Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Julian Assange - 'Người hùng' không chốn dung thân

Với những người ủng hộ thì sáng lập viên trang Wikileaks Julian Assange là người hùng của sự thật, còn với với những người chỉ trích,
anh là kẻ chỉ thích làm rùm beng những thứ nhạy cảm khiến nhiều người gặp nguy.

Image
"Người hùng" bị truy đuổi Julian Assange. Ảnh: AP
Cuộc sống của Julian Assange đã thay đổi hoàn kể từ khi anh và các cộng sự cho ra đời trang Wikileaks năm 2006. Khi đó, người đàn ông Australia 39 tuổi này đã quyết định sử dụng kinh nghiệm trong những năm tháng làm hacker khét tiếng và chỉ số thông minh được bạn bè tán tụng để xây dựng trang Wikileaks, mà sau đó được mệnh danh là "quả bom sự thật".

Sự nổi tiếng của Wikileaks gắn liền với việc thu thập những thông tin bí mật với khối lượng lớn, lưu trữ chúng bằng công nghệ làm sao để chính phủ và các tổ chức khác không thể thu hồi, sau đó công bố trên phạm vi toàn cầu. Những đợt công bố thông tin gây chấn động của Wikileaks gồm 250.000 thư tín ngoại giao của Mỹ vừa qua cùng hơn 90.000 tài liệu mật của Mỹ về chiến tranh Afghanistan và 400.000 tài liệu tương tự về Iraq, đều diễn ra trong năm nay.

Tuổi trẻ "dữ dội"

Julian Assange sinh ra tại thành phố Townsville, bang Queensland, miền bắc Australia năm 1971 và có một tuổi thơ "dữ dội". Cha mẹ anh gặp nhau trong một lần đi biểu tình phản đối chiến tranh tại Việt Nam và có lẽ điều này đã góp phần khiến đứa con của họ mang trong mình một tinh thần "ưa nổi loạn". Sự bất ổn về cư trú bắt đầu đeo bám Assange ngay từ khi còn thơ với 37 lần phải đổi trường học, vì cha mẹ điều hành một nhà hát lưu động nay đây mai đó.

Những nguồn tin từ Australia cho rằng Assange đã bỏ nhà đi bụi từ năm 17 tuổi và có thời gian sống vất vưởng ở thành phố Melbourne. Dù yêu thích toán và vật lý, Internet mới là niềm đam mê đích thực của cậu thanh niên có bản lý lịch khác người này. Niềm đam mê đã dẫn dắt Assange trở thành một phần của thế giới ngầm trong làng máy tính khi ở độ tuổi mới lớn. Anh tìm cách học làm hacker để đột nhập vào tài khoản email của những người giàu có hoặc có ảnh hưởng, rồi khai thác bí mật của họ.

Duy trì lối sống ưa tự do nhưng Assange đã lên chức bố ngay từ năm mới 18 tuổi. Đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma, năm 1995, Assange đã suýt phải vào bóc lịch trong nhà tù vì 25 cáo buộc liên quan đến tội danh tấn công hệ thống máy tính. Cuối cùng Assange lĩnh án phạt vài nghìn đô la Australia và chỉ may mắn thoát cảnh ngồi tù với điều kiện không được tái phạm.

Qua thời 'nông nổi'

Sau lần vướng vào vòng lao lý, Assange quyết định đi theo một hướng khác có tính chất khá hàn lâm, khi làm việc suốt 3 năm với nhà nghiên cứu Suelette Dreyfus, chuyên nghiên cứu về các ảnh hưởng của Internet, và viết chung một cuốn sách với bà. Dreyfus mô tả Assange là "nhà nghiên cứu rất có tài", người khá quan tâm đến những vấn đề vĩ mô như khái niệm chủng tộc và công lý, cũng như những việc mà các chính phủ nên và không nên làm.

Bước đi mang tính "hàn lâm" tiếp theo của Assange là vào học tại Đại học Melbourne và theo đuổi nghiên cứu môn toán và vật lý. Tại đây anh đã trở thành một thành viên nổi tiếng của hiệp hội những nhà nghiên cứu về toán học của trường. Nhưng bước ngoặt thực sự của chuyên gia xuất thân từ hacker này đến từ năm 2006, khi anh và những người bạn cùng niềm đam mê lập ra trang Wikileaks với lời giới thiệu là "trang Wikipedia không thể kiểm duyệt".

Trang web phi lợi nhuận này được Assange điều hành với sự cộng tác của một nhóm tình nguyện viên, chuyên công bố những tài liệu nhạy cảm hoặc bí mật về những sai trái của các chính phủ cũng như tổ chức, đồng thời chuyển những thông tin đặc biệt này cho giới truyền thông.

Một trong những tài liệu gây chấn động đầu tiên mà Wikileaks công bố là đoạn băng video bí mật ghi lại cảnh một trực thăng chiến đấu Apache của Mỹ bắn giết 12 thường dân, gồm hai phóng viên Reuters, tại Baghdad năm 2007. Tiếp theo là đợt công bố thông tin ồ ạt về các bí mật của tình báo Mỹ liên quan đến chiến tranh Afghanistan và Iraq vào tháng 7 và tháng 10 vừa qua. Mới đây nhất là đợt tung ra 250.000 thư tín, phơi bày hậu trường nền ngoại giao Mỹ từ ngày 28/11 có liên quan đến khắp thế giới.

Dù là người sáng lập và điều hành trang web Wikileaks đã trở nên nổi tiếng khắp nơi, Assange sống khá bí hiểm và rất hiếm khi xuất hiện. Bình thường cuộc sống của Assange nay đây mai đó, luôn mang theo một chiếc máy tính và ít quần áo trong ba lô. Tiền đi lại của anh được lấy từ "các nguồn kiếm trên Internet". Assange được nhận diện với mái tóc bạc không tương xứng với độ tuổi, cùng vẻ ngoài không lấy gì làm phong trần và phong cách luôn bỏ ngoài tai những lời chỉ trích.

Một phóng viên của tạp chí New Yorker là Raffi Khatchadourian, người từng có dịp theo chân Assange đi khắp nơi trong vài tuần, đã mô tả cha đẻ của trang Wikileaks là người có thể đi những quãng đường dài mà không cần ăn, có thể tập trung làm việc rất lâu và ngủ rất ít.

Chấp nhận "gieo gió" bằng cách tung ra bàn dân thiên hạ những thông tin nhạy cảm đụng chạm đến những "ông lớn" có quyền lực không giới hạn, nên Assange "gặp bão" là điều không thể tránh khỏi. Cuộc sống không ổn định thời trai trẻ của anh đang được tiếp nối bằng hành trính trốn chạy khắp thế giới của một người đàn ông đã gần 40 tuổi nhưng vẫn không có địa chỉ nhà cố định.

Hành trình trốn chạy

Ngay khi Wikileaks chưa tung ra "quả bom sự thật" gây sốc trong năm nay về chiến tranh tại Afghanistan và Iraq, cả Lầu Năm Góc và Bộ Tư pháp Mỹ đều mang Luật tình báo năm 1917 ra để "đe" Assange và yêu cầu anh phải trả lại tất cả các tài liệu của chính phủ mà mình đang có, đồng thời họ nhấn mạnh không được công bố chúng dưới bất kỳ hình thức nào.

Nhưng câu trả lời của Assange là từ chối làm theo và chấp nhận cuộc sống trốn chạy khắp nơi, trong hoàn cảnh gần như không còn nơi nào trên trái đất muốn chứa chấp. Khi tranh cãi về các tài liệu mật liên quan đến chiến tranh Afghanistan được Wikileaks công bố còn đang còn nóng vài tháng trước, Assange đã bay tới Thuỵ Điển và tìm cách xin định cư và hy vọng được bảo vệ vì quyền tự do báo chí nổi tiếng ở nước này.

Ban đầu Assange đã được chào đón nhiệt tình tại đất nước Bắc Âu. Tờ New York Times dẫn lời kể của anh về những ngày đầu tại Thuỵ Điển: "Họ gọi tôi là James Bond của báo chí. Tôi có rất nhiều người hâm mộ ở đó và thậm chí một vài trong số họ đã gây cho tôi chút rắc rối".

Rắc rối mà anh nhắc tới chính là việc mối liên lạc với hai người phụ nữ Thuỵ Điển đã dẫn tới việc Thuỵ Điển bất ngờ phát lệnh bắt Assange với cáo buộc hãm hiếp và quấy rối tình dục. Assange phủ nhận cáo buộc này và cho rằng đó chỉ là một âm mưu được sắp đặt nhằm chống lại cá nhân mình và trang Wikileaks.

Trong khi cảnh sát Thuỵ Điển còn đang điều tra, cuối tháng 9 vừa qua, Assange quyết định rời Stockholm đi Berlin (Đức). Trong lần di chuyển này, chiếc túi anh làm thủ tục lên chuyến bay khá vắng đã không cánh mà bay, trong đó có chứa 3 chiếc laptop được mã hoá. Đến nay chúng vẫn không bao giờ được tìm thấy và Assange cho rằng đã có người can thiệp vào vụ này.

Ở Đức không được bao lâu, Assange lại sang London mang theo mối lo có thể bị bắt ngay khi vừa đặt chân tới xứ sở sương mù. Theo luật của Anh, tấm hộ chiếu Australia cho phép Assange có quyền ở lại nước này trong thời gian 6 tháng. Assange cũng tính nơi đến tiếp theo của mình có thể là đảo quốc Iceland, nơi cũng có nền tự do báo chí khá thoải mái và có nhiều người ủng hộ Wikileaks. Nhưng sau đó anh cho rằng chính phủ tại đây cũng giống như ở Anh, rất dễ chịu ảnh hưởng từ Washington, nên không thể là "miền đất hứa" của mình. Hiện theo nhiều nguồn tin phỏng đoán, người sáng lập trang Wikileaks vẫn có mặt tại Anh.

Trong khi đó quê nhà Australia thậm chí còn trở thành "miền đất dữ" đối với hoàn cảnh của Assange, vì các quan chức nước này đã bóng gió rằng họ sẵn sàng hợp tác với Mỹ nếu Washington quyết định truy tố người sáng lập Wikileaks. Anh kể lại việc một quan chức Australia từng nói với anh rằng: "Anh đã chơi không đúng luật nên anh sẽ bị xử ngoài luật".

