Bình Luận Thời Sự
Mừng Chúa Giáng Sinh
Ngô Nhân Dụng
Tôi là một Phật tử, nhưng tôi không ngần ngại gì khi viết: “Mừng Chúa Giáng Sinh.” Cũng như bữa rồi khi tôi gặp một vị linh mục ở phi trường, trước khi chia tay tôi thay lời chào bằng câu chúc: “Merry Christmas, Cha!”
Tôi không nói câu đó theo thói quen. Tôi có suy nghĩ trước khi nói. Có thể nói, lời chúc tụng phát xuất từ trong lòng: Mừng Chúa Giáng Sinh. Vì trong lòng tôi thật sự đang muốn chia sẻ niềm vui với vị linh mục dễ thương, vui vẻ này. Ông sắp mừng ngày Chúa Giáng Sinh, tôi biết, đó sẽ là một ngày rất vui đối với ông.
Hôm nay tôi mới nhận được một “thiệp mừng” trong email của một người bạn. Ông bạn tôi theo Thiên Chúa Giáo, ông viết: “Chúc Mừng Lễ Hội Cuối Năm!” Cảm tưởng đầu tiên khi đọc những chữ này là: “Ông này Mỹ quá!”
Ông bạn tôi đang nhiễm một cái tính cẩn thận của người Mỹ bây giờ. Ở nước Mỹ đang có một phong trào tránh né không chúc nhau “Merry Christmas” nữa. Ði mua sắm thì được, tặng quà nhau vẫn tặng, tất cả chỉ vì Christmas, lễ Chúa Giáng Sinh. Các nhà sản xuất, các cửa hàng buôn đều chờ đến ngày Christmas để bán hàng. Bộ Thương Mại chờ số thống kê coi trong dịp lễ Christmas kinh tế có lên không. Ai cũng chờ Christmas. Nhưng lại tránh, không dám nhắc đến mấy chữ Merry Christmas! Tôi nghĩ người Việt Nam không cần phải cẩn thận như vậy. Vì người Việt vẫn hòa nhượng, bao dung, đối với tôn giáo. Và mình vẫn tin nhau còn là người Việt, vẫn giữ được các nết tốt đó, không kiêng kỵ, không chấp nê như dân Mỹ gần đây.
Người Mỹ không muốn chúc nhau “Merry Christmas” chỉ vì chữ trong đó có“Christ,” tức là Chúa. Nhiều người Mỹ nghĩ rằng khi nói với ai “Mừng Chist” tức là người nói mặc nhiên coi như người nghe cũng tin và thờ phượng Chúa Ki Ri Xi Tô như mình! Và họ sợ khi mặc nhiên nghĩ như thế là xúc phạm người khác, nếu người ta không chia sẻ niềm tin. Cho nên hiện nay, theo cuộc nghiên cứu của Religion News Service (Tin tức Tôn giáo) thì chỉ có một nửa người Mỹ (50%) còn chúc nhau “Merry Christmas.” Nửa còn lại họ chỉ chúc nhau “Happy Holidays” trong dịp lễ Giáng Sinh này. Holidays nghĩa là ngày Lễ Hội, nghe không nhuốm màu sắc tôn giáo nào cả.
Chúng ta thông cảm với những người Mỹ theo đạo Chúa khi họ không muốn bị hiểu lầm là đang ép người khác đạo phải chia sẻ một niềm tin với mình. Dù người được chúc không tin tưởng tôn giáo nào khác, thì vẫn nên tránh! Vì quả thực có nhiều người “vô thần cực đoan” cũng khó tính và quá khích không kém gì những người cực đoan trong tín ngưỡng. Họ không muốn bị người khác nghĩ là họ có tôn giáo, làm như là sợ “phạm tội với quỷ thần” vậy!
Các cửa hàng bán lẻ đã chiều theo ý những người khó tính đó; mấy năm nay họ đã kiêng cữ không trang trí cửa hàng với những hàng chữ “Merry Christmas” nữa. Ở đâu cũng chỉ thấy những chữ “Happy Holidays” thôi! Nhưng trong chữ “Holidays” cũng chứa đựng một niềm tin rồi, vì Holy cũng có nghĩa là linh thiêng. Nếu muốn tránh không tỏ ra mình tin vào Chúa Giê Su thì tại sao lại vẫn nói rằng ngày kỷ niệm Chúa Giáng Sinh là một thời gian thiêng liêng? Mà nhiều người chúc “Merry Christmas” mà trong lòng thực sự có nghĩ gì đến Christ đâu? Bắt nhau kiêng cữ chỉ vì một chữ như vậy là cố tình chẻ sợi tóc làm tư để bắt bẻ nhau.
Người Mỹ kiêng cữ như vậy một phần vì ở xứ này người ta rất nhạy cảm trước các vấn đề tôn giáo hoặc màu da. Họ lo bị gán cho tội kỳ thị tôn giáo, và không ai muốn bị coi là có đầu óc kỳ thị chủng tộc. Mối lo đó bắt nguồn trong lịch sử. Lịch sử Mỹ đã từng trải qua những thời gian kỳ thị chủng tộc (người Mỹ da trắng khinh rẻ người da đen gốc Phi Châu) hoặc kỳ thị tôn giáo (nhiều giáo phái Tin Lành đã từng kỳ thị người theo đạo Công Giáo La Mã, còn người Do Thái Giáo thì bị đa số kỳ thị). Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20 nhiều người di dân đã tới nước Mỹ sống chỉ vì họ đã bị kỳ thị chủng tộc và tôn giáo ở đất nước cũ của họ. Dân Mỹ đã phải tranh đấu rất nhiều đời mới xóa bỏ được những tập quán và luật lệ phân biệt chủng tộc hay tôn giáo; bây giờ không muốn nhắc lại cái quá khứ đáng xấu hổ đó nữa. Ngược lại, nhiều nhóm người trước đây đã bị kỳ thị, nay cũng muốn xác định quyền bình đẳng của họ. Vì những lý do đó nên có phong trào bỏ không chúc nhau “Merry Christmas” nữa.
Chúng tôi không phê phán cách nói năng, cư xử của người Mỹ. Họ có lối sống của họ. Nhưng đối với người Việt Nam riêng với nhau, chúng ta không cần dè dặt, kỹ lưỡng đến như vậy. Người Việt Nam không có tật kỳ thị tôn giáo như nhiều giống dân khác. Linh Mục Alexandre de Rhodes đến Việt Nam vào đầu thế kỷ 17 đã được vào giảng đạo trong cung Vua Lê và phủ Chúa Trịnh. Trong hai năm đã có gần bảy ngàn người theo đạo, trong đó có hàng trăm người trong cung, phủ. Vào thế kỷ 17, hàng trăm giáo dân và giáo sĩ người Nhật Bản đã sang tị nạn ở Hội An nước ta khi ở Nhật bị cấm đạo. Chính họ cùng với người Bồ Ðào Nha là những nhà truyền đạo Công Giáo đầu tiên ở Ðàng Trong. Những hành động cấm đạo sau này phần lớn vì lý do chính trị khi thấy tôn giáo mới có nhiều điều trái ngược với phong tục tập quán cổ truyền; có thể khiến người dân coi lòng trung thành với vua chúa là thứ yếu, không quan trọng; và mối nghi ngờ các giáo sĩ làm gián điệp cho ngoại bang. Nếu gạt bỏ hết những mối nghi ngại trên thì người Việt Nam không ai kỳ thị tôn giáo nào nữa. Ở nước Việt Nam có nhiều người theo Hồi Giáo, chưa bao giờ thấy họ bị chính quyền hay người dân đối xử phân biệt vì tín ngưỡng của họ. Có những tôn giáo mới được thành lập trong thế kỷ trước và phát triển rất nhanh, không bị chèn ép hay nghi kỵ. Ngay cả những Ông Ðạo, một mình đề xướng những cách tu hành mới, những lễ nghi thờ phụng mới, thu hút rất nhiều tín đồ, họ cũng không bị ai cấm đoán hay đả kích, bài bác. Người Việt rất khoan nhượng, bao dung về tín ngưỡng.
Bởi vậy, chúng tôi ngạc nhiên khi nhận được thiệp chúc mừng của người bạn với hàng chữ “Chúc Mừng Lễ Hội Cuối Năm!” Chắc vì ông lo mình sẽ xúc phạm tới những người bạn không theo đạo Chúa. Tính thận trọng đó rất đáng quý. Nhưng ông đã đối xử với bạn bè người Việt theo lối người Mỹ đối xử với người Mỹ. Cư xử như người Mỹ không phải là điều xấu. Người Mỹ có tính cẩn thận, họ cố ý tránh không để bị ai nghi ngờ mình áp đặt tôn giáo của mình trên người ta. Ðức cẩn thận đó đáng quý. Tức là đáng quý giữa người Mỹ với nhau.
Nhưng giữa người Việt với nhau thì khác, dù đang sống trong nước Mỹ. Người Việt Nam không duy lý như người Mỹ. Không thích kiện cáo, bắt bẻ nhau về những quyền lợi riêng theo lối người Mỹ. Giữa người Việt với nhau, chúng ta không cần phải kiêng cữ như vậy! Người Mỹ hay tranh cãi, bắt bẻ nhau về thái độ đối với tôn giáo hơn người Việt, vì họ bị quá khứ ám ảnh. Nếu trong lịch sử các nước Âu Châu không có những cuộc chiến tranh tôn giáo, không có những vụ đàn áp, hành hình người Do Thái viện cớ tôn giáo để cướp đoạt tài sản, thì chắc người Mỹ cũng giản dị giống như người mình mà thôi. Có thể trong một vài thế kỷ nữa thì người Mỹ cũng sẽ bớt bị ám ảnh về quá khứ, họ cũng sẽ cư xử như người Việt. Cho nên, ngay bây giờ người mình không nên bắt chước người Mỹ mà quá cẩn thận, e dè, nghi ngại khi chúc mừng nhau ngày lễ Giáng Sinh. Ðối với người Việt, chính lòng nghi ngại, e dè đó mới có vẻ xúc phạm. Ngược lại, bày tỏ lòng tin tưởng vào đức khoan dung của ai tức là đang kính trọng họ.
Tinh thần hòa nhượng, bao dung về tôn giáo vẫn được thể hiện trong cộng đồng người Việt. Tại buổi hôn lễ của cháu gái tôi, vị linh mục biết cô dâu đã giữ đạo Phật, ông đã lên tiếng cảm ơn gia đình cô dâu vì dù họ thuộc tôn giáo khác nhưng vẫn tới dự thánh lễ. Ông nhắc lại lời cảm ơn này hai lần, lúc đầu và cuối buổi lễ. Trước khi chấm dứt ông còn chúc “Trời Phật phù hộ” cho đôi trẻ. Ðã mấy lần, trong mấy nhà thờ khác nhau, tôi đã nghe thấy những vị linh mục trên bục giảng nói hai tiếng Trời Phật như thế.
Chúng ta cần nuôi dưỡng truyền thống bao dung của dân tộc. Cần tin tưởng vào đức bao dung đó. Bao dung về tín ngưỡng là một đức tính mà chúng ta nên thể hiện trong đời, để đóng góp cho xã hội chung quanh nơi mình đang sống, như ở nước Mỹ đây.
Nói như vậy, xin nhắc lại, không phải vì mình nghĩ người Mỹ nói chung thua kém người mình trong đức bao dung. Phải công nhận rằng từ trước khi lập quốc họ đã phải vất vả mới bảo vệ được chính sách bao dung về tín ngưỡng. Khi những nhóm di dân đầu tiên đến đất Mỹ, có những người đã bị bức hại về tôn giáo ở bên Anh nên phải trốn đi. Trong số đó có những người theo Thành Giáo (dịch chữ Puritan). Khi tới miền đất mới, họ được tự do hành đạo nhưng có lúc họ muốn bắt mọi người chung quanh phải tôn trọng các tín điều và nghi lễ của họ. Vào thế kỷ 17, có một thời chính quyền ở Boston, tiểu bang Massachussetts bây giờ đã ra lệnh cấm không ai được mừng lễ Giáng Sinh dưới mọi hình thức. Vì tín điều của họ như vậy. Nhưng may mắn cho nước Mỹ là có rất nhiều nhóm theo giáo phái khác không đồng ý, và có những người cương quyết bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do hành đạo. Ông Roger Williams, đã trốn khỏi Anh Quốc đi tìm tự do, tới Massachussetts năm 1631. Ở đâu ông cũng tuyên dương nguyên tắc “Nhà nước không được xâm phạm vào đời sống tín ngưỡng của người dân!” Ông bị trục xuất, phải chạy sang sống ở phần đất bây giờ là tiểu bang Rhode Island. Ở đó, ông tiếp tục tuyên dương quy tắc tự do tín ngưỡng. Cuối cùng thì lẽ phải đã thắng. Lẽ phải, ở đây là quyền tự do tín ngưỡng.
Những di dân đời sau đến nước Mỹ, có người theo đạo Do Thái, đạo Ấn Ðộ, người theo đạo Phật, đạo Hồi, vân vân, được đối xử bình đẳng thì phải biết ơn các thế hệ đi trước đã đấu tranh và bảo vệ tự do tôn giáo. Cũng vì tấm gương những người đã phải tranh đấu cam go như thế mà ngày nay người Mỹ trở nên rất nhạy cảm về vấn đề này. Nhưng người Việt Nam không cần cư xử giống như họ. Vì chúng ta có một di sản lịch sử và văn hóa khác.
Cho nên chúng ta có thể tiếp tục chúc tụng nhau trong những ngày này, “Mừng Chúa Giáng Sinh!” Mà không ai cảm thấy bị xúc phạm cả. Người Việt với nhau, làm gì đến nỗi phải nghĩ là khi ai chúc mình câu “Merry Christmas” tức là người đó muốn mình phải theo tôn giáo của họ? Người Việt mình đâu có nhỏ nhen, nghi kỵ, ngờ vực nhau một cách tầm thường như thế?
Cho nên, các bạn theo đạo Chúa xin cứ nói tự nhiên: “Mừng Chúa Giáng Sinh!” Những người không tin đạo Chúa vẫn có thể nghe lời chúc tụng đó mà trong lòng thật sự thấy vui mừng. Tại sao không? Loài người được coi là biết sống tử tế với nhau vì biết cùng nhau chia sẻ những niềm vui hay nỗi buồn một cách chân thật. Nhiều khi chúng ta ở trong tiệm ăn, thấy bàn bên cạnh người ta thắp nến và hát một bài mừng sinh nhật, chúng ta cũng sẵn sàng hát theo và đứng dậy nói những lời chúc tụng. Chúc mừng một người không quen biết, không hề nghĩ sẽ có ngày được người đó chúc lại, bởi vì chúng ta tử tế với nhau. Sống tử tế giữa con người với con người. Gặp bất cứ ai, thấy người ta có điều vui mừng, mình đều sẵn sàng chia sẻ niềm vui. Hôm nay, hàng tỷ người trên thế giới đang mừng ngày Chúa Giê Su ra đời. Bao nhiêu ngàn triệu con người, suốt hai ngàn năm qua, đã được sống lương hảo, đã được sống bình an nhờ ngày lễ Giáng Sinh này. Có lẽ nào chúng ta không chia sẻ với nhau một niềm vui chung của nhân loại?
Ngô Nhân Dụng
Tôi là một Phật tử, nhưng tôi không ngần ngại gì khi viết: “Mừng Chúa Giáng Sinh.” Cũng như bữa rồi khi tôi gặp một vị linh mục ở phi trường, trước khi chia tay tôi thay lời chào bằng câu chúc: “Merry Christmas, Cha!”
Tôi không nói câu đó theo thói quen. Tôi có suy nghĩ trước khi nói. Có thể nói, lời chúc tụng phát xuất từ trong lòng: Mừng Chúa Giáng Sinh. Vì trong lòng tôi thật sự đang muốn chia sẻ niềm vui với vị linh mục dễ thương, vui vẻ này. Ông sắp mừng ngày Chúa Giáng Sinh, tôi biết, đó sẽ là một ngày rất vui đối với ông.
Hôm nay tôi mới nhận được một “thiệp mừng” trong email của một người bạn. Ông bạn tôi theo Thiên Chúa Giáo, ông viết: “Chúc Mừng Lễ Hội Cuối Năm!” Cảm tưởng đầu tiên khi đọc những chữ này là: “Ông này Mỹ quá!”
Ông bạn tôi đang nhiễm một cái tính cẩn thận của người Mỹ bây giờ. Ở nước Mỹ đang có một phong trào tránh né không chúc nhau “Merry Christmas” nữa. Ði mua sắm thì được, tặng quà nhau vẫn tặng, tất cả chỉ vì Christmas, lễ Chúa Giáng Sinh. Các nhà sản xuất, các cửa hàng buôn đều chờ đến ngày Christmas để bán hàng. Bộ Thương Mại chờ số thống kê coi trong dịp lễ Christmas kinh tế có lên không. Ai cũng chờ Christmas. Nhưng lại tránh, không dám nhắc đến mấy chữ Merry Christmas! Tôi nghĩ người Việt Nam không cần phải cẩn thận như vậy. Vì người Việt vẫn hòa nhượng, bao dung, đối với tôn giáo. Và mình vẫn tin nhau còn là người Việt, vẫn giữ được các nết tốt đó, không kiêng kỵ, không chấp nê như dân Mỹ gần đây.
Người Mỹ không muốn chúc nhau “Merry Christmas” chỉ vì chữ trong đó có“Christ,” tức là Chúa. Nhiều người Mỹ nghĩ rằng khi nói với ai “Mừng Chist” tức là người nói mặc nhiên coi như người nghe cũng tin và thờ phượng Chúa Ki Ri Xi Tô như mình! Và họ sợ khi mặc nhiên nghĩ như thế là xúc phạm người khác, nếu người ta không chia sẻ niềm tin. Cho nên hiện nay, theo cuộc nghiên cứu của Religion News Service (Tin tức Tôn giáo) thì chỉ có một nửa người Mỹ (50%) còn chúc nhau “Merry Christmas.” Nửa còn lại họ chỉ chúc nhau “Happy Holidays” trong dịp lễ Giáng Sinh này. Holidays nghĩa là ngày Lễ Hội, nghe không nhuốm màu sắc tôn giáo nào cả.
Chúng ta thông cảm với những người Mỹ theo đạo Chúa khi họ không muốn bị hiểu lầm là đang ép người khác đạo phải chia sẻ một niềm tin với mình. Dù người được chúc không tin tưởng tôn giáo nào khác, thì vẫn nên tránh! Vì quả thực có nhiều người “vô thần cực đoan” cũng khó tính và quá khích không kém gì những người cực đoan trong tín ngưỡng. Họ không muốn bị người khác nghĩ là họ có tôn giáo, làm như là sợ “phạm tội với quỷ thần” vậy!
Các cửa hàng bán lẻ đã chiều theo ý những người khó tính đó; mấy năm nay họ đã kiêng cữ không trang trí cửa hàng với những hàng chữ “Merry Christmas” nữa. Ở đâu cũng chỉ thấy những chữ “Happy Holidays” thôi! Nhưng trong chữ “Holidays” cũng chứa đựng một niềm tin rồi, vì Holy cũng có nghĩa là linh thiêng. Nếu muốn tránh không tỏ ra mình tin vào Chúa Giê Su thì tại sao lại vẫn nói rằng ngày kỷ niệm Chúa Giáng Sinh là một thời gian thiêng liêng? Mà nhiều người chúc “Merry Christmas” mà trong lòng thực sự có nghĩ gì đến Christ đâu? Bắt nhau kiêng cữ chỉ vì một chữ như vậy là cố tình chẻ sợi tóc làm tư để bắt bẻ nhau.
Người Mỹ kiêng cữ như vậy một phần vì ở xứ này người ta rất nhạy cảm trước các vấn đề tôn giáo hoặc màu da. Họ lo bị gán cho tội kỳ thị tôn giáo, và không ai muốn bị coi là có đầu óc kỳ thị chủng tộc. Mối lo đó bắt nguồn trong lịch sử. Lịch sử Mỹ đã từng trải qua những thời gian kỳ thị chủng tộc (người Mỹ da trắng khinh rẻ người da đen gốc Phi Châu) hoặc kỳ thị tôn giáo (nhiều giáo phái Tin Lành đã từng kỳ thị người theo đạo Công Giáo La Mã, còn người Do Thái Giáo thì bị đa số kỳ thị). Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20 nhiều người di dân đã tới nước Mỹ sống chỉ vì họ đã bị kỳ thị chủng tộc và tôn giáo ở đất nước cũ của họ. Dân Mỹ đã phải tranh đấu rất nhiều đời mới xóa bỏ được những tập quán và luật lệ phân biệt chủng tộc hay tôn giáo; bây giờ không muốn nhắc lại cái quá khứ đáng xấu hổ đó nữa. Ngược lại, nhiều nhóm người trước đây đã bị kỳ thị, nay cũng muốn xác định quyền bình đẳng của họ. Vì những lý do đó nên có phong trào bỏ không chúc nhau “Merry Christmas” nữa.
Chúng tôi không phê phán cách nói năng, cư xử của người Mỹ. Họ có lối sống của họ. Nhưng đối với người Việt Nam riêng với nhau, chúng ta không cần dè dặt, kỹ lưỡng đến như vậy. Người Việt Nam không có tật kỳ thị tôn giáo như nhiều giống dân khác. Linh Mục Alexandre de Rhodes đến Việt Nam vào đầu thế kỷ 17 đã được vào giảng đạo trong cung Vua Lê và phủ Chúa Trịnh. Trong hai năm đã có gần bảy ngàn người theo đạo, trong đó có hàng trăm người trong cung, phủ. Vào thế kỷ 17, hàng trăm giáo dân và giáo sĩ người Nhật Bản đã sang tị nạn ở Hội An nước ta khi ở Nhật bị cấm đạo. Chính họ cùng với người Bồ Ðào Nha là những nhà truyền đạo Công Giáo đầu tiên ở Ðàng Trong. Những hành động cấm đạo sau này phần lớn vì lý do chính trị khi thấy tôn giáo mới có nhiều điều trái ngược với phong tục tập quán cổ truyền; có thể khiến người dân coi lòng trung thành với vua chúa là thứ yếu, không quan trọng; và mối nghi ngờ các giáo sĩ làm gián điệp cho ngoại bang. Nếu gạt bỏ hết những mối nghi ngại trên thì người Việt Nam không ai kỳ thị tôn giáo nào nữa. Ở nước Việt Nam có nhiều người theo Hồi Giáo, chưa bao giờ thấy họ bị chính quyền hay người dân đối xử phân biệt vì tín ngưỡng của họ. Có những tôn giáo mới được thành lập trong thế kỷ trước và phát triển rất nhanh, không bị chèn ép hay nghi kỵ. Ngay cả những Ông Ðạo, một mình đề xướng những cách tu hành mới, những lễ nghi thờ phụng mới, thu hút rất nhiều tín đồ, họ cũng không bị ai cấm đoán hay đả kích, bài bác. Người Việt rất khoan nhượng, bao dung về tín ngưỡng.
Bởi vậy, chúng tôi ngạc nhiên khi nhận được thiệp chúc mừng của người bạn với hàng chữ “Chúc Mừng Lễ Hội Cuối Năm!” Chắc vì ông lo mình sẽ xúc phạm tới những người bạn không theo đạo Chúa. Tính thận trọng đó rất đáng quý. Nhưng ông đã đối xử với bạn bè người Việt theo lối người Mỹ đối xử với người Mỹ. Cư xử như người Mỹ không phải là điều xấu. Người Mỹ có tính cẩn thận, họ cố ý tránh không để bị ai nghi ngờ mình áp đặt tôn giáo của mình trên người ta. Ðức cẩn thận đó đáng quý. Tức là đáng quý giữa người Mỹ với nhau.
Nhưng giữa người Việt với nhau thì khác, dù đang sống trong nước Mỹ. Người Việt Nam không duy lý như người Mỹ. Không thích kiện cáo, bắt bẻ nhau về những quyền lợi riêng theo lối người Mỹ. Giữa người Việt với nhau, chúng ta không cần phải kiêng cữ như vậy! Người Mỹ hay tranh cãi, bắt bẻ nhau về thái độ đối với tôn giáo hơn người Việt, vì họ bị quá khứ ám ảnh. Nếu trong lịch sử các nước Âu Châu không có những cuộc chiến tranh tôn giáo, không có những vụ đàn áp, hành hình người Do Thái viện cớ tôn giáo để cướp đoạt tài sản, thì chắc người Mỹ cũng giản dị giống như người mình mà thôi. Có thể trong một vài thế kỷ nữa thì người Mỹ cũng sẽ bớt bị ám ảnh về quá khứ, họ cũng sẽ cư xử như người Việt. Cho nên, ngay bây giờ người mình không nên bắt chước người Mỹ mà quá cẩn thận, e dè, nghi ngại khi chúc mừng nhau ngày lễ Giáng Sinh. Ðối với người Việt, chính lòng nghi ngại, e dè đó mới có vẻ xúc phạm. Ngược lại, bày tỏ lòng tin tưởng vào đức khoan dung của ai tức là đang kính trọng họ.
Tinh thần hòa nhượng, bao dung về tôn giáo vẫn được thể hiện trong cộng đồng người Việt. Tại buổi hôn lễ của cháu gái tôi, vị linh mục biết cô dâu đã giữ đạo Phật, ông đã lên tiếng cảm ơn gia đình cô dâu vì dù họ thuộc tôn giáo khác nhưng vẫn tới dự thánh lễ. Ông nhắc lại lời cảm ơn này hai lần, lúc đầu và cuối buổi lễ. Trước khi chấm dứt ông còn chúc “Trời Phật phù hộ” cho đôi trẻ. Ðã mấy lần, trong mấy nhà thờ khác nhau, tôi đã nghe thấy những vị linh mục trên bục giảng nói hai tiếng Trời Phật như thế.
Chúng ta cần nuôi dưỡng truyền thống bao dung của dân tộc. Cần tin tưởng vào đức bao dung đó. Bao dung về tín ngưỡng là một đức tính mà chúng ta nên thể hiện trong đời, để đóng góp cho xã hội chung quanh nơi mình đang sống, như ở nước Mỹ đây.
Nói như vậy, xin nhắc lại, không phải vì mình nghĩ người Mỹ nói chung thua kém người mình trong đức bao dung. Phải công nhận rằng từ trước khi lập quốc họ đã phải vất vả mới bảo vệ được chính sách bao dung về tín ngưỡng. Khi những nhóm di dân đầu tiên đến đất Mỹ, có những người đã bị bức hại về tôn giáo ở bên Anh nên phải trốn đi. Trong số đó có những người theo Thành Giáo (dịch chữ Puritan). Khi tới miền đất mới, họ được tự do hành đạo nhưng có lúc họ muốn bắt mọi người chung quanh phải tôn trọng các tín điều và nghi lễ của họ. Vào thế kỷ 17, có một thời chính quyền ở Boston, tiểu bang Massachussetts bây giờ đã ra lệnh cấm không ai được mừng lễ Giáng Sinh dưới mọi hình thức. Vì tín điều của họ như vậy. Nhưng may mắn cho nước Mỹ là có rất nhiều nhóm theo giáo phái khác không đồng ý, và có những người cương quyết bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do hành đạo. Ông Roger Williams, đã trốn khỏi Anh Quốc đi tìm tự do, tới Massachussetts năm 1631. Ở đâu ông cũng tuyên dương nguyên tắc “Nhà nước không được xâm phạm vào đời sống tín ngưỡng của người dân!” Ông bị trục xuất, phải chạy sang sống ở phần đất bây giờ là tiểu bang Rhode Island. Ở đó, ông tiếp tục tuyên dương quy tắc tự do tín ngưỡng. Cuối cùng thì lẽ phải đã thắng. Lẽ phải, ở đây là quyền tự do tín ngưỡng.
Những di dân đời sau đến nước Mỹ, có người theo đạo Do Thái, đạo Ấn Ðộ, người theo đạo Phật, đạo Hồi, vân vân, được đối xử bình đẳng thì phải biết ơn các thế hệ đi trước đã đấu tranh và bảo vệ tự do tôn giáo. Cũng vì tấm gương những người đã phải tranh đấu cam go như thế mà ngày nay người Mỹ trở nên rất nhạy cảm về vấn đề này. Nhưng người Việt Nam không cần cư xử giống như họ. Vì chúng ta có một di sản lịch sử và văn hóa khác.
Cho nên chúng ta có thể tiếp tục chúc tụng nhau trong những ngày này, “Mừng Chúa Giáng Sinh!” Mà không ai cảm thấy bị xúc phạm cả. Người Việt với nhau, làm gì đến nỗi phải nghĩ là khi ai chúc mình câu “Merry Christmas” tức là người đó muốn mình phải theo tôn giáo của họ? Người Việt mình đâu có nhỏ nhen, nghi kỵ, ngờ vực nhau một cách tầm thường như thế?
Cho nên, các bạn theo đạo Chúa xin cứ nói tự nhiên: “Mừng Chúa Giáng Sinh!” Những người không tin đạo Chúa vẫn có thể nghe lời chúc tụng đó mà trong lòng thật sự thấy vui mừng. Tại sao không? Loài người được coi là biết sống tử tế với nhau vì biết cùng nhau chia sẻ những niềm vui hay nỗi buồn một cách chân thật. Nhiều khi chúng ta ở trong tiệm ăn, thấy bàn bên cạnh người ta thắp nến và hát một bài mừng sinh nhật, chúng ta cũng sẵn sàng hát theo và đứng dậy nói những lời chúc tụng. Chúc mừng một người không quen biết, không hề nghĩ sẽ có ngày được người đó chúc lại, bởi vì chúng ta tử tế với nhau. Sống tử tế giữa con người với con người. Gặp bất cứ ai, thấy người ta có điều vui mừng, mình đều sẵn sàng chia sẻ niềm vui. Hôm nay, hàng tỷ người trên thế giới đang mừng ngày Chúa Giê Su ra đời. Bao nhiêu ngàn triệu con người, suốt hai ngàn năm qua, đã được sống lương hảo, đã được sống bình an nhờ ngày lễ Giáng Sinh này. Có lẽ nào chúng ta không chia sẻ với nhau một niềm vui chung của nhân loại?
Chuyện gì sẽ xẩy ra sau Đại Hội Đảng csVN Khoá 11
Đại hội đảng csVN lần này cũng giống như những lần đại hội đảng trước kia, chỉ thay đổi nhân sự trong bộ máy BCT của đảng, và cs vẫn là cs. Tuy nhiên, sau đại hội đảng khóa 11 này sẽ có những biến chuyển lớn dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn của đảng csVN.
Biến chuyển thứ nhất: Để quyết tâm duy trì đảng, BCT csVN sẽ có một cuộc thanh trừng trong nội bộ đảng chưa từng có từ trước tới nay của đảng csVN. Cuộc thanh trừ này được chỉ đạo bởi csTàu.
Biến chuyển thứ hai: Sẽ có một cuộc đàn áp phong trào dân chủ và tôn giáo trên toàn quốc.
