Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

CHỐNG CỘNG BẰNG MỒM

LS.Lê Duy San


Từ ngày miền Nam Việt Nam bị bọn Cộng Sản miền Bắc thôn tính nốt để áp đặt một chế độ độc ác và dã man có một không hai trên thế giới cho cả nước và khiến cho cả triệu người chúng ta phải bỏ nước ra đi lưu lạc khắp bốn phương trời. Có thể nói đây là quốc nạn, nhưng cũng nhờ đó mà phong trào chống Cộng bùng phát mạnh mẽ hơn lúc nào hết nhất là kể từ khi một số các tiểu bang như Virginia, Texas, California có đông người Việt đến định cư. Không phải chỉ có những chính trị gia, những nhà hoạt động cho nhân quyền, không phải chỉ có những người trí thức, những công thương kỹ nghệ gia, mà cả những ông gìa, bà cả, những em học sinh tiểu học, trung học cũng tham gia.

Nhưng nước đã mất, quân đội đã tan hàng, tiền bạc, súng đạn thì không có, chúng ta chỉ còn có cái MIỆNG. Vậy chúng ta chống Cộng bằng gì ? Những cuộc biểu tình đả đảo Cộng Sản, hội thảo, hội luận hay viết bài tố cáo sự vi phạm nhân quyền hay tội ác của Cộng Sản đăng tải trên báo chí hay đưa lên nét, nếu không có cái MIỆNG thì chúng ta làm sao để bầy tỏ? Thể hiện tất cả các điều đó, chính là chúng ta đã thể hiện những quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tư tửơng v.v…tức là chúng ta đã mở một mặt trận cuối cùng để chống lại bọn Cộng Sản VN, đó là MẶT TRẬN VĂN HÓA. Nhưng tiếc thay, một số người vô ý thức, trong đó có cả những kẻ đã ăn cơm quốc gia hay ít nhất thì bố mẹ chúng đã được hưởng nhiều ân sủng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà chúng mới có được những địa vị như ngày hôm nay, đã mỉa mai gọi những người chống Cộng như vậy là CHỐNG CỘNG BẰNG MỒM.


•Chính vì sự chống Cộng bằng MỒM của chúng ta mà bọn Cộng Sản Việt Nam đi đến đâu cũng phải trốn lui, trốn lủi, phải luồn cửa hông, phải chui cửa hậu, phải nhờ cảnh sát Mỹ bảo vệ.
•Chính vì sự chống Cộng bằng MỒM của chúng ta mà cờ MÁU của bọn Cộng Sản Việt Nam, ngoi lên được cái nào là bị giật bỏ cái đó, trái lại, cờ VÀNG ba sọc đỏ của chúng ta thì không những luôn luôn được đồng bào chúng ta trang trọng giương cao và càng ngày càng nhiều.
•Ngay cả một số những người đã và đang sống dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam và cả những người đã từng là đảng viên Cộng Sản VN cũng mong muốn một ngày nào đó, ngọn cờ vàng ba sọc đỏ của chúng ta sẽ tung bay trở lại trên bầu trời Việt Nam. Chính vì vậy mà ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam phải đề ra Nghị Quyết 36 để chống lại.
•Đọc qua bản Nghị Quyết này, chúng ta nhận thấy ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam đã đánh gía “rất cao” người Việt tỵ nạn Cộng Sản mà chúng khôn ngoan gọi là “người Việt Nam ở nước ngoài”. Chúng không những đã chỉ thị cho các cơ quan, các tổ chức của chúng ở hải ngoại cũng như ở trong nước phải phối hợp chặt chẽ với nhau dụ dỗ người Việt Hải Ngoại về giúp nước hoặc làm ăn buôn bán với bọn chúng mà còn phải có biện pháp đấu tranh với “những biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích dân tộc”.

“Những biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích dân tộc” ở đây là gi ? Đó chính là những hành động chống đối bọn chúng của chúng ta như biểu tình, mít ting, hội luận, hội thảo để chống đối bọn chúng cũng như những bài tham luận, bình luận phê bình chỉ trích bọn chúng trên đài phát thanh, trên vô tuyến truyền hình hoặc trên diễn đàn internet hay những sự chống đối, phản kháng của người dân bằng những bài thơ, câu vè, những câu chuyện tiếu lâm. Tóm lại đó là tất cả những gì mà bọn người vô ý thức, bọn ViệtGian Công Sản và bọn Cộng Sản nằm vùng gọi là “CHỐNG CỘNG BẰNG MỒM”.

Còn biện pháp đấu tranh của bọn chúng là gì ? Sở trường của bọn Cộng Sản VN là xâm nhập để lèo lái; nếu không được thì xúc xiểm để chia rẽ và mua chuộc.
•Cả hai phương pháp này, đối với Việt Cộng đều qúa dễ bởi vì các đảng phái, đoàn thể và hội đoàn của người Việt tỵ nan Cộng Sản ở hải ngoại đều qúa lỏng lẻo, tài chánh thì lại không có. Người có khả năng, có uy tín thì phần lớn lại không muốn xuất đầu lộ diện vì sợ bị chụp mũ, bị bôi nhọ. Hội đoàn nào cũng phải tự đóng góp và sống nhờ vào các Mạnh Thường Quân. Báo chí, truyền thông cũng vậy, phải sống nhờ vào quảng cáo. Mạnh Thường Quân mà không có, Quảng Cáo mà ít thì rất dễ lọt vào tay Cộng Sản hoạc bị bọn chúng lèo lái bởi vì tiền bạc thì bọn chúng nhiều, mà bọn Việt Gian Cộng Sản ham danh hỗ trợ bọn chúng lại không ít. Vì thế chúng ta không lấy làm lạ khi thấy nhiều hội đoàn bị chia rẽ và có khi còn bị tách làm đôi. Nam Cali, một hồi chúng ta đã thấy có hai Cộng Đồng. Hết Nam Cali nay lại tới Bắc Cali, cũng có hai Cộng Đồng, hai hội Ái Hữu Đồng Hương Quảng Ngãi v.v…Cái lưu manh của bọn Cộng Sản là không bao gìơ xuất đầu lộ diện trừ phi bị lộ tẩy. Chúng chuyên môn khích bác người này, xúc xiểm người kia. Nếu chúng có viết bài đưa lên nét hay lên báo chí thì cũng chỉ đề bút hiệu hoặc tên giả, không bao giờ dám để tên thật cho nên chúng không ngần ngại dùng những ngôn từ của kẻ vô học để chỉ trích người khác. Nhưng có lúc chúng cũng tỏ ra rất lịch sự và khách quan, làm cho người đọc, nếu không theo dõi ngay từ đầu, thật khó biết chúng thuộc hạng người nào, Quốc Gia hay Cộng Sản. Chúng tung hỏa mù để chúng ta không còn biết đường nào mà đánh, không còn biết ai là chánh, ai là tà, làm cho chúng ta nhiều khi đang chống Cộng trở thành chống lẫn nhau.

Nhưng dù sao ở hải ngoại, bọn chúng cũng chỉ là thiểu số, chúng lại không có quyền bắt ai, giam ai một cách vô cớ như chúng đã làm ở trong nước. Chính vì sợ cha Lý chống Cộng bằng MỒM mà bọn Cộng Sản Việt Nam đã phải bịt miệng cha Lý ngay tại phiên toà tại Huế ngày 30/3/07. Chính vì sợ chúng ta chống Cộng bằng MỒM mà bọn Cộng Sản Việt Nam đã phải mở cả một MẶT TRẬN VĂN HOÁ bằng nghị Quyết 36 để xâm nhập vào các hội đoàn, các đoàn thể, các cơ quan truyền thông, báo chí, các diễn đàn v.v…để gây chia rẽ và phá hoại. Chưa đủ, chúng còn phải cho bọn tay sai, bọn Việt Gian Cộng Sản gọi những CHIẾN SĨ đang chiến đấu trong MẶT TRẬN VĂN HÓA CHỐNG CỘNG là những người CHỐNG CỘNG BẰNG MỒM.

Vì vậy, chúng ta không việc gì phải sợ, phải xấu hổ (mắc cở) hay khó chịu khi có những kẻ vô ý thức và bọn bưng bô cho Việt Cộng bằng mồm đã gọi chúng ta là những người CHỐNG CỘNG BẰNG MỒM, mà trái lại, chúng ta phải hãnh diện về mấy chữ đó vì NHỮNG NGƯỜI CHỐNG CỘNG BẰNG MỒM chính là NHỮNG CHIẾN SĨ BIỆT KÍCH TRONG MẶT TRẬN VĂN HÓA CHỐNG CỘNG. Còn bọn chúng mới chính là bọn bưng bô cho Cộng Sản bằng mồm.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

"Phố vẫy" ở Hà thành Hà Nội có những phố bán hàng ăn đặc biệt náo loạn bởi hoạt động... vẫy, chặn xe bắt khách. Đội quân ở những "phố vẫy" như Trấn Vũ, Trúc Bạch, Tống Duy Tân, Cao Bá Quát… chỉ làm mỗi một việc là đứng vẫy rồi "túm cổ" khách lại, "dí" vào trong nhà hàng của họ.

Thoát vào "mắt"

Chúng tôi đố nhau đi qua đoạn phố vẫy bờ hồ Trúc Bạch mà không bị "tóm". Đám con trai có vẻ nắm được phần thắng lắm, kêu có chiến thuật, còn bảo: "Các bà ì ạch,mắt lại liếc ngang liếc ngửa, mới bị chúng nó tóm. Còn mắt nhìn thẳng, không tỏ ra tìm kiếm gì, mồm ngậm thêm cái tăm, ra điều vừa ăn xong rồi thì không thằng nào "vẫy" hay "tóm" nổi các bà đâu".
Image
Nếu không ngậm tăm...
Ba chiếc xe máy chúng tôi đồng loạt lao lên. Dù hai đứa con gái chúng tôi đã không nhìn ngang, tốc độ cũng lớn, cỡ 40km/h, đi qua nhà hàng phở cuốn của họ cũng không hề giảm tốc, ấy thế mà hai anh chàng tóc vừa vàng, vừa đỏ vẫn lao ra.

Tất nhiên, tôi phải phanh lại, anh chàng chặn xe tôi nhảy ngoắt một chân tránh bánh xe trước của tôi rất điệu nghệ. Xe dừng hẳn, cậu ta đứng dạng luôn hai chân qua cái bánh xe, tì cả tay lên ghi đông, một tay vòng lên sờ sờ định tắt chìa khóa điện. Cô bạn tôi cũng bị tóm, ra sức "trình bày" là không có nhu cầu ăn.

Đang thầm thán phục hai anh bạn vì khả năng thoát vòng vây quá tốt, thì thấy cả người cả xe lầm lụi quay ngược đầu. Xe đã vào tay tay thợ vẫy, hai anh chàng lút cút đi sau. Hai anh bạn chậc lưỡi: Thôi, vào ăn cho nó xong. Bọn này đông quá, không thoát được.
Image Một cậu thợ vẫy nhe răng: "Các anh có mà thoát vào "mắt". Từ đây lên đến cái cột điện kia kìa, toàn là người nhà em cả. Mà ăn nhà em ngon, anh chị cứ phải đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt, em mời trước, cứ là vào nhà em trước. Đấy, anh chị vào đi. Đưa xe đây, không phải khóa". Thợ vẫy giằng lấy cái xe máy của tôi, ủn tôi từ trên xe xuống, lừ lừ dắt đi.

Tôi hỏi với theo: "Em ơi, còn vé xe thì sao?" liền bị ném cho một câu: "Mất làm sao được".

Đầu nhà mày nhưng "đít" nhà tao

Mấy hôm sau chúng tôi lại tiếp tục công cuộc "giao lưu" với thợ vẫy. Lần này, chúng tôi đã có kinh nghiệm hơn, nhưng không ngờ lại lọt vào một vụ cãi nhau như chém chả. Một cậu chặn ghi đông, một cậu túm đít xe lôi lại. Đằng trước: "Nhà em chị ơi, 72". Đằng sau: "70 chị ơi. Em mời chị trước. 70 chị ơi". Ối giời ơi, thế ra cậu lôi đằng trước, với cậu giằng đằng sau, lại không ở cùng một quán hàng. Thế là tôi cứ ngồi trên xe, một chân chống xuống đất. Cứ đằng trước lôi lên, thì đằng sau lại lôi xuống. Cứ thế, tiến lên vài phân lại lùi xuống vài phân, không thấy có biểu hiện nào của sự nhường nhịn lui bước.

