Tự truyện Nhân Danh Cha của Hồ Hoàng Hạ
* Lê Tường Vũ
Gặp mặt nhau, sau bao năm liên lạc trên phương diện cộng tác mà Anh thường viết về Lính -vì Anh là một KBC- tôi dễ nhận ra ngay bởi bao năm mà Anh không khác trong hình mấy, nếu không nói là có phần trẻ hơn, và... đẹp trai hơn.
Khi cầm trên tay quyển Tự Truyện mà Anh vừa lấy từ nhà in ra ký tặng, tôi có chút hơi bỡ ngỡ với tựa đề “Nhân Danh Cha” vì tưởng Anh viết sách về tôn giáo, khác thường với những bài viết mà từ lâu các chiến hữu đã đọc trên những tờ báo, trang báo mang dáng dấp của những người chiến binh. Chúng tôi không có thời gian nhiều trao đổi vì Anh phải dự ngay buổi họp mặt của các cựu học sinh trường trung học Hồ Ngọc Cẩn năm nay được tổ chức tại Nam Cali. nên chia tay để về... xem sách.
Ðọc từng trang sách chan chứa những tâm tình mà Anh gọi là tự truyện được viết thật ân cần cho những sự việc thật mà cuộc đời Anh đã đi qua từ thuở nhỏ trong một gia đình với cuộc sống gặp nhiều khốn khó mà Cha của Anh là một tấm gương, với mộng làm văn thơ, rồi vào quân ngũ trong trọng trách của một người lính Tâm Lý Chiến trôi dạt lên miền Cao nguyên, giàng trải trên dọc được miền Trung mà Anh cùng các chiến hữu tìm đường xuôi Nam khi cơn bão lửa xâm lăng của Cộng Sản Miền Bắc tràn vào theo thế cờ quốc tế mà các nước to đầu đã cố tâm dàn xếp để tiêu diệt một phần đất tự do mà bấy lâu cái gọi là Thế Giới Tự Do gọi là “Tiền đồn chống Cộng” của Miền Nam Tự Do, hay đất nước Việt Nam Cộng Hòa.
Thoạt đầu, trong phần Tự Bạch và liên tiếp các bài Chiếc Lồng Ðèn của Ba, Nghề Bán Báo Năm Xưa, Nhắc Chuyện Xưa - Chạnh Nhớ Người... Chúng tôi mới rõ ngoài quan niệm người Cha “tinh thần”, Anh còn có một người Cha “thế tục” mà suốt cuộc đời Anh không bao giờ quên nên mọi sự hành xử trong đời Anh đều theo gương, đều nhớ, và để... nhân danh.
Trong bài “Nghề Bán Báo Năm Xưa” tác giả đã ghi nhận lại hình ảnh về một khoảng đời tấm bé trong một gia đình mà người Cha phải vật lộn với cuộc sống của một gia đình nghèo nhiều con. Nhưng từ trong đó, chúng ta có thể hình dung lại xã hội của một thời kỳ mà hầu hết chúng ta đã qua, đã thấy nhưng giờ chắc ít nhiều quên lãng. Riêng đối với tôi, những hình ảnh Saigon lại phô diễn trước mắt, nhứt là từng góc cạnh đối với tôi là vùng Bà Chiểu của Gia Ðịnh và Dakao của Saigon lại đậm nét hơn hết. Lý do: Dù là dân Miền Tây nhưng tôi theo gia đình lên Saigon ăn học từ nhỏ, và nơi tôi ở qua tới Anh chỉ băng qua một cây cầu là Cầu Sắt hay Cầu Bông, nối liền Dakao với Bà Chiểu.
Cũng niên thiếu, bắt đầu viết lách, tác giả -như rất nhiều đồng nghiệp sau nầy- trải qua đi gõ cửa từng tờ báo và người mà Anh thương kính nhiều nhứt là Nhà văn lão thành Nguyễn Thạch Kiên với sự trang trải lòng mình trong bài “Nhắc Chuyện Xưa, Chạnh Nhớ Người”.