Hiện không chỉ các chính phủ lên án Assange, mà ngay cả những cộng sự thân thiết cũng từ bỏ anh vì tính khí thất thường và độc đoán. Họ cũng nhận thức được rằng những thông tin nhạy cảm mà Assange tung ra trên Internet có thể khiến họ phải trả giá bằng máu. Một số đồng nghiệp tại Wikileaks cho biết Assange đã tự mình quyết định tung các tài liệu mật về Afghanistan mà không bỏ nguồn tin tình báo người địa phương làm cho NATO. Họ mô tả hình ảnh Assange là người sáng tạo và có khả năng hấp dẫn người khác, nhưng cũng giống như các ngôi sao đã ngày càng trở nên độc đoán, lập dị và đồng bóng.

Tuy vậy, không hẳn cả thế giới đều quay lưng với Assange. Ngay khi trang Wikileaks công bố những tài liệu thư tín nhạy cảm của các sứ quán Mỹ trên khắp thế giới, một nước có quan điểm khác Washington tại Nam Mỹ là Ecuador tuyên bố sẽ cho Assange được định cư ở nước mình. BBC dẫn lời Thứ trưởng Ngoại giao Ecuador hôm qua cho biết: "Chúng tôi để ngỏ việc mời Assange đến sống tại Ecuador mà không có bất cứ điều kiện hay rắc rối nào".

Nhưng dường như cánh cửa Ecuador sẽ không thể giúp Assange tìm được cuộc sống yên ổn. Ngay khi Wikileaks công bố các thư tín ngoại giao mà Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton lên án là "hành động tấn công vào thế giới", lực lượng cảnh sát quốc tế Interpol vừa phát đi lệnh truy nã Assange. Lý do vẫn là cáo buộc hãm hiếp và quấy rối hai phụ nữ Thuỵ Điển. Hơn nữa, Tổng thống Ecuador Rafael Correa cũng vừa lên tiếng rút lại đề nghị do thứ trưởng ngoại giao đưa ra.

Những hệ luỵ của Wikileaks

Trước khi công bố các tài liệu về Afghanistan và Iraq gây chấn động thế giới, trang Wikileaks đã có những động thái gây chú ý mạnh. Họ công bố các tài liệu về nhà giam nghi phạm khủng bố của Mỹ ở Guantanamo, dữ liệu về tài khoản email Yahoo cá nhân của cựu ứng viên phó tổng thống Mỹ Sarah Palin, những báo cáo về các vụ giết chóc ngoài vòng pháp luật tại Kenya và Đông Timor, danh sách thành viên đảng tân phát xít tại Anh và đoạn video quay cảnh các trực thăng chiến đấu Apache của Mỹ đang bắn giết ít nhất 12 người tại Baghdad năm 2007.

Nhưng khi sự tò mò và thậm chí là độ sốc đã qua đi, Wikileaks bắt đầu đối mặt với sự chỉ trích và nghi ngờ. Các tổ chức bắt tay với Lầu Năm Góc lên án trang web này đã khiến cuộc sống của nhiều người gặp nguy hiểm bằng cách công bố các tài liệu chiến tranh, trong đó phơi bày tên của những người Afghanistan đang làm việc cho người Mỹ hoặc làm "tay chân" cho quân Mỹ.

Một phát ngôn viên của Taliban tại Afghanistan là Zabiullah Mujahid cho biết qua một cuộc trả lời phỏng vấn bằng điện thoại rằng, Taliban đã thành lập một "uỷ ban" gồm 9 thành viên sau khi các tài liệu về Afghanistan được Wikileaks công bố. Mục đích của họ là "truy lùng những người Afghanistan đang làm gián điệp" cho kẻ thù Mỹ. Nguồn tin này cho biết thêm hiện Taliban có danh sách truy nã 1.800 người Afghanistan đã được Wikileaks công bố tên tuổi.

Đình Nguyễn

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

TIẾNG VANG Hai cha con nọ đang đi men theo triền núi. Bỗng người con trai nhỏ trượt chân và ngã, em la lớn lên “Ối chao!”. Em lấy làm ngạc nhiên khi thấy ở miền núi xa có tiếng ai nhái lại “Ối chao!”.
Em tò mò la lên “Ngươi là ai?” thì em nhận lại tiếng nhái lại “Ngươi là ai?” Tức giận quá, em quát lên: “Quân đốn mạt!” thì em lại nghe tiếng nhái lại: “Quân đốn mạt!”.

Em nhìn người cha và hỏi “Thế là thế nào hở cha?”
Người cha mỉm cười và nói: “Này con hãy xem đây”.

Nói rồi, ông nói lớn lên: “Anh hay quá!” thì nghe tiếng trả lời “Anh hay quá!”. Rồi ông lại la lên: “Anh tuyệt vời quá!” thì cũng nghe tiếng trả lời “Anh tuyệt vời quá! ”

Người con ngạc nhiên nhưng cũng vẫn chưa hiểu. Người cha ôn tồn giảng : “Đó là tiếng vang con ạ! Khi có những khoảng trống rộng rãi như ta có trước mặt đây thì các tiếng động lớn hay tiếng nói lớn nó sẽ dội lại như vậy.

Con nói những lời tức giận thì nó sẽ dội lại những lời tức giận, cha nói những lời đẹp đẽ thì nó sẽ dội lại những lời đẹp đẽ!

Ở đời cũng vậy! đời là sự dội lại của các hành động của ta. Khi tâm ta có lòng từ bi thì chúng ta sẽ nhận lại sự yêu thương. Khi ta hành động những điều xấu thì nỗi bất hạnh sẽ lại xảy đến cho chúng ta.”

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Giá trị nội tâm
Đức Đạt Lai Lạt Ma giảng
Muốn được hài lòng, sung sướng, nhiều người làm đủ cách để chiếm hữu được tất cả những gì họ ưa thích hay thèm muốn. Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng như các tu sĩ Phật Giáo khác cho quan niệm này là sai lầm. Sau khi đạt được ham muốn này thì tâm ta lại khởi lên ham muốn khác, lại phải chạy theo nó, và hầu như không bao giờ ta thấy đủ. Cho tới khi chúng ta gặp phải những ham muốn mà mình không thể thỏa mãn...

Phương cách tốt hơn để sống hạnh phúc, theo các nhà sư Phật Giáo, đó là biết hài lòng với những gì mình có. Và một nguồn hạnh phúc khác từ nội tâm chúng ta chính là lòng tự tin vào giá trị của nội tâm con người mình. Đạt Lai Lạt Ma lấy kinh nghiệm của ngài làm thí dụ:

"Trường hợp tôi, nếu tôi không có tình nhân loại sâu xa, không có khả năng kết bạn mới, thì khi tôi mất nước, phải sống lưu vong, chắc hẳn sẽ rất khó khăn. Khi còn ở xứ Tây Tạng, vì địa vị chính trị, người dân có nhiều kính nể đối với văn phòng Đạt Lai Lạt Ma, và họ thương kính tôi. Nhưng nếu chỉ liên hệ bề ngoài như thế, thì khi tôi mất nước, mọi sự sẽ khó khăn vô cùng. Nhưng trong liên hệ giữa người với người, phải kể tới một nguồn suối của giá trị và phẩm chất khác. Bạn có liên hệ với mọi người vì bạn là một nhân vị trong cộng đồng xã hội. Chúng ta chia sẻ mối dây tương quan đó. Và sự liên hệ đó đủ để làm phát khởi ý thức về giá trị và phẩm cách. Liên hệ đó có thể trở thành một suối nguồn an ủi trong biến động mà bạn mất đi đủ mọi thứ."

"Chẳng may trong lịch sử, bạn thấy nhiều đại đế hoặc các ông hoàng trong quá khứ, khi mất ngôi vì biến cố chính trị, họ phải lưu vong, và sau đó, cuộc đời họ không được tốt đẹp nữa. Tôi cho rằng khi không có những tình cảm thân thương và liên hệ với mọi người thì đời sống rất khó khăn."

"Thông thường chúng ta thấy có hai loại người. Một là những người rất thành công và giàu có, chung quanh đầy dẫy bà con, thân thuộc. Nếu căn bản giá trị và phẩm hạnh của người đó chỉ thuần vật chất, thì khi nào còn của cải, người đó mới được an ổn. Khi của cải mất đi, người đó sẽ đau khổ vì không còn chỗ nương tựa nào khác. Trái lại, nếu một người có tiền bạc dồi dào, nhưng đồng thời có lòng tốt, biết thương xót và từ bi - tức là có một căn bản giá trị khác. Khi có ý thức về phẩm cách, người đó có một cái neo khiến cho họ không phiền não dù của cải không còn... Theo lập luận này, bạn thấy được giá trị thật sự của lòng tốt và tình thương, trong việc phát triển ý thức tự tin vào giá trị nội tâm mình..."

Bản chất thực của con người

"Giáo thuyết về "Phật tánh" của đạo Bụt là nguồn gốc của niềm tin vào bản chất thực sự hiền hòa, không gây hấn của loài người. Tuy nhiên, người ta vẫn có thể tiếp nhận quan niệm đó mà không cần phải căn cứ vào thuyết Phật tánh hay Phật tâm. Tôi có niềm tin đó, cũng nhờ vào nhiều luận cứ khác. Tôi nghĩ rằng tình thương yêu và lòng từ bi của con người là điều không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày."

"Trước hết, chúng ta hãy nhìn vào cuộc đời mình, từ thuở ấu thơ cho tới lúc chết đi, ta sẽ thấy mình luôn luôn được nuôi dưỡng trong tình thương mến của những người khác. Bắt đầu từ lúc ra đời, hành động đầu tiên là rúc vào bú mẹ hay bú một người khác. Cho bú là một hành động từ bi, không được bú thì chúng ta không thể sống còn. Rõ ràng là vậy. Và hành động cho bú kia không được hoàn hảo nếu như không có liên hệ thân tình giữa hai người. Nếu đứa bé không thấy có ràng buộc, quấn quít vời người cho nó sữa, thì nó cũng không bú được. Và người mẹ cũng vậy, nếu không thương con thì sữa cũng không chảy ra nhiều. Đó là chuyện thực.

"Cơ thể chúng ta cũng hình như được cấu tạo để thích hợp với các tình cảm thương yêu, từ ái. Chúng ta đều nhận thấy khi ta bình an, có tình thương và tấm lòng thiện, thì sức khỏe thể chất và tinh thần chúng ta được tốt đẹp hơn. Ngược lại, sự thất vọng, sợ hãi, bứt rứt và giận dữ làm cho sức khỏe ta vị nguy hại."

