiển của Tướng Dương Văn Minh, vừa vinh thăng Thiếu tướng sau khi tảo thanh xong Bình Xuyên taị Rừng Sát. Ông QTĐ thay thế Đổng lý Tôn Thất Trạch cuối năm 1954 và giữ chức vụ này cho đến ngày Quân đội đảo chánh năm 1963.
Image
Dinh Độc lập Saigon 1955


Nhận xét về mối liên hệ của TT Diệm với gia đình

Theo ông QTĐ, năm 1954 chánh phủ Pháp trả trước dinh Gia Long ở đường Gia Long, và sau khi quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam, nhà cầm quyền Đệ nhứt cọng hoà mới thu hồi Dinh Toàn quyền Norodom, đổi tên thành Dinh Độc lập, trên đại lộ Thống nhứt. Dinh này đươc kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, khôi nguyên La Mã, xây cất lại hoàn toàn sau ngày 27.2.1962 vì Dinh bị hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử dội bom hư hại khá nặng.

Dinh Độc lập chia làm hai tầng: tầng dưới có hai phòng khánh tiết tráng lệ và các Văn phòng của Cố vấn Ngô Đình Nhu, Bộ trưởng Phủ Tổng thống, Đổng lý Văn phòng, Tổng thơ ký Phủ Tổng thống và nhân viên. Tầng trên chia làm ba phần: phía trái dành làm Văn phòng và phòng ngủ của Tổng thống, phòng sĩ quan tuỳ viên; ở giữa có hai phòng tiếp tân khang trang; phiá phải là nơi cư ngụ của gia đình ông bà Nhu với hai con trai, hai gái. Tổng thống Diệm thích làm việc trong phòng ngủ, trang trí sơ sài với một cái giường nhỏ bằng gổ, một bàn tròn và ba ghế da. Nơi đây, Tổng thống thường dùng cơm và tiếp các Bộ trưởng và tướng lãnh.
Image Gia đình Tổng thống rất trọng Nho giáo. Hằng năm vào Tết Nguyên đán, luôn luôn tụ họp đông đủ ở Phủ Cam, Huế, để chúc thọ bà cụ Ngô Đình Khả giao cho người con áp út Ngô Đình Cẩn săn sóc ngày đêm. Ông bà Ngô Đình Khả có chín người con: 6 trai, 3 gái. Trưởng nam, Tổng đốc Ngô Đình Khôi và con trai là Ngô Đình Huân bị CS giết năm 1945. Ba người con gái là bà Ngô Đình Thị Giao tức bà Thừa Tùng, bà Ngô Đình Thị Hiệp tức bà Cả Ấm, thân mẫu của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận và bà Ngô Đình Thị Hoàng tức bà Cả Lễ, mẹ vợ của Nghị sĩ Trần Trung Dung. TT Diệm là người con trai thứ ba trong gia đình nhà Ngô, sanh năm 1901 taị Huế, được vua Bảo Đại bổ nhiệm năm 1933 Thượng thơ đầu Triều lúc 33 tuổi nhưng ông Diệm sớm rủ áo từ quan vì thực dân Pháp không chấp nhận chương trình cải to rộng lớn của ông.

Sau ngày ông Khôi qua đời, Tổng giám mục Ngô Đình Thục, trở nên người anh cả “quyền huynh thế phụ”. Đức cha được kính nể và có nhiều ảnh hưởng đối với TT Diệm. Ông Quách Tòng Đức cho biết, lúc còn ở Vĩnh Long, Giám mục Ngô Đình Thục vài tuần thì về Saigon ngụ trong Dinh. Ông Ngô Đình Luyện, con út trong gia đình, đại sứ ở Luân Đôn, năm khi mười họa mới về nước nghỉ phép hay để dự các phiên họp của Hội Đồng Tối Cao Tiền Tệ mà ông là một thành viên. Ông Đức không nhớ có lần nào gặp ông Cẩn trong Dinh Độc Lập hay không.

Image 1963, Saigon, South Vietnam --- The South Vietnamese presidential family, (left to right) Ngo Dinh Le Thuy, 17, her mother, Mme. Ngo Dinh Nhu, Diem's brother, Archbishop Ngo Dinh Thuc, another brother, Ngo Dinh Nhu, head of secret police, President Ngo Dinh Diem, and Nhu's son --- Image by © Bettmann/CORBIS



Văn phòng Đổng lý không làm việc thẳng với Cố vấn Nhu. Ông Nhu có nhân viên riêng trong Sở Nghiên cứu Chánh trị Phủ Tổng thống mà người giám đốc đầu tiên là đốc phủ sứ Vũ Tiến Huân, Tham lý Nội An Bộ Nội vụ, về sau thay thế bởi bác sĩ Trần Kim Tuyến. Văn phòng của Sở Nghiên cứu xử dụng một ngôi nhà riêng trong hàng rào Dinh Độc lập. Vài tháng trước vụ binh biến 1.11.1963, Bác sĩ Trần Kim Tuyến bị thất sủng, trung tá Phạm Thư Đường thay thế. Bác sĩ Trần Kim Tuyến được bổ nhiệm làm Tổng lãnh sự (hụt) tại Le Caire, trở lại Việt Nam và liên hệ đến một nhóm âm mưu đảo chánh. Đảo chánh thành công, bác sĩ Tuyến bị Hội đồng Cách mạng đày ra Côn Đảo trên một năm cùng với khỏang 200 nhân vật chế độ cũ như Ngô Trọng Hiếu, Cao Xuân Vỹ, đại tá Nguyễn Văn Y, Hà Như Chi, Dương Văn Hiếu… Ông Quách Tòng Đức không thể xác nhận tin nói rằng trước ngày 1.11.1963, ông Nhu đã giao cho người em vợ là Trần Văn Khiêm điều khiển cơ quan mật vụ. Khiêm bị nhiều tai tiếng, từng cọng tác với Văn phòng của luật sư Trương Đình Dzu, ứng cử viên Tổng thống thời Thiệu-Kỳ. Vụ Khiêm giết cha mẹ là ông bà cựu đại sứ Trần Văn Chương taị Hoa kỳ sau 1975 làm dư luận xôn xao. Toà án Mỹ tha Khiêm với lý do Khiêm bị bịnh tâm thần và trục xuất Khiêm khỏi Hoa kỳ. Khiêm hiện sống bình thường ở Pháp. Có sự điều đình chánh trị gì bên trong vụ án này ?

Khi được hỏi cách cư xử của TT Diệm với bà Nhu (nhủ danh Trần Lệ Xuân), ông Đức cho biết “ông cụ có vẻ nể và ủng hộ bà Nhu” trong vụ tổ chức Phong trào Phụ nữ Liên đới và vận động Quốc hội ban hành Bộ Luật Gia đình cấm ly dị. Tổng thống cho rằng bà Nhu hành động như vậy là giúp cải tổ xã hội. Tuy nhiên, có người lại cho rằng Bộ Luật Gia đình nhằm mục tiêu riêng: ngăn luật sư Nguyễn Hữu Châu ly dị với bà Trần Lệ Chi, chị ruột bà Nhu. Ngoài chức vụ dân biểu Quốc hội, bà Nhu còn là Chủ tịch Phong trào Phụ nữ Liên đới. Khi tiếp quốc khách, bà Nhu đóng vai trò Đệ nhứt Phu nhân vì Tổng thống độc thân. Tuy bất bình về những lời tuyên bố châm dầu vào lửa của người em dâu trong vụ Thích Quảng Đức tự thiêu ngày 11.6.1963 (đặc biệt với câu “monks’ barbecue”), ông Diệm không công khai phủ nhận vì ngại đụng chạm đến ông Nhu vào một giai đoạn rối như tơ vò. Chính ông Nhu, với tánh hay nhường nhịn cho yên nhà yên cửa, cũng không kiểm soát nổi lối phát ngôn của vợ. Bà Nhu hiện có một cuộc sống kín đáo, đơn sơ, nặng về tôn giáo, qua lai giữa Paris và Rome, tất cả con cái đều thành tài. Trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy chết trong một tai nạn lưu thông sau 1975. Sự bất hạnh không ngớt đeo đuổi gia đình nhà Ngô. Thời gian gần đây, bà Nhu thay bà Luyện để tổ chức hằng năm tại Paris một lễ cầu hồn cho TT Diệm và ông Nhu. Trong số ít người còn lui tới với bà Nhu, có vợ chồng cựu bộ trưởng Lao động Hùynh Hữu Nghiã. Ông Nghĩa qua đời năm vừa rồi.

Về tin đồn Đức cha Thục làm kinh tài (khai thác lâm sản, mua thương xá Tax, làm chủ nhà sách Albert Portail..v..v..), ông Đức cho rằng TT Diệm tin TGM Thục không làm điều gì quấy, ngài phải kiếm tiền nuôi sống trường Đại học Đà Lạt do Ngài thành lập. Trải qua một cuộc đời sóng gió và gặp nhiều hiểu lầm với Toà thánh Vatican sau 1975, TGM Ngô Đình Thục được Giáo hoàng phục hồi chức tước, về hưu ở Hoa kỳ và đã ra đi bình yên tại một Viện dưỡng lão công giáo thuộc tiểu bang Missouri.

Image
Bà Nhu năm 32 tuổi, ông Nhu 46 tuổi (1956)
Ông QTĐ xác nhận ông Ngô Đình Nhu chẳng những là lý thuyết gia mà còn là bộ óc của Đệ nhứt Cộng hoà, “l’homme indispensable, nhân vật cần thiết”. Ông xuất thân từ Ecole des Chartes Paris, trầm tỉnh, ít nóí, lạnh nhạt bên ngoài, thích nghiên cứu lịch sử, có nhiều sách hơn là đồng chí của ông. Trong lối ba năm chót của chế độ, dù giữ quyền quyết định cuối cùng trong mọi việc, TT Diệm thường phê chuyển các hồ sơ chánh trị quan trọng qua cho ông Nhu để lấy ý kiến, không kể những cuộc gặp mặt thảo luận riêng hằng ngày. Ông Nhu làm việc âm thầm, cần mẫn, hút thuốc liên hồi (mỗi lần nửa điếu, do sự can ngăn của bà Nhu) trong một văn phòng không rộng, đầy ngập sách vở, ánh sáng mờ mờ, ở tầng dưới Dinh Độc lập, có gắn máy lạnh và interphone với bên ngoài. Ông thường phê vào các công văn với một cây bút chì mỡ màu xanh lá cây. Ông là cha đẻ của Đảng Cần Lao, và thuyết Nhân Vị, Personnalisme, nối kết hai xu hướng của triết gia công giáo Emmanuel Mounier (1905-1950) và Jacques Maritain (1882-1973). Ông phát động phong trào ấp chiến lược từng gây thiệt hại cho CS Bắc Việt. Quốc sách Ấp Chiến Lược là do nghị định số 11-TTP và ông Nhu giữ vai trò Chủ tịch Ủy Ban Liên Bộ Ấp Chiến Lược. Ông Nhu cũng cho thành lập Phong trào Thanh niên và Thanh nữ Cộng hoà giao cho Cao Xuân Vỹ phụ trách. Ông đẩy mạnh tổ chức lao động ở Việt nam và nâng đỡ Trần Quốc Bửu. Đại tá CIA Lansdale (người đã ủng hộ Magsaysay trở thành Tổng thống Phi Luật Tân năm 1952) giúp ông móc nối với Lực lương kháng chiến Cao Đài để đưa tướng Trình Minh Thế về với Quốc gia. Ngoài chức Tổng Bí thơ Đảng Cần Lao (tổ chức theo mô hình đảng Cộng Sản, với một Quân ủy trong Quân đội), có một lúc ông Nhu là dân biểu Quốc hội. Ông không bao giờ tháp tùng Tổng thống trong các cuộc kinh lý. Săn bắn là thú tiêu khiển yêu chuộng của ông và đồng thời là cơ hội tìm nơi yên tịnh để suy nghĩ.

Ông đại sứ Luyện, gốc kỹ sư, tánh tình cởi mở, thích giao du với bạn bè mỗi khi về Việt Nam nhưng không có nhiều ảnh hưởng vì không xen vào vấn đề nội trị. Ông là bạn học của cựu hoàng Bảo Đại, sống taị Luân đôn và đại diện VNCH ở nhiều xứ Âu châu và Phi châu. Sau khi vợ trước qua đời, ông Luyện tục huyền với em vợ và có rất đông con. Bà Luyện sống ở ngoại quốc nhiều hơn và ít khi xuất hiện. Sau 1963, ông Luyện làm đại sứ ở Paris, sau đó sang Phi châu làm việc một thời gian, tình trạng khá chật vật khi về hưu. Ông có qua Hoa kỳ vài lần để thăm Đức TGM Thục, không còn liên với bà Nhu. Ông Luyện đã qua đời tại Pháp.

Cho đến cuối năm 1961, vai trò của ông Ngô Đình Cẩn, Cố vấn lãnh đạo Miền Trung, trái lại, rất hệ trọng về mặt an ninh và đoàn thể. Ông Cẩn không ăn học cao nhưng nắm vững tình hình địa phương, có óc tổ chức, luôn luôn trang phục theo lối Việt, áo dài, khăn đống, ăn trầu, (từ đó biệt danh “Ông Cố Trầu”), độc thân, thích hút thuốc Cẩm Lệ, đan rổ, làm vườn, nuôi thú, nuôi chim. Ảnh hưởng của ông lan vào Miền Nam với những điệp vụ mang danh nghĩa chiêu hồi của Đoàn Công tác Đặc biệt do Dương Văn Hiếu quán xuyến, sự hiện diện của Nguyễn Văn Hay trong cương vị phó Tổng Giám Đốc tại Tổng nha Cảnh sát Công An Sàigòn và các hoạt động của cánh Cần Lao do nha sĩ thân tín Phan Ngọc Các điều khiển.

Được hỏi về tin đồn có sự cạnh tranh ảnh hưởng chánh trị giữa ông Nhu và ông Cẩn, ông Quách Tòng Đức nói chỉ nghe nói phong phanh. Vào tháng 10.1963, ông Cẩn nhận được lệnh của TT Diệm ngưng mọi hoạt động về đoàn thể và đóng cửa Văn phòng Cố vấn chỉ đạo ở ngoài Trung gồm có Hồ Đắc Trọng và đại úy Nguyễn Văn Minh. Hình như sự hiện diện của TGM Ngô Đình Thục tại Huế đã bó tay ông Cẩn phần nào. Ông Cẩn không dám phê bình chị dâu tuy không ưa bà Nhu. Trong phạm vi cá nhân, ông Cẩn giữ liên lạc tốt với Thượng tọa Thích Trí Quang nhưng điều này không giúp giải quyết cuộc khủng hoảng Phật giáo.

Image
Thượng Tọa Thich Trí Quang
Người viết có yêu cầu ông Quách Tòng Đức cho biết trong gia đình họ Ngô, ai là người gây tiếng tăm bất lợi cho chế độ, suy nghĩ một phút, ông Đức đáp: “TGM Thục và bà Nhu. Đặc biệt trong giai đọan Phật giáo. Đức cha ảnh hưởng quá nặng ngoài lãnh vực tôn giáo. Bà Nhu xen quá sâu vào chính trị, điều ít thấy trong giới phụ nữ VN. Ngó từ bên ngoài, năm anh em Ngô Đình rất khắn khít, mỗi người giúp tay tích cực xây dựng chế độ trong một lãnh vực. Sự đoàn kết ấy được diễn tả trong huy hiệu Đệ nhứt cọng hoà: năm cành trúc kết thành một bó, dưới khẩu hiệu “Tiết trực Tâm Hư.” Tuy nhiên, mỗi nhân vật có cá tánh riêng, nhận định không luôn luôn nhất thống, đôi khi còn mâu thuẫn. Đó là hậu quả khó thể tránh trong một chế độ dựa vào gia tộc để lãnh đạo. Phe chống đối cũng như Hoa kỳ và Cộng sản đều khai thác triệt để và dễ dàng nhược điểm này”.

