Ông Nguyễn Tấn Dũng đang chịu nhiều sức ép trước Đại hội XI của ĐCSVN
Giáo sư chuyên nghiên cứu Việt Nam hàng đầu của Úc, Carl Thayer, vừa lên tiếng bình luận rằng sự nghiệp chính trị của Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đang lung lay.
Ông Thayer, người từng cho rằng ông Dũng ra lệnh chấn chỉnh Vinashin như một đòn chặn trước các cuộc tấn công, nay nói đang tồn tại âm mưu có phối hợp nhằm đẩy ông Dũng ra khỏi vị trí thủ tướng tại Đại hội XI của Đảng Cộng sản vào tháng Một năm 2011.
Trong tài liệu tư vấn mới được công bố, ông Thayer viết:
“Giờ đã có vẻ rõ ràng rằng nếu ông Dũng có tham vọng trở thành tổng bí thư đảng, ông đã bị bỏ lại sau.
“Hiện nay vị trí thủ tướng của ông cũng bị đe dọa.
“Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN tới đây sẽ quyết định vấn đề này nhưng có dấu hiệu cho thấy nếu các đại biểu không hài lòng về mức độ trừng trị đối với ông Dũng, vị trí thủ tướng vẫn có thể gặp nguy khi các đại biểu bỏ phiếu ở Đại hội Đảng.”
‘Dập tắt bất đồng‘
Ông Nguyễn Tấn Dũng, người tháng này tròn 61 tuổi, chịu nhiều sức ép trong những tháng gần đây vì sự ủng hộ của ông cho việc khai thác bauxite và chủ trương xây dựng các tập đoàn lớn như Vinashin.
Thậm chí Đại biểu Quốc hội Nguyễn Minh Thuyết còn đòi Quốc hội điều tra và bỏ phiếu tín nhiệm đối với ông Dũng và những bộ trưởng có liên quan trong vụ bauxite.
Sự bức xúc của ông Dũng trước những sức ép này được thể hiện qua một loạt bài đăng trên trang web chính thức của chính phủ chỉ trích mạnh mẽ ông Nguyễn Minh Thuyết mặc dù không nêu tên ông.
Những chỉ trích này cũng ngay lập tức bị một số chuyên gia coi là biểu hiện của sự muốn “độc quyền chân lý” và “không nhìn thẳng vào sự thật”.
Liên quan tới Đại hội Đảng Cộng sản sắp tới, ông Carl Thayer nói ông nhận thấy các tài liệu chính của Đảng Cộng sản chuẩn bị cho đại hội sắp tới vẫn tiếp tục nhắc tới “các lực lượng thù địch” và “diễn biến hòa bình”.
Ông Thayer nói có hai “lực lượng” đứng đằng sau các vụ bắt giữ những người bất đồng chính kiến gần đây ở Việt Nam – “khối công an và những đồng minh ý thức hệ của họ, và những người không muốn quan hệ với Trung Quốc bị tổn hại.”
“Luật sư Cù Huy Hà Vũ là trường hợp đặc biệt – các cuộc tấn công của ông nhắm vào vị thủ tướng tăng sức mạnh cho những người muốn đẩy ông Dũng ra khỏi vị trí hiện nay.
“Nhưng trên hết vẫn là mong muốn dập tắt tất cả những bất đồng từ bên ngoài giới chóp bu.”
Tổng Bí thư
Giáo sư Thayer cũng nói “có rất nhiều người đồn đại rằng ông Nguyễn Phú Trọng được ủng hộ nhiều hơn để trở thành tổng bí thư kế tiếp một phần vì ông được Trung Quốc chấp nhận.”
Nhưng điều này còn phụ thuộc việc Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị quyết định đồng ý để ông Trọng, năm nay 66 tuổi, ở lại Bộ Chính trị mặc dù đã qua tuổi 65, tuổi về hưu theo quy định.
Còn về ghế thủ tướng của ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Thayer cũng nói một nhân vật khác được cho là đang muốn thay chức này là Ủy viên Bộ Chính trị Trương Tấn Sang.
Chuyên gia Việt Nam học người Úc nói, “giải an ủi” cho ông Sang, nếu ông không thể ngồi vào ghế thủ tướng, có thể là chức chủ tịch nước.
Giáo sư Thayer cũng nhận định Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng của Trung Quốc và mặc dù họ đã không còn mời các đoàn đại biểu nước ngoài tới dự đại hội từ năm 2006, ông Nông Đức Mạnh đã thăm Trung Quốc trước tiên sau khi đắc cử.
Ngô Nhân Dụng
Ở nước ta đời xưa, có một truyền thống gọi là Danh Giáo, hoặc thanh nghị, tức là các nhà Nho bình phẩm các hành vi, lời nói của người trong xóm làng, có khi bàn đến cả việc chung cả nước.
Phan Khôi đã nêu lên hiện tượng này trong một loạt bài phê bình Khổng Giáo rất gắt gao, trong nhiều số báo Thần Chung xuất bản tại Sài Gòn năm 1929.
Mục đích của cụ Phan Khôi là bài bác ảnh hưởng Nho giáo trong thời kỳ nước Việt Nam đang cần canh tân. Là một đã học đạo Nho từ nhỏ lớn lên, Phan Khôi tấn công vào những thuyết như “minh đức tân dân” (Sách Ðại Học), thuyết “trung dung,” tư tưởng mà ông gọi là “chủ nghĩa làm quan,” tinh thần coi khinh nhà nông, mà Phan Khôi cho là “trong Khổng giáo mà có ảnh hưởng xấu ở xã hội ta.” Nhưng Phan Khôi cũng thấy một điều tốt do Khổng Giáo tạo nên, mặc dù không hoàn hảo, là công việc Thanh nghị mà các nhà Nho thi hành giúp cho đạo lý xã hội. Thanh nghị, nói cách khác là “bao biếm,” Phan Khôi giải nghĩa Bao là khen và Biếm là Chê, bây giờ chúng ta gọi là dư luận.
Trong làng xã Việt Nam đời xưa, có một loại “hội tư” rất có ảnh hưởng trên xã hội là các Hội Tư Văn gồm các nhà khoa bảng và các nhà Nho khác trong làng. Nơi sinh hoạt của giới này là Văn Chỉ hoặc Văn Từ, nơi thờ Khổng Tử và các vị tiên hiền trong nước và trong làng. Trường học trong các làng đều là những “trường tư thục” do một ông đồ đứng làm chủ. Từ đó cũng sinh ra một hình thức “hội tư” gọi là “hội đồng môn” tập họp các học trò của ông đồ này. Sau khi ông thầy qua đời, hội đồng môn vẫn còn tiếp tục sinh hoạt để lo việc giỗ thầy, cho tới khi nào những người học trò cuối cùng qua đời mới chấm dứt. Hội Tư Văn và các Hội Ðồng Môn là nơi các nhà Nho bàn việc thanh nghị.
Phan Khôi viết: “Trên nền Khổng giáo ở nước Nam ta có những tư văn, văn chỉ, ấy là những cái cơ quan để phê bình xã hội theo như cái ý nghĩa của sách Xuân Thu.” Phan Khôi đã tóm lược quan điểm của Khổng Tử dùng Kinh Xuân Thu để phê phán các nhân vật lịch sử thời đó: “Sách Xuân Thu cốt để bao biếm. Bao, nghĩa là khen những điều phải; biếm, nghĩa là chê những điều quấy. Có vì tiên nho tán dương cái nghĩa bao biếm của sách Xuân Thu mà rằng: “Ngài khen cho một chữ là vinh hơn áo mão của nhà vua ban cho ; ngài chê cho một chữ là nghiêm hơn dùng búa rìu mà giết.”
Trong thời Pháp thuộc, Phan Khôi nhận xét, các tổ chức “Hội Tư Văn” trong làng bị xuống thấp vì bị chính quyền coi rẻ, các nhà Nho chỉ còn họp nhau “ăn thịt uống rượu” mà thôi. Nhưng, Phan Khôi viết: “Trước kia thì chính các hội ấy đã làm giềng mối, chủ trương cả dư luận trong xã hội. Mỗi một phủ huyện nào cũng đều có hội Văn Chỉ, mỗi một ông thầy dạy học lâu năm và đông học trò thì có hội Ðồng Môn. Những hội ấy rất có thế lực ở dân gian; người ta quen gọi là cái nền ‘danh giáo’ hay là cái cơ quan thanh nghị.’ Chẳng những người trong hội, cho đến người thường ở ngoài nữa, nếu có làm một việc gì phạm tới luân lý, trái với đạo đức thì không thể nào tránh khỏi sự công kích của hội hoặc trực tiếp hay gián tiếp. Có khi một việc trái phép mới xảy ra, pháp luật của nhà nước chưa hỏi đến, mà chính người thủ phạm trong việc ấy đã bị ‘thanh nghị’ làm cho sỉ nhục mà phải hối cải hơn là bị hình phạt. Bởi vậy cũng có khi, ở dân gian, người ta đem những việc bất bình mà cáo với các hội ấy, chớ không cáo với quan.”
Hiện tượng người dân đem những “việc bất bình” nói cho các hội tư văn hoặc hội đồng môn, chứ không “cáo” cho các quan lại, cho thấy bên cạnh “guồng máy tư pháp chính thức” có một mạng lưới lo việc phê bình, can ngăn những việc xấu do tư nhân đảm nhiệm, mà ảnh hưởng có thể mạnh hơn cả hệ thống tư pháp công cộng!
Vai trò của giới trí thức làng xã trong việc bảo vệ đạo lý, và có khi bảo vệ cả luật pháp ở trong làng cho thấy xã hội dân gian nước ta có một “không gian tư” làm các công việc mà ngày nay người ta thường coi là thuộc phạm vi của nhà nước. Những “phán quyết” của các hội tư này có giá trị tâm lý mạnh và lâu dài hơn bộ máy tư pháp chính thức, và mối ràng buộc của các phê phán đó đối với mọi người có thể còn mạnh hơn cả các tôn giáo.
Vì theo Phan Khôi: “Hồi xưa người ta sợ ‘thanh nghị’ lắm, sợ đắc tội với ‘danh giáo’ lắm, hơn là sợ tù tội nữa. Bởi vì cái nhục của tù tội còn có chừng, lại có khi theo vua thì bị tù tội, song đối với công chúng lại được khoan thứ; chớ còn đã bị ‘thanh nghị’ công kích, đã bị ‘danh giáo’ loại ra, thì gần như là không còn mặt nào trông thấy ai, không còn biết ở đời với ai, chỉ có nước vạch đất ra mà chui xuống! Cho nên lúc bấy giờ, từ hàng tấn thân cho đến hạng dân dã, ít kẻ dám công nhiên làm bậy như ngày nay.” Xin chú ý, hai chữ Ngày Nay ở đây là vào đầu thế kỷ trước. Khi nghĩ đến xã hội Việt Nam vào đầu thế kỷ 21, cảnh “công nhiên làm bậy” còn tiến thêm nhiều bước nữa!
Vai trò “thanh nghị” của giới Nho sĩ trong làng xã Việt Nam, khi dùng lời phê phán khiến người phạm lỗi “chỉ có nước vạch đất ra mà chui xuống” cũng giống như tập tục trong đô thị Athena ở Hy Lạp thời cổ, gọi là “Ostracism” (Εξωστρακισμός).Một công dân tại Athena có thể bị “trục xuất” một thời gian, không cho ở trong thành phố nữa. Quyết định này không theo những thủ tục tư pháp bình thường. Ostracism không phải là một hình phạt của tòa án, không có bên công tố và bên bào chữa. Tất cả chỉ là quyết định chung của các công dân để trừng phạt tạm thời một người. Mà không phải ai ở thành phố Athena cũng có quyền công dân, họ chỉ là một thiểu số trong tất cả dân cư, giống như các nhà Nho trong một địa phương. Hành động Thanh nghị trong làng xã nước ta nhằm bảo vệ Danh Giáo, không đưa tới việc trục xuất ai ra khỏi làng, mà chỉ tạo áp lực xã hội trên người làm điều xấu. Nhưng hình phạt tâm lý này còn nặng hơn việc trục xuất thật.
Công việc thanh nghị đó, Phan Khôi thấy là do các nhà Nho muốn tiếp nối công việc “bao biếm” của Kinh Xuân Thu mà Khổng Tử biên soạn. Ông viết: “Sự khen chê của sách Xuân Thu là suốt từ việc lớn cho chí việc nhỏ. Ðây nói những việc lớn: Ai giúp kẻ yếu, chống kẻ mạnh, cứu những nước bị tai nạn, phò những nước bị diệt vong, ấy là được khen (Bao), còn những nước chiến tranh nhau, hoặc dùng mưu kế mà khi trá nhau, cùng những con giặc, tôi loàn, và những kẻ phản quốc, thờ quân thù nghịch, thì bị chê. Nói tóm lại, phàm việc gì hại đến cuộc hòa bình của xã hội là bị chê (Biếm).”
Phan Khôi nhận xét: “Tuy vậy, xét kỹ lại thì cái hiệu nghiệm của sách Xuân Thu, bên khen không có quan hệ lắm bằng bên chê.” Trong hiện tượng “thanh nghị” ở các làng xóm cũng vậy; lời phê phán của các nhà Nho giúp ngăn ngừa những cái xấu trong xã hội, ảnh hưởng đó hữu ích hơn việc khen ngợi; vì những ai đáng khen ngợi thì “cả làng” đã biết rồi.
