Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Wikileaks vật lộn để tồn tại trên mạng

Image
Julian Assange trong một cuộc họp báo ở Geneva hồi đầu tháng 11. Ảnh: AFP.
Tổng biên tập Wikileaks Julian Assange cảnh báo nếu có bất cứ chuyện gì xảy ra với ông và Wikileaks thì 100.000 thư tín được mã hóa sẽ tự động được tung ra.

Wikileaks đang đứng trước hàng loạt thách thức. Sau khi bị Amazon của Mỹ từ chối cung cấp tên miền sáng qua, Wikileaks phải từ bỏ địa chỉ wikileaks.org.

Nhưng chỉ 6 giờ sau đó Wikileaks nhanh chóng chuyển sang địa chỉ mới là wikileaks.ch. với tên miền của Thụy Sĩ.

Tuy nhiên, địa chỉ này cũng đã vừa bị sập vào tối qua.

Bản thân người sáng lập Wikileaks Julian Assange, 39 tuổi, người Australia, đang đối mặt với một lệnh bắt mới của Interpol với tội danh cưỡng hiếp và quấy rối tình dục. Trước đó, người phát ngôn của trang web đã tỏ ý lo ngại trước sự an toàn của Assange khi ông ta nhận rất nhiều lời đe dọa giết.

Trả lời các câu hỏi của độc giả tờ The Guardian, Anh, hôm qua, Assange tuyên bố nếu có bất cứ điều gì xảy ra với ông ta (bị bắt hoặc bị giết) hoặc với Wikileaks thì 100.000 bản sao mã hóa của các tài liệu thư tín bí mật sẽ tự động được công bố.

"Các mối đe dọa nhắm vào sự tồn tại của chúng tôi xuất phát từ việc công bố tài liệu. Tuy nhiên, chúng tôi đã có các biện pháp đề phòng, sao cho vẫn có thể đủ khả năng đương đầu với một siêu cường", Assange viết.

Guardian là một trong 5 tờ báo hàng đầu thế giới được Wikileaks lựa chọn để gửi hơn 250.000 thư tín ngoại giao bí mật của các đại sứ quán, lãnh sứ quán Mỹ hôm 28/11.

Hiện một đảng của Thụy Sĩ, Swiss Pirates Party, đề nghị cung cấp 21 địa chỉ trang web thay thế cho Wikileaks, nhiều trong số này là các tên miền của châu Âu. Swiss Pirates Party được thành lập năm ngoái với tôn chỉ ủng hộ sự tự do và minh bạch Internet.

Trong cuộc nói chuyện với các độc giả của The Guardian, Julian Assange cho biết việc Amazon đẩy Wikileaks ra khỏi máy chủ là một minh chứng cho việc "tư nhân hóa quyền kiểm duyệt của nhà nước" ở Mỹ và là một "vấn đề nghiêm trọng".

"Những cuộc tấn công này sẽ không ngăn cản được sứ mệnh của chúng tôi, nhưng nó sẽ réo lên hồi chuông báo động về sự cai trị bằng luật pháp ở Mỹ", Assange tuyên bố.

Nhà cung cấp địa chỉ internet Amazon chính thức "đá" Wikileaks ra khỏi máy chủ vào lúc 3h sáng qua (giờ GMT). Ngay sau đó, Wikileaks chỉ có thể được vào bằng một chuỗi ký tự số, gọi là địa chỉ DNS, và hoàn toàn mất địa chỉ wikileaks. org.

Amazon khẳng định việc từ chối cung cấp dịch vụ cho Wikileaks là để bảo vệ cho 500.000 khách hàng khác đang bị ảnh hưởng bởi các cuộc tấn công mạng dồn dập nhắm vào trang web này. Nhà cung cấp địa chỉ mạng này cũng bác bỏ việc bị sức ép từ chính phủ.

Tuy nhiên, theo các nguồn tin, động thái của Amazon diễn ra sau khi Ủy ban an ninh nội địa của Thượng viện Mỹ tiến hành phiên chất vấn về quan hệ của các công ty với Wikileaks.

Thượng nghị sĩ Joe Lieberman, Chủ tịch Ủy ban an ninh nội địa của Thượng viện, được cho là không trực tiếp yêu cầu Amazon từ bỏ Wikileaks. Ông chỉ nói rằng ông đã muốn Amazon hành động sớm hơn khi kêu gọi các nhà cung cấp dịch vụ khác không dung chứa Wikileaks.

Hải Minh

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Nằm Vùng? Ai? Ở Đâu?

Phan Nhật Nam


Suốt hai năm nay ẩn thân nơi chốn tuyết phủ, “nóc nhà nước Mỹ” nầy, quả tình tôi không muốn dính dấp đến những chuyện “cặn bã tồi tệ”, với người và việc trong tranh chấp chính trị. Nhưng nay, nhân người bạn trở lại vụ việc cũ với câu hỏi: “Làm sao năm 1995, ông bị gán cho tiếng “Việt Cộng nằm vùng? !” mà kẻ chụp cái nón cối kia không ai khác là những người cùng ông chung nơi xuất phát, đồng trình độ khả năng kỹ thuật quân sự và vị thế chính trị - những người thuộc Hội Võ Bị Đà Lạt !!”Tại sao đến nông nổi như thế? Tại sao?

Ngày 30 tháng Tư 1995, lên đường từ San Jose, chốn tôi đã đến Mỹ đầu tiên do bảo trợ của Gia Đình Mũ Đỏ, để trả phần nợ ân nghĩa đối với những người lính đã cùng tôi sống, chết hết một đời người, tôi đi tiếp đến 38 nơi trên toàn thế giới để nói với những cộng đồng Người Việt một điều tận cùng dẫu bị bó tay, bẻ súng, cùng đành thất trận, nhưng chính chúng ta – Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa – là người nhận sứ mệnh Bảo Quốc An Dân trước Lịch Sử Dân Tộc, và đã phải trả giá mối thống hận không hoàn thành nhiệm vụ kia bằng Máu và Mạng Sống của mình.

Những tưởng với cố gắng như trên sau 30 năm “ở lính và ở tù”, chí ít cũng làm cho những người khắc nghiệt nhẫn tâm nhất phải nhận ra: Lòng tôi trước sau hằng sắc son thủy chung với một màu cờ đã chọn lựa từ buổi thanh xuân (mà nay đã gần hết một đời người với tuổi quá 50). Nhưng tại sao, từ đâu đã xẩy ra sự kiện ác độc bất công như trên? Chắc chắn phải có một trung tâm quyền lực với những con người cực tham hiểm điều hành một cách có hiệu quả âm mưu lăng nhục, vấy bẩn, đánh phá tất cả không từ một ai. Thế nên, hôm nay, tôi phải trở lại câu chuyện cũ để xác nhận một điều cay đắngchúng ta đã bị bức hại bởi chính kẻ nội thù ngụy trang trong đội ngũ chúng ta - những tên VC nằm vùng.


I. VỤ THỨ NHẤT

Trong nỗi nhục rã rời sau ngày 30 tháng Tư, 1975, khi lâm cảnh tại những trung tâm “đăng ký trình diện hoc tập cải tạo”, chúng tôi còn phải gánh chịu thêm tình trạng bàng hoàng của kẻ bị lừa gạt, khi nhận ra những người hôm qua còn là “huynh đệ, bằng hữu”, nay thoắt trở thành “cán bộ” với những y phục xa lạ thô kệch, chiếc nón cối chùm hụp và đôi dép râu quê mùa. Lẽ tất nhiên những kẻ nầy không quên đeo trên người khẩu K 54 và chiếc băng đỏ. Tôi và Triệt, người bạn cùng khóa, gặp Lưu Thừa Chí (cũng chung khóa 18 Đà Lạt) trong tình thế bẽ bàng đáng hổ thẹn nầy. Chí ngồi ghi danh người đến “đăng ký” với lon thượng úy – ba ngôi sao và một vạch ngang, địa điểm trường Trần Hoàng Quân, Chợ Lớn.

Thật sự, anh ta cũng có vẻ ngượng khi Triệt hỏi gằn với cách mĩa mai: Mầy làm cái gì mà kỳ cục như thế nầy ? Ờ … ờ tại vì kỳ làm ở Phong Dinh, tao có vài liên hệ với họ nên bây giờ họ nói tao giúp trong buổi chuyển tiếp. Tôi đứng xa chỉ nghe Triệt đến kể lại. Thôi kệ nó, mầy và tao lần nầy lại ở chung với nhau như mười bốn năm trước trên trường Đà Lạt, chỉ khác bây giờ là trại tù việt cộng, đất trời tính ghê quá, con người không biết đâu mà lường.

Ngày 23 tháng 6, 1975, chúng tôi vào trại Long Giao, Long Khánh, câu chuyện về một người gọi là “thiếu tá an ninh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mang lon thượng úy cộng sản ngồi ghi danh”, anh em không ai muốn nhắc lại – Vì hiện tượng phản trắc đã lộ mặt và cùng khắp. Tồi tệ hơn, những kẻ thay màu áo nầy hãnh diện với “sự nghiệp tráo trở của mình – thành tích “có công với cách mạng”. Chữ nghĩa được dùng với toàn bộ tính đê tiện khinh miệt nhất. Tôi và Triệt mất liên lạc với nhau khi chuyển ra Bắc, sau chuyến đi địa ngục trên tàu Sông Hương, khởi hành từ Tân Cảng, Sàigòn, đúng Ngày Quân Lực 19 tháng Sáu, 1976.

“Mười tám” năm sau, 1994, tôi và Triệt lại gặp nhau ở Houston, đường Beechnut. Hai chúng tôi đã thật sự ở tuổi già sau ba mươi năm “tuổi tù và tuổi lính”, nhưng Triệt vẫn giữ nguyên cách thẳng thắng mạnh mẽ của người miền Nam như đang kỳ trai trẻ. Lần gặp gỡ bắt đầu với câu hỏi gay gắt như đã chực sẵn từ lâu:

- Mầy nhớ vụ thằng Chí khóa mình trình diện năm 1975 không?

- Thằng Chí thiếu tá an ninh quân đội, cũng là thượng úy việt cộng chứ gì? Tôi cũng sẵng giọng không kém.

- Hắn qua Mỹ rồi đó, HO, đi trước khi mầy ở tù về, bây giờ đang ở DC, kỳ đại hội Võ Bị tháng 7 vừa rồi, nó có mặt trong ban tổ chức!!

- Mầy có giỡn không, nó là Việt cộng chính gốc, sao lại đi HO?

Câu chuyện được kể lại với những chi tiết bất ngờ, cho dẫu kẻ có trí tưởng tượng phong phú cũng khó lường phần bố cục.

Bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 80, một số ít sĩ quan miền Nam thuộc những đơn vị chuyên môn như hành chánh tài chánh, quân cụ, quân nhu lần lượt được trở về chịu sự quản chế của địa phương sở tại. Khóa chúng tôi do một may mắn hiếm có (chỉ xẩy ra một lần với khóa 18), vào giai đoạn ra trường (cuối năm 1963), khi chiến tranh tăng cường độ, tổ chức quân đội mở rộng nên cần một số sĩ quan về các đơn vị chuyên môn. Những người may mắn nầy sau 1975 nhận thêm một lần “hên”, họ được thả sớm hơn so với những người bạn ở các đơn vị tác chiến, mà theo đánh giá của cán bộ cộng sản thì món “nợ máu của nhân dân” chia ra bốn cấp: “Nhất Pháo, nhì Phi, tam Rằn Ri, tứ Chính Trị” (ý nói, lính pháo binh, phi công, biệt kích, nhảy dù, biệt động, thủy quân lục chiến và chiến tranh chính trị là những đơn vị đứng hàng đầu tội phạm). Nhóm sĩ quan may mắn của khóa 18 kia vào ngày 23 tháng 11, 1981 (kỷ niệm ngày mãn khóa học mười tám năm trước, 23 tháng 11, 1963) tập trung tại nhà Nguyễn Ngọc Anh, biệt thự gia đình vợ, đường Pasteur cũ. Mười mấy anh, chị lôi thôi, tơi tả vì trận đòn thù từ 1975 đến nay vẫn chưa hồi tỉnh, tính sổ lại 198 mạng Cùi của ngày mãn khóa nay chỉ còn không tới 20, với 50 người tử trận vĩnh viễn không về, mươi kẻ tỵ nạn, vượt biên, số lớn còn lại hiện sống, chết không nên dạng người nơi các trại tù trong Nam, ngoài Bắc.

Trong giây phút mừng tủi của lần hội ngộ, bỗng nhiên, Lưu Thừa Chí xuất hiện. Mọi người đồng im bặt. Sau cùng, có người gắng gượng hỏi:

- Anh còn đến với chúng tôi làm gì?
- Tôi cũng đi cải tạo như các bạn, ở trại Cây Trâm!

Chí giả lả làm hòa, hắn đưa Giấy Ra Trại để làm bằng, và đề nghị được góp phần tiền lớn để cùng mua thức ăn, đồ uống về chung vui buổi họp mặt. Không khí hóa nặng nề, từng người lặng lẽ rút lui.

- Mầy có mặt hôm đó không? Tôi nôn nóng hỏi Triệt, cố tìm nên đầu mối.

- Có, năm đó tao mới về, về được một tháng thì Tết Tây.

- Thế thì nó cũng đi tù như bọn mình sao?

- Tù chỗ nào, sao mầy ngu vậy, thiếu tá an ninh quân đội thì phải đi ra Bắc chứ; với lý lịch an ninh quân đội thì chẳng phải cần đến cấp tá, chỉ thiếu, trung úy hoặc hạ sĩ quan nó còn tìm cớ để bắn chết không cần xét xử như ở trại Xuân Phước, Tiên Lãnh ngoài Trung. Thiếu tá an ninh quân đội nào để lại ở trại Cây Trâm, Bình Dương như thằng nầy?! Triệt gắt cao giọng lộ vẻ bực tức vì tôi vẫn chưa rõ đầu mối câu chuyện.

