Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

KISSINGER ĐÃ ĐẤM NGỰC THÚ TỘI

Lê Thành Nhân

Trong vòng chỉ 3 tháng nay một loạt biến động lớn lao về chánh-trị, ngoại-giao và quân-sự đã dồn dập diễn ra trong khu vực Á châu và Thái Bình Dương.

- Ngày 23-7-2010 Nữ Ngoại-trưởng Hilary Clinton nhân danh đại cường quốc Hoa Kỳ long trọng khẳng định tại Hội-nghị ASEAN ở Hà Nội: ”Hoa Kỳ xem Đông Nam A là khu vục thuộc lợí ích quốc gia của Hoa Kỳ về các phương diện anh ninh, kinh-tế, thương mại.”

- Ngày 24-9-2010, Tổng thống Obama đích thân triệu tập và chủ tọa Hội-nghị thượng-đỉnh tại New York (Second ASEAN Leaders Meeting) với các người đứng đầu các nước ASEAN để chủ động kết hợp các nước ấy trong một thế chiến lược mới. Một bản Tuyên bố chung (Joint Statement) quan trọng đã được công bố, và Tổng thống đã bỗ nhiệm ngay một Đặc sứ thường trực bên cạnh ASEAN tại Trụ sở của ASEAN tại Djakarta .

- Chỉ 5 ngày sau: ngày 29-9-2010: Bộ Ngoại-giao Hoa Kỳ tổ chức một cuộc hội-thảo ngay tại Bộ Ngoại giao tại DC dưới sự điều hợp của Đại-sứ Brynn với đề tài “Kinh nghiệm Hoa Kỳ tại Đông Nam Á” (The American Experience in Southeast Asia : Historical Conference) trong đó diễn giả chính là Henry Kissinger.

- Trong khi chúng tôi đang viết bài nầy thì các đại diện ngoại giao, quân-sự cao cấp của các nước thuộc ASEAN và Hoa Kỳ, Nhựt, Úc, Ấn-độ, v.v...đã bắt đầu Hội nghị các Tổng-trưởng Quốc-phòng (ADMM plus) tại Hà Nội từ ngày 12-10-2010 rồi tiếp tục với những phiên họp riêng giữa các thành viên ASEAN và các cường quốc trong vùng: Hoa Kỳ, Nhựt bản, Ấn độ, Úc, v.v...Phiên họp ngày 28-10-2010 là một phiên họp cao cấp quan trọng với sự tham dự của NT Clinton.

Giữa lúc đó thì chiến hạm Hoa Kỳ tiến sát và tập trận dọc thềm lục địa Á Châu từ Biển Nhựt Bản xuống Ấn-độ dương…có lúc vào tận cảng Tiên Sa (Đà Nẳng) của Việt Nam .

Tất cả những diễn biến đó không phải là những điều ngẫu nhiên.

Trong bài nầy chúng tôi chỉ chú trọng đến cuộc hội-thảo tại Bộ Ngoại-giao ngày 29-9-2010 để tìm hiểu ý nghĩa và tầm quan trọng của các lời phát biểu của Henry Kissinger tại cuộc hội-thảo này (Đọc giả có thể tham khảo bài tường trình ngày 6-10-10 của Người Việt Online)

Các ý-kiến của Kissinger phát biểu trong cuộc hội-thảo nói trên được tóm gọn như sau: “Sự thảm bại tại Việt Nam năm 1975 là do Hoa Kỳ chớ không phải do VNCH.”

Nhân dân Việt Nam và thế giới công chính đã chờ đợi câu nói đó từ 35 năm rồi, nay mới được thốt ra từ chính cửa miệng của Henry Kissinger, vào một thời điểm và tại một địa điểm có tính toán. Bởi vậy, nó có một giá trị vô cùng quan trọng. Nó trả lại danh dự cho hàng triệu chiến sĩ tự do của VNCH, từ nguời dân đen đến cấp lãnh-đạo cao nhứt. Nó giải oan cho hàng triệu linh hồn người Việt đã hi sinh cho Tự do. Nó trả lại DANH DỰ VÀ CHÍNH NGHĨA cho toàn thể Quân Dân VNCH từng bị bọn phản chiến và truyền thông bất lương bôi lọ.

Xin nhắc lại: Henry Kissinger là người chịu trách nhiệm về chánh sách ngoại giao của Hoa Kỳ từng đưa đến việc bán đứng VNCH cho Bắc Việt qua Hiệp-định Paris 1972, sự rút lui của Hoa Kỳ khỏi Đông dương 1975, và giao cho Trung Cộng làm “cai thầu khu vực” với bản Tuyên ngôn Thượng Hải (1972.)

Nixon và Kissinger bị mù mắt vì cái thị-trường khổng lồ béo bỡ của Hoa Lục, không ngần ngại phản bội lại đồng minh của mình. Cảnh tượng xót xa, bẽ bàng nhứt là Đệ 7 Hạm đội Hoa Kỳ nhẫn tâm án binh bất động, đứng nhìn hải quân TC cưỡng chiếm Hoàng Sa của đồng minh VNCH hồi tháng Giêng 1974. Ngày nay, khi Trung cộng trở mặt, sử dụng Hoàng Sa làm pháo đài khống chế Đông Nam Á và Thái Bình dương thì nước Mỹ mới mở mắt và nhận thấy hối hận về sự phản bội đồng minh VNCH của mình 35 năm trước.

Thực vậy, dân tộc Việt Nam là nạn nhân gánh chịu hậu quả thảm khóc nhứt của chánh sách Nixon-Kissinger với “Ngày 30 tháng 4 năm 1975.” Chính chánh-sách đó đã đưa gần 30 triệu nhân dân Miền Nam tự do vào cảnh điêu linh, thống khổ, nhà tan cửa nát, con mất cha, vợ mất chồng, kẻ thì bỏ xác trong ngục tù CS, người thì làm mồi cho hải tặc hoặc vùi thây dưới đáy biển. Không bút mực nào tả hết những tội ác của cộng đảng VN đối với gần 30 triệu dân Miền Nam từ 1975 đến nay.

Lời tuyên bố của Kissinger hôm nay, tuy rất ngắn, nhưng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng: “Sự thảm bại tại Việt Nam năm 1975 là do Hoa Kỳ chớ không phải do VNCH.”

Bằng những lời phát biểu ngày 29-9-2010 tại ngay thủ đô nước Mỹ, lãnh đạo nước Mỹ hiện nay dường như muốn nhờ Kissinger thay mặt nước Mỹ (Bộ Ngoại giao tổ chức) nói lên lời tạ tội và sám hối của nước Mỹ đối với gần một triệu sinh linh của chế-độ VNCH đã chết oan uổng, trong đó hơn nửa triệu đồng bào vượt biên chìm dưới đáy biển, hàng trăm ngàn Dân Quân-Cán-Chính VNCH chết trong các trại tập trung lao-động khổ sai, cộng với hàng trăm ngàn vợ con họ chết trong các “vùng kinh-tế mới” vì đói rét, bệnh tật và rắn rết.

Tại hội-nghị các Bộ-trưởng Quốc-phòng ASEAN (ADMM Plus) họp sau đó tại Hà Nội ngày 12-10-2010, Bộ-trưởng Quốc-phòng Hoa Kỳ Robert Gates đại ý tuyên bố ngay trước mủi của tên BTQP Trung cộng: ”Hoa Kỳ sẽ nhận trách nhiệm bảo đảm an ninh và tự do cho tất cả các quốc-gia ĐNA, nhứt là hải lộ xuyên Biển Đông, vì khu vực nầy thuộc quyền lợi quốc-gia của Hoa Kỳ về các phương diện an ninh, kinh-tế và thương mại.” Trong khi đó thì tàu chiến Hoa Kỳ trang bị vũ khí nguyên-tử đang tập trận với hải quân Nam Hàn ngoài khơi vùng biển của Trung cộng.

Gần hai tỷ dân trong khu-vực Á châu –Thái-Bình-dương thở phào, nhẹ nhỏm! Vì, từ nay, cái “lưỡi bò” hung hăng của tên bá quyền Hán tộc bổng teo lại thành……cái lưỡi gà bé tí tẹo! Không ai còn nghe các tướng lãnh TC khoác lác vung vít về sức mạnh quân sự của CHNDTQ và tham vọng độc chiếm Biển Đông của chúng. Không ai còn nghe cái loa khoác lác của Bộ Ngoại giao TC hàng ngày bô bô lên tiếng đe dọa các quốc gia tiếp giáp với “cái lưỡi bò đói khát”, nhứt là Việt Nam, Nam Dương, Phi-luật-tân, Brunei. Ngay sau khi Bộ-truởng QP Hoa Kỳ tuyên bố như trên, phát ngôn nhân của con cọp giấy Trung cộng bèn rêu rếu thông báo trả tự do vô điều kiện cho 9 ngư dân của đảo Lý sơn/Quảng Ngải bị chúng bắt giữ gần đảo Hoàng Sa cả tháng trước đó.

Các sự kiện trên đây chứng minh là vì cả tin nơi những tính toán sai lầm của tên con buôn chính-trị Kissinger, nước Mỹ phải để gần 40 năm (1972-2010) mới học được cái chân-lý đơn giản: Người CS marxist dù Nga hay Tàu hay Việt, chúng đều phản phúc như nhau. Nhờ sự giúp đỡ trong 40 năm qua của Hoa Kỳ nước Tàu mới thoát khỏi tình-trạng đói khát, lạc hậu và bắt đàu hơi khấm khá. Nhưng chưa chi thì chúng đã quay lại định ăn tươi, nuốt sống người thi ân cho mình. Đó là bản chất của người Cộng-sản Marxist. Hai dân tộc Đức và Nhật cũng được Hoa Kỳ giúp đỡ tái thiết sau chiến tranh, nhưng họ không mang tính phản phúc đó.

Vấn đề mà chúng ta muốn bàn hôm nay là: vì cần mua bán, đổi chác với Trung cộng để trục lợi, bọn chánh khách vô liêm sĩ ở Hoa Thạnh Đốn, đã ra sức gán cho VNCH đủ thứ tội: nào là quân đội không chịu chiến đấu, nào là công chức tham nhũng, v.v…Bọn chánh khách bất lương Âu châu thì kết tội VNCH là tay sai Mỹ chỉ vì ganh ghét với Hoa Kỳ. Nếu quân dân VNCH không chịu chiến đấu thì làm sao giữ vB0ời Việt Quốc-gia càng sáng tỏ hơn bao giờ hết. Bây giờ thì không một ai còn nghi ngờ nữa: VNCH còn là còn tất cả! VNCH mất là mất tất cả! Chúng ta đòi hỏi lịch sử và nhân dân thế giới phải trả lại sự công bằng và danh dự cho Quân Dân VNCH, từ người thứ dân cho đến các cấp lãnh đạo Quốc-gia. Trong nội bộ người Việt, yêu cầu những kẻ vô ý thức hay bị CS tuyên truyền tẩy não trong 35 năm qua hãy chấm dứt những luận điệu tự phỉ nhổ mình bắng cách gọi các vị lãnh đạo Quốc-gia, các tướng lãnh của VNCH bằng thằng nọ, thằng kia. Cái cuộc “đổi đời” năm 1975 đã biến “THẰNG thành ÔNG” và đem “ÔNG xuống làm THẰNG” nay đã chấm dứt rồi, vì đó là cái thang giá trị Marxist trong đó “trí thức không bằng cục phân” (lời Mao Trạch Đông.) Thang giá trị (échelle des valeurs) của một xã hội Việt Nam văn minh đạo đức truyền thống phải được tái lập để làm nền tảng cho một nước Việt Nam hậu Cộng-sản. Chúng tôi sẽ bàn đến “hệ thống giá trị chân chính” của người Việt trong một bài khác.
dHải ngoại, ngày 28-10-2010 Lê Thành Nhân

- Ngày 23-7-2010 Nữ Ngoại-trưởng Hilary Clinton nhân danh đại cường quốc Hoa Kỳ long trọng khẳng định tại Hội-nghị ASEAN ở Hà Nội: ”Hoa Kỳ xem Đông Nam A là khu vục thuộc lợí ích quốc gia của Hoa Kỳ về các phương diện anh ninh, kinh-tế, thương mại.”

- Ngày 24-9-2010, Tổng thống Obama đích thân triệu tập và chủ tọa Hội-nghị thượng-đỉnh tại New York (Second ASEAN Leaders Meeting) với các người đứng đầu các nước ASEAN để chủ động kết hợp các nước ấy trong một th�=E1��ng được Miền Nam đến 1975, khi mà Mỹ và Trung cộng ngã giá xong vụ buôn bán bẩn thỉu trên đầu nhân dân Việt Nam?

Ngoài ra, sau tháng 4, 1975, nhiều tướng lãnh liêm sĩ Hoa Kỳ đã viết lại hồi ký công nhận tinh thần dũng cảm và khã năng chiến đấu xuất sắc của QL/VNCH. Chúng ta không cần lặp lại ở đây. Còn nếu nói: vì tham nhũng mà chánh quyền VNCH sụp đỗ thì cứ hỏi chả lẽ nhà nước CHXHCN hiện nay ở VN ít tham nhũng hơn VNCH ngày trước? Thế tại sao nó còn nguyên đó hơn 35 năm nay? Cũng trong cùng thời gian với VNCH ai cũng biết ở các lân bang như Thái Lan, Phi Luât Tân, Nam Dương tình trạng tham nhũng trầm trọng hơn cả chục lần, nhưng có nước nào sụp đổ đâu!

Tóm lại, các chánh khách thiển cận, mù quáng của nước Mỹ lúc bấy giờ đã “hi sinh” quyền lợi của đồng minh VNCH với ảo tưởng đổi lấy một thị-trường béo bỡ của nước Tàu. Nhưng sự thật phủ phàng hôm nay là chính cái nước Tàu mà nước Mỹ vỗ béo đó đã đang quay lại ăn thịt nước Mỹ để giành ngôi vị đệ nhứt cường quốc trên thế giới. Và nước Mỹ ngày nay đã tỉnh ngộ, đang trở lại làm y chang cái công việc mà Quân Dân VNCH đã làm trước 1975, tức là chiến đấu chống đế quốc CS Trung quốc. Thế thì VNCH đã bị bức tử một cách oan uổng. Nhờ giương cao ngọn cờ chống lại bá quyền Trung cộng, bảo đảm an-ninh và tự do cho khu vực nên hiện nay Hoa Kỳ đang được nghênh đón trở lại Việt Nam như là môt “hiệp-sĩ.” Như vậy bọn CSVN không còn coi Hoa Kỳ là “đế-quốc xâm lược” nữa. Trái lại chúng coi Hoa Kỳ là vị cứu-tinh, và trả lại danh dự cho nước Mỹ.

Thế còn công lao hi sinh chiến đấu của Quân Dân Miền Nam để ngăn chận làn sóng đỏ của Nga, Tàu trong hơn 50 năm thì sao?