Dư luận cho rằng trong năm chót của chế độ, trước cuộc binh biến 1.11.1963, ông Nhu – trên thực tế – là một “Tổng thống không ngôi” vì có nhiều quyền lực, làm lu mờ vai trò của ông Diệm nhưng quyền bính hiến định vẫn ở trong tay ông Diệm bị tấn công tứ phiá, bên trong lẫn ngoài nước. Không có một văn kiện chánh thức nào bổ nhiệm ông Nhu lẫn ông Cẩn làm Cố vấn Chánh phủ. Chính các đoàn thể chánh trị ở Miền Trung mời ông Cẩn làm “Cố vấn Chỉ đạo” và dành cho ông danh xưng nay. Có lúc dư luận cảm thấy ông Diệm cần ông Nhu hơn là ông Nhu cần ông Diệm. TT Diệm không thể tách rời khỏi ông Nhu đóng vai trò “l’âme damneùe, linh hồn đày đọa”. Đó là đầu mối thảm trạng xảy ra cho hai người vào giờ phút chót.

TT Diệm tưởng lầm có thể dùng uy tín cá nhân để bảo vệ sanh mạng của bào đệ. TT Diệm cũng tưởng lầm khối tướng lãnh chấp nhận điều đình với ông. Phần đông tướng lãnh kính nể TT Diệm nhưng tất cả ngán sợ ông Nhu vì ông Nhu lắm mưu mô, nhiều bản lãnh. Sự ngán sợ đã trấn áp lòng nể trọng và dẫn đến quyết định hy sinh vị nguyên thủ quốc gia. 3 giờ trưa ngày 1 tháng 11, lúc tiếng súng đang nổ lớn, TT Diệm điện thọai cho đại sứ Lodge: Một cuộc điện đàm ngắn ngủi, đầy phẫn nộ trong khuôn khổ ngoại giao. Conein thúc đảo chánh phải bắt sống cho kỳ được hai ông Diệm, Nhu. Conein nói suồng sã: “On ne fait pas l’omelette sans casser les oeufs, Không thể rán trứng mà không đập bể trứng ”, theo Trần Văn Đôn kể lại trong Hồi ký.

Lúc 4 giờ sáng ngày 2.11.1963, hai tư lệnh Quân khu thân tín ở Vùng I và II là tướng Đỗ Cao Trí và Nguyễn Khánh tuyên bố ủng hộ Hội đồng Cách Mạng. Hy vọng cuối (của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu) cùng tan biến. Hai giờ sau, Tổng thống cho phép đại úy Đỗ Thọ, sĩ quan tùy viên, điện thoại cho chú của ông là đại tá Đỗ Mậu yêu cầu cho xe đến đón tại Nhà thờ Cha Tam Chợ lớn. Lúc 6 giờ và 6 giờ 45 sáng ngày 2.11.63, TT Diệm đích thân điện thoại cho các tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn và và Trần Thiện Khiêm để tìm giải pháp cho các cuộc khủng hỏang. Ông Minh chỉ định Mai Hữu Xuân, Nguyễn Văn Quang, Dương Ngọc Lắm, Dương Hiếu Nghĩa và Nguyễn Văn Nhung đi đón, với chỉ thị riêng thanh toán hai ông Diệm, Nhu, trước khi về tới Bộ Tổng tham mưu.
Image Con người Ngô Đình Diệm

Một số sách vở và tài liệu đã nóí về cuộc đời chánh trị và riêng tư của TT Ngô Đình Diệm như một lãnh tụ chính trị cương trực, khí khái, chống cộng cố hữu (anti-communiste invétéré) cũng như bướng bỉnh với đế quốc, bất luận Pháp, Tàu hay Mỹ.(?) Theo ông Qúach Tòng Đức, TT Diệm có cái uy nghiêm riêng phát xuất từ một gương mặt phúc hậu, một tác phong cương nghị, một giọng Huế ấm áp, một lối nhìn thẳng vào người đối thoại. Một nốt ruồi đen thấy rỏ trên gò má dưới mắt trái của Tổng thống được các nhà tử vi xem như báo hiệu một số mạng nhiều buồn phiền và tang tóc. Ông không nặng lời hay gắt gỏng với cấp thừa hành, khi không vừa ý.

Sau cái bề ngoài trầm tỉnh, TT Diệm là một con người cuồng nhiệt, một hỏa diệm sơn, kiên trì trong mục đích, không nhân nhượng trên những đức tin căn bản. Trong chín năm làm việc tại Dinh, ông Đức cũng có dịp chứng kiến một ít trường hợp – vì lý do đặc biệt – Tổng thống thịnh nộ, quát tháo, đập bàn .. Những “trận bão” này, tuy nhiên, qua mau, Tổng thống tự kềm chế cấp thời vì bản tánh của ông bộc trực, không cố chấp, không thâm độc. Ông có thể độc thoại hàng giờ khi nói đến những đề tài mà ông nghiền ngẫm như chủ thuyết cộng sản, ấp chiến lược, khu trù mật, dinh điền, cải tổ hành chánh, hay văn hoá Khổng Mạnh. Mái tóc đen nhánh, dáng người thấp, chân đi hai hàng lạch bạch nhưng mau lẹ. Rất sùng đạo, xem lễ mỗi buổi sáng tại một phòng riêng trong Dinh, hoặc nhà nguyện Dòng Chúa Cứu thế. Trang phục màu trắng, cà vạt đen quanh năm, không thay đổi. Làm việc bất chấp giờ giấc, với nhịp độ làm các người thân cận mệt nhoài. Khi có vấn đề khẩn, ông cho mời nhân viên hữu trách vào Dinh để đàm đạo thâu đêm. Bằng không, ông đọc phúc trình, hồ sơ đến khuya, uống trà, hút thuốc nhưng không bao giờ hút hết phân nửa điếu thuốc.

Image
TT Diệm nghỉ trưa dưới bóng cây trong chuyến thăm viếng đồng bào di cư
TT Diệm kinh lý không biết mệt, có khi mỗi tuần đi suốt hai ba ngày, đến các tiền đồn hẻo lánh, làng Thượng xa xôi, xử dụng mọi phương tiện chuyên chở: máy bay, ghe, tàu, xe jeep, trực thăng…Ông không hùng hồn trước đám đông nhưng rất thoải mái và thân mật ở giữa những nhóm nhỏ, không quan cách.

Khi nhóm Hội đồng Nội các, Tổng thống Diệm thường ra ngoài chương trình ấn định, nếu tình cờ gặp một đề tài gây chú ý. Ông nói say mê, không đầu không đuôi, lắm khi không kết luận. Với tư cách thơ ký phiên họp, ông Quách Tòng Đức ghi mệt tay. Lúc bế mạc, các bộ trưởng thường phải nhờ ông Đức tóm tắt vì suốt chín năm trời làm việc bên cạnh Tổng thống, ông Đức đã quen và rút kinh nghiệm, tuy đôi lúc cũng đoán lầm.

TT Diệm sống rất nặng về lý tưởng. Con người Khổng giáo nghiêm khắc và Công giáo khổ hạnh nơi ông có những nhận xét lắm khi không sát thực tế. Ông thường nhắc rằng người cán bộ trung thành luôn luôn hy sinh vì đại cuộc mà không cần đến cơm áo, danh vọng và chức tước, một lời khen của lãnh tụ đủ gây mãn nguyện. Khổ nổi, không phải cán bộ nào cũng thánh thiện như thế. Cuộc binh biến năm 1963 là một sự cải chính xót xa. Sánh với Hồ Chí Minh, ông Diêm là một lãnh tụ đức độ, nhưng thiếu mưu lược.

Thú tiêu khiển của TT Diệm không nhiều vì thiếu giờ rảnh. Ông thích cởi ngựa trong vòng rào của Dinh Độc Lập trong những năm yên ổn. Ông sưu tập máy ảnh, thích chụp hình và rất vui khi nhận được một máy loại mới. Chủ tiệm chụp hình Hà Di thường được gọi vào Dinh về vấn đề chuyên môn. Tổng Thống ăn uống thanh đạm, thường bữa dùng tại ngay phòng ngủ, do ông già An và đại uý Nguyễn Bằng phục dịch, thực đơn ít khi thay đổi gồm có cơm vắt, muối mè, cá kho và rau. Tổng thống ít khi đau, lâu lâu cảm cúm, có bác sĩ Bùi Kiện Tín chăm sóc. Phòng nội dịch không đông nhân viên, do ông Tôn Thất Thiết phụ trách. Vấn đề tiền bạc riêng của Tổng thống thì giao trọn cho Chánh văn phòng đặc biệt Võ Văn Hải, ông Diệm không có nhu cầu lớn. Ông Hải, học trò cũ của Giám mục Ngô Đình Thục, tốt nghiệp Trường Khoa Học Chính trị Paris, cử nhân Hán Học, rể của cựu Thượng thơ Nguyễn Khoa Toàn, theo sát Tổng thống Diệm từ lúc còn bôn ba ở hải ngoại và được ông Diệm thương như con. Ông Hải chính là người được TT Diệm chỉ định ngày 11.11.1960 ra trước cổng Dinh Độc Lập tiếp xúc với các sĩ quan chỉ huy cuộc binh biến Nguyễn Chánh Thi – Vương Văn Đông để tìm hiểu yêu sách của họ. Tuy nhiên, ông Võ Văn Hải chống ông bà Nhu và bác sĩ Tuyến, giám đốc Sở Mật vụ và cũng không thích ông Cẩn.

Khi phe quân nhân lên cầm quyền, Võ Văn Hải tổ chức nhóm “Tinh thần Ngô Đình Diệm” và ra ứng cử dân biểu taị Sàigòn nhưng thất cử. Năm 1974, không hiểu vì sao Hải lại xoay qua, cùng với Tôn Thất Thiện, ủng hộ nhiệt tình tướng Dương Văn Minh là người bị cho là có trách nhiệm vì cái chết của hai anh em ông Diệm-Nhu.

Về câu hỏi TT Diệm liên hệ ra sao với đảng Cần Lao, ông Quách Tòng Ðức cho biết ông Diệm chỉ để ý theo dõi hoạt động của Phong Trào Cách Mạng Quốc gia (tổ chức nòng cốt của chế độ từ lúc đầu) và Liên đoàn Công chức Cách mạng, một tổ chức ngoại vi của Chánh phủ. Về chuyện thành lập và sinh hoạt của đảng Cần Lao, TT Diệm giao hết cho hai ông Nhu và Cẩn. Trong các năm chót của chế độ, kế hoạch Ấp chiến lược cũng do ông Nhu hoàn toàn phụ trách, Tổng thống không lưu ý đến như đã từng lưu ý đến kế hoạch Dinh điền hay Khu Trù mật. Các gương mặt nổi trong hoạt động Cần Lao gồm có các ông Huỳnh Văn Lang, Trần Kim Tuyến, Lê Văn Ðồng, Huỳnh Hữu Nghĩa, Lê Quang Tung, Ðổ Mậu, Nguyễn Văn Châu, Ðổ Kế Mai, Nguyễn Trân v.v… Bs Tuyến làm việc với ông Nhu, ít khi gặp Tổng thống, trừ trường hợp đặc biệt. Quyết định đưa Cần Lao vào Quân đội – tức là chính trị hóa Quân đội – làm yếu Quân đội vì phá vỡ hệ thống quân giai và làm nản lòng các sĩ quan chuyên nghiệp. Quân đội chỉ biết có Tổ Quốc. Và phục vụ tổ quốc mà thôi.

Vụ công điện số 9159 cấm treo cờ Phật giáo.
Trong quyển hồi ký “Dòng họ Ngô Ðình”, xuất bản năm 2003 tại Californie, tác giả Nguyễn Văn Minh, nguyên bí thơ (1956-1963) của cố Ngô Ðình Cẩn, ghi nơi trang 164-165: Lối 10 hôm sau vụ nổ lựu đạn giết 7 em bé và một số Phật tử tại đài phát thanh Huế nhân ngày lễ Phật Ðản 1963, Dương Văn Hiếu, trưởng đoàn công tác đặc biệt Miền Trung, vào Dinh để phúc trình với TT Diệm, ông Diệm nói với Hiếu như sau về vụ treo cờ Phật giáo: “Sau đó tôi mới bảo Quách Tòng Ðức gởi công văn nhắc các Tỉnh, chứ tôi có cấm chi mô! Không hiểu tại răng hắn để tới ngày chót mới gởi công điện. Khi xảy chuyện, tôi kêu vô hỏi, hắn xin thôi. Công chuyện đổ bể như ri rồi, xin thôi thì ích chi?” Nguyễn Văn Minh còn viết thêm ý kiến của Tôn Thất Ðính: “Ông Ðức đã gởi đi một công điện mà không tham khảo ý kiến ông Cố vấn Ngô Ðình Nhu… Lẽ nào lại tự tiện đánh đi một công điện như vậy nếu không được tình báo Mỹ tổ chức?”

Ðược hỏi nghĩ sao về những đoạn trích dẫn trên đây, ông Quách Tòng Ðức ngạc nhiên. Ông xác quyết không bao giờ có nhận được lệnh của ông Diệm thảo và gởi cho các Tỉnh trưởng công điện số 9159 đề ngày 6.5.1963 do ông Nguyễn Văn Minh nêu ra, với nội dung “chỉ thị cho các cơ quan phụng tự (nhà thờ, chùa chiền…) chỉ treo cờ Quốc gia mà thôi” (nguyên văn). Trước đó, việc treo cờ được giải quyết bởi hai nghị định số 78 và 189 của Bộ Nội vụ (năm 1957 và 1958) và một sắc lệnh đầu năm 1962 của Phủ Tổng thống nhắc nhở quần chúng tôn trọng Quốc kỳ.

Ông Ðức kể lại: Tháng tư 1963, sau một cuộc thị sát vào mùa lễ Phục Sinh, TT Diệm có chỉ thị cho ông Ðức gởi thông tư lưu ý các giới chức Tỉnh về thể thức treo quốc kỳ VN trong các ngày lễ đạo, không phân biệt tôn giáo nào: treo trước cổng giáo đường, ở chính giữa và phía trên, đúng kích thước, còn các cờ đạo và cờ đoàn thể thì ở vị trí thấp hơn. Thông tư nhấn mạnh: phía trong các giáo đường, chùa chiền và những nơi thờ phượng, giáo kỳ được treo tự do, không giới hạn. Lệnh của Tổng thống được phổ biến ngay ngày hôm sau.

Theo ông Quách Tòng Ðức, đầu tháng 5.1963, tại Huế, xảy ra một điều đáng tiếc: Ðể lấy điểm trong lễ Ngân khánh 25 năm thụ phong giám mục của Ðức cha Ngô Ðình Thục, nhà chức trách hành chánh địa phương đã cho treo cờ Vatican “loạn xạ”, bất chấp thông tư nói trên. Một tuần sau – ngày 8.5.1983 – vào lễ Phật Ðản, các Phật tử cũng tự tiện treo cờ Phật giáo như thế. Hôm sau, Tỉnh trưởng Thừa Thiên trở lại thi hành thể thức treo cờ trong thông tư của Phủ Tổng thống nên gây sự phẫn nộ của Phật tử vì họ cho rằng đây là một biện pháp bất công, kỳ thị. Tại Miền Nam, theo ông Ðức, với 4.800 chùa Phật, không có xảy ra vấn đề như ở Huế.