- Trại Cây Trâm ở đâu, ngày ở Long Giao không nghe ai nói đến.

- Đó là trại tụi hình sự, cũng có sĩ quan, nhưng chỉ có cấp thiếu, trung úy, mà là thành phần gây vụ việc sau 1975, chứ không là đám tập trung tháng 5, tháng 6, năm 75 như bọn mình.

- Rồi sao nữa? Tao ngao ngán.

- Sao nữa, đ.m. nó đi HO trước hơn ai hết, kỳ đại hội 7 vừa rồi ở DC, nó góp 1000 đồng cho ban tổ chức.

- Tiền đâu mà một thằng HO có ngay một ngàn để đóng?

- Mầy tìm nó mà hỏi!! Triệt gầm gừ chấm dứt câu chuyện với cách chưởi thề chậm rãi từng tiếng một.

Những nhân sự như Lưu Thừa Chí kể trên sẽ mãi mãi ở trong bóng tối với khả năng tầm thường, đối tượng công tác hạn chế riêng của nó, và giá như bị phát hiện (như đã từng bị nhận ra lý lịch), thì người quốc gia cũng chỉ giải quyết bằng biện pháp “đóng cửa dạy nhau”, coi như trường hợp “xử lý nội bộ” (nói theo cách cộng sản), bởi người phe quốc gia vốn dễ tính, không chấp nhứt đối với những kẻ tráo trở, bội phản, cũng do những kẻ nầy lỡ đã một lần là bạn bè cùng khóa, cùng hội, cùng trường. Nói ra sợ “xấu hổ cả đám”. Nhưng, vì năm 1994 kia, tôi mới qua Mỹ được mấy tháng, lòng còn đang sôi sục ‘những chuyện cần được kể lại”, với ý hướng “ngây thơ” – người bên ngoài cũng đang muốn nghe về những câu chuyện kia – dẫu những vụ việc nói ra gây nặng lòng, cau mặt.

Ba mươi khóa Đà Lạt, trước và sau khóa 18 (khóa chúng tôi bao gồm Lưu Thừa Chí), không hề có trường hợp: Thiếu úy tốt nghiệp trường Đà Lạt được chọn đi ngành An Ninh Quân Đội ngay lúc mãn khóa. Bởi, sĩ quan ngành tình báo nầy phần đông, nếu không nói hầu hết do ngành an ninh tuyển chọn từ các đơn vị, được huấn luyện ở những trung tâm quân báo, tình báo trong nước và ngoại quốc, sau một quá trình sưu tra an ninh đặc biệt (thời Đệ Nhất Cộng Hòa, trách nhiệm sưu tra thuộc một bộ phận của Văn Phòng Nghiên Cứu Chính Trị của cố vấn Ngô Đình Nhu). Thế nên, sự kiện viên thiếu úy tên gọi Lưu Thừa Chí được tuyển chọn đi ngành an ninh quân đội từ ngày 23 tháng 11, 1963, không thuộc thẩm quyền chỉ định của Ban Tham mưu Trường Võ Bị, cũng không thuộc Phòng Tổng Quản Trị/Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH – Nó xuất phát từ cấp độ cao hơn. Cao đến chỗ nào, chúng ta không thể biết, cũng không hề có khả năng được biết những “bí mật quốc gia” từ dinh Tổng thống, dinh Thủ tướng, bộ Quốc phòng – Những bí mật hằng được đám tình báo chiến lược Việt cộng nắm rõ đầu mối, ngọn nguồn.

Chúng tôi không hề quan trọng hóa một sự kiện nhỏ nhặt, vì sau nầy, khoảng năm 1972, Chí để lộ cơ sở công tác: Y thả một nữ cán bộ cộng sản bị bắt giam tại Ty An Ninh Quân Đội Phong Dinh. Âm mưu vỡ lở, Trung Tá Nguyễn Hữu Khiếu, Tiểu Khu Phó thụ lý nội vụ. Chí cầu cứu Trung Tá Khiếu với lý lẽ: “Bị mê hoặc bởi sắc đẹp cô gái, chứ không phải do công tác nội tuyến”.

Trung Tá Khiếu nay ở Montréal, kể lại câu chuyện nầy với Hội Võ Bị địa phương ngày 20 tháng 10, 1996, có cá nhân tôi tham dự. Năm 1960 - 1963, ông Khiếu là Đại úy dạy vũ khí ở trường Đà Lạt. Do bản chất trung hậu, và cũng có phần tin, “Chí lỡ dại do dáng dấp quê kệch, xấu trai” nên ông Khiếu che chở Chí vì tình thầy trò ở giai đoạn 1972 kia. Nhưng, sau nội vụ, do từ một “gốc” lớn nào đó ở Sài Gòn lo an ninh, phản tình báo trong cộng đồng người Hoa. Lưu Thừa Chí cũng có thể đọc là Liêu thay vì Lưu, vốn giòng Minh Hương, người Việt gốc Hoa.

II. VỤ THỨ HAI

Năm 1957 – xin nhắc lại, trước năm 1975 mười tám năm trước, trước vụ việc Lưu Thừa Chí như vừa kể trên gần một thập niên – một thanh niên tuổi chưa tới hai mươi, lội sông Bến Hải vượt tuyến vào Nam. Anh ta đến khai cùng đồn cảnh sát Gio Linh là em ruột của viên tướng Tư lệnh Quân khu 2, đóng tại Huế. Viên tướng cho người ra đón em, đem về hỏi lý do vượt tuyến. Anh thanh niên tỏ bày, vì có anh là tướng lãnh miền Nam, nên gia đình ngoai Bắc bị vây khổn chính trị ngặt nghèo, bản thân anh ta không được đi học và chịu cảnh sống cơ cực kinh tế, hoặc người anh cả (anh ông tướng) vốn là Trung tá binh chủng phòng không không quân bộ đội Miền Bắc, dẫu có công trận lớn vẫn không được thăng cấp.


Được anh nuôi ăn học, người thanh niên sau bậc trung học, tình nguyện đi lính với hoài bão nói ra lời: “cũng muốn được sự nghiệp vinh quang trong quân đội như anh”. Anh ta tốt nghiệp khóa sĩ quan trừ bị Thủ Đức, đổi về binh chủng hải quân, Bộ Tư Lệnh vùng 4 Sông Ngòi ở Mỹ Tho. Những năm 70, anh lên Thiếu tá, được mệnh danh là “VC killer”, do thành tích, cuối mỗi cuộc hành quân, anh kéo xác Việt cộng sau tàu chạy dọc bến sông để biễu dương ý chí “chống cộng”!

Những ngày cuối tháng 4, 1975, viên tướng cho người em út, Phó quận hành chánh quận Tân Bình, Gia Định về Mỹ Tho, kêu vị Thiếu tá “VC killer” về Sài Gòn để cùng gia đình lớn đi Mỹ. Thiếu tá “VC killer” mạnh mẽ khẳng định với người em: “Tui chỉ là thiếu tá, chú là quốc gia hành chánh, có gì mà phải sợ “cách mạng”, ông ấy là tướng mới cần đi Mỹ, còn chú với tôi thì ở lại “xây dựng đất nước”, hòa bình thống nhất rồi ta còn mong ước gì hơn”.

Sau 30 tháng Tư, 1975, thiếu tá “VC killer”, người em quốc gia hành chánh đồng “hồ hởi, phấn khởi trình diện học tập cải tạo”. Người em vào trại Long Thành, Biên Hòa; thiếu tá “VC killer” ra trại 1, Đoàn 776, xã Việt Hồng, Hoàng Liên Sơn. Gặp tôi đi vác nứa giữa đường vào Cốc, thiếu tá “VC killer” đưa tay ngoắc thân ái và hỏi thăm về người em quốc gia hành chánh – cũng là em rể, lấy em gái tôi, Phan Ph. Kh.

Một năm sau, khoảng mùa Hè 1977, một cán bộ mặc thường phục từ Hà Nội đến bộ chỉ huy đoàn 776, gặp viên chính ủy đoàn. Thiếu tá “VC killer” ra khỏi trại, về Ban-Mê Thuột hành nghề giữ xe đạp với căn cước mới: “thiếu tá ngụy quân học tập tiến bộ, trở về do chính sách khoan hồng nhân đạo của cách mạng”. Chỉ có một điều không ghi vào lý lịch, ấy là, đối tượng công tác của thiếu tá “hải quân ngụy - VC killer” trong giai đoạn mới là những ai. Hoặc là thành phần “Fulro phản động đang âm mưu nổi loạn ở Tây Nguyên”, cũng có thể là đám cán bộ cộng sản mới được bố trí vào Tây Nguyên mà thành phần chưa đồng nhất, nên cần phải theo dõi, báo cáo công tác theo hệ thống riêng của Cục Bảo Vệ Chính Trị thuộc quyền chỉ huy trực tiếp duy nhất của Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng – Cơ quan bao trùm cả Bộ Nội Vụ, lẫn Cục Tình Báo Hải Ngoại.

Thiếu tá “VC killer” hay người thanh niên vượt tuyến là Thái Quang Chức; người anh cả là Trung Tá Thái Quang Hồng, binh chủng Phòng Không Không Quân bộ đội miền Bắc; người anh thứ là Thiếu Tướng Thái Quang Hoàng, Tư Lệnh Quân Khu 2. Từ năm ấy đến nay, trên đất nước Việt Nam, nơi hải ngoại, hằng vạn, triệu người đã chết. Chỉ một số còn sống, nhưng vẫn “ - giữ nguyên bí số” - Những người như Thái Quang Chức, Lưu Thừa Chí và rất nhiều - rất rất nhiều nữa - những kẻ vô danh, tầm thường, chuyển công tác theo “hệ thống ngang – từ nhân viên Cục Bảo Vệ Chính Trị lên thành nhân viên Cục Tình Báo Hải Ngoại – dưới quyền chỉ đạo nhất quán thuộc “hệ thống dọc bất khả thay thế”: Ban Tổ Chức Trung Ương ĐCSVN.


III. VỤ THỨ BA


Bắt đầu mùa Hè năm 1990, chương trình ODP được thực hiện với đối tượng cựu tù nhân cải tạo qua kế hoach H (Chỉ danh nầy bị hiểu nhầm một cách có ý nghĩa thành HO), cá nhân tôi cũng nộp hồ sơ theo thủ tục chung tại Trung Tâm Xuất Nhập Cảnh 333, Nguyễn Trại, Sài Gòn (trước Tổng Nha Cảnh Sát đường Võ Tánh cũ). Sau thời gian chờ đợi, trung tâm trả lại hồ sơ với lý do: “trên chưa có quyết định về những trường hợp thuộc diện như cá nhân tôi”. Sau vài lần vượt biên không thành, hơn nữa các trại tỵ nạn cũng đang có kế hoạch đóng cửa, nhạc mẫu tôi thử cố gắng thêm một lần nhân chuyến ra Bắc thăm họ hàng, với đầu mối – Trung Tâm Trung Ương, Cục Xuất Cảnh, Bộ Nội Vụ, 40 A Hàng Bài Hà Nội. Trung tâm ra giá, 500.000 đồng tiền Việt, cụ tặng thêm 100.000 đồng cho nhân viên làm biên lai thâu nhận hồ sơ. Ngày hôm sau, trung tâm Hàng Bài trả lại hồ sơ với lý do tương tự của đường Nguyễn Trải. Cuối cùng, HĐ Ngoạn và PĐ Vượng, (hai người bạn thân, biết hầu hết nhân sự và vụ việc của Sài Gòn trước lẫn sau năm 1975, do đường giây giang hồ riêng) chỉ cho tôi đến địa chỉ 206 Nguyễn Trãi, cạnh rạp chớp bóng Khải Hoàn, sát cổng xe lửa số 1.

Cơ sở không bảng hiệu, nhân viên mặc thường phục đón khách với thái độ “chúng tôi đã biết rõ tất cả”. Mà quả thật như thế, người tiếp tôi bắt đầu với câu chào “anh Nam có mạnh khỏe không?” Anh ta đứng dậy, mở tủ, nói với vẻ tự tin: “Tôi biết anh nhiều lắm!!” Rồi anh cho coi Chứng Chỉ Nhảy Dù do Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn Nhảy Dù cấp, Trung Tá Trần Văn Vinh ấn ký, với lời giới thiệu: “Trung úy Trần Trung Phương, gốc đại đội 33 Tiểu Đoàn 3 Dù, và đơn vị cuối, Biệt Đội Quân Báo Điện Tử sư đoàn”.

Nhưng, Trần Trung Phương không chỉ là “sĩ quan nằm vùng nơi Biệt Đội Điện Tử Sư Đoàn Dù”, mà còn là “nhân viên đặc vụ của sở phản gián Bộ Nội Vụ cộng sản”, nên anh ta đã có kết luận mau chóng: “Tôi có thể làm hồ sơ để anh ra khỏi nước trong vòng tám tháng là tối đa, gia đình anh tại Mỹ trả 2000 đô la cho người chúng tôi bên đó, và thêm một vài điều kiện khác .v.v... ”

Lẽ tất nhiên, tôi không thể thực hiện những đề nghị của Phương, từ 2000 đô la đến “những điều kiện khác”. Sau nầy, năm 1993, để giúp một người quen giải quyết một khó khăn tương tự, tôi đi tìm Trần Trung Phương ở địa chỉ mới, một văn phòng trong khách sạn góc đường Nguyễn Văn Trỗi (Cách Mạng cũ) và Trần Quang Diệu. Nhân viên văn phòng nầy cho biết Phương đã có mặt ở Nam Cali, vùng Westminter với nhiệm sở mới là một văn phòng dịch vụ du lịch.

