Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Trời có cao, đất có dày?
Năm hết Tết đến, được nghe ngài Bí thư Thành ủy thành phố Hà Nội Phạm Quang Nghị huấn thị: “Đừng biếu quà Tết ai, đừng để ai biếu mình”. Ôi chao, liêm khiết quá, liêm khiết quá! Không rõ ngài Nghị leo lên được cái chức vụ béo bở, đè đầu cưỡi cổ cả mấy triệu con người Thủ đô, lại còn có chân trong Bộ Chính trị và Trung ương Đảng thì phải tốn hết bao nhiêu nhỉ?
Ngài không nhận quà của ai thì ngài lên làm Bí thư chả hoá ra chỉ để ngồi chơi xơi nước à? Anh Nguyễn Quốc Triệu năm xưa đang ung dung ở cái chức Chủ tịch Ủy ban thành phố Hà Nội màu mỡ là thế, bỗng nhiên bị hất cẳng, phải chạy chọt sang làm Bộ trưởng Bộ Y tế cũng còn mất 1.3 tỷ nữa là. Mà đó là theo lời anh Triệu tự bạch đấy nhé. Ngài Nghị chắc cũng không nằm ngoài quy luật ấy, sao còn giở giọng đạo đức giả vậy?
Cái khẩu hiệu “không biếu quà Tết” tôi nghe quen lắm rồi. Năm nào tổng kết cuối năm, chúc Tết đầu năm, lãnh đạo cơ quan tôi đều kết thúc bài diễn văn bằng việc dặn dò anh em “không được đi biếu quà Tết, lãnh đạo không nhận đâu”. Ấy thế mà nhà riêng của mấy thủ trưởng dù có xa xôi hẻo lánh đến đâu cũng vẫn tấp nập nhân viên đến như trẩy hội mỗi dịp Xuân về. Người sau chờ người trước ra để vào, anh nào anh nấy ôm một túi to, miệng thì tươi như hoa, ríu rít chúc sức khoẻ thủ trưởng, hy vọng sang năm mới được thủ trưởng đoái thương chia sẻ cho chút dự án. “Ước gì, anh lại trúng được thầu” là câu hát đầu năm mà hẳn công chức nào cũng thuộc.
Ngài Nghị còn dõng dạc: “Những ngôi nhà bị cắt ngọn do xây dựng trái phép sẽ là biểu tượng về kỷ luật của Thủ đô”. Thủ đô ta hết biểu tượng đẹp rồi hay sao mà lại đi lấy mấy cái nhà xây dựng trái phép, mái nhà bị cắt, bê tông cốt thép bị chặt ngang, cọc nhọn còn tua tuả đâm lên trời ấy làm biểu tượng? Sao không thực thi kỷ cương ngay từ khi nhà còn chưa xây, mà lại cứ thi nhau ăn tiền của dân, để cho xây dựng tràn lan rồi mới đem máy ủi đến phá nhà người ta? Của đau con xót, chẳng lẽ ông Nghị không hiểu điều đó sao? Nếu theo cái lý của ông Nghị thì hẳn nước Mỹ này chẳng có biểu tượng nào về kỷ luật, vì tôi chưa thấy có ngôi nhà nào bị cắt ngọn ở đây cả.
Một người bạn của tôi làm trong công ty xây dựng, từng bị phân công vào đội “đền bù, giải phóng mặt bằng”, nói nôm na là đi lấy đất của dân để xây nhà cao tầng bán. Cậu ấy kể: “Quá đáng lắm, ai lại đền bù cho người ta số tiền chỉ bằng mấy bát phở cho một mét vuông đất ở ngay giữa Tây hồ. Họ đồng ý hay không cũng mặc. Tớ chỉ là lính tráng, làm theo lệnh trên mà cũng còn thấy vô lý, tội nghiệp cho người ta”.
Tôi đã xem những video ghi cảnh mấy cụ già nằm lăn ra thửa ruộng đầy bùn lầy, khóc lóc thảm thiết: “Ới trời cao, đất dày ơi…” khi mồ mả tổ tiên bị đào bới để lấy đất “phục vụ cho công trình quốc gia”. Trái tim tôi dường như bị ai đó bóp nghẹt và đêm ấy tôi không tài nào ngủ được, tự hỏi cái cảnh đó sao lại mâu thuẫn với khẩu hiệu “Dân cày có ruộng” đã lôi cuốn bao nhiêu triệu người Việt Nam tham gia Cách mạng với Việt Minh từ thế kỷ trước đến thế.
Không! Trời còn ở rất xa và đất thì không dày như dân ta từng nghĩ. Chỉ có lòng dũng cảm, sức mạnh đoàn kết của người Việt Nam mới có thể phá được thứ gông cùm mà Đảng đang tròng vào cổ chúng ta. Tôi tin rằng, dù Việt Minh bắt đầu vị trí quyền lực của mình bằng cuộc cách mạng đất đai nhưng đến một ngày nào đó, chính vấn đề đất đai sẽ tạo nên cơn sóng gió làm lung lay quyền lực ấy. Chỉ khi nào người dân làm chủ vận mệnh của mình bằng một cuộc cách mạng khác thì khi đó, trời và đất mới thực sự thuộc về con cháu Tiên Rồng.
http://security.dantri.com.vn/c728/s728 ... u-minh.htm
Năm hết Tết đến, được nghe ngài Bí thư Thành ủy thành phố Hà Nội Phạm Quang Nghị huấn thị: “Đừng biếu quà Tết ai, đừng để ai biếu mình”. Ôi chao, liêm khiết quá, liêm khiết quá! Không rõ ngài Nghị leo lên được cái chức vụ béo bở, đè đầu cưỡi cổ cả mấy triệu con người Thủ đô, lại còn có chân trong Bộ Chính trị và Trung ương Đảng thì phải tốn hết bao nhiêu nhỉ?
Ngài không nhận quà của ai thì ngài lên làm Bí thư chả hoá ra chỉ để ngồi chơi xơi nước à? Anh Nguyễn Quốc Triệu năm xưa đang ung dung ở cái chức Chủ tịch Ủy ban thành phố Hà Nội màu mỡ là thế, bỗng nhiên bị hất cẳng, phải chạy chọt sang làm Bộ trưởng Bộ Y tế cũng còn mất 1.3 tỷ nữa là. Mà đó là theo lời anh Triệu tự bạch đấy nhé. Ngài Nghị chắc cũng không nằm ngoài quy luật ấy, sao còn giở giọng đạo đức giả vậy?
Cái khẩu hiệu “không biếu quà Tết” tôi nghe quen lắm rồi. Năm nào tổng kết cuối năm, chúc Tết đầu năm, lãnh đạo cơ quan tôi đều kết thúc bài diễn văn bằng việc dặn dò anh em “không được đi biếu quà Tết, lãnh đạo không nhận đâu”. Ấy thế mà nhà riêng của mấy thủ trưởng dù có xa xôi hẻo lánh đến đâu cũng vẫn tấp nập nhân viên đến như trẩy hội mỗi dịp Xuân về. Người sau chờ người trước ra để vào, anh nào anh nấy ôm một túi to, miệng thì tươi như hoa, ríu rít chúc sức khoẻ thủ trưởng, hy vọng sang năm mới được thủ trưởng đoái thương chia sẻ cho chút dự án. “Ước gì, anh lại trúng được thầu” là câu hát đầu năm mà hẳn công chức nào cũng thuộc.
Ngài Nghị còn dõng dạc: “Những ngôi nhà bị cắt ngọn do xây dựng trái phép sẽ là biểu tượng về kỷ luật của Thủ đô”. Thủ đô ta hết biểu tượng đẹp rồi hay sao mà lại đi lấy mấy cái nhà xây dựng trái phép, mái nhà bị cắt, bê tông cốt thép bị chặt ngang, cọc nhọn còn tua tuả đâm lên trời ấy làm biểu tượng? Sao không thực thi kỷ cương ngay từ khi nhà còn chưa xây, mà lại cứ thi nhau ăn tiền của dân, để cho xây dựng tràn lan rồi mới đem máy ủi đến phá nhà người ta? Của đau con xót, chẳng lẽ ông Nghị không hiểu điều đó sao? Nếu theo cái lý của ông Nghị thì hẳn nước Mỹ này chẳng có biểu tượng nào về kỷ luật, vì tôi chưa thấy có ngôi nhà nào bị cắt ngọn ở đây cả.
Một người bạn của tôi làm trong công ty xây dựng, từng bị phân công vào đội “đền bù, giải phóng mặt bằng”, nói nôm na là đi lấy đất của dân để xây nhà cao tầng bán. Cậu ấy kể: “Quá đáng lắm, ai lại đền bù cho người ta số tiền chỉ bằng mấy bát phở cho một mét vuông đất ở ngay giữa Tây hồ. Họ đồng ý hay không cũng mặc. Tớ chỉ là lính tráng, làm theo lệnh trên mà cũng còn thấy vô lý, tội nghiệp cho người ta”.
Tôi đã xem những video ghi cảnh mấy cụ già nằm lăn ra thửa ruộng đầy bùn lầy, khóc lóc thảm thiết: “Ới trời cao, đất dày ơi…” khi mồ mả tổ tiên bị đào bới để lấy đất “phục vụ cho công trình quốc gia”. Trái tim tôi dường như bị ai đó bóp nghẹt và đêm ấy tôi không tài nào ngủ được, tự hỏi cái cảnh đó sao lại mâu thuẫn với khẩu hiệu “Dân cày có ruộng” đã lôi cuốn bao nhiêu triệu người Việt Nam tham gia Cách mạng với Việt Minh từ thế kỷ trước đến thế.
Không! Trời còn ở rất xa và đất thì không dày như dân ta từng nghĩ. Chỉ có lòng dũng cảm, sức mạnh đoàn kết của người Việt Nam mới có thể phá được thứ gông cùm mà Đảng đang tròng vào cổ chúng ta. Tôi tin rằng, dù Việt Minh bắt đầu vị trí quyền lực của mình bằng cuộc cách mạng đất đai nhưng đến một ngày nào đó, chính vấn đề đất đai sẽ tạo nên cơn sóng gió làm lung lay quyền lực ấy. Chỉ khi nào người dân làm chủ vận mệnh của mình bằng một cuộc cách mạng khác thì khi đó, trời và đất mới thực sự thuộc về con cháu Tiên Rồng.
http://security.dantri.com.vn/c728/s728 ... u-minh.htm

Trận bút chiến giữa Cơm và Phở
I/. Thư của bồ nhí gửi cho bà vợ già
Dù chúng ta có vô cùng xung khắc, chúng ta vẫn phải nhất trí một điểm :
Chồng bà là đàn ông. Mà đàn ông thì sao ? Đàn ông thì ham thích nhiều thứ. Họ thích đến mãnh liệt. Và bà đừng giấu em, bà hãy công nhận rằng, phụ nữ chúng ta yêu đàn ông vì họ ham thích và biết cách thực hiện nó. (Chúng ta cũng ham thích nhưng thực hiện chủ yếu bằng cách mua nó.) Ông thì thích máy móc, ông thì thích kiến trúc, ông thích vật lý và hóa học, ông dại hơn một chút thì thích thơ văn. Toàn những ham thích có lợi cho xã hội.
Nhưng đàn ông không chỉ ham thích một thứ. Nếu gà chỉ thích giun, bò chỉ thích cỏ tươi hay thỏ chỉ thích củ cải thì đàn ông lại thích đa dạng. Chuyện ấy trong bóng đá, trong ẩm thực, trong bia bọt không sao, nhưng trong vấn đề phụ nữ, tính đa dạng của nó làm cuộc sống thêm rắc rối.
Bà thân mến,
Em tin rằng, bà có rất nhiều ưu điểm. Sở dĩ em quen với ông ta là do ông ấy thông minh (chứ không phải chỉ có tiền như thiên hạ vẫn đồn). Và một người thông minh không bao giờ chọn vợ quá kém. Thậm chí, bà không quá kém, bà còn nổi bật ở nhiều phương diện.
Theo ông tiết lộ một cách đầy thành kính, bà nấu ăn ngon, bà rửa bát sạch, bà lau nhà bóng và đi chợ rẻ. Bà còn đối xử tốt với chó mèo… Em xin thú thật, các phương diện đó, em đều thua bà. Khi em nấu món canh, ai cũng nghĩ là món xào. Khi em rửa bát, tốt nhất lúc dùng nên rửa lại. Khi em lau nhà hay quét nhà, em để cái đống rác chổ nọ chổ kia. Chợ duy nhất em đi là chợ mỹ phẩm. Còn chó mèo, em chỉ nuôi chúng trong tranh.
Nhưng ông vẫn thích em. Tiện đây xin tiết lộ: thời gian thích không hề ngắn, cường độ thích không hề yếu và chi phí thích không hề thấp.
Bà kinh ngạc. Bà không tin ư? Bà nhớ rõ ông vẫn về nhà, vẫn ăn cơm tối, vẫn lịch sự với bà, v.v… Bà cảm giác chẳng có khe hở nào để em lọt vô cái pháo đài do bà xây dựng, canh gác và tuần tra.
Em xin phép không đi vào chi tiết. Em chỉ nói một cách văn học rằng, không có gì ngăn cản được con tim. Nhất là con tim già lao vào một con tim trẻ. Như đã nói em thua bà về một tỷ thứ. Đúng một tỷ thứ, chả bớt phần nào. Nhưng em lại hơn bà hai tỷ.
Bà sẽ gầm lên, Bà sẽ quát lên: Hơn ở chổ nào?
Thưa bà, những thứ em hơn lại vô cùng vớ vẫn. Em thành thật tin thế. Nhưng đàn ông, tiếc thay, lại không tin.
Em biết chớp mắt. Em biết ngồi gần ông mà lại vẹo người. Em biết đánh vào lưng ông, hay đánh ở chổ thấp hơn, vừa đánh vừa cong môi nhìn đi chổ khác. Em biết hét lên khi thấy con sâu và ù té chạy khi gặp con thằn lằn.
Cái gì em cũng ngạc nhiên và nhờ ông giải thích. Em tin ông là vô địch về tri thức, về thể thao, và luôn thể hiện lòng tin ấy ra mồm. Mỗi lời nói của ông, với em, đều là chân lý. Em khâm phục khi ông uống bia. Em kiêu hảnh khi ông châm thuốc lá. Em ngồi nép mình khi ông tụ tập. Em lo lắng nhưng chẳng bao giờ tra hỏi lúc ông đi khuya. Và, quan trọng nhất, thưa bà, da em trắng, eo em nhỏ, môi em đỏ và chân em chả khác chân dài. Em mặc váy hồng, em thắt nơ xanh và em dùng dầu thơm của Pháp. Nước Pháp, chắc bà cũng biết, vô địch về các loại dầu thơm.
Khi ở bên ông, em không ngốc và không tham lam như các phim truyền hình quay vội vàng mà bà vẫn xem đâu ạ. Chúng em không hề bàn về tiền bạc. Hai người đều mơ tới ánh trăng, tới những khát vọng chưa thực hiện và đều thích nhìn sao trên trời. Hai người có thể xung đột về một bài thơ, giận dỗi về một bức tranh và bỏ ra về vì một bông hoa bày không đúng cách (trong khi ông và bà giận dỗi vì một mâm cơm, cãi nhau vì hóa đơn tiền điện và ra khỏi nhà vì chậu quần áo chưa phơi).
Đấy, em tới ông, ông tới em là như thế đấy. Nó thanh cao thì em không dám nói, nhưng nó cũng chẳng phàm tục như sách vụ án viết đâu. Em xin bà hãy mừng vì điều đó.
Tuy ông phạm tội nhưng tội ấy còn sang. Bà hảy tự an ủi như thế. Tại sao em viết thư này? Tại vì em xin trả lại ông cho bà. Chúng em nhất trí cái gì đẹp là phải ngắn và chúng em đã ngắn đủ dài. Toàn bộ sự tinh tế của tình yêu nằm ở chổ này, và bà không biết được.
Xin bà hảy dang tay đón ông về. Em lấy danh dự thề rằng, ông không sứt mẻ quá nhiều, đơn giản vì ông có nhiều đâu mà sứt mẻ. Bà hảy coi ông như vừa sau chuyến du lịch mạo hiểm trở lại nhà. Cần che chở và sẳn sàng che chở.
Em đi đây. Cuộc sống là khám phá và em thích khám phá nhiều nơi. Bà đừng trách em. Bà cũng đừng tự trách mình. Khi em bằng tuổi bà, em cũng chả hơn gì bà đâu.
Chúc bà vui khỏe
II/ Thư phúc đáp của bà vợ gửi cho bồ nhí
Thưa cô,
Tôi đã đọc thư của cô một cách bình tỉnh. Đúng như cô đã nói, ở tuổi tôi và ở địa vị của tôi, sự bình tỉnh luôn luôn có thừa.
Này cô,
Việc chồng có bồ nhí khiến tôi ngạc nhiên. Đó là cảm giác đầu tiên, và thành thật với cô, nó hơn cả cảm giác căm phẩn.
Vì sao vây?
Thưa cô, vì tôi tin chắc rằng lão (hãy gọi sự vật với đúng tên và đúng tuổi của chúng, cô nhỉ) đã đuối sức rồi, nói một cách chắc chắn, một cách không có gì phải bàn cãi cả.
Khi viết thư cho tôi, cô có vẻ tự đắc pha chút hả hê. Cô có cảm giác thấy mình giật được từ tay bà khác một mỏ vàng, và mình có những phẩm chất khác thường nên mới gặp may như thế.
Cô nhầm thảm hại quá cô ơi!
Quả thật lão là một cái mỏ. Hay nói chính xác hơn, đã từng là cái mỏ. Điều ấy cách đây ba mươi năm về trước, cả thành phố đều phải công nhận chứ đâu cần phải một cô gái có trí tuệ siêu việt gì.
Nhưng trên trong và dưới cái mỏ ấy, tôi đã đào, đã cuốc, đã đẻo, đã nổ mìn khai thác rầm rộ, quy mô mấy chục năm. Và giờ đây, mỏ chỉ còn khung, còn lại sự hoang tàn. Chỉ có đôi mắt ngốc của cô, chỉ có đôi môi dại của cô và chỉ có một tí não khờ khạo của cô mới không nhận ra điều đó.
Cô vớ được lão, khi tôi trong một chừng mực nào đó, đã mặc cho lão tự do. Cho lão có cảm giác xổng chuồng. Đàn ông sống bằng ảo tưởng cô ạ, và nuôi dưỡng cái ảo tưởng đó một cách khéo léo là nhiệm vụ của phụ nữ chúng ta.
