Quán Sinh Tố

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Chồng già vợ trẻ là tiên

Hưng Yên
Cụ Văn Tùy nhấc chân lên không muốn nổi, một phần vì mười mấy tiếng đồng hồ ngồi trên máy bay, tù túng quá nên hai cái chân như muốn tê đi, một phần vì cụ đã có tuổi rồi mà lại mới về Việt Nam “kết hôn” xong nên mới thế. Cụ Văn Tùy năm nay tuy đã ngoài 70, cái tuổi mà người xưa bảo là “Thất thập cổ lai hi”, nhưng cụ chẳng “cổ lai hi” tí nào vì trông cụ còn quắc thước, khoẻ mạnh. Cụ lại có tài văn chương, viết lách lý luận đâu ra đó, nên được nhiều người kính nể! Giá đừng có chuyến về Việt Nam vừa rồi thì cũng đâu đến nỗi, chỉ vì...

Chỉ vì sống nơi đất khách quê người nó đã buồn như chấu cắn, bạn bè chẳng có mấy người, chỉ còn hai ông bà già sớm hôm hú hí, thế mà cách đây mấy năm cụ bà tự nhiên lại chán cảnh trần ai bèn cưỡi hạc về nơi tiên cảnh, bỏ cụ lại một mình nên cụ mới buồn quá sức, buồn tưởng chết đi được! May mà ở nơi đất nước văn minh, già đã có Nhà Nước nuôi, mỗi tháng cụ cũng lãnh được cái check mấy trăm nên không phải lo về đường sinh kế, chứ phải như ở với Việt Cộng, già lết không nổi cũng cứ phải chống gậy đi kiếm lấy mà ăn. Răng lợi cái còn cái mất như cụ Văn Tùy mà cứ phải trệu trạo củ khoai củ sắn thì chả mấy chốc mà ngỏm củ tỏi!

Cứ ngồi nhà mà viết lách mãi nó cũng chán, mà viết cái gì đây? Bọn trẻ nó mới có nhiều cái để mà viết: Truyện tình yêu, truyện ăn chơi, truyện trai gái, truyện cờ bạc, truyện nhậu nhẹt v.v... Chứ còn cụ, quanh đi quẩn lại cũng chỉ có chửi Việt Cộng, mà Việt Cộng thì ai lại chẳng biết là nó đã xấu lắm rồi, cụ có chửi nó cả ngày, cả đêm nó cũng không xấu hơn được nữa. Thế là cụ bèn có ý định đi du lịch, nhưng với mấy trăm Ðô một tháng, có tiện tặn lắm chi phí hết rồi may ra cũng chỉ còn dư được mấy chục, thế thì đi được những đâu? Tốt nhất là về thăm quê hương một chuyến, vừa giải toả được nỗi lòng “Xa quê hương nhớ mẹ hiền” lại còn được tiếng là... Nhớ nước đau lòng con quốc quốc!

Cụ Văn Tùy về Sài Gòn, con bà nó, cái tên Sài Gòn của người ta thân thương như thế mà nó lại đem đổi ra là thành phố Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là cái quái gì, bất quá cũng chỉ là một anh bồi tầu láu cá? Nhưng thôi kệ nó – cụ Văn Tùy nghĩ bụng – nó muốn đổi ra là gì kệ nó, đối với cụ, Sài Gòn muôn đời vẫn cứ là Sài Gòn là được. Mấy ngày mới về cụ bảo thằng cháu ngoại lấy cái xe Honda chở cụ đi vòng vòng để cụ thăm dân cho biết sự tình. Cụ bảo nó chở cụ đến mấy cái xóm lao động, rồi ra ngoại ô xem bà con ta độ này sống thế nào. Mấy hôm đầu thằng cháu nó còn chiều cụ, cụ bảo chở đi đâu nó chở đi đó nhưng sau nó bảo cụ:

“Ông ngoại đến mấy cái chỗ đó làm gì, có gì hay đâu mà đến, để con chở ông ngoại đến chỗ này, có khi ở bên Mỹ cũng chưa chắc đã có đâu”!

Tối hôm đó, nó chở cụ đến một cái quán cà phê đèn xanh đèn đỏ, chớp tắt, chớp tắt có tên là cà phê Tình Cảm. Cụ bảo:

“Tưởng mày chở ông đi đâu, chứ cà phê thì ở bên Mỹ ngày nào ông chả uống!”

Thằng cháu nó cười:

“Nhưng cà phê này là cà phê tình cảm ông ạ!”

Cụ cũng cười:

“Ừ thì vào, xem nó tình cảm thế nào nào!”

Gửi xe Honda đâu đấy xong, hai ông cháu dẫn nhau vào quán. Trong quán cũng đèn xanh đèn đỏ, mờ mờ ảo ảo với tiếng nhạc xập xình, xập xình giật gân ra phết. Một con nhỏ xinh như mộng, nhìn chưa rõ người đã thấy mùi nước hoa sực nức ưỡn ẹo bước ra đón khách. Nó cầm tay cụ dẫn vào một cái bàn trống nơi góc quán, bảo:

“Hai anh vừa uống cà phê vừa làm giám khảo chấm thi em bé đẹp nghe!”

Ðợi cho con nhỏ bước vào trong rồi, cụ mới thì thào hỏi thằng cháu:

“Ở đây người ta có tổ chức thi hoa hậu con nít à?”

Thằng cháu cười bí mật:

“Không có con nít đâu ông “goại” ơi!”

Hai ly cà phê sữa được bưng ra, cụ nghĩ bụng: Ừ, cà phê sữa chứ cà phê đen uống vào giờ này có khi cả đêm không ngủ được. Uống hết gần nửa ly cà phê mà cũng chưa thấy “em bé” được đưa ra, có tiếng của một người nào nào đó giục:

“Em bé đâu, sao không đưa ra đi”?

Lại có tiếng từ bên trong trả lời:

“Có ngay! có ngay!”

Sau đó ba cô nàng từ bên trong tấm sáo bước ra. Ố là là, trông cứ như ba con nhộng ấy thôi. Thằng cháu lại ghé tai ông ngoại thì thào:

Thi “em bé đẹp” là thi “cái ấy” đấy!”

Lúc đầu cụ định nổi trận lôi đình lên với thằng cháu. Mẹ nó, thế ra nó tưởng cụ bằng vai phải lứa với nó hay sao mà nó lại dẫn cụ vào đây? Ðạo đức suy đồi đến thế là cùng! Nhưng sau cụ nghĩ lại, mình là dân viết lách, chửi Việt Cộng mà toàn nói những cái gì ở đâu đâu, toàn nói những cái chuyện cổ lỗ sĩ từ đời nảo đời nào mà ai ai cũng đã biết! Ðây mới là thực tế “chiến trường” đây. Hồ Chí Minh huênh hoang “Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người”, 30 năm Dân Chủ Cộng Hoà với mấy chục năm XHCN nó trồng ra được loại người như thế này đây! Nghĩ vậy nên cụ mới bấm gan ngồi quan sát. Ba nàng tiên nữ không một mảnh vải che thân đứng thành hàng ngang cho giám khảo quan sát chấm điểm. Các nàng ẹo qua, ẹo lại, ưỡn đàng trước, chổng đằng sau, có khi lại hất hất “em bé” vào mặt giám khảo. Ba “em bé” có em mập, có em ốm nhưng em nào cũng râu ria xồm xoàm trông cứ như cái mồm của đồng chí Fidel Castro ấy thôi. Hình như có một vị giám khảo ba trợn nào đó đưa tay nựng một em bé rồi cười lên hô hố:

“Em này sao cái môi lại thưỡi ra, chẩy dài xuống thế này?”

Lại có tiếng người phụ họa:

“Chắc là bị thằng nào nó kéo ra đấy!”

Rồi lại có tiếng cười híc híc:

“Còn em này sao hai cái mép lại loe ra, lòi cả một cái răng nanh nhọn hoắt, đỏ hỏn ra ngoài...”

Cụ Văn Tùy nghĩ bụng: Thật là đạo đức suy đồi quá sức!

Sau chừng 15 phút biểu diễn, các nàng sà vào lòng giám khảo đưa tay đòi tiền “boa”. Cụ Văn Tùy móc bóp “boa” cho mỗi em một tờ 5 Ðô La, cụ nghĩ bụng: Tội nghiệp, có đói người ta mới phải làm như thế! Khi biết cụ là Việt Kiều hồi hương, các nàng cứ xoắn lấy cụ. Một nàng đề nghị:

“Mai anh Việt Kiều lại đến nữa nghe, bọn em sẽ ưu tiên cho, tha hồ mà nựng!”

Dĩ nhiên là cụ Văn Tùy chả bao giờ trở lại chỗ ấy nữa!

Ðêm hôm ấy cụ Văn Tuỳ không ngủ được thật! Không phải vì cà phê làm cụ mất ngủ mà vì cái cảnh ở quán cà phê Tình Cảm nó quấy rầy cụ. Ðã mấy năm nay, kể từ ngày cụ bà mất đi, đêm nay cụ mới thấy lại cái “mặt mốc” ấy. Ngày cụ bà còn sống, thỉnh thoảng cụ cũng thấy nó, nhưng là thấy cái gầy gò, méo mó chứ đâu có được phây phây tươi mát như thế này, thế là tự nhiên cụ lại cảm thấy “lòng xuân phơi phới”, cụ tự bảo: Có khi là mình phải “bước đi bước nữa”, rồi cụ lại cười một mình: Ðàn bà người ta mới “bước đi bước nữa” chứ mình đàn ông mà bước cái gì... Rồi cụ lại chép miệng: Ối dào, đàn nào khi cần mà không “bước” được!

Cụ Văn Tùy ở chơi Việt Nam hai tuần lễ rồi lại trở về Mỹ và mặc dù đã trở về Mỹ đến hơn nửa tháng rồi mà cụ vẫn cứ bị ám ảnh bởi cuộc thi em bé đẹp ở Việt Nam hôm nào. Có lần cụ còn mơ thấy một em tóc tai phủ kín mặt nhưng lại nhe một cái răng thịt đỏ hỏn ra cười hỏi cụ: Anh Việt Kiều chừng nào mới đưa em về nhà thế? Thế là sau giấc mơ cụ quyết định phải kiếm một cụ bà khác thay cho cụ bà cũ đã bỏ cụ mà đi! Ở Việt Nam người ta cứ tưởng đàn bà ở bên Mỹ vừa hiếm vừa có giá lắm nên đàn ông Việt Nam mới đua nhau về nước lấy vợ, nhưng thực ra không phải là thế, ở bên này quý bà “ế độ” cũng nhiều lắm. Cứ lật mấy tờ báo chợ ra mà coi, tờ nào cũng có đến mấy trang “Kết Bạn Thư Tín” hoặc “Tìm Bạn Bốn Phương”. Ðàn ông, đàn bà, già có, trẻ có. Mới 17- 18 hay đã 6-7 chục tuổi còn nhao nhao lên đòi vợ, đòi chồng. Ðã “ế độ” thế mà còn ra giá cao, có bà đã ngoài sáu bó mà còn đòi ông nào muốn đụng đến bà thì phải: Tốt nghiệp đại học, phải xuất thân Võ Bị Ðà Lạt hay sĩ quan Thủ Ðức, Phải có việc làm vững chắc, phải có tinh thần văn nghệ biết làm thơ, viết văn, biết khiêu vũ và thích du lịch v.v... Lậy Chúa tôi, đòi hỏi cao như thế thì kiếm đâu cho ra người. Cứ lấy ngay cụ Văn Tùy ra làm thí dụ: Tốt nghiệp đại học với làm thơ, viết văn thì cụ dư sức, có khi cụ dạy người khác còn được nhưng việc làm vững chắc thì “Thất thập cổ lai hi” rồi ai còn mướn nữa mà vững chắc! Một tháng được mấy trăm tiền già đủ sống là may, làm gì có dư mà đi du lịch. Còn khiêu vũ thì hai cái đầu gối nó đã muốn long ra, sắp ngồi xe lăn đên nơi rồi còn “khiêu với khích” cái gì nữa?!

Cụ Văn Tùy đã giở mấy tờ báo chợ ra để kiếm người. Cái đám lau nhau từ 17-18 đến 4-5 chục thì đừng có rớ vào. Chẳng những đã không đủ tiêu chuẩn mà cụ Văn Tùy cũng chẳng muốn “chết yểu”. Chả cần phải “Ðêm bẩy ngày ba, vô ra không kể”, cứ mỗi đêm nó bắt cụ làm “nghĩa vụ” một lần thôi thì cũng chỉ “ba bẩy hai mươi mốt” đêm là cụ tiêu diêu miền cực lạc, còn không thì nó “cho” thằng khác, nếu cụ có biết cũng chẳng làm gì được, chỉ có tức hộc máu mồm ra mà chết! Nghĩ thế nên cụ Văn Tùy chỉ chọn những bà từ 50 tuổi trở lên, thế nhưng rút cục cụ cũng chẳng chọn được ai. Có bà đặt tiêu chuẩn cao quá, có bà không đặt tiêu chuẩn nhưng lại thấy nó làm sao ấy. Năm mươi, hơn năm mươi tuổi mà còn dzin thì chắc chắn là phải có cái gì trouble chứ, làm gì có của quý mà lại... Rút cục là cụ vẫn cứ “phòng không chiếc bóng” mà thời gian thì vẫn cứ lặng lẽ trôi, cụ vẫn cứ từng bước từng bước thầm đi đến cuối cuộc đời...! Nghĩ là không thể chọn lựa ở bên Mỹ này lâu hơn được nữa, cụ bèn viết thư về Việt Nam:

Các con, các cháu thân mến!

Trước hết bố gửi lời thăm các con, các cháu được mạnh khoẻ. Bố trở lại Mỹ đến nay đã được hơn 2 tháng, sức khoẻ vẫn bình thường chỉ phải cái tội nó buồn quá! Từ ngày mẹ các con mất đi bố sống thui thủi một mình, mặc dầu ở bên này bố không phải lo về miếng cơm manh áo, nhưng bố nghĩ vấn đề tinh thần nó cũng rất là quan trọng, bởi thế bố có ý định là sẽ “chắp nối”. Có điều ở bên này muốn kiếm được một người cho thích hợp với mình không phải là chuyện dễ, bố đã thử tìm kiếm mấy tháng nay nhưng không được. Bởi thế bố viết thư này gửi về, trước là thăm các con các cháu sau là nhờ chúng mày xem có ai ở Việt Nam có thể thích hợp với bố thì giới thiệu cho bố để bố lo liệu. Nhớ là dọ hỏi xem người ta có thích qua Mỹ không? Có muốn chắp nối với một ông già đã 70 tuổi nhưng còn khoẻ mạnh không? Một điều quan trọng nữa là đừng trẻ quá mà cũng đừng già quá, cứ từ trên 50 đến trên 60 là tốt. Bố rất mong tin các con, vì thời gian qua mau như bóng câu qua cửa sổ vậy các con xúc tiến ngay cho bố. Thân ái!

