Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Hoàng Tử William đính hôn

Hai người phụ nữ trong cuộc đời hoàng tử Anh

Hoàng tử William cầu hôn bạn gái Kate Middleton bằng chính chiếc nhẫn đính hôn của người mẹ quá cố nổi tiếng,
Công nương Diana, như muốn khẳng định hai người phụ nữ đặc biệt nhất trong cuộc đời mình.

Image
Chiếc nhẫn đính hôn đặc biệt của Hoàng tử William trao cho Kate Middleton.
Ảnh: AFP
Sau 8 năm với bao điều phỏng đoán về mối quan hệ trong tương lai, cặp đôi nổi tiếng nhất nước Anh cuối cùng cũng công bố đã làm lễ đính hôn, sau khi Hoàng tử William đã báo cho bà nội là Nữ hoàng Elizabeth II và cha là Thái tử Charles về quyết định quan trọng của mình. Ngay lập tức sự kiện này trở thành tin nóng đối với tất cả các hãng tin lớn trên thế giới.

Lễ cưới của Hoàng tử William và Kate Middleton sẽ diễn ra vào mùa xuân hoặc mùa hè năm sau. Sự kiện này được dự đoán sẽ trở thành một trong những lễ cưới được truyền trực tiếp có sức hút khán giả lớn nhất thế giới kể từ khi Hoàng tử xứ Wales tức Thái tử Charles làm lễ cưới Công nương Diana Spencer năm 1981.

Khi Hoàng tử William quyết định chọn chiếc nhẫn đính hôn của Công nương Diana để trao cho người vợ tương lai thì việc dư luận so sánh đám cưới của anh với với đám cưới cổ tích năm xưa của cha mẹ mình là điều không tránh khỏi. Nhưng hoàng tử vẫn khẳng định rằng Kate Middleton sẽ "không phải chịu bất cứ sức ép nào" trong việc phải tái hiện hình ảnh của người mẹ quá nổi tiếng của mình.
Hoàng tử cũng hứa sẽ không để lặp lại cảm giác "như chim vào lồng" mà Công nương Diana đã từng phải trải nghiệm khi bà gia nhập gia đình hoàng gia Anh năm xưa, khi nói rằng anh đã "rút ra được những bài học" từ quá khứ. Hoàng tử cũng giải thích thêm rằng đã trì hoãn lễ đính hôn để người vợ sắp cưới của mình có cơ hội "xả hơi", nếu cảm thấy sức ép là quá lớn cho thiên chức làm vợ của vị vua tương lai ở xứ sương mù.

Giấu nhẫn đính hôn trong ba lô

Trong quá khứ, những cô dâu của hoàng gia Anh thường xuất thân từ tầng lớp quý tộc hoặc hoàng gia nước ngoài, nhưng Kate Middleton lại là một cô gái có nguồn gốc hoàn toàn bình dân đến từ vùng Berkshire. Cha cô là doanh nhân thành đạt Michael Middleton và mẹ là bà Carole, một cựu tiếp viên hàng không. Sau thời thơ ấu yên ấm được học tại nhà, Kate vào trường nội trú, nơi được cho là cô đã treo tấm ảnh của Hoàng tử William trong phòng của mình. Sau đó cô đã gặp hoàng tử của lòng mình tại Đại học St Andrews, Scotland.

Nhưng từ trước khi họ gặp nhau, cặp đôi cùng 28 tuổi này đã đi chung một con đường. Ít người biết rằng hai người đã từng chọn chung cách thức trải nghiệm một năm thực tế (gap year) sau khi tốt nghiệp trung học năm 2001. Khi đó Kate làm việc cho một dự án ở Chile, nơi mà Hoàng tử William cũng có mặt chỉ một tháng trước đó. Sau một năm thực tế cả hai lại chọn chung Đại học St Andrews để theo học, thậm chí có thời điểm họ đã chọn chung chương trình học là lịch sử mỹ thuật, trước khi William chuyển sang ngành địa lý.

Những năm tháng sinh viên, Hoàng tử William đã sống như một người bình thường khi cùng thuê một căn nhà với những người bạn. Chính Kate Middleton đã giúp người có quyền kế vị ngai vàng của nước Anh vượt qua những khó khăn khi hoà nhập cuộc sống "bình dân" trong năm học đầu tiên.

Sau đó hai người cùng tốt nghiệp năm 2005 và hai gia đình thông gia tương lai đã chạm mặt nhau lần đầu tiên cùng năm này trong một buổi ăn trưa. Mối tình của hai người bắt đầu được công chúng và báo chí biết đến từ năm 2005 khi bị chụp hình ở khu trượt tuyết Klosters của Thụy Sĩ.

Sau 8 năm gắn bó và là chủ đề quan tâm của báo chí Anh, cuối cùng cặp đôi cũng thông báo họ đã bí mật đính hôn trong một kỳ nghỉ lãng mạn tại Kenya vào tháng trước. Hôm qua Kate Middleton lần đầu tiên xuất hiện với nhẫn đính hôn gắn kim cương và đá sapphire. Hoàng tử William đã giấu chiếc nhẫn này trong ba lô của mình suốt 3 tuần cho đến khi tìm được thời điểm thích hợp để cầu hôn Middleton.

Điều đặc biệt đây chính là chiếc nhẫn đính hôn của Công nương Diana năm xưa, được chế tác từ 14 viên kim cương gắn quanh một viên đá sapphire lớn. Những nguồn tin thân cận với gia đình hoàng gia Anh cho biết, chiếc nhẫn đính hôn mà Thái tử Charles trước kia đã trao cho Công nương Diana vào tháng 2/1981 đã vừa như in với Kate Middleton mà không cần phải chỉnh sửa gì.

"Chiếc nhẫn rất đặc biệt với tôi và Kate giờ đây cũng rất đặc biệt với tôi. Đó là cách để cả hai nhập làm một. Đó cũng là cách của tôi để đảm bảo rằng mẹ tôi không bỏ lỡ sự kiện mà tôi chờ đợi và chúng tôi sẽ bên nhau trong suốt phần đời còn lại của mình", Hoàng tử William bày tỏ với Telegraph. Còn Middleton thì mô tả màn cầu hôn của hoàng tử là "rất lãng mạn và riêng tư", nhưng cô khéo léo tránh cho biết thêm chi tiết.
Image
Vua và hoàng hậu tương lai của Vương quốc Anh. Ảnh: AFP
Thái tử Charles, cha của Hoàng tử William, đã công bố lễ đính hôn của cặp đôi trong một tuyên bố đưa ra vào sáng qua. Sự kiện này trước đó được giữ bí mật đặc biệt mà chỉ có một người khác được biết là cha của Middleton, ông Michael, người đã đồng ý khi Hoàng tử William đề nghị xin được cưới con gái ông sau khi cặp đôi trở về từ châu Phi.

Những thủ tục trên tuân thủ một đạo luật có từ thế kỷ 18 trong hoàng gia Anh, theo đó Hoàng tử William cũng phải xin phép đương kim Nữ hoàng Elizabeth II để được làm lễ cưới. Chỉ có điều hoàng tử mới làm việc này trong một cuộc điện thoại vào sáng hôm qua, ngay trước khi tin về lễ đính hôn được công bố với thiên hạ.

Những người thân của cả Hoàng tử William và Middleton cũng chỉ được thông báo về lễ đính hôn hơn 3 tiếng đồng hồ, trước khi sự kiện này được bố cáo với công chúng. Em trai của Hoàng tử William là Hoàng tử Harry cũng mới biết tin về lễ đính hôn của anh trai vào hôm qua. "Tôi rất vui vì anh trai mình đã đính hôn. Điều đó có nghĩa tôi đã có một chị gái, điều mà tôi hằng mong muốn", Hoàng tử Harry bày tỏ.

Sự kiện được chờ đợi từ lâu

Khi được hỏi tại sao lại để nhiều năm mới chính thức cầu hôn, Hoàng tử William giải thích: "Tôi đã từng không cho đây là cuộc chạy đua về thời gian, nhưng ngay bây giờ cả hai chúng tôi đang rất hạnh phúc và tôi thấy thật vui khi mình đã làm điều đó". Còn Middleton thì bày tỏ: "Đến nay chúng tôi đã gắn kết với nhau một thời gian dài và điều đó chỉ giống như một bước đi tự nhiên của hai chúng tôi mà thôi".

Cũng có nguồn tin cho biết, cặp đôi đã bàn về lễ cưới "từ hai đến ba năm nay" và trì hoãn việc công bố lễ đính hôn do ông nội của Middleton vừa qua đời và lễ tang mới được tổ chức tuần trước. Cặp đôi đang là tâm điểm của nước Anh cũng cho biết họ đã bàn với nhau về những đứa con và Middleton bày tỏ: "Tôi hy vọng có một gia đình hạnh phúc".

Một phát ngôn viên của Điện Buckingham thì tiết lộ, cả Nữ hoàng Elizabeth II và Thái tử Charles đều vui mừng, nhưng cũng "có ý kiến" về việc đôi trẻ đã để trì hoãn quá lâu việc đính hôn. Khi được hỏi cảm giác khi biết tin, Thái tử Charles đùa rằng: "Thật là bất ngờ, nhưng chúng đã thực hành đủ lâu rồi". Còn trong cuộc tiếp đón lãnh đạo các vùng lãnh thổ hải ngoại của Anh tại Lâu đài Windsor, Nữ hoàng Elizabeth II nói với các vị khách: "Thật là một tin tuyệt vời. Sự kiện đó đã khiến chúng mất rất nhiều thời gian mới làm được".
Image
Hoàng tử Charles và Diana Spencer sau khi công bố lễ đính hôn năm 1981.
Ảnh: Telegraph
Đám cưới trong tu viện

Hiện hoàng gia Anh chưa quyết định chính thức nơi sẽ cử hành hôn lễ, nhưng các nguồn tin thân cận cho rằng cặp đôi sẽ lựa chọn giữa Tu viện Westminster và Nhà thờ St Paul đều ở London để thực hiện nghi lễ quan trọng nhất cuộc đời. Trong đó nhà thờ St Paul là nơi cha mẹ Hoàng tử William đã làm đám cưới năm 1981, còn Tu viện Westminster là nơi ông bà chàng, tức đương kim Nữ hoàng Elizabeth II và Công tước Edinburgh, đã làm lễ cưới năm 1947.

Đặc biệt Tu viện Westminster cũng chính là nơi đã tổ chức lễ tang cho thân mẫu hoàng tử là Công nương Diana năm 1997. Bản thân hoàng tử cho biết thích được tổ chức lễ cưới của mình tại đây hơn. Anh cũng bày tỏ mong muốn lễ cưới diễn ra "giản dị" hơn so với các lễ cưới của hoàng gia Anh trước đây.

Tháng 7 là thời điểm ưa thích tại châu Âu cho việc tổ chức lễ cưới, nhưng tháng 7 năm sau lại "đụng hàng" với một đám cưới hoàng gia khác tại châu Âu là Hoàng tử Albert của Monaco sẽ diễn ra vào ngày 9/7. Điều này dẫn đến phỏng đoán nhiều khả năng lễ cưới của Hoàng tử William sẽ diễn ra vào tháng 4 hoặc tháng 5 năm tới.

Trong khi đó, tổ ấm đầu tiên của cặp đôi sau khi thành hôn sẽ là một ngôi nhà nông thôn tuyệt đẹp ở Anglesey, miền bắc xứ Wales, mà Hoàng tử William đã thuê. Ngôi nhà này nằm gần căn cứ của không quân hoàng gia Anh, nơi hoàng tử đã bắt đầu 3 năm quân ngũ với tư cách là phi công lái máy bay trực thăng cứu hộ. Thông tin về nơi ở của cặp đôi sau khi cưới đã được đích thân văn phòng Thái tử Anh xác nhận.

Khi nào Hoàng tử William lên kế vị ngai vàng của Vương quốc Anh, vợ chưa cưới của anh là Middleton sẽ được gọi là Hoàng hậu Catherine và cô sẽ nhận tước hiệu đầu tiên của mình vào ngày cưới. Còn bản thân Hoàng tử William theo nghi thức cũng sẽ nhận tước công của mình và tước hiệu đó có thể là Công tước Clarence hoặc Công tước Cambridge. Điều này đồng nghĩa với việc Middleton sẽ có tước hiệu đầu tiên là nữ công tước.

Nhưng trước khi chính thức trở thành vua và hoàng hậu, Hoàng tử William và Kate Middleton cũng đều chọn cho mình một nghề nghiệp như bao thanh niên khác. Hoàng tử đã thực hiện xong khoá đào tạo để trở thành phi công chuyên nghiệp trong lực lượng máy bay trực thăng tìm kiếm và cứu hộ của không quân hoàng gia Anh. Còn Middleton sau khi học xong ngành lịch sử mỹ thuật cô muốn theo đuổi sự nghiệp là một nhiếp ảnh gia.
Image
Đám cưới cổ tích của cha mẹ Hoàng tử William năm 1981.
Ảnh: Royal

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Những kỷ niệm êm đềm với mẹ tôi

Ðoàn Thanh Liêm

Tôi thật là người may mắn, vì được sinh trưởng trong một gia đình có cha mẹ là người hiền lành đạo hạnh.
Tôi đã có dịp viết vài bài ngắn về cha mẹ của mình, nhân dịp ngày lễ của Cha và ngày lễ của Mẹ trong mấy năm gần đây.

Image
Mẹ và con. (Tranh Nguyễn Thị Hợp)


Nay tôi lại muốn ghi lại thêm chi tiết về một số kỷ niệm êm đềm với người mẹ yêu quý của mình, để cho các con tôi và các cháu con của mấy anh chị em của tôi có dịp hiểu biết thêm về người bà nội, bà ngoại của các cháu.

Lúc mẹ tôi mất vào năm 1952, thì tôi đã được 18 tuổi, đủ trưởng thành để ghi nhớ đầy đủ về những lời mẹ tâm sự, chỉ bảo dẫn dắt cho mình trong suốt thời kỳ niên thiếu của tôi tại quê nhà ở làng Cát Xuyên thuộc tỉnh Nam Ðịnh.


Lối cư xử thuận hòa của mẹ đối với họ hàng nội ngoại


Mẹ tôi là trưởng nữ của ông bà ngoại, mà chịu thiệt thòi vì khi lớn lên, thì phải phụ giúp cha mẹ để chăm sóc các em. Do vậy mà không được đi học ở đâu cả. Bà có nói với tôi: “Bà ngoại tính cho mẹ đi học chung với con gái của cụ Thượng Hoánh ở quê Lục Thủy, nhưng ông ngoại lại không muốn cho con gái phải đi xa gia đình. Vì thế mà mẹ đã không được đi học chung với các bạn ở quê ngoại...” Nếu mẹ tôi được đi học, thì sẽ học cùng với mấy bà cô của Bác Sĩ Vũ Ngọc Hoàn.

Bà cụ còn kể: “Hồi mẹ mười mấy tuổi, thì hay dẫn em là các cậu và dì đi chơi trong làng. Và bố của tụi con chú ý, tìm cách giúp đỡ việc này chuyện nọ. Do đó mà bố con gây được cảm tình đối với mẹ, và từ đó mà nên duyên vợ chồng...”

Mẹ còn nói là bà cảm phục cái tính tháo vát và cả quyết của bố tôi. Bà có lần dặn tôi như sau: “Là người con trai, con phải tập được cái tính quyết đáp của bố con ấy. Bố con biết cân nhắc tính toán công việc đâu ra đấy. Và đến khi đã quyết định về chuyện gì, thì nhất quyết làm cho bằng được...”

Ông nội của tôi là thầy đồ dạy chữ nho, nên gia đình thanh bạch, chứ không được phong lưu sung túc, so với bên ngoại. Mẹ tôi có lần kể lại: “Bà nội con rất khéo dạy mấy cô chú. Mỗi khi nhà có khách đến ăn cơm, thì bà cụ không cần phải lên tiếng, mà chỉ cần nháy mắt ra hiệu là mấy cô chú biết ý ngay, để ăn nhín lại và nhường phần cơm cho khách...”

Bố tôi lại là trưởng nam, nên có trách nhiệm lớn đối với cả dòng họ, và như vậy mẹ tôi là con dâu trưởng thì cũng phải lo quán xuyến công việc của cả đại gia đình. Bà luôn giữ vững cái đạo làm con như lời bà ru hát cho lũ em của tôi, cụ thể như câu: “Thờ cha kính mẹ mới là đạo con.” Bà cô Lý Rụ hay nói với tôi: “Mẹ anh rất cẩn thận, mỗi lần có việc phải về bên ngoại, thì bà đều nhắc nhở cô coi giùm việc này chuyện nọ trong nhà, dù lúc đó cô vẫn còn nhỏ tuổi. Và mẹ anh bao giờ cũng chỉ đi vắng một chốc lát thôi, để còn trở về lo lắng công việc nhà. Cô luôn nhớ cái đức tính đàng hoàng của mẹ anh lắm vậy đó...” Tôi thấy các cô em của bố tôi đều tỏ ra quý mến mẹ tôi, chứ không hề có chuyện gì căng thẳng gay cấn như dân gian thường nói về mối liên hệ khó khăn giữa ”người chị dâu với các em gái của chồng.” Chứng cớ là hồi phải chạy loạn Việt minh cộng sản năm 1951-52, thì mẹ tôi đã đến ở tại nhà bà cô Phó Tích tại thôn Phú Yên-Ngọc Cục cho đến ngày mẹ qua đời ở tại đó luôn vào cuối năm 1952.

