Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Hết thuốc chữa_

Bằng Phong Đặng Văn Âu
“Đảng Cộng Sản Việt Nam là một đảng cướp”. Đó là lời phát biểu dõng dạc của cựu Đại tá Quân đội Nhân Dân Phạm Quế Dương trên hệ thống truyền thanh quốc tế. Ông Phạm Quế Dương là một thanh niên ái quốc như hàng trăm ngàn thanh niên Việt Nam yêu nước khác tham gia Việt Minh kháng chiến chống Thực dân Pháp, rồi trở thành đảng viên cộng sản.
Ban đầu, thanh niên Việt Nam tham gia đảng cộng sản là để thể hiện lý tưởng yêu nước của mình – chống Thực dân Pháp giành độc lập. Nhưng khi đã trở thành đảng viên rồi thì người đảng viên cộng sản không được quyền yêu nước, mà phải yêu đảng. Yêu nước là phản động. Có lẽ cũng có nhiều đảng viên cộng sản nhìn ra bản chất “ăn cướp” của chủ nghĩa cộng sản, nhưng không dám công khai nói ra, không dám trả lại thẻ đảng. Vì thời ấy đi vào đảng cộng sản bằng hai chân; nhưng ly khai khỏi đảng cộng sản thì nằm trong sáu tấm ván hòm.

Trong thời kỳ còn đang đánh nhau với Pháp, ông Hồ Đắc Liên – em trai Tiến sĩ luật khoa Hồ Đắc Điềm và anh trai Tiến sĩ dược khoa Hồ Đắc Ân – một thanh niên thành tài ở Pháp về nước chiến đấu chống quân xâm lược Pháp, đã từng hậm hực nói với các đồng đội: “Được rồi! Đánh xong giặc Pháp, bọn cộng sản này sẽ biết tay ta”. Cái “đểu” của cộng sản đã có người phát hiện rất sớm sủa.

Trên mặt lý thuyết, chủ nghĩa cộng sản vô cùng hấp dẫn đối với tuổi trẻ có lòng yêu nước, có lòng yêu thương đồng loại. Đúng thế! Ai mà không muốn có một xã hội công bằng, ai không muốn triệt tiêu sự bóc lột? Ai cũng muốn được đối xử bình đẳng, được quyền mưu cầu hạnh phúc, làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu. Nhưng trong thực tế, chủ nghĩa cộng sản kiến tạo một bộ máy độc tài chuyên chính, cướp của giết người mà bất cứ một người Việt Nam nào dù Quốc hay Cộng đều chứng kiến tận mắt. Cho nên, chàng trai người Nam Tư Molivan Djilas – tác giả cuốn sách nổi tiếng “Giai Cấp Mới” (The New Class) – với trái tim đầy nhiệt huyết đã hăng say hoạt động cho lý tưởng cộng sản, nhưng qua sự nếm trải thực tiễn đã thú nhận rằng: “Hai mươi tuổi mà không theo cộng sản là không có trái tim, bốn mươi tuổi mà còn theo cộng sản là không có bộ óc”. Con tim có thể làm bộ óc mê muội, nhưng khi đủ trí khôn, đủ trí phán đoán thì phải tỉnh ngộ để biết phân biệt cái ác, cái thiện!

Từ năm 1953 trở đi, khi cuộc đấu tố long trời lở đất trong cuộc cải cách ruộng đất xẩy ra giết chết hàng vạn sinh linh, tiếp theo cuộc di cư của đồng bào từ Bắc vĩ tuyến 17 phải bỏ mồ mả cha ông, ruộng vườn vào Nam sinh sống. Sau vụ trí thức, văn nghệ sĩ của phong trào Nhân văn Giai phẩm bị đầy đọa mà vẫn còn có người mơ hồ về chủ nghĩa cộng sản, vẫn bám theo Karl Marx, Lénine thì con người đó vừa không có trái tim vừa không có bộ óc.

Năm 1951, dù đang là đứa bé 11 tuổi, tôi đã hai lần chứng kiến tận mắt sự tàn bạo của cộng sản. Làng tôi ở giống như vùng tề xôi đậu ngoài Miền Bắc. Lính Bảo Vệ của thực dân Pháp và du kích cộng sản hoạt động đan xen như răng lược. Một buổi sáng tinh sương, trên đường đến trường, tôi thấy một đám đông chừng mươi người đứng lố nhố, bèn tò mò đến xem thì thấy hai tên du kích giữ hai tay một người đàn ông lực lưỡng và một tên du kích khác hươi cái mả tấu chém bay đầu nạn nhân. Chiếc đầu lâu rơi xuống đất, hai mắt mở trừng trừng, nạn nhân còn vùng chạy được khoảng hai thước mới đổ xuống, dòng máu tươi nơi cổ phun thành vòi lai láng. Cuộc hành quyết đó xảy ra tại Chợ Mai. Nạn nhân là người phu xe kéo (thời đó chưa có xe xích lô) tên Chu, ở làng Phổ Nam. Ông Chu bị khép tội Việt gian, vì kéo xe cho Pháp.

Một lần khác cuộc hành quyết xảy ra giữa ban ngày tại nghĩa trang hoang vắng. Một người học trò ước chừng hơn tôi vài tuổi, đi ngang qua làng bị hai tên du kích tên Sua và Cù bắt. Người học trò mặt mũi trắng trẻo khôi ngô, mặc chiếc quần đùi mầu xanh nước biển và chiếc áo sơ-mi trắng có dắt hai cây bút nguyên tử mầu xanh, mầu đỏ trên túi áo trước ngực. Hai tên du kích Sua và Cù nghi cậu học trò đó làm điểm chỉ viên cho Pháp vì hai mầu xanh, đỏ của cây bút nguyên tử trên túi áo trắng là dấu hiệu cờ tam tài xanh trắng đỏ của Pháp. Cậu học trò vừa khóc vừa khai rằng cậu đang học ở trên phố, vì được tin cha là Trung đoàn trưởng Vệ Quốc Đoàn đóng quân tại làng Mậu Tài nhắn về thăm. Mặc dầu bị hai tên du kích tra khảo, mặt mũi sưng phù, trước sau cậu học trò vẫn giữ nguyên lời cung khai đó. Một hồi lâu, có lẽ vì mất kiên nhẫn, tên du kích lấy hòn đá khá lớn đập vỡ sọ người học trò. Về sau, vì nóng lòng không nghe tin tức con, vị Trung đoàn trưởng Vệ Quốc Đoàn phái thủ hạ đi tìm thì biết con mình bị đồng chí du kích cộng sản đập vỡ sọ chết!

Hai cảnh tượng kinh hồn man rợ đó cứ ám ảnh tôi mãi cho đến ngày hôm nay. Nếu độc giả nào lớn tuổi, từng sống ở Nam Phổ, huyện Phú vang, tỉnh Thừa Thiên đọc đến đây đều biết chuyện cộng sản hành quyết ông phu xe kéo tên Chu và cậu học trò con vị Trung đoàn trưởng Vệ Quốc Đoàn.

Năm 1953, nghe tin hai ông bác và một ông chú của mình bị giết chết một cách nhục nhã trong cuộc đấu tố cải cách ruộng đất, tôi càng kinh tởm cộng sản hơn. Phải chi chú bác tôi làm mật thám cho Tây mà bị giết đã đành! Một người bác là vị quan Thượng Thư nổi tiếng thanh liêm – phụ thân của Hùm Xám Đặng văn Việt – (1) dưới triều Nguyễn, từng được Hồ Chí Minh mời làm Bộ trưởng trong Chính phủ Liên Hiệp. Một người bác khác là vị quan Tham Tri được mời làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt (một tổ chức ngoại vi của cộng sản). Bằng trực giác, chứ chẳng phải có hiểu biết gì, tôi đã lo sợ nếu nước mình mà cộng sản thắng thế thì đại họa khôn lường. Tại sao nhà thông thái Nguyễn Khắc Viện có cha cũng là một vị quan Tế Tửu cực kỳ thanh liêm bị cộng sản giết trong cải cách ruộng đất mà vẫn nhắm mắt đi theo cộng sản? Có phải tầng lớp trí thức như Nguyễn Khắc Viện bị quỷ ám chăng?

Nói rằng chủ nghĩa cộng sản là sự chọn lựa của nhân dân Việt Nam là cách nói hàm hồ, nói lấy được. Nếu đúng như thế thì tại sao đảng cộng sản lúc ban đầu phải giấu cái đuôi cộng sản của mình? Phải đổi tên thành đảng Lao Động? Chẳng qua Việt Nam bị hứng chịu thảm họa cộng sản là do sự tham lam ngu dốt của Thực dân Pháp và sự mù quáng của một số thành phần trí thức như bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Cộng thêm là sự may mắn mà thôi, chẳng phải tài cán gì.

Nếu Thực dân Pháp sáng suốt như Thực dân Anh để nhận ra rằng chính sách thuộc địa sẽ phải tới ngày cáo chung thì Việt Nam ta không bị rơi vào tay cộng sản. Bằng cớ là tất cả các thuộc địa của Anh không bị cộng sản thống trị. Thực dân nào cũng tàn ác như nhau, chỉ khác ở chỗ một bên thức thời và một bên u tối thôi. Nếu trí thức Việt Nam hiểu được rằng chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa quốc tế chỉ biết phục vụ quyền lợi quốc tế, chứ không phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc thì không đời nào họ đứng ra hô hào lôi cuốn quần chúng đi theo cộng sản. Sở dĩ chủ nghĩa cộng sản thành công trên đất nước Việt Nam là vì thành phần mang danh trí thức chỉ có trái tim mà không có bộ óc! Và sau khi chứng kiến cái gian dối, cái độc ác của cộng sản, họ cũng không dám từ bỏ hàng ngũ!

Nếu cụ Trần Trọng Kim biết được cộng sản là mối tai họa cực kỳ ghê gớm cho dân tộc Việt Nam thì cụ đã đồng ý làm theo đề nghị của viên Đại sứ Nhật bản để diệt không còn một mống cộng sản. Làm sao ông Hồ Chí Minh có thể cướp thời cơ khởi động cái gọi là cuộc Cách Mạng Mùa Thu? Nếu Mao Trạch Đông không đánh bại Tưởng Giới Thạch ở Hoa Lục thì làm sao “Bộ Đội Cụ Hồ” lập được chiến thắng Điện Biên Phủ để cho ông Hồ Chí Minh thể hiện giấc mộng làm “cha già dân tộc”? Hai sự kiện vừa nêu chứng tỏ cái may mắn của đảng cộng sản gặp thời!

Giương cao khẩu hiệu “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc” để phỉnh gạt khát vọng của một dân tộc bị nô lệ phải hy sinh xương máu là một sự lừa đảo đáng khinh bỉ. Nói ra những điều đạo đức, nhưng thi hành những thủ đoạn tồi bại là một sự tráo trở vô luân. Hô hào “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” để đạt “thành công, thành công, đại thành công”, rồi ngấm ngầm sai bộ hạ đi thủ tiêu những người quốc gia yêu nước và gieo lòng thù hận giai cấp thì sự thành công kia chỉ mang lại cho một tập đoàn cầm quyền gian ác hung hiểm thôi! Độc lập tự do gì mà người dân còn khốn khổ hơn dưới thời thực dân đô hộ?

Việt Nam Cộng Hòa đang trên đường xây dựng một chế độ dân chủ còn phôi thai thì bị những phần tử đảng phái xôi thịt chia rẽ xâu xé, những kẻ đội lốt tôn giáo, những trí thức “gà mờ” tiếp tay làm nội gián cho ác quỷ, tất nhiên Miền Nam phải sụp đổ. Chỉ có hạng người mất trí hoặc mù lòa mới không nhìn thấy Mặt trận Giải Phóng Dân Tộc Miền Nam là công cụ của Hà Nội. Vua An Dương Vương dù có nỏ thần vô địch mà bị đứa con gái Mỵ Châu mê trai, làm nội gián tạo phản thì cũng đành mất ngôi báu cùng xã tắc. Nào phải sự thắng trận năm 1975 là do Bắc quân tài giỏi hoặc tập đoàn cầm quyền Hà Nội là “đỉnh cao trí tuệ loài người”? Miền Nam có quá nhiều Mỵ Châu phản bội!

Chưa từng thấy trên thế giới có một đảng chính trị nào kiêu ngạo, tự cao tự đại để tự cho mình là “đỉnh cao trí tuệ loài người” giống như đám lãnh đạo cộng sản Việt Nam mới thoát thai từ vượn lên người! Thực chất tập đoàn lãnh đạo cộng sản là gian ác và ngu dốt. Từ một Miền Nam trù phú không kém gì các quốc gia trong vùng, cộng sản đã bắt nhân dân cả nước phải ăn bo bo (thực phẩm của lừa, ngựa); xua dân lên vùng kinh tế mới để chiếm đoạt nhà cửa; đánh tư sản mại bản, đổi tiền bao phen làm trắng tay hàng triệu người mà không phải quân cướp, thổ phỉ thì là gì? Mười sáu tấn vàng nay về tay ai?

Kể từ tháng 4/1975 cho đến nay, bọn làm nội gián đâm sau lưng nhân dân Miền Nam chưa hề bày tỏ một chút trắc ẩn, thương tâm đối với những nạn nhân vượt biển đi tìm tự do chết đuối ngoài biển cả! Những người chống chiến tranh Việt Nam như cô ca sĩ Joan Baez của Hoa Kỳ còn biết mủi lòng trước thảm họa thuyền nhân, đã lên án cái vô nhân đạo của chủ nghĩa cộng sản. Nhưng tuyệt nhiên không ai nghe một lời sám hối từ những người đã từng tiếp tay giúp cho quỷ dữ hoàn thành cuộc thống trị trên toàn cõi đất nước. Loại người như ông Lữ Phương ngày nay phê phán tình trạng băng hoại xã hội, chẳng qua vì bị thất sủng. Giá như ông Lữ Phương có vai vế như Trương Tấn Sang (2) thì cũng sẽ quyết tâm chống diễn biến hòa bình để bảo vệ chủ nghĩa cộng sản cho tới cùng!

Người cầm quyền cộng sản từ thời ông Hồ Chí Minh cho đến nay vẫn không hề thay đổi bản chất lừa đảo (nói một đường làm một nẻo) dân tộc và thế giới: rêu rao những điều nhân nghĩa đạo đức như kiến tạo một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh nhưng hành động thì côn đồ (dùng phân người trộn với dầu nhớt đổ vào nhà ông Hoàng Minh Chính hoặc hành hung đàn bà, con trẻ); cam kết tuân thủ quy ước Nhân Quyền để được nhận vào Liên Hiệp Quốc, để được tham gia các định chế tài chính, kinh tế nhưng lại ngầm dở thủ đoạn bẩn thỉu với dân. Khi bị thế giới tố giác vi phạm thì bào chữa mỗi quốc gia hiểu hai chữ “nhân quyền” theo cách khác nhau! Nham nhở quá sức!

Chỉ khi nào thôi chức, mất quyền thì các ông “cựu” lãnh đạo cộng sản mới bắt đầu góp ý phê phán kẻ kế tục sự nghiệp đàn áp của mình, làm như thể các ông “cựu” là người thật sự có lòng yêu nước thương dân. Thủ tướng lâu năm Phạm văn Đồng khi về vườn thì mới than mình chỉ là bù nhìn. Thủ tướng Võ văn Kiệt từng ký Nghị định 31/CP để bắt người không cần xét xử, khi thôi chức thì mới khuyên người kế nhiệm đừng làm lễ mừng chiến thắng 30 Tháng Tư, vì sẽ có một triệu người vui, một triệu người buồn! Phan văn Khải thì than sở dĩ mình bất lực vì “trên bảo dưới không nghe”!
Mới đây, ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn văn An sau khi trở thành “cựu” rồi mới có cuộc trả lời thẳng thắn (!) với ký giả Thu Hà của Tuần Việt Nam. Ông Nguyễn Văn An nhìn nhận: “trách nhiệm của mình về những nhận thức và việc làm còn nhiều hạn chế và yếu kém của ông khi còn đương nhiệm.” Ông Nguyễn văn An là ai? Ông đứng vào hàng thứ tư trong Bộ Chính Trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, là người sắp xếp nhân sự vào các bộ phận của đảng, rồi giữ chức Chủ tịch Quốc hội. Chắc chắn ông Nguyễn Văn An phải là người thông hiểu hệ thống đảng hơn ai hết. Hôm nay, khi trở thành công dân thường (lời ông An) thì ông mới nói đến cái “Lỗi Hệ Thống”.

Câu hỏi đặt ra, ai là người tạo nên cái “Hệ thống Đảng Cộng Sản” từ khi cướp chính quyền? (Xin nhắc: “Cướp chính quyền” là chữ của lãnh tụ cộng sản dùng, chứ không phải của người viết). Tại sao lãnh đạo cộng sản dùng chữ “cướp”? Bởi vì bản chất của chủ nghĩa cộng sản là quân ăn cướp thì mới dựng lên một đảng cướp! Xin chứng minh:

- Việt Nam là một nước nghèo, chậm tiến, lạc hậu, dân trí thấp. Khát vọng cốt lõi nhất của người Việt Nam dưới ách đô hộ là mong thoát ra khỏi kiếp nô lệ, đủ cơm ăn áo mặc, an cư lạc nghiệp. Chỉ giản dị vậy thôi. Đem một triết lý chính trị (chưa được thực chứng) áp dụng vào Việt Nam là một sự xa xỉ. Ngay cả những người đi làm cách mạng cứu nước như Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông cũng chưa chắc đã hiểu một cách rốt ráo biện chứng pháp, tư liệu sản xuất, công hữu, tư hữu là gì. Karl Marx là anh trí thức tháp ngà, không đủ sức nuôi thân, bạn bè phải cung cấp phương tiện sinh nhai, mà có tham vọng làm cuộc cách mạng cải thiện mức sống loài người là một thứ hoang tưởng. Tiên đoán của Marx rằng cuộc cách mạng vô sản sẽ nổ ra ở các nước tư bản bóc lột có nền kỹ nghệ tiên tiến, nhưng nước Nga là nước hãy còn trong tình trạng nông nghiệp lại là nơi đảng cộng sản ra đời. Sự tiên đoán của Marx đã sai từ đó, chứ không đợi đến khi Đông Âu, Liên Xô sụp đổ. Đặt ra luật lệ “Tài sản quốc gia thuộc sở hữu toàn dân” là một hình thức ăn cướp để tận thu tài sản của dân vào “Ngân Hàng Nhà Nước”, mà Nhà Nước là Đảng; còn nhân dân thì ốm đói trơ xương. Sở dĩ đảng cộng sản thành công là nhờ học được cái tài tổ chức lỗi lạc của Lénine và mánh khóe tuyên truyền bịp bợm, dối trá đánh lừa được các thứ trí thức tháp ngà như Bertrand Russell, Jean-Paul Sartre. Đảng cộng sản chiếm đoạt tài sản của nhân dân (bần cùng hóa mọi người) và sung vào Nhà Nước, rồi mang phân phát miếng ăn cho mọi người (chính sách hộ khẩu, bao cấp), mới nghe qua thì tưởng là công bằng, nhưng thực chất là ăn cướp! Đúng ra, đảng cướp cộng sản tồi bại hơn đảng cướp đời thường, vì đảng cướp đời thường không nhân danh những điều thiêng liêng cao quý như Tổ Quốc, Dân Tộc… để đi ăn cướp!