Tôi không vui khi lão có bồ. Nhưng chớ nói rằng tôi hoảng sợ vì điều đó. Tôi quá hiểu đứa khác sẽ được bao nhiêu trong khi mình đã vớ được bao nhiêu. Phần của cô, hởi ôi, thật là thảm hại.
Cô khéo là ngây thơ và nhí nhảnh. Cô té xỉu khi gặp thằn lằn và ngã lăn khi gặp tắc kè. Dạ thưa cô, khi bằng tuổi cô, tôi cũng ngây thơ như thế. Nhưng lúc này, gặp hai của đấy, tôi chỉ đập một cái cho bẹp đi là xong.
Rồi cô khoe là cô biết chớp mắt, biết ngã đầu và biết cười he hé nghiêng nghiêng. Ôi dào, những trò đó ngày xưa tôi làm mãi. Và bây giờ vẫn có thể làm, thậm chí còn hay hơn cô ấy chứ. Nhưng vì mục đích gì, gặt hái gì khi mọi thứ đã no nê? Cô nhìn lão trong quán cà phê hạng sang. Trong com-lê và cà vạt đắt tiền. Còn tôi có khá nhiều dịp (nhiều hơn cả cần thiết) nhìn lão trong quần đùi rộng, trong áo may ô chả hiểu màu gì.
Và tôi cam đoan rằng, cái tôi nhìn mới là sự thật. Cái cô nhìn là giả. Cô thừa biết thế, chẳng qua cô đang tự dối mình. Cô chê tôi chỉ biết rửa bát, nấu cơm. Cô thương tôi vì tôi chỉ chăm chăm lo cái nhà sạch bóng. Nhưng tôi lại thích vậy. Vì đấy là nhà tôi và lão chỉ có nữa phần. Còn lão có bóng hay không, có sạch hay không, lão tự phải lo. Tôi còn bận lo cho bản thân mình.
Tôi không chúi mũi vô bếp như cô tưởng và lão tưởng chút nào. Tôi say mê đánh bài. Tôi nghiện làm đầu và giũa móng tay. Tôi ham thích “tám” và hăng hái đi chùa. Tôi khoác áo lụa mỡ gà, khoác vòng cẩm thạch và tôi sắm đủ cho mình (bằng tiền lão, dĩ nhiên).
Còn việc cô ngắm trăng cùng chàng, đọc thơ cùng chàng hay đốt nến cùng chàng thì xin cô hãy cứ tự nhiên. Những thứ vớ vẫn và phù du đó ngày xưa tôi cũng nghĩ là ghê gớm lắm. Nhưng tôi nhanh chóng phát hiện ra chúng suốt đời loanh quanh như thế, và chả có ích lợi gì. Chúng chỉ như những hạt tiêu rắc vô bát phở, không hề bổ béo, chỉ khiến nó dậy mùi. Mà mùi thì tôi đã chán. Chán không phải do tâm hồn tôi cằn cỗi, mà là do đã quá đủ rồi !
Cuối thư cô cho biết đã chuồn ra khỏi lão, hoặc lão đã chuồn ra khỏi cô. Tôi chả hiểu ai thoát được ai. Nhưng chắc chắn là tôi suýt thoát. Tiếc quá. Giá mà lão đi với cô, giá như lão ảo tưởng về sức mình thì tôi đã có cơ hội tuyệt vời để lại được tung tăng.
Tôi tin chắc mình tung tăng chả khi nào muộn, khi mình kiêu hãnh, mình không nghèo khó và mình có sự mặn mà. Những thứ đó, cô còn lâu mới đạt tới, cô bé đáng thương ơi!
Cô yên tâm. Tôi sẽ đón lão về. Cáo chết còn quay đầu về núi, trong khi lão chả phải là cáo, lão là người. Tôi cũng chả giày vò, đay nghiến chi đâu. Tôi không phải hang tôm hang cá. Tôi chỉ cười khảy mà thôi. Một nụ cười mà đã làm lão nhớ đến cả chục năm.
Chúc cô may mắn trên con đường chinh phục các lão khác. Thế gian chả thiếu ông già. Cô cứ việc xông lên.
Chào cô..
III/ Thư của ông chồng gửi vợ và bồ nhí
Hai bà thân mến !
Tôi đã đọc thư của bà nọ gửi cho bà kia. Tại sao tôi đọc thư Tại vì khi các bà cả đời theo dõi tôi, rình rập tôi, chả lẻ không có phút nào tôi theo dõi lại.
Đọc xong hai bức thư, tôi hơi buồn. Dù cố tỏ ra lịch sự, để xứng đáng với bản thân mình và xứng đáng với tôi, nhưng các bà vẫn vênh váo và công kích lẫn nhau. Bà nọ coi thường bà kia, cho bà kia là nạn nhân của mình.
Thưa các bà,
Có một điều chắc chắn hai bà không chịu hiểu: chính tôi mới là nạn nhân của hai bà. Cả thế giói biết điều đó. Cả nhân loại tiến bộ lên án điều đó.
Ai, nếu không phải hai bà, chỉ sau mười mấy năm, đã biến một chàng trai khỏe mạnh, đầy nhiệt tình, đày sức sống như tôi thành một ông già tuy chưa già (còn lâu tôi mới già) nhưng gầy yếu, còm nhom, sợ sệt?
Ai, nếu không phải hai bà, có lúc từng người một, ngày đêm tra khảo tôi, ép uổng tôi, vùi dập tôi?
Trong cuộc tàn phá đời tôi, hai bà có rất nhiều điểm chung: cùng nấu ăn dỡ, cùng mua cho tôi những chai bia dỡ và cùng bắt tôi đi coi những bộ phim dỡ.
Nhưng hai bà, mỗi người đều có những đặc điểm riêng, ghê rợn. Bà đầu tiên thích xuất hiện trong nhà với bộ đồ nhàu nát, với mái tóc rối bù cùng với đôi dép chiếc nọ chiếc kia. Bà sau này xuất hiện nơi công cộng với quần sọc chật căng, với áo thủng ở lưng cùng với mắt xanh viền đỏ. Cả hai thứ ấy đều giết tôi, đều nện tôi chí tử về mặt tinh thần.
Nếu bà thứ nhất sểnh ra lại chạy sang hàng xóm, nghe thiên hạ kể về chồng thiên hạ, sau đó tự khai báo về chồng mình, thì bà thứ hai sểnh mắt ra là phóng thẳng tới quán cà phê, nghe thứ nhạc cả thiên hạ nghe tuy chả đứa nào hiểu được câu nào.
Nếu bà thứ nhất đay nghiến tôi bao giờ về thì bà thứ hai hỏi tôi bao giờ đi. Nếu bà thứ nhất kêu rằng tiền điện, tiền gas đã tăng thì bà thứ hai than thở son môi và phấn hồng sao không giảm giá. Nếu bà thứ nhất khảo tôi về tiền lương thì bà thứ hai khảo tôi về quà tặng. cả hai bà, trong một phạm vi nào đó, đều lái tôi và đối xử với tôi như thế tôi là giám đốc nhà băng.
Cho nên không lạ gì, cho tới tận phút này, nhiều lúc tôi ngạc nhiên là mình còn sống. Hoặc mình chưa ngồi trên chiếc xe lăn. Nhưng tôi cảm thấy rất rỏ ràng, cái giờ phút đó cũng chả còn xa nữa.
Đọc tới đây, chắc hai bà sẽ hỏi: khổ như vậy sao ông (bà thứ nhất gọi ông) và sao anh (bà thứ hai kêu anh) vẫn đèo bồng?
Khổ quá. Câu hỏi đó, chính tôi cũng thường tự hỏi mình. Và tôi cũng mang ra hỏi bạn bè tôi, tức mấy gã đàn ông khác. Số phận chúng cũng chả hơn gì. Và bọn tôi đành kết luận thế này: cái kiếp đàn ông nó thế !
Nhân đây cũng nói luôn, kiếp đàn ông thật ra là kiếp vo cùng khổ cực. Nhiều khi chả khác gì con ngựa ,con trâu (chẳng hề được như con dê mà dân gian vẫn nói).
Đàn ông sinh ra là để đàn bà lợi dụng, bóc lột (đôi khi bóc lột còn thô bạo hơn cả cướp bóc), đè nén và hành hạ. Đàn ông sinh ra là để đàn bà sai đi mua đồ, sai lái xe, sai trả tiền, sai đón con, sai luôn cả việc … đi ngủ.
Trong cái bể khổ mênh mông, bao la đó, sự khổ vì bồ nhí cũng chả nổi bật bao nhiêu. Nó chỉ được gom chung vào nổi khổ vì các bà. Đã là các bà thì một bà, hai bà hoặc ba bà cũng thế thôi !
Hai bà thân mến,
Giờ đây tôi cũng đã tỉnh ra rồi. Tôi xin hai bà tha cho. Tôi không còn sức nữa. Kể từ giờ phút này, tôi là một gã trai vô hại. Từ bỏ mọi mưu mô. Tôi ăn cơm nhà, tôi ngủ giường nhà. Tôi nuôi vài con chim, mua vài hòn non bộ, săm mấy giò phong lan. Tôi mở ti vi xem tiết mục “Thầy thuốc gia đình”. Tóm lại, tôi hoàn lương toàn diện.
Hai bà đừng xỉa xói nhau nữa. Đừng so bì nhau nữa. Tôi đã đầu hàng. Tôi đứng giữa hai phe. Tôi xin ngừng bắn.
Bà nào định đi đâu, cứ đi. Bà nào đang ở đâu, cứ ở. Tôi cũng thế. Tôi xin một phút bình yên. Tha cho tôi đi nhé.
VienDzu(sưu tầm)
Chuyện Phiếm kể về nghề...Hót Cứt !
Lúc tôi còn nhỏ mẹ tôi thường đe tôi :
‘’Nếu không học hành tử tế thì sau này chỉ có đi hót cứt thôi con ạ‘’.
Hình ảnh người gánh phân suốt ngày lang thang trong cái thị trấn nghèo quê tôi làm tôi rùng mình. Cái tương lai có mùi khó ngửi này chẳng quyến rũ được ai. Nhưng mẹ tôi lầm. Thời tôi lớn đây là cái nghề hái ra tiền. Ít nhất cũng hơn hẳn cái sự kiếm ăn với cái bằng tiến sĩ của tôi. Anh biết đấy, viện Khoa Học của tôi nằm cạnh làng Cổ Nhuế, tôi có đủ sở cú để khẳng định với anh điều đó. Làng này sống bằng nghề hót cứt, có đền thờ Thành Hoàng hẳn hòi. Thành Hoàng làng Cổ Nhuế là một vị hót cứt chính hiệu. Trong đền người ta thờ đôi quang và chiếc đòn gánh cùng hai mảnh xương trâu cầm tay ... Người làng Cổ Nhuế đã đời này qua đời khác, ngày lại ngày, làm sạch cho thủ đô Hà Nội.
Vua Lê Thánh Tông từng ban cho làng này câu đối :
‘’Khoác tấm áo bào giang tay gánh vác Thiên hạ
Vung hai thước kiếm, tận thu lòng dạ Thế gian’’.
Anh đừng so sánh làng Cổ Nhuế với làng Phương Lưu ; cạnh trường đại học Hàng Hải của anh ở Hải Phòng. So sánh như thế là hạ nhục làng Cổ Nhuế của tôi đấy. Ngoài cái vinh quang của nghề hót cứt (lao động là vinh quang), làng Cổ Nhuế còn là quê hương của một đại tướng : Ðại tướng Văn Tiến Dũng, cùng một tổ tiên vinh quang như các vị đồng hương gồng gánh của ông. Hơn nữa làng Phương Lưu của anh tuy hót cứt nhưng chủ yếu sống bằng nghề đạo chích, chứ đâu có được ‘’tôn chỉ mục đích’’ như dân Cổ Nhuế.
Thanh niên Cổ Nhuế ta thề
Chưa đầy hai sọt chưa về quê hương
Nhưng không phải dân làng Cổ Nhuế lúc nào cũng được hưởng cái vinh quang của lao động đâu anh ạ. Kể từ những năm hợp tác hóa ồ ạt vào cuối thập niên 50, nghề hót cứt đã phải chịu nhiều cay đắng. Người ta ngăn cấm những người nông dân đi hót cứt, coi như họ là những người trốn lao động, bỏ việc đồng áng để đi ‘’buôn’’ cứt. Người làng Cổ Nhuế phải tôn trọng pháp luật của đảng đành ngồi nhà mà tiếc rẻ những bãi...... đơn côi không người chăm sóc.
Chỉ mãi tới cuối năm 1986, sau đại hội đổi mới của đảng, đất đai được chia ra để cho các gia đình nông dân tự canh tác. Nghề trồng rau ở ngoại thành Hà Nội sống lại, người Cổ Nhuế mới lại được phép đi.... hót cứt và buôn... cứt.
Rau cỏ của xứ ta thơm ngon là nhờ phân Bắc. Các cụ lão nông chi điên dạy thế ! Phân hóa học cho dù là sản phẩm của trí tuệ văn minh, chỉ cho những thứ rau xanh tươi nhưng nhạt thếch.
Ðổi mới và cởi trói do mẫu công khai (Glasnost) có cái mặt trái của nó. Trước đây ai muốn đi hót cứt thì hót. Nhưng từ ngày người người đi hót, nhà nhà đi hót thì theo qui luật. ‘’Người khôn, của hiếm’’, dân Cổ Nhuế đã chiến đấu ngoan cường để dành lấy địa vị đầu ngành.... cứt Việt Nam.
Không biết đại tướng đồng hương , ngày ấy có can thiệp vào chuyện này hay không, nhưng theo qui dịnh của UBND thành phố HàNội dân ngoại thành không được phép tự do đi hót cứt và lấy cứt nữa. Trước đây ngoài những bãi cứt vô tổ chức, vô kỷ luật mà bất cứ ai cũng có thể hót. Người đi lấy cứt có thể đến làm vệ sinh cho các nhà xí hai ngăn ở các thành phố để để thu về cho mình một số cứt kiếm được. Bây giờ người nông dân ngoại thành bị bắt buộc phải mua phân tại chợ Cổ Nhuế, một chợ tự cổ chí kim, từ Ðông sang Tây đều không có, được thành lập năm 1989. Giá cả tùy thuộc chất lượng (nói sau).
Dân ngoại thành bây giờ trở thành người đi lấy phân thuê cho Cổ Nhuế. Họ được phân chia địa bàn hoạt động, theo lịch sắp xếp mang sản phẩm đến chợ nhưng không phải để họ tự bán. Họ chỉ được nhận phần trăm tiền bán mà giá do ban quản lý chợ Cổ Nhuế quyết dịnh. Chống lại ư ?? Mất việc ngay.
Ðội hậu bị, hàng ngàn người xung phong thay chân kiếm cứt (xã hội hiện tại cứt hơi ít lắm, nay phải kiếm, tức là phải đi làm vệ sinh để lấy cứt ở các hố xí, như đã nói trên) Ði kiếm cứt hơn hẳn làm thương nghiệp, đừng nói gì đến nông nghiệp. Mỗi lần tôi hỏi một anh Cổ Nhuế :
- Giá cả như thế chắc các anh chóng giàu lắm.
Anh đáp :
- Anh Giai ơi, trông thế thôi, chứ kiếm được hai sọt thì cũng ăn mẹ nó hết một sọt rồi còn gi !?!
Trong chợ phân, xuất hiện phân giả. Người ta dùng đất xét thuồn qua ống nứa, giã nhỏ thân chối trộn lẫn với nghệ bôi bên ngoài và cho tất cả lẫn vào phân thật. Ðó là bí quyết. Phân giả gây náo loạn cho chợ phân khiên thanh niên Cổ Nhuế phải cử ra một bộ phận ‘’kiểm tra chất lượng’’ trước khi giao hàng. Anh còn nhớ dốc Bưởi chạy về viện Khoa Học không ? Trạm kiểm tra được lập ra tại đó, hoạt động từ mờ sáng đến trưa. Mùi uế khí từ tay các kiểm tra viên thọc thẳng vào sọt phân tìm của giả. Nhờ lành nghề và cương quyết, sau đó vài tuần, những đứa làm phân giả bị cắt giấy phép.
Tại chợ cứt được chia làm bốn loại:
- Hạng nhất (first class) là phân lấy từ khu Ba Ðình... nơi có nhiều gia đình quan chức nên cứt được coi là ‘’nạc’’(tiếng nhà nghề chỉ cục phân rắn chất lượng cao) (!).
- Hạng 2, Từ khu Hoàn Kiếm, nơi có nhiều dân buôn bán, nhiều nhà hàng khách sạn.
- Hạng 3. Từ khu Hai Bà Trưng và Ðống Ða, nơi đa số dân cư là ngưòi lao động, xài nhiều rau nên ‘’mờ’’ (nhiều nước lỏng bõng)
- Hạng 4. Từ ngoại thành, loại này xanh lẹt vì ‘’nguồn nguyên liệu thuần túy là rau muống. Bà con nông dân làm gì có thịt mà ăn.
Có lần tại chợ xuất hiện một sọt phân đề chữ : ‘’Phân ngoại 100 phần trăm’’. Dân chúng không hiểu tại sao có bọn dám qua mặt Hải quan, dám nhập cảng ‘’phân ngoại’’ về xài.
Về sau chủ nhân sọt phân giải thích : Phân lấy từ bể ‘’phốt’’ (fosse septique) của các sứ quán nước ngoài thì không phải là phân ngoại còn là gì ?
Ðây là những điều tai nghe mắt thấy, tôi ghi lại gửi anh để có dịp kể lại cho bà con xa nước nghe chơi... Cho biết quê hương ta có những thứ.... mà người ta hoàn toàn không có. Tôi bảo đảm đây là sự thật ‘’chăm phần chăm’’. Chuyện có thật dưới XHCN.
Hàn Sĩ - Tiến sĩ Vật Lý, Hà Nội
Lúc tôi còn nhỏ mẹ tôi thường đe tôi :
‘’Nếu không học hành tử tế thì sau này chỉ có đi hót cứt thôi con ạ‘’.