Thư cụ Văn Tùy gửi đi được hơn một tháng thì cụ nhận được hồi âm từ vợ chồng người con gái cụ ở Việt Nam gửi qua:

Bố thương kính!

Chúng con đã nhận được thư bố và xúc tiến ngay việc bố muốn. Các bà các cô ở Việt Nam muốn qua Mỹ thì thiếu gì hả bố. Nếu bố muốn thì con gái mơn mởn ra cũng có, nhưng hạng này không bảo đảm bố ạ, qua được Mỹ rồi họ bỏ bố là cái chắc. Bởi thế chúng con chọn cho bố một bà năm nay được 54 tuổi. Nhà bà ta ở gần nhà chúng con và cũng là chỗ quen biết. Chồng bà ta trước kia là sĩ quan QLVNCH tử trận ở Kontum vào mùa hè đỏ lửa 1972. Bà này tướng người trông còn được lắm và chúng con nghĩ là rất thích hợp với bố. Khi chúng con ngỏ ý là bố muốn chắp nối và đưa thư của bố cho bà ta đọc thì bà ta cười bảo: Ông cụ bẩy chục tuổi mà còn khoẻ mạnh thật không? Tôi sợ sang đấy rồi chẳng bao lâu lại goá bụa nữa thì khổ lắm. Hay là bảo ông cụ gửi cho tôi một tấm hình đi, nếu thấy được thì tôi cũng sẽ cho anh, chị một tấm hình của tôi để gửi sang cho cụ, nếu cụ cũng ưng ý thì rồi sau đó mình sẽ tính tiếp. Vậy nhận được thư này, bố đi chụp ngay một tấm hình mới nhất gửi về cho chúng con, rồi sau đó thế nào chúng con lại sẽ liên lạc với bố. Kính chúc bố được luôn luôn mạnh khoẻ. Các con của bố.

Cụ Văn Tùy đến ngay chợ Wal Mart và vào chụp luôn một lúc 3 kiểu hình ở One hour photo. Cụ bảo người thợ chụp hình:

“Anh chụp cho tôi ba kiểu khác nhau cho thật đẹp vào, mỗi kiểu in 2 tấm”.

Ý cụ là sẽ chọn tấm nào đẹp nhất rồi gửi về VN. Nhưng khi hình chụp xong, cụ thấy kiểu nào cũng đẹp cả thế là cụ quyết đinh gửi về cả 3 kiểu. Cụ lẩm bẩm nói một mình: Tha hồ cho mà ngắm!

Hơn một tháng sau cụ Văn Tùy lại nhận được thư từ Việt Nam gửi qua. Trong thư có kèm tấm hình một người đàn bà tóc uốn xõa ngang vai, dáng người mảnh dẻ. Bà này lúc còn trẻ hẳn là người có nhan sắc nên đến nay tuy đã ngoài năm mươi mà trông còn có nét lắm. Cụ ngắm đi ngắm lại tấm hình rồi cười một mình: Gửi hình sang thế này là chịu đèn rồi đây! Cụ lại ép tấm hình vào ngay chỗ trái tim, lẩm bẩm: Mình cũng rất thích mẫu người như thế này, hy vọng là hai ta sẽ có những ngày hạnh phúc bên nhau! Sau đó cụ vào bàn ngồi viết thư trả lời:

Các con thân mến!

Bố đã nhận được thư và hình các con gửi qua, bố rất thích mẫu người như thế này. Cho bố gửi lời thăm và cám ơn bà ấy đã cho hình. Nói với bà ấy là nếu có thể được xin cho địa chỉ để bố gửi thư, mong lắm. Xin chúc tất cả mạnh khoẻ và bình an, hy vọng sớm được gặp mặt.

Bố của các con.

Mấy tuần sau cụ Văn Tùy lại nhận được thư từ bên nhà gửi sang với cả địa chỉ của người trong mộng: Trần Thị Hoàng Hôn. Số nhà... Ðường... Quận... TP Hồ Chí Minh. Thế là cụ lại ngồi vào bàn, với tấm hình của bà Trần Thị Hoàng Hôn trước mặt, cụ mắn nót viết lá thư mà cụ nghĩ đây có lẽ là lá thư tình cuối cùng trong đời:

Kính gửi bà Trần Thị Hoàng Hôn,

Tôi đã nhận được thư các con tôi gửi qua và tôi thật sung sướng là bà đã cho tôi địa chỉ của bà, như vậy chứng tỏ là bà đã cho phép tôi được viết thư cho bà. Thưa bà: Có lẽ các con tôi đã nói với bà là tôi ở bên này chỉ có một mình, cô đơn buồn lắm vì bà nhà tôi đã mất cách đây mấy năm. Và cũng vì tôi còn khoẻ mạnh nên đôi lúc cũng cảm thấy thiếu thốn... và muốn có sự “chắp nối”. Tôi cứ mong mỏi được gặp một người như hình ảnh mà tôi hằng mong ước, nhưng ở bên này tôi đã không tìm ra. Ðến khi được nhìn tấm hình của bà thì tôi tự nói với mình: Ðây rồi, mẫu người mà mình mong mỏi đây rồi và cũng chẳng hiểu sao – phải chăng là duyên số – tôi đã yêu, vâng xin lỗi, tôi đã yêu tấm hình ấy tha thiết. Vậy hôm nay tôi đường đột viết lá thư này để bầy tỏ tình yêu ấy, nếu có điều gì không phải cũng xin bà bỏ quá cho. Thưa bà Trần Thị Hoàng Hôn – ôi cái tên mới đẹp làm sao! – bà có cho phép tôi đựơc coi bà như là người vợ sắp cưới của mình không? Và nếu để được bà làm vợ thì tôi sẽ phải làm gì? Xin bà cứ nói đi, tôi đang sẵn sàng để được nghe lời bà đây. Tôi cũng thật mong mỏi được nhận những lời vàng ngọc và thật âu yếm của bà. Xin chúc bà được nhiều sức khoẻ.

Ký tên: Văn Tùy.

Cụ Văn Tuỳ đọc đi đọc lại lá thư đến mấy lần rồi mới cẩn thận gấp bỏ vào phong bì. Cụ nắn nót ghi địa chỉ người nhận ở bên ngoài, đến chữ TP Hồ Chí Minh cụ khựng lại. Con bà nó, cứ nhìn thấy cái tên này là gai hai con mắt. Cụ định cứ viết là Sài Gòn nhưng sau nghĩ lại viết thế nhỡ mấy thằng Việt Cộng chết bằm nó vất thư của cụ đi thì sao? Cuối cùng cụ chép miệng viết đại xuống mấy chữ Hồ Chí Minh rồi dán tem. Thư cụ gửi đi chưa được một tuần mà cụ đã ngong ngóng trông thư phúc đáp. Ngày nào cũng vậy, cứ thấy người phát thư đi qua là cụ ra lục thùng thư ngay và khi chưa thấy gì cụ lại lẩm bẩm: Nhanh lắm cũng phải 2-3 tuần nữa mới có!

Hôm nay cụ Văn Tuỳ lại nhận được thư Việt Nam, nhìn thấy cái phong bì có vệt xanh vệt đỏ ở chung quanh là tim cụ đã đập thình thịch, đến khi nhìn thấy tên người gửi Trần Thị Hoàng Hôn thì trong lòng cụ như mở hội. Ðem thư vào trong nhà, cụ cẩn thận dùng kéo cắt một cạnh bao thư chứ không dám dùng tay xé. Cụ sợ xé bằng tay nó nham nhở mất đi vẻ mỹ miều của cái thư. Bên trong phong bì, ngoài lá thư còn có một tấm hình mầu, khổ 8x12 mới chụp rõ và đẹp hơn tấm hình trước. Cụ âu yếm đưa tấm hình lên môi hôn sau đó để xuống bàn rồi mới mở thư ra đọc:

Ông Văn Tùy thương!

Xin ông cho phép em được xưng “em” với ông vì em nghĩ nếu ông và em thực tình thương nhau thì trước sau gì chúng mình cũng trở thành vợ chồng và như thế thì em là “em” của “mình” rồi chứ còn gì nữa?! Ông Văn Tùy à, sao ông viết thư hay thế? Ðọc thư ông em cảm động lắm, sống nơi đất khách quê người mà cô đơn thì nó buồn thật đấy. Ngay như em, sống ở nơi quê nhà, chung quanh có bà con lối xóm mà đôi lúc còn thấy lòng trống trải! Ðể em nói một chút về mình cho ông rõ, em năm nay 54 tuổi, chồng em tử trận vào mùa hè đỏ lửa 1972 ở Kontum! Mấy chục năm nay em sống vò võ một mình, mặc dù củng có vài người ngấm nghé, nhưng em cứ thấy nó làm sao ấy nên không muốn nhận lời. Mới đây được cô Lê Tuyết Mai, con gái ông cho biết là ông có ý định “chắp nối” và hỏi em có chấp thuận chắp nối với ông hay không? Sau đó em lại nhận được hình và thư của ông. Em thật cảm động và tự hỏi mình là liệu em có thể đáp ứng được những nhu cầu của ông ở nơi đất khách quê người hay không và hình như từ nơi sâu thẳm của lòng mình có tiếng trả lời là: Ðược! Phải chăng đây là cái duyên cái số mà Trời đã định nên đến nay em mới gặp được ông? Em chỉ còn áy náy một điều là qua đấy rồi mình sẽ phải làm sao? Với cái nghề thợ may em có giúp ích gì được cho ông không hay lại trở thành một gánh nặng cho ông? Vậy nhận được thư này xin ông trả lời cho em ngay, hay là ông về thăm quê hương một chuyến để mình được gặp mặt mà tính chuyên lâu bền. Em mong lắm!

Thôi giấy ngắn tình dài, em xin dừng bút, kính chúc ông được luôn luôn mạnh khoẻ và vui vẻ.

Ký tên: Trần Thị Hoàng Hôn.

Cụ Văn Tuỳ đọc đi đọc lại lá thư đến cả chục lần, lòng cụ rộn ràng sung sướng, cụ lẩm bẩm một mình: Anh sẽ về ngay, về để đưa em sang đây cho hai đứa mình được suốt đời hạnh phúc bên nhau! Rồi cụ lại cầm tấm hình mới nhận được lên say sưa ngắm nghía: Hình này với thư viết vừa hay vừa tình cảm thế này phải là dân Gia Long hay Trưng Vương chứ chẳng vừa đâu! Có lúc cụ lại ngồi thừ ra suy tính: Có nhanh lắm cũng phải già nửa năm mới đưa được nàng qua đây. Rồi trong đầu cụ lại vang lên hai câu thơ mà cụ đã học thuộc lòng từ ngày còn ở lớp đồng ấu: “Thời gian thấm thoát thoi đưa, nó đi đi mãi chẳng chờ đợi ai!” Thế là cụ quyết định phải về Việt Nam ngay một chuyến nữa.

Ðúng nửa tháng sau cụ Văn Tùy đã lại có mặt ở Sài Gòn. Tính từ lần về trước, lần được thằng cháu ngoại chở bằng xe Honda đến quán cà phê Tình Cảm làm giám khảo chấm thi “Em bé đẹp” đến khi rước được bà Trần Thị Hoàng Hôn qua Mỹ, cụ Văn Tuỳ đã phải đi đi, về về Việt Nam đến 4 lần với bao nhiêu là vất vả. Trông cụ mệt mỏi, hốc hác thấy rõ, may mà trong ví của cụ lúc nào cũng thủ sẵn mấy viên thần dược Viagra nên tuy mệt mỏi nhưng cụ vẫn hùng dũng vào trận với đầy hào khí của một người đàn ông, dù là đàn ông đã 70 tuổi. Có người thấy cụ độ này nói năng không còn lưu loát như xưa mà lại lắp ba lắp bắp, có khi còn líu lưỡi lại. Hỏi cụ sao thế thì cụ bảo là vì mới trồng lại mấy cái răng nên nói năng nó còn ngượng nghịu. Nhưng đúng hay không cũng chỉ có cụ mới biết. Cũng có người không tin là cụ nói lắp chỉ vì mấy cái răng, nhưng lại chép miệng bảo: Ðược như cụ cũng là phúc rồi. “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt, còn hơn le lói suốt năm canh!”

Hưng Yên

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Ngọn Rau Lá Cỏ

Nguyên Nhung

Ngày còn bé, gia đình tôi sống rất đạm bạc vì cuộc phân ly Nam Bắc làm tiêu tan sự nghiệp của cha mẹ tôi. Khi vào Nam, để an ủi lũ con bằng lòng với nỗi thiếu thốn hằng ngày, mẹ tôi thường bảo: “Đói ăn rau, đau uống thuốc, thịt cá hương hoa, dưa cà căn bản”. Câu nói ấy nhập vào tâm hồn chị em tôi như nét mực tím in trên trang giấy trắng, khi lớn khôn dù cơm gà cá gỏi ngon đến đâu, vẫn thòm thèm hương vị những bữa cơm rau thời thơ bé.

Quanh khu vườn rộng vuông vức ấy không có chỗ nào thừa để phải thiếu rau ăn kể cả khi muà hè nắng khô ran không một giọt mưa. Chiều nào nơi cái giếng trong vắt dưới lòng đá ong, chị em tôi thi nhau kéo nước tưới rau, trẻ con cũng vất vả như người lớn. Nhờ vậy trời oi ả thì đã có tô canh hoa lý ở sân trước làm mát mẻ. Đang đi ở ngoài nắng chang chang, bước vào sân trước có giàn hoa thiên lý tự nhiên thấy cái nóng dịu hẳn đi. Giàn thiên lý lá xanh biêng biếc che kín khoảng sân đất, được tưới tắm đầy đủ nên cho hoa quanh năm để mẹ tôi nấu canh hoa lý với tôm khô.

Hoa thiên lý màu ưng ửng vàng có mùi thơm dìu dịu, không nồng nàn như các loại hoa khác, hoa ra nụ từng chùm từ thân dây, lá thiên lý thuộc loại lá đơn, chi chít như lá hoa bông giấy. Hoa có hình dáng đơn sơ xoè ra năm cánh như ngôi sao muà Sinh nhật, nhưng có duyên lạ lùng, nhìn nó người ta hình dung ra cái đẹp của một cô thôn nữ đoan trang, hiền lành, quanh năm ngày tháng không cần đến phấn son tô điểm.

Những buổi chiều ở nhà quê thật êm ả, chỉ có bụi chuối bên hè xào xạc. Dưới giàn hoa thiên lý là một mảnh sân đất pha cát, nên khi trời mưa, mảnh sân như một tờ giấy thấm hút hết nước, khi cơn mưa tạnh, sân lại khô ran, khi nắng lên soi qua giàn hoa lý những cái bóng nắng nhảy muá trên nền đất rất vui mắt. Ở cái sân đất cát này là nơi chị em tôi ngồi chơi ô quan, nhảy dây với lũ trẻ con hàng xóm, chí choé cãi nhau vui đáo để. Không phải hôm nào mảnh sân cũng ồn ào, ngược lại có những ngày mẹ tôi đi bán hàng xa chưa về, tôi tha thẩn chơi một mình trước nhà chờ mẹ. Trò chơi trẻ con cuả tôi là một cái que tre nhặt được, rồi cứ thế ngồi phệt xuống ngạch cửa và bắt đầu vẽ những cái mặt người méo mó, tuỳ theo óc tưởng tượng của một đứa trẻ con.