Ông Ðức còn nhớ rất rành mạch rằng, sau thảm kịch tại Ðài Phát thanh Huế chiều ngày 8.5.1963, Tổng thống có đòi ông vào Văn phòng để đưa cho ông xem, với một gương mặt “mệt nhọc, buồn rầu và chán nản”, công điện ngày 6.5.1963 nói trên và hỏi “một cách sơ sài” ai đã gởi đi chỉ thị ấy. Ông Ðức trả lời không biết vì trong sổ công văn gởi đi không có dấu vết của tài liệu vừa kể. Theo ông Quách Tòng Ðức, trong hoàn cảnh chánh trị dồn dập sôi động lúc đó (Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu, Quách Thị Trang bị bắn chết tại chợ Bến Thành, lựu đạn nổ ở Huế, tướng lãnh lập kiến nghị đòi cải tổ, việc kiểm soát chùa v.v…), TT Diệm rối trí, không còn màng đến việc ra lệnh điều tra.

Ðể tỏ dàn xếp, Chánh phủ đồng ý cho hai Ủy ban Liên bộ và Liên phái công bố một thông cáo chung ngày 16.6.1963 xác định những điểm đã thỏa hiệp về việc treo cờ Phật giáo và Quốc kỳ, hứa xét lại Dụ số 10 trước Quốc hội vào cuối 1963, tạm ngưng áp dụng Nghị định của Phủ Tổng thống số 116/TTP/TTK ngày 23.9.1960 ấn định thể thức mua bán bất động sản và đất đai của Phật giáo, hứa sẽ trừng trị nhân viên có lỗi và bồi thường các gia đình nạn nhân. Tuy nhiên, mọi việc đã quá trễ.

Trong hồi ký “Ngô Ðình Diệm, Nỗ lực hòa bình dang dở”, (nxb Xuân Thu Californie 1989), nơi trang 189-190, Nguyễn Văn Châu, nguyên giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lý Quân đội VNCH, trở thành đối lập với Chánh phủ trước cuộc binh biến 1.11.1963, có ghi lại: Sau 1975, một cựu đại úy Hoa kỳ tên James Scott, liên hệ với CIA và từng làm cố vấn cho Tiểu đoàn 1/3 thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh, thú nhận trong một lá thơ đăng trên một tuần báo Mỹ rằng chính ông đã gài một trái bom nổ chậm chiều 8.5.1963 tại Huế. Sự kiện này cũng được Lương khải Minh, ghi lại trong hồi ký Làm thế nào giết một Tổng thống? (tập 2, trang 366-370). Theo trung tướng Trần Thiện Khiêm xác nhận với Marguerite Higgins, tác giả quyển sách Vietnam, Our nightmare, chương VI, Nguyễn Khánh (nắm quyền sau cuộc chỉnh lý 30.1.1964) đã hy sinh thiếu tá Ðặng Sỹ, phó Tỉnh trưởng Nội an Thừa Thiên, để Thich Trí Quang trì hoãn chống đối. Tòa án Mặt trận xử Thiếu Tá Ðặng Sỹ khổ sai chung thân.

Ðược hỏi: trong các tướng thường vô ra Dinh Ðộc lập, ai là người được sủng ái nhứt, ông Quách Tòng Ðức đáp không do dự: “Tôn Thất Ðính và Trần Thiện Khiêm, mà Tổng thống xem như người nhà!” Ðiều này không ngăn Ðính và Khiêm đóng vai trò chính yếu trong cuộc đảo chánh 1.11.1963.

“TT Diệm có thích được nịnh hót hay không?” Ý kiến của Ông Ðức: “Tại Bắc Việt, Cộng sản đã thần tượng hóa Hồ Chí Minh. Trong Nam, cũng có khuynh hướng ấy đối với ông Diệm, dưới nhiều hình thức, đặc biệt trong Phong trào Cách mạng Quốc gia với số đoàn viên tăng từ 10,000 năm 1955 lên đến 2 triệu năm 1963, tổ chức đến tận xã, phường. Bộ trưởng Thông tin Trần Chánh Thành bỏ hàng ngũ kháng chiến về cọng tác với ông Diệm từ lúc đầu như Trần Hữu Phương, Trần Lê Quang… Ông có công xây dựng Phong trào Cách Mạng Quốc Gia, tổ chức Chiến dịch tố cộng và đề xướng “Suy tôn Ngô Tổng thống”. Bất thuận với Trần Kim Tuyến, Thành rời Nội các cuối năm 1959. Ba bộ trưởng khác ra đi cùng một lúc vì, với ông Thành, lập hồ sơ truy tố một số cán bộ Cần lao dân sự và quân sự lộng quyền: Trần Trung Dung (Quốc phòng), Nguyễn Văn Sĩ (Tư pháp) và người viết (Nội vụ). Bộ Thông tin bị đổi thành Nha Tổng Giám đốc Thông tin do bác sĩ (Cần lao) Trần Văn Thọ phụ trách. Ngày 30.4.1975, ông Thành (Nghị sĩ và Ngoại trưởng thời Nguyễn Văn Thiệu) tự tử bằng thuốc độc tại nhà để tránh sa vào tay CS còn bác sĩ Tuyến thì được điệp viên Việt cộng nằm vùng Phạm Xuân Ẩn lấy xe chở đến một địa điểm dùng trực thăng Mỹ thoát khỏi Việt Nam. Tuyến định cư tại Anh quốc nhờ bà Tuyến làm việc cho Tòa Ðại sứ Anh ở Sài Gòn. Tại Anh, Bác sĩ Tuyến làm chủ một nhà trọ bed and breakfast gần Cambridge và qua đời cách đây vài năm, sau khi phát hành cùng với Cao Vĩ Hoàng quyển hồi ký “Làm thế nào giết một Tổng thống?”

Theo ông QTD, TT Diệm cởi mở, bình dân trong những năm đầu chấp chánh nhưng về sau, trở nên khó tánh và khép kín hơn. Ảnh hưởng của quyền lực? hoàn cảnh? giới cận thần a dua? Qua ba giai đoạn Quốc Hội Lập Hiến, Quốc Hội Lập Pháp kỳ 1 và Quốc Hội Lập Pháp kỳ 2, nền Ðệ nhứt Cọng hòa đi lần vào bế tắc. Trong gia đình, ông bà Trần Văn Chương, nhạc gia của ông Nhu, – chồng, đại sứ VNCH tại Hoa Thịnh Ðốn và vợ, quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc – lợi dụng chức vụ để phản tuyên truyền và đả kích Chánh phủ Sài Gòn. Ngay cả Bác sĩ Trần Văn Ðỗ, chú vợ của cố vấn Ngô Ðình Nhu, và luật sư Nguyễn Hữu Châu, nguyên bộ trưởng Phủ Tổng thống kiêm Bộ trưởng Nội vụ, anh em bạn cột chèo với ông Nhu, cũng không còn ủng hộ ông Diệm. Ls Châu đào thoát qua Paris ngang con đường Nam Vang nhờ sự giúp đỡ của bạn học cũ là Quốc vương Sihanouk. Ông đã trình luận án Thạc sĩ luật chỉ trích chương trình viện trợ Hoa kỳ ở VN và sau đó, dạy luật tại Ðại học Paris. Luật sư Châu cũng như khoa học gia Bửu Hội, năm 1972, cũng ngã theo ủng hộ Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Trần Văn Ðôn- người chủ trương đảo chánh – nhìn nhận một cách thương hại: Tội nghiệp, mọi người đều bỏ TT Diệm!

Ông Quách Tòng Ðức tỏ ra dè dặt với dư luận cho rằng TT Diệm kỳ thị Phật Giáo. Theo ông, TT Diệm thường tiếp xúc với các vị tu hành thuộc mọi tôn giáo, đặc biệt Phật giáo; không bỏ qua dịp viếng thăm một số chùa như chùa Sư Nữ của Sư bà Diệu Huệ (mẹ giáo sư Bửu Hội) ở Phú Lâm, chùa Diệu Ðế ở Huế.. v.. v.. Chính ông Ðức đã nhiều lần chuyển đến tay ông Mai Thọ Truyền, chủ chùa Xá lợi và Hội trưởng Hội Phật giáo Nam Việt những số tiền giúp đỡ. Một chuyện mà ít người biết là TT Diệm đã hiến cho Ðức Ðạt Lai Lạt Ma trọn số tiền 15,000 mỹ kim, giải thưởng Leadership Magsaysay tặng cho Tổng thống. Vì lý do chánh trị, quyết định này không được công bố.

Ủy ban tôn giáo Liên Hiệp Quốc được Chánh phủ Sài Gòn mời đến điều tra năm 1963 cũng đã phúc trình – sau ngày hai ông Diệm, Nhu bị giết – rằng Ðệ nhứt Cọng hòa không kỳ thị tôn giáo. Mặt khác, TT Diệm đã từng thẳng thắn bác bỏ những yêu sách quá đáng của một vài hàng giáo phẩm Công giáo di cư, bởi thế nên có sự bất mãn ngấm ngầm. Theo ông Ðức, 2 Giám mục Phát Diệm, Bùi Chu Lê Hữu Từ và Phạm Ngọc Chi chống đối ông Diệm ra mặt.

Cho đến ngày TT Diệm qua đời, phần đông các người phục vụ sát cạnh bên Tổng thống hàng ngày đều thuộc thành phần Phật giáo: Ðổng lý (Quách Tòng Ðức), Tổng thơ ký Nguyễn Thành Cung, Chánh văn phòng Võ Văn Hải, bí thơ Trần Sử, nội dịch Tôn Thất Thiết, cận vệ Nguyễn Bằng…



Vấn đề thủ tiêu các người đối lập và việc tiếp xúc của ông Nhu với đối phương Cộng sản
Sau chánh biến 1.11.1963, Hội đồng Quân nhân Cách Mạng tố cáo chánh quyền Diệm đã thủ tiêu một số người đối lập như Nguyễn Bảo Toàn, Tạ Chí Diệp, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn v.v… QTÐ tuyên bố không biết gì về những chuyện này thuộc thẩm quyền các cơ quan công an, tình báo. Tuy nhiên, ông tin chắc rằng ông Diệm không bao giờ đích thân chủ trương như vậy vì Tổng thống là một tín đồ Công giáo thuần thành, phân biệt tội phước. Có thể một số nhân viên an ninh cuồng tín đã hành động để lấy điểm (excès de zèle) hay giải thích sai lầm chỉ thị cấp trên. Một bằng chứng cụ thể là TT Diệm chỉ ra lệnh giam chớ không cho xử tử Hà Minh Trí, một cán bộ Cao Ðài, mưu sát hụt ông tại Ban Mê Thuột và gây thương tích cho Bộ trưởng Ðỗ Văn Công. Hà Minh Trí được Hội đồng Cách Mạng trả tự do khi họ đã giết TT Diệm. Câu hỏi nêu ra là cuối cùng, TT Diệm có hay biết các vụ thanh toán toán đối lập hay không và phản ứng thế nào? Dù sao, lịch sử vẫn đặt vấn đề trách nhiệm tinh thần đối với ông.

Trong giai đoạn chót của chế độ, có tin đồn trong quần chúng và báo giới Mỹ rằng cố vấn Ngô Ðình Nhu đi đêm với CS kháng chiến để tìm ra giải pháp giữa Nam, Bắc. Chính ông Nhu có đề cập đến chuyện này trong vài phiên nhóm với tướng lãnh tại Bộ Quốc phòng và ngày 23.7.1963 tại suối Lồ Ồ khi nóí chuyện với các cán bộ xây dựng Ấp Chiến lược khóa 13. Một nguồn tin khác cho biết ông Nhu sử dụng trung gian của bốn đại sứ Roger Lalouette (Pháp), d’Orlandi (Ý), Goburdhun (Ấn độ) và Manelli (Ba Lan), (hai ông sau là thành viên của Ủy ban Quốc tế kiểm soát đình chiến) cũng như Tổng lãnh sự Pháp ở Bắc Việt Jacques de Buzon để liên lạc với Hà Nội.

Ông QTÐ nói có nghe dư luận này nhưng không biết rỏ chi tiết. Ông cũng có nghe sầm xì rằng ông Nhu đã gặp một đại diện Văn phòng Chính trị CS (Phạm Hùng?) trong lần đi săn tại Quận Tánh Linh, Bình Tuy. Ông Ðức nghĩ đây chỉ là một đòn chiến thuật của ông Nhu để dằn mặt Hoa Kỳ, Tổng thống Diệm không bao giờ chấp nhận giải pháp điều đình với Hồ Chí Minh. Hơn nửa, Hiến pháp VNCH có ghi rỏ chủ trương của Miền Nam Việt Nam chống chủ nghĩa vô thần. Ông Ðức còn xác nhận: một Tết Nguyên Ðán trước 1963, một cành đào đỏ lộng lẫy được trưng bày nơi phòng khánh tiết Dinh Ðộc lập với tấm thiệp in tặng của “Chủ tich Nhà nước Cọng hòa Xã hội Miền Bắc”.



Những ngày chót của Tổng Thống Diệm và các thân cận cuối cùng

Tướng Trần Văn Ðôn, đầu não trong chánh biến 1.11.1963 và tác giả của quyển hồi ký “VN Nhân Chứng” (nxb Xuân Thu, Californie, 1989) về vai trò Hoa kỳ chỉ huy vụ lật đổ và sát hại một lãnh tụ đồng minh đã viết như sau: “Ðúng 1 giờ 30 trưa, (trùm Xịa) Conein vào bộ Tổng Tham mưu, (nơi đặt văn phòng của Ðôn) mang theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc với Tòa Ðại sứ Mỹ và một bao tiền là ba triệu bạc VN” (trang 211). Ðôn còn tuyên bố khi y thậm thọt gặp riêng Thái thú Cabot Lodge để thỉnh thị: “Chúng tôi (nhóm đảo chính) không bao giờ có tham vọng cá nhân, chỉ muốn cứu nước!” (trang 210)

Trong hồi ký VN Nhân Chứng, đoạn chót, “Trần Văn Ðôn cho biết ba triệu bạc -cái giá rẻ mạt để thay đổi một thế cờ! – đã chia cho Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Tôn Thất Ðính, Nguyễn Hữu Có, Ðổ Cao Trí, Nguyễn Khánh, Trần Ngọc Tám và Lê Nguyên Khang”.

Ông Ðức tỏ ra ngán ngẩm khi được hỏi nghĩ gì về sự tự thú trên đây. Theo ông, trong những ngày chót của một cuộc đời đấu tranh gian khổ, TT Diệm là con người cô đơn nhứt trên thế gian: dân tộc bỏ rơi, đồng minh phản bội, gia đình chia cách, kẻ thù cộng sản reo hò chiến thắng, sự nghiệp chính trị ra tro, uất hận ngất trời vì tương lai mù mịt của Ðất nước, một quốc gia bị sức mạnh chèn ép. Với ông Nhu quỳ bên cạnh cầu nguyện trong Nhà thờ Cha Tam Chợ Lớn sáng ngày 1.11.1963, nhưng không chắc TT Diệm đồng một tâm tư với người em.