Phan Khôi đã mô tả ảnh hưởng của vai trò thanh nghị qua những câu chuyện cụ thể, thí dụ nhờ thanh nghị mà đời xưa người Việt Nam ít mắc ghiền ma túy. Ông viết: “Tôi xin cử ra đây một sự cấm hút thuốc phiện. Ðời Tự Ðức, khi chưa hòa với Pháp về trước, triều đình ta vẫn cấm nhân dân hút thuốc phiện. Trong sự cấm ấy, phép vua tuy nghiêm mà cũng không bằng các hội Văn Chỉ và Ðồng Môn. Tôi chưa kịp thấy, nhưng nghe các ông già nói lại rằng lúc bấy giờ thuốc phiện dầu nhiều và rẻ mà ít ai dám hút, nhứt là những người có học, không sợ hình phạt là mấy, nhưng sợ rủi bị hội Văn Chỉ hoặc hội Ðồng Môn ngoại ra thì khốn.”
Phan Khôi đã kể những câu chuyện thời đầu thế kỷ 20 ở nước ta để so sánh: “Ta thử đem việc ấy so với hai việc sau nầy. Ở gần miền tôi có một người vô đạo mà ghiền thuốc phiện. Ông cố (tức là vị linh mục) bắt xưng tội ấy thì anh ta không chịu xưng, nói rằng hút thuốc phiện không phạm vào mười điều răn của Chúa. Lại khi ở Hà Nội, tôi có gặp một ông thầy tu cũng hút. Tôi hỏi chớ thầy không sợ phạm giới sao. Ông ta trả lời rằng trong ngũ giới của Phật vẫn không cấm điều nầy, mà có lẽ hút á phiện thì tiệt được sự sắc dục, lại là có ích cho người tu hành nữa vậy! Coi đó thì thấy rằng cũng đồng một sự cấm hút á phiện mà một bên nói rằng hút thì hư nhân cách, làm cho người ta dễ nghe hơn là bên kia nói rằng hút thì ‘trái ý Chúa’ hay là ‘mang tội cùng Phật’ vậy.”
Khi bị thanh nghị chê bai, một người dân làng cảm thấy “hư nhân cách,” cũng giống như bây giờ chúng ta gọi là bị “mang tiếng.” Qua hai thí dụ trên, Phan Khôi cho thấy mối lo sợ bị mang tiếng “hư nhân cách” có tác dụng mạnh hơn cả những lời răn của các tôn giáo.
Phan Khôi viết cả một loạt bài công kích ảnh hưởng của Nho giáo, nhưng vẫn coi vai trò thanh nghị của các nhà Nho trong xã hội là rất đáng quý. Công việc thanh nghị dần dần không bị giới hạn trong đám Nho sĩ nữa mà đã lan rộng ra toàn dân, có thể gọi là một quá trình “dân chủ hóa” hoặc “đại chúng hóa.” Chính Phan Khôi mô tả: “Ngày nay dầu các hội nói trên kia không còn gì, cái thế lực của “thanh nghị” không có tỏ bày ra như trước, nhưng tôi nói rồi, nó đã bám vào trong lòng mọi người, thì không có bao giờ mất đi được, điều ấy khỏi lo.”
Phan Khôi kể: “Trong khoảng 5- 7 mươi năm nay, những người nào tỏ ra là bất trung với bổn quốc, hãm hại đồng bào, thì bị người ta chửi mắng nhiếc móc riêng với nhau.” Ðó là công việc thanh nghị do người dân phụ trách, không cần đợi giới Nho sĩ. Phan Khôi nêu mấy thí dụ: “Ở Bắc kỳ, có những sanh phần sanh từ của mấy ông quan to bị người ta đề thơ mà chửi bới, hay là đem đồ ô uế mà ném vào, cùng là lén mà phá cho hư đi. Lại có những người tuy chưa làm ra việc chi đáng trách, chỉ mới nói một vài câu chi đó mà thôi, cũng đã bị cáo là ‘bán nước dối dân,’ rất là khó chịu.”
Một giới người bị công luận chê bai nhất là những tên công an làm tay sai cho chế độ thực dân. Phan Khôi khẳng định: “Một vạn cái lòng (người) An Nam (sic) chẳng có cái nào là chẳng ghét những người làm mật thám, tức Nam kỳ kêu bằng lính kín.” Phan Khôi không có thành kiến với giới công an; nếu họ làm đúng bổn phận lo việc an ninh chung. Ông viết: “Mật thám ở các nước văn minh là những người có phần trong sự giữ cuộc trị an cho xã hội, song theo cái tình thế riêng ở xứ ta lại khác, cho nên người ta ghét cũng phải!” Sang thế kỷ 21 rồi, những ý kiến đó vẫn còn đúng!
Cụ Phan Khôi kể ngay một kinh nghiệm bản thân, có một thời gian cụ bị người ta phao tin đồn làm tay sai cho Pháp: “Trong khoảng 4-5 năm nay, có nhiều người khi không mà bị nghi là mật thám. Tôi cũng là một người trong đám ấy.” Hậu quả là “tôi đi đến đâu, người ta chào sơ qua rồi thôi, ít hỏi han chi. Nếu là chỗ đông người thì họ lấy mắt ngó nhau, dường như bảo phải giữ mình... chẳng khác nào giữ một đứa kẻ cắp. Ngoài sự giữ gìn ấy họ lại còn hằm hằm mà tỏ ra dáng khinh bỉ... lại có được thơ nặc danh gởi đến luôn luôn (cho tôi), cái thì khuyên tôi cải ác tùng thiện, cái thì chửi tôi tàn tệ.”
Bị nghi oan, bản thân bị thiệt hại, nhưng Phan Khôi lại vui mừng vì thấy công luận vẫn đóng vai trò thanh nghị: “Tôi chịu những điều đoán phạt oan ức ấy mà lại lấy làm vui lòng, vì nội đó cũng đủ chứng rõ cái lòng ái quốc và cái đức chánh trực của dân tộc Việt Nam.” Ông viết tiếp: “Dân tộc ta mà sau này có ngày cất đầu lên được, là nhờ ở chỗ đó. Chỗ đó, ta phải cảm ơn Khổng giáo, ta phải nhận rõ ràng là sự ban tứ của sách Xuân Thu.”
Bây giờ là đầu thế kỷ 21, khi coi lại những lời Phan Khôi viết hơn 80 năm trước, chúng ta vẫn ngậm ngùi khi đọc câu: “Dân tộc ta mà sau này có ngày cất đầu lên được, là nhờ ở chỗ đó.”
“Chỗ đó” mà Phan Khôi nói trên đây là cái quyền thanh nghị của giới trí thức và mọi người dân trong xã hội. “Chỗ đó” không là luật pháp thành văn nhưng là một quyền mặc nhiên được công nhận trong “hợp đồng xã hội” của người Việt Nam chúng ta trong hàng ngàn năm lịch sử.
Khi người Việt Nam bắt đầu nghĩ đến công cuộc duy tân thì công tác thanh nghị bảo tồn danh giáo trên đây sẽ còn hay không? Xã hội đã biến chuyển, tiến bộ, nhiều thứ quyền mặc nhiên phải được chính thức hóa, phải trở thành minh bạch, công khai. Phong tục cổ truyền đã được thay thế bằng một thứ quyền hiến định do luật pháp bảo vệ, là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Nếu chế độ không thi hành đầy đủ các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí thì nước ta đã bỏ mất một định chế cổ truyền, là thanh nghị. Nhiều người bênh vực chế độ độc tài cứ nói rằng các quyền tự do này là sản phẩm của văn hóa tây phương, không thích hợp với truyền thống Á Ðông. Ðọc Phan Khôi, chúng ta thấy thực ra việc tôn trọng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí chính là theo một truyền thống của dân tộc!
Trong lúc nhà nước cộng sản chiếm độc quyền làm công việc truyền thông, giới trí thức nước ta, những nhà Nho mới vẫn tiếp tục công tác thanh nghị trên các mạng lưới. Mạng lưới Bô xít Việt Nam là một cơ quan thanh nghị. Các người chủ trương những mạng nhà báo tự do, những ông Ðiếu Cầy, Tô Hải, cô Mẹ Nấm đang làm công việc thanh nghị, để, theo dự kiến của Phan Khôi, giúp cho dân tộc Việt Nam “có ngày cất đầu lên được.”
Ðiều đáng lo là những người cầm quyền ngày nay không phản ứng giống như giới quan lại ngày xưa. Xưa kia, bị mang tiếng xấu thì người ta sợ hãi; ngày nay họ vẫn nhơn nhơn. Những công an trừ nạn mại dâm lại chụp hình làm nhục các cô gái đáng thương, họ cũng đáng thương vì không được giáo dục. Những ông hiệu trưởng như Sầm Ðức Xương đã làm nghề dẫn gái cũng vì sống trong một guồng máy cai trị coi quyền hành của các cán bộ cao hơn pháp luật. Cả tập đoàn cai trị một tỉnh Hà Giang, từ bọn đầu sỏ Nguyễn Trường Tô, Ðinh Xuân Hùng, đến các cán bộ hải quan Hướng, trưởng ban tổ chức công an Bích, và các công an như Minh, Tiến, đã tham dự vào mạng lưới ghê tởm làm hại đời các nữ học sinh. Còn biết bao nhiêu tập đoàn thống trị làm hại dân như vậy, không ai tố cáo nên hiện giờ vẫn còn tiếp tục tác hại? Họ vốn không biết liêm sỉ hay xã hội đã biến họ thành vô liêm sỉ?
Nền giáo dục cộng sản đã làm nhiều người bị thui chột đức liêm sỉ. Muốn cho việc thanh nghị đóng được vai trò giáo huấn, ngăn ngừa cái xấu thì phải thay đổi nền giáo dục, bắt đầu với việc xóa bỏ những căn bản là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Ðông. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là phải thực hiện các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong Hiến Pháp! Ðó chính là quyền thanh nghị trong truyền thống nước ta.
Trần Khải
Truyền thống của người quen làm việc trong guồng máy nhà nước cộng sản Việt Nam là khi gặp chuyện khó xử, sẽ đi hỏi người cõi âm. Chuyện này đã trở thành quen rồi. Câu hỏỉ là, có thực người cõi âm linh hiển hay không? Có thực rằng lời lời của người cõi âm lúc nào cũng là khuôn thước hay không? Thế thì tại sao không đưa nhà ngoại cảm Phan Bích Hằng lên nắm ghế Tổng Bí Thư cho tiện lợi, để lèo lái đất nước cho đúng đường lối người cõi âm?
Chuyện các nhà ngoạị cảm đi tìm mộ, hỏi người cõi âm... là điều chúng ta không bàn tới, vì đó là niềm an ủi cho những tang gia thân nhân. Đó là những đau đớn cần được xoa dịu, đó là những niềm tin siêu hình không thuộc lý luận trần gian, ngoàì phạm vi hiểu biết của chúng ta.
Nhưng chuyện người cõi âm mà Đảng CSVN bám víu vào để gìn giữ quyền lực, để đàn áp các ý kiến khác... mới là chuyện cần bàn luận.
Thực như thế. Khi tranh luận về đường lối, một thời là phải mang ra lý thuyết Mác – Lê – Mao.
Các bộ kinh điển bấy giờ khởi đi từ cuốn Kinh Thánh Tư Bản Luận. Sau khi hát bản thánh nhạc Quốc Tế Ca, là toàn đảng lên đồng say mê học tập kinh điển các cụ cõi âm Nga, Tàu vĩ đại. Khi tranh luận, ai trích dẫn được ngôn ngữ của người cõi âm Karl Marx, Lenin hay Mao Trạch Đông là được xem như tuyệt vời.
Và rồi lý thuyết các cụ cõi âm này hết linh nghiệm, khi khối Cộng Sản Liên Xô và Đông Âu sụp đổ từ những đầu thập niên 1990s, các quan chức Hà Nội mới nghĩ ra độc chiêu mới: dẹp bỏ ba người cõi âm Nga, Tàu, để dựng lên bàn thờ người cõi âm họ Hồ, lấy cái gọi là “tư tưởng Bác Hồ” ra để học tập. Than ôi, ông Hồ đã nói rằng ông đâu có tư tưởng gì đâu, và ông đã chỉ tay về tấm ảnh của ba ông cụ treo tường kia mà nói đó mới chính là khuôn mẫu phảỉ học.
Tuy nhiên, chiều ngược lại, trong khi các quan chức cai trị đưa người cõi âm ra để biện hộ cho hành vi đàn áp người dân, thì dân oan biểu tình vẫn phảỉ ôm trước ngực khuôn hình người cõi âm Hồ Chí Minh để công an có biểu diễn quyền cước sẽ nhẹ tay bớt. Nghĩa là, người cõi âm cũng phần nào đỡ đòn được cho người trần thế.
Thực thế, nhiều nhà trí thức khi chất vấn chính phủ CSVN, cũng phải trích dẫn vài câu nói của ông Hồ ra để cho đúng lề phảỉ. Lá bùa của người cõi âm Hồ Chí Minh có vẻ như linh nghiệm trong một số trường hợp, vừa đỡ đòn công an cho dân oan, vừa tránh cho trí thức bị an ninh quấy rối.
Thường có một số câu nói của ông Hồ thường được giới trí thức trích dẫn để chất vấn Đảng CSVN, trong đó có vài câu, thí dụ như sau:
- Nước được Độc lập mà dân không được hưởng Tự do Hạnh phúc thì Độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.