Những bãi đáp đổ quân, vị trí hỏa tập tiên liệu, toa độ dội bom B52 của Sư Đoàn Nhảy Dù trong chiến dịch Hạ Lào Lam Sơn 719 đã bị quân báo cộng sản giải mã từ nhiều đầu mối. Một trong những đầu mối hiểm nghèo kia có sự tham dự rất tích cực và hiệu quả từ Biệt Đội Điện Tử và Phòng Hành Quân của sư đoàn. Và tại cơ quan hành quân tối mật nầy đã không cần đến một “sĩ quan nằm vùng” với cấp bậc trung úy như Trần Trung Phương, nhưng chỉ cần một hạ sĩ quan vẽ phóng đồ hành quân – viên Hạ Sĩ Nhất mà tôi đã từng thấy mặt, luôn làm việc im lặng, chăm chỉ của phòng 3 khi đơn vị còn mang phiên hiệu Lữ Đoàn Nhảy Dù, năm 1963.

Ngày 30 tháng 4, 1975 viên hạ sĩ quan nầy hướng dẫn trung tá Nguyễn Văn Tư, Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Sư Đoàn qua Camp Davis, Tân Sơn Nhất gặp cán bộ cộng sản để bàn giao hồ sơ trận liệt của đơn vị mà y đã lưu giữ, cập nhật từ mười, hai mươi năm qua.


LỜI KHẨN CẦU VIẾT VỚI GIÁ MÁU

Tôi đã quá tuổi để bắt đầu một dự định mới, cho dẫu kế hoạch dự trù ấy cần thiết, cấp bách đến bao nhiêu, bởi thời gian còn lại không cho phép và việc chưa hoàn tất lại quá nhiều – Nhưng tôi phải có bổn phận chỉ đích danh những cá nhân tác hại điển hình như Lưu Thừa Chí, Trần Trung Phương, TQ Chức, những viên hạ sĩ quan, những công an cộng sản (đi theo diện “ghép” với những gia đình HO, ODP) như vừa kể trên (hiện tràn lan khắp cộng đồng Người Việt hải ngoại) – Một nhiệm vụ không thể trì hoãn và khoan thứ, vì đây không là sự việc “liên hệ giữa những cá nhân”, nhưng là sự tồn vong “sinh mệnh chính trị” của một tổng thể rộng lớn – Không phải chỉ khối Người Việt Miền Nam mà là toàn Việt Nam khổ nạn. Bởi chúng ta, người Việt Không Cộng Sản – không bao giờ là đảng viên cộng sản – đã lần lượt thua những trận quyết định liên quan đến vận mệnh toàn dân tộc, lần tháng 8, 1945, và lần 20 tháng 7, 1954, và lần cuối cùng 30 tháng tư năm 1975. Và nếu hôm nay, chúng ta không điều chỉnh sách lược để nhìn rõ địch tình thì e rằng khí thế của lần Cali Vùng Dậy Cờ Vàng 1999, những Đêm Tuổi Trẻ Thắp Nến sẽ trở nên vô ích, gây tàn lụi nguồn hy vọng bức thiết từ Xuân Lộc, Long Khánh, Thái Bình. Chúng ta sẽ mãi mãi là “ Người Việt xấu xí” trước mắt thế giới do âm mưu từ một kẻ nội thù hiễm độc. Nhưng, cũng phải nói rõ thêm một lần hay bao nhiêu lần mới đủ: Đây là lỗi từ chúng ta. Cứ sẵn khắc nghiệt cáo buộc, chụp mũ, tranh chấp cùng nhau để rảnh tay cho kẻ thù, cũng đồng nghĩa vô tình tiếp tay kẻ nghịch, bức hại anh em – với “biện pháp cuối cùng và độc nhất” – cáo buộc người bạn của minh là “cộng sản”, do sau khi đã không tìm ra được nơi bạn mình một lỗi lầm nhỏ nhặt nào. Cuối cùng, chính bản thân ta đơn độc nguy khốn, vì lẽ đã tự tay phá hủy vũ khí đoàn kết của chính mình. Đau đớn bao nhiêu. Uất hận bao nhiêu!

Phan Nhật Nam.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Hiện tượng mới mà không lạ ở Việt Nam

Ðại Dương

Bối cảnh lịch sử đã hình thành hai khối người Việt quốc nội và hải ngoại với tư duy dân chủ và độc tài đối chọi nhau
mà đôi lúc cũng có hiện tượng thỏa hiệp vì quyền lợi cá nhân.

Image
Một cuộc biểu tình chống Cộng của cộng đồng Việt Nam tại New York. (Hình: Spencer Platt/Getty Images)



Do đó, công cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam tự do, dân chủ, phú cường ngày càng phức tạp và khó khăn, thậm chí có vẻ muốn tuột khỏi tầm tay dân tộc.

Khối người Việt hải ngoại ngày càng phình to về số lượng mà sụt giảm về phẩm chất khi công dân xã hội chủ nghĩa thâm nhập qua các đường dây buôn người, di dân chính thức hoặc bất hợp pháp, du lịch đã mang theo các tệ nạn buôn lậu, ăn cắp, lường gạt, trồng cần sa, rửa tiền. Tỉ lệ tị nạn Cộng Sản, tị nạn chính trị ngày càng giảm so với di dân kinh tế nên “tiền là tiên là phật đánh bật lý tưởng tự do.”

May ra, người Việt hải ngoại chỉ còn nửa phần hồn hướng tới tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam vì họ chẳng có trách nhiệm và bổn phận trực tiếp đối với vận mệnh dân tộc.

Vì thế, sự thay đổi tại Việt Nam nằm trong tay khối người Việt quốc nội đang bị chi phối bởi nhiều ngộ nhận lịch sử và điều kiện tư duy khuất phục cứ như bị sa vào đầm lầy.

Hai khối này trông chờ, canh chừng nhau trong ngờ vực và đều bị nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa giám sát hoặc theo dõi với từng mức độ khác nhau.

Niềm tin về biện pháp xuyên thủng bức màn sắt bằng vũ khí tin học để làm thay đổi thể chế độc tài hình như ngày càng bớt lạc quan vì hai yếu tố chính.

Thứ nhất, Internet vốn là một phương tiện trung lập không hề thiên vị với độc tài hoặc dân chủ nên lan truyền tin tức, thu thập dữ kiện từ nhiều nguồn khác nhau chưa chắc đã dẫn tới một sự thay đổi tư duy của mỗi con người.

Tình trạng nhiễu loạn thông tin khi những tài liệu về dân chủ, nhân quyền cứ chuyển đi, truyền lại lòng vòng khiến cho người nhận không còn thích thú với hộp thư điện tử đầy ắp nội dung tương tự. Chủ nhân không còn thì giờ để tìm kiếm thông tin cần thiết nên mất hết kiên nhẫn để đọc mà chỉ có bực dọc xóa bỏ.

Rất nhiều người Việt quốc nội cũng như hải ngoại miệt mài thu thập tin tức thượng vàng hạ cám rồi chuyển cho nhiều địa chỉ cùng một lúc mà không tự hỏi người nhận sẽ thích thú hay khó chịu. Thực tế, chẳng phải ai cũng có nhu cầu tri thức giống nhau và họ đã có phương tiện truy cập tương tự ắt không cần nhờ đến kẻ khác. Cách sử dụng Internet vô trách nhiệm đã tác hại không ít đến khát vọng tự do, dân chủ mà người Việt hằng ấp ủ.

Mỗi công dân mạng đều có nhu cầu phục vụ cá nhân riêng biệt tùy thị hiếu nên khó biết lĩnh vực họ thích tìm biết, học hỏi về chính trị, kinh tế, quân sự, văn học, nghệ thuật, giáo dục hoặc giải trí. Hơn nữa, chưa chắc họ đọc để gạn lọc tinh túy hữu dụng hoặc chỉ nhằm mục đích bài xích.

Vì thế, tự do thông tin như con dao hai lưỡi mà người sử dụng cần tính toán cẩn thận mới mang lại hiệu quả như mong muốn.

Thứ hai, các chế độ độc tài biết rõ không thể ngăn cản luồng thông tin trong thế giới ảo nên tìm cách gây nhiễu loạn và lèo lái công luận, theo dõi phản ứng của quần chúng.

Chế độ độc tài không chịu sự giám sát của dư luận nên có thể đổi chác tài nguyên, lợi thế thị trường để đòi các công ty đa quốc, nhà đầu tư nước ngoài phải chia sẻ kỹ thuật tin học và trợ giúp kỹ năng nhằm tạo ra mạng lưới giám sát hoạt động của công dân trong thế giới ảo. Nhờ thế, nhà nước có thể theo dõi, hạn chế thông tin từ khắp nơi Việt Nam.

Tài liệu luân chuyển trong thế giới ảo có trung thực, thật hay giả quả khó lường vì có thể sử dụng nhiều bút hiệu, tên giả sẽ khiến cho “cộng đồng mạng” như bị rơi vào tâm bão chẳng còn phân biệt được phương hướng. Mỗi bài tiểu luận dài khoảng 5,000 chữ, rất lang bang khiến cho độc giả mệt nhừ mà chỉ tóm được toàn râu ria, kém phần bổ ích.

Nhà nước còn có thể thuê những ngòi bút hưu trí từng tham chính để đánh bóng đường lối đúng đắn của đảng Cộng Sản và phê bình đại khái các sai lầm nhỏ nhặt.

Hôm 7 tháng 10, 2010, Chủ Tịch Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam Trần Phương đã mở cuộc hội thảo với cả tá cán bộ hưu trí từng phục vụ cho tổng bí thư, thủ tướng, hoặc cầm đầu viện nguyên cứu, hoặc cựu phó thủ tướng nhằm “Góp ý cho các Dự thảo Văn kiện Ðại hội XI của Ðảng.”

Ða số chê bai dự thảo luộm thuộm, thụt lùi so với Ðại hội X, đòi cải tổ chính trị, nới rộng dân chủ nghe rất khoa trương, nhưng, thiếu thuyết phục vì cứ như nhai lại phát biểu của giới lãnh đạo cao cấp từng được phổ biến rộng rãi mà không lọt tai dân chúng. Họ phải than “có bao giờ góp ý lọt được vào nghị quyết đâu”.

Lớp cán bộ cao cấp này khi còn tại chức, có nhiều lợi thế và môi trường để thực hiện những điều họ đòi hỏi bây giờ thì tại sao không làm? Vì sợ mất ghế hoặc vẫn chưa hiểu thấu đáo hay cố tình không phân biệt giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản?

Tại Quốc Hội, Dân Biểu Boris Yeltsin đứng lên tuyên bố từ bỏ đảng Cộng Sản Liên Xô và phủi đít ra đi trước sự sững sờ của đồng viện đã truyền tải tâm tư chán ghét chủ nghĩa cộng sản của dân chúng nên trở thành con chim đầu đàn trong công cuộc dân-chủ-hóa nước Nga mà chẳng ai lầm lẫn. Tổng bí thư Mikhail Gorbachev còng lưng cải tổ chính trị Liên Xô vẫn thất bại. Nhưng, Yeltsin rất thực tế “đảng cộng sản chỉ xóa bỏ chứ không thể cải cách”.

Ngược lại, nhiều cây bút dù với nhãn hiệu “phản kháng” hoặc “chuyên gia có lòng với dân tộc” vẫn khư khư giữ chặt chiếc vòng kim cô khi phát biểu. Những “dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng” hoặc “đảng cộng sản nên tách thành 2 đảng cấp tiến và bảo thủ để phục vụ đất nước tốt hơn” hoặc “phải dân chủ trong đảng trước”.

Tất cả mớ lý luận như thế không hề sai đường lối “đảng cộng sản lãnh đạo toàn diện xã hội”. Dĩ nhiên, chẳng còn mảnh đất nào cho dân chúng trồng cây dân chủ!

“Dân Việt Nam không muốn chiến tranh mà chỉ cần xây dựng đất nước, tránh xáo trộn làm ảnh hưởng đến phát triển kinh tế”.

Nếu Lech Walesa của Ba Lan và Vavlav Havel cũng sợ làm đất nước xáo trộn như trí thức Việt Nam thì các quốc gia Ðông Âu phải gắn thêm chiếc đuôi kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa!

Dân Việt Nam chẳng muốn chiến tranh huynh đệ tương tàn, không thích xâm lăng nước khác bằng nghĩa vụ quốc tế vô sản. Nhưng, cần quyết liệt với kẻ nội thù đang dìm dân tộc trong cảnh lạc hậu, chuyên bán tài nguyên thiên nhiên, trinh tiết phụ nữ, cho thuê sức lao động với giá bèo để lập lại niềm hãnh diện Hồng Lạc.

Vài khuôn mặt phản kháng được thổi phồng từ quốc nội cho chí hải ngoại vì những tuyên bố hùng hồn cứ như Từ Hải “gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”, nhưng, mới bị nhà nước nháng một cái đã than “bó thân về với triều đình, hàng thần lơ láo phận mình ra sao”. Họ tự kiểm duyệt từ lời nói lẫn hành động khiến cho dư luận chỉ còn biết chép miệng “À, ra thế!”.

Bà Aung San Suu Kyi âm thầm nuốt lệ với tin người chồng đang hấp hối ở Luân Ðôn vì ra đi sợ phản bội niềm tin của người Miến Ðiện. Tấm thân tưởng như gió thổi bay của bà không hề khuất phục trước giới tướng lãnh trang bị tận răng chỉ vì dốc tâm mang lại dân chủ cho dân tộc.

