Cà Phê...Vịt
Moderator: khieulong
Tình Bạn & Tình yêu
Tình bạn là khi bạn chơi với một người nhưng bạn lại thấy náo nhiệt chẳng kém gì một cuộc liên hoan.
Tình yêu là khi bạn đi dạo ở giữa phố đông người nhưng lại cảm thấy như chỉ có 2 người.
Tình bạn là khi ở cách xa, cuộc sống của bạn vẫn như khi người đó ở gần.
Tình yêu là khi ở cách xa, cuộc sống của bạn không hề như cũ, dù bạn vẫn "cảm thấy" người đó luôn bên bạn.
Tình bạn là khi bạn hy vọng người đó làm được những điều tốt nhất.
Tình yêu là khi bản thân bạn cố gắng mang đến cho người đó những điều tốt nhất.
Tình bạn là khi bạn "khẳng định" bạn sẽ cố gắng ở bên cạnh người đó khi người đó cần.
Tình yêu là khi bạn sẵn sàng bỏ tất cả để ở bên cạnh người đó.
Tình bạn có thể tồn tại dù không có tình yêu trong đó.
Nhưng tình yêu không thể tồn tại nếu không có tình bạn trong đó.
Tình yêu là khi bạn đi dạo ở giữa phố đông người nhưng lại cảm thấy như chỉ có 2 người.
Tình bạn là khi ở cách xa, cuộc sống của bạn vẫn như khi người đó ở gần.
Tình yêu là khi ở cách xa, cuộc sống của bạn không hề như cũ, dù bạn vẫn "cảm thấy" người đó luôn bên bạn.
Tình bạn là khi bạn hy vọng người đó làm được những điều tốt nhất.
Tình yêu là khi bản thân bạn cố gắng mang đến cho người đó những điều tốt nhất.
Tình bạn là khi bạn "khẳng định" bạn sẽ cố gắng ở bên cạnh người đó khi người đó cần.
Tình yêu là khi bạn sẵn sàng bỏ tất cả để ở bên cạnh người đó.
Tình bạn có thể tồn tại dù không có tình yêu trong đó.
Nhưng tình yêu không thể tồn tại nếu không có tình bạn trong đó.

Thăm Las Vegas ( thành-phố-tội-lỗi -Sin City)
Nguyễn Hưng Quốc
Một trong những kỷ niệm đáng nhớ trong lần đi Mỹ của tôi và Hoàng Ngọc-Tuấn trong tháng 12 vừa qua là chuyến đi thăm Las Vegas.
Thật ra, trong những lần đi Mỹ trước đây, đã có một số người hoặc gợi ý hoặc rủ rê tôi đi Las Vegas. Nhưng tôi từ chối. Một phần, tôi thích dành nhiều, nếu không muốn nói là toàn bộ thời gian của chuyến đi cho bạn bè hoặc người thân, những người lâu lâu tôi mới được gặp; phần khác, quan trọng hơn, với tôi, cái thành-phố-tội-lỗi (Sin City) với những sòng bài trùng trùng điệp điệp ấy, thú thực, chẳng gợi lên chút hấp dẫn nào cả.
Lần này, tôi đi, cũng lại vì bạn: Hoàng Đình Bình rủ. Hoàng Đình Bình là bạn mới của tôi nhưng lại là bạn cũ của Hoàng Ngọc-Tuấn từ thuở còn là học trò ở Nha Trang. Cả hai đều là nhạc sĩ. Cả hai đều có khiếu hài hước. Khi họ gặp nhau, hầu như chỉ nghe tiếng cười. Chuyến đi ba, bốn giờ từ Los Angeles đến Las Vegas, do đó, dường như ngắn lại.
Đến Las Vegas, tôi mới biết cái ấn tượng cho đó chỉ là một sòng bài vĩ đại là hoàn toàn sai.
Las Vegas không chỉ có bài bạc. Las Vegas, thành phố nhỏ xíu với hơn nửa triệu cư dân ấy, là cả một trung tâm du lịch thuộc loại lớn nhất thế giới với gần 40 triệu du khách nườm nượp kéo đến mỗi năm (xin so sánh: mỗi năm cả nước Việt Nam chỉ đón có khoảng 3,4 triệu du khách!). Để phục vụ cho lượng du khách khổng lồ như thế, Las Vegas đã phát triển một hệ thống khách sạn không thể chê vào đâu được: Theo thống kê gần đây, 17 trong số 20 khách sạn lớn nhất nước Mỹ đều nằm ở Las Vegas. Khách sạn nào cũng lớn, đẹp và cực sang.
Las Vegas còn là cả một thế giới thu nhỏ: mỗi một khách sạn lớn là một kiến trúc và là một di sản nghệ thuật khác hẳn nhau; cái này thì đặc Mỹ, cái kia thì đặc Pháp, cái nọ thì đặc Ý hoặc Ai Cập. Bước vào khách sạn Bellagio và Caesars Palace ngỡ như đi lạc đến Ý; vào khách sạn Luxor như lạc đến Ai Cập; và vào khách sạn Paris, tôi có cảm giác ngỡ ngàng như trở lại thành phố mà tôi đã ở 5,6 năm trước khi dời sang Úc. Và còn du khách nữa. Du khách đến từ khắp nơi, đủ mọi chủng tộc và mọi nền văn hóa.
Las Vegas là một trung tâm nghệ thuật: kiến trúc tuyệt hảo, đã đành; nó cũng có vô số tác phẩm nghệ thuật, và đặc biệt, vô số các ban nhạc, đoàn kịch và đoàn xiếc nổi tiếng và xuất sắc.
Nhưng với tôi, quan trọng hơn hết, Las Vegas còn là hình ảnh tiêu biểu của Mỹ.
Tiêu biểu ít nhất ở hai khía cạnh: chủ nghĩa tiêu thụ (consumerism) và tính chất ảo (virtuality).
Người ta đến Las Vegas chủ yếu là để tiêu tiền. Ngay cả những người có máu mê cờ bạc, đến với ước mơ kiếm tiền, thật ra, cũng chỉ để tiêu tiền. Cả thành phố được kiến trúc để người ta an tâm tiêu thật nhiều tiền. Trên đường đi, hàng quán nối hàng quán; vào khu đánh bài, sòng này nối sòng kia. Mà khu đánh bài thì thường nằm ngay trước phòng tiếp tân của khách sạn. Bước vào cửa khách sạn là thấy sòng bài. Tất cả đều mở cửa 24/24. Đói bụng ư? Thì có vô số tiệm ăn và quán nước ở ngay bên cạnh. Muốn hút thuốc lá ư? Thì cứ tự nhiên bật quẹt. Trước mỗi máy kéo, tôi đều thấy có một, hai cái gạt tàn để sẵn. Chung quanh, chẳng có ai phàn nàn cả. Hầu như ai cũng bận bịu với giấc mơ kiếm tiền và thực tế tiêu tiền của họ. Những người phục vụ bao giờ cũng tỏ ra lịch sự và lễ độ với mọi người. Chính sự lịch sự và lễ độ ấy biến những kẻ tiêu tiền có cảm giác mình được tôn trọng: với cảm giác ấy, từ trong vô thức, người ta xem việc tiêu pha như một yếu tố chính khẳng định bản sắc của mình: “Tôi tiêu xài, vậy tôi hiện hữu” (I consume, therefore, I am). Có cảm giác như càng vung tay tiêu xài bao nhiêu, tầm vóc của mình càng lớn lên bấy nhiêu. Tôi không dừng lâu ở mấy sòng bài nên không nhìn thấy khuôn mặt của những người đã sạch túi như thế nào. Nhưng trên các lối đi, ngoài phố cũng như trong khách sạn và hàng quán, tôi thấy mặt mày ai cũng phơi phới. Khuôn mặt của những người đi du lịch và đang hưởng thụ. Tuy nhiên, dù không nhìn thấy những khuôn mặt nhàu nát vì tuyệt vọng và đau khổ, tôi cũng biết được, theo các thông kê trên báo chí, Las Vegas là nơi có tỉ lệ tự tử và bạo hành trong gia đình thuộc loại cao nhất nước Mỹ.
Đặc điểm thứ hai của tính chất điển hình của Mỹ ở Las Vegas là sự thống trị của cái ảo (virtuality). Cả Las Vegas hiện hình như một thế giới ảo. Ảo ở kiến trúc: hầu hết đều là bản sao của một công trình nổi tiếng nào đó. Ở đây, bạn có thể thấy tượng Nữ thần Tự Do sừng sững trước khách sạn New York New York; Khải hoàn môn và tháp Eiffel ở khách sạn Paris; kim tự tháp ở khách sạn Luxor. Ảo ở không gian: Đi trong khuôn viên các khách sạn, người ta dễ ngỡ như lạc vào một thế giới khác. Ở khách sạn New York New York là những khu phố nhỏ với những cầu thang lộ thiên (nằm hẳn phía ngoài) của Mỹ; ở khách sạn Paris, là những cột đèn và trụ buộc ngựa ven đường ngày xưa ở Pháp; ở các khách sạn được xây dựng theo phong cách của Ý là những cột đá tiêu biểu cho nền văn minh Roman cổ kính. Và ảo ở thời gian: trong khuôn viên các khách sạn ấy, thời gian như ngừng lại. Không thấy đồng hồ đâu cả. Ngày hay đêm, ánh sáng cũng đều không thay đổi. Ngước nhìn lên, bầu trời cũng không thay đổi. Có nơi, bầu trời lúc nào cũng rạng đông; nơi khác, xế chiều, lúc nào cũng êm ả.
Dĩ nhiên, tất cả đều có thật. Phố xá có thật. Nhà cửa có thật. Nhưng toàn bộ cả thế giới Las Vegas thì lại là ảo. Nó hiện hữu như một thế giới khác, khép kín và tách biệt hẳn với cái thế giới xô bồ và đầy những lo toan bên ngoài. Cái thế giới Las Vegas là thế giới của những cái thế vì (simulcra), nói theo chữ của Jean Baudrillard, được hình thành từ các quảng cáo và đặc biệt, từ hình ảnh, gắn liền với nền văn minh vật chất. Bước vào thế giới ấy, người ta cũng tự thấy mình đổi khác. Những ràng buộc và những cấm kỵ bình thường gần như bỏ lại phía sau. Người ta có thể tự buông thả theo mọi đam mê. Không ai quan tâm, phê phán hay cười cợt ai cả. Mỗi người là một tự do tuyệt đối cho đến lúc…
Lúc nào?
Lúc hết tiền!
Hoàng Đình Bình kể, lần đầu tiên anh đến Las Vegas cách đây khá lâu, buổi tối, đang đi dạo trong khu sòng bài, anh bỗng nghe tiếng chuông réo inh ỏi. Mọi người đổ dồn đến đó. Ở một máy kéo của hai người phụ nữ đã lớn tuổi, tiền đổ xuống như nước. Họ thắng lớn. Hai người nhảy cẫng lên vì sung sướng. Những người xúm lại xem cũng vui lây và đầy thèm thuồng.
Sáng hôm sau, ở bãi đậu xe, Bình gặp lại hai người phụ nữ ấy. Hoàn toàn không còn dấu vết gì của niềm vui sướng của đêm hôm trước. Mặt mày họ hốc hác và buồn thiu. Bước chân thất thểu như cất lên không nổi. Họ như già xụm xuống.
Bình đoán có lẽ toàn bộ số tiền thắng bài đêm hôm trước đã nướng hết sạch. ( VOA)

Xôi Sài-Gòn Người Sài Gòn rất chuộng xôi. Xôi sớm, xôi chiều, xôi tối, lúc nào cũng có người ăn. Đất Sài thành có một phố chuyên bán xôi và còn rất nhiều món xôi "đặc sản" khó tìm nơi khác
Xôi Sài Gòn có thể chia làm hai loại là xôi ngọt và xôi mặn. Xôi ngọt phổ biến nhất vẫn là xôi gấc, xôi cẩm (hay còn gọi là xôi tím), xôi nếp than, xôi đậu, xôi sầu riêng, xôi vò. Mỗi loại xôi lại có cách thêm hành phi, mỡ hành, dừa bào hay đường riêng
Xôi ngọt tại Sài Gòn thường có lớp đường phủ lên trên
Xôi mặn Sài Gòn
Người Sài Gòn cũng rất thích xôi gấc
Xôi sầu riêng có hương vị rất đặc biệt
Ví như ăn xôi đậu bao giờ cũng phết thêm một miếng đậu xanh nhuyễn vàng ươm, thêm một ít sợi dừa bào nhỏ, sau cùng là rắc lên một ít đường cát trắng phau.
Xôi cẩm là loại xôi có màu tím thủy chung. Ăn xôi tím phải có thêm mỡ hành và hành phi mới đúng vị. Người ta vẫn thường rưới mỡ hành và hành phi khi ăn các món mặn,nhưng riêng với một số món xôi ngọt như xôi cẩm lại phải kèm theo hai vị này mới ngon.