Vì thế, Quân Dân VNCH đòi hỏi nước Mỹ và thế giới phải trả lại danh dự cho họ vì họ đã hi sinh chiến đấu cho Tự do và An ninh của cả thế giới mà đã bị đối xử bất công bằng sự phản bội và bức tử oan uổng năm 1975.

Trên thực tế thì nhân dân Việt Nam trong nước đã làm việc nầy từ khi bọn “cách mạng” đặt chân vào Miền Nam vì, đối với mọi người dân trong nước thì cái gì của “ngụy” cũng tốt hơn “cách mạng”: bác sĩ “ngụy” cũng giỏi hơn, nhạc “ngụy” cũng hay hơn, nhân bản hơn, nếp sống “ngụy” cũng văn minh hơn, người dân “ngụy” cũng ấm no, hạnh-phúc hơn, v v...

Cuối cùng, sau khi chiếc mặt nạ của đảng CSVN kể công đánh ngoại xâm Pháp, Mỹ để giành độc lập bị rơi xuống đất, để lộ cái mặt thật của những kẻ bán nước đem tổ quốc dâng cho Tàu thì cái chính nghĩa bảo quốc của Quân Dân VHCN, của Người Việt Quốc-gia càng sáng tỏ hơn bao giờ hết. Bây giờ thì không một ai còn nghi ngờ nữa:

VNCH còn là còn tất cả!
VNCH mất là mất tất cả!

Chúng ta đòi hỏi lịch sử và nhân dân thế giới phải trả lại sự công bằng và danh dự cho Quân Dân VNCH, từ người thứ dân cho đến các cấp lãnh đạo Quốc-gia. Trong nội bộ người Việt, yêu cầu những kẻ vô ý thức hay bị CS tuyên truyền tẩy não trong 35 năm qua hãy chấm dứt những luận điệu tự phỉ nhổ mình bắng cách gọi các vị lãnh đạo Quốc-gia, các tướng lãnh của VNCH bằng thằng nọ, thằng kia. Cái cuộc “đổi đời” năm 1975 đã biến “THẰNG thành ÔNG” và đem “ÔNG xuống làm THẰNG” nay đã chấm dứt rồi, vì đó là cái thang giá trị Marxist trong đó “trí thức không bằng cục phân” (lời Mao Trạch Đông.) Thang giá trị (échelle des valeurs) của một xã hội Việt Nam văn minh đạo đức truyền thống phải được tái lập để làm nền tảng cho một nước Việt Nam hậu Cộng-sản.

Chúng tôi sẽ bàn đến “hệ thống giá trị chân chính” của người Việt trong một bài khác.

Lê Thành Nhân

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Vụ Fed bơm $600 tỷ

Ðức, Hoa, Nga... đồng loạt phản đối
Mỹ: Cần ‘tạo tăng trưởng’


Hà Tường Cát/Người Việt
Tranh luận vẫn tiếp tục gia tăng trên thế giới quanh vụ Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ (Fed) bơm thêm hàng trăm tỷ dollars cho nền kinh tế Hoa Kỳ. Phản ứng mạnh mẽ nhất là từ Ðức, Trung Quốc, Nga và khu vực đồng Euro.

Bộ Trưởng Tài Chánh Ðức Wolfgang Schauble phàn nàn: “Chính người Mỹ buộc tội Trung Quốc làm giá đồng tiền, duy trì đồng nhân dân tệ ở mức giá thấp giả tạo để có lợi thế xuất cảng, và rồi bây giờ tự họ tìm cách hạ giá trị đồng dollar”.

Thứ Trưởng Tài Chính Trung Quốc Zhu Guangyao nói rằng: “Hoa Kỳ là nước phát hành một trong những đồng tiền mạnh có giá trị cho dự trữ của thế giới và họ phải có nghĩa vụ ổn định thị trường tài chính”.

Theo lời bà Dilma Rosseff, “Lần trước đây khi sự cạnh tranh đưa đến phá giá đồng tiền thì sự việc chỉ được kết thúc bằng Thế Chiến II”.

“Tại hội nghị thượng đỉnh G-20, tổng thống Nga sẽ đòi hỏi những việc làm như của Fed chỉ có thể thi hành khi đã tham khảo ý kiến với các thành viên khác của khối”, Arkady Dvorkovich, trưởng đoàn thương thuyết Nga tại hội nghị cho biết như vậy.

Còn Tổng Thống Obama thì công khai bênh vực quyết định của Hoa Kỳ bằng một lời tuyên bố được xem là khác bình thường trong cuộc họp báo chung với Thủ Tướng Mammohan Singh tại Ấn Ðô hôm Thứ Hai. Ngân Hàng Trung Ương Fed là một cơ chế độc lập và theo thông lệ truyền thống Tòa Bạch Ốc thường tránh tỏ bày sự tán thành hay bất đồng ý kiến. Nhưng sau khi đã giải thích là hành pháp Hoa Kỳ không bình luận về những giải pháp mà Fed thi hành, Tổng Thống Obama tiếp thêm: “Tôi muốn nói là Fed, cũng như tôi, được ủy thác nhiệm vụ làm cho nền kinh tế Hoa Kỳ phát triển. Và đó là điều tốt không chỉ cho quốc gia chúng tôi mà còn cho toàn thể thế giới”.

Viễn tượng Fed tung một khối lượng lớn dollar vào thị trường tài chính đã khiến cho giá vàng lên cao kỷ lục. Loại quý kim này thường được các nhà đầu tư mua vào trong tình trạng phòng ngừa lạm phát, đã định giá ở mức 1,402.80 một troy ounce hôm Thứ Hai. Những loại tài sản khác như cổ phiếu và dầu thô hạ giá đôi chút sau khi đã tăng vọt với sự loan báo in tiền của Fed tuần trước.

Thị trường vàng ở Việt Nam biến động theo giá cả quốc tế và đồng thời có thêm những yếu tố địa phương cá biệt, đã trong tình trạng lên cơn sốt từ vài tuần lễ trước và đạt tới cao điểm hôm Thứ Hai với giá 38 triệu đồng một lượng. Nhưng tới sáng Thứ Ba khi Thống Ðốc Ngân Hàng Nhà Nước Nguyễn Văn Giàu loan báo quyết định cho nhập cảng vàng, giá vàng ở miền Nam cũng như miền Bắc nhanh chóng tụt dốc, giá mua vào phổ biến 36.4-36.5 triệu đồng trong khi bán ra quanh 37.3-37.4 triệu đồng một lượng, giảm gần một triệu đồng so với vài giờ trước đó.

Hội Nghị Thượng Ðỉnh G-20 bắt đầu tối Thứ Tư ở Seoul, Nam Hàn, chắc chắn sẽ là nơi tranh cãi gay gắt giữa các cường quốc xuất cảng như Trung Quốc và Ðức với Hoa Kỳ, nước hãy còn đang chật vật thoát qua khỏi suy thoái và mức thất nghiệp cao. Người ta cho rằng hội nghị sẽ chưa thể giải quyết thỏa đáng những vấn đề lớn trong hệ thống tiền tệ thế giới và đáp ứng cá mục tiêu mậu dịch mà Bộ Trưởng Ngân Khố Hoa Kỳ Timothy Geithner đề ra. Bộ Trưởng Geithner hy vọng các nhà lãnh đạo quốc gia, trong đó có Trung Quốc, sẽ đồng ý được một khuôn mẫu mới về mậu dịch quốc tế, trong đó có những chỉ dấu cho thấy khi cán cân mậu dịch của một quốc gia vượt quá mức ổn định.

Những phê phán của Ðức cũng là sự phản ánh quan điểm của Nhật Bản, Brazil, lo ngại hệ quả từ biện pháp của Fed. In thêm tiền và hạ thấp lãi suất sẽ làm cho đồng dollar yếu đi và việc xuất cảng dễ dàng hơn. Ngược lại đồng tiền của các quốc gia khác lên giá làm hại xuất cảng của họ. Lập luận của Fed là chỉ nhắm kích thích mức cầu ở quốc nội và việc đồng dollar nếu có mất giá chỉ là hậu quả chứ không phải là mục tiêu.

Thủ tướng Luxembourg, ông Jean-Claude Juncker, chủ tịch Hội Ðồng Bộ Trưởng Tài Chánh Các Nước trong khu vực đồng Euro, nhận định về hành động của Fed: “Tôi không tin đó là một quyết định hay. Chỉ là nỗ lực thoát khỏi nợ nần với nợ nần khác”.

Bất đồng ý kiến cũng có ngay ở Hoa Kỳ. Thống Ðốc Ken Warsh, một phó chủ tịch cao cấp của Chủ Tịch Ben Bernanke, bày tỏ sự hoài nghi sâu sắc trong một bài báo trên tờ Wall Street Jounal. Bà Sarah Palin, cựu thống đốc Alaska và cựu ứng cử viên phó tổng thống, hôm Thứ Hai cũng đã mạnh mẽ lên tiếng chỉ trích Fed.

Từ cuối tuần qua, ông Bernanke đã đưa ra lời giải thích: “Nền kinh tế của chúng ta ở tình trạng khiếm dụng tài nguyên cao và mức tăng trưởng tương đối thấp. Mục tiêu của hành động này là mở rộng lượng tiền tệ vận hành”.

Hệ thống tiền tệ quốc tế từ hơn 30 năm qua hầu hết đặt căn bản trên hối suất thả nổi đến nay đã mòn mỏi. Chính sách giữ đồng tiền có giá trị thấp giả tạo của Trung Quốc nhằm trợ lực cho xuất cảng tạo nên nhiều căng thẳng và một số giới phê bình cho rằng nay Fed cũng đi vào con đường ấy.

Theo nhận định của nhiều quan sát viên thì từ lâu Hoa Kỳ vẫn tin hệ thống kinh tế của mình có thể dùng làm mẫu mực cho các nước khác. Ðến nay, những tranh luận nổ ra mạnh mẽ do sự lo ngại Hoa Kỳ tìm cách quy định một chính sách có lợi cho riêng mình.

Trước làn sóng phản kháng trên thế giới, Tổng Thống Obama chỉ có thể tìm được sự bênh vực từ Ấn Ðộ. Thủ Tướng Manmohan Singh tuyên bố: “Bất cứ kích thích nào có thể thúc đẩy các doanh nghiệp Hoa Kỳ phát triển hoạt động đều giúp cho sự thịnh vượng toàn cầu”.

Chủ Tịch Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu Jean-Claude Trichet, sau cuộc họp thường kỳ với các chủ tịch những ngân hàng trung ương thành viên, bày tỏ một quan điểm hòa hoãn hơn. Ông nói: “Không ai trong chúng tôi tin là Hoa Kỳ theo đuổi đường lối dùng đồng tiền yếu và chúng tôi chưa có phán đoán, biểu quyết về chính sách mới này”.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Nước Mỹ sau ngày bầu cử 2 tháng 11, 2010
Friday, November 12, 2010

Lê Duy Nhân
Sau khi choàng vòng hoa chiến thắng cho đảng Cộng Hòa và phong trào Tea Party người dân Mỹ phải sống với thực tế gay go đang chờ đợi ở phía trước, những thay đổi mà hai đảng này có thể thực hiện như họ hứa hẹn trong lúc vận động bầu cử.
Image
Tổng Thống Barack Obama sau cuộc bầu cử giữ nhiệm kỳ ngày 2 tháng 11, 2010. (Hình: Mandel Ngan/AFP/Getty Images)



Về đối nội, chính quyền Obama sẽ bị Hạ Viện do đảng Cộng Hòa kiểm soát với đa số phiếu trấn áp sẽ đẩy hành pháp vào thế thụ động nên không còn dám mạnh dạn với những biện pháp khôi phục kinh tế có tính cách mạo hiểm. Dân Mỹ dồn phiếu cho đảng Cộng Hòa và đảng Tea Party không phải vì hai đảng này đưa ra được những kế hoạch đột phá mà vì người ta tức giận đảng Dân Chủ không vực được kinh tế suy thoái, vì ghét Tổng Thống Obama và Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi “với đủ mọi lý do.”

Trưởng khối thiểu số Thượng Viện Mitch McConnell đã nói toạc ra rằng mục đích tối hậu của đảng Cộng Hòa là đẩy Tổng Thống Obama ra khỏi Tòa Bạch Ốc. Trong khi mục tiêu của đảng Tea Party là giảm thuế, cắt giảm tối đa ngân sách liên bang, thu nhỏ chính quyền liên bang, mà không hề có chính sách tăng công ăn việc làm, giảm gánh nợ quốc gia, giảm thâm thủng ngân sách.

Nên nhớ thâm thủng ngân sách và gánh nợ quốc gia là do chính sách giảm thuế, mở hai cuộc chiến tranh ở Iraq và Afganistan, ban hành luật bảo hiểm thuốc (Medicare Prescription Drug) của chính quyền Bush. Chính Phó Tổng Thống Dick Cheney từng lập lại tuyên bố của Tổng Thống Reagan rằng “thâm thủng ngân sách không quan hệ gì” (Deficits don't matter) nhưng ngày nay đảng Cộng Hòa lại dùng thâm thủng ngân sách quốc gia là đề tài tranh cử chính.

Ðảng Cộng Hòa sẽ cắt những khoản nào trong ngân sách quốc gia, Medicare, Medicaid, quốc phòng, giáo dục, ngoại viện? Giảm thâm thủng ngân sách, giảm gánh nợ quốc gia nhưng lại giảm thuế thì phải chờ phép lạ mới thực hiện được. Trong cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình CNN tối ngày 9 tháng 11, khi được hỏi rằng đảng Tea Party sẽ cắt các ngân khoản nào thì ông Rand Paul, TNS mới thắng cử của tiểu bang Kentucky nhờ sự hỗ trợ của Tea Party, chỉ nói chung chung là sẽ cắt toàn bộ ngân sách. Còn ông Dick Armey, chủ tịch FreedomWorks, ngoại vi của Tea Party, thì nói sẽ bãi bỏ ngân sách dành cho National Endowment for the Arts mà ngân sách này chỉ chiếm có 1% của thâm thủng ngân sách $1,300 tỉ.

Ðảng Cộng Hòa sẽ có kế hoạch nào để giải quyết thâm thủng ngân sách? Sẽ ngưng chính sách giảm thuế của cựu Tổng Thống Bush? Cắt bớt quyền lợi của người già và người nghèo như Medicare và Medicaid? Hay cắt chi tiêu quốc phòng $17 tỉ? Hay cắt tất cả các ngân khoản cứu trợ cho các nước nghèo?