Image
... khi đi qua thế nào bạn cũng bị tóm.
Xe cộ phía sau bắt đầu đông đúc, ùn tắc cục bộ, còi xe máy, ô tô bim bíp nhức cả đầu. Vẫn đu lên, giật xuống. Lúc này, hai chị chủ nhà hàng 70 và 72 bắt đầu "xung trận". 72 nhảy bổ từ trong quán ra: - Khách đi qua nhà mày rồi, sang địa phận nhà tao rồi, mày có bỏ ra không? - Khách chưa đi sang đến nhà mày, vẫn ở phần nhà tao. - Mày mù à, không thấy đầu xe sang nhà tao rồi à? - Mày mù thì có, đầu nhà mày nhưng "đít" nhà tao...Cứ thế, hai bà chủ với hai tay thợ vẫy, cứ kéo tôi lên, lại giật tôi xuống.

Tôi làm ra vẻ rất khổ sở: Thế bây giờ ăn nhà nào đây? Thôi nhé, không nhà nào nữa nhé. Tất nhiên là chẳng đời nào họ chịu buông tôi ra.

Hai bà chủ quán đang từ chuyện tranh nhau một khách hàng là tôi, quay ra rỉa rói nhau về đủ thứ chuyện khác trên đời: nào là chuyện đã không cho mồi nhờ than tổ ong, còn ăn cắp cả nguyên viên đang cháy dở, nào là chuyện thuê gánh nước, con mụ gánh nước thuê ghi nhầm số lượng nhà nọ vào nhà kia... Vừa nói to, vừa nói bậy, hai bà chủ hàng cứ thế xỉa xói nhau. Lạ cái đang cao trào, văn chửi tuôn như cháo chảy, mà họ luôn miệng nhắc: Khách kìa con. Ấy là nhắc tay thợ vẫy, tóm những người đi qua đường.

Sau chừng 20 phút đồng hồ thì tôi đưa ra giải pháp là mua ốc nhồi luộc nhà 70, còn mua khoai tây chiên nhà 72. Tổng số tiền phải trả cho cả hai nhà hàng hết có chưa đầy 50 nghìn đồng. Với số tiền nhỏ như vậy, giỏi lắm, họ lãi được một nửa là cùng, nghĩa là chừng hơn chục bạc mỗi nhà, nhưng họ vẫn quyết tâm "vặt" cho bằng được, bất chấp tắc đường, bất chấp phải cãi chửi nhau, bất chấp sự khó chịu của khách đi đường.

Vẫy kiểu... sóng

Kiểu vẫy khách đẹp nhất, và điềm đạm nhất, có lẽ phải kể đến phố vẫy Láng Hòa Lạc. Đặc trưng của cung đường này có lẽ là vừa rộng, vừa nhiều xe ô tô to, nên thợ vẫy không xông ra tóm bừa như trong các phố nội thành Hà Nội. Những thợ vẫy ở đoạn đường Láng Hòa Lạc có một kiểu vẫy rất riêng, có thể gọi là rất nghệ thuật, nếu không tập luyện thì không vẫy được như thế. Ấy là họ vẫy cả cánh tay, từ bả vai, xuống đến từng đầu ngón tay, chuyển động rất mềm mại như làn sóng.
Image
Thợ vẫy bị đáp trả bằng "ánh mắt hình viên đạn"
Khúc này cong lên, thì khúc kia cúp xuống. Từ xa đi lại, có thể nhìn thấy cả dãy những người đứng vẫy tay, giống như những con sóng biển, hay như những cánh chim hải âu. Từ khi mở rộng đường, quán xá lùi xa tít vào bên trong, chỉ còn thấy rất ít những "cánh chim hải âu" đứng vẫy vẫy.

Sợ nhất vẫy nhầm đầu gấu

Hồi đầu, trên đường Cao Bá Quát chỉ có quán lẩu số 36 của vợ chồng nhà Huyền đen - Hùng Anh. Sau thấy vợ chồng nhà này đắt hàng quá, hàng xóm liền đua nhau mở ra, cũng bán lẩu. Và để "tóm" được nhiều khách, các quán hàng này bắt đầu phải sử dụng thợ vẫy.

Một thợ vẫy "bắt" ở quê lên, có thể là Thanh Hóa, Phú Thọ, Nghệ An được trả tiền công vẫy một tối là 50 nghìn đồng, nuôi ăn ở. Kỹ năng vẫy cũng chẳng có gì ngoài phải nhanh mắt, nhanh chân. Vẫy thì sao cũng được, đưa tay lên ngoáy ngoáy, có thể cả bàn tay, cũng có thể chỉ hai ba ngón tay. Nhưng cánh tay dứt khoát phải giang thẳng, và chụp xuống đầu xe người ta phải thật chính xác.

Theo quán tính, cứ có người lao ra, thế nào khách cũng phải phanh lại, thời điểm này, phải dứt khoát luôn, vừa chặn vừa tắt khóa điện. Những tai nạn đôi khi cũng xảy ra, nhưng nhiều nhất vẫn là bị ăn đòn vì vẫy phải... đầu gấu.

Khoa, 19 tuổi, quê ở Thanh Hóa, lắc lắc đầu ngán ngẩm: Họ táng thẳng vào đầu vào mặt mình bất cứ thứ gì họ đang cầm trên tay. Cũng phải thôi, mình gây cho họ khó chịu, thì họ phải phản ứng. Có lần, em bị nguyên cả cái ống nước của người ngồi sau phang tới tấp vào người.

Có lần thì bị người ta quất cả túi đồ ăn rau dưa, người ta đi rồi, mới thấy mùi mắm tôm nồng nặc. Lần nào vẫy phải mấy anh đầu gấu thì có khi chủ hàng phải xin cho. Còn bị chửi thì nhiều lắm, họ chửi cho rát mặt, nhưng nghe họ chửi còn hơn nghe bà chủ chửi. Tôi hỏi Khoa về bảo hiểm y tế, em ngỡ ngàng hỏi tôi cái đấy là cái gì? Em làm nghề vẫy thì có được mua bảo hiểm không? Rồi Khoa tặc lưỡi: Thôi chị ơi, lương tháng có 1 triệu rưỡi, mua bảo hiểm nữa thì còn bao nhiêu. Nếu đang vẫy mà gặp tai nạn thì nghỉ vài hôm, bao giờ khỏi thì lại ra đường vẫy.

Nhiều người bảo, đi qua phố vẫy, nhớ ngậm tăm, để "nó" biết mình ăn xong rồi, không vẫy, không "tóm" mình nữa. Nhưng tiêu chí của đội quân này là: vẫy nhầm còn hơn bỏ sót.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Bắc Giang hôm qua, Tunisia hôm nay:
Bài học nhãn tiền!

Sunday, 16 January 2011
Bạo loạn trên đường phố, sự kiểm soát của quân đội, cảnh sát và các vụ bắt giữ hiện hữu khắp nơi. Thủ đô Tunis bị đặt trong tình trạng thiết quân luật. Từ ngày 11 tháng 1 tất cả các trường học bị đóng cửa cho đến khi có thông báo mới.Theo nhiều nguồn tin quốc tế khác nhau, đã có hơn 60 người bị chết.

Còn Tổng thống Tunisia, ông Zin Al-Abidine Ben-Ali, sau khi giải tán chính phủ vẫn không làm dịu được tình hình, đã cao chạy xa bay sang Ả Rập Saudi.
Văn phòng hãng du lịch Thomas Cook đã quyết định di tản bốn ngàn người ra khỏi Tunisia.

Đó là hình ảnh hôm nay của Tunisia, một đất nước được xem là ổn định chính trị, người dân hiền hoà, nổi tiếng với những bãi tắm tuyệt vời của vùng biển Địa Trung Hải và dịch vụ du lịch hấp dẫn không thua kém các nước châu Âu quanh vùng như Tây Ban Nha, Ý, Pháp, Hy Lạp…, nhưng giá cả hợp lý, đặc biệt được ưa chuộng bởi tầng lớp trung lưu.
Giành độc lập từ Pháp tới độc tài

Tunisia nằm ở Bắc châu Phi, có dân số hơn 10,3 triệu người và diện tích gần bằng một nửa Việt Nam, thu nhập đầu người tính theo mãi lực (PPP) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế năm 2010 là 9.448 USD (Việt Nam: 3.123 USD). Đối tác thương mại quan trọng nhất gồm Đức, Ý và Pháp.

Giành được độc lập từ thực dân Pháp vào năm 1956, Tunisia theo thể chế tổng thống-nghị viện và một đảng chiếm ưu thế nắm quyền. Tổng thống được chọn từ phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ 5 năm.

Từ năm 1987, Ben-Ali lên nắm quyền Tổng thống sau khi thực hiện một cuộc đảo chính không đổ máu (cho rằng vì sức khoẻ yếu, Tổng thống Tunisia từ năm 1957, ông Habib Bourguiba, mất khả năng lãnh đạo) và giữ chức vụ này liên tiếp 5 nhiệm kỳ, với sự ủng hộ (theo nguồn chính thức của nhà nước) của cử tri là 99,6% (1999), 94,48% (2004) và 95% (năm 2009)!

Khi bắt đầu nhiệm kỳ, Ben-Ali đã có những cố gắng dân chủ hóa đất nước, trả tự do cho tù nhân chính trị, kể cả các phần tử cực đoan Hồi giáo. Kết quả là ông đã tạo ra một đảng đối lập Hồi giáo Nadh, phát triển nhanh và mạnh tại các trường đại học. Nhìn thấy hậu thuẫn của lực lượng Hồi giáo trong cuộc đảo chính năm 1991, chính phủ Tunisia sau đó đã tiến hành một loạt phiên toà xét xử các thành viên của Nadh.

Từ năm 1988 luật Tunisia ngăn cản hợp pháp hoá các đảng phái chính trị mà cương lĩnh hoạt động dựa trên nền tảng tôn giáo. Chính phủ cũng thắt chặt kiểm soát các tổ chức tôn giáo. Kể từ đó, chính sách cứng rắn với phe đối lập được áp dụng trong thời kỳ của tổng thống Habib Bourgiba quay lại. Báo chí, truyền thông không được phê phán chính phủ. Để gọi là thực hiện hứa hẹn bầu cử về một hệ thống đa đảng, các đảng đối lập của Tunisia được phân bổ một số ghế trong quốc hội, nhưng thực tế, ví dụ trong cuộc bầu cử (2004), không đảng nào giành được ghế, dù chỉ là một.

Cái gì tới phải tới
Tình trạng bất ổn ở Tunisia đã không làm mấy ai ngạc nhiên.
Duy trì chế độ chuyên chế (chỉ số dân chủ - Democracy Index – theo "The Economist" 2010, của Tunisia là 2,79/10 so với Việt Nam 2,94), Tunisia là một trong những quốc gia có chế độ kiểm duyệt thông tin thuộc vào hàng đầu thế giới, không có tự do ngôn luận, không được tự do hội họp. YouTube ở đây bị chặn hoàn toàn, còn mật khẩu vào các trang Facebook cá nhân bị chính phủ ngang nhiên dùng các biện pháp cướp đoạt.
Nhà cầm quyền nỗ lực quảng bá hình ảnh Tunisia như là một quốc gia ổn định chính trị, mến khách, được thiên nhiên ưu đãi về cảnh quan, nhằm mục đích tuyên truyền và lôi cuốn du khách. Tiếc thay, người ta có thể mãn nguyện với những ngày nghỉ tại các khu du lịch sang trọng, tiện nghi ven biển, nhưng chỉ cần đi sâu về phía Nam, nhất là vùng trung tâm, mọi thứ không còn màu sắc như thế nữa, nếu không nói là bi kịch. Người dân thiếu ăn và không có việc làm. Số phận của giới dân lao động bình thường đã không được chính phủ quan tâm đến.