Hình ảnh người gánh phân suốt ngày lang thang trong cái thị trấn nghèo quê tôi làm tôi rùng mình. Cái tương lai có mùi khó ngửi này chẳng quyến rũ được ai. Nhưng mẹ tôi lầm. Thời tôi lớn đây là cái nghề hái ra tiền. Ít nhất cũng hơn hẳn cái sự kiếm ăn với cái bằng tiến sĩ của tôi. Anh biết đấy, viện Khoa Học của tôi nằm cạnh làng Cổ Nhuế, tôi có đủ sở cú để khẳng định với anh điều đó. Làng này sống bằng nghề hót cứt, có đền thờ Thành Hoàng hẳn hòi. Thành Hoàng làng Cổ Nhuế là một vị hót cứt chính hiệu. Trong đền người ta thờ đôi quang và chiếc đòn gánh cùng hai mảnh xương trâu cầm tay ... Người làng Cổ Nhuế đã đời này qua đời khác, ngày lại ngày, làm sạch cho thủ đô Hà Nội.
Vua Lê Thánh Tông từng ban cho làng này câu đối :
‘’Khoác tấm áo bào giang tay gánh vác Thiên hạ
Vung hai thước kiếm, tận thu lòng dạ Thế gian’’.
Anh đừng so sánh làng Cổ Nhuế với làng Phương Lưu ; cạnh trường đại học Hàng Hải của anh ở Hải Phòng. So sánh như thế là hạ nhục làng Cổ Nhuế của tôi đấy. Ngoài cái vinh quang của nghề hót cứt (lao động là vinh quang), làng Cổ Nhuế còn là quê hương của một đại tướng : Ðại tướng Văn Tiến Dũng, cùng một tổ tiên vinh quang như các vị đồng hương gồng gánh của ông. Hơn nữa làng Phương Lưu của anh tuy hót cứt nhưng chủ yếu sống bằng nghề đạo chích, chứ đâu có được ‘’tôn chỉ mục đích’’ như dân Cổ Nhuế.
Thanh niên Cổ Nhuế ta thề
Chưa đầy hai sọt chưa về quê hương
Nhưng không phải dân làng Cổ Nhuế lúc nào cũng được hưởng cái vinh quang của lao động đâu anh ạ. Kể từ những năm hợp tác hóa ồ ạt vào cuối thập niên 50, nghề hót cứt đã phải chịu nhiều cay đắng. Người ta ngăn cấm những người nông dân đi hót cứt, coi như họ là những người trốn lao động, bỏ việc đồng áng để đi ‘’buôn’’ cứt. Người làng Cổ Nhuế phải tôn trọng pháp luật của đảng đành ngồi nhà mà tiếc rẻ những bãi...... đơn côi không người chăm sóc.
Chỉ mãi tới cuối năm 1986, sau đại hội đổi mới của đảng, đất đai được chia ra để cho các gia đình nông dân tự canh tác. Nghề trồng rau ở ngoại thành Hà Nội sống lại, người Cổ Nhuế mới lại được phép đi.... hót cứt và buôn... cứt.
Rau cỏ của xứ ta thơm ngon là nhờ phân Bắc. Các cụ lão nông chi điên dạy thế ! Phân hóa học cho dù là sản phẩm của trí tuệ văn minh, chỉ cho những thứ rau xanh tươi nhưng nhạt thếch.
Ðổi mới và cởi trói do mẫu công khai (Glasnost) có cái mặt trái của nó. Trước đây ai muốn đi hót cứt thì hót. Nhưng từ ngày người người đi hót, nhà nhà đi hót thì theo qui luật. ‘’Người khôn, của hiếm’’, dân Cổ Nhuế đã chiến đấu ngoan cường để dành lấy địa vị đầu ngành.... cứt Việt Nam.
Không biết đại tướng đồng hương , ngày ấy có can thiệp vào chuyện này hay không, nhưng theo qui dịnh của UBND thành phố HàNội dân ngoại thành không được phép tự do đi hót cứt và lấy cứt nữa. Trước đây ngoài những bãi cứt vô tổ chức, vô kỷ luật mà bất cứ ai cũng có thể hót. Người đi lấy cứt có thể đến làm vệ sinh cho các nhà xí hai ngăn ở các thành phố để để thu về cho mình một số cứt kiếm được. Bây giờ người nông dân ngoại thành bị bắt buộc phải mua phân tại chợ Cổ Nhuế, một chợ tự cổ chí kim, từ Ðông sang Tây đều không có, được thành lập năm 1989. Giá cả tùy thuộc chất lượng (nói sau).
Dân ngoại thành bây giờ trở thành người đi lấy phân thuê cho Cổ Nhuế. Họ được phân chia địa bàn hoạt động, theo lịch sắp xếp mang sản phẩm đến chợ nhưng không phải để họ tự bán. Họ chỉ được nhận phần trăm tiền bán mà giá do ban quản lý chợ Cổ Nhuế quyết dịnh. Chống lại ư ?? Mất việc ngay.
Ðội hậu bị, hàng ngàn người xung phong thay chân kiếm cứt (xã hội hiện tại cứt hơi ít lắm, nay phải kiếm, tức là phải đi làm vệ sinh để lấy cứt ở các hố xí, như đã nói trên) Ði kiếm cứt hơn hẳn làm thương nghiệp, đừng nói gì đến nông nghiệp. Mỗi lần tôi hỏi một anh Cổ Nhuế :
- Giá cả như thế chắc các anh chóng giàu lắm.
Anh đáp :
- Anh Giai ơi, trông thế thôi, chứ kiếm được hai sọt thì cũng ăn mẹ nó hết một sọt rồi còn gi !?!
Trong chợ phân, xuất hiện phân giả. Người ta dùng đất xét thuồn qua ống nứa, giã nhỏ thân chối trộn lẫn với nghệ bôi bên ngoài và cho tất cả lẫn vào phân thật. Ðó là bí quyết. Phân giả gây náo loạn cho chợ phân khiên thanh niên Cổ Nhuế phải cử ra một bộ phận ‘’kiểm tra chất lượng’’ trước khi giao hàng. Anh còn nhớ dốc Bưởi chạy về viện Khoa Học không ? Trạm kiểm tra được lập ra tại đó, hoạt động từ mờ sáng đến trưa. Mùi uế khí từ tay các kiểm tra viên thọc thẳng vào sọt phân tìm của giả. Nhờ lành nghề và cương quyết, sau đó vài tuần, những đứa làm phân giả bị cắt giấy phép.
Tại chợ cứt được chia làm bốn loại:
- Hạng nhất (first class) là phân lấy từ khu Ba Ðình... nơi có nhiều gia đình quan chức nên cứt được coi là ‘’nạc’’(tiếng nhà nghề chỉ cục phân rắn chất lượng cao) (!).
- Hạng 2, Từ khu Hoàn Kiếm, nơi có nhiều dân buôn bán, nhiều nhà hàng khách sạn.
- Hạng 3. Từ khu Hai Bà Trưng và Ðống Ða, nơi đa số dân cư là ngưòi lao động, xài nhiều rau nên ‘’mờ’’ (nhiều nước lỏng bõng)
- Hạng 4. Từ ngoại thành, loại này xanh lẹt vì ‘’nguồn nguyên liệu thuần túy là rau muống. Bà con nông dân làm gì có thịt mà ăn.
Có lần tại chợ xuất hiện một sọt phân đề chữ : ‘’Phân ngoại 100 phần trăm’’. Dân chúng không hiểu tại sao có bọn dám qua mặt Hải quan, dám nhập cảng ‘’phân ngoại’’ về xài.
Về sau chủ nhân sọt phân giải thích : Phân lấy từ bể ‘’phốt’’ (fosse septique) của các sứ quán nước ngoài thì không phải là phân ngoại còn là gì ?
Ðây là những điều tai nghe mắt thấy, tôi ghi lại gửi anh để có dịp kể lại cho bà con xa nước nghe chơi... Cho biết quê hương ta có những thứ.... mà người ta hoàn toàn không có. Tôi bảo đảm đây là sự thật ‘’chăm phần chăm’’. Chuyện có thật dưới XHCN.
Hàn Sĩ - Tiến sĩ Vật Lý, Hà Nội
Tết và người tù nổi tiếng Điếu Cày
Tất cả những ai trên thế giới (ta lẫn Tây) nếu quan tâm đến sự kiện người Việt biểu tình chống Trung Quốc chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa mấy năm gần đây đều biết đến blogger Điếu Cày, tức nhà báo tự do Hoàng Hải- Người tù nổi tiếng Nguyễn Văn Hải.
Điếu Cày nổi tiếng không phải vì đã tham gia vào những đợt biểu tình vào cuối năm 2007 đầu năm 2008, lúc đó có quá nhiều người tham gia biểu tình, trong đó chủ yếu là lớp sinh viên trẻ, tôi cũng tham gia biểu tình, đặc biệt có cụ nhạc sĩ (cách mạng, cựu đảng viên đảng CSVN) Tô Hải hơn 80 tuổi cũng xuống đường đi “biểu lộ lòng yêu nước” (lời cụ Tô Hải);
Điếu Cày nổi tiếng không phải vì anh là người chủ trương dùng internet đả phá bưng bít thông tin, dùng internet làm phương tiện bảo vệ sự thật, công lý cho những người bị oan ức;
Điếu Cày nổi tiếng không phải vì anh là thành viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do (ngoài luồng), là tiếng nói của những người không có tiếng nói, là nơi phơi bày những sự thật trần trụi ở Việt Nam đang được người ta cố gắng che đậy bằng lớp son phấn mỹ miều “định hướng”, không chịu sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam. Anh chuyên nghiệp về nhiếp ảnh và camera hơn là một “phù thủy biến hóa ngôn từ”. Toàn bộ những bài viết của anh trên mạng chỉ là loạt bài tường thuật về việc anh kiện Công an phường Bến Thành (quận 1, Sài Gòn) ra tòa, kiện báo Công an TPHCM viết sai sự thật về vụ kiện của anh, việc anh đi biểu tình bị “an ninh còn đảng, còn mình” bắt giữ trái phép, bóp cổ và vu cho tàng trữ ma túy, những bài viết về việc bản thân anh liên tục bị Công an TPHCM (đủ loại) đến tận nhà hành hung, bắt giữ trái pháp luật;
Điếu Cày nổi tiếng vì một bản án nhà cầm quyền Việt Nam áp đặt lên bản thân anh và gia đình anh với tội danh “trốn thuế” mà cả thế giới văn minh đều biết là “ngớ ngẩn” và đó là bản án bịt miệng những tiếng nói đòi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.
Điếu Cày nổi tiếng vì là một “tội phạm kinh tế” loại tép riu (như bản án khẳng định) nhưng “được” nhà cầm quyền Việt Nam “ưu tiên” “bảo vệ kín” như một tên- khủng- bố- nguy- hiểm- tầm- cỡ- quốc- tế, cách ly ngay cả con gái ruột cũng không được vào phòng xử án nhìn mặt bố, bạn bè thân hữu, bà con láng giềng không ai được tham dự phiên tòa xem “ông Hải và bà Tân trốn thuế” như thế nào. Con gái út của anh ba năm nay cháu không được nhìn thấy bố mình;
Điếu Cày nổi tiếng vì là một “tội phạm kinh tế” loại tép riu nhưng được “ưu tiên” cấm người nhà thăm gặp hơn 1 năm trời, kể cả sau khi đã xét xử xong và bản án đã có hiệu lực; trong khi những người bị giam khác thì thăm nuôi, gặp gỡ thoải mái. Khi được cho thăm gặp thì không được nhận quà của gia đình như: sách vở, giấy bút để học tập dù những thứ này được luật pháp Việt Nam quy định cho phép mang vào và được viết to đùng trên bảng nội quy trại giam;
Điếu Cày nổi tiếng vì là một “tội phạm kinh tế” loại tép riu, theo quy định thì không phải đưa về giam ở cái xứ “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội như bánh canh” tận Cái Tàu (nơi này dành cho khu vực miền tây Nam bộ, trong khi anh là người Sài Gòn), để được nghe cán bộ trại thông báo rằng có lệnh trên tịch thu không cho anh ngủ mùng, lý do là “án ngắn”. Một thứ lệnh miệng thể hiện sự hằn học đê hèn của kẻ có quyền.
Điếu Cày nổi tiếng vì là một “tội phạm kinh tế” loại tép riu, sau khi hết án lại tiếp tục bị giam tội “Tuyên truyền chống nhà nước XHCN Việt Nam”. Hóa ra hai năm rưỡi bị giam trong trại giam của “nhà nước ta”, ông Điếu Cày đã kịp thời làm thêm một việc khác là “Tuyên truyền chống nhà nước XHCN Việt Nam” (Điều 88 Bộ Luật Hình Sự), đối tượng được nghe “tuyên truyền” hẳn là cán bộ, giám thị trại giam, vì theo lời người nhà thì Điếu Cày bị biệt giam không tiếp xúc với bất cứ can phạm nào khác. Tháng 10 năm 2010, cháu Nguyễn Thị Thanh Hương, con gái lớn của anh đang sống và làm việc ở Canada, tưởng rằng bố cháu sắp được về nên cháu đã tích cóp mua sắm cho bố quần áo, giày dép, chăn màn… nhờ người quen gởi về Việt Nam. Nhưng cháu đã sốc và thất vọng khi biết tin bố cháu lại tiếp tục bị giam vì một tội danh mới.
Điếu Cày tiếp tục nổi tiếng vì bỗng dưng tại anh mà nơi ở của người khác (nhà chị Dương Thị Tân- vợ cũ và tôi) chẳng liên quan gì đến Điếu Cày bị nhà cầm quyền Việt Nam lạm dụng quyền lực khám xét trái pháp luật và chiếm đoạt tài sản cá nhân trái pháp luật. Sau lần anh bị bắt tội trốn thuế 2 nơi này đã bị “người nhà nước” lục soát từng centimet, nay lại bị đào xới thêm lần nữa lý do “khám xét nơi ở của Nguyễn Văn Hải”. Đáng lẽ, người ta phải đến khám xét ở trại giam là “nơi ở của ông Nguyễn Văn Hải” suốt hai năm rưỡi qua.
Điếu Cày nổi tiếng vì người nhà “bỗng dưng được thông báo” rằng “lệnh trên” cấm không cho gởi quà thăm nuôi với lý do “sợ bị đầu độc”. Ai cũng biết kẻ thù ghét cần đầu độc Điếu Cày, kẻ cần thấy Điếu Cày “mãi mãi bị bịt mồm” hẳn không phải là người vợ cũ và đứa con trai đã lăn lội “trên từng cây số” suốt hai năm rưỡi khắp các trại giam để thăm nuôi Điếu Cày thời gian qua.
Ngày 19/1/2011, chị Dương Thị Tân và cháu Nguyễn Trí Dũng lại đến Cơ quan ANĐT Công an TPHCM gởi quà thăm nuôi (theo quy định pháp luật) nhưng vẫn không được gởi.
Tết Tân Mão này, dù phạm bất cứ tội gì, trong khi ai ai cũng được nhận chút quà mang hơi ấm gia đình, thì người tù nổi tiếng Điếu Cày hoàn toàn không được nhận chút gì dù quà chỉ là thịt khô, ruốc khô và một ít trái cây Việt Nam thông thường. Lý do cán bộ trại giam nói với chị Tân là: “Cấp trên ra lệnh không nhận vì sợ bị đầu độc”. Người nhà Điếu Cày đầu độc Điếu Cày? Chuyện khôi hài chỉ có nhà cầm quyền Việt Nam mới có thể nghĩ ra.
Điếu Cày lại tiếp tục nổi tiếng vì tất cả những người đã từng bị bắt, bị truy tố theo Điều 88 Bộ Luật Hình Sự như ông Lê Công Định, ông Trần Huỳnh Duy Thức… gần đây nhất là ông Cù Huy Hà Vũ, thì đều được “nhà nước ta” cho gặp thân nhân và nhận quà thăm nuôi, nhưng với Điếu Cày thì không. Ai cũng biết là Điếu Cày đến cái tờ kiểm điểm, cái đơn xin ân xá anh cũng nhất định không viết, đừng nói gì đến việc “nhận tội” để show lên báo, đài. Có lẽ đó là lý do làm cho người nhà Điếu Cày hiện nay “không biết bị giam cầm ở đâu từ khi hết hạn tù ngày 20.10.2010”, “không được thăm nuôi, không được biết thông tin gì về ông Hải”. Chị Dương Thị Tân (vợ cũ anh Điếu Cày) cho biết chị và con trai Nguyễn Trí Dũng kể từ ngày anh Điếu Cày bị khởi tố tạm giam theo tội mới, cứ một tháng 2 lần, đến tết này là đúng 6 lần hai mẹ con mang thức ăn đến thăm nuôi rồi phải mang về, vì đều bị cán bộ Cơ quan ANĐT Công an TPHCM từ chối không cho gởi quà. Nếu tính cả thời gian án cũ, thì từ tháng 8 năm 2010 đến nay gia đình không gởi quà được cho Điếu Cày.
Tước đoạt cái Tết của công dân, kể cả đó chỉ là một cái Tết ngục tù trơ trọi và thiếu thốn bằng một lý do “trời ơi đất hỡi” là chuyện chỉ có ở đất Việt Nam “độc lập – tự do – hạnh phúc” này.
http://suthatcongly.multiply.com/journal/item/210/210
Điếu Cày nổi tiếng không phải vì đã tham gia vào những đợt biểu tình vào cuối năm 2007 đầu năm 2008, lúc đó có quá nhiều người tham gia biểu tình, trong đó chủ yếu là lớp sinh viên trẻ, tôi cũng tham gia biểu tình, đặc biệt có cụ nhạc sĩ (cách mạng, cựu đảng viên đảng CSVN) Tô Hải hơn 80 tuổi cũng xuống đường đi “biểu lộ lòng yêu nước” (lời cụ Tô Hải);
Điếu Cày nổi tiếng không phải vì anh là người chủ trương dùng internet đả phá bưng bít thông tin, dùng internet làm phương tiện bảo vệ sự thật, công lý cho những người bị oan ức;
Điếu Cày nổi tiếng không phải vì anh là thành viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do (ngoài luồng), là tiếng nói của những người không có tiếng nói, là nơi phơi bày những sự thật trần trụi ở Việt Nam đang được người ta cố gắng che đậy bằng lớp son phấn mỹ miều “định hướng”, không chịu sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam. Anh chuyên nghiệp về nhiếp ảnh và camera hơn là một “phù thủy biến hóa ngôn từ”. Toàn bộ những bài viết của anh trên mạng chỉ là loạt bài tường thuật về việc anh kiện Công an phường Bến Thành (quận 1, Sài Gòn) ra tòa, kiện báo Công an TPHCM viết sai sự thật về vụ kiện của anh, việc anh đi biểu tình bị “an ninh còn đảng, còn mình” bắt giữ trái phép, bóp cổ và vu cho tàng trữ ma túy, những bài viết về việc bản thân anh liên tục bị Công an TPHCM (đủ loại) đến tận nhà hành hung, bắt giữ trái pháp luật;
Điếu Cày nổi tiếng vì một bản án nhà cầm quyền Việt Nam áp đặt lên bản thân anh và gia đình anh với tội danh “trốn thuế” mà cả thế giới văn minh đều biết là “ngớ ngẩn” và đó là bản án bịt miệng những tiếng nói đòi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.