Cách ăn này quả thực chỉ phổ biến ở Sài Gòn vì người Sài Gòn ăn món ăn nào mà không có nước dường như đều phải có thêm ít mỡ hành beo béo mới đã. Các món xôi có nguồn gốc từ phía bắc như xôi cốm, xôi gấc cũng chễm chệ nằm trên các quầy hàng khắp các nẻo đường Sài Gòn. Vào đến trong Nam, hương vị của các món xôi này ít nhiều đã thay đổi. Vẫn là xôi với gạo nếp thơm lừng, khác chăng là hương vị ngọt hơn theo khẩu vị của người Nam.
Xôi ngọt thuần túy miền Nam thì phải kể đến xôi bắp. Bắp phải là bắp nếp, hầm với nước dừa, tạo thành món ăn nửa xôi nửa cháo
Hạt bắp hầm xong nở bung thật mềm, thậm chí hơi nhão, có màu trắng tươi, rắc thêm đậu xanh đánh cho tơi mịn, rồi lại thêm ít dừa nạo, muối mè. Ăn vào vừa ngọt vừa béo nhưng không ngấy lại ngon tuyệt.
Xôi ngọt Sài Gòn, đúng như tên gọi của nó, vị ngọt quyện với cái dẻo thơm của nếp, beo béo của dừa, đậu xanh xoay nhuyễn và mỡ hành, lại thêm ít hành phi thơm thơm giòn giòn tạo nên một hương vị riêng mà quen thuộc.
Ngoài ra còn có một món xôi ngọt khá đặc sắc nhưng không phổ biến bằng các món xôi ngọt như đã kể ở trên là món xôi xiêm. Xôi xiêm có nguồn gốc từ Thái Lan. Xôi Xiêm là sự tổng hợp từ các nguyên liệu từ gạo nếp Thái Lan, nước cốt dừa, sầu riêng, đường thốt nốt…
Việc chế biến Xôi xiêm không phức tạp nhưng lại cần có kinh nghiệm và sự khéo léo. Xôi hấp phải chín tới, dẻo, không nhão mà cũng không cứng, nước xốt có vị ngọt, ngậy mà không béo, thơm mát. Ở Sài Gòn xôi xiêm thường được bán ở khu người Hoa ( quận 5 ).
Xôi mặn thì phải kể đến xôi gà, xôi lạp xưởng, trứng cút, xá xíu, xôi chả, pa tê…Thường người ta sẽ để xôi gà sang một bên, còn xôi với lạp xưởng, chả, trứng cút, pa-tê sẽ gộp chung gọi là xôi mặn.
Xôi gà luộc-một món rất riêng
Xôi mặn thập cẩm
Xôi trứng lạp xưởng
Các món trên đều có thành phần chung là xôi nếp nấu dẻo thơm, mỡ hành beo béo với cọng hành xắt nhỏ còn nguyên màu xanh ươm dù đã qua lớp dầu nóng, thêm ít hành phi cho giòn thơm. Tùy theo nhu cầu và khẩu vị mà chọn các món ăn kèm như tôm khô, tôm chiên bột, lạp xưởng, trứng cút… Riêng với xôi gà thì cũng có nhiều cách để thưởng thức. Phổ biến nhất vẫn là xôi gà xé, vừa tiện lợi lại ngon, đó là đáp ứng cái nhu cầu nhanh, tiện lợi của người thành phố. Nơi mà sự bận rộn khiến người ta thích được làm sẵn.
Từng miếng gà được xé thành xợi nhỏ, khi ăn không phải động tay xé gà, chỉ việc thưởng thức vị ngon thức ăn đem lại. Gà xé có thể là gà luộc kỹ cho nước ngọt vào trong từng thớ thịt, cũng có thể là gà chiên giòn, có nơi lại chọn cách là dùng gà nướng.
Xôi Sài Gòn thường bán vào sáng hoặc chiều tối. Sáng thì các hàng xôi thường tụ tập trước cổng trường học, hoặc bán bên lề đường.
Trước trường nào cũng có ít nhất một gánh hàng xôi mà trên vỉa hè các con đường lớn nhỏ cũng không thể thiếu gánh xôi.
Xôi chiều thì phải kể đến đoạn đường Cao Thắng từ đầu đường đến ngã tư Điện Biên Phủ. Xe nào xe nấy đều được đầu tư kỹ lưỡng, để ba bốn xửng xôi cao, khói bốc nghi ngút. Chủ yếu là xôi ngọt với đủ màu sắc bắt mắt. Chỉ cần chạy xe ngang qua, nghe mùi thơm tản mác trong không khí thì khó có thể kìm lòng mà đi tiếp. Mỗi gói xôi ở đây có giá từ 5.000đ đến 10.000đ.
Góc đường Sương Nguyệt Ánh giao với Cách Mạng Tháng Tám cũng có một gánh hàng xôi gà, xôi bắp rất ngon chỉ bán buổi chiều.
Gánh hàng xôi đã xấp xỉ hai mươi năm. Trải qua bao thăng trầm cùng thời gian, cái son sắc một thời của cô bán hàng cũng vơi đi ít nhiều, nhưng hương vị gói xôi vẫn ngon như thuở nào. Xôi ở đây chỉ 7.000 đồng một gói, lại được gói trong lá chuối chứ không phải gói bằng giấy bóng như các nơi khác.
Sài Gòn cũng có một quán xôi nức tiếng từ xưa đến nay nằm ở
đường Bùi Thị Xuân. Đây được mệnh danh là quán xôi ngon nhất Sài Gòn với món xôi gà chiên, xôi lòng gà và xôi gấc nổi danh. Xôi ở đây
có độ nở vừa phải, lại dẻo thơm.
Xôi gấc có vị ngọt thanh mát tự nhiên lại thơm lừng. Người đến đây
ăn một lần chắc chắn sẽ có lần thứ hai, thứ ba. Quán tuy nhỏ nhưng có đội ngũ nhân viên đông đảo, lại nhiệt tình, dù đến ăn hay mang về đều không phải đợi lâu.
Văn hoá xôi ở Sài Gòn đa dạng vậy đó. Xôi luôn là món ăn vừa ngon, vừa no vừa tiện lợi chẳng kém bánh mì. Người Sài Gòn phóng khoáng, dễ tiếp nhận và xởi lởi. Gánh hàng xôi cũng theo đó mà trở nên phong phú, đa dạng hơn nhiều. Từ một món xôi dân dã bé nhỏ cũng phần nào đã khắc họa nên nét văn hóa riêng biệt của người dân chốn Sài Thành
Khiếu Nguyệt

Những chuyện thật ngắn nói về mẹ ***
Cắt móng tay cho mẹ, chợt nhận ra bàn tay mẹ toàn xương, những lóng tay khô như cọng rạ phơi mất tính hồi sinh.
Bàn tay ấy từng tắm rửa cho con, vỗ vào mông để con tròn giấc ngủ. Áo con lành nhờ bàn tay mẹ. Con đói lòng bàn tay mẹ đút miếng cơm nhai. Giờ hai bàn tay mẹ đã gầy như không còn cách nào gầy nữa. Mẹ cố xỏ sợi chỉ vào lỗ kim nhưng đầu sợi chỉ cứ đưa qua đưa lại không sao xỏ vào được.
Con thương mẹ vô cùng.
***
Tốt nghiệp đại học, ở lại thành phố đi làm. Tháng rồi, mẹ vào thăm. Mừng và thương.
Mẹ khen: “Bạn gái con xinh”.
Cuối tháng, lãnh lương, dẫn người thương đi shopping. Em bảo: “Mỹ phẩm của hãng này là
tốt nhất. Những loại rẻ tiền khác đều không nên dùng vì có hại cho da, giống mẹ anh đó, mẹ bị nám hết anh thấy không…”
Chợt giật mình. Mẹ cả đời lam lũ, nắng gió với cái ăn, nào đã biết phấn son tốt xấu màu sắc là gì.
***
Tôi mồ côi mẹ từ nhỏ. Hôm nay sau giờ giảng, tôi hát cho các em nghe… “Mẹ già như chuối chín cây, gió lay mẹ rụng con phải mồ côi…”
Tôi nói với các em: “ Chúng ta thật hạnh phúc khi được ở trong vòng tay mẹ”.
Có tiếng khóc ở góc lớp. Tôi đến cạnh em hỏi:
- Sao con khóc?
- Con nhớ Mẹ! Đứa bé đáp ngập ngừng.
- Mẹ đâu?
Nhìn theo tay đứa bé, tôi thấy một người đàn ông nước da đen sạm đang đứng trước cổng trường.
***
Con đê dài hun hút như cuộc đời. Ngày về thăm ngoại, trời chợt nắng, chợt râm. Mẹ bảo:
- Nhà ngoại ở cuối con đê. Trên đê chỉ có mẹ,
có con.
Lúc nắng, mẹ kéo tay con:
- Đi nhanh lên, kẻo nắng vỡ đầu ra. Con cố.
Lúc râm, con đi chậm, mẹ mắng:
- Đang lúc mát trời, nhanh lên, kẻo nắng bây giờ.
Con ngỡ ngàng: sao nắng, râm đều phải vội ?
Trời vẫn nắng, vẫn râm... ...Mộ mẹ cỏ xanh, con mới hiểu: đời, lúc nào cũng phải nhanh lên.
***
Cổng trường ngày thi đông nghẹt thí sinh và phụ huynh. Những gánh
hàng, dãy quán mọc lên san sát trên khoảng đất trống cạnh trường.
"Út, Út, Út ơi!". Cô học trò lúng túng tách khỏi đám bạn, đi về phía tiếng kêu.
"Ăn đi con. Xôi đậu. Thi sẽ đậu đấy".
"Con ăn rồi. Sao má lại ra đây!".
Cô quày quả vào trường, vội vàng như trốn chạy... ...
Mùa thi lại về. Cô giáo trẻ tần ngần trước cổng trường nhộn nhịp. Giọt nước
mắt muộn màng đọng nơi khóe mắt. "Con mãi sẽ không đậu khi chối từ gánh xôi của má. Má ơi!".
***
Khi xưa nhà còn nghèo, mẹ hay mua cua đồng làm cua rang muối. Cua đồng cứng nhưng mẹ khéo tay chiên giòn, đủ gia vị nên thật
ngon. Thấy các con tranh nhau ăn, mẹ nhường. Các con hỏi, mẹ bảo: răng yếu.
Giờ, các con đã lớn, nhà khá hơn, chúng mua cua biển gạch son về rang muối mời mẹ. Các con nói vui:
- Cua rang muối thật đó mẹ.
Rồi chúng ăn rất ngon. Riêng mẹ không hề gắp. Các con hỏi, mẹ cười móm mém:
- Còn răng đâu mà ăn?!
***
Cha kể, cha chỉ ao ước tặng mẹ chiếc vòng cẩm thạch. Tay mẹ trắng nõn nà đeo vòng cẩm thạch rất đẹp. Mỗi khi cha định mua, mẹ cứ
tìm cách từ chối, lúc mua sữa, lúc sách vở, lúc tiền trường...
Đến khi tay mẹ đen sạm, mẹ vẫn chưa một lần được đeo vòng. Mấy chị em hùn tiền mua tặng
mẹ một chiếc thật đẹp. Mẹ cất kỹ, thỉnh thoảng lại ngắm nghía, cười:
- Mẹ già rồi, tay run lắm, chỉ nhìn thôi cũng thấy vui.
Mấy hị em không ai bảo ai, nhìn nhau nước mắt rưng rưng.
***
Hễ nhà có dịp đi dự đám, nó thường vòi vĩnh xin theo. Thấy nhà bạn có giỗ vui vầy, nó thắc mắc với bà: “Sao nhà mình không có giỗ như nhà người ta hả nội?”.
Nội mỉm cười rồi cốc vào đầu nó: “Khi nào bà mất thì cháu sẽ được ăn giỗ, cháu có vui không?”. Nó giật mình, thàng thốt .
Bây giờ nhà nó cũng có giỗ. Mọi người xúm xít quây quần. Riêng nó thấy buồn, ray rứt. Giá mà nó được gặp lại bà, dù chỉ một lần, bà ơi!
****
"Má! Má lên đây làm gì?". Cô sinh viên sắp nhận bằng cử nhân giãy nãy lên hỏi người mẹ quê mùa còm cõi.
- "Má nghỉ bán một bữa lên coi con lãnh bằng tốt nghiệp".
- "Không được đâu! Bữa nay bạn con đông lắm, mà má lại ăn mặc thế này...".
- "Thì má có còn bộ nào khác đâu. Thôi cho má vào. Má...".
- "Thôi, thôi, má về đi. Con thì thế này, má thì thế kia… Tụi bạn con nó cười…!".
Nói rồi, cô sinh viên xinh đẹp chạy ào vào trong hội trường…
Vừa lúc người xướng tên giới thiệu: "Sinh viên Phạm Thị P.X. là một trong những sinh viên xuất sắc của trường".