Ðối với bên ngoại cũng vậy, tôi thấy các cậu là em của mẹ, thì ai nấy đều quý mến mẹ tôi. Ông ngoại làm đến chức Chánh Tổng, gia thế cơ ngơi có phần tên tuổi uy tín trong vùng. Nhưng mẹ tôi không bao giờ tỏ ra kiêu kỳ hách dịch đối với bất kỳ một ai. Người hay lui tới chuyện trò với mẹ là cậu Lý Ðạc là em kế liền với mẹ, tôi thấy hai chị em thường luôn rất tâm đắc với nhau. Hai cậu khác là cậu Tú và cậu Dung, thì cũng đều thuận thảo ăn ý với mẹ tôi. Là người chị cả, mẹ luôn biểu lộ sự yêu thương tận tình đối với các người em của mình.

Còn bà dì Tổng Huỳnh, thì dì mất khi tôi còn quá nhỏ, nên tôi không nhớ được chuyện nào của dì. Nhưng chú Tổng Huỳnh thì thường đến cư ngụ ở nhà tôi vào lúc thu hoạch vụ lúa mỗi năm hai kỳ, do các thửa ruộng của ông bà ngoại chia cho chú dì ấy.


Lòng đạo hạnh sâu sắc của mẹ


Mẹ tôi quả thật là người sống một cuộc đời rất đạo hạnh, khoan hòa nhân ái. Bà nêu một tấm gương tốt cho tất cả anh chị em chúng tôi là phải biết “mến Chúa và yêu người,” phải “giữ phép công bằng,” phải “có lòng bác ái.” Bà rất siêng năng đọc kinh vào các buổi sáng, trưa, chiều tối. Gần như lúc nào rảnh rỗi, mẹ đều thầm thĩ nguyện kinh. Sáng sớm, trước khi đến nhà thờ dự lễ, thì tại nhà mẹ cũng bảo tôi đọc mấy kinh, xét mình ăn năn tội. Và sau khi dự Thánh lễ, mẹ thường ở lại đọc kinh tiếp ở nhà thờ, thật lâu sau rồi mới về nhà. Bà thuộc đủ mọi thứ kinh, nhờ có trí nhớ đặc biệt hơn người. Còn nhỏ tuổi, tôi cũng làm biếng chuyện cầu kinh y hệt như mấy người trẻ tuổi khác, nhưng vì yêu thương mẹ, nên bao giờ mẹ nhắc thì tôi đều đọc kinh theo với bà.

Lòng đạo hạnh vững vàng của mẹ như thế, thì được truyền lại cho các anh chị lớn tuổi, để rồi lan đến lớp em nhỏ chúng tôi. Tôi vẫn nhớ lời mẹ nhắc nhủ là: “Các anh chị lớn có bổn phận phải làm được cái tấm gương tốt lành để cho các em còn nhỏ noi theo. Phải biết thực hành cái chuyện ‘lá lành đùm bọc lá rách’... Ở nhà có hai người yếu đuối bệnh tật, đó là chị Chắt và cô Thanh, thì các anh chị em đều thay phiên nhau chăm sóc chu đáo tận tình. Tôi rất cảm động với sự yêu thương đằm thắm của các chị Chỉnh, chị Cao và chị Bá đối với tôi, khi các chị còn sanh tiền. Các chị đã qua đời, nhưng cái tình đùm bọc âu yếm đó đối với các em, thì không bao giờ tôi lại quên được.

Nhiều buổi tối, tôi kéo võng cho mẹ, thì bà cụ tỉ tê chuyện trò với tôi về đủ mọi sự việc trong làng nước. Mấy lần bà cụ nhắc là: “Con xem gia đình đó ở trong làng mình, con cháu họ không sao mà khá được, bởi lý do là xưa kia người cha của họ làm ăn thất đức, chuyên cái nghề ‘xui nguyên giục bị trong các vụ kiện cáo,’ chuyên ‘đâm bị thóc, chọc bị gạo’ để ăn tiền cả hai phía. Vì thế mà bây giờ con cháu họ bị mắc ‘cái nạn quả báo,’ làm ăn thất bại không ngóc đầu lên được, mà còn bị mang tiếng xấu với làng với nước nữa...”

Bà cụ hay dùng những câu văn câu thơ có vần điệu mà dạy dỗ chúng tôi. Ðiển hình như câu: “Ăn mày là ai? Ăn mày là ta. Ðói cơm rách áo, hóa ra ăn mày.” Hay các câu: “Cờ bạc là bác thằng bần. Cửa nhà bán hết, mang thân vào tù,” “Ðói cho sạch, rách cho thơm,” “Khôn ngoan đối đáp người ngoài, Gà cùng một mẹ, chớ hoài đá nhau” v.v...


Những đau khổ vào tuổi cuối đời của mẹ


Mẹ tôi vốn người thể tạng yếu đuối, nhưng cuối đời bà chịu nhiều điều buồn phiền sầu khổ. Vào giữa năm 1947, thì cậu Dung là em út của mẹ bị Việt Minh sát hại và quăng xác xuống sông Trì Chính Phát Diệm, nên mẹ tôi khóc lóc than vãn thảm thiết trong nhiều bữa về cái chết tức tưởi này của cậu. Sau đó không bao lâu, thì vào cuối năm 1947 lại đến lượt cậu Lý Ðạc là em kế của mẹ cũng bị bệnh mà qua đời. Rồi vào mùa Xuân năm 1948 sau đó, bố tôi lại bị Việt Minh bắt đi và chẳng bao lâu sau thì không được tin tức gì nữa, vì chiến tranh mỗi ngày lan rộng tại vùng đồng bằng sông Hồng. Từ đó, ngày đêm mẹ thường ưu tư, lo lắng, ban đêm ngủ rất ít. Bà cụ hay phát phiền và thở dài trước những nghịch cảnh đớn đau xảy ra dồn dập đối với gia đình như thế.

Tôi thương mẹ vô cùng, nhưng nào biết làm gì khác hơn là ngửa mặt lên trời mà cầu xin Chúa thương xót đến mẹ và cả gia đình giữa cơn hoạn nạn tai ương đó. Các anh chị tôi cũng đều xúm lại an ủi mẹ lúc đó. Chị Cao mẹ của anh Ðại, Lương vì nhà ở gần, nên hay lui tới thăm nom mẹ. Các chị khác như chị Chỉnh, Bá, Mưu cũng như anh Tâm đều chăm sóc cho mẹ rất chu đáo, hiếu nghĩa. Vì thế mẹ đã có được sự thanh thản an tâm trước lúc ra đi, vì mẹ tin tưởng rằng các anh chị lớn tiếp tục thay mẹ để lo lắng cho các em còn nhỏ dại, nhất là cô Thanh, cô Liên và chú út Tế vào năm 1952 thì vẫn còn quá nhỏ tuổi.

Lại nữa, mẹ cũng được khuây khỏa vì thấy các con mình hòa thuận bảo bọc yêu thương, gắn bó đằm thắm với nhau. Vì thế mà trong nội bộ gia đình có sự yên ấm hạnh phúc, dù bên ngoài xã hội thời đó cuộc chiến tranh khói lửa vẫn đang đến hồi gay cấn, đẫm máu tàn bạo, hận thù chồng chất giữa đồng bào ruột thịt với nhau.


Những điều quý báu tôi học được từ nơi mẹ


Mẹ tôi tuy không được đi học, không biết đọc, biết viết, nhưng bà có một trí nhớ tuyệt vời. Mẹ làm tính nhẩm rất nhanh và chính xác. Mẹ cũng sắp xếp, quản lý cắt đặt công việc làm ăn trong nhà đâu ra đấy. Bà cũng khôn ngoan trong cách đối xử giao tế với họ hàng thân tộc, cũng như đối với làng nước. Nhờ vậy, mà tôi cũng như các anh chị em đều được thừa hưởng cái phần trí tuệ tinh anh của mẹ. Và riêng tôi, thì do có điều kiện học hành nhiều năm, nên tôi đã thu lượm được nhiều kết quả tốt đẹp trong học tập nơi trường ốc, cũng như trong công việc sau này ngoài xã hội.

Nhưng điều quan trọng hơn cả là mẹ đã truyền lại cho anh chị em chúng tôi một cái lòng đạo hạnh vững vàng, một tinh thần lương hảo sâu sắc và tấm lòng nhân ái vị tha cao quý. Từ trên 50 năm nay, tôi đã dấn thân vào các loại công tác xã hội để giúp đỡ bà con kém may mắn như những nạn nhân chiến cuộc, những người bị đàn áp bóc lột, bị dày xéo nhân phẩm... Ðó là tôi noi theo tấm gương trong sáng của cha mẹ đã để lại cho tôi. Tôi áp dụng đúng theo lời khuyên nhủ của mẹ, cụ thể là: “Mến Chúa thì phải yêu người, phải chia sẻ cái ăn cái mặc với những ai đang thiếu thốn.” Và việc tôi làm, thì đều được các anh chị em trong nhà khuyến khích và hỗ trợ nâng đỡ cho tôi suốt bao lâu nay.

Nói vắn tắt lại, tôi thật biết ơn mẹ vì đã chỉ bảo hướng dẫn tôi biết đi theo “đường ngay nẻo chính” của sự thuận hòa yêu thương đối với tất cả mọi người, từ trong gia tộc ra đến ngoài xã hội. Mẹ đã qua đời trên 58 năm rồi, nhưng các đức tính nhân ái đạo hạnh của mẹ vẫn còn hiển lộ qua cuộc sống của mỗi người con của mẹ là các anh chị em yêu quý của tôi.

Và tôi luôn tự nhủ mình phải luôn cố gắng để xứng đáng với công lao trời biển của mẹ đã hết lòng hy sinh chăm sóc cho mình cả về vật chất cũng như tinh thần. Nhớ đến mẹ, tôi luôn cảm động rưng rưng nước mắt, mà trong lòng thì tràn ngập niềm yêu thương mến phục đối với một nhân cách cao quý rất mực như thế trên cõi đời nhiều chông gai nghịch cảnh này.

Với niềm tin vào cuộc sống mai sau, tôi phấn khởi, tràn trề hy vọng sẽ được gặp lại bà mẹ muôn vàn yêu quý của mình, sau ngày tôi lìa xa cõi thế gian tạm bợ này nữa vậy.

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Linh mục Trần Cao Tường, từ đồi Massada đến bờ sông Hát

Trần Trung Đạo

Image
(Đền Hát Môn, ảnh Lm Trần Cao Tường)
Quan hệ giữa người và người trong cuộc sống được đan kết bằng những sợi nhân duyên bắt đầu là hạnh ngộ rồi chấm dứt ở chia tay. Và tôi đang bước vào một lứa tuổi có nhiều chia tay hơn hạnh ngộ.

Trước khi “một mình làm cả cuộc phân ly” trong một ngày nào đó, tôi sẽ phải phân ly với những người tôi thân mến. Cuộc phân ly lần này là phân ly với một linh mục, một nhà văn, một nghệ sĩ và là một người anh tôi vô cùng kính quý: Linh mục Dũng Lạc Trần Cao Tường.

Một ngày nọ của gần mười năm trước, tôi nhận một email của một vị linh mục nhận xét về thơ văn của tôi mà ngài đọc được trên internet. Email của linh mục nhắc đến một bài thơ và một tâm bút của tôi. Bài thơ viết về ngôi chùa Viên Giác, nơi tôi sống trong những ngày còn nhỏ ở Hội An và bài tâm bút viết về một nhà thờ Công Giáo ở quê tôi, nhà thờ Trà Kiệu. Phía dưới của email có một nội dung rất đậm đà tình cảm là một tên rất đẹp kèm theo số điện thoại: Trần Cao Tường.

Tôi gọi lại ngay nhưng không có tiếng trả lời nên chỉ biết để lại lời cám ơn các nhận xét của Cha. Buổi chiều, Cha gọi lại.

Chúng tôi nói chuyện với nhau lần đầu nhưng tự nhiên dường như đã quen thân nhau từ lâu lắm. Tôi “Thưa Cha” và xưng con theo đúng lễ nghi tôn giáo như tôi vẫn thường “Bạch Thầy” và xưng con với các thầy bên Phật Giáo. Cha Trần Cao Tường bảo “gọi nhau là anh em đi vì chúng ta cùng họ Trần cả”. Tôi không chịu và đề nghị Cha đừng để ý đến chuyện “Cha con” mà hãy xem đó như một phần của đạo đức Việt Nam. Cha không nói thêm gì nữa.

Cả tôi và Cha đều thuộc mẫu người nói rất thoải mái. Chúng tôi nói chuyện suốt giờ về mọi vấn đề trong đời sống, từ chính trị đến tôn giáo, từ thơ văn đến nhiếp ảnh và cũng nói khá lâu về internet. Ngoại trừ môn internet tôi giỏi hơn Cha, bộ môn nào Cha cũng rất uyên bác và sở hữu một hiểu biết bao la, vượt xa những kiến thức còn rất giới hạn của tôi.

Thời gian ngắn sau đó Cha Trần Cao Tường gởi tặng tôi các tác phẩm đã in của ngài. Ngoài các tác phẩm thần học, Cha viết nhiều tác phẩm có tựa đề rất nhẹ nhàng nhưng chuyên chở những nội dung giáo dục và đạo đức rất sâu sắc không chỉ dành riêng cho độc giả Công Giáo mà cho mọi người như Suối Nguồn Tình Yêu, Đi Tìm Nét Văn Hóa Việt, Vũ Khúc Thăng Ca, Nhịp Múa Sông Thanh, Khúc Sáo Ân Tình v.v.. Mỗi khi có dịp thưa chuyện với Cha cũng là lúc tôi học được thêm nhiều điều mới lạ. Tôi giới thiệu Cha với nhiều văn nghệ sĩ thân hữu ở California, Texas v.v.. và ai cũng quý mến Cha.

Tôi cũng nghĩ đến những độc giả không may mắn được đọc hay được nghe Cha tâm sự như tôi nên đề nghị Cha xây dựng một trung tâm internet hoàn chỉnh để độc giả truy cập các bài viết của Cha dễ dàng hơn cũng như cất chứa các tác phẩm một cách hệ thống. Ngày đó trang Web của Cha còn rất đơn sơ và rất khó tìm bài vở. Cha đồng ý và từ đó tập trung vào việc xây dựng trung tâm internet Dũng Lạc thật phong phú như chúng ta đang có hôm nay.

Cha Trần Cao Tường có tình yêu đất nước sâu đậm. Cha chia sẻ với tôi rằng một dân tộc không biết đau, không cảm nhận thấm thía nỗi đau và không biết vượt lên trên nỗi đau, dân tộc đó không thể hơn người khác được. Cha kể lại, có một câu nói của Linh mục Kim Định nhắc nhở Cha trong lần hai vị gặp nhau: “Làm cái gì cho dân mình ngóc đầu lên đi chứ ” đã trở thành một công án mà Cha suy nghiệm mỗi ngày. Cha Trần Cao Tường đặt câu nói thoạt nghe rất bình thường nhưng đầy triết lý của triết gia Kim Định lên trên trang nhà internet của mình như một nhắc nhở thường xuyên phải làm một điều gì đó tốt đẹp cho dân tộc Việt Nam.

Một thời gian khá lâu sau đó, kèm trong email của Cha gởi tôi là một bài viết dài có tựa cũng khá dài Cây Đa Chùa Viên Giác của Trần Trung Đạo Tâm Bút Cùng Trà Kiệu. Bóng đa trong sân ngôi chùa Phật Giáo và những bệ đá trước nhà thờ Công Giáo vốn là nhân duyên mang chúng tôi đến gần nhau mấy năm trước đã được Cha trình bày một cách chi tiết hơn.