"Chúng ta cũng thấy rõ những cảm xúc thương yêu làm cho tâm ta được thơ thới. Cứ quan sát cảm xúc của mình khi ta được người khác bày tỏ cảm tình nồng ấm thì rõ. Cũng như ta có thể quan sát nội tâm của chính mình, khi ta khởi lên những tình cảm yêu thương. Những cảm xúc hiền hòa và những hành xử thiện lành đưa ta tới cuộc đời hạnh phúc hơn trong gia đình cũng như trong cộng đồng. Vậy thời chúng ta có thể kết luận rằng bản chất tự nhiên của loài người là sự hiền hòa. Và chúng ta nên cố gắng hết mình để sống sao cho thích hợp với bản chất dễ thương, tử tế đó..."

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Loạn ngôn để nổi danh

"Tôi là gái xịn 100%, rất mê trai đẹp (ca sĩ TT), "Họ thích tôi, nhưng tôi không đồng tính (ca sĩ, diễn viên QAA),
"Tôi muốn trở thành biểu tượng sexy (ca sĩ TM, TD)… Đó là những lời phát ngôn "hùng hồn" của một số nghệ sĩ trong thời gian trở lại đây.

Bên cạnh tình trạng đạo nhạc, trang phục biểu diễn hở hang, ảnh khỏa thân...
trong những năm trở lại đây xu hướng loạn ngôn đang trở thành hình thức lăng xê bản thân của giới văn nghệ sĩ, đặc biệt là các ca sĩ trẻ.


Loạn ngôn để khẳng định cái tôi

Image
Ngoài giọng hát, ca sĩ Thu Minh nổi tiếng với phong cách ăn mặc và nhiều phát ngôn “nóng”
Sự xuất hiện ồ ạt và xô bồ của các ca sĩ trẻ thời gian qua đã tạo nên một thị trường âm nhạc bão hòa, èo uột. Cùng với nó là hàng loạt các cuộc thi lớn nhỏ, những "niềm đam mê âm nhạc" bỗng chốc trở thành "tài năng âm nhạc". Và từ đó, vô hình chung các ca sĩ khi bước chân vào thị trường âm nhạc luôn ảo tưởng về sự nổi tiếng của mình, đồng nghĩa với nó là những phát ngôn gây sốc, thiếu suy nghĩ và đơn giản chỉ là "tôi nổi tiếng, tôi có quyền".

Chuyện tưởng "xưa như diễm", nhưng cho đến thời điểm này, nhiều ca sĩ vẫn lấy đó làm tiêu chí để nhanh chóng nổi danh. Lắm khi đằng sau họ là bộ máy lăng xê với nhiều ý tưởng... hãi hùng. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Lộc - Ban nhạc Đông Đô nhận định: "Các ca sĩ hiện nay ai cũng muốn nổi tiếng. Đôi khi không dùng tài, họ dùng chiêu, mánh để được nhắc tên ở đâu đó”.

Con dao hai lưỡi

Ca sĩ là những người của công chúng, "nhất cử, nhất động" của họ luôn được khán giả theo dõi. Khán giả thưởng thức âm nhạc, không chỉ bằng tai mà còn cả bằng mắt.

"Mỗi ca sĩ đều có hướng đi của riêng mình, ca sĩ được ví như con ngựa chạy trên đường dài, để tạo dựng hình ảnh của mình thông qua những scandal đôi khi sẽ là con dao hai lưỡi. Ca si loan ngon de noi danh" - Ca sĩ Thái Thùy Linh

Không phủ nhận nhiều ca sĩ có thực tài nhưng về hình thể họ không được "bắt mắt" cho lắm. Không gây tai tiếng, đơn giản họ đến với khán giả bằng tình yêu âm nhạc của mình và được khẳng định theo thời gian.

Đã là ca sĩ thì phải ra album và đầu tư vào đó là một số tiền không nhỏ. Do vậy, các ca sĩ đã thành danh khi làm album luôn "chắc chắn" một điều ra là để khán giả không quên mình, chứ không hy vọng thu lại vốn cho dù đó là một tác phẩm hoàn hảo.

Còn các ca sĩ trẻ thì sao? Không phải ai cũng biết đến họ, scandal là con đường nhanh nhất để công chúng quan tâm, chí ít là sự tồn tại của một cái tên ca sĩ.

Ở những trường hợp này, xem ra loạn ngôn chính là phương pháp hữu hiệu nhất, tạo được tính "tò mò" của công chúng. Nhưng sự tồn tại của nó luôn luôn đi ngược lại với những yếu tố thực tế.

Hình ảnh của họ luôn gắn liền với một cái tên nào đó hết sức phản cảm. Và nó sẽ dần phải nhạt theo thời gian và khi "hết giá trị lợi dụng" thì bầu sô sẽ tìm một "tài năng trẻ" mới thay thế.

Theo Dân Việt

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Không một nấm mồ

Huy Phương


Mới đây việc đồng bào thôn An Dương thuộc quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên đã giúp cải táng và xây lăng mộ cho 152 quân nhân VNCH bỏ mình trên bãi biển Thuận An vào những ngày cuối tháng 3, 1975, đã gây lên niềm đau xót mà tưởng chừng như 35 năm nay đã ngủ yên trong quên lãng, không còn ai nhớ đến. Chiến tranh đã qua rồi, không chỉ một vài chục năm ngắn ngủi, mà đã một thời gian quá dài . Những đứa trẻ mới lớn lên không biết gì quá khứ, những ông già đã qua đời ở ngoài quê hương, ngậm ngùi vì những giấc mộng tàn phai. Ngày nay những hố bom đã được san bằng, đồn lũy đã mất dấu dành cho những nương khoai, trận địa ngày trước máu xương đã đem màu mỡ cho ruộng đồng xanh ngát.

Nhưng có những cánh rừng chỉ còn trơ gốc, có những con sông đã ngừng chảy, biển xưa phải chăng nay là nương dâu. Ngày nay, có những đô thị mới mọc lên, những chốn ăn chơi, giải trí mới mở ra, những khách sạn cao tầng vươn cao trong không gian như thách đố với nỗi nghèo khó vẫn còn tồn tại ở sát mặt đất.

Những người ra đi đã trở về vui chơi, đi suốt chiều dài của đất nước, quên hết chiều dài khổ đau của trận chiến mà cha ông họ đã đóng góp máu xương.

Quá khứ phải chăng đã bị chôn vùi, chiến tranh phải chăng đã không còn ai nhớ đến. Không, những nghĩa trang liệt sĩ bây giờ đã có mặt khắp nơi, bia mộ khang trang, gọi là để nhắc nhở những người đã hy sinh trong cuộc chiến tàn khốc trên quê hương kéo dài hơn ba mươi năm. Bây giờ, “khi đất nước tôi thanh bình, mẹ già lên núi tìm xương con mình” (TCS).

Nhưng không còn gì cho những người thất trận và đồng bào trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Bao nhiêu người đã bỏ mình trên quốc lộ 7B trên đường rút về duyên hải từ Pleiku, bao nhiêu người đã chết trên những bãi biển miền Trung trong cơn tuyệt vọng tìm con đường sống về Nam. Sau khi đất nước ngưng tiếng súng, người ta kêu gọi những người miền Nam đang chiến đấu buông súng, nhưng thực chất tại nhiều địa phương, nhiều cuộc trả thù đã xẩy ra, nhiều nhân viên đảng phái, ngành tình báo, cảnh sát đã bị đưa đi thủ tiêu. Ngay cả với nhiều toán chiến sĩ Biệt Cách Dù 81 ra đầu hàng cũng bị bắn và chôn vùi trong những giếng cạn trại địa phận Long Thành. Bao nhiêu năm qua, tội ác được giấu nhẹm, trong nước không ai dám lên tiếng, không ai dám tiết lộ tin tức cho thân nhân.

Tất cả đều bị vùi dập với đất cát, cỏ cây, qua thời gian, nắng gió, xương tàn cốt mục tan nát theo bùn đất. Ai còn nhớ đến họ, phải chăng người mẹ trước khi qua đời, vẫn còn mang nỗi đau về tin tức một đứa con ba mươi lăm năm nay biệt mù, phải chăng chỉ còn là di ảnh đã ố vàng của một người chồng trên bàn thờ, để nói với đàn con đó là người cha thuở trước.

Không bia mộ, không dấu vết, lặng lẽ, phai tàn và quên lãng.

Những người dân làng trên bãi biển Thuận An đã âm thầm chôn cất những người lính, người dân miền Nam nằm lại trên bãi biển, hay từ cơn sóng biển đưa vào, trong cơn vội vã, thương xót mà không hề bộc lộ. Rồi cơn sóng biển dập vùi, bão lụt tràn bờ, kéo xương cốt những người này trả lại cho trùng dương. Tưởng chừng những linh hồn uổng tử, oan khuất theo cơn gió giật, réo gọi, rên xiết trên những hàng dương oằn mình, run rẩy.

Trên quê hương chúng ta có bao nhiêu nấm mồ tập thể như thế và vì tình người, có bao giờ những người thắng trận nghĩ đến việc khuyến khích dân chúng tại những nơi trận địa, cải táng những thi hài này để tìm ra những tin tức cho những gia đình đã mất con, mất chồng trong cuộc chiến. Câu chuyện này, nếu làm trong thời gian vài ba năm sau khi cuộc chiến mới chấm dứt, khi thịt chưa nát, xương chưa tan, khi còn những dấu tích, chúng ta có thể tìm ra căn cước của những người chết, để giao về cho những gia đình ly tán mất mát, thì đâu có lâm vào cảnh muộn màng như thế. Nhưng điều đó đã không xẩy ra. Những danh từ “bỏ qua quá khứ,” “hòa giải dân tộc,” “xóa bỏ hận thù” chỉ là những câu khẩu hiệu chỉ để nói mua vui. Ngay như chuyện Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, đã có bao nhiêu lời hứa hẹn, đã có bao nhiêu tổ chức ở hải ngoại về nước hy vọng sẽ góp công, góp của để giữ gìn lại những hài cốt của các chiến sĩ miền Nam ngày trước, nhưng cuối cùng chỉ nhận lấy sự hụt hẫng vì những lời hứa suông, giả dối. Ngày nay nghĩa trang này rơi vào cảnh điêu tàn, hoang phế, đất nghĩa trang được “dân sự hóa,” không còn được một tên gọi, không được tôn trọng như là một di tích của lịch sử, mặc cho gió dập mưa vùi.