Đâu có gì để chơi ngoài một cái que nhọn với khoảng sân đất nhẵn thín, vẽ rồi lại xoá, xoá rồi lại vẽ, trong đầu tôi hình ảnh một bà tiên, một cô dâu khăn áo lượt là, bà hoàng hậu, cô công chúa trong những chuyện cổ tích. Lần lượt những nhân vật thần tiên huyền diệu nằm đầy trên mảnh sân con trước nhà, không có trò chơi ấy chắc tôi phát khóc lên được khi bóng chiều đổ xuống căn nhà nhập nhoà bóng tối mà chờ mãi mẹ tôi vẫn chưa về. Chị tôi lo nấu cơm chiều, đứa trẻ con lên mười ở nhà quê cũng biết lo như người lớn, cũng biết cắp rổ ra vườn hái đọt đậu xào tỏi, thêm vài con cá khô nướng là mâm cơm đã tươm tất rồi. Sau này khi rời xa chốn cũ, trong ký ức của tôi vẫn thoảng lại mùi cá khô nướng bay tản mát trong khu vườn khoai sắn xanh um của những ngày bé dại.

Mảnh vườn ấy có nhiều thứ rau để mẹ con tôi sống qua ngày với mắm muối dưa cà, bây giờ ngồi nhớ lại tôi dám cho là những món sơn hào hải vị cuộc đời dễ tìm để ăn hơn những món rau quanh vườn của mẹ con tôi hồi ấy. Chẳng hạn mẹ tôi trồng đậu đen nhưng không phải để lấy hạt nấu chè, mà cái chính là đọt đậu đen xào tỏi bùi bùi thơm ngon không chê vào đâu được. Giàn mướp trĩu quả ăn không hết mẹ tôi còn mang ra chợ bán, nhưng đọt mướp hương xào tỏi thì dám chắc ít người được thưởng thức, vì cả giàn mướp may ra mới bẻ được một nắm tay, khi xào tóp lại chỉ còn một dĩa, chị em tranh nhau gắp quên cả phần cho mẹ.

Bây giờ ở quê người, rau cỏ tuy không phải cao lương mỹ vị mà vẫn khó tìm, ăn để mà ăn chứ tìm ra mùi “hương đồng cỏ nội” trong những lá rau ngoài chợ không bao giờ có, người xa quê nhấm cọng rau trong miệng tìm lại mùi hương quê lại càng khó tìm hơn nữa.

* * *

Ít lâu sau, chiến tranh lại bò vào cái miền quê nghèo ấy, mọi người sợ tên bay đạn lạc nên lại lần lượt bỏ đi, gia đình tôi chuyển về miền Tây vì nơi ấy đất lành chim đậu. Ngày về miền Tây chị em tôi như lạc vào một khung cảnh khác, con người miền Nam cũng khác, đồng ruộng bao la bát ngát, sông nước mênh mông với bao nhiêu cây cầu lớn nhỏ, những ngôi nhà lợp ngói đã xậm màu với nắng mưa. Nhiều con đường còn lổn nhổn đất và đá, khi trời mưa xình bùn bám chặt vào tà áo dài lốm đốm như hoa.

Năm ấy tôi đã bước vào ngưỡng cửa Trung Học, làm thân được ngay với con nhỏ bạn người Cần Thơ học chung lớp. Nhà nó cũng nghèo, căn nhà của cha mẹ nó là căn nhà lợp ngói âm dương, thấp và tối, buổi chiều thường âm u mùi khói nhang. Tuy nhà cửa ẩm thấp cũ kỹ nhưng sau nhà lại có được một mảnh sân vuông rất mát mẻ, trồng một cây vú sữa tím tàn che rợp khoảng sân sau, xung quanh sân là những chậu sành lớn bé đã sứt vành mẻ miệng với thời gian, trồng đủ loại rau thơm đủ dùng trên mâm cơm hằng ngày.

Chỉ có ba cha con bạn tôi sống ở căn nhà ấy, không thấy bóng dáng bà mẹ. Sau hỏi ra mới biết, ông già cuả bạn làm công nhân chạy xe hủ lô cho ty công chánh, lương không đủ nuôi con ăn học, má của bạn phải ở nhà quê, trông coi mảnh vườn và chăn nuôi thêm để phụ chồng nuôi hai đứa con đi học. Cuối tuần nào ba của bạn tôi cũng về thăm nhà ở trong quê, khi trở ra ông mang theo những thức ăn đủ cho cả tuần, kèm theo rất nhiều rau xanh rất lạ.

Đám con trong nhà thường gọi « tía » mình là « ông già Ba Tri », bởi vì khi không có xị rượu trên mâm cơm, ông ít nói, tính hơi cộc nên lũ nhỏ đứa nào cũng sợ. Thói quen cố hữu của gia đình bạn là khi dọn cơm, dù không cao lương mỹ vị nhưng bao giờ cũng dành riêng một chén cơm trắng với chút thức ăn, một đôi đũa vắt ngang trên miệng chén, và một chung rượu đế đặt bên cạnh. Trước khi ăn cơm, « ông già Ba Tri » chắp tay xá xá ba cái vào khoảng không chắc để mời ông bà hay những người khuất mày khuất mặt về dùng bữa, sau đó ông mới rót rượu cho mình và nhâm nhi cái đầu cá trong tô canh chua.

Cái đặc biệt nữa trên mâm cơm nhà bạn tôi là rổ rau tươi, không bữa nào thiếu, bởi vì nó rất hạp cho món cá kho mà người miền Nam gọi là kho mẳn. Những khúc cá trong cái nồi lõng bõng nước, người ta có thể thả thêm mấy khúc cà tím, hay mấy khoanh bầu cũng được, nổi lềnh bềnh trên nồi cá là những lát ớt xắt khúc trông rất bắt mắt, một nhúm rau răm cũng chẳng sao. Cái rổ rau kia gồm có ít giá mập tròn trắng phếu, rồi thì cần nước, lá sầu đâu, rau dấp cá, rau đắng, lá mơ, lá lụa , rau dừa, rau tiá tô, kinh giới, rau răm, húng lủi, bông súng, cả nhà ăn rau như thỏ ăn cỏ, khi xong bữa cơm thường rổ rau cũng hết...

Tôi gọi “ông già Ba Tri” ba của bạn tôi là bác Ba. Tuy mặt mũi trông khó đăm đăm vậy nhưng bác Ba lại rộng rãi miếng ăn, hễ đến chơi gặp bữa cơm ông điệu nghệ kêu ăn bậy ba hột cho vui. Nhờ vậy tôi còn biết thêm vài món canh chua rất ngon như vỏ trái cóc nấu cá lóc hay với thịt nạc, chua rất thanh như ở miền Bắc có món cá quả nấu quả sấu chua. Lươn vàng nấu canh chua cơm mẻ và hoa chuối, không thể thay thế vào đó quả me chua vì nó không đúng vị. Xoài rụng trong vườn bác Ba gái phơi khô để dành, trời mưa lâm thâm mà nấu với khô đuối, thả rau ngò om và ớt trái, ăn cũng hết xảy ! Bác Ba ăn cơm rất ít, thư thả nhấp rượu, vừa nhâm nhi cái đầu cá, tay ngắt mấy cọng rau mà hôm nào cũng làm láng cái xị rượu rồi đi ngủ. . .

Tuy đến chơi nhà bạn hà rầm, nhưng tôi vẫn ngán « ông già Ba Tri » nhà nó vì tính cộc cằn bất chợt như sấm chớp trong cơn mưa giông mùa hạ. Bác Ba có một tính tốt, bình thường rất nóng nảy và khi nói hay đệm theo một câu chửi thề vô tội vạ, nhưng khi ngồi vào mâm cơm, sau vài chung rượu tuyệt đối không bao giờ bác Ba rầy rà các con, vì ông nói “trời đánh còn tránh bữa ăn” mà...

Không biết một hôm “ma đưa lối quỷ dẫn đường” chi mà tôi lại tự nhiên buột miệng hỏi xin bác Ba thử chơi một chút rượu đế sủi tăm trong cái xị rượu của bác. Tự nhiên bác Ba cười ha hả khiến tôi giựt nảy mình, còn nhỏ bạn thì lấm lét nhìn ông già nó đang ngoác miệng ra cười :

- Thiệt hông mậy ?

Tôi làm gan gật đầu, khiến bác Ba càng thích chí, giống hệt ông Tản Đà quê tôi bảo “rượu ngon phải có bạn hiền”, nhưng tôi đâu phải bạn nhậu của bác Ba, thỉnh thoảng ở nhà mẹ tôi cho uống một ly rượu bách nhật ngọt lịm thơm mùi thuốc Bắc. Đó là thứ rượu nếp than khi làm thành cơm rượu, mẹ tôi cho vào đấy vài thang thuốc Bắc, đổ thêm chục lít rượu trắng rồi chôn cái khạp rượu xuống lòng đất, đúng trăm ngày mới mang lên. Rượu này được gọi là rượu bách nhật, dành cho phụ nữ sau khi sinh nở để ăn cho ngon cơm, lấy sữa cho con bú . Công nhận mẹ tôi là người phụ nữ đảm đang, lập nghiệp ở đâu là bà nghĩ ngay đến việc phải làm gì để kiếm tiền lo cho các con, sau này người miền Nam cũng biết mua cao hổ cốt cuả mẹ tôi để trị phong thấp, mua rượu bách nhật cho phụ nữ uống sau khi sinh nở, thứ rượu này đối với những con sâu rượu như bác Ba, chỉ là thứ chè ngọt cuả đàn bà con gái.

Cha mẹ ơi ! Lỡ đâm lao thì phải theo lao, tôi yên chí cái món rượu trắng “quốc hồn quốc lủi” cuả bác Ba ngon như rượu bách nhật cuả mẹ tôi, nên hùng dũng cầm cái chung rượu cuả bác đưa mà làm một hớp nhớ đời vì nó cay xè tới cuống họng. Thấy tôi nhăn mặt sau khi làm thử hớp rượu đế , bác Ba cười khà khà thích chí, nói huyên thuyên khác với vẻ im lìm hằng ngày, hôm ấy lũ nhỏ cũng nói cười thoải mái.

Bác Ba làm việc cực nhọc, nên khi về nhà thường cau có khó chịu với các con, kể cả mấy đưá bạn đến chơi không đúng lúc. Nhưng từ hôm tôi làm gan xin hớp rượu cuả bác thì hễ mỗi khi gặp, tôi lại được bác ban cho một nụ cười thân thiện. Sau này khi lớn khôn hơn, tôi mới nghĩ ra cái chân lý ở đời, hễ người ta thích gì mà mình cũng làm như cùng một sở thích thì lấy được cảm tình cuả người ta dễ ợt, huống chi uống rượu một mình như bác Ba đang thiếu người “chén chú chén anh” mà lai rai kể chuyện đời nữa.

Năm ấy cận Tết Âm lịch, bác Ba gái tát đià lấy cá bán Tết. Khi thủy triều lên, nước từ sông đổ vào mấy cái mương xung quanh vườn, cá tôm cũng theo nhau bơi vô rồi kẹt lại, sinh sôi nảy nở ra trong cái đìa đầy bông súng. Bác Ba kéo lũ con về phụ việc, và cũng là dịp ăn Tết sớm với bà con lối xóm mà tụi nhỏ ít khi được gặp kể từ ngày ra tỉnh học. Vì thế ngoài số tôm cá chọn lọc đem ra chợ bán lấy tiền sắm sửa ăn Tết, còn lại bao nhiêu phơi khô để dành ăn dần trong năm, bác Ba gái còn làm một nồi mắm kho thật bĩ bàng, cho chồng con ăn thoải mái, đãi luôn những nhà lối xóm đến giúp tát đià hôm đó nữa.

Hôm đó tôi cũng được đi theo bạn về quê cho biết rõ cảnh sống của người dân quê miền Nam.Từ tỉnh đón xe Lam về quê bạn cách thị xã khoảng hai chục cây số, đó là một cái vườn không lớn lắm nằm sâu cách quốc lộ vài công vườn, phải đi theo một con đường đất rất trơn trợt khi trời mưa, vườn này cách vườn nhà kia bằng những cái mương đào và trồng nhiều dừa nước mát rượi, khác với lối trồng tre trúc bao quanh vườn như người miền Đông Nam phần.Trong vườn trồng được mấy chục gốc dừa, lợi tức chính cuả gia đình, chen trong vườn dừa là mãng cầu, ổi, quýt, mận, bưởi nằm dọc theo những bờ mương, những ngày cuối tuần về quê, bác Ba trai cũng không được hở tay chút nào vì vẫn phải múc bùn đắp lên những gốc cây. Cây trái tuy không nhiều nhưng mỗi mùa bác Ba gái đều có trái cây đem bán ngoài chợ mua thức ăn gửi cho chồng con ở ngoài tỉnh.

So với cái khoảnh sân sau trồng chen chúc những loại rau sống ăn kèm trong bữa cơm ở ngoài thị xã, vườn rau ở nhà quê xum xuê đầy đủ hơn nhiều. Tát đià xong, số cá tôm năm đó trúng lớn nên bữa mắm kho hôm ấy thật phủ phê, bao nhiêu cá lóc, tôm càng , lươn vàng béo ngậy. Hôm ấy là đại tiệc của nhà bạn tôi, vì ngoài một số tôm cá nướng lửa than, còn bao nhiêu trút hết vào nồi mắm, bác Ba gái luôn tay xào xả cho thơm để đổ vào nồi mắm nấu tiếp, nước mắm kho đục lờ lờ như nước bùn mà thơm hết biết !

Ăn mắm thì phải có rau, vì vậy mà hôm ấy tôi được dịp đi khắp khu vườn đầy bóng mát cây xanh của nhà bạn, nhân tiện tiếp bạn chuẩn bị các món rau để ăn với nồi mắm kho. Trong bữa ăn, Bác Ba trai khi ấy mới nhẩn nha kể về những công dụng dược thảo trong các thứ rau xanh trong vườn nhà bác cho tôi và mọi người cùng nghe, thì ra trước đây đa số ăn rau vì thói quen, cho thêm ngon miệng chứ ít ai biết được những vị thuốc trong ngọn rau lá cỏ, mà ông bà mình thường cho rằng người mình sống trên đống thuốc mà không biết.

Rổ rau sống hôm đó còn đầy đủ hơn rổ rau cuả cha con bác Ba ăn hằng ngày nữa, rồi khi cầm từng thứ rau trên tay, bác Ba mới bắt đầu e hèm để vào chuyện :

- Ngó đây nè ! Trước tiên là rau dấp cá, thứ này hễ mọc mạnh rồi là cỏ không lên nổi với nó, tên của nó gọi là ngư tinh thảo, ai đau khổ về bịnh trĩ là biết đến công dụng của dấp cá. Đàn bà ăn thường da dẻ mịn màng, con nít đau ban, lên trái lấy nước uống, hay xoa lên mình cũng liền lặn, viêm ruột , kinh nguyệt hổng đều ăn thường xuyên cũng có kết quả.