Nghe chuyện Hà Nội
Tôi sinh truởng và lớn lên ở miền Trung, và có vợ nguời miền Bắc (Hà Nội). Nỗi uớc mơ của tôi là có dịp về thăm quê vợ ở Hà nội; nhưng tiếc thay đã 38 năm kết hôn với nàng, tôi vẫn chưa đạt đuợc ý nguyện.
Nhân có anh bạn thân mới về thăm Hà Nội trở lại Hoa kỳ. Anh có đến thăm tôi, và kể chuyện về thăm Hà Nội. Tôi náo nức nghe anh kể, và trung thực thuật lại không thêm bớt, để hầu bạn đọc.
****
- Anh biết không. Tôi ăn mặc cốt sạch sẽ, thoải mái chứ không phải cho sang trọng, ăn diện bên ngòai khi đi ra phố. Tới Hà nội, tôi về ngụ tại nhà ông anh ruột tôi, chị dâu tôi nguời Hà Nội. Anh chị tôi có chương trình cho tôi đi thăm viếng Hà Nội ngày hôm sau.
Nhưng tôi tranh thủ thời gian, muốn đi loanh quanh gần nhà truớc đã. Tắm rửa thay quần áo xong, tôi mượn chiếc xe đạp của đứa cháu đạp lẩn quẩn quanh khu phố gần nhà cho giãn gân cốt, và quan sát quanh đó xem có gì lạ không.
Đi mấy quãng đường, tôi thấy có cái tiệm ăn bên ngòai để nhiều chậu hoa, cây kiểng trông hấp dẫn quá. Tò mò, tôi cẩn thận khóa xe, và bước vào tính kiếm cái gì ăn lót dạ.
Một cô có lẽ là nhân viên nhà hàng, mặc áo dài xanh có hoa thêu nơi ngực, đứng cạnh một cậu con trai, mặc đồng phục nhà hàng. Cả hai nhìn tôi chăm chú từ đầu đến chân, cô gái bước lại gần, mặt cứ vênh lên, cất tiếng hỏi:
- Bác vào đây tìm ai?
- Xin lỗi, chứ đây không phải là nhà hàng ăn sao cô?
- Ờ! Nhà hàng ăn đấy, nhưng bác đi lộn chỗ rồi.
- Sao lạ vậy?
- Chúng tôi nghi Bác không đủ "tiêu chuẩn để phục vụ".
Trong lòng tôi thấy lạ lắm nhưng cũng cố hỏi để nghe thử cô bé nói gì nữa. Trong bụng tôi nghi, không lẽ ở Việt nam hiện nay còn kỳ thị hơn thời nội chiến Nam Bắc ở Mỹ cách đây hon 200 năm truớc sao! Tôi nhỏ nhẹ hỏi:
- Xin cô vui lòng giải thích: Tại sao tôi lại không đủ tiêu chuẩn để phục vụ?
Cô nhà hàng chưa kịp trả lời thì bên phải cửa phòng xịch mở, một nguời đàn ông buớc ra, tay cầm xấp giấy, mặc bộ vest đen, áo sơ-mi trắng, cổ thắt nơ, để râu mép, chân mang giày da bóng láng; tiến lại chỗ tôi và hất hàm bảo:
- Nhà hàng nầy chỉ bán cho Việt kiều, khách Ngoại, và cán bộ nhà nuớc có đặt bàn trước.
- À! Ra là thế.
Không lẽ, tôi nói tôi là Việt kiều đây. Khi không lại xưng danh tánh ra làm gì... Nguời Việt trong nuớc hay nguời Việt ở nuớc ngoài cũng là cùng một dân tộc, một màu da, một tiếng nói mà. Sao có sự phân biệt lạ lùng như vậy. Hình nhu một số nguời ở Hà nội bây giờ họ quan niệm Việt kiều là phải mập mạp, phương phi, trắng trẻo, bụng to, nhiều đô la, ăn mặc sang trọng, tiêu tiền như quăng qua cửa sổ.
Họ đâu có biết rằng ở Mỹ dù làm bất cứ một việc gì đi nữa, một giờ đáng một giờ, và phải làm việc hết sức mình mới mong đạt đuợc kết quả. Dù là nguời chủ cũng vất vả không thua gì công nhân. Các nguời trong tiệm nhìn thấy tôi gầy ốm, nuớc da lại đen, những ngón tay sần sùi, thô kệch, lại ăn mặc quá đơn giản, nếu không muốn nói là lôi thôi, áo bỏ ra ngòai, lè phè, chân mang dép Nhật cho mát, họ không muốn tiếp tôi chăng!
Tôi thấy cũng không thiết ăn uống nữa, nên chào họ rồi lặng lẽ quay lưng ra cửa, tay trái vừa giơ lên vừa kéo cánh cửa để buớc ra đuờng. Tôi loáng thoáng nghe sau lung tiếng nói trống không; giọng đàn ông còn rất trẻ, có lẽ của cậu đứng gần cô gái lúc nãy:
- Nhìn cái "thằng" đó tiền bạc đâu mà đòi vào đây ăn. Ăn rồi nó "lỉnh" ngay đấy. Mình lại phải bận gọi công an. Tụi đó chỉ có ăn khoai thì có! Rõ "phén" cho rồi!
Tôi xem như không nghe biết gì, và cứ buớc ra chỗ để chiếc xe đạp lúc nãy mà trong lòng nghĩ ngợi lung lắm. Tôi cứ ngỡ là tôi đa đi lạc vào một xứ lạ không phải là quê hương Việt Nam !
Tôi là nguời Việt nam mà! Dù tôi ở Mỹ đã gần ba mươi năm rồi, nhưng những cử chỉ, những suy nghĩ, những thức ăn uống, những tập tục, tập quán hàng ngày đâu có gì thay đổi mấy trong tôi đâu! Cậu làm việc trong nhà hàng nói câu vừa rồi, gọi tôi bằng "thằng" tuổi tác chắc cũng nhỏ hơn cháu Út nhà tôi (31 tuổi).
Tôi chán ngán buớc lại chỗ để chiếc xe đạp lúc nãy tính đạp xe về nhà, không đi nữa, nhưng tôi không thấy chiếc xe đạp đâu, nó không có cánh mà đã bay đi rồi! Tôi nghi hay là tôi lầm chỗ, chắc hồi nãy mình để chỗ đang kia. Tôi vội buớc qua chỗ tôi vừa nghi thì gặp ngay cô bán gánh trái cây, tuổi chừng 25, 27 đang ngồi trên cái đòn gánh để duới đất, hai chân xoạt ra, chàng hảng, thoải mái, nếu cô ấy mặc váy thì thấy rõ cái quần lót, may mà cô mặc quần dài; đang móc tiền ra lẩm nhẫm đếm. Tôi buớc lại gần, ôn tồn và lễ phép hỏi:
- Xin lỗi cô. Hồi nãy truớc khi vào nhà hàng tôi vừa nói, vừa lấy tay chỉ vô nhà hàng, tôi dựng chiếc xe đạp gần đây. Cô có thấy ai tới lấy không nhỉ?
Cô ngưng đếm, mặt cuống lên, ngẩng nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên như nhìn nguời từ hành tinh lạ, mắt láy nháy, miệng phát ra câu trả lời nhát gừng, giọng bực tức, đặc sệt, nặng thật khó nghe.
- Rõ hỏi vớ vẩn! Ai ăn không ngồi rồi ra đây ngồi gác xe cho bác phỏng! Xéo đi cho khuất mắt bà.
Tôi ngạc nhiên và nghĩ rằng vì mình thật thà hỏi thẳng, có thể cô ấy hiểu lầm tôi nghi ngờ gì chăng nên cô nổi nóng chóng như vậy. Tôi nói lời xin lỗi và tính quay đi. Cô không đáp lại, và chăm chú tiếp tục đếm bạc, xem như không có tôi còn đứng đấy, mồm nói đay nghiến: "Tiên sư nhà chúng bay! Bà đẻ ra con mà con tính "chum" với bà hả. Tờ nầy hai ngàn mà con cứ cãi với bà là đã trả tờ năm ngàn. Đồ thối. Quỉ có tha thì Ma cũng bắt. Ngày mai sẽ biết tay bà."
Tôi quả thật không hiểu cô đang rủa ai, và nói với ai. Tiếng "chum" nghĩa là gì! Tôi chán chường lặng lẽ bỏ đi, chậm rãi thả bộ về nhà. Tôi đi lạc vào khu có nhiều cửa hàng bán đồ kỷ niệm cho khách du lịch, và chú ý đến một cửa hàng bên ngoài trang hoàng rất là kiểu cọ, hấp dẫn.
Tôi buớc vào. Cô bán hàng ăn mặc rất thời trang không thua gì các cô bán hàng son phấn trong các cửa tiệm Macy''s, Boadways ở Mỹ. Nét mặt thật đẹp giống nhu nguời mẫu hay tài tử xi-nê, tuổi cỡ muời chín, hai muoi. Thấy tôi, cô vội buớc lại, tươi cuời, vồn vã hỏi, giọng nói nhẹ nhàng, êm ả, ru ngủ, dịu dàng, ngọt ngào như mía đuờng Quảng ngãi. Cô ta nhỏ nhẹ, thỏ thẻ: "- Chào anh! Anh cần mua gì để em chọn hộ."
Tôi nghĩ có lẽ mình đã đến tuổi ngễnh ngãng nên nghe lầm chăng hay cô đang hỏi cậu thanh niên nào đang đứng gần đây. Tôi nhìn quanh quất thấy không có ai, biết là cô ta nói với mình nên vờ như không nghe. Tôi cảm thấy vừa nguợng, vừa buồn cuời, tuổi mình chỉ còn hai năm nữa là tới tuổi hưu (65). Sao cô ấy gọi mình bằng anh nhỉ? Bộ mình còn trẻ lắm sao! Tôi đâu có nhuộm tóc, tôi vẫn để đầu tóc hoa râm kia mà. Tôi với lấy cái “xắc” tay đàn bà mân mê, săm soi, tính mua về làm quà cho bà xã Nghiệp.
Cô bán hàng thấy vậy bước lại gần hơn, mùi son phấn thơm tho dễ chịu:
- "Kìa! Anh ! nào để em chọn hộ cho."
Cô lăng xăng giới thiệu cái nầy, món kia và cứ bảo tôi mua đi. Cô tính giá hời cho. Cuối cùng cô chọn cho tôi được một cái xắc tay khá đẹp và dẫn tôi đến quầy trả tiền. Cô thu ngân nơi quầy hàng nở nụ cuời thật tươi, hỏi han, chào đón như nguời thân từ thuở nào, lâu năm không gặp. Đột nhiên cô hỏi:
- Anh trả tiền đô hay tiền nội.
Tôi ngỡ ngàng đáp: - Tiền đô! Tôi chưa có thời giờ đổi ra tiền Việt nam.
- Đuợc! Tốt lắm! Lần sau anh nhớ ghé lại cửa hàng em nhé!
Tôi móc ví trả tiền, và lẩm cẩm thầm nghĩ rằng sao hai cô nầy biết mình là Việt kiều nên mới hỏi mình trả tiền đô hay tiền nội, nhưng sao những nguời ở nhà hàng ăn lúc nãy không nhận ra mình là Việt kiều nhỉ? Trả tiền xong, tôi chào hai cô, tay cầm cái xắc tay dợm buóc ra ngòai. Cô bán hàng tiễn tôi và nói cho tôi vừa đủ nghe:
- Cạnh đây có chỗ "Tươi Mát", xin mời anh vào thuởng thức. Chủ là bạn em.
- Cảm on cô. Tôi vừa mới uống nuớc giải khát xong."
Tôi tiếp tục buớc ra ngòai đuờng liền nghe tiếng cuời khúc khích lẫn tiếng nói của cô tính tiền: "Cái lão già ấy "Liễn" rồi. Lão ta còn không biết "Tươi Mát" là gì! Mày tốn công mời mọc cũng vô ích thôi". Tôi thật không hiểu nổi, mới vài phút truớc đây các cô rất thân mật gọi tôi bằng anh làm tôi ngượng quá, và tỏ ra vui vẻ, săn đón, chỉ có mấy phút sau thôi, họ gọi tôi là lão già, và dùng tiếng lóng làm tôi không hiểu gì cả. Tôi lững thững, lếch thếch hỏi đuờng thả bộ về nhà, vừa buớc tới cửa đã thấy anh chị tôi đứng chờ nơi đó trông vẻ nóng ruột lắm. Chị dâu tôi lo lắng :
- Tôi biết chú đi lạc rồi. Sao không điện thoại về nhà?
Tôi kể lại hết chuyện đi vào nhà hàng, chuyện mất xe đạp, gặp cô bán trái cây, cô bán hàng và cô thu ngân ở tiệm bán đồ kỷ niệm v..v…Cả nhà đều cuời bò lăn ra, và tôi cũng thắc mắc hỏi anh chị tôi những chữ mà tôi vừa mới nghe đuợc nhu: Lỉnh, Phén, Chum, Tươi Mát, Liễn v…v….