Biến chuyển thư ba: Kinh tế VN hoàn toàn phá sản.
Biến chuyển thứ tư: csVN tan rã.
Những biến chuyển trên sẽ đưa đến những sự việc như sau:
Cuộc thanh trừng này không nhắm vào những đảng viên có chiều hướng đổi mới dân chủ, mà sẽ những thành phần có chiều hướng bài và chống csTàu. Cuộc thanh trừ này dẫn đến sự xáo trộn từ trung ương đến địa phương của đảng csVN, và BCT đảng csVN mất dần khả năng và quyền lãnh đạo đảng.
Các phong trào đấu tranh dân chủ và tự do tôn giáo càng ngày càng lớn mạnh và có sự hưởng ứng của toàn dân, và sẽ có những cuộc xuống đường đòi hỏi chính phủ csVN phải thực thi những quyền dân chủ. Đó là nguyên nhân csVN sẽ có một cuộc đàng áp, bắt bớ quy mô những người đấu tranh dân chủ trên toàn quốc. Nhưng csVN càng đàn áp thì phong trào đấu tranh càng lớn mạnh.
Những tập đoàn quốc doanh của csVN sẽ vỡ nợ không còn khả năng để hoạt động nữa. Kinh tế VN không phát triển được vì thiếu vốn đầu tư. Công nhân xuống đường đòi thành lập công đoàn độc lập, và những ngành sản xuất bị tê liệt bởi những cuộc đình công của công nhân. Đưa đến, csVN không còn tiền để nuôi bộ máy đảng và chính phủ. Sau cùng đưa đến kinh tế VN hoàn toàn phá sản.
Những sự việc trên đưa tới sự tan rã và cáo chung của đảng csVN. Trong giai đoạn này sẽ xẩy ra những sự việc như sau.
Nguyên Tấn Dũng sẽ bị ám sát chết. Nông Đức Mạnh và một số lãnh đạo BCT sẽ bỏ chạy qua Tàu, Trong số này có Nguyễn Bá Thanh chạy một mình bỏ vợ con lại. Lê Thanh Hải bị dân Sàigòn đánh chết ngoài đường.
Quân đội sẽ giữ vai trò trung lập để người dân thành lập một chính phủ dân chủ mới cho nước VN. VN sẽ có một quốc hội và vị tổng thống dân chủ đầu tiên, mà người này hầu như ai ở trong và ngoài nước cũng mến phục.
Tương lại VN: Cả thế giới sẽ ngạc nhiên đầy thích thú khi nhìn thấy sự phát triển về mọi mặt của VN trong một nước dân chủ tự do. Và chính người VN cũng sẽ ngạc nhiên đầy thích thú và đầy tự hào, bởi vì trong một thời gian rất ngắn VN sẽ theo kịp những nước giàu mạnh trong vùng Á Châu về kinh tế lẫn khoa học. Riêng về khoa học, VN sẽ tiến rất nhanh và rất xa. Trong số những phát minh mới lạ về khoa học sẽ phát xuất từ VN. Có một điều này tất cả người VN sẽ không ngờ tới đó là, VN sẽ là một trong những nước làm từ thiện nhiều nhất trên thế giới.
Nguồn: BaoToQuoc
Biến chuyển thứ nhất: Để quyết tâm duy trì đảng, BCT csVN sẽ có một cuộc thanh trừng trong nội bộ đảng chưa từng có từ trước tới nay của đảng csVN. Cuộc thanh trừ này được chỉ đạo bởi csTàu.
Biến chuyển thứ hai: Sẽ có một cuộc đàn áp phong trào dân chủ và tôn giáo trên toàn quốc.
Biến chuyển thư ba: Kinh tế VN hoàn toàn phá sản.
Biến chuyển thứ tư: csVN tan rã.
Những biến chuyển trên sẽ đưa đến những sự việc như sau:
Cuộc thanh trừng này không nhắm vào những đảng viên có chiều hướng đổi mới dân chủ, mà sẽ những thành phần có chiều hướng bài và chống csTàu. Cuộc thanh trừ này dẫn đến sự xáo trộn từ trung ương đến địa phương của đảng csVN, và BCT đảng csVN mất dần khả năng và quyền lãnh đạo đảng.
Các phong trào đấu tranh dân chủ và tự do tôn giáo càng ngày càng lớn mạnh và có sự hưởng ứng của toàn dân, và sẽ có những cuộc xuống đường đòi hỏi chính phủ csVN phải thực thi những quyền dân chủ. Đó là nguyên nhân csVN sẽ có một cuộc đàng áp, bắt bớ quy mô những người đấu tranh dân chủ trên toàn quốc. Nhưng csVN càng đàn áp thì phong trào đấu tranh càng lớn mạnh.
Những tập đoàn quốc doanh của csVN sẽ vỡ nợ không còn khả năng để hoạt động nữa. Kinh tế VN không phát triển được vì thiếu vốn đầu tư. Công nhân xuống đường đòi thành lập công đoàn độc lập, và những ngành sản xuất bị tê liệt bởi những cuộc đình công của công nhân. Đưa đến, csVN không còn tiền để nuôi bộ máy đảng và chính phủ. Sau cùng đưa đến kinh tế VN hoàn toàn phá sản.
Những sự việc trên đưa tới sự tan rã và cáo chung của đảng csVN. Trong giai đoạn này sẽ xẩy ra những sự việc như sau.
Nguyên Tấn Dũng sẽ bị ám sát chết. Nông Đức Mạnh và một số lãnh đạo BCT sẽ bỏ chạy qua Tàu, Trong số này có Nguyễn Bá Thanh chạy một mình bỏ vợ con lại. Lê Thanh Hải bị dân Sàigòn đánh chết ngoài đường.
Quân đội sẽ giữ vai trò trung lập để người dân thành lập một chính phủ dân chủ mới cho nước VN. VN sẽ có một quốc hội và vị tổng thống dân chủ đầu tiên, mà người này hầu như ai ở trong và ngoài nước cũng mến phục.
Tương lại VN: Cả thế giới sẽ ngạc nhiên đầy thích thú khi nhìn thấy sự phát triển về mọi mặt của VN trong một nước dân chủ tự do. Và chính người VN cũng sẽ ngạc nhiên đầy thích thú và đầy tự hào, bởi vì trong một thời gian rất ngắn VN sẽ theo kịp những nước giàu mạnh trong vùng Á Châu về kinh tế lẫn khoa học. Riêng về khoa học, VN sẽ tiến rất nhanh và rất xa. Trong số những phát minh mới lạ về khoa học sẽ phát xuất từ VN. Có một điều này tất cả người VN sẽ không ngờ tới đó là, VN sẽ là một trong những nước làm từ thiện nhiều nhất trên thế giới.
Nguồn: BaoToQuoc
Không nhổ neo, không thể ra khơi
BùI Tín viết riêng cho VOA Chỉ còn hơn 2 tuần nữa là khai mạc Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tại kỳ họp thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X), các văn kiện dự thảo đã được thông qua lần cuối, danh sách nhân sự khóa XI cũng đã được quyết định. Mọi nội dung quan trọng nhất đều đã được «nhất trí» cao, từ Cương lĩnh, đường lối, chính sách quá độ lên chủ nghĩa xã hội đến Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho 10 năm, cho 20 năm nữa, cũng như danh sách 1.400 đại biểu, gần 200 ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và 15 (hoặc 17) ủy viên Bộ Chính trị khoá XI (20011-2016) đều đã được thông qua cả rồi.
Từ ngày 12 đến ngày 19-1-2011, tại hội trường lớn, đầy cờ, hoa, khẩu hiệu đỏ vàng, có cả dàn nhạc, trống kèn, chỉ là để trình diễn công khai, để quay phim, chụp ảnh, ghi vào biên bản, công bố trên báo chí các bản báo cáo, văn kiện dài dòng, các tham luận trịnh trọng,các lời chào mừng nồng nhiệt, xen lẫn những tràng vỗ tay kéo dài…
Theo nguyên lý dân chủ tập trung, có nghĩa là dân chủ có chỉ đạo, dân chủ có định hướng, cũng là dân chủ bị chặn đầu, bị chẹn cổ, mọi sự đã được quyết định trước cả rồi. Mọi sự đều xuôi chiều, trôi chảy, biết trước, được người dân gọi là «tiền chế». Các đoàn đại biểu đều cử trưởng đoàn đọc tham luận thay mặt đoàn mình. Sẽ không có tranh luận gì đáng kể, không có cọ xát ý kiến gì gay gắt. Dân chủ tập trung nó là như thế. Dân chủ lạ đời!
Sẽ có đến hơn 1 ngàn đại biểu đến đại hội chỉ để đứng lên, ngồi xuống, vỗ tay, giơ tay biểu quyết, hô khẩu hiệu, rồi tha hồ nghỉ ngơi, ăn uống, xem hát, nhảy múa, xem kịch, ăn tiệc, ăn cỗ, nhận phụ cấp, nhận quà, ưỡn ngực sung sướng vì được mang danh hiệu «Đại biểu Đại hội đảng CS lần thứ XI» mà chẳng cần suy nghĩ gì, chẳng cần đứng dậy phát biểu câu nào, còn có thể ngủ gật, hay nghĩ đến chuyện tối nay rủ nhau đi tươi mát riêng…
Cả 3 Đại hội IV (1976), Đại hội V (1981), Đại hội VI (1986), tôi đều chứng kiến từ khai mạc đến bế mạc, đều nhàm chán, hình thức, tẻ nhạt như thế cả.
Quả thật cũng có vài lúc có kịch tính. Vài lúc thôi. Đó là tại Đại hội đảng toàn quân năm 1976, 2 Đại tướng Văn Tiến Dũng và Chu Huy Mân được đoàn chủ tịch đại hội giới thiệu trong danh sách đại biểu đi dự đại hội toàn quốc, khi bỏ phiếu kín, cả 2 ông bị trượt (tướng Dũng do vấn đề chiến lợi phẩm 30-4-1975 ở Sài Gòn, tướng Mân do dùng công binh xây gấp bể bơi riêng).
Lần nữa, mang kịch tính cao hơn là tại Đại hội VI (1986), do ảnh hưởng đổi mới của đảng CS Liên Xô. Ngay trước hôm bế mạc, đa số các đoàn gặp nhau bàn việc đề cử bộ ba: Tổng bí thư Trưòng Chinh, Chủ tịch nước Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Võ Nguyên Giáp, (rồi tiếp đó Bộ trưởng Quốc phòng có thể là Trần Văn Trà), coi như đã xong xuôi, thì ngay đêm đó, ông Lê Đức Thọ biết tin này, nảy ra sáng kiến để phá đám: «Yêu cầu anh Thận (Trường Chinh), anh Tô (Phạm Văn Đồng) và tôi (Lê Đức Thọ) sáng mai cả ba cùng xin nghỉ để nhận chức cố vấn cho Trung ương, vì tuổi cao sức yếu, nán ở thêm sẽ bị coi là tham quyền cố vị». Ngay đêm đó, ông Nguyễn Khánh, phó thủ tướng, mang đề nghị này đến tận nhà ông Trường Chinh và ông Phạm Văn Đồng để ép 2 ông phải đồng thuận. Và ngay sau đó ông Thọ đề ra sáng kiến về một bộ ba khác: «Anh Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) làm Tổng bí thư, anh Võ Chí Công làm Chủ tịch nước và anh Phạm Hùng làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưỏng (tên gọi của Thủ tướng lúc bấy giờ». Đề nghị này được ép thông qua sáng hôm sau. Hồi ấy ở Câu lạc bộ Ba Đình người ta gọi đó là một cuộc «Đảo chính cung đình », và Đại hội VI được gọi là «Đại hội của ông Sáu» (Sáu Thọ).
Sau 2 màn kịch hiếm có như thế, Bộ Chính trị các khóa tiếp đều cảnh giác để ngăn ngừa không để xảy ra một lần nào «bị trật đường rầy», vi phạm dân chủ tập trung như thế.
Cho nên hiện nay, khi chuẩn bị cho Đại hội XI, mới có những chuyện dân chủ thụt lùi, cấm phản biện công khai, cấm các báo đài không được đăng những ý kiến trái với những đường lối chính sách hiện hành của đảng và nhà nước, cấm tất cả báo lề phải không được đăng tin, biên bản cuộc hội thảo của 22 trí thức đảng viên cao cấp, cấm không được phổ biến bài trả lời phỏng vấn của nguyên chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, cũng như những bài viết của các tướng Đồng Sỹ Nguyên, Nguyễn Trọng Vĩnh, cùng bài phát biểu của công dân Nguyễn Nguyên Bình, nhà báo, con gái của tướng Vĩnh, cũng như bài phát biểu mạnh mẽ của đảng viên kỳ cựu Lê Hữu Đắng, luật gia, hiện là phó chủ tịch của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc.
Thì ra khi Bộ Chính trị mời gọi mọi đảng viên và người dân góp ý «thẳng thắn, chân thành» vào các văn kiện Đại hội XI chỉ là mời xã giao, lịch sự, cho phải đạo, thật ra chỉ là đóng kịch một cách vụng về, phơi bày một văn hóa lãnh đạo vô văn hóa, hỗn xược, không hơn không kém.
Vậy mà trong diễn văn bế mạc, ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh vẫn nói không chút ngượng ngùng rằng kỳ họp Trung ương 14 đã tiếp thu những ý kiến tâm huyết, chân thành của đảng viên và nhân dân để bổ sung vào các văn kiện. Có ai tin được!
Do đó mà biết bao ý kiến tâm huyết nhất, chân thành - nhất là ý kiến kêu gọi từ bỏ dứt khoát chủ nghĩa Marx – Lenin, từ bỏ Chủ nghĩa xã hội còn mù mờ không sáng tỏ, từ bỏ chế độ đảng trị - Bộ Chính trị là ông «Vua tập thể 15 đầu», từ bỏ «chế độ quốc doanh là chủ đạo» cực kỳ tệ hại, coi đó là 4 hiểm họa kìm hãm đất nước phát triển bền vững, ngăn cản xã hội thực hiện công bằng, bình đẳng và văn minh.
Có thể coi đó là bốn xiềng xích, nối liền với 4 mỏ neo giáo điều kiên cố và cổ hủ, ngăn cản con tàu Việt Nam phóng ra khơi lộng gió thời đại, gia nhập hàng ngũ những con tàu của thời đại. Có thể gọi Đại hội XI là Đại hội của 4 mỏ neo cổ lỗ buộc chặt đất nước ta vào dĩ vãng giáo điều, kìm hãm nước ta vào cảnh lạc hậu triền miên, bất công và tham nhũng tràn lan, mãi mãi ở vào thế Bắc thuộc nguy hiểm, ngăn cản sự hòa nhập quả đoán và toàn diện của Việt Nam vào thế giới của dân chủ đầy đủ, của tự do hoàn toàn, của hạnh phúc bền lâu cho toàn dân.
Đại dương lộng gió thời đại đang vẫy gọi! Có đại biểu nào trong số 1.400 đại biểu của Đại hội XI cảm thấy ngọn gió ấy của thời đại?
BùI Tín
BùI Tín viết riêng cho VOA Chỉ còn hơn 2 tuần nữa là khai mạc Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tại kỳ họp thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X), các văn kiện dự thảo đã được thông qua lần cuối, danh sách nhân sự khóa XI cũng đã được quyết định. Mọi nội dung quan trọng nhất đều đã được «nhất trí» cao, từ Cương lĩnh, đường lối, chính sách quá độ lên chủ nghĩa xã hội đến Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho 10 năm, cho 20 năm nữa, cũng như danh sách 1.400 đại biểu, gần 200 ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và 15 (hoặc 17) ủy viên Bộ Chính trị khoá XI (20011-2016) đều đã được thông qua cả rồi.
Từ ngày 12 đến ngày 19-1-2011, tại hội trường lớn, đầy cờ, hoa, khẩu hiệu đỏ vàng, có cả dàn nhạc, trống kèn, chỉ là để trình diễn công khai, để quay phim, chụp ảnh, ghi vào biên bản, công bố trên báo chí các bản báo cáo, văn kiện dài dòng, các tham luận trịnh trọng,các lời chào mừng nồng nhiệt, xen lẫn những tràng vỗ tay kéo dài…
Theo nguyên lý dân chủ tập trung, có nghĩa là dân chủ có chỉ đạo, dân chủ có định hướng, cũng là dân chủ bị chặn đầu, bị chẹn cổ, mọi sự đã được quyết định trước cả rồi. Mọi sự đều xuôi chiều, trôi chảy, biết trước, được người dân gọi là «tiền chế». Các đoàn đại biểu đều cử trưởng đoàn đọc tham luận thay mặt đoàn mình. Sẽ không có tranh luận gì đáng kể, không có cọ xát ý kiến gì gay gắt. Dân chủ tập trung nó là như thế. Dân chủ lạ đời!
Sẽ có đến hơn 1 ngàn đại biểu đến đại hội chỉ để đứng lên, ngồi xuống, vỗ tay, giơ tay biểu quyết, hô khẩu hiệu, rồi tha hồ nghỉ ngơi, ăn uống, xem hát, nhảy múa, xem kịch, ăn tiệc, ăn cỗ, nhận phụ cấp, nhận quà, ưỡn ngực sung sướng vì được mang danh hiệu «Đại biểu Đại hội đảng CS lần thứ XI» mà chẳng cần suy nghĩ gì, chẳng cần đứng dậy phát biểu câu nào, còn có thể ngủ gật, hay nghĩ đến chuyện tối nay rủ nhau đi tươi mát riêng…
Cả 3 Đại hội IV (1976), Đại hội V (1981), Đại hội VI (1986), tôi đều chứng kiến từ khai mạc đến bế mạc, đều nhàm chán, hình thức, tẻ nhạt như thế cả.
Quả thật cũng có vài lúc có kịch tính. Vài lúc thôi. Đó là tại Đại hội đảng toàn quân năm 1976, 2 Đại tướng Văn Tiến Dũng và Chu Huy Mân được đoàn chủ tịch đại hội giới thiệu trong danh sách đại biểu đi dự đại hội toàn quốc, khi bỏ phiếu kín, cả 2 ông bị trượt (tướng Dũng do vấn đề chiến lợi phẩm 30-4-1975 ở Sài Gòn, tướng Mân do dùng công binh xây gấp bể bơi riêng).
Lần nữa, mang kịch tính cao hơn là tại Đại hội VI (1986), do ảnh hưởng đổi mới của đảng CS Liên Xô. Ngay trước hôm bế mạc, đa số các đoàn gặp nhau bàn việc đề cử bộ ba: Tổng bí thư Trưòng Chinh, Chủ tịch nước Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Võ Nguyên Giáp, (rồi tiếp đó Bộ trưởng Quốc phòng có thể là Trần Văn Trà), coi như đã xong xuôi, thì ngay đêm đó, ông Lê Đức Thọ biết tin này, nảy ra sáng kiến để phá đám: «Yêu cầu anh Thận (Trường Chinh), anh Tô (Phạm Văn Đồng) và tôi (Lê Đức Thọ) sáng mai cả ba cùng xin nghỉ để nhận chức cố vấn cho Trung ương, vì tuổi cao sức yếu, nán ở thêm sẽ bị coi là tham quyền cố vị». Ngay đêm đó, ông Nguyễn Khánh, phó thủ tướng, mang đề nghị này đến tận nhà ông Trường Chinh và ông Phạm Văn Đồng để ép 2 ông phải đồng thuận. Và ngay sau đó ông Thọ đề ra sáng kiến về một bộ ba khác: «Anh Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) làm Tổng bí thư, anh Võ Chí Công làm Chủ tịch nước và anh Phạm Hùng làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưỏng (tên gọi của Thủ tướng lúc bấy giờ». Đề nghị này được ép thông qua sáng hôm sau. Hồi ấy ở Câu lạc bộ Ba Đình người ta gọi đó là một cuộc «Đảo chính cung đình », và Đại hội VI được gọi là «Đại hội của ông Sáu» (Sáu Thọ).
Sau 2 màn kịch hiếm có như thế, Bộ Chính trị các khóa tiếp đều cảnh giác để ngăn ngừa không để xảy ra một lần nào «bị trật đường rầy», vi phạm dân chủ tập trung như thế.
Cho nên hiện nay, khi chuẩn bị cho Đại hội XI, mới có những chuyện dân chủ thụt lùi, cấm phản biện công khai, cấm các báo đài không được đăng những ý kiến trái với những đường lối chính sách hiện hành của đảng và nhà nước, cấm tất cả báo lề phải không được đăng tin, biên bản cuộc hội thảo của 22 trí thức đảng viên cao cấp, cấm không được phổ biến bài trả lời phỏng vấn của nguyên chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, cũng như những bài viết của các tướng Đồng Sỹ Nguyên, Nguyễn Trọng Vĩnh, cùng bài phát biểu của công dân Nguyễn Nguyên Bình, nhà báo, con gái của tướng Vĩnh, cũng như bài phát biểu mạnh mẽ của đảng viên kỳ cựu Lê Hữu Đắng, luật gia, hiện là phó chủ tịch của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc.
Thì ra khi Bộ Chính trị mời gọi mọi đảng viên và người dân góp ý «thẳng thắn, chân thành» vào các văn kiện Đại hội XI chỉ là mời xã giao, lịch sự, cho phải đạo, thật ra chỉ là đóng kịch một cách vụng về, phơi bày một văn hóa lãnh đạo vô văn hóa, hỗn xược, không hơn không kém.
Vậy mà trong diễn văn bế mạc, ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh vẫn nói không chút ngượng ngùng rằng kỳ họp Trung ương 14 đã tiếp thu những ý kiến tâm huyết, chân thành của đảng viên và nhân dân để bổ sung vào các văn kiện. Có ai tin được!
Do đó mà biết bao ý kiến tâm huyết nhất, chân thành - nhất là ý kiến kêu gọi từ bỏ dứt khoát chủ nghĩa Marx – Lenin, từ bỏ Chủ nghĩa xã hội còn mù mờ không sáng tỏ, từ bỏ chế độ đảng trị - Bộ Chính trị là ông «Vua tập thể 15 đầu», từ bỏ «chế độ quốc doanh là chủ đạo» cực kỳ tệ hại, coi đó là 4 hiểm họa kìm hãm đất nước phát triển bền vững, ngăn cản xã hội thực hiện công bằng, bình đẳng và văn minh.
Có thể coi đó là bốn xiềng xích, nối liền với 4 mỏ neo giáo điều kiên cố và cổ hủ, ngăn cản con tàu Việt Nam phóng ra khơi lộng gió thời đại, gia nhập hàng ngũ những con tàu của thời đại. Có thể gọi Đại hội XI là Đại hội của 4 mỏ neo cổ lỗ buộc chặt đất nước ta vào dĩ vãng giáo điều, kìm hãm nước ta vào cảnh lạc hậu triền miên, bất công và tham nhũng tràn lan, mãi mãi ở vào thế Bắc thuộc nguy hiểm, ngăn cản sự hòa nhập quả đoán và toàn diện của Việt Nam vào thế giới của dân chủ đầy đủ, của tự do hoàn toàn, của hạnh phúc bền lâu cho toàn dân.
Đại dương lộng gió thời đại đang vẫy gọi! Có đại biểu nào trong số 1.400 đại biểu của Đại hội XI cảm thấy ngọn gió ấy của thời đại?
BùI Tín
THỜI KỲ QUÁ ĐỘ CỘNG SẢN LÊN
THỜI ĐẠI NHÂN CHỦ NHÂN VĂN TOÀN CẦU
Nhóm cầm đầu cộng sản Việtnam đang tự lừa mình dối người, bịp bợm toàn đảng, toàn quân, toàn dân bằng khẩu hiệu: “Việtnam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”. Đích ra lịch sử hiện đại đã nhãn tiền lên tiếng khẳng định: “Chủ Nghĩa Xã Hội đã chết tiệt”. Chết mất xác, mất luôn cả hồn tại quê hương gọi là ‘cách mạng cộng sản Liênxô’ và ở các nước chư hầu Đông Âu của nó, kể từ năm 1991. Rồi ngày nay, đã bị cả Loài Người kết án là một chủ nghĩa bạo tàn, phi nhân tính, phi văn hóa, vô đạo đức, nó đã 74 năm, hèn hóa, khủng bố, đầy đọa Con Người ở những Dân Tộc do nó thống trị, và giết hại tới một trăm triệu người vô tội trên toàn thế giới. Thứ chủ nghĩa quái ác ấy giờ đây vẫn còn hiện diện ở vài ba nước nghèo khó. Điển hình là tại Bắc Triều Tiên, với một hệ thống cầm quyền của lãnh tụ độc tài, chuyên chính, điên loạn, cha truyền con nối. Đẩy toàn dân vào cảnh đói khổ thường xuyên. Luôn luôn tạo ra mối đe dọa về chiến tranh nguyên tử đối với thế giới. Khiến cho quốc tế coi như ‘đồ hủi’, ngay cả nước đàn anh của họ là Trungcộng cũng đang muốn ruồng bỏ. Thế còn ở Trunghoa, tuy trên danh nghĩa họ vẫn tự nhận mình là nước cộng sản, nhưng liệu họ còn có trung thành với thứ chủ nghĩa xã hội hoang tưởng đó nữa hay không? Xin thưa rằng: Không! Ngay từ thời Mao Trạch Đông và các người tiên khởi của Phong Trào Cộng Sản Trung Hoa, họ đã có chủ trương chỉ dùng chế độ độc đảng, độc tài toàn trị, cùng một nội dung như chế độ Quân Chủ độc tôn, để thay thế cho chế độ phong kiến cổ hủ, kiên cố của truyền thống Trunghoa, đã làm cho quốc dân và xã hội Trunghoa trở thành bệnh hoạn trước mắt người Tây Phương và Nhậtbản. Nhằm phục hồi vị thế Đế Quốc Đại Hán xưa kia. Đến thời Đặng Tiểu Bình thì điều đó càng được rõ nét thêm với khẩu hiệu “Xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa mang sắc thái đặc thù Trungquốc”.Tức là sắc thái Đại Đế Quốc Bành Trướng. Từ đấy mở đường cho đảng viên Trungcộng hăm hở tham nhũng và làm giầu bất chính. Nhưng vẫn góp sức cho đảng cộng sản độc quyền chính trị, độc quyền cai trị, độc quyền kinh tế, toàn quyền ‘phong hầu, kiến nghiệp’ thay ‘phong hầu, kiến điạ’ cho con cháu, giòng tộc của các lãnh tụ đảng. Bọn đó nghiễm nhiên trở thành các nhà tài phiệt khổng lồ. Nhà nước trở thành nhà thầu cung cấp công nhân rẻ mạt cho các hãng tư bản ngoại quốc. Nước Trunghoa thoáng nhìn bề ngoài thì đúng là có mức kinh tế phát triển đáng nể. Nhưng đi sâu vào cuộc sống quốc dân thì sẽ nhận thấy cái hố giầu nghèo quá cách biệt, rất dễ sụp đổ.
Riêng Việtcộng, trước sau vẫn trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, rồi sau khi họ Hồ chết thì đảng gắn thêm vào đó cái đuôi tư tưởng Hồ Chí Minh nữa. Vì ngay khi Hồ Chí Minh còn sống, ông ta đã cố tình lợi dụng tinh thần Dân Tộc, lôi kéo toàn dân vào các cuộc chiến. Tiếng là chống Thực Dân, Đế Quốc, nhưng khi thành công được tới đâu thì lập tức thực hiện Chủ Nghĩa Xã Hội sắt máu tới đó. Dùng chế độ ‘tem phiếu’ để kiểm soát bao tử toàn dân, đẩy dân vào cảnh cùng quẫn, đói khổ ngang nhau, mà suốt ngày cứ phải cảm ơn “Đảng và Bác” đã bố thí cho miếng cơm, manh áo. Qua cuộc ‘Cải Cách Ruộng Đất’ tại Miền Bắc. Hồ Chí Minh và Việtcộng theo sự chỉ đạo của Mao Trạch Đông và Trungcộng, phóng tay phát động cuộc đấu tố tận diệt “Trí, Phú, Địa Hào”. Phá tan hệ thống “Làng Xã Tự Quản” của truyền thống Giữ Nước Độc Lập, Giữ Dân Tự Chủ của Nòi Giống Việt. Thay vào đó bằng hệ thống “Chi Bộ Đảng” toàn trị, tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác- Lênin và tuân lệnh của Quốc Tế Cộngsản do Liênxô lãnh đạo. Ngược lại Trungcộng, họ chỉ lợi dụng chủ nghĩa xã hội để phục vụ nước Tàu. Còn Hồ Chí Minh và Việtcộng thì hy sinh Dân Tộc Việt để phụng sự Cộngsản Quốctế. Đến khi Cộng Sản Quốc Tế tan vỡ. Liênxô sụp đổ, Việtcộng quay sang thần phục Trungcộng. Trong khi đó Cộng Đảng Trunghoa đang hình thành khối “Tư Bản Cực Quyền” và không quên nuôi mộng ‘bành trướng’. Nên họ chỉ coi Việtcộng là bọn đàn em tay sai ngoan ngoãn để từ đó từng bước nuốt trửng Việtnam, lấy đà bành trướng khắp Đông Nam Á, rồi làm chủ Á châu, đương đầu với Siêu Cường Mỹ.
Thấy rõ, cái gọi là Chủ Nghĩa Xã Hội, người Việtnam đã nếm thử rồi, chỉ nghĩ tới đã buốt lạnh xương sống, đừng nói gì phải thực hiện nó một lần nữa. Vậy phải hiểu rằng: Các nước đã kinh qua chủ nghĩa xã hội thì đó phải được gọi là “Thời Kỳ Quá Độ Cộngsản lên Chế Độ Dân Chủ Trọng Pháp”. Chứ không thể là “từ một chế độ nào khác quá độ lên chủ nghĩa xã hội” được nữa. Chính vì vậy mà trong Dự Thảo Báo Cáo Chính Trị ở đại hội XI, Việtcộng phải thừa nhận họ đang lúng túng. Theo đó, Phần B, Số 6 của văn kiện này, được mở đầu bằng lời tự thú: “Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề về Đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Thời của chủ nghiã xã hội hoang tưởng Mác-Lê-Hồ đã qua đi, không thể quay ngược lại được. Nên nhóm công tác nghiên cứu lý luận của Việtcộng dù có cố gắng tới mấy cũng không thể làm sáng tỏ về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội như mơ tưởng của Mác-Lê-Hồ được. Vì trong thực tế của lịch sử loài người không hề có thứ chủ nghĩa xã hội quỷ quái đó, mà hễ nơi nào vô phúc, phải thực hiện nó, thì ở đấy, lập tức trở thành ‘địa ngục trần gian’ ngay.