Trong thất vọng, dân chúng mà chủ yếu là thanh niên, sinh viên của Tunisia đã nổi giận đứng lên biểu tình, đòi tổng thống mới. Giới trí thức, văn nghệ sĩ cũng vào cuộc với cuộc tuần hành hoà bình ủng hộ họ.
Chưa biết Tunisia sẽ ra sao trong thời gian trước mắt. Tất cả mọi thứ đã xảy ra dường như tự nhiên. Những người biểu tình hoàn toàn tự phát, không ai đứng ra tổ chức. Qua Facebook họ chuyển cho nhau các hình ảnh video về diễn biến các cuộc biểu tình và thông tin về các cuộc tiếp theo.
Báo chí hôm 15/1/2011, cho hay Chủ tịch quốc hội Tunisia Fouad Mebazaa, theo hiến pháp, tuyên bố tạm thời đảm nhiệm nhiệm vụ của tổng thống và công bố tiến hành bầu cử trong thời gian từ 45 đến 60 ngày. Ông cũng kêu gọi Thủ tướng Mohamed Gannushi lập nội các liên hiệp đoàn kết dân tộc.

Từ một việc làm bất cẩn
Tất cả bắt đầu vào ngày 17 tháng 12 năm 2010.
Một thanh niên Tunisia, Mohsel Buterfif, 26 tuổi, đã quyết định tự thiêu trước trụ sở của chính phủ. Lý do? Ông bị cảnh sát tịch thu chiếc xe bán rau quả, nguồn thu nhập duy nhất để sinh nhai của gia đình anh.
Được đưa tới bệnh viện cứu chữa nhưng vì bị bỏng quá nặng, Mohsel Buterfif đã qua đời vào ngày 04 tháng 1 năm 2011. Có tới khoảng 5.000 người đã tới dự tang tiễn biệt anh.

Có vẻ như chớp được cơ hội, tang lễ lập tức trở thành thùng thuốc súng và sự bất bình của xã hội Tunisia bùng nổ, leo thang từ suốt ba tuần qua.
Hàng ngàn người đã biểu tình tại trung tâm thủ đô Tunis, đòi Tổng thống Ben-Ali (74 tuổi), người đã cầm quyền từ 23 năm nay, phải từ chức.
Dưới áp lực của các cuộc biểu tình, Tổng thống Ben-Ali đã giải tán chính phủ và tuyên bố tiến hành bầu cử sớm trong vòng sáu tháng, và cam kết ông sẽ không tái tranh cử và sẽ bãi nhiệm vào năm 2014. Ông đã gọi những người đeo mặt nạ trong các cuộc xung đột với cảnh sát là những tên khủng bố, những kẻ điên rồ không thể tha thứ.

Tuy nhiên, những người tham gia phản đối là không phải là những kẻ điên. Họ là thanh niên, sinh viên có trình độ văn hoá nhưng tuyệt vọng vì không tìm được việc làm hoặc không thể có khả năng mua một căn nhà. Chỉ số thất nghiệp của Tunisia là 13%, trong đó 26% là những người có bằng cấp đại học.

Những người biểu tình đã dùng các phương tiện ghi lại rất ấn tượng cảnh những người bị thương trong các vụ đụng với cảnh sát, nhằm thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế về những gì đang xảy ra ở Tunisia.
Rõ ràng, chỉ từ một hành vi bất cẩn, vô tâm của cảnh sát, người đại diện cho công quyền, đã có thể gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng, thậm chí đã làm sụp đổ cả một ngai vàng của nhà độc tài và thay đổi cả một chế độ hà khắc.

Bắc Giang ngày 25/07/2010 -

Image
Foto: OnTheNet


Trong thời gian vừa qua ở Việt Nam, trong rất nhiều sự vụ, thay vì xử phạt hợp tình, hợp lý trên nguyên tắc bảo vệ tài sản và tính mạng cho nhân dân, thì công an Việt Nam - tương tự như Tunisia - lại rất tắc trách, sử dụng bạo lực, gây chấn thương thân thể hoặc tử vong cho người vi phạm, cũng đã làm cho dân chúng nổi giận.

Điển hình nhất vào ngày 25/07/2010, cho rằng công an huyện Tân Yên đã tàn nhẫn đánh chết em Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, chỉ vì em không đội mũ bảo hiểm, hàng ngàn người từ khắp các vùng lân cận đã kéo về trụ sở Uỷ ban tỉnh Bắc Giang, phá sập hàng rào, giật cờ và phản kháng, chống cự lại công an tới ổn định trật tự.

Sự lộng hành, cho phép mình đứng ngoài pháp luật, coi thường sinh mạng thường dân của lực lượng công an Việt Nam ngày càng tăng, sẽ không gì khác hơn là rót thêm dầu vào ngọn lửa bất bình, mất hết lòng tin vào chế độ của xã hội và đến một lúc nào đấy sẽ chín muồi, đủ sức nóng, có thể thiêu rụi cả chế độ.

Có rất nhiều yếu tố tương đồng đến đau đớn giữa hai chế độ độc tài của Việt Nam và Tunisia. Cho nên hiện tượng Bắc Giang hôm qua và thủ đô Tunisia hôm nay là bài học nhãn tiền. ■
© 2011 Lê Diễn Đức
© 2011 Radio Free Asia

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Image

CON RỂ NGUYỄN TẤN DŨNG TÁT VÀO MẶT BỐ VỢ
Tuổi trẻ bao giờ cũng bồng bột trong việc yêu đương, cho dù đó là tuổi trẻ của một người thông minh và nổi tiếng.
Ở đây, tôi muốn nói đến sự bồng bột của doanh nhân Hoa Kỳ Nguyễn Bảo Hoàng, con rể thủ tướng Việt Nam cộng sản Nguyễn Tấn Dũng.
Nguyễn Bảo Hoàng vốn là con trai của ông Nguyễn Bang, một quan chức cao cấp của Việt Nam Cộng Hòa, đã được cha mẹ đem theo tới Hoa Kỳ khi lánh nạn cộng sản vào năm 1975, lúc Hoàng mới 2 tuổi.

Học hành giỏi giang và có nhiều bằng cấp thuộc loại ưu, sau những xáo trộn của thời cuộc, trong đó có tác động của vụ 11-9 ở Mỹ, vào khoảng năm 2004 Bảo Hoàng đã nhận lời đề nghị của Patric McGovern, chủ tịch tập đoàn IDG, đến VN làm tổng giám đốc IDG Ventures Vietnam.

Tuổi trẻ cần yêu và được yêu. Anh đã yêu đất nước VN vốn là nơi chôn rau cắt rốn, và yêu một người con gái thuộc loại khá xinh đẹp và giỏi giang: Nguyễn Thanh Phượng, con gái Nguyễn Tấn Dũng.
Không ai dám chắc, nhưng có thể cái vị thế thủ tướng của bố cô gái cũng tăng thêm sự hấp dẫn của mối quan hệ. Chỉ có điều, chắc là ông bà Nguyễn Bang không mấy ủng hộ cuộc hôn nhân này. Mấy chục năm sống trên cùng một mảnh đất với kẻ thù cộng sản, chắc ông bà vẫn chưa mất hết ấn tượng về phía bên kia.
Sau những năm tháng ‘đường mật’, đến giờ chắc hẳn Bảo Hoàng đã nhận ra rằng cuộc hôn nhân này không đơn giản như anh tưởng cách đây vài ba năm. Không chỉ có tình yêu mà còn biết bao vấn đề nhức nhối, trong đó có những âm mưu bẩn thỉu mà Hoàng không thể không thấy một phần!

Tôi không muốn biết và không muốn nói đến đời tư của người khác, nhất là của gia đình của giới quan chức. Nhưng ở đây có một vấn đề liên quan đến cuộc sống của hàng chục triệu người: đó là năng lực điều hành và uy tín của chính phủ đương nhiệm.

Có không ít những kẻ luôn lớn tiếng ca ngợi tài năng của ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Vậy thực tế ra sao? Hãy nghe chính chàng rể của ngài thủ tướng nói về chính phủ của bố vợ mình.

Đây là những lời của Nguyễn Bảo Hoàng được dẫn trong một bản báo cáo đặc biệt (Special Report) ngày 13-01-2011 của hai phóng viên Reuters Jon Ruwitch và Jason Szep (Xem BBC tiếng Việt, 14-01-2011). Bảo Hoàng nói đến ba vấn đề.

Về cơ sở hạ tầng, anh nói: “Ngay cả khi tôi nói rằng Việt Nam hiện ở trình độ của Trung Quốc vào những năm ’97-’98, thì Việt Nam thực sự vẫn tụt sau rất nhiều về cơ sở hạ tầng. Các cảng hiện hành của Việt Nam đang quá tải, Việt Nam thiếu đường cao tốc và mạng lưới điện là thiếu điện kinh niên khiến mất điện là bình thường.”

Về uy tín của chính phủ, anh nói: “Cuối cùng thì hầu hết mọi người trở nên dễ có thái độ chua cay, khó chịu về chính phủ, và có lẽ trong nhiều trường hợp thái độ đó là đúng.”

Và về giáo dục: “… đa số phải học trong NỀN GIÁO DỤC TỒI TỆ NHẤT mà ta có thể tưởng tượng ra được.”

Thiết nghĩ, chẳng cần bình luận gì dài dòng. Chỉ cần nói ngắn gọn: ba câu nói như ba cái tát (vào mặt ông Nguyễn Tấn Dũng)!

TRẦN NAM CHẤN

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Phát minh "tuyệt vời" của chế độ cộng sản Trung Hoa

Trẻ em "cường quốc kinh tế hạng nhì thế giới" xách bếp củi đi học

- Nhiều trẻ em "cường quốc kinh tế đứng nhì thế giới" đã phải mang theo những bếp than củi di động đi học
để sưởi ấm trong những ngày mùa đông rét buốt.

Image
Một học sinh tại trường tiểu học Chaping ở huyện Xinhuang, tỉnh Hồ Nam,
"cường quốc kinh tế đứng nhì thế giới" để bếp than củi dưới chân nhằm sưởi ấm.

Image
Các học sinh ngồi ăn trưa bên những bếp than củi di động tại trường tiểu học Chaping.
Nhiệt độ tại Xinhuang đã giảm xuống -2,5 độ C trong những ngày gần đây.

Image
Một em nhỏ một tay đeo cặp, một tay xách bếp than đang trên đường về nhà sau giờ tan học.

Image
Bé trai đang ra sức thổi lửa để sửa ấm trên đường về nhà.

Image
Em nào cũng xách một bếp than di động.

Image

Image

An Bình
Theo Xinhua

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Dự báo thế giới trong tương lai: Có Chiến Tranh Thế Giới Thứ Ba?


Lịch sử đã chứng minh rằng trong suốt gần một thế kỷ nay, nước Mỹ không bao giờ chịu lép vế trước một nước nào khác, dù cho nước đó là bạn hay là thù. Hễ mà xưng danh hiệu là một cường quốc trên thế giới là y như bị Mỹ kiếm mọi cách hạ cho bằng được. Nói rằng Mỹ là đế quốc cũng được, cho rằng Mỹ là Yankee hay cao-bồi Texas cũng chẳng sao ? Có điều, nói theo tiếng Việt là xui nguyên, giục bị thì cũng không oan chút nào.
1)- Chiến tranh thế giới lần thứ nhất , kể từ năm 1918 Đức và Áo đánh với Anh và Pháp. Sau chiến tranh, các nước lâm chiến đều bị thiệt hại. Mỹ ở ngoài vòng chiến nên trở thành giàu mạnh.

2)- Chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra. Đức –Áo –Ý và Nhật làm thành một khối. Đức đánh Pháp, Anh và sau cùng là Nga. Mỹ vẫn đứng ngoài. Sau khi Nhật bỏ bom và tiến đánh Trân-châu-Cảng (Pearl Habor), Mỹ mới nhảy vào vòng chiến, giúp Pháp đô bộ bờ biển Normandie chiếm lại nước Pháp.

Mỹ bỏ hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, Nhật phải đầu hàng Đồng minh (Mỹ, Anh, Pháp và Nga).

3)- Sau chiến tranh thứ hai, các nưóc Cộng Sản như Liên-Xô, Cộng hoà Nhân Dân Trung Hoa dần dần lớn mạnh.