Điếu Cày nổi tiếng vì là một “tội phạm kinh tế” loại tép riu (như bản án khẳng định) nhưng “được” nhà cầm quyền Việt Nam “ưu tiên” “bảo vệ kín” như một tên- khủng- bố- nguy- hiểm- tầm- cỡ- quốc- tế, cách ly ngay cả con gái ruột cũng không được vào phòng xử án nhìn mặt bố, bạn bè thân hữu, bà con láng giềng không ai được tham dự phiên tòa xem “ông Hải và bà Tân trốn thuế” như thế nào. Con gái út của anh ba năm nay cháu không được nhìn thấy bố mình;
Điếu Cày nổi tiếng vì là một “tội phạm kinh tế” loại tép riu nhưng được “ưu tiên” cấm người nhà thăm gặp hơn 1 năm trời, kể cả sau khi đã xét xử xong và bản án đã có hiệu lực; trong khi những người bị giam khác thì thăm nuôi, gặp gỡ thoải mái. Khi được cho thăm gặp thì không được nhận quà của gia đình như: sách vở, giấy bút để học tập dù những thứ này được luật pháp Việt Nam quy định cho phép mang vào và được viết to đùng trên bảng nội quy trại giam;
Điếu Cày nổi tiếng vì là một “tội phạm kinh tế” loại tép riu, theo quy định thì không phải đưa về giam ở cái xứ “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội như bánh canh” tận Cái Tàu (nơi này dành cho khu vực miền tây Nam bộ, trong khi anh là người Sài Gòn), để được nghe cán bộ trại thông báo rằng có lệnh trên tịch thu không cho anh ngủ mùng, lý do là “án ngắn”. Một thứ lệnh miệng thể hiện sự hằn học đê hèn của kẻ có quyền.
Điếu Cày nổi tiếng vì là một “tội phạm kinh tế” loại tép riu, sau khi hết án lại tiếp tục bị giam tội “Tuyên truyền chống nhà nước XHCN Việt Nam”. Hóa ra hai năm rưỡi bị giam trong trại giam của “nhà nước ta”, ông Điếu Cày đã kịp thời làm thêm một việc khác là “Tuyên truyền chống nhà nước XHCN Việt Nam” (Điều 88 Bộ Luật Hình Sự), đối tượng được nghe “tuyên truyền” hẳn là cán bộ, giám thị trại giam, vì theo lời người nhà thì Điếu Cày bị biệt giam không tiếp xúc với bất cứ can phạm nào khác. Tháng 10 năm 2010, cháu Nguyễn Thị Thanh Hương, con gái lớn của anh đang sống và làm việc ở Canada, tưởng rằng bố cháu sắp được về nên cháu đã tích cóp mua sắm cho bố quần áo, giày dép, chăn màn… nhờ người quen gởi về Việt Nam. Nhưng cháu đã sốc và thất vọng khi biết tin bố cháu lại tiếp tục bị giam vì một tội danh mới.
Điếu Cày tiếp tục nổi tiếng vì bỗng dưng tại anh mà nơi ở của người khác (nhà chị Dương Thị Tân- vợ cũ và tôi) chẳng liên quan gì đến Điếu Cày bị nhà cầm quyền Việt Nam lạm dụng quyền lực khám xét trái pháp luật và chiếm đoạt tài sản cá nhân trái pháp luật. Sau lần anh bị bắt tội trốn thuế 2 nơi này đã bị “người nhà nước” lục soát từng centimet, nay lại bị đào xới thêm lần nữa lý do “khám xét nơi ở của Nguyễn Văn Hải”. Đáng lẽ, người ta phải đến khám xét ở trại giam là “nơi ở của ông Nguyễn Văn Hải” suốt hai năm rưỡi qua.
Điếu Cày nổi tiếng vì người nhà “bỗng dưng được thông báo” rằng “lệnh trên” cấm không cho gởi quà thăm nuôi với lý do “sợ bị đầu độc”. Ai cũng biết kẻ thù ghét cần đầu độc Điếu Cày, kẻ cần thấy Điếu Cày “mãi mãi bị bịt mồm” hẳn không phải là người vợ cũ và đứa con trai đã lăn lội “trên từng cây số” suốt hai năm rưỡi khắp các trại giam để thăm nuôi Điếu Cày thời gian qua.
Ngày 19/1/2011, chị Dương Thị Tân và cháu Nguyễn Trí Dũng lại đến Cơ quan ANĐT Công an TPHCM gởi quà thăm nuôi (theo quy định pháp luật) nhưng vẫn không được gởi.
Tết Tân Mão này, dù phạm bất cứ tội gì, trong khi ai ai cũng được nhận chút quà mang hơi ấm gia đình, thì người tù nổi tiếng Điếu Cày hoàn toàn không được nhận chút gì dù quà chỉ là thịt khô, ruốc khô và một ít trái cây Việt Nam thông thường. Lý do cán bộ trại giam nói với chị Tân là: “Cấp trên ra lệnh không nhận vì sợ bị đầu độc”. Người nhà Điếu Cày đầu độc Điếu Cày? Chuyện khôi hài chỉ có nhà cầm quyền Việt Nam mới có thể nghĩ ra.
Điếu Cày lại tiếp tục nổi tiếng vì tất cả những người đã từng bị bắt, bị truy tố theo Điều 88 Bộ Luật Hình Sự như ông Lê Công Định, ông Trần Huỳnh Duy Thức… gần đây nhất là ông Cù Huy Hà Vũ, thì đều được “nhà nước ta” cho gặp thân nhân và nhận quà thăm nuôi, nhưng với Điếu Cày thì không. Ai cũng biết là Điếu Cày đến cái tờ kiểm điểm, cái đơn xin ân xá anh cũng nhất định không viết, đừng nói gì đến việc “nhận tội” để show lên báo, đài. Có lẽ đó là lý do làm cho người nhà Điếu Cày hiện nay “không biết bị giam cầm ở đâu từ khi hết hạn tù ngày 20.10.2010”, “không được thăm nuôi, không được biết thông tin gì về ông Hải”. Chị Dương Thị Tân (vợ cũ anh Điếu Cày) cho biết chị và con trai Nguyễn Trí Dũng kể từ ngày anh Điếu Cày bị khởi tố tạm giam theo tội mới, cứ một tháng 2 lần, đến tết này là đúng 6 lần hai mẹ con mang thức ăn đến thăm nuôi rồi phải mang về, vì đều bị cán bộ Cơ quan ANĐT Công an TPHCM từ chối không cho gởi quà. Nếu tính cả thời gian án cũ, thì từ tháng 8 năm 2010 đến nay gia đình không gởi quà được cho Điếu Cày.
Tước đoạt cái Tết của công dân, kể cả đó chỉ là một cái Tết ngục tù trơ trọi và thiếu thốn bằng một lý do “trời ơi đất hỡi” là chuyện chỉ có ở đất Việt Nam “độc lập – tự do – hạnh phúc” này.
http://suthatcongly.multiply.com/journal/item/210/210
Tình Yêu Là Sức Mạnh Vạn Năng
Ngày 30 Tháng Giêng cách đây đúng 40 năm, Mahatma Gandhi, người cha già của dân tộc Aán Ðộ đã vĩnh viễn ngã gục sau mấy nhát gươm của một thanh niên Aán Giáo quá khích.
Hôm đó, như thường lệ, Gandhi được hai người cháu dìu đi cầu nguyện. Cả một đám đông đang đi theo đằng sau Ngài. Bỗng nhiên, một thanh niên từ trong đám đông sấn tới đâm bổ vào Người của vị cha già dân tộc. Ba nhát gươm đâm xới xả vào một thân thể khô gầy vì không biết bao nhiêu hy sinh cho đất nước.
Thinh lặng bao chùm lấy đám đông. Người ta chỉ còn nghe được hai tiếng từ miệng của vị thánh "Rama, Rama" nghĩa là "Chúa ơi, Chúa ơi". Với một cố gắng cuối cùng, Ngài giơ hai tay lên, đan lại trong một cử chỉ cầu nguyện và tha thứ, rồi ngã gục.
Người thanh niên Aán Giáo quá khích đã sát hại Gandhi vì anh không thể chấp nhận ssược sự kiện Gandhi bày tỏ lòng quảng đại yêu thương ngay cả với những người Hồi Giáo.
400 triệu người Aán Ðộ đã than khóc và để tang cho vị cha già của dân tộc. Không khí buồn thảm cũng bao trùm khắp thế giới. Mọi người đều cảm nhận rằng ngày hôm đó trái đất trở nên cằn cỗi, nghèo nàn hơn, bởi vì đã mất đi một người con vĩ đại, một người con đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập cho tổ quốc mà không cần dùng đến khí giới của bạo động và hận thù. Chính Ngài đã từng nói: Tình Yêu là sức mạnh khiêm tốn nhất, nhưng cũng là sức mạnh vạn năng mà thế giới đang có.
Tình Yêu là sức mạnh khiêm tốn nhất, nhưng cũng là sức mạnh vạn năng mà thế giới đang có trong tay.
Chiến tranh và không biết bao nhiêu vấn đề mà thế giới ngày nay đang phải giải quyết, dường như thế giới chỉ muốn giải quyết bằng bạo động, bằng vũ khí giết người. Sức mạnh vạn năng mà thế giới đang có trong tay là tình yêu, chỉ có một số ít người đang dùng đến.
Mục sư Luther King, người da đen, đang sử dụng khí giới của tình yêu. Oâng đã ngã gục, nhưng hàng triệu người da đen được đứng lên làm người như người da trắng. Giám mục Desmond Tutu, người Nam Phi da đen cũng đang đi theo vết chân của Gandhi và Luther King. Mẹ Têrêxa thành Calcutta cũng đang dùng khí giới của tình thương để cho những người không nhà không cửa, những người hấp hối đầu đường xó chợ được sống và chết như những con người.
Tất cả những mẫu gương trên đây chỉ là những phản ánh của một tình yêu trọn vẹn hơn, đó là tình yêu của Ðấng đã chịu chết cho người mình yêu. Chính Ngài đã nói: Khi nào Ta chịu treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo tất cả mọi người về với Ta.
Người Kitô chúng ta đang ở trong sức kéo ấy. Ngài đã cho chúng ta được sát nhập vào thân thể của Ngài và truyền cho chúng ta chính sức sống của Ngài. Người Kitô chỉ có thể là người Kitô khi họ sống bằng chính Sức Sống và Tình Yêu của Ngài.
Ngày 30 Tháng Giêng cách đây đúng 40 năm, Mahatma Gandhi, người cha già của dân tộc Aán Ðộ đã vĩnh viễn ngã gục sau mấy nhát gươm của một thanh niên Aán Giáo quá khích.
Hôm đó, như thường lệ, Gandhi được hai người cháu dìu đi cầu nguyện. Cả một đám đông đang đi theo đằng sau Ngài. Bỗng nhiên, một thanh niên từ trong đám đông sấn tới đâm bổ vào Người của vị cha già dân tộc. Ba nhát gươm đâm xới xả vào một thân thể khô gầy vì không biết bao nhiêu hy sinh cho đất nước.
Thinh lặng bao chùm lấy đám đông. Người ta chỉ còn nghe được hai tiếng từ miệng của vị thánh "Rama, Rama" nghĩa là "Chúa ơi, Chúa ơi". Với một cố gắng cuối cùng, Ngài giơ hai tay lên, đan lại trong một cử chỉ cầu nguyện và tha thứ, rồi ngã gục.
Người thanh niên Aán Giáo quá khích đã sát hại Gandhi vì anh không thể chấp nhận ssược sự kiện Gandhi bày tỏ lòng quảng đại yêu thương ngay cả với những người Hồi Giáo.
400 triệu người Aán Ðộ đã than khóc và để tang cho vị cha già của dân tộc. Không khí buồn thảm cũng bao trùm khắp thế giới. Mọi người đều cảm nhận rằng ngày hôm đó trái đất trở nên cằn cỗi, nghèo nàn hơn, bởi vì đã mất đi một người con vĩ đại, một người con đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập cho tổ quốc mà không cần dùng đến khí giới của bạo động và hận thù. Chính Ngài đã từng nói: Tình Yêu là sức mạnh khiêm tốn nhất, nhưng cũng là sức mạnh vạn năng mà thế giới đang có.
Tình Yêu là sức mạnh khiêm tốn nhất, nhưng cũng là sức mạnh vạn năng mà thế giới đang có trong tay.
Chiến tranh và không biết bao nhiêu vấn đề mà thế giới ngày nay đang phải giải quyết, dường như thế giới chỉ muốn giải quyết bằng bạo động, bằng vũ khí giết người. Sức mạnh vạn năng mà thế giới đang có trong tay là tình yêu, chỉ có một số ít người đang dùng đến.
Mục sư Luther King, người da đen, đang sử dụng khí giới của tình yêu. Oâng đã ngã gục, nhưng hàng triệu người da đen được đứng lên làm người như người da trắng. Giám mục Desmond Tutu, người Nam Phi da đen cũng đang đi theo vết chân của Gandhi và Luther King. Mẹ Têrêxa thành Calcutta cũng đang dùng khí giới của tình thương để cho những người không nhà không cửa, những người hấp hối đầu đường xó chợ được sống và chết như những con người.
Tất cả những mẫu gương trên đây chỉ là những phản ánh của một tình yêu trọn vẹn hơn, đó là tình yêu của Ðấng đã chịu chết cho người mình yêu. Chính Ngài đã nói: Khi nào Ta chịu treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo tất cả mọi người về với Ta.
Người Kitô chúng ta đang ở trong sức kéo ấy. Ngài đã cho chúng ta được sát nhập vào thân thể của Ngài và truyền cho chúng ta chính sức sống của Ngài. Người Kitô chỉ có thể là người Kitô khi họ sống bằng chính Sức Sống và Tình Yêu của Ngài.

Francisco thoáng qua…
Đó là một thành phố của nhiều thành phố.
Một chút “phố núi” Pleiku.
Một chút mù sương Đà Lạt.
Một chút gió biển Nha Trang.
Một chút phố Tàu trái cây Chợ Lớn.
Một chút vỉa hè Paris…
Một thành phố không ngủ….
Đêm sáng rực ánh đèn của đường Tự Do Sài Gòn những ngày trước 75. Những quán cà phê như nhà lồng ngó xuống mặt đường. Những tiệm ăn đặc biệt đủ mọi sắc tộc. Thành phố lúc nào cũng thở, đầy âm thanh, màu sắc, mùi vị,… rộn rã trong một trái tim cuồng nhiệt. Tôi cứ bước theo chân những người bạn trẻ, những người đã từng sống và trưởng thành trong thành phố này, những người biết rõ từng ngã tư đường, từng quán cà phê, từng góc phố, hiểu rõ cái bất thường thấm thía của thời tiết, cái nắng sáng, mưa trưa; cái lạnh chiều, buốt tối. Phố dốc ngược. Những bực cấp bắt ta “phải rướn người lên mới vươn tới được”.
Những con dốc ấy gợi lại trong trí nhớ tôi hình ảnh một Đà Lạt những ngày đầu tiên mới từ Sài Gòn lên. Mười tám tuổi. Chạy trốn một thành phố hào nhoáng xô bồ. Chạy trốn cái buồn bã cùng cực của một cuộc sống cô đơn không gia đình không lối thoát. Chạy trốn những câu hỏi thời cuộc không thấy câu trả lời. Chạy trốn sự dày vò của một trái tim quá nhạy cảm. Tôi chạy trốn chính tôi. … Và Đà Lạt đã chào đón tôi trong một buổi tối lạnh lẽo như cái lạnh lẽo mà giờ đây San Francisco đang chích vào cơ thể và trí tưởng tôi.
Quán cà phê ở San Fran mà hôm đó chúng tôi ngồi bên nhau tên gì nhỉ? Tôi đã gọi ngược lại Nguyễn Quý Đức để nhờ anh nhắc lại tên quán, con đường đã đi, cả cái câu ghi trên vách của nhà sách City Lights Books, nơi tôi đã dừng lại khá lâu để thở lại hơi thở của Allen Ginsberg, một trong những thi sĩ lớn, đương đại của Hoa Kỳ. Hình như, Đức nói, quán mang tên Vesuvio thì phải. Và con đường Columbus, có nhà sách City Lights Books, nơi tôi đã mua cuốn truyện Lồng Đèn Đỏ Treo Cao với hình bìa nữ tài tử Củng Lợi, sắc nước hương trời.
Có phải chính nơi đây, ngày 13 tháng 10 năm 1955, Ginsberg đã đọc bài thơ dài có tựa là Howl tại Gallery Six trước một cử tọa cuồng nhiệt? Bài thơ lập đi lập lại nhiều lần câu I’m with you in Rockland…
I’m with you in Rockland
where we hug and kiss the United States under
our bedsheets the United States that coughs all
night and won’t let us sleep
….
I’m with you in Rockland
in my dreams you walk dripping from a sea-
journey on the highway across America in tears
to the door of my cottage in the Western night
Bài thơ được Hiệu sách City Lights của Lawrence Ferlinghetti xuất bản năm 1956 dưới tựa Howl and Other Poems, khiến Ferlinghetti sau đó phải bị ra tòa với tội "văn hóa phẩm bẩn thỉu". Ngày 3 tháng 10, 1957, quan toà Clayton W. Horn phán bài thơ không phải sản phẩm khiêu dâm đồi trụy. Howl và Những bài thơ sau đó của Ginsberg trở thành bài thơ lừng danh của Beat Generation cùng với On The Road của Jack Kerouac (1957), và Naked Lunch của William S. Burroughs (1959).