Mấy người đàn ông lối xóm cười rộ lên :

- Đàn ông ăn được không anh Ba ?

Bác Ba trai hôm nay cũng vui hơn thường ngày, chắc vì “rượu ngon mà lại có bạn hiền”, nên vui vẻ gật gù bứt một cọng tiá tô giơ lên giải thích tiếp:

- Còn lá tiá tô hay gọi là tử tô thì công dụng lại hay hơn nữa, chữa nhức đầu, cảm sốt rất hiệu nghiệm.

Nghe bác Ba nói tới đây tôi liền xen vô :

- Hèn chi ở nhà mỗi khi bị cảm, mẹ cháu cũng hay nấu cháo trắng rồi đập thêm cái trứng gà, thêm một nắm tiá tô với hành lá, ăn xong toát mồ hôi là khỏi bịnh.

Bác Ba gật đầu nhìn tôi rất cảm tình :

- Cái con Bắc Kỳ “con” này cái chi nó cũng biết, cứ “mẹ cháu, mẹ cháu” là biết liền hà, nó còn biết nhậu nữa nghe bà con. Con nhà nghèo đâu có thuốc men chi, hễ bịnh thì cạo gió, giác hơi xong rồi làm tô cháo nóng tiá tô, hành lá là hết bịnh(e hèm).Còn đây là rau má (bác lại cầm cọng rau má bỏ vô miệng nhai chóp chép), bà con mình cũng xem thường loại rau này vì nó cũng mọc tràn lan như cỏ, người Tàu gọi là Tích tuyết thảo hay Liên tiền thảo, chữa nóng sốt, lên sởi, ói ra máu, kiết lỵ, ỉa chảy, táo bón, đái rát, thống kinh, bạch đới. Nghe nói mỗi ngày chỉ cần ăn vài cọng thôi là cũng đỡ được chứng phong thấp, không cần ăn nhiều vì rau má lạnh, ăn nhiều quá bị mất hồng huyết cầu, phàm cái chi cũng vậy, không nên lạm dụng . . .

Có tiếng cười khúc khích trong đám đàn bà con gái, ở nhà quê hễ nghe ai nói cái gì lạ là cười. Bác Ba trai chỉ đám xả lên phơi phới một màu xanh mát mắt trồng bên vệ rào:

- Trồng cây xả ở xung quanh rào là cũng có ý rồi đó, trước là khử không cho mấy con rắn bén mảng vô vườn, sau là khi nấu mắm như bữa nay thì phải có xả mới dậy được mùi mắm. Sách thuốc người ta gọi là Chu Cam Cun, giúp tiêu hoá, ói mửa, đầy bụng. Còn cái đám rau ngót xanh rờn kia người Bắc hảo ăn hơn người Nam, họ nấu canh với giò sống , xem như một món canh ăn thường xuyên, rau này trị ban sởi, mát phổi, bí tiểu tiện, thông huyết nên đàn bà mới sanh cũng ăn được.”

Mọi người cùng ồ lên vì sự thông thái của bác Ba, ngạc nhiên không hiểu người đàn ông quê muà này có vẻ am hiểu về thuốc men mà lại không làm ông thầy thuốc Nam. Bác Ba được dịp khoe tiếp:

- Tui đi ta bà khắp nơi, đói ăn rau, đau uống thuốc nên vì vậy mà biết chút chút để dành khi cần xài, lỡ lúc ngặt nghèo cũng qua cơn khốn khó. Cho nên hễ đến nhà ai thấy có loại rau lạ, xin về làm giống rồi lan tràn ra khắp vườn. Miền Nam hay um lươn với lá cách, rau ngổ, mấy thứ lá này kết hợp với lươn mà thành thứ thức ăn bổ âm, rất tốt. Ông Lâm ngữ Đường viết sách nói phàm cái gì ăn được tự nhiên mà bổ dưỡng cho cơ thể, tốt hơn ba cái thứ thuốc bào chế uống nhiều chỉ hại gan, nát phổi thêm.

A hà, bây giờ khi bác Ba chạy qua ông Lâm ngữ Đường thì bà con cùng ngớ ra nhìn bác như Thánh sống. Ông Lâm ngữ Đường là ai thì họ không biết, nhưng nội cái tên là đủ sức cho họ thán phục rồi. Bác Ba chỉ những vồng cây lá lốt mọc xanh tốt ven bờ rào rồi nói:

- Đó, thuốc nằm khơi khơi ra đó mà ai hễ đau lưng, thấp khớp cũng đi tìm thuốc, nó cho uống ba cái thuốc hạt dưa độc thấy bà ra mà ai cũng khen là thuốc tiên, uống vô một viên bách bịnh tiêu tan, có mà tiêu tán đường ra nghĩa địa luôn đó. Lá lốt nhiều chất vôi, chủ trị thấp khớp, đau xương, đau lưng, tiêu hoá kém, đầy hơi, đau bụng, sưng phù ăn thường là có kết quả, ví nó là thứ qúy trong thuốc Bắc cũng được. Riêng còn một thứ rau mà hễ Bắc Kỳ ăn bún riêu không có nó là không được, đó là cây kinh giới....

Mấy người đang cắm cúi ăn cùng “ồ” lên một lượt. Bác Ba hứng chí tiếp:

- Bà con mình ở trong quê không biết tới thứ rau này, nó cay cay nồng nồng mà hay thượng hạng, cảm sốt nhức đầu, cảm cúm , viêm họng muốn ói chỉ cần bứt một nắm ăn là thấy khoẻ.

Rồi bác xoay qua đùa với tôi:

- Ê, Bắc Kỳ con, có phải “trên trời có đám mây xanh, ở giữa có cây kinh giới, xung quanh có Bắc Kỳ” không nhỏ?

Mọi người lại cười ồ lên, ai cũng ngó tôi như người hành tinh khác, nhưng sao mặt mũi cũng dễ thương y chang mấy đứa con gái Nam Kỳ.

- Rau muống xào tỏi mà ăn với rau kinh giới thì mới đúng điệu con cá gỗ. Nhưng ăn bún riêu mà lại ăn kèmrau muống chẻ với rau kinh giới nữa thì con trai Nam Kỳ đi theo con gái Bắc ráo trọi. Không nói đến công dụng về thuốc, mà nội hương vị của các thứ rau thôi cũng thấy nó ngon rồi...

Ai cũng trố mắt lên nhìn bác Ba một cách thán phục. Đúng lúc đó thì hai con “ky ky” nhà bác Ba dành nhau mẩu xương cá, ủng oẳng dưới gầm bàn, bác Ba trai lại cười chỉ vào cái nhúm lá mơ ở trong rổ. Mọi người lại trố mắt lên chờ đợi, mấy cái miệng đều la lên:

- Trời! Lá thúi địt, hôi muốn chết -- Rồi họ cười ầm ĩ lên như phát hiện điều gì thú vị lắm. Bác Ba lại nheo mắt nhìn tôi:

- Ậy, thứ lá này là mấy con cẩu nhà tao chạy cong đuôi, nhưng nói đến công dụng cuả nó thì đệ nhất hạng trong các thứ rau, vì nếu biết dùng thì rất tốt cho người yếu tỳ yếu vị. Mỗi ngày chịu khó ăn chơi vài lá có thể ngừa được nhiều chứng bịnh thông thường như sình hơi, kiết lỵ, sỏi thận, bí tiểu, thấp khớp, ăn không tiêu, đi cầu ra máu, viêm bao tử, viêm ruột.

Nghe bác Ba nói tới đây thì ai cũng vội tìm một lá giơ lên ngắm nghiá. Màu lá phơn phớt nâu tím, một mặt xanh, lông tơ mịn phủ trên thân lá mềm, ai biết được nó là vị thuốc quý như vậy mà lại hằng hà sa số, không cần trồng cũng mọc. Người Bắc khi đánh chén “nai đồng quê” nhất định không thể thiếu lá mơ, nhà thuyền chài ăn gỏi cá mà không có lá mơ xem như thiếu tất cả, còn như bác Ba kẹt lắm có miếng thịt ba rọi luộc, quấn với lá mơ mà chấm mắm nêm, nhậu với xị rượu không có gì ngon hơn. Riêng bác Ba gái mùa hè khi rảnh rỗi, bứt hằng rổ rồi đem phơi khô, bắt đầu tháng năm khi sắp bước vào mùa mưa, trời nắng hạn con nít nổi rôm, sẩy đầy người, khó ngủ, chỉ cần sao lên rồi nấu nước uống, mình mẩy lành trơn, mát rượi.

Bữa mắm và rau cuối năm ở nhà bác Ba năm ấy chắc là bữa ăn ngon cuối cùng, vì năm sau chiến trận xảy ra ở đây dữ dội lắm, dân chúng chạy tản cư ra chợ, lộn đi lộn về nhiều phen nhưng không ai dám ở vì ban ngày thì có vẻ bình yên, nhưng ban đêm tên bay đạn lạc i` xèo, bác Ba gái đành phải bỏ vườn chạy ra tỉnh ở luôn với chồng con. Lâu lâu khi tình hình tạm yên, bác lại mò về mảnh vườn ở trong quê của mình, để nhìn các thứ rau không còn ai chăm sóc, bò quanh bò quẩn quanh vườn tìm cách tồn tại, vườn tược rậm rịt y như những đứa trẻ côi cút không ai ngó ngàng tới.

Tôi vẫn đến nhà bạn chơi như những năm trước, khi đó hai đứa đã lớn bộn mà còn biết yêu nữa. Bạn tôi yêu một anh bạn hàng xóm, hai nhà cách nhau có cái giậu hoa trang mà cũng viết thư xanh, thư hồng, tôi lâu lâu làm thơ tình giùm cho nó, dĩ nhiên cái sân sau nhà bạn chỉ trồng rau, cho nên thơ của tôi không khỏi có hương vị rau cỏ trong đó. Một bài thơ mà đối với tôi thuở đó rất dễ thương, nhớ hoài đến bây giờ, kể lại chuyện tình cuả bạn tôi năm mười bảy tuổi, đến cũng nhanh mà đi cũng vội, như con bướm bay từ vườn hàng xóm, đậu trên những luống cải hoa vàng mùa Xuân, rồi bay đi đâu không biết.

Tình Đầu

Năm em mười bảy tuổi
Có anh đi vào đời
Bằng ánh mắt nụ cười
Với mùa Xuân lên ngôi

Thương nhau vào mùa Xuân
Rồi tình yêu thắm dần
Sách vở đầy thương nhớ
Tình đẹp như thiên thần

Hai nhà chung một ngõ
Cách một mảnh vườn sau
Vườn nhà anh bướm lượn
Vườn nhà em trồng rau

Yêu nhau không dám nói
Nhìn nhau không dám cười
Thư tình anh đem dấu
Dưới bụi cây ven rào

Những chiều ra hái rau
Mắt ngó trước nhìn sau
Thư tình trong túi áo
Len lén mình thương nhau

Rồi bỗng dưng một dạo
Thư hồng anh thôi trao
Nụ cười thôi đưa đón
Gặp em anh chẳng chào

Buồn lắm anh biết không?
Chiều chiều ra vườn sau
Nắng nghiêng qua hàng giậu
Thư hồng anh để đâu?

Không phiền trách chi nhau
Chỉ buồn cho tình đầu
Mau phai như màu áo
Nghe tim mình đau đau


Đó là bài thơ tuổi học trò khi yêu còn ngây thơ không có tội, nửa muốn mạo hiểm bước vào ngưỡng cửa tình yêu, nửa rụt rè vì sợ cha sợ mẹ. Bạn tôi có một mối tình đầu thầm lặng như thế đó, tôi nghĩ tại bác Ba trai rất nghiêm khắc cho nên anh bạn hàng xóm sợ rồi rút êm, đi tìm một tình yêu khác. Vậy mà bạn tôi nhớ hoài, hễ khi nào chỉ còn hai đứa ngồi nhắc chuyện cũ, bạn vẫn nhắc đến anh bạn hàng xóm năm xưa với nỗi rung động đầu đời rất dễ thương.

Bác Ba gái vì hoàn cảnh phải dời quê ra tỉnh, ngày ngày quanh quẩn ở mảnh sân sau chật chội. Mặc dù sống gần chồng con nhưng hình như bác không quên được cây trái và những loại rau hiền như đất ở mảnh vườn quê của mình, nhiều khi nghe bác nhắc đến mà mắt rưng rưng như muốn khóc. Bao nhiêu cây trái do công lao bác trồng trọt vẫn cố bám vào đất để tìm đường sống, trong khi ấy, chiến tranh đi đến đâu cũng chỉ để lại sự tàn phá tang thương cho những mầm xanh và con người hiền lương luôn thiết tha với ngọn rau, lá cỏ.

Nguyên Nhung
2007

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Happy uống cà phê, hehehe

[flash width=480 height=385][/flash]

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image

Ranh Ngôn Ghi Nhớ
1. Người đẹp thì làm ta chú ý, còn người làm dáng thì… chú ý đến ta.

2. Vợ ngày xưa thường “nâng khăn sửa túi” cho chồng. Vợ ngày nay thường “ngửi khăn lục túi” của chồng.

3. “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ” nhưng nếu bạn cười với một cô gái trước mặt vợ mình thì nụ cười ấy lại là thuốc… độc!

4. Người cho ta tiền là thầy ta, người cho ta mượn tiền là bạn bè ta, người lúc nào cũng muốn lấy tiền của ta ấy là ... vợ ta!

5. Có tiền mua tiên cũng được, nhưng đừng mua một “tiên nữ”, vì như thế bạn sẽ không còn tiền.

6. Theo luật Hôn nhân gia đình thì đàn ông (con trai) ít ra cũng được tự do 20 năm (trước khi cưới vợ).

7. Nhậu nhiều thì vợ buồn, nhậu ít thì bạn bè buồn, còn không nhậu thì… mình buồn.

8. Hôn nhân là nghệ thuật sống chung hai người mà vẫn hạnh phúc như khi sống một mình.

9. Người ta thường dùng lửa để thử vàng, dùng vàng thử đàn bà, dùng đàn bà thử đàn ông và dùng đàn ông đi lấy lửa.

10. Người đàn ông đầu tiên so sánh phụ nữ với một đóa hồng, là một thi sĩ, còn người thứ hai so sánh như thế là một người thiếu… kinh nghiệm.

11. Ðược tăng lương cũng giống như uống ly rượu, nó nâng tinh thần ta lên nhưng chỉ trong chốc lát thôi.

12. Nếp nhăn… là cái mà chỉ người khác có. Còn bạn chỉ có những “đường cá tính” mà thôi.

13. Lương tâm – đó là cái buộc ta phải kể với vợ tất cả mọi chuyện trước khi có ai đó mách.

14. Hãy luôn nhớ rằng bạn là người độc đáo, cũng như… những người khác.

15. Thời trang phụ nữ giống như hàng rào kẽm gai – bảo vệ dinh cơ nhưng không giới hạn tầm nhìn.

16. Nếu người chồng im lặng trong gia đình, nghĩa là vợ anh ta có tài năng của một nhạc trưởng.

17. Hôn nhân cũng giống như số "pi" trong toán học: tự nhiên, phi lý và rất quan trọng.

18. Nếu một phụ nữ không chịu lấy chồng, người ta bảo cô ta có tính độc lập cao. Còn nếu một người đàn ông không chịu lấy vợ, người ta bảo hắn ta không dám dấn thân.