Người Việt hải ngoại chỉ có nửa phần hồn hướng về Việt Nam, trong khi người Việt quốc nội cứ khư khư giữ chặt chiếc vòng kim cô do đảng cộng sản đặt lên đầu, thế thì, đến bao giờ đất nước mới được tự do, dân chủ, phú cường.

(Nguồn: Báo Tổ Quốc)

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Thương thay thân phận luật sư

Tạ Phong Tần
Sau ngày 30 tháng 4, 1975, tất cả văn phòng luật sư đều bị “dẹp tiệm,” ai xui xẻo bị bắt (dù chưa ra Tòa) cũng coi như “xong phim,” chắc chắn là “có tội” vì trong phiên tòa chỉ có phía buộc tội (Viện Kiểm Sát, Hội Ðồng Xét Xử) mà không có phía gỡ tội.
Image
Ông Nguyễn Xuân Nghĩa (thứ hai, bên phải) và 5 người khác tham gia đấu tranh dân chủ hóa Việt Nam bị lôi ra tòa ở Hải Phòng ngày 8 tháng 10,
2010 để nhận các bản án nặng nề. (Hình: AFP/Getty Images)



Khi nhà nước Việt Nam đặt bút ký vào Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, “Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền” (ngày 24 tháng 9, 1982), tất nhiên luật pháp Việt Nam cũng phải điều chỉnh (trên văn bản) theo hướng phù hợp với Công ước (Việt Nam gia nhập ngày 24 tháng 9, 1982). BLTTHS được sửa đổi nhiều lần để “hội nhập” thì Luật Luật Sư (2006) mới ra đời để “trang trí” cho nền tư pháp Việt Nam thêm phần “rậm đám.”

Nói luật sư Việt Nam là để “trang trí” bởi lẽ, như các luật sư tham gia hội thảo đã phát biểu họ bị cơ quan tố tụng cản trở tiếp xúc với thân chủ như: chậm chạp trong cấp giấy chứng nhận bào chữa, từ chối cấp giấy chứng nhận bào chữa với những lý do rất... trên trời, giới hạn thời gian gặp thân chủ, kè kè một bên hoặc không cho phép gặp.

Ở Việt Nam chưa có một cán bộ nào bị kỷ luật, bị khởi tố và xét xử vì đã cản trở quyền của luật sư, nên “cán bộ ta” an tâm cứ thế mà “vô tư” làm tới.

Ðấy là những kiểu cản trở công khai, thực tế còn có kiểu cản trở “ngầm” mà các luật sư tham gia hội thảo chưa đề cập. Ví dụ: Có “ai đó” gặp chính luật sư đặt ra “lời đề nghị khiếm nhã” không được bào chữa vụ A, B, C... (như trường hợp Luật Sư Trần Ðình Triển trong vụ án môi giới mại dâm ở Hà Giang) hoặc gặp chính bị cáo, thân nhân bị cáo đe dọa “mời luật sư sẽ bị xử án nặng hơn” (vụ án các giáo dân Cồn Dầu).

Vào Google gõ cụm từ “luật sư”+ “chạy án” sẽ cho kết quả 173,000 với nhiều dẫn chứng “người thật việc thật” cụ thể, còn cụm từ “luật sư” + “minh oan” kết quả là 83,500 nhưng chủ yếu là quảng cáo cho các văn phòng luật sư, họa hoằn mới có một số vụ luật sư minh oan được cho thân chủ ở những vụ án phạm tội hình sự bình thường, và không có vụ án chính trị nào luật sư minh oan được cho bị cáo. Như vậy, có thể hiểu luật sư ở Việt Nam làm cái việc “chạy án” nhiều hơn là bảo vệ công lý và sự thật.

Vai trò của luật sư không được coi trọng cũng như quyền được bình đẳng, quyền được hưởng sự công bằng và công lý của người dân bị xem nhẹ, chính ông PGS-TS Nguyễn Thái Phúc (là đại diện Bộ Tư Pháp tại Sài Gòn) còn cho rằng “không thể đòi hỏi LS có được quyền như điều tra viên.”

Tại sao luật sư không được quyền dùng tất cả những biện pháp mà điều tra viên làm để minh oan cho thân chủ mình, trong khi Hiến Pháp Việt Nam và BLTTHS khẳng định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”? Luật sư không được bình đẳng với điều tra viên, nghĩa là ngay từ đầu, cán cân công lý đã giành ưu thế nghiêng về phía buộc tội rồi dù chưa biết công dân đó có thật sự phạm pháp hay không.

Luật Luật Sư (LLS) đặt ra nhiều điều kiện vô lý để hạn chế công dân trở thành luật sư. Ðiều 35 LLS quy định luật sư hoạt động và đóng thuế như một doanh nghiệp tư nhân. Mà đã là doanh nghiệp tư nhân thì văn phòng luật sư (hay công ty luật) tồn tại, phát triển hay “sập tiệm” hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực, uy tín của luật sư đối với khách hàng theo quy luật cung cầu, cạnh tranh và đào thải tự nhiên của thị trường.

Ví dụ: Không ai dại gì bỏ tiền ra thuê một người bốc vác hàng hóa cho mình khi người đó không đủ sức để vác, không cần ai “dạy dỗ” hay “quy định” người thuê cũng biết rằng phải tìm người làm thuê nào có sức khỏe để làm việc đó. Tuy nhiên, Ðiểm g Khoản 1 Ðiều 17 LLS lại quy định điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư là phải có “Giấy chứng nhận sức khỏe,” tức là “đương sự” phải phụ thuộc vào một cơ quan y tế nào đó, mặc kệ trình độ nghiệp vụ của “đương sự” như thế nào.

Trước khi đủ tư cách hành nghề, “đương sự” còn phải trải qua thời gian tập sự và kiểm tra tay nghề của Bộ Tư Pháp (Ðiều 14, Ðiều 15 LLS), mà kết quả kiểm tra “đạt” hay “không đạt” căn cứ theo tiêu chuẩn nào thì chưa thấy văn bản pháp luật nào quy định, đồng nghĩa với việc “đương sự” phải phụ thuộc vào “nơi chịu nhận thực tập” và cái “tùy hứng” của Bộ Tư Pháp.

Nếu “đương sự” có giỏi đến mấy mà không có văn phòng nào “dám chứa” (hoặc không thích cho) “y ta” thực tập thì coi như cả đời “y ta” không có cách gì trở thành luật sư. Vì vậy, có không ít trường hợp các văn phòng, công ty luật lợi dụng quy định này để “bóc lột” sức lao động của luật sư tập sự bằng cách không trả lương khi thực tập.

Ðiều kiện kế tiếp là “đương sự” phải cố gắng xin vào làm thành viên một đoàn luật sư tỉnh, thành phố nào đó thì mới được công nhận là luật sư và đủ tư cách hành nghề, dù “đương sự” biết rất rõ rằng với khả năng của mình thì không cần là thành viên đoàn nào cả vẫn hoạt động tốt.

Chưa hết, trong khi hành nghề, nếu “đương sự” tranh tụng hăng quá, cơ quan tố tụng không đủ lý lẽ bác bỏ lập luận của luật sư nên “quê độ” bèn tròng vào cổ luật sư cái thòng lọng: “Lợi dụng việc hành nghề luật sư, danh nghĩa luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.” (Ðiểm g Khoản 1 Ðiều 9 LLS) để “đuổi cổ” ra khỏi đoàn luật sư, dù không ai chứng minh được “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” cụ thể nó ra làm sao cả. Vì vậy, không ít luật sư biết rõ cơ quan tố tụng xâm phạm quyền của mình nhưng vẫn “rét” và chấp nhận im lặng để được tiếp tục hành nghề.

Dù sao thì bị can, bị cáo mời được luật sư tham gia vẫn còn may mắn (chút ít), khi mà cả nước Việt Nam hiện nay có hơn 85 triệu người nhưng đến năm 2010 chỉ có 6,223 luật sư, tức 13,659 người dân mới có 1 luật sư, chưa kể những người nghèo không có tiền thuê luật sư.

Thân phận luật sư Việt Nam đã đáng thương, mà thân phận những công dân Việt Nam nào xui xẻo rơi vào vòng lao lý càng đáng thương hơn.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Cô gái Việt sinh trên tàu chiến trở lại nơi ra đời

PEARL HARBOR (NNS) - Ðược sinh ra ở bến xe, trên máy bay, trong công viên, là những hoàn cảnh bất ngờ thuộc loại chuyện lạ bốn phương.
Nhưng có một cô gái Việt Nam ra đời trên một chiến hạm.

Image
Cô gái Việt Grace Tarawa Trần, sinh ra trên chiến hạm USS Tarawa
Ngày 29 tháng 11, 2010 vừa qua, một người Mỹ gốc Việt, cô Grace Tarawa Trần, đã đến thăm nơi cô chào đời là một chiến hạm Hoa Kỳ, USS Tarawa, cách đây 30 năm, theo tin của Phòng Báo Chí Hải Quân Hoa Kỳ.

Chiến hạm USS Tarawa là loại tàu đổ quân tác chiến (amphibious assault ship) hiện đã được giải nhiệm và đậu tại quân cảng Hải Quân ở Pearl Harbor, Hawaii.

“Thật tuyệt vời.” Cô Grace Tarawa Trần nói. Cô đã chào đời ngày 10 tháng 5, 1979, hai ngày sau khi 442 người Việt Nam vượt biên bằng đường biển được chiến hạm nói trên vớt trên biển Ðông.

Ra đời trên một tài sản thuộc chính phủ Hoa Kỳ, cô tự động trở thành công dân Mỹ. “Tôi chưa hề nghĩ rằng tôi có ngày thăm viếng như hôm nay. Gặp tất cả các người lính TQLC và đến thăm chiếc chiến hạm nơi tôi đã ra đời, cha mẹ tôi đã kể cho tôi nghe rất nhiều câu chuyện.

Tôi chưa hề tưởng tượng được là cuộc thăm viếng này có thể xảy ra.”
Chữ lót (tên đệm, middle name) của cô chính là tên chiến hạm Tarawa như một ký hiệu mà cha mẹ cô muốn cô nhớ cả đời.

Cô Grace Trần sau đó lại càng ngạc nhiên hơn khi gặp lại trên sân bay của tàu, người y tá quân y đã đỡ đẻ giúp mẹ cô sinh nở, Trung Sĩ Richard Reed mà hồi đó được gọi là “Ðốc tờ Reed.”

Tàu đổ quân tác chiến USS Tarawa, thời đó là một trong những chiếc tàu mới nhất, mới được Hải Quân Mỹ sử dụng từ năm 1976, sau khi cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt một năm. Nó có sân bay tuy nhỏ hơn sân bay của hàng không mẫu hạm nhưng cũng đủ lớn để đậu và đáp 35 trực thăng chuyển một tiểu đoàn lính TQLC, và 8 chiến đấu cơ lên thẳng Harrier II VSTOL làm nhiệm vụ yểm trợ tác chiến.

Khi đến vùng biển Ðông năm 1979, chiến hạm được giao phó thêm nhiệm vụ cứu vớt người tị nạn Việt Nam vượt biên bằng đường biển.

“Thật kỳ diệu.” Ông Reed nói như vậy và ông đã không có dịp gặp lại cô kể từ khi gia đình cô rời tàu. “Cô đã lớn lên thành một phụ nữ xinh đẹp. Tôi không thể ngờ rằng một ngày mình ẵm cô trong tay rồi ngày hôm sau cô trưởng thành khôn lớn.”

Khi bà mẹ cô sanh, ông Reed quấn khăn đắp người cho cô và lo cho cô mọi thứ cần thiết của những ngày đầu đời.

“Grace như là con của chính tôi, một người con gái từ một xứ sở khác.”

Grace Trần đã khóc khi ông Reed cho cô biết ông là ai và tặng cô một bó hoa cùng với các tấm hình chụp, các mảnh báo cắt từ các tờ báo đầy biến cố đặc biệt của chiến hạm. Ông đưa cho cô xem những tấm hình chụp khi mấy trăm người trên chiếc ghe nhỏ được cứu, các tấm hình chụp những ngày cô mới ra đời mà hầu hết chưa bao giờ cô được nhìn thấy.

“Các biến cố, những kinh nghiệm của tôi trên chiến hạm USS Tarawa và nhìn thấy những thống khổ mà người tị nạn Việt Nam phải chịu đựng, đã thay đổi đời tôi.” Ông Reed nói: “Ðó là lý do tại sao tôi trở thành mục sư ngày hôm nay. Ðó là lý do tôi trở thành mục sư suốt 26 năm qua, cũng vì có cô gái trẻ này đây. Mọi chuyện đã thay đổi đời tôi. Ðây là sự ngạc nhiên thật đặc biệt đối một người y tá như tôi. Tôi vẫn thường săn sóc bệnh binh, khâu vết thương, chích thuốc nhưng làm nhiệm vụ đỡ đẻ quả thật là một kinh nghiệm hoàn toàn mới đối với tôi. Ðây là thứ kinh nghiệm xảy ra chỉ một lần trong đời. Cô là người đầu tiên và cũng là người cuối cùng tôi giúp ra đời.”

Grace Trần cho hay lòng cô tràn ngập xúc động khi gặp ông Reed và được ông cho xem các tấm hình của các người tị nạn và chiếc thuyền gỗ mà họ dùng vượt biên.

“Không có lời nào đủ để tôi diễn tả sự biết ơn của chúng tôi về sự giúp đỡ và săn sóc mà tất cả mọi người trên chiến hạm đã dành cho chúng tôi khi ở trên chiếc USS Tarawa.” Cô Grace Trần nói: “Gia đình tôi và 400 người tị nạn khác chạy trốn khỏi Việt Nam để có đời sống tốt đẹp hơn. Mọi người chen chúc nhau trên một chiếc ghe gỗ gắn máy dài có 7 mét. Chạy không được bao lâu thì hỏng máy. Trong khi tàu lênh đênh trên biển thì bị cướp biển Thái Lan đến cướp 11 lần trong một tuần lễ. Tình trạng trên ghe thì vô cùng thảm hại vì chỉ có rất ít đồ ăn và nước uống cho bằng đó con người. Mệt lả và đói nên chẳng ai còn nghĩ đến sợ nữa. Cho nên, quí vị có thể tưởng tượng mọi người sung sướng thế nào khi có tàu Mỹ đến cứu.”