Rồi thời gian sẽ xóa hết dấu vết.

Chúng ta không có hy vọng gì về một đất nước văn minh, nhân ái để có một nghĩa trang chôn cất người lính của cả hai miền, dù là bên thắng bên thua, nhưng ít ra đối với người thắng trận phải có chút lòng nhân, không chỉ có thái độ trả thù đối với những người bại trận còn sống mà còn đối với những người đã chết. Chính quyền Cộng Sản ngày nay đã quay lưng đi với nỗi đau khổ của đại đa số dân chúng, nên chúng ta cũng hiểu rằng rất khó để kêu gọi tấm lòng nhân đối với những người đã chết. Khi chế độ mới có quyền lực trong tay, họ muốn làm những điều ác để bảo vệ chế độ hơn là lấy điều nhân nghĩa để lo cho dân.

Qua các đợt cứu trợ cùng với các tổ chức đang hướng về quê hương, vì hải ngoại đã thương xót mủi lòng khi nghĩ đến cảnh khổ của đồng bào ruột thịt ở trong nước, mà ngày nay những người bỏ nước ra đi, còn có tấm lòng nghĩ đến những người đã nằm lại, qua các công cuộc đi tìm hài cốt hay tu sửa bia mộ cho những người chiến sĩ VNCH. Qua tin tức, phim ảnh chúng ta đã có dịp thấy cảnh đào xới truy tìm hài cốt của những người lính Mỹ chết tại Việt Nam, với sự yểm trợ tối đa của chính quyền, huy động nhân công đông đảo, phương tiện cơ giới để đào sâu, sàng sảy để tìm những mẫu xương cốt. Lại thấy cảnh bốc mộ của đồng bào đối với hài cốt của những người lính miền Nam được tiến hành với những phương tiện thô sơ, góp nhặt những đốt xương, những chiếc răng còn lại mà cảm thấy đau lòng, xót xa.

Ba mươi lăm năm, một thời gian quá dài. Những bậc sinh thành đã không còn sống để đợi chờ tin con. Những góa phụ đã mòn mỏi héo hon. Ký ức của những đứa con đã không còn chút dấu vết của người cha thời trận mạc. Tất cả đều đã mịt mờ trong quá khứ. Những người lính chiến không bao giờ trở về, thân xác theo cát bụi về với hư vô.

Chiến tranh đã tàn khốc ác độc, mà giữa con người với con người cũng chẳng có lòng thương xót, ba mươi lăm năm rồi vẫn còn đối với nhau như kẻ thù không đội trời chung.

Nếu không như thế, chính phủ CSVN đã bảo trì, giữ gìn, tu bổ Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, theo ý nghĩa “không có người thắng, kẻ thua.” Nếu không như thế, chính phủ CSVN đã có chính sách truy tìm, khuyến khích dân chúng phát giác, khai quật những mồ chôn tập thể, sau ngày tàn cuộc chiến để trả hài cốt về cho những người mẹ mất con, những người vợ góa chồng, những đứa con không cha.

Báo chí trong nước không được phép loan tin những chuyện liên hệ đến chế độ cũ hay hình ảnh người lính VNCH, do đó việc thông tin bị hạn chế, gia đình không thể nào tìm ra những người mất tích trong cuộc chiến. Ðó là chính sách bất nhân của những con tim vô cảm.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Đau khổ không có biên giới.

Chiều nay ngày 4 tháng 12 năm 2010 tôi nhận lời đi cúng đám chết một thiếu phụ trẻ. Đám chết tôi tưởng cũng bình thường như những đám chết khác. Tuy nhiên khi đến nhà tang chủ nghe kể chuyện và nhìn hình người chết để thờ trên bàn tôi mới ngở ngàng. Chiếc hình chụp có vẻ mỹ thuật đủ để nói lên cô gái có một nếp sống hơi tân tiến. Khuôn mặt bầu dục khá đẹp với những nét ngay thơ vương vất.

Người mẹ kể tôi nghe. Hồi nhỏ Kim Anh đẹp lắm nó là con đầu lòng của con. Nó được nuông chiều từ nhỏ vì là kết quả của một mối tình đẹp nhất của hai người Cha và Mẹ. Lớn lên Kim Anh đi học và nhìn cuộc đời với những màu hồng êm ái. Kim Anh được nhiều bạn bè quý mến vì tánh hoà nhã cởi mở và nhất là rất tốt với bạn. Liên tiếp 20 năm trời chung sống cùng bố mẹ Kim Anh có thêm sáu người em nữa gái và trai..

Rồi hạnh phúc gia đình tan vở. Cha mẹ chia tay, còn lại Kim Anh phải thay cha mẹ nuôi dạy và hướng dẫn các em học hành. Kim Anh nghỉ học sớm khi tương lai còn đang chờ nàng. Đáng lẻ nàng kết hôn với một sinh viên VN cùng học, nhưng vì cha mẹ chia tay nên cũng ảnh hưởng đến tình cảm hai người rồi chuyện tình đi vào quên lãng. Sau đó Kim Anh đi làm việc cực lực để có tiền sinh sống và nuôi các em vì người mẹ quá đau buồn trong cuộc hôn nhân bất hạnh đã bị bệnh tâm thần. Từ đó sự đau buồn của gia đình và quá trình làm việc cực khổ để nuôi các em. Kim Anh phát hiện ra mình bị bệnh ung thư.

Nàng tưởng với nền y học phương tay sẽ giúp nàng trừ khử căn bệnh dễ dàng. Nàng chỉ uống thuốc qua loa rôi kế đến lập gia đình với một người bạn trai người Thổ nhĩ kỳ. Sau khi hai người có với nhau 3 đứa con thì đồng thời căn bệnh của nàng đã đến giai đoạn thứ ba. Lúc này tình hình rất nguy ngập vì bệnh đã lan dần và biến chứng qua nhiều căn bệnh khác nữa. Người chồng trẻ tuổi từ khi biết vợ mình mang bệnh khổ đã tỏ ra thờ ơ và đi kiếm tình nhân mới. Một hôm Kim Anh bắt gặp quả tang. Hai người đôi co dữ dội và cuối cùng chia tay.

Mang một thân bệnh trầm trọng lại phải chia tay với người chồng. Kim Anh càng bệnh nặng thêm, không thể nuôi con nổi phải gởi về mẹ trông hộ. Người mẹ mặc dù bị bệnh tâm thần nhưng vẫn còn khoẻ mạnh chăm sóc ba đứa cháu ngoại. Thế thì Kim Anh trở bệnh nặng và vào điều trị trong một bệnh viện ở địa phương. Bác sỉ cho biết tình trạng rất khó sống và chuyển nàng đến một bệnh viện dành cho những người chờ chết. Khoảng hai mươi ngày trước khi lìa đời nàng đòi về năm dưỡng bệnh ở nhà. Và đã qua đời hôm 3 tháng 12 năm 2010 đúng vào ngày sinh nhật của nàng. Người Mẹ kể tiếp. Kim Anh nó rất ngoan. Đáng lẻ nó không muốn lập gia đình với bạn trai người ngoại quốc. Chú này đào hoa lắm và lại bạt tình. Ngay khi chưa phát hiện ra bệnh nó đã từng bỏ Kim Anh đi chơi với bạn gái và làm Kim Anh đau khổ. Ngặc vì thương con không muốn chúng nó thiếu cha nên Kim Anh nhẫn nhục chịu đựng. Đến khi nó biết Kim Anh mang bệnh thì nó quyết định bỏ hẳn và thường xuyên ở nhà người yêu mới. Đáng lẻ bệnh của Kim Anh nếu chịu chữa trị ngay từ đầu thì không sao. Nhưng vì nó thương các em nó và cực lực làm việc để có tiền nuôi các em ăn học vì thế nó không lo đến sức khoẻ của nó. Khi đi khám bệnh lần cuối thì bác sĩ bảo muộn rồi.Nàng chết lúc tuổi đời còn quá trẻ. Hương linh Tạ Kim Anh Sinh tử cùng ngày, hưởng dương 37 tuổi. Nhìn thấy dung nhan Kim Anh và nghe kể câu chuyện về nàng Tôi thực sự xúc động. Dù lớn lên và làm việc ở phương Tay nơi một quốc gia trù phú, con người vẫn chật vật với cuộc sống mưu sinh. Điều này cho thấy sự đau khổ ở cùng khắp và đời sống vật chất hoàn toàn không can dự gì vào hạnh phúc của con người. Rồi tình trạng thiếu sót nền tảng luân lý đạo đức, những thanh niên trẻ tuổi phương Tay đã đưa hạnh phúc con người vào những ngỏ cụt bế tắc. Tôi thực sự cảm thấy chua sót cho hạnh phúc mong manh của con người. Đây chỉ là một trong những tình cảnh đau sót mà tôi chứng kiến. Dù ở Đông hay Tay, Nghèo Khổ hay giàu sang sự đau khổ của đời người vẫn như nhau.Ai đã từng có những tâm trạng khốn khổ trong đời sống xin hãy vui lòng tìm gặp một nhà Sư để được chỉ vẻ những điều cần thiết nhất cho đời sống tâm linh của con người. Nó đang giãy chết trên địa câu nầy.

Thích trí Như..

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

BỐ TÔI VÀ NGƯỜI TÙ NGUYỄN CHÍ THIỆN

TRIỀU NGHI


Nhân đây, cũng xin cảm ơn nhà văn Phan Nhật Nam đã có nhã ý nhắc tới gia đình chúng tôi trong bài viết về ông Nguyễn Chí Thiện, mặc dù giữa chúng ta chưa hề quen biết.

Triều Nghi

* * *
Vận nước nổi trôi, dòng đời nào khác chi giông bão cùng với nghiệt ngã của chiến tranh, những bất hạnh dồn dập đến với gia đình chúng tôi.
1945, cậu em trai tôi chào đời vào năm đói Ất Dậu. Bố Vũ Thế Hùng bị Việt Minh bắt. Mẹ tôi, nào khác hạt bụi giữa cuồng phong, bỗng một sớm một chiều chấp nhận lầm than, tảo tần, buôn thúng bán bưng, vất vả đi theo nuôi bố qua bao nhiêu trại tù. Sau này bố tôi tâm sự "không có mẹ thì bố mất xác đã lâu, còn đâu tới ngày hôm nay mà gặp các con nữa".
Không liên hệ gia đình, không là bạn tù, có lẽ mẹ tôi là người biết về Nguyễn Chí Thiện sớm nhất là vì vậy.