Ngay sau khi thắng thế ở Hạ Viện và chiếm đa số ghế thống đốc, các nhà lập pháp chống di dân đã nhanh chóng công bố chủ trương chống di dân và nhiều tiểu bang “hứa hẹn” sẽ theo gương tiểu bang Arizona ban hành luật di trú riêng để trục xuất di dân bất hợp pháp. Không chỉ đời sống của trên 12 triệu cư dân bất hợp pháp bị đe dọa mà nông nghiệp và nhiều ngành kỹ nghệ sẽ gặp khủng hoảng nhân lực. Không chỉ cư dân bất hợp pháp tắt niềm hy vọng về một đạo luật Cải Tổ Di Trú mới mà tương lai của di dân hợp pháp cũng không sáng sủa mấy. Người ta quên đi những đóng góp to lớn mà người di dân đóng góp cho sự thịnh vượng của nước Mỹ vì cho rằng tình trạng thất nghiệp hiện nay là do người di dân hợp pháp cũng như bất hợp pháp cướp đoạt từ người bản xứ.

Không chỉ riêng người Mỹ, các quốc gia đồng minh cũng như thù địch của Hoa Kỳ cũng thấp thỏm trông đợi thay đổi chính trị ở Hoa Kỳ sau ngày bầu cử giữa nhiệm kỳ.

Trung Quốc e ngại rằng với thế thượng phong ở Hạ Viện, đảng Cộng Hòa sẽ ép Tổng Thống Obama cứng rắn hơn về xuất cảng kỹ thuật, hợp tác về năng lượng sạch, chính sách bao cấp kỹ nghệ sản xuất quốc doanh của Trung Quốc (đẩy kỹ nghệ sản xuất của Hoa Kỳ vào thế không cạnh tranh nổi với hàng hóa Trung Quốc) và tỉ giá đồng Nhân Dân Tệ (quá thấp).

Hòa bình ở Trung Ðông sẽ bị chính quyền Obama tạm quên để dành mọi nội lực đối nội. Thế giới Hồi Giáo e ngại Tổng Thống Obama sẽ mất tiềm năng (momentum) hòa giải giữa các nền văn hóa khác biệt trên thế giới.

Các nỗ lực ngăn chặn bước chân bá quyền Trung Quốc của Việt Nam và khối ASEAN sẽ bị ảnh hưởng như thế nào trước làn sóng Cộng Hòa trên chính trường Mỹ? Từ Clinton tới Bush, rồi Obama, Hoa Kỳ đã nhìn thấy “quyền lợi cốt lõi” của Mỹ ở Châu Á. Hoa Kỳ chặn Trung Quốc tại biển Ðông không phải vì không muốn Trung Quốc trở thành siêu cường, cũng không phải vì bênh vực các nước bị Trung Quốc uy hiếp mà chỉ vì quyền lợi tự thân của nó. Không riêng Việt Nam mà cả Nhật, Ấn Ðộ, Philippines, Thái Lan, Úc đều đi tìm sự liên kết với Hoa Kỳ để kìm chân Trung Quốc. Hoa Kỳ không thể bỏ qua cơ hội ngàn vàng để duy trì địa vị bá chủ của mình.

Từ nay đến ngày bầu cử tổng thống năm 2012, Tổng Thống Obama sẽ gặp thử thách to lớn. Ðảng Cộng Hòa phải chấp nhận những yêu sách “vĩ cuồng” của Tea Party để được tiếp tục ủng hộ cho kỳ bầu cử này nên không dám thỏa hiệp với Tổng Thống Obama. Ðảng Dân Chủ sẽ trở nên rụt rè hơn để không bị gán cho cái nhãn cực tả mà mất phiếu. Quốc Hội Mỹ càng trở nên bất lực trước sự đối đầu của hai đảng. Nhân dân Mỹ sẽ trút sự tức giận lên đầu ai?

Chính trị không phải là một khoa học chính xác mà là khoa học của “ai được, ai mất, mất gì, được gì, tại sao và khi nào mất, được.”

(Nguồn: Thông Luận 2010)

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Muốn cứu nước, phải khai tử đảng

Ngô Nhân Dụng
Ðầu tháng này, trong một cuộc hội thảo bàn về dự thảo văn kiện Ðại Hội XI của Ðảng, Giáo Sư Trần Phương, một đảng viên cộng sản đã từng làm bộ trưởng, phó thủ tướng, và đứng đầu ngân hàng trung ương, ngồi chủ tọa cuộc họp này, ông đề nghị quy tắc: “Nói ngắn, nói rõ (rằng mình) muốn sửa điều này, bổ sung điều kia thôi, không cần giải thích...”

Nhưng khi đến lượt phát biểu, thì chính người chủ tọa lại không nói ngay cụ muốn sửa chữa hay bổ sung điều nào. Cụ làm cả một bản kê khai các sai lầm căn bản. Phải thông cảm với một người 83 tuổi không theo đúng các quy tắc mình đã đưa ra. Vì tất cả những chính sách, hành động sai lầm phải sửa chữa, phải bổ sung đều bắt nguồn từ những sai lầm căn bản trong tư tưởng chỉ đạo. Không sửa từ gốc thì chữa chạy những thứ trên ngọn cũng vô ích! Ông nhận xét về những sai lầm: “Không phải chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà cả quan điểm tư tưởng đấy!” Ðối với bản dự thảo các văn kiện của Ðại hội thứ 11, sắp tổ chức vào đầu năm tới, ông Trần Phương nhận xét là nó “la liệt đủ thứ; không thể góp ý gì được, không biết làm gì để tiến lên.”

Cho nên Giáo Sư Trần Phương truy thẳng vào nền tảng tư tưởng của Ðảng Cộng Sản:

“Ta nói chủ nghĩa Mác-LêNin, nhưng nó là cái gì mà bảo nó là nền tảng?”

Nên biết, năm 1954 ông Trần Phương đã được cử sang Trung Quốc học ở Học Viện Mác-Lê Nin, thế mà bây giờ chính ông nghi ngờ đặt câu hỏi: “Chủ Nghĩa Xã Hội là gì? Có ai trả lời được không?... Liên Xô cũng từ chối Xã Hội Chủ Nghĩa rồi đấy chứ!” Và cụ phê phán: “...Mác đã sai khi dự kiến về đặc trưng của Chủ Nghĩa Xã Hội.” Vì thế, chính sách “Ðổi mới của ta thực chất là ‘thụt lùi.’... Ðổi mới là (thay đổi) so với cái đã sai trong 20 năm trước!” Ông Trần Phương nhắc lại một câu mà trên thế giới người ta đã bảo nhau từ 100 năm trước: “Cái gọi là chủ nghĩa Cộng Sản là ảo tưởng.” Dù sao một người ngoại bát tuần dám nói thẳng cái chủ nghĩa mình theo suốt đời là một ảo tưởng, đó cũng là một thái độ can đảm đáng khen ngợi. Xét cho kỹ thì những sai lầm mà Giáo Sư Trần Phương nêu ra không bắt đầu với nhóm người lãnh đạo đảng hiện nay. Ðó chính là những sai lầm căn bản của đảng Cộng Sản Việt Nam từ khi thành hình cho tới nay!

Vậy thì hiện nay đảng Cộng Sản Việt Nam theo chủ nghĩa Mác như thế nào? Giáo Sư Trần Phương nói thẳng rằng đảng của ông đang “Bịp!” “Ta giả vờ theo Mác, vì nói vậy nhưng đã làm khác đi rồi. Ta nói và ta biết là ta đang bịp người khác!” Trần Phương nhắc lại: “Cương lĩnh đầy dẫy cái sai, cái mơ hồ. Nói Xã Hội Chủ Nghĩa mà không biết nó là cái gì! Nhiều chuyện ta tự lừa dối mình và lừa dối người khác.” Ông không quên nhắc lại lời Abraham Lincoln: “Người ta chỉ có thể lừa bịp được vài người suốt đời, hoặc lừa được tất cả mọi người trong đôi lúc; nhưng không thể lừa được tất cả mọi người mãi mãi được!” Như ông là một thí dụ, đảng không thể “bịp” ông suốt đời được!

Một người cũng tham dự cuộc hội thảo này là nhà kinh tế Lê Ðăng Doanh, từng làm cố vấn cho nhiều ông thủ tướng ở Ba Ðình, cũng đồng ý với ông Trần Phương. Ông Lê Ðăng Doanh khuyên Ðại Hội 11: “Phải nhìn thẳng vào sự thật. Lừa được người ta mà không lừa được thực tiễn đâu.” Một người khác là Giáo Sư Lê Du Phong. Ông phê bình dự thảo Ðại Hội 11: “Tư duy lý luận lạc hậu, mâu thuẫn,... xa rời thực tiễn,... thụt lùi so với đại hội trước.” Không những thế, các văn kiện của đảng Cộng Sản còn “xem thường lịch sử!” Thí dụ, họ viết rằng “Chủ Nghĩa Xã Hội là điều kiện để nước Việt Nam độc lập.” Ông Lê Du Phong hỏi: “Các triều đại trước có Chủ Nghĩa Xã Hội đâu mà nước ta vẫn độc lập?” Ðây cũng là một ý kiến người Việt Nam ai cũng nghe nói từ nửa thế kỷ nay rồi, nhưng được nhắc lại giữa Hà Nội, được phổ biến ngay lập tức trên các mạng, đó cũng là một biến cố đáng chú ý.

Sau khi Giáo Sư Trần Phương đã phê phán những sai lầm của Mác như vậy rồi, ông có khuyên răn đảng của ông xóa bỏ cái chủ nghĩa Mác-Lênin đi hay không? Không thấy ông nói. Ông vẫn tỏ ra còn thiết tha đến cái “chủ nghĩa không ai biết là cái gì” đó, nên còn đề nghị: “Phải xác định rõ Chủ Nghĩa Xã Hội là gì? Ðịnh hướng nó là gì?” Thời Hồ Chí Minh còn sống đảng Cộng Sản không phải nghe những nỗi băn khoăn như vậy. Ông Hồ theo một quy tắc rất đơn giản: “Bất cứ cái gì Stalin nói, Mao nói, đều là Chủ Nghĩa Xã Hội!” Thế là hết bản cãi!

Hình như là những người cộng sản lâu đời như cụ Trần Phương người nào cũng bị mang một mối bi thương trong lòng: Biết cái chủ nghĩa mình theo là ảo tưởng, là đầy những sai lầm, từng gây bao nhiêu tai hại cho dân tộc, nhưng lại không nỡ tuyên bố từ bỏ nó! Những người can đảm dám từ bỏ chủ nghĩa, từ bỏ đảng, như Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Tô Hải, như ông Ðỗ Xuân Thọ dọa sẽ đốt thẻ đảng nếu sau Ðại hội lần thứ 11 này, đảng vẫn lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng không thay đổi, số người như thế rất hiếm. Có lẽ vì ngay khi còn là đảng viên cộng sản đó đã biết nghi ngờ và đã biết phê phán rồi, chứ không nhắm mắt tin theo.

Biết Chủ Nghĩa Xã Hội là ảo tưởng nhưng vẫn thiết tha nuôi nấng nó cho con cháu được hưởng, như Trần Phương kể: “Tôi nói với ông Ðỗ Mười, ông Phạm Văn Ðồng là đến cuối thế kỷ XXI này, con cháu chúng ta mới bắt đầu nghĩ đến Chủ Nghĩa Xã Hội.”

Thật không hiểu nổi tại sao ông còn nhắc lại ý kiến đó, mà ông nhắc lại như một điều đáng hãnh diện!

Thử ngẫm coi: Cả một đời người bắt toàn dân một nước nhắm mắt nghe theo cái Chủ Nghĩa Xã Hội ấy; đến cuối đời đã biết mình chỉ lừa bịp dân thôi, thế mà tại sao vẫn còn muốn 100 năm sau thế hệ con cháu tiếp tục “sự nghiệp nuôi ảo tưởng” của thế hệ mình! Có khác nào đang tâm đánh lừa cả đàn con cháu, muốn chúng “ngồi chờ một thế kỷ nữa” lại tiếp nối sự nghiệp nuôi ảo tưởng theo ông cha? Từ đây đến cuối thế kỷ 21, loài người sẽ sống ra sao, cụ Trần Phương có đoán trước được hay không? Chính cụ đã phê bình việc bám theo ảo tưởng của Karl Marx: “Bây giờ (thế giới) có đến 6.5 tỷ người, đến nước sạch cũng bị thiếu rồi, đánh nhau vì nước uống” để chứng tỏ thực tế thế giới đã thay đổi hoàn toàn, so với viễn kiến của Marx gần hai thế kỷ trước. Ðã biết suy nghĩ sáng suốt như vậy, tại sao vẫn còn nuôi giấc mộng tới cuối thế kỷ 21 còn có người mơ mộng Chủ Nghĩa Xã Hội?

Nhiều đảng viên cộng sản lão thành bây giờ không nói đến Chủ Nghĩa Xã Hội nữa, nhưng vẫn muốn bám ví lấy một thứ “lý tưởng xã hội chủ nghĩa.” Lý tưởng là những điều ước ao, những điều rất tốt, rất quý, thường là rất mơ mộng, xa lìa thực tế. Thanh niên cần phải có lý tưởng, nếu không thì quốc gia không thể trông cậy được. Nhưng người trưởng thành thường không bàn đến hai chữ đó nữa. Nhà báo Lê Phan kể đã phỏng vấn “Bác Ba” Nguyễn Hộ trong thời gian ông bị quản thúc tại gia. Bà mới kể lại rằng ông Nguyễn Hộ đã “khẳng định mình đã chọn sai lý tưởng.”

Nhưng tại sao một lý tưởng chứa đầy những ước mơ tốt đẹp cho nhân loại mà nó lại mang đến bao đau khổ cho loài người để đến nỗi khi các do do nó dụng lên sụp đổ thì ở chính quê hương Liên Xô của nó, chẳng ai thèm tiếc thương? Bởi vì nó đã được Lênin và Stalin bào chế thành một thứ tín ngưỡng đem mê hoặc nhiều người. Nhưng khác với các tín ngưỡng lâu đời của nhân loại, Chủ nghĩa Cộng Sản nói toàn những mục tiêu thiện nhưng lại quyết tâm sử dụng các phương pháp độc ác. Con người không thể đạt đến điều thiện khi dùng cái ác là phương tiện.

Nhưng không lẽ một người có lý tưởng, tức là biết ước ao những điều tốt đẹp nhất, mà còn muốn thế hệ con cháu mình bước lại những bước trên con đường sai lầm của mình hay sao?

Tâm trạng đó, người xưa đã từng giải thích nguyên nhân. Vì con người ta nói chung rất khó thoát khỏi nghiệp do mình tạo ra. Những sở tri chướng, những ngã kiến, ngã mạn, những nghiệp dĩ trong đời, không tỉnh ra thì sẽ ôm theo hết kiếp. Những kiến thức được tích lũy, những ước nung nấu, những thành kiến càng được nuôi nấng lâu ngày thì nghiệp chướng càng nặng nề khó bỏ!