- Đã có hàng chục ngàn trang sách nêu rõ chứng cứ sự cướp bóc của đảng cộng sản từ khi chưa đánh xong giặc Pháp cho đến nay. Thiết tưởng người viết chẳng cần ghi ra đây. Về mặt hình thức cơ cấu, đảng cộng sản cũng có Hiến Pháp bao gồm những điều khoản về quyền con người như các quốc gia dân chủ, nhưng chỉ để trang trí mà thôi! Không điều khoản nào được nghiêm chỉnh thi hành. Lập ra hai đảng Dân Chủ (do Hoàng Minh Chính làm đảng trưởng) và Xã Hội (do Nguyễn Xiển làm đảng trưởng) chỉ là cò mồi, nhằm mục đích che mắt thế giới. Kẻ nào khen dưới thời Hồ Chí Minh có đa nguyên đa đảng là nói sai sự thật! Cả thế giới đã lên án chủ nghĩa cộng sản là tai họa thảm khốc của nhân loại. Thế nhưng người cầm quyền cộng sản cương quyết chống “diễn biến hòa bình” để tiến lên thiên đường xã hội chủ nghĩa mà không cần biết hình thù nó như thế nào. Tại sao?

Tại vì cái bộ máy cộng sản triệt tiêu không thương tiếc bất cứ đảng viên nào có tài, có đức, có chút lương tri, có đầu óc cấp tiến muốn đổi mới. Kẻ nào dám phản biện đều bị quy là phản động, cấu kết với lực lượng thù địch. Chỉ có đảng viên nào ngoan ngoãn biết gọi dạ bảo vâng, ngậm miệng ăn tiền thì mới có cơ hội leo lên chiếc ghế lãnh đạo. Mà làm lãnh đạo cộng sản còn sướng hơn bạo chúa thời Trung Cổ, họ viết ra luật là để cai trị dân đen, còn bản thân lãnh đạo thì có quyền ngồi trên luật pháp, muốn giải thích luật thế nào cũng được. Ai nói trái ý mình thì bỏ tù mọt gông, thủ tiêu mất xác. Đó là “Hệ thống” được xây lên bởi chủ nghĩa Marx, cái hệ thống chỉ sản sinh ra người lãnh đạo tham lam, phi đạo đức! Chắc chắn ông Nguyễn văn An biết rõ điều đó hơn ai hết mà không dám nói thẳng ra.

Giả thử rằng ông Nguyễn văn An biết Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh nhượng đất, nhượng biển cho Trung Cộng mà công khai lên tiếng phản đối, thì Đảng sẽ khai trừ ông An ngay lập tức, ông An sẽ không thể giữ chiếc ghế Ủy viên Bộ Chính trị, chẳng bao giờ leo lên chức Chủ tịch Quốc hội! Mà mất cái chức là mất cái quyền và mất cái lợi. Cho nên cứ thây kệ! Tương lai đất nước ra sao thì ra, dù mang tội bán nước cũng không từ, miễn là mình được ấm thân! Đó là cái hệ thống đề ra chủ trương “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” mới nghe qua thì rất dân chủ, nhưng cuối cùng chẳng có ai lãnh đạo, chẳng có ai phụ trách. Vì vậy, ông Nguyễn Tấn Dũng nói quyết định cho Trung Cộng khai thác Bauxite ở Tây Nguyên là chủ trương lớn của Đảng, nhưng nếu ai cắc cớ hỏi Đảng là ai thì cả Bộ Chính trị, cả Ban Chấp Hành Trung Ương chẳng biết Đảng là ai cả!

Cái nguy lớn lao nhất cho Việt Nam ngày nay là các lãnh đạo giữ trọng trách lèo lái con thuyền quốc gia mất khả năng biết xấu hổ! Chứ không phải vấn đề dân chủ, độc tài, đa nguyên đa đảng. Bởi vì những quốc gia như Hàn quốc dưới thời Phác Chính Hy, Đài Loan dưới thời Tưởng Giới Thạch, Singapore dưới thời Lý Quang Diệu khởi đi từ chế độ độc tài, nhưng rồi dần dà cũng tiến tới chế độ dân chủ, xã hội ổn định, công bằng, nhân phẩm được đề cao. Nói như thế, không có nghĩa người viết tán dương chế độ độc tài. Điều tôi muốn nhấn mạnh là người lãnh đạo trước hết phải có lòng tự trọng, biết xấu hổ, hứa hẹn với nhân dân, với thế giới điều gì thì phải thực thi. Nói một đường làm một nẻo là lưu manh, là mánh khóe tiểu nhân, chứ không phải lãnh đạo! Chế độ ở Việt Nam hiện nay không phải là chế độ độc tài mà là chế độ của kẻ cướp dùng mánh khóe, bạo hành để cai trị.

Con người là sinh vật duy nhất được Tạo Hóa tạo dựng nên có khả năng biết xấu hổ, có lòng tự trọng. Biết xấu hổ thì mới biết sám hối để sửa chữa sai lầm, cải tà quy chánh. Những người từng lãnh đạo đất nước, nay thôi chức nếu có thực tâm muốn cứu nước, thì trước hết tự mình dũng cảm nhìn nhận lỗi lầm bản thân để nói lời sám hối. Vì quý vị cũng là người nằm trong cái hệ thống do chủ nghĩa cộng sản đẻ ra. Không phải sau khi thôi chức vụ lãnh đạo, quý vị mới sáng mắt, sáng lòng để nhận ra sự trì trệ, sự thoái hóa, sự mất dân chủ trong đảng là do lỗi hệ thống! Quý vị biết lỗi ấy từ khuya rồi, nhưng vẫn a tòng với Sự Ác, Sự Lừa Dối của cộng sản. Vậy quý vị chỉ cần yêu cầu Đảng dứt khoát, yêu cầu Đảng từ bỏ chủ nghĩa cộng sản là đủ. Như ông Hà Sĩ Phu đã đề nghị “Chia Tay Ý Thức Hệ” từ cuối thế kỷ trước, chứ cần gì phải bàn cãi lôi thôi!

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người được coi là tương đối có trình độ học vấn trong số những người theo ông Hồ Chí Minh dựng lên cái đảng cộng sản còn sống sót. Tình trạng suy đồi về mọi mặt trên đất nước ngày hôm nay là kết quả của đường lối cai trị của đảng cộng sản, không thể đổ tội cho ai được.

Ký giả người Ý lúc sinh thời – cô Oriana Fallaci, một người tả khuynh thân Cộng sản – phỏng vấn Tướng Võ Nguyên Giáp, đặt câu hỏi: “Ông có cảm thấy hối hận khi đem nướng hàng trăm ngàn thanh niên vào chiến trường Miền Nam không?”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp bình thản trả lời: “Không! Trước sau gì rồi họ cũng sẽ chết”! Trước ông Võ Nguyên Giáp, Joseph Staline từng phát biểu: “Cái chết của một người là thảm kịch; cái chết của một triệu người chỉ là con số thống kê!”. Ôi! Lương tri của “Ngài Đại tướng” sao mà ăn khớp với đồ tể Staline đến thế!? Độc ác đến thế thì thôi! Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện nói: “Vô sản không đáng sợ bằng vô học”. Tôi xin nói thêm: “Vô học không đáng sợ bằng vô đạo”.

Mới đây, nhân dịp mừng sinh nhật 100 tuổi của “Ngài Đại tướng”, tôi đọc thấy những lời ca tụng công đức của Tướng Võ Nguyên Giáp của những “lão thành cách mạng”, của những nhà trí thức thời danh thì nỗi tuyệt vọng trong tôi càng dâng lên. Vì lợi, vì quyền, những người cộng sản, sắp sửa tiếp tục cai trị đất nước sau Đại Hội XI, cương quyết chống diễn biến hòa bình để nhắm mắt tiến lên xã hội chủ nghĩa, họ không sám hối đã đành. Những “cách mạng lão thành”, những nhà trí thức phản đối chính sách cai trị của đảng cộng sản lại đi ca tụng công đức của một ông Đại tướng gần đất xa trời, không một chút ăn năn, hối hận vì đã nướng hàng triệu sinh linh để sám hối, thì rõ ràng … HẾT THUỐC CHỮA!

Ý tứ của bài viết trên đây không phải thoát ra từ sự cay cú của một anh lính Miền Nam thua trận mà là những sự kiện thực tế lịch sử đã xảy ra từ khi đảng cộng sản độc quyền thống trị đất nước. Thay đổi tình trạng tồi tệ hiện nay là bổn phận và nghĩa vụ của những người đã, đang và sẽ lãnh đạo xứ sở. Sám hối để cải tà quy chánh, để từ bỏ chủ nghĩa cộng sản tàn ác là phương thuốc duy nhất để cứu nước.

————
Chú thích:

(1) Đặng Văn Việt, người đã chỉ huy quân kháng chiến tiêu diệt binh đoàn LePage và Charlton của Pháp trong chiến dịch biên giới Lạng Sơn cuối năm 1950, do đó ông đã được quân Pháp đặt cho danh hiệu là ‘con Hùm Xám Đường số 4’.

(2) Trương Tấn Sang gốc người Trung Hoa, sinh ngày 21 tháng 1 năm 1949, quê quán xã Mỹ Hạnh, Quận Đức Hòa, tỉnh Long An. Vào đảng chính thức ngày 20 tháng 12 năm 1970. Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung Ương, là người cương quyết chống “diễn biến hòa bình”, quyết theo chủ nghĩa cộng sản cho tới cùng, dẫu Việt Nam thành quận huyện của Tầu cũng được, vì gốc Tầu.

© Thông Luận

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

10 điều kinh ngạc mà bạn có thể chưa biết về Trung Quốc

Image
Trước khi bị bắn

Image
Xử bắn tập thể

Image
Trng Quốc, dù che giấu con số thật, vẫn đứng dầu thế giới về tử hình

1. Các nhà hoạt động nhân quyền nói rằng, Trung Quốc đã xử tử hình nhiều gấp ba lần toàn bộ phần còn lại của thế giới. Tức là bao nhiêu? “Hàng ngàn” – Tổ chức Ân xá quốc tế viết trong một báo cáo mới nhất. Không thể đưa ra con số chính xác, bởi vì tại Trung Quốc số án phạt tử hình là bí mật quốc gia. Tổ chức lớn nhất thế giới chống lại án tử hình tổng kết dữ liệu từ báo chí địa phương xác nhận rằng, trong năm 2008 đã có 1.718 án tử hình được thực hiện ở Trung Quốc (so với Mỹ, một trong những tứ đại của cửa tử thần bên cạnh Iran và Saudi Arabia, trong năm 2009 cũng chỉ có 52 vụ xử tử). Sự thay đổi ở Trung Quốc không phải là sự hủy bỏ án mà là thay đổi hình thức. Văn minh hóa hình phạt chính là chiếc xe buýt hiện đại chở can phạm đến nhà tù và thay vì lãnh đạn, hành quyết được thực hiện bằng tiêm thuốc độc.
Image
Không chỉ bị lên án về số vụ tử hình, TQ còn bị thế giới chỉ trích về cách thức tử hình.
2. Ở Trung Quốc cộng đồng người Công giáo và Tin lành gộp lại rất lớn. Họ được chia thành hai loại: loại “yêu nước” được đăng ký chính thức có nghĩa là họ phải chịu sự kiểm soát của nhà nước; loại thứ hai là “tu tại gia”, tức là bất hợp pháp. Chính quyền tìm cách loại bỏ hình thức tu tại gia nhưng điều này xảy ra ngày mỗi ít hơn. Tin vào Chúa Chrystus có nhiều hơn 100 triệu người Trung Quốc (trong đó người Công giáo từ 12 đến 14 triệu).

3. Tại Trung Quốc có khoảng 4.000 trẻ em mang tên là “Olympic” (Aoyun). Cha mẹ của chúng đặt tên ồ ạt theo sự cổ vũ lòng nhiệt tình yêu nước trước Thế vận hội Bắc Kinh 2008.

4. Người Trung Quốc mỗi năm tiêu thụ khoảng 45 tỷ đôi đũa đũa sử dụng một lần, có nghĩa là số gỗ làm đũa bằng vài khu rừng ở Indonesia hay ở Nga. Tổ chức bảo vệ môi trường lâu đời nhất của Trung Quốc “Người bạn của Trái đất” thành lập vào năm 1994 khuyến khích mọi người dùng đũa làm bằng kim loại hoặc nhựa nhưng trước khi thuyết phục được 1,3 tỷ người, sẽ còn rất nhiều thời gian trôi qua.

5. 200 triệu người Trung Quốc sống dưới mức nghèo khổ, thu nhập ít hơn 1 đôla Mỹ một ngày. Dù vậy, đây là một thành công lớn, bởi vì trong năm 1981 có tới 64% dân số sống dưới mức nghèo khổ. Ngân hàng Thế giới xác nhận rằng, những cải cách của Trung Quốc bắt đầu từ năm 1978 đã kéo được tới khoảng 400 triệu người lên trên ngưỡng đói nghèo.

6. 700 triệu người Trung Quốc không được uống nước sạch. Cứ 6 người sống trên hành tinh thì có một người Trung Quốc, vậy mà Trung Quốc chỉ có 7% tài nguyên nước toàn cầu. Ngoài ra, Trung Quốc đang trải qua cuộc công nghiệp hóa với một quy mô chưa từng thấy cho đến nay. Nước thải và chất thải của hàng ngàn nhà máy mới, cũ và các khu nhà ở tác động lên các con sông và hồ. Ngân hàng Thế giới ước tính rằng, 90% mạch nước, 75% hồ và các con sông đang bị ô nhiễm. Điều này cho thấy 700 triệu người Trung Quốc không có nước sạch để uống.

7. Chính người Trung Quốc phát minh ra kem (ice cream) và spaghetti. Điều này được chứng minh bởi những phát hiện khảo cổ. Kem lâu đời nhất thế giới là hỗn hợp sữa đông lạnh và gạo có từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên, tiền thân của kem ngày nay. Một bát mì sợi lâu đời nhất của miền Tây Trung Quốc có từ 4.000 năm trước.

8. Hơn một nửa, chính xác là 54% hàng giả bị thu giữ trong Liên minh châu Âu đến từ Trung Quốc. Nhiều nhất là đĩa CD, DVD (44%, 79 triệu cái) và thuốc lá (23%).

9. Trong năm 2009, Trung Quốc hoàn thành cuộc phong tỏa kiểm dịch xung quanh các thành phố phía Tây-Bắc xa xôi bị dịch bệnh phổi. Dịch bệnh truyền nhiễm cao, giết chết ba làng ở tỉnh Thanh Hải. Nhưng sau hơn một tuần ghi nhận không có lây nhiễm mới, chính quyền đã quyết định dỡ bỏ phong tỏa ở mức 10 cây số cách các thành phố phần lớn thuộc khu vực dân tộc Tây Tạng. Kinh nghiệm ở Trung Quốc cho thấy, sự bùng phát của bệnh dịch hạch thường lây lan qua bọ chét và động vật gặm nhấm và có thể dễ dàng tiếp cận con người.

10. Đến năm 2025, Trung Quốc sẽ bùng nổ 10 thành phố cỡ New York.

Quy mô và tốc độ đô thị hóa của Trung Quốc phải nói là duy nhất trong lịch sử. Theo dự báo và kế hoạch dân số đô thị của chính quyền trung ương, dân số của Trung Quốc trong các đô thị sẽ tăng từ 572 triệu lên 926 triệu vào năm 2025 và một tỷ người vào năm 2030.

Trong 20 năm gần đây, trong các thành phố Trung Quốc có thêm 350 triệu cư dân mới, nhiều hơn toàn bộ dân số Hoa Kỳ. Năm 2025 Trung Quốc sẽ có 219 triệu thành phố. Để so sánh, châu Âu, các thành phố như vậy, con số là 35. Ngoài ra có 24 thành phố trên 5 triệu người. Có nghĩa rằng, sẽ phải xây dựng cho họ 40 tỷ mét vuông, tức là 5 triệu ngôi nhà. 50 ngàn cái trong số đó sẽ là những tòa nhà chọc trời – tức là 10 lần New York.

Bản Anh ngữ: “10 Amazing Things You Didn’t Know About China”.

Bản tiếng Việt: Blog Lê Diễn Đức (RFA)
Đàn Chim Việt minh họa

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Đời còn vui vì có chút tòm tem

Đoàn văn Khanh



Không biết hai tiếng tòm tem xuất hiện trong ngôn ngữ Việt từ bao giờ nhưng cái chuyện tòm tem thì quả là xưa không kém gì quả đất.Tuy nhiên dù có xưa cách mấy thì tòm tem vẫn không bao giờ cũ vì loài người còn tồn tại tới ngày hôm nay cũng là nhờ vào tòm tem. Chính vì thế mà thiên hạ vẫn cứ mãi mãi tòm tem và nói về chuyện tòm tem.
Không biết hai tiếng tòm tem xuất hiện trong ngôn ngữ Việt từ bao giờ nhưng cái chuyện tòm tem thì quả là xưa không kém gì quả đất.

Tuy nhiên dù có xưa cách mấy thì tòm tem vẫn không bao giờ cũ vì loài người còn tồn tại tới ngày hôm nay cũng là nhờ vào tòm tem. Chính vì thế mà thiên hạ vẫn cứ mãi mãi tòm tem và nói về chuyện tòm tem.

