Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Quân đội vì nước không vì đảng Cộng Sản - giải pháp tối ưu đối với Việt Nam

Lý Ðại Nguyên
Hiện nay Việt Cộng gồm 3 triệu đảng viên vẫn nằm trong danh sách sinh hoạt với đảng, thì đã có 2 triệu đảng viên hưu trí, chỉ còn 1 triệu là đương chức, đương quyền, đang nắm toàn bộ vận mệnh đất nước và được độc quyền tham nhũng.
Image
Một đơn vị Quân Ðội Nhân Dân CSVN diễn hành với súng M18 trên tay. (Hình: xahoimang.com)



Thế ra 2/3 số đảng viên không chức, không quyền thuộc diện chính sách của nhà nước. Họ tuy có danh nghĩa là đảng viên, nhưng chỉ để cho một thiểu số lãnh đạo nhân danh toàn đảng tước đoạt chủ quyền đất nước, quyền công dân và đàn áp khống chế toàn dân. Như vậy có thể gọi cuộc hội họp, ngày 7 tháng 10, 2010 tại Hà Nội của trên 20 đảng viên kỳ cựu, từng là ủy viên Trung Ương Ðảng, thuộc hàng phó thủ tướng, cho tới các viện trưởng, các giáo sư đã làm cố vấn chính phủ là tiếng nói tiêu biểu cho 2 triệu đảng viên hưu trí. Họ đều cho rằng: “Ðường lối kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin là sai lầm, giả dối, nguy hiểm, vì Mác đã mắc nhiều sai lầm cơ bản, do đó đã phá sản hoàn toàn tại Ðông Âu, Liên Xô và tàn phá nền kinh tế các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, trong đó có Việt Nam.

“Kiên định chủ nghĩa xã hội cũng là sai lầm, giả dối... đã thất bại phá sản hiển nhiên. Còn chủ nghĩa xã hội trước mắt và tương lai, gắn liền với kinh tế thị trường, thì chưa ai hình dung ra sao, làm sao thực hiện được. Ðây là một quan niệm ảo tưởng viển vông, lừa dối, không khoa học.” “Còn mục tiêu xây dựng xã hội dân chủ, bình đẳng, hiện đại văn minh chỉ là nói suông, là bánh vẽ, nhằm lừa dối nhân dân và tự lừa dối mình.” Từ đó họ dứt khoát và thẳng từng “sổ toẹt” vào các văn kiện sắp được trình cho Ðại Hội XI này.

Trong số 1 triệu đảng viên tại chức, tại quyền, thì quyền lực chỉ tập trung vào một thiểu số lãnh đạo thuộc Bộ Chính Trị và một số Ủy Viên Trung Ương năng nổ, hiện nay đã chia làm 3 phe rõ rệt. Phe kiên định chủ nghĩa xã hội, thân Tầu. Phe quốc tế đa phương, thân Mỹ. Phe lửng lơ “con cá vàng,” ai mạnh thì theo. Thế nên cuộc họp Trung Ương Khóa 14 vào ngày 12 tháng 12, 2010 này, nhằm chọn ra các Ủy Viên Trung Ương khóa mới, kể cả ban lãnh đạo cao nhất sẽ khó có thể thống nhất về phương án nhân sự lãnh đạo để trình Ðại Hội XI vào giữa tháng 1, 2011. Trong trường hợp đó phía công an đã được lệnh truy quét tất cả những thành phần đối kháng nguy hiểm có khả năng phát động đấu tranh đường phố. Nhưng một khi dân chúng đã nhất tề vùng lên như trường hợp ở Thái Bình và Cao Nguyên thì công an cũng phải ù té chạy. Bởi thế đảng phải nhờ tới quân đội.

Quân đội, thì đại đa số cùng chung kiếp nghèo như toàn dân, chỉ có số ít được hưởng bổng lộc của đảng và các tổ hợp quân đội trong ngành thầu xây dựng. Hầu như tất cả quân nhân các cấp đều muốn được trở thành “quân đội nhà nghề phi chính trị” như họ đã được học hỏi, hay nhận biết ở quân đội các nước dân chủ tiên tiến, chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, bảo vệ tự do công dân theo luật pháp quốc gia, không thuộc quyền lãnh đạo của Ðảng. Bảo vệ đảng nhằm trấn áp dân chúng để cho giới lãnh đạo đảng lén lút dâng đất, hiến biển, nộp tài nguyên quốc gia, và nhường luôn chủ quyền dân tộc cho kẻ thù truyền kiếp của Việt Nam là Tầu Cộng. Chính vì vậy mà cơ quan tuyên truyền của đảng đã lớn tiếng chống lại khuynh hướng quân đội đòi “phi chính trị.” Ðã tới lúc quân đội Việt Nam phải tự khẳng định vị thế cứu nguy dân tộc và bảo vệ toàn dân của mình. Buộc Ðại Hội XI phải từ bỏ ảo tưởng kiên định chủ nghĩa xã hội của phe thân Tầu. Bầu ra ban lãnh đạo mới để dân chủ hóa chế độ, đáp ứng với nhu cầu toàn dân, phản ảnh khuynh hướng của toàn đảng, toàn quân đang “tự diễn biến hòa bình.”

Nếu kỳ này, Ðảng Cộng Sản Việt Nam không thoát ra khỏi bàn tay của Bắc Kinh, cứ bám lấy thứ chủ nghĩa xã hội chết tiệt, bầu ra một ban lãnh đạo đầy tớ của Tầu Cộng, thì quân đội phải có trách nhiệm lịch sử của mình là ra tay “cứu nước, yên dân.” Như Tổng Thống Yeltsin của nước Nga năm 1991 đã giải tán đảng Cộng Sản Liên Xô. Tổ chức ra một chính quyền dân sự chuyển tiếp để điều hành việc nước. Tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến để đưa ra cho dân phúc quyết-trưng cần dân ý. Nhưng điều quan trọng là phát động phong trào văn hóa xây dựng dân chủ. Lấy thành phần chủ chốt là sinh viên của các trường đại học Việt Nam. Họ được học luật bầu cử trong ngắn hạn. Nắm vững phương pháp tổ chức và vận động tranh cử, bầu cử. Tổ chức thành từng đoàn, mỗi đoàn do một giáo sư hướng dẫn đi về từng làng xã nông thôn, Thị xã thành phố, nơi đó là đơn vị hành chánh gốc của quốc gia. Nơi trực tiếp quản lý tài sản nhà nước, bảo vệ người dân, điều hành chính quyền, tạo ra trật tự xã hội và phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống dân chủ trọng pháp và là môi trường phát huy truyền thống dân tộc. Việc giữ an ninh cho các đoàn sinh viên này do quân đội chịu trách nhiệm.

Chính vì vậy, mà phải cần tới tinh thần vô tư trong sáng của lớp trẻ có học, không vướng vào tranh chấp quyền hành bè phái, như Phù Ðổng Thiên Vương, việc xong về trường, nhằm gieo vào ý thức người dân về giá trị dân chủ, tự do, tôn trọng nhân quyền và dân quyền của mỗi công dân, trên tinh thần trọng pháp. Chính người dân phải có trách nhiệm công dân của mình là bầu ra những người trực tiếp “cai trị” mình, điều hành chính quyền địa phương và quản lý xã hội theo luật pháp quốc gia. Mình thực sự là chủ nhân ông xã hội, chủ nhân ông chế độ, chủ nhân làng xã nơi mình sinh sống. Mình có quyền tuyệt đối tự lựa chọn và trực tiếp bầu ra những người điều hành làng xã, thị xã và có quyền kiểm soát họ.

Ðối với dân làng họ là vị tổng thống và chính quyền dân cử trực tiếp của nền Cộng Hòa địa phương. Dân có quyền truất nhiệm họ theo luật định. Có quyền khóa sau không bầu cho họ nữa. Từ đó người dân mau chóng cảm nhận một cách trực tiếp về quyền công dân, trách nhiệm công dân và giá trị chủ nhân của công dân một nước dân chủ. Cũng từ đó những lá phiếu của công dân bầu ra cấp tỉnh và cấp quốc gia mới là những lá phiếu có ý thức trách nhiệm của người dân. Và cũng từ đó cơ quan tự quản làng xã, thị xã ý thức được chủ nhân ông đích thực của mình là dân làng. Không do ơn huệ của thượng cấp ban xuống. Thượng cấp cũng chỉ được phân công theo luật pháp, và thi hành luật pháp để bảo vệ người dân và an toàn xã hội, phát triển kinh tế...

Tất cả những ý niệm trên đây được khởi đi từ nền tảng văn hiến nhân chủ của truyền thống dân tộc Việt Nam, lấy con người làm chủ. Lấy làng xã làm gốc, tạo thành môi trường cho tinh thần độc lập tự chủ của nòi giống phát triển, nhằm chống lại với cuộc đồng hóa khắc nghiệt của Ðế Quốc Ðại Hán và ứng xử với cuộc trường kỳ bang giao giữa một nước nhỏ với nước lớn, luôn luôn ngoài vẫn phải xưng “thần” với Tầu, nhưng trong nước vẫn là Ðế. Dân giữ được văn hóa dân tộc và tinh thần độc lập quốc gia trong làng xã. Mãi tới cuộc Cải Cách Ruộng Ðất do Hồ Chí Minh và Cộng đảng, nhận lệnh của Mao Trạch Ðông tiêu diệt tinh thần làng xã tự quản đi để thiết lập chế độ độc tài toàn trị, nên khi đảng theo Nga thì toàn dân lệ thuộc Nga, theo Tầu thì cả nước phải nô lệ Tầu. Ðến lúc quân đội phải hành động cứu nước, yên dân trước khi trở thành quân đội nhà nghề phi chính trị.

(Nguồn: Báo Tổ Quốc)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Việt Nam vẫn nghèo bởi vì đâu?
Nhìn về Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu và người dân quốc đảo Singapore thường đặt câu hỏi, tại sao Việt Nam ngồi trên nhiều núi vàng mà vẫn nghèo?

Đó là câu hỏi mà Ts Vũ Minh Khương, giảng viên trường Đại học Quốc gia Singapore thường xuyên nhận được từ đồng nghiệp hay những người dân Singapore mà ông có dịp tiếp xúc.

Họ so sánh: Singapore chỉ cần một cảng biển, một đảo Sentosa cũng có thể làm nên sự thịnh vượng giàu có, vậy mà trên khắp Việt Nam này, có bao nhiêu những Phú Quốc, Hạ Long, bao nhiêu Vân Phong…. mà vẫn không cách gì khai thác được. Việt Nam vẫn bị xếp vào hàng các quốc gia phát triển trung bình thấp và năng lực cạnh tranh thấp ngay cả so với các quốc gia láng giềng ít tiềm năng hơn.

Thực tế như một sự thách đố sự hiểu biết của người Singapore lại không quá khó hiểu với những người có chút kinh nghiệm làm việc ở xứ này. Người ta có thể tìm thấy lời giải đáp từ bất kì một quan sát nhỏ nào trong nền kinh tế đất nước.

Triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình

Nhìn vào thực tế phát triển ở Việt Nam, TS Vũ Minh Khương cho rằng, vấn đề của Việt Nam không phải ở chỗ chúng ta không có tiềm năng mà có lẽ vì chúng ta có nhiều tiềm năng quá, những nguồn lực xung đột, mà lại không biết lựa chọn chính xác hướng đi nào cho mình.

Giống như người ta được trời phú cho nhan sắc, lại có thông minh cộng tài năng âm nhạc, lại thêm vẽ tranh… nhưng lại không biết mình thực sự muốn gì, muốn phát triển theo hướng nào. Thôi thì, lúc này đi làm nghiên cứu khoa học, lúc khác chơi một chút nhạc, lúc khác nữa làm hội họa…., tận dụng mỗi thứ một chút, để rồi không thành ông, cũng chẳng thành thằng.

Đơn cử, tỉnh Quảng Ninh đã được trời phú một vịnh Hạ Long lại được trao thêm trữ lượng than dồi dào. Bỏ cái gì cũng tiếc, rút cuộc, chúng ta khai thác hết, nhưng đầu tư vào lĩnh vực nào cũng nửa vời. Khai thác than tàn phá môi trường Quảng Ninh, gây hại cho việc làm giàu từ Vịnh Hạ Long.
Image
Quảng Ninh đã giàu tài nguyên than

Cách làm du lịch, trong khi đó, lại mới dừng ở mức “thu bạc lẻ”, lo thu hút cho đông khách, mà quên mất, vấn đề không phải ở việc thu hút thêm được bao nhiêu khách, mà là mỗi ngày, du khách sẽ tiêu bao nhiêu tiền. “Người ta chỉ tiêu dùng nhiều khi Việt Nam có sẵn nhiều hoạt động chất lượng cao, dịch vụ tốt, nhiều sản phẩm hay để họ mua“, chuyên gia về năng lực cạnh tranh, GS Michael Porter phân tích. Thế nhưng, đó lại là điều Việt Nam hoàn toàn thiếu sự đầu tư.
Image
lại có thêm Vịnh Hạ Long.
Câu chuyện Quảng Ninh không phải là ngoại lệ ở Việt Nam. Đến ngay cả các tỉnh đồng bằng sông Hồng bây giờ cũng ngồi lo suy tính làm thế nào để khai thác được bể than sông Hồng nằm ngay dưới vựa lúa, điều nhiều nơi khác thèm được sở hữu trong bối cảnh an ninh lương thực đang là mối nguy, mà không cân nhắc hết thiệt hơn, mạnh yếu.

Định hướng bởi cách nghĩ làm thế nào để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, tỉ trọng công nghiệp lớn cho cái gọi là “nền kinh tế GDP tỉnh”, các địa phương mải mê vận động để xin được nhiều tiền ngân sách, thêm được nhiều vốn đầu tư vào tỉnh, có được các dự án… nhưng lại chưa suy tính xem thực sự mình mạnh gì và nên phát triển theo hướng nào.