Ông Ðức bùi ngùi nhắc lại: “Tối 1.11.1963, khi tiếng súng nổ rền khắp nơi, ông và gia đình rời khỏi nhà riêng ở số 8 đường Lê Văn Thạnh, Sài Gòn, tại Chợ Lớn, không xa căn phố lầu của Mã Tuyên, nơi Tổng thống và ông Nhu tạm ngụ. Sáng hôm sau 2 tháng 11, trở lại nhà thì được biết Tổng thống có điện thoại tới hôm trước nhưng người giữ nhà trả lời không biết ông Ðức ở đâu. Vài giờ sau, ra-dô báo tin hai ông Diệm, Nhu “tự tử”, điều mà ông Ðức không tin chút nào. Ðến nay, ông Ðức vẫn ân hận vì không được tiếp xúc lần chót với Tổng thống.
Image
một sĩ quan thuộc phe đảo chánh, vẻ mặt hớn hở, bên xác ông Nhu

Image
Lễ an táng TT Diệm và ông Nhu


Hỏi: Trong Nội các, ai được Tổng thống Diệm tin cậy nhứt những ngày, tháng cuối cùng? QTÐ đáp: các ông Nguyễn Ðình Thuần và Trương Công Cừu. Ông Thuần kiêm ba trọng trách: Bộ trưởng tại Phủ Tổng thống, Bộ trưởng phụ tá Quốc phòng, và Bộ trưởng Ðặc nhiệm Phối hợp An ninh. Ông Cừu là Bộ trưởng Ðặc nhiệm Phối hợp Văn hóa Xã hội. Ngoài ra, còn có ông Ngô Trọng Hiếu, Bộ trưởng Công dân vụ, từng là đại sứ VNCH ở Nam Vang, bị Chánh phủ Cam bốt trục xuất vì giúp cho tướng Nap Chuon đảo chánh (hụt) Quốc vương Sihanouk. Tên ông Hiếu nằm trong bản danh sách của Cabot Lodge ghi các nhân vật cần thanh toán, theo hồi ký nêu trên của trung tá Nguyễn Văn Châu.

Ông Ðức không ngạc nhiên cho lắm khi được người viết cho biết một số tài liệu giải mật tại Hoa kỳ tiết lộ ông Nguyễn Ðình Thuần là tay trong thân tín của CIA, theo dõi để phúc trình từng phản ứng của hai anh em Diệm-Nhu. Nguyễn Ðình Thuần từng được Mỹ chấm như một “Thủ tướng có triển vọng” nếu TT Diệm chịu sửa Hiến pháp để đặt thêm chức vụ này (đọc The Storm has many eyes, A personal narrative của Henri Cabot Lodge, NY 1973, trang 62 và Lodge in Vietnam, A Patriot abroad của Ann Blair, nxb Yale University Press, New Haven 1995, trang 92).

Ông Ðức cho biết thêm: Linh mục Cao Văn Luận cũng là một cố vấn thân tín của Tổng thống được giao phó ra nước ngoài xin tài trợ về giáo dục, tìm kiếm trí thức Việt đưa về nước và tổ chức Viện Ðại học Huế mà ông là Viện trưởng đầu tiên. Trong giai đoạn khủng hoảng Phật giáo, dư luận cho rằng cha Luận đã trở mặt, ngã theo phe chống chánh quyền. Ông Quách Tòng Ðức quả quyết không bao giờ gặp Vũ Ngọc Nhạ (mà CS tuyên bố phịa trong quyển sách và bộ phim giả tưởng Ông Cố Vấn gài được vào Dinh Ðộc Lập!) Trả lời về các cán bộ gốc Cộng sản cọng tác với chế độ, ông Ðức cho biết Kiều Công Cung – nguyên tư lệnh một sư đoàn Việt cộng – đã tỏ ra xứng đáng đến cùng trong chức vụ Ðặc ủy chiêu hồi. Phạm Ngọc Thảo – mà Tổng Nha Cảnh Sát có hồ sơ – được bổ nhiệm đại úy Bảo An, sau đó Tỉnh trưởng Kiến Hòa và thanh tra dinh điền. Hai chuyên viên Mỹ về Giáo dục và Dinh điền thường lui tới Dinh và ăn sáng với Tổng thống là giáo sư Wesley Fishel thuộc Ðại học Michigan và Ladejinsky mà Tổng thống quen từ lúc bôn ba ở Hoa kỳ. Về sau, được biết hai chuyên viên này làm việc cho CIA. Ðặc biệt, Fishel đã ra mặt chống phá ông Diệm tại Hoa Thịnh Ðốn trước ngày đảo chánh.

Ông bạn Quách Tòng Ðức chấm dứt buổi nói chuyện thân tình bằng một lời than chua xót: Dĩ vãng buồn nhiều hơn vui, phá hoại nhiều hơn xây dựng, hận thù thay vì đoàn kết. Ðến nay, Ðất nước chưa thấy lối thoát, những bài toán của xứ sở chưa tìm ra đáp số.

Lưu đày, dù trên mảnh đất dân chủ, chưa phải là Tự do. Người Việt tha hương, vào tuổi gần đất xa trời, vừa đau buồn hướng về Ðất Mẹ, vừa thao thức tự vấn như Thôi Hiệu trong bài thơ Ðường Hoàng Hạc Lâu:

Chiều xuống, Quê nhà đâu đó tá?
Bên sông khói tỏa, não lòng ai.


(Chi Ðiền dịch)
Lâm Lễ Trinh

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Dân Mỹ thực thi quyền thay đổi
Tuesday, November 02, 2010

Ngô Nhân Dụng
Mỗi năm bầu cử, lại thấy chính các cử tri đi bỏ phiếu ở Mỹ là chủ nhân của nước họ. Họ nắm trong tay quyền thay đổi những đại biểu Quốc Hội hoặc tổng thống, những người quyết định chính sách quốc gia.

Và người dân Mỹ đã thi hành quyền đó một cách dứt khoát để thay đổi thành phần Quốc Hội. Các vị đại biểu “đầy tớ của dân” không thể nào nghĩ địa vị của mình là do ai ban cho, ngoài lá phiếu của cử tri.

Trong cuộc bỏ phiếu năm nay, đảng Cộng Hòa đã thắng lớn, thêm nhiều ghế dân biểu ở Hạ Viện và nghị sĩ tại Thượng Viện. Ngoài ra, số thống đốc các tiểu bang thuộc đảng Cộng Hòa cũng tăng lên. Ðây là hiện tượng đã diễn ra nhiều lần: Ðảng đang cầm quyền bị dân chúng bất tín nhiệm. Năm 2008 Ðảng Cộng Hòa giữ chức tổng thống và chiếm đa số ở Quốc Hội rồi bị thất cử; lý do vừa vì chiến tranh vừa vì kinh tế. Năm nay đến lượt đảng Dân Chủ chịu số phận đó, chính yếu vì kinh tế bết bát.

Gần hai mươi năm trước, cảnh tượng cũng giống năm nay. Năm 1992, Bill Clinton đã đắc cử tổng thống cùng lúc đảng Dân Chủ của ông chiếm đa số ở Quốc Hội, giống ông Obama năm 2008. Nhưng qua năm 1994, đảng Cộng Hòa đại thắng khi dân bầu Quốc Hội lại. Năm 1994 có 52% dân chúng Mỹ không thỏa mãn với sự lãnh đạo của ông Clinton, năm nay tỷ số người bất mãn đối với Tổng Thống Obama cũng tương tự. Nhưng trước khi ông Clinton rời ghế tổng thống năm 2000, đảng ông đã thua ghế ở cả hai viện. Năm đó, Tổng Thống Gorges W. Bush vào Tòa Bạch Ốc và đảng Cộng Hòa lãnh đạo Quốc Hội. Nhưng sau đó Cộng Hòa dần dần bị thay thế, năm 2008 đảng Dân Chủ đại thắng.

Có thể kết luận là trong gần hai chục năm qua các cử tri Mỹ không ủng hộ cho đảng nào thắng cử nhưng họ chỉ muốn bày tỏ ý kiến khi bất tín nhiệm đảng cầm quyền. Thấy một đảng có vẻ cầm quyền khá lâu, dễ sinh lạm quyền, có thể sẽ thi hành các chính sách thiên lệch, người dân sẽ bắt họ rời khỏi quyền bính. Như một nhà chính trị nhận xét, người Mỹ nhìn công việc của các chính trị gia là biết rõ điều nào họ không thích; nhưng họ chưa biết chắc họ thích điều gì, khi chưa trông thấy đem ra thi hành. Cho nên họ chỉ trừng phạt các chính trị gia làm quá trớn, sai ý muốn của đa số dân.

Theo một cuộc nghiên cứu dư luận của công ty Rasmussen, có 51% dân Mỹ thấy đảng Dân Chủ quá thiên về xu hướng gia tăng quyền hạn cho guồng máy nhà nước (big government) và một tỷ số tương tự lại thấy đảng Cộng Hòa nghiêng về phía giới tư bản kinh doanh (big business). Cả hai thái độ thiên lệch đều bị ghét. Nếu đảng nào để lộ rõ bộ mặt bị nghi ngờ của họ, dân Mỹ sẽ cho nghỉ! Năm nay, có gần 60% dân Mỹ lo sợ khuynh hướng “chính phủ to lớn” đang giành lấy quyền chỉ đạo quốc gia. Ða số dân chúng (57%) thấy họ lo đảng Dân Chủ sẽ đặt ra quá nhiều luật lệ trói buộc người kinh doanh; trong khi chỉ có 37% lo lắng đảng Cộng Hòa sẽ không làm luật đủ nghiêm ngặt, để cho các nhà kinh doanh tự do nhiều quá! Vì thế nhiều đảng Cộng Hòa đã thắng.

Nói chung, trong cuộc bỏ phiếu năm nay có thể nói người dân không tín nhiệm các đảng chính trị và những đại biểu đang cầm quyền! Bằng cớ là trong hơn một năm qua một phong trào chính trị mới thành hình, dưới tên “Ðảng Tiệc Trà” (Tea Party); họ gây được ảnh hưởng mạnh mẽ trên cả hai đảng trong mùa bầu cử vừa qua.

Danh hiệu Tea Party cốt nhắc lại một phong trào phản kháng của dân các thuộc địa Bắc Mỹ phản đối vua nước Anh vào thế kỷ 18. Khi dân chúng biểu tình chống thuế mới của Anh hoàng đánh trên trà nhập cảng, họ đã đem các thùng trà ném xuống biển. Biến cố đó được tặng cái tên là “Tiệc Trà!” Phong trào phản kháng mới ở Mỹ bắt đầu từ năm 2009 tự chọn tên gọi này càng ngày càng mạnh. Những người tham dự hăng hái trong Ðảng Tiệc Trà (Tea Party), nhắm phản đối các chính sách của chính phủ Obama, cũng thường nhận họ ủng hộ đảng Cộng Hòa, nhưng các người lãnh đạo đảng này không nhất thiết chấp nhận họ. Trong nội bộ đảng Cộng Hòa, Tea Party hỗ trợ các ứng cử viên bảo thủ nhất. Nghị Sĩ Cộng Hòa Bob Bennett, đã đại diện tiểu bang Utah suốt 18 năm và được coi là rất bảo thủ; nhưng ông đã bị gạt bỏ trong cuộc tuyển cử sơ bộ trong đảng CH năm nay, thua một ứng cử viên được Tea Party yểm trợ. Những chuyện tương tự cũng diễn ra ở tiểu bang Alaska, Delaware, Florida; Kentucky, Nevada, nhóm Tea Party đã ủng hộ những ứng cử viên bảo thủ hơn các chính trị gia lâu đời của đảng Cộng Hòa, và người của họ đã trở thành đại biểu cho đảng. Nhiều người được Tea Party ủng hộ đã thua vì bị cử tri coi là quá bảo thủ, nhưng phong trào này đã vẽ lại bản đồ chính trị nước Mỹ trong cuộc bầu cử lớn năm 2012.

Có thể nói chính những người thuộc Tea Party đã gây nên tình trạng hào hứng trong mùa tranh cử năm nay. Vì họ không những nhiệt liệt chống đảng Dân Chủ mà còn thách đố cả giới lãnh đạo đảng Cộng Hòa; nhờ thế đã kích thích cho đảng Cộng Hòa phấn khởi lên sau cuộc thua trận năm 2008. Tea Party thành công nhờ tấn công các nhà chính trị chuyên nghiệp kỳ cựu. Họ bị coi là chịu trách nhiệm về tình trạng kinh tế suy yếu kéo dài, tỷ lệ thất nghiệp cao ảnh hưởng tới hầu hết dân chúng Mỹ!

Hiện tượng Tea Party cho thấy dân Mỹ trong lúc lo âu về tương lai quốc gia. Trong một cuộc nghiên cứu dư luận của ABC News, chỉ có 33% dân Mỹ tỏ ý lạc quan về tương lai, tỷ lệ thấp nhất trong 36 năm nay.

Một lý do khiến dân chúng chán các đảng chính trị chính vì các đảng này đã thay đổi hoàn toàn trong nửa thế kỷ qua. Nhiều nhà nghiên cứu chính trị nhận thấy trước đây trong mỗi đảng Cộng Hòa hay Dân Chủ các chính trị gia đều có thể chia thành hai phái, tả và hữu. Người Cộng Hòa phe tả có thể bỏ phiếu giống đảng Dân Chủ khi cùng ủng hộ một dự luật. Ngược lại người Dân Chủ phe hữu nhiều lúc bỏ phiếu cùng với các đồng viện Cộng Hòa.

Nhưng từ mấy chục năm nay, tình trạng trên biến mất dần, mỗi đảng có một mầu sắc riêng, ít có người đứng giữa. Một lý do là vì trong các cuộc bầu cử sơ bộ những cử tri của mỗi đảng hăng hái đi bỏ phiếu chỉ vì họ nhiệt liệt theo một lập trường, tức là họ cực đoan hơn những người khác. Trong đảng Dân Chủ những người nhiệt liệt chống chiến tranh Iraq đã chọn các ứng cử viên nhất thiết ủng hộ ý kiến này. Trong đảng Cộng Hòa nhiều người chống hôn nhân đồng tính kịch liệt đã chọn các ứng cử viên cùng lập trường đó. Những người trung dung, ôn hòa khó thắng trong các cuộc bỏ phiếu sơ bộ. Cho nên ứng cử viên do các đảng đưa ra thường nghiêng về một phía cực đoan, hay ít nhất họ cũng tỏ ra là hữu hay tả một cách rõ ràng.

Một hậu quả là nhiều cử tri cảm thấy họ không thể ủng hộ một đảng nào mãi. Họ không trung thành với một đảng nào cả, không bỏ phiếu theo ý thức hệ tả hay hữu. Họ chọn người đại diện trong Quốc Hội dựa trên những chủ trương rõ rệt, về những vấn đề cụ thể. Hiện nay có 38% cử tri Mỹ tự nhận là “độc lập” không theo đảng nào. Năm nay Ðảng Cộng Hòa đã thắng nhờ có nhiều cử tri độc lập năm 2008 ủng hộ Tổng Thống Obama, năm nay đã bỏ phiếu cho đảng Cộng Hòa để trừng phạt đảng Dân Chủ.

Trong 18 năm, dân Mỹ đã thay đổi đảng nắm quyền ở Quốc Hội rất nhanh. Vì người Mỹ rất sốt ruột, họ sẽ thất vọng khi thấy người cầm quyền không giải quyết ngay được những vấn đề trước mắt. Trong lịch sử nước Mỹ tình trạng tương tự đã diễn ra nhiều lần, trong những lúc có chiến tranh hay kinh tế đang suy yếu. Năm 1893 khi đảng Dân Chủ nắm quyền đã xẩy ra một cuộc khủng hoảng tài chánh. Năm 1894, đảng Cộng Hòa đại thắng, chiếm thêm 135 ghế trong Quốc Hội. Nhưng hai năm sau đảng này đã mất 48 ghế, mặc dù năm đó ứng cử viên Cộng Hòa đắc cử tổng thống.

