QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tin mới nhận từ Việt Dũng , Mũ Xanh Cao Xuân Huy đã ra đi....
Vao luc 4:57 phut chieu nay Nov 12 2010.


Image

Tháng Ba Gãy Súng

1.

Tôi không phải là một nhà văn, mà tôi chỉ là một người lính, lính tác chiến đúng nghĩa của danh từ, và những điều tôi viết trong quyển sách này chỉ là một câu chuyện, câu chuyện thật một trăm phần trăm được kể lại bằng chữ. Tôi viết những điều mà những thằng lính chúng tôi đã trực tiếp tham dự nhưng không ai viết lại, trong khi nhiều người đã viết về những chuyện chiến trường thì hình như chẳng có ai dự.

Trong lứa tuổi của tôi, lứa tuổi dưới mười khi theo gia đình di cư từ Bắc vào Nam, ngoại trừ những người có thân nhân ruột thịt bị giết bởi Việt Cộng, còn hầu hết, có bao nhiêu người thực sự căm thù Việt Cộng đâu, vì rõ rệt một điều là từ lứa tuổi tôi trở xuống, có đứa nào biết Việt Cộng là cái gì đâu. Cũng y như lứa tuổi dưới mười khi theo cha mẹ qua Mỹ từ năm 1975 ở đây bây giờ. Cũng thù ghét Việt Cộng vậy, nhưng chỉ là cái thù gia truyền, cha mẹ thù ghét thì mình cũng thù ghét theo thế thôi, chứ chẳng có gì là sâu đậm cả. Cho đến khi lớn lên, đầu óc đã tạm đủ để suy xét thì khổ một nỗi, hệ thống tuyên truyền của Việt Nam Cộng Hòa lại có giá trị phản tuyên truyền nhiều hơn là tuyên truyền. Cho nên khi vào quân đội, tôi tình nguyện vào đơn vị tác chiến thứ thiệt vì căm thù kẻ địch thì ít mà vì cái máu ngông nghênh của tuổi trẻ, vì bị kích thích bởi những cảm giác mạnh của chiến trường thì nhiều.

Tuy nhiên, vì ở một đơn vị thường xuyên tác chiến, cùng gian nguy, cùng sống chết với nhau nên tôi đã gắn bó với bạn bè, đồng đội trong đơn vị như với anh em ruột thịt. Tôi yêu đơn vị tôi, tôi yêu màu mũ, màu áo tôi, tôi yêu thuộc cấp tôi và tôi kính trọng thượng cấp tôi. Tôi bình thản chấp nhận mọi thói hư tật xấu của thượng cấp và thuộc cấp, và chính tôi cũng có quá nhiều thói hư tật xấu.

Nhưng, khi hai ông xếp lớn của tôi là đại tá Lữ đoàn trưởng và trung tá Lữ đoàn phó bỏ Lữ đoàn gồm bốn Tiểu đoàn tác chiến và các đơn vị phụ thuộc tổng cộng vào khoảng trên dưới bốn ngàn người trong cơn quẫn bách để chạy lấy thân thì lòng căm hận của tôi đột nhiên bùng dậy. Tôi giết Việt Cộng không gớm tay nhưng không bởi lòng căm thù vì giữa chúng tôi và Việt Cộng đã có lằn ranh rõ rệt, hai bên chiến tuyến hẳn hòi, hễ cứ thấy mặt nhau là giết, dùng mọi mưu mọi cách để giết nhau. Còn đằng này, vừa mất niềm tin vừa tủi nhục vì những người mình vừa kính trọng vừa phải tuân lệnh một cách tuyệt đối.

Làm thuyền trưởng thì phải sống chết theo tàu, làm đơn vị trưởng thì phải sống chết theo đơn vị. Tôi muốn nói đến tinh thần trách nhiệm của người chỉ huy. Người có quyền hành mà không có trách nhiệm nào có khác gì kẻ phản bội. Chúng ta thua không phải vì kẻ địch mạnh mà vì trong hàng ngũ chúng ta có quá nhiều kẻ phản bội và hèn nhát. Chính vì lòng thù hận sự hèn nhát và vô trách nhiệm của cấp chỉ huy nên hình ảnh và diễn tiến những ngày cuối cùng trước khi cả Lữ đoàn tan rã và bị bắt bởi khoảng hơn một đại đội du kích Việt Cộng vào nửa cuối tháng Ba năm 1975 đã như một cuốn phim nằm in trong trí nhớ của tôi, chỉ cần một cái ấn nút là được chiếu lại một cách rõ nét với đầy đủ những suy nghĩ và phản ứng của tôi, với từng diễn tiến nhỏ mà tôi đã phải trải qua.

Tôi ôm cái kỷ niệm đau đớn và tủi nhục này cả chục năm nay, qua những năm tù đày, qua những ngày tháng lang thang ở trại tỵ nạn, qua đến Mỹ, tôi đọc được lời tuyên bố của một ông tướng cũ nào đó trên báo đại khái “Ðể mất nước là tội chung của mọi người, làm lớn thì tội lớn, làm bé thì tội bé”. Tôi nghĩ ngay đến một điều là những thằng đâm sau lưng chiến sĩ có tội, và những thằng chiến sĩ đưa lưng cho xếp của mình đâm cũng có tội luôn. Ðiều này đã là cái ấn nút để tôi kể lại câu chuyện này.

Ðiều tôi muốn nói trong quyển sách này là không ai là không quay lại nhìn chỗ mình vừa ngã, và cũng không ai là không quay lại nhìn đống phân mình vừa thải. Ngã là lỗi của chính mình, và phân có thối cũng là phân của mình, vậy mà tại sao cả chục năm nay vẫn không thấy ai dám quay nhìn lại cái lỗi đã làm cho mình ngã lên ngay trên đống phân của mình, mà chỉ có toàn những lời chửi bới và đổ lỗi cho người khác, can đảm lắm cũng chỉ dám nhận một cái lỗi chung chung “lớn lỗi lớn, bé lỗi bé” đúng theo cái kiểu “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”. Thằng thất phu còn có lỗi thì còn ai mà không có lỗi, tôi cũng đành có lỗi vậy.

Tôi không nhớ câu này của ai: “Cái đám quân thần của triều đình cũ chẳng có gì phải ngại cả, vì khi có quân có quyền trong tay họ còn chẳng làm được trò trống gì, thì bây giờ, chỉ còn trơ lại có mỗi cái thân giá áo túi cơm, hỏi rằng họ sẽ làm được gì hơn ngoài cái giá và cái túi”.
Ðâu phải đất nước ta là một bàn cờ để hễ đánh thua ván này, xóa đi xếp quân làm lại bàn khác mà tướng vẫn là tướng, quân vẫn là quân. Ðâu phải những con xe, con mã, con chốt đã chết đi đều có thể dựng đầu dậy để làm lại một trận mới.

Trí đã không mà dũng cũng không, chỉ có mỗi cái tài dở dở ương ương là sử dụng một cách bừa bãi cái dũng của người khác đến nỗi phải bỏ cả đất nước mà chạy, đánh lừa để bỏ hàng triệu thằng dám chiến đấu tới cùng vào trong những trại tù đỏ, vậy mà vẫn còn dám chường mặt ra đòi tiếp tục làm cha mẹ dân thì quả là quá lắm lắm. Cái dĩ vãng thối tha và hèn nhát thì dù cho người đương thời có thể bỏ qua, nhưng lịch sử đâu có tha thứ. Vẫn cái chính danh là chống Cộng nhưng cái ngôn của các ông trước kia làm xếp lớn đã không thuận rồi, bây giờ phải để cho lớp người mới. Với tư thế mới, họ mới là những người thuận ngôn. Danh chính ngôn thuận mới có thể thắng được Việt Cộng, khôi phục lại được đất nước. Những con chốt thấp cổ bé miệng, những thằng bị đè đầu sai khiến ngày xưa và những người mới lớn bây giờ mới có quyền nói và mới là người có tư cách làm.
Quyển sách này không hề là một tiểu thuyết mà là một hồi ký. Bởi vì tôi chưa từng là một người cầm bút và tôi cũng không biết cách sắp xếp câu chuyện như thế nào. Tháng Ba thì mọi người đã rõ, còn Gãy Súng, tôi muốn nói lên một điều đau lòng cho những thằng lính cầm súng, khẩu súng mà không có đạn thì giá trị không bằng một khúc củi mục, chính tôi đã dẫn đại đội xung phong lên chiếm mục tiêu mà chỉ bắn bằng mồm. Súng của chúng tôi có phải là đã bị bẻ gãy không khi mà vẫn có thể tiếp tế đạn cho chúng tôi để chúng tôi chiến đấu? Ai đã bẻ gãy súng của chúng tôi? Tôi đặt chữ Gãy Súng cho quyển sách này là như vậy.

Và tôi gọi Tháng Ba Gãy Súng là hồi ký vì tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm về những điều tôi viết, tất cả những địa danh, những tên người, tên đơn vị, tất cả những diễn tiến đều là thật, thật một trăm phần trăm. Tôi không lồng vào đấy bất cứ một hư cấu nhỏ nào, chắc chắn là tôi đã quên khá nhiều chi tiết, và với cấp bậc và chức vụ thấp kém của tôi, chắc chắn là có rất nhiều dữ kiện mà tôi đã không được biết. Tôi viết lại hoàn toàn sự thật những điều mắt thấy, tai nghe, những điều tôi đã nhận lệnh và đã thi hành.
Nếu Tháng Ba Gãy Súng là tiểu thuyết thì tôi lại phải thêm một câu màu mè đại khái “những nhân vật và những sự việc đều do sự tưởng tượng của tác giả, mọi sự trùng hợp chỉ là ngẫu nhiên ngoài ý muốn...”, trong khi tôi chỉ có một điều ngoài ý muốn là tôi đã không đủ khả năng để viết tất cả những điều tôi phải viết.

Cao Xuân Huy

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Chiến tranh nhìn từ nhiều phía Thư gởi nhà văn Cao Xuân-Huy nhân đọc lại Tháng Ba Gãy Súng

U..... ngày..... tháng 8 năm 2004
Kính gởi nhà văn Cao Xuân-Huy,

Thanh-Liêm, Công-Nguyên ở Mỹ là bạn với Như-Hùng ở bên Úc, ba người này lại là những Trung đội trưởng cùng đơn vị với anh trong những ngày đất nước còn giặc giã tơi bời. Mùa hè này, ba người ấy đã gặp lại nhau và có ghé thăm ao bông súng nhà tôi, nơi cánh rừng nằm cạnh xa lộ 93, về hướng nam, cách thành phố Boston có hơn vài mươi dặm...
Bên cái băng bằng đá có bám chút rêu xanh, ba người lính cũ chăm chăm nhìn mấy ngọn giả sơn nằm bên bờ hồ róc rách dòng suối nhỏ, thả hồn về những năm tháng hành quân vùng địa đầu hỏa tuyến, tựa hồ chuyện mới hôm qua. Riêng với anh chàng Công-Nguyên, tôi có dịp quen biết lâu đến hơn sáu bảy năm rồi, và được xem lại những tấm hình mặc áo quần nhà binh ngày xa xưa ấy; nay anh đã trọng tuổi hơn nhiều nhưng vẫn phảng phất chút gì của cá tính bất cần đời, dù khi màu tóc trắng lấn sân khá hỗn trên mái tóc đen thưa thớt yếu dần...
Tôi được nghe họ nhắc tới anh rất nhiều, nhắc tới Tháng Ba Gãy Súng, nhắc về cách trả lời của anh qua cuộc phỏng vấn với Trần Văn Thủy trong Nếu Ði Hết Biển đăng lại trên talawas, nhắc về những ngày ở Houston (Texas) mới hồi đầu tháng bảy năm 2004 này, nhắc về hồi chuông điện thoại reo từ miền Nam nước Mỹ, nhưng vùng Ðông Bắc Hoa Kỳ, nơi cánh rừng có ao bông súng nhỏ đang có vài bông trắng nhụy vàng vừa nở, có bụi chuối già hương vừa mới phát, bụi trúc Phật màu xanh xanh nghiêng bóng bên bờ hồ, vài gốc thiên tuế tuổi đời còn non, năm ba dề lục bình vừa nhú nụ hoa màu tím phơn phớt lợt, mấy cánh bèo tai tượng đang xanh màu, lác đác năm ba chòm u du (một loại đưng lác vùng nước ngập mà bên này người Nhật, người Tàu nơi các nhà bán cây cảnh thường gọi tên là“thủy trúc”), tất thảy những gì tôi có nơi đây nó mang đầy cái chất quê mùa mà tôi hằng nâng niu ấp ủ.... và tôi mãi mê săm soi những vật tưởng chẳng ra gì ấy nhưng đối với tôi là những người bạn tri kỷ một thời, và có lẽ suốt đời , nên tôi hụt mất một dịp để nghe Bùi Công-Nguyên giới thiệu tên anh trên đường dây viễn liên xa ngàn dặm.

Tôi là một người nhà quê rặt anh à! Rặt từ chân lông đến vết nứt bàn chân. Rặt từ mái tóc luôn tươm mùi khét nắng đến cái dáng quê mùa muôn thuở. Rặt từ giọng nói “cá rô” thành “cá gô.” Rặt từ “co ro” thành “cò rò.” Rặt từ con “cúm núm” chúng tôi ưa gọi tên “gà nước.” Rặt từ lúc đi học trường làng chưa lần nào dám “cọp-dê” hay “đánh phép,” nhưng biết sợ đòn mỗi lần thầy tôi mở sổ điểm danh. Và đặc biệt tôi rất sợ những bữa “cơm chùa” vào các ngày rằm, ngày vía lớn, vì người lớn làng quê tôi hay nhắc chừng “ăn cơm chùa lớn bụng.” Còn nhiều đặc điểm nữa mà không tiện thưa cùng anh vì không khéo mình lại đi xa về một loại hình tự vẽ chân dung mình qua những dòng chữ lê thê này...

Sở dĩ tôi tự giới thiệu một chút về tôi như vậy để anh thấy những gì hai anh Nguyên, Hùng kể lại với anh về tôi lúc các anh gặp lại nhau sau 30 năm cuộc chiến đã tàn là một sự thật, không thêm không bớt chút nào. Tôi mang niềm vui nhà quê tựa như anh lúc nào cũng mang trong tâm hồn mình niềm hãnh diện màu áo lính ngày xưa. Cái chất quê ấy dù hơn mười mấy năm sống ở đây, sao tôi thấy khó mà thay đổi được. Nó là cái chất rồi anh à! Ðã thành máu thịt của mình. Và không ai làm thay đổi được cái chất đó dù có pha chế theo phương pháp khoa học ngày nay dưới bất kỳ dạng thức nào. Ví như Tháng Ba Gãy Súng của anh, mấy năm trước tôi được Bùi Công-Nguyên giới thiệu tác giả là bạn của Nguyên, nó là cái chất của anh. Tôi đọc thử. Chưa thấy thấm. Lúc ấy, có lẽ vì mới chân ướt chân ráo trèo qua những bờ bi, kinh rạch của dòng sống mới, nên trong bụng tôi còn lu bu cơm ghe bè bạn từ xứ sở quê nhà đang mang nặng bên hông, nên đọc như không đọc . Rồi sau đó khá lâu, khoảng vài ba năm, Bùi Công-Nguyên lại nhắc tên anh và Tháng Ba Gãy Súng, còn dặn “ông thử đọc lại vì có tui trong đó.”