Các quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển của các tỉnh thành là một sự sao chép lẫn nhau, không dựa trên đặc thù riêng của địa phương mình, cả về lợi thế và vị trí riêng. Thế mạnh địa phương không được phát huy, trong khi đó, “bạn không thể ra sức để trở thành mọi thứ“, GS Michael Porter đã đúc kết quy luật chung trong phát triển như vậy.

Và triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau

Không chỉ triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình, các địa phương còn khai thác tiềm năng theo kiểu triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau, khi chính sách phát triển của các địa phương không được đặt trong mối liên kết với các địa phương khác trong vùng và trong tổng thể phát triển chung của đất nước.

Hãy nhìn câu chuyện phát triển cảng biển Việt Nam. Dọc bờ biển Việt Nam chi chít những dự án cảng biển, tỉnh nào cũng muốn sở hữu cảng biển của riêng mình. 10 năm tới, Việt Nam có kế hoạch phát triển 39 cảng biển với 108 bến được xây dựng mới và nâng cấp, trong đó 32 cảng biển có kế hoạch xây dựng mới.

Chúng ta quên mất một điều: năng lực cạnh tranh chỉ tốt khi doanh nghiệp được sử dụng cảng biển với chi phí thấp nhất, bất kể cảng đó thuộc tỉnh nào. Càng nhiều cảng phân tán, lượng hàng càng bị chia sẻ manh mún, hiệu quả khai thác cảng càng giảm, và chi phí tất yếu tăng lên.

Chúng ta cũng quên mất rằng, ở Mỹ, dọc bờ biển phía Tây dài 1900km cũng chỉ có 3 cảng chính.

Và ta cũng quên hẳn bài học của Malaysia trong phát triển cảng biển. Trước năm 1970 chỉ có 2 cảng chính, sau đó Chính phủ quyết định mở rộng thêm 4 cảng quốc gia và 3 cảng nội địa, điều đó dẫn tới tình trạng dư thừa năng lực và cạnh tranh gay gắt giữa các cảng. Sự cạnh tranh lẫn nhau của các cảng biển làm triệt tiêu năng lực cạnh tranh chung của đất nước, khiến Malaysia rơi vào thế bất lợi.
Image
Dọc bờ biển phía Tây dài 1900km của Mỹ cũng chỉ có 3 cảng chính trong khi 10 năm tới, Việt Nam định phát triển thêm 39 cảng biển.
Không thể phủ nhận, là quốc gia có đường bờ biển dài, ở vị trí địa chiến lược, Việt Nam có lợi thế để làm trung tâm trung chuyển quốc tế. Không phải ngẫu nhiên mà hàng loạt những sáng kiến về kết nối giao thông khu vực đều tính đến Việt Nam như cửa ngõ ra biển. Thế nhưng, tận dụng thế nào điều kiện ấy là câu chuyện Việt Nam cần bàn.

Có một thời, tỉnh nào cũng đua nhau có nhà máy mía đường, xi măng lò đứng, thì nay, cùng với cuộc đua có cho được nhà máy thép…, tỉnh nào cũng lo có cho được cảng biển riêng…, mà cảng nào cũng nhỏ, lại thiếu các điều kiện đi kèm.

Hiện Việt Nam không có cảng container trung chuyển quốc tế. Ta có một số hải cảng quốc tế như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận được các tàu lớn, song dịch vụ của các cảng này chưa đáp ứng yêu cầu, chi phí dịch vụ cao, thời gian thông quan lâu (từ 3 đến 7 ngày, có khi lên tới 1 tháng trong khi ở Singapore là 10 phút.) Hệ thống đường sắt, đường bộ kết nối liên tuyến với hệ thống cảng không được đầu tư. Các điều kiện hậu cần cho cảng hoàn toàn bỏ ngỏ. Cơ sở hạ tầng không theo kịp tốc độ tăng trưởng xuất khẩu.

Có một ví dụ thường được các chuyên gia dẫn chứng như một minh họa sinh động cho những ràng buộc về lợi ích cục bộ, địa phương gây cản ngại cho một chiến lược đầu tư sáng suốt trong câu chuyện cảng biển. Hiện tại, cảng Cái Mép – Thị Vải của Vũng Tàu đã được một số tàu mẹ các nước đến ăn hàng. Xét về mọi mặt, đây là cảng biển có nhiều lợi thế hơn cả để phát triển thành cảng trung chuyển quốc tế.

Thế nhưng, Tp.HCM và Long An cũng đòi đầu tư để cảng của mình thành trung chuyển quốc tế! Trong khi nguồn lực đầu tư của đất nước vào cơ sở hạ tầng vốn đang vô cùng khan hiếm.

Câu chuyện thu hút đầu tư nước ngoài của các tỉnh cũng là một ví dụ khác. Mặc dù đã có quy định về khuyến khích và ưu đãi đầu tư, thế nhưng, thực tế, các địa phương vẫn làm theo kiểu “mạnh ai nấy làm”. Ngoài các chính sách thu hút đầu tư của nhà nước, nhiều tỉnh đã phá rào, đưa thêm nhiều quy định khuyến khích đầu tư, từ ưu đãi đầu tư, miễn giảm thuế và giảm tiền thuê đất.

Cuộc khảo sát do Bộ Tài chính tiến hành năm 2006 tại 48 tỉnh, thành phố cho thấy có tới 32 tỉnh (chiếm 2/3) ban hành thêm các văn bản pháp lý trái luật nhằm quy định các ưu đãi đặc biệt để thu hút các dự án đầu tư. Theo khảo sát này, có 18 tỉnh vi phạm các quy định về ngân sách, 21 tỉnh đưa ra những ưu đãi về đất đai nằm ngoài những quy định của chính sách đất đai quốc gia, 11 tỉnh vi phạm quy định về thuế thu nhập DN và nhiều tỉnh có nhiều hơn 2 vi phạm. Hầu hết các tỉnh đưa ra các khuyến khích rất hào phóng về phí sử dụng đất, mở rộng thời kì miễn giảm thuế lên tới 10-20 năm.

Rút cuộc, cuộc đua của các tỉnh không mang lại lợi ích chung cho cả nền kinh tế. Quy hoạch tổng thể bị xới tung, cày nát. Đến nỗi có chuyên gia đã phải kêu lên rằng: cuộc đua thu hút FDI giữa các tỉnh chẳng khác nào cuộc “chạy đua xuống đáy”, khi các tỉnh hoặc là cùng chạy, hoặc là cùng chờ.

Nói như TS Vũ Minh Khương, ĐHQG Singapore, cách làm này tạo nên sự phát đạt cho một vài người nhưng lại gây hại cho sự phát triển chung của đất nước.

Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác

“Thay vì cạnh tranh, cần khuyến khích sự phối hợp và hợp tác giữa các địa phương, các ngành”, GS Michael Porter khuyến nghị. “Các vùng và địa phương cần được khuyến khích nâng cao năng lực cạnh tranh của mình dựa trên những lợi thế và vị trí đặc thù của địa phương”.

Nhìn tổng thể quốc gia, đã tới lúc Việt Nam cần nghiêm túc thảo luận xem mình muốn đứng ở vị trí nào trong nền kinh tế toàn cầu, đâu là những ngành, lĩnh vực và thế mạnh về môi trường kinh doanh của Việt Nam mà thế giới sẽ biết tới.

Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, đó là mục tiêu mà Việt Nam cần hướng tới, nếu muốn thực sự định vị mình ở một vị trí cao hơn trong xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Nguyễn Văn An công nhận: Sai lầm hệ thống từ gốc đến ngọn

Ngô Nhân Dụng
Ông Nguyễn Văn An, cựu ủy viên Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam, mới lên tiếng phê bình đảng của ông đã sai lầm từ hệ thống, sai từ gốc đến ngọn, trong một bài phỏng vấn mới xuất hiện trên mạng lưới Tuần Việt Nam ở trong nước.

Góp ý kiến với đại hội đảng năm 2011 sắp tới, ông đề nghị đảng của ông phải “đáp ứng yêu cầu của Cách Mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, giai đoạn đổi mới toàn diện, triệt để, cả kinh tế và chính trị, tức là hoàn thiện ở mức độ cao hơn, mức độ SỬA LỖI HỆ THỐNG.”

Ðọc những lời lẽ trên, phải ghi nhận lòng can đảm, óc tỉnh táo của ông Nguyễn Văn An. Những sai lầm căn bản của đảng Cộng Sản mà ông gọi là “lỗi hệ thống” được phân tích bằng những lý luận rất vững vàng, mạch lạc. Giống như ông đã vẽ ra một bức tranh lớn, lừng lững như một con voi, ai cũng phải nhìn thấy, phải đồng ý, không thể nào bác bỏ được.

Ông Nguyễn Văn An từng làm trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng, làm chủ tịch Quốc Hội từ 2001 đến 2006, có lúc đã hy vọng lên làm tổng bí thư. Năm nay, ông là người đầu tiên trong hàng ngũ lãnh đạo đảng dám nói thẳng với các đồng chí là đảng đã sai lầm ngay từ nền tảng. Ông giải thích: “Lỗi hệ thống là lỗi từ gốc đến ngọn, từ lý thuyết đến mô hình.”

Từ gốc đến ngọn, từ lý thuyết đến mô hình nghĩa là gì? Hãy nói về mô hình, có thể hiểu là phương cách quản trị việc nước, mà ông Nguyễn Văn An nhấn mạnh về kinh tế. Ông An vạch ra, lỗi lầm trong mô hình kinh tế của đảng ông là chủ trương lấy “chế độ công hữu làm chủ yếu.”

Ðó cũng không phải là một mô hình mới theo. Trong 70 năm qua đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn đề cao vai trò các xí nghiệp quốc doanh, theo mô hình “chế độ công hữu.” Chủ trương đó bắt đầu từ thời Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, kéo tới thời Ðỗ Mười, Nông Ðức Mạnh. Họ chỉ sao chép nguyên cách tổ chức kinh tế tại Nga Xô, Trung Cộng, đem áp dụng vào nước ta mà thôi. Mô hình “chế độ công hữu” này có từ thời Lê Nin, ông chủ trương dùng guồng máy nhà nước thực hiện cuộc cách mạng vô sản thế giới, cái đó gọi tên là “Chủ nghĩa Lê Nin.” Mô hình này sai lầm, 70 năm sau đã đưa Nga Xô đến chỗ sụp đổ. Cộng Sản Trung Quốc thấy thế phải đổi chiều, tự tư bản hóa để tồn tại. Mô hình này sai ra sao, bây giờ không ai cần giải thích nữa. Ðến giờ đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn cứ tiếp tục đề cao doanh nghiệp nhà nuớc, đó là lý do ông Nguyễn Văn An phải lên tiếng.

Nhưng “lỗi mô hình công hữu” này, ông Nguyễn Văn An nói, cũng chỉ là một sai lầm nằm ở tuốt trên ngọn. Phải tìm đến nguồn gốc của nó. Ông An nhắc lại rằng Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn bắt chước Liên Bang Xô Viết, “Mà mô hình của Cộng Hòa Xô Viết thì lại bắt nguồn từ những lý thuyết của chủ nghĩa Marx-Lenin.” Ðó là gốc rễ. Ông nhận xét: “Mô hình (công hữu) lại xuất phát từ một lý thuyết cực đoan (chủ trương rằng): Tư hữu về tư liệu sản xuất là nguồn gốc của mọi sự bóc lột.”

Lời buộc tội thứ hai này chỉ ra mối sai lầm của đảng là đi theo một “lý thuyết cực đoan.” Ðó chính là chủ thuyết của Karl Marx; Marx nói khi các xí nghiệp, nhà máy, thiết bị, vân vân, đều thuộc quyền sở hữu của tư nhân thì giai cấp tư bản xuất hiện, họ bóc lột giới lao động. Vì thế cho nên Lê Nin chủ trương “công hữu,” tức là các phương tiện sản xuất phải thuộc quyền nhà nước.

Tại sao theo ý kiến bác bỏ quyền tư hữu của Karl Marx lại sai lầm? Ông Nguyễn Văn An giải thích: “Sở hữu tư nhân thực chất vẫn là vấn đề dân chủ tự do trên lĩnh vực kinh tế, trong mưu cầu hạnh phúc của mỗi người, nó là cội nguồn cảm hứng, là động lực to lớn cho sự phát triển. Kết quả của nó kỳ diệu như thế nào mọi người đã biết.” Nói cho dễ hiểu, ông An muốn giải thích rằng nếu không tôn trọng quyền sở hữu tư nhân thì người ta không có động lực tự nhiên để cố gắng làm việc. Do đó, kinh tế chung của cả xã hội sẽ không tiến lên được.

Nhưng không phải chỉ tai hại về hậu quả kinh tế; lý thuyết “cực đoan” này còn tước bỏ những quyền tự do quan trọng của con người, như tự do mưu cầu hạnh phúc. Như ông An nói rõ: Không tôn trọng quyền sở hữu tư nhân thì không ai có quyền tự do về kinh tế, tức là mỗi con người không còn được tự do mưu cầu hạnh phúc. Nói rộng hơn, không có tự do kinh tế thì cũng không có tự do, không có dân chủ gì cả. Ðó là ý nghĩa của câu ông An phát biểu: “Sở hữu tư nhân thực chất vẫn là vấn đề dân chủ tự do...”

Lời phát biểu trên không khác gì những ý kiến của Friedrich Hayek, một nhà kinh tế “tiên tri” đầu thế kỷ 20. Hayek từng viết: “Hệ thống tư hữu tài sản là bảo đảm mạnh nhất cho quyền tự do, không chỉ bảo đảm riêng cho những người có tài sản mà cho cả những người không tài sản.” Bởi vì, như Hayek giải thích: “Bị kiểm soát trong công việc kinh tế mưu sinh sẽ đưa tới bị kiểm soát trên tất cả mọi thứ khác” (To be controlled in our economic pursuits means to be controlled in everything).