Nếu Việtcộng biết khôn, để không bị trả giá ‘mất hết, mất sạch, mất luôn sinh mạng chính trị, kể cả mạng sống thì nhóm Việtcộng cầm quyền hiện nay ở Hànội phải ‘tự diễn biến hòa bình’. Phải ra nghị quyết tự biến Cộng Đảng Lãnh Đạo thành Chính Đảng Cầm Quyền. Phi chính trị hóa quân đội. Tổ chức một chính phủ chuyển tiếp, nhằm thực thi công cuộc: - Dân Chủ Hóa Chế Độ - Công Chính Hóa Luật Pháp - Tự Do Hóa Xã Hội - Tự Do Hóa Tôn Giáo - Tự Do Hóa Ngôn Luận - Tự Do Hóa Nghiệp Đoàn - Tư Nhân Hóa Kinh Doanh - Tư Hữu Hóa Ruộng Đất.- Thị Trường Hóa Kinh Tế.- Đa Đảng Hóa Chính Trị.- Đa Nguyên Hóa Nhân Văn - Toàn Cầu Hóa Quan Hệ - thực hiện Nền Nhân Chủ Nhân Văn Toàn Cầu. Chỉ có như vậy, mới huy động được tinh thần dân tộc tự chủ nơi toàn dân, mới quy tụ được nội lực dân tộc để phát triển đất nước và cùng toàn thế giới xây dựng thế phòng thủ chung, ngăn cuộc bành trướng của Trungcộng. Đồng thời tạo niềm hứng khởi cho người dân Trunghoa thực hiện công cuộc Dân Chủ Hóa nước Tầu. Để nước Tầu sắm đúng vai trò một Quốc Gia Đân Chủ Liên Bang có trách nhiệm về hòa bình, an ninh, phát triển trong khu vực và toàn thế giới. Trả lại quyền tự trị rộng rãi cho các Dân Tộc Tây Tạng và Duy Ngô Nhĩ. Nhưng xem ra Việtcộng khó nuốt nổi những đóng góp hợp tình, hợp lý, hợp cảnh của những người suy tư độc lập, không bị ràng buộc bởi tham vọng quyền lực chính trị. Ở Việtnam hiện nay, do chế độ độc tài, độc đảng. toàn trị, thì quyền lực chính trị đẻ ra tất cả. Chính vì vậy, nội bộ Việtcộng đang ra sức tranh giành đấu đá lẫn nhau trước khi đại hội XI khai diễn, chẳng kẻ nào biết tự dừng lại để lo cho dân cho nước. Đây là việc Việtcộng không ‘tự diễn biến hoà bình’, mà lâm vào cảnh ‘tự diễn biến tan rã’ vậy.
Little Saigon 28/12/2010.
Lý Đại Nguyên
THỜI ĐẠI NHÂN CHỦ NHÂN VĂN TOÀN CẦU
Nhóm cầm đầu cộng sản Việtnam đang tự lừa mình dối người, bịp bợm toàn đảng, toàn quân, toàn dân bằng khẩu hiệu: “Việtnam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”. Đích ra lịch sử hiện đại đã nhãn tiền lên tiếng khẳng định: “Chủ Nghĩa Xã Hội đã chết tiệt”. Chết mất xác, mất luôn cả hồn tại quê hương gọi là ‘cách mạng cộng sản Liênxô’ và ở các nước chư hầu Đông Âu của nó, kể từ năm 1991. Rồi ngày nay, đã bị cả Loài Người kết án là một chủ nghĩa bạo tàn, phi nhân tính, phi văn hóa, vô đạo đức, nó đã 74 năm, hèn hóa, khủng bố, đầy đọa Con Người ở những Dân Tộc do nó thống trị, và giết hại tới một trăm triệu người vô tội trên toàn thế giới. Thứ chủ nghĩa quái ác ấy giờ đây vẫn còn hiện diện ở vài ba nước nghèo khó. Điển hình là tại Bắc Triều Tiên, với một hệ thống cầm quyền của lãnh tụ độc tài, chuyên chính, điên loạn, cha truyền con nối. Đẩy toàn dân vào cảnh đói khổ thường xuyên. Luôn luôn tạo ra mối đe dọa về chiến tranh nguyên tử đối với thế giới. Khiến cho quốc tế coi như ‘đồ hủi’, ngay cả nước đàn anh của họ là Trungcộng cũng đang muốn ruồng bỏ. Thế còn ở Trunghoa, tuy trên danh nghĩa họ vẫn tự nhận mình là nước cộng sản, nhưng liệu họ còn có trung thành với thứ chủ nghĩa xã hội hoang tưởng đó nữa hay không? Xin thưa rằng: Không! Ngay từ thời Mao Trạch Đông và các người tiên khởi của Phong Trào Cộng Sản Trung Hoa, họ đã có chủ trương chỉ dùng chế độ độc đảng, độc tài toàn trị, cùng một nội dung như chế độ Quân Chủ độc tôn, để thay thế cho chế độ phong kiến cổ hủ, kiên cố của truyền thống Trunghoa, đã làm cho quốc dân và xã hội Trunghoa trở thành bệnh hoạn trước mắt người Tây Phương và Nhậtbản. Nhằm phục hồi vị thế Đế Quốc Đại Hán xưa kia. Đến thời Đặng Tiểu Bình thì điều đó càng được rõ nét thêm với khẩu hiệu “Xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa mang sắc thái đặc thù Trungquốc”.Tức là sắc thái Đại Đế Quốc Bành Trướng. Từ đấy mở đường cho đảng viên Trungcộng hăm hở tham nhũng và làm giầu bất chính. Nhưng vẫn góp sức cho đảng cộng sản độc quyền chính trị, độc quyền cai trị, độc quyền kinh tế, toàn quyền ‘phong hầu, kiến nghiệp’ thay ‘phong hầu, kiến điạ’ cho con cháu, giòng tộc của các lãnh tụ đảng. Bọn đó nghiễm nhiên trở thành các nhà tài phiệt khổng lồ. Nhà nước trở thành nhà thầu cung cấp công nhân rẻ mạt cho các hãng tư bản ngoại quốc. Nước Trunghoa thoáng nhìn bề ngoài thì đúng là có mức kinh tế phát triển đáng nể. Nhưng đi sâu vào cuộc sống quốc dân thì sẽ nhận thấy cái hố giầu nghèo quá cách biệt, rất dễ sụp đổ.
Riêng Việtcộng, trước sau vẫn trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, rồi sau khi họ Hồ chết thì đảng gắn thêm vào đó cái đuôi tư tưởng Hồ Chí Minh nữa. Vì ngay khi Hồ Chí Minh còn sống, ông ta đã cố tình lợi dụng tinh thần Dân Tộc, lôi kéo toàn dân vào các cuộc chiến. Tiếng là chống Thực Dân, Đế Quốc, nhưng khi thành công được tới đâu thì lập tức thực hiện Chủ Nghĩa Xã Hội sắt máu tới đó. Dùng chế độ ‘tem phiếu’ để kiểm soát bao tử toàn dân, đẩy dân vào cảnh cùng quẫn, đói khổ ngang nhau, mà suốt ngày cứ phải cảm ơn “Đảng và Bác” đã bố thí cho miếng cơm, manh áo. Qua cuộc ‘Cải Cách Ruộng Đất’ tại Miền Bắc. Hồ Chí Minh và Việtcộng theo sự chỉ đạo của Mao Trạch Đông và Trungcộng, phóng tay phát động cuộc đấu tố tận diệt “Trí, Phú, Địa Hào”. Phá tan hệ thống “Làng Xã Tự Quản” của truyền thống Giữ Nước Độc Lập, Giữ Dân Tự Chủ của Nòi Giống Việt. Thay vào đó bằng hệ thống “Chi Bộ Đảng” toàn trị, tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác- Lênin và tuân lệnh của Quốc Tế Cộngsản do Liênxô lãnh đạo. Ngược lại Trungcộng, họ chỉ lợi dụng chủ nghĩa xã hội để phục vụ nước Tàu. Còn Hồ Chí Minh và Việtcộng thì hy sinh Dân Tộc Việt để phụng sự Cộngsản Quốctế. Đến khi Cộng Sản Quốc Tế tan vỡ. Liênxô sụp đổ, Việtcộng quay sang thần phục Trungcộng. Trong khi đó Cộng Đảng Trunghoa đang hình thành khối “Tư Bản Cực Quyền” và không quên nuôi mộng ‘bành trướng’. Nên họ chỉ coi Việtcộng là bọn đàn em tay sai ngoan ngoãn để từ đó từng bước nuốt trửng Việtnam, lấy đà bành trướng khắp Đông Nam Á, rồi làm chủ Á châu, đương đầu với Siêu Cường Mỹ.
Thấy rõ, cái gọi là Chủ Nghĩa Xã Hội, người Việtnam đã nếm thử rồi, chỉ nghĩ tới đã buốt lạnh xương sống, đừng nói gì phải thực hiện nó một lần nữa. Vậy phải hiểu rằng: Các nước đã kinh qua chủ nghĩa xã hội thì đó phải được gọi là “Thời Kỳ Quá Độ Cộngsản lên Chế Độ Dân Chủ Trọng Pháp”. Chứ không thể là “từ một chế độ nào khác quá độ lên chủ nghĩa xã hội” được nữa. Chính vì vậy mà trong Dự Thảo Báo Cáo Chính Trị ở đại hội XI, Việtcộng phải thừa nhận họ đang lúng túng. Theo đó, Phần B, Số 6 của văn kiện này, được mở đầu bằng lời tự thú: “Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề về Đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Thời của chủ nghiã xã hội hoang tưởng Mác-Lê-Hồ đã qua đi, không thể quay ngược lại được. Nên nhóm công tác nghiên cứu lý luận của Việtcộng dù có cố gắng tới mấy cũng không thể làm sáng tỏ về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội như mơ tưởng của Mác-Lê-Hồ được. Vì trong thực tế của lịch sử loài người không hề có thứ chủ nghĩa xã hội quỷ quái đó, mà hễ nơi nào vô phúc, phải thực hiện nó, thì ở đấy, lập tức trở thành ‘địa ngục trần gian’ ngay.
Nếu Việtcộng biết khôn, để không bị trả giá ‘mất hết, mất sạch, mất luôn sinh mạng chính trị, kể cả mạng sống thì nhóm Việtcộng cầm quyền hiện nay ở Hànội phải ‘tự diễn biến hòa bình’. Phải ra nghị quyết tự biến Cộng Đảng Lãnh Đạo thành Chính Đảng Cầm Quyền. Phi chính trị hóa quân đội. Tổ chức một chính phủ chuyển tiếp, nhằm thực thi công cuộc: - Dân Chủ Hóa Chế Độ - Công Chính Hóa Luật Pháp - Tự Do Hóa Xã Hội - Tự Do Hóa Tôn Giáo - Tự Do Hóa Ngôn Luận - Tự Do Hóa Nghiệp Đoàn - Tư Nhân Hóa Kinh Doanh - Tư Hữu Hóa Ruộng Đất.- Thị Trường Hóa Kinh Tế.- Đa Đảng Hóa Chính Trị.- Đa Nguyên Hóa Nhân Văn - Toàn Cầu Hóa Quan Hệ - thực hiện Nền Nhân Chủ Nhân Văn Toàn Cầu. Chỉ có như vậy, mới huy động được tinh thần dân tộc tự chủ nơi toàn dân, mới quy tụ được nội lực dân tộc để phát triển đất nước và cùng toàn thế giới xây dựng thế phòng thủ chung, ngăn cuộc bành trướng của Trungcộng. Đồng thời tạo niềm hứng khởi cho người dân Trunghoa thực hiện công cuộc Dân Chủ Hóa nước Tầu. Để nước Tầu sắm đúng vai trò một Quốc Gia Đân Chủ Liên Bang có trách nhiệm về hòa bình, an ninh, phát triển trong khu vực và toàn thế giới. Trả lại quyền tự trị rộng rãi cho các Dân Tộc Tây Tạng và Duy Ngô Nhĩ. Nhưng xem ra Việtcộng khó nuốt nổi những đóng góp hợp tình, hợp lý, hợp cảnh của những người suy tư độc lập, không bị ràng buộc bởi tham vọng quyền lực chính trị. Ở Việtnam hiện nay, do chế độ độc tài, độc đảng. toàn trị, thì quyền lực chính trị đẻ ra tất cả. Chính vì vậy, nội bộ Việtcộng đang ra sức tranh giành đấu đá lẫn nhau trước khi đại hội XI khai diễn, chẳng kẻ nào biết tự dừng lại để lo cho dân cho nước. Đây là việc Việtcộng không ‘tự diễn biến hoà bình’, mà lâm vào cảnh ‘tự diễn biến tan rã’ vậy.
Little Saigon 28/12/2010.
Lý Đại Nguyên
Dũng Bô Xít hay Dũng Vinashin?
Ngô Nhân Dụng Người ta đang phân vân không biết nên gọi tên ông Nguyễn Tấn Dũng là Dũng Bô Xít, hay Dũng Vinashin. Xét về hậu quả tai hại thì hành động cho người ngoại quốc đào mỏ bô xít ở nước ta sẽ gây ảnh hưởng lâu dài hơn. Nó sẽ làm hư hại nhiều tài nguyên trên rừng núi; phá hủy môi trường sống từ cao nguyên xuống dưới đồng bằng; lại có thể nguy hiểm cho cả nền an ninh quốc gia. Còn vụ Vinashin cuối cùng cũng chỉ tốn cho công quỹ 5 đến 10 tỷ đô la (trước hết phải trả số nợ là 4 tỷ 400 triệu), không thể so sánh được với những thiệt hại mà việc cho người Tàu khai thác bô xít có thể gây ra. So sánh như vậy thì nên gọi tên ông thủ tướng hiện giờ là Dũng Bô Xít.
Nhưng việc đem công nhân Trung Hoa vào cao nguyên Trung phần khai thác mỏ và đi khắp nước khai thác rừng là chính sách của cả Bộ Chính Trị đảng Cộng sản chứ không riêng gì ông Dũng. Ghi danh Dũng Bô Xít vào lịch sử thì không công bằng. Chính các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết đều nhấn mạnh việc cho những người “vừa là đồng chí vừa là anh em” vào đào mỏ bô xít và khai thác rừng, biển, là một “chủ trương lớn” của đảng Cộng Sản.
Còn câu chuyện hãng “đóng tàu thủy” Vinashin nằm trong sự nghiệp riêng của ông Nguyễn Tấn Dũng. Công ty này tên khai sinh là Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam. Những chữ “tập đoàn kinh tế” vốn chỉ thông dụng ở Trung Quốc, thời Phan Văn Khải làm thủ tướng chỉ thành lập các tổng công ty. Tập đoàn Vinashin được Nguyễn Tấn Dũng lập ra cùng với những “tập đoàn kinh tế” khác ra đời khi gom các tổng công ty lại, chắc để chứng tỏ ông Dũng nghĩ chuyện lớn hơn ông Khải.
Nhưng riêng hiện tượng lỗ lã của Vinashin không đủ để ghi vào sử sách như một thành tích kinh tế của ông Nguyễn Tấn Dũng. Nếu Vinashin chỉ làm mất mấy tỷ bạc thì, so với những thất thoát vì tham nhũng, phí phạm vì quản lý bất lực, vân vân, mấy tỷ bạc đó cũng là nhỏ, chưa đáng một phần trăm. Ðiều đáng lo bây giờ là hậu quả của vụ Vinashin đối với công việc làm ăn của các công ty khác và các ngân hàng thương mại Việt Nam trong các năm sắp tới. Nó sẽ ảnh hưởng tới cả tiến trình phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế của nước Việt Nam.
Hậu quả đó như thế nào, chúng ta đã thấy ngay từ tuần trước. Ngày 20 tháng 12 năm 2010, công ty Vinashin tới kỳ hạn phải đóng món tiền trả góp đầu tiên cho một món nợ lớn 600 triệu đô la Mỹ, nhưng không có tiền trả, xin khất nợ 3 ngày để xoay xở. Ba ngày sau, tức là Thứ Năm tuần trước, vẫn không có đủ 60 triệu, lại xin hoãn, lần này xin triển hạn một năm. Ðây là một món nợ do Credit Suisse thu xếp với nhiều ngân hàng quốc tế từ năm 2007; theo hợp đồng thì ngày 20 tháng 12 năm nay bắt đầu phải trả góp tiền vốn, mỗi sáu tháng 60 triệu, 5 năm thì trả hết. Nhưng Vinashin đã không có tiền, ngay trong kỳ hạn đầu tiên này.
Ngay lập tức, lấy lý do hệ thống ngân hàng Việt Nam đang suy yếu, công ty thẩm lượng tín dụng Standard & Poor's đã công bố hạ thấp điểm tín dụng của nước Việt Nam một bậc, từ BB xuống thành BB trừ, đúng vào ngày trước lễ Giáng Sinh 2010. Nghĩa là từ nay trở đi, chính quyền Việt Nam đi vay tiền nước ngoài sẽ phải trả lãi suất cao hơn. Theo tiêu chuẩn tín dụng thế giới thì những trái phiếu (giấy nợ) được đánh giá BB trừ đều gọi là “junk bonds,” trái phiếu dành cho những người “đánh cá may rủi.” Họ chấp nhận nếu gặp hên thì ăn lời cao, chẳng may thì con quịt nợ! Với loại giấy nợ này, người đi vay phải trả lãi suất cao hơn bình thường rất nhiều. Nếu quý vị đi vay một tỷ Mỹ kim, chỉ cần lãi suất tăng thêm 1% thì mỗi năm quý vị cũng phải trả thêm 10 triệu Mỹ kim! Khi các trái phiếu của nhà nước Việt Nam bị đánh giá xuống thấp thì tất cả các công ty do nhà nước làm chủ cũng bị đánh lây, trong đó có các ngân hàng thương mại của Việt Nam, hiện nay đại đa số vẫn nằm trong tay các cán bộ được đảng Cộng Sản tín nhiệm.
Tại sao Vinashin làm hại đến cả các ngân hàng? Vì tình trạng thua lỗ xảy ra quá nặng nề, và quá nhanh chóng (chỉ dăm năm sau khi chính quyền Nguyễn Tấn Dũng vay 750 triệu đô la cho Vinashin tiêu, 3 năm sau món nợ 600 triệu); cả thế giới tài chánh và kinh doanh phải đặt câu hỏi về cách làm ăn của người Việt Nam. Standard & Poor's là công ty thứ ba hạ thấp điểm Việt Nam. Thế giới có 3 công ty thẩm lượng tín dụng lớn. Trước đó hai công ty khác là Moody's and Fitch đã ra tay rồi, Moody's mới hạ thấp điểm tín nhiệm của chính quyền Việt Nam xuống một bậc vào ngày 15 tháng 12. Trong bản thông báo tin hạ điểm vừa rồi, Standard & Poor's giải thích lý do là vì vụ Vinashin. Họ viết: Sự nguy ngập của Vinashin làm nổi rõ lên cho mọi người thấy tính chất thiếu minh bạch, công khai (lack of transparency), tính yếu kém về quy định trách nhiệm, và khả năng quản lý rất thấp ở Việt Nam.
Hậu quả đã lan rộng. Hôm Thứ Hai tuần trước, Standard & Poor's đã hạ thấp điểm tín dụng của một công ty Việt Nam là Tập đoàn Than và Khoáng Sản (Vietnam National Coal-Mineral Industries Group), còn gọi là Vinacomin. Trước đó, ngày 15 tháng 12 là Moody's cũng đã đánh giá Vinacomin xuống thấp rồi. Cả hai vụ đánh giá xuống đó khiến cho công ty Vinacomin phải ngưng, không đi vay 500 triệu đô la trên thị trường quốc tế nữa; khi phải đứng trước viễn ảnh trả lãi suất quá cao vì điểm tín dụng xuống thấp. Khi một công ty đi vay với lãi suất cao hơn lợi suất mình tạo ra được, thì tất nhiên phải lỗ vốn, thà không đi vay còn hơn! Nhưng khi một công ty có dự án phát triển công việc làm ăn với hy vọng sinh lợi thì mới tính chuyện đi vay tiền. Nếu họ bỗng dưng ngưng lại không đi vay nữa, thì cả dự án sẽ bị gác, có thể bị vứt bỏ. Công ty đó bị thiệt hại vì bỏ lỡ mất cơ hội kinh doanh. Các công nhân bị thiệt hại vì thiếu việc làm, nhiều người có thể mất việc. Những thiệt hại mà các công nhân của Vinacomin phải gánh do đâu gây ra? Thưa trước hết là vì đám bộ hạ của ông Nguyễn Tấn Dũng đã biến Vinashin thành nơi vay tiền, xài tiền thả cửa, không cần biết ai sẽ lo trả nợ.
Các công ty Moody's và Standard & Poor's đều dựa vào viễn tượng Tập đoàn Vinashin không trả được nợ mà đánh giá Tập đoàn Vinacomin. Từ đầu tháng 12, Standard & Poor's đã báo trước cho các nhà đầu tư thân chủ của họ rằng Vinashin sẽ “không trả được nợ” (default) trong vòng 30 ngày. Trong báo cáo gửi giới đầu tư, công ty này đã trích dẫn nhận xét của các chuyên viên Ngân Hàng Thế Giới, họ nói rằng công ty Vinashin “đã làm những báo cáo tài chánh giả mạo;” đồng thời “đã đầu tư tiền bạc vào những khu vực ngoài phạm vi hoạt động chính của mình;” và nói thẳng: Sắp sửa vỡ nợ.
Khi Vinashin xin các chủ nợ cho khất một năm sau mới trả 60 triệu đô la đầu tiên, tất nhiên sẽ phải thương lượng các điều kiện. Trong cuộc thương lượng này thế nào các ngân hàng chủ nợ cũng đòi tăng lãi suất. Rất giản dị, người đi vay càng chứng tỏ có nhiều rủi ro không trả được nợ thì phải trả lãi suất cao hơn cho chủ nợ để bù cho mối lo bị quịt.
Người ta sẽ hỏi tại sao các chủ nợ khó tính như thế? Tại sao mới hôm trước hôm sau đã bắt, không những Vinashin mà cả các doanh nghiệp Việt Nam khác, khi đi vay là phải trả lãi suất cao hơn? Bởi vì khi các con nợ bị đánh giá xuống thấp thì chính các chủ nợ họ cũng đã mất tiền ngay rồi.
Trước hết là vì những trái phiếu mà họ cầm trong tay khi cho chính quyền Việt Nam vay bỗng mất giá trị trên thị trường, khi điểm tín dụng của Việt Nam xuống thấp. Trong tháng 11 năm 2010, những trái phiếu cho Việt Nam vay bằng đô la Mỹ đã mất giá 2.4% chỉ trong 30 ngày. Tháng 12 đã mất giá 5.7%. Ðây là lần mất giá cao nhất kể từ lần tháng 11 năm 2009, tụt giá 4.9%. Trong thị trường tài chánh các ngân hàng thường không giữ các giấy nợ trong tủ, chờ đến kỳ hạn thì đòi nợ. Họ luôn luôn mua qua bán lại các trái phiếu để thay đổi, giảm bớt mức rủi ro phải chịu. Khi các tờ giấy nợ xuống giá, ngân hàng cho vay mất tiền nếu cần bán. Cho nên, con nợ càng nhiều rủi ro thì càng phải trả lãi suất cao hơn.
Ngoài ra, không một ngân hàng lớn nào đem tiền cho vay mà không mua bảo hiểm. Mua Bảo hiểm Nợ (Default Swaps) cũng như bảo hiểm khi mua nhà, là trả một số tiền nhỏ mỗi năm để nếu con nợ quịt (vì vỡ nợ hay sạt nghiệp) thì có hãng bảo hiểm bồi hoàn tất cả số tiền cho vay chưa được trả. Các ngân hàng chủ nợ của chính quyền và các công ty Việt Nam đã phải trả giá bảo hiểm đắt hơn khi có tin công ty Vinashin sắp vỡ nợ. Trước đó, tiền mua bảo hiểm cho trái phiếu của Việt Nam vốn đã đắt rồi, ngày 17 tháng 12 giá là 287 điểm, trên thị trường Singapore. Nghĩa là muốn bảo hiểm cho một số trái phiếu trị giá 10 triệu trên giấy tờ thì phải trả 287 ngàn đô la. Trước ngày 20 tháng 12, giá bảo hiểm đã tăng lên 295 điểm. Sau khi công ty Vinashin xin khất nợ lần đầu, giá bảo hiểm tăng vọt lên 305 điểm; tức là chủ nhân 10 triệu đồng tiền nợ của Việt Nam phải trả bảo hiểm mất 305 ngàn một năm! Nếu quý vị đóng vai chủ nợ, chắc cũng phải đòi tăng lãi suất!
Chính quyền Cộng Sản Việt Nam, dù đã nói đổi mới, đổi mới, nói đổi mới mãi nhưng vẫn không tôn trọng các quy tắc của thị trường tài chánh. Lý do vì đảng Cộng sản vẫn Stheo các chính sách mà Hồ Chí Minh học từ Stalin: Coi lãnh vực quốc doanh là căn bản kinh tế quốc gia.
Cộng đồng thế giới qua vụ Vinashin đã trông thấy rõ những mối nguy của kinh tế Việt Nam: Cán cân thương mại thâm thủng hàng chục tỷ Mỹ kim một năm và sang năm sẽ tiếp tục thâm thủng nhiều hơn; tỷ lệ lạm phát quá cao (gần 12% theo con số chính thức); và các doanh nghiệp nhà nuớc bất lực.
Ngân Hàng Phát Triển Á Châu coi vụ Vinashin sụp đổ là một “thất bại hệ thống” trong việc giám sát các doanh nghiệp nhà nuớc. Tất cả mọi người quan sát đều thấy nhu cầu cần xóa bỏ hệ thống kinh tế quốc doanh.
Ðại sứ Mỹ ở Việt Nam Michael Michalak nói chuyện với các nhà đầu tư quốc tế đã nhận xét: “Tình trạng không ai được trông thấy bản kê khai tài chánh của các doanh nghiệp nhà nuớc khiến chúng ta phải đặt câu hỏi: Còn những Vinashin nào nữa?” Ðại Sứ Anh Anthony Stokes mới nhậm chức thì nói phải coi như chắc chắn còn những vụ Vinashin khác; câu hỏi phải đặt ra là chính quyền Việt Nam có chỉ rõ đó là những công ty nào để cộng đồng kinh doanh quốc tế có thể giúp họ cải thiện hay không.
Giáo Sư Jonathan Pincus, thuộc Harvard Kennedy School đang ở Sài Gòn thấy: “Chính quyền Việt Nam này họ không tính đường xa, không thấy hậu quả của những vụ như Vinashin này trên mức độ tín nhiệm của giới tài chánh vào nước Việt Nam.”
Công ty Moody's đặc biệt nhấn mạnh đến nhu cầu vay nợ của Việt Nam trong những thập niên sắp tới. Một nước đang bắt đầu phát triển cần phải xây dựng hạ tầng cơ sở như đường sá, cầu, sân bay, bến cảng, không thể thiếu và không thể chậm được. Muốn vậy, phải vay nợ trên thị trường quốc tế. Vì vụ Vinashin, tất cả những món nợ mà chính quyền Việt Nam bắt buộc sẽ phải vay cho việc xây dựng hạ tầng cơ sở sẽ khó vay hơn, và khi vay sẽ phải trả lãi suất cao hơn. Vì lý do đó, nhà nước Cộng Sản sẽ phải chậm trễ trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng. Hậu quả là cả nền kinh tế sẽ chạy chậm lại, trong khi nhà nước tiếp tục lo trả nợ cho công ty Vinashin.
Sau khi đọc những lời phân tích trên đây, có lẽ nhiều người Việt Nam cũng đồng ý vụ Vinashin sẽ có ảnh hưởng lâu dài và lan rộng trên tất cả các ngân hàng và xí nghiệp Việt Nam trong tương lai. Hậu quả kinh tế không phải chỉ có mươi tỷ Mỹ kim đâu. Như vậy thì cái tên Vinashin phải gắn liền với tên Nguyễn Tấn Dũng.
Ngô Nhân Dụng Người ta đang phân vân không biết nên gọi tên ông Nguyễn Tấn Dũng là Dũng Bô Xít, hay Dũng Vinashin. Xét về hậu quả tai hại thì hành động cho người ngoại quốc đào mỏ bô xít ở nước ta sẽ gây ảnh hưởng lâu dài hơn. Nó sẽ làm hư hại nhiều tài nguyên trên rừng núi; phá hủy môi trường sống từ cao nguyên xuống dưới đồng bằng; lại có thể nguy hiểm cho cả nền an ninh quốc gia. Còn vụ Vinashin cuối cùng cũng chỉ tốn cho công quỹ 5 đến 10 tỷ đô la (trước hết phải trả số nợ là 4 tỷ 400 triệu), không thể so sánh được với những thiệt hại mà việc cho người Tàu khai thác bô xít có thể gây ra. So sánh như vậy thì nên gọi tên ông thủ tướng hiện giờ là Dũng Bô Xít.
Nhưng việc đem công nhân Trung Hoa vào cao nguyên Trung phần khai thác mỏ và đi khắp nước khai thác rừng là chính sách của cả Bộ Chính Trị đảng Cộng sản chứ không riêng gì ông Dũng. Ghi danh Dũng Bô Xít vào lịch sử thì không công bằng. Chính các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết đều nhấn mạnh việc cho những người “vừa là đồng chí vừa là anh em” vào đào mỏ bô xít và khai thác rừng, biển, là một “chủ trương lớn” của đảng Cộng Sản.
Còn câu chuyện hãng “đóng tàu thủy” Vinashin nằm trong sự nghiệp riêng của ông Nguyễn Tấn Dũng. Công ty này tên khai sinh là Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam. Những chữ “tập đoàn kinh tế” vốn chỉ thông dụng ở Trung Quốc, thời Phan Văn Khải làm thủ tướng chỉ thành lập các tổng công ty. Tập đoàn Vinashin được Nguyễn Tấn Dũng lập ra cùng với những “tập đoàn kinh tế” khác ra đời khi gom các tổng công ty lại, chắc để chứng tỏ ông Dũng nghĩ chuyện lớn hơn ông Khải.
Nhưng riêng hiện tượng lỗ lã của Vinashin không đủ để ghi vào sử sách như một thành tích kinh tế của ông Nguyễn Tấn Dũng. Nếu Vinashin chỉ làm mất mấy tỷ bạc thì, so với những thất thoát vì tham nhũng, phí phạm vì quản lý bất lực, vân vân, mấy tỷ bạc đó cũng là nhỏ, chưa đáng một phần trăm. Ðiều đáng lo bây giờ là hậu quả của vụ Vinashin đối với công việc làm ăn của các công ty khác và các ngân hàng thương mại Việt Nam trong các năm sắp tới. Nó sẽ ảnh hưởng tới cả tiến trình phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế của nước Việt Nam.