Trang Wikipedia viết Ginsberg đã làm thay đổi giọng thơ Mỹ và trở thành bộ mặt trung tâm của trào lưu phản văn hóa thập niên 1960. Allen Ginsberg cũng tham gia những cuộc phản đối chính trị và đưa tinh thần ấy vào thơ (đòi quyền tự do, quyền của những kẻ yếu - nhất là những người đồng tính luyến ái, chống nhà nước, chống Chiến tranh Việt Nam và chống bom hạt nhân).
Chính ở đây tôi đã tìm thấy những cuốn sách có bài viết và những bản dịch sang tiếng Anh của Nguyễn Quí Đức. Sách làm tôi ngợp mắt. Căn phòng nhỏ chứa những cuốn sách lớn làm thành một thế giới kỳ lạ mà lòng tôi không bao giờ ngừng say mê. Chúng tôi leo lên căn gác nhỏ như cái chuồng chim bồ câu. Ghế cao, cửa sổ ngó xuống con hẻm mang tên Jack Kerouac. (Kerouac, nhà viết tiểu thuyết, gốc Canada-Pháp, cùng với thi sĩ Allen Ginsberg, là phát ngôn viên của phong trào tự phát của nhóm Beatnik vào những năm 50, nhằm chống lại những khuôn sáo của xã hội và lối sống Mỹ. Phong trào này thể hiện trong văn hóa bằng những tác phẩm vô chính phủ và cá nhân chủ nghĩa. J. Kerouac sống lang thang khắp nước Mỹ, làm đủ thứ nghề, từ lính thủy đến thợ đầu máy xe lửa, và cuộc sống của ông được phản ánh trong những tiểu thuyết nổi tiếng của ông như On The Road, The Dharma Bums…). Hẻm nhỏ, bức ảnh Jack Kerouac vẽ trên tường với dòng chữ “On January 25, 1988, the City of San Francisco approved by City Lights Books to rename 12 streets of San Francisco writers and artists, including this alley.” Nhưng tôi cũng lấy làm lạ tại sao trên vách nhà sách của con hẻm mang tên Jack Kerouac lại có vẽ thêm ảnh nhà thơ Pháp Charles Baudelaire lớn hơn ảnh J. Kerouac nhiều. Điều này tôi sẽ phải hỏi lại Đức mới được.
San Francisco, cũng như Paris, thật ra đối với tôi cũng chỉ là một thành phố tôi thấy thoáng qua. Tôi chưa kịp ghi nhận trong trí nhớ về con người và thời tiết, da thịt chưa đủ ngấm hết cái lạnh lẽo của gió biển Vịnh Cựu Kim Sơn, miệng chưa nếm hết những thức ăn quốc tế trên đường có “phố núi cao, phố núi mù sương”, tai chưa nghe hết cái âm thanh của xe cộ và con người trên đại lộ Columbus, mắt chưa nhìn thấy được cái vùng bóng tối của thành phố mà một người nhạc sĩ nào đó đã viết ca khúc “trái tim tôi bỏ lại ở Cựu Kim Sơn…”
Thế nhưng tôi biết chắc chắn một điều là mặc dù chỉ mới thoáng qua, San Francisco sẽ cùng với Sài Gòn, Nha Trang, Paris là những thành phố đã để lại trong tôi nhiều dấu ấn. Khi Đức hỏi tôi thế Chủ nhật tới có định trở lại San Fran không, tôi đáp không do dự rằng, trước sau gì tôi cũng sẽ trở lại thôi. Bởi vì tôi nghĩ chắc chắn là tôi sẽ còn tới đó nhiều lần nữa. Bởi vì tôi biết là quãng đường từ San Jose đến San Fran xa có là bao. Ấy vậy mà, từ ngày trả lời câu hỏi của Đức đến nay đã trên 10 năm, tôi vẫn chưa một lần trở lại San Fran. Tại sao?
San Jose 18/01/2011
Viết thêm….
Khi tôi đọc lại lần cuối bài viết chuẩn bị cho móc lên blog thì cậu em Andrew email kể chuyện Chủ nhật 9 tháng 1 tuần trước cậu và mấy người bạn đã lên San Fran xem triển lãm tranh của Vincent Van Gogh tại viện bảo tàng de Young trong công viên Golden Gate. Cuộc triển lãm mang tên “Van Gogh, Gauguin, Cézanne and Beyond: Post-Impressionist Masterpieces from the Musée d’Orsay”. Theo Andrew đây là cuộc triển lãm phần hai những tác phẩm của trường phái Ấn tượng mà viện bảo tàng Orsay tại Paris cho de Young mượn trong khi viện bảo tàng này đang được trùng tu. Andrew viết cậu không tài nào diễn tả được nỗi xúc động khi chính mắt ngắm tranh thật, chứ không phải hình chụp lại, những tác phẩm lừng danh của Van Gogh như “Starry Night over The Rhone”, và “The Artist’s Room at Arles”. “Nếu anh đã lỡ mất 2 cơ hội vừa qua để xem tranh Ấn tượng, xin đừng bỏ qua cuộc triển lãm tranh của Picasso mang tên “Picasso: Masterpieces from The Musée National Picasso, Paris” sẽ được tổ chức tại viện bảo tàng de Young trong mùa hè này, từ ngày 11 tháng 6 đến ngày 25 tháng 9, năm 2011. Lần này, em sẽ đón anh đi! Nhớ lên lịch nhé!”
Vậy thì câu trả lời Tại Sao của tôi đã có. Thế nào mùa hè năm nay tôi cũng sẽ theo Anndrew lên San Fran xem tranh Picasso. Và chắc chắn là sẽ trở lại quán cà phê trên căn gác nhỏ ngó xuống con hẽm mang tên Jack Kerouac chụp lại chân dung Jack Kerouac và chân dung Charles Baudelaire, sau đó bước vào nhà sách City Lights Books ở đại lộ Columbus tìm mua tập thơ Howl and Other Poems của Allen Ginsberg, và…biết đâu sẽ tìm thấy một cuốn sách khác của một tác giả trẻ tuổi Việt Nam? Tại sao không?…
[NguyễnXuânHoàng, VOA ]
Nỗi sợ
Việt Tâm
(Nguồn: DCVonline.net) “Tớ còn sống được đến ngày nay là vì còn biết sợ!” (Nguyễn Tuân)
Lâu nay, tôi ít viết, hay nói đúng hơn lười viết, cũng vì mang nỗi sợ trong lòng. Năm ngoái, gồng mình viết nhì nhằng về cái bản thân xấu xí, đầy thói hư tật xấu, đầy bệnh tật sân si, nào dè bị đập một vố ngất ngư, tưởng hai năm mươi ngay tắp lự.
Số là có nhiều anh/bác/chú vốn vẫn thù tiền kiếp chế độ phi pháp bên nhà nên đã chẻ sợi tóc đến làm tám, làm chín, rồi mắng sa sả người viết là phản động, chia rẽ cộng đồng; ôi thôi lắm tình, lắm tội, toàn thứ nặng cỡ hàng không mẫu hạm trở lên. Có anh/bác/chú lại còn răn đe đòi cung cấp tài liệu cho FBI điều tra xem người viết có là tay sai, tay chân gì của mấy ảnh bên nhà, làm tôi rét hết sức là rét.
Nghĩ bụng “nghe láo mà chơi, nói láo chơi,” trúng trúng trật trật chẳng đụng chạm đến ai; nhất là đem công tâm nói chuyện thiên hạ, đã chẳng được một lời khuyến khích (không dám dùng nhóm chữ “động viên,” kẻo lại bị nhao nhao đấy hắn dùng từ CS thì thêm oan gia nghiệp báo) thì chớ, lại còn bị đánh túi bụi, nên người viết dỗi, nghỉ chơi.
Ít lâu sau, tay lại buồn ngứa nên rồi cũng phải chui ra khỏi cái tổ kén trùm chăn để mà thanh minh thanh nga cho vỡ lẽ. Ðược cái các anh/bác/chú nghe ra nên xí xóa xì xòa và do đó mới qua khỏi tai ương nghiệp chướng mà còn sống sót đến tận bây giờ.
Nhiều lúc tôi nghĩ vớ vẩn, mình đã chọn lựa từ bỏ cái quốc tịch mà ngài TGM NGô Quang Kiệt gọi “đi đến đâu, cầm cái hộ chiếu cũng cảm thấy nhục vì bị mọi người săm soi nhìn,” vậy mà vẫn không dưng thấy nó làm sao ấy!
Vừa rồi nghe bên nhà đại hội, tôi cũng ngứa tay (và ngứa cả tai) ra phết. Nhấp nhổm cũng muốn ra cái điều ta đây am tường thế sự, định góp vài ý kiến ý cò (và biết chắc chẳng ma nào thèm nghe); song thấy các báo đài, chuyên gia phân tích nói cả rồi, đầy đủ, thấu đáo (họ biết tỏng tòng tong từ cả nửa năm trước mọi sự, đoán trúng phóc) nên người viết chợt nhận ra cái tài hèn, sức mọn mà im cho được việc.
Những ngày đó, ôi xót xa nhiều cho trang mạng nhà, chả được quá 3 hôm lại bị vật tơi bời hoa lá. Theo tổng kết thì có ngày đến hàng vạn mũi dùi cùng đâm vào một lượt khiến mạng bị xé rách teng beng, rỗ như mặt người sau cơn lên thủy đậu nặng.
Chả riêng gì trang Ðàn Chim Việt Online (DCVOnline - phải xác định rõ để khác với một trang mạng cũng có tên tương tự, nhưng với cái đuôi khác) mà cả đến vài trang khác cũng không thoát khỏi trò vặt vãnh này. Có trang chỉ ấp lốt toàn truyện, tạp bút, thế mà cũng bị giập không thua các trang lạm bàn chính trị.
Rồi cả dăm trang bên nhà, chập chờn như ma trơi, lúc đưa được bài lên, lúc bị cắt vứt đi, hoặc cả cái cảnh “mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm,” làm tôi thực sự điếc, chẳng biết ra sao nữa! Bình tâm suy xét, người viết nhận ra chỉ vì mấy ảnh sợ hão sợ huyền nên cấm tiệt và bẻ họng để “chúng”: không còn ngo ngoe đâm bị thóc, chọc bị gạo gì được nữa!
Mấy ảnh làm rất kỹ, tập trung mọi lực lượng, trang bị súng ống đến tận răng, vận dụng hết công cụ bên lề phải, dương dương tự đắc, coi như mình vô địch, anh hùng, tưởng là chắc ai làm, phá gì nổi. Thế mà suy cho cùng, mấy ảnh vẫn chưa gọi là được ăn no ngủ kỹ.
Trong đầu óc các anh lúc nào cũng có một con ma “diễn biến hòa bình,” một ông ngáo ộp âm mưu “lật đổ nhà nước” nên chẳng đêm nào ngủ mấy ảnh chẳng mơ bị bóng đè vì những hồn ma bóng quế đâu đâu. Ðối với các nhân vật mà mấy ảnh nghi ngờ là có thể được người ta tìm tới hỏi han, thăm viếng, rách việc thì mấy ảnh bố trí người canh chừng, ngăn cản.
Bất chấp là bạn hay thù, bất chấp hành xử ngoại giao đúng hay sai, các anh đập cho bò lê bò càng và sẵn sàng xốc quẳng lên xe, mời đi chơi chỗ khác, rồi sau sẽ hay. Cho nên mới xảy vụ một nhà ngoại giao thuộc TLS thù địch ngày trước và một ông nghị của chính phủ từng cho mấy ảnh tiền biếu không phải kêu ầm lên là mấy ảnh chơi luật giang hồ.
Ui! tôi ngộ ra là vì mấy ảnh SỢ, sợ thiệt sự. Bởi hành động của mấy ảnh là hành động thiếu chính đáng nên lúc nào mấy ảnh cũng ỚN, cũng RÉT, rét kinh niên. Ba hoa chích chòe giữa hội trường thì mấy ảnh ra cái điều mình kinh lắm, ai mà động vào sẽ bị nghiến thịt nát xương tan; thế mà suy cho cùng mấy ảnh sợ toàn những người tay không, số ít và lẻ loi.
Mấy ảnh sợ ai. Thì rõ ràng, mấy ảnh sợ những người từng một thời đã cùng đi chung với mấy ảnh nơi con đường bác đi (hay còn gọi là con đường bi đát), nay những người ấy nhìn ra thì nghỉ chơi với mấy ảnh. Cũng thêm vào là mấy ảnh sợ từ ông sư, nhà truyền đạo, vị linh mục ốm bệnh, đến những người phản kháng và kể cả đám dân đen (có người đã từng nuôi các ảnh, giấu dưới hầm, đóng góp công của cho mấy ảnh, đã từng là mẹ chiến sĩ anh hùng, đã từng là công bộc của mấy ảnh, đã từng là gia đình có công, vân vân và vân vân). Mấy ảnh sợ tuốt, sợ hết, sợ ráo nạo.
Mấy ảnh biết chặn gì thì cũng chẳng hơi sức đâu làm hoài, nên thôi thì để cái đại hội qua đi, bớt nghe lời điếc tai nhức óc, rồi sau khi “thành công vẻ vang” thì lại chịu thua cho chúng tung hoành. Mấy ảnh từng có chuyên viên hí hửng đã phá băng hàng trăm mạng vậy mà vẫn rét với một cô gái nhỏ nhoi. Bị vạch mặt chỉ tên, mấy ảnh chơi luật rừng đem nhốt và đưa tòa phang luôn cho một thời gian tù tội.
Bị dư luận khắp nơi mắng mỏ quá thì thả ra, với chiêu bài “cúi đầu nhận tội” và phạt tiền vì xuyên tạc không bằng chứng. Chung qui vì mấy ảnh “danh bất chính, hoạt bất minh” nên sợ từ đứa bé sợ đi. Cái Facebook ẩm ương chẳng ăn nhập gì đến đại sự cũng sợ, cắt, khép nhặng xị lên. Các booker vẫn chỉ nhau đi “loanh quanh cho đời mỏi mệt,” vượt phăng tường lửa rồi ngạo trêu mấy ảnh tức muốn lòi phèo.
Mười ngày đại hội rồi cũng xong. Các anh thở phào vì “hoàn thành sứ mạng.” Ðoàn hát đã có đủ vai, dù không mới mẻ gì, nhưng thay nhau nay làm dzua, mai làm tướng cướp, vẫn là đủ, xong và rốt ráo. Mấy bữa nay, quân ta lại xông pha ào ào, một tay, hai tay vung lên xem có chiều vui tở mở.
Khôi hài vô biên là vở tuồng vừa hạ màn thì nhao nhao hết khối này, ban bệ nọ gáy, ca tay kép vừa đóng vai dzua, vai chúa ỏm tỏi cả lên. Ðó là cái màn xưa như trái đất, nhưng xem ra mấy ảnh chẳng nghĩ được gì hơn, đành nhai lại, dù nó còn thua bản nhạc “ò e con ma đánh đu, tác giăng nhảy dzù, rô be bắn súng” của những gánh cải lương dùng làm nét kết thúc hạ màn.
Người viết tưởng rằng trang mạng nhà mình bị thiêu vì ngoan cố đăng bài của nhà văn Võ Thị Hảo nên khiến mấy ảnh sùng. Nhưng chẳng phải! Ðó là cách hành xử chung của mấy ảnh mỗi khi sắp có chiến dịch vậy thôi. Thế nên Ngố tôi mới cho rằng bên nhà bây giờ có lắm điều dzui là dzui quá ta, dzui dăm ngày ba bữa còn dzui.
Ấy là một phát minh mới của mấy ảnh mà Ngố tôi vừa nhận ra: cái gọi là tổ, khu phố, thôn, phường, v.v... văn hóa xem ra hết ăn khách, nay mấy ảnh chuyển sang gọi là văn minh đối phó, văn hóa che chắn, cho nó vừa thức thời, vừa hợp giai đoạn.
Một câu ngắn gọn: mấy ảnh đang mang NỖI SỢ sâu trong người, nên nhìn đâu cũng thấy toàn là địch vây quanh!
Việt Tâm
(Nguồn: DCVonline.net) “Tớ còn sống được đến ngày nay là vì còn biết sợ!” (Nguyễn Tuân)
Lâu nay, tôi ít viết, hay nói đúng hơn lười viết, cũng vì mang nỗi sợ trong lòng. Năm ngoái, gồng mình viết nhì nhằng về cái bản thân xấu xí, đầy thói hư tật xấu, đầy bệnh tật sân si, nào dè bị đập một vố ngất ngư, tưởng hai năm mươi ngay tắp lự.
Số là có nhiều anh/bác/chú vốn vẫn thù tiền kiếp chế độ phi pháp bên nhà nên đã chẻ sợi tóc đến làm tám, làm chín, rồi mắng sa sả người viết là phản động, chia rẽ cộng đồng; ôi thôi lắm tình, lắm tội, toàn thứ nặng cỡ hàng không mẫu hạm trở lên. Có anh/bác/chú lại còn răn đe đòi cung cấp tài liệu cho FBI điều tra xem người viết có là tay sai, tay chân gì của mấy ảnh bên nhà, làm tôi rét hết sức là rét.
Nghĩ bụng “nghe láo mà chơi, nói láo chơi,” trúng trúng trật trật chẳng đụng chạm đến ai; nhất là đem công tâm nói chuyện thiên hạ, đã chẳng được một lời khuyến khích (không dám dùng nhóm chữ “động viên,” kẻo lại bị nhao nhao đấy hắn dùng từ CS thì thêm oan gia nghiệp báo) thì chớ, lại còn bị đánh túi bụi, nên người viết dỗi, nghỉ chơi.
Ít lâu sau, tay lại buồn ngứa nên rồi cũng phải chui ra khỏi cái tổ kén trùm chăn để mà thanh minh thanh nga cho vỡ lẽ. Ðược cái các anh/bác/chú nghe ra nên xí xóa xì xòa và do đó mới qua khỏi tai ương nghiệp chướng mà còn sống sót đến tận bây giờ.
Nhiều lúc tôi nghĩ vớ vẩn, mình đã chọn lựa từ bỏ cái quốc tịch mà ngài TGM NGô Quang Kiệt gọi “đi đến đâu, cầm cái hộ chiếu cũng cảm thấy nhục vì bị mọi người săm soi nhìn,” vậy mà vẫn không dưng thấy nó làm sao ấy!