“Cha mẹ tôi muốn chạy trốn chiến tranh và chế độ Cộng Sản.” Cô Grace Trần nói. “Bởi vậy, cùng với 400 người khác họ đã vượt biên. Họ không biết sẽ đến nước nào, mà chỉ biết mình phải trốn khỏi Việt Nam. Mẹ tôi nói bà rất sợ hãi nhưng đây là cơ hội để rời khỏi Việt Nam và đi tìm tự do. Họ đã chấp nhận sự nguy hiểm vô cùng lớn lao.”

Sau khi cứu các người Việt vượt biên tị nạn Cộng sản, chiến hạm USS Tarawa chuyển gia đình cô và các người khác đến một trại tị nạn ở Thái Lan.

Nơi đó, họ được làm thủ tục để tới Hoa Kỳ định cư.

Gia đình cô Grace Trần định cư ở vùng Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania. Hiện nay, cô là một phân tích gia tài chính cho một công ty bảo hiểm ở thành phố Philadelphia.

Chiến hạm USS Tarawa được giải nhiệm từ tháng 3, 2009 hiện đang đậu tại West Loch, Pearl Harbor và được coi như tài sản dự phòng của Hải Quân Hoa Kỳ.

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Trận chiến Mỹ-Hoa đã khởi sự
Nguyễn Xuân Nghĩa
Biến hóa vô lường

Nhiều người Việt chúng ta cứ hỏi nhau, rằng liệu chiến tranh giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ có xảy ra không? Câu trả lời phải là “chắc chắn!” Miễn là ta định nghĩa cho đúng thế nào là chiến tranh! Thực tế thì chiến tranh đã xảy ra rồi, với nhiều dạng biến hóa vô lường. Câu hỏi mà mình cần nêu ra là “trong hoàn cảnh đó, Việt Nam phải làm gì...?” Câu hỏi ấy, xin để kỳ khác!

Trước hết, hãy nói về định nghĩa.

Người ta thường nghĩ chiến tranh là xung đột bằng võ lực giữa hai tập thể chính trị. Nhưng từ ngàn xưa rồi, các nhà lãnh đạo xuất chúng đều chỉ ra rằng võ lực là giải pháp tệ nhất. Lý tưởng là phải đạt mục tiêu của tập thể, thí dụ như quốc gia, mà khỏi phải dụng binh. Vì vậy, chiến tranh vẫn có thể bùng nổ mà không có tiếng đạn bom sát phạt. Nó bùng nổ dưới nhiều dạng khác, như chính trị, ngoại giao, kinh tế, tuyên truyền, v.v... và nó vận dụng những phương tiện càng bất ngờ càng hay. Trong thế kỷ 21 này, loại phương tiện ấy thật ra dồi dào và bất lường - có khả năng lường gạt - hơn hẳn những gì mà loài người có thể nghĩ tới trong suốt mấy chục thế kỷ trước.

Dù phương tiện có khác xưa, chứ ý chí thì không đổi. “Binh bất yếm trá”, ai cũng biết thế. Nhưng, phàm về cách dụng binh thì “toàn quốc vi thượng” - giữ được sự an toàn cho quốc gia mới là thượng sách. “Không đánh mà khuất phục được quân của người thì mới là người giỏi trong những người giỏi”, một nhà chiến lược Trung Hoa đã nói vậy từ mấy ngàn năm trước! Nói cho dễ hiểu thì... phản chiến mà vẫn thắng thì mới là giải pháp lý tưởng.

Trong tình huống đó, chiến tranh giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đã thực tế xảy ra. Gần đây, những vận động ồn ào về võ khí hay quân sự chỉ là phần biểu hiện ở mặt ngoài cho nhu cầu chiến thắng, và khuất phục, mà khỏi cần lâm chiến.

***

Nhìn từ Hoa Kỳ thì 10 năm sau khi chính quyền Mỹ mở cửa cho Trung Quốc gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO, ngày nay lãnh đạo Bắc Kinh đã gây thêm vấn đề cho cộng đồng thế giới và đe dọa an ninh lẫn quyền lợi của nước Mỹ. Ba lãnh vực đáng chú ý là 1) thế giới, 2) an ninh và 3) quyền lợi kinh tế.

Trung Quốc tiếp tục phổ biến kỹ thuật và võ khí tàn sát cho các chế độ hung đồ được Bắc Kinh bao che và bảo vệ. Trung Quốc bành trướng sức mạnh quân sự và cả phương tiện chiến tranh phi quân sự và phi quy ước, và đe dọa an ninh của nhiều quốc gia tại Ðông Á, không riêng gì Ðài Loan. Tại Á Châu, Bắc Kinh không tham gia vào nỗ lực quốc tế của Liên Hiệp Quốc hay Minh Ước NATO để góp phần ổn định tình hình, thí dụ như tại Pakistan, Afghanistan hay toàn cõi Trung Á, mà còn khai thác nỗ lực đó của quốc tế để bảo vệ quyền lợi quốc gia. Ðấy là một vấn đề cho thế giới.

Bắc Kinh còn đẩy mạnh nỗ lực lũng đoạn, tình báo và xâm nhập điện toán nhắm thẳng vào Hoa Kỳ và đe dọa hạ tầng cơ sở điện tử của Mỹ. Bắc Kinh không chỉ kiểm soát và điều hướng thông tin và tuyên truyền trong lãnh thổ mà còn mở chiến dịch vận động ra ngoài. Và nhắm vào dư luận Hoa Kỳ, để tạo ra ấn tượng sai lạc về bản chất của Trung Quốc, về mối quan hệ Mỹ-Hoa và về Hoa Kỳ. Bắc Kinh không chỉ tác động vào dư luận các nước khác mà còn tận dụng các doanh nghiệp du thuyết - lobby - Mỹ để lung lạc chính trường, chánh sách và công chúng Mỹ. Quốc Hội Mỹ đã được báo cáo như vậy.

Về chiến lược phát triển, việc cải cách kinh tế mà Trung Quốc tiến hành từ ba chục năm qua không áp dụng quy tắc thị trường mà nhắm vào một sách lược kỹ nghệ có chọn lọc, có trợ cấp, để đẩy mạnh xuất cảng. Vì vậy, trong quan hệ kinh tế giữa hai nước, Trung Quốc đạt lợi thế đáng kể - xuất siêu rất cao - nhờ kềm hãm tiêu thụ và gia tăng tiết kiệm nội địa qua chế độ hối đoái giả tạo và qua quy chế mậu dịch lệch lạc so với quy định của WTO. Với khối dự trữ ngoại tệ cực lớn, Trung Quốc có khả năng tác động vào luồng trao đổi toàn cầu và vào thị trường tài chánh Hoa Kỳ - lẫn giá trị của đồng Mỹ kim.

Vì sự ổn định của thế giới lẫn sự an toàn và quyền lợi kinh tế của mình, Hoa Kỳ cần quan niệm lại đối sách với Trung Quốc. Lãnh đạo Hoa Kỳ đã từng mong muốn xứ này phát triển trong ổn định, thành đối tác biết điều có khả năng góp phần bảo vệ hòa bình và thịnh vượng cho nhân loại. Nhưng dù mong muốn như vậy và hợp tác với Bắc Kinh trong tinh thần đó, Hoa Thịnh Ðốn vẫn phải tự chuẩn bị cho tình huống bất lợi, xuất phát từ những tính toán của Bắc Kinh.

Nhìn từ Bắc Kinh thì đây là một quyết định thù nghịch!

***

Lãnh đạo Bắc Kinh cho rằng thế giới đã có thái độ bất công với Trung Quốc từ 150 năm nay rồi và họ có nhiệm vụ cải sửa sự bất công ấy.

Trong hai chục thế kỷ, Trung Quốc đã là siêu cường toàn cầu - khi toàn cầu mới chỉ là đại lục địa Âu-Á. Tình trạng ấy chấm dứt vào giữa thế kỷ 19, khi Trung Quốc lụn bại và bị liệt cường xâm lấn và sâu xé, rồi trôi vào nội chiến cho tới ngày đảng Cộng Sản đại thắng. Việc giành lại chủ quyền tại Hong Kong và Ma Cao và việc giải phóng Ðài Loan là một nhiệm vụ lịch sử của đảng.

Sau khi tiến hành cải cách kinh tế, Trung Quốc bắt đầu công nghiệp hóa và cố thu hẹp khoảng cách tụt hậu với thế giới. Ðảng Cộng Sản đã áp dụng chiến lược kinh tế đúng đắn để đưa xứ này thành đại cường kinh tế và tất nhiên phải giành lại ngôi vị siêu cường chính đáng của mình. Tuy nhiên, khác với lịch sử mấy ngàn năm, tiến trình kỹ nghệ hóa đòi hỏi Trung Quốc phải mở cửa giao thiệp với bên ngoài để bảo đảm nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu và khuếch trương các thị trường xuất cảng.

Nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế chính đáng, Trung Quốc phải có phương tiện quân sự tương xứng.

Từ ngàn xưa, Trung Quốc từng bị các dị tộc tấn công từ hướng Tây và mạn Bắc, cho nên việc xây dựng vùng trái độn quân sự ở khu vực ngoại biên là đòi hỏi chiến lược. Khởi đầu là Vạn Lý Trường Thành ở mạn Bắc và chế độ “đồn điền” - kinh tế quân sự - ở Cao nguyên Thanh Tạng, Tây Vực, Mông Cổ và Mãn Châu. Trong thế kỷ 20, Trung Quốc còn bị tấn công từ hướng Ðông, từ vùng duyên hải, cho nên khái niệm “vùng trái độn quân sự” tất nhiên phải mở rộng.

Với công cuộc phát triển và nhu cầu bảo đảm thị trường cùng nguồn cung cấp trên toàn cầu, Trung Quốc phải thành đại cường hải dương. Trước hết phải xây dựng vùng trái độn rộng lớn và vững mạnh hơn. Trong bước đầu của một tiến trình lâu dài, Bắc Kinh phải kiểm soát được vùng biển cận duyên, biển xanh lục, để rồi sẽ kiểm soát được vùng viễn duyên, biển xanh dương. Trung Quốc phải làm chủ tình hình từ Thái Bình Dương qua Ấn Ðộ Dương lên tới Hồng Hải vào Trung Ðông, xuống tới vùng biển tiếp giáp với Châu Phi.

Vì thế, vùng biển xanh lục quan lãnh thổ, trải dọc từ Hoàng Hải bên bán đảo Triều Tiên xuống tới eo biển Ðài Loan rồi Trung Nam Hải - Ðông Hải của Việt Nam - trở thành vùng quyền lợi cốt lõi. Ðó là “hạch tâm lợi nghĩa”. Nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi tâm huyết của tổ quốc. Nó cũng quan trọng như Ðài Loan, Tây Tạng hay Tân Cương.

Huống hồ, khu vực cận duyên ấy còn có tiềm năng rất lớn về kinh tế nằm sâu ở dưới, từ đảo Ðiếu Ngư Ðài / Senkaku đang tranh chấp với Nhật Bản đến Hoàng Sa đã cướp của Việt Nam và Trường Sa đang lấy của Việt Nam và các nước Ðông Nam Á khác.

Nhìn từ Bắc Kinh ra thì suốt 500 năm qua, các nước Âu Châu, rồi Mỹ, Nhật, Nga hay Liên Xô đều đã lý luận và thực hiện việc đó qua đường lối ngoại giao pháo hạm hoặc khuynh đảo trắng trợn. Ngày nay, các nước lại muốn cản trở nỗ lực phát triển chính đáng của Trung Quốc và tìm cách be bờ nên lãnh đạo không thể nhượng bộ được. Cho dù chưa có sức mạnh quân sự tương xứng, Trung Quốc vẫn có thể chống trả bằng hình thái chiến tranh bất cân xứng, bằng phương tiện phi quy ước của thế giới hiện đại.

Ðó là những suy tính “khách quan” của đôi bên.

***

Xưa kia, Ðặng Tiểu Bình khéo căn dặn đảng là phải kín đáo phát triển chứ đừng tỏ lộ ý chí bành trướng vì cần mối giao hảo tốt với thế giới để cải cách kinh tế. Từ Giang Trạch Dân trở về sau, lãnh đạo Bắc Kinh có thêm tự tin và bộc lộ ngày càng rõ hơn tinh thần bành trướng mà họ cho là chính đáng. Khẩu hiệu “phát triển trong hòa bình” chỉ là khẩu hiệu, vì hòa bình phải có nghĩa là hòa bình trong trật tự Trung Quốc.

Việc Mỹ mắc bận với cuộc chiến chống khủng bố Hồi Giáo và vướng chân vào hai chiến trường Iraq và Afghanistan là cơ hội bằng vàng để Bắc Kinh vừa bành trướng thế lực vừa gây chướng ngại cho Mỹ, vừa tỏ vẻ ôn hòa hợp tác chống khủng bố, nhưng là khủng bố Hồi Giáo tại Tân Cương thôi!

Nối tiếp thời cơ thuận lợi ấy cho Bắc Kinh là chuỗi khủng hoảng tại Hoa Kỳ: kinh tế suy trầm, thất nghiệp tăng vọt, quốc gia mắc nợ, lãnh đạo lúng túng đấu khẩu khi dân chúng lại sắp đi bầu. Trong khi ấy, kinh tế Trung Quốc vẫn tăng trưởng mạnh, lại vượt qua Nhật Bản và có khi sẽ bắt kịp Mỹ trong vòng hai chục năm tới.