Hayek có ảnh hưởng lâu dài hơn Karl Marx. Trong thế kỷ 19, Karl Marx tiên đoán chế độ kinh tế tư bản sẽ tự nó sụp đổ vì những mâu thuẫn từ bên trong. Marx phân tích rất hay về những mâu thuẫn đó; nhưng bài cáo phó của ông về kinh tế tư bản tới giờ vẫn chưa thành sự thật. Một trăm năm sau, Friedrich Hayek, (cũng là một người nói tiếng Ðức di cư sang sống ở London, Anh Quốc), lại tiên đoán rằng chế độ kinh tế kinh tế chỉ huy kiểu cộng sản chắc chắn sẽ đưa tới cảnh con người bị nô lệ hóa. Quả nhiên, nay nhìn lại, ai cũng thấy khi nhà nước nắm trọn quyền kiểm soát kinh tế, như trong các xã hội cộng sản, thì mọi người đã mất hết các quyền tự do, chẳng khác gì nô lệ. Cuốn “Con đường dẫn tới nô lệ” của Hayek, bên Trung Quốc đã dịch hết cho mọi người đọc.

Ông Nguyễn Văn An nói rõ ràng: Chủ nghĩa Lê Nin sai lầm, mà chủ nghĩa Mác cũng sai lầm nốt. Theo hai chủ nghĩa đó là sai từ gốc đến ngọn. Sau khi nghe ông An biện giải, ai cũng phải đồng ý. Phải đi tới kết luận: Người khôn ngoan thì không ai đi theo những con đường sai lầm như thế. Người tử tế thì khi biết mình đã sai là phải sửa đổi ngay, để khỏi tiếp tục làm hại đồng bào.

Nhờ đâu mà ông Nguyễn Văn An đã nhìn ra những sự thật trên đây? Nhờ ông đã “giác ngộ” được tính chất “kỳ diệu” của quyền sở hữu tư nhân. Sau khi đã chứng kiến suốt 20 năm “đổi mới” các đồng chí cộng sản hồ hởi làm giầu, khẩn trương tích lũy, năng nổ thu vét tài sản của toàn dân về trong tay mình và đồng đảng, thì đến người khiếm thị cũng phải nhìn ra là “quyền tư hữu” tạo ra những tác động tâm lý, kinh tế, chính trị rất kỳ diệu. Nó kỳ diệu như ma ấy. Nó có thể biến người thành ma, biến ma thành người. Khi vấp vào nó, không vỡ đầu cũng sứt trán; ở Liên Xô cả cái chủ nghĩa Lê Nin đứng khựng lại. Kinh tế nhà nước tại Nga bị chết cóng suốt mấy thế hệ vì họ không công nhận quyền tư hữu. Ngược lại, khi đã giác ngộ quyền tư hữu, dùng quyền tư hữu làm động cơ phát triển, các đồng chí cộng sản Trung Hoa đã quyết chí làm giầu, ào ào tư bản hóa, họ bỗng nhiên thành tỷ phú hết. Họ đã lãnh đạo giai cấp vô sản Trung Hoa biến hóa thành những bàn tay làm gia công cho các xí nghiệp Mỹ, Ðài Loan, sung sướng lãnh đồng lương “bóc lột” để cung cấp hàng hóa rẻ cho thế giới tư bản. Cái gọi là quyền tư hữu nó quả thật là một con ma kỳ diệu.

Giác ngộ sự thật này, nó quý hơn những người vẫn khoe đã giác ngộ chủ nghĩa Mác Lê Nin khi đi tìm đường cứu nước. Ông Nguyễn Văn An đã kết luận là phải dứt khoát, không do dự: “Do đó chúng ta phải dứt khoát từ bỏ lý thuyết và mô hình sai trái từ gốc này, vì hậu quả của nó gây ra như thế nào mọi người đều đã biết. Ðó là con đường trở về thời kỳ thiếu thốn và đói khổ.” Xin nhấn mạnh hai chữ: TRỞ VỀ. Ông Nguyễn Văn An đã xác nhận: Trước khi “đổi mới” theo kinh tế tư bản, Cộng Sản Việt Nam đã đưa đất nước đến cảnh thiếu thốn và đói khổ. Dân ta không ai muốn phải “trở về” cảnh đói khổ đó nữa.

Năm 1989 ông Trần Xuân Bách đã nhìn thấy cái sai của Ðảng Cộng Sản, ông viết: “Tư duy khoa học đang thay thế tư duy giáo điều... Ðổi mới là cái gương để ta soi. Nếu mặt bị nhơ chỉ rửa mặt chứ không phải là đập vỡ gương. ” Nhưng ông Trần Xuân Bách vẫn còn mơ mòng tin tưởng vào chủ nghĩa Mác, ông viết: “Ta phải nhận lỗi trước Mác vì đã làm méo mó chủ nghĩa Mác.” Năm nay, ông Nguyễn Văn An, trong phạm vi hiểu biết của mình, đã vạch ra một sai lầm lớn của Marx. Sai lầm từ gốc, chứ không phải đã bị ai làm méo mó cả. Phải công nhận thái độ của ông An can đảm và tiến bộ về mặt tri thức.

Ông An nhắc đi nhắc lại nhiều lần, rải rác trong bài phỏng vấn những câu này: “Ðảng (Cộng Sản) của mình đã phạm sai lầm có tính hệ thống mà không nhận ra được và không khắc phục được... Ðảng đã trở thành lực lượng cản trở dân chủ, tự do, cản trở sự phát triển của xã hội. Ðảng đã trở thành ông Vua tập thể, đã trở thành Ðảng trị... Ðảng đã trở thành lực lượng cản trở sự phát triển của xã hội, đã trở thành lực cản của sự phát triển tự do dân chủ của xã hội. Nói theo tinh thần của Marx thì cái gì cản trở sự phát triển là thối nát, là phản động.”

Nói đến như thế thật là đã nghĩ hết lẽ, nói hết lời. Ðọc những phân tích và nhận định của ông Nguyễn Văn An, bất cứ ai có trí khôn ở mức bình thường cũng sẽ phải đi tới một kết luận sáng suốt, tất yếu. Khi phân tích cảnh Liên Xô sụp đổ, ông Nguyễn Văn An công nhận: “Chính những người cộng sản chân chính cũng muốn giải tán đảng đã biến chất để xây dựng đảng mới, để sửa lỗi hệ thống, để làm lại từ đầu.” Có ai ở Việt Nam còn muốn làm “những người cộng sản chân chính” như vậy hay không? Hãy đứng lên xóa bỏ cái đảng “vua tập thể” “thối nát, phản động” này đi, làm lại từ đầu đi! Phải ngăn không cho nó nắm độc quyền chính trị tiếp tục làm vua nữa! Không nên để cho nó kéo dài việc “cản trở dân chủ, tự do, cản trở sự phát triển của xã hội” nữa!

Nhưng rất tiếc, tất cả công trình phân tích của ông Nguyễn Văn An lại dẫn ông tới những kết luận hoàn toàn “hụt hẫng!” Ðọc rồi không thể tin được là con người phân tích rành rọt ở trên cũng là con người đang nêu ra các đề nghị ở dưới. Hãy cử một thí dụ: Ông An bảo đảng Cộng Sản “phải giành quyền lãnh đạo thông qua tranh cử trong đảng và ngoài xã hội.” Nhưng ông lại không chấp nhận có thêm một đảng chính trị nào khác ngoài đảng Cộng Sản cả. Thế thì khi tranh cử là ai tranh cử với ai?

Ðề nghị của ông An, nghe xong phải bật cười: Ðảng Cộng Sản sẽ tranh cử với đảng Cộng sản! Ông đề nghị mỗi lần bầu cử mỗi chức vụ đảng Cộng Sản sẽ đưa ra nhiều ứng cử viên tranh cử với nhau, mỗi ứng cử viên có một chương trình, để cho dân chúng “tự do” bỏ phiếu chọn một trong mấy người đó! Cuối cùng, ai đắc cử cũng thế, đảng Cộng Sản vẫn tiếp tục cai trị! Ðọc tới đây, nếu không bật cười thì chắc ai cũng phải lắc đầu: Rõ chán! Thà rằng theo lối ở thành phố Athena ngày xưa, chỉ bốc thăm chọn người đắc cử theo lối xổ số, dân không cần đi bỏ phiếu, coi bộ còn thành thật và đỡ tốn kém hơn!

Trong phần phân tích, các lý luận của ông An sắc xảo, vững vàng, đồ sộ, lừng lững như một con voi, ai cũng bị thuyết phục. Khi ông nói cần “đổi mới toàn diện, triệt để, cả kinh tế và chính trị,” ai nghe cũng tưởng là thật! Vậy mà cuối cùng, đến những đề nghị thay đổi cụ thể, thì những ý kiến của ông vừa lúng túng vừa hời hợt, không còn sâu sắc và gắn bó chặt chẽ như phần đầu nữa. Như thể con voi của ông có cái đầu rất to nhưng không có được một cái đuôi tương xứng.

Có cái gì khúc mắc trong đầu khiến ông không gỡ ra được? Chúng tôi sẽ bàn thêm trong một bài sau.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Trung Quốc chỉ trích Nhật 'vô trách nhiệm' Bắc Kinh hôm qua có phản ứng gay gắt sau khi Tokyo công bố chính sách quốc phòng mới lấy đối phó với Trung Quốc làm trung tâm và cho rằng hoạt động quân sự của nước này là mối lo toàn cầu.
Image
Các chiến hạm của Nhật Bản. Ảnh: Telegraph

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du chỉ trích Nhật Bản là "vô trách nhiệm" khi mô tả việc Bắc Kinh phát triển sức mạnh quân đội là một mối lo ngại mang tính toàn cầu. "Không có nước nào có quyền tự cho mình cái quyền đại diện cho cộng đồng quốc tế", Telegraph dẫn lời bà Khương nhấn mạnh.

Cụ thể trong chính sách quốc phòng mới công bố hôm qua, Nhật Bản mô tả các hoạt động hải quân của Trung Quốc xung quanh hòn đảo Okinawa là "vấn đề của khu vực và cộng đồng quốc tế". Nội dung chính trong sự thay đổi chính sách quốc phòng của Tokyo là chuyển hướng quân đội từ đối phó với Nga trước đây sang đối phó với Trung Quốc.

Theo đó, trong 10 năm tới, Nhật Bản sẽ điều chuyển trọng tâm quốc phòng của mình từ hòn đảo miền bắc Hokkaido tới các đảo ở phía nam như Okinawa và các đảo đang xảy ra tranh chấp với Trung Quốc tại khu vực này.

Sự thay đổi được thể hiện qua việc Nhật sẽ tăng số máy bay chiến đấu trên đảo Okinawa và binh sĩ đồn trú trên các đảo nhỏ trong khu vực. Tokyo cũng sẽ cắt giảm xe tăng và gia tăng số tàu ngầm từ 16 lên 22 chiếc, phát triển chiến hạm có trang bị hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo Aegis từ 4 lên 6 chiếc.

Bên cạnh chiến lược tái cấu trúc quân đội, Nhật Bản cũng thúc đẩy năng lực quốc phòng thông qua mối quan hệ với đồng minh Mỹ và đẩy mạnh hợp tác với các đối tác khu vực như Hàn Quốc, Australia, Ấn Độ và ASEAN.

Đình Nguyễn

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Ông Nguyễn Văn An chưa thấy Lỗi Hệ Thống

Ngô Nhân Dụng
Ðọc bài phỏng vấn trên mạng nghe ông Nguyễn Văn An nói rằng đảng Cộng Sản Việt Nam phải “thay đổi toàn diện và triệt để,” ai cũng mừng cho ông. Tới đoạn cuối, ai cũng phải ngạc nhiên về những đề nghị thay đổi của ông. Những đề nghị này không thể nào sửa chữa những Lỗi Hệ Thống ông đã vạch ra trước đó.

Ông Nguyễn Văn An nói ở đoạn đầu: “Tôi mong muốn Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương, mong muốn Ðại Hội XI chọn... khuynh hướng đổi mới tư duy toàn diện và triệt để, cả kinh tế và chính trị thì chúng ta mới khắc phục được lỗi hệ thống.” Chúng tôi đã tóm tắt những “lỗi hệ thống” mà ông An nêu lên. Một là đảng đã theo mô hình kinh tế lấy quốc doanh làm chủ đạo. Hai là mô hình này bắt nguồn từ chủ thuyết sai lầm của Karl Marx, coi quyền tư hữu là nguồn gốc mọi tội lỗi.

Nhưng sau khi đã phân tích rạch ròi như vậy, ông Cựu Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An lại đi tới những kết luận, phải nói là rất nhạt nhẽo, vòng vo lẩn quẩn, và hoàn toàn vô ích. Ông nói: “Tôi đề nghị chúng ta vẫn giữ học thuyết Marx-Lenin.” Rồi ông lại nói tiếp: “Nhưng chúng ta không chỉ biết và vận dụng duy nhất học thuyết Marx-Lenin, mà cần phải biết và vận dụng những học thuyết tinh hoa của nhân loại như chúng ta bắt đầu làm từ khi đổi mới.” Ðã thế thì phải “giữ học thuyết Marx-Lenin” để làm cái gì? Tiếp theo đó, ông đề nghị “thay đổi chính trị,” đây mới là chuyện hấp dẫn, ai cũng muốn nghe. Nhưng sau khi đòi “thay đổi toàn diện và triệt để,” ông An lại vẫn muốn đảng Cộng Sản giữ độc quyền chính trị! Ông đề nghị mỗi lần bầu cử đảng Cộng Sản đưa ra nhiều người ra tranh cử với nhau, cho dân bỏ phiếu chọn lựa trong đám “ứng cử viên” đó! Nói những câu như thế mà không cười, người nghe cũng không bật cười, thật không thể nào hiểu nổi!