Tuy nhiên có những đảng viên cộng sản đã biết dứt nghiệp. Ông Nguyễn Hộ, trong hồi ký của ông, tỏ ra đã biết nghi ngờ ngay từ lúc nghe Hồ Chí Minh, khi muốn bịt miệng những người có ý kiến phê phán, đã dẫn lời Stalin rồi nói: “Chúng ta có thể lầm chứ đồng chí Stalin không thể lầm được.” Khi trả lời bà Lê Phan, ông Nguyễn Hộ nói đến 60 năm bị “đánh lừa.” Ông nói đến sự hy sinh lớn lao của bản thân, của những người đồng đội, và của toàn thể nhân dân Việt Nam, mà chẳng được gì cả. Ông nói đến sự lỗi thời và phá sản của chủ nghĩa Mác-xít. Và sau cùng ông nói bây giờ đã đến lúc “đảng Cộng Sản Việt Nam phải tự khai tử đi cho rồi.”

Những lời phê phán của ông Nguyễn Hộ nói thẳng từ 20 năm trước, bây giờ lại được ông Trần Phương và nhiều người khác nhắc lại trong cuộc hội thảo trên. Nhưng ông Trần Phương và các vị khác không dám nói: “đã đến lúc đảng Cộng Sản Việt Nam phải tự khai tử đi cho rồi.”

Muốn cứu nước, phê phán chủ nghĩa Mác-Lênin không đủ, từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chưa đủ. Chính Giáo Sư Trần Phương đã thấy mối nguy hiểm nếu đảng của ông còn cai trị nước ta: “Ðảng quyết mọi thứ mà lại không chịu trách nhiệm gì. Thế mới chết chứ!” Phải hiểu rằng không phải đảng chết, không phải các đảng viên chết, mà là chết cả nước! Nên theo lời khuyên của ông Nguyễn Hộ: Phải khai tử đảng. Ở Ba Lan người ta đã làm rồi. Ở Hungary người ta đã làm rồi. Ở Nga cũng vậy. Ðất nước người ta đã tiến trong hai chục năm qua. Mình còn tự kiềm hãm, và giam hãm cả dân tộc Việt Nam cho tới bao giờ?

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Bốn nước Á Châu Dân Chủ

Ngô Nhân Dụng

Trong chuyến công du Á Châu vừa qua Tổng Thống Barack Obama chỉ thăm những quốc gia đang sống với thể chế tự do dân chủ: Ấn Ðộ, Indonesia, Ðại Hàn Dân Quốc, và Nhật Bản. Bốn quốc gia này có những điều kiện văn hóa, tôn giáo, xã hội và chủng tộc khác nhau, quá trình hình thành chế độ dân chủ tại mỗi nước cũng khác nhau.

Ðó là bằng cớ chứng tỏ rằng dân chủ tự do là một thể chế có thể áp dụng trong mọi điều kiện mà vẫn đem lại lợi ích cho các dân tộc. Ông Obama không quên nhân dịp này lên tiếng ngợi ca những ích lợi của cuộc sống tự do dân chủ.

Tại Ấn Ðộ, ông Obama đã công nhận nền kinh tế của quốc gia này đang vươn lên trong hai chục năm qua sau hơn 40 năm theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa. Ông nhấn mạnh rằng người ta không thể nói Ấn Ðộ đã phát triển “mặc dầu” theo thể chế dân chủ, mà ngược lại phải nói kinh tế Ấn Ðộ đã phát triển chính “vì nhờ” có chế độ dân chủ. Tại Indonesia, ông Obama đã được dân chúng đón tiếp nồng nhiệt vì ông đã sống 4 năm thời thơ ấu ở nước này. Ðáp lại những người bạn cũ đó, ông đã đề cao Indonesia như một kiểu mẫu cho các nước chậm tiến khác. Giống như ở Ấn Ðộ, ông Obama nói, tiến bộ kinh tế mà Indonesia đạt được gần đây cũng vì nhờ thể chế dân chủ.

Nhìn lại quá trình xây dựng dân chủ tại các quốc gia trên ta sẽ thấy hiển nhiên là một thể chế tôn trọng tự do có thể thi hành trong nhiều hoàn cảnh khó khăn mà vẫn thành công để mang lại những lợi ích thực tế. Ấn Ðộ khi lập quốc có 400 triệu dân dùng hơn một ngàn thứ tiếng nói, hàng trăm thứ tiếng được coi là ngôn ngữ chính thức. Ða số dân theo Ấn Ðộ Giáo nhưng số người theo Hồi Giáo nhiều nhất thế giới. Nặng nề nhất là hệ thống đẳng cấp cổ truyền vẫn còn đè nặng lên tập quán của người dân cho tới bây giờ, kể cả giới chuyên viên, trí thức. Trước năm 1947 Ấn Ðộ chưa bao giờ là một quốc gia, họ sống trong những nước nhỏ lệ thuộc vào các đế quốc. Khi Ấn Ðộ độc lập, nhiều người hiểu biết cũng nghĩ rằng quốc gia quá phức tạp và đầy mâu thuẫn này không thể tồn tại lâu dài được. Nhiều nhà nghiên cứu chính trị thấy con đường duy nhất mà Ấn Ðộ nên theo để tránh nội chiến là thiết lập một chế độ độc tài theo kiểu Liên Xô.

Nhưng giới trí thức Ấn Ðộ đã quyết tâm chọn chế độ dân chủ tự do. Chỉ những người sáng suốt và tin tưởng ở khả năng sống thiện của con người, của đồng bào họ, và tự tin ở tư cách chính mình, mới đủ can đảm chọn lựa như vậy. Và bản Hiến Pháp dân chủ của Ấn Ðộ đã được thi hành trọn vẹn, chỉ gián đoạn một thời gian ngắn khi bà Indira Gandhi tuyên bố tình trạng khẩn cấp. Ðến khi đảng của bà bị thất cử, Indira Gandhi đã tôn trọng Hiến Pháp, thản nhiên rút lui khỏi quyền hành, rất có tư cách đáng kính trọng.

Ðiều không may cho Ấn Ðộ là các chính quyền đầu tiên đã đi theo chủ trương kinh tế xã hội chủ nghĩa học theo lối Liên Xô. Ðến năm 1990, sau khi chế độ cộng sản đã thất bại rõ ràng, cáo chung ở Nga và Ðông Âu, Ấn Ðộ mới bắt đầu đổi mới kinh tế. Trong 20 năm qua, những thành quả ngoạn mục của kinh tế thị trường đạt được ở Ấn Ðộ chính là nhờ được đặt trên nền tảng của nếp sống tự do dân chủ và tinh thần tôn trọng luật pháp. Duy chỉ có guồng máy hành chánh, củng cố trong 40 năm quen điều khiển nền kinh tế theo lối hoạch định tập trung, đã trở thành rườm rà và cứng nhắc, hiện nay vẫn là chướng ngại lớn nhất trong việc phát triển của Ấn Ðộ.

Với những xung đột tôn giáo và chủng tộc do di sản của lịch sử hàng ngàn năm, hơn một tỷ dân Ấn Ðộ vẫn bảo vệ một bản Hiến Pháp dân chủ, bảo vệ quyền lợi của các sắc dân và tôn giáo thiểu số, nếu không nhờ tinh thần tôn trọng luật pháp của những người lãnh đạo thì quốc gia này đã chia năm xẻ bẩy từ lâu rồi. Sự tồn tại của Ấn Ðộ là bằng chứng ngợi ca thể chế dân chủ.

Indonesia có những kinh nghiệm khác. Ðây là quốc gia đông dân thứ ba trên thế giới, sau Trung Quốc và Ấn Ðộ, với 250 triệu dân mà 85% theo Hồi Giáo. Nhưng người Indonesia đối xử với các tôn giáo thiểu số bằng tinh thần rộng lượng, luật pháp được áp dụng bình đẳng. Khi Indonesia tuyên bố độc lập sau Ðại Chiến Thứ Hai, tình trạng phức tạp về địa dư, chủng tộc, ngôn ngữ cũng không khác gì Ấn Ðộ. Tổng Thống Soekarno cũng chọn chế độ dân chủ như một thỏa hiệp để thành lập một quốc gia thống nhất. Nhưng năm 1966 ông đã ủng hộ đảng Cộng Sản Indonesia chuẩn bị một cuộc thay đổi thể chế. Quân đội đảo chính ngược, lật đổ ông và thiết lập một chế độ quân nhân sau khi tàn sát hàng triệu người bị coi là cộng sản, đại đa số là người Hoa. Mặc dù vẫn theo kinh tế thị trường và bên ngoài vẫn là thể chế dân chủ nhưng dưới chế độ độc tài quân phiệt trong thực tế Indonesia đã áp dụng đường lối tư bản quả đầu; mọi quyền lợi kinh tế được giành cho nhóm người phục tùng gia đình Tướng Suharto. Sau 32 năm cầm quyền, ông Suharto phải từ chức vì người dân vùng lên khi kinh tế khủng hoảng; từ đó Indonesia mới thực sự thí nghiệm lối sống dân chủ tự do theo Hiến Pháp mới. Một điều đáng kính trọng đối với giới chính trị ở Indonesia là sau những cuộc đảo chính trên, những người lãnh đạo cũ vẫn được sống quãng đời còn lại bình yên, đời sống và phẩm giá được kính trọng.

Chính trong thời gian 20 năm dân chủ hóa vừa qua người dân Indonesia đã chứng tỏ được tinh thần bao dung của họ, nhờ thế giải tỏa được những xung đột chủng tộc, xã hội và văn hóa vẫn kéo dài từ khi lập quốc. Vùng Ðông Timor được trả lại độc lập; vùng Aceh được giành nhiều quyền tự trị; người gốc Hoa được phép mở trường dạy chữ Hán. Trong 20 năm qua bốn vị tổng thống nhậm chức rồi rời khỏi chức vụ trong hòa bình, trật tự, các đảng chính trị ganh đua mạnh mẽ, báo chí được tự do.

Gánh nặng lớn nhất mà chế độ độc tài quân phiệt để lại ở Indonesia cũng là một bộ máy hành chánh nặng nề và thối nát. Bài học của Indonesia là phải chấm dứt chế độ độc tài càng sớm càng tốt; càng trì hoãn thì càng khó sửa đổi tác phong của hệ thống cảnh sát và công chức tham nhũng, lạm quyền.

Khác với Ấn Ðộ và Indonesia, hai nước Nhật Bản và Nam Hàn đã là những quốc gia thành lập từ mấy ngàn năm và đều thuộc truyền thống Khổng Giáo như các nước Á Ðông khác. Hai nước này đã từng là thù địch trong ít nhất nửa đầu thế kỷ 20 khi Nhật Bản thống trị bán đảo Cao Ly. Nhật đã dân chủ hóa từ sau Thế Chiến Thứ Hai nhưng Hàn Quốc phải đợi sau khi ngọn lửa chiến tranh Nam Bắc nguội bớt người dân mới bắt đầu tranh đấu lập nền dân chủ vào thập niên 1980.

Hiến Pháp dân chủ của Nhật Bản được ban hành năm 1947, dưới chế độ quân quản của Mỹ. Nhưng chính quyền quân sự Mỹ và giới chính trị Nhật đã giữ đúng tinh thần trọng pháp: Hai viện Quốc Hội Nhật đã tu chính bản Hiến Pháp Minh Trị theo đúng thủ tục điều 73 trong Hiến Pháp cũ. Có thể nói nước Nhật chỉ mới tập sống dân chủ từ năm 1952 khi chế độ quân quản chấm dứt, dân Nhật Bản lấy lại chủ quyền. Thí nghiệm dân chủ ở Nhật đã thành công, chính quyền đã thay đổi từ tay đảng này sang đảng khác đã bốn lần trong hòa bình, trật tự và tinh thần tương kính. Có thể nói truyền thống Khổng Giáo đã ảnh hưởng tới tư cách và hành vi của những người lãnh đạo xứ Nhật cho nên họ đều có tinh thần trách nhiệm, tôn trọng công ích, làm gương tốt cho quốc dân.

Sau khi Hàn Quốc chịu cảnh nội chiến Nam Bắc, giới quân nhân chiếm lấy quyền hành vừa lo chống mối đe dọa của cộng sản phía Bắc vừa canh tân nền kinh tế quốc dân. Nhưng mặc dù vẫn bị đe dọa xâm lăng, dân Nam Hàn vẫn đứng lên đòi tự do dân chủ. Những năm 1970, 80 khi kinh tế đang cất cánh cũng là những năm các phong trào đòi dân chủ tự do lên cao nhất, với những cuộc biểu tình, đình công, bãi khóa của công nhân và sinh viên. Nhờ giữ được truyền thống Khổng Mạnh, đặt công ích lên trên quyền lợi riêng, các tướng lãnh Nam Hàn đã trao trả lại quyền làm chủ cho dân. Kinh tế lại càng phát triển vì người dân được tự do hơn.

Thể chế dân chủ tự do ở Nhật Bản và Hàn Quốc được hỗ trợ bởi nền đạo lý cổ truyền thấm nhuần Nho Giáo. Tại hai nước đó Khổng Giáo không hề bị một chế độ độc tài chuyên chế nào tìm cách hủy hoại. Nền tảng đạo lý này coi chữ Tín là quan trọng bậc nhất, các nhà chính trị phải nêu gương tín nghĩa, nhờ thế đã tạo nên không khí tín nhiệm chung trong xã hội. Chữ Tín cũng là nền tảng của cả chế độ dân chủ lẫn kinh tế thị trường. Ðó là bí quyết của sự tiến bộ về chính trị và kinh tế tại hai quốc gia Á Ðông này. Trong 6 nước cùng chịu ảnh hưởng truyền thống Nho Giáo tại Á Châu, 3 nước theo chế độ dân chủ là Nam Hàn, Nhật Bản và Ðài Loan cũng là những nước kinh tế tiến bộ nhất. Ba nước cộng sản từng đả phá Nho Giáo là Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Hàn thì kinh tế thua kém. Một lý do cũng vì giới lãnh đạo cộng sản không có thói quen tôn trọng chữ Tín, khiến cho trong xã hội mất thói quen tin tưởng lẫn nhau, cũng như người dân không tin tưởng ở luật pháp và các định chế quốc gia, từ guồng máy công lực tới hệ thống tư pháp, và các cơ quan truyền thông. Thiếu chữ Tín thì kinh tế không thể tiến được.

Tổng Thống Obama đã đến 4 nước dân chủ tự do ở Á Châu, để có dịp cổ võ cho một thể chế mà nước ông đã thiết lập hơn 200 năm qua. Ông không cần nêu lên những tiến bộ mà dân Mỹ đã đạt được, chỉ cần lấy các nước Á Châu làm thí dụ. Ông nói một câu có thể sẽ trở thành khẩu hiệu cho các phong trào dân chủ: “Thịnh vượng kinh tế mà không có tự do thì vẫn còn là cảnh nghèo nàn dưới một hình thức khác.”