Anh tôi giải thích:
- Bây giờ dân ở đây họ chế ra nhiều tiếng lóng mới lắm. Chú ở ngọai quốc lâu năm nên không rõ đó thôi.
- Lỉnh là bỏ đi, lén lút đi, lẩn đi (ý muốn nói là ăn giựt không trả tiền bỏ đi)
- Phén là cút đi, đuổi đi,
- Chum là lừa gạt hay nói dối.
- Tươi Mát là chơi gái.
- Còn Liễn là bất lực, là liệt dương. Còn thái độ họ đối với chú thì cũng tùy theo đối tượng thôi. Chú tiêu xài đô-la cho thật nhiều, diện đồ cho thật kẻng thì truớc mặt họ, chú là Vua đấy. Thôi! Chúng ta vào ăn cơm nói chuyện.
Trong bữa ăn tôi hỏi anh tôi: - Hồi còn đi học, em đọc trong sách báo thấy nói, và trong thực tế cũng đã gặp, cũng đã quen những nguời Hà nội truớc năm 1975 ở Sài gòn, và bây giờ ở Mỹ, họ thanh lịch lắm, ăn nói dịu dàng, ngọt ngào, cu xử rất là khả ái, cảm tình. Bạn thân em có vợ nguời Hà Nội, chị ấy hiền lành, nhu mì, khuôn phép, nói năng dễ nghe lắm khác hẵn những nguời Hà Nội mà em đã gặp hôm nay ở ngòai phố.
Anh đang vui vẻ, bỗng nét mặt chùng hẳn xuống, đặt đôi đua xuống bàn, ngẩng mặt nhìn vào khoảng không, đôi mắt xa xăm, giọng buồn buồn anh trả lời:
- Ấy là những nguời Hà Nội truớc năm 1954 đó chú. Sau Hiệp định Geneve tháng 7 năm 1954, một số lớn họ đã di cư vào Nam, một số quá vãng hoặc vì sinh kế hay vì lý do gì đó họ đã đi ra khỏi Hà Nội từ lâu rồi. Hà Nội bây giờ chỉ còn lại một số ít nguời như xưa thôi. Đa số những nguời Hà Nội giờ đây là từ các tỉnh, các vùng quê về lập nghiệp đó chú ạ. Số còn lại là cán bộ các cấp từ các nơi đổi về.
Anh tôi không nói gì nữa, đứng dậy nói lời xin lỗi mọi nguời, là đã dùng bữa xong, và bước vào nhà trong. Anh tôi đi rồi, chị dâu tôi lên tiếng nói:
- Biết bao giờ mình có lại được những nguời Hà Nội năm xưa… chú nhỉ!
Nguyễn Hữu Thời
Tôi sinh truởng và lớn lên ở miền Trung, và có vợ nguời miền Bắc (Hà Nội). Nỗi uớc mơ của tôi là có dịp về thăm quê vợ ở Hà nội; nhưng tiếc thay đã 38 năm kết hôn với nàng, tôi vẫn chưa đạt đuợc ý nguyện.
Nhân có anh bạn thân mới về thăm Hà Nội trở lại Hoa kỳ. Anh có đến thăm tôi, và kể chuyện về thăm Hà Nội. Tôi náo nức nghe anh kể, và trung thực thuật lại không thêm bớt, để hầu bạn đọc.
****
- Anh biết không. Tôi ăn mặc cốt sạch sẽ, thoải mái chứ không phải cho sang trọng, ăn diện bên ngòai khi đi ra phố. Tới Hà nội, tôi về ngụ tại nhà ông anh ruột tôi, chị dâu tôi nguời Hà Nội. Anh chị tôi có chương trình cho tôi đi thăm viếng Hà Nội ngày hôm sau.
Nhưng tôi tranh thủ thời gian, muốn đi loanh quanh gần nhà truớc đã. Tắm rửa thay quần áo xong, tôi mượn chiếc xe đạp của đứa cháu đạp lẩn quẩn quanh khu phố gần nhà cho giãn gân cốt, và quan sát quanh đó xem có gì lạ không.
Đi mấy quãng đường, tôi thấy có cái tiệm ăn bên ngòai để nhiều chậu hoa, cây kiểng trông hấp dẫn quá. Tò mò, tôi cẩn thận khóa xe, và bước vào tính kiếm cái gì ăn lót dạ.
Một cô có lẽ là nhân viên nhà hàng, mặc áo dài xanh có hoa thêu nơi ngực, đứng cạnh một cậu con trai, mặc đồng phục nhà hàng. Cả hai nhìn tôi chăm chú từ đầu đến chân, cô gái bước lại gần, mặt cứ vênh lên, cất tiếng hỏi:
- Bác vào đây tìm ai?
- Xin lỗi, chứ đây không phải là nhà hàng ăn sao cô?
- Ờ! Nhà hàng ăn đấy, nhưng bác đi lộn chỗ rồi.
- Sao lạ vậy?
- Chúng tôi nghi Bác không đủ "tiêu chuẩn để phục vụ".
Trong lòng tôi thấy lạ lắm nhưng cũng cố hỏi để nghe thử cô bé nói gì nữa. Trong bụng tôi nghi, không lẽ ở Việt nam hiện nay còn kỳ thị hơn thời nội chiến Nam Bắc ở Mỹ cách đây hon 200 năm truớc sao! Tôi nhỏ nhẹ hỏi:
- Xin cô vui lòng giải thích: Tại sao tôi lại không đủ tiêu chuẩn để phục vụ?
Cô nhà hàng chưa kịp trả lời thì bên phải cửa phòng xịch mở, một nguời đàn ông buớc ra, tay cầm xấp giấy, mặc bộ vest đen, áo sơ-mi trắng, cổ thắt nơ, để râu mép, chân mang giày da bóng láng; tiến lại chỗ tôi và hất hàm bảo:
- Nhà hàng nầy chỉ bán cho Việt kiều, khách Ngoại, và cán bộ nhà nuớc có đặt bàn trước.
- À! Ra là thế.
Không lẽ, tôi nói tôi là Việt kiều đây. Khi không lại xưng danh tánh ra làm gì... Nguời Việt trong nuớc hay nguời Việt ở nuớc ngoài cũng là cùng một dân tộc, một màu da, một tiếng nói mà. Sao có sự phân biệt lạ lùng như vậy. Hình nhu một số nguời ở Hà nội bây giờ họ quan niệm Việt kiều là phải mập mạp, phương phi, trắng trẻo, bụng to, nhiều đô la, ăn mặc sang trọng, tiêu tiền như quăng qua cửa sổ.
Họ đâu có biết rằng ở Mỹ dù làm bất cứ một việc gì đi nữa, một giờ đáng một giờ, và phải làm việc hết sức mình mới mong đạt đuợc kết quả. Dù là nguời chủ cũng vất vả không thua gì công nhân. Các nguời trong tiệm nhìn thấy tôi gầy ốm, nuớc da lại đen, những ngón tay sần sùi, thô kệch, lại ăn mặc quá đơn giản, nếu không muốn nói là lôi thôi, áo bỏ ra ngòai, lè phè, chân mang dép Nhật cho mát, họ không muốn tiếp tôi chăng!
Tôi thấy cũng không thiết ăn uống nữa, nên chào họ rồi lặng lẽ quay lưng ra cửa, tay trái vừa giơ lên vừa kéo cánh cửa để buớc ra đuờng. Tôi loáng thoáng nghe sau lung tiếng nói trống không; giọng đàn ông còn rất trẻ, có lẽ của cậu đứng gần cô gái lúc nãy:
- Nhìn cái "thằng" đó tiền bạc đâu mà đòi vào đây ăn. Ăn rồi nó "lỉnh" ngay đấy. Mình lại phải bận gọi công an. Tụi đó chỉ có ăn khoai thì có! Rõ "phén" cho rồi!
Tôi xem như không nghe biết gì, và cứ buớc ra chỗ để chiếc xe đạp lúc nãy mà trong lòng nghĩ ngợi lung lắm. Tôi cứ ngỡ là tôi đa đi lạc vào một xứ lạ không phải là quê hương Việt Nam !
Tôi là nguời Việt nam mà! Dù tôi ở Mỹ đã gần ba mươi năm rồi, nhưng những cử chỉ, những suy nghĩ, những thức ăn uống, những tập tục, tập quán hàng ngày đâu có gì thay đổi mấy trong tôi đâu! Cậu làm việc trong nhà hàng nói câu vừa rồi, gọi tôi bằng "thằng" tuổi tác chắc cũng nhỏ hơn cháu Út nhà tôi (31 tuổi).
Tôi chán ngán buớc lại chỗ để chiếc xe đạp lúc nãy tính đạp xe về nhà, không đi nữa, nhưng tôi không thấy chiếc xe đạp đâu, nó không có cánh mà đã bay đi rồi! Tôi nghi hay là tôi lầm chỗ, chắc hồi nãy mình để chỗ đang kia. Tôi vội buớc qua chỗ tôi vừa nghi thì gặp ngay cô bán gánh trái cây, tuổi chừng 25, 27 đang ngồi trên cái đòn gánh để duới đất, hai chân xoạt ra, chàng hảng, thoải mái, nếu cô ấy mặc váy thì thấy rõ cái quần lót, may mà cô mặc quần dài; đang móc tiền ra lẩm nhẫm đếm. Tôi buớc lại gần, ôn tồn và lễ phép hỏi:
- Xin lỗi cô. Hồi nãy truớc khi vào nhà hàng tôi vừa nói, vừa lấy tay chỉ vô nhà hàng, tôi dựng chiếc xe đạp gần đây. Cô có thấy ai tới lấy không nhỉ?
Cô ngưng đếm, mặt cuống lên, ngẩng nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên như nhìn nguời từ hành tinh lạ, mắt láy nháy, miệng phát ra câu trả lời nhát gừng, giọng bực tức, đặc sệt, nặng thật khó nghe.
- Rõ hỏi vớ vẩn! Ai ăn không ngồi rồi ra đây ngồi gác xe cho bác phỏng! Xéo đi cho khuất mắt bà.
Tôi ngạc nhiên và nghĩ rằng vì mình thật thà hỏi thẳng, có thể cô ấy hiểu lầm tôi nghi ngờ gì chăng nên cô nổi nóng chóng như vậy. Tôi nói lời xin lỗi và tính quay đi. Cô không đáp lại, và chăm chú tiếp tục đếm bạc, xem như không có tôi còn đứng đấy, mồm nói đay nghiến: "Tiên sư nhà chúng bay! Bà đẻ ra con mà con tính "chum" với bà hả. Tờ nầy hai ngàn mà con cứ cãi với bà là đã trả tờ năm ngàn. Đồ thối. Quỉ có tha thì Ma cũng bắt. Ngày mai sẽ biết tay bà."
Tôi quả thật không hiểu cô đang rủa ai, và nói với ai. Tiếng "chum" nghĩa là gì! Tôi chán chường lặng lẽ bỏ đi, chậm rãi thả bộ về nhà. Tôi đi lạc vào khu có nhiều cửa hàng bán đồ kỷ niệm cho khách du lịch, và chú ý đến một cửa hàng bên ngoài trang hoàng rất là kiểu cọ, hấp dẫn.
Tôi buớc vào. Cô bán hàng ăn mặc rất thời trang không thua gì các cô bán hàng son phấn trong các cửa tiệm Macy''s, Boadways ở Mỹ. Nét mặt thật đẹp giống nhu nguời mẫu hay tài tử xi-nê, tuổi cỡ muời chín, hai muoi. Thấy tôi, cô vội buớc lại, tươi cuời, vồn vã hỏi, giọng nói nhẹ nhàng, êm ả, ru ngủ, dịu dàng, ngọt ngào như mía đuờng Quảng ngãi. Cô ta nhỏ nhẹ, thỏ thẻ: "- Chào anh! Anh cần mua gì để em chọn hộ."
Tôi nghĩ có lẽ mình đã đến tuổi ngễnh ngãng nên nghe lầm chăng hay cô đang hỏi cậu thanh niên nào đang đứng gần đây. Tôi nhìn quanh quất thấy không có ai, biết là cô ta nói với mình nên vờ như không nghe. Tôi cảm thấy vừa nguợng, vừa buồn cuời, tuổi mình chỉ còn hai năm nữa là tới tuổi hưu (65). Sao cô ấy gọi mình bằng anh nhỉ? Bộ mình còn trẻ lắm sao! Tôi đâu có nhuộm tóc, tôi vẫn để đầu tóc hoa râm kia mà. Tôi với lấy cái “xắc” tay đàn bà mân mê, săm soi, tính mua về làm quà cho bà xã Nghiệp.
Cô bán hàng thấy vậy bước lại gần hơn, mùi son phấn thơm tho dễ chịu:
- "Kìa! Anh ! nào để em chọn hộ cho."