4)- Từ năm 1950 đến 1953 là giai đoạn Mỹ trực tiếp nhúng tay vào bán đảo Triều Tiên. Sau chiến tranh thứ hai, có ba nưóc trên thế giới bị chia đôi; đó là Đức, Triều Tiên và Việt Nam. Chúng ta hãy nói riêng về Triều Tiên. Tại đây, đã xảy ra chiến tranh giữa Mỹ bảo hộ Nam Triều Tiên và Bắc Triều Tiên cùng với Trung Hoa Cộng Sản. Nhưng không bên nào giữ phần thắng.

5)- Tháng 3 năm 1969 xẩy ra tranh chấp và đụng độ biên giới giũa Liên-Xô và Trung Quốc gấn sông Ussuri thuộc Nga. Trung quốc cho Leon Brezhnev là “Kẻ Xét lại”. Giữa hai nước Cộng Sản lớn bắt đầu rạn nứt và chia rẽ thục sự.

6)- Để lôi kéo Trung Quốc chống Liên-Xô, Nixon đến Tầu năm 1972 và đặt quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Sau đó, giới tư bản Mỹ bắt đầu Đầu Tư vào Tầu. Và Trung quốc biến thành nơi sản xuất hàng tiêu thụ sang Mỹ và châu Âu … để từ đó, Trung Quốc vươn lên và giàu mạnh cho đến nay. Sở dĩ được như vậy là do chính phủ nắm giũ vai trò sản xuất và quản lý tài chánh ở khắp mọi nơi.

7)- Tháng 6 năm 1982, Tổng thống Mỹ Reagan và Giáo hoàng John Paul II liên kết cùng nhau thực hiện việc phá vỡ ngôi nhà Liên-Xô bắng một cuộc chiến không có tiếng súng. Đầu tiên, Mỹ lên kế hoạch đánh phá vào Ba-Lan trước bằng cách dùng Công Đoàn phối hợp cùng Nhà Thờ bao vây Đảng Cộng Sản Ba-Lan. Rồi dần dà các nước trong khối Đông Âu tan vỡ ra từng mãnh.

Kết luận cho thấy trong các cuộc chiến, Mỹ không bao giờ làm đầu tầu xung phong mà chỉ đóng vai trò ngư ông thủ lợi. Hơn nữa, dù có chiến tranh; nước Mỹ cũng không bị thiệt hại nhiều do điều kiện thuận lợi về địa dư, nước Mỹ ở quá xa với các châu khác. Hơn nữa, Mỹ biết thủ vai quản trị ngân hàng và quản lý tiền tệ.

TẠI SAO CÓ CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ BA ?

Như đã đề cập bên trên, Mỹ không bao giờ muốn một nước nào bằng mình hay hơn mình. Nhưng các nhóm lãnh đạo của Tầu qua nhiều thời kỳ không nhận ra điều nầy. Họ đã chủ quan và thiếu tế nhị trong vấn đề “họ khinh thường, cho rằng Mỹ chỉ là con cọp giấy”. Không những vậy, họ như ngưòi chỉ biết thủ lợi, được cá quên nơm. Sở dĩ Trung Quốc giàu mạnh như ngày nay do nhờ Mỹ dồn dập đầu tư vào Trung quốc.

Tại sao Mỹ phải đánh Trung Quốc vỡ ra từng mảnh trong 10 năm tới ?
Theo các nhà phân tích : từ nay cho đến năm 2015, nếu Trung Quốc vẫn duy trì được đà phát triển như hiện nay, GDP Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ, và đứng nhất thế giới.

Nếu Mỹ không đánh gục Trung Quốc trước năm 2015 thì Mỹ sẽ xuống vị trí cường quốc thứ hai. Chẳng nước nào coi trọng, nói chẳng ai nghe, đồng tiền US dollar chẳng ai thèm xài, dân nghèo, nước tụt hậu …
Vì Mỹ có nghiên cứu, được lãnh đạo kinh tế tài chánh giỏi; biết dùng sức mạnh của USD; chuyển USD vào nhiều thì hình thành bong bóng tài sản, đợi giá thật cao bán sạch, rút USD ra thật nhanh làm bể bong bóng, gây khủng hoảng kinh tế ( khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 – thị trường chứng khoán Trung Quốc giảm giá trị tới 4 lần, 4 đồng còn 1 đồng) .

Trước tiên Mỹ đánh Trung Quốc bằng chiến tranh kinh tế như sau :

• Mỹ tố Trung Quốc là "nước thao túng tiền tệ", tạo cớ để Mỹ đánh thuế nhập khẩu lên hàng Trung Quốc 30 % chỉ trong 6 tháng. Tất cả các hãng xưởng Trung Quốc sẽ bị phá sản vì nền sản xuất Trung Quốc sở dĩ tồn tại chính yếu dựa vào thị trường tiêu thụ Mỹ. Không bán được hàng, tất cả các hãng Trung Quốc sẽ đi tới phá sản.

• Mỹ tố Trung Quốc giữ giá trị đồng tiền thấp để tạo ra phong trào trên toàn cầu áp thuế chống bán phá giá lên hàng Trung Quốc, để hàng Trung Quốc khó tiêu thụ trên toàn thế giới.

• Nếu Trung Quốc nghe lời Mỹ tăng giá trị đồng tiền so với USD, thì Mỹ sẽ nâng giá đồng USD vừa đủ cho kinh tế Mỹ phát triển ổn định, còn đồng tiền Trung Quốc tăng giá vượt qua tốc độ tăng của USD sẽ ngăn cản sự tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc, kinh tế Trung Quốc sẽ đi xuống, các nhà đầu tư Mỹ và Tây phương sẽ rút ra khỏi Trung Quốc. Trung Quốc sẽ gặp khủng hoảng ( như khủng hoảng kinh tế Trung Quốc năm 2008).

• Mỹ sẽ có kế hoạch và có chiến lược làm cho Trung Quốc sa lầy trong sản xuất. Các hãng xưởng của Trung quốc đóng cửa hàng loạt, thất nghiệp lan tràn. Giá sinh hoạt tăng vùn vụt.

Ở nông thôn bị canh chừng cẩn mật trong mấy chục năm qua, nay có cơ hội vùng lên đòi lại những đất đai bị mất mát từ trước. Bạo động liên tục sẽ xảy ra từ nơi này qua nơi khác trở thành nội loạn. Vùng Tân cương, nơi có dân theo đạo Hồi sẽ nổi dậy chống đối chính quyền điạ phương; đồng thời Tây Tạng và một vài tỉnh sẽ tách ra đòi tự trị.

Lúc đó chính là lúc Nga sẽ yễm trợ các xứ Tân Cương võ trang đòi độc lập. Ấn Độ sẽ tấn công vào các vùng biên giới. Nga, Nhật đòi lại các đảo. Mỹ sẽ tuyên bố vùng lưõi bò do Trung quốc tuyên bố là bất hợp pháp. Philippines sẽ tán công chiếm lại các đảo san hô nhỏ. Việt Nam bắt buộc vì quyền lợi dân tộc sẽ chiếm lại Hoàng Sa, một phần Trường Sa và đòi lại những phần đất do Trung quốc chiếm lĩnh từ trước ở các tỉnh Lào-Kay, Hà-Giang và Lạng-Sơn.

Trung quốc sẽ hết đường vùng vẫy, Trung quốc sẽ tan ra từng mãnh; và đến lúc đó là lúc thời cơ chín mùi để Mỹ ra mặt nhảy vào can thiệp.

Hy vọng rằng háng ngũ lãnh đạo Việt Nam hiện thời sẽ thức tĩnh trước thời cuộc và nhận ra rằng theo Tàu thì rồi ra Đảng cũng không còn vì Tàu sẽ dùng người của họ. Và căn cứ vào lịch sử từ xa xưa cho đến nay Tàu vẫn là kẻ thù truyền kiếp của Việt Nam. Trong đấu óc của nhủng người lãnh đạo Bắc Kinh vẫn luôn luôn nuôi ý đồ xâm chiếm Việt Nam, biến Việt Nam thành một tỉnh của Tầu.

VŨ TRƯỜNG SƠN

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Quan hệ phức tạp Hoa Kỳ-Trung Quốc

Hà Tường Cát/Người Việt
Không ai biết Trung Quốc chờ mong gì ở chuyến công du Hoa Kỳ của Hồ Cẩm Ðào. Các giới chức tại Bắc Kinh không muốn tỏ rõ điều này và Cui Tiankai, thứ trưởng Ngoại Giao Trung Quốc trong buổi họp báo hôm Thứ Hai để trình bày về chuyến công du, chỉ dùng những lời lẽ mơ hồ về nhu cầu “phát triển vững chắc và lành mạnh mối bang giao giữa hai quốc gia.”


Chủ Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào được Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Joe Biden đón ở phi trường căn cứ quân sự Andrews, Maryland, hôm Thứ Ba, 18 tháng 1, 2010, và cùng đứng trên thảm đỏ chào quốc kỳ hai nước. (Hình: Alex Wong/Getty Images)



Năm vừa qua quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc có nhiều khó khăn và trở ngại, từ mậu dịch, tiền tệ ganh đua quân sự đến việc thiếu cộng tác trên lãnh vực ngoại giao.

Một cách chung thì tất cả mọi người đều dự đoán kinh tế sẽ là vấn đề hàng đầu trong cuộc hội đàm Obama-Hồ Cẩm Ðào, được coi là “cuộc gặp gỡ thượng đỉnh Hoa Kỳ-Trung Quốc quan trọng nhất từ hơn ba thập niên kể từ chuyến thăm viếng lịch sử của Ðặng Tiểu Bình năm 1979,” theo nhận định của Zbigniew Brzezinski, cố vấn an ninh quốc gia thời Tổng Thống Jimmy Carter. Theo ông ý nghĩa của cuộc hội kiến này, lần thứ tám giữa Hồ Cẩm Ðào và Barack Obama, “vượt trên chức nghiệp cũng như nghi thức bình thường trong những chuyến công du của các nhà lãnh đạo quốc gia và sẽ xác định quan hệ giữa hai cường quốc hàng đầu thế giới ở thế kỷ 21.”

Hồ Cẩm Ðào đến Washington lần này có lẽ là lần cuối cùng với cương vị Chủ tịch nhà nước Trung Quốc, với dự kiến nhiệm kỳ sẽ mãn vào năm 2012. Ông sẽ được dành cho một vinh dự mà trước đây 5 năm đã không có: bữa quốc yến do Tổng Thống Barack Obama và Ðệ Nhất Phu Nhân Michelle khoản đãi tại tòa Bạch Ốc tối Thứ Tư, 19 tháng 1. Các quan sát viên cho rằng biểu tượng và nghi lễ vốn là những yếu tố rất quan hệ đối với người Hoa và hình thức trang trọng này sẽ hoàn toàn làm hài lòng Hồ Cẩm Ðào, giúp gia tăng tình thân thiện giữa cá nhân hai nhà lãnh đạo. Ðây cũng là sự đáp lễ của Tổng Thống Obama đã được tiếp đãi bằng hình thức như vậy ở Bắc Kinh tháng 11 năm 2009.

Tổng Thống Obama trước đây đã hai lần tổ chức quốc yến ở tòa Bạch Ốc đãi thủ tướng Ấn Ðộ và tổng thống Mexico. Người tiền nhiệm, Tổng Thống George W. Bush, ít ưa chuộng lễ nghi này, qua 8 năm ông thường chỉ tiếp các nhà lãnh đạo nước ngoài bằng những bữa tiệc với nghi thức vừa phải hay những buổi ăn chung để làm việc. Tháng 4 năm 2006 khi Hồ Cẩm Ðào đến Washington lần đầu tiên, Tổng Thống Bush dành cho nhà lãnh đạo Trung Quốc sự đón tiếp sơ sài dù vẫn đủ thủ tục có đội quân danh dự dàn chào và bắn 21 phát súng đại bác, nhưng chỉ đãi cơm trưa thay vì dạ yến ở tòa Bạch Ốc.

Chiếc máy bay Boeing 747 của Air China chở Hồ Cẩm Ðào và phái đoàn Trung Quốc đáp xuống phi trường quân sự Andrews trưa Thứ Ba. Phi trường của căn cứ hỗn hợp Không và Hải quân này ở phía Ðông Nam Washington D.C. vẫn là nơi sử dụng cho máy bay Air Force One của các tổng thống Hoa Kỳ. Phó Tổng Thống Joe Biden đón Hồ Cẩm Ðào tại sân bay và cùng đứng trên thảm đỏ chào quốc kỳ hai nước trước khi lên đoàn xe về thủ đô.