Chùa Viên Giác là ngôi chùa ở thị xã Hội An và là nơi tôi đã sống như con chim non tránh bão trong tuổi thơ đầy bất hạnh. Ở đó mỗi buổi sáng tôi thức dậy quét lá trong sân chùa. Với một người khác, việc quét lá có thể là chuyện bình thường và thậm chí nhẹ nhàng nhưng với tôi những nhát chổi là những tiếng động vang xa vào tâm hồn. Bốn mươi năm sau có một linh mục Công Giáo cũng lắng nghe tiếng động đó và cảm thông với đứa bé trong sân chùa Viên Giác ngày nào. Bài thơ khá dài nhưng Cha Trần Cao Tường thuộc lòng và mỗi khi có dịp nói về mùa thu, về chiếc lá, về thơ ca, Cha thường đọc:

Mỗi buổi sáng tôi một mình ôm chổi
Quét lá vàng như quét nỗi cô đơn
Lá vẫn rụng khi mỗi mùa thu tới
Như đời tôi tiếp nối chuyện đau buồn

Và Trà Kiệu thì quen thuộc với Cha nhiều hơn. Trà Kiệu với diện tích khoảng một cây số vuông, đẹp một cách hùng vĩ và linh thiêng. Phía Tây Trà Kiệu là rặng núi Kim Sơn chạy dài, hút sâu vào dải Trường Sơn trùng điệp. Phía Nam là di tích thành lũy và hoàng cung của một thời vàng son trong lịch sử Chiêm Thành. Theo sử sách ghi lại, đồng bào Công Giáo Trà Kiệu phần lớn từ miền Bắc di cư vào miền Trung, bắt đầu là người ở Kẻ Chợ Hà Đông vào khoảng năm 1684. Họ sống tập trung nhau để dễ bề giữ đạo và giúp đỡ cho nhau. Trong tôi vẫn còn in lại hình ảnh những bậc tam cấp bằng đá của nhà thờ Trà Kiệu, nơi tôi và các bạn tôi đã ngồi trong những buổi chiều vàng nhìn xuống xóm nhà của các bạn tôi, được dựng bên những thửa ruộng xanh bao vòng quanh chân núi. Nhưng từ đồi Bửu Châu linh thiêng đó, đêm 1 tháng 9 năm 1885 máu của người dân Quảng đã chảy và chảy dài suốt thời kỳ thực dân đầy thù hận, khổ đau, tang tóc. Sau 21 ngày tấn công và chống đỡ đẫm máu giữa người Quảng và người Quảng, giữa người Việt và người Việt, giữa những tín đồ Thiên Chúa Giáo và các đơn vị Văn Thân Bình Tây Sát Tả, đã gây ra rất nhiều thiệt hại, mất mát cho cả hai bên. Vết thương trên cơ thể đã khô nhưng vết thương trong lịch sử dân tộc vẫn còn nghe đau sau hàng thế kỷ.

Bài viết Cây Đa Chùa Viên Giác của Trần Trung Đạo Tâm Bút Cùng Trà Kiệu của Cha Trần Cao Tường, ngoài việc phân tích văn chương, còn là một tiểu luận nghiêm túc về tôn giáo và dân tộc trong đó Cha trích dẫn những lo lắng của tôi về các tranh chấp tôn giáo tại Việt Nam:

“Những con sông Gianh trong lòng người phải cần được lấp lại. Lấp lại bằng cảm thông chứ không phải bằng những bãi xương khô, những cánh đồng nhuộm máu. Người Việt Nam cần được nghe tiếng chuông chùa nhẹ đưa, tương tự như cũng cần được nghe tiếng chuông nhà thờ thánh thoát. Hãy trao cho các thế hệ tương lai Việt Nam một cơ hội để được sống trong hòa thuận, bao dung, tha thứ. Tại sao phải mang theo một gánh nặng của phân hóa, rẽ chia, hoài nghi, mặc cảm, trong lúc dân tộc Việt Nam đang cần một đôi cánh để bay cao, để vượt qua ao hồ quá khứ, để mong đuổi kịp nhân loại, đã nhiều thế kỷ, tiến xa về phía trước?”

Bài viết Cây Đa Chùa Viên Giác của Trần Trung Đạo Tâm Bút Cùng Trà Kiệu cũng là một cơ hội để Cha Trần Cao Tường phát biểu quan điểm về một dân tộc phải biết đau và phải biết vươn lên từ những nỗi đau như dân tộc Do Thái đã đứng lên. Cha viết:

“Jean Lartéguy đã viết cả một cuốn sách dầy về Bức Tường Thành Do Thái, những bí mật của quân đội bí mật nhất thế giới. Người ta nói nhiều về những bí mật khác nhau đã tạo nên sức mạnh kỳ lạ cho dân tộc Do Thái. Nhưng cái bí mật bí mật nhất, lạ thay và mâu thuẩn thay, lại nằm ở ngay một bức tường đổ vỡ mà người Do Thái vẫn gọi là Bức Tường Khóc. Ðó là tàn tích của đền thờ Giêrusalem huy hoàng xưa kia bị tướng Titô của đoàn quân viễn chinh Roma phá tan tành “không còn hòn đá nào chồng lên hòn đá nào” vào năm 70. Và từ đó người Do Thái bị phát lưu đi khắp thế giới, sống lang thang tủi nhục vô tổ quốc…

Bức tường khóc như vậy quả là một cơn ác mộng đáng phải được quên đi mới đúng, vì nó là dấu tích của sự nhục nhằn. Ấy thế mà qua bao nhiêu thế hệ, người Do Thái từ khắp thế giới vẫn tìm về bức tường này, để nhìn rõ mặt mình chứ không trốn chạy, chứ không tiếp tục khoe mẽ huyênh hoang về văn hiến dân tộc kiêu hùng! Và để cùng khóc với nhau. Và vì cùng đau với nhau, nên mới biết thương nhau, lau vết máu cho nhau, đùm bọc nhau. Không ngờ mà người Do Thái lại chứng minh câu nói Việt là đúng: đồng bệnh tương lân.” (Jean Lartéguy, Bức Tường Thành Do Thái, trang 273)”

Việt Nam có một Bức tường than khóc như Do Thái hay không?

Theo Cha Trần Cao Tường, câu trả lời là có. Việt Nam cũng có một bức tường như thế, đó là đền Hát Môn, bên bờ sông Hát. Cha kể:

“Tháng giêng năm 2000 tôi có dịp về tận đền Hát Môn để đứng tê tái lặng nghe lịch sử khóc nỗi oan nghiệt của dòng tộc mình. Bức Tường Khóc Việt Nam là đây. Câu hát trong trường ca Mẹ Việt Nam của nhạc sĩ Phạm Duy đang vang vọng đâu đây bật lên từ tiềm thức cộng thông của cả một dân tộc. Nỗi oan dằng dặc suốt chiều dài và chiều dày của lịch sử từ cái ngày Hai Bà Trưng trầm mình trong dòng sông Hát; rồi Mã Viện đã bẻ gẫy và chôn đi biểu tượng tinh thần của một lớp dân mà ông ta miệt thị là “Nam Man” (dân Mọi phương Nam) với câu trù yểm: Ðồng trụ chiết, Giao chỉ diệt! Sau đó là một ngàn năm trầm luân mất mặt.

Nhớ xưa, nhớ Mẹ, nhớ Mẹ xưa,
Mẹ xuống sông rửa nhục anh hùng.
Mẹ trôi trên dòng sông Hát,
Nước ngược xuôi đưa Mẹ đi muôn nơi.
Nhớ chăng, nhớ Mẹ, nhớ Mẹ chăng?
Chôn đáy sông mối hận yêu chồng…
Chàng Trương có buồn thương, khóc…
Rước Mẹ lên, nước thiêng sẽ giải oan.

Ðể gầy dựng tinh thần, người Do Thái đã làm lễ nghi tuyên thệ tại Bức Tường Khóc, tại đồi Massada nơi cha ông họ đã tử thủ và thà chết tập thể chứ không chịu đầu hàng. Chỉ khi biết cùng khóc với nhau, cùng nhục với nhau, người dân một nước mới thực quyết tâm nắm tay nhau mà cùng cố ngóc đầu lên. Mong rằng một ngày nào đó người dân Việt cũng sẽ biến Ðền Hát Môn thành nơi tuyên thệ như vậy mà phục sinh hồn Việt thay vì những phóng chiếu mặc cảm khác. Ðã đến lúc người mình cùng trở về Ðền Hát Môn mà thương lịch sử khổ đau, thương một lớp dân bất hạnh và cùng tìm câu trả lời, như Nguyễn Thùy và Trần Minh Xuân trong Tinh Thần Việt Nam:

Hỡi lịch sử ta thương mình quá đỗi
Ta thương mình bởi chính nỗi ta đau.”

Hình ảnh của đạo quân tinh nhuệ và hung bạo dưới quyền Phục Ba Mã Viện đuổi theo những người phụ nữ Việt Nam nhỏ nhoi, thất thế đến tận bờ sông Hát đã sống lại trong lòng Cha Trần Cao Tường một nỗi đau dân tộc. Hai chị em Trưng Nữ Vương nhảy xuống dòng nước bạc để hai ngàn năm sau tiếng sóng vẫn vọng về trong lời nhắc nhở của Triết gia Kim Định “Làm một cái gì cho dân mình ngóc đầu lên đi chứ”.

Và Cha Trần Cao Tường kết luận:

“Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt? Lời yểm của Mã Viện chả lẽ cứ mãi ám ảnh một lớp người bất hạnh mang quá nhiều thương tích tật nguyền trong một dạng thức tâm lý không mấy bình thường? Thì đây, mắt mình rưng rưng nhìn thấy một dòng sông tình thương chảy đến từ những con tim nhân ái, biết đau, biết nhục với vận nước… và biết làm một cái gì cho dân mình có thể ngóc đầu lên dù phải hy sinh rất nhiều, như một lời thề trước Ðền Hát Môn. Số mệnh bao giờ cũng đi liền với một sứ mệnh và một sử mệnh. Ðó chính là lời thề của mỗi người góp phần khơi cho dòng sinh mệnh dân tộc chảy tới:

Trụ đồng gẫy, núi Giao Chỉ vẫn còn cao
Ngọn Cẩm Khê vẫn đầy, dòng sông Hát vẫn chảy.”

Tôi cũng đồng ý với Cha Trần Cao Tường rằng Việt Nam có một bức tường than khóc trải dài theo lịch sử.

Người Do Thái phải vượt qua bao nhiêu gian khổ để được đặt chân và cầu nguyện trên thánh địa của dân tộc họ. Nước mắt của người dân Do Thái nhỏ xuống bờ tường suốt bao nhiêu thế kỷ, đã thấm sâu, không chỉ vào bức tường mà cả trong thịt trong xương và trở thành một sắc thái văn hóa riêng của dân tộc Do Thái. Họ ôm nỗi đau đi khắp góc bể chân trời. Người Do Thái đối diện với nỗi đau như đối diện với chính mình và sống với nỗi đau như một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của họ. Nỗi đau lớn dần và trưởng thành theo thời gian, cuối cùng đã giúp họ trở về với vùng Đất Hứa.

Hẳn nhiên không thể so sánh nỗi đau và sự chiu đựng giữa dân tộc Do Thái và dân tộc Việt Nam; đúng ra, chẳng thể so sánh nỗi đau nào với nỗi đau nào. Nhưng trong quan điểm chủ quan của tôi, nỗi đau của dân tộc Việt Nam cũng sâu sắc, trầm trọng và vô cùng đau nhức. Trên mỗi bước chân chúng ta đi trên những nẻo đường Việt Nam, từ Ải Nam Quan cho đến Mũi Cà Mau, như vẫn còn nghe vọng lại tiếng kêu thương của bao nhiêu người đã ngã xuống.

Dòng sông Hồng màu đỏ vì đó là máu của bao nhiều thế hệ đã chết trong mỏi mòn đau nhức suốt hàng ngàn năm trong âm mưu đồng hóa của các triều đại Trung Hoa. Tương tự, màu đất đỏ ở miền Đông Việt Nam ngày nay, không những chỉ là màu đất mà còn được nhuộm bằng mồ hôi và máu của những người phu đồn điền đã tưới lên mỗi gốc cao su ở Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Sông Bé trong suốt gần một thế kỷ dưới ách thực dân:

Đất nước tôi nghèo, chinh chiến đã bao thu
Một ngàn năm trong xích xiềng nô lệ
Chân tôi bước nghe niềm đau vô kể
Của ông cha trong tủi nhục căm hờn.


Một trăm năm giặc Pháp cướp quê hương
Mỗi gốc cao su một thây người yêu nước
New Guinea, Reunion, những tử tù lê bước
Máu da vàng nhuộm đỏ đất Châu Phi
Image Nỗi đau Việt Nam quả thật vô cùng to lớn. Vâng, nhưng chân giá trị của nỗi đau như Cha Trần Cao Tường nhấn mạnh không phải chỉ bằng khả năng chịu đựng nhưng chính từ khả năng biết vượt qua. Chúng ta thường nghĩ đến những thách thức, những vượt qua nhưng thách thức lớn nhất và vượt qua cao cả nhất vẫn bắt đầu nơi chính mình. Nếu chúng ta không vượt qua được nỗi đau thì có lẽ cũng chẳng nên trách cứ hay đổ thừa vào ai khác.


Biết Cha rất thích cảnh mùa thu New England, 2005 tôi mời Cha lên thăm Boston, Cha nhận lời, nhưng rồi cơn bão Katrina cản trở nên đến tháng Giêng 2006 chúng tôi mới gặp nhau lần đầu ở Houston nhân ngày giới thiệu các tác phẩm của tôi ở đó. Ban tổ chức có ý mua vé máy bay cho Cha nhưng Cha không thấy cần. Cha và các bạn trẻ cùng lái xe đến tham dự và giúp giới thiệu tác phẩm của tôi. Chúng tôi quay quần với nhau trong một buổi chiều đầy thơ và nhạc. Dù phải ngồi xe một chặng đường xa nhưng Cha Trần Cao Tường vẫn nhiệt tình, trẻ trung, vui vẻ và luôn hòa đồng cùng mọi người. Cha sống trọn vẹn và chân thành như trong chính tác phẩm của mình.

Mặc dù nghe tin Cha bịnh nặng từ tháng trước và nhiều thời điểm vô cùng nguy kịch, tôi vẫn hy vọng Cha có thể đủ sức để vượt qua. Nhưng không. Sáng ngay tin buồn đã đến.

Tôi ngồi im lặng trước tấm ảnh Cha chụp mùa thu New England trong lần ghé lại Boston ba năm trước đang được trưng bày trong trang nhà Dũng Lạc và lắng nghe đoạn phim ghi lại buổi thuyết trình về văn học của Cha tại Boston College. Tất cả đều vô cùng gần gũi như đã rất xa xôi. Mùa thu đã tàn và Cha Trần Cao Tường đã ra đi. Những chiếc lá cuối cùng đang nằm trơ trọi trong tiếc nhớ ngoài hiên vắng. Đời người cũng thế, như chiếc lá, như mây bay. Đến chẳng ai hay và ra đi không kịp nói một lời từ giã. Nước mắt đã khô theo đời viễn xứ nhưng trong lòng tôi sao vẫn nghe đau.

Mọi nhân duyên đều có điểm bắt đầu và kết thúc, nhưng điều quan trọng và cũng kỳ diệu không phải ở hai điểm đến và đi mà là những gì để lại trong khoảng thời gian có mặt trong cuộc đời này. Từ ý nghĩ đó, trong nỗi buồn quá lớn của một cuộc phân ly, chúng ta, những người quý mến Cha Trần Cao Tường, sẽ tìm được một niềm an ủi. Sau 64 năm có mặt trên thế gian này, Cha đã trao lại cho chúng ta hôm nay và các thế hệ mai sau rất nhiều tặng phẩm vô cùng quý giá trong văn chương, trong giáo dục nhưng hơn cả là trong tấm lòng yêu nước nồng nàn của một bậc chân tu.

Hình ảnh Linh mục Trần Cao Tường đứng im lặng trong tê tái bên bờ sông Hát năm đầu thiên niên kỷ chợt hiện về trong ý thức tôi chiều nay. Thật cảm động và hãnh diện biết bao được có những ngày gần gũi, được lắng nghe lời khuyên của Cha: “Muốn vượt qua được những khoảng cách do những cực đoan quá khích, do tham vọng nhỏ nhoi bệnh hoạn, phải cần đến cái tâm nhân ái, bao dung, trung đạo, nhận ra được nét đẹp và cần thiết của những chiếc phao khác, của những đạo khác. Như vậy, công cuộc phục hưng tộc Việt cũng phải bắt đầu từ việc giải oan cho chính lòng mình, giải thoát được những khoảng cách và uẩn khúc ở ngay trong trái tim mình.”

Tôi luôn cố gắng sống trong tinh thần đó.

Nếu mai mốt có dịp trở về quê hương, tôi hứa sẽ đến bên bờ sông Hát để cùng cầu nguyện với Cha. Nơi Cha đứng, tôi tin, vẫn còn in lại dấu chân. Cha không phải là người thứ nhất và tôi không phải là kẻ sau cùng mà nhiều thế hệ Việt Nam đã và sẽ đến bên bờ sông Hát để lắng nghe trong muôn trùng sâu thẳm một nỗi đau Việt Nam, một lời thúc dục Việt Nam, một tiếng gọi Việt Nam. Và như Cha, tôi cũng sẽ đọc lại lời của mỗi người đã góp phần khơi cho dòng sinh mệnh dân tộc chảy tới hôm nay như Cha đã đọc trước đây:

Trụ đồng gẫy, núi Giao Chỉ vẫn còn cao
Ngọn Cẩm Khê vẫn đầy, dòng sông Hát vẫn chảy.