Ðó cũng là một lời nhắn gửi tới chính quyền và người dân Trung Quốc, Việt Nam, những nơi đảng Cộng Sản vẫn tiếp tục giam giữ nhiều người chỉ vì họ tranh đấu đòi cho đồng bào họ được sống tự do hơn. Các chính quyền cộng sản đó vẫn tiếp tục ngăn chặn làn sóng dân chủ đã lan tràn khắp thế giới từ năm 1989 đến nay, sau khi cộng sản Ðông Âu và Nga sụp đổ. Nhưng người dân Việt Nam và Trung Quốc chắc chắn mong muốn họ sẽ thoát khỏi cảnh nghèo khó không những về kinh tế mà cả về chính trị. Chỉ khi đủ no ấm và được tự do chúng ta mới được sống xứng đáng với phẩm giá con người.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam trong thời đại Internet

Ðoàn Thanh Liêm
Trong một chế độ độc tài chuyên chế toàn trị (totalitarian dictatorship) như ở Việt Nam, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên hiện nay, thì đảng cộng sản vẫn còn giữ độc quyền ngay cả trong khu vực Xã hội Dân sự (XHDS), thông qua các tổ chức ngoại vi của đảng, điển hình như các Hội Liên Hiệp Phụ Nữ, Liên Hiệp Thanh Niên, Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, Hội Nhà Văn, Mặt Trận Tổ Quốc v.v...
Image
Blogger Ðiếu Cày. (Hình: rfa.org)
Do đó, các tổ chức thiện nguyện của tư nhân hoạt động trong lãnh vực nhân đạo, hay văn hóa xã hội khác, và nhất là các tổ chức từ thiện phát xuất từ các tôn giáo, thì luôn luôn bị kiềm chế, cản trở không làm sao mà phát triển rộng rãi trong quảng đại quần chúng nhân dân, như ta thường thấy trong các xã hội tự do dân chủ khác trên thế giới ngày nay được.

Nhưng từ 10-15 năm nay, nhờ có Internet người dân ở Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, đã bắt đầu có những sinh hoạt trao đổi tin tức và hành động rất ngoạn mục khởi sắc, mà chế độ cộng sản cũng không thể nào ngăn chặn hết được. Bài viết này nhằm trình bày chi tiết hơn về tình trạng đáng phấn khởi đó.

Như ta đã biết, XHDS đóng cả hai vai trò đối với Nhà nước: đó là vai trò vừa làm “Ðối tác” và vừa vai trò làm “Ðối trọng” (Counterpart / Counterbalance), để cùng hợp tác với Nhà nước trong lãnh vực cải tiến dân sinh, cụ thể như việc “xóa đói giảm nghèo,” “cứu trợ các nạn nhân thiên tai bão lụt” v.v... Mặt khác, XHDS cũng tham gia vào công cuộc xây dựng công bằng xã hội, bênh đỡ các nạn nhân của tệ nạn bóc lột áp bức do giới có quyền hành, có thế lực gây ra. Nhờ có vai trò “làm đối trọng” đối với Nhà nước như vậy, mà trong nền nếp sinh hoạt của quốc gia mới bảo đảm được sự “kiểm soát và cân bằng” (checks and balance), như ta thường thấy nơi các xã hội dân chủ tiến bộ tại Âu Mỹ.

Vai trò làm đối trọng này thường được thực hiện qua việc phát biểu “tiếng nói lương tâm” (the voice of conscience) của giới sĩ phu, giới lãnh đạo tinh thần nơi các tôn giáo, và nhất là qua sự “phản biện xã hội” (social critique) của giới trí thức hàn lâm đại học, của giới văn nghệ sĩ, của giới lãnh đạo nghiệp đoàn công nhân, v.v... Dưới đây, ta sẽ phân tích chi tiết hơn về khía cạnh “làm Ðối trọng” của XHDS tại Việt Nam hiện nay.


A. Một số trường hợp điển hình

* Sự kiện nổi bật nhất hiện nay là blog “Bauxite Việt Nam” do một nhóm các nhà trí thức chủ trương kêu gọi chánh quyền Việt Nam phải ngưng lại dự án khai thác quặng bauxite tại vùng cao nguyên miền Trung. Cho tới cuối tháng 10, 2010, thì thông qua Internet đã có tới gần 3,000 chữ ký của mọi tầng lớp đồng bào ở trong cũng như ở ngoài nước tham gia kiến nghị với nhà nước phải xét lại việc tiến hành công cuộc khai thác này. Nhất là sau tai họa kinh hoàng “ngập lụt bùn đỏ” ở Hungary vào đầu tháng 10 vừa đây, thì quần chúng nhân dân Việt Nam lại càng quan tâm đến cái nguy cơ trầm trọng đối với môi trường thiên nhiên và sự sống còn của hàng triệu con người ở phía hạ lưu đồng bằng sông Ðồng Nai thuộc miền Ðông Nam bộ, kể cả thành phố Saigon.

*Mặt khác, với sự giam giữ kéo dài thêm nữa đối với nhà báo Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải và sự bắt giữ hai nhà báo blogger Phan Thanh Hải với “anhbasaigon” và Hương Trà với “cogaidolong,” thì rõ ràng là chánh quyền Hanoi đã rất hốt hoảng trước sự hưởng ứng của số đông quần chúng đối với loại mạng lưới thông tin hiện đại mà lại rất đi sát với những vấn đề thời sự này. Ðó là chưa kể những sự quấy phá đánh sập rất nhiều blog khác, mà nhà nước coi là mối đe dọa đối với chế độ độc quyền về bưng bít thông tin của họ, hay là không đi theo “lề phải” do cơ quan quản lý về thông tin đưa ra.

*Năm 2009 vừa qua, thì Nhà nước đã làm áp lực rất nặng nề khiến đưa đến sự đóng cửa cái “think tank” hàng đầu của Việt Nam, đó là “Viện Nghiên Cứu Phát Triển IDS” do Tiến Sĩ Nguyễn Quang A và các thân hữu khởi xướng (Institute of Development Studies). Sự việc đáng buồn này rõ rệt là kéo lùi sự tiến bộ về mặt trí tuệ và nhận thức của toàn thể xã hội Việt Nam chúng ta trong thế giới văn minh khoa học kỹ thuật vào đầu thế kỷ XXI ngày nay.

* Ðó là chưa kể đến phong trào tranh đấu của hàng vạn những “Dân Oan” từ khắp các địa phương kéo về Hanoi, Saigon để khiếu nại về chuyện bị mất nhà, mất đất do cán bộ nhà nước đã nhẫn tâm tịch thu của họ. Và nhất là cao trào tranh đấu đòi tự do tôn giáo của giới tín đồ và tu sĩ của các tôn giáo lớn như Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Cao Ðài, Hòa Hảo.

Các thông tin về hai khối quần chúng Dân Oan và Tôn Giáo này đã được phổ biến rộng rãi khắp thế giới thông qua mạng lưới Internet, mà nhà cầm quyền cộng sản dù mưu lược thủ đoạn thâm hiểm đến mức nào đi nữa, thì họ cũng không thể làm sao mà bưng bít cho hết được.


B. Không gian Xã hội mỗi ngày một mở rộng mãi ra

Mỗi khi một tập thể quần chúng nhân dân sinh sống hợp quần với nhau trong một khu vực địa lý nào, thì họ tạo thành ra được một cái khoảng không gian xã hội (Social Space). Khoảng không gian xã hội này bao gồm ba khu vực, đó là: khu vực Nhà nước, khu vực Thị trường kinh tế và khu vực Xã hội Dân sự.

Với sự tiến bộ của lãnh vực truyền thông ngày nay, đặc biệt là của Internet, khu vực XHDS không những mỗi ngày một phát triển mở rộng trong mỗi một quốc gia, mà còn phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới nữa. Vì thế, mà ngày nay ta đã có một thứ Xã hội Dân sự Toàn cầu (The Global Civil Society) mỗi ngày một phát triển thêm mạnh mẽ, y hệt như ta có một nền kinh tế toàn cầu mỗi ngày thêm khởi sắc vậy. (Xin độc giả coi lại bài “Sơ lược về Xã hội Dân sự Toàn cầu” tôi đã viết vào năm 2009, và đã được phổ biến trên nhiều báo điện tử, cũng như báo giấy).

Như ta đã biết, từ lâu nay vào mỗi Tháng Giêng hàng năm, thì có một Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum =WEF) được tổ chức tại thành phố Davos nước Thụy Sĩ. Và gần đây, thì lại có thêm một diễn đàn khác nữa được gọi là “Diễn đàn Xã hội Thế giới” (World Social Forum =WSF) cũng được tổ chức hàng năm luân phiên tại các quốc gia thuộc Châu Mỹ La Tinh, Á Châu và Phi Châu. Tổ chức WSF đó đã thu hút được rất đông các nhân vật và đại diện của các tổ chức phi chánh phủ (NGO = Non-Government Organisations) từ khắp các nơi trên thế giới cùng đến tham dự để trao đổi về nhiều khía cạnh sinh hoạt văn hóa xã hội của thế giới hiện đại, đặc biệt là của các nước đang phát triển. Ðó là biểu hiện của một tinh thần liên đới, chia sẻ huynh đệ rộng khắp thế giới, mà còn được gọi là “Phong trào Xã hội Mới”(The New Social Movement).

Trong bối cảnh của cả một thế giới năng động và nhiều tính chất sáng tạo, đầy tình nhân ái gắn bó huynh đệ ruột rà như thế đó, các nhà tranh đấu cho dân chủ, tự do và nhân quyền ở bất cứ nước nào mà bị nhà cầm quyền sở tại đàn áp, giam hãm tù đày, thì đều được sự cảm thông và yểm trợ hết mình của những anh chị em cùng chung một lý tưởng, cùng chia sẻ cái ngọn lửa nhiệt thành, dấn thân hy sinh để bảo vệ cho phẩm giá và quyền con người của lớp người đồng loại với mình.

Việc cấp phát giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 2010 cho người chiến sĩ yêu nước Lưu Hiểu Ba ở Trung Quốc là một biểu tượng sáng ngời của phong trào liên đới toàn cầu với cuộc đấu tranh bất bạo động, nhằm xây dựng một xã hội tiến bộ và nhân ái hiện đang diễn ra sôi nổi khắp nơi trên hành tinh trái đất chúng ta lúc này.

Các sinh hoạt gặp gỡ trao đổi và chia sẻ có tầm vóc quốc tế như vậy rõ ràng là đang góp phần mở rộng cái khoảng không gian xã hội nói chung, và khu vực XHDS nói riêng trên phạm vi toàn cầu nữa. Và cao trào tranh đấu cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền tại Việt Nam hiện nay cũng đã và đang đi theo đúng với xu thế thời đại của toàn thế giới vào thế kỷ XXI ngày nay vậy.


C. Quá trình không thể nào mà có thể đảo ngược lại được nữa

Tập thể các bloggers ở nước ta hiện nay đã lên đến con số hàng ngàn người, mà được hàng triệu người theo dõi truy cập mỗi ngày, mỗi tuần quanh năm, suốt tháng. Như vậy, thì việc nhà nước sử dụng bọn tin tặc để quấy phá, hoặc dùng công an để đe dọa, bắt giữ một số người, điều này thật ra cũng chẳng thể nào làm suy yếu, hoặc tiêu diệt được cái ý thức phản biện, đối kháng của hàng hàng lớp lớp những người trẻ, là con em của đất nước chúng ta ngày nay. Quả thật, đây là lớp “hậu sinh khả úy,” là “niềm hy vọng chứa chan” của dân tộc Việt Nam chúng ta. Họ tiêu biểu cho “trí tuệ thông tiệp và lương tâm trong sáng của thời đại” ngày nay.

Chúng ta thật vui mừng và cảm phục trước sự dũng cảm của những nữ nhi chân yếu tay mềm như Lê Thị Công Nhân, Phạm Thanh Nghiên, Trần Khải Thanh Thủy, Tạ Phong Tần, Ðỗ Thị Minh Hạnh, Mai Thị Dung... Và chúng ta cũng ngưỡng mộ thái độ kiên cường bất khuất của những bạn nam nhi như Ðiếu Cày, Trương Minh Ðức, Hà Sĩ Phu, Ðỗ Nam Hải, Lê Trần Luật, Ðoàn Huy Chương, Trương Văn Sương...

Rõ ràng họ là loại người thật xứng đáng với danh hiệu mà dân gian xưa nay vẫn thường nói: đó là “Con hơn cha, nhà có phúc.” Họ đã vượt ra khỏi được cái não trạng của loại người “ếch ngồi đáy giếng,” của thứ “gà què ăn quẩn cối xay.” Họ kiên quyết chối bỏ cái lối “tư duy nhiệm kỳ” của loại người ngoan cố chỉ biết bám víu vào quyền lực, bằng cách áp đặt lên đầu lên cổ dân tộc cái thứ giáo điều ngoại lai hủ lậu, mù quáng mệnh danh là “Vô sản chuyên chính, Hận thù giai cấp, Dân chủ tập trung” vay mượn từ Liên Xô, Trung Quốc đã trên nửa thế kỷ nay.

Giới trẻ của chúng ta ngày nay đang có được “cái tầm nhìn vũ trụ” (cosmic vision) cởi mở thông thoáng, theo kịp với đà văn minh tiến bộ của thế giới hiện đại. Và họ cũng đã tìm cách tự giải thoát mình ra khỏi nỗi sợ hãi trước bạo quyền chuyên chế của thế hệ trước đây, để mà ra tay hành động, tìm cách giúp dân, cứu nước.

Và rồi bằng kỹ thuật vượt được “bức tường lửa,” họ đã tiếp cận thường xuyên với thế giới bên ngoài, để liên kết với phong trào tranh đấu toàn thế giới cho nhân phẩm và quyền con người, theo tinh thần đã được ghi rõ trong các văn kiện về Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc ban hành vào giữa thế kỷ XX. Dù bị ngăn cản, vây hãm, bị cấm đoán mọi bề, họ vẫn tìm cách phát huy tính sáng tạo và lòng can đảm, để mà tiếp tục được cái sứ mệnh làm phản biện, phê phán, phơi bày tố cáo những lệch lạc sai trái trong việc nhượng đất nhượng biển cho Trung Quốc, những sự nhũng lạm phung phí tài nguyên quốc gia, chiếm đoạt tài sản của nhân dân, do bất kể giới chức nào trong guồng máy chánh quyền, kể cả giới lãnh đạo chóp bu của đảng cộng sản gây ra.

Rốt cuộc, việc tranh đấu kiên cường này đang rõ rệt có dấu hiệu trở thành một quá trình hành động quyết liệt, mà đảng cộng sản dù có ngoan cố thâm độc đến đâu, thì cũng không còn có thể nào làm đảo ngược lại được nữa rồi. Ðó là niềm hy vọng đầy phấn khởi cho tương lai tươi sáng của toàn thể dân tộc chúng ta vậy.