Trong thời gian 4 ngày ở Hoa Kỳ từ Thứ Ba đến Thứ Sáu, Hồ Cẩm Ðào sẽ được tiếp đón với nghi lễ quốc khách tại tòa Bạch Ốc ngày Thứ Tư trước khi bước vào cuộc hội đàm với Tổng Thống Obama, và sẽ ghé thăm thành phố Chicago trước khi về nước. Ngoài buổi quốc yến tối Thứ Tư, ngay tối Thứ Ba ông cùng một số phụ tá còn có một bữa ăn tối thân mật trong tòa Bạch Ốc với Tổng Thống Obama, có mặt Ngoại Trưởng Hillary Clinton, và Cố vấn An ninh Quốc gia Tom Donilon.

Người tiền nhiệm của Hồ Cẩm Ðào, Chủ Tịch Giang Trach Dân và phu nhân cũng đã được Tổng Thống Bill Clinton và Ðệ Nhất Phu Nhân Hillary long trọng thết đãi quốc yến cùng với 230 khách hồi tháng 10 năm 1997. Trước đó mấy năm, Tổng Thống Clinton đã từ chối cuộc thăm viếng chính thức của nhà lãnh đạo Trung Quốc và chỉ đề nghị gặp gỡ ở Lincoln Center, thành phố new York, vào dịp các nhà lãnh đạo thế giới đến tham dự Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc.

Tổng Thống Obama rõ ràng bày tỏ một thái độ hòa hoãn và thực dụng hơn, dành cho nhà lãnh đạo Trung Quốc sự tiếp đón trang trọng như muốn có, lần đầu tiên từ sau 13 năm. Theo tin của thông tấn xã AP, cho đến bây giờ chưa thấy dựng lều ngoài sân cỏ như hai lần đón thủ tướng Ấn Ðộ và tổng thống Mexico, có nghĩa là bữa tiệc sẽ được tổ chức trong tòa Bạch Ốc. Mỗi lần đãi quốc khách đều có một đầu bếp riêng nhưng cũng chưa biết lần này sẽ là ai.

Trước và khi đến Hoa Kỳ, lời lẽ của Hồ Cẩm Ðào đều tỏ ra hòa nhã, cho rằng sự phát triển mối quan hệ vững chắc và lành mạnh trong ba thập niên vừa qua đã chứng tỏ là có lợi ích cho dân chúng cả hai nước và nền hòa bình thế giới.

Các công ty Hoa Kỳ từ lâu vẫn đòi hỏi Trung Quốc nâng giá đồng Nhân Dân tệ để cho hàng xuất cảng của Hoa Kỳ được rẻ hơn. Nhưng ở chuyến thăm của Hồ Cẩm Ðào lần này, họ sẽ chú trọng vào những mục tiêu khác như chặn đứng sự đánh cắp bản quyền trí tuệ và giành điều kiện công bằng hơn trong việc ký kết hợp đồng với nhà nước Trung Quốc. Không ai đặt nhiều hy vọng là sẽ có được những khai thông quan trọng ngay bây giờ nhưng mong là hai nhà lãnh đạo thỏa hiệp được căn bản cho những giải pháp lâu dài về tranh chấp mậu dịch giữa hai cường quốc kinh tế.

Trả lời phỏng vấn của tờ Wall Street Journal và Washington Post, Hồ Cẩm Ðào nói rằng: “Cả hai nước chúng ta đều thắng với quan hệ lành mạnh và thua bằng sự đối đầu.” Tuy nhiên ông cũng nhấn mạnh “tình trạng đồng dollar ngự trị trên thị trường tài chánh là một sản phẩm của quá khứ” và gợi ý Trung Quốc sẽ tìm cách để đồng Nhân Dân tệ có một vai trò cân xứng trong tương lai. Ðiều ấy cho thấy Trung Quốc không sẵn sàng đáp ứng đòi hỏi thay đổi tỷ giá giữa hai đồng tiền.

Myron Brilliant, phó giám đốc quốc tế vụ của Phòng Thương Mại Hoa Kỳ cho rằng: “Chúng ta nên hy vọng rằng qua thời gian sẽ có những tiến triển về mọi vấn đề.”

Thâm hụt mậu dịch của Hoa Kỳ với thế giới khoảng $500 tỷ năm ngoái, sẽ giảm được $120 tỷ nếu Trung Quốc nâng giá đồng Nhân Dân tệ lên 20% trong vòng ba năm tới, theo tính toán của Peterson Institute for International Economics, một cơ quan nghiên cứu chiến lược ở Washington. Và biến chuyển ấy sẽ tạo ra khoảng 1/2 triệu việc làm cho công nhân Hoa Kỳ trong ngành sản xuất.

Hoa Kỳ và nhiều nước trên thế giới lên án Trung Quốc làm giá đồng tiền của họ, giữ cho trị giá đồng Nhân Dân tệ thấp một cách giả tạo và do đó hàng xuất cảng của Trung Quốc hưởng lợi không công bằng. Căng thẳng về tiền tệ trong ít tuần lễ gần đây đã giảm bớt vì nhiều nguyên nhân trong đó có biện pháp QE-2 của Fed tung thêm ra thị trường $6 tỷ, từ tháng 6 đến nay đồng Nhân Dân tệ đã lên giá 3.5% so với đồng dollar và có thể còn tới 5% nếu tính đến mức lạm phát.

Hôm Thứ Ba, Bắc Kinh cho biết một phái đoàn thương mại của họ đã ký hợp đồng $600 triệu với các công ty Hoa Kỳ ở Houston về thương vụ nhập cảng đồ sứ và bông cùng với hợp tác phát triển trang bị điện mặt trời. Bộ Trưởng Ngân Khố Timothy Geithner trong một bài phát biểu ở Ðại Học John Hopkins tuần trước đưa ra một hình ảnh lạc quan hơn về quan hệ kinh tế giữa hai quốc gia, Theo ông, cái lợi trong quan hệ này khó có thể nhận định qua một thống kê đơn giản. Ông cho biết trong năm 2011, Hoa Kỳ sẽ có thể xuất cảng $100 tỷ hàng hóa và dịch vụ sang Trung Quốc và giúp cho dân Mỹ có hàng trăm ngàn công việc làm.

Nhưng không chỉ riêng kinh tế, va chạm Hoa Kỳ-Trung Quốc còn có từ nhân quyền đến vấn đề bán vũ khí cho Ðài Loan, chính sách đối với Bắc Hàn và Iran, cùng nhiều lãnh vực khác. Khi Hồ Cẩm Ðào đến Washington hôm Thứ Ba đã có những nhóm Tây Tạng và nhân quyền biểu tình ở công viên La Fayette gần tòa Bạch Ốc.

Ngược lại, Trung Quốc cũng có không ít những bất mãn với Hoa Kỳ. Thứ Trưởng Ngoại Giao Cui Tiankai cho rằng Bắc Kinh và Washington cần phải tìm ra hướng giải quyết mới trong mối quan hệ. Ông nói: “Sức mạnh của Trung Quốc và vai trò của chúng tôi trên thế giới là một thực tế. Trong khi chúng tôi hiểu biết và tôn trọng những quyền lợi của Hoa Kỳ thì chúng tôi cũng hy vọng là Hoa Kỳ tôn trọng và hiểu biết vị trí của Trung Quốc.” Ðiều ấy cho thấy sự lo ngại về việc Hoa Kỳ có thể là một trở ngại cho những ý đồ chiến lược lâu dài của Trung Quốc.

Bắc Kinh luôn luôn xác định là “không có xung đột giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc” và sự lớn mạnh của Trung Quốc là hòa bình không đe dọa ai. Tuy nhiên những năm gần đây nhu cầu nguyên liệu và năng lượng khiến Trung Quốc gia tăng sự hiện diện ở nhiều nơi trên thế giới và đặc biệt ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương nơi mà tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ và biển đôi lúc đã có dấu hiệu vượt xa hơn những lời tuyên bố cường điệu. Dù cho đến bây giờ sự xung đột với Hoa Kỳ chưa xảy ra nhưng địa bàn này vẫn là một tiềm năng tranh chấp về quyền lợi.

Theo lời cố vấn an ninh quốc gia Tom Donilon thì, để có thể đạt tới kết quả thiết thực, hai nhà lãnh đạo Hoa Kỳ-Trung Quốc sẽ thảo luận các vấn đề gom vào 4 gói riêng biệt: quan hệ toàn bộ Mỹ-Trung, an ninh và chính trị, kinh tế và nhân quyền. (HC)

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Những chiến sĩ bị bỏ rơi
Lữ Giang
Tướng Vang Pao đã qua đời hôm 6.1.2011 tại Fresno, California, sau khi nhập viện 10 ngày vì bệnh sưng phổi, hưởng thọ 81 tuổi.

Cái chết của Tướng Vang Pao đã khiến báo chí thế giới cũng như Việt một lần nữa nhắc những chuyện bi thảm mà người Hmong đã và đang phải gánh chịu vì đã hợp tác với CIA để chống lại Cộng Sản Lào và Việt Nam. Họ đã chiến đấu rất anh dũng, nhưng rồi bị bỏ rơi và lâm vào cảnh cùng khốn.

Các ký giả Tây phương đã bỏ nhiều công sức để mở các cuộc điều tra và viết về thân phận bi thảm của người Hmong sau khi Mỹ rút khỏi Đông Dương. Đây là những tài liệu qúy báu giúp chúng ta rút ra nhiều bài học kinh nghiệm.

Trong bài này chúng tôi xin tóm lược thân phận của người Hmong trong cuộc chiến và sau cuộc chiến. Trong bài tới chúng tôi sẽ nói đến vụ án Vang Pao, một vụ án mà những người Việt “chống cộng” trên đất Mỹ không thể không biết đến.

VÀI NÉT VỀ NGƯỜI HMONG

Người Hmong thuộc ngữ hệ Mèo – Dao vốn ở phía nam Trung Quốc. Họ tạo thành nhóm sắc tộc lớn thứ 5 trong số 56 sắc tộc được chính thức công nhận ở Trung Quốc với dân số hiện nay khoảng 10 triêu người. Họ thường sống tại các tỉnh Quý Châu, Hồ Nam, Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây và Hồ Bắc. Một số đã di cư xuống Đông Nam Á vào khoảng thế kỷ 16 và 17.

Hiện nay tại Việt Nam, người Hmong chiếm khoảng 0,8% dân số ở khắp vùng rẻo cao trên 1500 thước ở các tỉnh miền núi phía Bắc, chủ yếu tại ba tỉnh Lao Cay, Hà Giang và Tuyên Quang.

Trong chiến tranh Việt Nam, số người Hmong ở Lào được ước lượng có khoảng 350.000 người, chia ra làm ba dòng tộc khác nhau: Hmong Sọc, Hmong Xanh (còn gọi là Hmong Hoa) và Hmong Trắng. Những tên này được đặt theo trang phục của người Hmong.

Người Hmong Sọc và Hmong Xanh sống ở phía tây Lào. Hai dòng tọc này rất hiền hòa, chỉ lo canh tác làm ăn, không muốn can dự vào cuộc chiến. Người Hmong Trắng sống ở các đồi núi chung quanh Cánh Đồng Chum ở phía đông bắc Lào, gần sát với biên giới Việt Nam. Đây là một dòng tộc tương đối văn minh hơn hai dòng tộc kia và thường được coi là những chiến sĩ kiên cường (tenacious warriors). Vì thế, người Hmong Trắng được cơ quan tình báo CIA khai thác.

ĐI VÀO CUỘC CHIẾN

Người Hmong sống chủ yếu tại các vùng núi, với tập tục di canh di cư, làm nương rẫy và trồng cây thuốc phiện. Thuốc phiện có thể nói là một trong những nguồn thu nhập chính của nhiều thế hệ người Hmong. Bổng nhiên họ bị đưa vào một cuộc chiến bi thảm.

Tháng 8 năm 1960, Đại Úy Kong Le, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù, một biệt kích được CIA huấn luyện, đã làm đảo chánh, lật đổ chính phủ thân Tây phương ở Lào và lên nắm quyền ở Vạn Tượng.