Sở dĩ tôi dùng hai tiếng tòm tem này để nói về một chuyện mà ngôn từ dùng để diễn tả lại vô cùng phong phú và thường được thả nổi, ấy là tại vì hai tiếng này vừa có gốc có gác, vừa nôm na dễ hiểu, lại không bị coi là tục để các vị thích rao giảng đạo đức bắt bẻ mà cũng không khô khan như từ ngữ chuyên môn của nhà khoa học. Tôi học được hai chữ này trong bài ca dao sau:


Ðang khi lửa đỏ cơm sôi
Lợn kêu con khóc lại đòi tòm tem
Bây giờ cơm chín lửa tàn
Lợn ăn con ngủ, tòm tem thì tòm


Phải nói là mặc dù mấy câu ca dao này tuy thật là đơn giản nhưng càng đọc tôi càng thấy thấm ý. Con người từ thủa xa xưa cho tới ngày nay, sống trên đời lúc nào cũng cứ tối tăm mặt mũi với hàng trăm thứ chuyện lỉnh kỉnh hằng ngày nhưng xét cho cùng thì chẳng qua cũng chỉ là nhằm đáp ứng cho hai nhu cầu cơ bản là ăn để sống và tòm tem để bảo tồn chủng loại. Có khác chăng là theo đà tiến hóa, con người càng văn minh thì cái ăn và cách ăn cũng trở thành cầu kỳ và cái tòm tem cũng được bày đặt thêm nhiều quy định có tính cách hình thức rắc rối hơn mà thôi.
Tuy cả hai nhu cầu trên đều là cơ bản nhưng nếu sắp theo thứ tự ưu tiên thì cái ăn vẫn là trước tiên rồi mới tới chuyện tòm tem, vì chỉ có "no cơm ấm cật " thì lúc đó mới có thể "rậm rật khắp nơi" chứ bụng mà đói meo thì "chó cũng đành chê cứt". Cái sự ví von này tôi cũng học được trong kho tàng ca dao tục ngữ. Ai không tin cứ giở ca dao tục ngữ ra sẽ gặp khối câu như:


Em như cục cứt trôi sông
Anh như con chó ngồi trông trên bờ


Nếu nhu cầu ăn có từ khi lọt lòng thì trái lại nhu cầu tòm tem phải đợi đến một cái tuổi gọi là biết mắc cỡ vì khám phá ra những cái khang khác nơi mình và nơi người mới bắt đầu có. Lại nữa, cái cường độ của nhu cầu này cũng biến thiên tùy theo nguời và tùy theo thời gian: sung độ nhất vào lúc tuổi còn trẻ nhưng càng về già thì yếu lần và có thể không còn nữa. Chính vì thế mà người ta mới hối nhau:


Ai ơi chơi lấy kẻo già
Măng mọc có lứa người ta có thì
Chơi xuân kẻo hết xuân đi
Cái già sồng sộc nó thì theo sau


Mặc dù trong văn học Việt nam cũng đã có những nhà nho xông xáo cỡ cụ Nguyễn Công Trứ từng vỗ ngực tự hào trong một bài hát nói "càng già càng dẻo càng dai" và trong ca dao cũng có những bài như:


Bà già đã tám mươi tư
Ngồi bên cửa sổ biên thư lấy chồng


Hoặc là:

Bà già đi chợ cầu Ðông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng
Thầy bói gieo quẻ đoán rằng
Lợi thì có lợi nhưng răng không còn


Tuy nhiên nếu nghiệm cho kỹ thì chẳng qua các cụ cũng chỉ là tiếc nuối cho một thời oanh liệt đã qua đi mà nói vớt vát cho vui thế thôi chứ thực tế thì các cụ cũng không làm sao xoay ngược lại định luật của tạo hóa.


Ngoài ra, nếu nhu cầu ăn không thể thiếu thì ngược lại nhu cầu tòm tem có thể hy sinh mà không làm cho cá nhân ấy chết, trừ trường hợp nếu như tất cả giống người đều hy sinh cái nhu cầu này thì lúc đó loài người mới bị tuyệt chủng thôi. Về cái khoản này thì Phật có dạy đời là bể khổ và con người phải diệt dục thì mới dứt được nghiệp chướng để tịnh độ Niết Bàn. Tuy vậy, có một số người dù đã quy y đầu Phật thành sư, nhưng lòng thì vọng động, đôi khi còn bạo hơn cả người phàm nên người đời mới gọi các vị này là "sư hổ mang". Còn nếu chỉ nhè nhẹ thôi thì ca dao cũng đã từng mô tả:


Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về sư ốm tương tư
Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu


Khác với Phật giáo chủ trương diệt dục, người Thiên Chúa giáo lại tin rằng khi Chúa dựng nên người nam và người nữ đầu tiên rồi thì có phán: "Hãy sinh sản ra cho đầy mặt đất này". Tuy nhiên khi loài người đã sinh ra tràn đầy trên mặt đất này rồi thì Hội Thánh mỗi khi muốn tuyển chọn người thay Chúa chăn dắt bầy chiên ở trần gian thì lại đòi hỏi người đó phải hy sinh cái niềm vui tòm tem. Ðiều này gây trở ngại cho một số người vừa muốn làm kẻ chăn chiên của Chúa lại vừa không muốn sống trong cảnh "cám treo heo nhịn đói", do đó mà nảy sinh ra Giáo phái Tin Lành. Các ngài mục sư nhờ hiểu Kinh Thánh một cách cởi mở hơn nên đã giúp cho một số người an tâm vừa làm tôi tớ Chúa, vừa vui thú trần gian mà không hề mang mặc cảm phạm tội. Riêng về phía Giáo hội La Mã vì khắt khe với lề luật mà có những kẻ lúc bắt đầu những mong theo chân Chúa làm đến chức cha, chức cố, nhưng rốt cuộc chỉ mới tới được chức "ta ru", nghĩa là đã vào tu rồi nhưng thấy đời còn vui quá lại nhảy ra.


Mặc dù bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền có khẳng định: "Mọi người sinh ra bình đẳng" nhưng thực tế thì Tạo hóa vốn có trước loài người nên hình như không biết có cái luật đó cho nên mới để lọt một số người bị mụ bà nắn thiếu cái "gia tài của mẹ để lại cho con" khiến cho những kẻ này không bao giờ biết được cái niềm vui tòm tem ở cõi đời này. Tuy nhiên vào cái thời đất nước còn được cai trị bởi những ông vua thì cũng có vài anh chàng lại tự nguyện cắt bỏ cái gia tài này để được hầu hạ trong cung hầu kiếm miếng cơm manh áo. Thí dụ như mấy anh chàng muốn xin làm thái giám.


Số là trong xã hội phong kiến ngày xưa, một kẻ làm vua thì tự cho mình có cái quyền tha hồ tòm tem. Do đó mà ông vua nào cũng có trong cung hàng ngàn cung tần mỹ nữ. Tuy nhiều thế và nhiều khi tòm tem không xuể nhưng vì tham lam và ích kỷ nên ông vua nào cũng sợ kẻ khác tòm tem giùm mình do đó mới phải chọn mấy anh chàng thái giám để hầu hạ trong cung cho chắc ăn. Nhiều ông vua cũng vì mê tòm tem đến độ phế bỏ cả triều chính cho nên đành phải mất nước hay mất cả cái chỗ đội vương miện. Có ông thì bệ rạc đến nỗi không còn ngồi dậy nổi để thiết triều đành nằm ườn ra cho đình thần vào chầu như ông vua Long Ðĩnh nhà Lê. Sử gia khi nhắc đến phải đặt cho triều đại này cái biệt danh là Lê ngọa triều.


Cũng vì cái mục ham tòm tem này của kẻ làm vua mà nhiều khi đi đoong luôn cả một dân tộc. Xưa Chiêm thành cũng là một vương quốc lừng lẫy. Vào thời nhà Trần ở nước ta thì có vua Chiêm là Chế Mân bỗng dưng nổi hứng đem dâng luôn hai châu Ô và châu Rí để xin với vua Trần cho được rước công chúa Huyền Trân về tòm tem. Không hiểu có phải vì nàng công chúa xứ Việt tài cao hay vua Chiêm lụ khụ sao đó mà ít lâu sau thì vua Chiêm tịch. Theo phong tục Chiêm thành thì khi vua chết hoàng hậu và phi tần cũng phải tịch theo vua để tiếp tục hầu hạ cho nhà vua cũng được tòm tem nơi chín suối. Nhà Trần tiếc cho tuổi xuân phơi phới của nàng công chúa của mình mà bị đưa lên giàn hỏa với vua Chiêm thì thật là phí hương trời, bèn sai Trần Khắc Chung vào kinh thành Chiêm lén đem công chúa về. Tương truyền sau đó hai người đưa nhau đi đâu làm gì chẳng ai rõ, nhưng dù sao thì cái tên Huyền Trân cũng đi vào lịch sử, còn Chiêm thành thì theo cái đà mất hai châu mà mất lần cho đến mất luôn cả nước và bị diệt vong.

Theo các nhà nghiên cứu về sinh vật học thì trong vấn đề tòm tem, giống cái bao giờ cũng khỏe hơn giống đực. Nguyên lý này hình như cũng đúng cả với con người. Chúng ta chỉ nghe kể ông này ngài nọ đang tòm tem thì bị ngã ngựa rồi đi đoong chứ chẳng bao giờ nghe nói có bà nào lăn quay ra ngáp ngáp trong lúc tòm tem cả. Nghe khoản này có lẽ các ông không đồng ý vì tự hồi nào các ông vẫn tự cho mình là phái khỏe còn đàn bà mới là "liễu yếu đào tơ" phải "núp bóng tùng quân". Tuy nhiên tục ngữ cũng có câu: "con gái mười bảy, bẻ gãy sừng trâu", cho nên nam nhi cỡ mấy anh chàng "trói gà không chặt" mà gặp phải mấy cô này thì cũng coi như là đi đoong, bằng không thì cũng bị cô nàng cắm cho năm bảy cái sừng to tổ bố.


Trở lại với cái chuyện tòm tem ngã ngựa này ở nước ta mà có liên quan đến lịch sử thì phải kể câu chuyện đời Lê. Nguyễn Trãi là một khai quốc công thần từng giúp Lê Lợi đánh thắng quân Minh giành lại nền độc lập cho Tổ quốc và lập nên nhà Hậu Lê. Lúc vua Lê Thái tổ quy tiên, vua con lên nối ngôi thì cụ cũng đã già về nghỉ hưu. Tuy thế, có một hôm nghe tiếng cô nàng Thị Lộ rao bán chiếu trước dinh, cụ bỗng hứng chí cho gọi vào ra mắt, và khi thấy cô hàng chiếu trông cũng tươi mát, cụ bèn ứng khẩu mấy vần thơ trêu ghẹo:


Ả ở đâu mà bán chiếu gon
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn
Xuân xanh nay độ bao nhiêu tuổi
Ðã có chồng chưa được mấy con?


Cô hàng chiếu cũng chẳng vừa, họa lại ngay:


Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon
Cớ chi ông hỏi hết hay còn
Xuân xanh mới độ trăng tròn lẻ
Chồng còn chưa có, nói chi con!


Nghe cô hàng chiếu ứng đối lanh lẹ, cụ đâm ra mến tài mến sắc nên quyết chí rước nàng về làm nàng hầu. Nếu chuyện chỉ có thế thì cũng chẳng có gì đáng nói. Ðằng này vì cụ đã già nên có lẽ sinh ra lẩm cẩm. Nhân một hôm nhà vua trẻ đi tuần thú qua vùng này bèn ghé lại nhà cụ nghỉ đêm, cụ thương cho cô nàng hầu tuổi xuân phơi phới lâu nay bị bỏ phế mới sai nàng ra hầu hạ nhà vua may ra kiếm được chút ơn mưa móc. Chẳng hiểu ông vua trẻ tòm tem ra sao mà băng ngay đêm đó tại nhà cụ. Thế là triều đình đổ xô vào hạch cụ về cái tội giết vua và cái tước khai quốc công thần của cụ cũng đành vứt đi khiến cho cụ chỉ còn biết cam phận lãnh cái bản án tử đi đoong luôn một lúc cả ba họ.


Các nhà nghiên cứu về sinh vật còn đưa thêm một nhận xét là có nhiều loài sinh vật sau khi tòm tem thì chị cái còn xơi tái luôn anh chàng đực cho đã cơn đói lòng, chẳng hạn như loài bọ ngựa. Ðiều này tưởng chừng không xảy ra nơi con người nhưng nếu nghiệm kỹ ra thì cũng có, nhưng vì con người có đời sống văn minh cho nên cái mục cô nàng xơi tái anh chàng này cũng diễn ra dưới một hình thức mới mẻ hơn, khoa học hơn, tinh vi hơn, trông nhẹ nhàng và không có vẻ rùng rợn nhưng độc ác thì không kém. Nàng chỉ móc cái ví tiền, nắm lấy cái ví tiền thôi chứ không cần moi ngực moi tim gì cả. Có biết bao ông "nam nhi chi chí", chỉ vì tòm tem mà bị thân bại danh liệt do ăn hối lộ, thụt két để cung phụng cho cô nàng no bụng còn ông thì vào nằm nhà đá gỡ lịch. Ðối với những ông có sẵn cơ nghiệp thì cô nàng cứ việc tha hồ ăn cho tới sạt nghiệp rỗng túi phải ra thân ăn mày. Ngay cả những ông được cái tiếng là hiền lành cũng lắm lúc khốn khổ vì đi làm lãnh lương ba cọc ba đồng thôi mà cũng bị bà vợ móc sạch. Thế là đủ cho anh chàng từ đó cứ lệ thuộc vào bà vợ mà ngáp ngáp. Còn bà vợ thì phây phây "chưa đi đến chợ đã lo ăn quà", càng ngày càng phốp pháp ra trong khi đức lang quân thì càng ngày càng cà tong cà teo như que củi.


Chuyện tòm tem mà đi vào văn học sử thì rất nhiều. Vào cái năm Tí Sửu Dần Mẹo gì đó có sứ Tàu sang nước ta. Không hiểu do đâu mà sứ lại gặp bà Ðoàn Thị Ðiểm, lại còn buông lời chọc ghẹo chớt nhả: "An nam nhất thốn thổ, Bất tri kỷ nhân canh", nghĩa là "một tấc đất An nam không biết bao nhiêu là người cày" ý xỏ xiên gái Việt. Bà Ðiểm vốn đã từng dịch Chinh Phụ Ngâm, chữ nghĩa đầy mình, đâu dễ gì chịu mất mặt như vậy, bèn đối ngay: "Trung quốc đại trượng phu, Giai do thử đồ xuất". Câu này có nghĩa là "bậc trượng phu của nước Tàu cũng từ đó mà chui ra cả thôi". Ðúng là chậu nước lạnh hắt vào mặt sứ Trung quốc.


Trên đây là chuyện vào thời nước ta chỉ biết giao hiếu với nước Tàu. Vào cái buổi giao thời Tây Tàu nhố nhăng thì có:


Vị Xương có Tú Xương
Dở dở lại ương ương
Cao lâu thường ăn quỵt
Thổ đĩ lại chơi lường


Cụ lại còn tự thú thêm:


Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được thứ nào hay thứ ấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà.


Tuy nhiên đáng nể hơn cả phải nói là bà Hồ Xuân Hương. Sự nghiệp văn chương của bà toàn hướng về trọng tâm duy nhất: phải làm sao nói lên được cái nguyên lý tòm tem ẩn tàng trong mọi sự vật, và tên tuổi của bà gắn liền với sự nghiệp trên đến nỗi hễ một người nào đó chỉ cần nhắc đến tên bà là người khác hiểu ngay ý người kia định nói gì.


Trên đây tôi chỉ đơn cử vài danh nhân tiêu biểu thôi chứ thực ra nếu mà xét cho cùng thì bao nhiêu tác phẩm văn chương nghệ thuật trên thế giới này nếu không liên quan đến ăn thì cũng là do cái động cơ tòm tem thúc đẩy mà ra cả.


Nếu cái chuyện tòm tem nơi loài vật là một sự kiện tự nhiên nên hễ muốn tòm tem thì đi tìm đối tượng hợp tác giải quyết là xong thì nơi con người vì văn minh nên thường "vẽ rắn thêm chân" do đó để thỏa mãn cái nhu cầu tòm tem, con người cũng đặt ra vô số quy định gọi là luật pháp, đạo đức, phong tục, tập quán để làm khó cho mình. Chính vì thế mà chuyện tòm tem của con người mới được phân biệt thành nhiều hình thức.


Thông thường nhất và được xã hội cho phép và nhìn nhận là tòm tem có đăng ký chính thức. Ðể có thể tòm tem theo kiểu này con người phải trải qua nhiều bước gian truân lo lắng và chờ đợi, kết quả có khi được mà cũng có khi chỉ là dã tràng xe cát cho nên mới có chuyện nhiều anh chàng hay cô nàng vì lý do này lý do nọ không hội đủ tiêu chuẩn để xin được giấy phép hành nghề, đành ôm hận đáp chuyến tàu suốt về miền quên lãng, hoặc nhẹ lắm thì cũng là cúi đầu nhìn người yêu ôm cái tòm tem sang ngang không hề ngoảnh lại. Ðiều này nếu có gây đau khổ cho một số người thì chính đó cũng là nguồn cảm hứng để cho những tâm hồn đau khổ đó có thể sáng tác nên những vần thơ tuyệt tác, những áng văn bất hủ và những bản nhạc để đời.

Ðối với những người hân hoan rước được cái tòm tem về rồi thì mọi chuyện bây giờ trở nên như cơm bữa nên không có gì đáng bàn ngoài cái chuyện đêm đêm:


Ðàn ông gì thứ đàn ông
Nửa đêm trở dậy cắm chông đàn bà
Ðàn bà gì thứ đàn bà
Nửa đêm trở dậy rút ruột già đàn ông


Thỉnh thoảng mới có vài trường hợp cá biệt như:


Lấy chồng từ thủa mười lăm
Chồng chê tôi bé không nằm cùng tôi
Ðến năm mười tám đôi mươi
Tôi nằm dưới đất chồng lôi lên giường
Một rằng thương, hai rằng thương
Có bốn chân giường gãy một còn ba ...


Chẳng cần phải giải thích ai cũng thừa biết là thương ở trong lòng thì làm sao gãy được cái chân giường, chẳng qua chuyện gãy cái chân giường là do tòm tem sôi nổi mới ra cớ sự. Tuy nhiên cũng không thiếu gì những trường hợp có kẻ vì những lý do không được tiết lộ nào đó mà cứ phải bóp bụng thở than:


Chàng ơi bỏ thiếp làm chi
Thiếp là cơm nguội để khi đói lòng


Nhờ xã hội bày ra cái chuyện tòm tem phải có đăng ký chính thức này mà có những ông vốn coi trời bằng vung bắt đầu biết sợ, dĩ nhiên là không phải sợ trời mà sợ kẻ cao hơn trời nữa kia. Riêng các bà thì có một số khỏi phải khổ công đèn sách, đánh giặc hay phấn đấu công tác cũng bỗng dưng trở thành cô Tú, bà Bác sĩ, bà Thiếu tướng, bà Tỉnh trưởng v.v... để ra oai tác yêu tác quái, có khi còn thêm màn phụ diễn "gà mái đá gà cồ". Ðiều này có vẻ như là một bất công đối với phái nam vì khi một anh chàng nghèo dốt đặc nào đó vô phúc vớ được một bà luật sư, bà bác sĩ cũng không bao giờ được thiên hạ gọi là ông luật sư , ông bác sĩ gì cả để mà hậm họe với đời hay lên lớp chị vợ.