Nếu ông Nguyễn Văn An đưa đề nghị này cho những người cầm đầu đảng Cộng Sản coi, chắc họ sẽ phê bình là ông nói chuyện “vớ vẩn!” Nếu không phải là “ngớ ngẩn!” Vì ông vẫn bảo vệ độc quyền chính trị cho một đảng. Ví thử năm tới đảng Cộng Sản chọn ba ứng cử viên vào chức tổng bí thư: Tô Huy Rứa, Nguyễn Sinh Hùng và Nguyễn Phú Trọng, rồi tổ chức cho dân chúng bỏ phiếu chọn. Nhưng chọn ông nào trong 3 ông đó đắc cử thì cũng vẫn vậy. Họ lại phải ngồi họp với các ông trong Bộ Chính Trị; và mọi điều vẫn do mấy cụ đó “quyết” hết. Thế thì ba người đó có khác gì nhau?

Bày vẽ thêm bầu bán làm gì cho nó rách việc? Từ trước tới giờ Ðảng Cộng Sản vẫn nắm độc quyền chọn người ứng cử. Họ giao cho đám Mặt Trận Tổ Quốc đóng trò giới thiệu, có khác gì đâu? Nắm độc quyền một nửa, nhưng nắm cái nửa đằng chuôi, để ai thắng thì cũng là phe mình, thì có khác gì nắm độc quyền từ đầu tới cuối? Bày vẽ thêm trò bỏ phiếu làm gì cho mất thời giờ, tốn tiền bạc?

Chúng ta phải thương ông mà tự hỏi: Tại sao khúc đầu ông thông minh thế, mà đến khúc cuối ông lại lú lẫn như vậy?

Suy nghĩ cho kỹ, thì thấy ngay từ đầu ông đã không tìm ra đúng căn bệnh. Thầy thuốc không tìm ra đúng bệnh thì không biết dùng thuốc nào để chữa bệnh.

Khi ông Nguyễn Văn An nói rằng “chế độ công hữu” làm cho kinh tế nước ta thụt lùi, ông đã nói đúng. Nhưng cái gì đưa tới kinh tế công hữu? Phải hỏi tại sao ông Lenin lại muốn quốc hữu hóa tất cả các phương tiện sản xuất? Tại sao khi biết phương pháp đó không chạy, ông đã “đổi mới” làm “Kinh Tế Mới NEP” rồi sau đó lại quay về với lối kinh tế quốc doanh? Tại sao ông Stalin đã củng cố cho hệ thống quốc doanh ngày càng mạnh càng cứng hơn? Tại sao các ông Mao, ông Hồ, ông Pol Pot, ông Kim Nhật Thành cũng rập khuôn mô hình kinh tế quốc doanh đó mà làm, không suy nghĩ gì hết?

Bởi vì các ông ấy biết rằng kinh tế quốc doanh chỉ là một khí cụ nhằm tới mục đích khác. Ai kiểm soát được cái bao tử của người dân thì sẽ nắm được vận mạng của cả nước. Kiểm soát phương tiện kiếm ăn chỉ là một trong nhiều khí cụ để kiểm soát tất cả đời sống dân chúng. Kinh tế Quốc Doanh chỉ là một khâu trong cả hệ thống kiểm soát; trong đó có chế độ hộ khẩu, chủ nghĩa lý lịch, guồng máy công an, ban văn hóa tư tưởng, các hội văn nghệ, đoàn văn công, vân vân.

Phải thấy từ phía sau chế độ kinh tế công hữu có một nguồn gốc, chính là hệ thống độc quyền toàn trị, để kiểm soát tất cả xã hội. Trong lịch sử chưa bao giờ có chế độ chính trị nào như thế, cho tới khi các ông Lenin và Stalin sáng chế ra, rồi được ông Mao Trạch Ðông hoàn thiện. Ông Bao Ðồng, một người thân tín của cố lãnh tụ cộng sản Trung Quốc Triệu Tử Dương, tuần trước mới viết một bài ca ngợi Lưu Hiểu Ba (bài này đăng trên mạng Asia News). Ông nói thẳng rằng ông đã sống dưới hai thể chế gọi là Cộng Hòa, mà nay nghĩ lại mới thấy chế độ Dân Quốc thời Tưởng Giới Thạch còn khá hơn chế độ Cộng Hòa Nhân Dân của Mao Trạch Ðông. Thời trước, chính quyền Quốc Dân Ðảng của ông Tưởng không bao biện tất cả mọi mặt. Thời ông Mao thì đảng Cộng Sản nắm tất cả: “Bất cứ ai, nhà khoa học hay nghệ sĩ, nhà văn, thương gia, nhà chính trị, quân sĩ cho tới thường dân, ai mà có một ý kiến độc lập hay là muốn tự do một chút là cảm thấy bị ngạt thở ngay.”

Ðó mới thật là một Lỗi Hệ Thống lớn: Ðộc quyền Chính trị. Kinh tế Quốc doanh chỉ là một phương tiện để đảng Cộng Sản củng cố độc quyền chính trị mà thôi.

Chính vì ông Nguyễn Văn An bắt mạch mà không thấy đúng bệnh, cho nên ông chỉ trích nền kinh tế quốc doanh nhưng lại vẫn muốn đảng Cộng Sản tiếp tục nắm độc quyền chính trị, đảng là nơi duy nhất chọn những người ra ứng cử mọi chức vụ! Theo đề nghị của ông thì đúng là “Vẫn Như Cũ!” Mười năm nữa, lại có một ông Nguyễn Văn An khác ra tay bắt mạch và tuyên bố: Phải thay đổi hệ thống! Ðổi từ gốc đến ngọn!

Nếu như ngay từ năm 1989 mà đảng Cộng Sản Việt Nam biết nghe ông Trần Xuân Bách, thay đổi toàn diện như ở Ðông Âu, thì không đất nước đã lâm vào cảnh lúng túng như bây giờ. Hãy ngó xem kinh tế các nước Ba Lan, Tiệp, Hung bây giờ họ tiến bộ ra sao! Cuối tuần rồi, một bài đăng trên nhật báo Phnom Penh Post (Nam Vang Bưu Báo) cảnh cáo rằng kinh tế Việt Nam đang trên đà suy sụp vì lạm phát lên cao, đồng bạc mất giá, ngoại tệ sở hữu chưa đủ hai tháng trả tiền nhập cảng, vân vân. Bài báo nói dân Việt Nam đang chờ vở tuồng “Ðổi Mới Hai!”

Bước thứ hai, là phải đổi mới chính trị. Không có đường nào khác. Mà đổi mới thật, chứ không thay đổi theo lối gà què ăn quẩn cối xay được!

Kinh tế chậm lụt cũng vì căn bệnh thứ hai mà ông Nguyễn Văn An mới “khám phá,” như đã bàn trong bài trước: Ðảng Cộng Sản đã không nhìn thấy tác dụng “kỳ diệu” của quyền tư hữu giúp cho kinh tế phát triển, vì tin theo lý thuyết của Karl Marx.

Nhưng ông Nguyễn Văn An chưa thấy hết: Tại sao quyền sở hữu tư có tác dụng kỳ diệu? Có phải là cứ cho phép các đảng viên làm giầu, rồi mời các nhà tư sản gia nhập đảng Cộng Sản thì phép lạ kinh tế kỳ diệu sẽ xảy ra hay không? Hãy coi các ông Batista, Mobutu, Marcos, họ đã cho các đảng viên của họ tha hồ làm giầu, giầu nứt đố đổ vách. Nhưng có nhờ thế mà nền kinh tế của xứ họ phát triển tốt hay không? Hãy coi các ông Lương Khưu Thìn, Năm Cam, Bùi Tiến Dũng, Nguyễn Việt Tiến. Bọn họ đều hăng hái tích lũy tài sản, giầu vứt tiền qua cửa sổ đánh cá độ hàng triệu đô la cũng không hết. Nhưng có nhờ họ làm giầu như thế mà dân Việt Nam cũng giầu có hơn không?

Ðây là một sự thật: Thả cho lòng tham nó được tự do tung hoành mà vẫn để cho nó nắm độc quyền quyết định về chính trị thì nó chỉ tác hại chứ không mang lại lợi ích nào cho dân cả.

Quyền sở hữu tư là một nền tảng giúp cho kinh tế các nước tư bản phát triển. Nhưng nó chỉ có tác dụng ở những nước có một hệ thống pháp lý khiến người ta chỉ có thể làm giầu nếu làm ăn chính đáng. Muốn thế, pháp luật phải bảo đảm ai cũng có cơ hội làm giầu như nhau, tự do cạnh tranh với nhau. Kinh tế phát triển là nhờ quyền tư hữu cộng với các quyền tự do và hệ thống pháp luật bình đẳng. Không có tự do, không có bình đẳng, sẽ trở về thời tư bản hoang dã!

Một bài trước trong mục này đã nhắc tới những phân tích của Giáo Sư Tôn Lập Bình về xã hội Trung Hoa bây giờ. Ông thấy có hai nhóm người với “ký đắc quyền lợi” đang bắt tay nhau thao túng xã hội: Những người nắm quyền và những người nắm tiền. Bọn người nắm quyền có thể làm ra luật lệ, ban chỉ thị để giúp bọn người nắm tiền lũng đoạn thị trường. Chúng sẽ điều khiển nền kinh tế sao cho vừa tiếp tục kiếm thêm tiền vừa tiếp tục nắm vững quyền hành. Cứ như vậy, chúng coi cả xã hội chung quanh là cái ao cá cho chúng độc quyền khai thác. Kinh tế tư bản phát triển được là nhờ tự do cạnh tranh trong một xã hội có luật lệ rõ ràng. Kinh tế phát triển khi mọi người làm ăn tin được vào hệ thống tư pháp. Khi một đảng chiếm độc quyền cai trị thì không thể nào xã hội có tự do và bình đẳng, kinh tế sẽ không tiến lên được.

Cho nên ông Nguyễn Văn An đã khám phá ra tính kỳ diệu của quyền sở hữu tư, nhưng ông không nhìn ra tính kỳ diệu của hệ thống pháp luật độc lập và chính trị tự do. Tức là ông vẫn chưa tìm ra cái lỗi hệ thống nặng nề nhất trong chế độ cộng sản: Ðộc quyền chính trị đẻ ra độc quyền kinh tế, đẻ ra tham nhũng, bất công và chậm tiến.

Cho nên, đúng như lời ông Nguyễn Văn An thiết tha kêu gọi từ đầu, nước ta phải thay đổi toàn diện và thay đổi triệt để! Nhưng hiện nay từ trên xuống dưới, những người trong Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng, các đảng viên ăn trên ngồi trốc sắp xênh xang mũ áo đi dự đại hội, họ biết không thể nào thay đổi được. Thay đổi là họ sẽ mất hết. Chính cái “quyền sở hữu tư nhân kỳ diệu” nó khiến những người đang nắm độc quyền chính trị không muốn thay đổi! Họ phải gắn bó với nhau để bảo vệ các quyền lợi đã thủ đắc. Như ông Nông Ðức Mạnh nói: Mất đảng là anh em ta mất tất cả!

Họ sẽ phải bám lấy mô hình kinh tế công hữu cũng như mô hình chính trị độc đảng. Nếu còn độc quyền chính trị, họ biết cách biến công hữu thành tư hữu! Cứ lập ra các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế thật lớn. Cứ đi vay tiền khắp thế giới, đem về tẩu tán cho nhau. Anh nào nói khác đi, bắt bỏ tù. Bài phỏng vấn ông Nguyễn Văn An, lên mạng được ít ngày thì bị bóc. Không nắm quyền thì ai bóc nó đi được? Làm sao những đại biểu tham dự đại hội đảng sắp tới có thể tự xóa bỏ những đặc lợi, đặc quyền ngon lành như vậy?

Nhưng dù sao, chúng ta vẫn ghi công ông Nguyễn Văn An. Ông đã nói những điều tâm huyết làm nức lòng người. Những lời ông nói ra sẽ được các đảng viên cộng sản khác lắng nghe. Người dân và giới trí thức Việt Nam cũng sẽ lắng nghe. Ông đã nói nhiều sự thật xưa nay vẫn bị bưng bít, che giấu. Nghe xong, lòng người sẽ chuyển động. Người ta sẽ bất giác tỉnh ngộ; giống như khi cả triều đình nghe tiếng một đứa trẻ la lớn: “Ông vua không mặc quần!”

Cần phải có người như ông Nguyễn Văn An hô lớn lên như thế. Ðảng Cộng Sản không thể đánh lừa dân Việt Nam mãi được. Chúng ta không thể nào lừa dối nhau mãi mãi được. Hàng triệu người Việt Nam đang muốn chấm dứt những cảnh bất công, tham nhũng, trì trệ, muốn chấm dứt cảnh lệ thuộc ngoại bang, họ có thể căn cứ trên các phân tích và lý luận của ông Nguyễn Văn An, từ đó phát động những phong trào đòi thay đổi thật sự, thay đổi từ gốc đến ngọn.

Nước Việt Nam không thể chờ đợi các lãnh tụ cộng sản sẽ “giác ngộ” những sai lầm từ gốc đến ngọn của họ. Không thể chờ có một ngày đẹp trời chính họ sẽ thay đổi. Quán tính ù lì do các quyền lợi thủ đắc gây ra rất lớn. Hãy coi gương Nga, Ðông Ðức, Tiệp, Ba Lan, Rumani. Các chế độ Cộng Sản ở đó không thể nào thay đổi từ bên trong, nếu không có áp lực mạnh mẽ từ bên ngoài thúc đẩy, giúp họ một tay. Áp lực đến từ những người dân “chán ngấy,” “chịu hết nổi.” Các đảng Cộng Sản ở Ðông Âu và Nga chỉ thay đổi sau khi dân chúng quyết tâm muốn chấm dứt nạn độc tài, muốn chống bất công, tham nhũng, cùng nhau xuống đường đòi những quyền tự do dân chủ tối thiểu.