- Dân chủ là phải để cho Dân được mở miệng.
- Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ.
Tuy nhiên, hàng loạt bài viết của giới trí thức qua nhiều năm qua đã trích dẫn hoàì những câu nói tương tự của người cõi âm Hồ Chí Minh, mà chính phủ CSVN cũng không nhúc nhích bao nhiêu về cởi mở dân chủ. Thế mới biết người cõi âm Hồ Chí Minh không linh thiêng tí nào. Bao nhiêu câu thần chú của ông Hồ được tụng đọc hoàì, mà có thấy dân chủ tí nào đâu.
Hay phải chăng, tư tưởng của người cõi âm Hồ Chí Minh không linh thiêng bằng các tờ giấy bạc in hình những người cõi âm xa lạ bên kia bờ Thái Bình Dương – thí dụ, hình người cõi âm Benjamin Franklin trên giấy bạc 100 đô la, hình người cõi âm Andrew Jackson trên giấy bạc 20 đô la? Thậm chí tới ngay như Huỳnh Ngọc Sỹ, khi nhận hối lộ từ hãng thầu Nhật Bản, cũng đòi tiền phải chi bằng đô la, chứ không chịu nhận giấy bạc có hình ông Hồ, hay ngay cả tiền yen với hình mấy ông Nhật Bản. Mới biết, nơi cõi âm này, ông Hồ chẳng có giá trị gì cả.
Một thời trích dẫn ông Hồ hết linh, thế là giới trí thức quốc nội lúng túng, nhìn quanh nhìn quẩn. Cho nên gần đây, mới trích dẫn người cõi âm Võ Văn Kiệt, nhân dịp ngày sinh của người có bí danh là Sáu Dân này.
Thí dụ, GS Tương Lai mới viết bài nhan đề “Cần lắm tinh thần Sáu Dân!” đăng trên Tuần Việt Nam hôm 23/11/2010. Nhưng cách viết cho thấy trong lòng quả nhiên có nhiều tâm sự hơn là số chữ ngắn gọn, đúng là ý tại ngôn ngoại.
Chúng ta thấy rằng, vị giáó sư này viết rằng VN đang cần tinh thần người cõi âm Sáu Dân, và dịp này đã trích dẫn một người cõi âm khác, một người cực kỳ thơ mộng – đó là nhà thơ Huy Cận.
Trích một nơi trong bài như sau:
“Cái tứ thơ của một thời xao động lòng người như khuấy động trở lại: "Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau/ Quay theo tám hướng hỏi trời sâu/Một câu hỏi lớn. Không lời đáp/"[Huy Cận]...” (hết trích)
Tại sao lại trích dẫn Huy Cận trong khi con trai nhà thơ là Luật Gia Cù Huy Hà Vũ đang bị công an bắt giam về tội chính trị? Mà lại trích ngay những câu thơ đầy chất vấn và không có câu trả lời, không lời đáp... Có phải GS Tương Lai muốn hỏi tội cái chế độ đang bắt LS Cù Huy Hà Vũ, bởi vì trong bài có nêu lên một số ý tương hợp với những gì mà Luật Sư họ Cù đã viết trươc khi bị bắt.
Thí dụ, trích:
“...Những kiến nghị về đối nội, đối ngoại, về chỉnh đốn Đảng, về thật sự mở rộng dân chủ trong cách làm nhân sự đại hội, về đại đoàn kết dân tộc, về quan tâm giải quyết những bức xúc của dân, nhất là nông dân với vấn đề đất đai trong quy hoạch đô thị, trong công nghiệp hóa...(...)
...Với ông, đại đoàn kết dân tộc, trong đó tư tưởng khoan dung và hòa hợp có ý nghĩa rất thiết thực vào lúc này đối với đất nước phải trải qua ngót nửa thế kỷ chiến tranh, không một gia đình Việt Nam nào không gánh chịu những nỗi đau mất mát. Cũng trên suy nghĩ đó, ông dồn nhiều sức lực cho việc kết nối anh chị em trí thức trong nước và đang ở nước ngoài cùng nhau chân thành hợp tác nghiên cứu để góp phần tạo nên sức bật mới cho sự nghiệp phát triển đất nước trong bối cảnh mới của thế giới...
...Còn nếu câu nói vẫn cứ phải bật ra "phải chi lúc này có ông Sáu Dân" thì cần phải bổ sung thêm câu "phải chi dạo ấy người ta nghe ông Sáu Dân"...”(hết trích)
Phải chi nghe ông Sáu Dân? Trời ạ, người cõi âm là chuyện quá khứ. Tại sao không đặt vấn đề rằng tại sao không nghe lời của Luật Sư Cù Huy Hà Vũ?
Hãy nhớ rằng ông Võ Văn Kiệt từng giữ các chức vụ quan trọng, như cac1 chức: Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Bộ trưởng, Quyền Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh.
Sau khi về hưu từ năm 1997, thỉnh thoảng ông Kiệt mới lên tiếng với tư cách công dân, và mới có tư tưởng cởi mở. Than ôi, còn nắm quyền lực mà không làm, để tới về hưu mới nói thì ai mà làm cho. Có phải là khi nắm giữ quyền lực, cần phải bố trí, phải “cơ cấu” để đưa con cháu vào nắm các vị trí quan trọng về quyền lực chính trị, quyền lực tài chánh... rồi khi “vui thú điền viên” mới đặt vấn đề chất vấn, cho lương tâm đỡ kẹt, và để sau này các sử gia còn tìm ra điểm mà ca ngợi?
Tại sao lại nói là “phảỉ chi có ông Sáu Dân”? Tại sao lại thắp nhang nói chuyện với ông cụ cõi âm Sáú Dân nữa làm chi? Cả nước đã lên đồng với ông Hồ là mệt rồi, còn chưa thấy thay đổi gì.
Tại sao lại không nói lên sự thực rằng đất nước tự hào vì có những người như Luật Sư Cù Huy Hà Vũ, người không cần bám chân bất kỳ người cõi âm nàò hết?
Bởi vì cuộc chiến của LS Cù Huy Hà Vũ là đấu tranh cho quyền của người sống, là đòi thực thi hiến pháp với các quyền con người được công nhận, là đòi công bằng cho các dân oan, là đòi dân chủ cho người bị áp bức... và tận cùng, là đòi giữ đất, giữ rừng, giữ biển, giữ đảo và lên án mọi nhượng bộ của Đảng CSVN đối với Bắc Triều.
Than ôi, có phải trí thức Bắc Hà bây giờ chỉ còn dám nói tới chuyện của người cõi âm hay sao?
Ngô Nhân Dụng
Bắc Hàn mới bắn trọng pháo sang một tiền đồn của Nam Hàn trên hòn đảo Yeonpyeong phía dưới vùng phi quân sự, làm hai binh sĩ miền Nam thiệt mạng. Hành động khiêu khích này chắc sẽ không gây lại một cuộc chiến tranh mới trên bán đảo Triều Tiên, đã ngưng từ năm 1953.
Cũng như hồi đầu năm nay, Bắc Hàn đã đánh chìm chiến hạm Cheonan của hải quân miền Nam, lần nào chính quyền Bình Nhưỡng đoán trước Hán Thành sẽ không phản ứng mạnh cho nên lâu lâu lại đánh trộm một lần. Chết người, nhưng họ đâu có quan tâm đến mạng con người?
Tại sao Kim Chính Nhật lại có những hành động khiêu khích mạo hiểm như vậy? Lỡ chiến tranh tái phát thì sao? Cả hai vụ gây hấn trên đều có mục đích, vì lý do nội bộ của chính quyền cộng sản miền Bắc. Chủ tịch Bắc Hàn đang bệnh nặng, không biết lúc nào sẽ chết. Ông muốn nâng cậu con trai út Kim Vĩnh Ân lên để nay mai nối ngôi vua mà ông bố đã được ông nội truyền cho. Nhưng cậu trẻ quá, sợ bá quan trong triều không phục. Phải cho cậu thi hành mấy công việc gây sôi nổi khắp thế giới, rồi để cậu điều khiển triều đình trong công tác ứng phó. Gây ra hai vụ giết người, để cho Kim Vĩnh Ân nhân dịp này đứng ra kiểm điểm thái độ, hành vi các tướng lãnh một cách chặt chẽ hơn, chuẩn bị cho cậu nắm đầu quân đội. Cậu Út đã được phong lên làm đại tướng và nhậm chức phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương Ðảng. Một chính quyền cộng sản độc tài có thể gây ra những biến cố làm thế giới lo sợ, thị trường chứng khoán tụt xuống, chỉ vì ông chủ tịch nhà nước cần củng cố địa vị của cậu quý tử!
Nhưng tại sao chính phủ Nam Hàn không phản ứng mạnh mẽ hơn những lời tố cáo trước dư luận? Bởi vì Nam Hàn, ngược lại, là một nước dân chủ. Chính quyền một nước tự do dân chủ sẽ phải lắng nghe ý kiến dân chúng. Các nhà lãnh đạo Nam Hàn biết là dân chúng không ai thích chiến tranh. Ai muốn chiến tranh tái diễn để bao tài sản tích tụ được sau nửa thế kỷ xây dựng kinh tế bị phá tan tành? Ai muốn chịu đựng cảnh hàng triệu dân Bắc Hàn chạy xuống miền Nam tị nạn khi chính quyền Bình Nhưỡng sụp đổ? Thà rằng một chính quyền phải nhịn nhục trước một vụ gây hấn nhỏ còn hơn là để cho toàn dân chịu lầm than.
Cái khác nhau giữa dân chủ và độc tài là như thế.
Nhưng trên đây là chuyện thời chiến tranh, hai miền Nam Bắc Cao Ly trên nguyên tắc vẫn còn trong tình trạng lâm chiến vì sau khi ngưng tiếng súng vẫn chưa có một hiệp ước nào thiết lập hòa bình.
Ngay trong tình trạng bình thời, chúng ta cũng có thể thấy các chế độ dân chủ và độc tài hành xử khác nhau trên nhiều phương diện. Thí dụ như khi đối phó với các tai họa, do con người gây ra hay những thiên tai. Các chính quyền dân chủ thế nào cũng lo trước cho dân dễ tránh tai họa, và lo sửa chữa các chính sách để phòng ngừa tai họa đến sau. Vì họ sợ nếu sơ suất sẽ rất dễ bị mất phiếu trong cuộc bầu cử sắp tới. Thế nào trước khi bỏ phiếu người dân cũng biết là các “cụ bên trên” có lo việc đề phòng tai họa cho đất nước hay không. Thế nào dân cũng biết các cụ có làm gì hay không để sửa đổi các điều sơ suất đã mắc phải. Tại sao dân biết? Vì có báo chí tự do, ai cũng có quyền phát biểu, không giấu diếm được.
Còn những chế độ độc tài thì khác. Thường họ kêu la rất lớn khi tai họa xẩy ra (để xin thế giới cứu trợ), nhưng sau đó họ rất mau quên, dần dà quên luôn, đâu lại vào đó! Ký sau có tai họa, cả thế giới lại lo cứu trợ! Những vua chúa độc tài không cần biết dân nghĩ gì! Dân đang khen họ hay là đang chửi, cũng không ảnh hưởng gì đến ngôi vị họ đang ngồi cả. Vì dân đâu có được tự do bỏ phiếu bầu thủ tướng hay tổng bí thư!
Chỉ cần nhìn vào cảnh tượng khi tai họa xẩy ra, chúng ta biết chính quyền loại lo cho dân chúng nhiều hơn. Hãy nói chuyện thiên tai, tai họa do Trời sinh; vì có thể giả thiết rằng ông Trời không có phân biệt chế độ tự do hay độc tài khi ông gây ra bão lụt hoặc động đất!
Tháng 8 năm 2007, trận bão Dean, cấp 5, thổi vào vùng bán đảo Yucatan, Mexico bên bờ Ðại Tây Dương, với tốc độ từ 200 đến 250 cây số một giờ. Trận bão biển này được đặt tên “El Gigante,” (Ông Khổng Lồ) trước đó đã làm 12 người chết khi đi qua các hòn đảo vùng Caribbean! Cuối cùng, tại Yucatan thiệt hại về tài sản lên tới 400 triệu đô la Mỹ nhưng chính quyền cho biết không một người dân nào bị thiệt mạng.
Gần một năm sau, vào tháng 5, 2008, một trận bão cấp 5 tương tự đã kéo vào nước Miến Ðiện (Myanmar). Bão được đặt tên là Nargis thổi từ Vịnh Bengal vào vùng châu thổ sông Irrawaddy phía Nam Miến Ðiện với tốc độ chưa tới 200 km một giờ, cuối cùng đã làm cho gần 200,000 người dân Miến thiệt mạng.
Nhiều người sẽ trách ông Trời thiên vị, thương dân Mexico mà không yêu dân Miến Ðiện. Nhưng nếu nhìn cho kỹ, hiểu cho sâu, chúng ta sẽ thấy thủ phạm gây ra tai họa của dân Miến là con người, chứ không thể đổ hết tội cho Trời.