Thời còn chế độ phong kiến thì tuy vua thay trời trị dân, nhưng vì có vài ông vua lại học được cái câu "nhất vợ nhì trời" của dân gian nên có nhiều bà gốc dân giã, không cần dựng cờ khởi nghĩa để làm vua mà chỉ cần được một ông vua loại trên tuyển về làm Hoàng hậu rồi sau đó lại còn lên Thái hậu là cũng đủ làm cho đất nước điêu đứng.

Riêng đối với đa số các bà thường thường bậc trung không có gì để thi thố với đời thì nhờ có sẵn nhãn hiệu cầu chứng lận trong lưng nên rất hãnh diện phô trương cái thành quả tòm tem của mình, đi đâu cũng vác cái bụng phình chương ướng nghễu nghện ra cái điều ta đây nết na đức hạnh để cho xã hội nhìn vào mà nể nang chứ không giống như mấy cô nàng tòm tem lén, tòm tem chui, lỡ có kết quả là tìm cách dấu còn hơn "mèo dấu cứt".

Mặc dù các nhà đạo đức và các nhà luật pháp thường khuyến cáo con người chỉ nên và chỉ được tòm tem có đăng ký chính thức tại một hộ khẩu thường trú, nhưng nhiều khi vì tính ham vui mà có những cặp chưa kịp làm xong thủ tục đăng ký đã tòm tem. Ðây là loại tòm tem lén cha lén mẹ. Hình thức này rất phổ biến trong lứa tuổi rường cột của tương lai nên đây cũng là niềm lo lắng của các bậc làm cha mẹ. Tuy nhiên có nhiều cô cậu gặp khó khăn trong vấn đề đăng ký hành nghề, thì lại nhờ cái khoản có kinh nghiệm hành nghề trước mà sau đó được cấp giấy phép điều chỉnh, hoặc cũng có khi là bị bắt buộc điều chỉnh giấy phép tùy trường hợp.

Cũng có khi đã đăng ký có nơi có chốn, nhưng vì thích điều mới lạ hoặc ngán cơm nhà ăn hoài nhạt miệng nên ở đâu lúc nào cũng có chuyện "ông ăn chả bà ăn nem" hoặc là ông đi lính "nhảy dù" bà đi tìm nơi "ăn vụng". Ðây là loại tòm tem chui, trốn thuế cho nên thường xảy ra nhiều màn đấu gươm, nổ súng, rượt bắt rất sôi nổi, hoặc nhiều cảnh trừng trị rất rùng rợn. Ngày xưa khi mà "phép vua thua lệ làng", dân nông thôn ở các vùng ven sông đôi khi vẫn vớt được đôi trai gái bị trói thúc ké thả trôi theo giòng nước chỉ vì bị bắt quả tang đang ăn vụng.

Thời Ðệ nhất Cộng hoà, có một ông quan nhà binh súng ngắn nọ không thích bắn súng đồng ngoài chiến trường mà chỉ thích bắn súng cao su ở các vũ trường. Quan bắn giỏi quá nên có một em ca ve xin được rước quan về cận vệ cho mình. Chị cả ở nhà thấy quan lâu ngày không chịu cho mình khám súng mà cứ vác súng đi suốt đêm nên cho tay em đi điều tra. Tay em tìm ra cớ sự bèn về bẩm báo và hiến kế cho chị Cả nên tặng cô nàng nọ một liều a xít để biến cô nàng thành đống sắt vụn. Báo hại sau vụ ấy cả miền Nam mỗi khi nghe có ai nói tới hai tiếng a xít là các bà các cô đua nhau tìm đường chạy trối chết.

Có những bà vì không có phương tiện để theo dõi tìm tòi hoặc không muốn lặn lội thanh toán kẻ địch ở xa cho nhọc công phí sức, nên cứ nhắm ngay đối tượng gần là ông chồng mà trị tội cho tiện. Nghe đâu thời Tây còn cai trị xứ Nam kỳ có một cô Năm Huờn nào đó giận ông chồng không chịu tòm tem với mình mà cứ đi tìm người khác để tòm tem cho nên mới nổi tam bành rưới xăng đốt luôn ông chồng làm đuốc cho đời soi chơi.

Thời Liên khu V kháng chiến, nghe đâu tại Mộ Ðức cũng có một nữ cán bộ thấy đồng chí chồng cứ đi công tác với các nữ đồng chí ấp khác mà không chịu sinh hoạt ở ấp nhà nên tức giận dùng dao phay chặt phăng cái lệnh công tác của đồng chí chồng. Tin này được nhanh chóng loan truyền trong hàng ngũ cán bộ, do đó mà sau này trong các buổi họp giao ban, mỗi khi có đồng chí nào đó thích thảo luận cù nhầy mà có nữ đồng chí nào giơ tay phát biểu: "Tôi xin cắt đứt đồng chí" là các nam đồng chí hè nhau bỏ chạy xanh cả mặt.

Tòm tem chui có khi "chùa" mà cũng có khi là "tiền trao cháo múc". Nếu là tòm tem theo kiểu tiền trao cháo múc thì thường phái nam là kẻ phải chi tiền, họa hoằn mới có vài anh mày dày mặt dạn được đời tặng cho cái danh hiệu là "đĩ đực". Riêng khối chị em ta là vừa được tòm tem lại có tiền ăn bánh nên có nhiều cô nàng bất cần miệng đời khen chê đã xin chọn con đường này làm "con đường em đi". Xã hội nào mà có nhiều cô nàng chọn con đường này thì mấy bà phước ở trong xã hội đó lại càng có dịp nuôi một bầy con không phải con mình. Tuy nhiên cũng có những trường hợp cá biệt, có những cô nàng lúc đầu đi con đường này, nhưng sau đó tình cờ vớ được một anh chàng kiểu Từ Hải mà bỗng hóa thành mệnh phụ phu nhân, trở nên danh giá, ban ân ban phước cho đời. Aáy là chưa kể đến chuyện vào hậu bán thế kỷ 20 lại còn có thêm hiện tượng hàng loạt chị em ta nhờ tòm tem với của lạ nước ngoài mà về sau biến thành Việt kiều được đồng bào cả nước mến mộ vì mấy đồng đô la trong ví.

Ngoài các hình thức tòm tem có đăng ký, tòm tem lén, tòm tem chui, tòm tem nhảy dù còn có một hình thức nữa gọi là tòm tem ẩu. Ðây là một hình thức tòm tem không thông qua sự thỏa thuận của đôi bên mà chỉ đến từ một phía. Loại tòm tem này có thể là hình thức nhẹ như của mấy anh chàng thích thả dê theo kiểu trong ca dao:

Vú em chum chúm hạt cau
Cho anh bóp cái có đau anh đền
Vú em chẳng đáng một tiền
Cho anh bóp cái anh đền quan năm


Có nhiều anh chàng nhờ trước thả dê, sau thành duyên nợ, nhưng cũng có khối anh chàng bị ăn tát tai, đòn gánh, guốc cao gót có khi lỗ máu đầu, hoặc phải ra hầu toà về cái tội hành nghề không có giấy phép.

Hình thức mạnh thì thường đi kèm với dao găm, lưỡi lê, súng đạn, hoặc ít nhất là cũng đôi cánh tay gân guốc. Ðây là một hình thức dã man thô bạo, thường gắn liền với những tội ác mà con người không thích thấy nhưng lại cứ hay diễn ra tại những nơi nào có chiến tranh, loạn lạc, bất công và áp bức. Chuyện kiểu này thì vô cùng, xin để dành phần hành này cho các nhà làm chính trị, các nhà làm luật pháp, các nhà rao giảng đạo đức, tôi không dám lạm bàn.

Mặc dù tòm tem là một nhu cầu tự nhiên nhưng con người lại thích khoác cho nó cái vẻ không tự nhiên cho nên mới sinh ra lắm cái nực cười hay những chuyện thương tâm đầy nước mắt.
Trong một phiên họp Quốc hội thời Ðệ nhất Cộng hòa tại Miền Nam để biểu quyết một dự luật về vấn đề bảo vệ tòm tem, có hai vị dân biểu nọ tranh luận nhau sao đó mà vị nữ dân biểu bỗng đứng dậy một tay rút guốc đập lên bàn, một tay xỉa xói vào mặt vị nam dân biểu và the thé: "Không có đàn bà làm sao có đàn ông?" Vị nam dân biểu bị xúc phạm liền hùng hổ không kém đứng lên vung tay quát: "Không có đàn ông làm sao có đàn bà?" Chẳng ai biết hai vị dân biểu kia rốt cuộc ai thắng ai nhưng dân chúng nghe qua chuyện này đều ôm bụng cười và bảo nhau là hai vị nọ rõ khéo thừa hơi vì nếu không có tòm tem thì làm quái gì có đàn ông hay đàn bà để mà cãi cọ.

Còn các ngài Cộng sản Việt nam khi đề cấp đến vấn đề tòm tem thì tung ra cả một nền đạo đức cách mạng thật là kêu nhưng thực tế thì các ngài chỉ dùng nó làm cái bình phong để kẻ khác không dám nhìn xem các ngài là những kẻ chuyên tòm tem ẩu hoặc ít ra cũng là hạng "ăn vụng chùi mép" một cách tài hơn ai hết. Một cụ tự phong là "cha già dân tộc" qua bao năm được sơn son phết vàng như một thần tượng của đạo đức cách mạng thì bây giờ thiên hạ phanh phui ra không biết bao nhiêu chuyện. Riêng về cái mục tòm tem thì "cha già khả kính" đã từng "sinh hoạt bí mật" với vợ của đồng chí của mình, đã tưng tiu đặc biệt một "cháu ngoan của bác" người vùng Thượng du. Ngày bác bỏ núi rừng về tiếp thu cái dinh Bắc bộ phủ, em cháu ngoan nghe nói bác về Thủ đô ở nhà cao cửa rộng nhưng vẫn không quên cất thêm một căn nhà sàn bên cạnh bèn bế con về thăm. Bác sợ bị lòi cái đuôi chồn lâu nay vẫn dấu kỹ bèn ra lệnh cho đồng chí phụ trách bộ Tẩm Quất giải quyết êm đẹp. Ðồng chí bộ trưởng bộ Tẩm Quất vốn có thời ôm cây đàn ghi ta ca bài "Nụ cười sơn cước" mà chưa có dịp tòm tem, nay nhân dịp "mỡ dâng miệng mèo" bèn không ngần ngại vét chuyến tàu chót trước khi chuyển em thiếu nhi cháu ngoan người Thượng xuống Hồ Tây để rửa cho hết bụi trần.

Cái chuyện tòm tem không phải chỉ có người mới thích mà ngay cả thần tiên cũng còn đam mê. Trong dân gian vẫn truyền tụng những câu truyện như Sơn Tinh và Thủy Tinh chỉ vì tranh nhau nàng công chúa con vua Hùng mà đánh nhau hết năm này sang năm khác, gây ra cảnh gió mưa bão lụt làm khổ cho dân. Lại có những nàng tiên còn vương vấn mùi tục lụy nên mới xui khiến cho chàng Từ Thức lạc động Hoa vàng. Có nàng thì lại còn ham vui xuống tận trần gian xem hội của người đời để rồi gây ra cớ sự khiến cho phải vướng vào duyên nợ với người trần như truyện Giáng Kiều và Tú Uyên.

Tòm tem là nguyên lý của sự sống cho nên hình như dân tộc nào cũng đề cao. Văn minh Văn lang cũng có sự tích "ông Ðùng bà Ðà". Tương truyền là ngày xưa có nhà nọ sinh ra được hai con một trai một gái. Ðến tuổi trưởng thành thì cả hai chị em nhà này đều cao lớn dị thường do đó khi bắt đầu biết đến tòm tem thì nhìn quanh nhìn quẩn không thấy đâu có đối tượng có khả năng hợp tác với mình nên cuối cùng cả hai đành phải hợp tác với nhau. Dân làng cho rằng đây là một hành vi loạn luân bèn xúm lại tẩm quất cho hai chị em nhà này một trận, đến lúc dừng tay lại thì chỉ còn thấy hai đống thịt. Dân làng sợ Trời phạt cái tội cả gan hủy diệt cái nguyên lý của sự sống mà bắt phải tuyệt tự cho nên mới lập đền thờ. Hằng năm đến ngày giỗ thì lại làm hai hình tượng khổng lồ rước đi nghễu nghện khắp làng sau đó là trai gái trong làng được một đêm tự do ra đình làng tòm tem bằng thích để tạ tội. Nghe chuyện này biết đâu chừng có nhiều người cũng đang tiếc hùi hụi tại sao ta lại không được sinh ra tại cái làng ấy.

Khờ khạo như Bờm nhưng một khi đã biết đến tòm tem thì cũng mê mẩn ra phết. Chuyện kể là ngày xưa có hai ông bà hiếm hoi sinh hạ được có mỗi một cậu con trai đặt tên là Bờm. Vì sợ mất giống nên Bờm được cha mẹ cưới vợ cho rất sớm. Chị vợ lớn hơn Bờm nên hàng ngày cứ phải bế chồng đi chơi, đút cơm và lo tắm rửa cho chồng năm này sang năm khác mà ban đêm thì chẳng xơ múi gì. Ðùng một cái đến cái năm con chuột rúc rích gầm giường, chị vợ táy máy sao đó mà Bờm bừng sáng trí khôn hiểu ra cái lẽ sống ở đời.

Từ hôm ấy Bờm cứ mê mẩn quanh chị vợ tối ngày làm chị vợ không còn thì giờ làm công việc nhà nên bị bà mẹ chồng đay nghiến nhiếc móc. Chị vợ ức quá bèn dấu cục đá dưới váy rồi dẫn chồng đến bờ ao lôi cục đá thảy tòm xuống ao và bảo chồng: "Thôi nhé! Tôi đã quăng cái tòm tem xuống ao rồi! Từ nay đừng có theo tôi mà đòi nghe rõ chưa." Bờm tiếc của trời nên ngày nào cũng lội xuống ao mò mẫm. Ðược vài ngày chị vợ thấy vừa thương hại vừa nhớ nên mới ra ao bảo chồng: "Thôi về nhà đi rồi tôi đền cho! " Bờm không dám tin vào người vợ đã từng nhẫn tâm quăng mất niềm vui của mình nên cứ ở lì dưới ao. Chị vợ tức quá bèn vén váy vỗ phành phạch mà bảo: "Nó đây rồi nè!" Bờm ngước lên thấy vợ mình vẫn còn giữ cái món của hồi môn tưởng chừng như đã bị quăng mất ấy y nguyên chỗ cũ bèn hớn hở bò lên theo vợ về nhà. Nghe nói từ đó về sau Bờm tòm tem rất tiến bộ, sinh ra cả bầy con, rồi con cái Bờm lại nối gót mẹ cha mà tòm tem cần cù để tiếp tục sinh ra cháu chắt hàng đàn hàng đống ở chật ních cả giải đất hình chữ S.

Chuyện tòm tem mà có nói mãi thì cũng không bao giờ cùng, cho nên tôi cũng không tài nào nói hoài, chỉ xin tóm lại một câu: dân tộc ta qua hàng ngàn năm nô lệ, hàng ngàn năm thiếu ăn, hàng ngàn năm chinh chiến, người chết như rơm rạ mà vẫn không bị diệt chủng là vì nhờ dân ta ở đâu lúc nào cũng khoái tòm tem và có thể tòm tem. Và cũng chính vì nhờ có chút tòm tem mà đời vẫn còn vui để cho chúng ta cứ mê muội ngụp lặn trong vòng khổ ải.

Đoàn Văn Khanh
( Bài do Nguyễn Đắc Song Phương chuyển )

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

LÀM SAO ĐỂ GIỮ VỮNG ĐƯỢC
CĂN CƯỚC TỴ NẠN CHÍNH TRỊ?


LS Lê Duy San
Sau ngày 30/4/1975, cả triệu người Việt chúng ta bằng cách này hay cách khác, đã phải rời bỏ quê hương vì không chấp nhận sống dưới chế độ độc tài cộng sản dã man. Số người này, nay có thể lên tới gần ba triệu người do sự sinh sản hoặc bảo lãnh.

Lúc đầu, tinh thần chống Cộng của người Việt tỵ nạn rất cao, nên hầu như bất cứ có một cơ hội nào để hội họp hay biểu tình đả đảo Việt Cộng, đồng bào cũng tham gia rất đông đảo và tinh thần lúc nào cũng hăng hái và tích cực. Cờ quốc gia (cờ vàng ba sọc đỏ) lúc nào cũng được giơ cao, bài quốc ca lúc nào cũng được hát lớn để hùng hồn minh chứng cho lập trường không đội trời chung với Việt Cộng Sản của người Việt tỵ nạn.

Nhưng kể từ ngày Việt Cộng bắt đầu cho phép những người Việt hài ngoại về thăm quê hương và nhất là từ ngày Mỹ bắt đầu ký bang giao với Cộng Sản Việt Nam, số cán bộ Việt Cộng công du ngoại quốc càng ngày càng nhiều, số sinh viên du học ngoại quốc, nhất là tại Hoa Kỳ cũng càng ngày càng đông; một số người Việt hải ngoại vì muốn đi về làm ăn với Việt Cộng nên lập trường của họ đã trao đảo, một số khác còn công khai ca tụng, tâng bốc Việt Cộng. Trong khi đó thì bọn Việt Cộng và bọn Việt Gian Cộng Sản lại cố tìm cách làm lu mờ hình ảnh người Việt tỵ nạn Cộng Sản nhằm xóa bỏ tội ác của chúng hòng dễ xâm nhập vào cộng đồng của người Việt tỵ nạn. Chúng đã dùng áp lực ngoại giao yêu cầu các chính phủ Mã Lai, Nam Dương phải phá bỏ những bia, những đài tưởng niệm tỵ nạn Cộng Sản được đồng bào vượt biên tỵ nạn Cộng Sản xây tại các đảo tỵ nạn như Pulau Bidong ở Mã Lai và Galang ở Nam Dương.