Và dân tộc Việt Nam từ đó sẽ vươn lên.

Trần Trung Đạo
22 tháng 11 2010

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Bán đấu giá một bức tranh của vua Hàm Nghi tại Pháp

Image
Tranh sơn dầu Déclin du Jour - Chiều tà của vua Hàm Nghi
Hôm nay, 24/11/2010, tại Hotel Drouot, ở Paris quận 9, văn phòng SVV Millon & Associés tổ chức bán đấu giá nhiều tác phẩm nghệ thuật hiện đại và đương đại, từ 1870 cho đến nay, trong số này có bức tranh sơn dầu "Déclin du jour" (Chiều tà) của vua Hàm Nghi. Bức tranh này mang số 41 trong số hơn 200 tác phẩm được trưng bầy và giao bán.

Văn phòng SVV Millons & Associés cho biết, bên trái phía dưới bức tranh sơn dầu Déclin du jour - Chiều tà của vua Hàm Nghi có chữ ký tác giả và thời điểm vẽ 1915, tức là lúc cựu Hoàng sinh sống tại Alger. (Xem tiểu sử vua Hàm Nghi). Lưng bức tranh có ghi là Quà Tặng của Hoàng tử An Nam.

"Tại Paris, hôm nay, một bức tranh sơn dầu của vua Hàm Nghi được đem ra bán tại nhà đấu giá Drouot, ở quận 9. Mang tên Déclin du jour tạm dịch là Chiều tà, tác phẩm hội họa này là một bức tranh vẽ phong cảnh khổ nhỏ, cỡ 35cm trên 46cm. Văn phòng Millon & Associés ước tính trị giá tác phẩm này khoảng 1000 euros, và đem ra bán tại nhà đấu giá Drouot, bên cạnh 200 trăm bức tranh và phác họa thuộc nhiều tác giả khác nhau.

Theo lời ông Alexandre Millon, giám đốc văn phòng Millon & Associés, đây là lần đầu tiên một tác phẩm của Hàm Nghi được đem ra bán đấu giá. Dựa vào các tiêu chuẩn định giá của thị trường hội họa (thời kỳ, thể loại, trường phái), điều này có thể giải thích vì sao, văn phòng Millon & Associés ra giá ban đầu khá thấp.

Bức tranh Chiều tà đã được trưng bày tại Drouot trong hai ngày, hôm qua và hôm nay. Điểm đáng chú ý là Văn phòng Millon & Associés giới thiệu tác phẩm này được vẽ bởi chính bàn tay của Hoàng đế An Nam tức là vua Hàm Nghi. Có lẽ cũng vì thế mà sự kiện này đã thu hút sự quan tâm của một số người Việt. Họ muốn đến xem tận mắt bức tranh Chiều tà. Theo cảm nhận của họ, tác phẩm của vua Hàm Nghi có giá trị tình cảm cũng như lịch sử.

Theo lời cô Cécile Ritzenthaler, chuyên gia về hội họa thế kỷ XIX và XX, làm việc tại nhà đấu giá Drouot, vua Hàm Nghi khi vẽ tranh lấy nghệ danh là Xuân Tử (Fils du Printemps). Sinh thời, nhà vua học vẽ với thầy là Maurius Reynaud và học điêu khắc với nghệ sĩ trứ danh của Pháp Auguste Rodin. Vua Hàm Nghi đã vẽ bức Chiều tà vào năm 1915, lấy một địa danh của Alger để đặt tên cho tác phẩm La route de El Biar. Chiều tà (Déclin du jour) chỉ là tiểu tựa, ghi chú ở đằng sau.

Buổi bán đấu giá đã bắt đầu vào lúc 14 giờ 20, giờ địa phương, thu hút hơn 150 người tham dự. Phòng số 1 với khoảng 70 ghế, chật kín người ngồi. Những người còn lại phải đứng để xem đấu giá. Vài phút trước 15 giờ, đến phần đấu giá bức tranh của vua Hàm Nghi. Tác phẩm ra giá ban đầu là 1 000 euros, chỉ trong một thời gian thật ngắn đã nhảy vọt lên tới hơn gấp 8 lần. Cuối cùng, tranh đã được bán với giá 8 800 euros. Chủ nhân của bức tranh là một người tham gia đấu giá qua điện thoại.
Image
Tranh của vua Hàm Nghi được bán đấu giá tại Drouot, phòng số 1 (J.C)
Tuấn Thảo

Tại Pháp, nhà đấu giá Drouot là một địa điểm nổi tiếng của Paris, đủ để cho cái tên riêng này được đưa vào thi ca. Hàng năm tại Drouot, có khoảng 800 ngàn hiện vật, đồ cổ hay tác phẩm nghệ thuật chuyền tay đổi chủ. Nhưng trong tuần này, có một cuộc bán đấu giá đã thu hút sự chú ý của người Việt.

Lần đầu tiên, một bức tranh của vua Hàm Nghi mang tên là Déclin du jour (tạm dịch Chiều tà hay Ngày tàn) được bán tại Paris. Hôm 24/11 vừa qua, phòng số 1 của nhà đấu giá Drouot đã mở cửa kể từ 11 giờ sáng để đón công chúng đến xem các hiện vật được trưng bày. Buổi đấu giá chỉ diễn ra hơn 3 tiếng đồng hồ sau đó nhưng số khách đến từ trước lại khá đông.

Những người Việt có mặt tại chỗ chủ yếu quan tâm đến bức tranh Chiều tà của vua Hàm Nghi, đặt ở góc bên trái bàn đấu giá. Giới chuyên gia Pháp thì lại quan tâm đến các tác phẩm của các nghệ sĩ nổi tiếng như Cocteau, Buffet, Modigliani, Magritte, Monet. Văn phòng Millon & Associés chính là công ty được giao bán hầu hết các tác phẩm trưng bày vào hôm đó. Ban Việt ngữ RFI đã gặp ông Alexandre Millon, giám đốc văn phòng cùng tên trong lúc ông đang chuẩn bị cho cuộc đấu giá.

Alexandre Millon : Trước hết chúng tôi đã khá ngạc nhiên trước sự hưởng ứng của một số người Việt sống ở Pháp. Trước khi được đem ra bán đấu giá tại Drouot, bức tranh của vua Hàm Nghi đã được trưng bày tại văn phòng của chúng tôi, và những người Việt đến xem đều bày tỏ sự kính cẩn, nể trọng. Tôi không nghĩ là họ có ý định mua đấu giá bức tranh này, mà lại muốn chứng kiến tận mắt tác phẩm của vua Hàm Nghi. Đối với họ, tấm tranh có một giá trị nào đó rất thiêng liêng vượt ra ngoài khuôn khổ nghệ thuật. Bức Chiều tà do một gia đình ở Pháp giao cho chúng tôi bán, ở đây tôi xin phép không tiết lộ danh tánh của họ. Gia đình này không biết gì nhiều về nguồn gốc của tác phẩm. Theo tôi, có lẽ đây là một món quà mà cựu hoàng Hàm Nghi đã tặng cho họ.

Có người hỏi rằng vì sao chúng tôi ra giá ban đầu thấp như vậy. Theo giới chuyên ngành hội họa, đó là một nhận xét chủ quan, tùy theo cảm tính của mỗi người. Để định giá một tác phẩm, chúng tôi phải dựa vào một số tiêu chuẩn cụ thể như thời kỳ vẽ tranh, tác phẩm thuộc thể loại gì, theo khuynh hướng, trào lưu hay trường phái hội họa nào. Bên cạnh đó, sự nghiệp của tác giả cũng đóng một vai trò quan trọng. Khối lượng tác phẩm được cho ra đời, việc tổ chức triển lãm thường xuyên và nhất là tại các địa điểm nổi tiếng góp phần nâng cao giá trị của tác phẩm trên thị trường. Đâu đó bức Chiều tà có một tầm quan trọng trước hết là nhờ thân thế của tác giả, và điều đó càng có nhiều ý nghĩa trong mắt của người Việt. Chúng tôi chỉ hy vọng là bức tranh sẽ được đấu giá cao hơn nhiều mức định giá ban đầu.

Bức Chiều tà trong mắt giới chuyên gia hội họa

Tại nhà đấu giá Drouot, chúng tôi cũng đã gặp cô Cécile Ritzenthaler, chuyên gia về hội họa thế kỷ XIX và XX, và cũng là người đã dẫn dắt cuộc đấu giá hôm 24/11. Cô là người đã xét nghiệm tính xác thực của bức tranh Chiều tà Déclin du jour. Cô cho biết nhận xét của mình về tác phẩm của vua Hàm Nghi.

Cécile Ritzenthaler : Chiều tà (Déclin du jour) không phải là tựa đề chính xác của tác phẩm. Trong nguyên tác, bức tranh này mang tên là La route de El Biar (Con đường của El Biar). Riêng về cái tựa Déclin du jour được ghi chú trên một tấm giấy nhỏ kẹp vào khung gỗ ở đằng sau bức tranh. Trên tấm giấy, có ghi thêm hàng chữ, quà tặng của hoàng tử An Nam, vẽ vào năm 1915 tại Alger. Điều đó giúp cho chúng tôi tìm hiểu thêm về xuất xứ của tác phẩm, bởi vì ở một góc tranh nhà vua ký tên bằng Hán tự, dịch sát nghĩa là Con của mùa xuân (Xuân Tử). (Lời tòa soạn : nhiều nguồn khác thì cho rằng nghệ danh của vua Hàm Nghi là Tử Xuân).

Theo đánh giá của tôi, bức Chiều tà có những nét họa mang nhiều ảnh hưởng của trường phái Nabi, một phong trào hội họa hình thành vào cuối thế kỷ 19, thiên về chủ nghĩa biểu tượng. Chữ Nabi bắt nguồn từ tiếng Do Thái, nebiim có nghĩa là tiên tri, linh cảm. Bức tranh vẽ phong cảnh này có một gam màu sẫm, hàng cây chân trời đều có những đường viền màu xanh đậm, ánh nắng ban chiều thì ửng màu hồng tím. Cách vẽ này dùng những màu lấy thẳng từ các ống sơn, chứ không có nhiều pha trộn. Một điểm tiêu biểu khác nữa là trong tranh phong cảnh theo khuynh hướng Nabi, chân trời thường được vẽ ở phần nửa trên thay vì ở phần nửa dưới của tấm tranh. Sinh thời, nhà vua đã học vẽ với thầy là Maurius Reynaud và học tạc tượng với nhà điêu khắc lừng danh của Pháp là Auguste Rodin.

Đào sâu hơn nữa, chúng tôi mới khám phá ra rằng sinh thời nhà vua Hàm Nghi đã triển lãm một lần các tác phẩm của mình vào năm 1926 tại Paris. Điều đó phần nào giúp cho chúng tôi định giá tác phẩm, bên cạnh việc so sánh bức Chiều tà với các tấm tranh của các tác giả cùng thời. Ngay từ ban đầu, tôi đã nhận được nhiều cú điện thoại của những người muốn mua tranh, có cả người Việt lẫn người Pháp. Điều đáng chú ý là đa số những người này muốn mua vì lý do tình cảm nhiều hơn là nhằm mục đích kinh doanh. Đa số đều còn khá xa lạ với hình thức bán đấu giá, nên họ gọi tôi để tham khảo ý kiến. Phản ứng của họ hoàn toàn khác với những thương gia chuyên sống nhờ nghề buôn bán tranh.

Cảm nhận của người Việt tại phòng đấu giá

Cuộc đấu giá bắt đầu vào khoảng 14 giờ 20. Từ cả tiếng đồng hồ trước đó, khách tham dự đã bắt đầu xếp hàng để vào cửa, sớm tìm cho mình chỗ ngồi thích hợp. Trên hơn 150 người có mặt tại buổi bán đấu giá hôm đó, có khoảng 10% là người Việt. Khoảng 70 ghế đã chật kín người ngồi. Những người còn lại phải đứng ở đằng sau hàng ghế nếu muốn tham dự.

Phần đấu giá bức tranh của vua Hàm Nghi (lô thứ 41 trên hơn 200 lô) diễn ra vào khoảng 15 giờ, giờ Paris, kéo dài trong vòng chưa đầy 5 phút, nhưng đủ để nhân lên hơn gấp 8 lần (8 800 euros) so với mức định giá ban đầu của văn phòng Millon & Associés. Chủ nhân của bức tranh là một người tham gia đấu giá qua điện thoại. Điều đó khiến cho một số người Việt hơi thất vọng. Trong đó có chị Mathilde Tuyết Trần, từng tham gia trực tiếp đấu giá.

Cô Nguyễn Thế Thanh, tổng giám đốc công ty Sài Gòn Media trong lúc đang đi công tác, cũng từ Đức bay sang Paris với hy vọng là sẽ mua được bức tranh Chiều tà, để rồi đưa tác phẩm này của cựu hoàng Hàm Nghi về cố đô Huế.

Sau khi phần đấu giá bức tranh Chiều tà của vua Hàm Nghi ngã ngũ, hầu hết người Việt có mặt hôm đó đều ra về, trong khi buổi đấu giá vẫn tiếp diễn tại Drouot. Điều này phần nào cho thấy sự quan tâm của một số người Việt sống ở Pháp hay từ Việt Nam sang Paris đối với sự kiện này. Trong đó có rất nhiều người lần đầu tiên đặt chân đến Drouot.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image


Cây chiếu sáng đường phố trong tương lai


Cây chiếu sáng đường phố trong tương lai
Diện mạo các thành phố sẽ thay đổi ngoạn mục khi những cây phát sáng thay thế cột đèn trên các đường phố.

Vô số loài sinh vật có khả năng phát sáng trong tự nhiên, như đom đóm hay vi khuẩn Vibrio fischeri. Chúng có khả năng tạo ánh sáng nhờ một số gene đặc biệt trong cơ thể. Những gene này ra lệnh cho cơ thể sản xuất các enzyme tạo ánh sáng. Tuy nhiên, đa số sinh vật chỉ tạo ra loại ánh sáng yếu ớt nên con người không thể thấy.

Để tăng độ sáng của chúng, một nhóm sinh viên ngành di truyền của Đại học Cambridge tại Anh biến đổi gene tham gia vào quá trình tạo ánh sáng của đom đóm và vi khuẩn Vibrio fischeri. Sau quá trình biến đổi gene, lượng enzyme mà cơ thể sản xuất và khả năng tạo ánh sáng của enzyme đều tăng mạnh, Newscientist cho biết.

Nhóm sinh viên cấy những gene đã biến đổi vào Escherichia coli – vi khuẩn sống ký sinh trong ruột của con người và động vật máu nóng – để tạo ra nhiều loại ánh sáng có màu sắc khác nhau. Họ phát hiện ra rằng khi số lượng vi khuẩn tăng tới mức tương đương một chai rượu, ánh sáng mà chúng phát ra đủ mạnh để mắt người có thể cảm nhận.

Nếu các gene đột biến nói trên được cấy vào bộ gene của cây, chúng cũng sẽ phát ra ánh sáng.

Theo Sanderson, một thành viên trong nhóm nghiên cứu, nói rằng họ chưa tạo ra cây phát sáng, song thành quả của họ sẽ giúp ích cho nỗ lực tạo cây phát sáng trong tương lai.

Một trong những trở ngại của quá trình tận dụng vi khuẩn phát sáng là quá trình tạo ra ánh sáng phụ thuộc vào một nhóm hợp chất có tên luciferin. Những hợp chất này phát ra ánh sáng rồi biến thành oxyluciferin, loại chất không tạo ra ánh sáng. Để khắc phục trở ngại, nhóm nghiên cứu của Đại học Cambridge đã tìm ra một cách để giúp vi khuẩn tạo ra các enzyme có khả năng tái chế oxyluciferin thành luciferin.

Sanderson và các cộng sự dự đoán cây phát sáng sẽ mở ra nhiều ứng dụng to lớn trong tương lai. Chẳng hạn, chúng có thể thay thế những cột đèn đường trong đô thị. Khi cây thay thế cột đèn đường, lượng điện mà con người sản xuất sẽ giảm khiến mức độ ô nhiễm môi trường giảm theo. Để tăng lượng ánh sáng trên đường, người ta chỉ cần trồng thêm cây. Nếu cấy những gene phát sáng vào tảo, con người có thể dùng chúng để "tích trữ" ánh sáng mặt trời và sử dụng vào ban đêm. Các nhà khoa học còn tính tới việc dùng rác thải để kích thích quá trình tạo ánh sáng trong cây, nhờ đó rác sẽ trở thành nguyên liệu có ích.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Tin tặc tấn công nhiều báo điện tử, diễn đàn ‘lề trái’
Tuesday, November 30, 2010

QUẬN CAM (TH) - Một số báo điện tử, diễn đàn thông tin mạng tiếng Việt thuộc “lề trái” vừa bị tin tặc tấn công tới tấp.