19. Phụ nữ luôn sẵn sàng tha thứ. Nhưng họ không bao giờ quên những gì họ đã tha thứ.

20. Trong 24 tháng đầu tiên của cuộc đời một đứa trẻ, người ta dạy chúng đi và nói. 24 tháng tiếp theo, họ sẽ bảo chúng ngồi yên và câm miệng.

21. Phụ nữ và các nhà dự báo thời tiết giống nhau ở chỗ họ thường chỉ thừa nhận mình đã lầm chứ không sai!

22. Cô gái già là phụ nữ không thành công trong việc kiếm chồng, còn trai già là đàn ông thành công trong việc không lấy vợ.

23. Ba giai đọan của một đời người: tin vào ông già Noel, không tin vào ông già Noel và làm ông già Noel.

24. Ðàn ông tốt có ở khắp mọi nơi trên thế giới, trừ dưới mái nhà của vợ mình.

25. Ðàn ông tha thứ rồi quên đi, còn đàn bà thì chỉ tha thứ.

26. Tất cả đàn ông đều có lúc lầm lỗi, nhưng người đã có vợ bao giờ cũng nhận ra sai lầm của mình nhanh hơn.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Người trúng nửa lô độc đắc Mega $380 triệu từng 3 lần 'chết đi sống lại'
Thursday, January 06, 2011



OLYMPIA, Washington - Một cặp vợ chồng có 6 đứa con, 23 cháu nội ngoại, 5 cháu cố, sống tại thành phố Ephrata, Washington State, được chứng nhận là người trúng một nửa lô độc đắc Mega Millions, $380 triệu, lớn thứ nhì trong lịch sử Hoa Kỳ.
Image
Ông bà McCullar trong buổi họp báo hôm Thứ Năm, chính thức trở thành người trúng một nửa lô độc đắc lớn thứ nhì lịch sử Hoa Kỳ. (Hình: AP)



Ông bà Jim và Carolyn McCullar đi từ nhà riêng đến thủ phủ tiểu bang Washington để dự cuộc họp báo, và để... ăn mừng.

Ông Jim McCullar nói với báo chí, sự may mắn của ông không chỉ là trúng số lớn, mà còn bao gồm cả việc 3 lần chết đi sống lại, vì bệnh tim.

“Tôi và bà nhà tôi lập gia đình được 41 năm rồi.” Ông chồng kể, và khẳng định rằng ông “biết phải làm gì với số tiền trúng thưởng.”

“Ðời tôi gặp may cả thảy 3 lần,” ông McCullar nói trong buổi họp báo. Ông hóm hỉnh: “Lần may mắn đầu tiên là lấy vợ, và lần thứ nhì là trúng Keno, được $18,650.”

Ông McClullar nói rằng ông bị bệnh tim, từng trải qua ba lần trụy tim, được gắn 12 ống thông mạch máu, và 3 lần được bác sĩ tại một bệnh viện ở Wenatchee, Washington, tuyên bố “đã chết!”

Ông nói, hai vợ chồng sẽ dùng tiền này giúp gia đình, giúp người khác, và “làm việc thiện bất cầu lợi cho mình” (pay it forward).

Ông McCullar nay đã 68 tuổi, về hưu sau 20 năm làm quản trị tại công ty Boeing. Công việc gần nhất của ông là môi giới địa ốc.

Bà vợ được chồng đánh thức sau khi ông dò số vào hôm Thứ Ba. Ông báo với bà về sự may mắn. Con số định mệnh tối Thứ Ba là 4, 8, 15, 25, 47, và số Mega là 42.

“Người tôi tái xanh lại, chân tay tôi run lẩy bẩy. Bà xã tưởng tôi lên cơn đau tim.” Ông McCullar kể.

Bà vợ hỏi chồng cảm thấy trong người thế nào. Ông nói: “Hoàn hảo.”

Thống đốc tiểu bang Washington, Chris Gregoire, cũng có mặt để chúc mừng gia đình McCullar. Bà thống đốc nói đùa, không biết gia đình này có muốn giúp cho ngân sách tiểu bang đang bị thâm thủng nhiều tỷ Mỹ kim.

Trong khi gia đình McCullar vui mừng và chính thức được thừa nhận là sở hữu chủ của một nửa lô độc đắc, tại tiểu bang Idaho, người trúng một nửa còn lại vẫn chưa lộ diện.

Trước ngày xổ số, khi lô độc đắc ngày càng lớn dần, có cả làn sóng người đổ xô đi mua vé số. Hàng ngàn người đứng xếp hàng tại 41 tiểu bang và Washington D.C., nơi có vé số loại này.

Ðể trúng lô độc đắc Mega Millions, tấm vé số phải trúng cả 5 số thường cộng với số Mega. Xác suất trúng, hiển nhiên, vô cùng nhỏ. Nhưng nhỏ đến đâu đi nữa thì cơ hội trúng vẫn tồn tại. Và cơ hội ấy rơi vào 2 người, một trong hai người ấy là ông McCullar.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Lam Phương Một đời thăng trầm

Nguyễn Ngọc Ngạn

Như thông lệ hằng năm, cứ vào đầu tháng 12, tôi đi trình diễn một tour bên Úc qua mấy thành phố lớn như Sydney, Melbourne, Brisbane và Perth. Năm ngoái, sau buổi văn nghệ tại Casino Crown, tôi được một vài thương gia mời đi ăn cơm rồi ngỏ ý đề nghị tôi đưa nhạc sĩ Lam Phương sang Úc, mặc dù ai cũng biết ông đang ngồi xe lăn từ 10 năm nay, di chuyển đường xa rất khó khăn. Chỉ vì nhạc Lam Phương quá đặc sắc và đa dạng, nên khán giả bốn phương đều muốn nghe lại và nhất là muốn gặp mặt ông một lần, biết đâu chăng là lần cuối bởi năm nay ông đã 72. Những người ngồi với tôi hôm ấy đều còn nhớ rất rõ, Lam Phương là nhạc sĩ duy nhất mà Trung tâm Thúy Nga đã thực hiện đến 3 cuốn Paris By Night để giới thiệu sự nghiệp của ông:
- PBN 22 "Bốn Mươi Năm Âm Nhạc Lam Phương"
- PBN 28 "Lam Phương, Dòng Nhạc Tiếp Nối"
- PBN 88 " Đường Về Quê Hương'

Nói chung, ông là người viết nhạc có tầm ảnh hưởng rộng lớn nhất, xét về mức phổ biến trước cũng như sau năm 1975.

Từ Úc về, tôi sang trình diễn tại mấy nước Cộng sản cũ ở vùng Đông Âu như Ba Lan, Cộng Hòa Séc (Tiệp Khắc) và Slovaskia, những nơi chỉ có toàn người miền Bắc. Tại đây, một lần nữa tôi lại ngạc nhiên nghe bầu show và nhiều khán giả đề nghị tôi mời nhạc sĩ Lam Phương qua cho đồng bào gặp gỡ. Ở Praha, tôi hỏi một cô trong ban tổ chức:
- Lam Phương viết nhiều về người lính VNCH, chẳng hạn Bức Tâm Thư, Tình Anh Lính Chiến, Chiều Hành Quân, Biết Đến Bao Giờ v.v... Khán giả ở đây chỉ gồm toàn người miền Bắc, từng là công nhân lao động hợp tác, cán bộ tu nghiệp hoặc du học sinh từ Hà Nội. Tổ chức chương trình nhạc sĩ Lam Phương cho họ coi, cháu nhắm có trở ngại gì không? Bởi đã hát nhạc Lam Phương là phải hát đủ loại, cả nhạc lính lẫn nhạc tình!

Cô gái hân hoan trả lời tôi:
- Không sao đâu chú! Viết nhạc trong thời chiến mà! Âm nhạc tất nhiên phải phản ánh cuộc sống mà tác giả đi qua. Cháu mới vào Việt Nam. Sau cuốn Paris By Night Đường Về Quê Hương, cháu thấy hầu hết các tụ điểm ca nhạc trong nước bây giờ đều hát nhạc Lam Phương.
Sau chuyến lưu diễn Âu Châu, tôi về gọi điện thoại hỏi ý kiến và thuyết phục anh Lam Phương, giục anh chịu khó đi với tôi vài chuyến. Tôi tha thiết bảo:
- Cố gắng đi anh! Khán giả ở đâu cũng mong gặp anh nhất là từ khi nghe tin anh bị tai biến mạch máu não!

Tôi quen anh Lam Phương đã 17 năm, làm việc chung với anh qua 3 cuốn video và nhiều chương trình live shows, tôi biết rõ tính anh rất dè dặt. Anh chỉ sợ di chuyển vất vả mà đến nơi không thành công thì buồn cho cả anh lẫn ban tổ chức. Tôi phải trấn an anh mãi bởi tôi biết rõ cảm tình của khán giả đối với anh. Cuối cùng anh đồng ý trên nguyên tắc: Đầu tháng 12 năm nay, 2010, anh và tôi sẽ bay sang Úc dưới bảng hiệu Thúy Nga, rồi nhân tiện sang nước láng giềng Tân Tây Lan ( New Zealand) luôn thể.

Riêng Đông Âu thì anh còn lưỡng lự và các bầu show bên ấy cũng chưa có ngày giờ nhất định bởi việc tổ chức show ở Âu Châu tương đối phức tạp, cần phải phối hợp giữa nhiều quốc gia lân cận.

Trong khi chờ đợi, tôi bàn với Thời Báo mời Lam Phương sang Toronto. Ý định này, anh em Thời Báo và tôi đã có bàn thảo một đôi lần trước đây, nhưng mãi năm nay mới thu xếp được và chỉ có ngày Thứ Bảy 24 tháng 07 là thuận tiện cho cả nhạc sĩ Lam Phương lẫn ban tổ chức. Lam Phương chưa qua Toronto bao giời nên tỏ ra ngần ngại. Tôi phải nhắc lại:

- Từ bao nhiêu năm nay, có show Lam Phương nào thất bại đâu anh! San Jose, Orange County, Montreal,... chương trình nào cũng đầy ắp khán giả, có nơi không đủ vé bán. Mùa hè Toronto đẹp lắm. Đồng bào Toronto rất yêu văn nghệ. Mời anh sang thăm một lần cho biết!
Anh kết luận bằng một câu quen thuộc:
- Anh kéo tôi đi đâu thì tôi đi đó!

Tôi hiểu ý anh. Rất nhiều nơi muốn tổ chức đêm nhạc Lam Phương. Nhưng ở đâu anh cũng muốn phải có tôi giới thiệu, bởi chúng tôi đã làm việc chung với nhau tới 3 cuốn Paris By Night, tôi hiểu rõ tâm sự và xuất xứ từng ca khúc của anh. Tôi cám ơn anh rồi bảo:
- Tôi phone anh trước, nếu anh đồng ý thì đại diện Thời Báo sẽ liên lạc với anh!

Thời Báo chẳng những chỉ liên lạc với anh Lam Phương bằng phone, mà Nguyễn Đạt và anh Sa Xuân Vũ còn bay sang tận nơi, ghé thăm anh Lam Phương trong căn nhà quạnh hiu trồng đầy bông hồng chung quanh. Anh cảm động gọi cho tôi, cám ơn sự chu đáo của anh em Thời Báo Toronto và hẹn sẽ gặp khán giả Toronto cuối tháng 07.

Đôi nét về Lam Phương

Vào những năm đầu khi mới chia cắt đất nước, dân chúng miền Nam thường được nghe đi nghe lại bài Chuyến Đò Vĩ Tuyến trên đài phát thanh:

"Đêm nay trăng sang quá anh ơi
Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai mầu..."

Lúc ấy, ai cũng tưởng Lam Phương chắc phải là một "ông Bắc kỳ di cư" lớn tuổi, dàn trải tâm tư khắc khoải của mình khi rời đất Bắc vào Nam tìm tự do. Nhưng hóa ra tác giả chỉ là một thanh niên miền Nam mới 18 tuổi, đã khơi lên nỗi xúc động thay cho gần một triệu đồng bào vừa lìa xa cố hương. Từ cái bước khởi đầu vững chắc ấy, người ta đã nhìn thấy ở trước Lam Phương là một tài năng lớn, một sức sáng tạo đích thực, và quả nhiên như mọi người dự đoán, anh đã cống hiến cho tân nhạc Việt Nam gần 200 ca khúc đặc sắc trong nửa thế kỷ vừa qua.

Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng, sinh ngày 20 tháng 03 năm 1937, tại Rạch Giá. Nội tổ của anh vốn là người gốc Hoa, bỏ nước sang Việt Nam lập nghiệp trong đợt di dân ồ ạt của người Hoa chống đối với nhà Mãn Thanh. Đời ông nội của Lam Phương đã bắt đầu lai Việt Nam và đến thân phụ của anh thì chẳng còn dấu vết gì là người Hoa nữa.

Lam Phương là con đầu lòng, nhưng lớn lên chỉ thấy mẹ và các em trong cảnh nghèo nàn xác xơ. Ông bố đã bỏ đi theo người đàn bà khác từ lúc Lam Phương chưa đủ trí khôn. Mười tuổi, Lam Phương giã từ Rạch Giá lên Sài Gòn, ở trọ nhà người quen trong xóm lao động tăm tối vùng Đa Kao và vào học trung học ở Việt Nam Học Đường. Thời gian này, anh bắt đầu tự học nhạc qua sách vở, phần lớn là bằng tiếng Pháp. Điều này dễ hiểu, bởi ngày ấy nước ta chưa có trường âm nhạc. Thế hệ Lam Phương cũng như các nhạc sĩ lớn tuổi hơn, muốn học nhạc thì hoặc phải tự mò mẫm qua các tài liệu viết bằng tiếng Pháp, hoặc ghi danh hàm thụ các trường chuyên nghiệp bên Paris để họ gửi bài vở sang. Song song với phần nhạc lý, Lam Phương cũng xin học lớp guitar do một ông thầy Việt Nam truyền nghề.

Để trắc nghiệm khả năng học hỏi của mình sau một thời gian miệt mài, năm 1952, lúc mới 15 tuổi, Lam Phương sáng tác ca khúc đầu tay là Chiều Thu Ấy. Anh vay mượn bạn bè và hàng xóm, tự in bản nhạc rồi thuê xe lam chở đi giao cho các quầy hàng bán lẻ. Tuy cũng lấy lại vốn, nhưng ca khúc này chưa gây được tiếng vang. Phải chờ 3 năm sau khi 18 tuổi, Lam Phương mới tung ra được một số sáng tác nổi đình nổi đám ngay như Kiếp Nghèo, Chuyến Đò Vĩ Tuyến, Nhạc Rừng Khuya, Trăng Thanh Bình, Khúc Ca Ngày Mưa, Nắng Đẹp Miền Nam v.v...