Tại các nước đồng bào VN tỵ nạn định cư, chúng xúi dục những thành phần tỵ nạn có lập trường trao đảo hoặc thân Cộng bỏ quốc kỳ VNCH, không hát quốc ca VNCH như đã xẩy ra tại Cộng Đồng VN tại San Fernando ở California, và đề nghị xóa bỏ hai chữ tỵ nạn trong các danh xưng của các hội đoàn, các cộng đồng như đã xẩy ra tại Cộng Đồng VN tai Úc Châu. Vì thế, nếu chúng ta không có phương cách nào để bảo vệ căn cước tỵ nạn chính trị của chúng ta, thì chắc chắn căn cước tỵ nạn chính trị của chúng ta sẽ mất.

Luật Sư Đoàn Thanh Liêm đã nhìn thấy vấn đề nên gần đây có viết một bài nhan đề: “Phải giữ vững căn cước tỵ nạn chính trị”, nhưng tiếc rằng ông đã không đưa ra một phương sách cụ thể nào để giữ vững được căn cứơc tỵ nạn chính trị của chúng ta. Ông nói: “Trong mấy năm gần đây, chánh quyền Hanoi đã vươn cánh tay dài ra ngoài nước để tìm cách ve vãn, lũng loạn các tổ chức của cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Họ đã đưa ra cả một chính sách dựa trên Nghị quyết số 36 của Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng sản, nhằm o bế và khống chế khối đông đảo người Việt sinh sống ở ngoài nước như chúng ta. Và họ còn dùng mọi thủ đoạn nham hiểm, thâm độc nhằm gây chia rẽ, mâu thuẫn, đố kỵ trong lòng đại khối người không cộng sản, theo đúng chiến thuật cố hữu “Chia để Trị”, mà chế độ độc tài nào cũng thường hay áp dụng hầu giữ vững ngai vàng của mình. Và tiếc thay, đã có một số ít người xưa nay vẫn ở trong hàng ngũ người tỵ nạn như chúng ta, mà gần đây đã vô tình hay cố ý tiếp tay cho chính sách này của đảng cộng sản. Cái thứ “Đạo quân thứ năm này” đã thấy lai rai xuất hiện trong một số tổ chức chính trị, văn hóa, xã hội và ngay cả tôn giáo nữa. Do vậy, mà đã có hiện tượng chao đảo về lập trường tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền trong hàng ngũ người tỵ nạn chúng ta.”

Luật Sư Đoàn Thanh Liêm có đưa ra ba khẳng định:

1/ Khẳng định 1: Với tư cách là công dân Hoa Kỳ, chúng ta không thể làm điều gì trái với chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, nhưng chúng ta có thể vận động để chính phủ Mỹ có đường lối chính sách phù hợp với lý tưởng của chúng ta là tranh đấu cho một nước VN có tự do, dân chủ và nhân quyền.

2/ Khẳng định 2: Việc đấu tranh cho một nước VN có tự do, dân chủ và nhân quyền là nhiệm vụ của khối đại đa số đồng bào trong nước. Nhiệm vụ của chúng ta, những người Việt hải ngoại, chỉ là hỗ trợ.

3/ Khẳng định 3: Chúng ta là người Việt tỵ nạn Cộng Sản, chúng ta cần phải giữ vững căn cước tỵ nạn Cộng Sản của mình.

Cả ba khẳng định trên, hai khẳng định đầu là nói về phương cách đấu tranh của chúng ta. Chỉ có khẳng địng 3 nói về vấn đề cần phải giữ vững căn cước tỵ nạn Cộng Sản, nhưng rất tiếc ông đã không đưa ra một phương sách nào cả.

Để bổ túc cho vấn đề này, tôi xin đưa ra 3 phương sách sau:

I/ Đối với cá nhân: Không làm đơn xin giữ quốc tịch VN hay làm đơn xin hồi tịch VN.

Như trong bài “Vấn đề quốc tịch…” của tôi viết cách nay ít lâu, tôi có nói:
“Chúng ta bỏ nước ra đi là chúng ta không chấp nhận chế độ độc tài dã man của Việt Cộng chứ chúng ta không hề từ bỏ quốc tịch Việt Nam . Và ngay cả khi chúng ta nhập tịch Hoa Kỳ hay một nước nào khác, chúng ta cũng không hề tuyên bố từ bỏ quốc tịch VN như một số người lầm tưởng. Theo luật quốc tịch của Việt Cộng thì chúng ta chỉ mất quốc tịch khi có làm đơn xin và đơn xin từ bỏ quốc tịch của chúng ta phải do bọn chúng chấp thuận.

Theo Hà Hùng Cường, Bộ Trưởng Tư Pháp Việt Cộng thì trong vòng 5 năm, kể từ ngày 1/7/2009 tức ngày luật Quốc Tịch VN có hiệu lực mà Việt kiều nào không làm nạp đơn xin giữ quốc tịch VN thì trong vòng 5 năm, sẽ bị mất quốc tịch VN. Tuy nhiên bất cứ lúc nào họ cũng có thể xin trở lại quốc tịch VN, tức xin hồi tịch, nếu có cha mẹ, vợ chồng hay con cái là công dân Việt Nam. Nhưng hồi tịch để làm gì? Điều này chẳng qua là Việt Cộng muốn những người về làm ăn với Việt Cộng phải dứt khoát theo chúng.

Chúng ta đã dứt khoát không chấp nhận chế độ độc tài CS và bỏ nước ra đi để tỵ nạn, thì tại sao chúng ta nay lại đút đầu vào thòng lọng cho chúng thắt lại? Xin đừng vì những lời dụ dỗ ngon ngọt của chúng, xin đừng vì một chút lợi danh hão huyền mà bọn chúng đưa ra để rồi sẽ ân hận cả đời vì một khi chúng ta đã xin giữ quốc tịch VN hay xin hồi tịch VN tức là chúng ta đã từ bỏ tư cách tỵ nạn Cộng Sản và từ bỏ căn cước tỵ nạn Cộng Sản của chúng ta. Chúng ta trở thành công dân của nuớc Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa VN tức công dân Việt Cộng và lẽ dĩ nhiên chúng ta và con em chúng ta phải có những bổn phận và nghĩa vụ đối với nước “CHXHCNVN” dù chúng ta ở VN hay ngoại quốc như đóng thuế, đi quân dịch. Tới lúc đó thì có hối cũng không kịp.

II/ Đối với các Hội Đoàn và Cộng Đồng:

1/ Trong Nội Quy của các Cộng Đồng hay Hội Đoàn, dù là Hội Ái Hữu, mục đích và tôn chỉ phải ghi rõ lập trường và tôn chỉ của Hội là không chấp nhận chế độ Cộng Sản Việt Nam dưới bất cứ hình thức nào.

2/ Trong các sinh hoạt cộng đồng, phải có chào cờ VNCH và hát quốc ca VNCH

Trong các sinh hoạt cộng đồng dù chỉ có tính cách văn hoá hay giải trí, chúng ta luôn luôn phải đòi hỏi ban tổ chức phải có phần nghi lễ chào cờ Việt Mỹ* và hát quốc ca Việt Mỹ. Nếu thấy ban tổ chức thiếu sót, chúng ta phải mạnh dạn phản đối và đặt vất đề ngay với ban tổ chức. Mạnh dạn lên sân khấu nói thật lớn nếu không mượn được micro.

Ngay cả trường hợp thấy một tên thân Cộng nào tới dự cũng nên báo ngay cho ban tổ chức biết và yêu cầu họ phải mời tên đó ra khỏi hội trường. Nếu ngại đụng chạm thì cũng nên tỏ bầy quan điểm với người khác để họ lên tiếng. Nếu không bảo nhau phản đối lớn tiếng được thì bảo nhau cùng gõ lớn tiếng vào bát đũa. Hành động này chẳng có gì là bất hợp pháp và cũng chẳng đụng chạm tới ai mà sợ.

III/ Trong phần văn nghệ phụ diễn, tuyệt đối không hát nhạc Trịnh Công Sơn.

Trịnh Công Sơn không những là một tên ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản mà còn là một tên Cộng sản nằm vùng. Trước 1975, hắn đã được nhiều ông lớn che chở trốn quân dịch. Thay vì làm những bản nhạc nâng cao tinh thần chiến đấu của binh sĩ, hắn đã làm những bản nhạc tình ủy mị, những bản nhạc “phản chiến”. Thực ra hai chữ này chúng ta dùng không đúng. Thực ra chúng ta đâu có gây ra cuộc nội chiến này ? Chính bọn Việt Cộng đã cố tình gây ra cuộc nội chiến này để xâm chiếm miền Nam. Bởi vậy chúng ta phải gọi nhạc Trịnh Công Sơn là nhạc phản động mới đúng.

Chúng ta đã kết tội hắn là một tên ăn cơm quốc gia, thờ ma Cộng Sản, một tên Cộng Sản nằn vùng vậy mà chúng ta lại để cho một ca sĩ lên hát nhạc Trinh Công Sơn, rồi chúng ta lại vỗ tay hoan hô ? Thế là thế nào ? Liêm sỉ để đâu? Lập trường để đâu?

Không phải chỉ để ý tới những bài hát, mà ngay cả những màn trình diễn ảo thuật hay những câu chuyện tiếu lâm, cũng phải được xem hay nghe trước và phải có thái độ dứt khoát nếu thấy có hại cho lập trường chống Cộng. Như vụ xé cờ VNCH vừa qua ở Virginia vừa qua, nếu ban tổ chức cũng như người tham dự có lập trường chống cộng rứt khoát rõ ràng thì đâu có để cho màn ảo thuật mà ảo thuật gia mời ông Hội Trưởng Hội Hải Quân vùng Virginia lên xé cờ quốc gia (cờ vàng ba sọc đỏ) làm tư, bỏ vào thùng biến thành con chim bồ câu (tượng trưng cho hòa bình) xẩy ra? Hoặc nếu đã đễ lỡ xẩy ra thì cũng phải có phản ứng tức thì , mạnh dạn và cương quyết để tỏ rõ lập trường chống Cộng rứt khoát của chúng ta chứ không thể ngồi yên gục mặt xuống ăn uống như không có chuyện gì xẩy ra.

Tóm lại, lúc này hơn lúc nào hết, chúng ta phải phân ranh rõ ràng làn ranh Quốc Cộng. Chúng ta phải cương quyết tuân theo ba điều nói trên là:

1/ Không làm đơn xin giữ quốc tịch VN hay làm đơn xin hồi tỉch VN

2/ Các Hội Đòan và Cộng Đồng người Việt tỵ nạn CS phải ghi rõ lập trường của người Việt tỵ nạn Cộng Sản là không chấp nhận chế độ CSVN dưới bất cứ hình thức nào và phải chào cờ VNCH và hát quốc ca VNCH trong mọi sinh hoạt cộng đồng.

3/ Trong phần văn nghệ phụ diễn tuyệt đối không hát nhạc Trịnh Công Sơn.
Các tổ chức, các đoàn thể, các hội đoàn không thiếu gì các tướng tá đã từng vào sinh ra tử, không thiếu gì các vị trí thức đã từng đảm trách những nhiệm vụ lãnh đạo quốc gia, mỗi khi thấy bọn thân Cộng, bọn Việt gian nghênh ngang trước mặt giở trò nịnh bợ VC hãy can đảm đứng lên phản đối. Chỗ ngồi trong các tiêm ăn hay trong các trung tâm cộng đồng đâu có vinh dự gì và thức ăn cũng đâu có ngon lành gì mà ngồi yên để mang tiếng là hèn nhát, là vô cảm?

LS Lê Duy San

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

TQ Mơ Trận Xích Bích
Trần Khải
Trung Quốc hù doạ đánh trận Xích Bích với Mỹ? Nói hù dọa, đây là hù dọa Mỹ, và như thế cũng là hù dọa toàn cầu. Không phải chuyện hù dọa nói bâng quơ ngoài phố, không phải cho dân chúng biểu tình trước tòa đại sứ Mỹ, không phảỉ tuyên truyền qua góp ý trên các làn sóng radio... mà là từ mạng thông tin BBS của tờ Huanqiu Shibao (Hoàn Cầu Thời Báo), cũng thuộc tờ Nhân Dân Nhật Báo của chính phủ TQ.
Bài chúng ta chú ý nơi đây là Hoa Ngữ, do 4 người ký tên chung, và đã dịch ra Anh Ngữ. Đăng ngày 29-11-2010, bản gốc ở http://bbs.huanqiu.com/thread-474407-1-1.html.
Điều để suy nghĩ còn là: báo Hoàn Cầu Thời Báo có mục tiêu nhắm vào Hoa Kiều hải ngoại, đặc biệt là những người sinh sống tại Mỹ. Trung Quốc xách động giấc mơ Đạị Hán thế nào? Bản văn này sẽ cho chúng ta thấy một phần tham vọng của họ.
Bài này có nhan đề “Quân Đội TQ Phải Có Tự Tin Để Bắn Chìm Chiến Hạm Mỹ và Nam Hàn tại biển Hoàng Hải.”
Duyên khởi của bài này được ban chủ biên ghi là, Nam Hàn tập trận đã gây ra chạm súng giữa Nam Hàn và Bắc Hàn, rồi Bắc Hàn pháo kích vào đảo Nam Hàn là Yeonpyeong Island ngày 23-11-2010. Tư Lệnh Quân Lực Mỹ tại Nam Hàn loan báo hôm 24-11-2010 rằng Nam Hàn và Mỹ sẽ tập trận chung từ 28-11-2010 tới ngày 1-12-2010 trên vùng biển phía tây Nam Hàn, nơi Hoàng Hải của TQ. Hàng không mẫu hạm nguyên tử USS George Washington sẽ tới Hoàng Hảỉ dự tập trận...
Và thế là Trung Quốc phảỉ lớn tiếng hù dọa.
Bài này giải thích rằng Bắc Kinh từ lâu đã phản đối tình hình Mỹ đưa hàng không mẫu hạm nguyên tử vào tuần tra Hoàng Hải, đặc biệt là với mẫu hạm nguyên tử USS George Washington vì vùng lãnh thổ chiến lược của Trung Quốc, kể cả Bắc Kinh, sẽ nằm trong tầm tấn công của mẫu hạm -- cả tầm không quân tác chiến, tầm đaị bác và tầm phi đạn. Như thế không chỉ là hiểm họa lớn nhất cho an ninh quốc gia Mỹ, mà còn bị TQ xem như thực tập để đổ bộ và xóa sổ TQ. Đó là “vấn đề sinh tử của TQ và của nhân dân TQ.”
Bài viết nói rằng, trước đe doạ quân sự do Nam Hàn và Mỹ đưa ra, việc “bàn xem có phải Nam Hàn hay Bắc Hàn kích động chiến tranh từ đảo Yeonpyeong Island đã trở thành vô nghĩa.”
Các tác giả ghi nhận định của các phân tích gia quân sự rằng “tình hình tàu chiến Mỹ và Nam Hàn vào biển Hoàng Hải tự nó đã là một khiêu khích xâm lăng, y hệt chiến tranh. Đó là những quân đội cọp và sói, mà xâm lăng là bản chất thứ nhì, và năn nỉ sẽ chỉ gợi thèm khai vị cho chiến tranh. Ngay cả thương thuyết ôn hòa cũng sẽ không cho lối thoát, và số mệnh TQ sẽ như số phận Iraq, nơi đã bị xâm chiếm và tàn phá. Chỉ có một cách cho dân TQ, những người không muốn bị sỉ nhục và áp lực từ Hoa Kỳ: cầm vũ khí lên và sửa soạn phản kích.”
Các tác giả viết cụ thể:
“Không ngờ vực gì, nếu vùng chiến lược Trung Quốc bao gồm Bắc Kinh muốn tránh bị tấn công hay bị bom bởi quân đội Mỹ hay Nam Hàn, thì Trung Quốc phải đánh chìm toàn bộ tàu chiến của Mỹ và Nam Hàn ở biển Hoàng Hải. Dĩ nhiên, bởi vì chưa có chiến tranh bùng nổ, TQ không có cớ cụ thể để khởi sự tấn công vào tàu chiến Mỹ và Nam Hàn. Tuy nhiên, TQ phải sẵn sàng và có đủ tự tin là có thể đánh chìm toàn bộ chiến hạm Mỹ và Nam Hàn trong vòng 24 giờ đồng hồ. Để được như thế, quân đội TQ không chỉ có đủ trang bị quân khí, mà cũng phaỉ có đủ huấn luyện. Để thực hiện việc huấn luyện này, việc tập trận của Mỹ và Nam Hàn ở biển Hoàng Hải cung cấp một cơ hội tốt: quân đội TQ phải có cuộc tập trận ở Hoàng Hải cùng thời gian mà Mỹ và Nam Hàn tập trận. Mục tiêu sẽ là đánh chìm toàn bộ tàu chiến Mỹ và Nam Han ở biển Hoàng Hải. Không chụp lấy cơ hội này nghĩa là bỏ lơ nhiệm vụ căn bản cuả quân lực TQ để bảo vệ an ninh quốc gia.” (hết trích)
Các tác giả sau đó phân tích rằng Trung Quốc bây giờ đã có nền kinh tế vững mạnh xây dựng quân đội có đủ sức mạnh vũ khí để đánh chìm toàn bộ tàu chiến Mỹ và Nam Hàn vào Hoàng Hải. Mà không chỉ Hoàng Hải, tác giả nói là quân đội TQ phải có khả năng đánh chìm tàù chiến Mỹ ở bất kỳ vùng biển nào.
Đẩy xa thêm một bậc, các tác giả viết rằng “chúng ta cần có đủ huấn luyện. Chúng ta phải chọn bất kỳ tàu chiến Mỹ hay Nam Hàn nào vào biển Hoàng Hải làm mục tiêu huấn luyện. Chúng ta không chỉ thực tập để có đủ tự tin để tấn công và đánh chìm toàn bộ tài chiến Mỹ và Nam Hàn trong biển Hoàng Hải trong vòng vaì giờ đồng hồ, nhưngc ũng duy trì để thực tập khả năng này vào mọi thời điểm.”(hết trích)
Sau đó, bài viết phân tích thêm về sức mạnh kinh tế giưã Mỹ và TQ, và kèm theo nhiều lời xách động tác chiến.
Trong phần góp ý từ những người sử dụng Internet, có một số ý kiến đáng chú ý như sau.
“Đây là cuộc chiến thầm lặng không phải sao? TQ vẫn bình thản làm chuyện riêng của mình, Bây giờ TQ đã hợp tác với Nga để khai tử việc thương mại song phương bằng Mỹ Kim. Không phải đó là cú đấm vào Mỹ sao?”
Hay là góp ý từ người khác:
“Ai cũng có lá bài trong tay. Mỹ có nhiều lá bài, nhưng hầu hết đã chơi và ảnh hưởng thì cũng vậy vậy. TQ không có nhiều lá bài, nhưng có một lá bài tốt vẫn chưa tung ra. Điều đó làm Mỹ khó chịu.”
Hay là một góp ý khác:
“Phải tác chiến bí mật, không để lộ!”
Và một góp ý khác:
“Bằng cách đồng thời tung ra tấn công từ hải lục không quân để làm mạng lưới hỏa lực tứ phía, sẽ không khó đánh chìm một hàng không mẫu hạm của Mỹ. Vấn để chỉ là làm sao để trả giá ít nhất.”
Và một ý kiến khác:
“Không sai gì hết khi phaỉ dùng chiến tranh để chận đứng chiến tranh. Nhưng sẽ là hoang phí để đánh chìm hết. Chúng ta sẽ phai chi trả cho giá bom. Như thế sẽ làm chúng ta phá sản! Cách siêu đẳng là mở một cuộc chiến với kế hoạch tốt. Chiến tranh quân sự không nhất thiết giải quyết bằng phương tiện quân sự. Chúng ta phải lấy lợi thế của mình để đánh vào cái yếu thế của địch. Lần trước, tôi đã đề nghị đón khách bằng súng bazookas. Lần này, TQ cũng không thiếu món ăn hảo vị. Các bạn có biết chiến tranh là gì? Chiến tranh là giết và đốt. Ai là tiền nhân đã khai hỏa? Chúng ta không cần nhắc tới lửa trận Xích Bích. Trung Quốc chỉ cần cung cấp nhiều tàu dầu để đón khách Mỹ. Khi dầu tràn ra và bắt lửa, lúc đó mới bắn từ xa. Quân Mỹ sẽ có thịt nướng. Nhân dân Bắc Hàn sẽ không đói trong thời gian nướng thịt lính Mỹ. Nhân dân TQ cũng có thể thu góp một số sắt. Xác lính Mỹ cũng có thể dùng để kiếm nhiều tiền. Tại sao lại bỏ lơ kinh doanh nhiều lợi nhuận này? Ha ha.” (hết trích)
Có thể bùng nổ trận Xích Bích hay không? Có lẽ sẽ không, vì không ai muốn đẩy xa tới bùng nổ cuộc chiến. Nhưng ngôn ngữ kích động trên mạng chính phủ TQ cho thấy một khuôn mặt khác, rất khác: họ luôn luôn sẵn sàng đánh Mỹ. Thậm chí ông nhà giàu Bắc Kinh còn mang tâm thức kiểu nhà nghèo Hà Nội: lấy xác lính Mỹ để kiếm tiền.
Nhưng điều để suy nghĩ còn là, khi TQ hung hăng như thế với Mỹ, và sẵn sàng tấn công Mỹ, thì Việt Nam sẽ không là cái gì hết dưới mắt TQ. Nghĩa là, VN chỉ là chuyện nhỏ với TQ.
Vấn đề chúng ta thắc mắc: chính phủ VN đã sửa soạn cho các trận Xích Bích Biển Đông ra sao, và Đại Hội Đảng CSVN lần này đưa ông Nguyễn Phú Trọng, một người thân TQ, lên giữ chức Tổng Bí Thư có phải là kế sách lâu dài gìn giữ hòa bình, hay chỉ sẽ làm mất quân bình thế quốc tế ở Biển Đông?