Hậu quả đó như thế nào, chúng ta đã thấy ngay từ tuần trước. Ngày 20 tháng 12 năm 2010, công ty Vinashin tới kỳ hạn phải đóng món tiền trả góp đầu tiên cho một món nợ lớn 600 triệu đô la Mỹ, nhưng không có tiền trả, xin khất nợ 3 ngày để xoay xở. Ba ngày sau, tức là Thứ Năm tuần trước, vẫn không có đủ 60 triệu, lại xin hoãn, lần này xin triển hạn một năm. Ðây là một món nợ do Credit Suisse thu xếp với nhiều ngân hàng quốc tế từ năm 2007; theo hợp đồng thì ngày 20 tháng 12 năm nay bắt đầu phải trả góp tiền vốn, mỗi sáu tháng 60 triệu, 5 năm thì trả hết. Nhưng Vinashin đã không có tiền, ngay trong kỳ hạn đầu tiên này.
Ngay lập tức, lấy lý do hệ thống ngân hàng Việt Nam đang suy yếu, công ty thẩm lượng tín dụng Standard & Poor's đã công bố hạ thấp điểm tín dụng của nước Việt Nam một bậc, từ BB xuống thành BB trừ, đúng vào ngày trước lễ Giáng Sinh 2010. Nghĩa là từ nay trở đi, chính quyền Việt Nam đi vay tiền nước ngoài sẽ phải trả lãi suất cao hơn. Theo tiêu chuẩn tín dụng thế giới thì những trái phiếu (giấy nợ) được đánh giá BB trừ đều gọi là “junk bonds,” trái phiếu dành cho những người “đánh cá may rủi.” Họ chấp nhận nếu gặp hên thì ăn lời cao, chẳng may thì con quịt nợ! Với loại giấy nợ này, người đi vay phải trả lãi suất cao hơn bình thường rất nhiều. Nếu quý vị đi vay một tỷ Mỹ kim, chỉ cần lãi suất tăng thêm 1% thì mỗi năm quý vị cũng phải trả thêm 10 triệu Mỹ kim! Khi các trái phiếu của nhà nước Việt Nam bị đánh giá xuống thấp thì tất cả các công ty do nhà nước làm chủ cũng bị đánh lây, trong đó có các ngân hàng thương mại của Việt Nam, hiện nay đại đa số vẫn nằm trong tay các cán bộ được đảng Cộng Sản tín nhiệm.
Tại sao Vinashin làm hại đến cả các ngân hàng? Vì tình trạng thua lỗ xảy ra quá nặng nề, và quá nhanh chóng (chỉ dăm năm sau khi chính quyền Nguyễn Tấn Dũng vay 750 triệu đô la cho Vinashin tiêu, 3 năm sau món nợ 600 triệu); cả thế giới tài chánh và kinh doanh phải đặt câu hỏi về cách làm ăn của người Việt Nam. Standard & Poor's là công ty thứ ba hạ thấp điểm Việt Nam. Thế giới có 3 công ty thẩm lượng tín dụng lớn. Trước đó hai công ty khác là Moody's and Fitch đã ra tay rồi, Moody's mới hạ thấp điểm tín nhiệm của chính quyền Việt Nam xuống một bậc vào ngày 15 tháng 12. Trong bản thông báo tin hạ điểm vừa rồi, Standard & Poor's giải thích lý do là vì vụ Vinashin. Họ viết: Sự nguy ngập của Vinashin làm nổi rõ lên cho mọi người thấy tính chất thiếu minh bạch, công khai (lack of transparency), tính yếu kém về quy định trách nhiệm, và khả năng quản lý rất thấp ở Việt Nam.
Hậu quả đã lan rộng. Hôm Thứ Hai tuần trước, Standard & Poor's đã hạ thấp điểm tín dụng của một công ty Việt Nam là Tập đoàn Than và Khoáng Sản (Vietnam National Coal-Mineral Industries Group), còn gọi là Vinacomin. Trước đó, ngày 15 tháng 12 là Moody's cũng đã đánh giá Vinacomin xuống thấp rồi. Cả hai vụ đánh giá xuống đó khiến cho công ty Vinacomin phải ngưng, không đi vay 500 triệu đô la trên thị trường quốc tế nữa; khi phải đứng trước viễn ảnh trả lãi suất quá cao vì điểm tín dụng xuống thấp. Khi một công ty đi vay với lãi suất cao hơn lợi suất mình tạo ra được, thì tất nhiên phải lỗ vốn, thà không đi vay còn hơn! Nhưng khi một công ty có dự án phát triển công việc làm ăn với hy vọng sinh lợi thì mới tính chuyện đi vay tiền. Nếu họ bỗng dưng ngưng lại không đi vay nữa, thì cả dự án sẽ bị gác, có thể bị vứt bỏ. Công ty đó bị thiệt hại vì bỏ lỡ mất cơ hội kinh doanh. Các công nhân bị thiệt hại vì thiếu việc làm, nhiều người có thể mất việc. Những thiệt hại mà các công nhân của Vinacomin phải gánh do đâu gây ra? Thưa trước hết là vì đám bộ hạ của ông Nguyễn Tấn Dũng đã biến Vinashin thành nơi vay tiền, xài tiền thả cửa, không cần biết ai sẽ lo trả nợ.
Các công ty Moody's và Standard & Poor's đều dựa vào viễn tượng Tập đoàn Vinashin không trả được nợ mà đánh giá Tập đoàn Vinacomin. Từ đầu tháng 12, Standard & Poor's đã báo trước cho các nhà đầu tư thân chủ của họ rằng Vinashin sẽ “không trả được nợ” (default) trong vòng 30 ngày. Trong báo cáo gửi giới đầu tư, công ty này đã trích dẫn nhận xét của các chuyên viên Ngân Hàng Thế Giới, họ nói rằng công ty Vinashin “đã làm những báo cáo tài chánh giả mạo;” đồng thời “đã đầu tư tiền bạc vào những khu vực ngoài phạm vi hoạt động chính của mình;” và nói thẳng: Sắp sửa vỡ nợ.
Khi Vinashin xin các chủ nợ cho khất một năm sau mới trả 60 triệu đô la đầu tiên, tất nhiên sẽ phải thương lượng các điều kiện. Trong cuộc thương lượng này thế nào các ngân hàng chủ nợ cũng đòi tăng lãi suất. Rất giản dị, người đi vay càng chứng tỏ có nhiều rủi ro không trả được nợ thì phải trả lãi suất cao hơn cho chủ nợ để bù cho mối lo bị quịt.
Người ta sẽ hỏi tại sao các chủ nợ khó tính như thế? Tại sao mới hôm trước hôm sau đã bắt, không những Vinashin mà cả các doanh nghiệp Việt Nam khác, khi đi vay là phải trả lãi suất cao hơn? Bởi vì khi các con nợ bị đánh giá xuống thấp thì chính các chủ nợ họ cũng đã mất tiền ngay rồi.
Trước hết là vì những trái phiếu mà họ cầm trong tay khi cho chính quyền Việt Nam vay bỗng mất giá trị trên thị trường, khi điểm tín dụng của Việt Nam xuống thấp. Trong tháng 11 năm 2010, những trái phiếu cho Việt Nam vay bằng đô la Mỹ đã mất giá 2.4% chỉ trong 30 ngày. Tháng 12 đã mất giá 5.7%. Ðây là lần mất giá cao nhất kể từ lần tháng 11 năm 2009, tụt giá 4.9%. Trong thị trường tài chánh các ngân hàng thường không giữ các giấy nợ trong tủ, chờ đến kỳ hạn thì đòi nợ. Họ luôn luôn mua qua bán lại các trái phiếu để thay đổi, giảm bớt mức rủi ro phải chịu. Khi các tờ giấy nợ xuống giá, ngân hàng cho vay mất tiền nếu cần bán. Cho nên, con nợ càng nhiều rủi ro thì càng phải trả lãi suất cao hơn.
Ngoài ra, không một ngân hàng lớn nào đem tiền cho vay mà không mua bảo hiểm. Mua Bảo hiểm Nợ (Default Swaps) cũng như bảo hiểm khi mua nhà, là trả một số tiền nhỏ mỗi năm để nếu con nợ quịt (vì vỡ nợ hay sạt nghiệp) thì có hãng bảo hiểm bồi hoàn tất cả số tiền cho vay chưa được trả. Các ngân hàng chủ nợ của chính quyền và các công ty Việt Nam đã phải trả giá bảo hiểm đắt hơn khi có tin công ty Vinashin sắp vỡ nợ. Trước đó, tiền mua bảo hiểm cho trái phiếu của Việt Nam vốn đã đắt rồi, ngày 17 tháng 12 giá là 287 điểm, trên thị trường Singapore. Nghĩa là muốn bảo hiểm cho một số trái phiếu trị giá 10 triệu trên giấy tờ thì phải trả 287 ngàn đô la. Trước ngày 20 tháng 12, giá bảo hiểm đã tăng lên 295 điểm. Sau khi công ty Vinashin xin khất nợ lần đầu, giá bảo hiểm tăng vọt lên 305 điểm; tức là chủ nhân 10 triệu đồng tiền nợ của Việt Nam phải trả bảo hiểm mất 305 ngàn một năm! Nếu quý vị đóng vai chủ nợ, chắc cũng phải đòi tăng lãi suất!
Chính quyền Cộng Sản Việt Nam, dù đã nói đổi mới, đổi mới, nói đổi mới mãi nhưng vẫn không tôn trọng các quy tắc của thị trường tài chánh. Lý do vì đảng Cộng sản vẫn Stheo các chính sách mà Hồ Chí Minh học từ Stalin: Coi lãnh vực quốc doanh là căn bản kinh tế quốc gia.
Cộng đồng thế giới qua vụ Vinashin đã trông thấy rõ những mối nguy của kinh tế Việt Nam: Cán cân thương mại thâm thủng hàng chục tỷ Mỹ kim một năm và sang năm sẽ tiếp tục thâm thủng nhiều hơn; tỷ lệ lạm phát quá cao (gần 12% theo con số chính thức); và các doanh nghiệp nhà nuớc bất lực.
Ngân Hàng Phát Triển Á Châu coi vụ Vinashin sụp đổ là một “thất bại hệ thống” trong việc giám sát các doanh nghiệp nhà nuớc. Tất cả mọi người quan sát đều thấy nhu cầu cần xóa bỏ hệ thống kinh tế quốc doanh.
Ðại sứ Mỹ ở Việt Nam Michael Michalak nói chuyện với các nhà đầu tư quốc tế đã nhận xét: “Tình trạng không ai được trông thấy bản kê khai tài chánh của các doanh nghiệp nhà nuớc khiến chúng ta phải đặt câu hỏi: Còn những Vinashin nào nữa?” Ðại Sứ Anh Anthony Stokes mới nhậm chức thì nói phải coi như chắc chắn còn những vụ Vinashin khác; câu hỏi phải đặt ra là chính quyền Việt Nam có chỉ rõ đó là những công ty nào để cộng đồng kinh doanh quốc tế có thể giúp họ cải thiện hay không.
Giáo Sư Jonathan Pincus, thuộc Harvard Kennedy School đang ở Sài Gòn thấy: “Chính quyền Việt Nam này họ không tính đường xa, không thấy hậu quả của những vụ như Vinashin này trên mức độ tín nhiệm của giới tài chánh vào nước Việt Nam.”
Công ty Moody's đặc biệt nhấn mạnh đến nhu cầu vay nợ của Việt Nam trong những thập niên sắp tới. Một nước đang bắt đầu phát triển cần phải xây dựng hạ tầng cơ sở như đường sá, cầu, sân bay, bến cảng, không thể thiếu và không thể chậm được. Muốn vậy, phải vay nợ trên thị trường quốc tế. Vì vụ Vinashin, tất cả những món nợ mà chính quyền Việt Nam bắt buộc sẽ phải vay cho việc xây dựng hạ tầng cơ sở sẽ khó vay hơn, và khi vay sẽ phải trả lãi suất cao hơn. Vì lý do đó, nhà nước Cộng Sản sẽ phải chậm trễ trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng. Hậu quả là cả nền kinh tế sẽ chạy chậm lại, trong khi nhà nước tiếp tục lo trả nợ cho công ty Vinashin.
Sau khi đọc những lời phân tích trên đây, có lẽ nhiều người Việt Nam cũng đồng ý vụ Vinashin sẽ có ảnh hưởng lâu dài và lan rộng trên tất cả các ngân hàng và xí nghiệp Việt Nam trong tương lai. Hậu quả kinh tế không phải chỉ có mươi tỷ Mỹ kim đâu. Như vậy thì cái tên Vinashin phải gắn liền với tên Nguyễn Tấn Dũng.
Những sự kiện nổi bật tại Việt Nam năm 2010
Thanh Quang, phóng viên RFA Dù thời gian nhanh như “bóng câu qua cửa”, nhưng những hình ảnh gây nhiều bức xúc trong năm 2010 – mà nếu nói theo lời blogger Mẹ Nấm là “rất đình đám”; nói theo nhà văn Nguyễn Quang Lập qua blog Quê Choa là “gây nhức đầu” – hẳn khó nhạt nhoà trong tâm trí người dân Việt.
Vận mệnh quốc gia
Trong mấy ngày qua, nhiều nhật ký trên mạng có đăng bài tựa đề “Nhìn Lại Năm 2010” của Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc bên Úc, đặc biệt chú trọng tới khả năng lãnh đạo của nhà cầm quyền VN bị thử thách nghiêm trọng nhất trong năm 2010 kể từ sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Nga và Đông Âu bị sụp đổ vào những năm 1989-1990 – bị thử thách bởi công luận, nhất là công luận quốc nội.
GS Nguyễn Hưng Quốc nhận thấy, ngày càng có nhiều người trong nước kiên quyết giành lại quyền tự do bày tỏ cảm tưởng của mình qua các phương tiện truyền thông từ website cho tới blog, thậm chí ngay trên diễn đàn Quốc Hội, qua đó, họ sẵn sàng đề nghị Quốc Hội bỏ phiếu về việc tín nhiệm Thủ tướng; Có người từng khởi kiện Thủ tướng về những chính sách sai trái của chính phủ khiến đe doạ đến sự tồn vong của đất nước, dân tộc; Và ngày càng có nhiều người đề cập tới nhiều sai lầm của chính phủ trong nhiều lãnh vực khác nhau.
Nhưng, theo GS Nguyễn Hưng Quốc, trong số trí thức hoặc blogger từng lên tiếng về những vấn đề trọng đại của đất nước hiện nay, dường như không ai trực tiếp đề cập tới quyền lãnh đạo của đảng CS, ngoại trừ một số nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng như Hà Sĩ Phu, Trần Khải Thanh Thuỷ hay Lê Thị Công Nhân. Tuy nhiên, Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc nhận xét:
“…Qua những vấn đề họ đề cập, như các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên; kế hoạch cho người ngoại quốc, trong đó có khá nhiều công ty Trung Quốc, thuê rừng dài hạn; cách phản ứng của chính phủ Việt Nam trước thái độ ngang ngược của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông và đặc biệt, với các ngư dân Việt Nam; việc vỡ nợ của tập đoàn kinh tế Vinashin và cùng với nó, vai trò của nền kinh tế quốc doanh; kế hoạch xây dựng đường sắt cao tốc xuyên Việt; cách đối phó của chính phủ trước nạn lũ lụt làm chết nhiều người ở miền Trung; và phương thức tổ chức đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, v.v…, qua những vấn đề được các trí thức độc lập ở Việt Nam đề cập, phân tích và bàn luận, người ta biết được khá nhiều sự thật, có khi chỉ là những chi tiết nho nhỏ nhưng lại có khả năng tiết lộ nhiều về năng lực lãnh đạo của nhà cầm quyền.
Chúng cho thấy rõ ít nhất một số điều: Một, dường như giới lãnh đạo Việt Nam không có một chính sách nào thật rõ ràng và nhất quán liên quan đến những vấn đề sinh tử của quốc gia; hai, cách thức làm việc của họ vừa quan liêu lại vừa kém hiệu quả ngay cả ở những vấn đề ngỡ như đơn giản và dễ dàng nhất như nắm chắc các số liệu liên quan đến vụ vỡ nợ của tập đoàn kinh tế Vinashin hay chi phí tổ chức đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội; và ba, họ thiếu hẳn khả năng thuyết phục quần chúng về các chính sách mà họ theo đuổi.
Tất cả những vấn đề ấy trở thành một thử thách quan trọng nhất đối với giới lãnh đạo Việt Nam: Để tồn tại, họ phải chứng tỏ năng lực lãnh đạo thực sự của mình thay vì lấp liếm dối quanh hay ba hoa vớ vẩn, hoặc tập trung đánh phá các trang mạng hay blog độc lập và bôi bẩn hay trấn áp các trí thức có tinh thần phản biện.
Liệu trong năm 2011 sắp tới, với Ban lãnh đạo mới sẽ được bầu trong kỳ Đại hội đảng vào tháng Giêng này, họ có vượt qua được thử thách ấy hay không?”
Nhiều chuyện nhức đầu
Blog Nhân Quyền Cho VN đăng bài “Câu Chuyện Cuối Năm” của tác giả Trương Vĩnh Khôi đề cập tới tình hình chính trị trong nước qua mạng “sôi động hẳn lên” khi gần cuối năm nay, khiến “hương thơm dân chủ” tưởng như lan toả khắp nơi, nhất là qua những bài viết các cán bộ cao cấp “thẳng thừng vạch rõ những chuyện làm sai trái của chính quyền cũng như hô hào mọi người, mọi giới, mọi ngành hãy thực thi quyền làm dân, quyền làm báo và quyền đòi hỏi một thể chế dân chủ”.
“Hương thơm dân chủ” lan tỏa ấy, theo tác giả Trương Vĩnh Khôi, thể hiện từ diễn đàn Quốc Hội “thi nhau chất vấn chính phủ” cho tới 20 đảng viên, trí thức hàng đầu bác bỏ toàn bộ cương lĩnh của Bộ Chính Trị vì “xa rời nhân dân” và “quá nhiều sai trái”.
Nhưng tác giả phân tích kỹ vấn đề thì thấy “có chút gì hơi kỳ kỳ”, khi ông không thấy đảng viên cấp trung hay cấp thấp nào dám chơi trò mà ông gọi là “đùa với lửa” này, ngoại trừ một số đảng viên, cán bộ nòng cốt, kể cả ông Lê Hiếu Đằng, đương kim phó chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Uỷ ban Trung ương Mặt Trận Tổ Quốc VN. Qua blog Nhân Quyền Cho VN, tác giả Trương Vĩnh Khôi nhận xét như sau:
“Ông Lê Hiếu Đằng đột nhiên xuất hiện với khí thế đằng đằng. Là một đảng viên gộc, 36 năm qua ông không hề mở miệng, Tới nay, đột nhiên ông nổi hứng …yêu nước, đốc thúc mọi người “Đừng có sợ. Mà tại sao chúng ta phải sợ ? Những người phải sợ là những người đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân…”
Ông hạch hỏi giới truyền thông “Tôi xin hỏi giới nhà báo trong nước: tại sao các bạn phải sợ mà không đăng tải một bản kiến nghị ….Tôi tin rằng tờ báo nào mạnh dạn đăng bản kiến nghị nói trên sẽ chẳng bị ai bắt tù, mà ngược lại sẽ được nhân dân quý trọng…”.
Ông Lê Hiếu Đằng phát biểu như người đang …mộng du. Ông không biết luật lệ nhà nước đặt cho báo chí là “đi trên lề phải”. Nghe ông xúi dại, đi lộn lề là …toi mạng như mấy nhà báo tường trình vụ PMI, PMU…Ông không sợ, vì ông có quyền, có thế, chẳng ai dám đụng tới ông, nhưng những người dân đen, những nhà báo thấp cổ bé miệng mà nghe ông …xúi dại thì đi vào… cửa tử. Ông Tầu Ôn gia Bảo đề cao dân chủ thì vẫn vững như bàn thạch, ông Lưu Hiểu Ba cổ võ cho dân chủ thì bị tội tù.”
Trên blog Quê Choa, tác giả Nguyễn Quang Thân có cái nhìn tổng quát hơn, dẫn tới tình trạng “nhà kia lỗi đạo con khinh bố, mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng”, nói theo lời Tiên sinh Trần Tế Xương ngày xưa – hay sự xuống dốc của đạo đức xã hội VN ngày nay. Qua mạng nhật ký này, tác giả Nguyễn Quang Thân nhận xét:
Năm 2010 sắp qua. Khoan hãy nói tới những vụ “gây nhức đầu” kiểu Vinashin. Khoan hãy nói tới những bàn cãi nảy lửa quanh những vụ trọng đại khác như bauxite, cho thuê rừng hay tàu cao tốc, những vấn đề xã hội như tham nhũng, ách tắc giao thông hay biến đổi khí hậu. Những vụ việc ấy quả là trọng đại, gây bàn cãi, tranh luận, thậm chí chia rẽ, nhưng dù sao người ta cũng còn nhìn thấy điểm cuối khi cơ quan quyền lực cao nhất có quyết định CÓ hay KHÔNG.
Nhưng có những vấn đề tuy có vẻ nhỏ nhặt của đời sống hàng ngày lại gây ra cơn nhức đầu, bức bối dai dẳng cho toàn cộng đồng, không trừ một ai, như đạo đức xã hội, giáo dục, y tế xuống cấp v.v…
Cơ quan quyền lực cao nhất có thể chặn con tàu cao tốc chưa thích hợp bằng một cuộc bỏ phiếu. Nhưng thật khó khăn khi ngăn xu hướng đi xuống của đạo đức xã hội.”
Luật pháp ở đâu?
Trong khi đó, blogger Mẹ Nấm “dạo một vòng các tờ báo trong nước thì thấy có khá nhiều bài tổng kết rất đình đám, kiểu như những sự kiện tiêu biểu, những nhân vật tiêu biểu”, nhưng blogger Mẹ Nấm không thấy tờ báo nào trong số khoảng 700 tờ báo do nhà nước điều hành đề cập tới thành tích bất hảo của mấy anh công an nhân dân. Blogger Mẹ Nấm lên tiếng:
“Đó là cái tồn đọng của xã hội mà tôi thấy không có báo chí chính thống nào lên tiếng. Tại vì thực sự đây là năm mà công an gặp rất nhiều rắc rối trong việc cư xử với người dân. Điều mà người dân chờ đợi là giới cầm quyền phải có hình phạt, xử lý đúng theo pháp luật đối với những người thực thi luật pháp nhưng có hành vi sai trái. Thực sự muốn có công bằng xã hội thì giới cầm quyền phải thực thi đúng pháp luật đối với chính những người có trách nhiệm thực hành pháp luật nhưng làm sai. Đó là công an.”
Ông Nguyễn Ngọc Quang được chăm sóc tại nhà sau tai nạn hôm 18/9/2010. Ảnh do thân nhân ông Quang cung cấp. Theo tổng kết qua của blogger Mẹ Nấm, thì nếu trao giải về thành tích và sự cống hiến trong năm nay, mấy vị công an nên được giải về chuỗi thành tích bất hảo.
Từ vụ anh Bảo, anh Nguyễn Mạnh Hùng tử vong tại cơ quan công an hồi tháng Giêng năm 2010, công an cùng côn đồ trấn áp dân ở Bắc Ninh hồi tháng 3, thanh niên Võ Văn Khánh chết về tay công an Điện Bàn, Quảng Nam và 2 nạn nhân khác bị công an bắn chết ở Nghi Sơn, Thanh Hoá hồi tháng 5 vừa rồi
Dài dài cho tới cuối năm 2010, đã diễn ra cảnh công an đánh chết người, bắn trọng thương nữ sinh, đánh một thầy truyền đạo gãy tay vì mũ bảo hiểm, công an trả lại cho người mẹ chiếc quan tài và xác đứa con trai trong vụ “3 con vịt ‘nuốt’ 1 mạng người”, rồi vụ người dân mang xác 1 thanh niên đến đồn công an ở TP Long Xuyên để bắt đền thủ phạm cho tới học sinh lớp 8 bị công an xã đánh ngất xỉu, hay clip vô nhân liên quan vụ gọi là “bắt quả tang mua bán dâm”.
Trước những cảnh vô nhân như vậy, blogger Mẹ Nấm nhận xét trên mạng:
“Vấn đề đặt ra là đến giờ, đã có vụ án nào được công khai xét xử khi có án mạng xảy ra do công an chưa? Câu trả lời là: CHƯA.
Ngoài hình thức kiểm điểm, hạ bậc, cách chức, thì ít nhất là đến giờ này cá nhân tôi chưa đọc được tin đồng chí công an nhân dân nào bị đưa ra xét xử trước luật pháp như một người bình thường cả…Có người cho rằng, năm nay là năm hạn của ngành công an với quá nhiều “thành tích bất hảo”, tôi lại không nghĩ như vậy. Bởi cái gì đã là bản chất thì khó mà giấu mãi được. Năm 2010, cùng với sự phát triển của Internet và sự nâng cao trong nghiệp vụ “vượt tường lửa” của nhân dân thì bản chất hung bạo, khát máu, vô đạo đức, phi nhân tính được bộc lộ rõ nét hơn những năm trước.”
Blogger Đinh Tấn Lực nhận xét: “Qua bài viết “Năm nay là năm của các anh”, tác giả Mẹ Nấm đã dày công liệt kê và đúc kết hoành tráng những “thành tựu và cống hiến” tận tụy suốt năm của CA. Theo đó, bộ phận CA nước nhà quả xứng đáng được trao giải Cúc Cung 2010.”
Trong bối cảnh công an nhân dân lại cư xử với người dân một cách tự do như vậy, blogger Paulus Sơn không khỏi nêu lên nghi vấn rằng “Ai chỉ thị cho công an đánh đập nhân dân?”:
“Những vụ việc công an đánh dân xảy ra liên tục trên khắp đất nước Việt Nam đang là một vấn nạn vô cùng to lớn mà nhân dân Việt Nam phải gánh chịu. Không có chỉ thị thì làm sao công an lại đánh dân một cách rất thoải mái? Nếu không có chỉ thị bằng văn bản trong ngành công an mà sao khắp mọi tỉnh thành nơi đâu cũng có công an đánh dân, có lẽ là chỉ thị truyền khẩu chăng? hay ngành công an được quyền đánh dân, giết dân mà không bị pháp luật phân xử một cách nghiêm minh?”
Mục Điểm Blog tuần này xin tạm dừng ở đây. Thanh Quang kính chúc quý vị mọi điều an lành nhân Tân Niên Dương Lịch 2011 sắp tới.
Nguồn: Thanh Quang, phóng viên RFA
Thanh Quang, phóng viên RFA Dù thời gian nhanh như “bóng câu qua cửa”, nhưng những hình ảnh gây nhiều bức xúc trong năm 2010 – mà nếu nói theo lời blogger Mẹ Nấm là “rất đình đám”; nói theo nhà văn Nguyễn Quang Lập qua blog Quê Choa là “gây nhức đầu” – hẳn khó nhạt nhoà trong tâm trí người dân Việt.
Vận mệnh quốc gia
Trong mấy ngày qua, nhiều nhật ký trên mạng có đăng bài tựa đề “Nhìn Lại Năm 2010” của Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc bên Úc, đặc biệt chú trọng tới khả năng lãnh đạo của nhà cầm quyền VN bị thử thách nghiêm trọng nhất trong năm 2010 kể từ sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Nga và Đông Âu bị sụp đổ vào những năm 1989-1990 – bị thử thách bởi công luận, nhất là công luận quốc nội.
GS Nguyễn Hưng Quốc nhận thấy, ngày càng có nhiều người trong nước kiên quyết giành lại quyền tự do bày tỏ cảm tưởng của mình qua các phương tiện truyền thông từ website cho tới blog, thậm chí ngay trên diễn đàn Quốc Hội, qua đó, họ sẵn sàng đề nghị Quốc Hội bỏ phiếu về việc tín nhiệm Thủ tướng; Có người từng khởi kiện Thủ tướng về những chính sách sai trái của chính phủ khiến đe doạ đến sự tồn vong của đất nước, dân tộc; Và ngày càng có nhiều người đề cập tới nhiều sai lầm của chính phủ trong nhiều lãnh vực khác nhau.
Nhưng, theo GS Nguyễn Hưng Quốc, trong số trí thức hoặc blogger từng lên tiếng về những vấn đề trọng đại của đất nước hiện nay, dường như không ai trực tiếp đề cập tới quyền lãnh đạo của đảng CS, ngoại trừ một số nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng như Hà Sĩ Phu, Trần Khải Thanh Thuỷ hay Lê Thị Công Nhân. Tuy nhiên, Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc nhận xét:
“…Qua những vấn đề họ đề cập, như các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên; kế hoạch cho người ngoại quốc, trong đó có khá nhiều công ty Trung Quốc, thuê rừng dài hạn; cách phản ứng của chính phủ Việt Nam trước thái độ ngang ngược của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông và đặc biệt, với các ngư dân Việt Nam; việc vỡ nợ của tập đoàn kinh tế Vinashin và cùng với nó, vai trò của nền kinh tế quốc doanh; kế hoạch xây dựng đường sắt cao tốc xuyên Việt; cách đối phó của chính phủ trước nạn lũ lụt làm chết nhiều người ở miền Trung; và phương thức tổ chức đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, v.v…, qua những vấn đề được các trí thức độc lập ở Việt Nam đề cập, phân tích và bàn luận, người ta biết được khá nhiều sự thật, có khi chỉ là những chi tiết nho nhỏ nhưng lại có khả năng tiết lộ nhiều về năng lực lãnh đạo của nhà cầm quyền.
Chúng cho thấy rõ ít nhất một số điều: Một, dường như giới lãnh đạo Việt Nam không có một chính sách nào thật rõ ràng và nhất quán liên quan đến những vấn đề sinh tử của quốc gia; hai, cách thức làm việc của họ vừa quan liêu lại vừa kém hiệu quả ngay cả ở những vấn đề ngỡ như đơn giản và dễ dàng nhất như nắm chắc các số liệu liên quan đến vụ vỡ nợ của tập đoàn kinh tế Vinashin hay chi phí tổ chức đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội; và ba, họ thiếu hẳn khả năng thuyết phục quần chúng về các chính sách mà họ theo đuổi.
Tất cả những vấn đề ấy trở thành một thử thách quan trọng nhất đối với giới lãnh đạo Việt Nam: Để tồn tại, họ phải chứng tỏ năng lực lãnh đạo thực sự của mình thay vì lấp liếm dối quanh hay ba hoa vớ vẩn, hoặc tập trung đánh phá các trang mạng hay blog độc lập và bôi bẩn hay trấn áp các trí thức có tinh thần phản biện.
Liệu trong năm 2011 sắp tới, với Ban lãnh đạo mới sẽ được bầu trong kỳ Đại hội đảng vào tháng Giêng này, họ có vượt qua được thử thách ấy hay không?”
Nhiều chuyện nhức đầu
Blog Nhân Quyền Cho VN đăng bài “Câu Chuyện Cuối Năm” của tác giả Trương Vĩnh Khôi đề cập tới tình hình chính trị trong nước qua mạng “sôi động hẳn lên” khi gần cuối năm nay, khiến “hương thơm dân chủ” tưởng như lan toả khắp nơi, nhất là qua những bài viết các cán bộ cao cấp “thẳng thừng vạch rõ những chuyện làm sai trái của chính quyền cũng như hô hào mọi người, mọi giới, mọi ngành hãy thực thi quyền làm dân, quyền làm báo và quyền đòi hỏi một thể chế dân chủ”.