Thật sự, lúc ấy tôi cũng chưa có hứng để đọc lại anh Cao Xuân-Huy à! Vì một lẽ, tôi chưa thanh thản tâm hồn, đời sống với nhiều vật lộn, nên tôi cứ tự hứa với mình là sẽ có ngày rồi mình sẽ đọc. Và một lẽ khác là tôi quá sợ chiến tranh. Chiến tranh dù dưới bất cứ danh nghĩa nào tôi cũng sợ ráo trọi. Cuốn sách của anh là một phần còn sót lại của cuộc chiến hôm qua mà tôi còn hãi hùng. Nói gì cho xa xăm, sự có mặt của tôi và hằng triệu người khác rải rác khắp hoàn cầu, trong đó có các người bạn của anh cùng gặp lại tôi giữa cái nắng mùa hè khá nóng nơi này, cũng là do hậu quả của chiến tranh đó mà! Các anh ấy kể về những ngày trẻ dẫn lính qua những bãi chiến năm xưa. Còn tôi thì lại nhớ về những cánh đồng, ao vũng, đìa bàu nở đầy những bông hoa ngát thơm hương đồng nội cỏ. Chỉ riêng có mỗi cái là được sống theo sở thích thôi, đâu phải dễ, phải không anh? Vả lại, tôi nghĩ đâu có gì gấp gáp cho bằng manh áo miếng cơm nơi xứ xa lạ cảnh, lạ người này... Và rồi tôi có đọc lại thật, nhưng vẫn chưa thấy thấm được bao nhiêu...

Ðến mấy tháng gần đây, khi tuổi tôi lại già theo năm tháng, tóc bạc màu pha chút nắng hanh vàng, và da nhăn tóp với nhiều chấm đen da mồi điểm xuyết trên gương mặt khô cằn, như một dịp nhớ về 30 năm trước, lúc trận chiến sắp tàn, tro than cũ giờ chắc cũng tàn theo năm tháng, và bụi thời gian đã chôn chặt những ký ức lại chồng chất dày thêm, tình cờ tôi mới mò vô talawas, và lại thấy đứa con của anh đang giỡn nơi căn gác hẹp ấy. Và tôi bắt đầu lại từ đầu, tò mò đọc những dòng chữ của anh liên tục cả tuần. Nhưng thú thật với anh, tôi chưa dám có ý nghĩ gì về đứa con mà anh cho rong chơi trên đó, chỉ rù rì với Bùi Công-Nguyên trong những bận chúng tôi cùng làm cu-li với nhau ở một hãng in giấy bên ngoài thành phố. Lúc bấy giờ tôi mới hỏi Nguyên:
“Ông nghĩ sao về Cao Xuân-Huy?”
Nguyên không phải suy nghĩ: "Cao Xuân-Huy là bạn tôi.”
Không. Tôi không có ý hỏi như vậy. Mà tôi muốn hỏi ông về Tháng Ba Gãy Súng của Cao Xuân-Huy?

Trong tiếng máy đóng sách chạy rầm rập, chúng tôi cùng làm việc chung trong dây chuyền bỏ giấy vào các hộc máy và nương theo tiếng máy chạy inh tai ấy mà bàn về cuốn sách của anh. Thú thật, tôi nói với Nguyên là tôi biết sợ Cao Xuân-Huy, sợ cái dũng và sợ cái tài kể chuyện bằng những trang chữ viết. Tôi không nghĩ anh là nhà văn như nhiều người vẫn thường có thói quen hễ ai có viết sách đều là nhà văn. Tôi không tin những người viết sách thể tất là nhà văn. Tôi luôn luôn nghi ngờ về điều ấy. Vì nếu anh là nhà văn, có lẽ văn của anh chưa chắc đã hay đến thế, nhất là những câu đối thoại từ đầu đến cuối.

Tôi xin mở thêm ở đây một dấu ngoặc để hỏi anh một chút về điều này. Tại sao các tác phẩm đầu tay của các nhà văn bao giờ cũng là những tác phẩm để lại nhiều dấu ấn trong lòng người đọc?

Theo tôi, sở dĩ có hiện tượng ấy là vì các tác giả khi bắt đầu viết những dòng chữ đầu tiên ấy, là lúc họ chưa phải là nhà văn. Về sau này khi trở thành nhà văn rồi, họ không còn hấp dẫn nữa là vậy. Một người con gái đẹp trời cho cái nét đẹp tự nhiên với dáng vẻ bình thường, nó đẹp gấp ngàn lần khi phải qua nhiều cuộc phẫu thuật thêm môi thêm mắt. Văn chương là một sự trau chuốt nhưng không phải sự trau chuốt nào cũng làm cho những tác phẩm của các tác giả trở nên hấp dẫn và giá trị.

Chắc anh sẽ cười tôi nói sao mà lạ quá vậy. Anh thử chiêm nghiệm lại xem, trong giới văn chương mà anh có nhiều cơ hội hơn tôi nhiều, anh đã tiếp cận trong suốt mấy mươi năm trời nay, có tác giả nào viết được những câu đối thoại giống như anh không? Hay chỉ là lối đối thoại rặt màu văn chương hư cấu, gượng ép, cầu kỳ và nhiều lúc còn tệ hại hơn nữa là nó giống như đôi đào kép đang yêu nhau trên sân khấu với túp lều tranh hai quả tim vàng từ đời năm thìn bão lụt... Tôi nói thật đấy! Chỉ nội cái mục đối thoại thôi, nếu anh là nhà văn thứ thiệt, chắc anh cũng không thoát khỏi cái lối mòn trau chuốt những lời nói vô duyên nhất trong văn từ của mình... Tôi không rành về nghệ thuật viết văn nhưng tôi biết chắc văn đối thoại là một trong những câu văn khó viết vô cùng. Có lẽ vì thế mà tôi hay nghĩ ngợi văn hay là văn viết như thật.

Về phương diện văn chương tôi không dám lạm bàn thêm đứa con của anh, vì dường như ai ai cũng biết nó và ai ai cũng biết anh là người khai sinh ra nó. Phần này đã có các nhà phê bình văn học đầy tài năng và một bụng lý thuyết họ sẽ lo. Và bây giờ nghe đâu anh lại là chủ biên một tờ báo Văn-Học, được nhà văn Nguyễn Mộng-Giác vừa chuyển giao, tôi lại càng nên tránh nói về đứa con của anh trên phương diện văn chương nghệ thuật. Không khéo lại làm trò cười cho bàng-quan thiên hạ. Và ngay cả lá thư không gởi này cũng là một việc làm đáng lẽ không nên làm nếu không có Công-Nguyên và Như-Hùng có chút gì gắn bó với những ngày tháng ba gãy súng. Tôi nói vậy để anh rõ về ngọn ngành lá thơ mà tôi đang viết cho anh và cũng để anh an tâm là lá thơ này sẽ không mong gì hơn là chỉ Nguyên-Hùng-Huy-Liêm cùng đọc, không phải làm phiền nhiều bạn đọc khác trên các diễn đàn dưới đất cũng như trên trời, và đặc biệt, tôi hy vọng nó sẽ không bao giờ có mặt trên tờ báo Văn-Học mà anh đang làm chủ biên, chủ bút...

Ðọc đến đây, có lẽ anh sẽ hỏi tôi, “Vậy chớ ông đọc văn tôi với trạng thái nào? Trạng thái một người đọc bình thường hay trạng thái một người lính già?” Không, thưa anh Cao Xuân-Huy. Tôi không đọc văn anh với tâm trạng người đọc hay người lính già, mà với một người mà hơn ba mươi năm về trước không có cơ may như anh. Hay nói đúng hơn là tôi lại có cơ may khác hơn anh là tôi ở một nơi chốn yên bình nhứt, và vì thế tôi cảm thấy mình xấu hổ nhứt trước những gì anh đã kể lại trên những trang sách. Tôi xấu hổ vì tôi nhát gan hơn anh, tôi không dám anh hùng như anh, hay nói cách khác là tôi sợ chết hơn anh nhiều. Giữa một văn phòng có đủ tiện nghi với máy điều hòa không khí giữa Sài Gòn, so với một người trung đội trưởng đang dìu dắt đơn vị mình trong những ngày di tản, ai hùng hơn ai, chắc anh đã rõ. Những ngày “tháng ba” ấy, tôi và nhiều người đang ở Sài-Gòn như tôi, họ làm gì? Có lẽ tôi nên mượn câu thơ mới nhất của Trần Hoài-Thư để nói về một địa danh có tên gọi Sài-Gòn thuở ấy:

“Sài-Gòn có mùa hạ dài hơn mùa đông
Nên Sài-Gòn có mắt em xanh da trời tháng sáu
Sài-Gòn có thật nhiều quán cà-phê quán cóc
Nên bàn ghế Sài -Gòn đầy ắp tình nhân
.......
Sài-Gòn buổi chiều trời hay nổi cơn giông
Nên những hiên nhà là những hiên tình hò hẹn
Sài-Gòn có những con bồ câu cúc cù trên hàng dây điện
Nên Sài-Gòn vẫn là nơi hò hẹn của hai kẻ yêu nhau
Sài Gòn ít khi thấy được ánh hỏa châu
Nên đêm đêm Sài Gòn bình yên giấc ngủ
Ðể em đến trường như con sáo nhỏ
Ðể người lính trở về, có chỗ dừng chân
Ðể mãi mãi Sài-Gòn là những bâng khuâng...” [1]

Sài-Gòn những ngày tôi có mặt giống như câu thơ Trần Hoài-Thư đã mô tả. Ðọc sách anh, nhìn lại mình, tôi thấy tôi trước nhứt là như thế. Phải nhận ra cái kém cỏi của mình để học cái gan dạ của những người lính trên Ban-Mê-Thuột, trên đường liên tỉnh lộ số 7 từ Pleiku dẫn về Cũng-Sơn, Sơn-Hòa,Tuy-Hòa, Phú-Yên miền duyên hải và những người lính trong “tháng ba gãy súng” chứ? Phải không anh???

Cuốn sách của anh là một bài học cho tôi rất nhiều. Tôi đã học được ở đó nhiều điều mà tôi mãi băn khoăn, từ cái nhỏ đến cái lớn, từ cá nhân bé nhỏ đến tập thể rộng lớn bên ngoài, từ trong đời sống thường của một thường dân đến lãnh vực bao quát một thời kỳ qua bài học lịch sử trước đó và sau này... Và tôi có thể nói rõ lại một điều là tôi rất sợ cuốn sách ấy khi tôi ngồi một mình giữa đêm thâu mở lại từng trang sách. Bởi một lẽ giản dị là, mỗi lần lật lại từng trang giấy in đầy những dòng chữ như một hồi ức ấy của tác giả, cũng chính là một loại bùa lỗ ban, là một cái kính chiếu yêu, nó làm những bóng ma trong tôi phải chùng lại mọi cựa quậy, mọi xưng tụng. Những bóng ma của thời trẻ trong tôi, cũng như khi bây giờ vào buổi xế chiều này, khi chạm phải những trang sách của Cao Xuân-Huy là tôi biết ớn lạnh, rùng mình! Và tôi đọc sách của anh với trạng thái của một người ngoài màu áo lính mà anh và các bạn cùng đơn vị đã khoác nó lên mình, của một người vô danh tiểu tốt sống lủi thủi ở một vùng quê mùa xa lắc xa lơ, một người nhà quê có một làng mạc chìm trong chiến tranh mấy mươi năm qua nhiều thời kỳ bồng chống nhau tản cư chạy loạn và cũng như nhiều bà con làng quê, tôi biết sợ chiến tranh, cho dù chiến tranh đến dưới bất cứ danh nghĩa nào, từ bất cứ phía nào, vào bất cứ thời nào, và bất cứ đời nào!!!

Tôi hy vọng, với thời gian năm, ba trăm năm sau hay một, hai ngàn năm sau, Tháng Ba Gãy Súng của anh cũng chỉ là một chuyện đời xửa đời xưa được kể lại như bao chuyện đời xưa khác mà chúng ta đã đọc qua lịch sử. Lịch sử nói chung và chiến tranh nói riêng, đến một lúc nào đó, sau khi những người chủ xướng ra nó đã chết mất đất từ hơn cả trăm, cả ngàn năm rồi, lịch sử và chiến tranh lúc bấy giờ chỉ còn là một câu chuyện đời xưa không hơn không kém!!!

Trân trọng
Minh-Nguyện
(một người đọc già)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Ông Gẫy Súng đã “ lên tàu ”


Tâm tình một nẻo quê chung
Người về cố quận muôn trùng ta đi(Huy Cận)

Như vậy là ông Gẫy Súng đã lên tàu về quê.
Lần này thì súng của ông bị bẻ gẫy chẳng bởi tại người, hay bởi vận nước, mà bởi cái lẽ sinh lão bịnh tử mà không một ai thóat ra khỏi được vòng cương tỏa của nó.

Trước khi bước chân lên tàu, ông đã chiến đấu rất dũng mãnh và can trường, không kém gì trận chiến năm xưa dù sau đó súng của ông (và của rất nhiều những chiến hữu của ông) đã bị bẻ gẫy. Súng gẫy thì vất súng, ông cầm bút. Mấy chục năm nay lưu vong nơi xứ người, với cây bút trên tay ông đã làm được nhiều việc mà không phải ai cũng làm được. Cho đến giây phút ông không còn sức để cầm bút nữa, không một ai có thể bẻ gẫy được ngòi bút của ông. Và ông vẫn là một chiến sĩ cho đến giây phút cuối cùng. Một con Kình Ngư không hề biết sợ sóng, sợ gió.

Nay thì con Kình ngư sẽ về nằm yên nghỉ giữa biển cả mênh mông, ngày đêm nghe tiếng sóng vỗ rì rào như lời mẹ ru đón con ra khỏi cuộc đời, thay cho những tiếng thét đau đớn uất hận ngày nào trên bãi biển Thuận An (Huế).
Những người bạn chiến đấu của ông, những người nằm lại trên bãi biển Thuận An từ dạo tháng Ba năm ấy, hẳn sẽ vui mừng chào đón ông, như chào đón một chiến binh quả cảm đã dũng mãnh tiếp tục cuộc chiến, dù không cân sức, thay cho những đồng đội của mình bị lọai khỏi vòng chiến một cách tức tửi.

Tôi hình dung ra chuyến tàu “suốt” vừa ngừng lại đón ông Gẫy Súng, đang từ từ tiến vào trạm cuối cùng. Trên sân ga, lố nhố những bóng người quen thuộc của bãi biển Thuận An năm nào. Người bạn chiến đấu năm xưa đã trở về, thể xác tuy mệt mỏi nhưng thần thái ung dung. Họ lại tiếp tục ngồi bên nhau uống rượu, hút thuốc lá, chửi thề, nhắc lại cho nhau những kẻ còn, người mất (trong thế giới của những người lính gẫy súng ở giờ thứ hai mươi lăm, kẻ còn tức người đã chết và người mất, tức những kẻ còn nặng nợ trần gian, chưa mãn hạn để có thể thảnh thơi bước lên tàu). Và chắc chắn, ông Gẫy Súng có rất nhiều điều để nói cùng bạn hữu. Bạn bè ông, ngoài nỗi vui gặp lại bạn cũ, hẳn còn nỗi vui khác lớn hơn.Ít nhất, thằng Tháng Ba Gẫy Súng đã nói lên được cho họ nỗi uất ức đến chết không thể nhắm mắt của một ngày tháng Ba năm 1975.