Trước và sau cuộc Ðại Chiến Thứ Nhất, Quốc Hội đổi tay luôn luôn, mỗi cuộc bầu cử thay đổi trên 20 ghế trong Hạ Viện, trừ một năm 1916. Năm 1932, sau khi kinh tế đại khủng hoảng không lối thoát, đảng Dân Chủ đã thắng lớn, dân chúng cho 101 dân biểu Cộng Hòa ở Hạ Viện cùng với 9 nghị sĩ Cộng Hòa trên Thượng Viện về vườn. Sau đó là một thời gian dài đảng Dân Chủ nắm quyền suốt mấy chục năm. Cho tới khi đảng Cộng Hòa chiếm thêm được 55 ghế trong cuộc bầu cử 1946, lần đầu tiên họ chiếm đa số kể từ thời 1930. Hai năm sau, 75 đại biểu Cộng Hòa lại bị thất cử. Ðến năm 1952, Quốc Hội, cùng với Tòa Bạch Ốc mới được trao cho đảng Cộng Hòa. Nhưng sau đó 2 năm, đảng Dân Chủ trở lại kiểm soát Quốc Hội, suốt cho tới năm 1994 mới thay đổi.

Từ hai năm qua, đảng Dân Chủ nắm ưu thế trong cả hai ngành lập pháp và hành pháp. Tình trạng thay đổi năm nay tại Quốc Hội cho thấy người dân Mỹ vẫn sợ một đảng nắm quyền lâu quá sẽ ỷ y vào sức mạnh của họ, có thể đưa quốc gia tới những quyết định sai lầm vì không suy tính kỹ càng. Dân Mỹ muốn sử dụng chế độ phân quyền một cách quyết liệt, không để cho đảng nào quá mạnh.

Vì thế, từ nay đến năm 2012, nếu đảng Cộng Hòa nắm đa số trong Hạ Viện không đưa ra được những đạo luật mới thể hiện những chính sách được đa số dân ủng hộ; nếu họ bị mang hình ảnh chỉ chống đối Tổng Thống Obama mà không xây dựng, thì họ sẽ lãnh hậu quả. Cho nên, người ta hy vọng trong hai năm cuối của nhiệm kỳ ông Obama, cả Tòa Bạch Ốc và đảng Cộng Hòa sẽ phải tỏ ra có thiện chí làm việc chung, tương nhượng, thỏa hiệp, chú trọng đến kết quả hơn là tranh đấu với nhau về chính trị.

Trong thời gian 2 năm tới, ông Obama có thể bắt chước cựu Tổng Thống Clinton. Năm 1994 đảng Dân Chủ thua tơi tả trong cuộc bầu cử Quốc Hội, giữa nhiệm kỳ thứ nhất của ông. Ngay sau đó, Clinton đã bỏ đường lối thiên tả để đi vào hướng trung dung. Nhờ cuộc ganh đua giữa hai đảng, kiềm chế lẫn nhau; giữ thế cân bằng trong hai ngành lập pháp và hành pháp; nên trong những năm sau đó nước Mỹ đã thực hiện được 2 mục tiêu theo đuổi từ nhiều năm trước mà chưa bao giờ đạt được. Ðó là cân bằng ngân sách và cải tổ hệ thống an sinh xã hội đang bị lạm dụng quá đáng. Có thể nói đó là nhờ người dân đã thi hành quyền bỏ phiếu của họ một cách sáng suốt.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Tập Cận Bình, chọn lựa của Trung Quốc: Siêu cường trước, dân sinh sau
Monday, November 01, 2010

Trần Bình Nam
Ngày 18 tháng 1 0 năm 2010 trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc sau 4 ngày họp đã chọn ông Tập Cận Bình (Xi Jinping), ủy viên thường trực Bộ Chính Trị vào chức vụ phó chủ tịch quân ủy trung ương. Ông Hồ Cẩm Ðào, tổng bí thư, chủ tịch nước đang kiêm giữ chức chủ tịch quân ủy trung ương. Ông Tập Cận Bình phụ tá ông Hồ Cẩm Ðào để tập việc “nắm quân đội”, căn bản của quyền lãnh đạo.
Image
Tập Cận Bình và Hồ Cẩm Ðào. (Hình: AP Photo/Andy Wong/ File)



Nếu lấy mẫu chuyển quyền từ ông Giang Trạch Dân sang Hồ Cẩm Ðào 11 năm trước, các nhà quan sát về Trung Quốc đều đồng ý rằng đây là dấu hiệu đảng Cộng Sản Trung quốc đã đồng thuận chọn ông Tập Cận Bình làm lãnh tụ tương lai sau khi ông Hồ Cẩm Ðào nghỉ hưu.

Năm 1999 ông Hồ Cẩm Ðào được đưa vào chức vụ phó chủ tịch quân ủy trung ương để học việc với Giang Trạch Dân. Ðến đại hội thứ 16 năm 2002 ông Hồ Cẩm Ðào được bầu làm tổng bí thư, sau đó năm 2003 nắm chức chủ tịch nước và năm 2004 nắm luôn chức vụ chủ tịch quân ủy.

Theo tiến trình đó người ta dự đoán rằng vào đại hội thứ 18 năm 2012, ông Tập Cận Bình sẽ được bầu làm tổng bí thư đảng, sau đó năm 2013 sẽ trở thành chủ tịch nước, và theo tiền lệ năm 2014 sẽ kiêm luôn chức vụ chủ tịch quân ủy trung ương và hoàn toàn thay thế ông Hồ Cẩm Ðào làm lãnh tụ tối cao của Trung Quốc.

Sự chuyển mọi quyền hành từ Hồ Cẩm Ðào sang Tập Cận Bình sẽ kéo dài tối thiểu 4 năm và nhịp nhàng uyển chuyển để tránh mọi xáo trộn khi thay đổi lãnh đạo như đã xảy ra sau khi Mao Trạch Ðông qua đời năm 1976 và vẫn thường xảy ra tại các nước cộng sản khác hay tại các nước độc tài.

Ông Hồ Cẩm Ðào người được ông Ðặng Tiểu Bình (trước khi qua đời) chọn là người lãnh đạo kế nghiệp ông Giang Trạch Dân sau khi ông Giang Trạch Dân mãn nhiệm tổng bí thư đã được các hậu duệ trong đảng thực hiện.

Thời kỳ lãnh đạo của ông Hồ Cẩm Ðào là thời kỳ Trung Quốc bước vào con đường phát triển kinh tế và trở thành một cường quốc. Trong thời gian đó Trung Quốc đứng trước hai nhu cầu: (1) Phát triển kinh tế qua sản xuất và xuất cảng và (2) nhu cầu sống sung túc của nhân dân. Nếu không muốn kể thêm nhu cầu cần cải tổ chính trị cho phù hợp với sự phát triển của kinh tế thị trường.

Phát triển kinh tế qua đầu tư sản xuất và tăng mức sống của nhân dân để thu hẹp khoảng cách giữa giàu và nghèo, giữa thành thị và nông thôn là hai nhu cầu không thể thực hiện cùng một lúc. Phải chọn ưu tiên: Trở thành cường quốc trước, dân sinh sau hay dân sinh đã và trở thành cường quốc sau.

Suốt 8 năm lãnh đạo vừa qua cá nhân ông Hồ Cẩm Ðào và đảng Cộng Sản Trung Quốc đã trăn trở giữa hai nhu cầu đó.

Năm 2007 đại hội 17 của đảng Cộng Sản Trung Quốc, có lẽ đã thảo luận vấn đề một cách rộng rãi, và Hồ Cẩm Ðào với sự đồng thuận của các cấp lãnh đạo đảng đã chọn hai ủy viên trung ương đảng trẻ tuổi là Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường (Li Kequang) vào Ủy ban Thường vụ Bộ Chính Trị. Ông Tập Cận Bình có khuynh hướng phát triển kinh tế để trở thành cường quốc trước. Trái lại ông Lý Khắc Cường đại diện cho khuynh hướng “dân túy” (populist) lo cho dân trước, quốc gia hùng mạnh sẽ theo sau (theo “China's Team of Rival” của Chang Li, tạp chí Foreign Policy số tháng 3 & 4/2009. Ông Chang Li là một chuyên viên về Trung Quốc của Viện Brookings).

Sau 3 năm thử thách khuynh hướng cường quốc trước, dân sinh sau thắng thế và ông Tập Cận Bình đã được chọn làm người lãnh đạo Trung quốc sau Hồ Cẩm Ðào.

Ông Tập Cận Bình thuộc giới “con giòng” (princeling), con trai ông Xi-Zhongxun, một trong những công thần của chế độ đã cùng Mao Trạch Ðông và các đồng chí khác xây dựng chính quyền Cộng Sản tại Trung Quốc. Ông Xi-Zhongxun là một người chủ trương cởi mở bị Mao thanh trừng năm 1968 trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Năm đó ông Tập Cận Bình 15 tuổi bị đuổi về tỉnh Thiểm Tây lao động chân tay. Sau cuộc Cách Mạng Văn Hóa, ông Xi-Zhongxun được hoàn chức trở về giúp việc cho Ðặng Tiểu Bình, và ông Tập Cận Bình trở lại Bắc Kinh học tại đại học nổi tiếng Qinghua. Ông tốt nghiệp kỹ sư hóa học năm 1979 và sau đó bằng tiến sĩ về phát triển nông nghiệp. Dưới thời Ðặng Tiểu Bình ông phục vụ trong bộ máy lãnh đạo đảng tại tỉnh Phúc Kiến và từng là bí thư thành ủy thành phố Thượng Hải. Ông Tập Cận Bình được tiếng là người trong sạch và tích cực khuyến khích mậu dịch. Ông kết hôn với bà Peng Liyuan, một danh ca dân ca được dân chúng Trung Quốc ái mộ.

Chọn lựa ông Tập Cận Bình, đảng Cộng Sản Trung Quốc đã chọn con đường ưu tiên phát triển kinh tế để trở thành siêu cường. Sự cải tổ chính trị và nhu cầu dân sinh sẽ được thực hiện trong một mức độ vừa phải có kiểm soát để tránh ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế. Và trong thời gian 5 đến 10 năm tới thế giới không nên trông đợi một sự cải tổ chính trị sâu rộng nào theo hướng dân chủ hóa tại Trung Quốc.

Ngoài cải tổ chính trị trong chừng mực đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ quan tâm đến mức sống của dân để thu hẹp khoảng cách giữa giàu và nghèo trong xã hội. Thành phần giàu đa số là đảng viên nắm các lĩnh vực kinh tế quốc doanh được hưởng lợi một cách quá đáng. Thành phần nghèo là công nhân không có gốc rễ và nông dân. Người được giao nhiệm vụ điều chỉnh này là ông Lý Khắc Cường.

Chúng ta có thể nghĩ rằng vào đại hội 18 năm 2012 khi ông Tập Cận Bình nhận chức vụ tổng bí thư, ông Lý Khắc Cường sẽ nắm một nhiệm vụ then chốt trong Bộ Chính Trị để bảo đảm rằng nhu cầu dân sinh sẽ không bị lãng quên.

Có thể đó là sáng kiến của ông Hồ Cẩm Ðào tạo ra một hình thức đối lập trong nội bộ đảng để bảo đảm một sự phát triển bền vững và cân đối (*).

Quyết định chọn ông Tập Cận Bình làm lãnh tụ tương lai cho thấy đảng Cộng Sản Trung Quốc đã chọn thế kỷ 21 là thế kỷ của mình, và họ đang chuẩn bị “vượt đại dương” chấp nhận sóng gió trước mắt.

Tín hiệu của hội nghị trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc ngày 18 tháng 10 năm 2010 là một tín hiệu không thể nhầm lẫn về quyết tâm của Trung Quốc quyết trở thành siêu cường số một như vị trí của Hoa Kỳ hiện nay.

Trung Quốc đã bày bàn cờ và thế trận. Hoa Kỳ nói riêng và thế giới Tây phương nói chung cần cảnh giác.

Riêng Việt Nam đang bị đe dọa bởi tham vọng của Trung Quốc, những người lãnh đạo Việt Nam hôm nay lại còn cần cảnh giác hơn nữa.


(*) Mời đọc: “Tư Bản và Xã Hội: Hai mặt của một vấn đề”
http://www.tranbinhnam.com/binhluan/TuBan_Va_XaHoi.html

Tài liệu tham khảo:
1. “Chinese official on upward track” by Barbara Demick, Los Angeles Times, Oct. 19, 2010
2. “The next Emperor” & “China 's next leader: Xi who must be obeyed” The Economist, Oct 23-29/2010
3. “China's Team of Rivals” by Chang Li, tạp chí Foreign Policy March/April 2009.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Bài phát biểu của DB Hayes tại Quốc hội Úc
về vấn đề vi phạm nhân quyền tại VN


Chris Hayes
Ông HAYES (Fowler) (9:30 PM) --- Tôi xin được phát biểu về một vấn đề nhân quyền đáng quan tâm tại Việt Nam. Sau lần phát biểu sau cùng của tôi về vấn đề này, trong vòng năm tháng qua, nhà cầm quyền Việt Nam lại bắt giữ thêm bốn nhà đấu tranh cho nhân quyền. Ông Phạm Minh Hoàng, 55 tuổi, giảng viên trường Đại Học Bách Khoa tp. HCM, bị bắt ngày 13 tháng 8. Mục sư Dương Kim Khải, 52 tuổi, thành viên của Giáo hội Mennonite tại Việt Nam, bị bắt vào ngày 10 tháng 8. Bà Trần Thị Thúy, một tiểu thương gia 39 tuổi, cũng bị bắt cùng ngày 10 tháng 8 tại tỉnh Đồng Tháp. Ông Nguyễn Thành Tâm, một nông dân 57 tuổi, bị bắt vào ngày 18 tháng 7 tại Bến Tre.

Những người này đã bày tỏ một cách ôn hòa mối quan tâm của họ về vấn đề công bằng xã hội và tự do tôn giáo tại Việt Nam. Điều đáng lo âu là gia đình ông Phạm Minh Hoàng không biết ông đang bị giam giữ ở đâu, mặc dầu đã nhiều lần hỏi thăm tin tức nơi nhà cầm quyền. Tôi được biết là gia đình ông bị nhà cầm quyền địa phương sách nhiễu liên tục. Tôi cũng được biết thêm là nhà cầm quyền Việt Nam đang giam gìữ những tù nhân chính trị và cáo buộc họ tội "âm mưu lật đổ chính quyền xã hội chủ nghĩa", một tội danh có thể dẫn đến án tử hình. Dân Biểu vùng McMahon và tôi đã viết thư gởi Bộ Trưởng Ngoại Giao Úc, yêu cầu ông sử dụng mọi khả năng về quan hệ ngoại giao với Việt Nam để bảo đảm là những tù nhân chính trị được đối xử đúng mức.

Tình hình nhân quyền đáng lo ngại tại Việt Nam lại đến gần Úc hơn vào đầu tháng này với việc bắt giữ bà Võ Hồng, một công dân Úc gốc Việt. Bà Võ Hồng đã tham dự vào một cuộc tập họp ôn hòa tại Hà Nội cổ võ cho việc cải tổ dân chủ tại Việt Nam. Điều đáng mừng là bà Võ Hồng đã được trả tự do và đã trở về Úc vào cuối tuần qua. Tôi tin rằng tất cả chúng ta đều muốn gởi tới bà Võ Hồng cùng gia đình bà những lời chúc tốt đẹp nhất.

Những việc bắt bớ nêu trên một lần nữa cho thấy rằng sự vi phạm nhân quyền, đáng tiếc thay, lại xảy ra quá thường xuyên ở Việt Nam. Theo báo cáo mới nhất của Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền, hàng chục những nhà đấu tranh cho dân chủ, cho tự do tôn giáo, cho nhân quyền, và những nhà phê bình trên mạng, đã bị bắt kể từ năm 2009. Họ bị bắt giữ trên những điều luật mơ hồ về an ninh quốc gia như "tuyên truyền chống chế độ" hay "lạm dụng quyền tự do dân chủ". Có khoảng 400 người đang bị cầm tù tại Việt Nam vì đã thực thi những quyền căn bản. Thành thực mà nói, tất cả chúng ta phải thấy đó là một sự kinh hoàng.