Phải bắt đầu ngay những phong trào như thế. Ðúng như ông Nguyễn Văn An gợi ý, phải đòi đảng Cộng Sản thay đổi từ hệ thống, thay đổi toàn diện và triệt để, từ gốc đến ngọn!

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Nhật Bản công khai xác định :
Quân đội Trung Quốc là mối đe dọa quốc tế


Trọng Nghĩa
Đang trong chiều hướng hòa dịu trở lại sau nhiều tuần lễ sóng gió, quan hệ Nhật Trung hôm nay (17/12/2010) đã lại bất ngờ trở nên căng thẳng. Nguyên nhân là vì chính sách quốc phòng mới, vừa được Tokyo công bố, đã xác định rằng tiềm lực quân sự của Trung Quốc là một mối đe dọa không chỉ cho vùng Châu Á, mà cho cả quốc tế.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, bà Khương Du, đã lên tiếng đả kích những lời lẽ bị coi là ‘’vô trách nhiệm’’. Đối với Bắc Kinh, không một quốc gia nào "có quyền tự cho mình là đại diện của cộng đồng quốc tế, hoặc đưa ra những bình luận vô trách nhiệm về sự phát triển của Trung Quốc". Theo bà Khương Du, Bắc Kinh ‘’không hề đe dọa bất kỳ ai’’.

Phản ứng gay gắt của Trung Quốc được đưa ra ít lâu sau khi chính quyền Nhật Bản chính thức thông qua một kế hoạch quốc phòng thực hiện trong vòng 10 năm tới đây, tăng cường lực lượng quân sự xuống các đảo ở phía Nam, một kế hoạch được xem là nhằm đối phó với hiểm họa đến từ Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.

Từ ngữ trong tài liệu, mang tên là Bản Hướng dẫn về Chương trình Quốc phòng, mang tính chất mạnh mẽ khác thường khi nhắm vào Trung Quốc và các hoạt động ngày càng gia tăng của hải quân nước này, xem đấy là một vấn đề đáng ‘’quan ngại’’ cho cả khu vực lẫn thế giới. Bản hướng dẫn nói :

« Trung Quốc đang tăng cường nhanh chóng sức mạnh quân sự và gia tăng hoạt động trong các vùng biển bao quanh nước này. Cộng thêm với tính chất thiếu minh bạch của Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến quân sự và an ninh, chiều hướng này trở thành một mối quan ngại cho khu vực và cộng đồng quốc tế. »

Chính sách quốc phòng mới của Tokyo được ban hành trong bối cảnh mới đây quan hệ ngoại giao Nhật Trung căng thẳng hẳn lên chung quanh sự cố tàu cá Trung Quốc đâm vào tàu tuần duyên Nhật Bản tại vùng quần đảo Senkaku/Điếu Ngư tại biển Hoa Đông. Nơi này do Nhật Bản kiểm soát, nhưng bị Trung Quốc đòi chủ quyền. Bên cạnh đó, các động thái của Trung Quốc dùng sức mạnh để áp đặt chủ quyền trên Biển Đông cũng làm nhiều nước quan ngại, từ Việt Nam cho đến Hoa Kỳ.

Một cách cụ thể, theo kế hoạch mới, Tokyo sẽ tăng cường lực lượng tàu ngầm của mình, từ 16 chiếc hiện nay lên thành 22 chiếc, cũng như sẽ hiện đại hóa các phi đội chiến đấu cơ. Hệ thống tên lửa chống tên lửa cũng được củng cố thêm, với các dàn phóng hỏa tiễn Patriot PAC-3 đặt trên đất liền, được tăng từ 3 lên thành 6 dàn, trong lúc hệ thống tên lửa ngăn chặn SM-3 trên biển, cũng được nâng lên từ 4 lên thành 6 đơn vị bố trí trên các khu trục hạm loại Aegis.

Về quan điểm phòng thủ, Tokyo cũng thay đổi đối tượng cần ưu tiên dè chừng. Nếu chiến lược cũ tập trung phòng thủ ở mạn Bắc, dự phòng nguy cơ đến từ Liên Xô, rồi sau đó là Nga, nước vẫn tranh chấp chủ quyền với Nhật Bản trên quần đảo Kuriles, thì giờ đây, trọng tâm chú ý được dồn xuống phía Nam.

Lực lượng đồn trú trên đảo Hokkaido đối diện với Nga sẽ được tái triển khai, trong lúc nhiều đơn vị hải, lục, và không quân sẽ được bố trí trên quần đảo Nansei ở phía Nam, gần Okinawa, và gần khu vực có tranh chấp với Trung Quốc. Đây cũng là khu vực mà hải quân Trung Quốc hoạt động mạnh mẽ trong thời gian gần đây.

Kế hoạch quốc phòng mới của Nhật Bản dự trù đẩy mạnh hợp tác với Hàn Quốc, Úc, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á, đồng thời cũng khẳng định trở lại tính chất thiết yếu của liên minh với Hoa Kỳ.

Theo ông Akira Kato, chuyên gia phân tích an ninh tại trường Đại học Oberlin ở Tokyo, thì Bản Hướng dẫn về Chương trình Quốc phòng Nhật Bản thông qua phản ánh một chuyển hướng rõ rệt, mà mục tiêu là đối phó với sức mạnh hải quân không ngừng gia tăng của Trung Quốc, được xem là một mối đe dọa chủ yếu đối với Nhật Bản và Hoa Kỳ.

Lẽ dĩ nhiên, ngoài Trung Quốc, Chương trình quốc phòng mới của Nhật Bản cũng nhằm đối phó với Bắc Triều Tiên, là nước vẫn coi Tokyo là một kình địch.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Thoát Hiểm Nhân Quyền

Trần Khải

Mọi chuyện có vẻ như rằng, hưởng lợi về tình hình nhân quyền nhất trong thời gian này hóa ra lại là nhà nước CS Việt Nam.
Như thế không có nghĩa, Việt Nam là nơi nhân quyền được tôn trọng và bảo vệ cẩn trọng, mà chỉ vì những lý do khó hiểu nào đó, các mũi dùi nhân quyền quốc tế lại chĩa trực diện vào các nơi khác.

Thí dụ, khối ASEAN họp đủ thứ diễn đàn quốc tế mở rộng, nhưng chỉ có Miến Điện bị la mắng về mặt nhân quyền; không nghe ai la mắng gì nhà nước CSVN. Rồi tới quả bom ngàn triệu tấn của Giải Nobel Hòa Bình 2010 thì lại rơi ngay Bắc Kinh... Nghĩa là Hà Nội tuyệt vời, giữa muôn trùng phi tiêu rợp trời, vẫn thoát hiểm như thường.
Vì sao thế? Phải chăng, nói theo kiểu mê tín dị đoan của dân mình, thì các lãnh đạo CSVN được “bà độ, ông cứu”? Hay phải chăng, Hà Nội có trang phục tàng hình nhân quyền, để khi kính chiếu yêu rọi tới thì vẫn không thấy gì? Nhưng tuyệt vời nhất cho Hà Nội, là khi Giải Nobel Hòa Bình được tuyên bố trao cho Lưu Hiểu Ba, một nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc. Bởi vì sau khi thế giới chấn động vì ảnh hưởng của một cú đấm thép từ Bắc Âu tung xa ngàn dặm như thế, và rồi nhà nước Bắc Kinh giận dữ gầm thét phản ứng như thế, tất cả mọi chuyện xảy ra tại Việt Nam đều tự nhiên trở thành “chuyện nhỏ” thôi...

Thực sự, chỉ nhìn trong vài năm qua, thế giới sẽ thấy các chuyện đàn áp nhân quyền tại Việt Nam không ở tầm mức vang dội như tại Miến Điện và Trung Quốc.

Năm 2007, hàng trăm ngàn vị sư xuống đường ở Miến Điện để đòi cải cách kinh tế cho dân chúng đỡ khổ. Nguyên cớ lúc đầu vì giá xăng dầu bị gỡ bao cấp, làm giá xăng dầu tăng 66%, và giá khí hóa lỏng để chạy xe buýt tăng giá gấp 5 lần. Do vậy, chuyên chở tăng giá, năng lượng tăng giá, kéo theo mọi thứ cùng tăng. Các vị sư đã bị đàn áp dữ dội bằng bạo lực quân đội.

Năm 2008, nhiều ngàn dân biểu tình ở vùng đất Tây Tạng, lúc đầu nguyên khởi là để kỷ niệm Ngày Tây Tạng Nổi Dậy. Một số nơi bị hôi của, cướp, đốt phá. Quân đội TQ đã đàn áp dữ dội.
Năm 2009, nhiều ngàn dân vùng Tân Cương xuống đường, lúc đầu là biểu tình ôn hòa, nhưng hai ngày sau là hàng trăm dân Hán tộc dùng bạo lực xô xát với dân bản xứ Tân Cương.

Với những mức độ lớn như thế tại Miến Điện và Trung Quốc, quốc tế sẽ thấy rằng các chuyện ở VN đều là chuyện nhỏ, bởi vì tại VN bất kỳ cuộc tụ họp nào quá 5 người đều bị vây bắt tức khắc.

Thêm nữa, những cuộc tụ họp dân oan vài chục người rồ cũng bị xe công an nửa đêm xúc đưa về các tỉnh. Và những cuộc tuần hành thắp nến của giáo dân Hà Nội để đã được CSVN hóa giải nhẹ nhàng bằng các chiêu thức vận động Vatican, để rồi đẩy Đức Giám Mục Ngô Quang Kiệt vào một góc tu viện. Chưa hết, các bất ổn tại Đồng Chiêm (Hà Nội), Cồn Dầu (Đà Nẵng), Bát Nhã (Lâm Đồng... đều được chuyển sang hồ sơ tranh chấp chủ quyền đất, giải tỏa để làm dự án, nội bộ sân chùa...
Lăng ba vi bộ tuyệt vời như thế, nên thế giới vẫn cho rằng Hà Nội nhẹ tội hơn Bắc Kinh. Bởi vì những cuộc vây bắt giới bất đồng chính kiến và những người hoạt động công đoàn ngoàì luồng tại VN đều chỉ là từng đợt vài người. Nghĩa là, VN có nặng tội, thì cũng cỡ như Cuba thôi, chứ chưa tới mức “đàn áp hoành tráng” như TQ và Miến Điện. Một điểm cũng cần so sánh rằng, chính Tòa Thánh Vatican cũng đã khéo léo dịu dàng với VN và Cuba, và lấy sự thỏa hiệp này làm chính sách căn bản, cũng vì thực tế, có căng thẳng với anh em nhà Castro và ông vua nhà họ Nông thì sẽ chỉ vô ích thôi.

Cao điểm của vở tuồng hiện nay là Giảỉ Nobel Hòa Bình 2010, thì chỉ có Bắc Kinh lãnh búa. Như thế, Việt Nam sẽ đỡ lo lắng nhiều năm, vì Giảỉ này tới Châu Á, thế nào nhiều năm sau mới quay lại châu lục này.
Điều cần thấy những ngày này: chính nhiều quan chức Mỹ cũng đã khen ngợi nhân quyền VN có cải thiện. Sao lại có chuyện như thế? Nếu ngay tận gốc thủ đô Washington DC, Hà Nội được khen ngợi về nhân quyền thì kể như khó thông qua các dự luật nhân quyền VN và dự luật trừng phạt các quan chức VN vi phạm nhân quyền (mà dân biểu liên bang Cao Quang Ánh đã trình ra).

Hoặc, có thể thấy, hệt như tuần này chúng ta đã thấy dự luật DREAM Act, một dự luật nhằm ân xá sinh viên học sinh di dân lậu, thông qua Hạ Viện được, nhưng tới Thượng Viện là bị hoãn liền. Nghĩa là tối đa, dự luật nhân quyền VN chỉ qua được Hạ Viện, mà viễn ảnh này chưa chắc đã có thể xảy ra, vì thực tế Đảng Cộng Hòa đang nắm quyền kiểm soát Hạ Viện trong khi đảng này chỉ quan tâm về sức bành trướng của Trung Quốc.

Cũng cần ghi nhận rằng, mới hôm Thứ Tư 9 tháng 12 năm 2010 tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã có cuộc gặp gỡ giữa Phụ tá Ngoại trưởng là ông Michael Posner với một số đại diện các tổ chức nhân quyền và chính trị của cộng đồng Việt Nam. Nội dung bàn về các vấn đề nhân quyền và lao động tại Việt Nam và ông Posner muốn thu nhận những ý kiến để chuẩn bị cho cuộc họp với chính phủ Việt Nam tại Hà Nội vào tuần tới nhằm cải thiện tình trạng nhân quyền trong nước và yêu cầu thả những tù nhân chính trị.

Chức vụ Phụ Tá Ngoại Trưởng là chức vụ cao hàng thứ 3 tại Bộ Ngoại Giao Mỹ, chỉ đứng sau Ngoại Trưởng Hillary Clinton và hai vị Thứ Trưởng Ngoạị Giao là James Steinberg và Jacob J. Lew. Chức Phụ Tá Ngoại Trưởng cũng có thể dịch là Trưởng Phòng của Bộ Ngoại Giao đặc trách về một lĩnh vực chuyên môn.

Bản tin Việt Báo hôm Thứ Sáu ghi rằng:
“Vị đại diện của bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi, Phó Tổng Thư Ký Đảng Dân Chủ Việt Nam đã đặt vấn đề với ông Michael Posner là nhà cầm quyền Việt Nam đã bỏ tù một cách không chính đáng những nhà đấu tranh dân chủ trong đó có Tổng Thư Ký Đảng Dân Chủ là luật sư Lê Công Định, Chủ tịch Phong trào Tập hợp Thanh niên Dân chủ là Nguyễn Tiến Trung và Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vẫn còn bị giam mặc dù đã hết hạn án tù.
Ông Michael Posner nhắc tới chuyện Việt Nam vào tháng 5 năm 2010 đã chấp nhận các nguyên tắc luật pháp của Hội Luật Sư Hoa Kỳ và Hoa Kỳ hi vọng là sẽ có những thay đổi lớn lao về tình trạng trao đổi thương mại và luật lao động vào năm 2011.

Bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi đã gởi lời cám ơn đến ông Phụ tá Ngoại trưởng Hoa Kỳ về những nỗ lực của ông và nhờ ông yêu cầu chính phủ Việt Nam phải trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị ngay tức khắc và vô điều kiện.

Ông Posner nói rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ tiếp tục áp lực với Hà Nội về vấn đề cải thiện nhân quyền và yêu cầu trả tự do tất cả các tù nhân chính trị trong cuộc họp sắp tới vào hai ngày 13, 14 tháng 12, 2010.”(hết trích)

Như thế, Mỹ-Việt sẽ nói gì về nhân quyền trong 2 ngày 13 và 14 tháng 12-2010?
Có thể là phía Mỹ sẽ nói, “quý vị hên lắm, may mà Lưu Hiểu Ba được giải Nobel, chứ nếu Giảỉ này trao cho một người Việt nào thì kể như quý vị rách việc. Thêm nữa, quý vị phải cảm ơn Hoa Kỳ vì Bộ Ngoại Giao Mỹ luôn luôn khéo léo bênh vực quý vị...”

Cũng có thể là phía CSVN sẽ tự nhìn nhận rằng đúng là đã có bắt nhiều người bất đồng chính kiến (không chối nổi chuyện này, cả thế giới đều biết), nhưng cũng đúng là có đưa ra tòa xử theo “đúng luật pháp của VN” (bảo đảm có bản án sẵn, chỗ này sẽ được Hà Nội im lặng, muốn hiểu sao cũng được), đúng là VN cũng vây bắt những người viết blog (Hà Nội sẽ đắc ý nói rằng, quý vị cũng bắt người sáng lập WikiLeaks đấy thôi, cũng vì thiếu 2 bao cao su, còn chúng tôi con cháu Bác Hồ thì lại thừa 2 bao cao su), và đúng là chúng tôi có bao vây kinh tế các gia đình của những người viết blogs, và vân vân, và vân vân.

Tuy nhiên, Hà Nội sẽ nói thêm, rằng thế giới Tây Phương (Mỹ-Châu Âu) phải biết rằng đừng có vì một vài người bất đồng chính kiến mà đẩy chúng tôi sang hàng ngũ phên dậu cho Bắc Triều, kiểu như anh Chí Phèo Bắc Hàn...

Có một số chi tiết cho thấy rằng Mỹ muốn kết thân với Việt Nam bất kể mọi đàn áp nhân quyền. Bởi vì thực tế trong ngoại giao, Mỹ đã kết thân với rất nhiều nước vi phạm nhân quyền. Thí dụ, bất kể Israel bị hầu hết thế giới chỉ trích việc bao vây nhiều thị trấn Palestine, Mỹ vẫn xem Israel là “môi hở, răng lạnh” của Mỹ, bởi vì Israel là thành trì để ngăn các nước Ả Rập đầy bất trắc. Và bất kể mọi nghị quyết kết án và trừng phạt Israel, Mỹ vẫn ngang nhiên phủ quyết hoặc bất tuân hành như thường.

Thí dụ nữa, bất kể Saudi Arabia nhiều năm nằm trên danh sách CPC để trừng phạt vì lý do đàn áp tôn giáo, Mỹ vẫn xem Saudi là bạn chí thân “phên dậu” để mở căn cứ ở Saudi thời Cuộc Chiến Vùng Vịnh lần đầu, nhằm đóng quân giúp Saudi (bây giờ đã rút quân xong, ra khỏi là năm 2003), từng đưa Hạm Đội Thứ 5 tới bảo vệ tuyến hàng hải ở Vịnh Ba Tư để giúp bạn Saudi.

Và gần nhất, vào ngày 20-10-2010, Bộ Ngoại Giao Mỹ loan báo cho Quốc Hội Mỹ ý định bán đợt vũ khí lớn nhất lịch sử Mỹ: đơn Saudi đặt mua vũ khí Mỹ trị giá 60.5 tỉ đôla.

Hóa ra, nhân quyền chỉ là nói bên bàn họp nhân quyền thôi. Còn chuyện quốc gia Hồi Giáo Saudi Arabia đàn áp các tôn giáo khác, thì chỉ là “chuyện nhỏ,” hay có đàn áp nữ quyền thì đó là chuyện Mỹ không muốn bàn tới, bất kể đó là chuyện cho cưới 4 vợ, hay bắt quý bà che mặt, hay bắt phảỉ có người thân hộ tống khi ra đường phố... Đó là chưa kể chuyện Saudi Arabia cấm ngặt đồng tính luyến ái (nhân danh tôn giáo).

Như thế, Việt Nam thực ra còn đỡ hơn Saudi Arabia, nhiều người Mỹ sẽ nghĩ như thế, vì nữ quyền và đồng tính quyền cũng còn có chỗ thương lượng ở VN (bởi vì đạo của Mác-Lê-Hồ không cấm?).

Trên đàì VOA, hôm Thứ Năm 9-12-2010, bản tin nhan đề “Đại sứ Mỹ: Các vụ bắt bớ giới bất đồng chính kiến gia tăng tại VN” đã có những lời nhận xét từ ông Đạị Sứ Mỹ, trích như sau:
“Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội nói rằng Việt Nam đang gây khó khăn cho những người bất đồng chính kiến trong việc bày tỏ quan điểm của họ, với sự gia tăng các vụ bắt bớ trong thời gian gần đây.

Đại sứ Michael Michalak hôm thứ Năm nói rằng tính minh bạch trên Internet đã bị “tấn công” liên tiếp tại Việt Nam, với những giới hạn mới được áp đặt đối với các blogger và cà phê internet, cũng như các hành động xâm nhập các trang mạng chỉ trích nhà nước.

Đó là phát biểu của Đại sứ Michalak trước một diễn đàn đánh dấu Ngày Nhân Quyền Quốc Tế hôm thứ Sáu. Ông nói trong năm nay, 24 người đã bị bắt giữ, và 14 người khác bị kết tội tại Việt Nam, chỉ vì “đã bày tỏ quan điểm của mình một cách ôn hòa.”

Trong khi nhiệm kỳ Đại sứ của ông sắp sửa kết thúc, trong 3 năm phục vụ tại Việt Nam đại sứ Michael Michalak đã chứng kiến sự kiện Washington và Hà Nội xích lại gần nhau trong các lĩnh vực thương mại và an ninh. Ông cho biết ông cũng thấy có cải thiện trong vấn đề tự do tôn giáo trong thời gian ở Việt Nam...”(hết trích)
Tuyệt vời là ông Đại Sứ. Vừa mới nói một câu chỉ trích Hà Nội, liền vuốt ve ngay câu kế tiếp.

Đại Sứ Michalak nói ông cũng thấy có cải thiện trong vấn đề tự do tôn giáo trong thời gian ở Việt Nam. Ông đã nói như thế, thì làm sao 2 dự luật của DB Cao Quang Ánh thông qua được? Mà nếu qua được Hạ Viện, thì cũng không thấy có cơ qua nổi Thượng Viện. Khỏi cần tới ông Đại Sứ Lê Công Phụng du thuyết DB họ Cao làm chi cho mệt.
Bởi vậy, Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam là ông Lê Thành Ân có ra Đà Nẵng tắm biển, nhưng không nghĩ tới chuyện thăm Giáo Xứ Cồn Dầu gần đó.

Bây giờ lại thêm chuyện ông Lưu Hiểu Ba lãnh giải Nobel 2010. Thế giới sẽ gật gù, rằng đúng thế, VN còn nhẹ tội hơn Miến Điện và TQ, và thậm chí cũng còn có chỗ đỡ hơn là Saudi Arabia.
Thế giới chỉ thấy rằng TQ đang nổi giận, nhưng lại không thấy rằng VN đang vui mừng vì đã có đàn anh lãnh đạn giùm.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

TÂM TÌNH NGÀY GIÁNG SINH

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất


Năm nay lễ Giáng Sinh đến, khắp nơi trên nước Mỹ, mưa dầm dề, tuyết đổ, trời lạnh thấu xương. Kẻ hèn này vốn là thứ dân “đầu đường xó chợ”, tối ngày lang thang ngoài đường mà phải nằm bẹp ở nhà là một cực hình không chịu nổi. Nhưng vậy mà cũng có cái hay. Nằm nhà có thì giờ đi chu du khắp nơi trên “thế giới ảo” xem người ta mừng Giáng Sinh ra sao cũng là một cái thú. Cặp mắt lội bộ trên con đường vạn nẻo, ghé từng trang web, vô mấy tờ báo quen, không khí Giáng Sinh náo nhiệt đáo để, mặc dầu giữa lúc khung trời kinh tế mây đen vần vũ chẳng khác gì bầu trời xám xịt bên ngoài. Người ta nghỉ làm việc thì có nghỉ, ăn chơi thì có ăn chơi, mua sắm thì có mua sắm, quà cáp thì có quà cáp, vân vân và vân vân, nhưng việc thực hiện cái nội dung chính của một ngày lễ mang ý nghĩa tôn giáo thì rất ít. Đó là điểm đáng buồn nói chung. Và, cũng còn có những điểm nói riêng chẳng vui tí nào đối với những con chiên còn ngoan ngoãn trong đàn.



Trước hết, phải kể đến chuyện trang web Nữ Vương Công Lý đăng một cái tin rất lạ: báo An Ninh Thủ Đô (ANTĐ) của VGCS đăng thư chúc mừng Giáng Sinh của Ủy Ban Đàn Két Công Giáo (UBĐKCG). Lá thư mang hình thức một cương lĩnh đại hội đảng và rất đạt tiêu chuẩn “tốt đời đẹp đạo” không chê vào đâu được. Chúa ngự trên trời cao chắc cũng phải hài lòng và mỉm cười.

Chưa bao giờ kẻ hèn này thấy chuyện lạ lùng như thế này xẩy ra bao giờ: VGCS yểm trợ người Công Giáo tổ chức mừng lễ Chúa Giáng Sinh. Chẳng khác gì chuyện Liêu Trai chí dị. Thực tế còn lạ hơn chuyện Liêu Trai nhiều nữa. Thật vậy, CS là một chế độ nổi tiếng thù ghét các tôn giáo, nhất là Công Giáo. Báo ANTĐ là tờ báo của đảng bộ đảng CS tại Hànội lại trịnh trọng đăng thư chúc mừng lễ Giáng Sinh không phải là chuyện lạ sao? Nhà nước VGCS không dẹp bỏ việc tổ chức mừng lễ Giáng Sinh đã là may rồi. Chúng tham gia mừng Birthday của Chúa với người công giáo là điều chưa từng xẩy ra. Có phải sói đã thành chiên rồi không? Đáng vui hay đáng buồn. Đây không phải là kết quả nhãn tiền của hành vi xưa nay cúi gằm mặt đối thoại với VGCS của ngài TGM Nguyễn Văn Nhơn, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục VN và một số các ngài Hồng Y, Giám Mục chức sắc trong đạo sao? Nhờ có việc cúi đầu đối thoại như thế, tôn giáo (xin hiểu là Công Giáo) không những đã không bị cấm cản, mà còn được nhà nước lo cho hết mình.

Nhớ chuyện Giáng Sinh 1954, cũng tại Hànội, bọn cán bộ CS cũng có ý yểm trợ nhà thờ chính tòa tổ chức lễ Giáng Sinh. Chúng đem hoa, đèn đến trang trí chung quanh thánh đường, nhưng cha chính Vinh ngài không cho. Thế là cha Vinh “được” đi học tập cải tạo mút mùa lệ thủy ở trại Cổng Trời và bỏ xác tại đó. Cha chính Vinh thật là dại, nhẹ không ưa lại ưa nặng, khổ thân mình mà giáo dân cũng khổ lây. Mọi chuyện cứ phó mặc để nhà nước “no” cho như Ủy Ban Đàn Két và ngài TGM Nguyễn Văn Nhơn có phải khỏe re như con bò kéo xe không.

Qua sự việc này, người viết suy nghĩ, chắc Chúa trên trời cũng đã rút ra được một bài học kinh nghiệm từ các môn đệ hậu duệ VN của Ngài. Hai ngàn năm trước đây, nếu Chúa cũng biết nhẫn nhục cúi đầu đối thoại với các kỳ mục Do Thái, đừng lớn tiếng công kích “thói đời” bất chính của họ, nhẫn nhục thuần phục và xu theo lối sống của họ, thì chắc là Chúa đã khỏe rồi, đâu có phải chết một cách nhục nhã như những tên trộm cướp. Đàng khác, đạo của Ngài còn dễ dàng bành trướng trong dân Do Thái, thu hút cả các chức sắc trong dân nữa chưa biết chừng. Kẻ hèn này, một con chiên lạc xa xứ, xin chân thành có lời chúc mừng Ủy Ban Đàn Két và Hội Đồng Giám Mục VN.

Chuyện khác xin kể là việc xẩy ra ở nước Mỹ. Thông tín viên Nina Totenberg của hệ thống phát thanh NPR nói trên một chương trình địa phương “Inside Washington”, sáng 20-12 đã xin lỗi thính giả vì dùng chữ “Christmas party” trong khi on air. Trang Web Western Journalism đặt câu hỏi: Chữ Christmas có phải đã thật sự trở thành một danh từ bẩn thỉu không (Christmas has really been turned into a dirty word.) Việc làm của TTV Totenberg là một hành động phủ nhận ngày Christmas, tức chối bỏ việc Chúa sinh ra làm người. Ở Mỹ này, người ta không lạ gì cái hiện tượng vô thần này. Nước Mỹ là một xã hội đang từng bước đi đến vô thần hóa, một thoái trào tư tưởng khi con người tưởng rằng khoa học có thể làm chủ được thiên nhiên và được tất cả. Thực tế cho thấy, trên mục tiêu vô thần hóa đời sống con người, chủ nghĩa CS đã tỏ ra thua kém chủ nghĩa tư bản xa lắc. Tiền bạc và lối sống buông thả dụ khị con người bỏ rơi Thượng Đế dễ dàng hơn áp bức và ép buộc nhiều. Ở các nước tư bản, con người tự động chối bỏ tôn giáo chứ không cần phải đàn áp, cấm đoán như dưới chủ nghĩa CS.