Chỉ với một tác phẩm, quyển hồi ký “Tháng Ba gẫy sung”, ông đã làm tròn vai trò một chứng nhân lịch sử, làm tròn sứ mạng thiêng liêng của một người cầm bút. Với người cùng thời, những người đã từng sát cánh với ông ở một bên chiến tuyến, ông là hiện thân của lương tâm, của sự dũng cảm, của những khát vọng được sống một cuộc sống bình thường như một con người bình thường. Với những người đã từng một thời cầm súng đứng ở bên chiến tuyến đối nghịch với ông và những bạn bè của ông, ông là ngọn gió thổi tan đi lớp sương mù ngộ nhận, gây ra bởi một guồng máy tuyên truyền vô nhân tính chỉ nhằm gieo cấy lòng thù hận giữa những người cùng một dòng máu đỏ da vàng. Với những thế hệ chưa một ngày sống qua chiến tranh, ông là ngọn đèn soi cho họ thấysự thảm khốc cùng cực của chiến tranh, sự vô nghĩa của thân phận con người trong lửa đạn, sự độc ác vô luân của những tham vọng áp đặt chủ thuyết này, ý thức hệ nọ lên quốc gia dân tộc.

Tất cả những thành tựu không nhỏ ấy, lại là kết quả từ một tập sách mỏng, của một người vốn trước đó không phải là nhà văn. Theo lời một vị thầy của tôi (nhà văn Nguyễn Xuân Hòang), ông không phải là một nhà văn, nhưng đã viết nên “những trang văn xuôi lương thiện và giản dị về con người”.

Tôi nhớ có người nào đó bảo rằng con người ta ai cũng có hai lần chết. Lần chết thứ nhất là khi thân xác được bỏ vào quan tài. Lần chết thứ hai là khi không còn ai nhắc đến tên mình nữa.

Nếu quả đúng như vậy thì ông Gẫy Súng của tôi chỉ chết có một lần.
Bao lâu người ta còn nhắc đến, còn bàn luận về cuộc chiến tranh tương tàn khốc liệt giữa những người Việt ở hai miền Nam Bắc thì ngày ấy người ta còn phải nhắc đến tên ông, nhắc đến những ngày cuối cùng bi thảm của cuộc chiến.

Hơn 25 năm nay, tiếng kêu bi phẫn của ông Gẫy Súng đã được nhiều người lắng nghe. Mỗi người, ở vị trí của mình – trong và sau cuộc chiến – đều mang một tâm trạng khác nhau khi đọc ông. Người ta có thể phản bác ông, nhưng tôi tin rằng, không một ai – dù là người ở bên kia chiến tuyến với ông – có thể nghi ngờ tính nhân bản phủ đầy những trang viết của Tháng ba Gẫy Súng, kể cả những trang mô tả sự tàn nhẫn khốc liệt nhất, kể cả ở những câu đối thọai độc ác nhất, kiểu “Đụ mẹ, đánh giặc đã quá ông thầy!”

Khi tôi viết những dòng này, hẳn đôi mắt ông Gãy Súng đã nhắm lại (tôi tin như vậy, vì ông có quá nhiều lý do để thanh thản ra đi). Ông có mãn nguyện không? tôi không thể quả quyết. Nhưng nếu tôi là ông, tôi sẽ mãn nguyện. Những gì cần phải làm cho người chết với tư cách kẻ sống sót, ông đã hòan thành xuất sắc.

Ông ra đi, những vẫn còn lại những trang viết, những “trang văn xuôi lương thiện và giản dị về con người”. Vì chúng lương thiện và giản dị, nên chắc chắn chúng sẽ bất tử.

Cụ Tiên Điền Nguyễn Du đã từng kêu lên: Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Giả như ba trăm năm sau ngày cụ Nguyễn Du lên tàu “ suốt “, vẫn còn có người khóc cụ thì phỏng có ích gì cho cụ không khi thân xác cụ đã chỉ còn là nắm đất vụn. Điều quan trọng là những câu lục bát của cụ vẫn còn được lưu truyền không chỉ ba trăm năm, mà sẽ là ba ngàn năm, ba triệu năm nữa.

Còn ông Gẫy Súng của chúng tôi? Ông có cần phải thắc mắc rằng ba trăm năm sau liệu có còn ai nhớ đến ông không? Tôi không tin ông bận tâm về điều đó. Vì những trang viết lương thiện và giản dị của ông, không phải chỉ cho ông, mà còn cho một thế hệ tuổi trẻ (ở cả hai miền Nam Bắc) Việt Nam tội nghiệp. Nếu ba trăm năm sau, có kẻ hậu thế nào đó – nhờ đọc được Tháng Ba Gẫy Súng của ông – đã làm hết sức mình để tránh cho lịch sử của ba trăm năm trước lập lại, thế cũng đã quá đủ một đời phong ba rồi, phải không ông?

Mấy hôm trước, nghe tin ông đang ngấp nghé bên bờ tử sinh, tôi đã nhờ người quen kẻ biết nhắn với ông rằng “Chừng nào tới giờ lên tàu, ông cứ thanh thản lên tàu. Đừng lo cho chúng tôi. Thế nào cũng còn chỗ cho kẻ đến sau, chứ không phải như tháng Ba gẫy súng năm nào mà phải giành nhau đâu, ông Cao Xuân Huy ạ!”.

Đường đời muôn vạn nẻo, nhưng chỉ có một nẻo đích thực để trở về cố hương. Đó là lối nhỏ đi qua những tấm lòng bằng hữu, với hành trang trên vai là lòng thương yêu của những người thân kẻ thuộc trong gia đình.

Ông Gẫy Súng của tôi ơi! lối nhỏ bằng hữu đang hân hoan đón chào ông, hành trang thương yêu của gia đình đang sẵn sàng chờ ông ghé vai đỡ lấy.
Chúc người về cố quận thượng lộ bình an!

T.Vấn
Thứ Sáu 12 tháng 11 năm 2010

* Ông Cao Xuân Huy thở hơi cuối cùng vào lúc khỏang 4 giờ 53 chiều (giờ Cali) ngày thứ Sáu 12 tháng 11 năm 2010.Nhận được tin do một người anh em trong gia đình TQLC của CXH cho hay qua e-mail lúc 8 giờ tối (giờ Wichita, KS đi trước Cali 2 tiếng), tôi bỏ hết mọi công việc hàng ngày, vì không thể làm được gì khác, ngòai việc ngồi vào bàn viết. Và dù không muốn rườm lời, nhưng tôi nghĩ, để đưa tâm cảnh người đọc vào thế giới “ông Gẫy Súng”, tôi thêm phần phụ lục này vào cuối bài. Đó là bài phóng bút khi tôi vừa đọc được tin ông Cao Xuân Huy đang ở vào những ngày cuối cuộc đời (đã được giới thiệu trên trang Web cá nhân của tôi – T-Van.Net – ngày 3 tháng 11 năm 2010).

Cao Xuân Huy tháng Ba gẫy súngĐêm không ngủ được.Đọc lại những hàng chữ cũ. Chuyện của nhiều năm trước như hiển hiện trước mặt. Tươi rói như mới vừa xẩy ra hôm qua. Rồi bỗng nhiên biến mất và tối đen như màn hình chiếc Ti Vi bị mất điện. Ông già trong hình ảnh cặp vợ chồng già ngồi lặng lẽ giữa buổi chiều thu vàng (của Ân tình tháng mười một), – thở dài thườn thượt khi nhìn thấy con gà trống nhảy lên lưng con gà mái miệng kêu cục cục,- vừa mới lên chuyến xe cuối cùng về hư vô hôm tuần trước. 86 tuổi mới chết thì cũng chẳng có gì tiếc nuối. Buổi tiễn đưa ông, tôi đứng trước quan tài, nhìn khuôn mặt người bạn già (vong niên) bình thản, bỗng thấy lòng mình cũng bình thản lạ lùng. Không gian tràn đầy tiếng hát của ông (thu âm từ những ngày ông còn là một ca nhạc sĩ tài tử), nghe ấm áp và an ủi. Một buổi lễ đưa tang không đượm chút u buồn. Một cảm giác nghỉ ngơi, nhẹ nhõm khiến mọi người trở nên thư giãn. Đây là hình ảnh lý tưởng của cái chết, của sự chia ly. Có ích gì đâu mà phải khóc lóc nỉ non níu chân người đi. Ai rồi cũng được một lần lên đường. Hãy tìm lại cái háo hức thời tuổi trẻ làm hành trang, đừng ôm đồm mang theo làm gì những kỷ niệm, chúng chỉ khiến người đi nặng xác nặng lòng.

Cũng cuối tuần trước, một chiều thu rất điển hình của thu – không gian im ắng, lá rơi xào xạc, cơn gió vừa đủ cho cảm tưởng cần một chiếc áo khóac nhẹ – những người bạn của chiều thu năm nào lại hẹn hò gặp nhau ở Oklahoma. Tuy không đủ mặt, nhưng có còn hơn không. Thay vì những tiếng đàn, tiếng hát của năm nào thì nay chỉ còn những câu chuyện, kể về... chiều thu năm ấy. Rồi ngậm ngùi nhìn nhau. Rồi chép miệng than van : thời gian như chim bay, như gió thổi. Thóang chốc đã 5 năm. Thóang chốc đã kẻ ra đi, người ở lại.

Và sáng nay, trong lúc nhấm nháp ngụm cà phê thơm phức đầu ngày, ngụm cà phê quen thuộc cho cảm giác mình vẫn còn sống, còn thở, chiếc màn hình cái laptop trước mặt chập chờn hàng chữ:
Nhà văn Cao Xuân Huy tác giả của tác phẩm Tháng 3 Gãy Súng, là một cây viết được nhiều người yêu mến và cũng là một ký giả từng cộng tác với nhiều tờ báo Việt ngữ tại miền Nam California, ông cũng là một cựu sĩ quan thuộc Tiểu đoàn 4 Kình Ngư Thủy Quân Lục Chiến, sau một thời gian vật lộn với căn bệnh Ung thu Gan, hiện nay ông đang mấp mé những ngày cuối đời, thời gian chỉ tính bằng ngày hoặc ráng lắm thì bằng tuần mà thôi... (Calitoday -11/02/2010).

Ngụm cà phê trong miệng bỗng nhạt thếch. Thêm một con nhạn là đà... sắp rụng. Cao Xuân Huy hơn tôi độ 1 hay 2 tuổi. Tôi chẳng quen ông, và ông cũng không biết (không nhớ) tôi là ai. Ngày mới qua Mỹ, quyển sách đầu tiên tôi đọc là quyển Tháng Ba gẫy súng, tình cờ tìm thấy nơi thư viện thành phố. Sau đó, tôi đã nhiều lần đọc lại, mỗi lần đọc là mỗi lần muốn chửi thề như tác giả đã chửi thề trong sách.

Ông nhà văn Hòang Khởi Phong, tác gỉa “Ngày N, Giờ G”, người mà trước khi vui vẻ nhận tôi vào vai em, đã cùng tôi “chỏang nhau” ra trò nhân một bài viết của tôi ông lấy từ trang Talawas về đăng trên tờ Người Việt ở Nam Cali (hồi đó HKP còn là chủ bút của tờ báo). Ông bảo, Cao Xuân Huy là em kết nghĩa của ông, ông cũng sẽ coi tôi như Cao Xuân Huy, vì chúng tôi cùng độ tuổi, cùng tính tình ngang bướng (sic). Dầu vậy, tôi vẫn không quen Cao Xuân Huy.

Một thời gian sau, bỗng một hôm tôi nhận được bức e-mail chuyển lại từ Talawas của Phạm thị Hòai. Tác giả là ông Cao Xuân Huy. Ông muốn tôi đồng ý cho ông đăng trên tạp Chí Văn Học (CXH là Tổng Thơ Ký), một bài viết của tôi vừa lên mạng Talawas, đề tài về thành phố New Orleans trong cơn bão Katrina. Tất nhiên là tôi hoan hỉ bằng lòng. Sau đó, CXH gởi cho tôi một gói to tướng những số báo Văn Học, mới cũng như cũ (thay cho nhuận bút, có lẽ! Nhưng có bao giờ tôi đòi hỏi nhuận bút đâu, nhất là với ông CXH, người dạy tôi chửi thề.). Dầu vậy, tôi vẫn không quen Cao Xuân Huy.

Mới đây, ông Cao Xuân Huy có in một quyển sách, nhan đề “Vài mẩu chuyện”, ra mắt độc giả ở hội trường báo Việt Herald. Đến phần tác gỉa phát biểu, ông nói: “ Đây không phải là ra mắt sách. Thực ra, đây chỉ là giới thiệu cuốn sách vừa mới ra của tôi với anh em” Ông chỉ nói thế thôi rồi đi xuống. Buổi ra mắt sách, theo lời tường thuật của Việt Herald (nhờ vậy mà tôi được biết chuyện này), có sự tham dự của nhiều giới, trong đó có 2 vị cựu lính Thủy Quân Lục Chiến (cấp chỉ huy trong binh chủng của ông Cao Xuân Huy) là cụ Trường Can Đòan Trọng Cảo và cụ Phila Tô Văn Cấp. Hai vị này vốn là “bạn học” nhiều năm của tôi từ hồi chúng tôi còn dùi mài cầy cuốc ở Đại-Hộc-Máu (chữ của cụ Phila). Hai cụ, trong buổi ra mắt sách ấy, khen rằng ông Cao Xuân Huy dám nói những điều mà ít người dám nói. Liều mạng cỡ như cụ Phila mà còn phải khen cái “liều” của ông Cao Xuân Huy thì quả ông Cao Xuân Huy “ngon” thật. Không “ngon” sao được khi mà ngay lần đầu tiên cầm bút viết quyển “Tháng ba gẫy súng” ông đã lừng lững đi vào văn học sử... hải ngọai. Trong suốt 25 năm nay, nhiều người đọc thuộc nhiều giới từ trong nước đến ngòai nước, vẫn còn nhắc tới “Tháng Ba gẫy sung”. Có người bảo cái tên CXH bây giờ đã trở thành “Cao Xuân Huy Tháng Ba gẫy súng”. Cũng phải thôi, vì ông không viết nhiều, vì “Tháng Ba gẫy sung” có một số phận gắn liền với số phận cá nhân ông, số phận những người cùng lứa tuổi với ông (trong đó có tôi).

Giờ đây, ông Cao Xuân Huy đang nằm thoi thóp chờ chết. Có “quậy” cỡ nào thì cũng đến lúc này. Tháng 3 năm nào ông chờ tàu hải quân vào rước ở cửa biển Thuận An, nhưng không có tàu. Tháng 3 năm đó, ông gẫy súng. Mấy chục năm sau, ông lại chờ tàu nữa. Lần này, không phải tháng 3 mà là tháng 11 (tháng của những chuyến tàu suốt chạy liên lỉ ngày đêm phục vụ khách lữ hành đã mãn hợp đồng trần gian), nên có lẽ cái huông lỡ tàu không đến nỗi đeo đuổi ông. Bị ung thư gan thì chắc chắn sẽ có tàu lại đón, chỉ còn vấn đề sớm muộn thôi. Một khi đã được lên tàu thì gẫy súng hay không gẫy súng cũng chẳng còn gì để bàn cãi, phải không ông Cao Xuân Huy, người tôi chưa bao giờ quen, chỉ biết mà thôi!

Cái tin không vui về ông khiến tôi bần thần cả buổi. Không gian mùa thu vốn chỉ làm tâm hồn con người cảm hòai, nay trước cuộc sắp-sửa-chia-tay của ông Cao Xuân Huy với trần gian, mối cảm hòai ấy lại càng thêm đậm đặc. Tôi giở ra đọc lần nữa Tháng Ba gẫy súng. Lại chửi thề!