Vừa rồi nghe bên nhà đại hội, tôi cũng ngứa tay (và ngứa cả tai) ra phết. Nhấp nhổm cũng muốn ra cái điều ta đây am tường thế sự, định góp vài ý kiến ý cò (và biết chắc chẳng ma nào thèm nghe); song thấy các báo đài, chuyên gia phân tích nói cả rồi, đầy đủ, thấu đáo (họ biết tỏng tòng tong từ cả nửa năm trước mọi sự, đoán trúng phóc) nên người viết chợt nhận ra cái tài hèn, sức mọn mà im cho được việc.
Những ngày đó, ôi xót xa nhiều cho trang mạng nhà, chả được quá 3 hôm lại bị vật tơi bời hoa lá. Theo tổng kết thì có ngày đến hàng vạn mũi dùi cùng đâm vào một lượt khiến mạng bị xé rách teng beng, rỗ như mặt người sau cơn lên thủy đậu nặng.
Chả riêng gì trang Ðàn Chim Việt Online (DCVOnline - phải xác định rõ để khác với một trang mạng cũng có tên tương tự, nhưng với cái đuôi khác) mà cả đến vài trang khác cũng không thoát khỏi trò vặt vãnh này. Có trang chỉ ấp lốt toàn truyện, tạp bút, thế mà cũng bị giập không thua các trang lạm bàn chính trị.
Rồi cả dăm trang bên nhà, chập chờn như ma trơi, lúc đưa được bài lên, lúc bị cắt vứt đi, hoặc cả cái cảnh “mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm,” làm tôi thực sự điếc, chẳng biết ra sao nữa! Bình tâm suy xét, người viết nhận ra chỉ vì mấy ảnh sợ hão sợ huyền nên cấm tiệt và bẻ họng để “chúng”: không còn ngo ngoe đâm bị thóc, chọc bị gạo gì được nữa!
Mấy ảnh làm rất kỹ, tập trung mọi lực lượng, trang bị súng ống đến tận răng, vận dụng hết công cụ bên lề phải, dương dương tự đắc, coi như mình vô địch, anh hùng, tưởng là chắc ai làm, phá gì nổi. Thế mà suy cho cùng, mấy ảnh vẫn chưa gọi là được ăn no ngủ kỹ.
Trong đầu óc các anh lúc nào cũng có một con ma “diễn biến hòa bình,” một ông ngáo ộp âm mưu “lật đổ nhà nước” nên chẳng đêm nào ngủ mấy ảnh chẳng mơ bị bóng đè vì những hồn ma bóng quế đâu đâu. Ðối với các nhân vật mà mấy ảnh nghi ngờ là có thể được người ta tìm tới hỏi han, thăm viếng, rách việc thì mấy ảnh bố trí người canh chừng, ngăn cản.
Bất chấp là bạn hay thù, bất chấp hành xử ngoại giao đúng hay sai, các anh đập cho bò lê bò càng và sẵn sàng xốc quẳng lên xe, mời đi chơi chỗ khác, rồi sau sẽ hay. Cho nên mới xảy vụ một nhà ngoại giao thuộc TLS thù địch ngày trước và một ông nghị của chính phủ từng cho mấy ảnh tiền biếu không phải kêu ầm lên là mấy ảnh chơi luật giang hồ.
Ui! tôi ngộ ra là vì mấy ảnh SỢ, sợ thiệt sự. Bởi hành động của mấy ảnh là hành động thiếu chính đáng nên lúc nào mấy ảnh cũng ỚN, cũng RÉT, rét kinh niên. Ba hoa chích chòe giữa hội trường thì mấy ảnh ra cái điều mình kinh lắm, ai mà động vào sẽ bị nghiến thịt nát xương tan; thế mà suy cho cùng mấy ảnh sợ toàn những người tay không, số ít và lẻ loi.
Mấy ảnh sợ ai. Thì rõ ràng, mấy ảnh sợ những người từng một thời đã cùng đi chung với mấy ảnh nơi con đường bác đi (hay còn gọi là con đường bi đát), nay những người ấy nhìn ra thì nghỉ chơi với mấy ảnh. Cũng thêm vào là mấy ảnh sợ từ ông sư, nhà truyền đạo, vị linh mục ốm bệnh, đến những người phản kháng và kể cả đám dân đen (có người đã từng nuôi các ảnh, giấu dưới hầm, đóng góp công của cho mấy ảnh, đã từng là mẹ chiến sĩ anh hùng, đã từng là công bộc của mấy ảnh, đã từng là gia đình có công, vân vân và vân vân). Mấy ảnh sợ tuốt, sợ hết, sợ ráo nạo.
Mấy ảnh biết chặn gì thì cũng chẳng hơi sức đâu làm hoài, nên thôi thì để cái đại hội qua đi, bớt nghe lời điếc tai nhức óc, rồi sau khi “thành công vẻ vang” thì lại chịu thua cho chúng tung hoành. Mấy ảnh từng có chuyên viên hí hửng đã phá băng hàng trăm mạng vậy mà vẫn rét với một cô gái nhỏ nhoi. Bị vạch mặt chỉ tên, mấy ảnh chơi luật rừng đem nhốt và đưa tòa phang luôn cho một thời gian tù tội.
Bị dư luận khắp nơi mắng mỏ quá thì thả ra, với chiêu bài “cúi đầu nhận tội” và phạt tiền vì xuyên tạc không bằng chứng. Chung qui vì mấy ảnh “danh bất chính, hoạt bất minh” nên sợ từ đứa bé sợ đi. Cái Facebook ẩm ương chẳng ăn nhập gì đến đại sự cũng sợ, cắt, khép nhặng xị lên. Các booker vẫn chỉ nhau đi “loanh quanh cho đời mỏi mệt,” vượt phăng tường lửa rồi ngạo trêu mấy ảnh tức muốn lòi phèo.
Mười ngày đại hội rồi cũng xong. Các anh thở phào vì “hoàn thành sứ mạng.” Ðoàn hát đã có đủ vai, dù không mới mẻ gì, nhưng thay nhau nay làm dzua, mai làm tướng cướp, vẫn là đủ, xong và rốt ráo. Mấy bữa nay, quân ta lại xông pha ào ào, một tay, hai tay vung lên xem có chiều vui tở mở.
Khôi hài vô biên là vở tuồng vừa hạ màn thì nhao nhao hết khối này, ban bệ nọ gáy, ca tay kép vừa đóng vai dzua, vai chúa ỏm tỏi cả lên. Ðó là cái màn xưa như trái đất, nhưng xem ra mấy ảnh chẳng nghĩ được gì hơn, đành nhai lại, dù nó còn thua bản nhạc “ò e con ma đánh đu, tác giăng nhảy dzù, rô be bắn súng” của những gánh cải lương dùng làm nét kết thúc hạ màn.
Người viết tưởng rằng trang mạng nhà mình bị thiêu vì ngoan cố đăng bài của nhà văn Võ Thị Hảo nên khiến mấy ảnh sùng. Nhưng chẳng phải! Ðó là cách hành xử chung của mấy ảnh mỗi khi sắp có chiến dịch vậy thôi. Thế nên Ngố tôi mới cho rằng bên nhà bây giờ có lắm điều dzui là dzui quá ta, dzui dăm ngày ba bữa còn dzui.
Ấy là một phát minh mới của mấy ảnh mà Ngố tôi vừa nhận ra: cái gọi là tổ, khu phố, thôn, phường, v.v... văn hóa xem ra hết ăn khách, nay mấy ảnh chuyển sang gọi là văn minh đối phó, văn hóa che chắn, cho nó vừa thức thời, vừa hợp giai đoạn.
Một câu ngắn gọn: mấy ảnh đang mang NỖI SỢ sâu trong người, nên nhìn đâu cũng thấy toàn là địch vây quanh!
Kinh tế học của nghề cướp biển
Trần Vinh Dự
(Nguồn: VOA) Theo VNExpress đưa tin cuối tuần trước, hải tặc Somalia được cho là đã bắt giữ một tàu chở hàng của Việt Nam cùng 24 thủy thủ hôm 17 tháng 1 vừa qua. Con tàu của Việt Nam mang tên Hoàng Sơn Sun phát tín hiệu kêu cứu và mất liên lạc sau đó. Chủ tàu xác nhận con tàu đã bị hải tặc tấn công. Trên tàu có 24 thủy thủ đều là người Việt Nam.
Một hải tặc Somalia đứng tán chuyện với giới vũ trang khác trên bãi biển Hobyo, hình chụp năm 2010.
Hobyo là một thành phố cảng hoang tàn, không trường học, không bệnh viện, không nguồn nước uống sạch,
nhưng lại là nguồn của mối đe dọa lớn cho hàng hải toàn cầu. (Hình: Roberto Schmidt/AFP/Getty Images) Ðây không phải là lần đầu tiên tàu chở hàng của Việt Nam bị hải tặc Somalia tấn công. Trước đây, ngày 15 tháng 3, 2009, tàu chở hàng Việt Nam M/V Diamond Falcon cũng bị hải tặc tấn công ở vịnh Aden (vùng biển giữa Nam Yemen và Bắc Somalia) nhưng thoát nạn nhờ tàu chiến TCG Giresun (F-491) của Thổ Nhĩ Kỳ và tàu chiến HDMS Absalon của Ðan Mạch can thiệp kịp thời.
Nghề cướp biển ở Somalia
Somalia trước đây vốn không nổi tiếng về nghề cướp biển. Nghề này chỉ dần dần trở nên thịnh hành kể từ khi chính quyền Siad Barre bị lật đổ vào tháng 1, 1991. Lý do là các cuộc nội chiến triền miên sau đó đã khiến kinh tế Somalia lâm vào tình trạng khốn cùng với thu nhập bình quân đầu người hiện nay chưa tới US$600. Thêm vào đó, do không còn lực lượng tuần dương, vùng biển giàu có của Somalia dần dần trở thành bãi đánh bắt trộm của các tàu cá nước ngoài và bãi đổ chất thải độc hại của các tập đoàn công nghiệp nước ngoài.
Theo một báo cáo do Bộ Phát Triển Quốc Tế (DFID) của Anh công bố năm 2005, thì chỉ trong vòng 2 năm 2003 và 2004, Somalia đã mất khoảng US$100 triệu doanh thu do việc các tàu cá nước ngoài xâm nhập vào hải phận của nước này để đánh bắt trộm cá thu và tôm.
Sinh kế bị cướp mất kèm theo nỗi căm phẫn vì bị nước ngoài bóc lột đã đẩy nhiều người Somalia vào chỗ trở thành cướp biển. Nghề này đã thực sự đem lại thu nhập và sinh kế cho nhiều người. Theo thông tin từ nhiều nguồn, đối với đại bộ phận dân Somalia (70%), cướp biển được coi là một nghề đáng nể trọng. Họ “ủng hộ mạnh mẽ nghề cướp biển như là một cách để bảo vệ chủ quyền quốc gia trong vùng lãnh hải của họ”, và những kẻ cướp biển này tin rằng họ đang bảo vệ vùng đặc quyền đánh bắt của mình và đem lại công lý cũng như đền bù cho các nguồn tài nguyên hải dương đã bị nước ngoài lấy mất.
Trên thực tế thì giữa một cộng đồng dân cư nghèo đói, theo cách nói của Abhi Farah Juha, một người Somalia sống gần biển, trên BBC thì “những kẻ cướp biển có tiền, họ có quyền lực, họ ngày càng mạnh lên [...]Họ cưới những cô gái đẹp nhất, họ xây những ngôi nhà lớn nhất, mua xe hơi và súng ống hiện đại.” Và điều này là một hấp lực ghê gớm đối với các thanh niên thất nghiệp của Somalia.
Theo bài báo trên của VNExpress, hiện có 30 tàu và hơn 700 thủy thủ bị bắt giữ làm con tin ở Somalia. Thiệt hại mà nghề cướp biển, chủ yếu ở vùng biển gần Somalia, gây ra cho thế giới là vào khoảng US$12 tỷ mỗi năm, theo One Earth Future Foundation.
Tại sao không kiểm soát được?
Có một thực tế từ vài năm gần đây, các lực lượng hải quân của nhiều nước như Nga, Trung Quốc, Ấn Ðộ, Liên Minh Châu Âu, Nhật Bản, Canada và cả Mỹ đã thường xuyên tham gia bảo đảm an ninh trong các vùng biển này nhưng có vẻ như tình hình cướp biển không giảm đi mà còn có diễn biến ngày càng phức tạp. Trong một cuộc trao đổi với Ðại Tá Jeff Breslau, phát ngôn viên của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ, hồi cuối năm ngoái, tôi được ông cho biết lý do từ phía một quan chức hải quân. Theo Jeff, không thể phân biệt được một tàu đánh cá thông thường với một tàu cướp biển. Các lực lượng hải quân chỉ được biết khi được các tàu nạn nhân phát tín hiệu cấp cứu, và việc này thường chỉ xảy ra khi cướp biển đã tấn công. Khi đó, vấn đề khó khăn tiếp theo của các tàu hải quân là không thể nổ súng vì thường cướp biển sẽ nhanh chóng bắt giữ được con tin.
Trong một số trường hợp, các tàu hải quân nước ngoài cũng phát hiện được các đối tượng tình nghi là cướp biển và truy đuổi chúng. Tuy nhiên, đa số họ không được quyền đi vào vùng lãnh hải của Somalia, vì thế họ chỉ có thể đuổi bắt cướp biển trong hải phận quốc tế. Thêm nữa, trong một số trường hợp thí dụ như tàu hải quân Hà Lan De Zeven Provincien hồi tháng 4 năm 2009 đã bắt được 7 tên cướp biển Somalia trong vụ cướp tàu chở dầu Handytankers Magic nhưng sau đó đã phải thả nhóm cướp này vì không có thẩm quyền pháp lý để bắt giữ.
Tệ hại hơn, đã có một vụ trong đó cướp biển bị hải quân của Liên Minh Châu Âu bắt giữ ở vùng Vịnh Aden hồi tháng 1 năm 2009, bị đưa về Châu Âu xét xử ở tòa án Hà Lan vào tháng 5, 2010 và bị kết án tù 5 năm. Sau khi ra tù ít có khả năng là nhóm này bị trục xuất trở lại Somalia vì nước này được coi là nơi quá nguy hiểm để trục xuất. Vì thế có lẽ họ sẽ được ở lại Châu Âu (trên thực tế một người đã nộp đơn xin tỵ nạn lại ở Hà Lan). Việc giơ cao đánh khẽ khiến nhiều người lo ngại rằng nó không làm cướp biển e ngại, mà thậm chí còn khuyến khích cướp biển hành động ngang tàng hơn.
Bản thân chính quyền đương nhiệm của Somalia thì không có năng lực để kiểm soát hoạt động cướp biển, và cũng không có nhiều động cơ để thực hiện việc này.
Chi phí thuộc về ai?
Như đã nói ở trên, tổn hại về kinh tế do cướp biển gây ra cho thế giới là nhiều tỷ USD mỗi năm. Chi phí này do ai gánh? Thông thường sau khi cưỡng chiếm được một con tàu, cướp biển sẽ đòi tiền chuộc. Sau khi nhận được tiền chuộc chúng sẽ trả lại tàu và thủy thủ đoàn. Các công ty vận tải quốc tế thường đã đóng bảo hiểm và được bảo hiểm trả cho các tổn thất dạng này. Vì vậy, họ cũng không muốn các lực lượng hải quân mạnh tay với cướp biển vì hậu quả của nó có thể dẫn tới những kết cục tai hại hơn.
Ðương nhiên cướp biển càng lộng hành thì chi phí bảo hiểm càng cao lên. Tuy vậy, các hãng tàu cũng có thể chuyển một phần chi phí này đến người tiêu dùng thông qua việc tăng cước vận chuyển. Nói tóm lại là khoản phí tổn mà cướp biển Somalia được chia đều cho người tiêu dùng ở khắp nơi trên thế giới.
Trần Vinh Dự
(Nguồn: VOA) Theo VNExpress đưa tin cuối tuần trước, hải tặc Somalia được cho là đã bắt giữ một tàu chở hàng của Việt Nam cùng 24 thủy thủ hôm 17 tháng 1 vừa qua. Con tàu của Việt Nam mang tên Hoàng Sơn Sun phát tín hiệu kêu cứu và mất liên lạc sau đó. Chủ tàu xác nhận con tàu đã bị hải tặc tấn công. Trên tàu có 24 thủy thủ đều là người Việt Nam.
Một hải tặc Somalia đứng tán chuyện với giới vũ trang khác trên bãi biển Hobyo, hình chụp năm 2010.
Hobyo là một thành phố cảng hoang tàn, không trường học, không bệnh viện, không nguồn nước uống sạch,
nhưng lại là nguồn của mối đe dọa lớn cho hàng hải toàn cầu. (Hình: Roberto Schmidt/AFP/Getty Images) Ðây không phải là lần đầu tiên tàu chở hàng của Việt Nam bị hải tặc Somalia tấn công. Trước đây, ngày 15 tháng 3, 2009, tàu chở hàng Việt Nam M/V Diamond Falcon cũng bị hải tặc tấn công ở vịnh Aden (vùng biển giữa Nam Yemen và Bắc Somalia) nhưng thoát nạn nhờ tàu chiến TCG Giresun (F-491) của Thổ Nhĩ Kỳ và tàu chiến HDMS Absalon của Ðan Mạch can thiệp kịp thời.
Nghề cướp biển ở Somalia
Somalia trước đây vốn không nổi tiếng về nghề cướp biển. Nghề này chỉ dần dần trở nên thịnh hành kể từ khi chính quyền Siad Barre bị lật đổ vào tháng 1, 1991. Lý do là các cuộc nội chiến triền miên sau đó đã khiến kinh tế Somalia lâm vào tình trạng khốn cùng với thu nhập bình quân đầu người hiện nay chưa tới US$600. Thêm vào đó, do không còn lực lượng tuần dương, vùng biển giàu có của Somalia dần dần trở thành bãi đánh bắt trộm của các tàu cá nước ngoài và bãi đổ chất thải độc hại của các tập đoàn công nghiệp nước ngoài.
Theo một báo cáo do Bộ Phát Triển Quốc Tế (DFID) của Anh công bố năm 2005, thì chỉ trong vòng 2 năm 2003 và 2004, Somalia đã mất khoảng US$100 triệu doanh thu do việc các tàu cá nước ngoài xâm nhập vào hải phận của nước này để đánh bắt trộm cá thu và tôm.