Image
Hình vẽ nhân vật bạo chúa Trung Quốc Tần Thủy Hoàng mà tin tặc để lại trên màn hình của một số trang mạng và diễn đàn điện tử “lề trái.”
(Hình: Ðối Thoại)


Hôm 29 tháng 11, 2010, trang web của “Tiếng Nói Tự Do Dân Chủ” đã bị nhóm Hacker Tần Thủy Hoàng phá hoại. Trong cùng ngày nhóm này cũng đã hacked trang web của Hải Ngoại Phiếm Ðàm, DCVOnline, Thông Luận.

Ông Lê Minh thay mặt ban biên tập diễn đàn thông tin “Tiếng Nói Tự Do Dân Chủ” cho biết trang báo điện tử Ðối Thoại cũng bị phá nhưng phục hồi được sớm.

“Cho dù nhóm hackers này nhận lệnh của công an Trung Quốc hay là của công an Việt Nam thì đều có mẫu số chung là mục đích chính trị, nhằm ngăn cản các thông tin có hại cho chúng.”

Hình ảnh để lại trên màn hình là hình vẽ Tần Thủy Hoàng, một bạo chúa khét tiếng của nước Tầu (259-210 trước Công nguyên) và lá cờ Trung Cộng.

Cho tới nay, chưa có sự điều tra đích xác nào để biết nhóm tin tặc này ở đâu. Nhưng ông Nguyễn Văn Huy, một thành viên của nhóm Thông Luận nói với đài RFI hôm Thứ Ba rằng: “Cách nay hai hôm, chúng tôi đã bị tấn công một lần. Người chuyên viên kỹ thuật của Thông Luận nhận thấy đây là một loại tin tặc mới. Khi họ chặn cổng vào site Thông Luận thì người lo về kỹ thuật thấy tin tặc không xuất phát từ Việt Nam mà do người Trung Quốc. Họ cũng để lại ký ấn, lá cờ Trung Quốc và hình ảnh Tần Thủy Hoàng. Chuyên viên kỹ thuật cũng truy được mã số cá nhân của máy thì biết chủ máy là người Trung Quốc.”

Tháng 8 vừa qua, ít nhất có 10 diễn đàn và báo điện tử “lề trái” bị một nhóm tin tặc phá sập rồi để lại trên màn hình một tấm thẻ bài có 3 chữ “Sinh Tử Lệnh.”

Ðó là các trang mạng Thăng Tiến, Thông Luận, Tiền Vệ, Talawas, Xcafevn, Dân Luận, danchimviet.com , TTXVA.com, doithoaionline.org , trangdenonline.com... Sau đó, một số trang blog nổi tiếng như Mẹ Nấm, anhbasg (Anh Ba Saigon), Lê Diễn Ðức, Freelecongdinh cũng đã bị tin tặc ngày đêm quấy phá.

Hồi giữa tháng 10, một số người viết blogs từ Việt Nam cũng bị nhóm tin tặc phá rồi để lại “Sinh Tử Lệnh” như blog Gốc Sậy của ông Nguyễn Hồng Kiên, blog Trương Duy Nhất của ký giả báo Ðại Ðoàn Kết Trương Duy Nhất, blog của nhạc sĩ Tô Hải...

Hồi đầu năm, công ty cung cấp dịch vụ thông tin điện tử quốc tế Google tố cáo chiến dịch đánh phá nhắm vào các nhóm thông tin liên quan các sự chống đối khai thác bauxite tại Việt Nam hay các tin tức chính trị thuộc lọai “nhạy cảm.” Các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế như Theo Dõi Nhân Quyền (HRW), Phóng Viên Không Biên Giới (RSF) Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả (CPJ) cũng thường xuyên lên án các chính sách bót nghẹt thông tin đa chiều của nhà cầm quyền Hà Nội cũng như Bắc Kinh.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Ông Phật Mũi Đen
Có một Ni cô trên đường tìm chân lý đã chắt chiu nhờ thợ tạc riêng cho mình một tượng Phật nhỏ cỡ chừng gang tay bằng gỗ ngoài thếp vàng. Tượng Phật đó rất đẹp và Ni cô rất trân quí; đi đâu cũng mang theo, và thường đốt hương cúng dường cho Phật nữa.

Năm tháng trôi qua, Ni cô vẫn luôn mang vác tượng Phật trên vai đi khắp nơi. Một ngày kia, nghĩ mình cũng lớn tuổi rồi, Ni cô dừng chân lại một ngôi chùa nhỏ miền quê; nhưng chùa này lại có rất nhiều tượng Phật lớn nhỏ. Mỗi vị Phật đều có bàn thờ riêng cả. Nhìn lại pho tượng Phật nhỏ xíu của mình, Ni cô thấy trong lòng ái ngại qúa. Ở nhờ chùa người ta nên khó lập bàn thờ riêng cho Phật mình, Ni cô đành phải thờ ké bàn thờ vậy.

Từ hồi nào đến giờ, Ni cô thường đốt hương trầm cúng dường "Phật của mình", nay trong cảnh thờ chung như vậy, Ni cô thấy trong lòng bất ổn; mấy ông Phật trụ xứ nhiều quá, ông nào ông nấy to lớn, lỗ mũi to như qủa quít thế kia thì hít hết khói hương trầm, còn gì cho ông Phật của mình nữa. Thiệt thòi cho Phật mình quá!

Ngày đêm suy nghĩ, Ni cô tìm được một kế thượng sách. Ni cô lấy giấy và ống nhựa nhỏ quấn lại với nhau thành hình một cái phễu (ống quặn) vừa đủ khói xông lên hun thẳng vào mũi ông Phật mình. Hay qúa, thế là mấy ông Phật trụ xứ kia đừng hòng ngửi ké nhá. Ni cô rất hoan hỷ, trong lòng vui sướng, ăn ngủ ngon lành.

Trải qua mấy tuần lễ đốt hương xông thẳng vào mũi Phật, cái lỗ mũi tượng Phật của Ni cô đen thui đầy muội hương trong khi mấy pho tượng Phật trụ xứ chẳng có sao hết. Cái lỗ mũi đen trên pho tương Phật bằng vàng làm cho pho tượng trông xấu xí, kỳ cục hơn các tượng Phật khác.

Ối chao, làm Phật rồi mà còn khổ thế.
Khổ thay, khổ thay!

Vấn đề then chốt nhất của người đi tìm chân lý giải thoát là phải phân biệt rõ ràng ranh giới giữa Yêu, Ghét, Tham Đắm và Ràng Buộc. Cái ranh giới đó hay bị lẫn lộn nhập nhằng với nhau, nhưng thực ra, chúng khác nhau đấy.

Sự ràng buộc đắm trước là một tai họa, một nguy hiểm giết chết Tình Yêu. Không có một vật gì nguy hiểm hơn, độc hại hơn lòng chiếm hữu dính mắc.

Bạn phải cố gắng hiểu cho kỹ điểm này, rồi chúng ta đi vào cốt truyện.
Rất nhiều người đã lầm lẫn Tình Yêu và sự Chiếm Hữu. Chiếm Hữu không phải là mặt trái, không phải là một phần của Tình Yêu gì cả. Nó là sự đối nghịch hoàn toàn.

Tình Yêu (viết hoa) không đơn thuần có ý nghĩa là tình yêu nam nữ, mà còn là tình yêu quê hương, tình yêu cha mẹ, tình yêu chúng sanh, v.v... Một thứ tình yêu bao la không biên giới, không phân biệt màu da, chủng tộc, quốc gia gì cả. Sức mạnh Tình Yêu Đại Đồng này có công năng tiêu hủy cái tự ngã vị kỷ hẹp hòi của bạn để bạn hòa hợp mình vào với mọi người, với chúng sanh, với vũ trụ và sẽ giúp bạn thăng hoa nhân cách tới mức tối thượng. Hơn thế nữa, Tình Yêu Đại Đồng đó sẽ giúp bạn đối diện dễ dàng với cái chết, và từ đó, bạn cũng sẽ dễ dàng thực tập thiền định.

Tình Yêu sâu thẳm hơn cái Chết, Thiền Định sâu thẳm hơn Tình Yêu. Trong thiền định, tự ngã của bạn phải vắng bóng; cái tự ngã của bạn phải chết đi. Khi bạn không dính mắc bám víu một cái gì, khi bạn hòan tòan thoát ly ra được cái ngục tù "Tự Ngã" thì bạn mới thể nhập được vào Đại Định.

Danh từ tiếng Anh "Ecstasy" rất dẹp và có ý nghĩa. "Ecstasy" có nghĩa là đứng bên ngoài, đứng ngoài lề. Nhưng trong đạo Phật, "Đại Định" mang ý nghĩa sâu xa hơn, hàm xúc hơn, triệt để hơn ý nghĩa xuất thần, nhập định rất nhiều.

Thiền Phật giáo không đơn thuần là trạng thái xuất thần, đi vào những cảnh giới lạc thú như các cõi trời mà là nghệ thuật kiến chiếu vào thể tánh của chúng ta; nó chỉ con đường từ triền phược đến giải thoát, nó đưa chúng ta đến uyên nguyên của cuộc sống, uống ngụm nước đầu nguồn, cởi bỏ tất cả những sự ràng buộc chấp mắc. Khi nhập vào đại định, ta có thể khai phóng tất cả năng lực nội tại và tự nhiên tích tập trong mỗi người chúng ta ( Thiền Luận của Dr. Suzuki). Nghệ thuật trong thiền chính là nghệ thuật học cách Chết. Chết con người khốn nạn tầm thường này để trở thành một con người mới toàn thiện hơn. Do đó, Tình Yêu có nghiã là chết đi cái tự ngã nhỏ hẹp ích kỷ để sống an lạc và chia xẻ hạnh phúc với mọi người, mọi loài... Nó khác xa tính chất độc hại của sự chiếm hữu ràng buộc.

" Có một Ni cô trên đường đi tìm chân lý đã dành dụm tiền nhờ tạc một tượng Phật bằng gỗ thếp vàng. Tượng Phật đó rất đẹp và Ni cô đi đâu cũng mang theo kè kè... "

Từng chữ một trong câu truyện này cần phải giải thích trọn vẹn. "Một Ni cô" Tại sao lại là một ni cô mà không phải là một ông thầy tăng? Có phải vì đầu óc và trái tim phụ nữ rất chật hẹp và thích chiếm hữu cho nên nhân vật cốt truyện là một ni cô?

Chúng ta khoan phê bình đánh giá vội. Không phải chỉ riêng có phụ nữ mới có tánh ích kỷ, hẹp hòi, tham lam, đố kỵ, nhiều tật xấu đâu, mà những ngừơi đàn ông cũng có những tật xấu đó. Nhưng trước hết, chúng ta thử phân tích "Tại sao người đàn bà ích kỷ, sở hữu nhiều hơn đàn ông?" — Bởi vì tánh ích kỷ sở hữu thoát thai từ sợ hãi.

Phụ nữ là một linh vật yếu đuối về thể chất. Vì sự yếu đuối thể chất đó, họ cần nương dựa; họ cần được bảo vệ. Từ những ngày đầu của thời kỳ khai thiên lập địa, phụ nữ đã phải nương dựa vào cánh đàn ông để được che chở và bảo vệ khỏi thú dữ để sinh tồn. Lâu dần, họ trở nên phụ thuộc và tự biến mình thành cái bóng sau lưng người đàn ông. Và càng yếu đuối chừng nào, họ càng sợ thêm chừng đó, càng sợ lại càng chiếm giữ ràng buộc, sợ mất đi sự che chở, sợ mất đi sự bảo vệ, sợ mất đi sự nương dựa. Ngay cả khi họ đang đựơc bảo vệ, họ cũng vẫn cảm thấy không hài lòng thỏa mãn. Họ vẫn cảm thấy bất an, lo sợ sẽ mất đi cái an toàn, cái phao che chở đó, và từ đó, tánh chiếm hữu ràng buộc tự lợi nẩy sanh, không muốn chia xẻ với ai cái họ đang nắm giữ. Vì thế, trong câu truyện, hình ảnh ni cô, người phụ nữ, đã được lựa chọn. Song, bạn cần phải nhớ kỹ rằng không có sự khác biệt gì nếu bạn mang thân tướng đàn ông mà ích kỷ, hẹp hòi, không rộng lượng thì thể chất đàn ông nhưng tánh khí đàn bà đó. Điều đó còn tệ hơn nữa, phải không? Còn phụ nữ nào xả bỏ được tánh vị kỷ sở hữu thì hơn hẳn đàn ông rồi còn gì. Như vậy, sự khác biệt không phải đặt trên vấn đề nam giới hay nữ giới mà đặt trên cơ bản phong cách hành xử.

Nghe rằng Mahavira đã nói "Phụ nữ không thể nào giác ngộ được trừ phi người ấy trở thành đàn ông." Và mọi người tin theo nghĩ rằng phụ nữ phải cố gắng làm tất cả những việc phước đức để kiếp sau tái sanh lại làm phái nam. Thực ra, ý nghĩ đó quả là buồn cười và ngờ nghệch. Mahavira muốn nói là còn tư tưởng ích kỷ chiếm hữu đó thì không thể nào giác ngộ được chứ không phải nói còn cái thân tướng đàn bà là không gíac ngộ — vì còn sợ, còn chiếm hữu thì không Tình Yêu, không Thiền Định được.


"Ni cô đó tạc một pho tượng Phật bằng gỗ thếp vàng và đi đâu, Ni cô cũng mang theo."


Từ lúc tạc tượng Phật thếp vàng, Ni cô ngủ không an giấc vì lo sợ kẻ nào đó sẽ đột nhập vào rinh mất pho tượng quí này đi. Đang đi trên đường, nếu có ai chợt nhìn vào tay nãi trong có tượng Phật, Ni cô cũng giật thót người, cảm thấy bất an nghĩ rằng biết đâu họ biết trong túi có tượng Phật thếp vàng và sẽ cướp đi mất. Pho tượng trở thành gánh nặng, trở thành hàng rào cản bước tiến giải thoát của Ni cộ Tâm trí Ni cô xoay vần với lo sợ, bất an, và dính mắc. Còn chỗ trống nào đâu để an lạc giải thoát lọt vào! Pho tượng đã trở thành tâm điểm chiếm hữu, lo sợ và thờ phụng.

" Năm tháng trôi qua. Ni cô vẫn luôn mang tượng Phật đi khắp đó đây. Và một ngày kia, Ni cô dừng chân lại một ngôi chùa làng có rất nhiều tượng Phật..."

Thời gian trôi qua, không có dấu hiệu giác ngộ gì. Mang kè kè một tượng Phật như thế mà không thấy gì à? không giác ngộ gì sao? Lạ thật.
Phật là Giác ngộ, là Giải thoát, là Đại Ngã, là Chân Tâm, là Bản Thể; nhưng bạn không thể giác ngộ chân lý giải thoát đó nếu bạn vẫn vác nặng hành trang ràng buộc, chấp trước và vị kỷ. Dù bạn có mang vác trên vai bao nhiêu pho tượng Phật đi chăng nữa thì cũng dã tràng xe cát biển đông mà thôi.

Bên Trung Hoa, Nhật Bản, người ta đã xây dựng rất nhiều đại tự, đại tháp để thờ Phật. Ở Trung Hoa, có một ngôi cổ tự thờ 10,000 tượng Phật. Tuy nhiên, dù có hàng 10,000 tượng đi chăng nữa cũng chẳng giúp ích được gì cho ta cả nếu ta không chịu tu tập đọan trừ Tham Sân Si, Ngã Mạn, Tà Kiến, v.v...

Tượng Phật chỉ là một biểu trưng cho sự giác ngộ giải thoát; chiêm ngưỡng lễ lạy tượng Phật để tự nhắc nhở vốn sẵn có Phật tánh. Phật tánh có ở trong anh, có ở trong tôi, có ở trong em, có ở trong người giàu sang quyền quí cũng như ở trong kẻ ăn mày khốn khổ kia.

Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh!
Tất cả chúng sanh đều thành Phật!
Tất cả chúng sanh đều bình đẳng!