Ba anh em chúng tôi lớn lên bằng tài chánh eo hẹp, lần lượt cô dì này đến chú bác khác cưu mang. Ôi, những ngày vàng son thuở ấy, một "giấc Nam Kha khá bất bình...". Năm người trong gia đình chúng tôi, mỗi người một ngả, thậm chí hơn cả nửa thế kỷ rồi mà cũng hiếm khi xum họp dưới một mái nhà kể từ khi "đất bằng dậy sóng" 1945. Ông anh huynh trưởng của tôi, năm 5 tuổi đã nhập học trường Dòng, anh lớn đi theo tiếng Chúa gọi, nay trở thành Linh mục Mathieu Vũ Khởi Phụng của biến cố Giáo Xứ Thái Hà, Hà Nội, mà gần đây báo chí đã tốn khá nhiều giấy mực viết về anh.
Ngày em đi, anh niềm vui Chủng viện,
Buổi em về Linh mục đã phong sương !!

Nỗi đau còn hằn mãi trong tâm tưởng, tôi đâu ngờ rằng cậu em trai duy nhất của tôi, một ngày tháng Tư đen 1975, lại nối gót bố 30 năm xưa cùng với Sàigòn hấp hối, em tôi trở thành người tù cải tạo với gần 8 năm dài bóc lịch !
Tôi ư ? Một cánh bèo trôi dạt mãi trên sông, hay phận mình là áng mây phiêu bạt, để rồi, rời quê hương thật sớm, bỏ lại cậu em trai dãi nắng dầm sương trong quân ngũ, bỏ lại bố mẹ già ở miền Bắc xa xôi, tôi đâu còn nhớ mặt, ngày ly tan tôi mới hai tuổi đầu. Bấy giờ một mình vượt Thái Bình Dương :

Đất Mỹ,
Trời Âu xa lắm
Nơi rừng sâu
Người cha rầu rầu
Thường đem ảnh con mình ra ngắm

Đó là những dòng thơ Nguyễn Chí Thiện diễn tả về tôi khi thấy bố già ngắm hình đứa con gái. Anh làm quen với tên T.N. từ đấy, bởi đó là niềm vui của bố và của một anh tù thuở "mắt trũng chân phù" trong trại tù Phong Quang.
Đất Mỹ, trời Âu xa lắm, nổi trôi mãi chẳng ngừng. Đây những ngày xuân xa xứ, hồn tả tơi tựa những cánh hoa đào rơi lả chả bên dòng Potomac đẫm rong rêu ! Đây trời Arlington buốt giá, đôi bờ tuyết phủ. Từ mùa hạ Chicago nắng cháy đỏ da, tôi trôi dạt về chiều El Paso mưa buồn xót mắt. Cứ thế tôi đã đánh mất bao nhiêu mùa xuân trong đời, rồi tôi dừng lại đây với hơn 18 mùa sương phủ trên chiếc cầu lạnh giá Cựu Kim Sơn. Để rồi "xin nhận nơi này làm quê hương". Một ngày tỉnh mộng nghe tim mình ray rứt thương về mảnh đất hình chữ S. Mùa xuân 1992, tôi trở về cố quận.
Lòng như cơn bão, giữa rừng người đứng ở phi trường Tân Sơn Nhất kia, có bố mẹ già còm cõi mà gần nửa thế kỷ tôi mới được tái ngộ. Có ông anh trịnh trọng trong bộ áo Dòng, có cậu em trai gầy gò răng rụng, với mái tóc bạc màu tù cải tạo.
Bố đón tôi bằng dòng nước mắt lăn dài trên khuôn mặt hom hem, bàn tay gầy guộc đặt trên vai tôi. Bố hỏi "Con có nghe câu thơ này chưa" ? Rồi bố đọc chậm rãi :
Thân không trời đất mà mưa gió
Lòng chẳng gươm đao cũng chiến trường

Thế đó ! Là phút giây hội ngộ của gia đình chúng tôi lần đầu tiên trong đời, đủ được 5 người.
Tôi xa Hà Nội không phải "năm em mười tám khi vừa biết yêu" mà là khi cô bé 11 tuổi phải rời trường Saint Paul, nay rất gần Tòa Khâm Sứ. Tuổi thơ tôi di cư vào Nam với bao nỗi nhọc nhằn. Bây giờ Hà Nội xưa của tôi hiện ra trước mắt, sao bỗng dưng tôi nghe vị mặn ở bờ môi. Một Hà Nội đưa tôi vào lạc lõng, một Hà Nội của Trịnh Công Sơn với cây cơm nguội vàng và hồn tôi ngỡ ngàng xa lạ. Tôi đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác khi đặt chân lên thềm nhà của bố mẹ. Căn nhà nhỏ mốc meo rêu với mùi ẩm mốc khó chịu. Tất cả hiện ra cảnh nghèo khó tới rợn người. Thế mà bố mẹ tôi hân hoan ra mặt. Bố cười bảo tôi :
"Con ở ngoại quốc về chắc thấy chỗ này ghê rợn lắm. Từ ở tù ra gần cả chục năm rồi, bố mẹ sống đạm bạc đã quen, nhà thờ Hàm Long ngay đầu phố, tiện lắm. Bố muốn con hiểu rằng, căn nhà nghèo khó này đã từng tiếp đón những người bạn trí thức tuyệt luân, lại đầy nhân ái và tình người. Bố mẹ yêu những người ấy như ruột thịt. Con sẽ lần lượt gặp họ, ai cũng muốn gặp con đấy, vì bố đã nói nhiều về con trong những năm tháng tù đày. Này nhé, nhiều tên tuổi lừng danh con nên kính phục -Phùng Cung, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Chí Thiện và còn nhiều nữa trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, con có nghe tên họ chưa" ?

* Nghe thì nghe nhiều rồi đó, nhưng chả bao giờ tôi lại nghĩ rằng, mình may mắn gặp được những nhân tài này. Rồi bố giới thiệu : Nguyễn Chí Thiện, người bạn tù lâu năm, người bạn vong niên của bố.
Tôi quan sát anh, định cất tiếng chào:
- "Thưa chú"...

nhưng anh gạt đi
-"Gọi bằng anh nhé. Chị quên là tôi gọi bác là bác kia mà, tôi không lớn hơn chị lắm đâu".

Tôi ngồi lắng nghe bố đọc thơ anh làu làu, rồi hai người say sưa luận bàn thơ phú. Tôi không quen với thể thơ của Nguyễn Chí Thiện, nên im lặng nghe bố kể :
- "Con chưa biết nó đâu, dáng dấp lừng khừng là thế, lại gầy ốm tong teo như cây sậy, mà can đảm không lường, bố phục nó, dám một mình vào sứ quán Anh bất chấp nguy hiểm, miễn sao thơ nó được lọt ra nước ngoài. Còn ở trong tù mà nó dám làm thơ có thể chết người con ạ. Trong tù, đứa nào cũng đói rã ruột, thế mà đứa nào cũng tử tế với bố, nhường từng miếng khoai sùng, sắn sượng cho bố vì thấy bố già nua. Chúng nó là những anh hùng bất chấp gian nan, bố phục lắm".

Rồi bố cười :
- T.N. là đề tài cho Thiện nó làm thơ đấy.

Tôi bắt đầu có chút cảm tình với anh, bỗng anh ngập ngừng hỏi tôi :
- "Muốn nhờ chị một điều, không biết chị có nhận lời không" ?

Tôi e ngại :
- "Anh cứ nói".
- "Chị có thể đem tập thơ của tôi ra ngoại quốc được không ? Ít bài thôi".

Tôi chưa biết trả lời ra sao thì anh lại tiếp :
- "Gặp bác và chị thế này, ngoài kia khối con mắt dòm ngó đấy, nhưng tôi ở tù quen rồi, nên cóc sợ".

Câu nói của anh làm tôi hoảng vía, bởi năm 1992 nào phải như bây giờ, bất trắc nào cũng có thể xảy ra, nên tôi thẳng thắn từ chối :
- "Thôi anh ạ, đừng buồn nhé. TN. không dám đem đâu. Xin cho em hai chữ bình an để trở về Mỹ trót lọt".
Một thoáng thất vọng trong mắt anh : "Thôi, thế này, Trần Nhu chắc là có tập thơ của tôi đấy, chị hỏi hộ ông ấy nhận được chưa" ?
- "Vâng, chuyện đó thì được".

Người kế tiếp tôi gặp là Phùng Cung, tôi đọc được chút gì trìu mến cho tôi nơi anh. Bằng một mẩu giấy màu vàng nhàu nát, anh ứng khẩu rồi viết luôn:
Bé Triều Nghi, bé Triều Nghi,
Mắt cười, đọng vẻ phân kỳ ngày xưa.

Mẩu giấy đó tôi còn giữ mãi.
Người bạn kế tiếp của bố là Nguyễn Hữu Đang. Ông không làm thơ tặng tôi, chỉ bắt tay tôi, trịnh trọng chào : "hân hạnh được gặp bóng hồng dương thế", rồi ông nằm dài trên tấm phản, chửi đổng chế độ.
Ngày từ biệt bố mẹ trở lại Mỹ, bố nhắn với theo :
- "Nguyễn Chí Thiện khá lắm. Thằng ấy khí khái anh hùng, con giúp được gì cho nó thì làm, nó hết lòng với bố trong tù đấy".

Trở về Mỹ, cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại bắt đầu quyên góp để yểm trợ cho anh và tôi thường xuyên có mặt. Thời gian thấm thoắt, có lẽ thơ anh bắt đầu có tiếng vang bên trời Âu. Năm anh đến bến bờ tự do, cộng đồng Việt khắp nơi đón rước anh, tên anh nổi như cồn qua hàng loạt bài diễn văn. Tôi mừng thầm.
Nguyễn Chí Thiện nay đã nổi tiếng, và tôi tự nhủ : Chắc anh đã quên tôi. Thật cảm động, tôi nghĩ lầm về anh, cú điện thoại đầu tiên vồn vã :
- "T.N. đấy ạ, Thiện đây ! Nhờ thưa với bác, Thiện tới Mỹ bằng an nhé" !