Sinh kế bị cướp mất kèm theo nỗi căm phẫn vì bị nước ngoài bóc lột đã đẩy nhiều người Somalia vào chỗ trở thành cướp biển. Nghề này đã thực sự đem lại thu nhập và sinh kế cho nhiều người. Theo thông tin từ nhiều nguồn, đối với đại bộ phận dân Somalia (70%), cướp biển được coi là một nghề đáng nể trọng. Họ “ủng hộ mạnh mẽ nghề cướp biển như là một cách để bảo vệ chủ quyền quốc gia trong vùng lãnh hải của họ”, và những kẻ cướp biển này tin rằng họ đang bảo vệ vùng đặc quyền đánh bắt của mình và đem lại công lý cũng như đền bù cho các nguồn tài nguyên hải dương đã bị nước ngoài lấy mất.
Trên thực tế thì giữa một cộng đồng dân cư nghèo đói, theo cách nói của Abhi Farah Juha, một người Somalia sống gần biển, trên BBC thì “những kẻ cướp biển có tiền, họ có quyền lực, họ ngày càng mạnh lên [...]Họ cưới những cô gái đẹp nhất, họ xây những ngôi nhà lớn nhất, mua xe hơi và súng ống hiện đại.” Và điều này là một hấp lực ghê gớm đối với các thanh niên thất nghiệp của Somalia.
Theo bài báo trên của VNExpress, hiện có 30 tàu và hơn 700 thủy thủ bị bắt giữ làm con tin ở Somalia. Thiệt hại mà nghề cướp biển, chủ yếu ở vùng biển gần Somalia, gây ra cho thế giới là vào khoảng US$12 tỷ mỗi năm, theo One Earth Future Foundation.
Tại sao không kiểm soát được?
Có một thực tế từ vài năm gần đây, các lực lượng hải quân của nhiều nước như Nga, Trung Quốc, Ấn Ðộ, Liên Minh Châu Âu, Nhật Bản, Canada và cả Mỹ đã thường xuyên tham gia bảo đảm an ninh trong các vùng biển này nhưng có vẻ như tình hình cướp biển không giảm đi mà còn có diễn biến ngày càng phức tạp. Trong một cuộc trao đổi với Ðại Tá Jeff Breslau, phát ngôn viên của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ, hồi cuối năm ngoái, tôi được ông cho biết lý do từ phía một quan chức hải quân. Theo Jeff, không thể phân biệt được một tàu đánh cá thông thường với một tàu cướp biển. Các lực lượng hải quân chỉ được biết khi được các tàu nạn nhân phát tín hiệu cấp cứu, và việc này thường chỉ xảy ra khi cướp biển đã tấn công. Khi đó, vấn đề khó khăn tiếp theo của các tàu hải quân là không thể nổ súng vì thường cướp biển sẽ nhanh chóng bắt giữ được con tin.
Trong một số trường hợp, các tàu hải quân nước ngoài cũng phát hiện được các đối tượng tình nghi là cướp biển và truy đuổi chúng. Tuy nhiên, đa số họ không được quyền đi vào vùng lãnh hải của Somalia, vì thế họ chỉ có thể đuổi bắt cướp biển trong hải phận quốc tế. Thêm nữa, trong một số trường hợp thí dụ như tàu hải quân Hà Lan De Zeven Provincien hồi tháng 4 năm 2009 đã bắt được 7 tên cướp biển Somalia trong vụ cướp tàu chở dầu Handytankers Magic nhưng sau đó đã phải thả nhóm cướp này vì không có thẩm quyền pháp lý để bắt giữ.
Tệ hại hơn, đã có một vụ trong đó cướp biển bị hải quân của Liên Minh Châu Âu bắt giữ ở vùng Vịnh Aden hồi tháng 1 năm 2009, bị đưa về Châu Âu xét xử ở tòa án Hà Lan vào tháng 5, 2010 và bị kết án tù 5 năm. Sau khi ra tù ít có khả năng là nhóm này bị trục xuất trở lại Somalia vì nước này được coi là nơi quá nguy hiểm để trục xuất. Vì thế có lẽ họ sẽ được ở lại Châu Âu (trên thực tế một người đã nộp đơn xin tỵ nạn lại ở Hà Lan). Việc giơ cao đánh khẽ khiến nhiều người lo ngại rằng nó không làm cướp biển e ngại, mà thậm chí còn khuyến khích cướp biển hành động ngang tàng hơn.
Bản thân chính quyền đương nhiệm của Somalia thì không có năng lực để kiểm soát hoạt động cướp biển, và cũng không có nhiều động cơ để thực hiện việc này.
Chi phí thuộc về ai?
Như đã nói ở trên, tổn hại về kinh tế do cướp biển gây ra cho thế giới là nhiều tỷ USD mỗi năm. Chi phí này do ai gánh? Thông thường sau khi cưỡng chiếm được một con tàu, cướp biển sẽ đòi tiền chuộc. Sau khi nhận được tiền chuộc chúng sẽ trả lại tàu và thủy thủ đoàn. Các công ty vận tải quốc tế thường đã đóng bảo hiểm và được bảo hiểm trả cho các tổn thất dạng này. Vì vậy, họ cũng không muốn các lực lượng hải quân mạnh tay với cướp biển vì hậu quả của nó có thể dẫn tới những kết cục tai hại hơn.
Ðương nhiên cướp biển càng lộng hành thì chi phí bảo hiểm càng cao lên. Tuy vậy, các hãng tàu cũng có thể chuyển một phần chi phí này đến người tiêu dùng thông qua việc tăng cước vận chuyển. Nói tóm lại là khoản phí tổn mà cướp biển Somalia được chia đều cho người tiêu dùng ở khắp nơi trên thế giới.
Trời muốn hại ai thì bắt người đó… làm báo
Nguyễn Xuân Nghĩa Trời muốn hại ai thì bắt người đó… làm báo. Đấy là một chân lý Việt Nam thời hiện đại.
Làm báo trong nước thì cứ phải lách giữa hai lề, và với nhiều người tử tế thì “giữ lấy lề” là một bài toán để lương tâm khỏi rách. Làm báo ở hải ngoại thì cứ hoa mắt hàng ngày xem giữa ngàn tin nên chọn tin nào – do ai đưa ra và ai phiên dịch, với dụng ý gì – để làm tròn nhiệm vụ thông tin. Nhiệm vụ có tròn mà kinh tế sa sút và quảng cáo không vào thì tròn cũng thành méo.
Người làm báo còn có cái nghiệp là xem lịch trước ngày. Khi thiên hạ đọc báo hôm nay thì mình đã phải xem ngày mai hay tuần tới chuyện gì mới là nóng! Người ta ăn Tết Tây thì mình đã lo Tết Ta, đến khi pháo nổ lậu ròn rã thì đã phải cho người chuẩn bị ngày… Valentine.
Làm báo đã khổ, viết báo còn khổ hơn. Viết về cái gì, cho ai đọc, với kết quả hay hậu quả ra sao?
Minh diễn chuyện đó là tình hình Ai Cập – Làm Ai Run Lập Cập….
Năm Quý Mão 1963, việc Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu tại một ngã tư ở Sàigon là biến cố báo hiệu nhiều thay đổi tại Việt Nam mà những người chứng kiến hay tường thuật việc đó thật ra cũng chẳng biết bao nhiêu. Người mong muốn thay đổi vì lý do chính đáng đã bị hoa mắt vì sự thay đổi dẫn tới những điều còn tệ hơn, cho đến cao điểm là năm Ất Mão 1975. Nói lại thành nhàm, nhưng nhắc lại vẫn không thừa!
Chuyện Ai Cập cũng vậy. Mà còn tệ hơn vậy.
Có khi là một tái diễn của biến cố Kỷ Mùi 1979, khi Mỹ hy sinh một đồng minh là Quốc vương Iran để lãnh một kẻ thù là chế độ Hồi giáo cực đoan tại Tehran. Hoặc khi Mỹ yểm trợ phong trào kháng chiến A Phú Hãn cho Liên Xô suy yếu hóa ra lại nuôi ong tay áo là hạt nhân của lực lượng Al Qaeda, tác giả vụ khủng bố 9-11. Hoặc khi Mỹ đuổi đồng minh Đài Loan ra khỏi Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc để rước Trung Quốc vào với lá phiếu có khả năng phủ quyết – và thường xuyên chống Mỹ. Henry Kissinger là doanh gia có tài nhờ chuyện buôn bán với Trung Quốc sau này, chứ là chiến lược gia cho Mỹ thì thuộc hạng bét!
Nhớ lại thì trong các đồng minh của Hoa Kỳ, Vương quốc Iran của triều Pahlavi không hề xin tiền viện trợ của Mỹ mà nhờ dầu hỏa còn nuôi được nhiều chính khách Mỹ. Vậy mà vẫn bị Mỹ lật! Và Carter dọn cỗ cho các Giáo chủ cực đoan chống Mỹ vào Tehran.
Trong các đồng minh của Mỹ, Ai Cập là quốc gia nhận được nhiều viện trợ nhất, vì trấn giữ một khu vực hiểm yếu nhất cho quyền lợi Hoa Kỳ. Vậy mà vẫn bị Mỹ lật!…
Trong khung cảnh đó, truyền thông không phải là vô can, có khi có tội mà không biết!
Năm 1989, lần đầu tiên sau nhiều năm gián đoạn, Tổng bí thư Michael Gorbachev thăm viếng Bắc Kinh. Biến cố đáng chú ý mà bị chìm trong một sự kiện khác. Hồ Diệu Bang tạ thế và nhân tang lễ của ông, một số đảng viên và quần chúng Trung Quốc muốn nêu vấn đề khác: lạm phát và tham nhũng trong đảng là những điều khó chấp nhận.
Họ để tang và tổ chức biểu tình, trước ống kính của truyền thông quốc tế – nỏ mồm nhất là của Mỹ, dại dột nhất là CNN – được tung qua để tường thuật chuyến đi của Gorbachev. Truyền thông Mỹ qua đó theo dõi hiệu ứng “perestroika” và “glasnost” tại Liên Xô trong tư duy của lãnh đạo Bắc Kinh, của cha đẻ việc cải cách là Đặng Tiểu Bình.
Họ Đặng nín thinh trước vụ biểu tình dù biết là có nhiều đảng viên cao cấp yểm trợ đằng sau. Vì phải đón tiếp Gorbachev và không tỏ ra tang gia bối rối… trước truyền hình quốc tế. Sự im lặng đó là nguồn cổ võ cho đám biểu tình. Truyền thông Mỹ làm nốt phần vụ còn lại: trình bày vụ biểu tình như biểu hiện của phong trào dân chủ. Thanh niên Trung Quốc xuống đường bỗng được choàng lên cổ vòng hoa lãnh đạo phong trào. Tượng “Nữ thần Tự do” với ấn bản Made in China dị hợm bỗng xuất hiện.
Gorbachev ra về và Đặng Tiểu Bình đi gặp lãnh đạo quân đội và thanh lý môn hộ bên trong rồi, bắt đầu quay ra phũ tay tồi tàn! Cả ngàn người chết khi truyền thông bị tắt đèn. Trung Quốc ngồi lên phong trào dân chủ và các lãnh tụ của phong trào đều bị tóm gọn. Từ biến cố đó, Bắc Kinh càng thủ rất chặt.
Tổng Bí thư Triệu Tử Dương mất chức và vào tù, các đồng chí đều tan nát sự nghiệp – trừ một kẻ khôn là Ôn Gia Bảo, ông ta xoay đúng lúc và nay là Thủ tướng! Tầng lớp thanh niên trí thức ước mơ dân chủ bị diệt và phải lưu vong. Một thế hệ khác đã trưởng thành: “không chơi dại mà đi làm cách mạng!” Họ trở thành đảng viên và doanh gia. Trong khi ấy, Hoa Kỳ coi chuyện Thiên an môn là không chấp nhận được, rồi cũng nhận mà không chấp, tiếp tục làm ăn buôn bán như xưa.
Những nhắc nhở ấy cho thấy trách nhiệm rất lớn của truyền thông khi đem mộng mị vào việc tường thuật và bình nghị về biến cố ma quỷ với sự vô minh phổ biến.
Như về chuyện Ai Cập, ba ngày sau khi bênh vực chế độ Hosni Mubarak, Nghị sĩ John Kerry đổi giọng. Dễ hiểu vì là chính khách, dù có là nhân vật thế giá của đảng Dân Chủ trong Thượng viện về đối ngoại thì cũng chỉ là chính khách. Bỏ qua cũng được. Nhưng khi phát ngôn viên Robert Gibbs của Tòa Bạch Cung lên tiếng rằng trong chính quyền mới của Ai Cập, phải có những đại biểu nằm ngoài dòng chính trị “thế quyền”, tức là phải có sự tham gia của xu hướng thần quyền và ôn hòa, chúng ta thấy hãi.
Với tư cách gì mà một viên chức Mỹ lại nói về cấu trúc chính trị của xứ khác khi tình hình đang ngùn ngụt? Hoa Kỳ có bị đả kích là đế quốc thì cũng không sai khi để xảy ra chuyện thối mồm chõ mõm vào xứ khác trong phút dầu sôi lửa bỏng.
Vì thật ra, Hoa Thịnh Đốn đã gửi đặc sứ qua Cairo để nói ra điều mình muốn. Trước đó, Hoa Kỳ cũng vừa tiếp Tham mưu trưởng Quân lực Ai Cập trong năm ngày, từ 24 đến 28, Tướng Sami Annan trở về thì cũng có thể nói ra quan điểm của Mỹ với Mubarak, tân Phó Tổng thống Omar Suleiman hay các khuôn mặt đối lập cả đạo lẫn đời. Nếu có sẵn kịch bản thì đây là lúc thi hành.
Nhưng vì sao Robert Gibss lại công khai nói thêm chuyện ấy? Chạy tội, trấn an hay xỏ mũi công chúng biểu tình?
Nhưng hãi hùng nhất là lời phát biểu trước truyền hình của Tổng thống Barack Obama, về việc Hosni Mubarack phải ra đi. Ông Obama là người ở vào vị trí tối cao của Hoa Kỳ, chứ không là Nghị sĩ John Kerry hay John McCain hay bất cứ ai khác. Vì sao lại trực tiếp xen vào chuyện đó?
Trong 30 năm độc tài của Mubarak, nước Mỹ có ba chục năm để nêu vấn đề khi bàn tính hàng năm về viện trợ. Mà cứ lặng thinh, cho tới lúc dầu sôi lửa bỏng thì mới châm thêm thùng dầu. Một nguồn cổ võ “phải đạo” cho phong trào dân chủ?
Người ta cứ tưởng là từ vụ Ất Mão 1963 tại Việt Nam đến nay, Hoa Kỳ học thêm kinh nghiệm xử trí với các đồng minh. Thật ra, mỗi đời tổng thống lại là một lần học bài… lại.
Ai Cập ngày nay đang gặp hai nguy cơ.
Thứ nhất là nạn đói vì xứ này thiếu gạo, phải nhập cảng và hải cảng lớn nhất Alexandria là mục tiêu “mềm” có thể bị tê liệt hoá. Mà tồn kho trong nước chỉ đủ cho bốn tuần tiêu thụ. Bất cứ ai nổi lửa “giải phóng” kho gạo để cứu đói sẽ gây nên trận đói làm chính quyền lâm thời bó tay hay tuột tay.
Nguy cơ thứ hai là lực lượng Huynh đệ Hồi giáo (Muslim Brotherhoos) có thế lực, bản lãnh và cán bộ. Họ kín đáo ngồi yên, có con gà vừa được Mỹ choàng cho vòng hoa cải cách dân chủ là giáo sư luật khoa Mohamed ElBaradei – nguyên Tổng giám đốc Nguyên tử lực cuộc – để nhảy vào vòng chiến. ElBaradei sống bên ngoài, không có đảng viên hay cơ sở và về cứu nước hoặc tranh cử thì phải trông cậy vào lực lượng khác! Huynh đệ Hồi giáo ngồi chờ…
Khi biến cố Tunisie xảy ra, chúng ta đều mong khối Á Rập Hồi giáo sẽ thoát khỏi gọng kìm oan nghiệt. Một bên là chế độ độc tài, quân phiệt tham nhũng. Bên kia là xu hướng thần quyền của các nhóm Hồi giáo cực đoan. Chuyện ấy có thể đang xảy ra như ta thấy sự lúng túng xoay trở của các chính quyền Hồi giáo tại Syria, Jordan, Yemen và cả Saudi Arabia…
Nhưng có khi cái xẩy lại nẩy cái ung nếu Hoa Kỳ không khéo xử trí.
Kinh nghiệm cách mạng dân chủ tại Serbia 2001, Georgia 2003, Ukraine 2004, Miến Điện 2007, Moldova 2009, Iran 2009, và cả Kyrgyzstan 2010 (nhằm đẩy lui cách mạng dân chủ 2005) cho thấy hạt mầm dân chủ dễ gieo mà không dễ mọc. Bây giờ lại thêm yếu tố tôn giáo trong khối Á Rập Hồi giáo thì ta càng nên thận trọng.
Nhớ lại chuyện xưa, xin ai ơi đừng hồ hởi sảng!
Quả như vậy, vì áp lực Hồi giáo quá khích, Hoa Kỳ đã dung dưỡng quá lâu ách độc tài của nhiều đồng minh. Khi hữu sự thì lại giương lá cờ dân chủ, thẳng tay vứt bỏ các đồng minh cũ. Cũng là điều tốt thôi. Nhưng xử trí không khéo thì lại vứt vỏ dưa gậm vỏ dừa. Và những người có nhiệt tình cho dân chủ lại bị hy sinh….
Jimmy Carter đạt thành tích ấy tại Iran năm 1979. Biến cố đó còn là nguồn cổ võ cho Al-Qaeda, thành hình nhờ sự yểm trợ cũng của Chính quyền Carter. Sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng hơn và tiếp nhận kinh nghiệm của người đi trước, Chính quyền Obama không nên tái diễn thành tích này.
Đó là chuyện Mỹ.
Còn lại, Huynh đệ Hồi giáo là những ai, Các Giáo chủ Iran hay lãnh tụ Syria tính gì, Bắc Kinh lập cập ra sao về chuyện Ai Cập thì… sang năm ta tính.
Xin hãy để bà con ăn Tết chứ!
Nguyễn Xuân Nghĩa Trời muốn hại ai thì bắt người đó… làm báo. Đấy là một chân lý Việt Nam thời hiện đại.