TRẦN KHẢI

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Trung Quốc chỉ là “hổ giấy” về quân sự?:
Chưa Chế Tạo Nổi Động Cơ Máy

Wednesday, 29 December 2010

Tờ Washington Post của Mỹ đã đăng bài bình luận về sức mạnh quân sự thực sự của Trung Quốc trong bối cảnh hiện nay.

Image
Dù đạt được nhiều thành tích trong công cuộc hiện đại hóa quốc phòng song giới chuyên gia cho rằng khả năng quân sự của Trung Quốc đã được phóng đại. Theo tờ Washington Post, ngành công nghiệp quốc phòng Trung Quốc còn phụ thuộc nhiều vào công nghệ nước ngoài, đặc biệt là của Nga.

Chưa sản xuất nổi động cơ máy bay?

Báo chí Nga và các chuyên gia quốc phòng cho biết là sau nhiều năm phát triển, Trung Quốc vẫn chưa thể chế tạo động cơ máy bay quân sự.

Tháng trước, các quan chức Trung Quốc nói với Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov là họ sẽ lại mua vũ khí Nga, sau nhiều năm trời gián đoạn. Trong danh sách Bắc Kinh muốn mua có máy bay tiêm kích Sukhoi 35, các phương tiện vận tải hàng không, máy bay vận tải quân sự IL 476, máy bay tiếp liệu trên không IL 478 và hệ thống phòng không S-400.

Ông Ruslan Pukhov, Giám đốc Trung tâm Phân tích Công nghệ Chiến lược, đồng thời là cố vấn của Bộ Quốc phòng Nga, được tờ Washington Post trích lời dự báo Trung Quốc cần một thập niên nữa để hoàn thiện động cơ máy bay. Ông nói: “Trung Quốc vẫn phụ thuộc vào chúng tôi và sẽ tiếp tục như vậy trong thời gian tới”.

Thực lực thực sự của Trung Quốc về tàu ngầm

Nhiều người nghĩ rằng Trung Quốc đã có những bước phát triển mạnh về tàu ngầm. Theo nguồn tin báo chí, tháng 10/2006, một tàu ngầm tấn công động cơ diesel thuộc lớp Tống của Trung Quốc đã bí mật bám theo hàng không mẫu hạm Mỹ USS Kitty Hawk và chỉ cách có 4 dặm mà không bị phát hiện.

Trong hai năm qua, Trung Quốc đã chế tạo được ít nhất là một tàu ngầm lớp Tấn chạy bằng năng lượng nguyên tử, trang bị tên lửa đạn đạo. Trong tương lai, hải quân Trung Quốc sẽ có thêm 5 tàu ngầm loại này.
Image

Cơ quan Tình báo Hải quân Mỹ (ONI) nhận định, tàu ngầm lớp Tấn cho phép Trung Quốc có đủ khả năng đánh trả một cuộc tấn công hạt nhân với tên lửa đạn đạo tầm xa 4.000 dặm. Thế nhưng, trong một báo cáo gần đây, ONI cũng nói rõ tàu lớp Tấn còn ồn hơn cả tàu ngầm do Liên Xô cũ chế tạo cách đây 30 năm. Do vậy, nó có thể bị phát hiện sớm, ngay sau khi rời cảng.

Tình trạng phụ thuộc kéo dài vào các nhà cung ứng vũ khí Nga cho thấy sự thật quan trọng về bộ máy quân sự của Trung Quốc. Mặc dù Mỹ đã có những thay đổi để đối phó với sự lớn mạnh về quân sự của Trung Quốc, giới chuyên gia và quan chức Mỹ cho rằng phải nhiều năm, thậm chí nhiều thập niên nữa Trung Quốc mới có thể chế tạo được tên lửa đạn đạo tấn công tàu chiến.

Báo cáo trên dẫn lời Giám đốc dự án Thông tin Hạt nhân của Mỹ, ông Hans Kristensen cho biết: “Hiện có xu hướng nói về Trung Quốc như một mối đe dọa quân sự lớn sẽ xảy ra trong tương lai. Thế nhưng, các tàu ngầm Trung Quốc mang tên lửa đạn đạo lại là những mục tiêu dễ bị tấn công”.

Trà My (tổng hợp)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Pháp Luật Buồn Cười Và Vô Sỉ XHCNVN:
Hãy thả ngay 2 cháu Thuý – Hằng!


Hãy thả ngay 2 bị cáo nữ Nguyễn Thúy Hằng và Nguyễn Thị Thanh Thúy. Tại sao không đủ chứng cứ kết tội 16 quan chức mua dâm, trong khi lại đủ chứng cứ để kết tội bán, môi giới mại dâm và tống giam 2 nữ sinh?Kết luận không truy tố cựu Chủ tịch tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô cùng 16 quan chức chủ chốt của tỉnh Hà Giang về hành vi “mua dâm” vì “không đủ chứng cứ” từ phía cơ quan điều tra đã tạo nên làn sóng phản ứng phẫn uất trong dư luận.
Trả lời trên Dân Việt, luật sư Trần Đình Triển nói: Đối với ông Sầm Đức Xương bị truy tố về tội mua dâm trẻ vị thành niên cũng chưa đúng bởi các lý do: Lời khai của các cháu đều bị cưỡng ép. Như vậy, đó là dấu hiệu của tội cưỡng dâm. Có một số cháu ở độ tuổi 13, cần phải điều tra rõ về năm sinh. Nếu dưới 13 tuổi, phải truy tố về tội hiếp dâm. Trong khi ông Xương bị truy tố về tội mua dâm, 16 cá nhân khác bị tố cáo mua dâm cũng bị như vậy, đều do lời khai của các cháu. Ông Xương cũng không thừa nhận việc quan hệ với các cháu, thế thì tại sao ông Xương bị truy tố mà 16 người khác không bị truy tố? Nếu các vị này không có các hành vi đó thì cần phải khởi tố thêm các cháu về tội vu khống.

Căn cứ trên hồ sơ vụ án và chứng cứ tại hồ sơ, nếu xử đúng thì phải tiếp tục hủy án để trả hồ sơ điều tra lại từ đầu. Đồng thời phải thả ngay cháu Thúy và Hằng. Cơ quan điều tra Bộ Công an và Viện KSND Tối cao phải vào cuộc. Có như vậy, chúng ta có đau thì đau một lần, và đưa lại niềm tin yêu của nhân dân với Đảng, Nhà nước, đặc biệt là các cơ quan bảo vệ pháp luật. (nguồn: Dân Việt).

Luật pháp ở đâu và luật pháp là gì khi những kẻ bị tố là mua dâm lại nhởn nhơ vì “không đủ chứng cứ”, trong khi lại đủ chứng cứ để tống giam 2 đứa học trò về tội bán và môi giới mại dâm?

Nếu còn chút công bằng và… nhân đức, hãy thả ngay 2 bị cáo nữ Nguyễn Thị Thanh Thúy và Nguyễn Thúy Hằng!

Kỳ lạ: không nghe thấy một tiếng nói nào từ 2 phía: Hội liên hiệp phụ nữ và ngành giáo dục?

Cứ ước lúc này mình là Chủ tịch nước hay Thủ tướng. Tôi sẽ vung tay quát: Sau 5 phút nữa, 2 cháu học trò kia phải được đưa ra khỏi nhà giam!
Image
Cựu Chủ tịch Hà Giang Nguyễn Trường Tô, nhân vật “nổi tiếng” năm 2010

Image
Thầy hiệu trưởng mua dâm học trò Sầm Đức Xương

Image
2 bị cáo nữ Nguyễn Thị Thanh Thúy và Nguyễn Thúy Hằng
Trương Duy Nhất
Theo: blog Trương Duy Nhất

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Thế giới chào đón năm mới 2011

Những tiếng reo hò vang lên đón màn pháo hoa tuyệt diệu trên cầu cảng Sydney;
những nụ cười hân hoan khắp các quảng trường châu Á, châu Âu, xen lẫn khoảnh khắc trang nghiêm ở các đền thờ khi năm 2011 bắt đầu.

Image
Bầu trời phía trên cầu cảng Sydney sáng lòa rực rỡ bởi màn bắn pháo hoa.
Hàng chục nghìn người đã chiếm chỗ trong các công viên từ buổi chiều để có thể chiêm ngưỡng một cách tốt nhất
màn trình diễn luôn được trông đợi hàng năm này. Ảnh: AP.

Image
Những màu sắc rực rỡ trên cầu cảng Sydney. Ảnh: AP.

Image
Nhà hát con sò in bóng sẫm dưới làn pháo hoa ngoạn mục. Ảnh: AP.

Image
Người dân đổ ra đường đón chào năm mới 2011 trên quảng trường thời đại ở Hong Kong. Ảnh: AP

Image
Màn trình diễn pháo bông ở khu trung tâm thương mại Singapore chào năm mới. Ảnh: AP.

Image
Mọi người đi chơi đón năm mới trên đại lộ Champs Elysees ở Paris, Pháp. Ảnh: AP.

Image
Pháo hoa phía trên cổng Brandenburg của Berlin, Đức. Ảnh: AP

Image
Đêm đón năm mới ở thành phố Novosibirsk của Nga. Ảnh: RIA.

Image
Pháo hoa từ tòa tháp cao nhất thế giới Khalifa ở UAE. Ảnh: AP.

Image
Một phụ nữ tươi cười bên cạnh dòng số 2011 ở Edinburg, Anh. Ảnh: BBC

Image
Người đàn ông Ấn Độ này chọn cách mừng năm mới với mái tóc độc đáo. Ảnh: AP

Image
Lũ trẻ con ở Shimla, Ấn Độ, tìm niềm vui năm mới trên tuyết. Ảnh: AP.

Image
Đèn đuốc sáng trưng ở Chechnya, nơi ngày đầu năm mới là dịp lễ lớn của người dân. Ảnh: AP

Image
Trong khi đó, tại Quảng trường Thời đại của New York, Mỹ, hàng trăm nghìn người đang hồi hộp chờ đợi thời khắc quả cầu được thả xuống,
một nghi lễ truyền thống có từ trăm năm nay. Ước tính sẽ có 750 nghìn đến 1 triệu người tham gia lễ đón năm mới ở quảng trường.
Công tác an ninh được thắt chặt, bởi quảng trường từng là mục tiêu tấn công hồi đầu năm ngoái. Video: CNN.
Mai Trang

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Lễ hội đón năm mới lớn nhất thế giới ở New York

Khoảng một triệu người đã tham dự lễ đón năm mới hoành tráng trên quảng trường Thời đại ở thành phố New York,
Mỹ với nghi lễ thả quả cầu pha lê và hoa giấy sặc sỡ.

Image
Hoa giấy bay trên quảng trường thời đại. Ảnh: AP
Với sự giúp đỡ của thị trưởng Michael Bloomberg, quả cầu pha lê lấp lánh bắt đầu hành trình từ độ cao hơn 20 mét xuống mặt đất lúc 11h59 phút đêm giao thừa, trong tiếng reo hò và đếm ngược của đám đông trên quảng trường.

Hơn một tấn hoa giấy đủ màu, trên các mảnh giấy ghi ước nguyện của mọi người bằng 25 thứ tiếng, đã được thả xuống quảng trường. Đây là một truyền thống đã kéo dài 3 năm nay.

Với khối lượng 5,4 tấn và đường kính khoảng 3,7 mét, quả cầu được tạo nên bởi 2.668 tấm kính và được thắp sáng nhờ 32.256 bóng đèn LED. Bằng cách trộn các loại ánh sáng đỏ, lam, lục và trắng, hệ thống chiếu sáng của quả cầu có thể tạo nên 16 triệu màu và sắc độ, cùng hàng tỷ hình ảnh.

Quảng trường Thời đại luôn là một trong những nơi diễn ra lễ hội đón năm mới lớn nhất thế giới kể từ nă 1904. Quả cầu truyền thống lần đầu tiên được đưa ra thả vào năm 1907. Khi đó nó làm bằng thép và gỗ, được thắp sáng nhờ 100 bóng đèn.

Mai Trang

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

XIN MỜI ĐỌC
MỘT BÀI THAM LUẬN QUÁ HAY


CÁC BẠN,
BÀI NẦY KHÁ DÀI, NHƯNG XIN CÁC BẠN RÁNG NHÍN CHÚT THỜI ĐỌC ĐẾN HẾT BÀI,,, VÌ RẤT HAY MẤT THỜI GIỜ KHÔNG TIẾC,,,,,

Lời dẫn: Trong Đại Hội VIII Hội Nhà Văn VN khai mạc ngày 4-8-2010 tại Hà Nội, nhà văn Trần Mạnh Hảo được mời viết tham luận nhưng khi ông lên đọc thì … micro bị tắt.

Dười đây là phóng sự đài RFA về diễn tiến của Đại Hội và toàn văn bài tham luận của nhà văn Trần Mạnh Hảo.


DIỄN TIẾN ĐẠI HỘI VIII HỘI NHÀ VĂN VN
Image
Nhà văn Trần Mạnh Hảo


Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước
(Tham luận của Trần Mạnh Hảo trong Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII, soạn theo thư “mời viết tham luận” của nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhờ nhà thơ Trần Đăng Khoa đọc giùm – cám ơn!) ........

Trần Mạnh Hảo

“Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý”
K. Marx

Kính thưa quý đồng nghiệp cầm bút,
Thưa quý vị quan khách và quý vị lãnh đạo,

Thói thường, con người sợ món gì nhất? Sợ ma quỷ ư? Không! Sợ vợ ư? Không! Sợ công an ư? Không! Sợ kẻ cầm quyền ư? Không! Sợ chết ư? Không!

Theo chúng tôi, con người trên mặt đất này sợ nhất sự thật! Vì vậy, ngạn ngữ Việt Nam từng nói: “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”. Người Trung Hoa từ thượng cổ đã nói: “Trung ngôn nghịch nhĩ”. Người Ba Tư cổ khuyên: “Nếu nói ra sự thật, anh sẽ chết”. Người Ai Cập xưa cảnh cáo: “Khi sự thật bị bỏ quên quá lâu, một hôm nó thức dậy thành ngày tận thế”. Ngạn ngữ Tây Tạng tiền Phật giáo khuyên: “Mày chỉ được phép nói ra sự thật, nếu mày làm vua”. Thổ dân Úc bảo: “Ai nhìn thẳng vào sự thật sẽ bị mù mắt”. Lịch sử nhân loại đã ghi nhận hàng triệu con người từng dám cả gan nói lên sự thật mà bị mất mạng, bị tù tội hay bị quản thúc tại gia.

Đã có bao nhiêu lý thuyết chính trị thề bồi giải phóng con người, bao nhiêu cuộc lật đổ, cuộc cách mạng tuyên thệ giải phóng con người, giúp con người hoàn toàn tự do, sau khi đã giết hàng triệu triệu sinh mạng. Rút cuộc, con người hình như vẫn chưa được hoàn toàn giải phóng, chưa hoàn toàn được tự do, con người vẫn còn sợ hãi vì bị sự dối trá thống trị? Một số đất nước, một số dân tộc trên hành tinh vẫn còn bị nhốt trong nhà ngục có tên là dối trá. Cần phải làm một cuộc cách mạng của sự thật mới mong giải thoát cho nhân dân khỏi ngục tù kia.