Ngay khi nghe tin bão, tổng thống Mexico, ông Felipe Calderón bỏ ngang một cuộc họp với Tổng Thống Mỹ Gorges W. Bush và Thủ Tướng Canada Stephen Harper tại tại Quebec để bay về nước. Cảnh sát được điều động tới 100 ngôi làng để “xua đuổi” dân di tản tránh bão, vì nhiều người không muốn đi; những người khác lo ngăn ngừa nạn cướp bóc, hôi của nhà cửa bị đổ hay khi dân chạy lánh nạn. Công ty dầu lửa quốc gia Petroleos Mexicanos đã đóng cửa tất cả các giàn khoan dầu ở ngoài khơi và đưa tất cả các nhân viên cùng công nhân vào đất liền tị nạn trước khi bão đồ tới. Tất nhiên, các du khách ở Cancun là những người được di tản sớm nhất, hy vọng sẽ có ngày họ trở lại!
Tại sao trận bão tấn công Miến Ðiện lại làm chết nhiều người như vậy? Một lý do chính là người dân không chuẩn bị phòng chống bão, người ta nói cả 500 năm mới có một cơn bão lớn như vậy. Nhưng nguyên nhân chính là do chính quyền Miến Ðiện không quan tâm đến tình trạng dân chúng sống ra sao, không thông báo những tai họa sắp đến để hướng dẫn dân chúng đề phòng. Chính quyền quân phiệt Miến tự họ bầu lẫn nhau, cũng không cần dân chúng bỏ phiếu cho họ.
Tai họa lớn không phải là mưa bão mà là nước lụt sau cơn mưa. Ở vùng đồng bằng sông Irrawaddy người dân đã phá rừng và bỏ những đồn điền trồng xoài trong mấy chục năm qua, thay vào đó là những thửa ruộng trồng lúa và nuôi tôm. Chính họ đã phá bỏ những “con đê tự nhiên” ngăn nước lũ tràn về, để cho khi gặp bão thì chạy không kịp nữa, giống như nạn phá rừng ở miền Trung nước ta.
Hầu hết dân chúng trong vùng bị bão không hề biết là tai họa sắp xẩy ra. Không có viên chức nhà nước nào đi báo động với dân. Khi bão sắp đập vào, không cai lo di tản dân đi xa những vùng nguy hiểm, mặc dù cả thế giới có thể trông thấy trước cơn bão đang hướng về phía nào, với tốc độ bao nhiêu.
Chúng ta đang sống trong một thời đại có vệ tinh nhân tạo chụp hình ảnh, thu lượm tin tức, dữ kiện khí tượng từng phút một để cả thế giới sử dụng khi cần theo dõi các trận bão. Chính quyền mỗi nước phải quyết định xem có đầu tư vào việc sử dụng phương tiện đó hay không. Trận bão Nargis này đe dọa cả Ấn Ðộ và Bangladesh. Khác với hai nước kia, Miến Ðiện không có một hệ thống radar để theo dõi và tiên đoán hướng bão sẽ đi tới.
Tại Ấn Ðộ, sáu đài quan sát thuộc sở khí tượng đã loan tin sắp có bão từ 10 ngày trước, liên tiếp suốt từ 27 tháng 4. Nhưng báo, đài nước Miến Ðiện, hoàn toàn do tập đoàn thống trị kiểm soát, chỉ loan tin bão 2 ngày trước khi bão ập vào, mà không phải người dân nào cũng để ý. Tại Bangladesh, có hệ thống các còi hú, có những đài dựng lên làm nơi cho dân thấy mà chạy tới trú ẩn, nhà nước phát trước những bản đồ chỉ đường chạy lánh nạn khi cần. Nhờ thế nên trận bão Sidr năm trước đó chỉ có 3,000 người Bangal thiệt mạng. Nếu Miến Ðiện cũng có một hệ thống như vậy, thì không đến nỗi chất tới 200,000 người! Các nhà quan sát quốc tế gọi đó là “những cái chết không cần phải xẩy ra.”
Những câu chuyện bão lụt trên đây xẩy ra ở Mexico, Myanmar, Ấn Ðộ, Bangladesh, cho thấy tai họa thiên nhiên gây thảm khốc cho con người nhiều nhất ở những nước mà người dân phải sống dưới những chế độ độc tài. Khi những người cai trị không phải do dân bầu lên mà chỉ do trong đảng cầm quyền họ suy cử, bầu bán lẫn nhau mà thôi, thì họ không có “phản ứng tự nhiên” là lo trước các tai họa đe dọa đời sống người dân.
Việt Nam hiện đang sống dưới một chế độ như vậy. Hiện nay trong nội bộ Ðảng Cộng Sản đang diễn ra một cuộc tranh chấp gay go giữa những người muốn sang năm lên thay thế Nông Ðức Mạnh làm tổng bí thư, có thể kiêm luôn chức chủ tịch nước! Các ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, vân vân, dùng đủ các thủ đoạn để bôi nhọ, phá đám nhau. Có ai phải trình bày một “chương trình tranh cử” cho dân Việt Nam thẩm lượng và lựa chọn hay không? Không cần. Xưa nay vẫn như vậy. Chính vì thế cuộc “tranh cử nội bộ” này càng ngày càng lộ ra những cảnh thật là nhơ nhuốc.
Trong khi đó, lũ lụt vẫn mỗi năm đổ xuống miền Trung Việt Nam, năm nào cũng chết người như năm nào. Dân đã quen rồi, năm ngoái chết 100 người, năm nay chết 50, những con số đó nghe mãi trở thành vô cảm. Có ai lo lắng đến mối lo của người dân hay không? Có ai nghiên cứu thiết lập một hệ thống báo động cho dân không? Ai đã cho phép phá rừng bừa bãi suốt từ năm 1975 đến nay để cho lũ lụt tràn về không gì ngăn cản?
Bờ biển miền Trung là nơi quá xa xôi đối với “các cụ!” Ngay tại thủ đô Hà Nội năm 2008 mưa lụt cũng đã giết chết 18 người, trong số 49 người chết ở cả các nơi khác. Từ hồi đó đến nay dân Hà Nội đã có được một hệ thống bảo vệ chống lụt tốt hơn hay chưa? Nhưng tại Sài Gòn, thì đầu tháng 11 vừa rồi lại ngập lụt nữa! Một lý do cũng vì nhà nước lì ra không cử động. Ông Nguyễn An Niên, chủ tịch Hội Khoa học Thủy Lợi thành phố nói với nhà báo rằng từ năm 2008 đã có một dự án phòng chống lụt, ngân khoản 11,500 tỷ đồng đã được chấp thuận, nhưng chưa thấy ai đem thi hành. Ông Niên không biết bao giờ nó mới được đem ra làm, nhưng sau hai năm thì tổng số chi phí đã tăng gấp đôi rồi. Không biết để vài năm nữa sẽ có tiền để thực hiện hay không! Nhiều con kinh đáng lẽ trở thành đường thoát nước thì đã bị “quy hoạch” cho lấp đi cho giới đầu tư xây cất. Riêng trong Quận II đã có 30 mẫu (ha) đất sau khi lấp bằng mấy con kinh.
Nhưng không phải nhà nước cứ đem các kế hoạch phòng chống lụt ra làm là dân đã bớt khổ. Tại một con đường quận 7, sau khi dự án phòng chống lụt hoàn tất, hàng ngàn gia đình bị lụt đe dọa, vì ngôi nhà họ ở thấp hơn con đường mới làm, thấp từ nửa mét đến một mét! Cứ mưa đến là nhà bị lụt ngay, không cần đợi! Các nhà thầu làm dự án nào, cho công việc gì thì chỉ biết công việc trong dự án của họ thôi, không chịu trách nhiệm về chuyện khác! Nếu họ xây một khu gia cư mới, họ sẽ lo đào cống rãnh đầy đủ. Nhưng việc nối đường cống mới này vào hệ thống ống cống cũ không phải việc của họ? Có nhà thầu muốn cho “công trình” của mình đẹp mắt, còn đem lấp luôn những ống cống cũ xấu xí đi. Nếu bị mưa thì nước nó ùn đi đâu “kệ mẹ nó!”
Cuối cùng thì đó là trách nhiệm của ai?
Ðó là trách nhiệm của những ông đang chửi nhau ở Hà Nội. Ông này tố ông kia bao che đàn em ăn cắp, làm công quỹ mất mấy tỉ Mỹ kim. Ông kia bèn chỉ mặt ông này kể tội đã từng sách nhiễu tình dục cấp dưới, lại nuôi mafia, tư bản đỏ. Nhưng trong cuộc đấm đá này không ông nào tự mình ra mặt cả, toàn dùng thủ đoạn ném đá giấu tay!
Thử hỏi người dân Việt Nam, rằng mấy ông ấy có ai lo về chuyện lũ lụt hay không? Chắc các ông ấy sẽ bảo đó không phải là việc của họ! Xin đồng bào thân mến hãy đi hỏi các đồng chí bên Miến Ðiện!
Tai họa của các chế độ độc tài thì kể mãi không hết!
Lại trông người rồi ngẫm đến ta Friday, November 26, 2010
Caubay
(Nguồn: DVC Online)
San Diego ngày 25 tháng 11 năm 2010
Thưa các vị đại biểu Quốc Hội nước Việt Nam,
Bộ Trưởng Quốc Phòng Nam Hàn Kim Tae-Young. (Hình: Bay Ismoyo/AFP/Getty Images)
Thưa ông bộ trưởng Bộ Quốc Phòng nước Việt Nam,
Thưa các vị tướng lĩnh trong Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam,
Tôi viết các dòng này đến các vị đúng vào ngày lễ Tạ Ơn bên Mỹ. Ngày này là ngày sum họp gia đình, chúng tôi hầu như tạm quên đi các công việc thường ngày, từ học hành, công ăn việc làm, cho đến chuyện quê hương, đất nước để hưởng một ngày vui.
Ở xứ thanh bình này, tôi được bình yên 365 ngày một năm; nhưng xin thưa một cách rất thành thực, hiếm khi tôi có một ngày bình yên trong tâm hồn. Vì lẽ tôi là vẫn người Việt Nam, vẫn còn nhớ về quê nhà mỗi ngày trong đời tôi. Hôm nay là ngày lễ Thanksgiving, một ngày lễ quan trọng của Mỹ, khí trời cuối tháng 11 lành lạnh, mùi rượu vang thơm thơm quyện lẫn mùi gà tây mới chín... Vây quanh tôi là những người thân, có người cả năm nay mới gặp lại.Tôi tưởng mình sẽ có một ngày thú vị và bình yên, thoải mái trong tâm hồn. Ăn, uống, hàn huyên, coi các trận đấu thể thao...
Thế mà tôi lại lặng lẽ vào phòng riêng để viết các dòng này cho các vị. Chỉ vì tôi khi ngồi trên sofa ở phòng ngoài, theo thói quen, tôi táy máy rờ cái laptop. Ðọc bản tin sau đây tôi thấy lòng không yên; dẫu đó là bản tin liên quan đến một xứ khác, tôi thấy cần gởi đến quí vị. Tôi chỉ nhấn mạnh vào điểm chính, dù lược dịch nhưng chắc chắn không dịch một cách tùy tiện theo ý tôi (kiểu như bác Lại Văn Sâm). Sau đây là đoạn chính của bản tin từ hãng AP:
Bộ trưởng Quốc Phòng Nam Hàn từ chức vì vụ tấn công của Bắc Hàn
Yeonpyeong Island, South Korea
By Hyung-Jin Kim and Kwang-Tae Kim, Associated Press
Theo bản tin của hãng AP mới đây cho biết Bộ Trưởng Quốc Phòng Nam Hàn Kim Tae-young vừa từ chức hôm Thứ Năm vì bị phê bình dữ dội chỉ hai ngày sau vụ Bắc Hàn tấn công bằng trọng pháo làm chết 4 người tại hòn đảo Yeonpyeong nằm gần vùng ranh giới có tranh chấp.
Hành động này xảy ra khi Tổng Thống Nam Hàn Lee Myung-bak cho biết sẽ gởi thêm quân tới hòn đảo thuộc vùng giới tuyến. Bắc Hàn cũng đã đe dọa sẽ tiếp tục tấn công nếu bị khiêu khích.
Nhiều giờ trước khi Bộ Trưởng Quốc Phòng Kim Tae-young từ chức, các nhà lập pháp đã “chửi như tát nước vào mặt” chính phủ, cáo buộc rằng các giới hữu trách đã không chuẩn bị đề phòng vụ tấn công hôm Thứ Ba từ Bắc Hàn và cũng khiển trách phản ứng của quân đội quá chậm chạp. Ngay cả những người trong đảng cầm quyền của Tổng Thống Lee cũng đã yêu cầu sa thải các tư lịnh quân đội và một số phụ tá của tổng thống.
Tổng Thống Lee đã chấp nhận sự từ chức của ông Kim và một bộ trưởng Quốc Phòng mới sẽ được thông báo vào ngày Thứ Sáu.
Nhiều giờ trước khi từ chức, Bộ Trưởng Quốc Phòng Kim cũng đã đến thăm đảo Yeonpyeong, nơi có nhiều căn cứ quân sự và một khu chài lưới có khoảng 1,300 dân.
(Hết phần dịch)
Thưa các vị,
Ðọc bản tin trên tôi nhớ về Hoàng Sa, Trường Sa, về những người lính (Việt Nam, nói chung) và những người dân chài đã chết trên biển Ðông vì giặc Tàu và đồng thời cũng liên tưởng tới các phản ứng của các giới liên hệ thuộc chính quyền Việt Nam mà các vị là những đại diện.