Vì vậy mà Bắc Kinh đã đơn phương cắt đứt việc đối thoại về quân sự, Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào bãi bỏ chuyến Mỹ du vào tháng tới và đôi bên đều xẵng giọng, khiến thiên hạ mới tự hỏi là chiến tranh có bùng nổ giữa hai nước hay không.

Chiến tranh đã thực tế xảy ra khi quan hệ đôi bên về kinh tế, chính trị và quân sự đã rẽ qua hai ngả không thể hàn gắn. Nhưng nó xảy ra không có tiếng nổ. Ðó là một cuộc đấu tranh đa diện tới độ toàn diện, nếu có bạo lực thì đấy chỉ là tai nạn mà đôi bên đều muốn tránh. Bất chiến mà tự nhiên thành mới là mưu cao chước lạ. Chung quanh, sẽ có xứ mang vạ, có xứ kiếm lời...

***

Trước hết là trận tuyến ngoại thương vì kinh tế cũng là chính trị.

Ngược với chủ trương từ trăm năm nay, từ tháng 3, Hoa Kỳ ban bố “quốc sách xuất cảng”. Thay vì mở rộng thị trường để nhập cảng từ các nước và dùng đó làm lợi thế ngoại giao và an ninh, ngày nay Hoa Kỳ phải hạn chế nhập cảng và đẩy bộ máy công quyền vào hỗ trợ doanh nghiệp xuất cảng hầu tạo thêm công ăn việc làm cho người dân. Nhìn từ Bắc Kinh, đây là quyết định tuyên chiến vì đánh thẳng vào chiến lược kinh tế dựa vào xuất cảng của Trung Quốc.

Hoa Thịnh Ðốn không chỉ tuyên chiến bằng cách ra lệnh cho các phủ bộ phải yểm trợ xuất cảng - y như Bắc Kinh đã làm - mà còn liên tục khiếu kiện Bắc Kinh trước cơ chế WTO và nêu vấn đề về hối suất đồng Nhân Dân tệ. Vốn dĩ dễ bảo, các doanh nghiệp Mỹ nay lại tỏ vẻ thất vọng về thị trường Hoa Lục. Họ còn nói đến việc triệt thoái để đầu tư tại nơi khác, có lời hơn hoặc ít bị kiểm soát hơn. Một trong những nơi đó là Ðông Nam Á, với dân số gần 600 triệu, có sẵn quy chế hợp tác cấp vùng và trình độ sản xuất dù sao cũng cao hơn, luật lệ phân minh hơn...

Với Bắc Kinh, chiến tranh kinh tế đã bắt đầu - bằng trận chiến mậu dịch. Chỉ giữa các quốc gia đang giao thương với nhau thì chiến tranh kinh tế mới xảy ra khi quyền lợi hết tương đồng và mọi tương nhượng đều đụng vào lằn ranh chính trị của lãnh đạo. Trước đại hội đảng khóa 18 tại Trung Quốc và tái bầu cử tổng thống tại Hoa Kỳ, cùng tiến hành vào năm 2012 này, cả Hồ Cẩm Ðào lẫn Barack Obama đều hết đất lùi.

Thế rồi, vừa mon men xuống Ðông Hải, Bắc Kinh gặp lại Hoa Kỳ, siêu cường toàn cầu có sức mạnh hải dương vượt xa tổng lực của tất cả các nước khác. Mâu thuẫn chính trị vì vậy bùng nổ vì quyền lợi khách quan của hai nước.

Trung Quốc vừa xây dựng khu vực tự do mậu dịch với Hiệp hội ASEAN, thì Mỹ tung sáng kiến Ðối Tác Liên Thái Bình Dương để lôi kéo Việt Nam, Singapore cùng các nước Thái Bình Dương tại Nam Mỹ. Bắc Kinh muốn bẻ đũa từng chiếc qua phép đàm phán và mua chuộc song phương với từng nước trong Hiệp hội ASEAN của 10 quốc gia Ðông Nam Á thì Hoa Kỳ vận động tập thể ASEAN cùng thống nhất đường lối chính trị và ngoại giao, là bảo vệ quyền lợi chung về kinh tế và vận chuyển hàng hải tự do trong vùng biển Ðông Nam Á. Ðã vậy, Hoa Kỳ còn lấn vào sân sau của Trung Quốc vì đòi hợp tác với các nước Việt, Miên, Lào, Thái trong lưu vực sông Mekong.

Khi Ngoại Trưởng Hillary Clinton nói mạnh tại Hà Nội thì Tổng Trưởng Quốc Phòng Robert Gates tới Jakarta tăng cường quan hệ quân sự với Indonesia. Thậm chí tái tục việc hợp tác với lực lượng ưu binh Kopassus của xứ này. Mục tiêu vẫn là bảo vệ eo biển Malacca, một yết hầu của sự chuyển vận từ Thái Bình Dương qua Ấn ÐộD. Tuần qua, khi Trung Quốc lẻn xuống sân sau của ASEAN để hợp tác quân sự với xứ Ðông Timor nhỏ xíu thì Úc Ðại Lợi, một đồng minh chiến lược của Mỹ, lại lên tiếng báo động!

Như vậy, với Bắc Kinh, Hoa Kỳ đã lặng lẽ khai chiến về ngoại giao và chính trị.

Ðấy là bối cảnh của những chuyển động hải quân đang làm Thái Bình Dương nổi sóng: Hai lần thao diễn quân sự giữa Nam Hàn và Hoa Kỳ, xen kẽ là cuộc tập trận để thị uy của Trung Quốc và việc hàng không mẫu hạm USS George Washington ghé Việt Nam, rồi cuộc thao dượt giữa hải quân Hoa Kỳ và Việt Nam! Kết quả thì các nước ráo riết trang bị võ khí - mua của Mỹ...

Về phía Hoa Kỳ, Hoa Thịnh Ðốn đang chứng minh sự khả tín - đáng tin - của mình với các quốc gia Ðông Nam Á vốn dĩ cứ e là gây hiềm khích bất lợi với Bắc Kinh trong khi Mỹ vẫn thờ ơ vì bận chuyện khác. Thực tế thì Hoa Kỳ chỉ quay lại củng cố quan hệ với các đồng minh cố hữu đã bị lãng quên từ sau Chiến Tranh Lạnh rồi gần chục năm đối phó với khủng bố. Lý luận của Mỹ là Hoa Kỳ chỉ tăng cường sự hợp tác bình thường với các đối tác Á Châu, siết chặt quan hệ song phương vốn dĩ đã có từ lâu và khẳng định quyền tự do di chuyển của các hạm đội Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, như tại mọi vùng biển khác của địa cầu.

Hoa Kỳ càng có nhu cầu ấy khi thấy Bắc Kinh không hề có thiện chí giải quyết mối nguy Bắc Hàn sau vụ chiến hạm Nam Hàn bị bắn chìm hồi tháng 3 và cũng chẳng muốn can ngăn Iran chế tạo võ khí hạch tâm. Với nước Mỹ, Trung Quốc không là một cường quốc biết điều và có trách nhiệm về thiên hạ sự và vì vậy, nếu để Bắc Kinh tiếp tục lấn lướt tại Ðông Á thì mặc nhiên Hoa Kỳ khuyến khích sự bành trướng. Ðiều ấy sẽ ảnh hưởng đến đối sách của các nước trong vùng. Và cuối cùng thì sẽ xâm phạm vào an ninh của Hoa Kỳ.

Về phía Trung Quốc, Bắc Kinh coi đây là một khiêu khích quân sự vì lấn vào vùng trái độn ngoài biển của mình và còn là bước đầu của cả một chiến lược bao vây. Bắc Kinh cho rằng Mỹ phải ráo riết tiến hành việc ngang ngược đó trước khi Trung Quốc có thể khai thác khoảng trống thuận lợi hiện nay để hoàn toàn làm chủ tình hình ngoài Ðông Hải.

Vì vậy, dù súng chưa nổ, hai nước bắt đầu nhập trận, trước tưởng là giả mà hóa là thật. Và là một cái thật thiên biến vạn hóa từ một quốc gia dầy kinh nghiệm về chiến pháp là Trung Quốc với quốc gia siêu hạng về kỹ thuật và đã tích tụ đủ loại kinh nghiệm tinh ma của thế giới là Hoa Kỳ.

***

Ðoạn kết ở đây phải là chuyện Việt Nam.

Vào thế kỷ 19, khi nhà Ðại Thanh bắt đầu lụn bại vào đời Gia Khánh thì cuộc chiến Hoa-Pháp đã xảy ra - tại miền Bắc Việt Nam - với sự can dự của binh lính nhà Thanh và Lưu Vĩnh Phúc. Và với thành tích của quân Cờ đen hai lần giết chết tư lệnh Pháp tại chiến trường Hà Nội là Ðại Úy Francis Garnier năm 1873 rồi Ðại Tá Henri Rivière năm 1883. Khi ấy, dân ta có lẽ cũng chẳng biết gì về trận chiến Hoa-Pháp. Sau lần đó, Pháp thắng, Tàu thua, Việt Nam mất độc lập.

Gần trăm năm sau, sau chiến thắng của Mao Trạch Ðông năm 1949, và chiến tranh Cao Ly năm 1950-53, cuộc chiến Hoa-Pháp lại tái diễn dù chẳng có khai chiến - mà vẫn trên lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam tưởng là đang làm cách mạng! Kết cuộc, Pháp thua tại Ðiện Biên Phủ và đảng Cộng Sản tưởng mình thắng nên còn đòi lấn tới, như một mũi xung kích của Trung Quốc.

Hoa Kỳ bước vào và xung đột Mỹ-Hoa lại bùng nổ như đã bùng nổ tại Triều Tiên - nhưng trên lãnh thổ Việt Nam - trong cuộc chiến ủy nhiệm lồng vào Chiến Tranh Lạnh giữa hai khối Cộng Sản và Tư Bản. Lần đó, Việt Nam Cộng Sản được tiếng thắng Mỹ nhờ những dàn xếp giữa Hoa Thịnh Ðốn và Bắc Kinh. Nhưng Hoa Kỳ thắng lớn vì đóng cái nêm vào liên minh Nga-Hoa và khiến Liên Xô hụt hơi mà tan rã vào năm 1991.

Rồi từ đấy, Việt Nam tuột dần vào quỹ đạo Trung Quốc và nay trở thành “vùng trái độn” trên đất liền, theo quan niệm của Bắc Kinh. Trong khi ấy đại đa số dân chúng và cả đảng viên đều thấy hợp tác với Hoa Kỳ mới giúp cho quốc gia phát triển. Một mâu thuẫn kỳ lạ!

Bây giờ, khi Trung Quốc đụng độ với Hoa Kỳ, làm sao Việt Nam có thể tránh được thắng lợi giả mà là tai họa thật cho dân tộc như đã từng thấy trong lịch sử? Ði dưới chân Trung Quốc thì được gì, mất gì? Mà ai được, ai mất? Ngả theo Hoa Kỳ thì bị rủi ro gì, nhiều người Việt không quên được, kể cả và nhất là những người Việt đang sống tại Mỹ. Còn giải pháp nào khác không?

Người Việt khó nhìn ra giải pháp nếu không thấy là hai cường quốc này đã thực tế lâm trận, theo kiểu thiên biến vạn hóa của họ... Và càng khó nhìn ra giải pháp nếu bị lãnh đạo ở Hà Nội bịt mắt.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Lễ trao giải Nobel Hòa bình tại Oslo ngày 10/12:
Nhà cầm quyền Trung Quốc thua với sự không hiện diện của Lưu Hiểu ba



Ở Minneapolis, so với giờ của Na Uy chênh 7 tiếng đồng hồ, nhưng tôi đã dậy sớm hơn thường lệ để kịp xem TV Online của BBC News truyền trực tiếp Lễ trao Giải thưởng Nobel Hòa bình năm nay cho nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc Lưu Hiểu Ba.Đề tài này được tôi quan tâm theo dõi và cập nhật gần như liên tục kể từ ngày Ủy ban Nobel công bố người chiến thắng,

đồng hành với thái độ tức tối, điên khùng của nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc.

Tôi đã có một số bài viết chuyển tới bạn đọc qua những phương tiện có thể trong khả năng của mình, như trên các trang Facebook, trang các điện tử Dân Làm Báo, Đàn Chim Việt, Radio Free Asia, v.v... sau khi bị tin tặc đánh sập trang Blog của tôi trên WordPress.

Thật vui khi sáng nay Online, nhìn thấy trên Facebook có nhiều bè bạn ở Việt Nam, một số cũng đang theo dõi buổi lễ trao Giải thưởng Nobel. Chúng tôi cùng chuyển thông tin và link BBC News đến những người không biết.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử kể từ năm 1936, lễ trao Giải thưởng Nobel vắng mặt người chiến thắng và người nhận giải thưởng.

Phòng Khánh tiết tổ chức nghi lễ được bài trí đơn giản, không lòe loẹt, diêm dúa với thẩm mỹ rẻ tiền và quê mùa như chúng ta nhìn thấy ở Việt Nam trong các khung cảnh những lễ hội, mít tinh, đại hội...

Chính sự đơn giản lại toát lên không khí trang nghiêm và trang nhã. Nó làm tăng lên sự xúc động của tôi trong buổi lễ quá đặc biệt này vì có nhiều mối liên tưởng tới tình hình Viêt Nam.

Đặc biệt hơn vì ông Lưu Hiểu Ba không có mặt và mà lại có mặt!

Ông đã được nhà cầm quyền Bắc Kinh đồng ý trả tự do ngay tức thì, nhưng với chiếc vé máy bay một chiều ra khỏi Trung Quốc!