Chìa khóa cuối cùng giúp con người được giải phóng, được hoàn toàn tự do, chính là sự thật, một sự thật không còn bị giấu như loài mèo giấu của quý. Karl Marx đã tôn vinh sự thật lên tột cùng của nhận thức luận và phương pháp luận: “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý”: không có sự thật đi kèm, mọi kết luận, mọi lý thuyết, mọi khế ước, mọi hội kín, mọi cuộc cách mạng đều chỉ là ngụy lý, ngụy tạo, là lừa bịp. Cố Tổng thống Ba Lan Lech Kaczyński (1949-2010) người vừa bị tử nạn trong vụ rơi máy bay trên đường bay đến rừng Katyn tham dự lễ kỷ niệm 22.440 người con ưu tú của dân tộc Ba Lan bị Hồng quân Liên Xô chôn sống hồi đầu chiến tranh thế giới thứ hai; trong bài diễn văn viết sẵn mà ông không còn cơ hội để đọc, có đoạn viết như sau: “Sự thật, kể cả sự thật đau đớn nhất luôn luôn giải phóng cho con người. Sự thật gắn kết. Sự thật mang lại sự công bằng. Sự thật chỉ ra con đường hòa hợp.”

Lấy ý tưởng từ câu cách ngôn kinh điển của K. Marx và lời trăn trối thiêng liêng thống thiết lớn lao của ngài cố Tổng thống Ba Lan trên, chúng tôi viết bản tham luận theo yêu cầu của Hội Nhà văn Việt Nam này.

Dostoyevsky, nhà văn vĩ đại nhất của chủ nghĩa hiện thực Nga và thế giới, từng tuyên ngôn rất hoa mỹ, rằng: “Cái đẹp sẽ cứu chuộc thế giới”. Chúng tôi thêm: “Sự thật sẽ cứu chuộc thế giới”. Sự thật sẽ cứu chuộc nền văn học của chúng ta, cứu chuộc Tổ quốc ta, nếu chúng ta cả gan một lần cùng nhau: “Gọi sự vật bằng tên của nó” theo cách ngôn của phương Tây.

Nếu Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam thử một lần hợp tác với đất nước, với dân tộc Việt Nam mở HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG CHỐNG GIẶC NÓI DỐI để tìm ra con đường cứu nguy dân tộc đang trên đà suy vong, thì công này của quý vị rất lớn. Ông cha chúng ta đã đánh thắng giặc Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh… để bảo tồn đất nước. Tất cả các thứ giặc trên cộng lại cũng không ghê gớm bằng giặc nói dối đang tàn phá Tổ quốc ta, giống nòi ta. Lần này, nếu nhân dân ta không vùng lên đáng tan BỌN GIẶC CÓ TÊN LÀ DỐI TRÁ, chắc chắn đất nước ta sẽ bị kẻ thù phương Bắc nuốt chửng, như mấy nghìn năm trước chúng đã nuốt chửng toàn bộ các dân tộc Bách Việt từng định cư lâu dài phía nam sông Dương Tử.

Chúng tôi viết bản tham luận này cũng để nhằm hưởng ứng cuộc hội thảo “Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay” do Ban Tuyên giáo Trung ương vừa tổ chức tại Đà Lạt trong hai ngày 12-13/7/2010 với hơn hai trăm văn nghệ sĩ và các nhà lý luận phê bình hàng đầu Việt Nam tham dự. Cuộc hội thảo dũng cảm kêu gọi văn nghệ sĩ từ trên mây tỉnh giấc, quay về với hiện tình đất nước, do GS.TS. Phùng Hữu Phú (Ủy viên Trung ương Đảng, phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, chủ tịch Hội đồng Lý luận Phê bình Trung ương), chỉ đạo. Theo Đại từ điển tiếng Việt trang 803, từ “hiện thực” có nghĩa như sau: “Cái có thật, tồn tại trong thực tế” (Bộ Giáo dục & Đào tạo–Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam-NXB Văn hóa Thông tin xuất bản 1998). Như vậy, khái niệm “hiện thực” chính là sự thật đã và đang xảy ra trong thực tại trên đất nước ta. Cuộc hội thảo của Ban Tuyên giáo Trung ương vừa qua có thể được gọi bằng một cách khác: “Văn học nghệ thuật phản ánh sự thật của đất nước hôm nay”. Muốn phản ánh được sự thật của đất nước hôm nay, việc trước tiên của chúng ta là phải nhìn ra sự thật, gọi đúng tên sự vật, không phải sự thật tô hồng hay sự thật bôi đen, mà sự thật đúng như nó đang tồn tại khách quan quanh ta.

Lâu nay, vẫn nghe dân gian xì xào nửa hư nửa thực rằng: “Các thế lực thù địch (xin lỗi, tiên sư nó) nói cái gì hình như cũng đung sắc đúng, Ban Tuyên giáo Trung ương (xin lỗi) nói cái gì hình như cũng sờ ai sai…” thì quả là chưa chắc; bằng chứng là trong hoàn cảnh đất nước mà sự thật trốn biệt như hôm nay, thì việc Ban Tuyên giáo Trung ương kêu gọi nhà văn chúng ta hãy mở mắt, từ bỏ giấc nam kha vô tích sự quá dài để nhìn vào sự thật, nói lên sự thật đất nước, là một việc làm quá đúng.

Tất nhiên, sự thật mà Ban Tuyên giáo Trung ương kêu gọi nhà văn nhìn nhận được nhìn bằng mắt thường, chứ không phải sự thật bịt mắt bắt dê, hay sự thật được nhìn bằng mắt kẻ khác, nhìn bằng những thấu kính ảo, kính lồi, kính lõm, hay chiếc gương chiếu yêu, chiếu bóng… Thâm ý của Ban Tuyên giáo Trung ương hình như muốn chúng ta tìm lại phong trào “Nói thẳng, nói thật” thời kỳ Đổi mới năm 1986 -1987 do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh phát động?

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, trong cuộc gặp mặt văn nghệ sĩ năm 1987, đã làm gương nói thẳng nói thật, khi ông đặt vấn đề rốt ráo cho văn học nghệ thuật là nhà nghệ sĩ phải có tự do sáng tác; ông nói: “Cởi trói như thế nào, cởi trói nói ở đây trước hết là Đảng phải cởi trói cho các đồng chí… Tôi cho rằng khi những sợi dây ràng buộc được cắt đi, sẽ làm cho văn học nghệ thuật như con chim tung cánh bay lên trời xanh…”.

Rõ ràng, qua lời Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Đảng đã thừa nhận từng trói văn nghệ sĩ và trí thức rất nhiều năm. Lần này, Ban Tuyên giáo Trung ương, thông qua cuộc hội thảo cấp nhà nước “Văn học nghệ thuật hướng vào sự thật của đất nước” đã khuyến khích kẻ hèn này là chúng tôi nói lên sự thật, toàn là những sự thật chết người, sự thật mà chính quyền cố tình giấu diếm vì món lợi của quyền lực, với sự ngụy biện chống lại lẽ phải, chống lại chân lý: “Nói ra sự thật lúc này không có lợi”. Chả lẽ vì cái lợi, vì miếng ăn mà chúng ta đành phải nói dối hết đời ông đến đời cha, hết đời con đến đời cháu hay sao? Vậy chừng nào nhà nước Việt Nam mới cho người dân chúng tôi công khai nói ra sự thật đây? Chúng tôi đành lấy lời dạy của K. Marx làm bùa hộ mệnh: “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” để một lần cuối cùng nói ra sự thật của đất nước chúng ta, dẫu có bị bị làm phiền, thậm chí bị tù đầy cũng mặc. Một kẻ nói dối, một dân tộc nói dối “lộng giả thành chân”, là một kẻ, một dân tộc không có tự do, không có độc lập, không có dân chủ, không có chân lý và lẽ phải… Khi một kẻ, một dân tộc phải núp vào sự dối trá để tồn tại, kẻ đó, dân tộc đó là một kẻ yếu, một dân tộc yếu đang trên đường suy vong. Chỉ có kẻ mạnh, kẻ tự tin, kẻ có liêm sỉ, có đạo đức mới không sợ sự thật, dù là sự thật đau đớn nhất, khủng khiếp nhất mà thôi.

Được lời như cởi tấm lòng, chúng tôi xin kể ra SỰ THẬT ĐẤT NƯỚC qua mắt mình, cái mà nền văn học của chúng ta lâu nay lảng tránh, làm ngơ, mặc “quốc gia hưng vong”, “ thất phu” thay vì “ hữu trách” thì hầu như cánh “thất phu” nhà văn thảy đều “tắc trách”… Chúng tôi mong 700 tờ báo của lề phải, tức báo của Đảng và nhà nước, hãy hạ cố chỉ ra những sự thật mà chúng tôi gọi tên trong bài tham luận này đúng hay sai. Còn nếu quý vị dùng công an hay nhà tù để đối thoại với chúng tôi thì quý vị đã mặc nhiên thừa nhận chúng tôi nói đúng; chỉ vì đuối lý mà quý vị mới phải dùng hạ sách là làm phiền chúng tôi, đe dọa chúng tôi thì quý vị đã không chính danh quân tử, dùng nền chính trị bá đạo ứng xử với người dân, khi người dân dám nói lên sự thật để hi vọng trên đất nước đau thương và cam chịu này le lói một nền chính trị vương đạo, dựa vào sự thật, lương tri và lẽ phải. Trong hàng trăm sự thật nhãn tiền của đất nước, chúng tôi chỉ xin kể ra ba sự thật mà thôi.


Chưa bao giờ số phận dân tộc ta, đất nước ta có nguy cơ tiêu vong như hôm nay: nước nhà đang bị giặc ngoại bang xâm lấn bằng cuộc chiến tranh ngọt ngào, chiến tranh ôm hôn thắm thiết và tặng hoa, tặng quà anh anh chú chú, bằng cách chiếm dần hai quần đảo chiến lược Hoàng Sa và Trường Sa, lấn chiếm dần dần biên giới đất liền và hải đảo, khiến nguồn lợi biển vô cùng tận của ta rồi sẽ mất hết, dân tộc ta không còn đường ra đại dương, coi như tiêu. Ngoại bang dùng chiêu bài “ý thức hệ” và “16 chữ vàng” làm dây trói vô hình, trói buộc Đảng cầm quyền và nhà nước Việt Nam phải nhân nhượng kẻ xâm lược hết điều này đến điều khác. Trên đất liền, ngoại bang dùng con bài khai thác bauxite, mua đất thời hạn 100 năm của 18 tỉnh lấy cớ trồng rừng, thực chất là công cuộc chiếm đất di dân theo kiểu vết dầu loang, theo kiểu “nở hoa trong lòng địch”. Đến nỗi, khi giặc chiếm Hoàng Sa rồi đặt tên quận huyện cho quần đảo này, sinh viên thanh niên biểu tình chống giặc lại bị nhà nước Việt Nam bắt. Vậy, nhà nước chúng ta hiện nay đứng về phía ngoại bang xâm lược hay đứng về phía nhân dân ta? Cũng chưa bao giờ như hôm nay, thiên nhiên và môi trường sống trên nước ta lại bị phá hoại khủng khiếp như thế: rừng bị triệt phá gần hết, sông ngòi đồng ruộng cạn kiệt nguồn nước, lụt lội kinh hoàng, khí trời bị ô nhiễm tới mức cuối cùng, nước mặn xâm hại phá hủy các đồng bằng. Chỉ cần một trận mưa lớn là Hà Nội, Sài Gòn biến thành sông do quy hoạch xây dựng phản khoa học. Hạt lúa, củ khoai, mớ rau, tôm cá, thịt gia súc, gia cầm cũng đang bị các chất hóa học độc hại chứa trong thức ăn, các chất tăng trưởng, chất bảo quản độc hại ám sát, khiến sinh tồn của giống nòi có cơ biến dạng…

Đạo đức xã hội tha hóa tới mức cuối cùng, con người hầu như không còn biết tới liêm sỉ và lẽ phải… Một ông Chủ tịch tỉnh Nguyễn Trường Tô và rất nhiều quan chức cao cấp trong tỉnh Hà Giang chơi gái vị thành niên do ông hiệu trưởng trường trung học Sầm Đức Xương bắt các cháu nữ sinh là học sinh trong trường làm điếm, nhằm cống nạp cho các quan đầu tỉnh. Nghe nói ông Nguyễn Trường Tô, ông Sầm Đức Xương từng là những người nhiều năm liền được bằng khen vì thành tích học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh. Một sinh viên Nguyễn Đức Nghĩa từng là đoàn viên thanh niên cộng sản ưu tú, đã ra tay giết và cướp của chính người yêu cũ của mình một cách man rợ, không phải là cá biệt trong một xã hội con giết cha, vợ giết chồng, anh em giết nhau được đưa tin đầy tràn trên các trang báo lề phải. Lối sống vô đạo đức, hành vi vô luân, con người ứng xử với con người man rợ hơn dã thú đang là vấn nạn quốc gia, có thể đưa một dân tộc vốn có văn hóa, văn hiến bốn nghìn năm tới chỗ diệt vong… Không nhìn ra những nguy cơ chết người này, liệu 100 năm nữa Tổ quốc Việt Nam chúng ta còn tồn tại không? Dòng giống con Lạc cháu Hồng còn tồn tại không?

Nền giáo dục Việt Nam hôm nay là một nền giáo dục thiếu trung thực, đúng như ý kiến của ông Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã công nhận. Đạo đức trong giáo dục Việt Nam hôm nay đồng nghĩa với dối trá: thày dối trá thày, trò dối trá trò, quản lý giáo dục báo cáo láo cốt lấy thành tích, nạn mua bán bằng, bán đề thi, mua quan bán tước đang là đại họa của nền giáo dục. Hầu hết sách giáo trình, sách giáo khoa… là sách đạo văn. Cán bộ có chức có quyền đua nhau làm thạc sĩ, tiến sĩ… lấy bằng thật nhưng học giả. Nạn dùng tiền mua bằng cấp, mua học hàm học vị đang diễn ra công khai trong cái chợ trời giáo dục Việt Nam. Việc Hà Nội vừa qua đưa chỉ tiêu “xóa mù tiến sĩ” cho cán bộ công nhân viên nhà nước đã nói lên học vị tiến sĩ chẳng còn giá trị gì cả. Có lẽ trong vài năm tới, sau việc Bộ Giáo dục ra chỉ tiêu đào tạo thêm 23.000 tiến sĩ, sẽ dẫn tới chiến dịch xóa mù tiến sĩ trên phạm vi toàn dân. Nhiều ông cán bộ cấp cao có học vị tiến sĩ nhưng chưa có bằng tốt nghiệp đại học, thậm chí có vị chưa có bằng tốt nghiệp cấp 2 vẫn lấy được học vị tiến sĩ. Việc chính trị hóa môn văn, môn lịch sử, môn triết học, chính trị hóa nền giáo dục… đã tạo cơ sở cho sự dối trá làm bá chủ đất nước. Giáo dục như thế sao có thể đào tạo ra những công dân chân chính? Đây là dấu hiệu suy vong lớn nhất của dân tộc do nền giáo dục thiếu tính nhân văn, thiếu tính chân thật gây ra. Những quả bom B52 tinh thần là nền giáo dục đi chệch hướng chân thiện mỹ đang rải thảm lên tinh thần dân tộc, thì ai là người phải chịu trách nhiệm trước lịch sử đây?

Than ôi, sau những quả bom tinh thần có tên là giáo dục mà chế độ tự ném vào mình, chỉ cần ngoại bang ném bồi thêm mấy quả bom thật vào hai đập thủy điện Sơn La và Hòa Bình là đồng bằng Bắc Bộ và cả Hà Nội sẽ biến mất, dân tộc sẽ biến mất… Hai đập thủy điện khổng lồ trên nghe đâu lại nằm trên vết nứt động đất… mới hãi hùng làm sao? Đầu nguồn sông Hồng, đầu nguồn sông Mê Kông, Trung Quốc đã và đang xây hàng trăm đập thủy điện, khiến hai con sông chính của đất nước khô cạn dần, không còn đủ nguồn nước tưới cho hai đồng bằng chính nuôi sống dân tộc. Cách Móng Cái 60 km, tại Phòng Thành, Trung Quốc đang xây nhà máy điện hạt nhân rất lớn; nếu có sự cố kiểu Chernobyl vào mùa gió bấc, Hà Nội và dân đồng bằng Bắc Bộ có thể sẽ chết hết vì nhiễm phóng xạ hạt nhân…

SỰ THẬT HAI

Chưa bao giờ như hôm nay, trên đất nước ta, giặc nội xâm có tên là tham nhũng lại hoành hành ngang nhiên, kinh hãi như dịch hạch đến thế. Dân có tham nhũng không? Không! Thế thì ai là giặc nội xâm, là giặc tham nhũng? Thưa, chính quyền! Chỉ kẻ có chức có quyền mới tham nhũng được mà thôi. Vụ tham nhũng mới nhất như một đòn hiểm ác đánh một cú chí tử vào đất nước là tập đoàn Vinashin – một nấm đấm thép của chính phủ – đã cướp đi của nhân dân số tiền khổng lồ là 80.000 tỷ đồng. Cứ thử làm tròn dân số nước ta là 90 triệu người (thực ra dân số Việt Nam mới chỉ trên 85 triệu dân), vị chi mỗi người dân vừa bị tập đoàn quốc doanh Vinashin cướp đi gần 9.000.000 đ. Chín triệu đồng với người nông dân là một nguồn vốn lớn: một gia đình nông dân có bốn nhân khẩu chẳng hạn, đã vừa bị Vinashin cướp đi nhãn tiền 36.000.000 đ. Đã có bao nhiêu tập đoàn Vinashin cướp hết tiền của nhân dân trong quá khứ, trong hiện tại chưa bị phát hiện? Những nấm đấm thép của chính phủ như các tập đoàn kinh tế: tập đoàn Than, tập đoàn Điện, tập đoàn Khoáng sản… đã và đang đấm chí tử vào hầu bao dân nghèo Việt Nam. Theo kiểm toán nhà nước, năm 2008, các tập đoàn kinh tế – nắm đấp thép – đã làm thất thoát 10 tỷ đô la. Năm 2009, số thất thoát (đổ tội cho lỗ vốn) cũng không nhỏ hơn số 10 tỷ đô la năm trước. Các tập đoàn kinh tế quốc doanh, các công ty quốc doanh đang là đại họa cho quốc gia; chứng tỏ thành phần kinh tế rường cột của mô hình xã hội chủ nghĩa này đã hoàn toàn thất bại. Về quốc nạn tham nhũng, bà Phạm Chi Lan, chuyên viên kinh tế cao cấp của chính phủ đã phải cay đắng thừa nhận “bọn nắm đấm thép – chúng nó ăn hết tiền của dân rồi” như sau: “Một khi vẫn còn các ông lớn chủ đạo vẫn ngốn hết nguồn lực của đất nước và thâu tóm hết quyền thiết kế chính sách có lợi cho mình, thì làm sao thằng nhỏ động lực kinh tế tăng tốc được” (Tuần Việt Nam 22/07/2010).