Vì nhớ về họ và cũng nhớ về các vị, tôi vội vã viết những dòng này gởi đi. Tôi hy vọng khi đọc tin này các vị cũng làm một sự so sánh như tôi đã làm. Khi so sánh, tôi tự chuốc cho mình nỗi phiền muộn trong một ngày vui đoàn tụ hiếm hoi trong năm. Thế còn các vị rút ra được điều gì? Tôi hy vọng không ai trong chúng ta chấp nhận rằng người Việt kém người Hàn, nhất là về tình yêu nước và tính liêm sỉ.
CÁCH MẠNG DÂN TỘC, DÂN CHỦ LẬT ĐỔ
CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN ĐỘC TÀI, PHẢN DÂN TỘC, PHI DÂN CHỦ,
SẼ DIỄN RA Ở VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO
Không ai chối cãi rằng chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay là một chế độ phản dân, hại nước, một chế độ phi dân chủ, phản nhân quyền, đi ngược lại đà tiến bộ của văn minh nhân loại. Chế độ này sớm muộn sẽ bị đào thải.
Nhưng nó bị đào thải như thế nào ? Dân tộc Việt Nam, kể tất cả mọi thành phần, từ nông dân, công nhân, trí thức, cho tới ngay cả những người cộng sản phản tỉnh, phải làm gì để giật sập chế độ này ?
Nói một cách khác đi là cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ sẽ diễn ra thế nào ở Việt Nam trong tương lai.
Chúng ta hãy cùng nhau xét vấn đề.
Cách mạng là gì
Cách mang theo nghĩa đông phương, thì cách là lấy đi, mạng là số mạng, theo đó một ông vua là được mạng trời để trị dân ; nhưng ý dân là ý trời ; làm trái ý dân là trái ý trời ; vì vậy những ông vua tàn bạo, làm trái ý dân có nghĩa là làm trái ý trời, nên trời đã lấy lại cái mạng đi. Như vua Trụ bên Tàu tàn bạo, nên vua Trụ đã bị trời cách cái mạng đi để trao cho cho Vũ Vương nhà Chu.
Theo tây phương, chữ cách mạng ( la révolution) lúc đầu có nghĩa là một chu kỳ ; như trái đất quay chung quanh mặt trời một vòng là cách mạng ; nhưng về sau, cách mạng có nghĩa là một sự thay đổi lớn ; như thuốc trụ sinh là một cuộc cách mạng trong y khoa ; váy ngắn phụ nữ là một cuộc cách mạng trong thời trang y phục.
Trong lãnh vực chính trị, kinh tế, lịch sử và xã hội, thì cách mạng có nghĩa là một thay đổi lớn, mau lẹ, nhằm vào 3 cơ chế chính, chứ không phải nhằm vào những cơ chế phụ, của một xã hội :
1) Thay đổi thể chế chính trị, chẳng hạn từ quân chủ sang dân chủ, ngày hôm nay thường là bắt đầu bằng thay đổi hiến pháp, vì hiến pháp thường được coi là nền tảng của một chế độ.
2) Thay đổi giai tầng lãnh đạo, vì những người này là những người thi hành của chế độ cũ.
3) Thay đổi trật tự xã hội ; vì thường khi cách mạng xảy ra là vì xã hội trở nên quá bất công, nên cần phải thay đổi trật tự cũ bất công bằng một trật tự mới công bằng hơn.
Một câu hỏi đến với chúng ta là tại sao Việt Nam hiện nay cần phải có cách mạng chứ không phải cải cách ?
Câu trả lời đó là chế độ hiện nay là một chế độ độc tài đi ngược lại lòng dân và trái với chiều hướng tiến bộ của nhân loại. Hiến pháp hiện hành vẫn cho rằng « Chủ nghĩa Mác Lê là nền tảng, là ánh sáng soi đường cho chế độ « . Trong khi đó thì cả thế giới kết án chủ thuyết này, chỉ mang lại độc đoán, độc tài, bất công và nghèo đói cho dân tộc nào phải chịu sự áp dụng của chủ thuyết này. Bà thủ tướng Đức Angela Merkel, tổng thống Nga Mevdevev, những người đã từng sống dưới chế độ cộng sản, đã không ngần ngại tuyên bố là chế độ cộng sản là một guồng máy sản xuất sự dối trá, giết người và đau khổ, không những cho chính nước theo chủ nghĩa đó, mà còn cho nước khác.
Giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam hiện nay, thì nói như nhà văn Dương Thu Hương : « Dân tộc Việt Nam dù có mù chữ chăng nữa cũng nhận thấy giới lãnh đạo cộng sản vừa tối tăm, ngu dốt, vừa ác ôn, côn đồ và hèn hạ. » Giới lãnh đạo như vật thì làn sao có thể đưa đất nước đến chỗ tiến bộ.
Về trật tự xã hội, thì trật tự hiện hành là một trật tự quá bất công. Đảng đoàn cán bộ, con ông cháu cha tiêu tiền vứt qua cửa sổ, trong khi đó người dân không có tới 1$, một ngày để sống. Tình trạng nhà thương, trường học thì xuống cấp. Bằng cấp giả tràn lan. Tệ nạn xã hội thì tăng thêm mỗi ngày. Con có thể giết cha mẹ, cha mẹ có thể bán con vì một vài chục $.
Có người còn nói cuộc cách mạng Việt Nam hiện nay còn phải là một cuộc cách mạng dân tộc độc lập cứu quốc và dân chủ kiến quốc. Tại sao ?
Đất nước Việt Nam, từ ngày Hồ chí Minh được Đệ Tam Quốc Tế Cộng sản nuôi dưỡng, rồi đưa về cướp chính quyền từ ngày 19/8/1945 tới nay chưa có độc lập. Có tương đối độc lập với Đệ Nhất Cộng Hòa, nhưng ngắn ngủi không đầy 10 năm, còn hoàn toàn bị lệ thuộc, và lỗi chính là họ Hồ và đảng cộng sản, vì họ đã đặt Việt Nam dưới gông cùm cộng sản, biến nước Việt Nam thành bãi chiến trường của cuộc tranh hùng tư bản- cộng sản. Miền Bắc, thì cộng sản hoàn toàn vâng lời cộng sản Nga – Tàu. Trước thì hoàn toàn vâng lời Nga sô, nay thì hoàn toàn vâng lời Tàu.
Trên thực tế Việt Nam hiện nay đang bị Trung Cộng đô hộ lần thứ 5. (1)
Miền Nam, thì để be bờ sự tràn xuống của cộng sản, người Mỹ đã phải đổ bộ quân vào, nhất là dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, nên chủ quyền quốc gia cũng không còn.
Vì vậy dân tộc Việt phải can đảm đứng lên đấu tranh để làm một cuộc cách mạng dân tộc, độc lập, cứu quốc.
Tại sao lại là cách mạng dân chủ
Vì dân chủ là mảnh đất mầu mỡ để cho con người phát triển. Thật vậy, chúng ta có thể ví con người, dù da vàng, da trắng, da đen hay da đỏ, như một hạt mầm. Nếu nó được gieo trên một mảnh đất mầu mỡ, có nghĩa là khi người dân được sống dưới một chế độ dân chủ do chính bàn tay mình bầu ra hay truất phế, có thể khen hay chê giới lãnh đạo, được hưởng những quyền tự do căn bản, như tự do bầu cử, tự do ngôn luận, thì khi đó người dân cũng như hạt mầm được nẩy mầm và phát triển. Ngược lại cũng con người đó, nhưng phải sống dưới một chế độ độc tài, thì tài năng sẽ thui chột. Thí dụ cụ thể nhất là 2 dân tộc Bắc Hàn và Nam Hàn. Cùng là người Hàn, nhưng Nam Hàn theo chế độ dân chủ, mặc dầu mới gần đây, hiện nay là cường quốc kinh tế thứ 10 trên thế giới, vừa mới là chủ nhân tổ chức Hội Nghị Thượng Đỉnh 20 quốc gia lớn nhất trên thế giới. Trong khi đó thì Bắc Hàn theo chế độ độc tài cộng sản, dân đang chết đói
Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ này diễn ra như thế nào, ai là những thành phần tham dự, phải chăng chỉ có những thành phần nghèo đói, như nhiều người nghĩ từ trước tới nay.Không nhất thiết. Chúng ta thấy dân Bắc Hàn đang bị chết đói mà không đứng lên. Trong khi đó, những cuộc cách mạng dân chủ mới xẩy ra gần đây, phần lớn tại những nước có một sự phát triển tương đối cao, giai tầng tham gia phần đông là sĩ phu, trí thức, sinh viên, học sinh, thường thuộc giai tầng trung lưu.
Vì là một cuộc cách mạng độc lập cứu quốc và dân chủ kiến quốc, nên nó liên quan đến mọi người không phân biệt giai tầng xã hội, từ nông dân, tới công nhân qua sĩ phu, trí thức và ngay cả những người cộng sản, phản tỉnh yêu nước.
Cuộc cách mạng này diễn ra dưới hình thức bạo động hay bất bạo động?
Thật khó có câu trả lời chính xác. Xét kinh nhiệm lịch sử trong quá khứ và nhất là qua những cuộc cách mạng dân chủ gần đây, từ Liên Sô qua Đông Âu, tới Phi luật Tân, Nam dương, thì thường là từ những bất mãn của dân đã ngấm ngầm chồng chất từ lâu, sau đó lan sang giới sinh viên, học sinh, rồi ngay cả giới cầm quyền, làm cho chính quyền phân tán và đi đến chỗ sụp đổ.
Ngày hôm nay, nhiều người nghi ngại về khủng bố, nên khi nói đến bạo động, thường sợ bị cáo buộc là khủng bố. Nhưng chúng ta phải nhớ đến quyền tự vệ chính đáng của người dân. Khi người dân bị đàn áp bóc lột đến quá độ, thì họ có quyền dùng bất cứ phương pháp nào để tự vệ, điều được ghi ngay trong Lời Tuyên Bố Độc Lập Hoa kỳ và cả trong Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền. Hiện nay hàng năm có cả 100 000 cuộc nổi dậy ở Trung Cộng, có những vụ sô xát, để tự vệ, người dân dùng ngay cả cuốc thuổng, dao búa, để chống trả lại, có những vụ làm chết và bị thương cả ngàn người về 2 phía chính quyền và người dân; nhưng thế giới không kết án là khủng bố, vì đây là quyền tự vệ chính đáng của người dân.
Tất nhiên những cuộc biểu tình này phải được hướng dẫn và tổ chức. Những người lãnh đạo không nhất thiết là những người sĩ phu, trí thức, có thể là đại diện giới thợ thuyền, công nhân như Lec Walesa ở Ba Lan, với sự giúp đỡ của giới trí thức, có thể lãnh đạo bởi ngay những người cộng sản phản tỉnh như Boris Etlsine ở Liên Sô. Nếu biến cố Thiên An Môn thành công, thì đây cũng là một cuộc cách mạng, và người lãnh đạo không ai hơn là Triệu tử Dương, đương kim Tổng bí thư đảng cộng sản Trung quốc. Ở Nam Dương và Phi luật Tân, thì giai tầng trí thức và sinh viên giữ vai trò quan trọng, đặc biệt là ở Phi thì đằng sau có sự cố vấn của những lãnh tụ tôn giáo.
Cuộc cách mạng tương lai Việt Nam là một cuộc cách mạng dân tộc, độc lập, cứu quốc, vì Việt Nam hiện nay đang bị đô hộ bởi Trung Cộng, giới lãnh đạo CSVN chỉ là tay sai, thái thú, Trung cộng đang áp dụng một chính sách đô hộ vô cùng thâm độc, dùng người bản sứ để cai trị người bản sứ, dùng chính sách tằm ăn dâu, gậm nhấm từng tấc đất của chúng ta; đó là một cuộc cách mạng dân chủ kiến quốc, vì dân chủ là mảnh đất mầu mở để cho con người phát triển, để cho dân giàu, nước mạnh. Dân có giầu, nước có mạnh mới có thể giữ vững được nền độc lập và theo kịp đà tiến hóa của văn minh nhân loại. (1)
Nó liên quan đến mọi người, mọi giai tầng, ngay cả những người cộng sản phản tỉnh, yêu nước, sớm thức thời, đứng về hàng ngũ quốc gia, dân tộc, từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, tránh sự lệ thuộc Trung cộng.
Khi nhà nước "bới bèo ra bọ" Giao Tiên
Nhà nước VN vừa thực hiện một màn kịch bắt ghen cực kỳ ngoạn mục. Ngày 5/11, vào lúc nửa đêm, giờ tý, canh ba, công an Saigon đã xông vào phòng của khách Sạn Mạch Lâm tại Phường 11, quận 6, Saigon để bắt quả tang Luật sư Cù Huy Hà Vũ đang ở trong phòng với một phụ nữ. Sự kiện này được công an chụp hình để đem ra cung cấp cho giới truyền thông. Tờ báo điện tử “VietNamNet” ngày 5/11, đã cho đăng bức hình này với phụ đề: “do cơ quan an ninh điều tra cung cấp.” Trong hình, ông Cù Huy Hà Vũ ở trần, ngồi ở mép giường. Người phụ nữ mặc quần áo kín đáo, đứng quay lưng lại ông Vũ, mặt được bôi đen để giữ kín nhân dạng. Tuy nhiên, tấm hình này được lấy xuống mấy giờ sau.