Làm báo trong nước thì cứ phải lách giữa hai lề, và với nhiều người tử tế thì “giữ lấy lề” là một bài toán để lương tâm khỏi rách. Làm báo ở hải ngoại thì cứ hoa mắt hàng ngày xem giữa ngàn tin nên chọn tin nào – do ai đưa ra và ai phiên dịch, với dụng ý gì – để làm tròn nhiệm vụ thông tin. Nhiệm vụ có tròn mà kinh tế sa sút và quảng cáo không vào thì tròn cũng thành méo.
Người làm báo còn có cái nghiệp là xem lịch trước ngày. Khi thiên hạ đọc báo hôm nay thì mình đã phải xem ngày mai hay tuần tới chuyện gì mới là nóng! Người ta ăn Tết Tây thì mình đã lo Tết Ta, đến khi pháo nổ lậu ròn rã thì đã phải cho người chuẩn bị ngày… Valentine.
Làm báo đã khổ, viết báo còn khổ hơn. Viết về cái gì, cho ai đọc, với kết quả hay hậu quả ra sao?
Minh diễn chuyện đó là tình hình Ai Cập – Làm Ai Run Lập Cập….
Năm Quý Mão 1963, việc Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu tại một ngã tư ở Sàigon là biến cố báo hiệu nhiều thay đổi tại Việt Nam mà những người chứng kiến hay tường thuật việc đó thật ra cũng chẳng biết bao nhiêu. Người mong muốn thay đổi vì lý do chính đáng đã bị hoa mắt vì sự thay đổi dẫn tới những điều còn tệ hơn, cho đến cao điểm là năm Ất Mão 1975. Nói lại thành nhàm, nhưng nhắc lại vẫn không thừa!
Chuyện Ai Cập cũng vậy. Mà còn tệ hơn vậy.
Có khi là một tái diễn của biến cố Kỷ Mùi 1979, khi Mỹ hy sinh một đồng minh là Quốc vương Iran để lãnh một kẻ thù là chế độ Hồi giáo cực đoan tại Tehran. Hoặc khi Mỹ yểm trợ phong trào kháng chiến A Phú Hãn cho Liên Xô suy yếu hóa ra lại nuôi ong tay áo là hạt nhân của lực lượng Al Qaeda, tác giả vụ khủng bố 9-11. Hoặc khi Mỹ đuổi đồng minh Đài Loan ra khỏi Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc để rước Trung Quốc vào với lá phiếu có khả năng phủ quyết – và thường xuyên chống Mỹ. Henry Kissinger là doanh gia có tài nhờ chuyện buôn bán với Trung Quốc sau này, chứ là chiến lược gia cho Mỹ thì thuộc hạng bét!
Nhớ lại thì trong các đồng minh của Hoa Kỳ, Vương quốc Iran của triều Pahlavi không hề xin tiền viện trợ của Mỹ mà nhờ dầu hỏa còn nuôi được nhiều chính khách Mỹ. Vậy mà vẫn bị Mỹ lật! Và Carter dọn cỗ cho các Giáo chủ cực đoan chống Mỹ vào Tehran.
Trong các đồng minh của Mỹ, Ai Cập là quốc gia nhận được nhiều viện trợ nhất, vì trấn giữ một khu vực hiểm yếu nhất cho quyền lợi Hoa Kỳ. Vậy mà vẫn bị Mỹ lật!…
Trong khung cảnh đó, truyền thông không phải là vô can, có khi có tội mà không biết!
Năm 1989, lần đầu tiên sau nhiều năm gián đoạn, Tổng bí thư Michael Gorbachev thăm viếng Bắc Kinh. Biến cố đáng chú ý mà bị chìm trong một sự kiện khác. Hồ Diệu Bang tạ thế và nhân tang lễ của ông, một số đảng viên và quần chúng Trung Quốc muốn nêu vấn đề khác: lạm phát và tham nhũng trong đảng là những điều khó chấp nhận.
Họ để tang và tổ chức biểu tình, trước ống kính của truyền thông quốc tế – nỏ mồm nhất là của Mỹ, dại dột nhất là CNN – được tung qua để tường thuật chuyến đi của Gorbachev. Truyền thông Mỹ qua đó theo dõi hiệu ứng “perestroika” và “glasnost” tại Liên Xô trong tư duy của lãnh đạo Bắc Kinh, của cha đẻ việc cải cách là Đặng Tiểu Bình.
Họ Đặng nín thinh trước vụ biểu tình dù biết là có nhiều đảng viên cao cấp yểm trợ đằng sau. Vì phải đón tiếp Gorbachev và không tỏ ra tang gia bối rối… trước truyền hình quốc tế. Sự im lặng đó là nguồn cổ võ cho đám biểu tình. Truyền thông Mỹ làm nốt phần vụ còn lại: trình bày vụ biểu tình như biểu hiện của phong trào dân chủ. Thanh niên Trung Quốc xuống đường bỗng được choàng lên cổ vòng hoa lãnh đạo phong trào. Tượng “Nữ thần Tự do” với ấn bản Made in China dị hợm bỗng xuất hiện.
Gorbachev ra về và Đặng Tiểu Bình đi gặp lãnh đạo quân đội và thanh lý môn hộ bên trong rồi, bắt đầu quay ra phũ tay tồi tàn! Cả ngàn người chết khi truyền thông bị tắt đèn. Trung Quốc ngồi lên phong trào dân chủ và các lãnh tụ của phong trào đều bị tóm gọn. Từ biến cố đó, Bắc Kinh càng thủ rất chặt.
Tổng Bí thư Triệu Tử Dương mất chức và vào tù, các đồng chí đều tan nát sự nghiệp – trừ một kẻ khôn là Ôn Gia Bảo, ông ta xoay đúng lúc và nay là Thủ tướng! Tầng lớp thanh niên trí thức ước mơ dân chủ bị diệt và phải lưu vong. Một thế hệ khác đã trưởng thành: “không chơi dại mà đi làm cách mạng!” Họ trở thành đảng viên và doanh gia. Trong khi ấy, Hoa Kỳ coi chuyện Thiên an môn là không chấp nhận được, rồi cũng nhận mà không chấp, tiếp tục làm ăn buôn bán như xưa.
Những nhắc nhở ấy cho thấy trách nhiệm rất lớn của truyền thông khi đem mộng mị vào việc tường thuật và bình nghị về biến cố ma quỷ với sự vô minh phổ biến.
Như về chuyện Ai Cập, ba ngày sau khi bênh vực chế độ Hosni Mubarak, Nghị sĩ John Kerry đổi giọng. Dễ hiểu vì là chính khách, dù có là nhân vật thế giá của đảng Dân Chủ trong Thượng viện về đối ngoại thì cũng chỉ là chính khách. Bỏ qua cũng được. Nhưng khi phát ngôn viên Robert Gibbs của Tòa Bạch Cung lên tiếng rằng trong chính quyền mới của Ai Cập, phải có những đại biểu nằm ngoài dòng chính trị “thế quyền”, tức là phải có sự tham gia của xu hướng thần quyền và ôn hòa, chúng ta thấy hãi.
Với tư cách gì mà một viên chức Mỹ lại nói về cấu trúc chính trị của xứ khác khi tình hình đang ngùn ngụt? Hoa Kỳ có bị đả kích là đế quốc thì cũng không sai khi để xảy ra chuyện thối mồm chõ mõm vào xứ khác trong phút dầu sôi lửa bỏng.
Vì thật ra, Hoa Thịnh Đốn đã gửi đặc sứ qua Cairo để nói ra điều mình muốn. Trước đó, Hoa Kỳ cũng vừa tiếp Tham mưu trưởng Quân lực Ai Cập trong năm ngày, từ 24 đến 28, Tướng Sami Annan trở về thì cũng có thể nói ra quan điểm của Mỹ với Mubarak, tân Phó Tổng thống Omar Suleiman hay các khuôn mặt đối lập cả đạo lẫn đời. Nếu có sẵn kịch bản thì đây là lúc thi hành.
Nhưng vì sao Robert Gibss lại công khai nói thêm chuyện ấy? Chạy tội, trấn an hay xỏ mũi công chúng biểu tình?
Nhưng hãi hùng nhất là lời phát biểu trước truyền hình của Tổng thống Barack Obama, về việc Hosni Mubarack phải ra đi. Ông Obama là người ở vào vị trí tối cao của Hoa Kỳ, chứ không là Nghị sĩ John Kerry hay John McCain hay bất cứ ai khác. Vì sao lại trực tiếp xen vào chuyện đó?
Trong 30 năm độc tài của Mubarak, nước Mỹ có ba chục năm để nêu vấn đề khi bàn tính hàng năm về viện trợ. Mà cứ lặng thinh, cho tới lúc dầu sôi lửa bỏng thì mới châm thêm thùng dầu. Một nguồn cổ võ “phải đạo” cho phong trào dân chủ?
Người ta cứ tưởng là từ vụ Ất Mão 1963 tại Việt Nam đến nay, Hoa Kỳ học thêm kinh nghiệm xử trí với các đồng minh. Thật ra, mỗi đời tổng thống lại là một lần học bài… lại.
Ai Cập ngày nay đang gặp hai nguy cơ.
Thứ nhất là nạn đói vì xứ này thiếu gạo, phải nhập cảng và hải cảng lớn nhất Alexandria là mục tiêu “mềm” có thể bị tê liệt hoá. Mà tồn kho trong nước chỉ đủ cho bốn tuần tiêu thụ. Bất cứ ai nổi lửa “giải phóng” kho gạo để cứu đói sẽ gây nên trận đói làm chính quyền lâm thời bó tay hay tuột tay.
Nguy cơ thứ hai là lực lượng Huynh đệ Hồi giáo (Muslim Brotherhoos) có thế lực, bản lãnh và cán bộ. Họ kín đáo ngồi yên, có con gà vừa được Mỹ choàng cho vòng hoa cải cách dân chủ là giáo sư luật khoa Mohamed ElBaradei – nguyên Tổng giám đốc Nguyên tử lực cuộc – để nhảy vào vòng chiến. ElBaradei sống bên ngoài, không có đảng viên hay cơ sở và về cứu nước hoặc tranh cử thì phải trông cậy vào lực lượng khác! Huynh đệ Hồi giáo ngồi chờ…
Khi biến cố Tunisie xảy ra, chúng ta đều mong khối Á Rập Hồi giáo sẽ thoát khỏi gọng kìm oan nghiệt. Một bên là chế độ độc tài, quân phiệt tham nhũng. Bên kia là xu hướng thần quyền của các nhóm Hồi giáo cực đoan. Chuyện ấy có thể đang xảy ra như ta thấy sự lúng túng xoay trở của các chính quyền Hồi giáo tại Syria, Jordan, Yemen và cả Saudi Arabia…
Nhưng có khi cái xẩy lại nẩy cái ung nếu Hoa Kỳ không khéo xử trí.
Kinh nghiệm cách mạng dân chủ tại Serbia 2001, Georgia 2003, Ukraine 2004, Miến Điện 2007, Moldova 2009, Iran 2009, và cả Kyrgyzstan 2010 (nhằm đẩy lui cách mạng dân chủ 2005) cho thấy hạt mầm dân chủ dễ gieo mà không dễ mọc. Bây giờ lại thêm yếu tố tôn giáo trong khối Á Rập Hồi giáo thì ta càng nên thận trọng.
Nhớ lại chuyện xưa, xin ai ơi đừng hồ hởi sảng!
Quả như vậy, vì áp lực Hồi giáo quá khích, Hoa Kỳ đã dung dưỡng quá lâu ách độc tài của nhiều đồng minh. Khi hữu sự thì lại giương lá cờ dân chủ, thẳng tay vứt bỏ các đồng minh cũ. Cũng là điều tốt thôi. Nhưng xử trí không khéo thì lại vứt vỏ dưa gậm vỏ dừa. Và những người có nhiệt tình cho dân chủ lại bị hy sinh….
Jimmy Carter đạt thành tích ấy tại Iran năm 1979. Biến cố đó còn là nguồn cổ võ cho Al-Qaeda, thành hình nhờ sự yểm trợ cũng của Chính quyền Carter. Sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng hơn và tiếp nhận kinh nghiệm của người đi trước, Chính quyền Obama không nên tái diễn thành tích này.
Đó là chuyện Mỹ.
Còn lại, Huynh đệ Hồi giáo là những ai, Các Giáo chủ Iran hay lãnh tụ Syria tính gì, Bắc Kinh lập cập ra sao về chuyện Ai Cập thì… sang năm ta tính.
Xin hãy để bà con ăn Tết chứ!
Con Bướm
Giới thiệu của người dịch:
Tôi cho rằng câu chuyện dưới đây thực tế trong cuộc sống có xảy ra, và nó cũng hoàn toàn dựa trên một hiện tượng sinh học có thật.
Tác giả đã tìm ra mối liên hệ thú vị giữa hiện tượng ấy với cuộc sống của con người, nó trở thành một sự ẩn dụ hoàn hảo.
Câu chuyện chính là sự động viên đối với mỗi chúng ta: khi phải đối mặt với khó khăn, đừng nản lòng, đừng đầu hàng, đừng hoàn toàn ỷ lại vào một sự giúp đỡ nào cả mà phải tự đứng trên đôi chân của chính mình. Có như vậy thì con người ta mới trưởng thành được, để có lúc có thể dang đôi cánh và bay tới tương lai tốt đẹp hơn.
Nội dung:
Một người tìm thấy một cái kén bướm. Đến ngày nọ, một cái lỗ nhỏ xuất hiện. Anh ngồi chăm chú theo dõi con bướm trong vài giờ đồng hồ khi nó vùng vẫy tìm cách chui ra ngoài qua cái lỗ nhỏ đó.
Rồi dường như nó không có thêm một tiến triển nào nữa. Trông cứ như thể nó đã làm hết mức có thể rồi và không thể xoay xở gì thêm được.
Vì vậy, người đàn ông quyết định giúp con bướm. Anh lấy một cái kéo và cắt cái kén.
Khi ấy, con bướm dễ dàng thoát ra. Nhưng nó có một cái thân căng phồng và đôi cánh nhỏ bé, teo quắt.
Người đàn ông tiếp tục quan sát con bướm bởi vì anh mong đợi rằng, đến một lúc nào đấy, đôi cánh của con bướm sẽ to lên và dang rộng ra để có thể nâng được phần thân, trong khi cùng lúc ấy phần thân sẽ nhỏ đi.Chẳng có điều gì xảy ra cả!
Trong thực tế, con bướm dùng cả cuộc đời còn lại của nó bò loanh quanh với một cái thân căng phồng và những chiếc cánh nhăn nheo. Nó không bao giờ có thể bay được.
Người đàn ông, tốt bụng nhưng hấp tấp, đã không hiểu rằng chiếc kén chật hẹp và sự chật vật của con bướm để chui qua được cái lỗ nhỏ ấy chính là cái cách mà Tạo Hóa buộc chất lỏng trong thân con bướm chảy vào cánh để sẵn sàng cho nó cất cánh bay ngay khi nó thoát khỏi cái kén và giành được sự tự do.
Đôi khi, những cuộc đấu tranh chính xác là những gì chúng ta cần trong cuộc sống của mình.
Nếu Tạo Hóa cho phép chúng ta trải qua cuộc sống mà không có bất kỳ trở ngại nào thì điều đó sẽ làm chúng ta trở nên “tàn tật”.
Chúng ta sẽ không mạnh mẽ như đáng lẽ ra chúng ta đã có thể.
Chúng ta sẽ không thể bay cao!
Tôi cho rằng câu chuyện dưới đây thực tế trong cuộc sống có xảy ra, và nó cũng hoàn toàn dựa trên một hiện tượng sinh học có thật.
Tác giả đã tìm ra mối liên hệ thú vị giữa hiện tượng ấy với cuộc sống của con người, nó trở thành một sự ẩn dụ hoàn hảo.
Câu chuyện chính là sự động viên đối với mỗi chúng ta: khi phải đối mặt với khó khăn, đừng nản lòng, đừng đầu hàng, đừng hoàn toàn ỷ lại vào một sự giúp đỡ nào cả mà phải tự đứng trên đôi chân của chính mình. Có như vậy thì con người ta mới trưởng thành được, để có lúc có thể dang đôi cánh và bay tới tương lai tốt đẹp hơn.
Nội dung:
Một người tìm thấy một cái kén bướm. Đến ngày nọ, một cái lỗ nhỏ xuất hiện. Anh ngồi chăm chú theo dõi con bướm trong vài giờ đồng hồ khi nó vùng vẫy tìm cách chui ra ngoài qua cái lỗ nhỏ đó.
Rồi dường như nó không có thêm một tiến triển nào nữa. Trông cứ như thể nó đã làm hết mức có thể rồi và không thể xoay xở gì thêm được.
Vì vậy, người đàn ông quyết định giúp con bướm. Anh lấy một cái kéo và cắt cái kén.
Khi ấy, con bướm dễ dàng thoát ra. Nhưng nó có một cái thân căng phồng và đôi cánh nhỏ bé, teo quắt.
Người đàn ông tiếp tục quan sát con bướm bởi vì anh mong đợi rằng, đến một lúc nào đấy, đôi cánh của con bướm sẽ to lên và dang rộng ra để có thể nâng được phần thân, trong khi cùng lúc ấy phần thân sẽ nhỏ đi.Chẳng có điều gì xảy ra cả!
Trong thực tế, con bướm dùng cả cuộc đời còn lại của nó bò loanh quanh với một cái thân căng phồng và những chiếc cánh nhăn nheo. Nó không bao giờ có thể bay được.
Người đàn ông, tốt bụng nhưng hấp tấp, đã không hiểu rằng chiếc kén chật hẹp và sự chật vật của con bướm để chui qua được cái lỗ nhỏ ấy chính là cái cách mà Tạo Hóa buộc chất lỏng trong thân con bướm chảy vào cánh để sẵn sàng cho nó cất cánh bay ngay khi nó thoát khỏi cái kén và giành được sự tự do.
Đôi khi, những cuộc đấu tranh chính xác là những gì chúng ta cần trong cuộc sống của mình.
Nếu Tạo Hóa cho phép chúng ta trải qua cuộc sống mà không có bất kỳ trở ngại nào thì điều đó sẽ làm chúng ta trở nên “tàn tật”.
Chúng ta sẽ không mạnh mẽ như đáng lẽ ra chúng ta đã có thể.
Chúng ta sẽ không thể bay cao!