Tại sao nhà nước ta hiện nay vốn có hai chính quyền cồng kềnh, chồng chéo nhau, giẫm đạp lên nhau: một chính quyền theo hệ Đảng và một chính quyền theo hệ nhà nước với hàng vạn ban thanh tra, hàng vạn chi bộ bốn năm sáu tốt, với hầu hết mấy triệu đảng viên gương mẫu đều đã học tập tốt đạo đức Bác Hồ, mà giặc tham nhũng lại ngang nhiên hoành hành trắng trợn từ vi mô đến vĩ mô đến như vậy? Quan tham nhìn từ xã trở lên không thấy lao động chân tay, không thấy lao động trí óc, chỉ sử dụng một thứ lao động có tên là LAO ĐỘNG LÃNH ĐẠO mà ai ai cũng giàu có hơn dân thường hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn, hàng triệu, hàng tỉ lần là sao? Chung quy lại, có phải là do thể chế sai, mô hình chính trị sai: VỪA ĐÁ BÓNG VỪA THỔI CÒI, VỪA ĐI THI, CHẤM GIẢI VỪA PHÁT GIẢI VỪA ĐƯỢC LÃNH GIẢI. NHÀ NƯỚC – ĐẢNG MỘT MÌNH MỘT CHỢ: VỪA THAM NHŨNG VỪA CHỐNG THAM NHŨNG? Xin hỏi: tay phải tham nhũng, liệu tay trái có dám cầm dao chặt được tay phải hay không?

Linh hồn triết học duy vật biện chứng Marxism nằm ở câu kinh mà đảng viên cộng sản nào cũng phải thuộc làu làu: “Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất”. Chỉ trừ nền chính trị của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam không hề nằm trong quy luật vận động này của Marx, vì nó triệt tiêu đối lập chính trị!

Nền chính trị độc đảng, độc quyền của nước ta hôm nay đang chống lại biện chứng pháp Marxism. Trong phép biện chứng do Hegel sáng tạo, Marx tiếp thu, có ba nhịp như sau: xuất đề, phản đề và tổng đề. Phản đề hay đối lập chính là linh hồn của biện chứng pháp Marxism. Chối bỏ đối lập, triệt để cấm phản đề, cấm đối lập chính trị, nền chính trị của nước ta ngày nay đang chống lại chính cái lý thuyết chủ nghĩa cộng sản mà nó thề nguyền đi theo, thành ra một nền chính trị thoái bộ, rất giống với các nền chính trị thần quyền thời Trung cổ bên châu Âu.

Hãy xem khẩu hiện rất duy tâm, hoàn toàn chống lại thuyết Marxism của Đảng cầm quyền: “Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh MUÔN NĂM”. Marx từng giải thích tại sao loài người thống khổ: vì loài người còn phân chia giai cấp. Mục đích của Marx là làm cho nhân loại tiến đến đại đồng, tức tiến đến thiên đường cộng sản. Muốn đến thế giới cộng sản, phải xóa bỏ các giai cấp: xóa bỏ giai cấp tư sản, xóa bỏ giai cấp vô sản, xóa bỏ nhà nước, xóa bỏ công an, quân đội, tất nhiên phải xóa bỏ cả Đảng Cộng sản, vì Đảng Cộng sản là đảng của giai cấp vô sản. Mà khi xóa bỏ giai cấp, thì đảng của giai cấp cũng không còn. Hô “Đảng Cộng sản Việt Nam MUÔN NĂM” cầm bằng như hô: “Xã hội loài người có giai cấp muôn năm”! Rõ ràng hô như vậy là treo cổ chủ nghĩa Marx, là không chính danh, là tự xóa bỏ tính mục đích của Đảng Cộng sản.


SỰ THẬT THỨ BA: NÓI MỘT ĐÀNG, LÀM MỘT NẺO, HAY LÀ DANH KHÔNG CHÍNH THÌ NGÔN KHÔNG THUẬN

Đảng, Nhà nước Việt Nam nói thì rất hay, nhưng làm thường ngược lại. Những nguyên tắc, nguyên lý, luật pháp, chính sách, đường lối của Đảng cầm quyền và nhà nước Việt Nam hiện nay hầu hết đều không chính danh.

Xin chứng minh

Trong Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam người dân được hưởng tất cả các quyền: quyền sống, quyền làm người, quyền hoạt động chính trị, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, lập đảng phái, quyền biểu tình, tự do tôn giáo, tự do cư trú, tự do đi lại, tự do đủ thứ…

Chính sách hộ khẩu đã cấm tự do cư trú.

Quyền được biểu tình của dân bị cấm chỉ bởi một nghị định (do Thủ tướng Phan Văn Khải ký): cấm từ năm người trở lên tụ tập hay đi hàng dọc ngoài đường, ngoài phố. Anh bạn chúng tôi có 5 đứa con, cộng hai vợ chồng là 7 người, mỗi sáng Chủ nhật anh chị dẫn bầy con đi tập thể dục tại công viên cách nhà hơn cây số . Đoàn rồng rắn tí hon của anh chị không thể đi thành một hàng, mà phải bí mật xé lẻ thành hai tốp, anh dẫn 3 đứa con, chị dẫn 2 đứa con giả vờ không quen biết nhau, đi vào hai lề đường khác nhau, sợ đi chung sẽ bị công an bắt… Anh bạn này tâm sự: ra Quốc lộ số 1, qua một số đường phố ở các thành phố nhỏ, thấy trâu bò được ung dung đi thành bầy đàn hàng mấy chục con trên đường mà không bị công an bắt? Sao kiếp người ở Việt Nam lại tủi hổ hơn kiếp bò: con bò còn được tự do tụ tập, tự do nghênh ngang rồng rắn trên đường, được Đảng và nhà nước đối xử tử tế hơn hẳn con người… là sao hở các ông trời con?

Tự do tôn giáo bị cái rọ tôn giáo quốc doanh cấm cản. Hàng trăm sư sãi, chùa chiền vốn theo một hệ phái Phật giáo riêng từ trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam đã bị cấm hoạt động, bắt phải vào Phật giáo quốc doanh, nếu không chịu quốc doanh hóa Phật giáo sẽ bị bắt. Công giáo cũng phải thành Công giáo quốc doanh. Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành… cũng phải vào quốc doanh thì sao gọi là tự do tôn giáo? Ở một đất nước không có TÔN GIÁO TƯ NHÂN, chỉ có TÔN GIÁO QUỐC DOANH mà cứ xưng xưng toe toét: Việt Nam có tự do tôn giáo.

Điều 4 trong Hiến pháp cho phép chỉ một mình Đảng Cộng sản được nắm quyền lãnh đạo mãi mãi, đã cấm mọi công dân tự do hoạt động chính trị, trong khi quyền người dân được tự do hoạt động chính trị ghi rõ ràng trong Hiến pháp. Điều 4 của Hiến pháp là điều không chính danh.

Đảng và Nhà nước có trên 700 tờ báo giấy báo viết báo hình. Xã hội tự xưng là “nhân dân làm chủ: của dân, do dân, vì dân”, “cán bộ là đày tớ nhân dân”. Tai ngược thay, chính anh đầy tớ này được độc quyền ra báo, lại cấm ông chủ ra báo là sao? Marx – sinh thời từng ca ngợi nền tự do báo chí của chủ nghĩa tư bản. Marx lên án cay độc nhà vua Phổ kiểm duyệt báo chí theo kiểu nhà nước Việt Nam hôm nay lùa tất cả nền báo chí nước nhà vào cái rọ lề phải, đánh sập hơn ba trăm blog và website cá nhân trên Internet như lời khoe khoang của ông tổng cục phó Tổng cục An ninh Bộ Công an, trung tướng Vũ Hải Triều… Không có nền tự do báo chí tư sản, nền xuất bản tự do tư sản, không thể xuất hiện chủ nghĩa Marx. Nếu Karl Marx tái sinh xuất hiện giữa lòng Hà Nội hay Sài Gòn hôm nay, chắc chắn cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản sẽ bị lính của ông Vũ Hải Triều bắt ngay tắp lự.

Khi người dân không có quyền ra báo tư, lập nhà xuất bản tư… cũng có nghĩa người dân Việt Nam hiện nay không có quyền tự do ngôn luận.

Khi Hiến pháp đã cho công dân cái quyền thì người dân không phải đi xin. Hiến pháp bảo công dân có quyền sống, quyền làm người, vậy chả lẽ khi sống là phải thở, phải ăn, phải mặc, phải yêu vợ… thì cứ mỗi lần thở, mỗi lần ăn, mỗi lần mặc, mỗi lần yêu vợ… lại phải làm đơn xin phép công an à?

Hiến pháp của các nước dân chủ văn minh sinh ra để bảo vệ người dân, đảm bảo nhân quyền, dân quyền và mọi quyền tự do của dân, cốt yếu để ràng buộc kẻ cầm quyền. Hiến pháp nước ta hiện nay sinh ra hầu như để chỉ trói buộc người dân và tạo hàng nghìn kẽ hở cỡ lỗ thủng con voi chui lọt cho kẻ cầm quyền tự do đánh tráo Hiến pháp, tự tung tự tác, làm ngược lại Hiến pháp mà không bị luật pháp ràng buộc là sao?

Quốc hiệu nước ta hiện nay xưng là: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thực ra có đúng không? Thưa không! Vì nền kinh tế nước ta từ năm 1986 đến nay là nền kinh tế thị trường, tức nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, một chủ nghĩa tư bản hoang dã. Vậy quốc hiệu nước ta muốn sát với “sự thật của đất nước” như gợi ý của Ban Tuyên giáo, phải đặt lại là: “Cộng hòa Tư bản Chủ nghĩa Việt Nam” mới chính danh.

Chủ nghĩa xã hội nói cho cùng là một mô hình ảo, hoàn toàn không có thật. Hồi chúng tôi theo học tại Học viện Gorky bên Liên Xô năm 1988, thường nghe dân Liên Xô định nghĩa về chủ nghĩa xã hội theo mô hình Lenin-Stalin như sau: “Chủ nghĩa xã hội là con đường vòng vèo nhất, đầy máu và nước mắt nhất, khốn nạn nhất để đi lên tư bản chủ nghĩa”. Liên Xô, với mô hình xã hội chủ nghĩa trại lính (hay trại tập trung) đã phải mất 74 năm đi vòng vèo trong máu xương, ngục tù, trong đày đọa của những quần đảo Gulag hắc ám, man rợ… để năm 1991 mới tới được nền kinh tế tự do tư bản chủ nghĩa. Quốc hiệu của nước ta như vậy là không chính danh.

Cái đuôi “Định hướng xã hội chủ nghĩa” được gắn vào đít khái niệm kinh tế thị trường của nhà nước ta hiện nay là một cái đuôi giả, một cái đuôi nhựa chạy bằng cục pin sắp thối của Trung Quốc. Theo nghĩa từ điển: “định hướng” có nghĩa là xác định phương hướng, mà điểm tới đã được xác định cụ thể. Ví dụ ông A hẹn ông B qua điện thoại, rằng mai ta gặp nhau ở Hồ Con Rùa, tập kết tại đó ăn sáng, uống café, định hướng Buôn Ma Thuột mà tới Plây-ku nhé! “Xã hội chủ nghĩa” là khái niệm ảo trên giấy, chưa có thật trên đời và sẽ không thể có thật vì nó dựa trên những nguyên lý ảo tưởng, bịa đặt, phi khoa học.

Đưa đất nước đi vào chỗ không có thật, định hướng tới cõi không có thật mà đến thì than ôi, thà giết đất nước đi còn hơn! Nên khẩu hiệu “Vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội” in trên đầu tờ Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, nếu theo tiêu chí “hướng về sự thật” của Ban Tuyên giáo chỉ dẫn, phải đặt tên lại cho đúng với thực chất ngữ nghĩa của từ điển là: “Vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa không có thật” mới đúng. Không có sự thật đi kèm, mọi lý thuyết, mọi mô hình xã hội, mọi lời hứa đều là sai trái, ảo tưởng, hứa hão, đúng như K. Marx đã nói.

Đồng nghĩa Đảng Cộng sản là đất nước, đồng nghĩa chủ nghĩa xã hội là Tổ quốc là không chính danh. Đảng Cộng sản mới chỉ có 5 triệu đảng viên, còn nhân dân Việt Nam ngoài Đảng chiếm đa số tới hơn 80 triệu dân, có phù phép kiểu gì, Đảng Cộng sản cũng không thể biến thành đất nước Việt Nam được. Đảng nghĩa là phe phái, là một nhóm người. Một nhóm người sao có thể biến thành tất cả được, nên danh từ ĐẢNG TA dùng để gọi Đảng Cộng sản là không chính danh. Liên Xô đã bỏ ra 74 năm để tìm mà không thấy chủ nghĩa xã hội đâu, chỉ thấy trại tập trung, thấy nhà tù nhiều hơn trường học. Lenin, Stalin, Mao… đã biến nhân dân các nước Nga, Tàu, Cuba, Bắc Triều Tiên, Việt Nam, Campuchia, hàng chục nước Đông Âu… thành hàng tỉ con chuột bạch cho cuộc thí nghiệm máu cộng sản chủ nghĩa bằng bạo lực, bằng cải tạo áp đặt, bằng thuyết đấu tranh giai cấp tàn bạo nhưng đã thất bại hoàn toàn. Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, Đông Âu giờ đã đi theo tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội là một khái niệm ảo, nên khẩu hiện “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” là rất buồn cười, giống như nói “Yêu nước là yêu cái không có thật” vậy…

Quốc hội nước CHXHCN VN được Đảng Cộng sản và nhà nước phong cho là cơ quan lập pháp cao nhất của nhân dân Việt Nam là không chính danh. Vì thực tế, Quốc hội này chỉ là cơ quan ngoại vi của Đảng, do Đảng lãnh đạo; Quốc hội mà 98% dân biểu là đảng viên của một đảng duy nhất thì việc gọi Quốc hội này của dân là một trò hề, là không chính danh; Quốc hội này của Đảng, dân nào có quyền bính gì trong Quốc hội giả hiệu này?

Việc một nhóm người không ai khiến, tự nhiên nhảy phóc ra đấu trường xã hội ngót trăm năm nay, hung hãn cầm mác cầm lê cầm búa cầm liềm cấm cản những nhóm người khác lập phe đảng là không chính danh, không logic, không công bằng, không có luật hay chỉ là luật rừng?

Đảng Cộng sản Việt Nam không do nhân dân Việt Nam bầu ra, nên sự tồn tại của Đảng để tuyệt đối cầm quyền là không chính danh. Đúng như Mao nói rằng chế độ chuyên chính vô sản của ông ta là do súng đẻ ra: “Súng đẻ ra chính quyền”, tức là SÚNG BẦU RA CHÍNH QUYỀN… Mấy chục năm nay, người ta đã cố tình gọi nhầm SÚNG là DÂN: “súng bầu lên chính quyền thì lại nói dối là dân bầu”… Cũng giống như (giả dụ thôi, hi vọng đừng biến thành sự thật!) sau bài viết này, công an gọi tên Trần Mạnh Hảo lên… dọa bắn; Hảo ta vốn là một con cáy 64 tuổi biết cầm bút, thấy súng há mồm sắp đối thoại với mình, sợ vãi đái, nghĩ mình miệng hùm gan sứa, sức đâu cãi lại miệng súng, đành phải ký vào giấy cung khai rằng: báo cáo các anh, em đã nói sai, đã nói dối, vì Đảng ta và nhà nước ta từ xưa tới nay thật thà hơn đếm, có biết nói dối là gì đâu. Thế rồi báo An ninh hôm sau hí hửng: trước lý lẽ sắc bén và thực tế sáng ngời chính nghĩa của nhân dân, tên Hảo đã không đủ lý lẽ đối thoại, đã ăn năn hối lỗi vì dám vu cáo cho Đảng ta nói dối…

Việc Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời năm 1930 theo thuyết Marxism là không chính danh.

Marx bảo: chủ nghĩa tư bản xuất hiện với đại công nghiệp. Marx lại bảo phương thức kinh tế châu Á không nằm trong chủ nghĩa Marx. Marx phán: giai cấp vô sản là hệ quả của giai cấp tư bản. Nghĩa là tư bản đẻ ra vô sản. Trung Hoa, Việt Nam và cả châu Á, thế giới Ảrập, Ấn Độ, Mỹ Latinh, Phi Châu… trong thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ thứ 20 chưa hề có chủ nghĩa tư bản. Năm 1930, Việt Nam chưa có ông bố tư bản, sao lại có đứa con tên là vô sản ra đời? Bịa ra một giai cấp vô sản ảo để thành lập ra đảng của giai cấp vô sản là Đảng Cộng sản Đông Dương là không chính danh, là trái với thuyết Marxism, là xây nhà trước, xây nền nhà sau.

Sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Đông Dương nêu khẩu hiệu “Trí, Phú, Địa, Hào đào tận gốc trốc tận rễ” là không chính danh. Diệt trí thức là diệt đi hai ông đại trí thức Marx-Engels ư? Trí thức là linh hồn của xã hội, diệt trí thức cũng có nghĩa là diệt luôn xã hội loài người.

Năm 1958 – 1960 Bắc Việt Nam (năm 1975 là cả nước) tuyên bố tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội với “mo cơm và quả cà”, không thông qua con đường tư bản chủ nghĩa theo sự xúi dại của Lenin là không chính danh. Theo Marx, linh hồn của xã hội chủ nghĩa là đại công nghiệp; chỉ có nền nông nghiệp lạc hậu mà dám thí mạng cùi tiến lên xã hội chủ nghĩa là tiến lên toàn dân cùng chết đói, hay tiến lên công xã kiểu diệt chủng như Khmer Đỏ, tiến lên “đại nhảy vọt” kiểu Mao khiến mấy chục triệu người chết đói, dân chúng phải ăn thịt cả con mình như cuốn Mao Trạch Đông ngàn năm công tội do Thông tấn xã Việt Nam vừa phát hành đã kể.

Post Reply