Hãy tìm một vị Phật sống. Hãy tìm vị Phật sống trong ta. Đừng rong ruỗi tìm cầu bên ngoài. Đừng trông chờ mong đợi sự cứu độ. Đừng dập đầu van lạy các ngẫu tượng cầu xin giải thoát. Vì thế, Ni cô này đã vác tượng Phật gỗ suốt nhiều năm mà chẳng thấu hiểu được gì. Cái tâm đắm chấp đã che mờ giác tánh trong Ni cô. Quả vậy, có cái gì khổ theo cái nấy. Người đời có gia đình, có cái nhà cái xe là lo lắng ôm giữ bảo vệ những thứ đó cả đời, sợ mai một mất đi và lo nối dòng nối dõi để giao phó của cải. Tu sĩ thì trụ trì một ngôi chùa nào hay thánh đường nào thì cũng dính mắc vào tự viện đó không thoát ra nổi, cũng lo kiếm đệ tử truyền trao lại. Cha truyền con nối; không muốn giao cho ai khác ngoài con ruột mình, đệ tử ruột mình. Cái chế độ phong kiến tự ngàn xưa đã bị chúng ta hủy bỏ đi để xây dựng chế độ tự do dân chủ; nhưng đó chỉ là hình thức thay đổi còn nội dung vẫn như cũ. Tự Ngã vẫn hoàn lại Tự Ngã đầy tham vọng ích kỷ, tư lợi và ràng buộc. Cái hay nhất của người tu sĩ là rày đây mai đó, đem chánh pháp giáo hóa chúng sanh. Chùa chiền, tự viện chỉ là trạm dừng chân qua đêm, đến sáng lại quảy gánh ra đi. Nếu phải trụ trì một ngôi chùa hay tự viện nào thì tu sĩ đó phải hằng tự giác tỉnh là Vạn Pháp vốn Vô Thường Vô Ngã. Không có cái gì trường tồn bất biến cũng không có cái gì là của ta cả. Sự vật đến đến đi đi, có có không không. Người tu sĩ phải luôn luôn có tâm niệm Xả Phá Ngã đó thì mới ứng phó đạo tràng, tùy duyên bất biến. Nếu không, họ sẽ sanh tâm đắm nhiễm, mắc kẹt vào chùa chiền, thánh đường, tự viện, tín đồ, danh lợi thế gian.

"Ni cô đó thường đốt hương trầm cúng dường tượng Phật của mình . Vì không muốn khói xông lên bay vào các tượng Phật khác, Ni cô đã chế ra một cái phễu nhỏ để khói chỉ bay thẳng vào mũi tượng Phật của mình."

Thấy chưa? Nội chỉ có khói hương thôi mà người ta đã phân biệt ích kỷ rồi huống chi là những thứ quí giá hơn, to lớn hơn gấp bội. Thế cho nên, chúng ta đã chứng kiến quá nhiều cảnh tranh giành tương tàn lẫn nhau để chiếm đoạt hay ôm giữ. Ông tu sĩ này nói xấu ông sư kia, bà ni cô kia bêu riếu bà vãi nọ. Đền thờ, chùa chiền, tự viện, v.v... đua nhau mọc lên như nấm, và cũng đua nhau khuếch trương, mưu cầu đóng góp, dụ dẫn tín đồ... Tất cả chẳng qua phản ảnh tâm Tham Đắm, Chấp Ngã, Mê Danh của những con người chưa liễu đạo. Ni cô trong truyện có phải chăng chính là hình ảnh của chúng ta? Chúng ta dã từng ra rả tụng kinh, sám hối, tọa thiền... nhưng chúng ta nào có thấu được chút hương thơm giáo lý của Phật, của Chúa, của Mahavira. Chúng ta xây bao tượng Phật, tượng Chúa, đền thờ, tháp tự, v.v. nhưng nào chúng ta thực hành được chút xíu nào lời các Thánh nhân dạy về giải thoát giác ngộ? Cũng như Ni cô mang vác tượng Phật suốt nhiều năm mà vô minh vẫn hòan vô minh, trói buộc vẫn hòan trói buộc.

Và chuyện gì đã xảy ra?

"Trải qua mấy tuần lễ bị hun khói như vậy, lỗ mũi ông tượng Phật vàng bị đen thui đầy muội hương. Cái lỗ mũi đen trên pho tượng vàng càng làm cho pho tượng Phật xấu xí, kỳ cục hơn..."

Điều đó đương nhiên phải xẩy ra cho tất cả những người còn tâm đắm nhiễm vị kỷ. Hương thơm không còn là hương thơm, chân lý không còn là chân lý nữa.

Hãy trở về nhìn lại các pho tượng Phật, tượng Chúa, tượng Krishna. Ở tất cả lỗ mũi của các pho tượng đó đều bị đen thui vì ám khói ích kỷ tư lợi, chấp trước vô minh của chúng ta. Lời cầu nguyện của chúng ta chỉ là lời cầu xin đưọc ban thêm ân huệ vật chất. Ngay khi chúng ta mở miệng ra nói: "Nhà thờ của tôi, chùa của tôi, thầy của tôi, đệ tử của tôi... Có danh từ "của tôi" thêm vào là đền đài, chùa chiền, tự viện... đều bị phá sập hoàn toàn.

Trước đây, chính tôi (tác giả) đã bị dẫn độ ra tòa vì tôi dám xâm phạm một nhà thờ. Ngôi nhà thờ đó đã đóng cửa, không hoạt động ít nhất là 20 năm rồi. Những tín đồ đã dọn đi nơi khác, không còn ở Ấn nữa. Nhà thờ này thuộc về giáo hội Thiên Chúa Giáo Anh và cũng không còn người Anh nào ở phố thị này, không ai chăm sóc trông nom nhà thờ cả. Nhà thờ ấy rất đẹp nhưng bị hoang phế.

Ngày kia, có vài tín đồ đến gặp tôi và nói:

"Chúng tôi không thuộc giáo phái Anh, nhưng chúng tôi không có nhà thờ riêng. Vậy ông có thể giúp chúng tôi mở khóa vào lễ Chúa không?"

Tôi đáp ngay:

"Được thôi, có gì đâu."

Và những tín đồ đó vào nhà thờ, quét dọn, lau chùi bụi bặm bám đen lỗ mũi của Chúa.

Tôi nói với họ:

"Không cần hỏi ai là chủ nhà thờ này cả. Người nào thờ phụng Chúa với tất cả lòng thành không riêng tư thì nhà thờ đó là của họ."

Nhưng hai, ba tháng sau thì tin tức bay tới tai những người trước kia bỏ tiền ra mua nhà thờ. Họ tìm luật sư và kiện tôi ra toà vì dám xâm phạm nhà thờ.

Công tố viên buộc tội

— Tại sao ông dám mở khóa nhà thờ? Nhà thờ này thuộc về những nguyên cáo là những người bỏ tiền ra mua. Nó là tài sản của họ.

— Nhà thờ chỉ là một phương tiện để mọi người có thể đến lễ lạy Chúa. Nhà thờ không phải là tài sản của riêng ai cả.

— Đó là luật pháp. Khi ông xâm phạm vào tài sản người khác, ông đã phạm tội.

— Được thôi, các ông có thể đóng cửa nhà thờ lại. Các ông có thể buộc tội tôi; nhưng hãy nhớ kỹ một điều là chính các ông, những con người ích kỷ tham đắm kia, đã giết chết Tôn Giáo! Chính các ông mới là "kẻ có tội" !

Hãy nhớ kỹ lời Đức Đạt Lai Lạt Ma nói:

"Ngôi chùa của tôi ở chính tại Tâm tôi!"

Chùa tại Tâm. Phật tại Tâm!

Đủ rồi!

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Em Tôi

Phan Nhật Nam
Năm em lên ba, bố tôi bỏ lại người vợ trẻ và hai đứa con thơ lên đường tập kết.

Tôi hơn em sáu tuổi. Chín tuổi con nhà nghèo khôn lắm, tôi đủ khôn để thấy khuôn mặt mẹ buồn hiu hắt, những tiếng thở dài và những giọt nước mắt âm thầm của mẹ trong đêm. Chín tuổi, tôi đã biết mình là người nam độc nhất trong gia đình, đã biết ẩm bồng đút cơm cho em và vỗ về em mỗi khi em khóc. Chín tuổi, tôi đã biết tắm rửa, thay áo thay quần cho em, cõng em đi chơi và dỗ cho em ngủ. Mỗi ngày, trời sập tối mẹ mới gánh hàng về, ba mẹ con ngôì ăn cơm bên ngọn đèn dầu , tôi và em hỏi han, an ủi mẹ. Mẹ kể cho chúng tôi nghe chuyện chợ búa như đang nói chuyện với người lớn, tôi ngồi nghe, nhìn đôi vai gầy của mẹ, nhìn mái tóc và đôi bàn tay khô của mẹ, mà thấy thương mẹ vô cùng.

Tôi phải bỏ học ở nhà hai năm để trông chừng em. Mẹ có một sạp bán rau cải ở chợ Cồn. Gọi là sạp chứ thực ra chỉ là một ô đất nhỏ, sáng mẹ ra đi thật sớm, lúc trời còn mờ sương, buổi trưa mẹ về nhà lo cho chúng tôi ăn, nằm nghỉ ít phút rồi trở dậy sửa soạn cho chuyến chợ chiều. Một tuần bảy ngày, mẹ đi đi về về trong nỗi cô đơn.

Năm em vừa tròn năm tuổi thì mẹ cho em vào mẫu giáo, tôi cũng trở lại trường, đám bạn cũ của tôi nay đã hơn tôi hai lớp, ngồi xung quanh tôi bây giờ là những khuôn mặt lạ, kém tôi hai, ba tuổi. Tôi là học trò lớn nhất và học khá nên được làm trưởng lớp. Gần cuối năm học lớp nhì, tôi nói với mẹ lên xin thầy Hiệu trưởng cho tôi được thi nhảy tiểu học. Thầy bằng lòng. Tôi cắm cúi học luyện thi và kết qủa là tôi đã đỗ được bằng tiểu học năm đó.

Vào lớp đệ thất trường Trần quốc Tuấn, tôi tiếp tục học ngày, học đêm, năm đệ ngũ tôi thi nhảy một lần nữa lấy bằng Trung học. Đến niên học đệ tam thì tôi đã bắt kịp đám bạn cũ, tôi hân hoan nhập bầy chung với đám bạn ngày xưa. Đây là giai đoạn mà tôi cần tiền để mua sách học và may thêm quần áo, thời tiểu học và trung học đệ nhất cấp thì mặc sao cũng được, nhưng bây giờ đã lên đệ nhị cấp rồi, đã bắt đầu biết đỏ mặt khi nhìn những đứa con gái trường nữ, thỉnh thoảng đã biết theo bạn tập uống cafe, phì phà điếu thuốc. Tiền mẹ cho không đủ, tôi bắt đầu công việc kèm trẻ tư gia để kiếm thêm tiền. Học trò của tôi là mấy cô cậu đệ thất đệ lục, nghĩa là cũng chỉ bé thua tôi vài tuổi .

Ba mẹ con tôi vẫn ngày ngày đi về căn nhà nhỏ, căn nhà vẫn không thay đổi một chút nào từ ngày bố bỏ mấy mẹ con để ra đi.

Hết năm đệ tam, tôi nộp đơn thi Tú Tài phần nhất. Tôi đậu bình thứ. Một lần nữa, mọi người ngạc nhiên, nhưng tôi biết sức học của mình, tôi biết mẹ buôn bán tảo tần, tôi thấy những năm tháng gần đây mẹ trở bệnh hoài, mỗi sáng mẹ lục đục dậy thật sớm nấu cơm để dành cho anh em tôi, rồi lặng lẽ mang đôi quang gánh lên vai, những tối ngồi trâm ngâm bên ánh đèn dầu nhìn anh em tôi học bài và những đêm khuya mẹ trở mình húng hắng ho. Tôi thương mẹ và em đến ứa nước mắt, và càng thương mẹ thương em, tôi càng học như điên, như cuồng. Tôi ước gì Bộ Giáo dục cho tôi thi hai bằng tú tài cùng một lúc. Nhìn mái tóc mẹ đã lớm chớm sợi bạc, nhìn lưng mẹ mỗi ngày mỗi như còng xuống, nhìn hai vai gầy của mẹ mà lòng quặn đau, và cứ thế, tôi vùi đầu vào sách vở...

Em đã bắt đầu tuổi lớn, đã bắt đầu tuổi mộng mơ con gái, đã bắt đầu bước vào "tuổi ngọc", nhưng tội nghiệp, biết nhà mình nghèo, biết mẹ mình buôn thúng bán bưng, biết anh mình vẫn chiều chiều đi kèm trẻ kiếm thêm tiền và cặm cụi học đốt giai đoạn cho chóng thành tài. Biết thế nên em ít khi nào xin mẹ, xin anh tiền may áo mới, hai chiếc áo dài trắng đủ cho em thay đổi. Em lớn lên thiếu tình của bố, nên tôi "quyền huynh thế phụ". Nhiều lúc nhìn mẹ , nhìn em, tôi vẫn không hiểu tại sao bố lại đành đoạn dứt áo ra đi.

Tôi thi đỗ Tú Tài toàn phần năm 18 tuổi, và ra Huế học Đại học Văn khoa. Mẹ ở một mình với em ở Đà nẳng. Mỗi cuối tuần, tôi theo xe đò về thăm mẹ và em, đến sáng thứ hai trở lại trường. Ở Huế, tôi tiếp tục công việc kèm trẻ tư gia. Với số tiền nhỏ nhoi kiếm đuợc, tôi phụ mẹ một ít nuôi em.

Qua sinh nhật thứ 13 của em mấy tháng, một chiều mẹ bỏ buổi chợ, về nhà than nhức đầu, tưởng là cảm nhẹ, mẹ sai em cạo gió và nấu cho mẹ bát cháo hành. Khuya đó mẹ lên cơn sốt, lảm nhảm nói mê, sáng hôm sau em nghỉ học chở mẹ vào nhà thương và nhờ người nhắn tin ra cho tôi ở Huế.

Lật đật trở vào Đà nẳng bằng chuyến xe đò chót. Trời tối đã lâu, không kịp ăn uống, từ bến xe tôi đi thẳng đến bệnh viện. Trong căn phòng nhỏ, dưới ánh đèn vàng mờ đục, mẹ nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, còn em đang ngồi ngủ gà ngủ gật cạnh giường. Đứng yên lặng nhìn mẹ xanh xao bất động, và khuôn mặt thơ dại của em, trong giấc ngủ hai khoé mắt vẫn còn long lanh giọt lệ, tôi nghe lòng mình quặn thắt .

Đánh thức em dậy, em ngơ ngác dụi mắt vài giây. Nhận ra tôi, em nhào tới ôm chầm và oà lên khóc, em cho hay là từ lúc đưa mẹ vào đây, mẹ chỉ tỉnh lại một vài phút vào khoảng giữa trưa, sau đó mẹ hôn mê trở lại. Tôi an ủi em, rồi cùng em ra văn phòng bệnh viện. Cô y tá trực cho hay mẹ bị đứt một tỉnh mach ở đầu. Tôi bàng hoàng như bị ai nện một nhát búa vào ngực. Cô y tá bùi ngùi nhìn em, đôi mắt xót xa ...

Tối đó, anh em tôi cùng ở lại với mẹ, em mệt mỏi, nên chỉ một thoáng là đã ngủ say. Trong giấc ngủ mệt nhọc, thỉnh thoảng em ú ớ mẹ ơi, mẹ ơi rồi nức lên mấy tiếng. Tôi nghe như dao cắt trong lòng. Suốt đêm không ngủ, tôi cứ ngồi nhìn mẹ nằm im lìm và bên chân mẹ em ngủ chập chờn. Tôi tự nhủ thầm với mình đừng khóc, đừng khóc ... nhưng sao nước mắt vẫn cứ trào ra, một tay ve vuốt bàn tay xanh xao của mẹ, một tay nắm lấy bàn tay nhỏ bé của em, tôi để mặc cho hai giòng nước mắt chảy nhạt nhoà trên má.

Mẹ thở hơi cuối cùng lúc năm giờ sáng, mẹ không tỉnh lại để trăn trối với hai con một lời gì. Mẹ đi trong yên lặng. Tôi nắm bàn tay mẹ và thấy tay mẹ lạnh dần. Tôi đánh thức em dậy. Hai anh em hôn lên trán mẹ gỉa từ. Em vuốt mắt mẹ. Mắt mẹ nhắm hờ. Em ôm chặt hai tay mẹ, ủ vào lòng mình miệng kêu lên nho nhỏ: mẹ ơi, mẹ ơi... Em khóc lặng lẽ, áp mình vào ngực mẹ nước mắt em tuôn ràn rụa làm ướt đẩm cả vạt áo me bạc màu . Những tiếng kêu nghẹn ngào của em như những viên đạn bắn thẳng vào tim, tôi ngồi bất động nhìn mẹ, nhìn em, lòng đau như muối xát. Tội nghiệp mẹ tôi, tội nghiệp em tôi. Em mới mười ba tuổi ...


Chôn mẹ xong, tôi bỏ học. Còn lòng dạ nào mà học nữa. Nhưng em thì phải trở lại trường.

Bán đi căn nhà nhỏ xiêu vẹo và gom tóm tất cả vốn liếng của mẹ để lại, tôi đưa hết số tiền cho mẹ của Minh, một người bạn thân tôi. Minh có Hân, cô em gái cùng tuổi , cùng lớp với em. Tôi gửi em đến đó ở và đi học với Hân, cũng may, bố mẹ Minh coi anh em tôi như con. Tôi dặn dò em đủ điều . Số tiền tôi gởi cho mẹ Minh đủ để trả tiền ăn ở của em trong hai ba năm. Tôi còn đưa thêm cho em một ít để em mua sách vở, may áo quần, tiêu vặt. Tôi ôm em và hứa với lòng, hứa với vong hồn mẹ là sẽ lo lắng, sẽ bảo bọc em cho đến trọn đời .