Một niềm vui lớn lao cho tôi khi thấy anh toại nguyện. Tôi cười, mừng anh, đồng thời nhắn rằng, T.N. sẽ không có mặt trong những buổi diễn thuyết của anh, bởi tôi không thích đám đông và không làm chính trị. Từ đó, mỗi lần về Bắc Cali, dù không gặp nhau thì vẫn là những lời thăm hỏi chí tình.
Nguyễn Chí Thiện, mỗi lần gặp anh là tôi mường tượng ra lần đầu hội ngộ với anh, với bố già trong căn nhà nghèo khó ở Hà Nội, và tôi đã từng khuyên anh "cẩn thận nhé. Nay anh làm dâu trăm họ rồi đấy", vào năm 95 khi vừa đặt chân trên đất Mỹ.

Nay thì câu nói ấy đã hiệu nghiệm. Ở một nơi tự do ngôn luận, tự do báo chí trên mảnh đất quá nhiều tự do này. Tôi biết rằng anh đang gặp dữ nhiều, lành ít. Tôi từ chối không đọc những bài báo nói không trúng về anh. Hôm qua, tình cờ gặp một nhà thơ cao tuổi, bác Hà Thượng Nhân, bác bảo:
- "Sao cô không lên tiếng cho Nguyễn Chí Thiện".

Tôi thiết nghĩ, tôi lên tiếng là đã quá thừa, bởi nhà văn Phan Nhật Nam, giáo sư Jean Leaby đã viết quá đầy đủ về anh rồi. Sự thật vẫn là sự thật. Anh Thiện ơi, càng cao danh vọng càng dày gian nan ! Thôi thì, đó cũng là định luật sống.
Viết những dòng này cho anh, bố già nay đã miên viễn, Nguyễn Hữu Đang cũng vô thường, mà Phùng Cung thì đã "hạt bụi nào hóa kiếp thân anh". Chỉ còn lại một Nguyễn Chí Thiện ở tuổi hoàng hôn, thế mà cây muốn lặng sao gió không ngừng. T.N. nhớ mãi lời bố khi giới thiệu anh "Thằng ấy khí khái, anh hùng, con có dịp hãy đọc thơ nó, bố phục nó lắm".

Đấy, lời một người bạn tù nằm xuống chắc đã làm anh vui. Viết những dòng này gửi tới anh khi ngọn gió đầu đông đón chào mùa xuân trên đất Mỹ, tôi thấy thương bố V.T.H. vô cùng, thương những người chiến sĩ chiến đấu bằng ngòi bút cho lý tưởng tự do, trong đó có anh Nguyễn Chí Thiện.
Ta đau trời Phong Quang
Ta giận tràn Vĩnh Phú
Oán hờn một thuở Lao Kai
Từ ta lưu lạc dấu giày
Lời thơ phẫn nộ vẫn say sắc thù
Thương ai ngưỡng cửa ngục tù
Xác thân nghiệt ngã đời hư ảo đời

Những dòng thơ này xuất phát tự đáy lòng tôi gửi tới bố V.T.H. và các anh cùng chung chí hướng. Tôi nợ anh một lời tạ lỗi năm nào đã không dám đưa thơ anh đi. Tôi nợ anh bao ân tình cho miếng khoai mẩu sắn anh nhường cho bố tôi dạo ấy. Mùa xuân này xin anh nhận nơi tôi một đóa hồng cho người tôi ngưỡng mộ : nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, người bạn vong niên của bố tôi mà sinh thời, bố từng thán phục và mến thương.

TRIỀU NGHI

Và sau đây là bài thơ Nguyễn Chí Thiện viết tại trại tù Phong Quang : Bóng Hồng Dương Thế :

BÓNG HỒNG DƯƠNG THẾ (Tặng Triều Nghi)

Có người thiếu nữ mắt bồ câu
Lưu lạc, ly hương từ độ xuân thì
Đất Mỹ, trời Âu xa lắm

Nơi rừng sâu
Người cha rầu rầu
Thường đem ảnh con mình ra ngắm
Đêm tù
Âm khí âm u
Những chàng trai mắt trũng chân phù
Thơ thẩn cầm nàng trong tay
Cầm cả mùa xuân hạnh phúc
Bóng hồng dương thế xa bay.

NGUYỄN CHÍ THIỆN

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

GẶP LẠI BẠN CŨ

Đỗ Thái Nhiên
Lời nói đầu của Tác giả.-

Dưới đây là câu chuyện ba lần biệt ly của ba cựu học sinh Phan Châu Trinh-Đà Nẵng so chiếu với những nỗ lực đấu tranh cho dân chủ của Nguyễn Đăng Trừng và Lê Hiếu Đằng ngày nay đã nêu bật chân lý rằng: dầu trôi dạt vào nhiều môi trường chính trị khác nhau, ba chúng tôi vẫn ấp ủ trong lòng lời dạy “Chấn Dân Khí” của nhà yêu nước Phan Châu Trinh. Dân khí là khí phách làm dân. Khí phách kia không cho phép người dân quì gối cúi đầu trước cảnh đất nước bị tàn phá bởi ngoại xâm Bắc Phương với sự tán trợ của nhà đương quyền. Khí phách kia ngày đêm hối thúc toàn dân hãy đứng dậy… Và Nguyễn Đăng Trừng – Lê Hiếu Đằng đã đứng dậy… Và ba chúng tôi đã gặp lại nhau. Gặp lại ở đây không có nghĩa là Trừng và Đằng theo tôi hay ngược lại. Gặp lại ở đây chỉ có nghĩa là: Trong hiện tình của đất nước, người Việt Nam không có chọn lựa nào khác hơn là hãy cùng nhau đi chung một con đường. Con đường của khí phách làm người Việt Nam . Con đường của tự do dân chủ. Tự do dân chủ là xu thế chung của lịch sử loài người. Đó là công lý vĩnh hằng.

Sống là sống với bạn bè. Không có bạn bè, đời sống chỉ là cành cây khô. Tôi có rất nhiều bạn: bạn học cùng lớp, bạn văn thơ, bạn đồng nghiệp, bạn trong quân ngũ… Với bài viết này, tôi chỉ muốn nói tới hai người bạn đặc biệt. Đó là các anh Nguyễn Đăng Trừng và Lê Hiếu Đằng. Trừng, Đằng và tôi cùng học chung suốt bảy năm tại trường trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng. Thời gian sau, chúng tôi lại hội ngộ ở nhiều giảng đường khác nhau của Đại Học Luật Khoa, Saigon.

Tháng 06/1967 tôi hoàn tất học trình ban Cử Nhân Luật và bắt đầu làm việc trong hệ thống tòa án, chế độ VNCH. Chiến trận Mậu Thân 1968 đã cuốn hút Trừng và Đằng vào hoạt động tại các mật khu của CSVN. Từ đó, Trừng, Đằng và tôi sống ngăn cách bởi giới tuyến chính trị rõ rệt. Do vậy, chúng tôi xa nhau. Đây là lần biệt ly thứ nhất.

Biến cố 30/04/1975 tạo cơ hội để Trừng và Đằng bước lên sân khấu chính trị Việt Nam như những quan chức nhiều triển vọng của chế độ mới, còn được đảng Cộng Sản gọi là “chế độ cách mạng”. Dưới mắt nhìn của tôi, 30/04/75 là một thất trận đau buồn của tự do dân chủ. Tôi chia buồn với người bạn tự do dân chủ của tôi bằng những hoạt động bị cơ quan công an lên án là “âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng”. Khám Chí Hòa là nơi tôi hoàn toàn tĩnh tâm để đối diện với thực tế rằng: thời chiến tranh Việt Nam , Trừng và Đằng sống kín đáo trong mật khu, tôi là thị dân của thành phố Saigon . Hòa bình trở lại, Trừng và Đằng nghiễm nhiên là hai nhân vật của chế độ mới. Tôi là người tù của chế độ này. Đây là lần biệt ly thứ hai giữa ba cựu học sinh trường trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng.

Tháng 05/1985, từ Cầu Kè-Trà Vinh tôi vượt biên. Tháng 02/1986 tôi có mặt tại Hoa Kỳ. Bây giờ, Trừng và Đằng đang sống vui vẻ và làm việc bận rộn trên quê hương Việt Nam . Tôi là người ly hương miễn cưỡng. Đây là lần biệt ly thứ ba của ba người thuộc thế hệ 1940.

Biệt ly ba lần hay biệt ly nhiều lần hơn nữa, tôi vẫn không bao giờ quên các bạn Quảng Nam của tôi. Trừng, Đằng và tôi chẳng những có chung những ngày niên thiếu dưới mái trường Phan Châu Trinh thân yêu mả chúng tôi còn có chung cả trời Quảng Nam , có chung cả tâm tình Quảng Nam . Thanh âm Quảng Nam bao giờ cũng là một gợi nhớ xoáy tim óc đến Non Nước, Mỹ Sơn, Phước Tường, Thường Đức, Quế Sơn…Vùng “đất cày lên sỏi đá” này lại được vỗ về bởi các sông Thu Bồn, Vu Gia và Hàn Giang . Nhờ vào cử chỉ vỗ về kia, Quảng Nam-Đà Nẵng thừa sức chịu đựng những nóng cháy da, những lạnh nhức xương. Phải chăng cực đoan nóng và cực đoan lạnh đã sản sinh ra “Quảng Nam tính”?

Quảng Nam hay cãi bởi vì Quảng Nam thường xuyên hồ nghi: sau lưng mỗi chân lý đều có mật ngọt.
Quảng Nam là quê hương của cách mạng bởi vì Quảng Nam căm thù bất công, căm thù tham ô, nhũng lạm.
Quảng Nam thích hài hước bởi vì Quảng Nam muốn dùng âm vang của tiếng cười để khỏa lấp niềm đau của kiếp dân sinh cùng khổ…
Quảng Nam không chấp nhận vua chúa hà khắc.
Quảng Nam không cúi đầu trước độc tài, độc đảng.
Quảng Nam ngạo nghễ với Hoàng Diệu, Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Phan Khôi và vô số danh nhân lẫy lừng khác…

Với lòng ngưỡng vọng vô biên hướng về Quảng Nam bướng bỉnh nhưng yêu nước thiết tha, dầu bó gối trong ngục tù Chí Hòa hay sống hiu quạnh trên đất khách quê người, bao giờ tôi cũng ấp ủ trong lòng một ước mơ. Ước mơ mai kia mốt nọ, Quảng Nam Trừng và Quảng Nam Đằng sẽ làm điều gì đó khiến cho khí phách Quảng Nam bừng bừng sống dậy. Giờ đây, mơ ước kia đã thành hiện thực.