Nhạc của Lam Phương nhanh chóng tràn lan trong học đường trên phạm vi cả nước. Hầu như trường nào cũng cho học trò đồng ca hoặc múa hát những bài tươi vui lành mạnh, phổ biến nhất là Khúc Ca Ngày Mưa và Nắng Đẹp Miền Nam. Ở những nhạc phẩm này, người ta thấy ngay sự phản ánh rất rõ nét một thời thanh bình rộn rã của những năm đầu nền Đệ nhất Cộng hòa.

Năm 21, Lam Phương nhập ngũ. Thời ấy, thanh niên đi quân dịch chỉ có một năm bởi là nghĩa vụ quân sự trong thời bình. Tại quân trường, anh viết Bức Tâm Thư, hô hào thanh niên sốt sắng đi quân dịch. Ngày mãn khóa, anh sáng tác 2 bản nhạc nổi tiếng là Tình Anh Lính Chiến và Chiều Hành Quân. Anh kể với tôi: Vì không biết rõ xuất xứ sáng tác bài Tình Anh Lính Chiến, cho nên sau này nhiều ca sĩ thường hát câu: "Anh chiến trường, em nơi hậu tuyến". Thật sự thì hát như vậy là sai, bởi anh viết cho bạn bè đồng ngũ trước khi chia tay ở quân trường, mỗi người đi mỗi nơi, nên câu hát đúng là 'Anh chiến trường, tôi nơi hậu tuyến". Đây là tình đồng đội chứ không phải tình yêu trai gái.

Mãn hạn quân dịch, trở về đời sống dân sự, Lam Phương tiếp tục sáng tác và tự xuất bản các tác phẩm của mình. Nhạc của anh có sức phổ biến sâu rộng, là một trong những nhạc sĩ thành công nhất ở miền Nam, giúp anh thoát khỏi cảnh lầm than mà anh đã mô tả qua bản Kiếp Nghèo mấy năm về trước.

Lúc ấy, nhạc sĩ Phạm Duy đang phụ trách trung tâm Quốc Gia Điện Ảnh, nghe tiếng Lam Phương, gọi anh đến và giới thiệu với đạo diễn Lưu Bạch Đàn để Lam Phương đóng vai chính trong phim Chân Trời Mới bên cạnh nữ tài tử Mai Ly và kịch sĩ lão thành Vũ Huân. Đây là một phim truyện nhằm cổ võ cho quốc sách Ấp Chiến Lược, đồng thời đả phá tệ nạn quan liêu phong kiến ở xã ấp.

Khi tên tuổi bắt đầu vững vàng, Lam Phương lập gia đình vời kịch sĩ Túy Hồng. Từ đó anh phụ trách thêm công việc viết nhạc nền cho ban kịch Sống, cho chúng thêm hàng loạt ca khúc đặc sắc như Thu Sầu, Nghẹn Ngào, Trăm Nhớ Ngàn Thương, Phút Cuối, Ngày Buồn v.v...
Tình hình chiến sự miền Nam gia tăng, Lam Phương được gọi tái ngũ. Anh mặc quân phục trở lại và gia nhập Ban Văn Nghệ Bảo An (Địa Phương Quân). Khi ban này giải tán, anh chuyển qua ban văn nghệ Hoa Tình Thương. Rồi Hoa Tình Thương cũng giải tán để biến thành Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương, nơi Lam Phương cộng tác cho đến ngày mất miền Nam. Trong khoảng thời gian này, sức sáng tác của Lam Phương càng dàn trải trên nhiều thể loại rất phong phú mà đặc biệt một điểm là hầu hết ca khúc nào anh đưa ra cũng đều trở thành Top Hit trên thị trường, điển hình như Chờ Người, Tình Bơ Vơ, Duyên Kiếp, Thành Phố Buồn, Tình Chết Theo Mùa Đông v.v... đưa anh vào vị trí một nhạc sĩ thành công nhất Việt Nam về mặt tài chánh.

Sáng ngày 30 tháng 04 năm 1975, anh quyết định vào phút chót, đem gia đình chạy lên tàu Trường Xuân của thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy, cùng với gần 4000 đồng bào ra khơi tìm tự do. Trên tàu, anh gặp lại Elvis Phương, ca sĩ đầu tiên đã hát bài Chờ Người của anh khoảng năm 1972. Cũng trong đám người dày đặc đó, có một cô bé còn bế trên tay, sau này là á hậu Việt Nam tại Paris và trở thành nữ ca sĩ Bảo Hân của Trung tâm Thúy Nga.

Vì không có ý định ra đi, cho nên Lam Phương hoàn toàn chẳng chuẩn bị bất cứ thứ hành trang nào để đem theo. Anh bỏ lại chiếc xe hơi, hai căn nhà lớn và khoảng 30 triệu đồng trong ngân hàng để lên đường với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo! Lúc ấy, lương một vị tổng giám đốc hoặc một vị đại tá trong quân đội chỉ có mấy chục ngàn một tháng!

Định cư ở Mỹ, cái job đầu tiên anh làm trong hãng Sears là lau sàn nhà và cọ cầu tiêu! Rồi chuyển sang làm thợ mài, thợ tiện, bus boy. Tuy vậy, cứ mỗi cuối tuần anh vẫn cố gắng thuê một nhà hàng, biến thành phòng trà ca nhạc để đồng hương có chỗ gặp nhau và để chính anh cùng Túy Hồng đỡ nhớ sân khấu. Nghề này, chẳng những lợi tức không có bao nhiêu mà buồn thay, chỉ sau một khoảng thời gian ngắn, anh khám phá ra người bạn đời không còn thủy chung với anh nữa. Anh cay đắng vật vã, cố gắng hàn gắn nhưng không xong. Anh biết cái thế của anh đã mất hẳn từ khi ra hải ngoại, bởi tiền bạc, danh vọng đều chỉ còn là trong kỷ niệm. Nỗi đau ray rứt của cuộc tình tan vỡ trên đất khách đã là động lực sâu thẳm khiến anh sáng tác mấy bản nhạc rất bi thương, trong đó có một bài để đời là Lầm:

"Anh đã lầm đưa em sang đây
Để đêm trường nghe tiếng thở dài
Thà cuộc đời im trong lòng đất..."

Rồi anh ngậm ngùi bỏ Hoa Kỳ sang Paris, xin vào làm công việc đóng gói quét dọn cho một tiệm tạp hóa. Cũng tại đây, anh gặp lại ông bà Tô Văn Lai, chủ nhân Trung tâm băng nhạc Thúy Nga, vốn đã quen biết anh ở Sài Gòn từ trước năm 75. Thúy Nga ngày ấy cũng còn quá nghèo, chỉ sang lại những băng cũ mang theo từ Việt Nam, nên chả có việc gì cho Lam Phương làm. Chính bản thân ông Tô Văn Lai, Giáo sư Triết ở Sài Gòn, dân trường Tây từ nhỏ, giờ đây cũng phải đi học nghề sửa xe và đứng bơm xăng ở vùng Bondi, ngoại ô Paris.

Lam Phương tiếp tục sống lầm lũi cho qua ngày ở kinh thành ánh sáng, mãi cho đến khi anh bất ngờ gặp một khúc rẽ tình cảm mới: Một người đàn bà rất đẹp đã đến với trái tim anh, giúp anh xóa đi những ngày tăm tối vừa qua. Nhờ khúc rẽ ấy, chúng ta mới có được một loạt ca khúc chan hòa niềm vui như Mùa Thu Yêu Đương, Tình Hồng Paris, Tình Đẹp Như Mơ, và nhất là Bài Tango Cho Em:

"Từ ngày có em về
Nhà mình ngập ánh trăng thề..."

Cũng trong khoảng thời gian tạm cư ở Paris, anh sáng tác 3 ca khúc nổi tiếng khác mà giờ này thính giả vẫn thích nghe đi nghe lại:
- Cho Em Quên Tuổi Ngọc: Anh đặt cả lời Pháp lẫn lời Việt, viết cho một cuốn phim. Tựa tiếng Pháp là C'est Toi.
- Em Đi Rồi: Anh viết cho chuyện tình tan vỡ của nữ ca sĩ Họa My, khi Họa My sang Pháp để lại người chồng ở Việt Nam.
- Một Mình: Cảm xúc của chính anh buổi sáng thức dậy, cô đơn nhìn ra cửa trong ánh bình minh.

Bước sang đầu thập tiên 1990, Trung tâm Thúy Nga tương đối đã có cơ sở vững vàng ở Paris lẫn Cali sau khi sản xuất thành công một loạt video tuồng cải lương và các chương trình Paris By Night bắt đầu từ năm 1983. Lúc ấy, Thúy Nga mới quyết định thực hiện một cuốn Paris By Night chủ đề nhạc Lam Phương.

Đó là lần đầu tiên tôi gặp anh Lam Phương vào tháng 03 năm 1993, khi trời Paris còn đang se lạnh. Mặc dầu lúc này Lam Phương đã chia tay người đàn bà từng mang cho anh "những nụ hồng Paris", nhưng cuộc sống của anh đã tạm ổn định cả mặt tinh thần lẫn vật chất, một phần nhờ có cô em gái từ Việt Nam sang tỵ nạn, mở tiệm ăn Như Ánh ngay tại Quận 13, giao cho anh làm manager.

Lúc gặp tôi, anh đã hoàn toàn lấy lại phong độ, tìm lại sự tin yêu trong cuộc đời, quên hết những nhọc nhằn gần 20 năm sóng gió vừa qua. Anh cho biết: Anh ít đọc sách của tôi, nhưng em gái anh, chủ nhà hàng, thì bất cứ lúc nào rảnh rỗi, cô cũng để cuốn tiểu thuyết Màu Cỏ Úa của tôi ngay bên cạnh. Nhờ vậy, tuy gặp nhau lần đầu mà anh với tôi đã có cảm tưởng như quen nhau từ lâu.

Bài học đầu tiên tôi học ở anh Lam Phương là sự bình dị và khiêm tốn. Một người từng nổi tiếng từ lúc tuổi chưa đến 20, từng có một cuộc sống giàu sang ở Sài Gòn, giờ này ngồi tiếp chuyện tôi trong cái quán nhỏ, bằng một thái độ rất chân tình và lịch sự, mặc dầu tôi thua anh về mọi mặt. Cái ấn tượng ban đầu ấy khắc ghi mãi trong lòng tôi cho đến hôm nay.

Sau sự thành công của Paris By Night 22 - Bốn Mươi Năm Âm Nhạc Lam Phương, chỉ hơn một năm sau, Thúy Nga lại thực hiện thêm một chương trình Lam Phương thứ 2 bởi nhạc anh còn quá nhiều. Cuốn này tôi đặt tựa đề là "Lam Phương, Dòng Nhạc Tiếp Nối', tức Paris By Night 28.
Sau cuốn băng ấy, Lam Phương quay về định cư tại Hoa Kỳ năm 1995. Người đàn bà bảo lãnh anh trở lại Mỹ tuy không phải là một cuộc tình lớn trong đời, nhưng anh cần một mái ấm ổn định ở tuổi đã trên 55. Về lại Cali, anh tiếp tục sáng tác và lâu lâu phụ việc với Trung tâm Thúy Nga lúc này đang trên đà thăng tiến mạnh mẽ.

Dòng đời đang êm trôi thì ngày 13 tháng 03 năm 1999, trong lúc đang dự tiệc ở nhà một người thân, không may anh bị tai biến mạch máu não. Từ đó anh nói không ra lời, một nửa thân thể gần như bại liệt hoàn toàn. Bàn tay đánh đàn ghi nốt nhạc mấy chục năm qua, bây giờ không sử dụng được nữa. Anh chị em nghệ sĩ cùng nhau tổ chức đêm nhạc Lam Phương tại nhà hàng Majestic để hỗ trợ anh về cả hai mặt tinh thần và tài chánh. Tôi bay sang góp mặt, anh chỉ nắm tay tôi ứa nước mắt mà nói không thành câu.

Vài hôm sau, người đàn bà đang chung sống với anh, lặng lẽ chia tay, bỏ lại anh trên chiếc xe lăn, bơ vơ trong căn nhà vắng, để ngày nay anh thấm thía với nỗi quạnh hiu như những lời ca tiên tri chính anh đã viết:

"Sớm mai thức giấc
Nhìn quanh một mình!"

Thời gian trôi qua quá nhanh! Mới đó mà Lam Phương "nhìn quanh một mình" đã 11 năm! Anh đã cố gắng vượt bậc, cố giữ tâm hồn thư thái và thể dục đều đặn. Nhờ vậy thỉnh thoảng anh có thể tạm bỏ xe lăn, đứng dậy chống gậy đi một vòng quanh nhà. Nỗi buồn lớn nhất của anh từ ngày gặp nạn là không còn đánh đàn và viết nhạc được nữa bởi một nửa thân thể vẫn hoàn toàn bất động, mặc dầu trí óc anh rất sáng suốt.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Tai Nạn Giao Thông

Xin cẩn thận và tập trung khi lái xe vì tai nạn có thể đến bất cứ lúc nào trong đời sống của chúng ta......
mời các bạn click vào xem video clip sau đây.......