Tôi vào trường Võ bị Đà Lạt năm 20 tuổi, lương sinh viên sĩ quan ít ỏi, tôi tiết kiệm không dám xài nhiều, để dành gởi về cho em mỗi tháng. Tôi dặn em viết thư mỗi tuần kể cho tôi nghe chuyện học hành. Tôi bắt em hứa là không bao gi dấu tôi một điều gì dù nhỏ bé. Em ngoan ngoãn vâng lời. Mỗi năm tôi được về phép một lần, hai anh em quấn quýt không rời. Tôi đưa em đi thăm mẹ. Chúng tôi lặng yên cầm tay nhau quỳ bên mộ mẹ, nước mắt lưng tròng.

Em lớn lên và ngày càng giống mẹ. Cũng khuôn mặt và cái nhìn nhẫn nhục, cũng đôi mắt xa xăm buồn hiu hắt. Bình thường em rất ít nói, có lẽ không cha, mồ côi mẹ qúa sớm và anh lại ở xa đã làm em rụt rè. Cũng may, bên cạnh em vẫn còn có Hân. Lễ mãn khoá của tôi, em và Hân cùng lên tham dự, lúc này, em đã thi đổ vào trường Sư phạm Qui Nhơn, hai năm nửa em sẽ trở thành cô giáo, tôi hãnh diện giới thiệu em và Hân với các bạn mình. Nhìn dáng em thẹn thùng e ấp, tôi thấy lòng mình rạt rào thương em. Tôi thầm gọi mẹ, mẹ ơi, hai con của mẹ đã trưởng thành và đã nên người .

Ra trường, tôi chọn binh chủng nhảy dù, có lẽ cũng chỉ vì tôi thích màu mũ đỏ. Em vào học và ở nội trú trong trường sư phạm. Tôi thấy mình yên tâm hơn. Mỗi tháng, tôi vẫn gửi về cho em một nửa tiền lương lính của mình để trả tiền phòng, tiền ăn. Tôi biết con gái cần nhiều thứ hơn con trai, như áo quần, son phấn... Em vẫn viết thư cho tôi mỗi tuần như em đã làm trong mấy năm qua. Em kể chuyện học hành, chuyện bạn bè, em lo sợ là tôi đi tác chiến nhở có ngày bố con gặp nhau ở chiến trường, làm sao nhận ra nhau, em không nói thêm, nhưng tôi cũng hiểu, tên đạn vô tình, nếu nhỡ....

Hai năm em học Sư Phạm trôi qua thật nhanh. Em bây giờ đã là một cô giáo trẻ. Em được đổi về dạy tại một trường tiểu học gần thị xã Phan Rang. Em thuê nhà chung với hai cô giáo khác. Mỗi ngày ba cô giáo ngồi xe lam đi đến lớp, chiều về cả ba cùng quây quần nấu nướng . Em viết thư cho tôi và khoe có quen với Tuấn, một Sĩ quan Hải quân đồn trú ở Phan rang. Em khen Tuấn hiền lành, ít nói. Em kể thêm là Tuấn chỉ còn có mỗi một mẹ già.

Chiến tranh ngày thêm khốc liệt, đơn vị tôi hành quân liên miên, có khi cả năm chúng tôi mới được về hậu cứ một lần. Tôi bị thương hai lần trong cùng một năm. Tôi dấu em, không cho em biết sợ em lo lắng. Trong những tuần lể nằm bệnh viện và ở hậu cứ dưỡng thương, tôi bắt đầu viết bài đăng trên các báo và tạp chí. Tôi kể lại những trận đụng độ kinh hoàng giữa đơn vị tôi và giặc Cộng, tôi kể lại những "kỳ tích" của bạn tôi, của Mễ, của Lô ....

Sau một lần bị thương nhẹ ở tay, tôi lấy mấy ngày phép ra Phan Rang thăm em. Em mừng rỡ ôm lấy anh, nhưng khi thấy cánh tay băng bột em xót xa bật khóc. Tôi an ủi em là biết đâu sau chuyến bị thương này tôi sẽ được về làm việc hậu cứ. Ngày hôm sau, nghe tin, Tuấn đến thăm . Thoạt nhìn, tôi đã có cảm tình với Tuấn, đúng như em nói, Tuấn trông rất hiền lành. Trong suốt tuần lể ở Phan rang, em vẫn phải đi dạy, nhưng may là có Tuấn, mỗi ngày Tuấn tới chở tôi đi ăn sáng , trưa Tuấn và tôi lang thang ra chợ bạ gì ăn đó đợi giờ ba cô giáo đi dạy học về. Buổi tối, em đi ngủ sớm, Tuấn ngồi lại nói chuyện với tôi cho tới khuya. Bên ly cafe, tôi kể cho Tuấn nghe chuyện của mình. Những hình ảnh yêu dấu, xót xa như một cuộn phim củ quay chầm chậm. Tôi rưng rưng kể lại ngày mẹ mất. Tuấn lấy tay chùi mắt, trong đêm tối, tôi thấy mắt Tuấn long lanh ...

Bảy ngày phép cũng trôi nhanh. Tôi trở về Saigòn, lòng cảm thấy vui và nhẹ nhàng vì đã có dịp gặp Tuấn. Tôi tin Tuấn sẽ không làm khổ em. Ba tuần sau, tôi nhận được thư Tuấn, trong thư Tuấn kể về gia đình (mặc dù tôi đã nghe em kể trong các lá thư). Tuấn muốn tiến tới với em. Tuấn xin phép được đưa mẹ Tuấn đến gặp tôi. Tuấn hứa là sẽ săn sóc và thương yêu em. Đọc thư Tuấn tôi ứa nước mắt vì mừng. Mừng cho em may mắn không gặp những trắc trở trên đường tình ái, mừng cho em gặp được một người chồng hiền hậu. Tôi viết thư cho em và Tuấn, bảo hai em lo thế nào cho tiện, chỉ cố làm sao cho giản đơn vì cả hai đứa cùng nghèo .

Bốn tháng sau, Tuấn và em làm đám cưới, nhà gái ngoài tôi còn có thêm mấy thằng bạn trong đơn vị, ông hiệu trưởng, thầy cô giáo và rất đông học trò. Nhà trai ngoài mẹ Tuấn, mấy gia đình anh chị họ còn thêm một số bạn bè Hải quân cùng đơn vị. Nhìn em súng sính trong bộ đồ cưới , tươi cười đứng bên cạnh Tuấn, tôi gọi thầm mẹ ơi, mẹ ơi, về đây dự đám cưới của em.

Tôi theo đơn vị lội thêm hai năm nửa ở vùng giới tuyến, thì "tai nạn" xảy ra. Trong một lúc nóng giận vì thấy ông xếp của mình sao ngu và bẩn quá, tôi không giữ được lời và đã xúc phạm đến ông, kết quả là tôi bị đưa ra hội đồng kỷ luật và tống ra khỏi binh chủng nhảy dù.

Sau một thời gian ba chìm bảy nổi, tôi đổi về cục Tâm lý Chiến, thời gian này tôi đã khá nổi tiếng , những bút ký chiến trường về Tết Mậu Thân, Bình Long. An Lộc ... đã làm vinh danh binh chủng cũ của tôi. Tôi được giải thưởng văn học với bút ký "Mùa hè đỏ lửa". Tiền thưởng và tiền bán sách tôi gửi hết cho em. Tuấn và em dùng tiền này mua được một căn nhà nhỏ ở ngoại ô Phan rang, gần trường em dạy.

Mới ngày nào đó còn thẹn thùng nấp bên vai Tuấn mà bây giờ em đã mấy con. Mỗi dịp rãnh rỗi tôi lại ra Phan Rang ở chơi với em, với cháu. Tôi ôm cháu, hôn vào hai má phúng phính, hít vào phổi mùi thơm của trẻ thơ mà thấy lòng mình dịu lại, những cay đắng, cực nhọc của đời theo tiếng cười lanh lãnh dòn tan của cháu mà bay xa, bay xa. Tôi nhìn hai vợ chồng em, nhìn bầy cháu nhỏ lẫm chẫm quây quần bên chân mẹ mà lòng vừa vui mừng vừa hãnh diện. Tôi ao uớc mẹ tôi nhìn thấy được cảnh này.


Biến cố tháng 4/75 tới như một định mệnh oan nghiệt, cả Tuấn và tôi đều phải ra trình diện cải tạo. Em ở lại một mình với một bầy con nhỏ, đứa lớn nhất chưa đầy sáu tuổi và đứa nhỏ nhất còn nằm trong bụng mẹ. Trong trại, tôi cứ đứt ruột nghĩ về em và bầy cháu nhỏ. Mẹ của Tuấn đã qúa già, làm sao lo phụ với em đây. Rồi em còn phải lo lắng về số phận chồng, số phận anh. Tôi quay quắt như như ngồi trên đống lửa, tôi nghĩ đến lời hứa với vong hồn mẹ hôm nào mà lòng đau như xé, con đã thất hứa với mẹ, mẹ ơi, con đang ở đây tù tội thì làm sao lo được cho em ...

Năm 76 tôi bị đưa ra Bắc. Tôi mất liên lạc với em và Tuấn từ tháng 5/75. Làm sao em biết tôi ở đâu mà thư từ thăm gửi. Không biết em có biết Tuấn ở đâu không, trại tù mọc lên như nấm từ Nam ra Bắc. Hồi còn ở trong Nam, từ Trảng lớn, qua Suối máu , đâu đâu tôi cũng cố dò hỏi tin Tuấn nhưng vô hiệu. Tù nhân đông qúa ...

Trại cải tạo Sơn La, sau đợt cho viết thư về gia đình đầu tiên, ba tháng sau tôi nhận được thư em.Thư em đến tay tôi vào giữa năm 77. Hơn 2 năm 1 tháng tôi mới nhìn lại nét chữ của em. Run run bóc thư, mắt tôi cay nồng, nhạt nhoà. Em cho hay là Tuấn đang cải tạo ở Long Thành, Tuấn có thư về và cho biết vẫn bình an, mẹ Tuấn dạo này yếu lắm vì cụ đã quá già, em vẫn đi dạy, hai cháu nhỏ ở nhà với bà nội, hai cháu lớn theo mẹ vào trường, em cho hay đứa con gái út em đặt tên Tâm, Trần thị Minh Tâm, cháu sinh ngày 12 tháng 9 năm 75, gần 4 tháng sau ngày bố cháu và bác cháu vào tù.

Gần cuối thư, em báo tin là bố còn sống và hồi đầu năm 76 có tìm đến gặp em, làm sao bố tìm ra địa chỉ thì em không biết, nhưng hôm ấy bố đến, bố tự giới thiệu tên mình. Em ngỡ ngàng, ngày bố ra đi em mới tròn ba tuổi, hơn hai mươi năm sau gặp lại làm sao em nhận được , bố xoa đầu đám cháu ngoại đang trố mắt nhìn nguời đàn ông lạ, bố hỏi về anh, về Tuấn, khi em hỏi lại bố là làm sao để biết anh và Tuấn đang bị giam giữ ở trại cải tạo nào, bố lắc đầu không nói gì. Bố cho hay là bố đang có gia đình ở Bắc, ngoài ấy bố có thêm hai trai và hai gái. Đứa trai lớn nhất thua em bốn tuổi.

Bố mang vào cho em hai mươi ký gạo và một chục cam. Bố ở chơi một ngày rồi bố trở về Hà nội. Lúc bố về em có tặng bố cái radio-cassette của anh cho ngày nào. Bố thích lắm, bố hưá sẽ đến thăm anh trong trại tù. Từ hồi trở ra Bắc dến giờ bố chưa liên lạc lại với em, và em cũng không có địa chỉ của bố ở ngoài ấy.

Tôi đọc thư lòng thấy phân vân, tôi cũng như em, không hình dung ra nổi bố tôi hình dáng mặt mủi ra sao, hai mươi mấy năm, tôi tưởng bố tôi đã chết.

Tháng 12 năm 77, tại trại cải tạo Sơn La, bố đến thăm tôi .

Đứng trong văn phòng viên sĩ quan trưởng trại một người đàn ông trung niên, tóc muối tiêu và gương mặt xương. Bộ áo quần dân sự khá thẳng thớm, và sự lễ phép của tên đại úy truởng trại tiết lộ về điạ vị không nhỏ của người này. Thấy tôi vào, viên trưởng trại quay qua nói nhỏ một câu gì đó rồi bước ra ngoài. Tôi im lặng đứng nhìn người đàn ông xa lạ .

Bố đến bắt tay tôi, tự xưng tên mình, bố gọi tôi bằng anh, bố kể là đã gặp em ở Phan Rang, bố hỏi tôi học tập thế nào, bố không hề nhắc đến mẹ, có lẽ ông đã biết về cái chết của mẹ. Bố nói là có đọc văn tôi. Tôi ngồi yên nghe bố nói, sau cùng , bố đứng dậy, móc trong xách ra một gói nhỏ bảo đó là đường và thuốc lá, trao cho tôi, khuyên tôi cố gắng học tập tốt để sớm được khoan hồng. Tôi nhìn vào mắt bố, lòng thấy dững dưng. Tôi bắt tay bố rồi về lại lán mình.

Đó, cuộc hội ngộ của bố con tôi sau hơn hai mươi năm là thế đấy. Chắc cuộc tái ngộ giữa bố với em cũng tẻ nhạt như thế. Có cái gì đó ngăn cách, có cái gì đó phân chia, có cái gì đó tôi không hiểu và không diễn tả được. Bây gi tôi hiểu vì sao cái tin quan trọng đến thế mà em lại chỉ đề cập một cách ngắn ngủi ở cuối thư.

Lần đó là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi gặp bố trong suốt 13 năm lang thang trong các trại tù biệt giam miền Bắc.

Tháng 12/78, chuyển trại lên Yên Bái, tôi nhận thêm được hai lá thư của em, trong bức thư gần nhất, em viết vào tháng 8/78. Em cho hay tình trạng rất khó khăn, phụ cấp đi dạy không đủ nuôi một mẹ già và bốn con thơ, em đã bán lần mòn hết những đồ trang sức và luôn cả những đồ vật trong nhà. Em vẫn chưa đi thăm nuôi Tuấn được một lần nào. Không thể để bốn cháu nhỏ ở nhà cho bà nội vì cụ bây giờđã quá yếu, mỗi buổi ăn, Uyên, cháu lớn phải đút cho bà. Ngoài ra, mỗi tối, từ lúc chạng vạng em và Hoàng, hai mẹ con phải ra đầu ngõ, ngồi bán bắp nướng đến khuya để kiếm thêm tiền đong gạo. Em than là dạo này mất ngủ, sức khoẻ yếu lắm, em sợ nhở có mệnh hệ nào ...

Tôi thẩn thờ cả buổi vì bức thư em, ngày xưa tôi chỉ lo cho có mỗi mình em, còn bây giờ em phải lo cho bốn đứa con thơ và một mẹ già, kể luôn người chồng và ông anh đang tù tội là bảy, bảy cây thập giá đời đang đè nặng lên đôi vai gầy guộc, nhỏ bé của em. Tôi viết thư về an ủi , khuyên em cố gắng, tôi vỗ về em là có thể Tuấn sẽ được tha về sớm với em, với cháu, vì Tuấn đi hải quân và lon còn thấp, không có tội với cách mạng nhiều. Rồi tôi viết thêm cho em hai ba lá thư nữa mà vẫn không thấy hồi âm. Lòng tôi cồn cào, nóng như lửa đốt, những ngày dài tù tội, tôi không nghĩ đến cái đói, cái khổ của mình mà chỉ nghĩ đến em và mấy cháu, không biết giờ này, em và bốn cháu thơ dại đang có gì ăn ?

Tháng 6/79, một sáng trên đường lên rừng đốn nứa, tôi nghe loáng thoáng câu chuyện giữa các bạn tù. Họ nghe từ các bà vợ đi thăm nuôi kể lại, rằng ở Phan Rang có một chị có chồng đang đi cải tạo, chị chết đi, để lại bốn con thơ, đứa bé nhất mới lên ba, còn đứa lớn nhất chưa đầy chín tuổi. Tội nghiệp, họ hàng nội ngoại không có một ai. Tôi bỗng dưng thấy lạnh toát cả sống lưng, lại gần hỏi thêm thì người bạn tù cho hay là nghe nói chị ấy làm nghề cô giáo, có chồng sĩ quan hải quân đang đi tù cải tạo ở đâu đó trong Nam. Nguời chồng, trung úy hải quân trước cũng đóng ở Phan Rang. Trần Nguyên Tuấn, hải quân trung uý Trần nguyên Tuấn .