Để bắt quả tang, có lẽ công an đã phải mất nhiều thời giờ theo dõi sát hành tung của ông Hà Vũ, vì ông Hà Vũ ở Hà Nội, mới vào Nam, ở tạm khách sạn Mạch Lâm thì tai họa xảy ra.
Theo khía cạnh luật pháp, tấm hình này không thể là bằng chứng để kết tội dâm ô, hay ngoại tình, vì thiếu cơ sở ! Nhưng lại là một bằng chứng để bêu xấu thanh danh những người trong hình, và có thể phá vỡ hạnh phúc của một gia đình có thể là đang êm ấm.
Chuyện “trai đơn, gái chiếc” ở chung một phòng trong khách sạn vào lúc nửa khuya thì ai mà không liên tưởng tới những chuyện mờ ám. Tuy nhiên, chuyện mờ ám này là chuyện cá nhân, chuyện của bà Nguyễn thị Dương Hà, vợ ông Vũ phải lo, chứ không phải là chuyện của Trung Tướng công an Hoàng Kông Tư, và đám đệ tử lau nhau tới khám xét, chụp hình lúc nửa đêm. Ăn lương nhà nước, trả bằng tiền thuế nhân dân, mà làm chuyện…..ruồi bu, kiến đậu !
Công an sau khi khám xét phòng ông Hà Vũ, tịch thu chiếc laptop, và không tìm thấy đồ….quốc cấm, thì công an Hà Nội vội tiến hành khám xét tư gia của ông, trong lúc vợ chồng chủ nhà đều vắng mặt.
Có lẽ do không kiếm ra được các tài liệu nhà nước hằng….mong đợi, nên cuộc họp báo ngày hôm sau, 6/11 do Trung Tướng Tô Lâm, thứ Trưởng công an chủ toạ, và Trung Tướng Hoàng Công Tư. thủ trưởng cơ quan an ninh điều tra tham dự, chỉ chưng ra tấm hình….trai gái của ông Hà Vũ, và các bài viết cũ mà ông Cù Huy Hà Vũ đã đưa lên mạng và tuyên bố là ông Cù Huy Hà Vũ bị khởi tố khẩn cấp về tội tuyên truyền chống nhà nước XHCN, theo điều 88 Bộ Luật Hình Sự. Và ông bị bắt giam !
Bỏ tù vì lý do chính trị, mà lại chưng ra tấm hình... trai gái thì thực là .... đầu gà đít vịt, mặt thỏ mỏ dơi, nhưng lại lọt lỗ tai của 2 Trung Tướng công an của đảng quang vinh gồm các “đỉnh cao trí tuệ loài người”.
Ông Cù Huy Hà Vũ 53 tuổi, là con trai của “khai quốc công thần” Cù Huy Cận, một trong 3 người được HCM cử vào Huế để tiếp nhận ấn kiếm trong lễ thoái vị của vua Bảo Đại. Ông Cù Huy Cận đã từng giữ các chức vụ Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, Đại Biểu Quốc Hội các khóa I, II, và VII.
Nhờ thế ông Cù Huy Hà Vũ được du học bên Pháp, tốt nghiêp Tiến sĩ Luật Khoa tại Đại học Sorbonne, Học Viện Quốc Tế hành chính công, và bằng Thạc Sĩ Văn Chương Pháp.
Ngày 3/7/09, ông đã gửi đơn kiện Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng về việc ban hành trái Hiến Pháp và Pháp Luật quyết định số 167/2007/QĐ-TTg về: “Phê duyệt, quy hoạch, phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến, xử dụng quặng Bauxit giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025.” Tòa Án nhân dân Hà Nội từ chối thụ án vì lý do: “không có thẩm quyền”. Ông khiếu nại lên Tòa Án tối cao, nhưng không có kết quả.
Ngày 14/9/2010, ông Cù Huy Hà Vũ lại kiện TT Nguyễn Tấn Dũng về việc ban hành nghị định số 136, cấm khiếu nại tập thể. Ông khẳng định rằng nghị định này trái với hiến pháp và luật pháp.
Ông cũng mạnh dạn phát biểu những nhận định qua các cuộc phỏng vấn của hệ thống truyền thông quốc tế và hải ngoại. Trong cuộc phỏng vấn của đài VOA, ông khẳng định: “Nguyên nhân của luật pháp quái thai ở VN chính là sự lãnh đạo độc quyền, độc tôn của đảng CS, được che chở bởi điều 4 Hiến Pháp.” Trong cuộc phỏng vấn của đài Little Saigon Radio do Chu Tất Tiến thực hiện, ông cho biết: “ông đã yêu cầu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Nông Đức Mạnh và Nguyễn Minh Triết lập tượng đài ghi công cho 58 chiến sĩ VNCH đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa, vì chiếu theo Hiến Pháp thì: “ những ai hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ chủ quyền đất nước phải được ghi công như những liệt sĩ....”
Văn phòng LS Cù Huy Hà Vũ đã lãnh bào chữa cho 6 giáo dân Cồn Dầu, bị ra tòa về tội “gây rối trật tự công cộng” và “chống người thi hành công vụ”. Ông đã trả lời cuộc phỏng vấn của báo Công Giáo Nữ Vương Công Lý ngày 2/11/10: “hiển nhiên là âm mưu chiếm đoạt đất đai của giáo dân Cồn dầu là từ phía chính quyền thành phố Đà Nẵng…. Đau đớn thay giáo dân Cồn dầu đang đối mặt với nguy cơ mất quê hương ngay chính trên quê hương mình…”
Ông Cù Huy Hà Vũ là cố vấn pháp luật cho mạng “Bauxit VN”. Các đơn kiện Thủ Tướng và quan điểm của ông đều được phổ biến trên mạng này.
Có lẽ vì quá tin tưởng vào uy tín và sức mạnh của gia đình, ông Hà Vũ đã có những hành động và lời phát biểu như những mũi dao nhọn đâm vào trái tim các lãnh đạo VN. Chính quyền VN thấy cần phải “nhổ đi cái gai trước mắt” bằng bất cứ cách nào, kể cả ...hạ sách.
Hiện tại, bà Dương Hà đang làm đơn khiếu nại gửi lên các Ủy Ban Tư Pháp Quốc Hội, Bộ Trưởng Công An Lê Hồng Anh, và Viện Trưởng viện Kiểm sát Nhân Dân Tối cao Trần Quốc Vượng. Các hội đòan quốc tế nhân quyền cũng yêu cầu trả tự do cho ông Cù Huy Hà Vũ tức khắc và vô điều kiện. Người phụ nữ có mặt trong bức hình với ông Hà Vũ, bà Hồ Lê Như Quỳnh cũng đang nhờ LS kiện công an TP Hồ Chí Minh về hành đông bêu xấu thanh danh bà.
Nói thế nhưng ai cũng biết tất cả các khiếu nại kiện tụng chỉ là vô ích trong một chế độ công an trị và luật pháp nằm trong tay những kẻ nắm quyền lực trong đảng. Tuy nhiên, hệ quả pháp lý không quan trọng. Cái nhân nhà nước muốn có trong chuyện “bắt ghen ” hộ đã được gieo rồi, trong gia đình ông Hà Vũ. Cái quả ra sao thì còn chờ thời gian.
Các nhà ngoại giao tin chính phủ Bắc Triều Tiên sắp sụp đổ
Vụ tiết lộ các bức điện ngoại giao cho thấy có một động cơ có thể giải thích cho hành động hiếu chiến mới đây của Bắc Triều Tiên. Các tài liệu này là một phần của khối lượng thông tin mật khổng lồ được đăng tải trên trang web Wikileaks. Từ Seoul, thông tín viên VOA Steve Herman của gởi về bài tường trình sau đây. Các bức điện tín gửi qua lại cho thấy hồi tháng Hai, Thứ trưởng ngoại giao Nam Triều Tiên nói với đại sứ Hoa Kỳ tại Seoul rằng các giới chức "cấp cao" của Trung Quốc hiện nghĩ rằng nên thống nhất Triều Tiên dưới sự kiểm soát của Seoul, nếu Bắc Triều Tiên sụp đổ.
Gới chức Chun Yung-woo của Nam Triều Tiên được trích lời nói rằng mặc dù Trung Quốc không muốn quân đội Hoa Kỳ hiện diện trên lãnh thổ hiện nay là Bắc Triều Tiên, Bắc Kinh vẫn chấp nhận một bán đảo Triều Tiên thống nhất trong liên minh "lành mạnh" với Hoa Kỳ.
Ông Chun, nay là cố vấn an ninh quốc gia cho tổng thống, nói rằng các nhà lãnh đạo trẻ trong Đảng Cộng sản Trung Quốc không sẵn lòng mạo hiểm với chiến tranh trên Bán đảo Triều Tiên để hỗ trợ Bắc Triều Tiên mà họ không còn thấy hữu dụng hay đáng tin cậy nữa.
Ngoài ra, ông Chun còn nói rằng chính phủ Nam Triều Tiên nghĩ chính phủ miền Bắc có thể sẽ sụp đổ trong vòng hai hay ba năm sau khi lãnh tụ Kim Jong Il qua đời.
Giáo sư Brian Myers của Đại học Dongseo ở Busan là một nhà nghiên cứu về tư tưởng Bắc Triều Tiên. Ông nói giới lãnh đạo Bắc Triều Tiên luôn không tin tưởng Trung Quốc.
Ông Myers nói: “Tôi không nghĩ rằng những tiết lộ này gây sốc lớn cho chế độ luôn nghĩ đến những điều xấu nhất về người nước ngoài. Nhưng chúng sẽ gây sốc đối với người dân Bắc Triều Tiên khi những tin tức này đến với họ. Và họ sẽ nhận được những thông tin này, bởi vì ngày nay họ có nhiều phương tiện để tiếp cận với những ngồn tin từ bên ngoài. Chuyện này sẽ góp thêm vào tình hình vốn được xem là một cuộc khủng hoảng đang ngày càng trầm trọng hơn về niềm tin trong nội bộ của Bắc Triều Tiên".
Và Giáo sư Myers nói rằng điều này thực sự có thể trở thành một mối đe doạ lớn nhất đối với sự tồn tại của Bắc Triều Tiên.
Ông Myers nói tiếp: “Tôi nghĩ rằng người dân thường Bắc Triều Tiên đều hiểu rất rõ rằng nếu tước bỏ hết quyền lực của gia đình ông Kim thì chế độ đó sẽ không còn lý do để tồn tại. Bản thân tính hợp pháp của của chế độ đó bắt nguồn từ huyền thoại về tính anh hùng của Kim Il Sung và tấm lòng thương dân vô bờ của ông".
Lãnh tụ quá cố Kim Il Sung, cha của đương kim lãnh tụ Kim Jong Il là nhà lãnh đạo đầu tiên của Bắc Triều Tiên.
Giáo sư Myers và các nhà quan sát Bình Nhưỡng khác nói rằng một cuộc khủng hoảng về niềm tin nội bộ ở Bắc Triều Tiên có thể đã thôi thúc ông Kim Jong Il phải có hành động gây hấn hơn đối với Nam Triều Tiên trong lúc ông dàn dựng cho người con trai Kim Jong Un lên kế vị ông.
Một giới chức đại sứ quán Hoa Kỳ ở Seoul nói rằng chính sách không cho phép bình luận về các tài liệu có thể chứa những thông tin mật. Chính phủ Hoa Kỳ cực lực lên án trang web Wikileads đã thu thập và tung ra hơn 250.000 trang tài liệu ngoại giao mật trong tuần này.
Toà Bạch Ốc và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói rằng việc phổ biến những tài liệu này có thể gây tổn hại cho các mối quan hệ quốc tế, gây nguy hiểm cho các nhà ngoại giao và những người liên lạc với họ.
Căng thẳng trên Bán đảo Triều Tiên gia tăng nghiêm tronng. trong năm nay. Một chiến hạm của hải quân Nam Triều Tiên bị nổ và chìm trên biển Hoàng Hải hồi tháng 3, và các nhà điều tra quốc tế nói rằng chiếc tàu đã bị trúng ngư lôi của Bắc Triều Tiên. Bình Nhưỡng bác bỏ mọi dính líu trong vụ này.
Hồi tuần trước, lần đầu tiên kể từ Cuộc chiến tranh Triều Tiên vào đầu thập niên 1950, Bắc Triều Tiên đã pháo kích vào thường dân Nam Triều Tiên. Bốn người đã thiệt mạng trên đảo Yeonpyeong. Bình Nhưỡng nói rằng họ bắn trả vụ pháo binh Nam Triều Tiên bắn pháo gần biên giới trên biển đang trong vòng tranh chấp.
Hải quân Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên hôm Chủ nhật đã bắt đầu cuộc thao diễn chung kéo dài 4 ngày trên biển Hoàng Hải.
Một người phát ngôn hải quân trên hàng không mẫu hạm USS George Washington nói rằng cuộc thao dượt quân sự không nhằm mục đích khiêu khích Bình Nhưỡng.
Tư lệnh Hải quân Jeff Davis nói rằng các chiến hạm của Hoa Kỳ không nổ súng trong cuộc thao dượt. Ông cũng cho biết là cuộc thao dượt sẽ không diễn ra gần Lằn ranh phía Bắc, một đường biên giới trên biển mà Bắc Triều Tiên không công nhận.