Cô lăng xăng giới thiệu cái nầy, món kia và cứ bảo tôi mua đi. Cô tính giá hời cho. Cuối cùng cô chọn cho tôi được một cái xắc tay khá đẹp và dẫn tôi đến quầy trả tiền. Cô thu ngân nơi quầy hàng nở nụ cuời thật tươi, hỏi han, chào đón như nguời thân từ thuở nào, lâu năm không gặp. Đột nhiên cô hỏi:
- Anh trả tiền đô hay tiền nội.
Tôi ngỡ ngàng đáp: - Tiền đô! Tôi chưa có thời giờ đổi ra tiền Việt nam.
- Đuợc! Tốt lắm! Lần sau anh nhớ ghé lại cửa hàng em nhé!
Tôi móc ví trả tiền, và lẩm cẩm thầm nghĩ rằng sao hai cô nầy biết mình là Việt kiều nên mới hỏi mình trả tiền đô hay tiền nội, nhưng sao những nguời ở nhà hàng ăn lúc nãy không nhận ra mình là Việt kiều nhỉ? Trả tiền xong, tôi chào hai cô, tay cầm cái xắc tay dợm buóc ra ngòai. Cô bán hàng tiễn tôi và nói cho tôi vừa đủ nghe:
- Cạnh đây có chỗ "Tươi Mát", xin mời anh vào thuởng thức. Chủ là bạn em.
- Cảm on cô. Tôi vừa mới uống nuớc giải khát xong."
Tôi tiếp tục buớc ra ngòai đuờng liền nghe tiếng cuời khúc khích lẫn tiếng nói của cô tính tiền: "Cái lão già ấy "Liễn" rồi. Lão ta còn không biết "Tươi Mát" là gì! Mày tốn công mời mọc cũng vô ích thôi". Tôi thật không hiểu nổi, mới vài phút truớc đây các cô rất thân mật gọi tôi bằng anh làm tôi ngượng quá, và tỏ ra vui vẻ, săn đón, chỉ có mấy phút sau thôi, họ gọi tôi là lão già, và dùng tiếng lóng làm tôi không hiểu gì cả. Tôi lững thững, lếch thếch hỏi đuờng thả bộ về nhà, vừa buớc tới cửa đã thấy anh chị tôi đứng chờ nơi đó trông vẻ nóng ruột lắm. Chị dâu tôi lo lắng :
- Tôi biết chú đi lạc rồi. Sao không điện thoại về nhà?
Tôi kể lại hết chuyện đi vào nhà hàng, chuyện mất xe đạp, gặp cô bán trái cây, cô bán hàng và cô thu ngân ở tiệm bán đồ kỷ niệm v..v…Cả nhà đều cuời bò lăn ra, và tôi cũng thắc mắc hỏi anh chị tôi những chữ mà tôi vừa mới nghe đuợc nhu: Lỉnh, Phén, Chum, Tươi Mát, Liễn v…v….
Anh tôi giải thích:
- Bây giờ dân ở đây họ chế ra nhiều tiếng lóng mới lắm. Chú ở ngọai quốc lâu năm nên không rõ đó thôi.
- Lỉnh là bỏ đi, lén lút đi, lẩn đi (ý muốn nói là ăn giựt không trả tiền bỏ đi)
- Phén là cút đi, đuổi đi,
- Chum là lừa gạt hay nói dối.
- Tươi Mát là chơi gái.
- Còn Liễn là bất lực, là liệt dương. Còn thái độ họ đối với chú thì cũng tùy theo đối tượng thôi. Chú tiêu xài đô-la cho thật nhiều, diện đồ cho thật kẻng thì truớc mặt họ, chú là Vua đấy. Thôi! Chúng ta vào ăn cơm nói chuyện.
Trong bữa ăn tôi hỏi anh tôi: - Hồi còn đi học, em đọc trong sách báo thấy nói, và trong thực tế cũng đã gặp, cũng đã quen những nguời Hà nội truớc năm 1975 ở Sài gòn, và bây giờ ở Mỹ, họ thanh lịch lắm, ăn nói dịu dàng, ngọt ngào, cu xử rất là khả ái, cảm tình. Bạn thân em có vợ nguời Hà Nội, chị ấy hiền lành, nhu mì, khuôn phép, nói năng dễ nghe lắm khác hẵn những nguời Hà Nội mà em đã gặp hôm nay ở ngòai phố.
Anh đang vui vẻ, bỗng nét mặt chùng hẳn xuống, đặt đôi đua xuống bàn, ngẩng mặt nhìn vào khoảng không, đôi mắt xa xăm, giọng buồn buồn anh trả lời:
- Ấy là những nguời Hà Nội truớc năm 1954 đó chú. Sau Hiệp định Geneve tháng 7 năm 1954, một số lớn họ đã di cư vào Nam, một số quá vãng hoặc vì sinh kế hay vì lý do gì đó họ đã đi ra khỏi Hà Nội từ lâu rồi. Hà Nội bây giờ chỉ còn lại một số ít nguời như xưa thôi. Đa số những nguời Hà Nội giờ đây là từ các tỉnh, các vùng quê về lập nghiệp đó chú ạ. Số còn lại là cán bộ các cấp từ các nơi đổi về.
Anh tôi không nói gì nữa, đứng dậy nói lời xin lỗi mọi nguời, là đã dùng bữa xong, và bước vào nhà trong. Anh tôi đi rồi, chị dâu tôi lên tiếng nói:
- Biết bao giờ mình có lại được những nguời Hà Nội năm xưa… chú nhỉ!
Nguyễn Hữu Thời
Ra mắt tác phẩm ‘Boat People’ bằng Anh ngữ:
Nước mắt và niềm kiêu hãnh
Hà Giang/Người Việt
WESTMINSTER - Trước khi đọc được tựa của cuốn sách, người ta đã bị ám ảnh bởi nét hãi hùng,
đắm trong đôi mắt sâu hoắm của một thiếu nữ trẻ nhìn qua kẽ hở một khoang thuyền trong tấm hình bìa.

Hình bìa tác phẩm “Boat People.” (Hình: Người Việt)
Lật một trang, một tấm hình khác cũng gây ấn tượng mãnh liệt: Trong lòng thuyền, người, và người, nằm chồng chất lên nhau không khác hình ảnh của một hộp cá. Hoàn cảnh của họ, không chỉ được đọc thấy qua ánh mắt, mà còn qua khuôn mặt thất thần; những chiếc đầu gối co quắp, dáng ngồi mệt lả.
Họ đang dựa vào nhau? Vào khoang thuyền? Hay nép vào lòng người thân mà chẳng biết? Mỗi người tự co rút lại, để đối phó với nỗi hoảng sợ tột cùng, của riêng mình, và của chung.
Tên của cuốn sách là “Boat People: Personal Stories from the Vietnamese Exodus 1975-1996” (“Thuyền Nhân: Những câu chuyện cá nhân trong hành trình tỵ nạn 1975 đến 1996”).
Nhưng đây sẽ không phải là cuốn sách về thuyền nhân như bao cuốn sách về thuyền nhân khác, trước nó, và có lẽ cả sau nó nữa.
Phải có rất nhiều lý do!
Hơn 250 trang, viết bằng Anh ngữ, “Thuyền Nhân” không chỉ là một cuốn sách ghi nhận sự kiện, mà còn là một tài liệu lịch sử, ở một khía cạnh khác, lại là một tác phẩm nghệ thuật. “Thuyền Nhân” chứa đựng hơn 200 hình ảnh, đa số hình màu, chưa bao giờ được phổ biến. “Thuyền Nhân” còn là một pho tài liệu, thủ bút, nhật ký, thư từ, điện tín và chuyện kể của 38 người trực tiếp tham dự vào cuộc di tản khổng lồ diễn ra cách đây gần 30 năm.
Như chuyện kể của ông Mai Lộc, về chuyến vượt biên của ông cách đây hơn 25 năm, lúc ông mới 16 tuổi.
“Trong 5 ngày dài, họ [cướp biển] liên tục hãm hiếp những cô gái và phụ nữ đáng thương đó. Sự việc này xảy ra ngay trước đôi mắt kinh hoàng của bé trai 5 tuổi, và người em gái 3 tuổi của cậu, bị bọn hải tặc kéo lên tàu theo mẹ.”
Hai chị gái của ông nằm trong số người bị hãm hiếp này.
Bà Carina Hoàng, người chủ biên, chịu trách nhiệm biên soạn cuốn sách, cho biết, ông Mai Lộc đã “cúi gầm mặt xuống, và khóc lên nức nở” khi kể chuyện, đến nỗi “làm ướt đẫm tấm thảm của phòng khách” nhà bà.
Một cảnh vượt biên, trích từ tác phẩm “Boat People.” (Hình: Người Việt)
Hay bài viết của ông Shern Nguyễn, vượt biên cùng hai con trai, tám và mười tuổi: “Ðiều mà chúng tôi lo lắng lớn nhất đã xảy ra: Hết nước! Tôi lén để dành nước tiểu của mình vào một cái lon nhỏ, lúc hai đứa con không để ý, và bắt chúng uống cho khỏi khát. Ðứa con trai nhỏ của tôi nổi đóa lên. Tại sao ba bắt con đi lên chuyến thuyền này làm gì, sao không để con ở nhà với má? Tôi không thể trả lời. Tôi chỉ lặng lẽ nghĩ, nếu tôi không bảo vệ được con, tôi sẽ chết cùng với chúng nó.”
Và lời của bà Thu Minh Nguyễn kể lại thời điểm tiễn hai đứa con trai, tuổi quân dịch, đi vượt biên, một mình: “Tôi cho mỗi đứa con một nắm cơm nếp, và lặng lẽ từ giã chúng. Rồi chúng đi theo chân một người đàn ông lạ, còn tôi đứng đó trông theo. Nhìn chúng nhỏ bé và mong manh quá. Tôi cố gắng nghĩ là mình đã quyết định đúng, nhưng đầu gối tôi run rẩy. Tôi muốn quỵ xuống. Bụng tôi đau nhói, như có ai cầm dao đâm vào. Người bạn phải kéo tôi đi. Tối hôm đó, chúng tôi ra chợ mua hai con rùa và một chục cua. Thả rùa và cua xuống nước, nhìn chúng tung tăng bơi đi, tôi thầm cầu nguyện cho hai con tìm được tự do, như những con vật này.”
Nói về cuốn sách do mình chủ biên, bà Carina Hoàng, cũng là một thuyền nhân, vượt biên và trốn thoát khỏi Việt Nam năm 1979, lúc 16 tuổi, cho biết, bà “dự định thực hiện cuốn sách này lâu rồi,” vì một ngày nào đó, những nhân chứng sống của lịch sử, trong đó có bà, “sẽ chết đi,” và có thể những thế hệ sau “sẽ không biết, không hiểu rõ” những gì cả triệu người Việt Nam đã phải “trải qua để đến bến tự do.”
“Cuốn sách sẽ đặc biệt có giá trị với những thế hệ người Việt mai sau. Họ cần biết về lịch sự rất quan trọng này của di sản mình, và cần đánh giá cao sự hy sinh của thế hệ cha ông.” Bà Carina Hoàng nói.
Ngoài chuyện kể của chính những thuyền nhân, tác phẩm “Thuyền Nhân” còn có sự góp mặt của 10 người ngoại quốc, từng làm việc với thuyền nhân Việt Nam trong những trại tị nạn, như ông Talbot Bashall, từng làm việc 3 năm tại “Trung Tâm Kiểm Soát Người Tị Nạn” tại Hồng Kông.
Trong nhật ký của mình, ông Talbot Bashall kể lại nhiều chuyện thương tâm, khủng khiếp, trong đó có câu chuyện của một cậu bé thuyền nhân 15 tuổi, ốm yếu, chỉ còn da bọc xương, bị những người đi cùng cột vào thuyền để chuẩn bị “ăn thịt.”
Hay phóng viên Norman Aisbett và nhiếp ảnh David Tanner của tờ “The West Australia,” vào năm 1982, đã lên chuyến tàu Cap Anamur của Tây Ðức, để làm phóng sự về hành trình truy tầm và cứu giúp những người tị nạn của chiếc tàu này.
Nhiếp ảnh gia David Tanner chia sẻ với Carina Hoàng, rằng trong thời gian hơn 5 tuần lễ ở trên tàu, ông “gặp gỡ hơn 600 con người hốt hoảng, tuyệt vọng và sợ hãi,” và sau chuyến đi này, với ông, trong đời “có ba dữ kiện quan trọng nhất:” Cuộc thảm sát tại World Trade Center tại New York, phi hành gia người Mỹ đặt chân lên mặt trăng vào ngày 21 tháng 7, 1969, và cuộc tị nạn trốn chạy Cộng Sản, tìm tự do của người dân Việt Nam khởi đầu từ năm 1975.
Dù “Thuyền Nhân” chỉ mới vừa được in xong, mực còn chưa ráo, dường như bà Carina Hoàng đã đạt được một trong những hoài bão của mình trong việc viết sách.