Tôi thấy đất trời đảo lộn, tôi thấy mặt trời nổ tung trong óc, tôi hụt hơi, miệng há hốc đứng như trời trồng giữa núi rừng Yên Bái, bên cạnh tôi tiếng nguời nói lao xao. Tôi không nghe gì hết, tai tôi lùng bùng, mắt tôi mờ đi, tôi đang nhìn thấy xác em nằm co quắp trên manh chiếu, bốn đứa cháu của tôi, cháu Minh Tâm chưa đầy ba tuổi đang lấy tay lay lay xác mẹ, cháu lớn Thu Uyên chưa đủ chín tuổi đang ôm chân mẹ khóc lóc ủ ê, hai đứa kia, Hoàng và Châu ngơ ngác đứng nhìn. Trời tháng 6 mùa hè Yên bái mà sao tôi thấy thân mình lạnh buốt. Tôi tê dại, tôi hoá đá, tôi không còn cảm xúc, tôi muốn hét lên cho tan vỡ cả vũ trụ này. Trong lung linh màu nắng vàng buổi trưa Yên Bái, tôi thấy bóng em nhập nhoà, chập chờn. Em của tôi, đứa em côi cút của tôi ....

Mũi súng AK thúc vào cạnh sườn, người vệ binh chắc cũng ngạc nhiên không hiểu sao bỗng dưng tôi đứng như trời trồng giữa lộ. Anh quắc mắt nhìn tôi dò hỏi, tôi không nói gì, im lặng nhập vào dòng tù. Nước mắt chảy dài trên hai má hóp, tôi bước đi như kẻ mộng du ...

Phan Nhật Nam

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Bus station in China.

Kính mời quý vị vào coi cảnh chen lấn ở trạm xe buýt bên Tàu

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

BỐ TÔI VÀ NGƯỜI TÙ NGUYỄN CHÍ THIỆN

TRIỀU NGHI


Nhân đây, cũng xin cảm ơn nhà văn Phan Nhật Nam đã có nhã ý nhắc tới gia đình chúng tôi trong bài viết về ông Nguyễn Chí Thiện, mặc dù giữa chúng ta chưa hề quen biết.

Triều Nghi

* * *
Vận nước nổi trôi, dòng đời nào khác chi giông bão cùng với nghiệt ngã của chiến tranh, những bất hạnh dồn dập đến với gia đình chúng tôi.
1945, cậu em trai tôi chào đời vào năm đói Ất Dậu. Bố Vũ Thế Hùng bị Việt Minh bắt. Mẹ tôi, nào khác hạt bụi giữa cuồng phong, bỗng một sớm một chiều chấp nhận lầm than, tảo tần, buôn thúng bán bưng, vất vả đi theo nuôi bố qua bao nhiêu trại tù. Sau này bố tôi tâm sự "không có mẹ thì bố mất xác đã lâu, còn đâu tới ngày hôm nay mà gặp các con nữa".
Không liên hệ gia đình, không là bạn tù, có lẽ mẹ tôi là người biết về Nguyễn Chí Thiện sớm nhất là vì vậy.

Ba anh em chúng tôi lớn lên bằng tài chánh eo hẹp, lần lượt cô dì này đến chú bác khác cưu mang. Ôi, những ngày vàng son thuở ấy, một "giấc Nam Kha khá bất bình...". Năm người trong gia đình chúng tôi, mỗi người một ngả, thậm chí hơn cả nửa thế kỷ rồi mà cũng hiếm khi xum họp dưới một mái nhà kể từ khi "đất bằng dậy sóng" 1945. Ông anh huynh trưởng của tôi, năm 5 tuổi đã nhập học trường Dòng, anh lớn đi theo tiếng Chúa gọi, nay trở thành Linh mục Mathieu Vũ Khởi Phụng của biến cố Giáo Xứ Thái Hà, Hà Nội, mà gần đây báo chí đã tốn khá nhiều giấy mực viết về anh.
Ngày em đi, anh niềm vui Chủng viện,
Buổi em về Linh mục đã phong sương !!

Nỗi đau còn hằn mãi trong tâm tưởng, tôi đâu ngờ rằng cậu em trai duy nhất của tôi, một ngày tháng Tư đen 1975, lại nối gót bố 30 năm xưa cùng với Sàigòn hấp hối, em tôi trở thành người tù cải tạo với gần 8 năm dài bóc lịch !
Tôi ư ? Một cánh bèo trôi dạt mãi trên sông, hay phận mình là áng mây phiêu bạt, để rồi, rời quê hương thật sớm, bỏ lại cậu em trai dãi nắng dầm sương trong quân ngũ, bỏ lại bố mẹ già ở miền Bắc xa xôi, tôi đâu còn nhớ mặt, ngày ly tan tôi mới hai tuổi đầu. Bấy giờ một mình vượt Thái Bình Dương :

Đất Mỹ,
Trời Âu xa lắm
Nơi rừng sâu
Người cha rầu rầu
Thường đem ảnh con mình ra ngắm

Đó là những dòng thơ Nguyễn Chí Thiện diễn tả về tôi khi thấy bố già ngắm hình đứa con gái. Anh làm quen với tên T.N. từ đấy, bởi đó là niềm vui của bố và của một anh tù thuở "mắt trũng chân phù" trong trại tù Phong Quang.
Đất Mỹ, trời Âu xa lắm, nổi trôi mãi chẳng ngừng. Đây những ngày xuân xa xứ, hồn tả tơi tựa những cánh hoa đào rơi lả chả bên dòng Potomac đẫm rong rêu ! Đây trời Arlington buốt giá, đôi bờ tuyết phủ. Từ mùa hạ Chicago nắng cháy đỏ da, tôi trôi dạt về chiều El Paso mưa buồn xót mắt. Cứ thế tôi đã đánh mất bao nhiêu mùa xuân trong đời, rồi tôi dừng lại đây với hơn 18 mùa sương phủ trên chiếc cầu lạnh giá Cựu Kim Sơn. Để rồi "xin nhận nơi này làm quê hương". Một ngày tỉnh mộng nghe tim mình ray rứt thương về mảnh đất hình chữ S. Mùa xuân 1992, tôi trở về cố quận.
Lòng như cơn bão, giữa rừng người đứng ở phi trường Tân Sơn Nhất kia, có bố mẹ già còm cõi mà gần nửa thế kỷ tôi mới được tái ngộ. Có ông anh trịnh trọng trong bộ áo Dòng, có cậu em trai gầy gò răng rụng, với mái tóc bạc màu tù cải tạo.
Bố đón tôi bằng dòng nước mắt lăn dài trên khuôn mặt hom hem, bàn tay gầy guộc đặt trên vai tôi. Bố hỏi "Con có nghe câu thơ này chưa" ? Rồi bố đọc chậm rãi :
Thân không trời đất mà mưa gió
Lòng chẳng gươm đao cũng chiến trường

Thế đó ! Là phút giây hội ngộ của gia đình chúng tôi lần đầu tiên trong đời, đủ được 5 người.
Tôi xa Hà Nội không phải "năm em mười tám khi vừa biết yêu" mà là khi cô bé 11 tuổi phải rời trường Saint Paul, nay rất gần Tòa Khâm Sứ. Tuổi thơ tôi di cư vào Nam với bao nỗi nhọc nhằn. Bây giờ Hà Nội xưa của tôi hiện ra trước mắt, sao bỗng dưng tôi nghe vị mặn ở bờ môi. Một Hà Nội đưa tôi vào lạc lõng, một Hà Nội của Trịnh Công Sơn với cây cơm nguội vàng và hồn tôi ngỡ ngàng xa lạ. Tôi đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác khi đặt chân lên thềm nhà của bố mẹ. Căn nhà nhỏ mốc meo rêu với mùi ẩm mốc khó chịu. Tất cả hiện ra cảnh nghèo khó tới rợn người. Thế mà bố mẹ tôi hân hoan ra mặt. Bố cười bảo tôi :
"Con ở ngoại quốc về chắc thấy chỗ này ghê rợn lắm. Từ ở tù ra gần cả chục năm rồi, bố mẹ sống đạm bạc đã quen, nhà thờ Hàm Long ngay đầu phố, tiện lắm. Bố muốn con hiểu rằng, căn nhà nghèo khó này đã từng tiếp đón những người bạn trí thức tuyệt luân, lại đầy nhân ái và tình người. Bố mẹ yêu những người ấy như ruột thịt. Con sẽ lần lượt gặp họ, ai cũng muốn gặp con đấy, vì bố đã nói nhiều về con trong những năm tháng tù đày. Này nhé, nhiều tên tuổi lừng danh con nên kính phục -Phùng Cung, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Chí Thiện và còn nhiều nữa trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, con có nghe tên họ chưa" ?

* Nghe thì nghe nhiều rồi đó, nhưng chả bao giờ tôi lại nghĩ rằng, mình may mắn gặp được những nhân tài này. Rồi bố giới thiệu : Nguyễn Chí Thiện, người bạn tù lâu năm, người bạn vong niên của bố.
Tôi quan sát anh, định cất tiếng chào:
- "Thưa chú"...

nhưng anh gạt đi
-"Gọi bằng anh nhé. Chị quên là tôi gọi bác là bác kia mà, tôi không lớn hơn chị lắm đâu".

Tôi ngồi lắng nghe bố đọc thơ anh làu làu, rồi hai người say sưa luận bàn thơ phú. Tôi không quen với thể thơ của Nguyễn Chí Thiện, nên im lặng nghe bố kể :
- "Con chưa biết nó đâu, dáng dấp lừng khừng là thế, lại gầy ốm tong teo như cây sậy, mà can đảm không lường, bố phục nó, dám một mình vào sứ quán Anh bất chấp nguy hiểm, miễn sao thơ nó được lọt ra nước ngoài. Còn ở trong tù mà nó dám làm thơ có thể chết người con ạ. Trong tù, đứa nào cũng đói rã ruột, thế mà đứa nào cũng tử tế với bố, nhường từng miếng khoai sùng, sắn sượng cho bố vì thấy bố già nua. Chúng nó là những anh hùng bất chấp gian nan, bố phục lắm".

Rồi bố cười :
- T.N. là đề tài cho Thiện nó làm thơ đấy.

Tôi bắt đầu có chút cảm tình với anh, bỗng anh ngập ngừng hỏi tôi :
- "Muốn nhờ chị một điều, không biết chị có nhận lời không" ?

Tôi e ngại :
- "Anh cứ nói".
- "Chị có thể đem tập thơ của tôi ra ngoại quốc được không ? Ít bài thôi".

Tôi chưa biết trả lời ra sao thì anh lại tiếp :
- "Gặp bác và chị thế này, ngoài kia khối con mắt dòm ngó đấy, nhưng tôi ở tù quen rồi, nên cóc sợ".

Câu nói của anh làm tôi hoảng vía, bởi năm 1992 nào phải như bây giờ, bất trắc nào cũng có thể xảy ra, nên tôi thẳng thắn từ chối :
- "Thôi anh ạ, đừng buồn nhé. TN. không dám đem đâu. Xin cho em hai chữ bình an để trở về Mỹ trót lọt".
Một thoáng thất vọng trong mắt anh : "Thôi, thế này, Trần Nhu chắc là có tập thơ của tôi đấy, chị hỏi hộ ông ấy nhận được chưa" ?
- "Vâng, chuyện đó thì được".

Người kế tiếp tôi gặp là Phùng Cung, tôi đọc được chút gì trìu mến cho tôi nơi anh. Bằng một mẩu giấy màu vàng nhàu nát, anh ứng khẩu rồi viết luôn:
Bé Triều Nghi, bé Triều Nghi,
Mắt cười, đọng vẻ phân kỳ ngày xưa.

Mẩu giấy đó tôi còn giữ mãi.
Người bạn kế tiếp của bố là Nguyễn Hữu Đang. Ông không làm thơ tặng tôi, chỉ bắt tay tôi, trịnh trọng chào : "hân hạnh được gặp bóng hồng dương thế", rồi ông nằm dài trên tấm phản, chửi đổng chế độ.
Ngày từ biệt bố mẹ trở lại Mỹ, bố nhắn với theo :
- "Nguyễn Chí Thiện khá lắm. Thằng ấy khí khái anh hùng, con giúp được gì cho nó thì làm, nó hết lòng với bố trong tù đấy".

Trở về Mỹ, cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại bắt đầu quyên góp để yểm trợ cho anh và tôi thường xuyên có mặt. Thời gian thấm thoắt, có lẽ thơ anh bắt đầu có tiếng vang bên trời Âu. Năm anh đến bến bờ tự do, cộng đồng Việt khắp nơi đón rước anh, tên anh nổi như cồn qua hàng loạt bài diễn văn. Tôi mừng thầm.
Nguyễn Chí Thiện nay đã nổi tiếng, và tôi tự nhủ : Chắc anh đã quên tôi. Thật cảm động, tôi nghĩ lầm về anh, cú điện thoại đầu tiên vồn vã :
- "T.N. đấy ạ, Thiện đây ! Nhờ thưa với bác, Thiện tới Mỹ bằng an nhé" !

Một niềm vui lớn lao cho tôi khi thấy anh toại nguyện. Tôi cười, mừng anh, đồng thời nhắn rằng, T.N. sẽ không có mặt trong những buổi diễn thuyết của anh, bởi tôi không thích đám đông và không làm chính trị. Từ đó, mỗi lần về Bắc Cali, dù không gặp nhau thì vẫn là những lời thăm hỏi chí tình.
Nguyễn Chí Thiện, mỗi lần gặp anh là tôi mường tượng ra lần đầu hội ngộ với anh, với bố già trong căn nhà nghèo khó ở Hà Nội, và tôi đã từng khuyên anh "cẩn thận nhé. Nay anh làm dâu trăm họ rồi đấy", vào năm 95 khi vừa đặt chân trên đất Mỹ.

Nay thì câu nói ấy đã hiệu nghiệm. Ở một nơi tự do ngôn luận, tự do báo chí trên mảnh đất quá nhiều tự do này. Tôi biết rằng anh đang gặp dữ nhiều, lành ít. Tôi từ chối không đọc những bài báo nói không trúng về anh. Hôm qua, tình cờ gặp một nhà thơ cao tuổi, bác Hà Thượng Nhân, bác bảo:
- "Sao cô không lên tiếng cho Nguyễn Chí Thiện".

Tôi thiết nghĩ, tôi lên tiếng là đã quá thừa, bởi nhà văn Phan Nhật Nam, giáo sư Jean Leaby đã viết quá đầy đủ về anh rồi. Sự thật vẫn là sự thật. Anh Thiện ơi, càng cao danh vọng càng dày gian nan ! Thôi thì, đó cũng là định luật sống.
Viết những dòng này cho anh, bố già nay đã miên viễn, Nguyễn Hữu Đang cũng vô thường, mà Phùng Cung thì đã "hạt bụi nào hóa kiếp thân anh". Chỉ còn lại một Nguyễn Chí Thiện ở tuổi hoàng hôn, thế mà cây muốn lặng sao gió không ngừng. T.N. nhớ mãi lời bố khi giới thiệu anh "Thằng ấy khí khái, anh hùng, con có dịp hãy đọc thơ nó, bố phục nó lắm".

Đấy, lời một người bạn tù nằm xuống chắc đã làm anh vui. Viết những dòng này gửi tới anh khi ngọn gió đầu đông đón chào mùa xuân trên đất Mỹ, tôi thấy thương bố V.T.H. vô cùng, thương những người chiến sĩ chiến đấu bằng ngòi bút cho lý tưởng tự do, trong đó có anh Nguyễn Chí Thiện.
Ta đau trời Phong Quang
Ta giận tràn Vĩnh Phú
Oán hờn một thuở Lao Kai
Từ ta lưu lạc dấu giày
Lời thơ phẫn nộ vẫn say sắc thù
Thương ai ngưỡng cửa ngục tù
Xác thân nghiệt ngã đời hư ảo đời

Những dòng thơ này xuất phát tự đáy lòng tôi gửi tới bố V.T.H. và các anh cùng chung chí hướng. Tôi nợ anh một lời tạ lỗi năm nào đã không dám đưa thơ anh đi. Tôi nợ anh bao ân tình cho miếng khoai mẩu sắn anh nhường cho bố tôi dạo ấy. Mùa xuân này xin anh nhận nơi tôi một đóa hồng cho người tôi ngưỡng mộ : nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, người bạn vong niên của bố tôi mà sinh thời, bố từng thán phục và mến thương.

TRIỀU NGHI

Và sau đây là bài thơ Nguyễn Chí Thiện viết tại trại tù Phong Quang : Bóng Hồng Dương Thế :

BÓNG HỒNG DƯƠNG THẾ (Tặng Triều Nghi)

Có người thiếu nữ mắt bồ câu
Lưu lạc, ly hương từ độ xuân thì
Đất Mỹ, trời Âu xa lắm

Nơi rừng sâu
Người cha rầu rầu
Thường đem ảnh con mình ra ngắm
Đêm tù
Âm khí âm u
Những chàng trai mắt trũng chân phù
Thơ thẩn cầm nàng trong tay
Cầm cả mùa xuân hạnh phúc
Bóng hồng dương thế xa bay.

NGUYỄN CHÍ THIỆN

Post Reply