Rồi biến cố năm Mậu Thân 1968 xảy ra khi Cộng sản Bắc Việt tráo trở đánh phá toàn Miền Nam là cơn lốc cuốn tác giả vào cuộc đời quân ngũ. Vào quân trường thụ huấn với Khóa 2/69 SQTB Thủ Ðức, tác giả thực thụ là người Lính phục vụ trên Vùng 2 Chiến Thuật trong phần vụ của một Sĩ Quan Tâm Lý Chiến thuộc Tiểu Ðoàn 20 CTCT. Từ đó, chúng ta sẽ thấy từng bước đường anh đi và cũng là thực trạng hiện tình đất nước của từng khu vực từ Pleiku, Kontum, Bình Ðịnh rồi Phù Cát, Phù Mỹ, Bồng Sơn, Tam Quan, Sa Quỳnh, Phú Phong, An Thái, An Vinh... đến lúc từ giã Qui Nhơn, khi Cộng sản Bắc Việt dốc toàn lực xua quân tràn qua vĩ tuyến 17 để tấn chiếm Miền Nam mà anh ghi nhận trong “Qui Nhơn, Ngày Cuối Chia Tay”.
Và cũng từ đó, với “Tháng Tư, Dặm Trường Di Tản”, kế “SAIGON, Ðêm Cuối Cùng, Ở Lại”, từng bước từng bước tác giả lại đưa chúng ta trở về cùng chung tâm trạng của những người Lính Việt Nam Cộng Hòa đang bị “bức tử”. Uất hận, oan khiên, bại trận (?)...khiến những người Lính oai hùng sa cơ trở thành những tù binh của bọn Cộng sản vô nhân tính. Tác giả cũng bị lưu đày biệt xứ ra tận những vùng rừng già độc hại, trong những “Trại Tập Trung Khổ Sai” ở Miền Bắc.
Ðề cập tới thời gian nầy, tác giả nói với tôi: “Anh nói anh Nguyên Huy, nhưng không phải tên Hồ Hoàng Hạ đâu, ảnh không biết. Anh nói tên thật của tôi thì ảnh biết liền bởi có lúc trong một Trại Tập Trung ở Miền bắc, tôi nằm ở sàn trên còn ảnh nằm sàn dưới.”
Sau 7 năm tù đày, luân chuyển qua 10 trại giam từ Nam chí Bắc, tác giả mới được ra khỏi nhà giam nhỏ để về nhà tù lớn cho cả dân tộc. Suốt 12 năm chịu đựng để thoát cũi sổ lồng, định cư trên đất Mỹ, anh chỉ có hai bài ghi nhận trong “Hát Tù Ca trong Ðêm Thánh” và “Quà Tặng Ðêm Giáng Sinh”, ra hải ngoại nầy, anh chỉ thêm một bài “Ðêm Mùa Ðông Ấm Áp” đi sau cùng của quyển Tự Truyện mà anh cho là đứa con tinh thần từ lâu anh ấp ủ.
Với giọng văn bình dị, lời viết nhẹ nhàng chơn chất của một người dân Miền Nam thuần chất, anh đã mang vào quyển “Nhân Danh Cha” những tâm tình mộc mạc nhưng không kém phần truyền cảm, Tự Truyện của anh, nhứt là trong giai đoạn quân ngũ, dường như cũng là tự tình, dáng dấp chung của những người cùng chung áo lính, những người Lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Tuy nhiên, sẽ thiếu sót lớn nếu chúng tôi không đề cập đến một bài mà anh đã lấy tựa bài làm tên cho quyển Tự Truyện này. Ðó là bài Nhân Danh Cha. Bởi bài chủ đề tương đối khá dài mà trang báo hạn hẹp không thể chan chứa nên chúng tôi xin phép chỉ đi phần sau để quý vị tường lãm.
Và trước khi xem phần bài đề cập, chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu quyển Tự Truyện “Nhân Danh Cha” của chiến hữu Hồ Hoàng Hạ đến quý độc giả, sách dày gần 240 trang, giá 15 Ðôla tại các nhà sách.
Và liên lạc với tác giả bằng Email:
anhuule@yahoo.com
Lê Tường Vũ