Để ý hơn một chút thôi, người ta sẽ thấy trên nước Mỹ, một trào lưu không rầm rộ, nhưng âm thầm chối bỏ kỷ niệm mừng ngày Thiên Chúa giáng sinh làm người. Cũng cùng một ý hướng như TTV Totenberg, từ ngữ thông dụng xưa nay “Merry Christmas” trước các sở làm, trong các cửa tiệm, trên các gói quà nay đã biến mất, và được thay thế bằng hàng chữ “Happy Holydays Season.” Mấy hôm trước, báo chí Mỹ đăng, cây thông Giáng Sinh (Christmas tree) tại một chi nhánh ngân hàng Bank of America buộc phải dời đi chỗ khác, lý do vì “nó không thích hợp.” Chả là vì khu vực đó có nhiều người Hồi giáo cư ngụ. Người ta sợ khách hàng Hồi giáo kỵ mà đi chỗ khác. Thì ra tiền là Tiên là Phật, là sức bật của cả đến ý thức tôn giáo nơi con người.

Rõ ràng chúng ta thấy có một hiện tượng đảo nghịch giữa VN và Hoa Kỳ: nơi được tự do tôn giáo thì con người có khuynh hướng chối bỏ Thượng Đế, và nơi không được tự do tôn giáo thì Thương Đế lại được nhà nước vô thần giúp đem đến cho con người. Có phải Marx có lý khi nói: Tôn giáo là tiếng thở dài của những con người bị áp bức. VGCS đang vận dụng nhuần nguyễn nhận định đó của Marx. Chúng thừa hiểu rằng, diệt hết mọi mầm mống tôn giáo là không thể được. Và, để giữ vững chuyên chính, chế độ nhất định phải dùng biện pháp đàn áp. Hai đường lối không thể đi song hành, như vậy thì chỉ còn cách tương kế tựu kế là hay nhất: vừa đàn áp, bóc lột, vừa tạo môi trường cho kẻ bị đàn áp có chỗ trút tiếng thở dài. Để tạo ra môi trường không gì bằng cách ban phát cơ hội cho tôn giáo khuếch trương, giúp phương tiện cho tôn giáo phát triển, và nuôi các chức sắc các tôn giáo bằng địa vị và quyền lợi thật sung mãn. Chính sách này xưa nay VGCS gọi là “tốt đời đẹp đạo.” Chắc chắn không phải là tự nhiên hay vì tốt bụng, báo ANTĐ đăng thư chúc mừng Giáng Sinh của Ủy Ban Đàn Két Công Giáo.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Ðới Bỉnh Quốc lừa dối

Ngô Nhân Dụng
Trên trang mạng của bộ Ngoại Giao Trung Quốc ngày 6 tháng 12 đã đăng một bài dài khoảng 9,000 chữ của ông Ðới Bỉnh Quốc (Dai Bingguo), phó thủ tướng, ủy viên Quốc Vụ Viện, cố vấn cho ông Hồ Cẩm Ðào về ngoại giao.

Bản văn này nhan đề “Kiên trì theo đường lối phát triển hòa bình.” Mục tiêu của bài này để là trấn an giới lãnh đạo Mỹ, chuẩn bị cho chuyến đi thăm Washington của ông Hồ Cẩm Ðào sang vào tháng 1 năm 2011. Ông Ðới xác định rằng nước Tầu không có ý định cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ ở khắp nơi, kể cả Á Châu.

Ðoạn thứ năm trong bài này đặt câu hỏi: “Trung Quốc có ý xưng bá trên thế giới hay không?” Ông Ðới Bỉnh Quốc nói, Trung Quốc không muốn chiếm bá quyền, không giành ảnh hưởng bá quyền với quốc gia khác. Ðể cho người Mỹ hiểu dễ hơn và gợi lại thêm mặc cảm tội lỗi cho họ, ông nói Trung Quốc không theo một “Chủ thuyết Monroe” ở Á Châu (ông nhắc tới tên vị tổng thống Mỹ vào thế kỷ 19 chủ trương nước Mỹ độc quyền gây ảnh hưởng ở Châu Mỹ La tinh, các nước Âu Châu không nên chen vào). Ðới Bỉnh Quốc giải thích: “Kinh nghiệm về những cường quốc đã lên rồi lại xuống cho chúng tôi một bài học là không thể theo con đường bành trướng và chạy đua vũ trang được.” Chính sách và chiến lược căn bản của Trung Quốc, Ðới Bỉnh Quốc nói, là “không tìm cách chiếm bá quyền.” Ông khẳng định: “Nhìn lại lịch sử, Trung Quốc không có truyền thống chiếm bá quyền.”

Ðọc tới câu này, hễ là người Việt Nam ai cũng phải bật cười. Người Tây Tạng, người Mông Cổ, người Hồi ở Tân Cương, Thanh Hải, sẽ phải nổi giận, đến sôi gan tím ruột! Chắc chỉ có một giống người có thể nhắm mắt tin tưởng lời ông Ðới Bỉnh Quốc nói, là cái giống tin vào “16 chữ vàng.”

Ai cũng phải hỏi: Trung Quốc “không có truyền thống xưng bá quyền” thật sao? Ông Ðới Bỉnh Quốc không những không chịu đọc lịch sử mà ông còn quên cả các bài học địa dư. Có phải ông chưa coi bản đồ bao giờ hay không? Nếu trong lịch sử các chính quyền Trung Hoa không xâm chiếm lân bang thì làm sao quốc gia họ có một lãnh thổ rộng lớn như bây giờ? Bộ người dân các nước ở bốn chung quanh Hoa Hạ đều đã tình nguyện xin được lệ thuộc vào các vua nhà Hán, nhà Ðường, cho đến những nhà Mao, Ðặng, để các đám dân “man rợ” này được trở thành thần dân của quý vị thiên tử hay sao?

Ngay từ thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng đã theo chủ trương bành trướng. Ông ta sai tướng với hàng triệu quân đi chiếm đất đai của các giống dân khác ở phía Nam Trường Giang, thường gọi là sống Dương Tử. Hành động đó không gọi là chính sách Bá Quyền thì gọi là gì? Khi một viên tướng trong đạo quân đó, ông Triệu Ðà thấy nhà Tần sụp đổ, tính cùng với các dân tộc Việt ở phía Nam lập thành một quốc gia riêng gọi tên là Nam Việt, thì đến năm 111, hoàng đế nhà Hán đã sai quân đến cướp nước đó để lập thành châu quận lệ thuộc Trung Quốc. Năm 40 sau Công nguyên, các bộ tộc người Lạc Việt ở nước Văn Lang cũ đứng lên giành độc lập, vua nhà Hán lại sai Mã Viện sang tiêu diệt lực lượng đề kháng này. Mã Viện không những đã cầm quân chinh phục Văn Lang mà còn nổi tiếng Phục Ba Tướng Quân trong lịch sử vì ông ta cũng đánh Nam dẹp Bắc, thôn tính đất đai, mở mang bờ cõi nước Trung Hoa. Nếu dân Trung Hoa không có óc bá quyền thì tại sao họ vẫn sùng bái ông Tướng Phục Ba này, lập đền thờ khắp các tỉnh vùng biên giới với Việt Nam, mà tới bây giờ vẫn còn nhiều người Việt Nam không biết gì, cứ tới sì sụp lễ ông ta?

Mã Viện là người thực sự mở đầu 10 thế kỷ đô hộ và đồng hóa của các chính quyền Trung Quốc đối với dân tộc Việt Nam. Ông đặt các quan cai trị trực tiếp một cách gắt gao như buộc thừng (dĩ thằng nhi trị); xóa bỏ các chức lạc hầu, lạc tướng vẫn có từ thời Hồng Bàng để tiêu diệt tầng lớp lãnh đạo cổ truyền; bắt dân bản xứ bỏ hết các phong tục, tập quán cũ, dần dần sẽ phải sống theo lối người Hán. Hơn 9 thế kỷ sau, người Trung Hoa đã tiếp tục chính sách của Mã Viện ở nước ta. Họ không những chỉ chiếm đất đai, chiếm tài nguyên kinh tế và bắt dân Việt Nam làm lao động phục vụ họ như nô lệ. Chủ trương của họ ở khắp nơi vẫn là tiêu diệt đặc tính của “các sắc dân mọi rợ” bằng chính sách đồng hóa. Họ muốn biến tất cả thành người Trung Hoa hết, để muôn ngàn năm sau những giống dân “man, di, nhung, địch” đó không còn dấu vết nào nữa.

Các hoàng đế Trung Hoa không coi các sắc dân này là “người!” Những ai học chữ Hán đều biết rằng trong cách người Trung Hoa viết những tên mà họ dùng để gọi các giống dân chung quanh Hoa Hạ, là “man, di, nhung, địch,” tất cả các tên đó đều được viết cùng một “bộ” như khi viết tên các thú vật và côn trùng!

Lần cuối cùng người Trung Quốc chiếm đóng và cai trị người Việt Nam là đầu thế kỷ 15. Khi vua Minh Thành Tổ sai các tướng cầm quân sang chiếm nước Ðại Việt của chúng ta, ông vua tiêu biểu của các chính quyền Trung Quốc này đã ra lệnh các tướng phải tiêu diệt nền văn hóa dân bản xứ một cách “có hệ thống.” Học giả Nguyễn Huệ Chi viết trong lời mở đầu cuốn Thơ Văn Lý Trần (quyển 1) đã thuật lại những sắc chỉ của Minh Thành Tổ gửi cho các tướng, bắt họ phải đi tìm tất cả các sách do người dân Việt viết bằng chữ Hán, bắt phải hủy diệt hết. Sắc chỉ nói rõ ràng mỗi khi tìm được các sách đó binh lính phải đốt ngay tại chỗ, không cần phải đem về trình cấp trên! Chỉ những sách Kinh Phật giáo, Ðạo giáo, sách thuốc, sách bói toán là được miễn. Ngay cả những cuốn sách giáo khoa dạy trẻ nhỏ bắt đầu với câu “Thượng đại nhân, Khổng ất kỷ” cũng phải đốt! Một đạo sắc sau đó của Minh Thành Tổ đã đưa lời trách mắng các tướng nhà Minh chưa thi hành triệt để lệnh đốt sách kể trên. Vì ông vua này được báo cáo có nhiều đám lính tìm được sách do người Việt trước tác đã quên không đem đốt tại chỗ mà còn đem về nộp! Cuộc xâm lăng của quân Minh, và 20 năm họ thống trị nước ta, chấm dứt năm 1428, đã thành công một phần trong dự án tiêu diệt văn hóa với mục đích biến người Việt thành người Trung Hoa. Bao nhiêu công trình văn học, triết học đã bị hủy, đời sau người Việt chỉ còn nghe nói đến tên nhưng không biết nội dung ra sao!

Nhắc lại những trang sử bi thương của dân tộc Việt Nam khi bị các chính quyền Trung Quốc xâm lược và âm mưu đồng hóa, không phải vì chúng ta muốn gây căm thù đối với người Trung Hoa. Các người lãnh đạo nước Trung Hoa không những đã thi hành chính sách đó đối với người Việt chúng ta, mà còn áp dụng khi đánh chiếm các nước khác nữa. Sức mạnh văn hóa của Hán tộc đã đủ để gây ảnh hưởng trên các nước lân bang, không khác gì các nền văn minh Hy Lạp, La Mã đã đã để lại dấu vết trên các nước Âu Châu đời trước. Nhưng các nước phát sinh ra hai nền văn minh Hy La không phải là những đế quốc tồn tại lâu dài; cho nên quà tặng của họ cho nhân loại bây giờ vẫn được ghi ơn mà không còn gây thù hận. Người Hán thì ngược lại. Họ truyền bá văn minh Hán tộc bằng cách tiêu diệt văn hóa các sắc dân khác. Bây giờ họ vẫn tiếp tục làm công việc đó đối với người Tây Tạng, Thanh Hải, Tân Cương. Giống dân Mông Cổ còn may mắn giữ được một mảnh đất làm xứ sở, nhờ được Nga bảo trợ một thời gian. Văn hóa, ngôn ngữ dân Mãn Châu, từng cai trị nước Tầu gần 4 thế kỷ, ngày nay hầu như đã bị tiệt diệt cả rồi. Phải nhắc lại những chuyện này chỉ để chứng minh rằng những lời ông Ðới Bỉnh Quốc mới viết là hoàn toàn sai sự thật. Ông Ðới Bỉnh Quốc chắc chắn không phải là người ngu dốt, vô học. Cố tình nói sai sự thật như vậy, phải nói là không lương thiện. Mục đích rõ ràng là để lừa gạt.

Chính sách hiện nay của Trung Quốc có thực sự hòa hoãn, không chủ trương bá quyền đúng như ông Ðới Bỉnh Quốc mới viết hay không?