Một kinh hoàng khác nữa là luật pháp Việt Nam cho phép "giam giữ hành chánh" mà không cần xét xử. Hơn nữa, những nhà đối kháng và những người bị coi là đe dọa an ninh quốc gia có thể bị cuỡng bức đưa vào bệnh viện tâm thần hoặc những trung tâm cải tạo do nhà nước quản lý. Đối với những công dân Úc đang được hưởng các quyền tự do trên xứ sở này thì đây hẳn là điều đáng kinh tởm.

Vì Việt Nam là một phần tử của Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Dân Sự Và Chính Trị, cộng đồng quốc tế có quyền chờ đợi Việt Nam tôn trọng những quyền dân sự của người dân, bao gồm những quyền căn bản như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo, và tự do hội họp. Đó là những cam kết khi chúng ta ký tên vào Công Ước, cũng như Việt Nam khi ký tên vào Công Ước. Từ khi tham gia vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, Việt Nam đã đạt được những thành quả kinh tế đáng khen ngợi. Tuy nhiền, thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam về vấn đề nhân quyền vẫn còn là một mối quan tâm.

Tôi xin cám ơn Đảng Việt Tân đã lưu ý tôi về những vấn đề đáng quan tâm này. Việt Tân là một tổ chức đấu tranh cho dân chủ có thành viên ở Việt Nam cũng như trên khắp thế giới. Mục tiêu của Việt Tân là dân chủ hóa Việt Nam bằng phương cách ôn hòa với sự tham gia của người dân.Tôi vui mừng đã có dịp được làm việc chung với Bác sĩ Nguyễn Đỗ Thanh Phong, một Bác sĩ chuyên khoa về tim tại bệnh viện Liverpool nằm trong địa hạt tôi. Bác sĩ Phong là một thành phần lãnh đạo của Việt Tân tại Úc, và cùng với một nhà hoạt động Việt Tân khác, ông Nguyễn Tấn, là những người tranh đấu mạnh mẽ cho việc cải thiện nhân quyền tại Việt Nam.

Bác sĩ Phong hiển nhiên đã được hưởng một sự giáo dục rất tốt tại Úc và ông cũng đang đóng góp trở lại cho xứ sở này, một cách rất thiết thực, qua công việc ông đang làm tại bệnh viện Liverpool. Tuy nhiên, ông cũng không quên đấu tranh cho những người Việt đang còn ở tại quê nhà. Tôi kính trọng Bác sĩ Phong vì ông là một người rất mực liêm chính và tôi cũng xin khen ngợi ông và những thành viên khác của Việt Tân vì những quyết tâm của họ trong nỗ lực cải thiện nhân quyền tại Việt nam. Tôi thực tâm mong rằng những nỗ lực của họ sẽ mang lại kết quả.

Có một số những tổ chức khác tại Úc cũng đang hoạt động để cải thiện đời sống người Việt Nam. Một trong những tổ chức này là Vietnam Vision, Trong địa hạt tôi, Phù Luân Hội vùng Tây Liverpool hàng năm tài trợ cho một nhóm bác sĩ giải phẫu tại địa phương qua Việt Nam giải phẫu cườm mắt miễn phí cho khoảng 300 người nghèo, phục hồi thị lực cho họ. Thành viên Phù Luân Hội cũng tự túc tháp tùng các bác sĩ và đảm nhận phần vụ tiếp liệu cho đoàn.

Mới đây, tôi vui mừng có dịp được gặp gỡ thành viên Phù Luân Hội (Rotary Club) và các vị địa phương gồm: Ô. Đặng Trung Chỉnh, BS William Trịnh, BS Lê Đức Hồng, Ô. Nguyễn Thuận, Ô. Charles Hill, Ô. Joe cauchi, và Ô. Ted Mlynarz. Thật là bổ ích được nghe trực tiếp những người trong phái đoàn thiện nguyện thuật lại những kinh nghiệm của họ tại Việt Nam và hoàn cảnh thực hiện các cuộc giải phẫu. Sau chuyến sang Việt Nam lần đầu tiên, Ted Mlynarz đã viết:

“ Tôi đã có thể nhin thấy những bệnh nhân, đã được chuẩn bị sẵn sàng để giải phẫu, đang chờ đợi tới lượt. Tôi nhìn thấy sự lo lắng, có thể phần nào sợ hãi. Tuy nhiên, sau khi được giải phẫu, tôi đã nhìn thấy ở họ sự thoải mái và vui mừng.”

Đây là một tổ chức địa phương đã làm thay đổi đời sống của người Việt Nam được tốt đẹp hơn. Những thiện nguyên viên của Vietnam Vision trong địa hạt tôi đã không ngồi nhìn một cách bàng quang những gì đang xảy ra ở Việt Nam. Họ đã chọn lựa thay đổi nó bằng hành động. Tôi xin ngợi khen những hành động đó.

Để kết thúc, tôi có thể nói rằng, trong vòng vài năm trở lại đây, số người bị bắt tại Việt Nam vì đã cổ vũ cho nhân quyền đã gia tăng một cách đáng ngại. Những tội trạng mà họ bị cáo buộc bao gồm: tham gia vào tổ chức chính trị không được nhà nước thừa nhận, phê bình chính sách của nhà nước, kêu gọi dân chủ hóa, trả lời phỏng vấn của các cơ quan thông tấn nước ngoài, biện hộ trong các phiên xử hoặc cố vấn về mặt luật pháp cho các nhà đối kháng. Trên phương diện một quốc gia, chúng ta phải làm tất cả những gì có thể làm được để thúc đẩy Việt Nam phải tôn trọng Đạo Luật Nhân Quyền mà Việt Nam đã phê chuẩn từ năm 1998. Úc là một quốc gia rất tôn trọng nhân quyền. Điều đó thể hiện rõ ràng qua hệ thống chính trị và tư pháp của chúng ta, và nói một cách thẳng thắn, nó tiềm tàng trong nền văn hóa của chúng ta. Vì vậy bổn phận của chúng ta, trong mọi trường hợp, là phải cổ vũ cho nhân quyền tại tất cả các quốc gia.

Một lần nữa, tôi khẳng định rằng tôi hỗ trợ tất cả những tổ chức trong địa hạt bầu cử của tôi đã làm rất tốt trong những lãnh vực như nhân quyền tại Việt Nam. Tôi xin kính chào những thiện nguyện viên của Vietnam Vision mà tôi đã nêu tên, đã tự nguyện nhận lấy trách nhiệm làm đời sống người khác được tốt đẹp hơn, những người mà tự thân họ, không thể có cơ hội được giải phẫu cườm mắt. Những thiện nguyện viên của Vietnam Vision đã mang những giải phẫu đó tới tầm tay những người nghèo tại Việt Nam. Họ đáng được khen ngợi.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Vượt qua nỗi sợ hãi
Song Chi
“Nóng” từ trong nghị trường Quốc Hội

Trong tuần vừa qua, một trong những sự kiện được người dân Việt Nam quan tâm theo dõi nhất có lẽ là kỳ họp thứ 8, Quốc Hội khóa XII, với những cuộc thảo luận, chất vấn giữa các đại biểu Quốc Hội và các bộ trưởng có liên quan, xoay quanh những vấn đề lớn về kinh tế, chính trị, xã hội... của đất nước.

Người dân cũng thừa hiểu rằng trong một thể chế chính trị như ở Việt Nam, khi ba “chân kiềng” Lập pháp, Tư pháp, Hành pháp trên thực chất chỉ là một và chịu sự lãnh đạo bao trùm của đảng cộng sản, một cơ chế loại trừ mọi sự phản biện và giám sát, thì các đại biểu Quốc Hội rất khó có thể làm tốt vai trò là những người đại diện cho nhân dân, cất lên tiếng nói từ nguyện vọng của đông đảo người dân trước những chính sách lớn của nhà nước. Chính vì vậy trong nhiều năm dài người dân thường vẫn gọi các đại biểu Quốc Hội là “những ông nghị gật,” chỉ biết gật đầu, vỗ tay và thông qua mọi chủ trương, chính sách do nhà nước đưa ra. Nhưng dường như “gió đã đổi chiều.” Khi bỏ phiếu bác dự án xây đường cao tốc Bắc Nam vào tháng 6, 2010, Quốc Hội khóa XII đã làm được một điều mà báo chí và dư luận đều cho rằng đó là một sự bất ngờ. Tổng kết kỳ họp, chủ tịch Quốc Hội, ông Nguyễn Phú Trọng đã thừa nhận: “Dự án đường sắt cao tốc là dự án lớn, tác động nhiều mặt, được cử tri và người dân đặc biệt quan tâm. Với tinh thần trách nhiệm cao, trên cơ sở báo cáo và tờ trình chính phủ, lắng nghe ý kiến cử tri và nhân dân, Quốc Hội đã thảo luận, xem xét toàn diện, kỹ lưỡng, thận trọng dự án.” Và: “Kết quả của kỳ họp còn có sự đóng góp rất quan trọng của các cơ quan thông tấn, báo chí...” (Báo VietnamNet ngày 19 tháng 6, 2010).

Và bây giờ, Quốc Hội khóa XII lại tiếp tục ghi dấu ấn của mình với những phát biểu mạnh mẽ, đi thẳng vào những vấn đề gai góc và vạch rõ người chịu trách nhiệm, trong đó bùng nổ nhất là bài phát biểu của Giáo Sư Nguyễn Minh Thuyết. Sau khi nói về vụ phá sản Vinashin, ông kiến nghị “căn cứ Hiến Pháp và luật tổ chức Quốc Hội, tôi trân trọng đề nghị Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội tổ chức để Quốc Hội biểu quyết thành lập Ủy Ban Lâm Thời điều tra trách nhiệm của các thành viên chính phủ trong vụ việc này. Trên cơ sở đó vào thời gian cuối kỳ họp bỏ phiếu tín nhiệm thủ tướng và một số thành viên chính phủ có liên quan. Ðể tạo điều kiện cho công tác điều tra của Ủy ban Lâm Thời, tôi đề nghị Quốc Hội tạm đình chỉ chức vụ của các vị cần được điều tra.”

Báo chí “lề trái” lẫn “lề phải,” trong và ngoài nước nhất loạt đưa tin về sự kiện mà trang Bauxite Vietnam gọi là “chấn động” này. Nhiều đại biểu khác cũng đã lên tiếng đồng tình, ủng hộ kiến nghị của ông Nguyễn Minh Thuyết, chứng tỏ ngày càng có nhiều đại biểu dám nói thẳng nói thật.

Trả lời cho câu hỏi vì sao đại biểu Quốc Hội nói mạnh hơn tại kỳ họp này, đại biểu Nguyễn Lân Dũng cho rằng “vì dân bức xúc nhiều,” “vì đây là không khí chung của cả xã hội” (Báo VTC News ngày 3 tháng 11), tuy nhiên, về việc bỏ phiếu tín nhiệm thủ tướng và các thành viên chính phủ như đề nghị của đại biểu Nguyễn Minh Thuyết, theo ông: “Ðiều này không xảy ra được nếu chúng ta không sửa Luật. Theo thì phải có 20% số đại biểu ký tên đề nghị thì mới bỏ phiếu tín nhiệm. Ðiều này là rất khó.” Còn theo đại biểu Dương Trung Quốc:

“Tôi cho rằng trong luật đã quy định ÐBQH có thể đặt vấn đề như anh Thuyết. Tuy nó chưa diễn ra nhưng nếu có sự đồng thuận cao thì vẫn cứ phải tiến hành.

Cá nhân tôi muốn nhìn trong cơ chế vì đây là một lỗi hệ thống. Một trong những cơ quan phải chịu trách nhiệm chính là QH vì có những liên quan đến cơ chế vận hành của bộ máy và thông qua luật của QH ban hành.

Vấn đề đặt ra là giám sát QH khá mạnh nhưng tại sao hiệu năng lại thấp? Tức là QH không đi đến cùng.

Nói cho cùng, đảng là người lãnh đạo toàn diện. Thủ tướng hay chủ tịch QH đều là lãnh đạo của đảng. Vì vậy, đây là cơ chế và cơ chế ấy thiếu hiệu lực trong vấn đề điều hành...”

Như vậy có thể thấy rằng trong Hiến Pháp và trong luật của Việt Nam có quy định về việc các đại biểu Quốc Hội hoàn toàn có thể bỏ phiếu tín nhiệm những người lãnh đạo cao nhất của chính phủ, nhưng trong thực tế từ trước đến nay Quốc Hội Việt Nam chưa ai dám sử dụng các quyền này. Cũng như Hiến Pháp Việt Nam có quy định mọi người dân đều có quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do lập hội, đoàn... nhưng cũng chỉ là... trên lý thuyết mà thôi.

Dù sao, qua các kỳ họp của Quốc Hội gần đây đã cho thấy những chuyển biến tích cực mà cách đây chừng năm năm không ai dám nghĩ là sẽ xảy ra. Vì rõ ràng những vấn đề như phá sản Vinashin, an toàn bauxite, quốc nạn tham nhũng... đã thực sự ảnh hưởng tới tất cả mọi người Việt Nam đang sinh sống trên mảnh đất này, trong đó bản thân các đại biểu và con cháu họ cũng phải gánh chịu hậu quả từ số nợ khổng lồ của Vinashin hay hậu quả của vụ bauxite nếu dự án này vẫn được tiếp tục tiến hành. Ðiều đó đã buộc các đại biểu Quốc Hội không thể không lên tiếng.


“Nóng” bên ngoài xã hội

Trong khi từ người dân đen cho tới các đại biểu Quốc Hội ngày càng vượt qua nỗi sợ hãi để có những tiếng nói thẳng thắn, mạnh mẽ trước những vấn đề “quốc gia đại sự” thì ngược lại, phản ứng của phía chính quyền lại cho thấy tâm trạng của họ: Sự sợ hãi. Ngày càng nhiều những vụ bắt bớ, đàn áp... vì nguyên nhân này hay nguyên nhân khác. Từ vụ bắt giữ các blogger bất đồng chính kiến như Ðiếu Cày, AnhBaSG, nhà hoạt động đối kháng ôn hòa Vi Ðức Hồi,... vụ xét xử các giáo dân Cồn Dầu, bản án bất công dành cho Ðoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Ðỗ Thị Minh Hạnh - những người thanh niên nhiệt huyết bảo vệ quyền lợi của những người công nhân thấp cổ bé họng, và mới đây là vụ bắt giữ Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ - một nhân vật nổi tiếng qua hàng loạt vụ kiện đích danh Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng như qua những hành động, phát biểu quả cảm của ông.

Bên cạnh đó, những vụ đánh phá các trang mạng, blog cá nhân “lề trái” tiếp tục diễn ra, ngay cả những trang blog không phải thuộc loại “lề trái” mà chỉ vì đôi khi có những bài viết khá thẳng thắn như blog Trương Duy Nhất hay chỉ điểm tin, báo như trang AnhBaSàm cũng bị đánh sập. Một bài viết trên BBC dẫn nguồn tin từ hãng thông tấn Associated Press, hãng AP: “Cáo giác tin tặc chính trị mới ở Việt Nam,” rằng: “Các chuyên gia điện toán Hoa Kỳ nói giới blogger chính trị ở Việt Nam đang đối diện làn sóng tấn công mới của tin tặc nhằm đánh sập website của họ và dập tắt tiếng nói bất đồng chính kiến..” (BBC Vietnamese ngày 29 tháng 10)

Có vẻ như nhà nước Việt Nam chẳng cần biết người dân hay dư luận thế giới nghĩ gì về họ. Có vẻ như họ cho rằng đây là thời điểm mà Mỹ, các nước phương Tây cho tới Nga, Nhật, Ấn... đang “chiều chuộng” Việt Nam vì không muốn Việt Nam rơi hẳn vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc, nên sẵn sàng bỏ qua hồ sơ nhân quyền tồi tệ của họ? Càng ngày họ càng không kiêng dè gì ai nữa, họ sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp, mọi thủ đoạn “đánh dưới thắt lưng” trong cách đối phó, xử lý đối với chính nhân dân của mình, bỏ qua mọi sự hợp lý về luật pháp trong vụ án “trốn thuế” trước kia và trong việc tiếp tục giam giữ blogger Ðiếu Cày mới đây, gây khó dễ đủ kiểu vặt vãnh chỉ nhằm làm kiệt quệ tinh thần gia đình blogger Ðiếu Cày, bắt và cư xử hết sức tồi tệ với Luật Sư Lê Thị Công Nhân qua những gì chị tường thuật lại với báo chí, v.v...