Ông Davis cho biết: “Chúng tôi thao dượt trên biển Hoàng Hải, tức ở xa về phía nam của Lằn ranh phía Bắc. Hoạt động này thực sự không liên quan đến tình hình mới xảy ra gần Lằn ranh phía Bắc. Thực sự đây là một cuột thao diễn đã được hoạch định trong nhiều tháng qua. Kế hoạch của cuộc thao dượt được lập ra xong lại thay đổi. Trong kế hoạch chúng tôi không có phần nào liên quan đến việc bắn đạn thật".
Bắc Triều Tiên nói cuộc thao dượt này đưa Bán đảo Triều Tiên đến gần bờ vực chiến tranh.
Các bức điện bị tiết lộ trên Wikileaks còn cho thấy Hoa Kỳ nghĩ rằng Bắc Triều Tiên đã bán công nghệ hoả tiễn cho Iran, giúp Iran có khả năng phóng phi đạn sâu vào bên trong châu Âu.
Cũng trong ngày hôm nay, một nhật báo chính thức của Bình Nhưỡng khoe rằng Bắc Triều Tiên hiện vận hành hàng ngàn máy ly tâm để tinh chế uranium nhằm mục đích chung cuộc là sản xuất điện năng cho đất nước nghèo khó này. Tuy nhiên, các nhà phân tích an ninh nói rằng Bắc Triều Tiên có thể sử dụng vật liệu đó để chế tạo thêm bom nguyên tử. Dư luận tin rằng Bắc Triều Tiên đã có trong tay nhiều vũ khí hạt nhân làm bằng plutonium.
Hà Tường Cát/Người Việt
Hôm Chủ Nhật, 28 tháng 11, WikiLeaks công bố 1/4 triệu công điện ngoại giao (diplomatic cables) trao đổi giữa bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ với các Sứ Quán Mỹ trên toàn thế giới mà tổ chức này đã thu được, có nội dung từ loại bình thường đến cần giữ kín và bí mật.
Những hồ sơ này chứa đựng nhiều nội dung đa dạng trong đó có những công điện dưới hình thức báo cáo hay ý kiến của các nhân viên ngoại giao làm việc ở sứ quán, biên bản ghi chép những cuộc trao đổi thương thuyết với giới chức chính phủ nước ngoài.
Do bản chất mới chỉ là những ý kiến nhận định thâu thập bởi các cá nhân trong ngoại giao đoàn nên chưa hẳn là đã có giá trị ảnh hưởng đối với chính sách của Hoa Kỳ trên thế giới. Tuy nhiên do tính cách bộc trực của những đương sự trong việc trình bày, nhiều sự kiện trở thành vấn đề hết sức phức tạp tế nhị khi bị tiết lộ.
Chẳng hạn qua các tài liệu này người ta thấy được cái nhìn và sự đánh giá của người Mỹ đối với thế giới. Những hồ sơ ngoại giao đưa ra công khai cũng cho thấy việc nhiều nhà lãnh đạo Á Rập muốn Hoa Kỳ đánh Iran; Trung Quốc tìm cách phá rối Google, hệ thống liên lạc thông tin của chính phủ Hoa Kỳ và Ðức Ðạt Lai Lạt Ma; Hoa Kỳ có dự tính bí mật thâu đoạt nguyên tử liệu của Pakistan; bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ chỉ thị cho nhân viên do thám tin tức ở Liên Hiệp Quốc.
Ngoài ra còn có những chuyện liên quan đến cá nhân các giới lãnh đạo, khi bị lộ sẽ làm phiền phức trên mặt bang giao, ví dụ Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy được coi như người “có cá tính nhạy cảm và độc đoán,” tổng thống và thủ tướng Nga là một cặp bài trùng trong chuyện khoa học giả tưởng trong đó Putin giữ vai Batman còn Medvedev chỉ là Robin, Tổng thống Iran có kiểu cách Hitler, chủ tịch Bắc Hàn là “thằng cha già mềm nhũn mang bệnh tâm thần,” và một bộ trưởng Anh Quốc là “con chó chuyên đi săn phụ nữ”...
Khối lượng tài liệu bị tiết lộ
Theo WikiLeaks, tổng số tài liệu sẽ được công bố là 251,287 hồ sơ tổng cộng chứa hơn 260 triệu từ, liên quan đến bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và 274 tòa đại sứ hay lãnh sự trên toàn thế giới. Phân loại bảo mật gồm 15,652 tối mật (secret), 101,748 mật (confidential) và 133,887 không cần giữ kín (unclassified) nhưng chỉ để cho các giới thẩm quyền sử dụng.
Ðứng đầu về con số những tài liệu này tất nhiên là bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, tiếp đó là tòa đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq. Nhật Bản,...
Có 3,165 tài liệu từ Việt Nam qua tòa Ðại Sứ tại Hà Nội (2,403) và tòa Tổng Lãnh Sự ở thành phố Sài Gòn (776), tổng số đứng vào hàng thứ 37. Trong các công điện ngoại giao gởi đi hay đến có 78 thuộc loại tối mật, 359 thuộc loại không phổ biến và 2,738 thuộc loại không bảo mật.
WikiLeaks nói rằng những tài liệu được công bố ở giữa thời gian từ 1966 đến tháng 2 năm 2010. Muốn tìm xem những tài liệu này có thể vào mạng http://cablegate.wikileaks.org. Tuy nhiên ngay bây giờ chưa thể tìm thấy trên mạng này toàn bộ những tài liệu vì WikiLeaks đã thỏa thuận với 5 tờ nhật báo để cung cấp dần dần trong nhiều tháng, với điều kiện những báo này phải bắt đầu đưa ra trong cùng một ngày. Năm nhật báo đó là The Guardian (Anh), The New York Times (Mỹ), Le Monde (Pháp), Der Spiegel (Ðức) và El País (Tây Ban Nha).
WikiLeaks là gì
Wikileaks là một tổ chức quốc tế, bất vụ lợi, đặt trụ sở tại Thụy Ðiển, chuyên loan tải những nội dung không được công bố và các thông tin rò rỉ. Nguồn tin đều là vô danh và không được công bố. Thành lập vào năm 2006 và chỉ một năm sau website của WikiLeaks nói rằng cơ sở dữ liệu của họ đã có hơn 1.2 triệu tài liệu. Ðừng lầm lẫn tổ chức này với Wikipedia, bách khoa từ điển mở chuyên cung cấp mọi loại thông tin dòng chính, hai cơ chế này không có liên hệ gì với nhau.
Người sáng lập và là chủ tịch của tổ chức này là Julian Assange, công dân Australia, mới đây bị một tòa án hình sự Thụy Ðiển ban hành lệnh tầm nã do hai phụ nữ đã tố cáo đương sự có hành động tấn công tình dục.
WikiLeaks tuyên bố họ là một cơ quan truyền thông có sứ mạng cung cấp những tin tức quan trọng và thông tin mà công chúng có quyền được biết, hoạt động theo nguyên tắc đã được ghi trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.
Phản ứng của dư luận
Tuy nhiên phản ứng khác nhau của các quốc gia đối với việc WikiLeaks tiết lộ tài liệu ngoại giao Hoa Kỳ hầu hết đều là phê phán chỉ trích và cho rằng phương hại đến lợi ích và nền an ninh chung.
Nhưng đặc biệt một trong những lời phê phán mạnh mẽ nhất lại là từ Iran. Trong cuộc họp báo hôm Thứ Hai, Tổng Thống Mahmoud Ahmadinejad khẳng định “chính Hoa Kỳ đã ra lệnh công bố những hồ sơ này.” Ông cho rằng đây là “một hình thức chiến tranh tâm lý, một mánh khóe tình báo” và tuyên bố: “Chúng ta đủ khôn ngoan để không mắc vào bẫy và chẳng cần chú ý đến những tài liệu ấy.”
Lập luận của tổng thống Iran không có gì lạ. Một số hồ sơ liên quan đến Iran vừa tiết lộ xuất xứ từ những cuộc gặp gỡ thảo luận giữa các giới chức Hoa Kỳ với Saudi Arabia, Bahrain, UAE (Liên Hiệp Tiểu Vương Quốc Á Rập) và các nhà lãnh đạo nhũng quốc gia này đều bày tỏ sự đồng ý với việc Hoa Kỳ đánh Iran để chấm dứt chương tình phát triển vũ khí nguyên tử. Thủ tướng Qatar, Hamad bin Jasim al-Thani, khi được hỏi về thực tế bị tiết lộ cho thấy có sự trái ngược với thái độ của nước ông đối với Iran từ trước đến nay, đã trả lời thẳng: “Họ nói dối chúng tôi và chúng tôi nói dối họ.”
Thủ Tướng Binyamin Netanyahu cho là Israel không bị phiền phức gì về sự tiết lộ của WikiLeaks, trái lại minh định rõ được là nhiều quốc gia Trung Ðông chia sẻ quan điểm với nước ông rằng chương trình phát triển nguyên tử của Iran là mối đe dọa nặng nề ở khu vực này.
Dù sao một số những tiết lộ vừa được đưa ra mới chỉ là một phần nhỏ trong số tài liệu mà theo WikiLeaks phải mất nhiều tháng mới công bố hết, do đó sẽ còn hứa hẹn nhiều sôi nổi, chưa kể đến vấn đề mục tiêu và ý nghĩa việc làm của WikiLeaks cũng là một đề tài gây tranh luận lâu dài. (HC)
(tham luận gửi hội thảo “Sự xuống cấp văn hóa và đạo đức trong xã hội ngày nay” do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức ngày 27.11.2010 tại Hà Nội)
Phạm Anh Tuấn
Tôi cố gắng nhìn văn hóa và đạo đức từ một điểm xuất phát nào đó ở bên trong con người. Bởi vì tôi cố gắng không để mình bị hạn chế vào một cách nhìn cột chặt vào một chuyên ngành nào đó, chẳng hạn như nhìn văn hóa, đạo đức hoặc sự xuống cấp văn hóa và đạo đức từ góc nhìn của đạo đức học, tâm lý học, xã hội học, tội phạm học, luật học v.v. là những lĩnh vực mà tôi thực ra không có kiến thức trường ốc chuyên sâu. Nhưng việc tự hạn chế này hóa ra đối với tôi lại là một lợi thế, tôi có thể từ bỏ một cách nhìn chung chung, siêu hình, hoặc một cách nhìn cố định, bất biến, tuyến tính. Do đó tôi có thể quan sát tâm hồn của con người trong xã hội của chúng ta ngày hôm nay, và bằng cách đó tôi đề xuất một điều gì đó biết đâu có thể có ích cho người khác.
Nói bằng tinh thần của nhà văn Nga Fyodor Dostoyevsky, tâm hồn con người là nơi chiến địa giữa Thiện và Ác. Chiến địa đó diễn ra ở trong từng cá nhân, từ cấp độ nhỏ cho tới cấp độ lớn. Từ những việc như ăn cắp, nói dối, lừa gạt, lừa đảo người khác cho tới tước đoạt hạnh phúc, tước đoạt mạng sống của người khác, rồi cho tới tham nhũng, tước đoạt hạnh phúc, tước đoạt cuộc sống của cả một cộng đồng, một đất nước – phản bội lại lợi ích của một cộng đồng, một đất nước – tất thảy đều không phải là một hành động, hành vi nhất thành bất biến, một lần xảy ra cho mãi mãi, mà là kết quả cuối cùng của cả một quá trình lâu dài phức tạp có khi hỗn độn, phi lô-gich. Tâm hồn con người là chiến địa bởi vì tâm hồn con người là nơi lưu giữ những kỷ niệm, hồi ức, ẩn ức, niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc, khổ đau của quá khứ. Tâm hồn con người trở nên bất hạnh khi nó “không còn gì để mất” và càng bất hạnh hơn nữa nếu như cùng lúc đó nó không nhìn thấy bất kỳ một tia hi vọng le lói nào ở cuối đường hầm của tương lai. Khi đó, nói như nhân vật Dmitri trong Anh em nhà Karamazov của Dostoyevsky: tất cả đều được phép và do đó tất cả đều hợp pháp. Trong tình hình như vậy thì văn hóa (những thiết chế và sản phẩm tinh thần, vật chất, những thói quen tinh thần, v.v. của dân tộc, chủng tộc trong quá khứ và hiện tại) và đạo đức, khoa học, giáo dục, luật pháp, hành pháp, có thể tìm thấy chỗ đứng ở đâu, có thể đóng vai trò gì?
Hãy thử quan sát một con người bình thường trong xã hội ngày hôm nay từ lúc sinh ra rồi lớn lên. Để xem thử nó nhìn thấy gì, nó nghe thấy gì, nó suy nghĩ gì, nó có cảm xúc gì, và nó phản ứng thế nào.