Cám ơn ông nhé, người đã dạy tôi chửi thề (nhờ thế mà đỡ phát điên). Chừng nào tới giờ lên tàu, ông cứ thanh thản lên tàu. Đừng lo cho chúng tôi. Thế nào cũng còn chỗ cho kẻ đến sau, chứ không phải như tháng Ba gẫy súng năm nào mà phải giành nhau đâu, ông Cao Xuân Huy ạ!

Tạm biệt ông nhé, người không quen! Nhưng có lẽ sẽ quen khi tôi gặp lại ông ở đâu đó. Nơi một cõi trên hoặc cõi dưới. Khi ấy, gẫy súng còn chẳng bận tâm huống hồ cõi trên hay cõi dưới! Phải không ông Tháng Ba gẫy súng?

Xin ông thứ lỗi, lúc này đây, một góc hồn cải lương của tôi bỗng bật câu hát nho nhỏ... Thôi về đi! đường trần đâu có gì...

Hốt nhiên, ngồi trong nhà, mà tôi tưởng như mình đang đi giữa cơn mưa thu ngọt ngào.

T. Vấn
3 tháng 11 năm 2010

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image
Chia Tay Cao Xuân Huy!


Chiều nay lúc 18 giờ ngày 16 tháng 11 năm 2010, Hội TQLC Nam CA tiến hành lễ phủ cờ cho chiến hữu Cao Xuân Huy.

Image
Số người tham dự rất đông gồm bằng hữu và các quân binh chủng bạn. Tôi thấy có Hải Quân, Không Quân, Biệt Động Quân, Nhẩy Dù, Bộ Binh
v.v.. TQLC thì tôi thấy niên trưởng Phạm Văn Chung, anh chị Cổ Tấn Tinh Châu, anh Đoàn Trọng Cảo, anh chị Huy Lễ và rất đông các anh chị
em khác. Bắc CA xuống có anh hội trưởng và một chiến hữu.


Image
Sau khi MX Trần Như Hùng đọc tiểu sử của Cao Xuân Huy thì MX Nguyễn Phục Hưng chỉ huy nghi thức phủ kỳ,

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image
MX Phan Diệu thổi kèn truy điệu.

Image
Sau đó là tới phần phân ưu của Tổng Hội, do MX Tô Văn Cấp,

Image
Phân ưu của các niên trưởng do MX Đoàn Trọng Cảo.

Image
Rồi tới MX Nguyễn Phục Hưng Hội Nam CA,

Image
MX Trần Vệ, đại diện TĐ.4/TQLC.

Image
MX Phan Diệu, đại diện các cựu học sinh
Nguyễn Trãi,

Image
MX Trần Như Hùng, đại diện Liên Hội Úc Châu.

Phần Phân Ưu của Tổng Hội như sau:

MX Cao Xuân Huy đi thật rồi sao?
Không, anh còn nằm kia trong vòng tay thân yêu của gia đình, bằng hữu và đồng đội.
Và rồi Kình Ngư Cao Xuân Huy sẽ rời bỏ chốn ao tù để bơi ra biển cả mênh mông, ở đó ngày đêm sóng vỗ rì rào như lời mẹ ru con ngủ.
Ở đó có những Kình Ngư Tiểu Đoàn Phó Nguyễn Trí Nam, ĐĐT Tô Thanh Chiêu cùng bao nhiêu đồng đội khác đã đi trước vào những ngày cuối
tháng 3/1975, họ đang chờ đón Huy. Nhất là Chiêu, đang chờ Huy với chai rượu trên tay như Huy đã kể lại trong “Tháng Ba gẫy súng.

Ở đó chỉ có tiếng cười thay cho tiếng gào thết xung trận và rồi uất hận trên bãi biển pháp trường cát Thuận An.
Chính vì thế mà hôm nay tôi thay mặt Tổng Hội TQLC đến báo tinh cho gia đình chiến hữu CXH biết rằng Huy lại tiếp tục lên đường hành quân
cùng các chiến hữu đã đi trước.

Xin chị CXH và hai cháu yên tâm, đừng chờ cơm Cao Xuân Huy nữa.

Tạm biệt chiến hữu Cao Xuân Huy,

Image

Image
Chị Cao Xuân Huy đã nghẹn ngào ngỏ lời cảm tạ các Niên trưởng, đồng đội, chiến hữu có mặt với Cao Xuân Huy đêm nay.
Chị nói " tại đây, giờ này, chị thật sự thấu hiểu được mối tình gắn bó của chồng mình với đơn vị, với đồng đội"
và chị tin tưởng " anh linh của anh sẽ trở về nơi quê hương mà anh yêu quý và đã từng không tiếc thân chiến đấu để bảo vệ ".

Image
Sau đó lần lượt tất cả anh em TQLC lên niệm hương và đến chào CXH lần cuối .

Image
Hội Ái hữu Cựu tù chính trị Bình Điền cũng đến tưởng niệm người bạn tù năm xưa Cao Xuân Huy.
Đại diện HAHCTBĐ nói "chúng tôi rất hãnh diện khi có người bạn tù như người lính TQLC Cao Xuân Huy".

(Mx Tô Văn Cấp, đại diện THT tường trình).

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ ?

Giao Chỉ, San Jose
Biết làm gì cho hết nửa đời sau?
(Cao tần...)


Trung tá Dương của Bộ Tổng Tham mưu vừa đến thăm tôi mấy bữa nay. Ông bạn già đi lính trước anh em, năm nay ngoài 80. Học thức uyên thâm nhưng chậm chạp từ tốn. Một thứ công chức nhà binh. Khi tôi lên Thiếu tá tại miền Ðông thì ở Saigon ông Dương vừa lên Trung tá. Rồi ông đóng luôn ở đó. Tôi lên Trung tá, rồi Đại tá. Trung tá Dương thành ông Dương già. Ngài chậm chân nên 75 ở lại đi tù. Hỏi bác Dương “cải tạo” mấy năm, ông đưa 2 ngón tay. Không phải là 2 năm đâu, mười một năm. Bác làm gì mà bây giờ mới qua? Trả lời rằng bà xã mới đầu không chịu đi. Ba đứa con thì một đứa một dâu vượt biên. Một đứa chìm xuống biển Ðông. Còn lại một đứa con cái đầy đàn nên không đủ điều kiện. Bác Dương gái không chịu đi. Khi muốn đi thì lại bệnh. Ðầu năm nay đến Wisconsin được mấy tháng thì qua đời. Ông HO già chôn vợ xong là bay qua San Jose hỏi chuyện 35 năm qua tại Hiệp Chủng Quốc, Hoa Kỳ. Suốt bao năm ông bạn già của tôi chỉ theo đuổi có một đề tài “Kháng chiến Phục Quốc”. Những năm còn ở Việt Nam ông sống bằng tin đồn, những năm sau này ông sống bằng tin tức trên thế giới mạng.

Trung tá Dương biết chuyện ông Hoàng cơ Minh chết trên báo Công An và bác quen biết rất nhiều với ông Phạm văn Liễu. Bác tâm sự:
“-Liễu hơn “moi” mấy tuổi, nhưng tụi này biết nhau đã lâu. “Moi” rất phục “lui”, tay chọc trời khuấy nước. Dọc ngang nào biết trên đầu có ai, Ngày xưa báo chí gọi hắn là chuyên viên đảo chánh. Nghe tin mới chết ở San Jose mà làm sao chôn cất âm thầm lắm. Ông Lộc này, tôi qua đây ngoài chuyện Liễu, tôi muốn hỏi chuyện ông. Suốt 35 năm qua, bọn “toa” chạy trước ngoài cái vụ mưu sinh cơm cháo ra thì có ai làm được chuyện gì đáng kể không? Chuyện Minh với Liễu ngày xưa thực sự ra sao?”

Hỡi người chiến binh một đời anh dũng,
mày lang thang đất lạ đến bao giờ.(Cao Tần)


Câu trả lời cho Trung tá Dương già đã đưa tôi trở về với quá khứ năm 1980. Ngày đó mới vay tiền down $10,000 mua được ngôi nhà đường Mc.Laughlin. Ðang tập cắt cỏ vườn trước, vườn sau. Ðã nộp hồ sơ xin vô quốc tịch. Cuối tuần mới đi họp đấu tranh cho tù chính trị Việt Nam được trả tự do. Hoạt động hăng hái trong hội Cựu chiến sĩ cùng với Trần Ngọc Nhuận, Nguyễn Xuân Phác, lại có cả bác sĩ Trần Xuân Ninh. Nhà Nguyễn Xuân Phác ngay sau nhà tôi. Bác biết tay Phác con cụ Nguyễn Xuân Chữ. Ông già gật đầu nói rằng Trung tá Phác bên tình báo “moi” có biết. Ðúng vậy, Phác mời tôi qua nhà gặp khách phương xa. Ðến nơi Hoàng cơ Minh, Phạm văn Liễu đã ngồi sẵn, có cả Nguyễn Tường Bá và Ðỗ Hữu Phú. Các anh rủ bọn này theo kháng chiến, đi làm cách mạng phục quốc. Anh Minh tôi có gặp lần cuối ở căn cứ Cam Ranh lúc sắp tan hàng. Sau này khi di tản thì có ở chung trại Barrigada bên đảo Guam. Phần ông Liễu tôi có biết nhưng không quen.

Tối hôm đó anh Minh vào cỡ tuổi tôi, ngồi yên, ít nói. Ông Liễu là thuyết khách chính. Câu chuyện của mấy tay này rất "nghiêm túc" và gây xúc động cho anh em. Phải nói thực lòng, không biết người khác nghĩ sao, nhưng riêng tôi, dù chạy thoát được nhưng hết sức trăn trở. Nếu phải làm lại thì cũng vẫn phải chạy thôi, không làm khác được. Nhưng mặc cảm tội lỗi vẫn là sự thực. Phải mà bây giờ theo kháng chiến thì việc chạy trốn mới giải thích được cho chính lương tâm của mình. Tuy nhiên, tham gia vận động quần chúng lập phong trào thì bắt buộc phải thoát ly, không dễ gì bỗng chốc dứt bỏ được gia đình. Thêm vào đó, giải pháp tìm đường về qua miền Ðông Nam Á, Thái, Lào hay Tam Biên vẫn còn là những viễn ảnh rất mơ hồ. Cá nhân tôi hết sức ngưỡng mộ nên đã hứa hẹn yểm trợ, nhưng sự hy sinh toàn diện thì vẫn còn giới hạn. Tuy khéo léo chối từ nhưng mình cũng thừa biết rằng sự khôn ngoan vẫn là vỏ bọc của hèn nhát.

Tôi tiếp tục tâm sự với bác Dương, suốt từ năm 80 cho đến nay mình vẫn giữ trọn vẹn một lời nguyện ước. Tôi ngưỡng mộ những người đi kháng chiến phục quốc. Tôi hỗ trợ anh em, tin tưởng anh em, thông cảm anh em. Dù các anh từ trời Âu như Trần Văn Bá, Mai văn Hạnh, từ Úc như Võ Ðại Tôn, hay từ Mỹ như Hoàng Cơ Minh.

Nếu phải kể tên những người bỏ bác Dương ở lại mà chạy, vẫn có nhiều chiến hữu không hổ thẹn khi gặp lại anh em. Nhưng trong số các cấp chỉ huy “một đời anh dũng, không chịu lang thang nơi đất lạ” phải kể đến Hoàng Cơ Minh và Phạm Văn Liễu.
Image
Hoàng Cơ Minh Hải quân
Ðiểm mặt anh hùng.

Chúng tôi uống thêm một tuần trà rồi đến lượt bác Dương nói chuyện về ông Liễu:

“Chắc ông Lộc biết, tụi này là Quốc Dân Ðảng thứ thiệt, vẫn thường sinh hoạt từ Saigon nên biết rõ anh em. Anh Liễu là đàn anh bí danh Trần Sơn Nam theo Quốc Dân Ðảng từ 1945, sinh viên của trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn trên Lào Kay. Năm 1951 vào võ bị Ðà Lạt khóa 5.
Năm 1955 nhận bàn giao các đại đội tác chiến của hải quân Pháp và trở thành tiền thân của Thủy quân lục chiến Việt Nam sau này.
1957 Anh làm Tham mưu trưởng trường Ðà lạt rồi Tham mưu trưởng Trung Tâm huấn luyện Quang Trung, Tham Mưu Trưởng Sư đoàn 7 bộ binh.

Năm 1965 Thủ tướng Phan Huy Quát, Anh làm tổng giám đốc cảnh sát quốc gia. Rồi Chỉ huy trưởng Ðồng Ðế. Sau cùng về Phụ tá đặc biệt tại Quân đoàn III từ 1968.”

“Giữa các chức vụ kể trên, anh Liễu tham gia rất nhiều cuộc đảo chánh nên gần như không được giao chỉ huy đơn vị. Phần lớn là công tác tham mưu, huấn luyện hay ngồi chơi xơi nước. Tính tình cương trực, nóng nảy nhưng rất nhiều sáng tạo và nhiệt thành. Phạm văn Liễu có khả năng thuyết phục và có dòng máu cách mạng luôn luôn chảy trong huyết quản ngay từ lúc còn là cán bộ quân chánh của Quốc dân đảng tại Vĩnh yên từ 1945.”

Trong khi đó tại Bộ TTM, bác Dương cũng đã từng biết Phó đề đốc Hoàng Cơ Minh, một tướng lãnh trẻ tuổi của Hải quân đã có những thành tích xuất sắc trên các chiến trường miền Nam với hoạt động của các Hải đoàn xung phong. Ðã có một thời gian ngắn, Tướng Minh là Tư lệnh của mặt trận Thủy bộ duyên hải trong giờ phút tuyệt vọng tại Quân khu II trên biển Ðông.

Trăng tròn rồi trăng khuyết, mây hợp rồi mây tan. Người gần để ly biệt.

Bác Dương này, bây giờ để tôi nói cho bác rõ Liễu với Minh gặp nhau ra sao và tan hàng như thế nào.

Ông Liễu ở tuổi bác, anh Minh thì ở tuổi tôi, nhưng đó là những người ngoại hạng. Lúc nãy tôi có nói năm 1980 ông Liễu với anh Minh về San Jose thuyết phục chúng tôi gia nhập kháng chiến. Cũng năm đó Hoàng Cơ Minh “take over” Lực lượng quân dân của Trung tá Lục Phương Ninh rồi đem nhập vào Phục Hưng và Người Việt Tự Do từ Nhật để thành lập Mặt Trận. Sau này Phục Hưng rút ra, sự kết họp tổ chức chỉ là hình thức. Sự giao duyên của Liễu và Minh là yếu tố chính. Anh Minh sẽ là đầu tầu trở về và ông Liễu xây dựng hải ngoại.. Cụ Phạm Ngọc Lũy, thuyền trưởng tàu Trường Xuân là thành phần yểm trợ. Ngày 8/3/1982 tin tức mặt trận đưa lên TV thời sự Hoa Kỳ chỉ có hơn 4 phút làm rung động thế giới Người Việt hải ngoại.Với kịch bản đóng trong rừng núi Thái Lan kháng chiến trở thành thực thể và khởi đi như sóng trào dâng trong lòng người, tràn ra khắp mọi nhà. Lúc đó, tôi hết sức hân hoan, viết một bài báo đầu tiên ca ngợi kháng chiến, đó là bài “Ðường mòn Hoàng Cơ Minh.
Image
San Jose 1984
Cao điểm của phong trào là năm 1983 kháng chiến tổ chức đại hội chánh nghĩa tại Hoa Thịnh Ðốn. Những ngày tháng vinh quang rực rỡ và hết sức êm đẹp của huyền thoại kháng chiến. Người đi về từ khu chiến là tướng Hoàng Cơ Minh và người xây đắp nền móng của hậu phương hải ngoại là ông Phạm văn Liễu. Một sự kết hợp bất khả phân ly.