Theo lời kể của bà, một độc giả, vừa đọc xong một cuốn sách in thử, đã viết thư cho bà, tâm sự: “Ðọc xong cuốn sách, tôi mới nhận thức được là cha mẹ mình đã phải trải qua những gì, và hy sinh như thế nào để tôi có được ngày hôm nay.
Kể từ hôm nay tôi sẽ thay đổi cách cư xử với cha mẹ.”
Cũng theo lời kể của Carina, một phụ nữ ngoại quốc, dù chỉ mới đọc qua giới thiệu của cuốn sách trên website của Carina, cho biết “rất nóng lòng được đọc cuốn sách,” vì chồng bà là một thuyền nhân, nhưng anh ít kể lại quá khứ đó của mình.
Bà cho biết “chắc chắn những gì anh ấy vượt qua đã ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của anh, và vì anh không tâm sự, đôi khi tôi không hiểu cách suy nghĩ của chồng,” và mong đọc sách để hiểu thêm về quá khứ của chồng, một người gốc Việt.
“Thuyền Nhân” là cuốn sách cần đọc để hiểu hoàn cảnh của những người vượt biên, để khép lại quá khứ, để hãnh diện tự hào về dân tộc Việt Nam, những người đã vượt qua nghịch cảnh, trở thành thành viên có ích, đóng góp lại cho xã hội đã cưu mang mình.
Nước mắt và niềm kiêu hãnh
Hà Giang/Người Việt
WESTMINSTER - Trước khi đọc được tựa của cuốn sách, người ta đã bị ám ảnh bởi nét hãi hùng,
đắm trong đôi mắt sâu hoắm của một thiếu nữ trẻ nhìn qua kẽ hở một khoang thuyền trong tấm hình bìa.

Hình bìa tác phẩm “Boat People.” (Hình: Người Việt)
Lật một trang, một tấm hình khác cũng gây ấn tượng mãnh liệt: Trong lòng thuyền, người, và người, nằm chồng chất lên nhau không khác hình ảnh của một hộp cá. Hoàn cảnh của họ, không chỉ được đọc thấy qua ánh mắt, mà còn qua khuôn mặt thất thần; những chiếc đầu gối co quắp, dáng ngồi mệt lả.
Họ đang dựa vào nhau? Vào khoang thuyền? Hay nép vào lòng người thân mà chẳng biết? Mỗi người tự co rút lại, để đối phó với nỗi hoảng sợ tột cùng, của riêng mình, và của chung.
Tên của cuốn sách là “Boat People: Personal Stories from the Vietnamese Exodus 1975-1996” (“Thuyền Nhân: Những câu chuyện cá nhân trong hành trình tỵ nạn 1975 đến 1996”).
Nhưng đây sẽ không phải là cuốn sách về thuyền nhân như bao cuốn sách về thuyền nhân khác, trước nó, và có lẽ cả sau nó nữa.
Phải có rất nhiều lý do!
Hơn 250 trang, viết bằng Anh ngữ, “Thuyền Nhân” không chỉ là một cuốn sách ghi nhận sự kiện, mà còn là một tài liệu lịch sử, ở một khía cạnh khác, lại là một tác phẩm nghệ thuật. “Thuyền Nhân” chứa đựng hơn 200 hình ảnh, đa số hình màu, chưa bao giờ được phổ biến. “Thuyền Nhân” còn là một pho tài liệu, thủ bút, nhật ký, thư từ, điện tín và chuyện kể của 38 người trực tiếp tham dự vào cuộc di tản khổng lồ diễn ra cách đây gần 30 năm.
Như chuyện kể của ông Mai Lộc, về chuyến vượt biên của ông cách đây hơn 25 năm, lúc ông mới 16 tuổi.
“Trong 5 ngày dài, họ [cướp biển] liên tục hãm hiếp những cô gái và phụ nữ đáng thương đó. Sự việc này xảy ra ngay trước đôi mắt kinh hoàng của bé trai 5 tuổi, và người em gái 3 tuổi của cậu, bị bọn hải tặc kéo lên tàu theo mẹ.”
Hai chị gái của ông nằm trong số người bị hãm hiếp này.
Bà Carina Hoàng, người chủ biên, chịu trách nhiệm biên soạn cuốn sách, cho biết, ông Mai Lộc đã “cúi gầm mặt xuống, và khóc lên nức nở” khi kể chuyện, đến nỗi “làm ướt đẫm tấm thảm của phòng khách” nhà bà.
Một cảnh vượt biên, trích từ tác phẩm “Boat People.” (Hình: Người Việt)
Hay bài viết của ông Shern Nguyễn, vượt biên cùng hai con trai, tám và mười tuổi: “Ðiều mà chúng tôi lo lắng lớn nhất đã xảy ra: Hết nước! Tôi lén để dành nước tiểu của mình vào một cái lon nhỏ, lúc hai đứa con không để ý, và bắt chúng uống cho khỏi khát. Ðứa con trai nhỏ của tôi nổi đóa lên. Tại sao ba bắt con đi lên chuyến thuyền này làm gì, sao không để con ở nhà với má? Tôi không thể trả lời. Tôi chỉ lặng lẽ nghĩ, nếu tôi không bảo vệ được con, tôi sẽ chết cùng với chúng nó.”
Và lời của bà Thu Minh Nguyễn kể lại thời điểm tiễn hai đứa con trai, tuổi quân dịch, đi vượt biên, một mình: “Tôi cho mỗi đứa con một nắm cơm nếp, và lặng lẽ từ giã chúng. Rồi chúng đi theo chân một người đàn ông lạ, còn tôi đứng đó trông theo. Nhìn chúng nhỏ bé và mong manh quá. Tôi cố gắng nghĩ là mình đã quyết định đúng, nhưng đầu gối tôi run rẩy. Tôi muốn quỵ xuống. Bụng tôi đau nhói, như có ai cầm dao đâm vào. Người bạn phải kéo tôi đi. Tối hôm đó, chúng tôi ra chợ mua hai con rùa và một chục cua. Thả rùa và cua xuống nước, nhìn chúng tung tăng bơi đi, tôi thầm cầu nguyện cho hai con tìm được tự do, như những con vật này.”
Nói về cuốn sách do mình chủ biên, bà Carina Hoàng, cũng là một thuyền nhân, vượt biên và trốn thoát khỏi Việt Nam năm 1979, lúc 16 tuổi, cho biết, bà “dự định thực hiện cuốn sách này lâu rồi,” vì một ngày nào đó, những nhân chứng sống của lịch sử, trong đó có bà, “sẽ chết đi,” và có thể những thế hệ sau “sẽ không biết, không hiểu rõ” những gì cả triệu người Việt Nam đã phải “trải qua để đến bến tự do.”
“Cuốn sách sẽ đặc biệt có giá trị với những thế hệ người Việt mai sau. Họ cần biết về lịch sự rất quan trọng này của di sản mình, và cần đánh giá cao sự hy sinh của thế hệ cha ông.” Bà Carina Hoàng nói.
Ngoài chuyện kể của chính những thuyền nhân, tác phẩm “Thuyền Nhân” còn có sự góp mặt của 10 người ngoại quốc, từng làm việc với thuyền nhân Việt Nam trong những trại tị nạn, như ông Talbot Bashall, từng làm việc 3 năm tại “Trung Tâm Kiểm Soát Người Tị Nạn” tại Hồng Kông.
Trong nhật ký của mình, ông Talbot Bashall kể lại nhiều chuyện thương tâm, khủng khiếp, trong đó có câu chuyện của một cậu bé thuyền nhân 15 tuổi, ốm yếu, chỉ còn da bọc xương, bị những người đi cùng cột vào thuyền để chuẩn bị “ăn thịt.”
Hay phóng viên Norman Aisbett và nhiếp ảnh David Tanner của tờ “The West Australia,” vào năm 1982, đã lên chuyến tàu Cap Anamur của Tây Ðức, để làm phóng sự về hành trình truy tầm và cứu giúp những người tị nạn của chiếc tàu này.
Nhiếp ảnh gia David Tanner chia sẻ với Carina Hoàng, rằng trong thời gian hơn 5 tuần lễ ở trên tàu, ông “gặp gỡ hơn 600 con người hốt hoảng, tuyệt vọng và sợ hãi,” và sau chuyến đi này, với ông, trong đời “có ba dữ kiện quan trọng nhất:” Cuộc thảm sát tại World Trade Center tại New York, phi hành gia người Mỹ đặt chân lên mặt trăng vào ngày 21 tháng 7, 1969, và cuộc tị nạn trốn chạy Cộng Sản, tìm tự do của người dân Việt Nam khởi đầu từ năm 1975.
Dù “Thuyền Nhân” chỉ mới vừa được in xong, mực còn chưa ráo, dường như bà Carina Hoàng đã đạt được một trong những hoài bão của mình trong việc viết sách.
Theo lời kể của bà, một độc giả, vừa đọc xong một cuốn sách in thử, đã viết thư cho bà, tâm sự: “Ðọc xong cuốn sách, tôi mới nhận thức được là cha mẹ mình đã phải trải qua những gì, và hy sinh như thế nào để tôi có được ngày hôm nay.
Kể từ hôm nay tôi sẽ thay đổi cách cư xử với cha mẹ.”
Cũng theo lời kể của Carina, một phụ nữ ngoại quốc, dù chỉ mới đọc qua giới thiệu của cuốn sách trên website của Carina, cho biết “rất nóng lòng được đọc cuốn sách,” vì chồng bà là một thuyền nhân, nhưng anh ít kể lại quá khứ đó của mình.Bà cho biết “chắc chắn những gì anh ấy vượt qua đã ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của anh, và vì anh không tâm sự, đôi khi tôi không hiểu cách suy nghĩ của chồng,” và mong đọc sách để hiểu thêm về quá khứ của chồng, một người gốc Việt.
“Thuyền Nhân” là cuốn sách cần đọc để hiểu hoàn cảnh của những người vượt biên, để khép lại quá khứ, để hãnh diện tự hào về dân tộc Việt Nam, những người đã vượt qua nghịch cảnh, trở thành thành viên có ích, đóng góp lại cho xã hội đã cưu mang mình.
BẠN ĐÊM GIAO THỪA
Tâm Không Vĩnh Hữu Mọi lần, khi vợ chồng tôi cãi vã nhau chẳng đi đến đâu, tôi đều giận lẫy bỏ đi khỏi nhà, khi thì bồng con theo khi thì chỉ đi một mình tay không. Và, anh ấy sẽ chạy theo, đến một chỗ vắng vẻ nào đó mới níu kéo, năn nỉ, xuống nước xin lỗi. Anh ấy luôn luôn là người nhường nhịn, làm hòa trước. Vậy mà lần này, sau cuộc kình cãi kịch liệt, lời qua tiếng lại có phần động chạm tự ái của nhau, tôi giận muốn khùng lên, bỏ đi khỏi căn nhà đang ấm cúng. Tôi bỏ đi khỏi nhà lần này nhằm vào lúc chẳng còn bao lâu nữa là bước sang năm mới, vậy mới là... giận. Vừa đi, tôi vừa nhìn chừng lại phía sau, hy vọng anh ấy sẽ đuổi theo. Nhưng không, không hề thấy anh ấy.
Tôi tức giận thêm, khóc tấm tức. Đến một ngã sáu, lèo tèo một vài người thơ thẩn, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe rú ga vù đi qua phố thênh thang, tôi đứng lại bần thần, rồi nhìn đồng hồ: 10 giờ 30 phút. Anh ấy đã không tìm tôi, không màng kêu gào tôi về để cùng đón giao thừa với nhau. Bé Mi Mi của tôi chắc vẫn còn đang ngủ say. Còn anh ấy đang làm gì ở nhà? Khui mấy chai rượu Tết uống trước giải sầu ư?
Tôi băng qua đường, tiến về phía bùng binh trước một siêu thị lớn đã đóng cửa. Nơi ấy, đang có một cô gái ngồi ủ rũ một mình. Tôi đang muốn có bạn trong lúc đang rối trí, buồn phiền, để mình trút bỏ tâm sự cho nhẹ nhàng, biết đâu đầu óc sẽ sáng suốt, lòng thanh thản. Lỗi của tôi, hay của anh ấy, hay lỗi của cả hai, cần phải có một người ngoại cuộc phán xét. Cô gái ngước mắt nhìn tôi. Một cô gái mặt hoa da phấn nhợt nhạt, mắt đượm ưu buồn, tóc tai rũ rượi. Tôi ngồi xuống cạnh cô gái thật khẽ khàng. Ném mắt nhìn tôi dò xét, cô gái hỏi với giọng lạnh lùng cộc lốc:
- Muốn gì?
- Ngồi chơi. Buồn quá.
- Không có nhà, không có gia đình để về đón giao thừa à?
- Có chứ. Nhưng mới gây với ông xã, nên bỏ đi cho khuây khỏa...
- Một đi không trở lại?
- Trở lại chứ!
- Trở lại thì đừng nên bỏ đi. Mất công.