“Hương thơm dân chủ” lan tỏa ấy, theo tác giả Trương Vĩnh Khôi, thể hiện từ diễn đàn Quốc Hội “thi nhau chất vấn chính phủ” cho tới 20 đảng viên, trí thức hàng đầu bác bỏ toàn bộ cương lĩnh của Bộ Chính Trị vì “xa rời nhân dân” và “quá nhiều sai trái”.
Nhưng tác giả phân tích kỹ vấn đề thì thấy “có chút gì hơi kỳ kỳ”, khi ông không thấy đảng viên cấp trung hay cấp thấp nào dám chơi trò mà ông gọi là “đùa với lửa” này, ngoại trừ một số đảng viên, cán bộ nòng cốt, kể cả ông Lê Hiếu Đằng, đương kim phó chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Uỷ ban Trung ương Mặt Trận Tổ Quốc VN. Qua blog Nhân Quyền Cho VN, tác giả Trương Vĩnh Khôi nhận xét như sau:
“Ông Lê Hiếu Đằng đột nhiên xuất hiện với khí thế đằng đằng. Là một đảng viên gộc, 36 năm qua ông không hề mở miệng, Tới nay, đột nhiên ông nổi hứng …yêu nước, đốc thúc mọi người “Đừng có sợ. Mà tại sao chúng ta phải sợ ? Những người phải sợ là những người đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân…”
Ông hạch hỏi giới truyền thông “Tôi xin hỏi giới nhà báo trong nước: tại sao các bạn phải sợ mà không đăng tải một bản kiến nghị ….Tôi tin rằng tờ báo nào mạnh dạn đăng bản kiến nghị nói trên sẽ chẳng bị ai bắt tù, mà ngược lại sẽ được nhân dân quý trọng…”.
Ông Lê Hiếu Đằng phát biểu như người đang …mộng du. Ông không biết luật lệ nhà nước đặt cho báo chí là “đi trên lề phải”. Nghe ông xúi dại, đi lộn lề là …toi mạng như mấy nhà báo tường trình vụ PMI, PMU…Ông không sợ, vì ông có quyền, có thế, chẳng ai dám đụng tới ông, nhưng những người dân đen, những nhà báo thấp cổ bé miệng mà nghe ông …xúi dại thì đi vào… cửa tử. Ông Tầu Ôn gia Bảo đề cao dân chủ thì vẫn vững như bàn thạch, ông Lưu Hiểu Ba cổ võ cho dân chủ thì bị tội tù.”
Trên blog Quê Choa, tác giả Nguyễn Quang Thân có cái nhìn tổng quát hơn, dẫn tới tình trạng “nhà kia lỗi đạo con khinh bố, mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng”, nói theo lời Tiên sinh Trần Tế Xương ngày xưa – hay sự xuống dốc của đạo đức xã hội VN ngày nay. Qua mạng nhật ký này, tác giả Nguyễn Quang Thân nhận xét:
Năm 2010 sắp qua. Khoan hãy nói tới những vụ “gây nhức đầu” kiểu Vinashin. Khoan hãy nói tới những bàn cãi nảy lửa quanh những vụ trọng đại khác như bauxite, cho thuê rừng hay tàu cao tốc, những vấn đề xã hội như tham nhũng, ách tắc giao thông hay biến đổi khí hậu. Những vụ việc ấy quả là trọng đại, gây bàn cãi, tranh luận, thậm chí chia rẽ, nhưng dù sao người ta cũng còn nhìn thấy điểm cuối khi cơ quan quyền lực cao nhất có quyết định CÓ hay KHÔNG.
Nhưng có những vấn đề tuy có vẻ nhỏ nhặt của đời sống hàng ngày lại gây ra cơn nhức đầu, bức bối dai dẳng cho toàn cộng đồng, không trừ một ai, như đạo đức xã hội, giáo dục, y tế xuống cấp v.v…
Cơ quan quyền lực cao nhất có thể chặn con tàu cao tốc chưa thích hợp bằng một cuộc bỏ phiếu. Nhưng thật khó khăn khi ngăn xu hướng đi xuống của đạo đức xã hội.”
Luật pháp ở đâu?
Trong khi đó, blogger Mẹ Nấm “dạo một vòng các tờ báo trong nước thì thấy có khá nhiều bài tổng kết rất đình đám, kiểu như những sự kiện tiêu biểu, những nhân vật tiêu biểu”, nhưng blogger Mẹ Nấm không thấy tờ báo nào trong số khoảng 700 tờ báo do nhà nước điều hành đề cập tới thành tích bất hảo của mấy anh công an nhân dân. Blogger Mẹ Nấm lên tiếng:
“Đó là cái tồn đọng của xã hội mà tôi thấy không có báo chí chính thống nào lên tiếng. Tại vì thực sự đây là năm mà công an gặp rất nhiều rắc rối trong việc cư xử với người dân. Điều mà người dân chờ đợi là giới cầm quyền phải có hình phạt, xử lý đúng theo pháp luật đối với những người thực thi luật pháp nhưng có hành vi sai trái. Thực sự muốn có công bằng xã hội thì giới cầm quyền phải thực thi đúng pháp luật đối với chính những người có trách nhiệm thực hành pháp luật nhưng làm sai. Đó là công an.”
Ông Nguyễn Ngọc Quang được chăm sóc tại nhà sau tai nạn hôm 18/9/2010. Ảnh do thân nhân ông Quang cung cấp. Theo tổng kết qua của blogger Mẹ Nấm, thì nếu trao giải về thành tích và sự cống hiến trong năm nay, mấy vị công an nên được giải về chuỗi thành tích bất hảo.
Từ vụ anh Bảo, anh Nguyễn Mạnh Hùng tử vong tại cơ quan công an hồi tháng Giêng năm 2010, công an cùng côn đồ trấn áp dân ở Bắc Ninh hồi tháng 3, thanh niên Võ Văn Khánh chết về tay công an Điện Bàn, Quảng Nam và 2 nạn nhân khác bị công an bắn chết ở Nghi Sơn, Thanh Hoá hồi tháng 5 vừa rồi
Dài dài cho tới cuối năm 2010, đã diễn ra cảnh công an đánh chết người, bắn trọng thương nữ sinh, đánh một thầy truyền đạo gãy tay vì mũ bảo hiểm, công an trả lại cho người mẹ chiếc quan tài và xác đứa con trai trong vụ “3 con vịt ‘nuốt’ 1 mạng người”, rồi vụ người dân mang xác 1 thanh niên đến đồn công an ở TP Long Xuyên để bắt đền thủ phạm cho tới học sinh lớp 8 bị công an xã đánh ngất xỉu, hay clip vô nhân liên quan vụ gọi là “bắt quả tang mua bán dâm”.
Trước những cảnh vô nhân như vậy, blogger Mẹ Nấm nhận xét trên mạng:
“Vấn đề đặt ra là đến giờ, đã có vụ án nào được công khai xét xử khi có án mạng xảy ra do công an chưa? Câu trả lời là: CHƯA.
Ngoài hình thức kiểm điểm, hạ bậc, cách chức, thì ít nhất là đến giờ này cá nhân tôi chưa đọc được tin đồng chí công an nhân dân nào bị đưa ra xét xử trước luật pháp như một người bình thường cả…Có người cho rằng, năm nay là năm hạn của ngành công an với quá nhiều “thành tích bất hảo”, tôi lại không nghĩ như vậy. Bởi cái gì đã là bản chất thì khó mà giấu mãi được. Năm 2010, cùng với sự phát triển của Internet và sự nâng cao trong nghiệp vụ “vượt tường lửa” của nhân dân thì bản chất hung bạo, khát máu, vô đạo đức, phi nhân tính được bộc lộ rõ nét hơn những năm trước.”
Blogger Đinh Tấn Lực nhận xét: “Qua bài viết “Năm nay là năm của các anh”, tác giả Mẹ Nấm đã dày công liệt kê và đúc kết hoành tráng những “thành tựu và cống hiến” tận tụy suốt năm của CA. Theo đó, bộ phận CA nước nhà quả xứng đáng được trao giải Cúc Cung 2010.”
Trong bối cảnh công an nhân dân lại cư xử với người dân một cách tự do như vậy, blogger Paulus Sơn không khỏi nêu lên nghi vấn rằng “Ai chỉ thị cho công an đánh đập nhân dân?”:
“Những vụ việc công an đánh dân xảy ra liên tục trên khắp đất nước Việt Nam đang là một vấn nạn vô cùng to lớn mà nhân dân Việt Nam phải gánh chịu. Không có chỉ thị thì làm sao công an lại đánh dân một cách rất thoải mái? Nếu không có chỉ thị bằng văn bản trong ngành công an mà sao khắp mọi tỉnh thành nơi đâu cũng có công an đánh dân, có lẽ là chỉ thị truyền khẩu chăng? hay ngành công an được quyền đánh dân, giết dân mà không bị pháp luật phân xử một cách nghiêm minh?”
Mục Điểm Blog tuần này xin tạm dừng ở đây. Thanh Quang kính chúc quý vị mọi điều an lành nhân Tân Niên Dương Lịch 2011 sắp tới.
Nguồn: Thanh Quang, phóng viên RFA
Tự do nhân tính và tự do thú tính
Ngô Nhân Dụng Những ngày cuối năm, tôi mới đọc một bài của Tu Wei-ming viết về Yen Yuan (Nhan Nguyên), một triết gia người Trung Hoa đời nhà Thanh. Ông sinh năm 1635, một thế hệ sau những Hoàng Tông Hy, Cố Viêm Vũ, nhưng không được nổi danh như hai vị đại Nho này.
Cho tới đầu thế kỷ 20, Lương Khải Siêu “khám phá” ra và tán dương những tư tưởng của ông mà Lương gọi là “Thực tế, thực dụng chủ nghĩa.” Nhan Nguyên là người dám công kích những ý kiến của Trình Dị - Chu Hi đời Tống vì thấy là phù phiếm; trong lúc giới trí thức chung quanh và nhà nước quân chủ vẫn tôn sùng như các lý thuyết đó giáo điều. Ông chủ trương phải chú trọng đến thực hành, phải thực tập các tiêu chuẩn đạo lý. Ông suốt đời không ra làm quan; có lúc làm ruộng để sống, rồi bốc thuốc, dậy học.
Trong bài báo này tôi sẽ không dám làm phiền quý vị độc giả về những trước tác và tư tưởng mới mẻ của Nhan Nguyên, như Giáo Sư Tu Wei-ming (Ðỗ Duy Minh, đọc lối Việt Nam) đã trình bày. Chỉ muốn kể một câu chuyện về ông rất đáng nhớ. Năm Nhan Nguyên 15 tuổi, bố ông đã bị mất tích từ lâu, mẹ đã tái giá, ông nội lo cho tương lai cháu cho nên đút tiền các học quan trong huyện, xin cho cháu được qua kỳ khảo hạch để chuẩn bị đi thi. Khi biết chuyện ông nội đã đi hối lộ cho mình kiếm được một mảnh bằng, cậu bé 15 tuổi đã bật khóc. Cậu nói: Tôi thà làm một anh dốt chữ thật còn hơn làm một anh hay chữ giả!
Sống thật, không sống giả, đó quả là một châm ngôn dễ hiểu nhưng khó thực hành, nhất là ở Việt Nam bây giờ. Nhà giáo Hà Sĩ Phu đang ở Ðà Lạt gần đây đã bàn về thứ “Văn Hòa Mặt Dày,” nhân một bài nhan đề như vậy trên mạng Bô Xít Việt Nam. Ông viết, “Thứ ‘Văn hóa mặt dày’ sở dĩ vênh váo được vì có một hệ thống công khai nuôi dưỡng nó, (lúc chịu đòn cũng chỉ là đòn giơ cao đánh khẽ), trong khi ‘đối thủ’ của nó là một nền văn hóa biết xấu hổ, biết đau khổ (về tình trạng thua kém, về tình trạng lệ thuộc, đáng tủi nhục của nhân dân mình, của đất nước mình) lại đang ở vào thế bị bị lép vế, bị áp chế, càng yêu nước càng bị người đại diện cho nước đánh đòn.”
Hà Sĩ Phu viết bài trên trước khi có tin 16 quan chức tỉnh Hà Giang, trong đó có ông chủ tịch Nguyễn Trường Tô đã được tha, không bị truy tố gì cả trong khi hai nữ sinh trong số các nạn nhân vẫn bị đưa ra tòa về tội môi giới. Nhưng Hà Sĩ Phu đã bàn trước: Phải thương, rất thương các cháu gái nhỏ đang thành những nạn nhân khốn khổ do “lũ” người “lớn” tạo ra, và thả các cháu Hằng cháu Thúy ra ngay mới phải! Nhẹ tay với thủ phạm nhưng nặng tay với nạn nhân là nghĩa làm sao?
Quả thật, hai cô học trò bị tố tội môi giới năm nay mới 18, 19 tuổi. Trong thời gian mà hai cô bị tố đã làm nghề môi giới đưa các bạn gái cùng trường tới hiến cho các quan chức trong tỉnh, các cô bé này chưa đến tuổi thành niên để làm bất cứ nghề môi giới nào, dù môi giới đưa tiền hối lộ, môi giới ở thị trường chứng khoán hay trong mạng lưới nhện của ông Mã Giám Sinh hiệu trưởng Sầm Ðức Xương. Nhưng các quan đầu tỉnh thì được coi như vô tội, còn hai cô học trò con nhà dân dã thì sẽ bị kết tội. Sống thật khổ, sống giả sướng!
Nguyên nhân cảnh suy đồi về đạo lý này, Hà Sĩ Phu nhìn thấy trong hệ thống chính trị. Trong mỗi con người chúng ta, ông thấy có phần người thật và phần thú vật. Một chế độ chính trị bóp nghẹt không cho phần con người được tự do (tự do tư tưởng, tự do phát biểu, tự do chọn người cai trị bằng lá phiếu, vân vân) thì phần con thú trong mọi người được tự do nhiều hơn, không còn gì ràng buộc nữa.
Hà Sĩ Phu viết: “Những hiện tượng Nguyễn Trường Tô, Hoàng Thùy Linh, hiện tượng bạo lực học đường, bạo lực xã hội, nữ sinh lõa lồ đánh nhau (mà còn quay phim) đưa clip lên mạng... chỉ là những ví dụ nhỏ trong hệ thống thiếu tự do nhân tinh của một nền dân chủ, dẫn đến phát triển tự do thú tính hoang dã. Một cách tự nhiên, con ‘thú’ lớn vạch đường cho những con ‘thú’ nhỏ, noi gương nhau cả thôi.”
Phát triển Tự Do Thú Tính trong khi đàn áp Tự Do Nhân Tính, tạo nên một nền Văn Hóa Mặt Dày, không những dẫn tới một xã hội vừa vô đạo lý vừa bất công, mà còn đưa đất nước tới chỗ suy yếu, khi tất cả xã hội phải sống hoàn toàn bằng giả trá, mạo hóa, gian manh, lừa dối. Chế độ ở nước ta hiện nay tên là gì? Họ gọi là Xã hội Chủ nghĩa. Ðảng cầm quyền tự gọi là đảng Cộng Sản. Nhưng ngay cả các đảng viên Cộng Sản cũng biết, từ cách suy nghĩ đến các hành động của những người đang nắm quyền trong tay, và đang chuẩn bị nắm quyền thêm 5 năm nữa, họ không có gì liên quan đến chủ nghĩa Cộng Sản của ông Karl Marx cả. Ai cũng thấy, chế độ xã hội và kinh tế thực sự ở nước ta bây giờ là một chế độ tư bản, mà là thứ kinh tế tư bản thời hoang dã, trước đây vài thế kỷ, trước khi ông Karl Marx đề ra những phân tích của ông.
Trong một trăm năm kể từ khi ông Karl Marx viết bản tuyên ngôn Cộng Sản, chính nền kinh tế tư bản mà ông phân tích đã thay đổi. Bản chất của nền kinh tế đó không thay đổi: Kiếm lợi. Tối đa hóa doanh lợi. Nhưng con thú trong mỗi người là lòng tham không còn được tự do như thời hoang dã nữa. Bao nhiêu thứ luật lệ đã được loài người đặt ra để kềm chế lòng tham. Cho nên mới có những luật lệ cấm kết bè đảng để chiếm độc quyền; những luật lệ bảo đảm tự do lập công đoàn, bảo vệ người lao động; những luật lệ kiểm soát thực phẩm, thuốc men, bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của người tiêu thụ, vân vân và vân vân. Mối lo của nhân loại là làm sao hạn chế những Tự Do Thú Tính.
Chế độ kinh tế tư bản đã thay đổi không phải vì lòng từ thiện của các nhà tư bản. Sự thay đổi đạt được là do người dân đã tranh đấu để được tự do. Có như vậy thì những quyền Tự Do Nhân Tính mới có cơ hội nảy nở và được tôn trọng. Sức mạnh của kinh tế tư bản là tự do cạnh tranh. Không có tự do ganh đua nhau thì kinh tế không thể tiến. quyền tự do kinh tế lại phải gắn liền với quyền tự do chính trị. Vì nếu anh không được tự do về chính trị thì có cái gì bảo đảm là quyền tự do kinh doanh của anh không bị xâm phạm? Ðến lúc nào thì những kẻ có quyền có thế sẽ không tha mà bắt đầu chiếm đoạt tài sản do anh tạo ra?
Gần đây ông Vũ Cao Ðàm cùng mấy người bạn đã đưa lên mạng lưới Bô Xít một bài về ông Trần Xuân Bách, viết nhân ngày giỗ đầu của ông. Trong các cuộc gặp gỡ, thảo luận với các nhà chuyên môn về kinh tế và chính trị, ông Trần Xuân Bách đã đi tới ý tưởng là phải thay đổi cả về kinh tế lẫn chính trị. Ông tên thật là Vũ Thiện Tuấn quê tại xã Nam Ninh, Nam Ðịnh, đã làm bí thư trung ương đảng và ủy viên Bộ Chính Trị, nhưng sau khi thấy Cộng Sản sụp đổ ở Ðông Âu ông đã tỉnh ngộ. Theo ông Vũ Cao Ðàm thuật lại thì ông Trần Xuân Bách đã thấy rằng “...đã đa thành phần kinh tế, mà anh gọi là ‘đa nguyên kinh tế,’ thì tất yếu sẽ dẫn đến ‘đa thành phần’ trong xu hướng chính trị, mà anh cũng thẳng thắn gọi là ‘đa nguyên chính trị’”. Ngoài ra, ông Vũ Cao Ðàm kể, “anh (Trần Xuân Bách) đưa ra nhận định khái quát: Thị trường và đa nguyên là những thành tựu nổi bật của nhân loại.” Chế độ Cộng Sản xóa bỏ thị trường, đàn áp chủ trương đa nguyên, Trần Xuân Bách đã nhìn ngược lại. Ngày mai là ngày giỗ ông, nhắc lại những ý kiến của ông do những người thân cận kể lại, để ghi nhận không phải người Việt Nam nào đã bước vào con đường công danh Cộng Sản cũng tự từ bỏ trí suy nghĩ và lòng khát khao muốn sống lương hảo.
Có thể nói ông Trần Xuân Bách không cần phải nghiên cứu kinh tế học mà chỉ cần dùng lương tri của con người bình thường cũng thấy được là kinh tế thị trường chỉ có thể phát triển tốt đẹp khi đi cùng chế độ tự do dân chủ. Còn như bây giờ, kinh tế Việt Nam nằm trong tay một nhóm quả đầu, họ thao túng thị trường kinh tế nhờ nắm chặt quyền hành chính trị. Khi nhìn vào chế độ gọi là Cộng Sản ở nước ta bây giờ, thấy trong thực tế họ đang xây dựng một xã hội tư bản giả, thứ tư bản thời hoang dã trước đây 200 năm! Chính trong tình trạng đó mà Tự Do Nhân Tính thì bị đè nén để nhóm quả đầu tiếp tục chiếm độc quyền. Còn Tự Do Thú Tính được thả lòng cho vẫy vùng vì cả xã hội phải sống giả dối. Trên dối dưới, dưới dối trên, tất cả đồng lõa gọi tên nhau là cộng sản nhưng ăn cắp và hối lộ theo lối tư bản thời hoang dã. Luân lý suy đồi vì một lý do mà Soljenytsin đã từng nêu ra: Một chế độ độc tài với một guồng máy đàn áp bao giờ cũng phải kèm theo một guồng máy nói dối. Guồng máy nói dối đó gọi là Ban Tuyên Huấn, Tuyên Giáo hay là Ban Văn Hóa, Tư Tưởng, những cái tên càng đẹp đẽ thì tính chất gian dối càng lộ liễu, không người dân nào không thấy là dối trá. Nhưng cuối cùng bao nhiêu người vẫn phải ngậm miệng sống hùa theo tự do thú tính, nhắm mắt không thấy nhân tính của mình bị mất tự do. Vì sống thật thì khó, sống giả thì dễ!
Chỉ còn vài tuần lễ nữa, đảng Cộng Sản Việt Nam lại họp đại hội. Chắc không ai trong đại hội đó dám nói như lối cậu bé 15 tuổi Nhan Nguyên hơn ba thế kỷ trước: Thà rằng làm tư bản thật còn hơn làm cộng sản giả!
Chế độ cai trị của nhà Thanh rất khắc nghiệt nhưng họ vẫn phần nào tôn trọng vai trò của các nhà trí thức. Vua Mãn Thanh muốn tập trung sách vở để dễ kiểm soát, nhưng chưa đến nỗi cấm tuyệt các nhà Nho không cho ai được tự do viết nữa. Cho nên mới có những người như Hoàng Tông Hy, đã đề xướng một cách tổ chức xã hội có thể coi là mang tính chất phân quyền, và hiến định, với mục đích giới hạn quyền hành của vua quan. Cho nên, Nhan Nguyên dám chỉ trích cả lý thuyết chính thống Trình Chu mà không bị ngăn cản. Nếu sống vào thế kỷ 21 này họ chắc sẽ trở thành những người làm “blog” như Ðiếu Cày, như Mẹ Nấm!
Nhan Nguyên cả đời không dính tới quan trường mà chỉ ngồi nhà dậy học, viết sách; trước khi mất năm 1704, ông còn dặn bảo các học trò: Hãy cố học, thực tập, và sống sao cho hữu ích. Thanh niên Việt Nam bây giờ có được thầy giáo, cô giáo dậy như thế hay không?
Học được đúng lời khuyên đó, các em sẽ biết hổ thẹn, không còn sống theo Tự do Thú tính nữa. Sẽ có ngày các em học sinh sẽ đứng lên đòi những Tự do Nhân tính. Ðể sống hữu ích.
Ngô Nhân Dụng Những ngày cuối năm, tôi mới đọc một bài của Tu Wei-ming viết về Yen Yuan (Nhan Nguyên), một triết gia người Trung Hoa đời nhà Thanh. Ông sinh năm 1635, một thế hệ sau những Hoàng Tông Hy, Cố Viêm Vũ, nhưng không được nổi danh như hai vị đại Nho này.
Cho tới đầu thế kỷ 20, Lương Khải Siêu “khám phá” ra và tán dương những tư tưởng của ông mà Lương gọi là “Thực tế, thực dụng chủ nghĩa.” Nhan Nguyên là người dám công kích những ý kiến của Trình Dị - Chu Hi đời Tống vì thấy là phù phiếm; trong lúc giới trí thức chung quanh và nhà nước quân chủ vẫn tôn sùng như các lý thuyết đó giáo điều. Ông chủ trương phải chú trọng đến thực hành, phải thực tập các tiêu chuẩn đạo lý. Ông suốt đời không ra làm quan; có lúc làm ruộng để sống, rồi bốc thuốc, dậy học.
Trong bài báo này tôi sẽ không dám làm phiền quý vị độc giả về những trước tác và tư tưởng mới mẻ của Nhan Nguyên, như Giáo Sư Tu Wei-ming (Ðỗ Duy Minh, đọc lối Việt Nam) đã trình bày. Chỉ muốn kể một câu chuyện về ông rất đáng nhớ. Năm Nhan Nguyên 15 tuổi, bố ông đã bị mất tích từ lâu, mẹ đã tái giá, ông nội lo cho tương lai cháu cho nên đút tiền các học quan trong huyện, xin cho cháu được qua kỳ khảo hạch để chuẩn bị đi thi. Khi biết chuyện ông nội đã đi hối lộ cho mình kiếm được một mảnh bằng, cậu bé 15 tuổi đã bật khóc. Cậu nói: Tôi thà làm một anh dốt chữ thật còn hơn làm một anh hay chữ giả!
Sống thật, không sống giả, đó quả là một châm ngôn dễ hiểu nhưng khó thực hành, nhất là ở Việt Nam bây giờ. Nhà giáo Hà Sĩ Phu đang ở Ðà Lạt gần đây đã bàn về thứ “Văn Hòa Mặt Dày,” nhân một bài nhan đề như vậy trên mạng Bô Xít Việt Nam. Ông viết, “Thứ ‘Văn hóa mặt dày’ sở dĩ vênh váo được vì có một hệ thống công khai nuôi dưỡng nó, (lúc chịu đòn cũng chỉ là đòn giơ cao đánh khẽ), trong khi ‘đối thủ’ của nó là một nền văn hóa biết xấu hổ, biết đau khổ (về tình trạng thua kém, về tình trạng lệ thuộc, đáng tủi nhục của nhân dân mình, của đất nước mình) lại đang ở vào thế bị bị lép vế, bị áp chế, càng yêu nước càng bị người đại diện cho nước đánh đòn.”
Hà Sĩ Phu viết bài trên trước khi có tin 16 quan chức tỉnh Hà Giang, trong đó có ông chủ tịch Nguyễn Trường Tô đã được tha, không bị truy tố gì cả trong khi hai nữ sinh trong số các nạn nhân vẫn bị đưa ra tòa về tội môi giới. Nhưng Hà Sĩ Phu đã bàn trước: Phải thương, rất thương các cháu gái nhỏ đang thành những nạn nhân khốn khổ do “lũ” người “lớn” tạo ra, và thả các cháu Hằng cháu Thúy ra ngay mới phải! Nhẹ tay với thủ phạm nhưng nặng tay với nạn nhân là nghĩa làm sao?
Quả thật, hai cô học trò bị tố tội môi giới năm nay mới 18, 19 tuổi. Trong thời gian mà hai cô bị tố đã làm nghề môi giới đưa các bạn gái cùng trường tới hiến cho các quan chức trong tỉnh, các cô bé này chưa đến tuổi thành niên để làm bất cứ nghề môi giới nào, dù môi giới đưa tiền hối lộ, môi giới ở thị trường chứng khoán hay trong mạng lưới nhện của ông Mã Giám Sinh hiệu trưởng Sầm Ðức Xương. Nhưng các quan đầu tỉnh thì được coi như vô tội, còn hai cô học trò con nhà dân dã thì sẽ bị kết tội. Sống thật khổ, sống giả sướng!
Nguyên nhân cảnh suy đồi về đạo lý này, Hà Sĩ Phu nhìn thấy trong hệ thống chính trị. Trong mỗi con người chúng ta, ông thấy có phần người thật và phần thú vật. Một chế độ chính trị bóp nghẹt không cho phần con người được tự do (tự do tư tưởng, tự do phát biểu, tự do chọn người cai trị bằng lá phiếu, vân vân) thì phần con thú trong mọi người được tự do nhiều hơn, không còn gì ràng buộc nữa.
Hà Sĩ Phu viết: “Những hiện tượng Nguyễn Trường Tô, Hoàng Thùy Linh, hiện tượng bạo lực học đường, bạo lực xã hội, nữ sinh lõa lồ đánh nhau (mà còn quay phim) đưa clip lên mạng... chỉ là những ví dụ nhỏ trong hệ thống thiếu tự do nhân tinh của một nền dân chủ, dẫn đến phát triển tự do thú tính hoang dã. Một cách tự nhiên, con ‘thú’ lớn vạch đường cho những con ‘thú’ nhỏ, noi gương nhau cả thôi.”
Phát triển Tự Do Thú Tính trong khi đàn áp Tự Do Nhân Tính, tạo nên một nền Văn Hóa Mặt Dày, không những dẫn tới một xã hội vừa vô đạo lý vừa bất công, mà còn đưa đất nước tới chỗ suy yếu, khi tất cả xã hội phải sống hoàn toàn bằng giả trá, mạo hóa, gian manh, lừa dối. Chế độ ở nước ta hiện nay tên là gì? Họ gọi là Xã hội Chủ nghĩa. Ðảng cầm quyền tự gọi là đảng Cộng Sản. Nhưng ngay cả các đảng viên Cộng Sản cũng biết, từ cách suy nghĩ đến các hành động của những người đang nắm quyền trong tay, và đang chuẩn bị nắm quyền thêm 5 năm nữa, họ không có gì liên quan đến chủ nghĩa Cộng Sản của ông Karl Marx cả. Ai cũng thấy, chế độ xã hội và kinh tế thực sự ở nước ta bây giờ là một chế độ tư bản, mà là thứ kinh tế tư bản thời hoang dã, trước đây vài thế kỷ, trước khi ông Karl Marx đề ra những phân tích của ông.
Trong một trăm năm kể từ khi ông Karl Marx viết bản tuyên ngôn Cộng Sản, chính nền kinh tế tư bản mà ông phân tích đã thay đổi. Bản chất của nền kinh tế đó không thay đổi: Kiếm lợi. Tối đa hóa doanh lợi. Nhưng con thú trong mỗi người là lòng tham không còn được tự do như thời hoang dã nữa. Bao nhiêu thứ luật lệ đã được loài người đặt ra để kềm chế lòng tham. Cho nên mới có những luật lệ cấm kết bè đảng để chiếm độc quyền; những luật lệ bảo đảm tự do lập công đoàn, bảo vệ người lao động; những luật lệ kiểm soát thực phẩm, thuốc men, bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của người tiêu thụ, vân vân và vân vân. Mối lo của nhân loại là làm sao hạn chế những Tự Do Thú Tính.
Chế độ kinh tế tư bản đã thay đổi không phải vì lòng từ thiện của các nhà tư bản. Sự thay đổi đạt được là do người dân đã tranh đấu để được tự do. Có như vậy thì những quyền Tự Do Nhân Tính mới có cơ hội nảy nở và được tôn trọng. Sức mạnh của kinh tế tư bản là tự do cạnh tranh. Không có tự do ganh đua nhau thì kinh tế không thể tiến. quyền tự do kinh tế lại phải gắn liền với quyền tự do chính trị. Vì nếu anh không được tự do về chính trị thì có cái gì bảo đảm là quyền tự do kinh doanh của anh không bị xâm phạm? Ðến lúc nào thì những kẻ có quyền có thế sẽ không tha mà bắt đầu chiếm đoạt tài sản do anh tạo ra?