Ðoàn Thanh Liêm
California, Tháng Mười Một 2010

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Hội Thảo Biển Ðông tại Sài Gòn - lời kể người trong cuộc

'Học giả Trung Quốc là nạn nhân của tuyên truyền'

Hà Giang/Người Việt
VIỆT NAM - Với chủ đề “Biển Ðông: Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực,” buổi hội thảo quốc tế về Biển Ðông lần thứ 2, được tổ chức tại Sài Gòn, vào hai ngày 11 và 12 tháng 11 vừa qua, thu hút được gần 120 người tham dự, gồm các học giả từ các nước ASEAN, Trung Quốc, Ðài Loan, Australia, Belgium, Canada, Pháp, Ðức, Thụy Ðiển, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, cùng đại diện các cơ quan ngoại giao nước ngoài ở Việt Nam.
Image
Giáo Sư Carl Thayer cùng các đại biểu tham dự hội thảo quốc tế về biển Ðông tại Sài Gòn, lắng nghe ý kiến của các bên.



Cuộc hội thảo, theo lời người tham dự, “thu hút được số người tham dự đông đảo hơn, và đã có những phút tranh luận căng thẳng hơn giữa những học giả người Việt Nam với học giả Trung Quốc, về một vấn đề rất nhậy cảm với người dân của hai nước, đó là chủ quyền trên Biển Ðông.”

Ngay sau khi buổi hội thảo vừa chấm dứt, báo chí trong lẫn ngoài nước đã ào ạt đăng những bài tường thuật, hay bình luận về hiệu quả của buổi hội thảo quan trọng này.

Lẫn trong những bài viết này, là một tường thuật về cuộc phỏng vấn khá căng thẳng giữa phóng viên của báo mạng VietNamNet (VNN) và học giả Trung Quốc, Vương Hàn Lĩnh, có tựa đề: “Học giả Trung Quốc đe dọa Việt Nam.” Một số bloggers đã nhanh chóng đưa nguyên nội dung bài phỏng vấn này, cũng như đường dẫn vào website của VietNamNet, vào blog của họ, nhưng khi người ta bấm vào đường dẫn này thì gặp phải hàng chữ: “Không tìm thấy trang, bạn vui lòng kiểm tra lại đường dẫn.”

Học giả Trung Quốc Vương Hàn Lĩnh đã nói lời gì được xem là có tính cách đe dọa?

Bài viết “Học giả Trung Quốc đe dọa Việt Nam,” trích dẫn:



VNN: Xin ông cho biết, vì sao phía Trung Quốc vẫn kiên trì với cách tiếp cận song phương đối với các tranh chấp trên Biển Ðông?

Vương Hàn Lĩnh: Bởi vì cách giải quyết giữa hai bên liên quan, theo cái cách mà hai bên cho rằng công bằng nhất, là giải pháp tốt nhất. Còn sự tham gia của bên thứ ba chỉ làm phức tạp thêm tình hình.

Hơn nữa, nếu bên thứ ba lại tham gia bằng cách dùng vũ lực, hay các biện pháp phi hòa bình, thì ngay cả nếu tranh chấp được giải quyết, anh sẽ gặp rắc rối trong tương lai.

Tôi muốn nhắc lại nếu không chọn cách giải quyết như tôi vừa nêu, các anh sẽ phải hứng chịu các xung đột bằng vũ lực, hoặc thậm chí chiến tranh. Ðiều này không hề tốt cho tương lai.


Thế nhưng lời nói của TS Vương Hàn Lĩnh đã khiến mọi người phẫn uất là đoạn hỏi đáp sau đây:

VNN: Xin quay lại chuyện chủ quyền, Trung Quốc nói có chủ quyền và quyền tài phán từ hơn 2000 năm nay. Phía Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và chứng cớ pháp lý, chẳng hạn với quần đảo Hoàng Sa, từ hàng trăm năm nay. Ông nói sao?

Vương Hàn Lĩnh: Nên nhớ rằng cho đến năm 1885, Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Trung Quốc.

Phóng viên của nhật báo Người Việt tiếp xúc với Giáo Sư Carl Thayer, thuộc Học Viện Quốc Phòng Australia, người đã có nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam, và cũng là một học giả tham gia hội thảo này để tìm hiểu về sự kiện này và nghe nhận xét của ông, theo cái nhìn từ bên trong buổi hội thảo.

Giáo Sư Carl Thayer cho biết, theo ông: “Qua buổi hội thảo này, Việt Nam đã thành công trong việc đem vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Ðông thành một vấn đề quốc tế.”

“Phải nói lần này Việt Nam đã tiến xa, vì tôi cũng tham dự buổi hội thảo về Biển Ðông lần thứ 1, và lúc đó được một người bạn là một phóng viên Việt Nam thì thầm dặn là 'đừng nói gì đến chữ 'internationalization' (quốc tế hóa) nhá, chúng tôi bị cấm không được dùng chữ đó.” Ông chia sẻ.

GS Thayer nhận định: “Lần này, thì với sự can thiệp của Hoa Kỳ, Biển Ðông đã trở thành vấn đề quốc tế, và trong khung cảnh đó, Trung Quốc và những quốc gia trong khối Asean cùng học giả của nhiều quốc gia đã gặp nhau ở mức chuyên gia để tìm cách tìm ra những thoả thuận và hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, cũng như thúc đẩy DOC.”

Ðược hỏi về những căng thẳng của buổi hội thảo, ông cho biết là buổi tranh luận trở nên “có lửa,” nhất là lúc những thuyết trình viên của Hội Luật Gia Việt Nam trình bày về tranh chấp chủ quyền tại Biển Ðông với Trung Quốc.

“Họ (những luật sư) phân tích và bác bỏ một cách lạnh lùng, tỉ mỉ, đanh thép, và chắc nịch về việc Trung Quốc đòi chủ quyền của họ trên Biển Ðông theo bản đồ lưỡi bò, và họ hùng hồn đến nỗi người nghe thấy là cái bản đồ lưỡi bò đó không có một căn cứ nào về chứng cớ lịch sử theo đúng luật biển quốc tế.”

Cũng theo Giáo Sư Carl Thayer, thì các diễn giả Trung Quốc, mặt khác, không có vẻ hung hăng lắm trong việc tranh cãi, mà họ muốn hướng cuộc thảo luận đến việc hợp tác trong việc khai thác ngư nghiệp tại Biển Ðông.

”Các diễn giả Trung Quốc lên án Hoa Kỳ là đã can thiệp vào những tranh chấp của riêng Asean, nhưng họ không hùng hồn lắm, như nói vì bổn phận phải nói.” Ông kể lại.

Trả lời câu hỏi của Người Việt là ông có chứng kiến cuộc phỏng vấn giữa phóng viên của Việt Nam Net với học giả Trung Quốc Vương Hàn Lĩnh không, ông cho biết là giới truyền thông, gồm khoảng 25 người không được tham dự cuộc hội thảo.

“Họ bị bắt đứng chờ ở ngoài một hành lang dài nhỏ xíu, bên ngoài phòng họp, và chỉ được tiếp xúc với những người tham dự trước hay sau giờ họp, hoặc lúc nghỉ 15 phút, hay giờ ăn trưa.”

“Hãy thử tưởng tượng chỉ có 15 phút nghỉ cho một phòng họp hơn 100 người, thì biết công việc của giới truyền thông ở đó khó như thế nào.” Ông nói.

“Chính tôi cũng được một tờ báo lớn nổi tiếng của Sài Gòn phỏng vấn, nhưng toàn bài phỏng vấn cũng không được đăng, vì bị cho là ‘nhạy cảm quá!’”

Ông cho biết không chứng kiến cuộc phỏng vấn đầy căng thẳng này, nhưng xác nhận là vấn đề “cho đến năm 1885, Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Trung Quốc” có đựơc học giả Trung Quốc Vương Hàn Lĩnh đề cập đến, trong bài viết của ông, và đã “mau chóng bị nhiều học giả Vịêt Nam dẹp đi.”

Giáo Sư Carl Thayer nhấn mạnh rằng, đây là một cuộc hội thảo có tính cách “khoa bảng” nhiều hơn là chính trị, và nhận định rằng các học giả Trung Quốc đến đây mới “ngỡ ngàng rằng khi họ mang những điều họ học ở trong nước để ra ngoại quốc, va chạm với những dữ kiện mới, với những sự thật mới, thì họ phải suy gẫm và tìm tòi hơn khi về nước.”

Bất kể những giây phút căng thẳng, Giáo Sư Carl Thayer nhận định rằng buổi hội thảo quốc tế về Biển Ðông lần thứ 2 đã mang đến được một kết quả tích cực, vì trong hai tiết mục cuối, là phần “Giải quyết những tranh chấp” và “Hợp tác tại Biển Ðông,” Việt Nam đã rất khôn khéo đưa ra phương cách để Trung Quốc có thể bước ra khỏi thái độ cứ khăng khăng khẳng định Biển Ðông là của mình, mà phải tìm cách hợp tác với các nước Asean vì an ninh và phát triển trong khu vực.

“Vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Ðông có lẽ sẽ chuyển thành việc tìm phương cách để cùng hợp tác, và không ai nhắc đến 'quyền lợi cốt lõi' nữa.” Ông kết luận.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

“Túi khôn dân tộc” bác bỏ hoàn toàn cương lĩnh của Bộ Chính Trị

Bùi Tín

Ðây là một tin cực kỳ hệ trọng.
Một tin động trời, có thể nói trời nghiêng đất ngả cho thế lực cường quyền.


Image
Các thành viên Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng CSVN tại buổi họp với Ðảng Ủy Quân Sự Trung Ương ở Hà Nội. (Hình: TTXVN)



Sự kiện như thế này chưa từng có trong lịch sử 70 năm của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Tác động của sự kiện này chưa thể lường hết được.

Ngày 7 tháng 10 năm 2010 vừa qua tại Hà Nội hơn 20 trí thức hàng đầu của thủ đô, đều là đảng viên cộng sản kỳ cựu, hơn nữa đều là đảng viên cấp cao, do Bộ Chính Trị quản lý, đã tụ tập trong một cuộc hội thảo khoa học rất lý thú.

Danh nghĩa của cuộc họp là do Hội khoa học kinh tế Việt Nam và Trung tâm thông tin, dự báo kinh tế - xã hội quốc gia cùng phối hợp tổ chức, nhằm “góp ý cho các dự thảo văn kiện Ðại hội XI của đảng Cộng sản”. Các dự thảo chính là báo cáo chính trị của ban chấp hành trung ương, cương lĩnh quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chiến lược kinh tế - xã hội 2010-2020, thường gọi tắt là Báo cáo chính trị, Cương lĩnh và Chiến lược, mà quan trọng nhất là Cương lĩnh.

Xin kể một vài tên tuổi và chức vụ của những người tham dự. Có Giáo Sư Trần Phương, nguyên ủy viên trung ương đảng, phó thủ tướng ; ông Vũ Khoan, nguyên bí thư trung ương đảng, phó thủ tướng; Phó Giáo Sư Trần Ðình Thiên, hiện là viện trưởng Viện Kinh Tế; Giáo Sư Phan Văn Tiệm, nguyên thứ trưởng Bộ Tài Chính; ông Việt Phương, nguyên cố vấn của thủ tướng; Giáo Sư Ðào Xuân Sâm, dạy môn quản lý kinh tế tại trường đảng Nguyễn Ái Quốc; bà Phạm Chi Lan, nguyên cố vấn kinh tế của thủ tướng; bà Dương Thu Hương, nguyên phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước; Phó Giáo Sư Võ Ðại Lược, nguyên viện trưởng Viện Kinh Tế Thế Giới; ông Nguyễn Trung, từng là đại sứ ở Thái Lan; ông Vũ Quốc Tuấn, cố vấn chính trị - kinh tế của thủ tướng; Tiến sỹ Lê Ðăng Doanh; Tiến sỹ Nguyễn Mại; Giáo sư Lê Du Phong; Giáo sư Nguyễn Ðình Hương; Tiến sỹ Lưu Bích Hổ; Giáo sư Vũ Huy Từ; Giáo sư Ðào Công Tiến...

Suốt 9 tiếng đồng hồ, hơn 20 vị phát biểu ngắn gọn, súc tích, mỗi lần chỉ 10 phút, được ghi âm và ghi vào biên bản, nhằm chuyển cho ban dự thảo các văn kiện. Trưởng ban dự thảo mỗi văn kiện là tổng bí thư hay một ủy viên Bộ Chính Trị, đều không có mặt...

Các vị trí thức đảng viên cấp cao trên đây có thể coi là một mảng tinh hoa của đảng cộng sản, được đảng tuyển lựa, học hành bài bản, nói chung giỏi ngoại ngữ Pháp, Anh, Nga, Trung Hoa... có kinh nghiệm cầm quyền. Họ có thái độ khoa học khách quan, vô tư, phần lớn đã nghỉ hưu, đang hoạt động tự do, có tư duy độc lập, nói chung không dính dáng với các nhóm thân hữu, cánh hẩu, các nhóm lợi ích riêng, tham nhũng, tệ hại trong nền kinh tế phe phái (crony economy) như các chuyên gia của Ðại Học Harvard Hoa Kỳ tại Việt Nam phát hiện và đặt tên.

Các nhân vật trên đây, theo tôi, có thể gọi là một “think tank” mới mẻ, một “túi khôn” đặc sắc, quý báu của dân tộc, vì rõ ràng qua từng lời phát biểu có trách nhiệm, họ tỏ ra gắn bó với nhân dân, với dân tộc, không theo đuôi, không sợ hãi, không ham danh vọng tiền tài, những điều cực kỳ quý hiếm khi toàn đảng sa sút, mất uy tín, khi xã hội băng hoại khủng khiếp do nạn độc đảng, độc đoán dai dẳng gây nên.

Họ đã nói, đã góp ý kiến những gì? Xin mời các bạn mở mạng Viet-Studies để đọc nguyên văn 9 trang biên bản ghi ý kiến từng người. Cực kỳ sinh động, lý thú, mở mang hiểu biết cho người đọc.

Tôi xin tóm lược trung thực gọn ghẽ như sau.

Một nét chung là cả hơn 20 vị đều tỏ ra có tư duy độc lập, suy nghĩ kỹ lưỡng bằng cái đầu tỉnh táo riêng của chính mình, nhưng lại đạt đến sự đồng thuận đến kỳ lạ. Mỗi vị phát biểu sau đều nói lên sự đồng ý sâu sắc với những ý kiến phát biểu trước, chỉ nói thêm những điều mới mẻ hay nhấn mạnh thêm, bổ sung thêm ý của người phát biểu trước. Không có ý nghĩ, quan điểm nào trái nhau giữa hơn 20 vị tham dự hội thảo.

Nét nổi bật thứ 2 là hầu hết những đường lối, chính sách then chốt, chủ yếu nhất trong Cương lĩnh và Chiến lược do Bộ Chính Trị hiện tại và ban chấp hành trung ương đương nhiệm thông qua trong những kỳ họp 11 và 12 khóa X đều bị bác bỏ và phê phán rất thẳng thắn, đúng mức. Tất cả đều cho rằng đường lối “kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin” là sai lầm, giả dối, nguy hiểm vì Mác mắc nhiều sai lầm cơ bản (như cổ súy cực đoan đấu tranh giai cấp, căm thù quyền tư hữu, tiêu diệt sở hữu cá nhân, thổi phòng một cách cực đoan sở hữu nhà nước), do đó đã phá sản hoàn toàn ở Ðông Âu, Liên Xô, và tàn phá nền kinh tế các nước XHCN, trong đó có Việt Nam.