Lên sáu tuổi, nó bắt đầu đến trường, đấy là nếu như nó được đến trường, nếu như bố mẹ nó có đủ tiền bạc để cho nó đến trường, nếu như có một ngôi trường nằm ở gần nơi gia đình nó sinh sống, nếu như gia đình nó sống ở nơi không bị chia cắt, không bị cô lập trong mùa mưa bão, và còn rất nhiều “nếu như” khác nữa. Ngày đầu tiên bước vào lớp học, nó được dạy lễ nghĩa – theo đúng khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” – làm như thể nó hư từ trong bụng mẹ và kể từ giờ trở đi nó sẽ được nhà trường giáo dục để trở thành đứa trẻ ngoan ngoãn. Nó học toán, học văn, học đạo đức và nhiều môn học khác nữa giống hệt như cách tổ tiên ông bà cụ kị nó học cách đây hàng trăm năm. Thế mà người ta đã chi bừa bãi hàng tỉ đôla Mỹ lấy từ mồ hôi nước mắt của cha mẹ nó để sửa đổi chương trình học triền miên suốt bao nhiêu năm qua. Vẫn là ông thầy đứng trên bục cao để giảng giải, để phân tích, để áp đặt mọi thứ, và khuyến khích duy nhất khả năng ghi nhớ của nó. Một nền giáo dục quá lý trí, cái gì cũng giảng giải sẽ làm cho đầu óc của đứa trẻ bị đần độn đi (một trạng thái abrutissement), tâm hồn nó bị đồng phục hóa, và sau này lớn lên nó sẽ tìm cách trả thù khi có dịp. Nhà trường phải biết tôn trọng cái “góc khuất tối”, cái phần khó lòng nhìn thấy rõ ở trong tâm hồn một đứa trẻ. Trẻ em phạm một sai lầm nào đó, thậm chí hút thuốc lá, bỏ học, đánh nhau, vẫn chưa phải là thảm họa. Thảm họa thực sự là khi nhà trường hất nó ra ngoài vỉa hè, đóng sập cánh cửa vĩnh viễn lại sau lưng nó, coi nó như quả bóng được đá đi đá lại giữa Nhà trường và Xã hội.
Đến tuổi 18, nó vào đại học, đấy là nếu như nó may mắn hơn hàng trăm ngàn bạn bè cùng trang lứa của nó mỗi năm bị chặn đứng một cách phũ phàng trước cánh cửa đại học, nếu như bố mẹ nó vẫn còn đủ tiền để trang trải việc học của nó trong 5 năm (tốn hơn nhiều lắm so với 12 năm học phổ thông), nếu như nó có đủ sức khỏe (vì trong 5 năm tới nó sẽ thường xuyên bị cái đói hành hạ), nếu như nó vẫn còn đủ nghị lực và lòng ham học (bởi vì đầu óc nó đã quá mệt mỏi sau 12 năm học phổ thông và bởi vì trong 5 năm tới nó vẫn tiếp tục phải ngồi thụ động nghe ông thầy giảng giải, nhồi nhét kiến thức), và nhiều “nếu như” khác nữa. Nó vẫn tiếp tục bị coi là “học trò”, nó không biết cách đọc sách, nó không biết tranh luận, tóm lại nó không biết bất kỳ một phương pháp tư duy nào khác ngoài một phương pháp duy nhất được dạy đồng loạt cho tất cả.
Trong tình hình như vậy thì nó sẽ học theo cách đối phó, đủ để thi tốt nghiệp cuối năm. Hằng tối nó sẽ la cà ở những quán cà phê rẻ tiền, những quán rượu cóc ở vỉa hè, uống rượu với chân gà nướng hai nghìn đồng một chiếc nhập lậu từ Trung Quốc, hoặc rủ bạn gái về ký túc xá leo lên giường tầng, kéo ri-đô nằm tâm sự với nhau …. Nghĩa là nó chẳng học được cái gì cho ra hồn, cho đến nơi đến chốn. Nó lười học không phải là lỗi tại nó.
Thế rồi sau khi tốt nghiệp đại học, nó bắt đầu đi xin việc rồi nếu may mắn là con ông cháu cha thì nó dễ dàng xin được vào làm ở một cơ quan, xí nghiệp, tổ chức nhà nước hoặc tư nhân nào đó (nếu không đó sẽ là một vấn đề cực kỳ nan giải, tốn rất nhiều thời gian, tiền bạc, công sức, chưa kể có khi tiền mất tật mang).
Sự tha hóa về văn hóa và đạo đức được thấy ở trong mọi thiết chế xã hội, chính trị, văn hóa, kinh tế, kinh doanh, thể thao, giáo dục. Hãy thử quan sát tâm hồn một con người bình thường, một con người được coi là “sạch sẽ” hiểu theo định nghĩa từ điển. Một tâm hồn mệt mỏi, chán chường, bạc nhược, vô cảm, nhạt nhẽo, tẻ nhạt, và do đó nó rất dễ chuyển thành thô lỗ, hung dữ, lưu manh. Nó không còn giữ được cái gì thiêng liêng hoặc nó không còn niềm tin vào cái gì thiêng liêng. Toàn bộ cuộc sống được xoay quanh làm sao kiếm được nhiều tiền, nhiều đất đai nhà cửa, chức vụ cao, hưởng thụ vật chất, tiếng tăm hão của gia đình, dòng họ. Hãy tự cứu lấy mình, đó là khẩu hiệu của hầu hết mọi người ngày hôm nay. Tất cả những kẻ tham nhũng đều có chung một tâm lý “mình không ăn thì thằng khác nó cũng ăn. Nói mình không ăn thì chẳng thằng nào nó tin”.
Dân sống ở thành phố sẵn sàng làm bất cứ điều gì phạm luật để có chỗ để ở, người nông dân sẵn sàng làm bất cứ điều gì để giữ lấy mảnh đất của mình. Tôi có dịp đi nhiều nước và tôi thấy không ở đâu việc xây cất nhà trái phép, việc khiếu kiện đất đai diễn ra phổ biến và trầm trọng như ở nước ta. Cá nhân tôi thấy một nghịch lý như thế này: thành phố Tokyo hoặc Băng Cốc còn có nhiều người vô gia cư (homeless) hơn Hà Nội. Có lần tôi đã đem chuyện này ra hỏi một số chuyên gia nước ngoài của Ngân Hàng Thế Giới. Câu trả lời của họ cũng đáng để suy nghĩ, đó là thế này: người dân ở những nơi đó họ có khả năng “cam chịu” hơn người Việt Nam. Họ không thấy bị đối xử bất công khi bị đuổi ra ngoài vỉa hè bởi vì họ tin rằng nhất định đến một lúc nào đó họ sẽ được quan tâm và sẽ lại có nhà ở. Có thể hiểu rộng ra thế này: những lợi ích, kết quả của phát triển phải được chia đều cho tất cả mọi người, dù điều đó có thể đến sớm hay muộn với người này hay người khác. Người Việt Nam không có khả năng “cam chịu” như thế. Họ muốn tự cứu mình trước cái đã, muốn ra sao thì ra!
Ngoài đường phố người ta sẵn sàng nổi khùng, chửi nhau, nện nhau, giết nhau mỗi khi va chạm xe cộ. Bởi vì người nọ không tin người kia sẽ bỏ qua, sẽ tha thứ cho mình, cho nên có thể “ra tay” được thì cứ ra tay trước cho an toàn! Ở nhiều nước khác, câu cảnh cáo “Này, hãy dừng lại ngay nếu không tôi gọi cảnh sát đấy” bao giờ cũng rất có tác dụng. Ở nước ta câu nói như vậy trở thành trò cười! Khi còn sống ở Đông Đức, tôi nhiều lần chứng kiến hai thanh niên đụng độ. Họ đứng sát vào nhau, gí đầu vào nhau giống như hai con gà chọi, mặt đỏ bừng, tay chỉ vào mặt nhau trong lúc cãi nhau bằng những lời rất gay gắt. Nhưng tuyệt nhiên chưa bao giờ tôi thấy hai bên lao vào đánh nhau. Do đó bạn bè của hai tốp chỉ cần đứng ngoài quan sát, không cần thiết phải nhảy vào ẩu đả. Cái gì giữ cho hai thanh niên đó không xúc phạm thể xác của nhau?
Tâm hồn khô cằn, chán chường, mệt mỏi, tầm thường, rỗng lòng tin là những yếu tố quyết định thái độ cư xử thiếu văn hóa và đạo đức của hầu hết con người trong xã hội ngày hôm nay. Ngày nay rất hiếm gặp những con người có tâm hồn sôi nổi, trong sáng. Xã hội giống như một sới vật khổng lồ ở đó hầu hết các đô vật đều không chơi đúng luật, sẵn sàng phạm luật để chiến thắng đối phương.
Bức tranh xã hội giờ đây nom thật ảm đạm, thảm hại, bế tắc. Sự ảm đạm, thảm hại, bế tắc càng trở nên ảm đạm, thảm hại, bế tắc hơn khi rất nhiều người cố tình không nhìn ra, cố tình không thừa nhận sự ảm đạm, thảm hại, bế tắc này. Người ta lấy hào quang văn hóa của quá khứ để phủ lên hiện tại, để che đậy hiện tại. Hệ quả của điều này là (i) người ta chỉ tập trung vào những giá trị đã trở thành hiển nhiên, những giá trị đã thành chắc chắn, hiển nhiên của quá khứ (Văn Miếu, ca trù, v.v.) và (ii) người ta thích tôn vinh cái tầm thường (médiocre) (Con đường gốm sứ – một sự chế nhạo nghệ thuật, một biểu hiện của gu thẩm mỹ nhem nhuốc – là một ví dụ cụ thể rất rõ rệt).
Cá nhân tôi cho rằng phải cứu lấy tâm hồn của con người. Đó là điều căn bản và có tính lâu dài. Tâm hồn con người phải được hưởng tự do tuyệt đối. Hãy chấm dứt dùng hào quang văn hóa quá khứ như là một mục đích tự thân. Những người trẻ tuổi phải được biết những gì thực sự đang xảy ra ngay ngày hôm nay. Chỉ khi nào họ được biết, chỉ khi nào họ được làm cho quan tâm tới những gì đang thực sự xảy ra ngày hôm nay, chỉ khi ấy cuộc sống của họ mới thực sự có mục đích. Nếu không họ ăn hạt cơm do người khác hôm nay làm ra, mặc cái áo được sản xuất ngày hôm nay, đi cái xe hiện đại nhất … nhưng cái đầu của họ hão huyền, u mê, nói chung gần giống với trạng thái tâm thần phân liệt. Những người trẻ tuổi phải được hưởng quyền nổi loạn trong học thuật. Họ không được phép tụ tập mang vũ khí xuống đường để gây rối, đốt xe hơi, cửa hiệu, nhưng họ có quyền tụ tập để tranh luận học thuật dưới mọi hình thức và về bất cứ chủ đề nào.
Nhà trường phổ thông phải là nơi để trẻ em thực hành cuộc sống dân chủ của một xã hội hiện đại. Hãy chấm dứt tâm lý cung cấp giáo dục cho trẻ em như là một sự “chăm sóc” hoặc “ban ơn”. Như vậy nhà trường sẽ trở nên khiêm nhường và nhân đạo. Khiêm nhường là bởi vì nhà trường biết đứng lùi lại một chút để quan sát, để tìm hiểu trẻ em. Nhân đạo là bởi vì nhà trường không đàn áp trẻ em một cách vô tội vạ.
Khi con người được trả lại về đúng với bản chất con người – con người là loài động vật xã hội có tư duy luôn khao khát cải tạo, đổi mới “chỗ ở” của mình – thì đầu óc của mỗi cá nhân sẽ trở nên lành mạnh hóa và nhờ đó xã hội sẽ lành mạnh hóa dần.
Luật pháp phải được trả lại đúng vị trí của nó: luật pháp là phương tiện để giải thích hành vi của con người chứ không phải là công cụ trừng phạt, răn đe. Như thế sẽ không có nhiều hơn một cách hiểu cho một hành vi nào đó. Chỉ có một cách hiểu, và đó là cách hiểu dựa vào luật pháp. Sự nghiêm minh không đến từ mức tuyên án nặng hay nhẹ. Sự nghiêm minh đến từ cách hiểu sự việc một cách rõ ràng, tường minh, trong sáng.
Nhà tù không phải là nơi tiêu diệt nốt phần nhân tính còn sót lại của con người. Nhà tù cũng phải là một cơ sở đầy tính nhân đạo. Người dân, truyền thông đại chúng phải được phép kiểm tra, kiểm soát tất cả các nhà tù một cách trực tiếp. Bất cứ ai quan tâm cũng đều được phép vào bất kỳ một nhà tù nào đó để nhìn tận mắt mọi thứ diễn ra trong đó và nói công khai những điều nhìn thấy cho toàn xã hội.
Lòng nhân đạo sẽ len lỏi, lan tỏa, ngấm dần dần vào tâm hồn của mỗi con người, ngấm dần dần vào mỗi hành động xã hội từ cấp cao nhất đến thấp nhất. Như thế xã hội sẽ dần dần trở nên an hòa, ổn định, cái ác sẽ bớt dần đi, không còn là điều diễn ra phổ biến và tràn lan như hiện nay.
Chúng ta hãy chấm dứt than vãn, chấm dứt sự liệt kê chỉ để mà liệt kê những cái xấu đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Báo chí đưa tin cái xấu theo cách liệt kê cái xấu sẽ khuyến khích bản năng thấp hèn của người đọc. Đừng biến việc đọc báo thành một thú giải trí độc ác giống như ở thời của bạo chúa Nero công chúng sung sướng đến phát cuồng khi được xem những người Thiên chúa giáo bị xử tội bằng cách họ bị quẳng cho sư tử ăn thịt (tiểu thuyết Quo Vadis của nhà văn Ba Lan H. Sienkievich). Nhưng báo chí có quyền đi đến cùng để tìm ra sự thật.
Nói vắn tắt, cá nhân tôi kêu gọi xây dựng một xã hội nhân đạo thực sự, và tôi cho rằng hãy bắt đầu bằng việc xây dựng một nền pháp trị nhân đạo và một nhà trường nhân đạo, cả nhà trường phổ thông lẫn đại học.