Anh đi đường anh tôi đường tôi. Tình nghĩa đôi ta có thế thôi.

Ngày 17/3/1984 trên 10 ngàn người tham dự cuộc đón tiếp Hoàng Cơ Minh tại San Jose. Không thể tả được niềm hân hoan dâng cao đến mức nào trong lòng dân hải ngoại. Nhưng đến tháng 12-1984 thì tình hình đã khác biệt. Bên chiến khu tại Thái Lan ngày 25 tháng 12-84 cộng sản tấn công và thanh toán tiền đồn Hải Vân của kháng chiến. Ngày 29/12/84 anh Minh từ Thái Lan về quyết định giải nhiệm ông Liễu. Cùng một lúc Đại hội kháng chiến tại Nam Cali ủng hộ ông Liễu và đặt vấn đề với tướng Minh.
Tại Đại hội kháng chiến từ bốn phương về họp, với tư cách Tổng vụ trưởng hải ngoại, ông Liễu nói đi nói lại một lời: Lỗi tại tôi.

Vì đại cuộc, vì hiềm khích cá nhân, vì khác biệt đường lối, vì tài chánh,vì nhân sự hay vì bất cứ lý do gì thì Phạm văn Liễu cũng danh xác nhận: Lỗi tại tôi.

Thực vậy trước một đại hội thành phần tham dự phần lớn do chính ông thuyết phục và tổ chức. Ông đồng thời cũng là người xây dựng vai trò thần tượng Hoàng Cơ Minh. Khi chính vị tướng chỉ huy thần tượng giải nhiệm Tổng vụ trưởng thì việc ông Liễu nhận lỗi trước anh em cũng là phải phép.

Thời kỳ cuối năm 84 đó, tại chỗ cơ quan của tôi có bác sĩ Ðỗ văn Hội làm việc. Anh Hội nhiệt thành với kháng chiến. Anh ngồi khóc với nước mắt ràn rụa trong phòng của tôi. Anh ước mong có thể làm sao cho hai người mà anh gọi là các anh lớn gặp nhau. Bác sĩ Hội mong có phép lạ, có ai đủ sức nói cho Hoàng Cơ Minh và Phạm Văn Liễu ngồi lại, cùng nhường nhịn, cùng hy sinh xây dựng lại đại nghĩa. Sau đó nhiều năm tháng, bác sĩ Ðỗ văn Hội vẫn còn giữ mãi giấc mơ tuyệt vọng.

Nếu đã không mong sum họp lại, sao đành lỗi hẹn lúc chia phôi.
Sau khi chia tay, ông Liễu có sinh hoạt với tổ chức mới một thời gian nhưng không thành công. Phía ông Minh kiên trì hơn, có nhân lực, có tài chánh và có lãnh đạo, con đường kháng chiến tiếp tục. Nhưng trong suốt 3 năm từ 85, 86 cho đến 87, tướng Hoàng Cơ Minh chỉ còn một con đường đi theo khẩu hiệu của chính ông “Kháng chiến hay là chết”.

Những chiến dịch Ðông Tiến hết sức hào hùng, lãng mạn và đầy ảo tưởng đều lần lượt đưa anh em vào chỗ chết.

Tháng 5-1985 đại tá Dương Văn Tư chỉ huy Ðông Tiến I lên đường. Tất cả đều hy sinh.

Tháng 9-1986 tướng Minh đích thân chỉ huy Ðông Tiến II, phá hậu cứ, tuyệt đường về. Quyết tâm một đi không trở lại. Nhưng vượt sông không thành thất bại phải quay về.

Tháng 7-1987 tướng Minh chỉ huy Ðông Tiến II lần thứ hai. 120 quân nhân bị các đơn vị cộng sản luân phiên đánh suốt 40 ngày. Cuối cùng tướng Minh và một số cán bộ bị bao vây. Hoàng cơ Minh bị thương đã dùng súng lục tự sát ngày 18-8-1987, 14 năm sau vào tháng 7-2002 mặt trận mới chính thức công bố tướng Minh đã hy sinh.

Sau Ðông Tiến II, sĩ quan nhảy dù Ðào bá Kế tiếp tục tổ chức Ðông Tiến III với tất cả thành phần còn lại của kháng chiến. Một lần nữa và cũng là lần sau cùng Ðông Tiến III bị đánh tan tại Nam Lào, tất cả đã bị hy sinh và bị bắt. Ðào bá Kế, người chỉ huy vẫn còn bị cộng sản giam giữ cho đến nay.

Như vậy năm 1987 anh Minh chết mới có 52 tuổi. Trong khi đó ông Liễu mất ngày 20 tháng 10 năm 2010 hưởng thọ 83 tuổi.

Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ?
Image
Đại tá Phạm Văn Liễu
Xin nói đến đoạn cuối về cái chết của ông Phạm văn Liễu. Bác Dương chỉ biết ông Liễu ngày xưa, bác đã quan tâm đi từ Wisconsin về đây để hỏi thăm về chuyện sau này, tôi xin được kể tiếp.

Phải nói ngay rằng sau khi chia tay với mặt trận thì ông Liễu cũng đã lớn tuổi và không còn thời cơ để sinh hoạt mạnh mẽ như trước. Ông nỗ lực lo viết và hoàn tất 3 tập hồi ký “Trả ta sông núi.” Có điều rất đáng tiếc là ông Liễu sau đó đã đóng vai con người biết quá nhiều và cũng nói quá nhiều. Toàn là những chuyện xấu từ thủa cùng anh Minh kết nghĩa đoàn viên. Nếu nói rằng Minh và Liễu là sự kết hợp một đời cho đại cuộc thì khi hai người quay lưng hai ngả, họ đã phụ bạc nhau nhiều hơn so với những gì họ đã vun xới cho nhau. Nhưng Hoàng cơ Minh sau khi xuống tay, dứt điểm Phạm văn Liễu, dù đúng hay sai, anh dứt khoát Ðông Tiến, đi về phía mặt trời mọc, để tìm cái chết sau cùng. Anh Minh làm được,vì anh cô đơn giữa rừng già biên giới. Anh chỉ có con đường duy nhất: Kháng chiến hay là Chết. Và Hoàng cơ Minh đã chết.

Ông Liễu khi rời bỏ Kháng chiến, nhưng vẫn còn đầy đủ anh em. Bàn ra tán vào. Ông không có đủ nghị lực để im lặng. Ông nói xấu Kháng Chiến. Sau bao năm lưu lạc giang hồ, đã đến lúc ông trở về với gia đình tại Sacramento được vài năm thì vợ qua đời. Chị Liễu ra đi năm 1992 mới có 54 tuổi.

Năm 1996 thì ông Liễu bị đau nặng lúc thăm anh em bên Pháp. Hai vợ chồng bác sĩ Nguyệt tức ca sĩ Thu Hà ở San Jose phải chính thức qua hộ tống về Mỹ. Không có bác sĩ tháp tùng là không được lên máy bay. Từ ngày đó ông ngồi xe lăn về Texas ở với gia đình em gái.

Năm 2007 cô con gái ở San Mateo đưa ông về một dưỡng đường cho người già tại Half Moon Bay thuộc thị xã Moss Beach trên liên tỉnh lộ số 1 chạy dọc ven biển duyên hải Cali từ Bắc xuống Nam. Những năm sau này, ông không còn nói đến chuyện kháng chiến nữa.

Từ mấy năm qua thì anh em thân hũu San Jose cũng thường đến viếng thăm. Năm 2008 bác sĩ Vượng và bạn bè còn đẩy xe lăn cho Đại tá Liễu vào dự văn nghệ của IRCC tại San Jose. Lâu lâu chở ông đi ăn phở. Tuy nhiên, kể từ năm 2007 mà vào ngồi xe lăn trong viện dưỡng lão là kể như công cuộc kháng chiến với trời đất đã tính từng ngày.

Thời gian gần đây ông có nói lại với con gái là khi ra đi hãy thiêu đốt trong phạm vi gia đình rồi mới đăng cáo phó. Di chúc của ông đã được gia đình tuyệt đối tuân theo. Như vậy thì ai biết mà đi đưa. Thấy cáo phó chỉ còn kịp đăng báo chia buồn. Phút sau cùng của ông không có một bạn bè chiến hữu nào hiện diện.

Ông là Quốc Dân Ðảng mà đâu có ai là Quốc dân Ðảng viếng thăm?
Ông là Thủy quân lục chiến mà đâu có thấy lính mũ xanh phủ cờ, chào kính?
Ông là Tổng giám đốc Cảnh sát mà đâu có Hội Cảnh sát tiễn đưa?

Xin cho bác Dương hay vì năm xưa tôi đã có dịp chứng kiến một lần hỏa thiêu đơn giản ra sao. Từ nhà xác di hài đặt trong hộp carton trên một xe đẩy tay. Không cần quan tài. Có thể một cỗ hàng của nhà đòn chùm lên trên, có thể không có. Nhà đòn đẩy qua lò thiêu. Thân nhân đi theo sau. Cỗ hàng chùm bên trên được lấy ra. Ðẩy hộp carton vào lò và đóng cửa lại. Một người bấm nút điện. Lò thiêu chuyển động. Lửa bùng lên cấp kỳ với độ nóng khủng khiếp. Trong khoảng khắc là xong. Không có lời truy điệu, không có lễ nghi quân cách, không có phủ cờ.

Ông Phạm văn Liễu chết lúc 2 giờ chiều ngày 20/10/2010. Buổi sáng còn ăn sáng, đến trưa không thấy ngài lăn xe đi ăn, y tá đến thì thấy bác đi rồi, không có cả thân nhân bên cạnh. Khi vào tuổi già, như ngọn đèn dầu, ai biết tắt lúc nào mà canh thức ngày đêm?

Tôi kéo ghế ngồi lại cạnh ông Trung tá vốn tay Việt Quốc kỳ cựu, năm nay cũng 81 tuổi. Tôi nói thêm rằng ở đây có hai đám tang được coi là vĩ đại. Ðó là tang lễ của Trung tướng Nguyễn văn Thiệu và Đại tướng Cao Văn Viên. Có cả cờ sao và quốc kỳ. Có các binh chủng và binh phục. Khai quân hiệu và bế quân hiệu. Quan khách thăm viếng mấy ngày. Nhưng bác thử so sánh với cái chết của Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh và Đại tá Phạm Văn Liễu xem sao. Hai ông này đã đến với nhau trong tình tự xây dựng núi sông. Lại xa nhau cũng vì đòi Trả ta sông núi theo lề lối khác nhau. Một ông chết trẻ, một ông chết già. Ông chết cô đơn trên núi rừng. Ông chết lạnh lẽo bên bờ duyên hải sau khi đã ngồi trên xe lăn suốt 13 năm sau cùng.

Từ đầu tháng 7 năm 1987 ông Minh khởi sự Ðông Tiến là đã chuẩn bị cho chính mình cái chết sau cùng. Cái chết kéo dài 40 ngày. Kháng chiến quân bị bắt đã khai rằng ông Thầy bị thương, ngồi dựa gốc cây, cầm khẩu súng lục giơ cao, rồi tự bắn vào mang tai.

Vào năm 2007, ngồi xe lăn vào viện Seton, ông Liễu có 3 năm để chuẩn bị từ giã trần gian cho đến ngày cuối cùng. Khoảng cách 23 năm từ 1987 khi ông Minh chết tại Nam Lào cho đến 2010 lúc ông Liễu chết tại Bắc Cali có ý nghĩa gì. Xem ra như vậy chuyện chung sự của ông Minh và ông Liễu có phần rất giống nhau. Ðó là tang lễ của những người chiến sĩ anh hùng.
Còn nhớ năm xưa, ngày 29-12-1984 bác sĩ Ðỗ văn Hội ngồi khóc với niềm mong ước hải quân đề đốc Hoàng Cơ Minh và đại tá thủy quân lục chiến Phạm văn Liễu ngồi lại với nhau để làm nên đại cuộc. Bây giờ chẳng cần thuyết phục, các ông cũng đến gặp nhau, nhưng việc lớn ở trần gian sao vẫn còn dang dở.

Tiễn đưa bác Dương trở về lại với con cháu ở xứ tuyết Wisconsin tôi tặng bác tấm hình Hoàng Cơ Minh và Phạm Văn Liễu, ông đem lên chùa bên đó để cạnh nhau, nếu Việt Quốc với Việt Tân có anh nào ở đó thắc mắc xin ông báo cáo về Tổng Tham mưu cho tôi giải quyết. Năm nay bác cũng đã ngoại bát tuần, xin cẩn thận. Khi nằm xuống ở miền băng giá lấy đâu ra lễ nghi quan cách. Thôi thì ta cứ liệu bề chôn cất rồi bảo trẻ con nó báo tin sau. Nếu đã không mong xum họp mãi, bận lòng chi nữa lúc ra đi...
Dạo này mình hay đem thơ thiên hạ ra đọc lảm nhảm.

Giao Chỉ, San Jose

Tái Bút

Chúng tôi sẽ lần lượt phát hành 5 bộ sách trong năm 2011 để lấy tiền trả nợ Museum với Tựa đề :

Giao Chỉ Văn Tuyển, từ 2,000 bài viết suốt 30 năm qua.

Xin đón coi tác phẩm đầu tiên tựa đề :
Bên kia biên giới, trích từ lời bài ca:
“Này em anh sẽ về bên kia biên giới,
đèn nhà ai hay đốm lửa quê người....”

Sách này gổm 20 bài viết của Giao Chỉ về các công cuộc
Kháng chiến Phục quốc trong 35 năm qua.
Chân thực, thương cảm, hào hùng
Người ra đi và người ở lại, đã sống và chết ra sao?
Sách đọc xong, nếu không vừa ý, xin đốt sách chụp hình tro tàn với bìa sách.
Gửi về, chúng tôi sẽ bồi hoàn với lời cáo lỗi.

Có thể gửi thư và chi phiếu 20$ về :

IRCC, Inc.
1445 Koll Circle #110
San Jose CA 95112
USA

Chúng tôi sẽ gửi sách đi khắp thế giới bao luôn cước phí ngay khi in xong vào cuối năm 2010.
Trân Trọng
IRCC, Inc.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Mời nghe Tháng Ba Gãy Súng do Khắc Thiệu đọc

Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Tướng Westmoreland xin lổi cựu quân nhân QLVNCH

"Chúng ta không thua tại Việt Nam, nhưng chúng ta đã không giữ đúng lời cam kết đối với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa."

"Thay mặt cho quân đội Hoa Kỳ, tôi xin lỗi các bạn cựu quân nhân của Quân Lực Miền Nam Việt Nam vì chúng tôi đã bỏ rơi các bạn."
(On behalf of the United States Armed Forces, I would like to apologize to the veterans of the South Vietnamese Armed Forces for abandoning you guys.)


General William C. Westmoreland

Người Cựu Quân Nhân QLVNCH
Quá Khứ, Hiện Tại Và Tương Lai


Nguyên nhân của cuộc chiến (?)

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, tính từ thời điểm Việt Nam bị chia đôi sau Hiệp Định Geneve ngày 20 tháng 7 năm 1954 đến 30 tháng 4 năm 1975, là cuộc chiến ý thức hệ giữa thế giới Tư bản và khối Cộng Sản - Xin đừng nhầm lẫn, điểm này rất quan trọng để luận về sự thành bại của trận chiến sau cùng vào tháng 4 năm 1975.