Tôi chưng hửng. Cô gái làm tôi kinh ngạc, tôi có cảm tình ngay. Nhìn ngắm cô gái từ mấy lọn tóc đến những móng chân, tôi nhỏ nhẹ:
- Chị sao ngồi đây? Sao chưa chịu về nhà?
- Không nhà cửa. Không chồng con. Không bà con dòng họ. Quê nhà thì ở xa quá, tận vùng cao heo hút. Vậy thì về đâu?
- Vậy à? Xin lỗi... chị làm gì, ở đâu?
- Nói thẳng ra là làm đĩ!
Tôi đoán không sai. Nhưng cách trả lời của cô gái sống sượng quá, phũ phàng quá, làm cho tôi lạnh mình, và cũng chạnh lòng. Tôi ngần ngại hỏi:
- Không còn chỗ nào để về ăn Tết thật sao?
- Chỗ nào? Chỉ có nhà trọ, nhà chứa, quanh năm chui nhủi bám víu vào những chỗ ấy mà sống qua ngày. Nhưng bây giờ, tiền hết thì nhà trọ đuổi, nợ nần chưa trả xong, lại thêm tàn tạ héo úa, thì nhà chứa cũng chẳng chịu chứa nữa!
- Sao người ta tệ bạc vậy? Vắt chanh bỏ vỏ à?
- Người ta ưu ái cho mấy đứa trẻ măng, mấy đứa tuổi mười tám đôi mươi thậm chí có đứa mới đôi tám. Mình địch không lại tụi nó đâu. Tụi nhỏ bây giờ đông lắm, ở khắp các vùng quê nghèo đổ về phồn hoa đô hội để tiến thân bằng cách... hiến thân!
Tiến thân bằng cách hiến thân. Những từ ngữ ấy thật lạ lẫm đối với tôi, lần đầu tiên tôi nghe được, lại được thốt lên từ một giọng mỉa mai chua chát của cô gái giang hồ, khiến cho tôi thoáng rùng mình kinh sợ, lại thấy tim mình nhoi nhói vì một nỗi xót thương cho phận gái truân chuyên giữa dòng đời bát nháo... Tôi bàng hoàng, xót xa. Cái đau đớn, tủi nhục, cùng cực của cô gái đã dập tắt những nỗi buồn nhẹ tênh, tự ái vặt vãnh trong tôi, dập tắt thật nhanh. Tôi quên đi chuyện mình vừa mới xích mích với chồng, chỉ còn biết trước mặt tôi là thân phận bèo dạt hoa trôi vô định, mang theo một ước ao bé nhỏ, nhưng không hề với tới được. Tôi sờ ngực áo, rút ra mấy tờ giấy bạc polymer còn nằm nguyên từ chiều, trao hết qua tay cô gái. Cô gái không chút vui mừng, không vồn vã cũng không tỏ vẻ bất cần, thản nhiên nhận mấy tờ bạc, chẳng thèm đếm thử xem được bao nhiêu tiền, trên ba trăm nghìn đồng chứ đâu có ít, hỏi:
- Còn chị thì sao đây?
Tôi kể sơ qua chuyện mình. Cô gái cười sằng sặc nói:
- Chị rõ khùng. Chỉ vì những chuyện nhỏ nhặt, vớ vẩn, mà dám bỏ đi khỏi tổ ấm gia đình của mình đang đầy ắp hạnh phúc. Chị hãy biết quý trọng những gì đang có được, chứ đừng làm hao hụt, uổng!
Tôi rùng mình, tỉnh ngộ. Cô gái cười mếu máo, nói tiếp:
- Tôi cả đời cứ ước mơ có được tấm chồng, một mái ấm nghèo nát cũng được, rồi có đứa con. Vợ chồng có nhau trong đói khổ cũng vui. Hạnh phúc nhỏ nhoi, ước mơ nhỏ bé quá, mà sao cứ ở mãi trong chiêm bao mộng mị, không bao giờ nắm bắt được...
Tôi đứng dậy. Tôi phải về ngay. Cô gái vẫn tiếp tục:
- Ngay từ giây phút này đây, tôi chỉ mong ước có một điều...
Tôi khựng lại, hỏi:
- Điều gì?
Cười chua chát, cô gái thều thào:
- Ước gì trong giờ giao thừa, có một chàng ngớ ngẩn nào đó, xấu xí cũng được, đần độn cũng được, nghèo rách cũng được, nhưng miễn là thương tôi, thích tôi, chịu dìu tôi về nhà, hai đứa sẽ cùng đón giao thừa, ăn ngủ với nhau, qua ba ngày Tết thật vui vẻ, rồi chia tay nhau cũng được, mà sống luôn với nhau thì càng tốt, quá hạnh phúc cho tôi. Nhưng điều này... lại là chiêm bao!
Tôi cảm thấy như vừa bị ai đó xát muối vào ruột gan mình. Nhắm mắt lại cho nước mắt rơi ra, rồi bước thật nhanh rời khỏi nơi cô gái ngồi, tôi băng băng về nhà mình... Anh ấy đã bồng bé Mi Mi đi đâu rồi. Chắc là anh ấy đang đi tìm tôi, tìm ở hướng ngược lại. Sao không chịu đi ra phố ngã sáu nhỉ? Tôi tất tả băng đi trên đường vắng ngắt, mắt dáo dác ngó xa ngó gần, tìm hình bóng thân quen của chồng con. Không thấy đâu. Đã sắp đến giờ đón giao thừa rồi. Tôi bắt đầu bước như chạy ngược trở lại phố ngã sáu có bùng binh vòng xuyến. Phố im ắng. Bùng binh trơ trọi. Cô gái đã đi rồi. Tôi ngơ ngác giữa phố khuya vào đêm cuối năm, bắt đầu tự chửi rủa mình. Chợt, từ xa một chiếc xích lô đang chở khách phóng lại. Xích lô thắng kít một bên tôi. Tôi trố mắt nhìn lên, nhận ra người ngồi trên xe là... cô gái khi nãy. Cô gái vui vẻ ra mặt, giọng cất lên cũng đầy sinh khí hỏi:
- Sao chưa chịu về nhà mà còn đứng sớ rớ ở đây nữa hả “bà”?
Tôi ngạc nhiên nhìn cô gái, rồi nhìn anh xích lô nói:
- Về rồi, nhưng anh ấy bồng con đi đâu mất tiêu...
- Đi tìm chị chứ đi đâu. Mới thấy một ông bồng con đi lên đi xuống hớt hơ hớt hải ở dưới dốc kia kìa, chắc là anh ấy rồi. Về lẹ đi. Lẹ đi!
Tôi mừng quá, định bước đi, nhưng chợt nhớ lại hỏi:
- Chị bây giờ định đi đâu?
- Đi về nhà ảnh, đón giao thừa với ảnh!
Tôi nhìn anh xích lô bằng ánh mắt nghi ngại, nói tỉnh:
- Coi chừng vợ người ta đánh ghen thì… mất ăn Tết đó!
Anh xích lô cười ha hả vang rền cả trời khuya vắng, nói giọng oang oang:
- Đừng lo. Tôi độc thân, chưa có vợ con gì, cũng chẳng có nhà cửa, cũng là dân bụi sống rày đây mai đó thôi!
- Vậy bây giờ anh chở chị ấy đi đâu?
- Về vỉa hè, về tổ ấm tạm bợ của tôi. Đón giao thừa hai đứa, ăn Tết một cặp một đôi, thì chắc là vui hơn một mình sô-lô rồi!
Cô gái cười hồn nhiên, nheo mắt với tôi, nói rổn rảng:
- Ước gì được nấy rồi, còn gì sướng bằng? Thôi, đi nghen, chị về lẹ đi! Của báu ở ngay trong nhà mà không biết giữ!
Tôi ngẩn người ra đứng đó. “Của báu trong nhà”ø. Tôi chợt nhớ đến câu kệ “Gia trung hữu bảo hưu tầm mích; Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” (của báu trong nhà thôi tìm kiếm, đối cảnh vô tâm hỏi chi thiền), mà đầu óc sáng bừng lên. Chiếc xích lô lăn bánh đi, chở theo một người bạn mới quen của tôi chạy về một nơi chốn nào đó thật mơ hồ. Nhưng có điều không mơ hồ chút nào, thấy rất rõ, là niềm hân hoan hớn hở đang tràn đầy và sáng rực trên nét mặt của cô gái giang hồ, và cả anh chàng đạp xích lô đen đủi xấu xí. Tôi đứng dõi mắt trông theo, thầm cầu chúc cho họ tận hưởng được không chỉ là giờ phút, hay ngày tháng, mà là những năm thật sự hạnh phúc, cho dù là hạnh phúc đơn sơ nhỏ bé.
Chiếc xích lô khuất hẳn sau khúc quanh. Tôi trở về với chính mình. Và, tôi đi như chạy bằng đôi chân hỏng đất về hướng con dốc chạy xuống chợ. Chưa bao giờ tôi thèm khát nhào đến ôm chầm lấy chồng và con mình như trong giây phút này...
Tâm Không Vĩnh Hữu Mọi lần, khi vợ chồng tôi cãi vã nhau chẳng đi đến đâu, tôi đều giận lẫy bỏ đi khỏi nhà, khi thì bồng con theo khi thì chỉ đi một mình tay không. Và, anh ấy sẽ chạy theo, đến một chỗ vắng vẻ nào đó mới níu kéo, năn nỉ, xuống nước xin lỗi. Anh ấy luôn luôn là người nhường nhịn, làm hòa trước. Vậy mà lần này, sau cuộc kình cãi kịch liệt, lời qua tiếng lại có phần động chạm tự ái của nhau, tôi giận muốn khùng lên, bỏ đi khỏi căn nhà đang ấm cúng. Tôi bỏ đi khỏi nhà lần này nhằm vào lúc chẳng còn bao lâu nữa là bước sang năm mới, vậy mới là... giận. Vừa đi, tôi vừa nhìn chừng lại phía sau, hy vọng anh ấy sẽ đuổi theo. Nhưng không, không hề thấy anh ấy.
Tôi tức giận thêm, khóc tấm tức. Đến một ngã sáu, lèo tèo một vài người thơ thẩn, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe rú ga vù đi qua phố thênh thang, tôi đứng lại bần thần, rồi nhìn đồng hồ: 10 giờ 30 phút. Anh ấy đã không tìm tôi, không màng kêu gào tôi về để cùng đón giao thừa với nhau. Bé Mi Mi của tôi chắc vẫn còn đang ngủ say. Còn anh ấy đang làm gì ở nhà? Khui mấy chai rượu Tết uống trước giải sầu ư?
Tôi băng qua đường, tiến về phía bùng binh trước một siêu thị lớn đã đóng cửa. Nơi ấy, đang có một cô gái ngồi ủ rũ một mình. Tôi đang muốn có bạn trong lúc đang rối trí, buồn phiền, để mình trút bỏ tâm sự cho nhẹ nhàng, biết đâu đầu óc sẽ sáng suốt, lòng thanh thản. Lỗi của tôi, hay của anh ấy, hay lỗi của cả hai, cần phải có một người ngoại cuộc phán xét. Cô gái ngước mắt nhìn tôi. Một cô gái mặt hoa da phấn nhợt nhạt, mắt đượm ưu buồn, tóc tai rũ rượi. Tôi ngồi xuống cạnh cô gái thật khẽ khàng. Ném mắt nhìn tôi dò xét, cô gái hỏi với giọng lạnh lùng cộc lốc:
- Muốn gì?
- Ngồi chơi. Buồn quá.
- Không có nhà, không có gia đình để về đón giao thừa à?
- Có chứ. Nhưng mới gây với ông xã, nên bỏ đi cho khuây khỏa...
- Một đi không trở lại?
- Trở lại chứ!
- Trở lại thì đừng nên bỏ đi. Mất công.
Tôi chưng hửng. Cô gái làm tôi kinh ngạc, tôi có cảm tình ngay. Nhìn ngắm cô gái từ mấy lọn tóc đến những móng chân, tôi nhỏ nhẹ:
- Chị sao ngồi đây? Sao chưa chịu về nhà?
- Không nhà cửa. Không chồng con. Không bà con dòng họ. Quê nhà thì ở xa quá, tận vùng cao heo hút. Vậy thì về đâu?
- Vậy à? Xin lỗi... chị làm gì, ở đâu?
- Nói thẳng ra là làm đĩ!
Tôi đoán không sai. Nhưng cách trả lời của cô gái sống sượng quá, phũ phàng quá, làm cho tôi lạnh mình, và cũng chạnh lòng. Tôi ngần ngại hỏi:
- Không còn chỗ nào để về ăn Tết thật sao?
- Chỗ nào? Chỉ có nhà trọ, nhà chứa, quanh năm chui nhủi bám víu vào những chỗ ấy mà sống qua ngày. Nhưng bây giờ, tiền hết thì nhà trọ đuổi, nợ nần chưa trả xong, lại thêm tàn tạ héo úa, thì nhà chứa cũng chẳng chịu chứa nữa!
- Sao người ta tệ bạc vậy? Vắt chanh bỏ vỏ à?