Tất cả đều cho rằng đường lối “kiên định chủ nghĩa xã hội” cũng là sai lầm, giả dối vì chủ nghĩa xã hội hiện thực từng áp dụng ở hơn một chục nước (ở Việt Nam từ 1960 đến nay) đều thất bại, phá sản hiển nhiên. Còn chủ nghĩa xã hội trước mắt và tương lai, gắn liền với kinh tế thị trường, thì chưa ai hình dung ra sao, làm sao mà thực hiện được. Ðây là một quan điểm ảo tưởng, viển vông, lừa dối, không khoa học.

Còn mục tiêu xây dựng một xã hội Dân chủ, Bình đẳng, Hiện đại, Văn minh chỉ là nói suông, là bánh vẽ, nhằm lừa dối nhân dân và tự lừa dối mình, vì kèm theo không có những biện pháp hiện thực để thực hiện. Ðặc biệt khái niệm dân chủ - dân chủ trong xã hội và dân chủ trong đảng - là vấn đề then chốt nhất, cần thực hiện cụ thể rõ ràng thì lại không có biện pháp thiết thực.

Tất cả các vị tham gia hội thảo đều nhất trí cho rằng vấn đề chính trị lớn nhất, cơ bản và cấp bách nhất là đổi mới hệ thống chính trị, là thay đổi cơ chế lãnh đạo của đảng và nhà nước, vì tổ chức hệ thống cai trị, cầm quyền hiện nay quá cũ kỹ, không hợp lý, không hợp pháp, vai trò của Quốc Hội được xác định trong Hiến pháp là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước nhưng thực tế lại không có thực quyền, việc gì cũng phải chờ quyết định của “Thường vụ Bộ Chính Trị”, mà nhóm người này bao biện, ôm đồm, trình độ kém, không do dân cử, không có quyền gì theo Hiến pháp hay pháp luật.

Về kinh tế, có rất nhiều ý kiến mạnh bạo mới mẻ. Tất cả các vị đều cho rằng quan điểm coi hình thức “sở hữu quốc doanh đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế” là sai lầm lớn, nguy hiểm, tai hại, trái với quan điểm bình đẳng trước pháp luật giữa mọi hình thức sở hữu. Sự phá sản, lỗ nặng của biết bao tổng công ty, tập đoàn kinh tế quốc doanh chưa đủ để mở mắt những người viết dự thảo hay sao?

Việc các bộ từ bỏ vai trò đề ra và quản lý việc thực hiện chính sách, lại chỉ chăm lo làm cái việc điều hành các tổng công ty quốc doanh là một lệch lạc tệ hại nguy hiểm.

Việc hạn chế trên thực tế hoạt động kinh doanh của tư nhân, ngăn cản tư nhân lập những tổng công ty hùng mạnh cũng như vừa và nhỏ... như ở Nhật Bản, Nam Triều Tiên, v.v. là một sai lầm nghiêm trọng, coi nhẹ động lực kinh doanh tư nhân hợp pháp, kìm hãm động lực vô tận của nền kinh tế quốc dân.

Nhiều đại biểu vạch rõ các quan chức ở các bộ mê say tổ chức các công ty quốc doanh vì đó là “sân sau” làm ăn, lũng đoạn, thu lợi phi pháp, làm giàu bất chính của các quan chức đương quyền.

Có đại biểu nêu lên việc Chiến lược 10 năm đưa Việt Nam lên hàng ngũ một nước công nghiệp, với bình quân giá trị sản phẩm hàng năm là 3,000 đôla là một điều mỉa mai chua chát, vì Hungary từ năm 2009 đã đạt 15,000 đôla. Ðã vậy không tìm ra chỗ nào ghi biện pháp cụ thể, bằng những bước đi nào, để hiện đại hóa nền công nghiệp nước ta.

Tất cả các vị đều cho rằng vấn đề nông dân đã bị bỏ qua một cách nguy hiểm vì nông dân vẫn chiếm gần 70% số dân, quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất vẫn mù mờ - “sở hữu toàn dân” kỳ quặc, không giống nước nào, không quan tâm thực sự đến đại đa số dân cư, từng được hứa hẹn về liên minh công nông mà không có nội dung, biện pháp thực hiện.

Cuộc hội luận báo động về nạn tham nhũng bất trị, về đạo đức xã hội sa sút thê thảm, về nền giáo dục bế tắc mà Cương lĩnh và Chiến lược chỉ đưa ra vài khẩu hiệu cũ kỹ, không hiệu quả.

Tất cả đều phê phán các văn kiện dài lê thê mà rỗng, đặc biệt là xa rời thực tế, xa rời cuộc sống, xa rời nhân dân, nhấn mạnh giai cấp mà coi nhẹ dân tộc.

Về đường lối đối ngoại, tất cả tham luận đều phê phán quan điểm đối với Trung Quốc không rõ ràng, như kiêng kỵ, ấp úng, e ngại, sợ sệt. Sao không đàng hoàng nói điều cần nói, cần bàn bạc trong đảng, trong xã hội, minh bạch công khai, đặc biệt là lúc này, khi có vấn đề biển Ðông...

Sau khi phát biểu ngay thật góp ý xây dựng, trong thời gian cuối, các đại biểu cho rằng các văn kiện đều chứa quá nhiều sai lầm, mâu thuẫn, hầu hết sai lầm lệch lạc, thiếu sót là trong đường lối, chính sách, trong các quan điểm cơ bản. Coi như những cột cái của một ngôi nhà đều ọp ẹp, đổ gãy.

Mọi người cho rằng các văn kiện cần phải viết hẳn lại, không thể sửa chữa nhỏ, thêm bớt bộ phận.

Cũng có ý kiến trước khi chia tay là nếu không kịp viết lại thì thà rằng khất lại một thời gian, còn hơn là thông qua những dự thảo yếu ớt, giáo điều, sai lạc đầy rẫy như thế này.

Một đại biểu bi quan cho rằng lãnh đạo hiện nay không có khả năng lắng nghe và tiếp thu lẽ phải, trong khi các văn kiện đại hội XI là thụt lùi rõ ràng so với văn kiện các đại hội IX và X.

Cũng có một đại biểu trong giây phút cuối nghĩ ra một sáng kiến là chẳng lẽ khoanh tay để cho tình hình đất nước tiếp tục sa sút, suy đồi, bế tắc với vô vàn thảm họa to lớn hơn, toàn dân phải gánh chịu, nên chăng cần có một lá cờ, nghĩa là một lực lượng, một tổ chức trong sáng bảo vệ và quảng bá những chính kiến đúng đắn, xây dựng, được nghiền ngẫm kỹ, vừa được phát biểu trong cuộc hội thảo rất có giá trị này. Riêng ý này chưa được bàn thêm.

Mong rằng Bộ Chính Trị và Học Viện Chính Trị - hành chính quốc gia gồm những cây bút tin cẩn của Bộ Chính Trị, phản biện được những phản biện của cuộc hội thảo này, có đủ lý lẽ để giữ nguyên các văn kiện mà Bộ Chính Trị vừa mời toàn dân góp ý, hạn cuối là ngày 30 tháng 11 năm nay.

Có mà đội đá vá trời! Tôi nghĩ thế.

Thật đại phước cho dân tộc và nhân dân ta, trong cơn nguy biến, vẫn còn một “túi khôn dân tộc” chất lượng cao đang dấn thân cho Ðại nghĩa Dân tộc.

Hy vọng còn nhiều “túi khôn” nữa.

Một Xã hội Dân sự có chất lượng ngày càng cao, số lượng ngày càng đông, mang nhiều màu sắc, đang vẫy gọi nhau, khoác vai nhau, đồng hành trên con đường cứu nước. Ðẹp quá!

(Nguồn: VOA)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Cảm nghĩ về lá cờ
Lê Thiên
Mới ngày nào chúng ta cùng vui xuân Canh Dần! Bây giờ lại sửa soạn đón xuân Tân Mão!
Xin được có đôi cảm nghĩ về Cờ Vàng ba sọc đỏ trong các sinh hoạt của người Việt tị nạn tại hải ngoại vào các dịp sinh hoạt lễ hội truyền thống nói trên.
Mỗi năm vào dịp Tết Nguyên Đán, không phải chỉ người Việt Nam trong nước, mà người Việt hải ngoại khắp năm châu cũng háo hức mừng Xuân dân tộc! Cái Tết cổ truyền rực rỡ làm sao! Mà cũng thân thương làm sao! Nào bánh tét, bánh chưng! Nào củ cải dưa hành! Chén tạc chén thù! Rộn ràng câu chúc tụng! Rồi Hội chợ, Múa lân, Văn nghệ! Nhộn nhịp vui vẻ! Tín đồ các tôn giáo vui xuân không quên Chúa, Phật, Nhà thờ, Nhà chùa để cầu nguyện tạ ơn và cầu cho quốc thái dân an…
Tuy nhiên, đằng sau niềm vui ngày hội tụ cổ truyền dân tộc đầy ý nghĩa ấy dường như thấp thoáng những giọt nước mắt không muốn chảy mà vẫn cứ tuôn! Khóc tủi cho kiếp lưu đày! Khóc thương cho những tình cảm thiêng liêng vỡ vụn! Đau đớn làm sao trước bao nghịch cảnh của mảnh đời tị nạn!
Lá Cờ Vàng ba sọc đỏ đã từng dong ruổi theo từng bước chân người tị nạn trôi nổi đó đây, từng một thời được nâng niu trân trọng, nay dường như đang rơi vào hiện tượng bị ruồng rẫy hắt hủi một cách thảm hại bởi một thiểu số cũng đã từng trốn chạy hay ít ra là thành viên của gia đình hay gia tộc những người tị nạn chính danh, được sự che chở bảo bọc để có mặt trên những quốc gia tạm dung hôm nay.
Điều nghịch lý trớ trêu là trong khi tại nhiều các quốc gia người Việt Nam đang tạm dung, Cờ Vàng ba sọc đỏ được chính thức công nhân ít ra ở cấp tiểu bang, tỉnh thành hay thành phố thì trong nội bộ Cộng đồng Việt Nam lại có dấu hiện nổi lên một phong trào dẫn dắt người khác “quên lãng” hoặc xa lánh lá cờ ấy.
Cả một vài người khi nắm được chút quyền bính trong một khu vực nào đó cũng tìm cách loại trừ Cờ Vàng ba sọc đỏ ra khỏi vùng ảnh hưởng của mình. Hoặc cũng có một số cá nhân vì tư lợi đang tìm cách tác động người khác vô hiệu hóa sự hiện diện của Cờ vàng ba sọc đỏ ở một số nơi sinh hoạt của tập thể người Việt mà phần lớn là người Việt tị nạn Cộng sản, đặc biệt là tại các cơ sở tôn giáo.
Dĩ nhiên, những người chống sự có mặt của Cờ Vàng có nhiều lý lẽ để biện minh cho thái độ của mình mà có người gọi là thái độ “trở cờ”. Nhưng dù với bất cứ lý do gì, việc đối xử phũ phàng với lá Cờ Vàng ba sọc đỏ là một xúc phạm nặng nề tới tình cảm thiêng liêng của khối đa số người Việt hải ngoại là những người tị nạn Cộng sản.
Thống kê cho thấy hiện nay trên thế giới có khoảng 2 triệu người Việt sống tại Hoa Kỳ, Canada, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Pháp. Đức, Anh, Bỉ, Thụy Sĩ, Na Uy, Hòa Lan, Nhật... Trong số 2 triệu người Việt này, có hơn 90 phần trăm là thành phần được các quốc gia trên nhìn nhận tư cách tị nạn Cộng sản.
Ai cũng biết người tị nạn là những người quốc gia Việt Nam phụng sự Tổ Quốc Việt Nam dưới ngọn Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ chống lại chủ nghĩa vô thần và chế độ Cộng sản bạo tàn! Đặc tính di dân của người Việt hải ngoại là TỊ NẠN CỘNG SẢN chứ không phải vì lý do kinh tế hay vì mục đích nào khác. Là tị nạn Cộng sản, người tị nạn đương nhiên ĐỐI LẬP (chưa nói tới đối đầu hay đói kháng) với chế độ đang cầm quyền trên đất nước mình. Người tị nạn tất nhiên không thể nào chấp nhận cờ đỏ sao vàng của chế độ sắt máu mà họ đối lập.
Người CSVN trên thực tế chỉ biết phụng sự cho quyền lợi Cộng sản Quốc tế và hoàn toàn làm theo lệnh của Nga Cộng và Tàu Cộng, sát hại tàn nhẫn người đồng bào đồng loại. Họ dương cao cờ đỏ búa liềm và tung hê “Chủ nghĩa Mác-Lênin bách chiến bách thắng.” Cờ đỏ sao vàng chỉ rập khuôn cờ đỏ búa liềm và chịu sự thống lĩnh của cờ búa liềm ấy! Do tính chất lệ thuộc toàn diện của nó đối với cờ đảng, cờ đỏ sao vàng không thể nào được coi là biểu tượng của Tổ quốc, nên trong thực tế, cờ đỏ sao vàng không có tư cách đại diện cho dân tộc Việt Nam, ngay ở trong nước, nói chi tại hải ngoại. Chẳng những lệ thuộc cờ đảng CS, cờ đỏ sao vàng còn lệ thuộc cờ đỏ nhiều sao vàng của Trung cộng. Việt Nam bị đảng CSVN biến thành “tiểu tinh” CHƯ HẦU trong 4 tiểu tinh thuộc quốc chầu quanh Đại Hán Đỏ.