Ông đã có thể sang Oslo vinh dự nhận Huy chương và tấm séc của Giải thưởng Nobel với giá trị 1,4 triệu đôla và sống một cuộc sống an toàn ở nước ngoài, nhưng vẫn có thể đóng góp tiếp tục cho các hoạt động dân chủ và nhân quyền.

Nhưng ông đã bác bỏ cử chỉ thiện chí đểu cáng ấy! Ông đã có bài học trong quá khứ với của các chế độ cộng sản. Cũng như các nhà tranh đấu dân chủ của Ba Lan và Liên Xô cũ, Lech Walesa (năm 1983), nhà văn Nga Adrei Sakharov (1975), ông đã từ chối, vì điều đó đồng nghĩa với sự cách ly, đoạn tuyệt mối liên hệ trực tiếp giữa ông với nhân dân và đất nước mình.

Nhưng ông đã mặt tại Oslo!

Tấm hình lớn của Lưu Hiểu Ba trên màn hình đã nói lên điều đó!

Có thể là một cái tát nảy lửa, hay nhẹ nhàng theo ngôn ngữ ngoại giao, là sự trả lời rõ ràng nhất trước những hành động và âm mưu khiếm nhã, thô thiển nhằm tẩy chay buổi lễ của Trung Nam hải!

Nhà tổ chức đã chọn tấm hình Lưu Hiểu Ba hợp lý làm sao! Khuôn mặt ông với nụ cười lạc quan, nhân hậu, như lời của ông đã nói ngay cả với những kẻ giam giữ hành hạ ông: “Tôi không có kẻ thù...”.

Ông đã có mặt! Vì một bục nói danh dự dành riêng cho người chiến thắng để trống đã thay ông phát biểu.

Ông đã có mặt! Vì chiếc ghế trống danh dự dành cho ông đã thay ông nhận Giải thưởng cao quý.

Trong tiếng vỗ tay ầm vang.

Hơn 1500 người tham dự đã đứng dậy và cổ vũ nhiều lần khi nhắc đến tên ông.

Ông cũng hiện diện trong bài dân ca Trung Hoa “Hoa Nhài” với tiếng đàn violon chơi léo lắt và xúc cảm lạ thường của một nhạc sĩ Trung Quốc. Với đội đồng ca của các em bé Na Uy đẹp như thiên thần. Và với sự diễn tả đoan nghiêm và rung cảm của nữ ca sĩ nổi tiếng Na Uy Liv Ullman khi đọc bài luận ngắn của người đoạt Giải thưởng Nobel, một trong những bài cuối cùng mà ông Lưu Hiểu Ba đã viết về tự do, dân chủ.

Tôi nghĩ rằng, vào giây phút này, trong cái nhà tù vốn đã kiên cố mà vẫn được tăng cường canh gác nghiêm ngặt trong hơn nhiều ngày qua ở Trung Quốc xa xôi, ngày hôm nay nước mắt của Lưu Hiểu Ba đã chảy.

Và vợ ông nữa.

Trong bài viết “Đừng khóc, Xia Liu!” vào mùa Giáng sinh 2009 khi ông Lưu Hiểu Ba bị kết án tù 11 năm, nhà báo Pháp Jean-Philippe Beja, muốn nói với chị rằng, cả thế giới đứng bên cạnh chị và bày tỏ tình đoàn kết với vợ chồng chị, cho công lý, cho lẽ phải, cho những quyền tự do cơ bản nhất của con người mà những kẻ khác đã cưỡng chiếm chỉ vì muốn duy trì độc quyền cai trị và nhân danh một thứ ý thức hệ nào đó.

Nhưng chắc chắn chị cũng khóc. Khóc vì hạnh phúc. Ngay tại nơi ở của mình đã bị nhà cầm quyền bất nhân biến thành nhà tù!

Bình luận về sự vắng mặt của Lưu Hiểu Ba, ông Lech Walesa, người thợ điện của xưởng đóng tàu Gdansk đã từng “làm chập mạch toàn bộ hệ thống cộng sản châu Âu”, Tổng thống dân cử đầu tiên của Ba Lan dân chủ sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, đã nói: “Tỷ số 2:0 cho Trung Quốc!”.

Người sút bóng vào lưới không ai khác chính là Lưu Hiểu Ba.

“Không có ông, nhưng chính ai cũng thấy như ông đã nói. Một khi nào đấy có mặt ông lại tiếp tục nói nữa. Người đoạt Giải thưởng Nobel thắng nhà cầm quyền Trung Quốc tới hai lần. Trung Quốc đã rất tệ khi không trả tự do cho ông, chỉ hạn chế được chút xíu trong các hoạt động, nhưng thế mà lại OK”.

“Bây giờ chúng ta có thể thấy, chỉ vài nước tẩy chay và chúng ta thì được soi sáng: ai là những người vì bảo vệ nhân quyền, còn những ai chỉ ham muốn tiền bạc” - Lech Walesa nói thêm. ■

Sáng 10/12/2010
Lê Diễn Đức © Radio Free Asia

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Giải Nobel Hòa bình được đặt lên một ghế trống
Giấy chứng nhận lãnh giải Nobel Hòa bình năm nay đã được nhẹ nhàng đặt lên chiếc ghế trống của ông Lưu Hiểu Ba trong buổi lễ trao giải hôm thứ Sáu.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc mạnh mẽ phê phán buổi lễ tổ chức tại thủ đô của Na Uy, gọi đây chẳng khác nào một “màn kịch chính trị” dựa trên “những lời dối trá”.

Bắc Kinh chận mọi thông tin tường thuật buổi lễ.

Bất chấp sự giận dữ này, quan khách đến từ khắp thế giới đứng dậy vỗ tay khi ông Thorbjoern Jagland, Chủ tịch Ủy ban Nobel, ca ngợi quyết tâm của ông Lưu Hiểu Ba trong vấn đề nhân quyền, dân chủ và hòa bình.

Ông Jagland tỏ ý tiếc khi ông Lưu không có mặt để nhận giải thưởng, cho rằng “chính vì có sự kiện này nên giải thưởng là cần thiết và thích đáng.”

Ông Lưu không đến được vì còn ngồi tù về tội lật đổ chế độ và cả vợ ông cũng bị quản thúc, không được thay mặt ông đến nhận.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Chuyện "Cái Giọng nói cũa người Sàigòn"-


Sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, trong đầu lúc nào cũng có một ý định là sẽ “thở đều” trên mảnh đất ồn ào này, ý định đó chắc sẽ giữ mãi cho đến lúc một ngày nào đó âm thầm không bứt rứt cắn tay áo mà mỉm cười he he he XXX xuống dưới ấy…

Gọi là yêu Sài Gòn thì có phần hơi quá! Không dám gọi thứ tình cảm dành cho Sài Gòn là tình yêu, nó chưa thể đạt đến mức ấy. Cái tình với Sài Gòn là cái tình của một thằng ăn ở với Sài Gòn hơn 20 năm, cái tình của một thằng mà với nó, Sài Gòn còn quá nhiều điều níu kéo, quá nhiều chuyện để mỗi khi bất chợt nghĩ về Sài Gòn, lại thấy nhơ nhớ, gần gũi...

Hồi còn đi học, vẫn hay chọc mấy đứa bạn bằng 2 câu thơ nhại :

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Gái Sài Gòn cái mỏ cong cong


Chuyện con gái Sài Gòn "mỏ" có cong không thì hổng có biết, chỉ biết con gái Sài Gòn có cái dẩu môi cong cong dễ làm chết người lắm, nhất là khi cánh môi be bé ấy cong lên một chữ "hônggg..." khi đứa con trai rủ rê đi đâu, năn nỉ gì đó. Lúc đó, đem gương hay kiến soi, chắc cái mặt của đứa con trai đó tội lắm.
Mà con gái Sài Gòn có điệu đà, õng ẹo chút thì mới đúng thiệt là con gái Sài Gòn. Ai mà chẳng biết vậy. Gọi đó là cái duyên ngầm của người con gái đất Gia Định cũng chẳng có gì sai. Ai hiểu được, người đó sẽ thấy sao mà yêu mà thương đến vậy...

Có dạo đọc trong một bài viết về Sài Gòn – Gia Định của nhà văn Sơn Nam , có thấy ông viết giọng Sài Gòn, cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách trú (người Hoa hay chú ba tàu), những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định…Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất…

Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến cái giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ còn có giọng tha thiết của người con gái xứ Huế trầm tư mới cùng được ví von như thế…

Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào …mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt. Giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, thứ giọng chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, nó chính là cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.

Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang, sang sảng riêng…Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu... Người miền khác có thích hay khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này.

Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi dìa nghen!” - Chủ nhà cũng cười “Ừ, dzậy anh dìa hen!”.

Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!”. “Thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên lên tiếng “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái…

Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau, lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó “Dzui dzữ hen!”.

Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ “Dzui dzữ hen!”… Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!”

Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen” “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen, như cái “duyên” trong giọng Sài Gòn. Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy.

Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn..

Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó. Nghe một người Sài Gòn phát âm những chữ có phụ âm "v" như "về, vui, vườn, võng" có cảm giác sao sao ấy, không đúng là giọng Sài Gòn chút nào...

Nhìn lại một quãng thời gian hơn 300 năm hình thành và phát triển của Sài Gòn từ Phiên Trấn, Gia Định Trấn, Gia Định Thành, Phiên An, Gia Định Tỉnh…cho đến Sài Gòn, dân Sài Gòn đã là một tập hợp nhiều dân tộc sinh sống như Việt, Hoa, Kh’mer…Các sử sách xưa chép lại, khi người Việt bắt đầu đến Đồng Nai – Gia Định thì người Kh’mer đã sinh sống ở đây khá đông, rồi tiếp đó là khách trú (người Hoa), và một số dân tộc láng giềng như Malaysia, Indonesia (Java) cũng có mặt. Sự hợp tụ này dẫn đến nhiều sự giao thoa về mặt văn hóa như đàn ông không mặc quần mà quấn sà rông, nhà giầu quê bận bộ áo bà ba mầu trắng, làm ăn khi giao tiếp phải có chầu “nhậu”, cũng như những mặt khác của đời sống, trong đó dĩ nhiên phải nói đến ngôn ngữ.

Tiếng nói của người Sài Gòn không chỉ thuần là tiếng Việt, mà còn là sự học hỏi, vay mượn nhiều từ ngữ của dân tộc bạn, đâm ra mang nhiều “hình ảnh” và “màu sắc” hơn. Những từ như “lì xì, thèo lèo, xí mụi, cũ xì,cái ki …” là tiếng mượn của khách trú, những từ như “xà quầng, mình ên…” là tiếng của người Kh’mer. Nói riết đâm quen, dần dần những từ ngữ đó, những tiếng nói đó được người dân Sài Gòn sử dụng một cách tự nhiên như của mình, điều đó chẳng có gì lạ…Thêm vào đó, nó được sửa đổi nhiều cho phù hợp với giọng Sài Gòn, thành ra có những nét đặc trưng riêng.

Vậy nói cho cùng thì người Sài Gòn cũng có những tiếng gọi là “tiếng địa phương” (local dialect !?). Những tiếng này thể hiện rõ nhất khi người Sài Gòn nói chuyện cùng người miền khác. Nghe một người Sài Gòn nói chuyện cùng một người khác vùng, dễ dàng nhận ra những khác biệt trong lời ăn tiếng nói giữa hai người, hai miền. Có một số từ người Sài Gòn nói, người miền khác nghe rồi…cười vì chưa đoán ra được ý. Điển hình như tiếng “địt”, có nghĩa là cái bụng nó sả hơi. Cũng như khi nghe người Huế dùng một số từ lạ lạ như “o, mô, ni, chừ, răng…” trong khi nói chuyện vậy thôi. Khác là mấy tiếng người Sài Gòn nói, vẫn có chút gì đó nó…vui vui tai, là lạ, ngồ ngộ làm sao.

Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ "dạ" khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ "vâng". Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ "vâng". Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói "vâng!" là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt.

Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ "dạ" vào mỗi câu nói. "Mày ăn cơm chưa con ? - Dạ, chưa!"; "Mới dìa/dzề hả nhóc? - Dạ, con mới!"… Cái tiếng "dạ" đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó "thương" lạ...dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng "dạ" là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẳng hay...

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “Hổm nay”, “dạo này”…người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó xinh ghê!” nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy.)

Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà.

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem…”Nhỏ đó xinh lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề…nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong “Ê, cho chén chè nhiều nhiều, tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, kiểu bắt chước Tây, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn. Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “cho” ở đây là mua đó nghen.


Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này “Lấy cái tay ra coi!” “Ngon làm thử coi!” “Cho miếng coi!” “Nói nghe coi!”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà.

Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói “Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?”…Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!”. Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang “màu sắc” riêng.

Người Sài Gòn có cái kiểu gọi “Mày” xưng “Tao” rất “ngọt”. Một vài lần gặp nhau,nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền. Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô thiển mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.

Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn. Cách xưng-hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu, cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi. Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó...tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như "cậu cậu - tớ tớ" của miền Bắc. Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy. Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.

Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác. Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng “con” ngọt xớt. Có vẻ như người Sài Gòn "ưa" tiếng chú, thím, dì, cô hơn; cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà. Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện. Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì "Dì ơi dì...cho con hỏi chút...!" - còn lớn hơn thì dĩ nhiên là "Bác ơi bác..." rồi. Khi gọi một cách thân mật có ý khuyên bảo với một em nhỏ, người Sài gòn thường nói “Nầy, chú em…”

Những tiếng mợ, thím, cậu,... cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi. Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím. Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng “con” chứ không phải “cháu cháu” như một số vùng khác. Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại. Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng. Tự dưng là thấy có cảm tình liền.