User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

MỐI TÌNH GIÀ

Truyện ngắn THANH THƯƠNG HOÀNG


Cứ chiều ngày chủ nhật nào cũng vậy, khi mặt trời ngả về phương Tây, người ta thấy một ông già mái tóc bạc phơ phủ dài dưới gáy và chòm râu trắng như cước chẩy xuống tận ngực. Ông chậm rãi cất bước trên con đường đất nhỏ quanh khuôn viên ngôi chùa, hai bên lề có những khóm hoa đủ mầu sắc. Ông lơ đãng đưa mắt hết nhìn xung quanh, nhìn gần nhìn xa, rồi lại ngước mặt nhìn nền trời cao với những tảng mây trắng hơi ửng vàng bàng bạc xây thành chất lũy, từng khối, từng khối đầy đủ hình thù cảnh vật núi non, người, vật đủ loại, chập chùng mờ ảo quái dị như một thế giới nào đó khác với thế giới hiện tại. Ông lẩm bẩm: “Có thật có một thế giới nào khác ngoài thế giới này không bà nhỉ? Chẳng lẽ chết là hết? Cả ngàn năm nay người ta đã nói nhiều về cõi niết bàn, về chốn thiên đường. Bây giờ bà đang ở đâu, niết bàn, thiên đường hay chỉ là cõi hư vô? Rõ ràng mới đấy mà đã trở thành không rồi!”. Thoạt đầu người ta tưởng ông già nói chuyện với một người nào đó. Thực ra ông nói một mình hay chính xác hơn, ông nói chuyện với một cái bóng vô hình. Ngôi chùa nhỏ lại tọa lạc tại một vùng ngoài xa thành phố nên rất êm ả yên vắng, vì khách thập phương ít lui tới. Chùa có một sư bà tuổi đời trên dưới 80. Bà thứ hai vào khoảng 70 tuổi nhưng chỉ là tín nữ, vì bà chưa xuống tóc, đến chùa ở mới mấy năm nay. Cả hai đều mình hạc xương mai. Sư bà ít khi ra khỏi chùa, bà trụ tại đây đã trên 30 năm, suốt ngày đêm chỉ ngồi gõ mõ tụng kinh niệm Phật, khi rỗi rãi thì đọc sách hoặc ra sau vườn trồng hoa, trồng rau với bà tín nữ. Ngoài hai người trên, chùa còn một sư cô tuổi 17, 18. Bà tín nữ tuy khoác trên người bộ đồ mầu xám nhạt nhưng trông dáng điệu vẫn còn vẻ sang cả. Bà để mớ tóc bạc trắng quấn tròn lại phía sau đầu và trùm tấm khăn mầu xám nhạt nên trông chẳng khác gì một sư nữ. Bà chỉ mới quy y chứ chưa xuống tóc, vì lòng bà (theo lời bà sám hối với sư bà trụ trì) còn vướng chút bụi trần. Từ ngày chồng mất, mãn tang, giã từ con cháu bà lên chùa này nương tựa cửa Phật cho tới nay cũng đã mấy năm. Sau những giờ tụng niệm đọc kinh, mỗi buổi chiều bà thường thiền hành quanh khuôn viên chùa dăm chục phút. Cả ba người tuy sống trong cùng ngôi chùa nhưng ít khi họ chuyện trò tâm sự, nhất là chuyện riêng tư quá khứ. Sư cô người trắng trẻo hồng hào, phải nói là khá xinh đẹp, đang sắp thi vào đại học, theo cha mẹ lên chùa ngày Phật đản, không hiểu sao cô bất thần xin phép cha mẹ, xin phép sư bà ở lại tu luôn, mặc cho sự ngăn cản của cha mẹ. Còn sư bà và bà tín nữ là cả một sự bí ẩn. Không ai biết gốc tích dĩ vãng của họ. Hơn nữa, từ khi di tản sang đây, người ta mải lo làm giầu nhiều hơn là quan tâm tới những chuyện khác, nhất là chuyện tu hành của mấy người đàn bà không tên tuổi, ít được người đời biết tới. Ngoài ra, vì ngôi chùa này nhỏ lại tọa lạc nơi vắng vẻ chốn rừng sâu nên các Phật tử ít lai vãng chiêm bái.Thời buổi này, nhất là sống ở xứ sở có nhiều cơ hội làm giầu, người ta tới lễ Phật thì ít mà muốn khoe của, khoe sự giầu sang phú quý thì nhiều nên những ngày lễ Phật, những ngôi chùa lớn danh tiếng, Phật tử đến đông như hội chợ…

Người con trai sau khi ngừng xe lại trước con đường nhỏ dẫn vào chùa, bước ra khỏi xe, mở cửa xe cho ông già bước ra, lễ phép nói:

“Thưa ba, chiều nay con vẫn tới đón như giờ giấc mọi lần?”.

Ông già cười nhẹ, đáp:

“Vẫn vậy thôi”.

Ông già nhìn theo anh con trai phóng xe đi khuất mới thong thả cất bước về phía chùa. Cũng một buổi chiều như chiều nay nhưng cách đây đã bốn năm, ông được người bạn rủ tới chùa này ngoạn cảnh. Theo sự mô tả của ông bạn, cảnh giới ngôi chùa chẳng khác gì cảnh giới những ngôi chùa trong nước của những nhà tu hành chân chính thủa xa xưa trong rừng thẳm núi cao. Chùa u nhã tĩnh mịch, tuy nhỏ nhưng nằm trên khu đất khá rộng, vây quanh là những hàng cây cổ thụ cành lá xum xuê có từ trăm năm, tạo cho người ta cảm giác khác hẳn với thế giới bên ngoài, tâm thần lâng lâng như lạc vào nơi miền cực lạc cõi trần gian. Con người như bay bổng lên tầng cao tinh khiết siêu thoát, không vướng chút bụi đời. Nghe bùi tai hấp dẫn, thế là hai ông bạn già - năm đó cũng đều trên dưới bẩy chục tuổi nhưng còn tương đối khỏe mạnh - cùng nhau lái xe tới vãn cảnh chùa. Quả đúng như lời ông bạn nói - ông Thụy - tên ông già, cảnh vật cũng như đa số những ngôi chùa khác nhưng vô cùng u nhã thanh tịnh. Không gian thoang thoảng hương thiền. Ông Thụy thấy tâm hồn mình nhẹ lâng lâng sau những ngày tháng ưu tư buồn phiền mệt mỏi sống nơi đất nước người. Ông thực tâm chẳng muốn rời xa quê hương đất nước chút nào nhưng thời thế bắt buộc, nhất là các con ông, sau những năm tù đầy về, bọn nó nhất định rời bỏ quê hương sang đây sống một cuộc đời mới.

Ông Thụy già rồi chẳng còn tham vọng gì nên lúc nào cũng có cảm tưởng mình sống thừa với những ngày tháng vô vị. Con cháu ông, chúng có đời sống của chúng. Và chúng còn mải mê học hành, mải mê theo đuổi công danh sự nghiệp hoặc mải mê vui chơi. Ông chỉ còn nguồn yêu thương an ủi duy nhất là bà vợ. Nhưng ít lâu nay bà bỗng thay tính đổi nết, trở nên con người khác. Từ lúc trở thành vợ ông, bà đã phong thanh biết chuyện ông có một mối tình đầu sâu đậm khó quên, dù năm tháng trôi qua. Bà biết ông không yêu bà. Ông lấy bà vì bổn phận - cũng như bà - vì gia đình ép buộc, nên khi về già tình vợ chồng cũng trở nên nhạt nhẽo. Tuy nhiên lúc nào bà cũng vẫn đóng trọn vẹn vai trò làm vợ, làm mẹ và làm bà. Và đối xử với ông vẫn nói năng nhẹ nhàng, lễ độ trong khuôn phép con nhà gia giáo. Nhưng lẽ sống của bà bây giờ chính là nhà thờ. Sáng đi lễ. Chiều đi lễ. Buổi tối ngồi trong phòng tụng kinh trước ảnh Chúa. Vì vậy ông càng thấy mình bơ vơ lạc lõng và rất cô đơn trong cái tuổi già nơi xứ người nên ông luôn nghĩ tới người yêu thuở đầu đời, không biết giờ này trôi dạt nơi đâu, có còn trên cõi thế? Tuy hơn nửa thế kỷ trôi qua ông vẫn không thể nào quên “nàng” được. Ông tìm đến bạn bè kiếm nguồn an ủi nhưng họ cũng có cuộc sống riêng tư của họ. Chỉ khi nào rảnh rỗi như hôm nay họ mới lái xe cho ông “đi chơi xa”.

Trong khi ông bạn đang chiêm ngưỡng pho tượng Phật bà Quan Âm trước sân chùa, ông Thụy thơ thẩn dạo bước trên con đường đất nhỏ giữa những khóm hoa nhỏ thì thấy một người nhẹ nhàng đi tới. Ông đứng nép vào bên đường nhường bước. Đó là một sư bà. Bỗng ông giật thót mình, lấy tay chùi kính mắt một lần rồi lần nữa, vì mắt ông bỗng hoa lên, mờ đi. Chẳng lẽ thị giác về già đánh lừa ông. Dù mấy chục năm trôi qua không gặp lại, ông vẫn quên làm sao được khuôn mặt, dáng dấp “người ấy”, cho dù thời gian đã làm thay đổi nhiều. Nhưng trực giác của ông…Không kìm lòng được nữa, ông thảng thốt kêu lên:

“Ô, Liên!”.

Bà nghe tiếng kêu cũng giật thót mình ngừng bước, mở lớn đôi mắt nhìn. Từ lâu lắm rồi, nhất là ở nơi chùa chiền hoang vắng này có ai biết tên bà và gọi đúng tên bà thời con gái? Nhưng chỉ mấy phút sau, khi nhận ra tiếng nói (đã ngấm sâu trong tiềm thức bà) và khuôn mặt con người vừa thốt tiếng kêu, bà cũng thảng thốt không kém, với giọng xúc động, hơi run run, tay trái đặt lên ngực:

“Mô Phật! Thì ra là…ông!”

Dứt lời bà quay mặt sang phía khác, có lẽ để tránh cái nhìn của ông.

Ông Thụy nói nhanh như sợ người đối diện bỏ đi:

“Vâng, tôi đây, Thụy đây. Anh đây. Em, em…bà…”

“Mô Phật, xin ông đừng gọi tôi tiếng em nữa”.

“Vâng vâng, bà, bà…”. Ông Thụy ấp úng nghẹn lời không nói thêm được. Ông muốn ôm chầm lấy bà siết chặt trong vòng tay. Mấy chục năm trời nay, ai ngờ Chúa Phật run rủi, ông gặp lại bà mà lại gặp trong cảnh ngộ éo le như thế này. Mắt ông như mờ đi và hình như ông thấy bà cũng cố che dấu hai giọt nước mắt sắp lăn xuống má. Ông biết mấy chục năm qua ông chưa quên được bà và bà cũng vậy. Nhưng sao giờ này sống trên đất Mỹ bà lại đổi đời đi tu. Ông thắc mắc. Nhất định phải có nguyên do. Hai người cứ lúng túng và đứng trơ ra. May có người đi tới. Đó là ông bạn đồng hành lái xe. Ông Thụy vội nói, nhỏ nhưng cũng đủ để bà nghe kịp:

“Tuần tới tôi sẽ lên”.

Ông Thụy không thấy bà gật hay lắc đầu.

Ngồi trên xe và xe phóng đi lâu rồi, mặt ông Thụy vẫn thừ ra đờ đẫn buồn hiu.

“Ông tương tư sư bà đấy à?”. Ông bạn lái xe nói đùa.

Ông Thụy lắc đầu:

“Không phải tương tư mà là gặp lại người xưa và dĩ vãng đang bừng sống lại trong tôi. Tôi bị “sốc”, “sốc” nặng! “Thế đúng là Lan và Điệp thời nay rồi. Liệu sư bà có cắt đứt giây chuông?”.

Ông Thụy nói như than:

“Chưa biết được ông ơi, nhưng nhất định đêm nay tôi mất ngủ”.

“Coi chừng cơn tam bành của Hoạn thư ở nhà đấy, ông bạn già!”.

“Bà ấy già rồi còn ghen tuông gì nữa, hơn nữa lại là chuyện ngày xưa”.

Người bạn lái xe cười cười nói:

“Ông lầm rồi. Mấy mụ ấy chỉ khi nào hết thở thì may ra mới hết máu ghen”. Dứt lời ông đưa tay nhấn nút CD. Một bài hát vang lên. Éo le làm sao trong bài hát lại có câu, cô ca sĩ hát như rên rỉ: “tình ngỡ đã quên đi…nhưng tình bỗng lại về…”.

Chiều chủ nhật tuần sau, ông Thụy bắt người con trai lớn lái xe đưa lên chủa. Trong lúc đi đường ông kể hết chuyện tình của mình với bà sư thuở thiếu thời. Người con trai đã ngoài 50 tuổi, có học, trước là sĩ quan cấp tá và là người hiểu biết việc đời và rất cảm thông trường hợp của ông bố. Khi xe ngừng ở lối vào chùa, ông Thụy thoáng nhìn thấy bà đứng bên vệ đường sau hàng cây nhìn về phía ông như có ý trông chờ. Ông quay lại dặn con giờ giấc tới đón. Khi quay lại không thấy bóng bà đâu nữa. Ông bước vào chùa. Sư bà trụ trì trên điện Phật bước ra niềm nở chào đón khách. Ông Thụy còn lòng dạ nào chuyện trò xã giao. Ông đi thẳng ngay vào “vấn đề”:

“Thưa, xin lỗi sư bà, tôi muốn gặp bà Liên”. Vì ông không biết pháp danh của bà nên cứ gọi theo tên ngoài đời.

Sư bà không hề hỏi lý do, gọi ngay sư cô đi tìm “bà Liên”. Ông Thụy được dẫn vào phòng khách gặp bà. Bà cúi đầu không nhìn ông khi ông bước vào. Hai người ngập ngừng đến mấy phút, ông Thụy mới lên tiếng:

“Bà vẫn khỏe? Tôi thật không hiểu…”. Câu nói ngừng lại ở đây. Bà nói, dọng nhẹ nhàng:

“Tôi ở chùa này đã bốn năm rồi nhưng chỉ mới quy y chứ chưa xuống tóc”.

“À ra vậy! Thế có nghĩa là…bà vẫn chưa muốn dứt nợ trần?”. Ông Thụy hấp tấp hỏi.

Bà thở dài:

“Cũng vì chút lòng trần chưa dứt nên chưa thể xuống tóc”.

“Có phải tại…”. Ông Thụy muốn nói có phải tại chồng con. Nhưng ông kịp thời ngưng.

Bà nói liền một hơi, dọng nghe có vẻ trách móc:

“Tại ông…ông hiểu không? Tôi chưa xuống tóc là muốn gặp lại ông một lần chót trong đời. Mấy chục năm rồi tin ông biền biệt. Nhưng tôi vẫn tin là sẽ có ngày gặp lại ông trước khi về cõi khác. Tôi đã nguyện trước đức Phật, nếu trong 5 năm không gặp lại ông tôi sẽ xuống tóc. Xuống tóc đúng vào cái ngày ông…hôn tôi lần đầu. Hơn 4 năm đã trôi qua nhưng linh tính báo cho biết tôi sẽ gặp lại ông. Tạ ơn đức Phật từ bi run rủi, hôm nay…”.

Ông Thụy muốn chồm lên ôm bà vào lòng nói lời an ủi cũng như âu yếm. Nhưng nhìn nét mặt bà với chiếc khăn mầu xám nhạt chùm trên đầu, ông bỗng khựng lại. Có một cái gì vô hình đã ngăn cản ý định của ông. Ông thở dài đăm đăm nhìn hai bàn tay mình xoa xoa trên mặt bàn gỗ mầu nâu đen. Bà biết ý định của ông nhưng vờ như không biết. Bà nói, dọng vẫn nhỏ nhẹ trong trẻo ngọt ngào ấm áp - khi xưa ông mê mẩn vì dọng nói này:

“Ông nên nhớ đây là chốn thiền môn và tôi là con cái của Phật. Ông là người ngoài đạo nên tôi tin đức Phật tha thứ cho ông”.

Có tiếng gõ nhẹ vào cửa phòng. Người con trai ông Thụy bước vào cúi đàu chào bà rồi nói với bố:

“Thưa ba, trời sắp tối và sương mù đang buông xuống”.

Ông Thụy đứng lên định cầm tay bà nhưng lại ngưng. Sau một tiếng thở dài, ông nói khẽ:

“Thôi tôi về Liên nhé, hẹn gặp”.

Bà không nói gì lặng lẽ tiễn ông ra ngoài đường, chỗ xe hơi đậu.