Trung cộng Việt cộng Cộng đảng

Cờ đỏ sao vàng có được trưng bày đâu đó ngoài Việt Nam, tại một quốc gia hay ở một số trụ sở tổ chức quốc tế thì nó cũng chỉ là biểu tượng của chế độ khai sinh ra nó, chứ không hề mang tính dân tộc. Cũng giống một Chủ tịch nước của Việt Nam Cộng sản từ trước đến nay chỉ là một thứ bù nhìn làm cảnh chứ không hề nắm lấy quyền lực quốc gia vì trong thực tế mọi quyền lực trị nước đều thuộc về Đảng dưới chế độ Đảng trị!
Trong khi đó dưới chế độ quốc gia lấy dân tộc làm chủ nghĩa, Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ không hề bị chi phối hay lũng đoạn bởi một phe phái chính trị hay chính đảng nào. Cờ Vàng ba Sọc đỏ vững vàng liên tục dưới ba thể chế (Quốc Gia của Bảo Đạo, Việt Nam Cộng Hòa I của TT Ngô Đình Diệm và VNCH II thời các tướng lãnh nắm quyền). Thế nên Cờ Vàng là cờ của chính nghĩa, là biểu tượng của quốc gia và dân tộc.
Ngoài ra, người Việt Nam quốc gia có lý do đầy thuyết phục để mà trung thành với Cờ Vàng ba sọc đỏ. Lá cờ này là biểu tượng thiêng liêng của họ trải qua nhiều giai đoạn lịch sử và lưu truyền từ nhiều thế hệ khác nhau. Người Việt quốc gia chiến đấu dưới ngọn cờ vàng này để giành độc lập từ tay thực dân Pháp. Hàng vạn người liều chế để bảo vệ lá cờ này.
Lá Cờ Vàng ba sọc đỏ cũng theo chân người Việt quốc gia chống lại Cộng sản vô thần khát máu trên mọi chiến tuyến hay chiến hào. Những người Việt Miền Nam Việt Nam còn sống đến hôm nay là nhờ các Chiến sĩ quốc gia đã hy sinh dưới lá cờ chính nghĩa này để bảo vệ họ.
Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ cũng hòa chung cuộc vật lộn của người Việt quốc gia đi tìm Tự do, dân chủ, nhân quyền trên những mãnh đất tạm dung họ đã lựa chọn. Người Việt quốc gia tị nạn mang Cờ vàng theo mình, lấy Cờ Vàng làm bảo vật thiêng liêng của cuộc sống lưu đày.
Đó KHÔNG PHẢI LÀ THÓI ĐỜI!
Mà đó là tình cảm thiêng liêng cao quý đáng được trân trọng!
Đúng! “Cờ Vàng là CĂN CƯỚC của người Việt tị nạn” như một số người đã minh thị.
Ai không ưa Cờ Vàng ba sọc đỏ, người ấy có cái quyền riêng tư của mình. Nhưng phỉ báng Cờ vàng ba sọc đỏ bằng lời nói hay hành động hoặc tìm cách loại trừ nó là sự cố tình gây chia rẽ trong hàng ngũ người tị nạn ở hải ngoại, là đấm vào mặt, đâm vào tim những người đang trân trọng lá Cờ thiêng liêng ấy.
Người Việt nào tìm cách ngăn chặn hay xua đuổi sự hiện diện của Cờ Vàng tại bất cứ cuộc sinh hoạt hay lễ hội nào của người Việt tị nạn cùng con cháu họ, có lẽ đừng nên có mặt trong tập thể người Việt tị nạn ở hải ngoại, trừ phi Đảng CS từ trong nước “”cài đặt” họ len lỏi làm công tác tuyên vận, đặc biệt là “kiều vận” và “kỳ vận” xâm nhập để quấy rối hàng ngũ người tị nạn.
Giả sử người Việt tị nạn CS tại hải ngoại chấp nhận để cho cờ đỏ sao vàng hiện diện trong các sinh hoạt lễ hội này thì hóa ra người tị nạn đã tự mình xé bỏ căn cước của mình? Dứt khoát không bao giờ xảy ra chuyện xoay chiều đổi hướng trái khuấy vô liêm sỉ như vậy.
Nhưng dù sao CSVN cũng đang mở cờ trước hiện trạng chia rẽ trong Cộng đồng người Việt tị nạn khiến có người dựa vào đó để loại trừ Cờ vàng với chiêu bài “phi chính trị” nhân danh xã hội/tôn giáo không “làm chính trị,” để không Cờ Vàng vắng bong trong một số sinh hoạt của Cộng đồng người Việt tị nạn tại hải ngoại.
Cán bộ CSVN sẽ vỗ tay reo mừng biết mấy khi thấy trong các sinh hoạt lễ hội của người Việt tị nạn tại hải ngoại không còn bóng Cờ Vàng. Dĩ nhiên, họ sẽ nhảy cẩng lên tuyên truyền rằng người tị nạn “vong quốc” vì từ chối bất cứ lá cờ nào biểu thị tinh thần quốc gia, trong khi các thành phần di dân khác như người Ý, người Ái Nhĩ Lan, người Haiti, người Nigeria… ở Mỹ lúc nào cũng dương cao ngọn cờ thiêng liêng của dân tộc họ.
Nếu người Việt hải ngoại từ chối trương Cờ Vàng ba sọc đỏ trong các sinh hoạt lớn của mình thì tức là tự xóa bỏ chính nghĩa quốc gia, chối từ cội nguồn dân tộc máu đỏ da vàng Nam-Trung-Bắc một nhà, và cũng đánh mất luôn lý tưởng đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền trên quê hương mình. Mất Cờ vàng, chúng ta và con cháu chúng ta sẽ đánh mất tình yêu đối với Tổ quốc và dân tộc mình.
Vì vậy, bằng mọi giá, người tị nạn Cộng sản ở hải ngoại kiên quyết bảo vệ đến cùng màu cờ sắc áo của mình: Màu cờ chính nghĩa quốc gia và sắc áo lý tưởng dân tộc!
Sự tàn ác của chế độ CS trên đất nước Việt Nam đã và hiện vẫn còn đang làm cho nhân dân trong nước khiếp sợ. Từ đó, người dân càng hãi hùng khi nhìn thấy bóng dáng cờ đỏ sao vàng. Những vần thơ sau đây mà nhà thơ Trần Dần đã viết ra vào năm 1956 ngay tại Hà Nội, thủ đô của nước VNDCH, hiện vẫn còn giá trị tại Việt Nam là một bằng chứng cụ thể:
Tôi bước đi
Không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ.


Trần Dần đã bị tù tội và hành hạ suốt đời, mất quyền làm nhà văn, mất quyền công dân và mất cả quyền làm người vì những dòng thơ trên. Và ngày nay, người dân trong nước chẳng những đồng cảm mà còn hân hoan chia sẻ biểu đồng tình với những dòng thơ bất hủ ấy.
Trong khi đó, nhà văn Chương Khuê, lại có những dòng văn súc tích trân trọng đối với Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ mà đọc lên người Việt tị nạn ở hải ngoại ai cũng cảm thấy ngậm ngùi:
“Cờ Vàng ba sọc đỏ.
Cờ đã quen ta từ những ‘ngày xưa còn bé’ sáng sáng nơi sân trường vang vang ‘Này công dân ơi …’ ;
Cờ thân thương gần gụi vờn hôn lên mặt lão trong toán Quốc Quân Kỳ những dịp diễn hành lễ trên Đồi 4100 Thủ Đức.
Cờ phất phới chào mừng những đoàn quân chiến thắng trở về .
Cờ tung bay ngạo nghễ trên cổ thành Quảng Trị…” (Chương Khuê: Hai người cựu chiến binh. Bacaytruc 11/112010).
Đối nghịch với cờ đỏ sao vàng, Cờ Vàng ba sọc đỏ gieo vào lòng người Việt quốc gia những ấn tượng hết sức thân thương:
Cờ vẩy gọi.
Cờ đón chào.
Cờ vinh danh.
Cờ reo vui .
Cờ ngậm ngùi thương tiếc… (Chương Khuê, như trên).
Nhưng thảm thương thay: Cờ bị xỉ nhục, phanh thây … (Chương Khuê, như trên).
Vâng! Cờ Vàng ba sọc đỏ đã bị Cộng sản hạ nhục và phanh thây trong nước sau Tháng Tư Đen 1975, nhưng Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đã hồi sinh cùng đoàn lữ hành người Việt tìm đất dung thân nơi hải ngoại, tưởng đâu yên ổn nơi đất khách quê người, hóa ra bây giờ đang bị một số người âm mưu ám hại và… “phanh thây” trong sinh hoạt xã hội-tôn giáo của Cộng đồng!
Cầu mong sao Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ không bị xua đuổi tàn nhẫn ra khỏi các nhà thờ, nhà chùa người Việt lưu vong! Các Cha, các Thầy chẳng phải là người tị nạn sao? Hoặc ít ra các ngài cũng là con cái, cháu chắt hay thân bằng quyến thuộc của người tị nạn hay của những người đã hy sinh dưới ngọn Cờ vàng?
Mong đừng ai tàn nhẫn xử tệ với Cờ Vàng trong các sinh hoạt Cộng đồng! Mong những người tị nạn hay những ai được người tị nạn đón nhận để có mặt ở hải noại này đừng vì “chủ nghĩa duy lợi” (cách nói của Lm Nguyễn Thái) mà phụ bạc Cờ Vàng, phụ bạc những Chiến sĩ quốc gia đã hy sinh vì lý tưởng Cờ Vàng để gìn giữ chúng ta tồn tại tới hôm nay! Như vậy mới thực là uống nước nhớ nguồn! Mới thực là ăn cây nào rào cây nấy! Không ăn cháo đá bát!
Xin cúi đầu thán phục và bày tỏ lòng cảm mến sâu xa đối với linh mục Nguyễn Thái về bài giảng của ngài “Tai hại của chủ nghĩa duy lợi” ngày 12/11/2010 trong Thánh lễ tại Nam Cali cầu hồn cho Gioan Baotixita Ngô Đình Diệm và bào đệ Giacôbê Ngô Đình Nhu cùng các Chiến sĩ VNCH đã hy sinh vì Tổ quốc, Dân tộc và cho sự sống còn của chúng ta. Bài giảng của lm Thái thâm thúy và sâu. Tuy nhiên, để kết thúc bài viết, chỉ xin mượn một đoạn ngắn rút ra từ bài giảng của Cha Thái sau đây:
“Trong ngày tuởng niệm và cầu nguyện cho cố TT Gioan Baotixita Ngô Ðình Diệm, bào đệ Giacôbê Ngô Ðình Nhu, và các chiến sĩ VNCH, chúng ta hãy tri ân tinh thần phục vụ vô vị lợi, sự hy sinh to lớn và cao cả của các ngài cho quê hương đất nuớc.
Ðồng thời, chúng ta cũng phải noi gương các ngài mà vượt qua các tư lợi, các dị biệt, các hàng rào chia rẽ mà đoàn kết, yêu thương, biết tôn trọng nhân phẩm và các giá trị đạo đức của con người, biết đối xử tử tế với nhau, biết phục vụ lẫn nhau.”
Tất cả chúng ta, người tị nạn CSVN tại hải ngoại cùng chung lòng chung sức dưới một ngọn cờ: Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Chỉ có lá cờ này có tư cách đại diện ba miền Nam-Trung-Bắc, là Cờ của chính nghĩa, của Dân tộc và Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Xua đuổi cờ này chỉ là việc làm của một số tay sai Cộng sản hoặc là của thành phần vô liêm sỉ chạy theo "CHỦ NGHĨA DUY LỢI” mà thôi.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Nhân phẩm con người
Sunday, November 21, 2010

Blogger Mẹ Nấm
(Trích menam0.multiply.com)
Nhân phẩm chính là những giá trị phản ánh và tạo nên phẩm chất của từng cá nhân. Mỗi con người đều có những giá trị nhất định. Không ai có quyền chà đạp hay tước đoạt nhân phẩm của người khác. Ðó là bài học “Tôn trọng nhân phẩm” mà tôi đã được học ngày trước, còn thực tế hiện nay thì sao?

Xem báo, coi tin tức hàng ngày, người ta dễ dàng nhận thấy rằng, các giá trị căn bản của con người trong xã hội Việt Nam hiện tại đang bị xem nhẹ.

Báo chí và truyền thông có thể dễ dàng hạ nhục người khác bằng nhiều cách thức, nhiều thủ đoạn.

Những người thừa hành luật pháp có thái độ coi thường nhân phẩm của người khác. Tôi không phát biểu điều này chỉ vì sau khi xem đoạn clip hạ nhục một cô gái điếm đang gây nhiều tranh cãi trên Facebook của bạn bè.

Ðây là những trải nghiệm mà tôi đã chứng kiến hàng ngày.

Nếu ai đã bị tạm giữ (giam), hẳn sẽ trải qua cái cảm giác bị làm nhục ngay ở ngày đầu tiên mới bước chân vô trại giam bằng hình thức tra hỏi và lục xét thân thể trước sự chứng kiến của người thừa hành công vụ, đó là hình thức làm nhục con người vô hình trung tước đoạt luôn ý thức về bản thân của người bị làm nhục.

Tôi còn nhớ, khi bị gọi đi chụp hình và lăn tay để lưu hồ sơ trong trại tạm giữ, tôi đã phản ứng, vì hôm đó là ngày thứ 6 của hạn tạm giữ, và tôi chưa bị kết án. Nhưng họ vẫn tiến hành. Và tôi, đã có vài tấm hình mỉm cười trong chiếc áo tù. Trong giai đoạn chưa có sự kết án của tòa án, thì mọi công dân vẫn có quyền bình đẳng trước pháp luật và xã hội, vậy mà, vô tình hay cố ý, người ta đã tước đi quyền làm người của những người dính dáng đến luật pháp trước phiên tòa xét xử?

Làm nhục người khác khi họ phạm tội (lỗi) là một cách cư xử thô bạo và sẽ làm mất đi ý thức về quyền con người, khiến cho tính hướng thiện trong mỗi con người bị mài mòn dần đi, đó là cách tiêu diệt một xã hội nhân văn hữu hiệu.

Vậy thì kêu gọi xây dựng một xã hội tương thân, tương ái để làm gì, khi luôn tự cho mình cái quyền xúc phạm và chà đạp lên nhân phẩm của người khác?

Xã hội chúng ta ngày càng trở nên vô cảm hơn, bởi vẫn còn có nhiều người cho rằng tước đoạt nhân phẩm của những người phạm tội (lỗi) là chuyện đương nhiên phải có.

Nếu con người là trung tâm phát triển của xã hội, thì con người được quyền sống xứng với phẩm giá của mình

Không một lý lẽ nào có thể biện minh cho việc chà đạp lên phẩm giá của con người ở bất kỳ hình thức nào.

Quyền căn bản của con người không phải là quà tặng của bất kỳ một ai trên trần gian này.

Quyền căn bản đó không phải đi xin xỏ hay chờ đợi thời gian hay tranh đấu mới có được.

Quyền căn bản của con người được Tạo Hóa ghi khắc nơi phẩm giá của con người, gắn liền với bản tính của con người và đó là những quyền bất khả xâm phạm!

Quyền căn bản của con người cần phải được nhìn nhận và thăng tiến ngay cả về mặt pháp lý hay hiến pháp.

Một quốc gia, một chính thể tự cho mình cái quyền xâm phạm những quyền căn bản này của con người đó là một chính thể, quốc gia tàn ác, vô nhân tính, độc tài, không xứng với một quốc gia văn minh tiến bộ, dân chủ, pháp quyền và hiến pháp.

Một quốc gia văn minh, dân chủ và pháp quyền phải biết tự giới hạn chính mình trước những quyền căn bản này của phẩm giá con người.

Chính phẩm giá con người là thước đo mức độ nhân bản, pháp quyền và hiến pháp của một quốc gia là điểm quy chiếu tối hậu cho mọi mục tiêu xã hội.

Post Reply