Chính quyền Eisenhower lúc đó sợ Kong Le đi theo Cộng Sản, đã yểm trợ mạnh mẽ cho quân đội của Hoàng Thân Phoumi Nosavan đang đặt bản doanh tại Savannakhet. Đồng thời, theo đề nghị của CIA, chính phủ Eisenhower cho phép tuyển dụng và huấn luyện người Hmong để thành lập một đạo quân thường được gọi là “đạo quân bí mật” dưới sự điều khiển của Tướng Vang Pao để chống Cộng. Người Hmong bắt dầu dính vào với CIA từ đó.

Dòng tộc Hmong Trắng có hai lãnh tụ lớn là Vang Pao và Touby LyFong. Vang Pao là một nhà lãnh đạo quân sự, đã từng lãnh đạo dòng tộc Hmong từ thập niên 1940 đến giữa thập niên 1970. Còn Touby LyFong thiên về các hoạt động chính trị và xã hội.

Đến mùa hè năm 1961, CIA đã huấn luyện và cung cấp vũ khí cho khoảng 9.000 quân Hmong chiến đấu. Tuy nhiên, tháng 5 năm 1962, với sự yểm trợ của bộ đội Việt Nam, Pathet Lào đã chiếm được thủ phủ Nam Tha ở bắc Lào. Tổng Thống Kennedy phải ra lệnh cho khoảng 3.000 nhân viên quân sự Mỹ rút qua Thái và sau đó mở hội nghị với Khrushchev bàn về một giải pháp trung lập cho Lào, vì Tổng Thống Kennedy tin tưởng một cách ngây thơ rằng nếu đặt Lào dưới quy chế trung lập, Việt Cộng sẽ không thể mượn lãnh thổ Lào để xâm nhập miền Nam Việt Nam nữa! Công việc thương thuyết để trung lập hóa Lào được giao cho Averell W. Harriman, Phụ Tá Ngoại Giao về Đông Nam Á Sự Vụ, phụ trách. Harriman đã thực hiện việc trung lập hóa Lào bằng mọi giá, bất chấp sự phản đối của chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày 23.7.1962 Tuyên Ngôn Trung Lập Lào được công bố. Khoảng 666 cố vấn quân sự của Mỹ còn lại rút ra khỏi Lào. Đạo quân Hmong được CIA huấn luyện bị bỏ rơi!

Nhưng theo báo cáo của CIA, sau khi tuyên bố trung lập, khoảng 7000 quân đội Việt Nam chẳng những không chịu rút khỏi Lào mà còn bành trướng thêm. Trong năm 1963, chính quyền Kennedy lại cho phép CIA trở lại Lào, huấn luyện và trang bị cho khoảng 20.000 quân Hmong để chống lại quân Bắc Việt lẫn Pathet Lào. Người Hmong được huấn luyện và trang bị đã chiến đấu rất kiên cường, phá hủy nhiều hệ thống tiếp tế của Bắc Việt. Tuy nhiên, quân số Hmong quá ít và không được trang bị đầy đủ, đã không thể chống lại các đơn vị khổng lồ và thiện chiến của Bắc Việt.

Vào tháng 5 năm 1968, CIA ước lượng có khoảng 35.000 quân Bắc Việt có mặt tại Lào. Trong khi đó, lực lượng Hmong bị tổn thất quá nặng. Nhưng cứ 1000 quân Hmong bị tổn thất, CIA chỉ huấn luyện và đưa vào bổ sung được 300 quân. Người ta phải vét cả những trẻ vị thành niên, người lớn tuổi và cả phụ nữ để đưa vào cuộc chiến. Theo sự ước tính của CIA, có 30% quân Hmong từ 10 đến 14 tuổi, 30% từ 15 đến 16 tuổi, 40% còn lại đa số trên 55 tuổi. Có khi CIA phải tuyển thêm những lính đánh thuê người Thái để bổ sung vào, nhưng vẫn không thấm vào đâu. Cuối cùng, Hoa Kỳ quyết định dùng không quân để chống lại Cộng quân. Khi Hoa Kỳ quyết định rút khỏi Đông Dương vào năm 1973, thân phận của các chiến sĩ Hmong chống cộng bắt đầu trở nên bi thảm.

Năm 1975, với sự hổ trợ của quân Bắc Việt, Pathet Lào hoàn toàn kiểm soát Lào. Ngày 2.12.1975 Pathet Lào làm đảo chánh, chấm dứt chế độ quân chủ. Vua Sisavang Vatthana bị buộc thoái vị nhưng được chỉ định làm Cố Vấn Tối Cao cho chính phủ mới. Thủ Tướng Souvana Phouma mới bị lật đổ, cũng được chỉ định làm “Cố Vấn Chính Phủ”.

MỘT CHƯƠNG BI THẢM

Anh Chia Vue Yang kể lại rằng lúc mới 10 tuổi, anh bị bắt đưa lên trực thăng của cơ quan tình báo Hoa Kỳ và đưa vào một trại ở giữa rừng. Họ gọi anh là “chú lính quân dịch”. Anh có biết gì đâu. Trước hết anh phải lo nấu nướng, giặt áo quần và phục vụ cho người Mỹ. Khi anh lớn lên, họ dạy cho anh xử dụng súng máy và cách đánh trận. Rồi anh ra trận. Ông Jerry Daniel, một nhân viên CIA, thường đến và nói với anh: “Đứng lo. Tao lo cho mày”. Họ đều tin ở ông Jerry. Nay thì họ cảm thấy bị phản bội. Những trường hợp “tuyển mộ” khác cũng đã xẩy ra tương tự.

Trong chiến tranh, người Hmong Trắng đã chịu nhiều thương vong nặng nề. Người ta ước lượng đã có khoảng từ 18.000 đến 20.000 chiến sĩ Hmong tử trận, trong đó có cả trẻ vị thành niên và phụ nữ. Đó là chưa kể số dân chúng bị thiệt hại vì chiến cuộc.

Nhưng khi chiến tranh chấm dứt, số phận của họ còn bi thảm hơn. Trong bài “Forgotten Soldiers” (Những chiến sĩ bị bỏ rơi), bà Susan M. Barbieri đã ghi lại những đau khổ mà các chiến sĩ Hmong đã gánh chịu khi Mỹ rút khỏi Lào. Tou Yang, một chiến sĩ Hmong năm nay 41 tuổi, đang định cư tại Hoa Kỳ, đã nói với bà:

“Năm 1974, khi người bạn Hoa Kỳ bỏ Lào, hy vọng một nước Lào tự do của người Hmong coi như tan vỡ. Khi Hoa Kỳ rút đi, kháng chiến quân bị kẻ thù săn đuổi khắp nơi, trên núi, trong thung lũng, nơi rừng rậm... Chúng tôi bị bỏ rơi, chúng tôi không trốn thoát được, chúng tôi không thể đến Thái Lan, chúng tôi không được tự do. Cấp chỉ huy của chúng tôi đã bỏ chúng tôi... Bây giờ ở trên đất Mỹ này, chúng tôi vẫn cảm thấy như chúng tôi đang bị bỏ rơi.”

Khi Cộng Sản chiến miền Nam Việt Nam, trên 200.000 người Hmong đã vượt sông Mekong chạy thoát qua Thái Lan. Phần lớn đã lần lượt được đi định cư ở Hoa Kỳ hay Úc Châu. Người ta ước lượng hiện nay có khoảng 160.000 người Hmong đang định cư tại Hoa Kỳ, tập trung ở ba tiểu bang Wisconsin, Minnesota và California. Nhưng một số người Hmong còn bị kẹt lại ở Thái Lan đang lâm vào tình trạng khốn đốn.

Khi chính phủ Thái Lan và Liên Hiệp Quốc quyết định đóng cửa các trại tỵ nạn, khoảng 26.000 người Hmong đã bị đẩy trở lại Lào. Một số trốn thoát được khỏi trại và đến xin tá túc tại tu viện Phật Giáo Tham Krabok, một trung tâm bài trừ ma túy. Nhật báo New York Times số ra ngày 12.3.1997 có đăng một bài dưới nhan đề “Những dân du mục Lào: những người còn lại của trận chiến Việt Nam” của Seth Mydans nói về số phận của 17.000 dân Hmong đang tạm trú tại tu viện này. Họ được chính phủ Thái Lan mô tả là “di dân bất hợp pháp và nguồn gốc không được xác định”. Thái Lan không muốn cho họ định cư tại Thái, còn chính phủ Hoa Kỳ tìm cách chối bỏ trách nhiệm. Họ phải lao động rất vất vả với đồng lương chết đói và có một đời sống rất cơ cực. Đến nay, thân phận họ vẫn chưa được giải quyết.

Trong khi đó, những người Hmong bị kẹt lại trên đất Lào còn lâm vào tình trạng bi thảm hơn. Trong bài “Được cấp giấy phép để giết” (Licensed to Kill) của ký giả Andrew Perrin đăng trên tạp chí Time số ra ngày 23.6.2003 cho biết như sau:

“Nhiều tù nhân chính trị và thanh niên đã bị giam giữ trong nhiều năm qua trong ngục tối mà không cần xét xử, nhiều người đã bị tra tấn. Các Kitô hữu bị ngược đãi và bị bắt phải bỏ đạo nều không sẽ bị tù. Có nhiều phụ nữ Hmong và trẻ em bị mắc kẹt ở vùng núi, đói, bị bắn và lần hồi bị chết. Hầu hết những sự tàn bạo đã xẩy ra đều không được các quốc gia Tây phương chú ý hoặc lên tiếng bênh vực, bởi vì Lào không nằm trên địa bàn quan sát của họ.”

Chế độ cộng sản ở Lào hiện nay là một chế độ khắt khe và bạo tàn, chỉ sau Bắc Hàn.

Trong cuộc triển lãm về thảm trạng của người Hmong Lào từ 17 tháng 1 đến 7 tháng 2 năm 2004 tại Sweden’s National Museum of History ở Stockholm, một tấm ảnh đã gây xúc động mạnh cho mọi người, đó là tấm ảnh của Philip Blenkinsop, một nhiếp ảnh gia người Úc, chụp 850 người Hmong đang qúy gối xuống và chảy nước mắt mừng rỡ khi thấy hai kỳ giả Mỹ tìm đến gặp họ ở bắc Lào, vì họ tưởng đó là nhân viên CIA đến cứu họ! Tấm ảnh này đã được đăng trên nhiều báo lớn trên thế giới (Chúng tôi có tấm hình này).

BI THẢM VẪN CÒN THEO ĐUỔI

Các ký giả Tây phương kể lại những chuyện bi thảm của người Hmong theo Mỹ quá nhiều, chúng tôi chỉ mới đưa ra một vài thí dụ điển hình. Nhưng cho đến nay, bi thảm vẫn còn tiếp tục. Mới đây, trên tờ Bangkok Post số ra ngày 29.12.2010, dưới đầu đề “Sự đối xử đau buồn với người Hmong”, ký giả Larry Fraser, đã viết về số phận của người Hmong theo Mỹ còn lại ở Thái Lan như sau:

“Chủ Nhật thư của bạn thông báo rằng thứ hai Thái Lan sẽ bắt đầu sử dụng quân đội để hồi hương hàng ngàn người tị nạn Hmong trở về Lào... Đó là một tình huống rất đáng buồn khi có những người đang bị chỉa mũi súng buộc trở lại một nơi mà họ muốn rời bỏ. Tuy nhiên, trong bối cảnh của câu chuyện buồn này, một bi kịch thực sự đang diễn ra - một điều đang đem lại sự xấu hổ cho cả Mỹ và Thái Lan.

Trước tiên hãy nhớ rằng người Hmong là chiến sĩ rừng núi của Lào đã chiến đấu nhân danh Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Họ được coi như là những người chiến sĩ, và họ đã đóng một phần quan trọng trong việc gìn giữ Lào dưới sự kiểm soát của các đồng minh của chúng ta cho đến cùng.