Bất hạnh thay cho dân tộc chúng ta, Việt Nam bị (được) xem là “tiền đồn”, là tuyến đầu. Chúng ta không cần lập lại “ai” du nhập chủ thuyết Cộng Sản vào Việt Nam? Vì ai cũng biết và ai cũng nhìn thấy vì hệ lụy vẫn còn tới bây giờ và chưa biết đến bao giờ. Với vai trò là cựu quân nhân QLVCNCH, từng trực tiếp chiến đấu trong cuộc chiến, chúng ta nên nói lên những gì mình được chứng kiến vai trò của người lính QLVNCH từng trực tiếp tham dự và tinh thần của những chiến hữu của chúng ta trong chiến trận, trong các trại tù cải tạo, trên bước đường vượt biển, vượt biên và những đóng góp của họ trong thời gian tạm dung nơi đất khách quê người.

Tinh thần của người lính chiến VNCH trong cuộc chiến


Không cần phải mất công sao lục các cuốn hồi ký hay những bài báo của những ký giả không phải người Việt, hoặc nhận xét của những nhà làm chính trị, mới biết được sự chiến đấu kiên cường và bất khuất của người lính QLVNCH. Những ai từng chứng kiến, hoặc đã từng tham dự những trận chiến khốc liệt chống Cộng sản trong thời gian cường độ khốc liệt của chiến tranh Việt Nam từ ngày Bộ Chính Trị đảng CSVN quyết định thành lập “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” vào cuối năm 1960, thì sẽ nhận chân được sự kiện.

Đặc biệt qua những trận chiến của Tết Mậu Thân 1968, của “Mùa Hè Đỏ Lửa” năm 1972, hoặc trong trận chiến bi hùng cuối cùng để bảo vệ chính nghĩa ở Long Khánh thì mọi người sẽ đánh giá được tinh thần chiến đấu của QLVNCH. Đặc biệt và quan trọng nhất, ngoài tinh thần dũng cảm, người lính QLVNCH còn luôn luôn chiến đấu với tấm lòng nhân bản, hy sinh thân mình để cứu dân lành vô tội.Thí dụ điển hình nhất là hình ảnh của người dân trong những vùng xảy ra trận chiến luôn luôn trao mạng sống của mình cho người lính QLVNCH. Nếu không thì tại sao, nơi nào bộ đội Cộng sản tạm chiếm thì người dân luôn luôn bỏ chạy theo người lính Việt Nam Cộng Hoà. Với hình ảnh này không cần phải tuyên truyền, không cần phải viết hàng pho sách mới chứng minh được tình người và chính nghĩa thuộc về ai?. “Đại lộ kinh hoàng” từ Quảng Trị của năm 1972, những cuộc “triệt thoái chiến thuật” của những đơn vị QLVNCH lại thêm gánh nặng phải cưu mang người dân gồng gánh theo sau (!). Tương tự, những thảm cảnh trốn chạy CS của người dân vô tội tại Bình Long anh dũng, tại Kon Tum kiêu hùng.

Tới đây, có thể, có người sẽ đặt câu hỏi là như thế mà tại sao phải để miền Nam rơi vào tay CS? Câu trả lời không có gì khó khăn vì như một chiến lược gia quân sự đã nói “Thượng đế sẽ đứng về bên nào có nhiều tiều đoàn chiến đấu hơn”, nghĩa là đông quân và đầy đủ vũ khí. Việc miền Nam rơi vào tay CSVN là lẽ đương nhiên không cần phải là một chiến lược gia đại tài mới phân tích được. Tháng 6 năm 1975, nếu không có viện trợ thì QLVNCH không còn vũ khí để chiến đấu, chỉ còn cách đánh tay không với CSVN được trang bị vũ khí tận răng. Vì phía CS miền Bắc được cả Liên Xô và khối Cộng chi viện gấp 2 hoặc 3 lần so với những năm trước, khoảng 6 đến 7 tỷ Mỹ Kim cho năm 1975.

Chủ thuyết Cộng sản thường dùng mọi phương tiện để đạt đến cứu cánh. Họ lấy cứu cánh để biện minh cho phương tiện. Nhưng sau 35 năm cuộc chiến chấm dứt, hệ lụy di hại rõ như ban ngày: Việt Nam dưới sự cai trị độc quyền của đảng CSVN xã hội Việt Nam đi về đâu?

Không cần phải dùng biện luận mới biết câu trả lời, mà chỉ nhìn về một đất nước Việt Nam mục rữa đương thời: Giáo dục phi nhân tính, những chức sắc giáo dục ép tình học sinh để đưa đề thi hoặc cho lên lớp. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ra ngoại quốc không biết nói gì mà cười toe toét rao hàng: “Gái Việt Nam đẹp lắm”. Nhân phẩm của người phụ nữ bị rao bán trên khắp vùng Đông Nam Á. Những “hiệp ước” về lãnh thổ, ký vào tháng 12 năm 1999, và lãnh hải, ký vào tháng 12 năm 2000 với Trung Cộng dã làm cho mảnh giang sơn gấm vóc của tiền nhân để lại bị bán đứng cả ngàn cây số vuông về đất đai và cả vùng biển Đông (biển Nam Hải) trở thành cái ao của chủ thuyết Đại Hán Bắc Kinh.
Là cựu quân nhân QLVNCH, chúng ta cảm thấy buồn cho thân phận của dân tộc và đất nước nói chung, nhưng rất tự hào, không có gì xấu hổ, trong việc thua trận chiến vào tháng 4 năm 1975, nếu “ai đó” cố luận về sự thành bại của cuộc chiến. Vì đó là lẽ đương nhiên, theo nguyên tắc chiến tranh.

Bài này chỉ muốn nêu lên những điểm căn bản ngõ hầu nhìn rõ những việc làm của người lính QLVNCH sau cuộc chiến. Tới đây chúng ta nên nhấn mạnh một yếu tố rất quan trọng để khỏi nhầm lẫn.Chúng ta không chủ trương chế độ quân đội cầm quyền, vì quân đội được đào tạo để nhận lệnh và chiến đấu ngoài chiến trường chứ không phải trong chính trường, ngoại trừ trường hợp đặc biệt của chiến tranh như vào thời điểm Việt Nam Cộng Hoà phải đương đầu với cả khối Cộng sản trong cuộc chiến ủy nhiệm này.

Riêng người lính QLVNCH, không những đã tận hiến đời mình để chiến đấu trong cuộc chiến khốc liệt trước năm 1975, bị tù tội sau cuộc chiến, mà cũng rơi vào tình trạng bất an cho cá nhân và cho gia đình bằng hoặc khổ ải hơn bất cứ một người dân nào tại miền Nam, trừ những phần tử theo Cộng Sản.

Khi thoát được “địa ngục trần gian” tại Việt Nam thì người cựu quân nhân QLVNCH như thế nào?

Người cựu quân nhân QLVNCH tại hải ngoại

Hình ảnh của người lính QLVNCH có còn được trân quý tại môi trường sinh sống ở hải ngoại nói chung không? Để giúp trả lời câu hỏi này, thiết tưởng không có gì khó khăn. Xét về phương diện xã hội và thương mại nhìn vào những hảng làm băng nhạc lớn của người Việt tại hải ngoại thì chúng ta sẽ thấy. Người Việt hải ngoại, không kể người Việt trong nước vì không dám công khai tỏ bày tình cảm của mình. Nếu không ưa người lính VNCH thì những băng nhạc đưa lên màn ảnh nhỏ qua các diã từ trường để làm gì?. Những ca sĩ có ai muốn khán giả ghét mình đâu? Sao laị mặc những bộ quân phục của các binh chủng QL/VNCH lên sân khấu trình diễn để làm gì? Không phải là một cách để tiếp tục vinh danh vai trò cao qúy của người lính VNCH trong thời chiến? Đó là chưa nói đến bổn phận và trách nhiệm?. Hỏi tức là trả lời rồi.

Từ những dữ kiện này chúng ta thử điểm qua những sinh hoạt của người cựu quân nhân QLVNCH tại hải ngoại về cả mặt tích cực lẫn tiêu cực như thế nào?

Không ai phủ nhận được lòng người Việt tỵ nạn sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Người nào nắm rõ nguyên tắc chiến tranh như đã nêu trên thì thua trận chiến sau cùng có đau nhưng đỡ uất ức hơn những người dân bình thường. Nắm rõ nguyên tắc chiến tranh còn cảm thấy thương hại cho những con vẹt Cộng Sản huyênh hoang sau khi họ đặt chân vào miền Nam. Những câu chuyện dân gian của miền Nam thì nhiều. Nhưng những người tù cải tạo chắc đã tận mắt thấy, tai nghe, các cán bộ Cộng Sản, cấp bậc sĩ quan “Quân Đội Nhân Dân và Công An”, khi còn ở tù cải tạo, vào thời điểm Trung Cộng tấn công vào phiá Bắc của Việt Nam năm 1979. Họ ung dung và tự tại, vì nghĩ những tuyên truyền của đảng CSVN là sự thật như “ Các anh có biết ta được Liên Xô viện trợ tên lửa và khi máy bay Trung Quốc vượt vùng trời thì bộ đội phòng không tên lửa ta bắn lên hút hết không khí và tất cả máy bay Trung Quốc rớt hàng loạt nên không có chiếc nào vào thả bom nước ta được cả”. Thương hại là ở chỗ đó.


Trở về với vai trò của người cựu quân nhân QLVNCH tại hải ngoại. Nếu xét về sinh hoạt của người Việt ở hải ngoại thì người Việt đông nhất là ở Hoa Kỳ, liên tục từ sau 30 tháng 4 năm 1975 tới giờ. Vì dễ hiểu là Hoa Kỳ có chính sách đối với người Việt một cách rõ ràng. Còn nói về mặt tiêu cực thì để phần nào xóa đi mặc cảm “Hội Chứng Việt Nam” (Vietnam syndrome).

Chúng ta đã chứng kiến, liền sau những năm đầu đời tỵ nạn, những tổ chức của người Việt tại hải ngoại nói chung được hình thành, những người cựu quân nhân tích cực tham gia rất đông đảo. Điều này dễ hiểu vì họ từng quen biết trước, trong những đơn vị ngày xưa. Người này khuyến khích và vận động người khác tham gia sinh hoạt. Họ có quá khứ cầm súng chiến đấu, dễ tạo niềm tin cho đồng hương. Có kinh nghiệm tổ chức. Phải thừa nhận người cựu quân nhân được điểm cao ở giai đoạn đầu hình thành các sinh hoạt cộng đồng và hội đoàn, đoàn thể. Họ đẩy mạnh phong trào tích cực đấu tranh tại hải ngoại nói chung và ở Úc nói riêng.

Còn bây giờ thì sao?

Vai trò của người cựu quân nhân QLVNCH hiện tại và tương lai.


Tính từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến thời điểm này là 35 năm. Thời gian xói mòn năng lực và trí tuệ. Người lính nào trẻ nhất, nếu tính ngày đi lính sau cùng là tháng 4 năm 1975, thì bây giờ cũng đã: 18+35=53 tuổi. Những người cựu quân nhân, như có nơi, đã và đang làm, là cố gắng khuyến khích, vận động những người trẻ tham gia sinh hoạt cộng đồng, ngõ hầu nối tiếp công việc hữu ích về cả phương diện xã hội (sinh sống tại Úc), và theo đuổi lý tưởng cuộc đấu tranh dân chủ cho quê nhà. Về phương diện giáo dục, sách vở khuyên chúng ta là bạn hãy coi lại điểm đứng (standing point) của mình. Điều này rất quan trọng để mỗi cá nhân người cựu quân nhân tự định hướng cuộc đời của mình và giúp cho tập thể không bị xáo trộn. Nếu không thì chúng ta chỉ hành động cho thoả mãn tự ái cá nhân mà thôi. Đặc biệt là một cộng đồng tỵ nạn như công đồng Việt Nam chúng ta. Người lính, nói chung, khi ra trường, thời gian phục vụ, có người giữ danh dự, tác phong tốt, có kẻ vô kỷ luật bị đào thải vì quân phong phong kỷ. Bây giờ không còn những cơ chế thi hành kỷ luật, mỗi cá nhân nên tự làm một người tỵ nạn tốt.

Tạm kết

Người Việt tỵ nạn nói chung có trình độ học vấn tương đối khá, nhưng vì môi trường giáo dục ảnh hưởng từ chương nên thực hành kém hơn người Tây phương. Chúng ta lý thuyết nhiều, chữ nghiã thông thái, nhưng không chịu, hoặc không biết cách áp dụng. Đó là nhận xét chung về mặt tiêu cực vì nếu chỉ nói đến cái hay, những điểm tích cực không thôi thì mất quân bình. Nhưng với một môi trường sinh hoạt đa dạng của những cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại nói chung và tại Úc Châu nói riêng, trong thời gian nhiều thập niên qua, các xáo trộn nhỏ, nếu có, chỉ là “những cơn bảo trong tách uống trà”, nếu không kể đến những quỷ kế của đảng CSVN qua “Nghị Quyết 36”.

Chúng ta cùng nhau ghi nhớ, người cựu quân nhân là những “người Việt chính cống”, khi rời Việt Nam ít lắm ở tuổi thành nhân, bây giờ ai cũng trên 53 tuổi đời rồi, thừa hưởng rất nhiều cái hay cái tốt của người Việt nhưng cũng không tránh khỏi những cái xấu, nhất là “cái tôi đáng ghét” có thể làm ung thối tập thể người Việt hải ngoại.“Người lính không bao giờ chết, chỉ mờ dần theo thời gian”, nhưng chúng ta phai dần với danh dự và lý trưởng của mỗi cá nhân và tập thể mà mình từng gắn bó và sống chết thì mới mong chu toàn trách nhiệm đối với tổ quốc.

Gươm Thiêng

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

KHAI QUẬT MỘT NẤM MỒ TẬP THỂ CỦA QUÂN NHÂN VNCH,
TỬ TRẬN VÀO CUỐI THÁNG 3-1975 ,
TRÊN BÃI BIỂN THUẬN AN (TẠI THÔN AN DƯƠNG) HUẾ


* 132 bộ hài cốt được cải táng, nhưng chỉ tìm được 7 thẻ bài và 1 căn cước.

Tin đặc biệt của Huy Phuong/SBTN
Vào cuối tháng 3-1975, trong khi quân đội VNCH rút khỏi Vùng I Chiến Thuật, chúng ta đã để lại trên chiến trường, nhất là ở các bãi biển Thuận an, thuộc tỉnh Thừa Thiên hàng nghìn chiến sĩ, tuy thiện chiến, nhưng cuối cùng đành phải buông súng và chết trong tức tưởi.

Tại thôn An Dương, thuộc Quận Phú Vang Huế, một địa điểm chỉ cách với bờ biển Thuận An 2km về phía Nam , cuối tháng 3 -1975, dân chúng sau cuộc chiến đã chôn cất rất nhiều chiến sĩ của chúng ta ngay trên bãi biển. Với sự mong mỏi của đồng bào làng An Dương, nhất là những người đã tự tay chôn cất những người tử nạn, từ bao nhiêu năm nay, là làm sao để cải táng và di dời những hài cốt xiêu lạc này vào một khu đất khô ráo xa bờ biển, vì sau hơn 35 năm, nước biển đã lấn chiếm đất liền và nhất là trận bão lụt năm 1999 đã cuốn một số hài cốt ra khơi. Cho mãi đến tháng 7 năm nay (2010), với sự trợ giúp tài chánh của đồng bào hải ngoại, Hoa kỳ và Canada, và được sự đồng ý của chính quyền địa phương, đồng bào thôn An Dương đã có phương tiện di dời hài cốt của các tử sĩ từ ngoài bờ biển vào đất liền với mộ phần khang trang, có bia mộ và nhà lăng.