Thế là từ đó chiều chủ nhật nào ông Thụy cũng bắt người con trai trưởng đưa ông lên chùa. Ông không muốn nhờ người khác vì e ngại chuyện lộ ra ngoài. Ông nói với bà vợ là tới nhà người bạn xoa mà chược. Bà yên tâm vì có người con trai lớn đi kèm.

Chiều chủ nhật nào cũng vậy, cứ tới khoảng 4, 5 giờ chiều là bà lắng tai nghe ngóng tiếng động cơ xe hơi vọng tới. Rồi hai ông bà già sóng bước bên nhau đi trên con đuờng đất nhỏ quanh khuôn viên chùa. Họ chuyện trò. Họ tâm sự chuyện ngày xưa và chuyện ngày nay. Ông kể cho bà nghe gia cảnh của mình. Bà cũng vậy. Họ mải mê nói quên cả thời gian trôi và đã cuốc bộ biết bao cây số không thấy mệt mỏi, nhất là với đôi chân già yếu. Ông cho biết sau khi lập gia đình có bốn người con: hai trai hai gái. Hai trai sống với vợ con trên đất Mỹ. Còn hai gái sống tại Saigon . Ông có đến 7, 8 đứa cháu nội ngoại. Vợ chồng ông hiện sống trong nhà người con trai lớn. Còn bà thì kể sau hơn hai mươi năm lập gia đình chỉ có hai người con: một trai một gái đều sống trên đất Mỹ với bầy con. Chồng bà mất trước năm 1975 trong trận đánh Hạ Lào. Sang Mỹ sống vài năm, bà quyết định đi tu, mặc cho con cái ngăn cản. Bà chưa chịu “xuống tóc” ngay vì còn “một chút vướng víu”. Chút “vướng víu” đó là ông. Ông nghe bà nói thế, nhìn quanh thấy vắng bóng người, ông cầm tay bà siết chặt đến nỗi bà phải kêu lên.

Câu chuyện riêng tư của đôi bạn già không thoát khỏi cặp mắt của sư bà. Mỗi lần sư bà thấy hai người đi bên nhau mải mê chuyện trò lại lẩm bẩm: “Thiện tai! Thiện tai!”.

Bây giờ đúng là họ quên tuổi già để sống lại tuổi đôi mươi. Bao nhiêu kỷ niệm xưa cũ thời trai trẻ lãng mạn, họ nói ra cho nhau nghe hết. Dù là những kỷ niệm nhỏ nhặt trong đời sống học trò.

Vào khoảng năm 1919, 1920 của thế kỷ trước, hai gia đình ở cùng một khu phố giữa thủ đô Hà nội. Nhà ông đầu phố, nhà bà cuối phố. Phố Hà Nội thường nhỏ, ngắn. Lúc ấy họ chẳng thèm để ý gì đến nhau vì họ còn quá nhỏ. Nhà bà theo đạo Phật, làm nghề buôn bán, nổi tiếng giầu có. Nhà ông, theo đạo Công giáo, bố ông làm công chức cao cấp, gia đình có một đời sống khá giả. Khi ông lên trung học mới để ý tới “con bé cuối phố” xinh đẹp ngoan ngoãn. Họ yêu nhau tha thiết lúc nào không biết. Khi ông lấy xong bằng Thành Chung, bà mẹ ông ngỏ ý muốn ông lấy vợ “để sớm có cháu nội nối dõi tông đường”. Thế là ông đưa “thỉnh nguyện” ngay, đó là cô gái cuối phố. Ông không ngờ gặp phản ứng liền của cả cha lẫn mẹ. Họ bác bỏ một cách thẳng thừng và hơi tàn nhẫn: “Ồ, không được. Gia đình nó ngoại đạo!”. Nhất định là không được, mặc cho ông hết lời năn nỉ và ca ngợi những đức tính quý báu của cô nàng. Bà mẹ ông có vẻ thông cảm với cậu con trai nên ra điều kiện: “Nếu nó chịu rửa tội theo đạo thì mẹ bằng lòng”. Đêm đó ông chưa bao giờ tỏ ra bất lực, chán đời, chán cả sự học hành và đau khổ tận cùng. Còn về phía bà. Khi hay tin con gái có “bạn trai” là ông, bà mẹ gọi cô con gái vào phòng riêng và nghiêm mặt nói: “Từ nay tôi cấm cô không được giao thiệp thân mật với “thằng ấy”. Bà cãi: “Anh ấy đàng hoàng đứng đắn, con nhà tử tế”. Bà mẹ dằn dọng: “Tôi đã bảo cấm là cấm, cô hiểu chưa? Bố cô mà biết chuyện này cứ gọi là cô nhừ đòn”. Bà vẫn không chịu thua: “Nhưng anh ấy có làm gì nên tội đâu mà bố mẹ ghét thế?”. Bà mẹ nói như rít: “Tội gì à? Nhà nó theo đạo Công giáo, còn nhà mình theo đạo Phật. Nếu nó bằng lòng bỏ đạo nó theo đạo mình thì tôi cho cô cậu lấy nhau”. Bà cũng thức trắng đêm đó như ông và khóc hết nước mắt. Bà đau khổ đến muốn tự tử.

Hai, ba năm sau bà lấy chồng, ông lấy vợ theo sự lựa chọn, quyết định của cha mẹ. Họ xa nhau từ đấy mặc dù trong lòng tình yêu, nhất là tình yêu thuở ban đầu vẫn nở rộ, vẫn tha thiết. Một khi tình yêu càng bị ngăn cản, càng bị cấm triệt thì càng âm ỉ phát triển mạnh. Nhưng vào thời đó, vì lễ giáo, vì gia phong, vì giòng họ, vì xã hội, vì dư luận đôi bạn trẻ đành bất lực, chấp nhận hy sinh chia tay bởi sự kỳ thị vô lý!

Mỗi lần ông đi thăm bà về, bà đều gói một bọc lớn đủ thứ trái cây để ông đem về cho “chị nhà” và các cháu. Bà bảo: “Đây là lộc Phật”. Ông đem về nhà nói dối vợ là vợ bạn cho “cây nhà lá vườn”. Nhưng sau đó bà vợ cũng biết và ra lệnh cấm con cháu không được ăn. Ông không biết giải quyết sao đành nhờ người con trai “cố vấn”. Và cả hai đồng ý đem những trái cây này đến cho đám con của người con trai thứ hai “ hưởng lộc” dùm. Còn ông, mỗi lần lên thăm bà, ông bắt con trai lái xe tới tiệm bán hoa mua tặng bà một chậu lan. Từ trẻ bà vốn thích loại hoa trưởng giả quý phái này. Thời gian cứ lặng lẽ trôi, hết mùa đông lại tới mùa xuân, không chủ nhật nào ông không đi thăm bà và hai người tiếp tục sóng đôi cất bước chuyện trò tâm sự tới khi măt trời khuất sau rặng núi. Bà vợ ông, sau những tháng ngày ngấm ngầm chịu đựng hết nổi, bà làm dữ. Bà cấm người con trưởng chở ông già đi thăm “con mụ dở hơi”. Thế là ông phải nhờ cậy vào người con trai thứ nhưng là “đánh du kích”, chứ không đều đặn đúng hạn kỳ như trước nữa. Có khi cả tháng ông mới đi thăm bà được một lần. Ông không nói nhưng bà hiểu. Bà thông cảm hoàn cảnh ông. Nhưng bà cũng không muốn “cắt đứt giây chuông”.

Thế rồi ông bị đưa vào bệnh viện ghép động mạch vành tim bị tắc nghẽn, vì tuổi già sức yếu nên mất cả mấy tháng trời mới lại sức. Khỏe một chút, ông kiếm cách đi thăm bà ngay. Nhưng lần này…Người đón ông không phải là bà mà là sư cô. Sư cô nét mặt hơi buồn báo ông biết: bà nhập bệnh viện cả tháng rồi vì chứng sưng màng não và phổi có nước. Ông nghe choáng váng sây sẩm mặt mày muốn ngã qụy. Còn sư cô quầy quả bước vào trong Chùa và miệng luôn lẩm bẩm: “Thiện tai! Thiện tai!”

Khi ông tới bệnh viện thì bà đã trong tình trạng hôn mê. Cạnh bà có vợ chồng người con trai của bà. Hình như trong khi nằm bệnh, lúc tỉnh táo, bà đã nói cho con bà biết chuyện của hai người và bà ước muốn được nhìn thấy ông trong giây phút chót, vì vậy khi thấy ông đến, họ nhìn ông với cái nhìn trìu mến đầy thông cảm. Có một lúc bà tỉnh lại mở mắt nhìn. Thấy ông mắt bà như sáng hẳn lên. Ông đua tay tìm tay bà. Bà đưa tay tìm tay ông và nắm chặt bàn tay ông như không muốn rời. Rồi miệng bà mấp máy. Ông ghé sát tai nghe. Bà chỉ thều thào được tiếng “anh” rồi bàn tay bà từ từ buông bàn tay ông ra. Bà đã nhẹ nhàng về bên kia thế giới, mà ông nghĩ có lẽ là cõi niết bàn.

Sau khi bà mất, ông vẫn tiếp tục lên chủa. Mỗi lần lên ông mang theo một chậu lan nhỏ. Lâu dần nhiều hoa quá, sư bà bảo sư cô làm một dàn gỗ để treo những chậu lan trước phòng của bà tín nữ Diệu Liên (pháp danh của bà). Ông cứ việc móc chậu lan lên dàn, có đến mấy chục chậu. Khi lên tới chùa, việc trước tiên ông làm là đến trước cửa phòng (cũ) của bà lầm bầm như nói điều gì với bà, xong, ông mới làm công việc tưới những chậu lan. Rồi sau đó, ông (rủ bà) đi dạo con đường đất quanh khuôn viên chùa và chuyện trò với nhau y như khi bà còn sống. Duy có điều bây giờ chỉ có mình ông nói. Cũng từ ngày bà mất, ông không cạo râu cắt tóc nữa, lâu ngày tóc phủ xuống cả cổ và râu dài tới ngực. Tất cả đều bạc phơ.

“Ồ, tôi nghĩ bà cũng như tôi thôi, làm sao quên cái ngày ấy được. Lúc tôi đón bà ở cổng trường ấy mà, đưa bà về gần tới nhà, tôi đã thu hết can đảm cầm lấy bàn tay phải bà.Tôi còn nhớ rõ là bàn tay phải bà, đúng không? Mất bao ngày đêm đắn đo suy nghĩ mãi tôi mới dám liều đấy. Tôi nhớ ngón tay trỏ của bà còn dính chút mực tím. Tôi thấy bàn tay bà run rẩy rút vội ra và nhìn trước sau sợ có người trông thấy. Rồi bà bước mau như muốn chạy trốn. Tôi cứ đứng ngây người nhìn theo bà và sợ bà giận. Đêm đó tôi thao thức mãi, vừa lo âu vừa sung sướng. Bàn tay bà mềm mại thơm tho quá. Hôm sau tôi đến cổng trường bà sớm hơn mọi ngày và hồi hộp chờ đợi. Sao mà lúc đó thời giờ trôi chậm thế. Khi bà cắp cặp đi ra. Nhìn thấy tôi bà làm bộ như không thấy. Tôi tưởng bà giận thật, lẽo đẽo theo sau năn nỉ và cả xin lỗi nữa. Bà nói khẽ, mắt vẫn nhìn thẳng: “Cấm không được làm như hôm qua nữa đấy! Coi chừng bọn bạn. Hình như chúng nó đã sinh nghi, theo dõi”. Thì ra bà không giận tôi, vì tôi ngu đần nên tưởng thế. Sau này bà mới thổ lộ là cũng rất hồi hộp xúc động khi bàn tay tôi nắm bàn tay bà. Chao ôi, lần đầu tiên trong đời cầm tay người con gái, tâm hồn tôi bay bổng trên trời xanh, cảm tưởng mình là kẻ sung sướng nhất trần gian. Chắc bà khi đó cũng có cùng ý nghĩ như tôi, có phải vậy không? Tôi đoán đúng mà. Hà hà…À, mà sau đó, hình như đến mấy tháng thì phải, không chịu nổi nữa tôi đánh bài liều. Đi đến nơi góc phố, nhìn quanh không thấy bóng người, tôi ôm vội lấy bà và hôn nhẹ lên má bà một cái. Trời ơi, thiên đường niết bàn là đây chứ còn phải tìm ở đâu nữa! Tôi không hiểu sao lúc đó bà lại đứng im cho tôi làm cái việc đó. Kìa, bà nói đi. Cái má bà trắng hồng và …thơm thơm quá chừng! Sao, khi đó bà ngượng cứng người à?”. Ông Thụy nói một hồi dài có vẻ mệt và mắt vẫn nhìn sang bên, hệt như ngày bà còn sống đang cất bước bên ông. Rồi ông ngồi bệt xuống bên vệ đường và…thở. Lát sau, chừng như đỡ mệt ông đứng lên nói: “Ta đi tiếp chứ, bà. Mặt trời còn cao mà!”. Và ông lại tiếp tục nói tới những kỷ niệm xa xưa. Thỉnh thoảng ông quay sang trái hay sang phải, có khi ngừng bước như chờ bà, hỏi: “Có phải thế không bà? Bây giờ tôi vẫn nhớ như in, như mới xẩy ra ngày hôm qua…”. Ngưng chút ông nói tiếp:“Thế rồi bà biết không? Hôm người ta tới nhà bà rước dâu ấy mà, tôi đứng mãi tận đằng xa nhìn. Bà mặc cái áo gấm dài mầu đỏ, khăn đỏ đội trên đầu…Tim tôi muốn vỡ ra từng mảnh. Sau này nghe người ta kể lại khi bước lên xe hoa bà đã khóc. Tôi không hiểu ý nghĩa những giọt nước mắt này, vì các cụ ta thường nói “khốc như thiếu nữ vu quy”. Vậy đó là những giọt nước mắt sung sướng hay đau khổ?”. Ông lại ngừng nói và vô tình ngước nhìn lên bầu trời mùa đông về chiều và như trực nhớ ra không có bà ở bên liền kêu lên thảng thốt: “Ô, bây giờ bà đang ở đâu? Có phải bà đang ngự trên chín tầng thức mây thăm thẳm kia và ngó xuống nhìn tôi tủm tỉm cười? Bà dứt hết nợ trần thật rồi sao? Bà để lại tôi một mình cất bước trên con đường này sao? Bà Liên! Bà Liên!”. Ông nói to như hét. Con trai ông hoảng hốt chạy tới dìu ông ra xe.

Cứ cách vài tuần lễ, vào chiều ngày chủ nhật, khi mặt trời ngả về phương Tây, người ta lại thấy một ông già tóc bạc phơ phủ dài dưới gáy và chòm râu trắng như cước chẩy xuống tận ngực, tay chống gậy, chậm rãi cất bước trên con đường đất nhỏ quanh khuôn viên ngôi chùa nhỏ nơi rừng sâu. Ông vừa đi vừa nói chuyện với một cái bóng vô hình…

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image

Image
Mời Bà Con Lấy Hên Đầu Năm Đặt Vô Xong Click Roll sẽ biết trúng hay trật....
Bầu Cua Cá Cọp

Post Reply