Trong số những người tị nạn Hmong hiện nay là một nhóm nhỏ được gọi là "Người Hmong Rừng Núi” (Jungle Hmong), những người sẽ bị bắt trở lại với sự tàn bạo có thể đoán trước và có thể bị giết. Họ là một nhóm nổi loạn vẫn còn ở trong rừng núi sau khi Cộng sản chiến thắng và từ chối hội nhập hay hợp tác. Họ nghĩ mình là người yêu nước và chờ đợi ngày họ có thể giúp giải phóng quê hương khỏi kẻ cựu thù của họ – như sự cổ võ liên tục của một số người Hmong đã chạy thoát sang các nước khác. Trong những năm qua chính phủ Lào coi họ như những kẻ tội phạm và kẻ phản quốc, đã tìm cách tiêu diệt họ có hệ thống. Bây giờ nhiều người trong số họ muốn tìm cách hội nhập, nhưng họ có lý do chính đáng để tin rằng họ sẽ bị bỏ tù hay giết chết nếu họ bị đặt dưới sự kiểm soát của các viên chức chức Lào.

Người Hmong Rừng Núi hiện nay ở Thái Lan (hầu hết là phụ nữ, trẻ em và người già) đã được chính thức công nhận là những người tị nạn, và các chính phủ khác đã tuyên bố sẵn sàng chấp nhận họ. Tháng tư vừa qua xem ra lẽ phải và lòng nhân đạo có thể áp dụng khi Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan thông báo rằng Thái Lan sẽ tạo điều kiện tái định cư cho 158 Người Hmong Rừng Núi được tổ chức tại Nông Kai. Tuy nhiên, một tháng sau, Lào yêu cầu họ phải được trả về và Thái Lan đã nhượng bộ... Một vài tháng trước đây, Lào đã trở thành một thành viên của hiệp ước quan trọng của Liên Hợp Quốc về nhân quyền, nhưng nhiều nhà quan sát tin rằng sự thù hận của Cộng Sản đối Người Hmong Rừng Núi rất sâu đậm và mạnh mẽ, mặc dù chính sách chính thức hiện nay, những người Hmong có thể sẽ bị đối xử tàn bạo nếu trở về Lào.

Thái Lan và Mỹ đã trả một số dịch vụ để tái định cư cho Người Hmong Rừng Núi, nhưng cả hai chính phủ trên căn bản đã đã tỏ ra nhu nhược. Họ biết rằng Người Hmong Rừng Núi là người tị nạn chính trị hợp pháp, họ biết rằng những người này đang sợ hãi trở lại Lào, họ biết rằng họ có lý do để cảm thấy như vậy, họ biết rằng những người đó và gia đình họ là đồng minh của chúng ta, và họ biết rằng hầu hết các người ở Thái Lan không gây ra mối đe dọa cho bất cứ ai. Tuy nhiên, họ sẽ không làm gì để tiến hành (việc định cư cho người Hmong). Người ta không ngạc nhiên nếu người Afghanistan chú ý đến ý nghĩa của sự cam kết mà nước Mỹ đã dành cho quân đội đồng minh cũ của họ.

Trong một câu chuyện liên quan, Vang Pao, Tướng già huyền thoại của Hmong, đã công bố một vài tuần trước rằng ông thích đi du lịch quay trở lại Lào để xem ông ta có thể làm giảm bớt căng thẳng giữa các chiến hữu cũ của ông và chính phủ hiện nay hay không. Tuy nhiên, chính phủ Lào tỏ ra coi thường ý tưởng đó bằng cách nói rằng ông ta phải thi hành án tử hình của ông ta trước.”

Trong bài “The great betrayal”, ký giả Bernard đã viết:

"Những người Hmong hy vọng cuộc chiến đấu của họ sẽ giúp cho chính phủ Lào đồng minh của Mỹ thắng trận và đối xử với họ như những công dân đầy đủ quyền lợi. Họ không thất bại trong vai trò của các chiến sĩ Lực Lượng Đặc Biệt nơi chiến trường. Họ chỉ thất bại vì đã tin vào khả năng thắng cuộc chiến của người Mỹ và người Mỹ giữ lời hứa.”

Ngày 18.1.2011
Lữ Giang

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Sự can đảm của đảng Cộng Sản Việt Nam

Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)

Image
Tân Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, người can đảm nhất của đảng CSVN. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)


Ðảng Cộng Sản Việt Nam có rất nhiều điểm đáng bị chê trách, tuy nhiên, theo tôi, họ có một ưu điểm rất đáng khâm phục, ít nhất, với riêng tôi: Sự can đảm.

Trước, trong chiến tranh: Họ can đảm. Can đảm khi đánh nhau với Pháp: Từ thân phận một nô lệ, họ dám nổi dậy, bất chấp mọi hiểm nguy; và chỉ với những thứ vũ khí thật thô sơ, có khi chỉ là gậy gộc, họ dám chống lại kẻ thù mạnh hơn họ gấp trăm, thậm chí, gấp ngàn lần. Theo dõi những thước phim tài liệu về Ðiện Biên Phủ, tôi nghĩ, chúng ta không thể không khâm phục. Cố vấn Trung Quốc giúp đỡ ư? Ừ, nếu có, thì họ chỉ giúp được phần trí tuệ, chứ còn phần can đảm thì cũng vẫn thuộc về những con người hì hục khiêng súng, khiêng đạn qua bao nhiêu là đồi, núi, rừng, suối... từ ngày này sang ngày khác, và cuối cùng, đối diện với một đội quân được trang bị những thứ vũ khí cực kỳ tối tân.

Trong cuộc chiến thời 1954-75 cũng vậy. Tôi đọc được khá nhiều tài liệu diễn tả sự thán phục của một số lính Mỹ trước sự chịu đựng gần như ngoài sức tưởng tượng của bộ đội Bắc Việt. Trước khi quân Mỹ đổ bộ đến một nơi nào đó, máy bay đã thả bom cày nát mặt đất, ngỡ như không còn một gốc cây nào còn đứng vững, không một khoảnh đất nào còn nguyên vẹn, vậy mà, người ta vẫn phát hiện có một số du kích hay bộ đội nào đó còn ôm súng nằm yên chờ phục kích. Một số người Mỹ nói: Họ không thể nào hiểu nổi!

Bây giờ, bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ 21, những người Cộng Sản Việt Nam, nhất là hàng ngũ lãnh đạo, vẫn còn giữ được sự can đảm không ai có thể tưởng tượng được của họ: Họ không biết sợ gì cả. Tuyệt đối không sợ. Họ không hề sợ nói những điều nhảm nhí. Và họ cũng không hề sợ làm những điều có thể bị chê là ngu xuẩn. Họ không hề sợ.

Như, chẳng hạn, đầu tháng 10 năm 2009, để tạo cớ bắt nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, họ đã dàn dựng lên cảnh ẩu đả trước cửa nhà bà khiến cho một người đàn ông bị thương. Bằng chứng mà công an đưa ra là bức ảnh một người đàn ông máu me dầm dề từ tai xuống cổ, xuống cả chiếc áo trắng đang mặc. Với bằng chứng ấy, họ hy vọng có thể buộc Trần Khải Thanh Thủy tội cố ý đả thương người khác. Có điều, ngay sau đó, một số thành viên thuộc Diễn Ðàn Xcafevn phát hiện: Ðó chỉ là bức ảnh ghép dựa trên một bức ảnh đã được chụp từ hơn bốn năm về trước! Khi sự giả dối của họ bị vạch trần, họ xí xóa bằng cách thả Trần Khải Thanh Thủy chăng? Không, họ vẫn đưa bà ra tòa và vẫn bắt bà bỏ tù. Tại sao ư? Thì tại họ cóc sợ cái gì cả. Kể cả sự thật. Vậy thôi.

Hay, gần đây, để bắt Luật Sư Cù Huy Hà Vũ, họ buộc ông tội ngủ với gái mại dâm. Té ra, không phải. Cô gái trong phòng của Cù Huy Hà Vũ là một luật sư đồng nghiệp. Cái cớ bắt người vì tội mua dâm, như thế, hóa thành vô duyên. Nhưng không sao, họ vẫn tiếp tục bắt giam Cù Huy Hà Vũ. Tại sao? Thì cũng vẫn tại họ cóc biết sợ cái gì cả. Kể cả liêm sỉ. Vậy thôi.

Nhưng không đâu sự can đảm của đảng Cộng Sản, đúng hơn, của hàng ngũ lãnh đạo cao nhất của đảng Cộng Sản, lại được thể hiện rõ cho bằng trong bản báo cáo chính trị được đọc trong đại hội đảng lần thứ 11 vừa mới diễn ra. Trong bản báo cáo ấy, họ nói toàn những điều ngược ngạo, trái với sự thật và trái với lịch sử; trái một cách hiển nhiên; trái đến độ không một kẻ có tâm trí bình thường nào dám nói; vậy mà họ vẫn nói.

Như, chẳng hạn, trong “Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trình Ðại hội XI”, họ vẫn khẳng định chủ nghĩa tư bản, tuy vẫn “còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công”. Họ không dám nói, như mấy năm về trước, là chủ nghĩa tư bản “đang giãy chết” nhưng giọng của họ vẫn còn đầy răn đe: chính những “sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó [trong lòng chế độ tư bản] và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động các nước sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản.” Rồi họ dõng dạc tuyên bố: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.”

Rồi, trong “Dự thảo báo cáo chính trị của BCH trung ương đảng”, họ lại “một lần nữa khẳng định: Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm cho dân tộc ta có độc lập, tự do thực sự, đất nước phát triển phồn vinh, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.”

Ở vào thập niên thứ hai của thế kỷ 21 như hiện nay, sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở khắp nơi đã sụp đổ, sau khi đã có hàng ngàn tài liệu vạch trần những sai lầm trong hệ thống xã hội chủ nghĩa và những bất cập trong tư tưởng chính trị của Marx và Lenin (chưa nói đến tư tưởng của Stalin và Mao Trạch Ðông), mà vẫn còn viết được như vậy quả là một sự can đảm phi thường.

Chính những đảng viên kỳ cựu ở Việt Nam cũng thấy rõ điều đó. Trong cuộc hội thảo góp ý cho văn kiện đại hội đảng được trung tâm thông tin và dự báo kinh tế xã hội quốc gia phối hợp với Hội Khoa Học Kinh Tế Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vào đầu tháng 10 năm 2010, nhiều người, ví dụ, ông Nguyễn Trung, cựu đại sứ Việt Nam tại Thái Lan và cựu thành viên ban nghiên cứu của thủ tướng, nói thẳng: “Viết về nhận định quốc tế - sai. Viết về nhận định các nước XHCN - cũng sai. Viết về nhận định tình hình trong nước - cũng sai.” Rồi ông thêm: “Tôi lấy ví dụ, các nước XHCN còn lại kiên định con đường XHCN, thế chúng ta theo Triều Tiên à, theo Bắc Triều Tiên à? Không được các đồng chí ạ! Viết về quốc tế sai, viết về đất nước sai giữa tình hình thế giới cũng sai chỗ ấy nên bỏ, nếu còn giữ lại thì nguy hiểm.” Hay, như Giáo Sư Trần Phương, cựu phó thủ tướng, nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại nhiều lần: Nói như bản dự thảo là “nói bậy”, là “bịp thiên hạ”, là “nhắm mắt trước thực tế”, là “nói một đằng, làm một nẻo”, v.v.

Những lời phát biểu của Nguyễn Trung hay Việt Phương có gì mới mẻ không? Không. Chúng chỉ mới ở việc họ dám nói thẳng ra chứ về nội dung thì hầu như ai cũng biết cả. Chính bà Phạm Chi Lan, cựu thành viên ban nghiên cứu của thủ tướng, cũng trong cuộc hội thảo trên, công nhận điều đó.

Bà kể: Khi về các địa phương, đề cập đến các dự thảo về chiến lược hay chính sách của đại hội đảng, bà nghe rất nhiều người, trong đó có khá nhiều tỉnh ủy viên, hỏi: “Chị ơi, thế cái cậu viết cái này ra, cậu ấy tin cái này là thật à?” hay “đến bây giờ vẫn còn tin, vẫn còn để như thế này à?” Rồi bà lo lắng: “Những người bên ngoài người ta sẽ hiểu như thế nào về mình” [khi mình cứ] “nói những cái trật khấc hết cả, nói những cái nó lạc hậu, nó xa xôi, nó cũ kỹ như vậy”? Rồi bà đặt giả thuyết: “[M]ột là người ta đánh giá là mình dốt, là mình ngu muội đến bây giờ mà đi hiểu thế giới theo cái cách như thế, định hướng đường hướng phát triển của mình theo cái cách như thế. Hai là (...)cũng lại cho là mình giả dối nốt.” Cuối cùng, bà tự hỏi: “Thế thì bây giờ trong thế giới hiện nay người ta có muốn chơi với những người ngu muội hay không, người ta có muốn chơi với người giả dối hay không?”