Gần đây ông Vũ Cao Ðàm cùng mấy người bạn đã đưa lên mạng lưới Bô Xít một bài về ông Trần Xuân Bách, viết nhân ngày giỗ đầu của ông. Trong các cuộc gặp gỡ, thảo luận với các nhà chuyên môn về kinh tế và chính trị, ông Trần Xuân Bách đã đi tới ý tưởng là phải thay đổi cả về kinh tế lẫn chính trị. Ông tên thật là Vũ Thiện Tuấn quê tại xã Nam Ninh, Nam Ðịnh, đã làm bí thư trung ương đảng và ủy viên Bộ Chính Trị, nhưng sau khi thấy Cộng Sản sụp đổ ở Ðông Âu ông đã tỉnh ngộ. Theo ông Vũ Cao Ðàm thuật lại thì ông Trần Xuân Bách đã thấy rằng “...đã đa thành phần kinh tế, mà anh gọi là ‘đa nguyên kinh tế,’ thì tất yếu sẽ dẫn đến ‘đa thành phần’ trong xu hướng chính trị, mà anh cũng thẳng thắn gọi là ‘đa nguyên chính trị’”. Ngoài ra, ông Vũ Cao Ðàm kể, “anh (Trần Xuân Bách) đưa ra nhận định khái quát: Thị trường và đa nguyên là những thành tựu nổi bật của nhân loại.” Chế độ Cộng Sản xóa bỏ thị trường, đàn áp chủ trương đa nguyên, Trần Xuân Bách đã nhìn ngược lại. Ngày mai là ngày giỗ ông, nhắc lại những ý kiến của ông do những người thân cận kể lại, để ghi nhận không phải người Việt Nam nào đã bước vào con đường công danh Cộng Sản cũng tự từ bỏ trí suy nghĩ và lòng khát khao muốn sống lương hảo.
Có thể nói ông Trần Xuân Bách không cần phải nghiên cứu kinh tế học mà chỉ cần dùng lương tri của con người bình thường cũng thấy được là kinh tế thị trường chỉ có thể phát triển tốt đẹp khi đi cùng chế độ tự do dân chủ. Còn như bây giờ, kinh tế Việt Nam nằm trong tay một nhóm quả đầu, họ thao túng thị trường kinh tế nhờ nắm chặt quyền hành chính trị. Khi nhìn vào chế độ gọi là Cộng Sản ở nước ta bây giờ, thấy trong thực tế họ đang xây dựng một xã hội tư bản giả, thứ tư bản thời hoang dã trước đây 200 năm! Chính trong tình trạng đó mà Tự Do Nhân Tính thì bị đè nén để nhóm quả đầu tiếp tục chiếm độc quyền. Còn Tự Do Thú Tính được thả lòng cho vẫy vùng vì cả xã hội phải sống giả dối. Trên dối dưới, dưới dối trên, tất cả đồng lõa gọi tên nhau là cộng sản nhưng ăn cắp và hối lộ theo lối tư bản thời hoang dã. Luân lý suy đồi vì một lý do mà Soljenytsin đã từng nêu ra: Một chế độ độc tài với một guồng máy đàn áp bao giờ cũng phải kèm theo một guồng máy nói dối. Guồng máy nói dối đó gọi là Ban Tuyên Huấn, Tuyên Giáo hay là Ban Văn Hóa, Tư Tưởng, những cái tên càng đẹp đẽ thì tính chất gian dối càng lộ liễu, không người dân nào không thấy là dối trá. Nhưng cuối cùng bao nhiêu người vẫn phải ngậm miệng sống hùa theo tự do thú tính, nhắm mắt không thấy nhân tính của mình bị mất tự do. Vì sống thật thì khó, sống giả thì dễ!
Chỉ còn vài tuần lễ nữa, đảng Cộng Sản Việt Nam lại họp đại hội. Chắc không ai trong đại hội đó dám nói như lối cậu bé 15 tuổi Nhan Nguyên hơn ba thế kỷ trước: Thà rằng làm tư bản thật còn hơn làm cộng sản giả!
Chế độ cai trị của nhà Thanh rất khắc nghiệt nhưng họ vẫn phần nào tôn trọng vai trò của các nhà trí thức. Vua Mãn Thanh muốn tập trung sách vở để dễ kiểm soát, nhưng chưa đến nỗi cấm tuyệt các nhà Nho không cho ai được tự do viết nữa. Cho nên mới có những người như Hoàng Tông Hy, đã đề xướng một cách tổ chức xã hội có thể coi là mang tính chất phân quyền, và hiến định, với mục đích giới hạn quyền hành của vua quan. Cho nên, Nhan Nguyên dám chỉ trích cả lý thuyết chính thống Trình Chu mà không bị ngăn cản. Nếu sống vào thế kỷ 21 này họ chắc sẽ trở thành những người làm “blog” như Ðiếu Cày, như Mẹ Nấm!
Nhan Nguyên cả đời không dính tới quan trường mà chỉ ngồi nhà dậy học, viết sách; trước khi mất năm 1704, ông còn dặn bảo các học trò: Hãy cố học, thực tập, và sống sao cho hữu ích. Thanh niên Việt Nam bây giờ có được thầy giáo, cô giáo dậy như thế hay không?
Học được đúng lời khuyên đó, các em sẽ biết hổ thẹn, không còn sống theo Tự do Thú tính nữa. Sẽ có ngày các em học sinh sẽ đứng lên đòi những Tự do Nhân tính. Ðể sống hữu ích.
Giáo Hội Việt Nam trước cơn sóng dữ
Nguyễn Kim (Vương Quốc Bỉ) Vào dịp lễ Giáng Sinh vừa qua, đài phát thanh RFA đã phát loạt bài nói về tội ác của Cộng Sản tại trại giam Cổng Trời do thông tín viên Mặc Lâm thực hiện. Trong bài đầu tiên, tác giả đề cập đến chuyện bách hại xảy ra tại nhà thờ lớn Hà Nội vào mùa Giáng Sinh năm 1959. Kết quả là linh mục chánh xứ Trịnh Văn Căn (sau là Hồng Y thứ nhì của giáo hội Công Giáo Việt Nam) bị 12 tháng tù treo, cha phó Nguyễn Văn Vinh cùng một số tu sĩ, giáo dân khác bị bắt đưa vào trại giam Cổng Trời và tất cả đã bỏ mình trong chốn địa ngục trần gian ấy.
Điều đáng nói ở đây là thủ phạm trực tiếp của vụ bách hại chính là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo, tiền thân của cái gọi là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Việt Nam hôm nay, tổ chức do nhà nước thành lập này đã gây biết bao nỗi đoạn trường cho giáo hội Công Giáo, đã giúp Cộng Sản len lỏi vào hang ngũ lãnh đạo giáo hội và hiện đang tiếp tục đóng vai trò trung gian để “nối kết” giáo hội Công Giáo và nhà nước Cộng Sản qua chiêu bài “đối thoại”. Xin bấm vào “link” để xem (và nghe) loạt bài này.
Đọc lại những trang sử viết bằng máu và nước mắt của giáo hội Miền Bắc dưới chế độ Cộng Sản, những ai còn có chút lòng với Giáo Hội không khỏi cảm thấy bùi ngùi và căm phẫn cho cái chính sách tàn độc cũa những người Cộng Sản, từ Liên Xô qua Trung Quốc, đến Việt Nam. Và cảm thông cho cái thái độ im lặng, nhẫn nhục và bất hợp tác của các vị chủ chăn miền Bắc trong một thời gian dài. Các ngài chẳng có sự lựa chọn nào khác, vì chủ trương nhất quán của Cộng Sản là tiêu diệt Công Giáo thẳng tay, không thương tiếc, không khoan nhượng. Những giáo sĩ, giáo dân tội nghiệp kia nếu muốn trung thành với niềm tin của mình thì bắt buộc phải bước đi trên những con đường khổ nạn. Qua những kinh nghiệm đau thương, giáo hội Miền Bắc đã chín chắn hơn, hiểu rõ CS hơn và cung cách tiếp cận, ứng xử với CS cũng già dặn hơn như chúng ta thấy được qua biến cố Đồng Chiêm hay Thái Hà. Người không tán thành thì chỉ trích thái độ của các giám mục miền Bắc là “não trạng tiền Vatican” và họ cổ võ việc “đối thoại” với Cộng Sản vô thần.
Đối thoại dĩ nhiên là điều tốt, nhưng dưới chế độ Cộng Sản vô thần, không bao giờ người công giáo được đối thoại theo đúng nghĩa: nói chuyện với nhau một cách bình đẳng, không có cái cung cách kẻ trên - người dưới, kẻ vênh váo - người khúm núm; trình bày một cách thẳng thắn những gì muốn nói với nhau, và lắng nghe nhau trong tinh thần tôn trọng: nếu anh sai tôi có quyền chỉ cho anh thấy cái sai mà không hề bị anh để ý, trả thù; nếu tôi nói đúng thì anh phải thành tâm phải sửa đổi. Nếu ngồi vào bàn chỉ để nghe người ta “lên lớp”, “hô khẩu hiệu”, còn mình thì cười cầu tài hay nói vuốt theo, mình chỉ có thể tán thành chứ không có quyền phản đối, khi ý kiến hai bên bất đồng thì họ giành quyền bác bỏ ý kiến của mình và hành động theo ý của họ thì đó không phải là đối thoại mà là mối tương quan của kẻ thống trị và người bị trị.
Giáo hội Công Giáo Việt Nam hôm nay bị chỉ trích từ nhiều phía về sự thụ động trước những vấn đề hệ trọng liên quan đến sự sống còn của dân tộc, hay những tệ trạng xã hội, những bất công, nghịch lý xảy ra hàng ngày, khắp nơi trên mọi lãnh vực và xảy ra khắp mọi miền đất nước. Để biện hộ cho thái độ bàng quang, vô cảm này. Người ta thường trưng ra cái lý do “giáo hội không làm chính trị”. Thoạt nghe cũng có vẻ có lý. Nhưng suy xét cho kỹ thì rõ ràng không phải vậy, mà đó chỉ là cái cớ để né tránh những va chạm với kẻ có quyền thế nhằm đổi lấy sự an toàn cho bản thân và nhận đươc những ân sủng được ban phát bằng cách này cách khác. Đồng ý là giáo hội có sứ mạng riêng, không lập đảng giành lấy chính quyền để cai trị quốc gia, hay hô hào dùng bạo lực truất phế người này, hạ bệ người kia; những việc đó không phải là ơn gọi của những người chọn con đường tu trì đang làm nhiệm vụ cai quản giáo hội. Nhưng lên tiếng trước những bất công và nghịch lý của xã hội, cổ võ cái đúng, phê phán cái sai không phải là làm chính trị. Cho dù phải chịu bách hại, phải chấp nhận hy sinh thì những người chọn con đường bước chân theo Thầy Chí Thánh cũng vẫn luôn được mời gọi làm chứng cho lẽ phải.
Xin đơn cử một thí dụ về thái độ cần phải có của những người được Thiên Chúa trao phó trọng trách dẫn dắt đoàn chiên của Ngài: Hiện nay Việt Nam là nước có tỷ lệ phá thai cao nhất Đông Nam Á. Theo thống kê chính thức của nhà nước thì mỗi người phụ nữ Việt Nam phá thai 2,5 lần trong đời. Nếu kể cả những trường hợp không chính thức (phá thai chui, phá thai ở bệnh viện nhưng không ghi vào sổ hay phá thai bằng những phương pháp dân gian…) thì số lần phá thai trong đời người phụ nữ Việt Nam còn cao hơn nữa, có thể là cao nhất thế giới cũng nên. Xin được hỏi Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã làm gì trước những tội ác kinh khủng này? Điều đáng nói là xã hội (trong đó có những con chiên mà các ngài có nhiệm vụ chăn dắt) ngày càng trở nên thờ ơ vô cảm trước tệ trạng này, họ không xem đó là tội ác nữa. Hay là các ngài vô tư quá không nhìn thấy? Hội Đồng Giám Mục có dám đặt vấn đề với những người có trách nhiệm với xã hội về việc này không? có dám gióng lên tiếng nói của lương tri trước thảm cảnh hàng triệu thai nhi vô tội bị “tàn sát” hàng năm không ? hay đó là việc của nhà nước? Giáo Hội “không làm chính trị” nên không tiện đề cập đến?
Một hiện tượng bất công đang diễn ra, không thể chấp nhận được đối với những người còn lương tâm là việc Chủ tịch tỉnh, các quan chức hàng đầu trong tỉnh Hà Giang hè nhau đi mua dâm nữ sinh, mà người dắt mối chính là ông hiệu trưởng ngôi trường các em học, sau đó chính các em nữ sinh lại bị ở tù trong khi các quan vô sự. Mới đây, các cơ quan điều tra đã đưa ra kết luận là “không đủ chứng cớ” để buộc tội các quan, nghĩa là họ được “hạ cánh an toàn” trong khi hai cô bé nạn nhân nhỏ bé tội nghiệp cô thân cô thế kia vẫn đang (và sẽ) phải tiếp tục ngồi tù. Những đấng bậc có trách nhiệm về đạo đức đâu cả rồi mà không ai có tiếng nói trước chuyện tưởng như hoang đường ấy đang xảy ra trên đất nước Việt Nam ?
Những người mang sứ mệnh Ngôn Sứ trên vai đã làm gì trước cảnh hàng trăm, hàng ngàn đồng bào bị chính quyền cưỡng bức, đánh đập, xua đuổi ra khỏi mái nhà, khu đất mà tổ tiên họ bao đời vun xới để “thu hồi” đất bán cho những doanh nghiệp với giá gấp trăm, gấp ngàn lần số tiền rẻ mạt họ trả cho những khổ chủ tội nghiệp kia. Số tiền lời thì quan chức chính quyên chia nhau bỏ túi! Thật, những người dẫn dắt giáo hội đã không có tiếng nói nào cả, thậm chí khi chính những tín hữu cô đơn, đau khổ kia chạy đến cùng chủ chăn của mình để kêu cầu (trường hợp Cồn Dầu), thì nhận được câu trả lời lạnh lùng, vô cảm, Vô Tri: “rất tiếc, tôi không làm được gì cả… ”, và bỏ mặc đàn chiên của mình trước đàn sói dữ. Những giáo dân khốn khổ kia chưa bỏ cuộc, họ tiếp tục kêu cầu đến những cấp cao hơn: Hội Đồng Giám Mục, Uỷ Ban Công Lý và Hòa Bình của Hội Đồng Giám Mục. Tiếng kêu của họ nhờ những phương tiện truyền thông đã vang đi khắp nơi trên thế giới. Lần này, người ta cảm thấy được an ủi cộng thêm một chút vui mừng (?) khi thấy lá thư của Giám Mục Nguyễn Thái Hợp chủ tịch Uỷ Ban Công Lý và Hòa Bình gởi cho chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng. Nhưng rồi sau khi lá thư được công bố thì những người dân vô tội kia vẫn bị đưa ra tòa, bị xử án, không có một dấu hiệu nào cho thấy nhà của họ, đất của họ sẽ khỏi bị chính quyền cướp mất, thậm chí họ còn tiếp tục chịu những đe dọa, khủng bố của nhà cầm quyền. Đến nay người ta chưa thấy một tiếng nói khác từ phía giáo quyền, mà chỉ thấy hình ảnh “hữu nghị thắm thiết” giữa giám mục của họ với ông xếp của lũ cướp ngày kia. Nếu sự “can thiệp” của hội đồng giám mục ngưng lại ở đó thì có lẽ không quá đáng khi bảo các ngài đã “đánh trống bỏ dùi”. Trong việc này, có thể một trong 2 trường hợp sau đây đã xảy ra: Trường hợp 1: Hội Đồng Giám Mục thực lòng muốn can thiệp nhưng chính quyền không đếm xỉa đến, cứ tiếp tục hành vi cướp đất của dân. Điều này chứng tỏ họ không xem Hội Đồng Giám Mục là đối tác để đối thoại, và Hội Đồng Giám Mục cũng im lặng, mặc nhiên chấp nhận cách cư xử bất công (và bất nhân) này. Trường hợp thứ 2 là thấy dư luận (trong cũng như ngoài nước) “bức xúc” quá nên các ngài cho tung ra một lá thư để cho dư luận xì xú bắp, rồi thôi. Trong cả 2 trường hợp, các vị chăn dắt Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã không làm tròn vai trò của những chủ chăn đối với đoàn chiên, tự chối bỏ vai trò làm chứng và bênh vực cho lẽ phải.
Vào cuối tháng 11-2010 đại hội Dân Chúa, được Hội Đồng giám mục cho là một biến cố trọng đại của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, vừa qua đi với lễ nghi long trọng và những bài tham luận không lấy gì làm đặc biệt, đề cập đến những vấn đề chung chung, vô tội vạ, ai cũng thấy, trong khi những điều tối quan trọng lại cố tình tránh né, lãng quên. Những vấn đề “nóng” như: sự băng hoại tột cùng nền đạo đức; niềm tin của giáo dân vào những vị đại diện Thiên Chúa bị tổn thương trầm trọng; sự can thiệp thô bạo của thế quyền vô thần vào nội bộ các tôn giáo (nói chung) và Công giáo (nói riêng); những bất công, áp bức tràn lan khắp nơi mà nạn nhân chính là những con người bé nhỏ, cô đơn mà giáo hội có bổn phận phải bênh vực; phụ nữ, trẻ gái, công nhân Việt Nam bị buôn bán như những món hàng ….không hề được nêu lên trong đại hội “hoành tráng” ấy.
Đại hội dân Chúa vừa được tổ chức có rất nhiều điểm giống với cách tổ chức của những cuộc đại hội đảng: những cuộc vận động, tuyển chọn đại biểu, những thành phần “không nên cho tham dự” bị loại ra bằng cách này hay cách khác… Cho dù vị giám mục đại diện hội đồng giám mục giải thích như thế nào, cũng không thuyết phục được người tín hữu về việc dòng Chúa Cứu Thế, một hội dòng bề thế, hiện diện ở Việt Nam hàng thế kỷ nay, đã đóng góp rất nhiều cho công việc quảng bá Tin Mừng, đã đồng hành với Giáo Hội Việt Nam qua nhiều thăng trầm lại không có đại diện trong đại hội này. Điều đáng chú ý là dòng Chúa Cứu Thế không được đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam dành cho nhiều thiện cảm (nếu không muốn nói là căm ghét, muốn khai trừ) chỉ vì các cha dòng Chúa Cứu Thế không chấp nhận cúi đầu chấp nhận cái ác, không chịu im lặng trước bất công.
Nhân đề cập đến dòng Chúa Cứu Thế, xin được mở một dấu ngoặc nhỏ : Giáo dân Việt Nam ai cũng thấy sự khác thường và vô lý khi dòng Chúa Cứu Thế ở Sài Gòn muốn phong chức cho các cha, các thầy lại phải lên tận vùng Cao Nguyên mời Giám Mục Micae Hoàng Đức Oanh “xuống núi” để truyền chức khi mà ngay tại Sài Gòn có một hồng y và một giám mục, xa hơn thì Xuân Lộc, Bà Rịa, Phan Thiết , Mỹ Tho... nơi nào cũng có giám mục. Tại sao đi đến tận Kon Tum mời một vị chủ tế? Và không phải ngẫu nhiên khi vị chủ chăn đáng kính này cũng là một đối tượng “được” nhà nước đặc biệt chú ý vì sự khẳng khái của ngài. Chẳng lẽ không được lòng nhà nước vô thần cũng có nghĩa là không được lòng giáo quyền ? có khi nhà nước chưa khai trừ thì giáo quyền đã khai trừ trước. Người giáo dân Việt Nam không dám tin điều này, nhưng trước những sự kiện hiển nhiên như vậy, xin những người có trách nhiệm hãy lý giải làm sao cho thuyết phục. Cách nay một vài năm, chú tôi, một linh mục cai quản một giáo xứ ở địa phận Xuân Lộc, đã bị giám mục địa phận cách chức, cho về ngồi chơi xơi nước dù chưa đến tuổi nghỉ hưu chỉ vì ông dám lên tiếng phản đối nhà nước lấn chiếm đất của giáo xứ ông cai quản. Trên đất nước Việt Nam còn bao nhiêu vị linh mục bị “kỷ luật” ví dám phản đối hành động cướp ngày của nhà nước như chú tôi ?
Hôm trước, đọc bài Trung Quốc: Giáo hội tự trị – Việt Nam: Tôn giáo lễ hội của cha pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh thấy ngài phân tích thật đúng, tôi cảm phục những tiếng nói can đảm (và cô đơn) như vậy của cha Tỉnh, cha Đỗ Xuân Quế và một số hiếm hoi những vị chủ chăn “uy vũ bất năng khuất”. May mà giáo hội Việt Nam hôm nay còn có các ngài. Dù biết có thể sẽ phải trả giá bởi những cách trả thù hèn hạ của chính quyền, có khi phải trả bằng cả chính mạng sống của mình nhưng các ngài vẫn can đảm cất tiếng. Sống với Cộng Sản lâu ngày, các vị có trách nhiệm trong giáo hội của mình cũng bị ảnh hưởng cái bệnh “hoành tráng về hình thức, đại khái về nội dung”, nặng phần phô trương bề mặt hơn là đi vào chiều sâu của tâm linh qua các lễ hội đình đám ở các giáo xứ, giáo phận. Tôi không vơ đũa cả nắm, vì không phải tất cả các linh muc, giám mục đều như vậy, nhưng phải đau lòng nhìn nhận rằng hiện tượng phô trương ngày càng phổ biến trong giáo hội Việt Nam. Thông thường, các Giám Mục, Linh Mục cử hành lễ kỷ niệm vào những dịp ngân khánh (25 năm), kim khánh (50 năm) ngày chịu chức. Ngày nay, nhiều vị tổ chức kỷ niệm hàng năm, rất “hoành tráng”, để phô trương thanh thế, để tiêu tiền hơn là để cảm tạ hồng ân về đoạn đường đã đi qua và cầu xin ân sủng trên bước đường sắp tới.
Vài ngày nữa đây, sẽ là lễ bế mạc Năm Thánh kỷ niệm 350 năm thiết lập Giáo Hội tại Việt Nam, kỷ niệm 50 thiết lập hàng Giáo phẩm Việt Nam, có mời đại diện nhà nước Việt Nam, nghe nói là chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Đã đến tham dự, lẽ nào lại không lên đọc diễn văn, thế là người Cộng Sản vô thần lại được dịp dùng chính diễn đàn của đại hội để hô khẩu hiệu, để dạy dỗ hàng giáo phẩm và giáo dân Việt Nam. Nghĩ tới việc đó, ai còn có lòng yêu mến giáo hội không khỏi ngán ngẩm, cay đắng và đau lòng .
Sự kiện gần đây ở giáo hội bên Trung Quốc là gáo nước lạnh dội và niềm hy vọng của những ai còn mơ hồ về “thiện chí đối thoại” những người Cộng Sản vô thần : Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ, đứng đầu là Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16 đã tỏ thiện chí muốn bắt tay với chính quyền Trung Cộng bằng những nhượng bộ quan trọng: công nhận một số giám mục, linh mục của giáo hội do nhà nước thành lập, đồng ý cho chính quyền Cộng Sản được có ý kiến trong việc lựa chọn giám mục. Thế nhưng Cộng Sản đã trở mặt: chính quyền Trung Cộng mới đây ngang nhiên phong chức giám mục không cần sự đồng ý của tòa thánh Vatican, cưỡng bách các giám mục hiệp thông với Vatican phải tham dự lễ tấn phong. Họ vừa cho mở đại hội giáo dân, đại diện chính quyền đến dự đại hội đã công khai công kích Vatican. Đại hội này đã bầu một giám mục quốc doanh làm chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Trung Quốc…. Đến nỗi Đức Giáo Hoàng , người chủ trương đưa bàn tay ra hòa giải với những người Cộng Sản vô thần, dù không muốn, đã phải công khai, mạnh mẽ lên tiếng chỉ trích Bắc kinh xâm phạm trắng trợn tự do tôn giáo của người dân. Thêm một chứng cứ về sự trở mặt của Cộng Sản.
Tại sao các vị lãnh đạo giáo hội Việt Nam cứ phải đặt vấn đề “đối thoại” với “đối đầu” trong tương quan với nhà nước? Tại sao không thể cư xử với nhau bằng mối tương quan giữa những con người trưởng thành : tôi luôn luôn cố gắng đến với anh với lòng tử tế, cư xử với anh bằng tình người và anh cũng hãy cư xử với tôi trong tinh thần ấy. Nếu anh có gì sai thì tôi có quyền nói là nó sai, anh không được cưỡng bách tôi phải làm ngược với lương tâm của tôi. Nói như vậy với nhà nước có phải là “làm chính trị” không? hay là cứ phải “tốt đạo đẹp đời” mới được? và “tốt đạo đẹp đời” theo lối giải thích của Cộng Sản là gì nếu không phải là ngoan ngoãn cúi đầu “chấp hành” mọi sự áp đặt của nhà nước?
Hãy nhìn thẳng vào hiện tình của Giáo Hội Việt Nam hôm nay để thấy rằng giáo hội Công Giáo Việt Nam đang đứng trước những cơn song dữ. Bàn tay thuồng luồng của Cộng Sản vô thần ngày càng luồn sâu vào những hoạt động của giáo hội không khỏi làm cho những giáo dân, giáo sĩ yêu mến giáo hội lo âu. Nhưng người Công Giáo không được quyền đánh mất niềm tin. Bước qua năm 2011 chúng ta cùng thành tâm cầu nguyện cho giáo hội mẹ được thổi vào luồng sinh khí mới, luồng sinh khí của Chúa Thánh Linh. Giáo hội chính là Nhiệm thể của chúa Kitô, chúng ta xác tín rằng Ngài không để giáo hội mà Ngài đã tạo dựng bằng chính máu của mình bị dẫn dắt vào con đường lầm lạc bởi những người đã và đang thỏa hiệp với loài quỷ dữ. Xin cùng nhau nguyện cầu cho những ai đang lầm lạc được sớm thức tỉnh để quay về như đứa con hoang đàng trong Kinh Thánh, nguyện cầu cho họ đừng quên rằng người Cha nhân từ luôn ngóng đợi từng giờ, từng phút để được ôm đứa con yêu dấu vào lòng và nói với nó lời thứ tha khi nó thành tâm quay về …
Ngày cuối cùng của năm 2010 đầy biến động.
Kim Nguyên
Nguyễn Kim (Vương Quốc Bỉ) Vào dịp lễ Giáng Sinh vừa qua, đài phát thanh RFA đã phát loạt bài nói về tội ác của Cộng Sản tại trại giam Cổng Trời do thông tín viên Mặc Lâm thực hiện. Trong bài đầu tiên, tác giả đề cập đến chuyện bách hại xảy ra tại nhà thờ lớn Hà Nội vào mùa Giáng Sinh năm 1959. Kết quả là linh mục chánh xứ Trịnh Văn Căn (sau là Hồng Y thứ nhì của giáo hội Công Giáo Việt Nam) bị 12 tháng tù treo, cha phó Nguyễn Văn Vinh cùng một số tu sĩ, giáo dân khác bị bắt đưa vào trại giam Cổng Trời và tất cả đã bỏ mình trong chốn địa ngục trần gian ấy.
Điều đáng nói ở đây là thủ phạm trực tiếp của vụ bách hại chính là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo, tiền thân của cái gọi là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Việt Nam hôm nay, tổ chức do nhà nước thành lập này đã gây biết bao nỗi đoạn trường cho giáo hội Công Giáo, đã giúp Cộng Sản len lỏi vào hang ngũ lãnh đạo giáo hội và hiện đang tiếp tục đóng vai trò trung gian để “nối kết” giáo hội Công Giáo và nhà nước Cộng Sản qua chiêu bài “đối thoại”. Xin bấm vào “link” để xem (và nghe) loạt bài này.
Đọc lại những trang sử viết bằng máu và nước mắt của giáo hội Miền Bắc dưới chế độ Cộng Sản, những ai còn có chút lòng với Giáo Hội không khỏi cảm thấy bùi ngùi và căm phẫn cho cái chính sách tàn độc cũa những người Cộng Sản, từ Liên Xô qua Trung Quốc, đến Việt Nam. Và cảm thông cho cái thái độ im lặng, nhẫn nhục và bất hợp tác của các vị chủ chăn miền Bắc trong một thời gian dài. Các ngài chẳng có sự lựa chọn nào khác, vì chủ trương nhất quán của Cộng Sản là tiêu diệt Công Giáo thẳng tay, không thương tiếc, không khoan nhượng. Những giáo sĩ, giáo dân tội nghiệp kia nếu muốn trung thành với niềm tin của mình thì bắt buộc phải bước đi trên những con đường khổ nạn. Qua những kinh nghiệm đau thương, giáo hội Miền Bắc đã chín chắn hơn, hiểu rõ CS hơn và cung cách tiếp cận, ứng xử với CS cũng già dặn hơn như chúng ta thấy được qua biến cố Đồng Chiêm hay Thái Hà. Người không tán thành thì chỉ trích thái độ của các giám mục miền Bắc là “não trạng tiền Vatican” và họ cổ võ việc “đối thoại” với Cộng Sản vô thần.
Đối thoại dĩ nhiên là điều tốt, nhưng dưới chế độ Cộng Sản vô thần, không bao giờ người công giáo được đối thoại theo đúng nghĩa: nói chuyện với nhau một cách bình đẳng, không có cái cung cách kẻ trên - người dưới, kẻ vênh váo - người khúm núm; trình bày một cách thẳng thắn những gì muốn nói với nhau, và lắng nghe nhau trong tinh thần tôn trọng: nếu anh sai tôi có quyền chỉ cho anh thấy cái sai mà không hề bị anh để ý, trả thù; nếu tôi nói đúng thì anh phải thành tâm phải sửa đổi. Nếu ngồi vào bàn chỉ để nghe người ta “lên lớp”, “hô khẩu hiệu”, còn mình thì cười cầu tài hay nói vuốt theo, mình chỉ có thể tán thành chứ không có quyền phản đối, khi ý kiến hai bên bất đồng thì họ giành quyền bác bỏ ý kiến của mình và hành động theo ý của họ thì đó không phải là đối thoại mà là mối tương quan của kẻ thống trị và người bị trị.