Image
LS. Nguyễn Đăng Trừng
Ngày 02/11/2010, tại nghị trường của quốc hội Viêt Nam, Luật Sư Nguyễn Đăng Trừng, Chủ Tịch Đoàn Luật Sư Saigon kiêm Đại Biểu Quốc Hội đã dõng dạc lên án các loại công ty quốc doanh, ông xác quyết:

“Cách quản trị doanh nghiệp tại các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước hiện nay làm cho các tổng giám đốc các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước coi vốn nhà nước là tài sản của trời cho, của bá tánh, của thiên hạ và chi tiêu sử dụng thoải mái mà không cần tính toán hiệu quả, giống như một bà nội trợ đi chợ bằng tiền của người khác, mua lung tung, kể cả những thứ không xài cũng mua. Tình trạng này đã xảy ra tai Vinashin. Thủ tướng đã chỉ đạo không được mua tàu đã qua sử dụng, tàu cũ, nhưng Vinashin vẫn mua tàu Hoa Sen, tàu cũ.

Chính phủ đã dành quá nhiều ưu đãi cho các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước, coi doanh nghiệp nhà nước là con chính thức, con trong giá thú, còn các thành phần kinh tế khác như kinh tế tư nhân là con ngoài luồng, con nuôi, thậm chí các doanh nghiệp có vốn nhà nước không chỉ coi là con chính thức trong giá thú mà còn coi là quý tử. Con cái mà quá nuông chiều, hư hỏng là chuyện bình thường, dễ hiểu, trách nhiệm đó thuộc về chính phủ, thuộc về thủ tướng không thể thoái thác được”.
Image
LS. Lê Hiếu Đằng
Ngày 11/11/2010, trên mạng Bauxite Viêt Nam (boxitvn.net) ông Lê Hiếu Đằng – Luật gia, đương kim Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam – đã cho phổ biến bài viết có tựa đề:

“ Kiến nghị dừng khai thác bauxite do các nhà trí thức khởi xướng phải được công bố cho toàn dân và Quốc hội”. Bài này gồm bốn trọng điểm:

Trọng điểm một: Nhắc lại sự việc ông Lê Hiếu Đằng cùng nhiều nhân sĩ và trí thức Việt Nam đã hai lần ký tên vào Kiến nghị dừng khai thác bauxite. Thế nhưng kiến nghị này đã bị giới truyền thông trong nước làm như “không nghe, không thấy, không biết”.

Lê Hiếu Đằng nhận định:

“ Một kiến nghị quan trọng như thế phải được công bố rộng rãi để mọi đại biểu Quốc hội và toàn dân biết. Như thế là cung cấp thông tin đa chiều để các vị đại biểu Quốc hội và nhân dân lựa chọn. Đại biểu và nhân dân phải có điều kiện đối chiếu những luận điểm bênh vực khai thác bauxite của Bộ Công Thương và tập đoàn TKV với những luận điểm phản biện của các trí thức trong kiến nghị để suy nghĩ và rút ra kết luận”.

Lê Hiếu Đằng nói chuyện với truyền thông:

“ Tôi xin hỏi giới nhà báo nước ta: Tại sao các bạn phải sợ mà không dám đăng tải một kiến nghị có tầm quan yếu đến vân mệnh dân tộc, đã được lưu truyền khá lâu trên mạng, đã được chính thức gửi tới Quốc hội? Như thế có phải các bạn đã từ bỏ cái quyền quan trọng nhất của mình và cũng là yêu cầu cao nhất của nhân dân với các bạn: Thông tin trung thực những gì liên quan đến lợi ích của người dân? Tôi tin rằng tờ báo nào mạnh dạn đăng tải Kiến nghị nói trên sẽ chẳng bị ai bắt tù, ngược lại sẽ được nhân dân quý trọng.”

Trọng điểm hai: Lê Hiếu Đằng viết:

“Trong việc xây dựng các nhà máy bauxite, ta thấy nhân công Trung Quốc vào rất đông. Thậm chí có hiện tượng hình thành “làng Trung Quốc” ở Tân Rai. Chúng ta không thể không đặt câu hỏi: Trong số nhân công đó, có bao nhiêu quân nhân mặc áo dân sự? Họ làm gì ở đấy chúng ta có kiểm soát được không?...... Lịch sử quan hệ Việt-Trung buộc chúng ta phải cảnh giác. Bản chất, mưu toan bá quyền của người hàng xóm không hề thay đổi……. Trong khi đó, hình như tinh thần cảnh giác của các vị lãnh đạo lại khá hời hợt, cho nên mới để lọt những chủ trương nguy hiểm như khai thác bauxite, cho thuê rừng đầu nguồn.

Tại sao có thể như thế? Tôi không sao có thể trả lời được câu hỏi này. Có phải các vị chạy theo lợi ích kinh tế mà quên mối lo an nguy lâu dài của đất nước? Có phải các vị bị chi phối bởi các tập đoàn kinh tế? Đây là lúc các vị phải trả lời rõ ràng để giải tỏa những băn khoăn chính đáng của người dân.”

Trọng điểm ba: Lời kêu gọi.

Lê Hiếu Đằng kêu gọi các đồng chí của ông trong khu chiến cũ:

“Nhân đây tôi cũng xin qua mạng Bauxite Việt Nam để nhắn nhủ những đồng chí đã từng sát cánh chiến đấu với tôi ở nội thành Saigon – Gia Định, các chiến trường Đông Nam Bộ, ven Saigon… Đó là các đồng chí Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang, Lê Thanh Hải. Mong các đồng chí lên tiếng tranh đấu để ngăn chặn những nguy cơ cho đất nước như Dự án Bauxite và việc cho thuê rừng đầu nguồn nói trên.”

Lê Hiếu Đằng kêu gọi toàn đảng, toàn dân:

“Đã đến lúc tất cả chúng ta, cán bộ, đảng viên, nhân dân, phải có ý kiến, không thể nhân nhượng, không thể dĩ hòa vi quý với cái sai, cái nguy hại cho đất nước, cho dân tộc. Chúng ta không có gì phải sợ vì chúng ta trong sáng, chúng ta thực tâm yêu nước, thương nòi, chúng ta làm đúng theo luật pháp, hiến pháp.”

Trọng điểm bốn: Đặt vấn đề, nhận định vấn đề, và giải quyết vấn đề (còn gọi là phương pháp luận) là ba hiểu biết cốt lõi của khoa học lý luận. Muốn ngăn chặn thảm họa Bauxite và cho thuê rừng đầu nguồn và muôn vàn khó khăn khác của đất nước, vấn đề tiên quyết là người dân phải “không sợ”. Lê Hiếu Đằng tâm sự:

“Bản thân tôi cũng có những lúc hơi e ngại khi cần lên tiếng đấu tranh cho lẽ phải. Những lúc ấy tôi tự nhắc mình: Khi bị tòa án Vùng Ba Chiến Thuật Saigon kết án tử hình vắng mặt, mình vẫn coi khinh, vẫn mỉm cười và dấn thân chiến đấu, thì cớ gì bây giờ mình phải sợ hãi các đồng chí của mình?”

Lời tâm sự của Lê Hiếu Đằng là một khẳng định sâu sắc rằng : lòng coi khinh là nền tảng căn bản của tâm lý không sợ. Vì vậy muốn không sợ các “đồng chí” của mình thì hãy coi khinh các “đồng chí” ấy. Từ dũng khí không sợ kia, người Việt Nam cần phải làm gì để cứu nước? Trước tiên chúng ta hãy tìm đường hồi sinh nội lực dân tộc.

Ngày 15/11/2010, vẫn trên mạng Bauxite Việt Nam , dưới bài viết: “Dân Chủ là giải pháp cho các vấn đề của đất nước”, Lê Hiếu Đằng mô tả bức tranh nội lực dân tộc như sau:

“Ngày hôm nay hầu như ai cũng thấy đất nước đang phải đối mặt với những thách thức cực kỳ nghiêm trọng về mọi mặt kinh tế, môi sinh, quốc phòng, văn hóa xã hội, giáo dục. Nếu tình hình cứ phát triển như thế này thì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” khó lòng thực hiện.

Một vấn đề đáng lo hàng đầu đang nổi rõ: sự phân hóa xã hội sâu sắc, những người ăn bám vào tập đoàn kinh tế nhà nước, vào đầu tư công, vào buôn lậu, tham nhũng đang giàu lên rất nhanh trong khi đại đa số nhân dân cực khổ.

Thử nhìn thực trạng Saigon mà coi: Khu đô thị hiện đại sang trọng Phú Mỹ Hưng được coi là đô thị kiểu mẫu cùng với nhiều khu đô thị sang trọng khác, nhưng những ai đang sống ở đó? Trong khi người nông dân gốc gác lâu đời ở những khu vực này bị giải tỏa, hiện đi đâu, sinh sống thế nào, chúng ta có biết không?

Và trong khi một bộ phận không nhỏ dân cư thành phố sống thường trực trong cảnh nước ngập, sụp hố trên đường, bất an về đủ thứ tai nạn. Cách làm ăn của chúng ta liệu có khác gì thời kỳ tư bản man rợ: xua đuổi nông dân để chiếm đất, bần cùng hóa một bộ phận dân cư để công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bàn tay lông lá của các tập đoàn lợi ích ngày càng thọc sâu vào các chính sách quốc gia. Thật hết sức đáng lo. Lòng dân đang rất bất an, dân không thể tiếp tục tin yêu chế độ, nếu tình hình cứ tiếp tục thế này.”

Đứng trước bức tranh tiêu điều của nội lực dân tộc, Lê Hiếu Đằng dứt khoát nêu bật giải pháp cho Viêt Nam :

“Những vấn đề trên không thể nào giải quyết, nếu không nhanh chóng thực hiện dân chủ thực sự.”

Nhằm hổ trợ cho giải pháp của mình, Lê Hiếu Đằng nhấn mạnh:

“Đảng Cộng Sản phải nhận rõ vấn đề để chủ động chuyển đổi thể chế chính trị phù hợp với tình hình mới. Hãy nhìn sang Trung Quốc, ngay thủ tướng Ôn Gia Bảo cũng đã công khai cảnh báo nguy cơ của nước này, nếu không cải cách chính trị để dân chủ hóa xã hội.”