Người đã có tấm lòng nhân ái, vận động từ bà con, thân hữu tại hải ngoại để có đủ số tiền $8,000.00 để cải táng và xây lăng mộ là Chị Tố Thuận là người sinh sống từ nhỏ tại làng An Dương, nơi có phần mộ tử sĩ và đã chứng kiến qua các biến cố tang tóc vào cuối tháng 3-1075 tại Thuận An. Chị Thuận hiện nay cư ngụ tại Sacramento, là một quả phụ VNCH vì chồng chị là Anh Lê Văn Hội, một hạ sĩ quan Quân cảnh thuộc TTHL Đống Đa, Huế đã mất tích vào những ngày cuối cuộc chiến (tháng 3-1975 tại bãi biển Đà Nẵng).

Trong dịp này đồng bào thôn An Dương chỉ sưu tầm được 132 bộ hài cốt, nhưng tiếc thay, chúng ta chỉ tìm thấy 8 thẻ bài và một căn cước của những người đã hy sinh. Số người có tên trong thẻ bài, căn cứ theo số quân, hầu hết đều còn rất trẻ, từ 20 đến 22 tuổi. Chúng tôi xin gởi đến đồng bào hải ngoại danh sách 8 tử sĩ đã bỏ mình tại bãi biển Thuận An thuộc thôn An Dương, Huế vào những ngày cuối tháng 3-1975 với hy vọng rằng có gia đình tìm được con, em, chồng hay bạn bè qua những tấm thẻ bài này.

Hiện nay việc cải táng và xây lăng mộ đã hoàn tất tốt đẹp, đồng bào thôn An Dương có ước nguyện là tổ chức một lễ trai đàn chẩn tế cho chư vị âm linh, cô hồn trong cuộc chiến vừa qua, nhất là những tử sĩ đã bỏ mình tại bãi biển An Dương.

Hiện nay vì sự an toàn của quý ân nhân hiện nay đang còn ở tại quê nhà, mọi sự liên lạc, xin đồng bào gọi cho Chị Tố Thuận ở số (916) 273-2989 để được hướng dẫn bốc mộ nếu có thân nhân trong số có thẻ bài, cũng như để rõ thêm chi tiết, hay gọi cho Huy Phương (949) 241-0488 là người đang giữ các thẻ bài của quý vị tử sĩ.

DANH SÁCH CÁC QUÂN NHÂN VNCH TỬ TRẬN TẠI BÃI BIỂN THUẬN AN- HUẾ VÀO THÁNG 3-1975 (tìm thấy thẻ bài).

1. NGUYỄN VĂN VÂN Sinh năm 1954 SQ:74/144-016 Loại máu O
2. TIẾC DỤC Sinh năm 1955. SQ:75/145-256 Loại máu:A
3. TRẦN NGỌC ANH Sinh năm 1954 SQ: 74/108- 532 Loại máu: O
4. LÊ VĂN PHƯƠNG Sinh năm 1953 SQ: 73/156-263 Loại máu : O
5. TRẦN VĂN ĐƯỢC Sinh năm 1954 SQ: 74/164- 292 Loại máu; A+B
6. ĐINH VĂN KIÊM Sinh năm 1943 SQ: 63/212-486 Loại máu: O
7. NGÔ ĐẮC HÙNG Sinh năm 1955 SQ: 75/ 206-046 Loại máu O
8. NGUYỄN VĂN DỤC Sinh năm 1937 SQ: 57/000-706 Loại máu: O
9. HỒ THÀNH BẢY Sinh ngày 20/1/1931 tại Phong Dinh
Cha: Hồ Văn Miên- Mẹ: Nguyễn Thị Chon
Địa chỉ: Xã Tân Bình, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định.


Nếu các bạn cần biết thêm chi tiết của cuộc cải táng (có chiếu đoạn phim bốc mộ), xin theo dõi buổi buổi nói chuyện của chúng tôi với chị Tố Thuận trong chương trình Huynh Đệ Chi Binh của đài truyền hình SBTN, vào ngày thứ bảy 27/11 vào lúc 10:00 PM, thứ năm 2/12 vào lúc 1:00PM và Thứ Bảy 4/12 vào lúc 10:00PM (giờ Cali).

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Họ Là Ai? Ca dao Việt-Nam có câu:

"Trai khôn tìm vợ chợ đông.
Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân."

Trong văn học của Việt-Nam, cụ Nguyễn Công Trứ cũng có để lại:

“Ví phỏng cuộc đời bằng phẳng cả
Anh hùng hào kiệt có hơn ai”.

Xem ra anh hùng thường chỉ xuất hiện khi có vấn đề… Nhưng trong khi cái chính danh của anh hùng vẫn còn là vấn đề của tranh luận thì những hệ luận của nó lại đặt để những câu hỏi khác xa hơn, thậm chí còn được dùng để chứng minh cho chính danh của anh hùng. Có nhiều người đã nói rằng luận anh hùng không căn cứ trên thành công hay thất bại. Nhưng chính lúc thất bại là lúc để tỏ rõ khí anh hùng – vì trong chói lòa hào quang của chiến thắng, người nào mà chẳng vỗ ngực được để xưng anh hùng?

Các chiến binh hải quân của Việt-Nam biết sẽ thua mà vẫn đánh quyết tử để giử gìn lảnh hải của Tố Quốc Việt-Nam là vì cái gì? Vào cuối tháng Tư năm 1975, trong giờ phút hấp hối của chế độ Việt-Nam Cộng Hòa, có người biết là đã bại rồi mà nhất quyết không chịu ra đi. Có người chịu chết chứ không đầu hàng thế mà danh lưu muôn thuở thì nghĩa anh hùng nào đâu phải dựa trên thắng bại? Cựu Phó Tổng Thống VNCH Trần văn Hương từ chối không chịu di tản theo lời yêu cầu của Đại Sứ Martin để chịu chết âm thầm trên quê hương mình. Các vị tướng, tá, binh sĩ VNCH - kẻ tự tử, người chiến đấu cho đến phút cuối để đến bị xữ tử là vì cái gì? - nếu không phải vì hai chữ anh hùng mà chính họ cũng chưa bao giờ tự nhận? Có chăng là do những người còn sống, hậu thế đã dành cho họ một vị trí trang trọng trong lòng dân tộc. Nhưng tại sao phải đánh đổi bằng cả sinh mạng, không phải chỉ của một người mà có khi còn liên lụy đến cả gia đình, giòng họ nhiều đời để chỉ cho hai chữ anh hùng? - hai chữ mà đối với một số người, cho những trao đổi thiệt thòi như thế chỉ là uổng công, phung phí, thậm chí là dại dột, ngu dốt! Ngay giờ đây, có bao nhiêu người quan niệm rằng nếu có người Việt-Nam nào thấy cần phải đương đầu với Trung Cọng thì chỉ là làm anh hùng dổm, anh hùng rơm?
Không ai phê phán những người đã bỏ đi trong những giờ phút của cuối tháng Tư 1975. Nhưng không vì thế mà những người ra đi có lý khi chỉ trích những người ở lại là dại dột, hy sinh vô ích. Đã thế, giờ đây họ còn cổ động cho những người như họ hãy quên quá khứ để trở về hợp tác với nhà cầm quyền CSVN hiện nay - như là một chứng minh cho lòng yêu nước. Và đối với thế hệ kế tiếp, những người phần lớn không kinh nghiệm gì về CSVN, là môi trường tốt nhất để họ thuyết phục hãy vì quê hương mà phục vụ cho cái chế độ phi nhân này. Những người này, nếu họ cho rằng việc tháo chạy của ngày xưa là sai lầm như là vì một sự sợ hải vô lý thì những gì họ làm ngày nay sẽ hoàn toàn có nghĩa, dù khác chính kiến. Nhưng không! Họ vẫn mang căn cước tị nạn, vẫn sống và phát triễn trên cái căn cước này. Thật ra họ là ai? Trong Tâm Lý Học, người ta đã phân tích rõ ràng những kẽ phạm tội thường có xu hướng kéo theo kẻ khác cũng phạm tội như mình – như một chứng minh rằng những chuyện tội lỗi ấy là chuyện bình thường của con người, không phải chỉ riêng của họ. Tệ hại hơn nữa, không hiểu ví lý do gì, những hình ảnh tội phạm có khi lại được thấy dưới lăng kính của điện ảnh, trình bày như là một hình ảnh của lòng “can đảm”!

Bên cạnh những mập mờ trong hành động, họ mập mờ trong danh xưng để đồng hóa họ với những người tị nạn chân chính. Không đấu tranh trực diện, CS và tay sai bám vào người Việt hải ngoại như là một loại “Ký Sinh Trùng”. “Việt kiều” theo định nghĩa giáo khoa là những kiều bào người Việt, những người Việt sống ở nước ngoài. Những người Việt tị nạn nhập quốc tịch Hoa Kỳ không còn là “Việt Kiều” nữa. Có chăng là vì trong lòng của những người Việt tị nạn, chính họ vẫn tự coi mình là người Việt. Đó là cái đẹp, cái cao quí của những người Việt tị nạn tha phương chứ không phải là người Việt cần được che chở bởi nghị quyết 36 của Bộ Chính Trị CSVN. Cái danh từ “người Mỹ gốc Việt” lại càng mù mờ hơn nữa. Trên phương diện pháp lý, không có gì khác biệt giữa người Việt tị nạn và cán bộ CS nằm vùng có cùng quốc tịch Hoa Kỳ. Vậy thì làm sao phân biệt được ai là CS? Vấn đề là người Việt tự do đang đứng ở vị trí nào? Người CS lợi dụng tất cả những lảo đảo của người Việt Quốc Gia như là hoạt động có lợi cho họ thì người Việt tị nạn muốn đấu tranh cho một Việt-Nam tự do cũng phải hiểu những hoạt động nào có hại cho phong trào đấu tranh nói chung. Còn nếu như họ không thấy được thì dù với giải thích gì, chúng ta cuối cùng vẫn chưa đủ trình độ để đấu tranh với CS mà thôi. Một tổ chức mạnh là một tổ chức có đường lối hoạt động và cương lĩnh rõ ràng, có cán bộ trung kiên và dám hy sinh vì lý tưởng. Một đám đông rời rạc, phân hóa thì cũng chỉ như một bức tường xiêu vẹo mà lại mục nát bên trong, chỉ cần đạp nhẹ là đổ ngay lập tức. Trên mạng BBC, chương trình tiếng Việt tôi cũng có dịp đọc được một bài nói về một hoạt động có tên là Hiệp Hội Doanh Nhân Người Việt? Nếu những vị chủ tịch (vùng) của Hiệp Hội này quả là những người đã chụp hình chung với Thủ Tướng Việt-Cộng Nguyễn Tấn Dũng trong lần ông công du Hoa Kỳ năm rồi mà tấm hình đã được phát tán rộng rãi trên Internet thì những hoạt động của hội cho những “Người Mỹ gốc Việt”, dù là phù hợp với cương lĩnh đã được giới thiệu, cũng cần được kiễm nghiệm bởi những “Người Mỹ gốc Việt” còn lại? Ván bài cũ, ván bài “vàng thau lẫn lộn” CSVN đem ra đánh lại mà vẫn còn hiệu nghiệm thì xướng máu của hơn 30 năm qua quả là vẫn chưa đủ để cảnh tỉnh những người Việt mù lòa…

Gần đây, trước hiểm họa xâm lăng của chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc, một số người đã khéo léo lèo lái lòng yêu nước với thuyết phục người Việt-Nam hãy đứng sau lưng đảng CSVN để chống lại hiểm họa xâm lăng này. Họ cho rằng người Việt vẫn chưa trưởng thành để chấp nhận tiếp tục hà hơi tiếp sức cho sự cai trị độc tài và ngu xuẩn này? Lịch sử Việt-Nam đã chứng minh rõ ràng rằng, vì là một nước nhỏ và yếu, những cuộc chống xâm lăng từ phương Bắc của người Việt là cuộc chiến của một dân tộc phải biết bất khuất và phải cần sự đồng thuận của toàn dân. Trước những khiếp nhược đến độ hèn hạ của lảnh đạo CSVN mà chứng cớ còn cho thấy là cả một sự bán đứng tổ quốc thì CSVN không có và không thể tập hợp được sức mạnh nào. Trong ngấm ngầm, Trung Cộng đang lũng đoạn lảnh đạo CSVN để thao túng xã hội Việt-Nam. Trong lảnh đạo cho chính Việt-Nam, CSVN đang hủy hoại tất cả các sức mạnh của dân tộc như là nguy cơ chống lại chế độ của họ…Cho nên CSVN không còn là đại diện cho người Việt-Nam nữa. Ngược lại, chính họ là mầm mống của tại họa và để đủ sức chống lại xâm lăng của phương Bắc, việc làm trước tiên hết cả là phải thay đổi cái chế độ độc tài, phá hoại nhưng vô dụng và hèn nhác này.