Giáo hội Công Giáo Việt Nam hôm nay bị chỉ trích từ nhiều phía về sự thụ động trước những vấn đề hệ trọng liên quan đến sự sống còn của dân tộc, hay những tệ trạng xã hội, những bất công, nghịch lý xảy ra hàng ngày, khắp nơi trên mọi lãnh vực và xảy ra khắp mọi miền đất nước. Để biện hộ cho thái độ bàng quang, vô cảm này. Người ta thường trưng ra cái lý do “giáo hội không làm chính trị”. Thoạt nghe cũng có vẻ có lý. Nhưng suy xét cho kỹ thì rõ ràng không phải vậy, mà đó chỉ là cái cớ để né tránh những va chạm với kẻ có quyền thế nhằm đổi lấy sự an toàn cho bản thân và nhận đươc những ân sủng được ban phát bằng cách này cách khác. Đồng ý là giáo hội có sứ mạng riêng, không lập đảng giành lấy chính quyền để cai trị quốc gia, hay hô hào dùng bạo lực truất phế người này, hạ bệ người kia; những việc đó không phải là ơn gọi của những người chọn con đường tu trì đang làm nhiệm vụ cai quản giáo hội. Nhưng lên tiếng trước những bất công và nghịch lý của xã hội, cổ võ cái đúng, phê phán cái sai không phải là làm chính trị. Cho dù phải chịu bách hại, phải chấp nhận hy sinh thì những người chọn con đường bước chân theo Thầy Chí Thánh cũng vẫn luôn được mời gọi làm chứng cho lẽ phải.
Xin đơn cử một thí dụ về thái độ cần phải có của những người được Thiên Chúa trao phó trọng trách dẫn dắt đoàn chiên của Ngài: Hiện nay Việt Nam là nước có tỷ lệ phá thai cao nhất Đông Nam Á. Theo thống kê chính thức của nhà nước thì mỗi người phụ nữ Việt Nam phá thai 2,5 lần trong đời. Nếu kể cả những trường hợp không chính thức (phá thai chui, phá thai ở bệnh viện nhưng không ghi vào sổ hay phá thai bằng những phương pháp dân gian…) thì số lần phá thai trong đời người phụ nữ Việt Nam còn cao hơn nữa, có thể là cao nhất thế giới cũng nên. Xin được hỏi Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã làm gì trước những tội ác kinh khủng này? Điều đáng nói là xã hội (trong đó có những con chiên mà các ngài có nhiệm vụ chăn dắt) ngày càng trở nên thờ ơ vô cảm trước tệ trạng này, họ không xem đó là tội ác nữa. Hay là các ngài vô tư quá không nhìn thấy? Hội Đồng Giám Mục có dám đặt vấn đề với những người có trách nhiệm với xã hội về việc này không? có dám gióng lên tiếng nói của lương tri trước thảm cảnh hàng triệu thai nhi vô tội bị “tàn sát” hàng năm không ? hay đó là việc của nhà nước? Giáo Hội “không làm chính trị” nên không tiện đề cập đến?
Một hiện tượng bất công đang diễn ra, không thể chấp nhận được đối với những người còn lương tâm là việc Chủ tịch tỉnh, các quan chức hàng đầu trong tỉnh Hà Giang hè nhau đi mua dâm nữ sinh, mà người dắt mối chính là ông hiệu trưởng ngôi trường các em học, sau đó chính các em nữ sinh lại bị ở tù trong khi các quan vô sự. Mới đây, các cơ quan điều tra đã đưa ra kết luận là “không đủ chứng cớ” để buộc tội các quan, nghĩa là họ được “hạ cánh an toàn” trong khi hai cô bé nạn nhân nhỏ bé tội nghiệp cô thân cô thế kia vẫn đang (và sẽ) phải tiếp tục ngồi tù. Những đấng bậc có trách nhiệm về đạo đức đâu cả rồi mà không ai có tiếng nói trước chuyện tưởng như hoang đường ấy đang xảy ra trên đất nước Việt Nam ?
Những người mang sứ mệnh Ngôn Sứ trên vai đã làm gì trước cảnh hàng trăm, hàng ngàn đồng bào bị chính quyền cưỡng bức, đánh đập, xua đuổi ra khỏi mái nhà, khu đất mà tổ tiên họ bao đời vun xới để “thu hồi” đất bán cho những doanh nghiệp với giá gấp trăm, gấp ngàn lần số tiền rẻ mạt họ trả cho những khổ chủ tội nghiệp kia. Số tiền lời thì quan chức chính quyên chia nhau bỏ túi! Thật, những người dẫn dắt giáo hội đã không có tiếng nói nào cả, thậm chí khi chính những tín hữu cô đơn, đau khổ kia chạy đến cùng chủ chăn của mình để kêu cầu (trường hợp Cồn Dầu), thì nhận được câu trả lời lạnh lùng, vô cảm, Vô Tri: “rất tiếc, tôi không làm được gì cả… ”, và bỏ mặc đàn chiên của mình trước đàn sói dữ. Những giáo dân khốn khổ kia chưa bỏ cuộc, họ tiếp tục kêu cầu đến những cấp cao hơn: Hội Đồng Giám Mục, Uỷ Ban Công Lý và Hòa Bình của Hội Đồng Giám Mục. Tiếng kêu của họ nhờ những phương tiện truyền thông đã vang đi khắp nơi trên thế giới. Lần này, người ta cảm thấy được an ủi cộng thêm một chút vui mừng (?) khi thấy lá thư của Giám Mục Nguyễn Thái Hợp chủ tịch Uỷ Ban Công Lý và Hòa Bình gởi cho chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng. Nhưng rồi sau khi lá thư được công bố thì những người dân vô tội kia vẫn bị đưa ra tòa, bị xử án, không có một dấu hiệu nào cho thấy nhà của họ, đất của họ sẽ khỏi bị chính quyền cướp mất, thậm chí họ còn tiếp tục chịu những đe dọa, khủng bố của nhà cầm quyền. Đến nay người ta chưa thấy một tiếng nói khác từ phía giáo quyền, mà chỉ thấy hình ảnh “hữu nghị thắm thiết” giữa giám mục của họ với ông xếp của lũ cướp ngày kia. Nếu sự “can thiệp” của hội đồng giám mục ngưng lại ở đó thì có lẽ không quá đáng khi bảo các ngài đã “đánh trống bỏ dùi”. Trong việc này, có thể một trong 2 trường hợp sau đây đã xảy ra: Trường hợp 1: Hội Đồng Giám Mục thực lòng muốn can thiệp nhưng chính quyền không đếm xỉa đến, cứ tiếp tục hành vi cướp đất của dân. Điều này chứng tỏ họ không xem Hội Đồng Giám Mục là đối tác để đối thoại, và Hội Đồng Giám Mục cũng im lặng, mặc nhiên chấp nhận cách cư xử bất công (và bất nhân) này. Trường hợp thứ 2 là thấy dư luận (trong cũng như ngoài nước) “bức xúc” quá nên các ngài cho tung ra một lá thư để cho dư luận xì xú bắp, rồi thôi. Trong cả 2 trường hợp, các vị chăn dắt Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã không làm tròn vai trò của những chủ chăn đối với đoàn chiên, tự chối bỏ vai trò làm chứng và bênh vực cho lẽ phải.
Vào cuối tháng 11-2010 đại hội Dân Chúa, được Hội Đồng giám mục cho là một biến cố trọng đại của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, vừa qua đi với lễ nghi long trọng và những bài tham luận không lấy gì làm đặc biệt, đề cập đến những vấn đề chung chung, vô tội vạ, ai cũng thấy, trong khi những điều tối quan trọng lại cố tình tránh né, lãng quên. Những vấn đề “nóng” như: sự băng hoại tột cùng nền đạo đức; niềm tin của giáo dân vào những vị đại diện Thiên Chúa bị tổn thương trầm trọng; sự can thiệp thô bạo của thế quyền vô thần vào nội bộ các tôn giáo (nói chung) và Công giáo (nói riêng); những bất công, áp bức tràn lan khắp nơi mà nạn nhân chính là những con người bé nhỏ, cô đơn mà giáo hội có bổn phận phải bênh vực; phụ nữ, trẻ gái, công nhân Việt Nam bị buôn bán như những món hàng ….không hề được nêu lên trong đại hội “hoành tráng” ấy.
Đại hội dân Chúa vừa được tổ chức có rất nhiều điểm giống với cách tổ chức của những cuộc đại hội đảng: những cuộc vận động, tuyển chọn đại biểu, những thành phần “không nên cho tham dự” bị loại ra bằng cách này hay cách khác… Cho dù vị giám mục đại diện hội đồng giám mục giải thích như thế nào, cũng không thuyết phục được người tín hữu về việc dòng Chúa Cứu Thế, một hội dòng bề thế, hiện diện ở Việt Nam hàng thế kỷ nay, đã đóng góp rất nhiều cho công việc quảng bá Tin Mừng, đã đồng hành với Giáo Hội Việt Nam qua nhiều thăng trầm lại không có đại diện trong đại hội này. Điều đáng chú ý là dòng Chúa Cứu Thế không được đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam dành cho nhiều thiện cảm (nếu không muốn nói là căm ghét, muốn khai trừ) chỉ vì các cha dòng Chúa Cứu Thế không chấp nhận cúi đầu chấp nhận cái ác, không chịu im lặng trước bất công.
Nhân đề cập đến dòng Chúa Cứu Thế, xin được mở một dấu ngoặc nhỏ : Giáo dân Việt Nam ai cũng thấy sự khác thường và vô lý khi dòng Chúa Cứu Thế ở Sài Gòn muốn phong chức cho các cha, các thầy lại phải lên tận vùng Cao Nguyên mời Giám Mục Micae Hoàng Đức Oanh “xuống núi” để truyền chức khi mà ngay tại Sài Gòn có một hồng y và một giám mục, xa hơn thì Xuân Lộc, Bà Rịa, Phan Thiết , Mỹ Tho... nơi nào cũng có giám mục. Tại sao đi đến tận Kon Tum mời một vị chủ tế? Và không phải ngẫu nhiên khi vị chủ chăn đáng kính này cũng là một đối tượng “được” nhà nước đặc biệt chú ý vì sự khẳng khái của ngài. Chẳng lẽ không được lòng nhà nước vô thần cũng có nghĩa là không được lòng giáo quyền ? có khi nhà nước chưa khai trừ thì giáo quyền đã khai trừ trước. Người giáo dân Việt Nam không dám tin điều này, nhưng trước những sự kiện hiển nhiên như vậy, xin những người có trách nhiệm hãy lý giải làm sao cho thuyết phục. Cách nay một vài năm, chú tôi, một linh mục cai quản một giáo xứ ở địa phận Xuân Lộc, đã bị giám mục địa phận cách chức, cho về ngồi chơi xơi nước dù chưa đến tuổi nghỉ hưu chỉ vì ông dám lên tiếng phản đối nhà nước lấn chiếm đất của giáo xứ ông cai quản. Trên đất nước Việt Nam còn bao nhiêu vị linh mục bị “kỷ luật” ví dám phản đối hành động cướp ngày của nhà nước như chú tôi ?
Hôm trước, đọc bài Trung Quốc: Giáo hội tự trị – Việt Nam: Tôn giáo lễ hội của cha pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh thấy ngài phân tích thật đúng, tôi cảm phục những tiếng nói can đảm (và cô đơn) như vậy của cha Tỉnh, cha Đỗ Xuân Quế và một số hiếm hoi những vị chủ chăn “uy vũ bất năng khuất”. May mà giáo hội Việt Nam hôm nay còn có các ngài. Dù biết có thể sẽ phải trả giá bởi những cách trả thù hèn hạ của chính quyền, có khi phải trả bằng cả chính mạng sống của mình nhưng các ngài vẫn can đảm cất tiếng. Sống với Cộng Sản lâu ngày, các vị có trách nhiệm trong giáo hội của mình cũng bị ảnh hưởng cái bệnh “hoành tráng về hình thức, đại khái về nội dung”, nặng phần phô trương bề mặt hơn là đi vào chiều sâu của tâm linh qua các lễ hội đình đám ở các giáo xứ, giáo phận. Tôi không vơ đũa cả nắm, vì không phải tất cả các linh muc, giám mục đều như vậy, nhưng phải đau lòng nhìn nhận rằng hiện tượng phô trương ngày càng phổ biến trong giáo hội Việt Nam. Thông thường, các Giám Mục, Linh Mục cử hành lễ kỷ niệm vào những dịp ngân khánh (25 năm), kim khánh (50 năm) ngày chịu chức. Ngày nay, nhiều vị tổ chức kỷ niệm hàng năm, rất “hoành tráng”, để phô trương thanh thế, để tiêu tiền hơn là để cảm tạ hồng ân về đoạn đường đã đi qua và cầu xin ân sủng trên bước đường sắp tới.
Vài ngày nữa đây, sẽ là lễ bế mạc Năm Thánh kỷ niệm 350 năm thiết lập Giáo Hội tại Việt Nam, kỷ niệm 50 thiết lập hàng Giáo phẩm Việt Nam, có mời đại diện nhà nước Việt Nam, nghe nói là chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Đã đến tham dự, lẽ nào lại không lên đọc diễn văn, thế là người Cộng Sản vô thần lại được dịp dùng chính diễn đàn của đại hội để hô khẩu hiệu, để dạy dỗ hàng giáo phẩm và giáo dân Việt Nam. Nghĩ tới việc đó, ai còn có lòng yêu mến giáo hội không khỏi ngán ngẩm, cay đắng và đau lòng .
Sự kiện gần đây ở giáo hội bên Trung Quốc là gáo nước lạnh dội và niềm hy vọng của những ai còn mơ hồ về “thiện chí đối thoại” những người Cộng Sản vô thần : Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ, đứng đầu là Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16 đã tỏ thiện chí muốn bắt tay với chính quyền Trung Cộng bằng những nhượng bộ quan trọng: công nhận một số giám mục, linh mục của giáo hội do nhà nước thành lập, đồng ý cho chính quyền Cộng Sản được có ý kiến trong việc lựa chọn giám mục. Thế nhưng Cộng Sản đã trở mặt: chính quyền Trung Cộng mới đây ngang nhiên phong chức giám mục không cần sự đồng ý của tòa thánh Vatican, cưỡng bách các giám mục hiệp thông với Vatican phải tham dự lễ tấn phong. Họ vừa cho mở đại hội giáo dân, đại diện chính quyền đến dự đại hội đã công khai công kích Vatican. Đại hội này đã bầu một giám mục quốc doanh làm chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Trung Quốc…. Đến nỗi Đức Giáo Hoàng , người chủ trương đưa bàn tay ra hòa giải với những người Cộng Sản vô thần, dù không muốn, đã phải công khai, mạnh mẽ lên tiếng chỉ trích Bắc kinh xâm phạm trắng trợn tự do tôn giáo của người dân. Thêm một chứng cứ về sự trở mặt của Cộng Sản.
Tại sao các vị lãnh đạo giáo hội Việt Nam cứ phải đặt vấn đề “đối thoại” với “đối đầu” trong tương quan với nhà nước? Tại sao không thể cư xử với nhau bằng mối tương quan giữa những con người trưởng thành : tôi luôn luôn cố gắng đến với anh với lòng tử tế, cư xử với anh bằng tình người và anh cũng hãy cư xử với tôi trong tinh thần ấy. Nếu anh có gì sai thì tôi có quyền nói là nó sai, anh không được cưỡng bách tôi phải làm ngược với lương tâm của tôi. Nói như vậy với nhà nước có phải là “làm chính trị” không? hay là cứ phải “tốt đạo đẹp đời” mới được? và “tốt đạo đẹp đời” theo lối giải thích của Cộng Sản là gì nếu không phải là ngoan ngoãn cúi đầu “chấp hành” mọi sự áp đặt của nhà nước?
Hãy nhìn thẳng vào hiện tình của Giáo Hội Việt Nam hôm nay để thấy rằng giáo hội Công Giáo Việt Nam đang đứng trước những cơn song dữ. Bàn tay thuồng luồng của Cộng Sản vô thần ngày càng luồn sâu vào những hoạt động của giáo hội không khỏi làm cho những giáo dân, giáo sĩ yêu mến giáo hội lo âu. Nhưng người Công Giáo không được quyền đánh mất niềm tin. Bước qua năm 2011 chúng ta cùng thành tâm cầu nguyện cho giáo hội mẹ được thổi vào luồng sinh khí mới, luồng sinh khí của Chúa Thánh Linh. Giáo hội chính là Nhiệm thể của chúa Kitô, chúng ta xác tín rằng Ngài không để giáo hội mà Ngài đã tạo dựng bằng chính máu của mình bị dẫn dắt vào con đường lầm lạc bởi những người đã và đang thỏa hiệp với loài quỷ dữ. Xin cùng nhau nguyện cầu cho những ai đang lầm lạc được sớm thức tỉnh để quay về như đứa con hoang đàng trong Kinh Thánh, nguyện cầu cho họ đừng quên rằng người Cha nhân từ luôn ngóng đợi từng giờ, từng phút để được ôm đứa con yêu dấu vào lòng và nói với nó lời thứ tha khi nó thành tâm quay về …
Ngày cuối cùng của năm 2010 đầy biến động.
Kim Nguyên
Tham nhũng ở Việt Nam: Thế hệ 3.0 và 4.0!
Phan Châu Thành Tham nhũng thời nào và xã hội nào cũng có. Nó chỉ thể hiện và bị nhận diện để ngăn chặn theo cách khác nhau, do đặc thù và trình độ văn hóa, kinh tế của mỗi xã hội. Nó luôn biến đổi cùng với mức sống vật chất và phi vật chất (văn hóa, tinh thần và pháp lý) của xã hội đó.
Ở Việt Nam, giai đoạn từ 1945 đến 1975, tham nhũng đã có nhưng không quá nhiều và ở dạng còn sơ khai, là dạng lạm dụng quyền lực thô sơ, do động lực trực tiếp là THAM vật chất, và không cần phải nhũng để có được cái mình muốn. Ðây là tham nhũng thế hệ 1.0, chỉ với quyền hạn, chức vụ và lòng tham là những kẻ tham nhũng thế hệ đầu này có thể trực tiếp CHIẾM ngay được những gì mình muốn. Ðối tượng trực tiếp của thế hệ tham nhũng này là vật chất hay “quan hệ vật chất” (ép hủ hóa với người khác). Hiện tượng tham nhũng thế hệ 1.0 thường đơn lẻ, không có tổ chức, không có hệ thống.
Công cụ chống tham nhũng thế hệ 1.0 lúc đó rất hùng hậu là đạo đức xã hội và tấm gương của lãnh tụ, cùng sự nghiêm minh của hệ thống kỷ luật tuy thô sơ. Nhưng phải nói hệ thống pháp luật, công cụ, phương pháp và lực lượng chống tham nhũng của Thế hệ 1.0 đã hoàn thành khá xuất sắc 1/2 nhiệm vụ: chống tham nhũng vật chất. Còn 1/2 tham nhũng vì tham dục thì không bị chống vì đó không phải... tài sản chung XHCN. Nhưng theo những gì còn lưu truyền lại đến nay thì... trong suốt 30 năm đó rất - rất nhiều những chị Dậu đã tiếp tục bị các quan tham dục ức hiếp bằng quyền lực mà không có pháp luật che chở hay Ngô Tất Tố nào đứng ra bênh vực (các anh Dậu đều bị ốm, im lặng và không biết gì)... Cái “đạo đức” chống tham nhũng một nửa và bỏ qua chính đạo đức gốc suốt 30 năm đó đã lòi sang... văn hóa tham nhũng ở giai đoạn sau, đến tận hôm nay.
Sang giai đoạn 1976-1999, tức là từ sau giải phóng đất nước, tham nhũng phát triển tràn lan và sang cấp độ mới: 2.0, với các hình thức công khai nhũng nhiễu (từ quan chức) để đổi lấy vật chất (tài sản hối lộ) hay quan hệ từ người bị nhũng nhiễu. Người dân bị nhũng nhiễu ở mọi cơ quan và buộc phải “mua” công việc, chức vụ, quyền lợi mà họ nhiều khi chính đáng được hưởng. Hoạt động tham nhũng đặc thù thế hệ 2.0 là TRAO ÐỔI BẮT BUỘC dù một bên không muốn. Văn hóa tham nhũng thế hệ này được công khai chấp nhận và gọi là văn hóa “CHẠY CHỌT,” “chạy” tất cả mọi thứ: quan hệ, bằng cấp, chức tước, đặc quyền và tất nhiên quyền sở hữu đất đai và tài sản công. Ðối tượng trực tiếp của tham nhũng thế hệ 2.0 thường là những quyền, lợi và giá trị không phải là vật chất nhưng có thể dễ dàng đổi ra tiền, tài sản, vật chất... Công cụ và lực lượng chống tham nhũng thế hệ 2.0 đều tham gia tham nhũng công khai. Việc chống tham nhũng chỉ làm vì, chiếu lệ, theo kỳ đại hội... và không hề có kết quả vì pháp luật chống tham nhũng vẫn lạc hậu, chỉ qui những hoạt động làm thiệt hại vật chất trực tiếp mới là tham nhũng... Ðây là giai đoạn phát triển cực thịnh và tồi tệ, ghê tởm nhất của văn hóa tham nhũng và “chống” tham nhũng xứ ta, suốt khoảng trên 25 năm: tham nhũng là bình thường!
Tham nhũng thế hệ 2.0 ở ta đến nay vẫn còn nhiều và khá tinh vi hơn trước kia, nhưng chỉ còn bị coi là tham nhũng vặt...
Từ khoảng 2000 đến nay những kẻ có điều kiện để tham nhũng - có chức có quyền - đều giàu có hơn nhiều, không tham nhũng vặt nữa. Tham nhũng do vậy đã phát triển qui mô hơn, thành các tổ chức, đường dây dọc ngang các tổ chức xã hội và các ngành kinh tế, tôi gọi là tham nhũng thế hệ 3.0! để nhắm tới những “quả” rất lớn. Ðể làm việc đó những kẻ tham nhũng thế hệ 3.0 phải bày binh bố trận rất công phu và khá lâu từ trước khi hành động để chiếm các lợi thế “canh tranh,” chiếm những quyền lợi và giá trị phi vật chất, tài sản vô hình của cơ quan, công ty nhà nước như: quyền thương hiệu, quyền kinh doanh với công ty, quyền đại diện; quyền sở hữu một phân công ty (qua cổ phần hóa “bèo”); chiếm các tài sản vô hình như thương hiệu, quyền đại diện, thị trường và thị phần của công ty; chiếm quyền tiếp cận sớm các thông tin kinh doanh, đầu tư, nhân sự, chính sánh, tài chính...; quyền cài người của mình vào các vị trí chủ chốt từ trên xuống dưới...; quyền chọn các đối tác làm ăn với công ty không qua các tiêu chuẩn minh bạch (công ty sân sau), quyền đấu thầu...
Ðộng từ chủ đạo của hoạt động tham nhũng thế hệ 3.0 là THIẾT KẾ và BỐ TRÍ, XÂY DỰNG và ÐẦU TƯ, có nghĩa là đằng sau mỗi đường dây và hệ thống tham nhũng đều có một vài ông trùm chủ chốt ở các vị trí quyền hành rất cao, chót vót... và các bộ óc sáng láng. Họ có thể kiểm soát mọi khía cạnh của hoạt động tham nhũng của mình một cách rất tinh vi, thường ở cấp độ và trình độ cao hơn, nhanh hơn những người có trách nhiệm chống tham nhũng rất nhiều. Về pháp lý mà nói, không cơ quan nào có thể có cơ sở mà bắt bẻ tính hợp pháp của một phi vụ của một đường dây tham nhũng thế hệ 3.0, trừ... một đường dây tham nhũng khác đanh cạnh tranh tồn tại trên cùng một “ngư trường đánh bắt” hay “nông trường bò sữa” là các dự án lớn và các tập đoàn nhà nước.
Nói tóm lại, tham nhũng thế hệ 3.0 bắt đầu bằng những việc “vô hại” hay “có ích” là chiếm các giá trị vô hình, phi vật chất, giá trị tri thức, thông tin, kiến thức, quyền sở hữu các giá trị phi vật chất... của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cho các công ty “sân sau” và “người nhà,” rồi sau đó “đàng hoàng” và “hợp pháp” dùng các lợi thế đó để thắng thầu công khai, rồi thông qua các hợp đồng đầu tư, hợp tác cũng rất “công khai minh bạch” chuyển những khối tài sản khổng lồ của nhà nước sang các đối tác và các nhà thầu sân sau, chiến hữu, sau đó chia nhau tài sản tuồn ra và giải thể hay “mua lại” các công ty sân sau đó, tùy tình hình cụ thể... . Tại sao họ có thể làm vậy? Vì đó là những giá trị rất lớn mà các tập đoàn, công ty nhà nước không hề “phải” quản lý và có thể phân phát cho không, nhưng ai chiếm được và đã sẵn sàng để có thể dễ dàng biến chúng thành những khối tiền không lồ, “sạch sẽ.” Có nghĩa là họ đã rửa xong đồng tiền “bẩn” trước khi tham nhũng ra những đồng tiền đó. Và đó là không còn là những nhóm người nữa, mà là những tập đoàn tham nhũng “siêu quốc gia”...
Vì thế, các cơ quan chống tham nhũng hiện nay với luật pháp và lực lượng chống tham nhũng của thế hệ 1.0 hay 2.0 không thể “sờ” tới thế hệ 3.0 được (vì họ chỉ nhận và chia nhau tiền từ các đối tác xa lắc xa lơ ở các thời điểm khác xa hoàn toàn mà khó ai có thể có điều kiện và có đủ dũng cảm để lần ra manh mối).
Thế còn tham nhũng thế hệ 4.0? Vâng, chừng 5 năm gần đây xã hội ta cũng đã có những vụ tham nhũng trình độ cao hơn nữa đó. Ðó là những tham nhũng nhằm thông đồng và can thiệp vào hệ thống làm ra chính sách, qui hoạch, luật lệ, qui định... từ cấp tỉnh đến trung ương, nhằm mang lợi ích không công bằng cho một nhóm nhỏ đã được chuẩn bị từ trước. Ðó cũng là những tham nhũng để tạo ra dư luận xã hội qua các cơ quan thông tấn tham nhũng nhằm có lợi cho một nhóm nào đó. Tham nhũng thế hệ 4.0 của ta sẽ còn nở rộ và làm đau đầu dài lâu cả các chính phủ trong sạch nhất sau này (nếu có!).
Tham nhũng thế hệ 3.0 và 4.0 hiện nay hầu như chưa được đưa ra xét xử vụ nào ở xứ ta, vì làm sao xét và xử tham nhũng trình độ 3.0 hay 4.0 bằng luật chống tham nhũng Thế hệ 1.0 hay 2.0? Vì thế theo luật thì “nước ta làm gì có tham nhũng!” Vụ PM 18 hay Ðại lộ Ðông Tây là dạng 2.0 còn khá thô thiển. Muốn chống tham nhũng thế hệ 3.0 và 4.0 vốn đang cùng tồn tại hiện nay ở ta rất đơn giản, nhưng CP không dám làm, muốn làm: chỉ cần học theo các bộ luật chống tham nhũng của các nước phát triển như Canada, Thụy Ðiển, Sing., Phần Lan..., bắt đầu từ minh bạch và kê khai tài sản quan chức... (Ối, thôi!)
Tham nhũng để gây ảnh hưởng lên, hay dựng lên những kẻ siêu tham nhũng - những người ở vị trí cao nhất trong xã hội có thể viết ra chính sách “phù tham nhũng,” là tham nhũng cấp cao nhất, thế hệ 5.0, ở ta có không? Tôi đành để câu hỏi “Lã Bất Vi” này cho thời gian trả lời thôi.
Tham nhũng chỉ có thể được ngăn chặn hữu hiệu bởi hệ thống chống tham nhũng thuộc thế hệ tương đương hoặc cao hơn. VN hiện nay tham nhũng hoành hành ở đủ mọi cấp độ cùng lúc, từ 1.0 đến 5.0 trong khi hệ thống pháp lý và nhân lực chống tham nhũng chỉ ở cấp độ 1.0 và 2.0... Ðó là chưa kể đến tinh thần chống tham nhũng hiện nay: gần như bằng không - Zero.
Nếu ở giai đoạn 30 năm đầu lực lượng chống tham nhũng của VN rất mạnh nhưng cực tả, cực đoan, nhiều khi không cần dựa trên luật pháp, thì đến giai đoạn sau cả xã hội lại hầu như đầu hàng tham nhũng, chuyển sang thái cực ngược lại: cực loạn. Ðến giai đoạn sau nữa thì sợ và tránh né tham nhũng, muốn ngăn chặn cũng bất lực hoàn toàn trước tham nhũng thế hệ 3.0. Với tham nhũng 4.0 thì xã hội hầu như không có khái niệm và thông tin để mà chống đỡ, nếu ai đó nhận thấy thì liền phải phủ nhận nó, nếu không thì nguy hiểm cận kề...
Những đường dây tham nhũng thế hệ 3.0 có rất nhiều trong mọi tập đoàn, tổng công ty nhà nước, còn loại 4.0 thì đang tồn tại như dạng “độc quyền” của những tầng lớp chóp bu và “thượng lưu” mà thôi. Khi tham nhũng 3.0 và 4.0 đã cùng nhau hoạt động thì hầu như chẳng luật pháp nào động đến được.
Một ví dụ cụ thể là số tiền trên 86,000 tỷ đồng VNS vay rồi làm bốc hơi hết cũng là thông qua hệ thống và mạng lưới tham nhũng khổng lồ (gồm vài trăm công ty con) thế hệ 3.0 này. Luật pháp và lực lượng chống tham nhũng hiện nay (hạng 1.5!) chỉ có hy vọng “đánh đu” giữa các tập đoàn tham nhũng 3.0 hay 4.0 khi chúng cạnh tranh loại bỏ nhau, để lập công mà thôi. Nếu các tập đoàn tham nhũng thế hệ 3.0 và 4.0 đoàn kết với nhau (thỏa thuận ăn chia “ghế” xong), và thường là thế, thì xã hội ta “yên ổn” và “trong sạch” hoàn toàn, “chẳng có tham nhũng gì sất!” chỉ có dân Việt ta, nước Việt ta là ngày càng mạt vận mà thôi.
Thực tế VN hiện nay là tham nhũng tràn lan mà chẳng thấy tham nhũng đâu cả (?)là vì như vậy đó: những kẻ tham nhũng thế hệ 3.0 và 4.0 lại là người được “tin cậy” giao “nhiệm vụ cao cả” là chống tham nhũng, nên họ chỉ tìm diệt tham nhũng thế hệ 1.0 và 2.0 “tượng trưng,” rồi lại phải nuôi cho “tham nhũng vặt” 1.0 và 2.0 sinh sôi đàn đống để mà có thể diệt nó, như Càn Long nuôi một lũ heo Hòa Thân, lâu lâu đem thịt vài “con,” vừa có của ăn vừa có công với thiên hạ... và cả có nơi đổ tội làm nghèo đất nước nữa chứ - cho những con heo con Hòa Thân tham nhũng thô thiển thế hệ 1.0+2.0 (chết là đáng lắm các con ơi!)
Vậy, tham nhũng ở VN có thể ngăn chặn được không?
Câu trả lời cũng đã rõ: Chỉ là người ta - Chính Phủ - có thực sự muốn ngăn chặn hay không? Với những gì Chính Phủ đã và đang trình diễn mấy chục năm nay (từ 1969?) thì là: không. KHÔNG.
Ai có thể ngăn chặn bản chất của chính mình?