Một mặt kêu gọi đảng CSVN hãy “chủ động chuyển đổi thể chế chính trị”, mặt khác, Lê Hiếu Đằng vẫn nghiêm chỉnh thuyết phục người dân:

“Toàn dân không thể thụ động ngồi chờ chính quyền tự thay đổi. Trong đời hoạt động của mình, tôi luôn được dạy rằng: Không có người cai trị nào tự nguyện từ bỏ quyền lực, ghế ngồi của mình. Dân chủ chỉ có được qua đấu tranh. Đấu tranh mà không phá vỡ sự ổn định xã hội. Đó là bài toán phải giải quyết, nhưng quyết không thể nhân danh ổn định mà kìm hãm cuộc đấu tranh để xây dựng nền dân chủ.”

Dân chủ không phải là một ngôi nhà bằng gạch. Dân chủ phải được xây dựng bằng tim và bằng óc. Vì vậy cuộc đấu tranh cho dân chủ cần có sự hợp tác gắn bó giữa người dân và giới trí thức. Nghĩ về giới trí thức, Lê Hiếu Đằng viết:

“ Nhân tố quan trọng nhất trong việc hình thành xã hội dân sự là vai trò đầu tàu của trí thức. Phan Châu Trinh đã nói đến nhiệm vụ “Chấn dân khí” của trí thức. Bao giờ cũng vậy, người trí thức là người đặt lại nhiều cơ bản của xã hội. Người trí thức là người vạch đường cho xã hội tiến lên. Vì thế bây giờ, người trí thức không thể thụ động ngồi chờ, mà phải chủ động tiến lên và hành động cho nền dân chủ.”

Bài viết này đã ghi lại nguyên văn và chi tiết hầu hết những phát biểu của Nguyễn Đăng Trừng và Lê Hiếu Đằng về hiện tình Việt Nam và giải pháp thích nghi dành cho hiện tình vừa kể. Sự trích dẫn như vậy có chủ ý phản ánh trọn vẹn sự thực rằng: Nếu Nguyễn Đăng Trừng phát pháo đòi hỏi dân chủ hóa trong sinh hoạt kinh tế tại Việt Nam thì Lê Hiếu Đằng tiến xa hơn bằng cách kêu gọi mọi người Việt Nam, mọi thành phần Việt Nam hãy dũng cảm đứng lên đấu tranh triệt để và toàn diện cho một Việt Nam dân chủ. Những đòi hỏi và kêu gọi vừa kể bao gồm các nhận định chính xác, không khoan nhượng nhưng chừng mực, kèm theo đó là phần phương pháp luận khả thi. Hơn thế nữa, nhằm tạo khí thế cho phương pháp luận, Lê Hiếu Đằng hiên ngang hạ bút:

“Toàn dân không thể thụ động ngồi chờ chính quyền tự thay đổi…. Không có người cai trị nào tự nguyện từ bỏ quyền lực, ghế ngồi của mình. Dân chủ chỉ có được qua đấu tranh!” (Dân chủ là giải pháp cho các vấn đề của đất nước. Lê Hiếu Đằng)

Tuy nhiên, muốn đấu tranh người dân phải “không sợ”. Lê Hiếu Đằng khẳng định không do dự:

“Mà tại sao chúng ta phải sợ? Những người phải sợ là những người đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân. Chắc chắn họ sẽ bị nhân dân chối bỏ.” (LHĐ)

ĐỖ THÁI NHIÊN

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Cớ Sao Phải Sợ?

Tuệ Vân
tamthucviet.com
Những thời gian gần đây trong nước đã có những phát biểu tạo sự chú ý cho dư luận. Một trong những phát biểu đó là lời tuyên bố của ông Lê Hiếu Đằng, Luật gia, nguyên Phó Tổng Thư ký UB TƯ Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình VN, nguyên Phó Chủ tịch MTTQVN TP. SÀIGÒN. Hiện là Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc UBTƯMTTQVN. Ông Lê Hiếu Đằng cho rằng “Toàn dân không thể thụ động ngồi chờ chính quyền tự thay đổi. Trong đời hoạt động của mình tôi luôn được dạy rằng: không có người cai trị nào tự nguyện từ bỏ quyền lực, ghế ngồi của mình. Dân chủ chỉ có được qua đấu tranh. Đấu tranh mà không phá vỡ sự ổn định xã hội, đó là bài toán phải giải quyết, nhưng quyết không thể nhân danh ổn định mà kìm hãm cuộc đấu tranh để xây dựng nền dân chủ.”

Những phát biểu trên của ông Lê Hiếu Đằng đã nói lên điều gì? Liệu nhà nước độc tài cộng sản Việt Nam có thể nào gán ghép cho lời phát biểu của ông Lê Hiếu Đằng với tội hình sự 88, âm mưu lật đổ chính quyền hiện hữu?

Đi vào nội dung câu nói thì phát biểu của ông Lê Hiếu Đằng đã chỉ ra được thực trạng của chế độ độc tài là không chia xẻ quyền lực cai trị với bất cứ ai. “Dân chủ chỉ có được qua đấu tranh”.

Cũng theo ông Đằng, đường lối của chính quyền cộng sản Việt Nam ngày nay đã đi ngược lại với lợi ích của đại đa số dân tộc Việt Nam. Ông Đằng nói: “Cách làm ăn của chúng ta liệu có khác gì thời kỳ tư bản man rợ: xua đuổi nông dân để chiếm đất, bần củng hóa một bộ phận dân cư để công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bàn tay lông lá của các tập đoàn lợi ích ngày càng thọc sâu vào các chính sách quốc gia. Thật hết sức đáng lo. Lòng dân đang rất bất an, dân không thể tiếp tục tin yêu chế độ nếu tình hình cứ tiếp tục thế này. Những vấn đề trên không thể nào giải quyết nếu không nhanh chóng thực hiện dân chủ thực sự.”

Lo ngại của ông Đằng là đúng, người dân Việt Nam không thể ngồi yên, chịu đựng mãi những cảnh tàn nhẫn bất công của chế độ biến thái đang liên kết với những nhóm lợi ích thẳng tay tướt đoạt tài sản, đất đai nhà cửa của người dân, biến dân thành những người vô gia cư, với những số tiền đền bù không đủ sống, gia đình phải phân ly, trong khi những quan chức đảng viên của chế độ thì cười hả hê qua những phần tiền được chia chát từ các nhóm quyền lợi.

Thấy được sự mĩa mai của sự ám ảnh của cái còng sắt trước tội hình sự 88, trước những đôi mắt cú vọ của đồng chí, ông Lê Hiếu Đằng đã lên tiếng trấn an ông và các đồng chí của ông: “Trong cuộc đấu tranh cho dân chủ, chúng ta không có gì phải sợ, tôi muốn nhắc lại điều tâm niệm này cho chính mình mà cũng là điều muốn nhắn gửi các đồng chí, đồng đội, bạn hữu của mình và tất cả những ai còn trăn trở với những vấn đề của đất nước, của dân tộc. Mà tại sao chúng ta phải sợ? Những người phải sợ là những người đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân. Chắc chắn họ sẽ bị nhân dân chối bỏ, bị lịch sử phủ nhận.”

Có người cho rằng những lời nói trên của ông Đằng tuy đúng nhưng đến quá muộn. Ông Nguyễn Hộ vào thập niên 80s đã phát biểu: “Hơn 60 năm đi theo con đường cách mạng Cộng Sản, nhân dân Việt Nam đã chịu đựng vô vàn hy sinh và rồi cuối cùng chẳng được gì cả. Đất nước vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu như thủa xưa, nhân dân không được no ấm và hạnh phúc, không được tự do và dân chủ. Đó là một sỉ nhục.”

Những người lạc quan tuy nhiên lại bảo rằng đấu tranh không lúc nào bị coi là muộn, miễn là có tấm lòng thành thật và có sự quyết tâm.

Đúng thế, chế độ cộng sản đang hủy diệt đất nước. Tương lai dân tộc đang trên bờ vực thẳm. Cha ông Việt Nam ngày xưa đã xả thân vì hạnh phúc cho những đời sau. Ông Lê Hiếu Đằng ít nhiều cũng đã có sự trăn trở của ông, còn những đồng chí cật ruột của ông nay đâu? Đấu tranh cho đất nước cớ sao phải sợ?

Tuệ Vân
Ngày 09 tháng 12 năm 2010

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Những câu hỏi.... Đã bao giờ bạn nghe được một cuộc cãi vã mà toàn là những câu hỏi, mà không hề có câu trả lời chưa?

Câu chuyện xẩy ra vào một buổi tối, người chồng về nhà muộn…

- Sao anh về muộn thế?
- Mấy giờ rồi mà em bảo muộn?
- Anh không có đồng hồ à?
- Em tưởng cái đồng hồ chết tiệt của anh không bao giờ chết ư?
- Thế sao anh không hỏi người ta?
- Người ta là ai? Em định ám chỉ người nào thế?
- Anh tưởng là tôi không biết gì ư? Thế anh lê la ở những xó xỉnh nào mà đến bây giờ mới vác mặt về nhà?
- Em học ở đâu những cách ăn nói với chồng như vậy?
- Thế anh bảo tôi phải ăn nói với anh như thế nào?
- Em không thể tìm được lời lẽ có văn hóa hơn một chút hay sao?
- Thế anh tưởng rằng anh có văn hóa lắm ư? Anh đã nốc bao nhiêu bia và rượu rồi?
- Can gì đến em?
- Tại sao anh cứ trả lời câu hỏi của tôi bằng câu hỏi của anh?
- Tại sao không?
- Tôi hỏi lại: anh đã nốc bao nhiêu bia và rượu rồi?
- Tiền đâu mà bia với rượu?
- Thế thì lương mới lĩnh đâu hết rồi?
- Em tưởng rằng lương anh nhiều lắm à?
- Anh đưa hết tháng lương cho con đĩ nào vậy?
- Em cho rằng ngoài em ra, mọi người phụ nữ khác đều là con đĩ cả hay sao?
- Không phải là đĩ thì tại sao lại đưa hết tiền cho nó? Hả…? Hả…?
- Tại sao cô lại tru tréo lên như thế?
- Không tru tréo lên để anh muốn làm gì thì làm à?
- Bơn bớt cái mồm đi có được không?
- Tôi không bớt thì anh định làm gì tôi?
- Cô không thách thức tôi đấy chứ?
- Anh có dám không?
- Đến nước này thì tại sao tôi lại không dám?

Post Reply