Luật pháp VN là một kiểu luật pháp rất tùy tiện, lẽ phải nằm trong tay nhà nước và những người có quyền. Ngay trong vụ blogger Cô Gái Ðồ Long, một blogger chỉ chuyên “tán” chuyện hậu trường của giới ca sĩ, người mẫu, diễn viên,... nếu trong một xã hội dân chủ nào khác, một blogger viết bài đụng chạm đến đời tư của một ông tướng công an, thì bản thân ông ta và gia đình cứ việc kiện blogger này ra tòa, rồi tòa sẽ xét xử, ai đúng ai sai. Ðây chỉ là một vụ án dân sự, đâu có gì nghiêm trọng đến mức phải bắt khẩn cấp, phải tạm giam để điều tra? Hay nói cách khác, nếu blogger này không đụng đến gia đình ông tướng kia, như đã từng đụng đến một ca sĩ trước đây, thì công an đâu có ra tay như vậy?

Còn vụ của Luật Sư Cù Huy Hà Vũ mở đầu chỉ là một phần của kịch bản nhằm hạ thấp uy tín của vị luật sư này trước dư luận qua sự kiện “bắt quả tang quan hệ bất chính” trong khách sạn hay “hành hung người thi hành công vụ,” bởi nếu chỉ vì vậy thì chẳng có lý do gì để khám xét máy vi tính của “khổ chủ” ngay tại hiện trường hay khám xét nhà cửa của vị luật sư này ở ngoài Hà Nội cả. Mà nguyên nhân thật thì đã rõ, Luật Sư Cù Huy Hà Vũ bị tròng vào cái tội “tuyên truyền chống phá nhà nước,” theo Ðiều 88, một điều luật đã được dùng để ghép tội cho tất cả những ai dám lên tiếng nói thẳng, nói thật ở Việt Nam.

Cái cách hành xử theo kiểu dùng dao mổ bò để giết muỗi ấy chỉ phản ánh sự sợ hãi của một nhà nước đối với chính nhân dân của mình.

Chỉ khi nào một nhà nước độc tài vượt qua được nỗi sợ hãi ấy, chấp nhận mọi lời phản biện, thừa nhận những quy luật thực tế khách quan trên con đường vận động phát triển của nhân loại thì nhà nước đó mới thay đổi được. Và chính từ sự thay đổi đó, cơ hội để cho họ tiếp tục đồng hành với nhân dân là hoàn toàn có thể. Còn ngược lại, chỉ là thúc đẩy quá trình tự sát đến nhanh hơn mà thôi.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Hai năm tranh hùng sắp tới

Ngô Nhân Dụng
Cuộc bỏ phiếu vừa qua đã thay đổi bàn cờ chính trị ở Mỹ. Ngay sau ngày dân Mỹ bỏ phiếu, Tổng Thống Barack Obama đã lùi một bước trước cơn sóng Cộng Hòa đang tràn vào Quốc Hội. Ngày hôm qua, ông Obama cho biết không cần phải thúc đẩy việc thông qua dự luật về bảo vệ môi trường của đảng Dân Chủ.

Dự luật này, thường được gọi tên là Hạn chế và Trao đổi (Cap and Trade) là một món ăn được đảng Dân Chủ ghi trong thực đơn tranh cử năm 2008, và được bày ra ngay trong năm sau đó trên bàn tiệc nghị trình Hạ Viện. Theo dự luật thì các xí nghiệp thuộc mỗi ngành kỹ nghệ sẽ bị đặt giới hạn số khí thải mà họ được phép thả vào không khí (Cap) nếu có tác dụng hâm nóng bầu khí quyển. Xí nghiệp nào thải ra ít khí sẽ được phép “bán” giấy phép thả khí của mình cho xí nghiệp khác (Trade). Dự luật được đa số Dân Chủ trong Hạ Viện thông qua, vì họ và ông Obama muốn đền ơn (hay trả nợ) các nhóm cổ động việc bảo vệ môi trường đã hô hào mọi người dồn phiếu cho họ. Các đại biểu Cộng Hòa phản đối dự luật đó, vì cho là nó sẽ đặt thêm luật lệ hạn chế tự do của giới kinh doanh, mà trong lúc kinh tế suy yếu thì cần phải cho họ tự do để đầu tư thêm. Mặt khác, luật mới này sẽ làm cho giá điện tăng, vì các nhà sản xuất điện dùng dầu và than sẽ tốn thêm tiền để thi hành luật. Các công ty chế hóa tất nhiên là chống dự luật đó, vì họ không muốn phải tốn tiền.

Nhưng sau khi được Hạ Viện thông qua rồi, lên tới Thượng Viện thì dự luật này bị “ngâm” không đem ra bàn. Vì không đủ 60 phiếu để thông qua, khi có những nghị sĩ đảng Dân Chủ cũng không đồng ý. Các nghị sĩ bao giờ cũng thận trọng trong việc nghiên cứu các hậu quả của một dự luật hơn các dân biểu; đó là lý do nước Mỹ có hai viện.

Vấn đề người dân Mỹ phải cùng nhau cân nhắc là giữa nhu cầu bảo vệ môi trường sống và nhu cầu kinh tế phát triển, nên đặt nhu cầu nào là ưu tiên, cái nào là thứ yếu. Trong Hạ Viện trước đây, đảng Dân Chủ chiếm đa số và họ chọn việc bảo vệ môi trường sống là ưu tiên. Nhưng chắc đa số dân chúng không cảm thấy đó là mối lo lớn nhất. Kỳ bầu cử vừa qua, đảng Dân Chủ thua, khi cử tri thấy các đại biểu không lo giảm tỷ lệ thất nghiệp dưới mặt đất, mà lại đi lo chuyện không khí “trên trời!” Trong số 50 dân biểu đảng Dân Chủ bị mất ghế trong ngày Thứ Ba vừa qua, có 30 người đã từng bỏ phiếu ủng hộ dự luật “Cap and Trade” mà bên Cộng Hòa đổi tên là “Cap and Tax” (Hạn chế và Ðánh thêm thuế)!

Bây giờ đảng Cộng Hòa đắc thắng ở Hạ Viện, lại chiếm thêm ghế ở Thượng Viện, Ông Obama biết phải bỏ qua ý định ban hành đạo luật mới bảo vệ môi trường. Ông cho biết sẽ không cần luật mới nữa; chỉ cần cho cơ quan Bảo Vệ Môi Trường (EPA) thi hành những đạo luật cũ cũng được. Cơ quan này vốn chỉ có quyền hạn chế các “chất làm ô nhiễm” chứ không có nhiệm vụ bảo vệ nhiệt độ khí quyển. Nhưng năm 2007, Tối Cao Pháp Viện Mỹ đã phán rằng các thứ khí gây hậu quả hâm nóng bầu khí quyển cũng bị coi như là những chất gây ô nhiễm! Từ đó đến nay, cơ quan EPA chưa bao giờ sử dụng quyền hạn mới này. Cho nên chính phủ Obama chỉ cần đem áp dụng luật cũ cũng đủ đạt được mục tiêu họ muốn.

Tất nhiên các đại biểu Cộng Hòa mới thắng thế sẽ tìm cách ngăn cản ý định của ông tổng thống. Họ sẽ ngăn cản bằng cách làm một luật mới không cho áp dụng phán quyết năm 2007 của Tối Cao Pháp Viện (ở Mỹ, chính Quốc Hội làm ra luật, ngành Tư pháp chỉ có quyền giải thích luật mà thôi). Nhưng thông qua được một đạo luật như vậy cũng khó, chắc chắn không đủ phiếu ở Thượng Viện. Cho nên các đại biểu Cộng Hòa sẽ tìm cách ngăn cản cơ quan EPA bằng các cuộc biểu quyết về ngân sách, các vụ bổ nhiệm nhân viên, để làm áp lực gián tiếp trên cơ quan này, không cho làm việc hăng hái quá!

Ðây chỉ là một trong nhiều cuộc tranh luận và “đấu chưởng” giữa Hành pháp và Lập pháp Mỹ trong hai năm tới. Và đó cũng là một tranh chấp nhỏ. Còn rất nhiều hồ sơ trên bàn giấy Tổng Thống Obama sẽ bị đưa lên bàn cân để xem có nên tiếp tục thúc đẩy tiến tới hay không. Trong khi đó, đảng Cộng Hòa sẽ mở cuộc tấn công với những dự luật mới đưa ra các chương trình của họ.

Hai vấn đề sẽ gây xung đột mạnh nhất là Thuế và Ðạo luật Cải tổ Y tế.

Vấn đề Thuế là di sản của thời Tổng Thống Gorges W. Bush. Hai đạo luật năm 2001 và 2003 đã cắt giảm tỷ lệ đánh thuế lợi tức (gọi là thuế suất, tax rate) cho dân Mỹ. Những người giầu thuộc 5% dân số được giảm thuế nhiều nhất. Ðạo luật này sẽ hết hiệu lực vào cuối năm nay, bởi vì nếu muốn làm thành một đạo luật vĩnh viễn thì cần một tỷ lệ ưng thuận cao hơn, mà năm đó đảng Cộng Hòa không đủ phiếu.

Trong năm qua, đảng Dân Chủ đã đề nghị sẽ làm luật mới giữ nguyên tỷ lệ đóng thuế đã được cắt giảm trên đây, trừ những người có lợi tức trên 250,000 hay 300,000 đô la một năm. Những “người giầu” này sẽ phải đóng theo thuế suất trước năm 2001. Ðảng Cộng Hòa ngược lại, muốn gia hạn đạo luật của Tổng Thống Bush, với ý hướng sẽ gia hạn mãi mãi. Ðó là điểm đối nghịch chính giữa hai đảng. Trong năm qua, đảng Dân Chủ có thể đem dự luật này ra bàn và thông qua. Nhưng họ không dám làm vì sợ sẽ bị đối thủ gán cho nhãn hiệu “tăng thuế” trong mùa tranh cử. Bây giờ, bầu bán xong rồi, hai đảng sẽ đưa vấn đề này lên bàn mổ và cuộc tranh luận sẽ rất hào hứng.

Tại Thượng Viện, đảng Dân Chủ đang kiểm soát có thể sẽ đưa dự luật của họ ra, tức là chỉ đổi suất thuế của các người giầu trở lại thời trước 2001 mà thôi. Ðảng Cộng Hòa sẽ đem ra thảo luận một dự luật của họ tại Hạ Viện mà họ chiếm đa số. Phía Cộng Hòa có thể đề nghị một dự luật giản dị: Gia hạn các luật cũ thêm 10 năm nữa! Họ không thể lờ đi không làm gì cả; vì nếu không có luật mới thì đến cuối năm nay các đạo luật cũ thời ông Bush sẽ tự động chấm dứt.

Trong cuộc đấu về thuế này, cả hai đảng đều có khả năng ngăn chặn dự luật của đảng kia. Cho nên, thế nào cũng phải tìm cách thỏa hiệp. Các cuộc tranh cãi trong nghị trường và trên các phương tiện truyền thông sẽ diễn ra gay go, vì cả hai đảng sẽ dùng cơ hội này để tranh lấy cảm tình của cử tri. Phía Cộng Hòa sẽ tố là bên Dân Chủ tăng thuế. Phía Dân Chủ sẽ thanh minh chỉ tăng thuế của những người giầu nhất nước mà thôi. Bên Cộng Hòa sẽ phản đối là dù tăng thuế cho dưới 5% số dân Mỹ nhưng trong lúc kinh tế suy thoái thì tăng thuế bất cứ ai, dù một đồng thôi cũng bất lợi, khiến cho kinh tế khó tăng trưởng trong lúc này. Bên Dân Chủ sẽ biện minh rằng nếu không tăng thuế nhà giầu thì ngân sách sẽ ngày càng khiếm hụt hơn. Khiếm hụt là một điều mà cả nước Mỹ đều lo lắng. Ông Obama mới nhắc nhở mọi người rằng: “Từ năm 2001 đến 2009 chúng ta đã cắt thuế rất nhiều, mà nhìn bây giờ xem, kinh tế có tăng trưởng gì đâu? Nhưng có dấu hiệu ông Obama có thể nhượng bộ, ông sẽ chấp nhận không bắt các người giầu phải trở về suất thuế trước 2001, trong thời hạn 2 năm thôi!

Nói đến ngân sách khiếm hụt, trong hai năm tới hai đảng sẽ tranh luận làm cách nào để bớt thâm thủng, và hai bên sẽ đưa ra các phương cách khác nhau. Cả hai sẽ đề nghị giảm chi (chống chính phủ chi nhiều tiền) nhưng Cộng Hòa sẽ không đồng ý với Dân Chủ là nên giảm chi ở chỗ nào. Cả hai bên sẽ không bên nào đụng tới ngân sách quốc phòng, an sinh xã hội và chương trình y tế cho người về hưu (medicare). Nhưng Cộng Hòa sẽ đề nghị cắt nhiều chương trình xã hội, trong khi Dân Chủ sẽ thuyết phục dân Mỹ là nên tăng thuế lợi tức những người kiếm ra nhiều tiền.

Cuộc tranh luận gay go nhất và lớn tiếng nhất sẽ là vấn đề đạo luật Cải tổ Y tế được ban hành năm qua. Sau này lịch sử nước Mỹ sẽ ghi tên Tổng Thống Obama gắn liền với đạo luật này, cũng như ghi tên Tổng Thống Bush bên cạnh hai đạo luật cắt thuế. Trong cuộc tranh cử vừa qua, đảng Cộng Hòa đã thành công khi kích thích những người ủng hộ họ chống đạo luật Cải tổ Y tế khắp nước Mỹ đi bỏ phiếu cho đông.

Dân Biểu John Boehner, người sẽ lên làm chủ tịch Hạ Viện trong năm tới, đã hứa sẽ thúc đẩy một dự luật “xóa bỏ” đạo luật Y tế trên; như đã hứa với các cử tri. Nhưng chúng ta không chắc ông Boehner sẽ nhanh nhẹn thực hiện lời hứa đó; vì nếu ông nhẩn nha, từ tốn ông có lợi hơn!

Trước hết, một dự luật thủ tiêu đạo luật Cải tổ Y tế sẽ khó lòng được thông qua. Dù có đi qua cửa Hạ Viện rồi, lên tới Thượng Viện sẽ bị đa số Dân Chủ ngăn lại. Ví thử phe Cộng Hòa có thuyết phục được đủ 60 nghị sĩ đồng ý, thì cuối cùng Tổng Thống Obama vẫn có quyền phủ quyết; và sẽ không đủ số phiếu để bác bỏ việc phủ quyết này.