Ba ngày sau khi bộ Ngoại Giao Trung Quốc công bố chính sách trên, tạp chí Hoàn Cầu Thời báo, một cơ quan chính thức của đảng Cộng Sản, đã đăng một bài phỏng vấn Trung Tướng Bành Quang Khiêm (Peng Guangqian), trong đó ông cảnh cáo người Trung Hoa về “ảo tưởng hòa bình.” Ông tướng 67 tuổi này thuộc nhóm các giáo sư “diều hâu” trong Học Viện Khoa Học Quân Sự Trung Quốc, đã viết nhiều sách, báo về chiến lược quốc phòng. Ông nói rằng tình trạng kinh tế toàn cầu hóa, các nước phải tùy thuộc lẫn nhau “không có nghĩa là chiến tranh không thể xảy ra nữa.” Lý do chính, ông giải thích, vì “bản chất bành trướng của chủ nghĩa tư bản độc quyền.” Ngoài ra, ông nêu hai lý do khác, là chính sách bá chủ của Mỹ; và nước Mỹ không chấp nhận cho Trung Quốc vươn lên. Trước đây ông Bành Quang Khiêm từng đe dọa rằng nếu Ðài Loan tuyên bố độc lập thì chiến tranh sẽ xảy ra; Trung Quốc không còn quan tâm đến các vấn đề cô lập về kinh tế, mất đầu tư ngoại quốc hay là bị các nước tẩy chay nữa.

Trong mấy năm gần đây, các vị tướng lãnh Trung Quốc đã nhiều lần lên tiếng đe dọa các nước khác. Tướng Trương Triệu Ngân (Zhang Zhaoyin), phó tư lệnh khu quân sự Thành Ðô, tỉnh Tứ Xuyên viết trong nhật báo Quân Ðội Nhân Dân là Trung Quốc phải từ bỏ chủ trương lỗi thời là xây dựng một quân lực cho thời bình. Ông nói, nhiệm vụ chủ yếu của quân đội là “chuẩn bị chiến tranh, chiến đấu và thắng trận.” Trung Tướng Kim Nhất Nam (Jin Yinan), phó giám đốc Nghiên Cứu Chiến Lược trong Ðại Học Quốc Phòng đã nêu lên chủ trương Trung Quốc phải là một “quốc gia vĩ đại.” Một giáo sư khác tại Ðại Học Quốc Phòng là Phó Ðề Ðốc Dương Nghị (Yang Yi), đã cảnh cáo các nước khác, không nêu rõ tên, là họ không nên lầm tưởng rằng Trung Quốc sẽ không dám dùng vũ lực chỉ vì muốn phát triển kinh tế một cách hòa bình. Ông nói hiểu lầm như vậy là rất nguy hiểm!

Ðiều đáng lo ngại nhất cho nước Việt Nam ta là giới tướng lãnh Trung Quốc đang đề xướng một quan niệm về “biên cương quyền lợi quốc gia.” Ông Hoàng Côn Luân (Huang Kunlun), nhà bình luận trên nhật báo Quân Ðội Nhân Dân, đã viết rằng quyền lợi của Trung Quốc vượt ra ngoài phần lãnh thổ, hải phận của họ. Quyền lợi đó phải bao gồm cả những vùng biển mà tầu thủy Trung Quốc lưu thông: Với sứ mạng lịch sử của chúng ta, quân đội Trung Quốc không những phải bảo vệ lãnh thổ mà còn phải bảo vệ “biên cương quyền lợi” của nước mình. Chính quan niệm “biên cương quyền lợi” này đưa tới việc họ coi Biển Ðông của nước ta là vùng “hạch tâm quyền lợi,” tức quyền lợi cốt lõi của người Trung Hoa.

Ngày hôm nay, các nước ASEAN và Trung Quốc bắt đầu họp với nhau ở thành phố Côn Minh để bàn về vấn đề này. Những quy tắc cư xử trong vùng Biển Ðông đang tranh chấp đã ký kết từ lâu nhưng không được Trung Quốc áp dụng. Chính sách của Bắc Kinh đối với các quốc gia Ðông Nam Á lâu nay là chỉ muốn họp tay đôi khi có tranh chấp hải phận. Trong khi đó các nước Việt Nam, Malaysia, Brunei và Philippines đang có tranh cãi với Bắc Kinh tại vùng Trường Sa thì muốn cùng nhau tiến tới những lập trương chung để đối đầu với nước khổng lồ phía Bắc. Trong cuộc họp này chúng ta sẽ thấy sự thật là chính sách ngoại giao của ông Ðới Bỉnh Quốc muốn bành trướng bá quyền bằng cách “chia để trị” như thế nào!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

TOÀN THẾ GIỚI VUI ĐÓN GIÁNG SINH 2010
VIỆT CỘNG TRẮNG TRỢN ĐÀN ÁP TIN LÀNH


Lý Đại Nguyên
Hầu như cả thế giới không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, quốc gia đều đang vui đón ngày lễ mừng Giáng Sinh của vị Giáo Chủ Thiên Chúa Giáo, Đức Jesus. Người phá vỡ bức trường thành kiên cố hàng bao ngàn năm đã ngăn cách giữa Trời và Người. Nâng tâm linh Con Người lên tầm cao rộng bao la của Vũ Trụ. Nối kết tình thương yêu Cha Con giữa Thiên Chúa và Loài Người. Nói lên nguyên lý tâm linh Tự Ngã thông ứng với Thần Lực siêu nhiên để hoàn thiện một Vũ Trụ Hằng Hóa trong Đức Hiếu Sinh. Từ đó dẫn tới Con Người tự nhận được giá trị Thân Tâm siêu việt của mỗi người, có tự tính thương yêu, có quyền tự do, tự chủ và khả năng sáng tạo của một vị Chủ Nhân đích thực ở xã hội nhân loại, để chủ động trải rộng tình thương đến với Đồng Bào và Đồng Loại, Rồi tự thấy có trách nhiệm về cuộc sống an vui hòa bình phát triển và thăng hóa không ngừng nơi trần thế của chính mình. Nên mới có lời hát: “Vinh danh Thiên Chúa trên Trời. Bình An dưới thế cho Người thiện tâm” truyền tụng trong ngày lễ trọng đại này.

Nhưng buồn thay, tại xứ sở Việtnam đang còn bị nằm trongchế độ vô nhân tính, vô đạo đức, vô văn hóa của Việtcộng, quyền lãnh đạo đất nước trong tay những kẻ vị kỷ, tham quyền, tham nhũng, rất tinh ma quỷ quái trong việc lừa bịp người dân và dối gạt thế giới, nhưng lại thiển cận, dốt nát, hèn hạ trong viềc điều hành quốc gia, phát triển đất nước, tạo phúc lợi cho toàn dân nhằm làm cho quốc tế tôn trọng. Khiến dân chúng từ mất tin tưởng đến chán ghét, oán hận. Thế giới buộc phải làm áp lực đòi Đảng và Nhà Nước Việtcộng phải Tôn Trọng Nhân Quyền của chính Người Dân Việtnam. Thế mà bọn Việtcộng không tự biết nhục, lại đổ oán hận lên đầu dân. Coi dân là kẻ thù, Coi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc là Tầucộng làm chỗ dựa. Trong khi Trungcộng thì tự coi mình là Đế Quốc Thiên Triều, nuôi tham vọng đồng hóa Việtnam. Còn Việtcộng thì phải hy sinh quyền lợi của nước mình để phụng sự chủ trương bành trướng của Trung Hoa ra toàn vùng. Đây là đại họa không những mất nước trong nhất thời, mà còn mất vĩnh viễn cả sự trường tồn, tự chủ của dân tộc Việtnam, do ngàn đời cha ông dầy công vun bồi để lại cho con cháu.

Trong cuộc đối thoại về Nhân Quyền giữa Hoakỳ và Việtcộng hôm 13/12/2010 tại Hànội, trợ lý ngơại trưởng Hoakỳ đặc trách về Nhân Quyền và Lao Động, Michael Posner cho biết: “Thông điệp mà chúng tôi đưa ra trong cuộc đối thoại này, hôm nay là vấn đề nhân quyền là một yếu tố chủ chốt trong quan hệ song phương và điều kiện vô cùng quan trọng để có thể xúc tiến các lãnh vực khác là cần phải giải quyết và đạt được tiến bộ trong vấn đề này”. Ông cũng không quên đưa ra nhận định rằng: “Tôi có thể nói, có một số lãnh vực thực sự tình hình đã trở nên xấu đi. Có nhiều trường hợp người dân bị truy tố, bị bỏ tù vì điều 88, và rõ ràng đã có sự hạn chế về mặt truyền thông. Đó là những vấn đề chúng tôi đặc biệt chú trọng đến trong cuộc thảo luận”.

Để tăng thêm sức mạnh cho tiếng nói đòi nhân quyền của Mỹ đối với Việtcộng, sáng sớm hôm 17/12/2010, Các dân biểu Hạviện Hoakỳ đã thông qua nghị quyết yêu cầu bộ Ngoại Giao Mỹ đưa Việtnam vào danh sách các quốc gia “cần quan tâm đặc biệt” -CPC- vì những vi phạm nghiêm trọng trong lãnh vực quyền tự do tôn giáo. Nghị quyết mang ký hiệu H. Res. 20: “Lên án mạnh mẽ các vi phạm trắng trợn quyền tự do tín ngưỡng hiện nay tại Việtnam, kể cả bắt giam các lãnh đạo tôn giáo và các bản án tù dài hạn cho những người đấu tranh bằng phương thức hoà bình”. Nghị quyết đồng thời: “Kêu gọi Việtnam gỡ bỏ những hạn chế về tự do tôn giáo, thực hiện các biện pháp cải cách chính trị và luật pháp cần thiết để bảo đảm quyền tự do tôn giáo”. Tới đây là Hạviện Hoakỳ đã nhìn rõ cái ‘Pháp Lệnh Tin Ngưỡng và Tôn Giáo’ của Việtcộng, buộc các tôn giáo phải sinh hoạt trong quy chế ‘xin cho’ là một pháp lệnh ‘mạo pháp’ rồi. Dân biểu Cộnghòa, Ed Royce, tác giả bản quyết nghị này nhận xét: “Chính quyền Obama nói đã thấy những bước tiến tích cực tại Việtnam, nhưng bản thân tôi thì chẳng thấy gì cả. Quyền tự do tôn giáo tại Việtnam vẫn tiếp tục bị tấn công”. “Vụ đàn áp giáo dân ở Cồn Dầu chỉ vì tranh chấp đất đai, hay hành vi truy bức Phật Giáo Hoà Hảo và Giáo Hội Phật Giáo Việtnam Thống Nhất”.

Để chống lại đòi hỏi Nhân Quyền của chính phủ Hoakỳ, và phản ứng lại với Nghị Quyết H.Res.20 của Hạviện Mỹ, Việtcộng đã cho công an của chúng, trấn áp các nhóm Tin Lành Tại Gia, mặc dầu có xin phép, đã được ký hợp đồng với Trung Tâm Hội Nghị Quốc Gia ở Hànội trị giá là 160 triệu 500 ngàn đồng Việtnam, để tổ chức cho 3.000 tín hữu tập họp hát mừng Giáng Sinh, từ 14 giờ đến 19 giờ ngày 19/12/2010. Bất ngờ lúc 16 giờ hàng trăm công an Hànội với roi điện, hơi cay, xe vòi rồng tràn vào tấn công khi chương trình thờ phượng của hơn 2.000 tín hữu của các nhóm Tin Lành Tại Gia mới khai diễn. Một cuộc trấn áp, rối loạn nổ ra giữa công an với người Tin Lành từ trong hội trường chạy ra, từ ngoài mới đến bị ngăn tại cổng vào. Ngay lập tức hình ảnh được truyền đi khắp thế giới. Câu hỏi được nêu ra là, động cơ nào đã đưa đến việc nhà cầm quyền Hànội có những hành vi tự nhận mình thực sự đang đàn áp tôn giáo, để buộc Hoakỳ phải đưa Việtnam trở lại danh sách CPC?

Được biết các giáo phái Tin Lành có liên hệ mật thiết với đại đa số Người Dân Hoakỳ cùng một niềm tin. Đụng tới Tin Lành, đương nhiên là trực tiếp đụng tới dân Mỹ. Có lẽ đây là một đòn tâm lý cực mạnh đánh vào tinh thần người dân Mỹ, làm cho dân Mỹ thù ghét Việtcộng, từ đó tạo ra sự chống đối chủ trương của chính quyền Mỹ đang tích cực hỗ trợ toàn diện cho Việtnam, để hợp tác với các nước Đông Nam Á, Á Châu, Hoakỳ và thế giới Dân Chủ trong công cuộc ngăn bành trướng Bắckinh. Đây quả là một đòn hiểm độc, Trungcộng không phải chống sự hiện diện và ảnh hưởng chính trị của Mỹ tại Việtnam, mà tự dân Mỹ không muốn cho Mỹ trở lại Việtnam, khi nhóm mọi rợ còn nắm chính quyền. Như vậy là xây dựng vững chắc chỗ ngồi cho bọn tay sai Bắckinh. Chẳng là trong cuộc bình bầu chức Tổng Bí Thư ở hội nghị Trung Ương Đảng 14, con gà của Băckinh lả Nguyễn Phú Trọng được Nông Đúc Mạnh hết mình hỗ trợ, đã không chiếm được đa số tín nhiệm, mà chỉ được một thiểu số tán thành. Nhưng các đối thủ khác đương nhiên còn ít được tin hơn so với Trọng, nên Trọng được vớt vào thành ứng viên duy nhất để đưa ra Đại Hội XI, dù Trọng đã đến tuổi về hưu và không phải là Tổng Bí Thư đương nhiệm. Xem vậy phe bảo căn Xã Hội Chủ Nghĩa thân Tầu, tuy còn nhiều so với phe Quốc Tế Đa Phương thân Mỹ. Nhưng không có ưu thế tuyệt đối như xưa. Chính vì vậy, mà việc đàn áp tôn giáo và đối lập ở Việtnam hiện nay, có bàn tay của nhiều phía thọc vào để đổ tội lẫn nhau, nhằm phá thối, hoặc lập công với các ‘ông chủ’. Nhưng nó lại tạo ra cảnh hỗn loạn tại Việtnam, dẫn tới sụp đổ nền kinh tế đã quá rệu rạo, rồi kéo luôn cộng đảng Việtnam xuống hố tiêu vong. Chờ xem!

Little Saigon ngày 21/12/2010.

Post Reply