Cũng gần đây thôi, khi chính phủ Hoa Kỳ chính thức những họat động để trở lại Đông Nam Á thì một số(?) chính trị gia tỏ ra đã thấy ngay cơ hội khuyến khích cọng đồng tị nạn hợp tác với nhà cầm quyền CSVN, nhất là mượn danh cho cơ hội để thúc đẩy dân chủ tại đây… Người Mỹ đã nói họ trở lại Châu Á là vì quyền lợi của họ. Tuần trước, cựu Tổng Thống Hoa Kỳ đến Hà Nội tuyên bố hợp tác Mỹ -Việt là một kế hoạch lâu dài... là hợp tác với ai? Diễn dịch khác đi là tự lừa dối mình rồi có ngày lại hờn oán người Mỹ không giữ lời hứa? Những hồ hởi và hoạt động cho sự trở lại này tại Việt-Nam, nếu chỉ vì quyền lợi của Hoa Kỳ thì cũng đã tạo thêm niềm tin cho lảnh đạo CSVN về uy tín và sự thừa nhận đó để họ thẳng tay đàn áp các hoạt động đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền tại Việt-Nam - một hậu quả tức thì trái ngược với suy diễn của những người ủng hộ khuynh hướng này. Một số người khác, dù là nạn nhân của chế độ, chống đối nhà cầm quyền nhưng cuối cùng vẫn tin tưởng vào chủ nghĩa và lý tưởng cộng sản. Có một ông Tướng, một người hùng được dựng lên trong chế độ CSVN sau một trận đánh nổi tiếng đã để lại trong tự điển tiếng Pháp một động từ mới có tên là “Dienbienfuser”. Sau “Đại Thắng Mùa Xuân” năm 1975, ông này đã được sắp xếp để quản lý chương trình kiễm soát Sinh Đẻ Có Kế Hoạch của chính phủ Cộng Sản Việt-Nam, Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc! Có ai còn hoài nghi về sự hạ nhục lộ liểu này? Dù chỉ được đánh bóng để lợi dụng, huyền thoại về giá trị của người hùng Điện Biên Phủ này trở thành nghi vấn trong chính những đồng chí của ông ta về thái độ không mấy tự tin vào sự thành công của cuộc tiến công vào Nam. Và khi mà CSVN đã thật sự đặc chân lên được những bậc thềm của dinh Độc Lập ở Sài Gòn thì những ai đã không quả quyết từ đầu còn có giá trị gì? Một anh hùng, dĩ nhiên vẫn có thể bị bôi nhọ như tất cả mọi người khác. Vấn đề là thái độ của người đó đối với những bôi nhọ này: ông vẫn cung cúc tận tụy đóng góp ý kiến để mong đảng sữa đổi. Ông không muốn mất những huyền thoại mình đã có hay ông thật tin vào những tốt đẹp của chế độ mà mình đã lỡ hiến thân phục vụ cả một đời người?
-----
Lần đầu tiên tôi biết đến ông Cao Quang Ánh là vào một buổi sáng ngay tại sở làm việc, khi khung hình nhỏ (một windows) của trang chính Yahoo.com đưa tin ông thắng cử Dân Biểu tại Tiểu Bang Louisiana. Dù hiểu được những khó khăn mà ông Ánh phải đương đầu tại một địa phương như vậy, tôi cũng không khỏi khó chịu khi nghe những lời bình luận nặng phần ác ý của giới truyền thông trước chiến thắng đột ngột nhưng không ngạc nhiên khi người ta so sánh ông với đối thủ Dân Chủ của ông. Những khó khăn cho ông có lẻ còn sâu xa hơn khi ông phát biểu (?) ông chấp nhận hy sinh sự nghiệp chính trị cho tiếng nói của lương tâm mình . Trong thực tế, ông đã biểu quyết ngược lại với khuynh hướng của chính đảng mình. Để minh bạch thế đứng của mình, ông đến hòa đồng với những người biểu tình chống chiến dịch văn công ở hải ngoại của cộng sản Việt-Nam, ngay sau vụ ông Lý Tống xịt hơi cay vào mặt một ca sĩ Việt-Cộng tại San José. Khi được yêu cầu làm trung gian để “hòa giải” những “ngộ nhận” của cọng đồng tị nạn, thái độ bất hợp tác, dứt khoát, gần như tạt gáo nước lạnh vào mặt những dụ dỗ của CSVN, ông đã không làm hài lòng với chính cái chính quyền và những ai đang muốn bắt tay với chế độ này. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi hai năm mà thường thì những chính trị gia đã phải bắt tay, ngay từ ngày đầu thắng cử, cho những quỷ vận động tranh cử nhiệm kỳ kế tiếp, ông lại dành quá nhiều thì giờ cho những hoạt động ngoại tiểu bang của mình mà cụ thể là những hoạt động cho người tị nạn chống cộng. Không mấy ngạc nhiên khi ông bị bỏ rơi bởi chính đảng của mình. Và rồi trong những tuần cuối cùng trong chức vụ, ông vẫn nỗ lực thúc đẩy hai dự luật nhân quyền cho Việt-Nam tự do, mạnh mẽ hơn trong những biện pháp chế tài. Ông chứng minh ông đã tận sức mình ngay với những kẻ có thể còn cho ông là … dại.

Luận về anh hùng có lẽ có nhiều tiêu chuẩn để xét đoán. Có những nhân vật dù nổi tiếng trên thế giới hình như vẫn chưa bao giờ được mang tiếng anh hùng, như Hitler, Stalin? Ngược lại, có thể nào không cần phải nỗi tiếng mà vẫn được ca tụng là anh hùng?. Những người lính Hải Quân bình thường của Việt-Nam vẫn đã để lại những gương anh hùng cho muôn đời hậu thế. Thuở còn là một học sinh Trung Học Đệ Nhất Cấp tôi đã học tiếng Pháp qua những bài học luân lý và có lần người thầy đã chọn một bài nói về cuộc sống can đãm của người thợ rèn làm việc bên ánh lữa hồng với mồ hôi nhuể nhại toàn thân… Rồi thầy hỏi cả lớp tại sao người thợ rèn này là can đãm? - Thôi thì các triết gia tí hon này, bao gồm cả tôi, trổ hết tài giải thích, tranh luận, thậm chí có bạn còn cho rằng can đãm là vì làm việc mệt nhọc, nguy hiễm đến thế mà vẫn không sợ hãi…. Cho đến bây giờ dù tóc đã 2 màu tôi hiễu được bao nhiêu về lòng can đãm, tính anh hùng của những con người, dù gian khổ đến đâu cũng phải sống một cuộc đời có khí phách, lương thiện? – rồi nhìn lại quanh mình, tôi thấy lòng ấm áp và thêm tự tin hơn khi hiểu được xung quanh tôi thật ra đã có lắm anh hùng.

“Nổi tiếng” và “anh hùng” là hai giá trị rất chênh lệch. Như Thành Cát Tư Hản trong Anh Hùng Xạ Điêu có phải là một anh hùng hay không thì Kim Dung để dành cho đọc giả tự phán xét. Nhưng có một danh từ rất gần “anh hùng” mà người ta có thể lèo lái để ngộ nhận đó là danh từ “Gian Hùng”. Dù cố gắng thế nào thì những người như Hồ Chí Minh, Tào Tháo cùng lắm cũng chỉ đạt được đến mức độ này mà thôi là tại sao? Có thể nào một Việt gian, một Hán gian, một … “Mỹ gian” trở thành anh hùng? Đối với một số người, hai chữ anh hùng dĩ nhiên là quá xa vời vì ngay cả hai chữ liêm sĩ cơ bản cũng đã không hề nằm trong một cảm nhận nào cả của chính họ.

Những người theo đóm ăn tàn thì dĩ nhiên sẽ không bao giờ xứng đáng để được đề cử trong danh sách những anh hùng. Những kẻ theo “cơ hội chủ nghĩa” thì cùng lắm cũng chỉ thành tựu ở mức độ của một Tôn Thọ Tường. Với sự trở lại của Mỹ tại Đông Nam Á, trong tình hình chính trị hiện nay, từ nhiều góc độ, người ta vẫn nhận ra một khuynh hướng thuyết phục người Việt hợp tác với chính quyền CSVN. Họ thuộc thành phần nào thì mọi người đều có thể biết. Chỉ có họ là không có cam đảm tự nhận mình là ai đó thôi. Xa hơn nữa, cái giá trị của những anh hùng, của thắng bại thật ra không nằm trong tầm tay của cả những người đương cuộc vì đó là một giá trị ngoại hạng của lương tâm loài người - như bản chất trong sáng của một viên ngọc và những bôi nhọ, bịp bợm là hai phạm trù hoàn toàn khác biệt. Khi đấu tranh vì một lý tưởng, người ta khởi đầu và hy sinh vì cái lý tưởng ấy chứ không vì một sự thành công phải được thấy trước . Chính niềm tin, dù là mù quáng, đã giúp cho những nhà lảnh đạo CSVN thành công trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ. Giờ đây, khi Chủ Nghĩa Xã Hội đã hiện rõ trong những biểu hiện cực kỳ phản động và không tưởng thì tuổi trẻ Việt-Nam, những người “quốc gia” đã trang bị được cho mình lý tưởng gì trong hành trình đầy chông gai này? – vì ngày trước người cọng sản hiểu rõ họ phải ca tụng những lý tưởng độc lập, tự chủ và công bằng, giàu mạnh cho thế hệ thanh niên Việt-Nam, trong đó có cả cha của tôi, như là sức mạnh của cách mạng thì ngày nay, hơn ai hết, họ phải triệt tiêu mọi lý tưởng ngoại trừ lý tưởng phục vụ cho đảng để bảo vệ chế độ này.

Sống vì lý tưởng tự do nhân bản, giải phóng và khai phóng con người là cuộc sống đẹp. Trước những cám dổ của tham vọng, nhất là trước những khó khăn của đời sống hiện nay, đấu tranh cho một lý tưởng không phải dễ dàng. Nhưng chính tại cái quốc gia dư ăn dư mặc như tại Hoa Kỳ này, người ta vẫn thấy những bế tắc và thao thức về một đời sống tâm linh, hướng thượng cho con người. Tùy vào vị trí của mỗi người mà bước khởi hành và thành tựu có thể khác nhau. Nhưng đừng tuyệt vọng. Hãy nuôi cái tâm nguyện vì đời mà cũng là vì mình, dù chỉ là ánh sáng của một ngọn nến trong bóng đêm nhưng sẽ dẫn dắt chúng ta qua bao trầm luân của kiếp người - như lời đại nguyện cứu độ chúng sinh của đức Phật, ngay từ đáy của địa ngục.

Trang Hien Vo

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Người về trên chiếc thẻ bài cách nhà 15km !

WESTMINSTER - Một quả phụ Việt Nam Cộng Hòa, biệt tin chồng trong suốt 35 năm từ những ngày cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam, nay, nhận được tin tức từ nước ngoài truyền về, người quả phụ ấy tìm lại được mộ chồng, chỉ cách căn nhà đang ở có... 15 km.
Image
Lăng mộ trong khu nghĩa trang mới, nơi người dân An Dương, Phú Vang, Huế, cải táng 132 hài cốt tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng
trong những ngày cuối cùng cuộc chiến, tháng 3, 1975, ở Thừa Thiên. (Hình: Huy Phương cung cấp)



Câu chuyện bắt đầu từ tin tức về việc người dân An Dương, quận Phú Vang, Huế, gần đây cải táng 132 hài cốt tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa hy sinh trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, tháng 3, 1975.


... 35 năm trước

Sáng ngày 21 tháng 3, 1975, trong cơn hỗn loạn của thành phố Huế, khi quân đội rút về phía Nam và dân chúng gánh gồng chạy loạn, bà Lê Thị Tịnh đem các con chạy vào Ðà Nẵng. Ngang qua Dạ Lê, bà ghé thăm người chồng, Thượng Sĩ Ðinh Văn Kiếm, trưởng Tổng Ðài Siêu Tần Số, thuộc Tiểu Ðoàn I Truyền Tin, Sư Ðoàn I Bộ Binh (SÐ 1 BB).

Tại đây, Thượng Sĩ Kiếm nói với vợ, hãy “yên tâm đem các con đi trước, anh sẽ theo đơn vị đi sau.”

Họ chia tay, không biết rằng, đó là lần cuối cùng gặp mặt...

Sau ngày Sài Gòn thất thủ, nhiều người chạy giặc vào Sài Gòn đã bắt đầu trở về. Bà Tịnh vẫn biệt tin chồng. Qua nghe ngóng tin tức, bà biết “nhiều anh em Sư Ðoàn 1BB bỏ xác tại bãi biển Thuận An trong lúc chờ tàu vào cứu nạn.” Nghe theo lời khuyên, bà Tịnh nhiều lần cố tìm về bãi biển này để dò la tin tức.

Mấy ngày đầu, đường sá bị phong tỏa. Thời gian sau, dấu vết nhạt dần, rồi không còn nữa. Không ai dám hé môi tiết lộ một lời.

Lòng bà Tịnh nhen nhúm chỉ một niềm hy vọng: “Biết đâu anh lại có cơ hội lên tàu di tản sang Mỹ.”

Bà Tịnh chờ đợi!

Một năm, rồi 2 năm, rồi 5 năm trôi qua, tin chồng vẫn biệt mù.

Bà Tịnh, như hầu hết những người vợ lính cam phận, tần tảo nuôi bốn đứa con trai và một con gái khôn lớn. Nỗi buồn nguôi ngoai cùng ngày tháng.

Người con trai đầu của bà Tịnh, tên Khuê, năm 1980, mới 12 tuổi, đã ra đời vất vả kiếm cơm, với một chiếc bình nhôm và cái ca nhựa, bán nước trà theo những chuyến xe lửa Bắc-Nam mỗi ngày ghé qua ga Huế hay bên chợ Ðông Ba.

Một buổi tối, bà Tịnh không thấy con về. Hai ngày sau, bà lên ga Huế, ra chợ Ðông Ba, hỏi thăm đám bạn bè của con. Không một tin tức.

“Thằng Khuê” mất biệt như cha nó 5 năm về trước, không một dấu vết. Bà Tịnh không biết trình báo với ai, cũng chẳng biết phải đi đâu để tìm con. “Thằng Khuê,” còn sống hay đã chết, mất xác nơi đâu?


Bỗng đâu tin tức tràn về


Ba mươi lăm năm sau cuộc chiến là 35 năm bà Tịnh sống trong chờ đợi, niềm chờ đợi tuyệt vọng về tin tức của chồng và đứa con trai đầu lòng.

Các con bà Tịnh nay đã có gia đình. Bà Tịnh - người mẹ ngày xưa - nay là bà nội, bà ngoại của một đàn cháu đông đúc. Mỗi lần thắp nén hương trên bàn thờ chồng là mỗi lần bà thầm nghĩ: “Không biết anh chết ở đâu, xác bỏ nơi nào.”

Bà đâu có ngờ, chồng bà vẫn ở bên bà đấy thôi. “Anh nằm gần chị đây thôi, trên bãi biển Thuận An, cách nhà chỉ 15 cây số.”

Chỉ 15 cây số, nhưng bà không hề hay biết, trong quảng thời gian dài hơn nửa đời bà, 35 năm!

Một hôm, người em của chồng bà, là Ðinh Văn Xuyên, một cựu quân nhân thuộc Thiết Ðoàn 10 Kỵ Binh, hiện cư ngụ tại Texas, Hoa Kỳ, gọi về, loan tin rằng, qua báo chí, người ta tìm thấy dấu tích của ông Kiếm tại bãi biển Thuận An trong một lần bốc mộ, nhờ tấm thẻ bài mang tên người xấu số.

Di hài Thượng Sĩ Kiếm được dân làng An Dương cải táng vào trung tuần tháng 12 vừa rồi. Tin tức từ trong nước ra được hải ngoại, nay lại bay về quê hương. Hai vợ chồng “ở rất gần nhau,” mà tin lại loan đi hàng vạn dặm mới về đến người cô phụ.

Bà Tịnh, ngay lập tức, cùng các con và người em gái của ông Ðinh Văn Kiếm, đem lễ vật về lạy trước nấm mộ tập thể, trong đó có chồng mình, cha mình, anh mình.

Trong tấm mồ tập thể ấy, Thượng Sĩ Ðinh Văn Kiếm đã yên nghỉ cùng anh em đồng đội và đồng bào của ông trong những ngày cuối của cuộc chiến.

Gia đình ông Kiếm, gồm các em của ông, hiện đang sống tại hải ngoại, nói sẽ giúp phương tiện để đưa ông về nằm chung với phần mộ của gia đình. Còn tạm thời, ông vẫn nằm bên cạnh bạn bè, chiến hữu - những người đã 35 năm chung một nấm mồ xiêu lạc, oan khuất trên đường chạy loạn.



--------------------------------------------------------------------------------


Cũng nhờ tên tuổi trên một chiếc thẻ bài còn lại, ông Trịnh Quốc Thuận, ở Maryland, Hoa Kỳ, nhận ra người bà con cô cậu ruột của mình, là ông Trần Văn Ðược, sinh năm 1954, thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Gia đình đã được báo tin ông Thuận bỏ mình tại bãi biển Thuận An hồi tháng 3, 1975, nhưng không tìm ra hài cốt. Chuyện kể rằng, hồi tháng 4, 1975, khi Sài Gòn chưa thất thủ, một chiến hữu cùng trung đội với ông, sống sót về được Sài Gòn, ghé qua, báo tin cho gia đình đồng đội, rằng ông Ðược đã chết trên bãi biển Thuận An. Trên đường rút lui, trước khi lên tàu, Trần Văn Ðược chết vì trúng mảnh đạn pháo kích của địch quân.

Post Reply