Nói tiếp chuyện xưng-hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :
Ông đó = ổng
Bà đó = bả
Anh đó = ảnh
Chị đó = chỉ


Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng... ngộ nghĩnh vậy nữa. Nhưng mà kêu lên nghe hay hay đúng hông? Gọi vậy mới đúng là chất Nam Bộ - Sài Gòn á nghen.

Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo... số. Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm...Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào. Thành ra có cách gọi : chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng, anh Sáu Lèo ...

Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng "anh-chị-em" đôi khi được...giản lược mất luôn, trở thành "Hai ơi Hai, em nói nghe nè..." và "Gì dzạ Út ?"...Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn. Có chuyện nhờ là cứ "Út ơi...con nhờ chút!" hoặc với mấy chị tôi thì "Hai ơi Hai...em nói nghe nè!".

Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi...rối. Có lần, kể cho người bạn ở Hà Nội nghe về mấy người anh chị trong gia đình. Ngồi kể lể "anh Hai, chị Hai, dì Hai, Út, cậu Hai, mợ Hai, chú Ba..." một hồi cái bị kêu là hổng hiểu, xưng hô gì rối rắm quá chừng, làm phải ngồi giải thích lại suốt một hồi...lâu.

Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy. Nghe là thấy đặc biệt của cả một mảnh đất miền Nam sông nước. Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh. Cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương…

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

CHIẾC GHẾ TRỐNG VÀ NGƯỜI TÙ VÔ TỘI
Nguyệt Minh
Đứng xếp hàng chờ đến phiên mình trước toà thị sảnh cùng anh Nguyễn Đức Hóa, hội trưởng Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Nauy, tôi nhận thấy xung quanh mình là những gương mặt quen thuộc của những nhà chính trị cấp cao của Nauy xen lẫn những gương mặt của những khách mời đến dự lễ. Không khí nhộn nhịp với những bài nhạc của đội kèn, và tiếng hô trả tự do cho ông Lưu Hiểu Ba của những nhóm ủng hộ đứng xa xa.

Trước khi vào, mọi túi xách mang theo đều được kiểm soát qua máy, và mọi người đều phải đưa giấy mời có tên họ của mình cũng như giấy chứng minh để cảnh sát kiểm tra xem có đúng người không. Sau khoảng 5 phút chờ đợi, tôi đã được đặt chân vào bên trong. Đập vào mắt tôi là những bông hoa trang trí kết rất đơn sơ mà nét đẹp hài hòa thanh tú. Hội trường trao giải cho tôi cảm giác thật ấm cúng và nghiêm trang với những hình tạc của nhà sáng lập giải Nobel được đặt ở hai bên.

Chúng tôi được hướng dẫn xuống lầu phía dưới treo áo khoác và chờ đến giờ khai mạc lễ trao giải Nobel cho năm 2010. Đứng lẫn lộn giữa những nhà chính trị gia lãnh đạo Nauy và những gương mặt nổi tiếng, cả tôi và anh Hội Trưởng đều có cảm nhận là nơi đây, mọi người dù quyền cao chức trọng hay vô danh tiểu tốt đều được đối xử như nhau. Rất đáng để các nhà lãnh đạo nước ta học hỏi.
Image Còn 5 phút nữa thôi thì buổi lễ sẽ bắt đầu. Chúng tôi trở lại hội trường và tôi vô cùng xúc động khi thấy tấm hình của nhà ly khai Lưu Hiểu Ba đang được treo lên trang trọng giữa hội trường, nơi 7 chiếc ghế được dành cho sáu người trong Uỷ Ban Trao Giải Nobel Hoà Bình và người đoạt giải.


Thêm hai chiếc ghế danh dự dành cho nhà vua và hoàng hậu Nauy.

Mọi người vào chỗ, cả hội trường hầu như không còn chỗ trống.

Uỷ ban trao giải Nobel Hòa Bình từ từ tiến vào chỗ ngồi trong tràng pháo tay không dứt của những người tham dự.

Marita Kvarving Sølberg mở đầu buổi lễ trao giải với giọng ca ngọt ngào làm lắng lòng người nghe với bài nhạc «solveigs sang»

Thorbjørn Jagland, chủ tịch Ủy Ban Nobel Hoà Bình bắt đầu bài phát biểu của mình trong không khí vô cùng nghiêm trang của thính giả. Sau khi tuyên bố giải thưởng được trao về nhà đấu tranh dân chủ Lưu Hiểu Ba và lý do Ủy Ban trao giải này cho ông, Jagland đã xin lỗi rằng người được đón nhận vinh dự hôm nay không thể có mặt ngày hôm nay, ông đang bị giam giữ tại nhà tù phía Đông bắc Trung Quốc, cả vợ và người thân của ông cũng không thể có mặt. Do đó hôm nay sẽ không có nghi lễ trao huy chuơng và bằng danh dự tại đây.

Ông Jagland cũng nhấn mạnh rằng: chỉ việc này thôi cũng đã cho thấy sự cần thiết và thích hợp của giải Nobel Hoà Bình năm nay. Và ông chúc mừng ông Lưu Hiểu Ba.

Chiếc ghế trống dành cho người đoạt giải!

Đây là lần đầu tiên trong 65 năm qua của giải Nobel Hoà Bình mà chiếc ghế của người nhận giải phải bỏ trống. Trong bài phát biểu của mình, ông Jagland đã nhắc lại nhiều trường hợp những người đoạt giải trước đây cũng bị ngăn cản không cho đến dự như Carl von Ossietzky- năm 1935, Andrej Sakharov năm 1975, Lech Walesa- năm1983, Aung San Suu Kyi -năm 1991.


Ông Jagland cũng nhấn mạnh là những giải thưởng Nobel này không hề có ý muốn xúc phạm bất cứ ai, mà Uỷ Ban Nobel chỉ muốn truyền tải thông điệp về mối liên hệ giữa nhân quyền, dân chủ và hoà bình. Những giải thưởng nhắc cho chúng ta nhớ rằng những giá trị mà phần lớn trên thế giới có được là nhờ sự đấu tranh của những người đã hy sinh rất nhiều. Họ làm vì người khác và ông Lưu Hiểu Ba là người xứng đáng được sự ủng hộ của chúng ta.

Ông Lưu cũng nhờ vợ mình nói lại là ông muốn dành giải thưởng năm nay cho những linh hồn đã hy sinh trong trận Thiên An Môn ngày 4.tháng 6, năm 1989. Và uỷ ban Nobel rất vui được làm theo ý ông.

Tôi lắng nghe Jagland và thầm ngưỡng mộ khi ông nói về giá trị đích thực của mối quan hệ hòa bình thật sự giữa các quốc gia với nhau không thể được tạo ra nếu thiếu yếu tố nhân quyền và dân chủ. Về sự thiếu quân bằng khi phát triển kinh tế mà thiếu tự do ngôn luận sẽ chỉ làm gia tăng tham nhũng và thói kiêu ngạo quyền lực. Ông cho rằng mỗi bộ máy quyền lực phải được cân bằng bằng sự kiểm soát từ nhân dân, tự do truyền thông và quyền chỉ trích của mỗi cá nhân.

Jagland cũng nêu rằng Trung Quốc đã ký kết một số phê chuẩn của Liên Hiệp Quốc và ILOs về nhân quyền. Điều thú vị là Trung Quốc đã chấp nhận cơ chế giải quyết xung đột siêu quốc gia trong WTO.

Ông còn nêu: “Hiến pháp của Trung Quốc bảo vệ các quyền cơ bản của con người. Điều 35 của hiến pháp để rằng: "Công dân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và tự do hội họp, tự do biểu tình ." Điều 41 bắt đầu bằng:"công dân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền chỉ trích và nêu quan điểm của họ trên bất kỳ cơ quan nhà nước và bất kỳ người đại diện chính phủ nào " .



và dựa trên tất cả những điều này thì Lưu Hiểu Ba hoàn toàn vô tội. Ông không làm điều gì sai trái, chỉ xử dụng quyền công dân của mình mà thôi. Và ngược lại chính phủ Trung Quốc đang làm ngược lại những gì mình đã cam kết.



Kết thúc bài phát biểu của mình, ông Jagland đặt huy chuơng và bằng danh dự vào chiếc ghế trống dành cho người thắng giải.

Những tràng pháo tay vang dội cả trong lúc Jagland phát biểu và sau khi ông kết thúc.

Tôi chưa từng được nghe bài phát biểu nào hay đến thế. Cả hội trường như cùng òa vỡ trong những tràng pháo tay không ngớt.

Nhạc lại trỗi lên. Lynn Chang với tiếng violin êm dịu và réo rắt như muốn đưa những thông điệp này đến xa hơn, cao hơn.

Khán phòng lại im phăng phắc khi Liv Ullmann đọc bài viết của ông Lưu Hiểu ba «I Have No Emies.My Final Statement».

Tôi không thể nhớ hết được cả bài nhưng tôi nhớ nhất là ông đã luôn lấy tình yêu thương để đáp lại những đàn áp, bất công mình phải gánh chịu, ông không hề mang thù hận trong lòng mà chỉ mang một tình yêu quê hương tha thiết với ước muốn cho một Trung Quốc tốt đẹp hơn. Một bài viết làm cả khán phòng vô cùng xúc động. Tôi thích nhất điều ông viết rằng không có quyền lực nào có thể ngăn cản nổi khát vọng vươn đến tự do, khi người ta ngăn cản quyền tự do cũng là lúc người ta chà đạp quyền làm người và che giấu sự đi sự thật. Nươc mắt tôi rơi không kềm được và xung quanh nhiều người cũng đưa tay lau mắt. Hơn bao giờ hết tôi cảm nhận được giá trị của giải Nobel năm nay và cảm nhận được sự xứng đáng của người nhận giải. Từ giây phút này, ông đã trở thành một thần tuợng của tôi.

Sau bài viết đầy xúc đông của chính người đoạt giải. Ca đoàn thiếu nhi của Den Norske Opera og Ballett đã hoàn thành nguyện uớc của ông với nhiều bài hát. Ông Lưu Hiểu Ba đã nhờ người truyền đạt lại uớc muốn này đến ban tổ chức. Ông ao uớc sẽ có một ca đoàn thiếu nhi hát trong lễ trao giải của ông, vì đối với ông, thiếu nhi là thế hệ tuợng trưng cho tuơng lai. Ông luôn mong muốn một tuơng lai tốt đẹp hơn cho TQ nói riêng và mọi người nói chung nên ông rất chú trọng vào thế hệ mai sau.

Buổi lễ đã kết thúc, nhưng những tràng pháo tay vang mãi. Một buổi lễ trao giải Nobel lịch sử. Tôi thấy mình thật may mắn và vinh dự được chứng kiến và tham dự cho sự kiện trọng đại và ý nghĩa như hôm nay. Và không khỏi hãnh diện khi mình được là một trong những người đại diện cho cộng đồng người Việt ở Nauy có mặt nơi đây để thể hiện sự ủng hộ và biết ơn nhà đấu tranh dân chủ Lưu Hiểu Ba. Trong khi đại sứ quán Việt Nam tại Nauy từ chối tham gia thì tôi mong rằng sự hiện diện của mình sẽ nói thay cho sự ủng hộ của bao người Việt ở hải ngoại cũng như trong nuớc đối với giải Nobel này.

Khán phòng thưa dần nhưng chiếc ghế trống vẫn giữ buớc chân tôi ở lại. Tôi đến gần hơn và tự hỏicả thế giới sẽ nghĩ gì khi nhìn vào chiếc ghế trống ấy ?
Image Riêng tôi, trong lúc nhìn vào chiếc ghế trống, tôi cảm thấy rất lòng. Đau lòng khi nghĩ đến ông Lưu Hiểu Ba và những người đã hy sinh hay vẫn trong vòng tù tội chỉ vì họ nói lên niềm khao khát tự do và một tương lai tốt đẹp hơn, chỉ vì họ hy sinh quên bản thân mình để mong muốn mang lại một sự thay đổi tốt hơn cho đất nước cho dân tộc mình, chỉ vì họ muốn quyền làm người phải thực sự được tôn trọng. Tôi đau lòng vì tôi nhìn thấy một chính quyền Trung Quốc độc tài mù quáng. Thay vì song song với việc phát triển kinh tế, họ phải quan tâm hơn, bảo vệ quyền lợi của người dân, nhưng ngược lại, Trung Quốc đang chà đạp những giá trị đích thực để đem đến sự hùng mạnh cho một quốc gia. Tôi đau lòng vì khi một quốc gia tiêu cực như thế, cả thế giới này cũng bị ảnh hưởng dù ít dù nhiều. Và tôi đau lòng hơn khi biết rằng hiện trạng quê huơng mình cũng không hơn gì so với Trung Quốc.

Nhưng chiếc ghế trống cũng mang lại cho tôi cảm giác hạnh phúc. Đó là tôi biết rằng những hy sinh lớn lao của những người không mệt mỏi đấu tranh cho nhân quyền, tự do dân chủ không bị mai một hay quên lãng. Những hy sinh đó vẫn được cả thế giới tâm. Bốn bức tường của nhà tù không đủ để ngăn cản sự đồng cảm và chia sẻ giữa những người đang hiện diện nơi này với những người đang mòn mõi trong chốn lao tù.

Chiếc ghế trống còn cho tôi hy vọng. Hy vọng về những điều tốt đẹp mà bao người đang hy sinh rất nhiều để đạt đến. Hy vọng rằng một ngày nào đó một trong những nhà đấu tranh dân chủ Việt Nam cũng sẽ có được vinh dự ngồi vào chiếc ghế trống ấy.

Hôm nay là một ngày ý nghĩa nhất trong đời tôi.

Oslo 10.12.2010
Nguyệt Minh

Post Reply