Giới lãnh đạo có sợ những điều bà Phạm Chi Lan vừa nói không?

Chắc chắn là không. Bằng chứng: Những điều mà bà Lan cho là “trật khấc”, “lạc hậu”, “xa xôi”, “cũ kỹ”, “dốt”, “ngu muội” hay “giả dối” hay những điều ông Nguyễn Trung cho là “sai”, ông Việt Phương cho là “nói bậy” hay là “bịp” ấy vẫn cứ xuất hiện một cách hùng hồn, dõng dạc trước đại hội và cả thế giới.

Bởi thế, tôi mới nói là họ can đảm.

Can đảm bất chấp sự thật. Bất chấp thực tế. Bất chấp lịch sử. Bất chấp tất cả.

Miễn là còn được giữ quyền.

À, mà còn tiền nữa chứ.

Phải không?

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Triều đại Nguyễn Phú Trọng

Trung Ðiền
(Nguồn: Viettan.org)
Ðúng như dự đoán chung của dư luận, Nguyễn Phú Trọng, sinh năm 1944 (67 tuổi) đã được chọn “đặc biệt” do sự vận động ráo riết của Nông Ðức Mạnh (ngược lại nguyên tắc tất cả ứng viên bầu vào trung ương đảng phải dưới 65 tuổi) để vào trung ương đảng và cuối cùng được chọn làm tổng bí thư nhiệm kỳ XI (2011-2015). Trong số các ứng viên được 1,376 đại biểu đề cử vào ghế tổng bí thư, ông Nguyễn Phú Trọng được hơn 1,000 phiếu đề cử; hai ông Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng đều sinh năm 1949 (62 tuổi) chỉ đạt nửa số phiếu của ông Trọng. Trong khi ông Nguyễn Phú Trọng đăng quang thành lập một triều đại mới, ông Hồ Ðức Việt, sinh năm 1947 (64 tuổi), ủy viên Bộ Chính Trị, trưởng ban tổ chức trung ương đảng đã bị loại khỏi trung tâm quyền lực vì đã chống lại các vận động của Nông Ðức Mạnh.


Nguyễn Phú Trọng, tân tổng bí thư đảng CSVN. (Hình: danchimviet.info)



Trong quá khứ, trưởng ban tổ chức trung ương đảng là người nắm quyền lực thứ 2 ở trong đảng và “cầm chịch” về những sắp xếp nhân sự ở các bộ phận. Hồ Ðức Việt đã chống lại việc lưu giữ Nguyễn Phú Trọng thêm một nhiệm kỳ với lý do quá hạn tuổi 65. Ðồng thời ông Việt đã không đưa tên Nguyễn Chí Vịnh và Nông Quốc Tuấn vào danh sách ứng viên trung ương đảng. Vào giờ phút cuối ở Hội nghị Trung ương 14 vào tháng 12 năm 2010, khi ông Trọng chỉ đạt 60% số phiếu của trung ương đảng khóa X đề cử vào danh sách ứng viên trung ương khóa XI, Hồ Ðức Việt đã vận động một số cựu lãnh đạo như Ðỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Phan Văn Khải lên tiếng đề nghị giữ Nguyễn Minh Triết hơn là Nguyễn Phú Trọng làm tổng bí thư.

Kết quả như chúng ta thấy, ông Mạnh đã thắng. Ông Mạnh không những truyền ngôi được cho Nguyễn Phú Trọng, tiếp tục ôm giữ chủ thuyết Mác-Lênin và thân thiện với Bắc Kinh mà còn đưa hai đàn em: Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ Quốc Phòng - con thoi giữa Mạnh với Bắc Kinh - và quý tử Nông Quốc Tuấn, bí thư Bắc Giang vào trung ương đảng. Cả hai nhân sự này đang ở độ tuổi 50 nên con đường hoạn lộ sẽ còn rất dài với đích nhắm là thành viên Bộ Chính Trị trong 5 hay 10 năm tới. Sự khuynh loát của Mạnh trong đại hội XI đã khiến cho dư luận nêu nhiều nghi vấn. Ông Mạnh không phải là con người mưu mô, tài giỏi. Thế thì ông Mạnh đã dựa vào ai, vào nhóm thế lực nào để vừa ngăn chận ông Trương Tấn Sang không ra tranh ghế tổng bí thư, vừa tấn công ông Nguyễn Tấn Dũng xém mất ghế thủ tướng và nhất là đánh gục và loại ông Hồ Ðức Việt ra khỏi vị trí quyền lực ở trong đảng? Nhiều xác suất cho thấy là bàn tay Bắc Kinh đã đứng sau ông Mạnh trong những cuộc đấu đá nói trên và đó cũng là điều lý giải vì sao ông Mạnh lại chọn ông Trọng làm tổng bí thư, người được coi là thân thiện với Trung Quốc từ những năm 2000 trở đi.

Với những mối liên hệ giữa Nông Ðức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng nói trên, chúng ta có thể dự kiến là cái bóng của ông Mạnh sẽ ảnh hưởng lên các chương trình hành động của tân Tổng Bí Thư Trọng, ít ra là trong vài năm đầu. Một vài dư luận khác còn cho rằng do sự cạnh tranh ghế tổng bí thư giữa Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng quá gay gắt trong năm 2010, nên Nông Ðức Mạnh trong vai trò trưởng tiểu ban nhân sự đại hội XI đã phải chọn Nguyễn Phú Trọng như là cách hóa giải tạm thời những xung đột giữa hai phe Sang và Dũng. Sự kiện này cũng giống như việc đảng CSVN đã từng chọn Nguyễn Văn Linh làm tổng bí thư năm 1986 để hóa giải sự xung đột gay gắt giữa phe Lê Ðức Thọ và Trường Chinh sau khi Lê Duẩn đột tử vào năm 1985. Nguyễn Phú Trọng sẽ chỉ làm tổng bí thư một nhiệm kỳ và đến năm 2016 nếu ông Sang hay ông Dũng có tư thế vượt trội vào lúc đó sẽ giành lấy ghế tổng bí thư. Ðiều dự kiến này xuất phát từ việc 14 thành viên Bộ Chính Trị mới được bầu trong đại hội XI, đã không có ai vượt trội so với tư thế của hai ông Nguyễn Tấn Dũng và Trương Tấn Sang hiện nay.

Ngoài 9 ủy viên của khóa X được bầu lại như Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Lê Hồng Anh, Phùng Quang Thanh, Lê Thanh Hải, Phạm Quang Nghị, Nguyễn Sinh Hùng, Tô Huy Rứa; có 5 ủy viên mới gồm: Nguyễn Xuân Phúc, sinh năm 1954 hiện là bộ trưởng, chủ nhiệm văn phòng chính phủ; Ðinh Thế Huynh, sinh năm 1953, tổng biên tập báo Nhân Dân; Tòng Thị Phóng, sinh năm 1953, trưởng ban dân vận trung ương; Trần Ðại Quang, sinh năm 1056, thứ trưởng công an; Ngô Văn Dụ, sinh năm 1947, chánh văn phòng trung ương đảng, đều là những nhân sự ít được dư luận biết đến. Ða số họ là những người thuộc khuynh hướng giáo điều, bảo thủ. Trong khi đó, những nhân sự mà người ta kỳ vọng sẽ được bầu vào Bộ Chính Trị lần này như Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải, Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân, Bộ Trưởng Tài Chánh Vũ Văn Ninh... đều bị lọt sổ.

Nói cách khác, 14 thành viên Bộ Chính Trị nói trên không có “viễn kiến” như đại hội XI đã nêu ta là tạo những bước đột phá trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam để đến năm 2020, Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp theo hướng hiện đại. Viễn kiến của 14 nhân sự này nếu có là tiếp tục giữ đảng cố thủ trong lô cốt độc tài độc đảng như Ðinh Thế Huynh đã trả lời trong cuộc họp báo ngày 10 tháng 1, đồng thời dựng ra bức tường “chống diễn biến hòa bình” để cô lập và ngăn chận mọi sự trao đổi của các mạng xã hội (social network), một xu thế lớn của thế kỷ 21.

Mặt khác, trong số 175 ủy viên trung ương đảng chính thức bầu trong đại hội XI có 19 người là gốc quân đội và 9 người là gốc công an, nhiều hơn đại hội X là 5 người. Trong khi đội ngũ gọi là trí thức hoạt động trong các lãnh vực về kinh tế, giáo dục, đối ngoại... thì đếm trên đầu ngón tay. Ðương nhiên đa số vẫn là các bí thư của những đảng bộ tỉnh, thành trực thuộc trung ương và các cơ quan trung ương. Trong khi đó, chính quyền CSVN có khoảng hơn 20 bộ và ngang bộ nhưng chỉ có khoảng 10 bộ trưởng được chọn vào trung ương còn đa số bị loại hoặc không được giới thiệu vào danh sách ứng viên trung ương như Lê Doãn Hợp, bộ trưởng truyền thông & thông tin; Phạm Khôi Nguyên, bộ trưởng tài nguyên và môi trường; Võ Hồng Phúc, bộ trưởng kế hoạch & đầu tư; Nguyễn Hồng Quân, bộ trưởng xây dựng; Hồ Nghĩa Dũng, bộ trưởng giao thông vận tải; vân vân.

Ngoài ra, có một số nhân vật khá được nhiều người biết đến qua một số chức vụ mà họ đảm trách như thứ trưởng công an Nguyễn Văn Hưởng, người trực tiếp chỉ đạo những cuộc trù dập, bắt bớ phong trào dân chủ trong hơn 10 năm qua, đã bị loại khỏi danh sách trung ương. Hay ông Vũ Văn Hiền, Ttẩng giám đốc đài truyền hình Việt Nam, bị chính trong nội bộ của đài tố cáo là bè phái và tham ô, đã mất chức trung ương kỳ này. Huỳnh Ðảm, chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc cũng bị mất chức trung ương vì bị coi là “ba phải” trong công tác dân vận và đối nghịch với bà Tòng Thị Phóng, trưởng ban dân vận.

Bên cạnh những diễn tiến bầu chọn thành phần nhân sự nói trên, nội dung của các văn kiện cũng đã không có gì thay đổi so với bản dự thảo. Mặc dù CSVN dành đến 3 ngày để cho 1,376 đại biểu họp theo từng đoàn, thảo luận mổ xẻ; nhưng biểu quyết sau cũng vẫn là “nhất trí” với những cái cũ. Có hai điều sau đây đã đưa ra biểu quyết và trịnh trọng ghi vào biên bản của đại hội XI.

Ðịnh nghĩa về đặc trưng kinh tế của xã hội chủ nghĩa là gì, đại hội đã chỉ quyết định thêm chữ tiến bộ vào cuối câu giải thích đã soạn trong dự thảo như sau: “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp.”

Ðịnh nghĩa về tiêu chuẩn đảng viên đảng CSVN trong tình hình cho tư bản tư nhân tham gia làm đảng viên, đại hội cho thêm vào nhóm từ “nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam” thành: “Ðảng viên đảng CSVN là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam...”

Nhìn vào cách thêm thắt những từ ngữ để cố giải thích về các chủ trương cho phù hợp với tình hình, người ta chỉ thấy nó biểu hiện một sự gượng ép và coi thường dư luận của đảng CSVN mà thôi. Ðiều này cho thấy là 9 ngày đại hội đảng kỳ XI vừa qua, thực chất là một cuộc tụ họp tốn kém vô ích, chỉ để nói những điều mà ai cũng đã biết và ngay cả việc chọn thành phần lãnh đạo, dư luận cũng đã tiên đoán trước khi khai mạc.

Ðại hội XI đã để lại ấn tượng trong dư luận là đại hội “bế tắc” và “đường cùng” của một thể chế đang đi giật lùi trước những trào lưu tiến hóa của nhân loại và ngược với lòng dân. Triều đại Nguyễn Phú Trọng rồi cũng sẽ đi lòng vòng như chính ông Trọng đã không dám lấy những quyết định, giải quyết các vấn đề nhức nhối của xã hội do nhiều đại biểu nêu ra, trong mấy năm ngồi ở ghế chủ tịch Quốc Hội.

Post Reply