Phan Châu Thành Tham nhũng thời nào và xã hội nào cũng có. Nó chỉ thể hiện và bị nhận diện để ngăn chặn theo cách khác nhau, do đặc thù và trình độ văn hóa, kinh tế của mỗi xã hội. Nó luôn biến đổi cùng với mức sống vật chất và phi vật chất (văn hóa, tinh thần và pháp lý) của xã hội đó.
Ở Việt Nam, giai đoạn từ 1945 đến 1975, tham nhũng đã có nhưng không quá nhiều và ở dạng còn sơ khai, là dạng lạm dụng quyền lực thô sơ, do động lực trực tiếp là THAM vật chất, và không cần phải nhũng để có được cái mình muốn. Ðây là tham nhũng thế hệ 1.0, chỉ với quyền hạn, chức vụ và lòng tham là những kẻ tham nhũng thế hệ đầu này có thể trực tiếp CHIẾM ngay được những gì mình muốn. Ðối tượng trực tiếp của thế hệ tham nhũng này là vật chất hay “quan hệ vật chất” (ép hủ hóa với người khác). Hiện tượng tham nhũng thế hệ 1.0 thường đơn lẻ, không có tổ chức, không có hệ thống.
Công cụ chống tham nhũng thế hệ 1.0 lúc đó rất hùng hậu là đạo đức xã hội và tấm gương của lãnh tụ, cùng sự nghiêm minh của hệ thống kỷ luật tuy thô sơ. Nhưng phải nói hệ thống pháp luật, công cụ, phương pháp và lực lượng chống tham nhũng của Thế hệ 1.0 đã hoàn thành khá xuất sắc 1/2 nhiệm vụ: chống tham nhũng vật chất. Còn 1/2 tham nhũng vì tham dục thì không bị chống vì đó không phải... tài sản chung XHCN. Nhưng theo những gì còn lưu truyền lại đến nay thì... trong suốt 30 năm đó rất - rất nhiều những chị Dậu đã tiếp tục bị các quan tham dục ức hiếp bằng quyền lực mà không có pháp luật che chở hay Ngô Tất Tố nào đứng ra bênh vực (các anh Dậu đều bị ốm, im lặng và không biết gì)... Cái “đạo đức” chống tham nhũng một nửa và bỏ qua chính đạo đức gốc suốt 30 năm đó đã lòi sang... văn hóa tham nhũng ở giai đoạn sau, đến tận hôm nay.
Sang giai đoạn 1976-1999, tức là từ sau giải phóng đất nước, tham nhũng phát triển tràn lan và sang cấp độ mới: 2.0, với các hình thức công khai nhũng nhiễu (từ quan chức) để đổi lấy vật chất (tài sản hối lộ) hay quan hệ từ người bị nhũng nhiễu. Người dân bị nhũng nhiễu ở mọi cơ quan và buộc phải “mua” công việc, chức vụ, quyền lợi mà họ nhiều khi chính đáng được hưởng. Hoạt động tham nhũng đặc thù thế hệ 2.0 là TRAO ÐỔI BẮT BUỘC dù một bên không muốn. Văn hóa tham nhũng thế hệ này được công khai chấp nhận và gọi là văn hóa “CHẠY CHỌT,” “chạy” tất cả mọi thứ: quan hệ, bằng cấp, chức tước, đặc quyền và tất nhiên quyền sở hữu đất đai và tài sản công. Ðối tượng trực tiếp của tham nhũng thế hệ 2.0 thường là những quyền, lợi và giá trị không phải là vật chất nhưng có thể dễ dàng đổi ra tiền, tài sản, vật chất... Công cụ và lực lượng chống tham nhũng thế hệ 2.0 đều tham gia tham nhũng công khai. Việc chống tham nhũng chỉ làm vì, chiếu lệ, theo kỳ đại hội... và không hề có kết quả vì pháp luật chống tham nhũng vẫn lạc hậu, chỉ qui những hoạt động làm thiệt hại vật chất trực tiếp mới là tham nhũng... Ðây là giai đoạn phát triển cực thịnh và tồi tệ, ghê tởm nhất của văn hóa tham nhũng và “chống” tham nhũng xứ ta, suốt khoảng trên 25 năm: tham nhũng là bình thường!
Tham nhũng thế hệ 2.0 ở ta đến nay vẫn còn nhiều và khá tinh vi hơn trước kia, nhưng chỉ còn bị coi là tham nhũng vặt...
Từ khoảng 2000 đến nay những kẻ có điều kiện để tham nhũng - có chức có quyền - đều giàu có hơn nhiều, không tham nhũng vặt nữa. Tham nhũng do vậy đã phát triển qui mô hơn, thành các tổ chức, đường dây dọc ngang các tổ chức xã hội và các ngành kinh tế, tôi gọi là tham nhũng thế hệ 3.0! để nhắm tới những “quả” rất lớn. Ðể làm việc đó những kẻ tham nhũng thế hệ 3.0 phải bày binh bố trận rất công phu và khá lâu từ trước khi hành động để chiếm các lợi thế “canh tranh,” chiếm những quyền lợi và giá trị phi vật chất, tài sản vô hình của cơ quan, công ty nhà nước như: quyền thương hiệu, quyền kinh doanh với công ty, quyền đại diện; quyền sở hữu một phân công ty (qua cổ phần hóa “bèo”); chiếm các tài sản vô hình như thương hiệu, quyền đại diện, thị trường và thị phần của công ty; chiếm quyền tiếp cận sớm các thông tin kinh doanh, đầu tư, nhân sự, chính sánh, tài chính...; quyền cài người của mình vào các vị trí chủ chốt từ trên xuống dưới...; quyền chọn các đối tác làm ăn với công ty không qua các tiêu chuẩn minh bạch (công ty sân sau), quyền đấu thầu...
Ðộng từ chủ đạo của hoạt động tham nhũng thế hệ 3.0 là THIẾT KẾ và BỐ TRÍ, XÂY DỰNG và ÐẦU TƯ, có nghĩa là đằng sau mỗi đường dây và hệ thống tham nhũng đều có một vài ông trùm chủ chốt ở các vị trí quyền hành rất cao, chót vót... và các bộ óc sáng láng. Họ có thể kiểm soát mọi khía cạnh của hoạt động tham nhũng của mình một cách rất tinh vi, thường ở cấp độ và trình độ cao hơn, nhanh hơn những người có trách nhiệm chống tham nhũng rất nhiều. Về pháp lý mà nói, không cơ quan nào có thể có cơ sở mà bắt bẻ tính hợp pháp của một phi vụ của một đường dây tham nhũng thế hệ 3.0, trừ... một đường dây tham nhũng khác đanh cạnh tranh tồn tại trên cùng một “ngư trường đánh bắt” hay “nông trường bò sữa” là các dự án lớn và các tập đoàn nhà nước.
Nói tóm lại, tham nhũng thế hệ 3.0 bắt đầu bằng những việc “vô hại” hay “có ích” là chiếm các giá trị vô hình, phi vật chất, giá trị tri thức, thông tin, kiến thức, quyền sở hữu các giá trị phi vật chất... của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cho các công ty “sân sau” và “người nhà,” rồi sau đó “đàng hoàng” và “hợp pháp” dùng các lợi thế đó để thắng thầu công khai, rồi thông qua các hợp đồng đầu tư, hợp tác cũng rất “công khai minh bạch” chuyển những khối tài sản khổng lồ của nhà nước sang các đối tác và các nhà thầu sân sau, chiến hữu, sau đó chia nhau tài sản tuồn ra và giải thể hay “mua lại” các công ty sân sau đó, tùy tình hình cụ thể... . Tại sao họ có thể làm vậy? Vì đó là những giá trị rất lớn mà các tập đoàn, công ty nhà nước không hề “phải” quản lý và có thể phân phát cho không, nhưng ai chiếm được và đã sẵn sàng để có thể dễ dàng biến chúng thành những khối tiền không lồ, “sạch sẽ.” Có nghĩa là họ đã rửa xong đồng tiền “bẩn” trước khi tham nhũng ra những đồng tiền đó. Và đó là không còn là những nhóm người nữa, mà là những tập đoàn tham nhũng “siêu quốc gia”...
Vì thế, các cơ quan chống tham nhũng hiện nay với luật pháp và lực lượng chống tham nhũng của thế hệ 1.0 hay 2.0 không thể “sờ” tới thế hệ 3.0 được (vì họ chỉ nhận và chia nhau tiền từ các đối tác xa lắc xa lơ ở các thời điểm khác xa hoàn toàn mà khó ai có thể có điều kiện và có đủ dũng cảm để lần ra manh mối).
Thế còn tham nhũng thế hệ 4.0? Vâng, chừng 5 năm gần đây xã hội ta cũng đã có những vụ tham nhũng trình độ cao hơn nữa đó. Ðó là những tham nhũng nhằm thông đồng và can thiệp vào hệ thống làm ra chính sách, qui hoạch, luật lệ, qui định... từ cấp tỉnh đến trung ương, nhằm mang lợi ích không công bằng cho một nhóm nhỏ đã được chuẩn bị từ trước. Ðó cũng là những tham nhũng để tạo ra dư luận xã hội qua các cơ quan thông tấn tham nhũng nhằm có lợi cho một nhóm nào đó. Tham nhũng thế hệ 4.0 của ta sẽ còn nở rộ và làm đau đầu dài lâu cả các chính phủ trong sạch nhất sau này (nếu có!).
Tham nhũng thế hệ 3.0 và 4.0 hiện nay hầu như chưa được đưa ra xét xử vụ nào ở xứ ta, vì làm sao xét và xử tham nhũng trình độ 3.0 hay 4.0 bằng luật chống tham nhũng Thế hệ 1.0 hay 2.0? Vì thế theo luật thì “nước ta làm gì có tham nhũng!” Vụ PM 18 hay Ðại lộ Ðông Tây là dạng 2.0 còn khá thô thiển. Muốn chống tham nhũng thế hệ 3.0 và 4.0 vốn đang cùng tồn tại hiện nay ở ta rất đơn giản, nhưng CP không dám làm, muốn làm: chỉ cần học theo các bộ luật chống tham nhũng của các nước phát triển như Canada, Thụy Ðiển, Sing., Phần Lan..., bắt đầu từ minh bạch và kê khai tài sản quan chức... (Ối, thôi!)
Tham nhũng để gây ảnh hưởng lên, hay dựng lên những kẻ siêu tham nhũng - những người ở vị trí cao nhất trong xã hội có thể viết ra chính sách “phù tham nhũng,” là tham nhũng cấp cao nhất, thế hệ 5.0, ở ta có không? Tôi đành để câu hỏi “Lã Bất Vi” này cho thời gian trả lời thôi.
Tham nhũng chỉ có thể được ngăn chặn hữu hiệu bởi hệ thống chống tham nhũng thuộc thế hệ tương đương hoặc cao hơn. VN hiện nay tham nhũng hoành hành ở đủ mọi cấp độ cùng lúc, từ 1.0 đến 5.0 trong khi hệ thống pháp lý và nhân lực chống tham nhũng chỉ ở cấp độ 1.0 và 2.0... Ðó là chưa kể đến tinh thần chống tham nhũng hiện nay: gần như bằng không - Zero.
Nếu ở giai đoạn 30 năm đầu lực lượng chống tham nhũng của VN rất mạnh nhưng cực tả, cực đoan, nhiều khi không cần dựa trên luật pháp, thì đến giai đoạn sau cả xã hội lại hầu như đầu hàng tham nhũng, chuyển sang thái cực ngược lại: cực loạn. Ðến giai đoạn sau nữa thì sợ và tránh né tham nhũng, muốn ngăn chặn cũng bất lực hoàn toàn trước tham nhũng thế hệ 3.0. Với tham nhũng 4.0 thì xã hội hầu như không có khái niệm và thông tin để mà chống đỡ, nếu ai đó nhận thấy thì liền phải phủ nhận nó, nếu không thì nguy hiểm cận kề...
Những đường dây tham nhũng thế hệ 3.0 có rất nhiều trong mọi tập đoàn, tổng công ty nhà nước, còn loại 4.0 thì đang tồn tại như dạng “độc quyền” của những tầng lớp chóp bu và “thượng lưu” mà thôi. Khi tham nhũng 3.0 và 4.0 đã cùng nhau hoạt động thì hầu như chẳng luật pháp nào động đến được.
Một ví dụ cụ thể là số tiền trên 86,000 tỷ đồng VNS vay rồi làm bốc hơi hết cũng là thông qua hệ thống và mạng lưới tham nhũng khổng lồ (gồm vài trăm công ty con) thế hệ 3.0 này. Luật pháp và lực lượng chống tham nhũng hiện nay (hạng 1.5!) chỉ có hy vọng “đánh đu” giữa các tập đoàn tham nhũng 3.0 hay 4.0 khi chúng cạnh tranh loại bỏ nhau, để lập công mà thôi. Nếu các tập đoàn tham nhũng thế hệ 3.0 và 4.0 đoàn kết với nhau (thỏa thuận ăn chia “ghế” xong), và thường là thế, thì xã hội ta “yên ổn” và “trong sạch” hoàn toàn, “chẳng có tham nhũng gì sất!” chỉ có dân Việt ta, nước Việt ta là ngày càng mạt vận mà thôi.
Thực tế VN hiện nay là tham nhũng tràn lan mà chẳng thấy tham nhũng đâu cả (?)là vì như vậy đó: những kẻ tham nhũng thế hệ 3.0 và 4.0 lại là người được “tin cậy” giao “nhiệm vụ cao cả” là chống tham nhũng, nên họ chỉ tìm diệt tham nhũng thế hệ 1.0 và 2.0 “tượng trưng,” rồi lại phải nuôi cho “tham nhũng vặt” 1.0 và 2.0 sinh sôi đàn đống để mà có thể diệt nó, như Càn Long nuôi một lũ heo Hòa Thân, lâu lâu đem thịt vài “con,” vừa có của ăn vừa có công với thiên hạ... và cả có nơi đổ tội làm nghèo đất nước nữa chứ - cho những con heo con Hòa Thân tham nhũng thô thiển thế hệ 1.0+2.0 (chết là đáng lắm các con ơi!)
Vậy, tham nhũng ở VN có thể ngăn chặn được không?
Câu trả lời cũng đã rõ: Chỉ là người ta - Chính Phủ - có thực sự muốn ngăn chặn hay không? Với những gì Chính Phủ đã và đang trình diễn mấy chục năm nay (từ 1969?) thì là: không. KHÔNG.
Ai có thể ngăn chặn bản chất của chính mình?
Bộ mặt mới của phi-nhân-quyền
Trần Thanh Hiệp Trải qua một tiến trình bốn bước, đột xuất, hình thành, phát triển và thành tựu kéo dài hàng ngàn năm, nhân quyền ngày nay đã trở thành một dạng thức phổ biến của đời sống văn minh của nhân loại.
Do đó, nhân quyền hiện là một trong những giá trị cơ bản của tư tưởng chính trị thế giới và là những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt các chế độ chính trị trên hoàn cầu không thể không qui chiếu, nếu muốn được nhìn nhận như đã vượt qua trạng thái dã man.
Nhân quyền đã và đang bắt đầu đi vào di sản truyền thống văn hóa chính trị của nhân loại, bước đi không thể đảo ngược mở đường cho tương lai, tiến bộ.
Tuy vậy, xưa kia đã có và bây giờ cũng vẫn có, một thiểu số quốc gia trắng trợn coi rẻ, thậm chí còn khinh miệt quyền sống con người, quyền sống người dân, đến mức độ không ngần ngại chối bỏ và chà đạp lên nhân quyền, dân quyền. Trong số những quốc gia này, đứng đầu là Trung Quốc, nước đầu sỏ đã gây hàng loạt tội ác xâm phạm nhân quyền thường trực, có hệ thống, trên qui mô cả nước. Tai họa không thể coi thường, Trung Quốc còn có cơ cung cấp cho nhân loại một nguyên mẫu đầu tiên về siêu cường phi-nhân-quyền toàn cầu.
Nước Việt Nam kể từ nửa thế kỷ trước bị bất hạnh bị đặt dưới quyền thống trị của tập đoàn cầm quyền cộng sản bản địa, đã sớm thành một không gian phi-nhân-quyền. Ðược đảng Cộng Sản Trung Quốc, một trong những bà mụ cho ra chào đời, đảng Cộng Sản Việt Nam đã mang trong nó dòng máu phi-nhân-quyền từ khi còn ở giai đoạn trứng nước. Nó lại còn được đảng Cộng Sản Trung Quốc liên tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục từ đầu thập 1990 đến nay. Nên nó đã đưa dẫn cả nước vào con đường vong thân tập thể, từ vật chất đến tinh thần. Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ là đứa con hoang của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc và là một bản sao mờ nhạt của bản chính phi-nhân-quyền Trung Quốc. Do liên hệ huyết thống và dinh dưỡng từ phía Trung Quốc thông qua tập đoàn cầm quyền Cộng Sản Hà Nội, dân tộc Việt Nam đang phải gánh tai họa phi-nhân-quyền với tất cả những hậu quả khốc liệt của nó.
Phải làm gì để tránh được tai họa ấy?
Một hội nghị do tổ chức UNESCO của Liên Hiệp Quốc triệu tập tại Montréal năm 1993, để bàn về giáo dục và nhân quyền, đã tiên liệu rằng việc tăng cường và củng cố tính phổ quát của nhân quyền và giúp nó hội nhập vào các truyền thống văn hóa là một thử thách gay go của thời đại. Vào thời điểm này thì Trung Quốc chưa lộ diện là một đe dọa cho nhân quyền trong nước cũng như trên thế giới. Nhưng nay thì mối nguy này càng ngày càng hiện rõ. Hai chỉ dấu mới nhất đã minh chứng điều này. Ðó là cách ứng xử của Trung Quốc, ra mặt độc tài phản tiến hóa trong một thế giới có thể nói trên đại thể đã trở thành dân chủ tự do, cùng với những tham vọng không che dấu về đất đai của Bắc Kinh trong vùng biển Ðông.
Vì sao Trung Quốc đã là một đe dọa cho nhân quyền?
Sau Ðệ Nhị Thế Chiến người ta tưởng rằng với sự chiến thắng của Ðồng Minh, họa phát xít đã bị tuyệt diệt. Và cũng không mấy ai nghĩ rằng phát xít lại có cơ hội để tái sinh. Nhưng đó lại là những gì đang xảy ra với hạt nhân Trung Quốc. Và riêng trường hợp Việt Nam, với tập đoàn cầm quyền Cộng Sản Hà Nội.
Tất nhiên, đảng Cộng Sản Trung Quốc đã không xử sự như đảng Phát xít Ý hay đảng Quốc Xã Ðức sống lại. Nhưng nó cũng không còn là một đảng cộng sản thuần túy vô sản thời Mao Trạch Ðông mà là một đảng Tân Phát xít, từ sau Ðặng Tiểu Bình và dưới thời Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Ðào... Tân Phát xít vì trong thực chất nó mang đủ những đặc tính (có thể nói những “thuộc tính”) của một đảng phát xít nguyên thủy: Ðộc tài toàn trị, lãnh tụ chế, đảng giữ độc quyền cai trị về chính trị cũng như kinh tế, chỉ cho nhà nước đóng vai công cụ làm bình phong cho đảng, khai thác tinh thần quốc gia, lòng yêu nước quá khích công an trị tận diệt đối lập để gây chiến, trên bình diện ngoại giao bất chấp tục lệ cũng như luật pháp thực định quốc tế, không từ bỏ một thủ đoạn nào, kể cả vũ lực, để thỏa mãn tham vọng đất đai... Ðó là cách ứng xử phi pháp và ngang ngược của Trung Quốc trong vùng biển Ðông Nam Á.
Nước Việt Nam Cộng Sản không có được nguồn sức mạnh nhân xã, quân sự, kinh tế, tài chánh, ngoại giao của Trung Quốc nên không có điều kiện để tự cải biến thành một nước tân phát xít. Ðúng hơn, nó chỉ có khả năng của một nước phát xít tàn dư, nhờ có những cơ cấu tổ chức cộng sản, đồng dạng với phát xít và nhất là được tân phát xít Bắc Kinh hà hơi tiếp sức và Tư bản Mỹ đối xử đặc biệt kiếm chỗ dựa ngoại giao. Do đó nhà nước cộng sản hiện nay ở Việt Nam đã chỉ phô bày, về mặt lý thuyết, đặc tính của một chế độ ”Phát xít pha chế” dưới vỏ bọc đối ngoại “pháp trị” và “tự do dân chủ hạn chế”. Nhưng đối nội thì là một chế độ “phát xít thả nổi”, trung ương bao che cho địa phương toàn quyền cai trị không kỷ cương, không pháp luật, tự do cướp của giết người. Bên cạnh một thiểu số được thừa hưởng đủ thư đặc quyền đặc lợi nhờ bám víu vào đảng cầm quyền là một đại khối nhân dân, đói khổ lầm than, rên siết dưới gọng cùm của áp bức bản địa.
Ðó là sự thật phũ phàng của hiện trạng nhân quyền ở Việt Nam. Ðó là những thử thách gay go mà gần hai thập niên trước Liên Hiệp Quốc đã tiên liệu.
Người dân Việt Nam một cổ hai tròng, Tân phát xít Trung Quốc và Phát xít pha chế Việt Nam. Phải chăng lịch sử chỉ là một sự tái diễn với ít nhiều đổi khác của quá khứ?
Bất cứ một người Việt Nam nào trong cơn lốc của thời đại hiện nay cũng phải tự đạt cho mình nghi vấn này.
Người ta có cảm tưởng như đang sống lại những năm tháng của nữ phần sau của thế kỷ trước. Giữa thập niên 1940, bài hát Diệt Phát Xít của Nguyễn Ðình Thi đã vang lên như tiếng kèn ra quân đầy quyến rũ.
Việt Nam bao năm dòng rên siết lầm than
Dưới ách quân tham tàn đế quốc sài lang
Diệt phát xít, giết bầy chó đê hèn của chúng
Tiến lên nền dân chủ Cộng hòa
Ðồng bào tuốt gươm vùng lên...
Bài hát này đã vẫn còn giữ được tính thời sự. Nhưng tiếc thay họa phát xít lúc này không còn là họa do đế quốc mà là do chính người bản địa đã gây nên và còn đang đe dọa sự sống còn của mỗi người dân cũng như của cả dân tộc.
Hơn nửa thế kỷ trước, họa phát xít đã được diệt trừ bằng cả một cuộc đại chiến thế giới, trước sự bất lực của những người Việt Nam. Họa phát xít trước mắt hiện nay sẽ được giải trừ như thế nào?
Liệu lần này người Việt Nam có góp sức được gì cho sự chiến thắng của Tự do Dân chủ không? Hay rồi lại tụ mình rước lấy họa vào thân như đã ồ ạt tham gia diệt trừ phát xít năm 1945?
Trần Thanh Hiệp Trải qua một tiến trình bốn bước, đột xuất, hình thành, phát triển và thành tựu kéo dài hàng ngàn năm, nhân quyền ngày nay đã trở thành một dạng thức phổ biến của đời sống văn minh của nhân loại.
Do đó, nhân quyền hiện là một trong những giá trị cơ bản của tư tưởng chính trị thế giới và là những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt các chế độ chính trị trên hoàn cầu không thể không qui chiếu, nếu muốn được nhìn nhận như đã vượt qua trạng thái dã man.
Nhân quyền đã và đang bắt đầu đi vào di sản truyền thống văn hóa chính trị của nhân loại, bước đi không thể đảo ngược mở đường cho tương lai, tiến bộ.
Tuy vậy, xưa kia đã có và bây giờ cũng vẫn có, một thiểu số quốc gia trắng trợn coi rẻ, thậm chí còn khinh miệt quyền sống con người, quyền sống người dân, đến mức độ không ngần ngại chối bỏ và chà đạp lên nhân quyền, dân quyền. Trong số những quốc gia này, đứng đầu là Trung Quốc, nước đầu sỏ đã gây hàng loạt tội ác xâm phạm nhân quyền thường trực, có hệ thống, trên qui mô cả nước. Tai họa không thể coi thường, Trung Quốc còn có cơ cung cấp cho nhân loại một nguyên mẫu đầu tiên về siêu cường phi-nhân-quyền toàn cầu.
Nước Việt Nam kể từ nửa thế kỷ trước bị bất hạnh bị đặt dưới quyền thống trị của tập đoàn cầm quyền cộng sản bản địa, đã sớm thành một không gian phi-nhân-quyền. Ðược đảng Cộng Sản Trung Quốc, một trong những bà mụ cho ra chào đời, đảng Cộng Sản Việt Nam đã mang trong nó dòng máu phi-nhân-quyền từ khi còn ở giai đoạn trứng nước. Nó lại còn được đảng Cộng Sản Trung Quốc liên tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục từ đầu thập 1990 đến nay. Nên nó đã đưa dẫn cả nước vào con đường vong thân tập thể, từ vật chất đến tinh thần. Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ là đứa con hoang của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc và là một bản sao mờ nhạt của bản chính phi-nhân-quyền Trung Quốc. Do liên hệ huyết thống và dinh dưỡng từ phía Trung Quốc thông qua tập đoàn cầm quyền Cộng Sản Hà Nội, dân tộc Việt Nam đang phải gánh tai họa phi-nhân-quyền với tất cả những hậu quả khốc liệt của nó.
Phải làm gì để tránh được tai họa ấy?
Một hội nghị do tổ chức UNESCO của Liên Hiệp Quốc triệu tập tại Montréal năm 1993, để bàn về giáo dục và nhân quyền, đã tiên liệu rằng việc tăng cường và củng cố tính phổ quát của nhân quyền và giúp nó hội nhập vào các truyền thống văn hóa là một thử thách gay go của thời đại. Vào thời điểm này thì Trung Quốc chưa lộ diện là một đe dọa cho nhân quyền trong nước cũng như trên thế giới. Nhưng nay thì mối nguy này càng ngày càng hiện rõ. Hai chỉ dấu mới nhất đã minh chứng điều này. Ðó là cách ứng xử của Trung Quốc, ra mặt độc tài phản tiến hóa trong một thế giới có thể nói trên đại thể đã trở thành dân chủ tự do, cùng với những tham vọng không che dấu về đất đai của Bắc Kinh trong vùng biển Ðông.
Vì sao Trung Quốc đã là một đe dọa cho nhân quyền?
Sau Ðệ Nhị Thế Chiến người ta tưởng rằng với sự chiến thắng của Ðồng Minh, họa phát xít đã bị tuyệt diệt. Và cũng không mấy ai nghĩ rằng phát xít lại có cơ hội để tái sinh. Nhưng đó lại là những gì đang xảy ra với hạt nhân Trung Quốc. Và riêng trường hợp Việt Nam, với tập đoàn cầm quyền Cộng Sản Hà Nội.
Tất nhiên, đảng Cộng Sản Trung Quốc đã không xử sự như đảng Phát xít Ý hay đảng Quốc Xã Ðức sống lại. Nhưng nó cũng không còn là một đảng cộng sản thuần túy vô sản thời Mao Trạch Ðông mà là một đảng Tân Phát xít, từ sau Ðặng Tiểu Bình và dưới thời Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Ðào... Tân Phát xít vì trong thực chất nó mang đủ những đặc tính (có thể nói những “thuộc tính”) của một đảng phát xít nguyên thủy: Ðộc tài toàn trị, lãnh tụ chế, đảng giữ độc quyền cai trị về chính trị cũng như kinh tế, chỉ cho nhà nước đóng vai công cụ làm bình phong cho đảng, khai thác tinh thần quốc gia, lòng yêu nước quá khích công an trị tận diệt đối lập để gây chiến, trên bình diện ngoại giao bất chấp tục lệ cũng như luật pháp thực định quốc tế, không từ bỏ một thủ đoạn nào, kể cả vũ lực, để thỏa mãn tham vọng đất đai... Ðó là cách ứng xử phi pháp và ngang ngược của Trung Quốc trong vùng biển Ðông Nam Á.
Nước Việt Nam Cộng Sản không có được nguồn sức mạnh nhân xã, quân sự, kinh tế, tài chánh, ngoại giao của Trung Quốc nên không có điều kiện để tự cải biến thành một nước tân phát xít. Ðúng hơn, nó chỉ có khả năng của một nước phát xít tàn dư, nhờ có những cơ cấu tổ chức cộng sản, đồng dạng với phát xít và nhất là được tân phát xít Bắc Kinh hà hơi tiếp sức và Tư bản Mỹ đối xử đặc biệt kiếm chỗ dựa ngoại giao. Do đó nhà nước cộng sản hiện nay ở Việt Nam đã chỉ phô bày, về mặt lý thuyết, đặc tính của một chế độ ”Phát xít pha chế” dưới vỏ bọc đối ngoại “pháp trị” và “tự do dân chủ hạn chế”. Nhưng đối nội thì là một chế độ “phát xít thả nổi”, trung ương bao che cho địa phương toàn quyền cai trị không kỷ cương, không pháp luật, tự do cướp của giết người. Bên cạnh một thiểu số được thừa hưởng đủ thư đặc quyền đặc lợi nhờ bám víu vào đảng cầm quyền là một đại khối nhân dân, đói khổ lầm than, rên siết dưới gọng cùm của áp bức bản địa.
Ðó là sự thật phũ phàng của hiện trạng nhân quyền ở Việt Nam. Ðó là những thử thách gay go mà gần hai thập niên trước Liên Hiệp Quốc đã tiên liệu.
Người dân Việt Nam một cổ hai tròng, Tân phát xít Trung Quốc và Phát xít pha chế Việt Nam. Phải chăng lịch sử chỉ là một sự tái diễn với ít nhiều đổi khác của quá khứ?
Bất cứ một người Việt Nam nào trong cơn lốc của thời đại hiện nay cũng phải tự đạt cho mình nghi vấn này.
Người ta có cảm tưởng như đang sống lại những năm tháng của nữ phần sau của thế kỷ trước. Giữa thập niên 1940, bài hát Diệt Phát Xít của Nguyễn Ðình Thi đã vang lên như tiếng kèn ra quân đầy quyến rũ.
Việt Nam bao năm dòng rên siết lầm than
Dưới ách quân tham tàn đế quốc sài lang
Diệt phát xít, giết bầy chó đê hèn của chúng
Tiến lên nền dân chủ Cộng hòa
Ðồng bào tuốt gươm vùng lên...
Bài hát này đã vẫn còn giữ được tính thời sự. Nhưng tiếc thay họa phát xít lúc này không còn là họa do đế quốc mà là do chính người bản địa đã gây nên và còn đang đe dọa sự sống còn của mỗi người dân cũng như của cả dân tộc.
Hơn nửa thế kỷ trước, họa phát xít đã được diệt trừ bằng cả một cuộc đại chiến thế giới, trước sự bất lực của những người Việt Nam. Họa phát xít trước mắt hiện nay sẽ được giải trừ như thế nào?
Liệu lần này người Việt Nam có góp sức được gì cho sự chiến thắng của Tự do Dân chủ không? Hay rồi lại tụ mình rước lấy họa vào thân như đã ồ ạt tham gia diệt trừ phát xít năm 1945?