Trên thực tế, nếu ông Boehner có đem một dự luật ra bàn, thì cũng chỉ là tạo cơ hội cho dân chúng nghe chuyện khác mà thôi. Vì đảng Cộng Hòa sẽ có lợi nếu kéo dài câu chuyện đạo luật Cải tổ Y tế này cho tới năm 2012, khi dân Mỹ đi bầu tổng thống! Ðã biết có một nửa dân Mỹ chống đạo luật này, và một nửa ủng hộ, thì đây chính là một đề tài rất tốt để đảng Cộng Hòa dùng là tiêu điểm nhắm bắn vào ông Obama trong kỳ tranh cử sắp tới! Khi đó, đảng Cộng Hòa sẽ không đem bàn chi tiết về những điểm hay hoặc dở của đạo luật trên. Họ chỉ cần nêu lên một điều thôi cũng đủ tác động tâm lý có lợi cho họ. Họ sẽ mô tả đạo luật này là một luật tiêu biểu cho chủ trương của đảng Dân Chủ, tức là gia tăng quyền hạn của guồng máy nhà nước, can thiệp vào đời sống của người dân! Mà điều này thì có thật, dù chưa bàn xem nó lợi hay thiệt cho ai! Một lời tố cáo như vậy lúc nào cũng có hiệu quả đối với cử tri Mỹ. Người dân thường không quan tâm đến chi tiết!

Cho nên, Tổng Thống Obama có thể sẽ khuyến khích, nếu không phải là sẽ thách đố cho bên Cộng Hòa tiến tới, đưa ra dự luật xóa bỏ đạo luật Cải tổ Y tế, như họ đã hứa. Khi có một cuộc bàn cãi rộng rãi, sôi nổi và cặn kẽ, thì người dân sẽ được nghe nhiều khía cạnh, lợi hại, hay dở, của đạo luật này. Khi đó, đảng Dân Chủ hy vọng sẽ cho nhiều người thấy cuối cùng chính họ được lợi khi đạo luật được thi hành đầy đủ. Nếu không, thì đạo luật sẽ tiếp tục bị mất cảm tình vì cho nhãn hiệu “chính phủ bự!” Nếu đảng Cộng Hòa chấp nhận cuộc thách đố của ông Obama thì không khí chính trị sẽ hào hứng hơn nhiều, vì người dân sẽ được thông tin đầy đủ hơn trên cả hai mặt về đạo luật này.

Trong khi không hy vọng hủy bỏ cả chương trình Cải tổ Y tế của Tổng Thống Obama, đảng Cộng Hòa vẫn có rất nhiều vũ khí tạo trắc trở khi thi hành. Nhiều luật bổ túc khác sẽ phải được làm thêm, nhiều ủy ban phải được thành lập, phải bước thêm nhiều quãng đường để thực hiện chương trình cải tổ Y tế trong đạo luật trước. Khi chiếm được đa số trong Hạ Viện, đảng Cộng Hòa có khả năng ngăn cản bên Hành pháp trên các quãng đường sẽ phải đi qua. Tất nhiên họ sẽ phải tránh không để mang tiếng là “tiêu cực,” nhưng họ sẽ tạo được áp lực để buộc bên Hành pháp phải nhượng bộ trên nhiều điểm. Họ sẽ theo lối “đánh du kích” không giàn mặt trận lớn. Khi có một dự luật được đem ra bàn về y tế, bên Cộng Hòa có thể yêu cầu thêm một tu chính án nhỏ, thí dụ, đòi hạn chế việc phá thai, hoặc yêu cầu không được ép các công ty dược phẩm phải bán thuốc rẻ. Chiến thuật này sẽ trì hoãn việc thi hành đạo luật và tạo áp lực để đạt được những điều mà đảng Cộng Hòa muốn thay đổi.

Trên đây chỉ là một vài đề tài “nóng hổi” nhất trong cuộc tranh hùng giữa hai đảng trong hai năm sắp tới. Kết quả trận đấu sẽ được dân Mỹ tuyên bố trong cuộc bỏ phiếu năm 2012.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Báo Mỹ: Vc Sẽ Sụp Vì Tư Bản Gia Tộc
Kinh Tế Tư Doanh VN Vẫn Do Đảng Viên Nắm
SAIGON (VB) -- Mạng lưới quyền lực của nhà nước CSVN đã cấu kết chặt với mạng lưới tài sản, và bàn tay cứng rắn của CSVN có thể sẽ biến các tiến bộ kinh tế tại VN vào một thảm họa xã hội.

Việt Nam sẽ đi về đâu? Chắc chắn là sẽ không bình yên. Báo Foreign Policy (foreignpolicy. com) hôm 21-1-2010 có bài viết nhan đề “Vietnam’s New Money” (Đồng Tiền Mới của VN) cho thấy một viễn ảnh u ám của kinh tế và xã hội VN, và dịch tóm tắt như sau.

Nhà phân tích Bill Hayton mở đầu bài viết bằng hình ảnh ngày 16-11-2008, kể về đám cưới của 2 doanh nhân tại khách sạn sang trọng Caravelle ở Sài Gòn: Chú rể là Nguyễn Bảo Hoàng, 36 tuổi, quản trị công ty đầu tư IDG Ventures Vietnam, và cô dâulà Nguyễn Thanh Phượng, 27 tuổi, chủ tịch quỹ đầu tư VietCapital. Hai công ty của cô dâu chú rể kết hợp quản trị 150 triệu đô la các khoản đầu tư ở VN.

Cô Phượng là con gái Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng. Chú rể là Việt kiều công dân Mỹ, con của một gia đình chạy khỏi VN năm 1975 để trốn chế độ CS, bây giờ trở về để cưới con của một trong những người quyền lực nhất nước.

Đám cưới này biểu hiện cho thấy Đảng CSVN vẫn khống chế cả khu vực công lẫn tư. Nhiều hãng tư thực ra nguyên là hãng quốc doanh cũ (SOE) hay vẫn còn thuộc quyền nhà nước quản lý, và hầu hết vẫn điều hành bởi các đảng viên.

Hầu hết những người chỉ huy kinh tế tư doanh hiện này là do đảng chỉ định, hay gia đình họ, hay bạn bè của họ. Giới thượng lưu CSVN đang biến chủ nghĩa tư bản VN trở thành một kinh doanh gia đình. Và nếu phiên tòa xử 4 nhà dân chủ tuần này về tội lật đổ chính phủ có dấu hiệu nào, thì tình hình củng cố quyền lực đảng là diễn biến kinh sợ cho tương lai VN.

Có nhìều điển hình về mối quan hệ gia tộc và tiền bạc, quyền lực tại VN: một trong những người giàu nhất VN là Trương Gia Bình, chủ tịch công ty tin học lớn nhất VN, hãng FPT. Bình cùng là người duy nhất tại VN thường được nhắc với nhãn hiệu “cựu phò mã” bởi vì Bình từng kết hôn với con gái cuả tướng Võ Nguyên Giáp.

Một thí dụ khác là Đinh Thị Hoa, người VN đầu tiên tốt nghiệp MBA, cao học kinh doanh, tại Đại Học Harvard. Đầu thập niên 1990s, khi Ngân Hàng thế Giới muốn kích động nền kinh tế tư doanh ở VN, mới cấp học bổng cho tuổi trẻ, trong đó có Hoa. Khi về VN, Hoa sử dụng kiến thức để lập công ty có tên là Galaxy, bây giờ sở hữu một hãng PR (tiếp thị quảng cáo), chủ hầu hết các hệ thống tiệm ăn kiểu Tây Phương tại VN, một rạp hát lớn ở Sài Gòn, và cả một hãng sản xuất phim ảnh.

Trông thì đúng là mô hình kinh tế tư doanh thành công. Nhưng Galaxy là một trong nhiều công ty thuộc sở hữu của con cái các lãnh tụ đảng. Khi WB cấp học bổng cho Hoa, cha của Hoa là Thứ Trưởng Ngoại Giao.
Việc kết hợp tài sản của cả nước vào tay các gia đình quyền thế tại VN đang bóp méo nền kinh tế này: kinh tế sẽ đi theo ý muốn của một số ít người, chứ không đi theo nhu cầu của đa số dân. Và mạng lưới chủ nghĩa xã hội bè cánh chia chác kinh tế đang trở thành một đe dọa cho ổn định tương lai VN. VN có cơ nguy gặp số phận của nhiều đứa con cưng trước kia của WB -- bùng nổ kinh tế, rồi sẽ sụp đổ.

Các hãng quốc doanh lớn nhất được hưởng nguồn tài trợ tiền không minh bạch cho các dự án tài chánh với rất ít hợp lý về kinh tế. Vào tháng 6-2008, tới 28 hãng quốc doanh xài 1.5 tỉ đô để thiết lập hay mua cổ phần trong các công ty quản lý tiền đầu tư, các hãng chứng khoán, các ngân hàng thương mại và các hãng bảo hiểm. Có 3/4 công ty tài chánh VN hiện sở hữu của các hãng quốc doanh lớn nhất (còn gọi là tổng công ty).
Với tiền dễ dàng xài như thế, nên mới xảy ra hiện tượng các hãng quốc doanh phải hối lộ khách hàng, cán bộ và thanh tra để nhắm mắt cho vi phạm luật. Câu hỏi là, vào thời khủng hoảng, Đảng CSVN có thể trừng phạt chính các đảng viên của họ không để đưa kinh tế đen này trở lại vòng kiểm soát. Nhưng bao lâu nữa mới có thể làm thế?

Giới lãnh đaọ đảng CSVN có thể đứng kình với các công dân mới giàu đó hay không, và để đòi hỏi họ phải trao lại một phần tài sản xuyên qua đánh thuế để sẽ tạo phúc lợi cho những người nghèo ở các tỉnh xa hay không? Vụ kết án các nhà dân chủ có phải là dấu hiệu cho thấy mạng lưới tham nhũng của đảng, của quyền lực và của đặc quyền hiện đã ra ngoaì vòng kiểm soát? Nếu thế, đồng tiền mới của VN có thể sụp đổ ngay dưới sức nặng của nó.
http://www.vietbao. com/?ppid= 45&pid=4&nid=154686

The above articles should be written in English with concrete evidence and submit in person
to the Department Of State,which had announced
recently not to provide visa to four high ranking Iranian Officers because of their violation in Human Rights


Vietnam's New Money

An influx of wealth and privilege is shaking up this socialist country. But, as pro-democracy activists are jailed and the network of power tightens, the Communist Party's strong hand may be turning economic progress into a social disaster.
On Nov. 16, 2008, two of Vietnam's new entrepreneurs were married in the Caravelle, Ho Chi Minh City's first luxury hotel, once home to journalists covering the "American War." The groom was 36-year-old Nguyen Bao Hoang, managing general partner of an investment firm, IDG Ventures Vietnam, and his bride was 27-year-old Nguyen Thanh Phuong, chairperson of another investment firm, VietCapital. Between them, their two companies controlled around $150 million of investments in Vietnam.
But the wedding wasn't just another story about new money in Vietnam. Nguyen Thanh Phuong isn't just an investment banker -- she's the daughter of the prime minister, Nguyen Tan Dung. The man she was marrying is an American citizen, the child of parents who fled Vietnam in 1975 to escape the communists -- now returned to wed the daughter of one of them.
Their union encapsulates many elements of the new Vietnam where, despite an influx of new wealth, the Communist Party still dominates both the public and private sectors. Many "private" businesses are either former state-owned enterprises (SOEs) or still have some state ownership, and most are still run by party members. Most of the controllers of the commanding heights of the private sector are party appointees, their family, or their friends. The Communist Party elite are turning Vietnamese capitalism into a family business. And if this week's conviction of four pro-democracy activists on subversion charges is any sign, the consolidation of party power is a very frightening development for Vietnam's future.
There are many examples of the family relationship between money and power in today's Vietnam: One of Vietnam's richest men, Truong Gia Binh, is chairman of the country's biggest indigenous IT firm, FPT. He's also the only man in Vietnam routinely referred to with the prefix "former son-in-law" because he was once married to the daughter of Vo Nguyen Giap -- war hero, retired army commander, and former deputy prime minister. During the 1990s, if a business needed contacts in the army's extensive array of companies, or in construction or communications, Giap was the man to see.
Another example is Dinh Thi Hoa, Vietnam's first Harvard University MBA graduate. In the early 1990s, when the World Bank wanted to stimulate private-sector development in Vietnam, it awarded many scholarships to young people, including Hoa. On her return, Hoa used her newfound knowledge to found a company called Galaxy that now owns a PR agency, most of the good Western-style restaurant chains in the country, a big cinema in Ho Chi Minh City, and a film production company. In many ways it's a model of private-sector success. But Galaxy didn't just spring up out of nowhere. It's one of the many firms created by the children of the party elite. When the World Bank chose Hoa for the scholarship, her father was deputy foreign minister.
The story of Vietnam's economic liberalization has been, to quote Ho Chi Minh on national unity, "success, success, great success." In 1993, according to government figures, almost 60 percent of the population lived below the poverty line. By 2004 that figure was down to 20 percent. The country has met most of its Millennium Development Goals, development targets set by the United Nations, escaping the ranks of the poorest countries to join the group of "middle-income states." People's living standards are soaring, their horizons are widening, and their ambitions are growing.
But the state's control over Vietnam's expansion is troublesome. The marriage between party and private interest is distorting the economy toward the wants of the few rather than the needs of the many. And networks of crony socialism are becoming a threat to Vietnam's future stability. Vietnam risks the fate of many of the World Bank's previous poster children -- boom followed by bust.
The biggest state corporations are setting up unaccountable funding channels to finance projects with minimal economic logic. By June 2008, 28 SOEs had spent around $1.5 billion establishing or buying controlling stakes in fund management companies, stock brokerages, commercial banks, and insurance firms. Three-quarters of Vietnam's finance companies are now owned by the biggest SOEs (those known as general corporations) . Many also have bought securities companies dealing in shares. Add all this together, and several of Vietnam's biggest general corporations have the potential to become self-financing black boxes with opaque funding arrangements.
Although the days of the soft loan from a state bank are largely past, there are plenty of other ways to channel money to SOEs. The state's Vietnam Development Bank (subsidized by aid from foreign governments) and its Social Insurance Fund (expected to become the biggest investor in the country by 2015) seem to act as unaccountable slush funds for the benefit of the state sector. Clearly SOEs have a significant, if not necessarily bright, future ahead.
The Vietnamese Communist leadership wants to run the country along the lines of Gaullism in France -- where the commanding heights of the public and private sectors are coordinated by an elite trained in such institutions as the École Nationale d'Administration. Under "Vietnamese Gaullism," a behind-the-scenes elite (the party) is supposed to set the overall direction of policy and then delegate its implementation to the state (which is controlled by the party). The government then draws up the laws and uses whatever resources are available to it -- the state bureaucracy, SOEs, the private sector, foreign investors, international donors, etc. -- to see the policy executed. Behind the scenes, the party monitors, corrals, and presses the various actors to make sure that its policy is followed. That, at least, is what the party would like to have happen. The reality is usually something quite different.
With easy money around, it's not hard to bribe patrons, officials, and regulators to turn a blind eye to breaches of the law. The party members in charge of the SOE tail end up wagging the party policy dog. But this isn't the whole story. What is remarkable about Vietnam is the way, at moments of crisis, the Communist Party can discipline its errant members and bring the economy back under central control. But how much longer can it do so?
Until recently, Vietnam had shared the benefits of growth more equitably than any of its neighbors. The party's socialist orientation still meant something. But in the future, redistribution will mean taking wealth away from the party's biggest supporters. Does the party leadership have the ability to stand up to its newly rich citizens and demand they hand over part of their wealth through taxation to benefit poorer people in faraway provinces? Do the convictions this week signal that the corrupt networks of party, power, and privilege have already gotten out of control? If so, Vietnam's new money could collapse under its own weight.

http://www.foreignpolicy.com/ articles/ 2010/01/21/ vietnams_ new_money

Post Reply