- Người ta ưu ái cho mấy đứa trẻ măng, mấy đứa tuổi mười tám đôi mươi thậm chí có đứa mới đôi tám. Mình địch không lại tụi nó đâu. Tụi nhỏ bây giờ đông lắm, ở khắp các vùng quê nghèo đổ về phồn hoa đô hội để tiến thân bằng cách... hiến thân!
Tiến thân bằng cách hiến thân. Những từ ngữ ấy thật lạ lẫm đối với tôi, lần đầu tiên tôi nghe được, lại được thốt lên từ một giọng mỉa mai chua chát của cô gái giang hồ, khiến cho tôi thoáng rùng mình kinh sợ, lại thấy tim mình nhoi nhói vì một nỗi xót thương cho phận gái truân chuyên giữa dòng đời bát nháo... Tôi bàng hoàng, xót xa. Cái đau đớn, tủi nhục, cùng cực của cô gái đã dập tắt những nỗi buồn nhẹ tênh, tự ái vặt vãnh trong tôi, dập tắt thật nhanh. Tôi quên đi chuyện mình vừa mới xích mích với chồng, chỉ còn biết trước mặt tôi là thân phận bèo dạt hoa trôi vô định, mang theo một ước ao bé nhỏ, nhưng không hề với tới được. Tôi sờ ngực áo, rút ra mấy tờ giấy bạc polymer còn nằm nguyên từ chiều, trao hết qua tay cô gái. Cô gái không chút vui mừng, không vồn vã cũng không tỏ vẻ bất cần, thản nhiên nhận mấy tờ bạc, chẳng thèm đếm thử xem được bao nhiêu tiền, trên ba trăm nghìn đồng chứ đâu có ít, hỏi:
- Còn chị thì sao đây?
Tôi kể sơ qua chuyện mình. Cô gái cười sằng sặc nói:
- Chị rõ khùng. Chỉ vì những chuyện nhỏ nhặt, vớ vẩn, mà dám bỏ đi khỏi tổ ấm gia đình của mình đang đầy ắp hạnh phúc. Chị hãy biết quý trọng những gì đang có được, chứ đừng làm hao hụt, uổng!
Tôi rùng mình, tỉnh ngộ. Cô gái cười mếu máo, nói tiếp:
- Tôi cả đời cứ ước mơ có được tấm chồng, một mái ấm nghèo nát cũng được, rồi có đứa con. Vợ chồng có nhau trong đói khổ cũng vui. Hạnh phúc nhỏ nhoi, ước mơ nhỏ bé quá, mà sao cứ ở mãi trong chiêm bao mộng mị, không bao giờ nắm bắt được...
Tôi đứng dậy. Tôi phải về ngay. Cô gái vẫn tiếp tục:
- Ngay từ giây phút này đây, tôi chỉ mong ước có một điều...
Tôi khựng lại, hỏi:
- Điều gì?
Cười chua chát, cô gái thều thào:
- Ước gì trong giờ giao thừa, có một chàng ngớ ngẩn nào đó, xấu xí cũng được, đần độn cũng được, nghèo rách cũng được, nhưng miễn là thương tôi, thích tôi, chịu dìu tôi về nhà, hai đứa sẽ cùng đón giao thừa, ăn ngủ với nhau, qua ba ngày Tết thật vui vẻ, rồi chia tay nhau cũng được, mà sống luôn với nhau thì càng tốt, quá hạnh phúc cho tôi. Nhưng điều này... lại là chiêm bao!
Tôi cảm thấy như vừa bị ai đó xát muối vào ruột gan mình. Nhắm mắt lại cho nước mắt rơi ra, rồi bước thật nhanh rời khỏi nơi cô gái ngồi, tôi băng băng về nhà mình... Anh ấy đã bồng bé Mi Mi đi đâu rồi. Chắc là anh ấy đang đi tìm tôi, tìm ở hướng ngược lại. Sao không chịu đi ra phố ngã sáu nhỉ? Tôi tất tả băng đi trên đường vắng ngắt, mắt dáo dác ngó xa ngó gần, tìm hình bóng thân quen của chồng con. Không thấy đâu. Đã sắp đến giờ đón giao thừa rồi. Tôi bắt đầu bước như chạy ngược trở lại phố ngã sáu có bùng binh vòng xuyến. Phố im ắng. Bùng binh trơ trọi. Cô gái đã đi rồi. Tôi ngơ ngác giữa phố khuya vào đêm cuối năm, bắt đầu tự chửi rủa mình. Chợt, từ xa một chiếc xích lô đang chở khách phóng lại. Xích lô thắng kít một bên tôi. Tôi trố mắt nhìn lên, nhận ra người ngồi trên xe là... cô gái khi nãy. Cô gái vui vẻ ra mặt, giọng cất lên cũng đầy sinh khí hỏi:
- Sao chưa chịu về nhà mà còn đứng sớ rớ ở đây nữa hả “bà”?
Tôi ngạc nhiên nhìn cô gái, rồi nhìn anh xích lô nói:
- Về rồi, nhưng anh ấy bồng con đi đâu mất tiêu...
- Đi tìm chị chứ đi đâu. Mới thấy một ông bồng con đi lên đi xuống hớt hơ hớt hải ở dưới dốc kia kìa, chắc là anh ấy rồi. Về lẹ đi. Lẹ đi!
Tôi mừng quá, định bước đi, nhưng chợt nhớ lại hỏi:
- Chị bây giờ định đi đâu?
- Đi về nhà ảnh, đón giao thừa với ảnh!
Tôi nhìn anh xích lô bằng ánh mắt nghi ngại, nói tỉnh:
- Coi chừng vợ người ta đánh ghen thì… mất ăn Tết đó!
Anh xích lô cười ha hả vang rền cả trời khuya vắng, nói giọng oang oang:
- Đừng lo. Tôi độc thân, chưa có vợ con gì, cũng chẳng có nhà cửa, cũng là dân bụi sống rày đây mai đó thôi!
- Vậy bây giờ anh chở chị ấy đi đâu?
- Về vỉa hè, về tổ ấm tạm bợ của tôi. Đón giao thừa hai đứa, ăn Tết một cặp một đôi, thì chắc là vui hơn một mình sô-lô rồi!
Cô gái cười hồn nhiên, nheo mắt với tôi, nói rổn rảng:
- Ước gì được nấy rồi, còn gì sướng bằng? Thôi, đi nghen, chị về lẹ đi! Của báu ở ngay trong nhà mà không biết giữ!
Tôi ngẩn người ra đứng đó. “Của báu trong nhà”ø. Tôi chợt nhớ đến câu kệ “Gia trung hữu bảo hưu tầm mích; Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” (của báu trong nhà thôi tìm kiếm, đối cảnh vô tâm hỏi chi thiền), mà đầu óc sáng bừng lên. Chiếc xích lô lăn bánh đi, chở theo một người bạn mới quen của tôi chạy về một nơi chốn nào đó thật mơ hồ. Nhưng có điều không mơ hồ chút nào, thấy rất rõ, là niềm hân hoan hớn hở đang tràn đầy và sáng rực trên nét mặt của cô gái giang hồ, và cả anh chàng đạp xích lô đen đủi xấu xí. Tôi đứng dõi mắt trông theo, thầm cầu chúc cho họ tận hưởng được không chỉ là giờ phút, hay ngày tháng, mà là những năm thật sự hạnh phúc, cho dù là hạnh phúc đơn sơ nhỏ bé.
Chiếc xích lô khuất hẳn sau khúc quanh. Tôi trở về với chính mình. Và, tôi đi như chạy bằng đôi chân hỏng đất về hướng con dốc chạy xuống chợ. Chưa bao giờ tôi thèm khát nhào đến ôm chầm lấy chồng và con mình như trong giây phút này...

Lê Tấn Quốc và tiếng kèn Saxophone đơn độc trong bóng tối.
HoangHac Đối với sinh hoạt về đêm ở Sài Gòn trước cũng như sau năm 75 và cho đến hiện nay, Lê Tấn Quốc là một nhạc sĩ sử dụng kèn được nhiều người biết tới. Một phần vì khả năng nhuần nhuyễn của anh qua các loại kèn saxo, nổi bật hơn cả là Tenor sax. Phần khác, anh là một nhạc sĩ khiếm thị, nhưng tài nghệ đã khiến nhiều người trong nghề cảm phục.
Lê Tấn Quốc sinh tại Sài Gòn năm 1953. Song thân anh có 7 người con, không kể một số con riêng của cha anh với 2 đời vợ trước. Lê Tấn Quốc còn có hai người anh cũng là những nhạc sĩ quen thuộc của các vũ trường Sài Gòn từ rất lâu, biệt danh là Paul và Jacques.
Lê Tấn Quốc ập gia đình với ca sĩ Họa Mi 1976.
Đến tháng giêng năm 88, Họa Mi sang Pháp trình diễn. Sau đó, Họa Mi đã quyết định ở lại và không hề báo cho Quốc biết trước quyết định này.
Lê Tấn Quốc tâm sự thêm là sau khi Họa Mi ra đi, anh biết là cuộc sống hôn nhân của anh đã chấm dứt: “Khi Họa Mi đi coi như xong rồi, coi như tan vỡ rồi. Đó là định mệnh”. Và khi biết Họa Mi không trở lại Việt Nam: “Lúc đó mình thấy cũng hụt hẫng lắm. Đi làm về thấy 3 đứa con nằm ngủ lăn lóc rất tội nghiệp.”
Lê Tấn Quốc cho rằng Họa Mi đi Pháp ở là do tình trạng kinh tế khó khăn của gia đình chứ không có lý do gì khác. Vì sau đó vợ anh cũng đã hoàn tất thủ tục cho chồng con cùng sang đoàn tụ tại Pháp.
Năm 1990, Lê Tấn Quốc cùng 3 con sang Pháp với Họa Mi. Vấn đề đầu tiên là hai người tìm cách chữa trị bệnh mắt của anh. Tuy nhiên, các bác sĩ điều trị cho biết họ cũng bó tay.
Sau vài tháng ở Pháp, Họa Mi đề nghị làm thủ tục để Quốc được hưởng qui chế tỵ nạn, nhưng Quốc nhất định từ chối, anh quyết định quay trở lại Việt Nam. Anh cũng không giấu diếm những mặc cảm của mình. Anh cho biết sẽ chỉ ở lại nếu mắt của mình có thể chữa được. Anh nói: “Tới bây giờ em chưa bao giờ ân hận vì đã trở về. Em để các con ở lại cho chúng nó ăn học”.
Lê Tấn Quốc quay trở lại Sài Gòn vào cuối năm 1990, để lại 3 con sống với Họa Mi. Con trai lớn của 2 người năm nay 31 tuổi và đã có gia đình, người con trai kế 27 tuổi và cô con gái út năm nay 24.
Lê Tấn Quốc cũng cho biết Họa Mi đã không giấu diếm khi tâm sự với anh là có cảm tình với một người Việt lớn hơn chị 12 tuổi trong thời gian sống ở Pháp. Người này là giám đốc một công ty sản xuất kem và bánh ngọt. Anh mừng cho Họa Mi đã gặp được một người tốt.
Nguyên nhân khiến họ chia tay không phải đến từ sự đổ vỡ hạnh phúc. Và cũng chẳng phải do lỗi lầm của một ai hoặc do một sự xung đột nào đó. Mà chỉ do đầu óc thực tế của cả đôi bên. Vì thật sự cho đến lúc quyết định như vậy, cả hai đều vẫn dành cho nhau những tình cảm rất tốt đẹp sau khi đã có với nhau 3 người con.
Câu chuyện gia đình giữa một nhạc sĩ kèn khiếm thị và một nữ ca sĩ nổi tiếng này đã có một thời kỳ gây nhiều xúc động nơi mọi người.
NguoiVietBoston theo VOA và bài viết của cố nhạc sĩ Trường Kỳ
Và sau đây mời độc giả NguoiVietBoston nghe một số nhạc phẩm qua tiếng kèn saxophone tuyệt vời nhưng cũng đầy nuối tiếc về một thời đã yêu và đã xa của Lê Tấn Quốc:
Thơ Xuân người xa quê
Xuân nay tôi thật gần. Sao xuân lại xa quá. Trời Tây đông buốt giá. Biết bao giờ gặp xuân. (Trần Văn Dương, Ba Lan).
Một cụ già đạp xe qua vườn hoa tại Ba Lan vào mùa xuân. Ảnh: blogspot.com.
Lại thêm một mùa đông giá lạnh nơi xứ người nhớ quê nhớ Tết.... Thấy cuộc thi "Xuân quê hương" thật thú vị,
tôi ngẫu hứng làm một bài thơ tham dự cho vui, như "góp lá rừng văn".
Kính chúc cô bác xa gần trong và ngoài nước một năm mới Tân Mão an khang thịnh vượng.
Lần trước tôi chờ xuân.
Tuyết rơi ngoài cửa sổ.
Hành lang hun hút gió.
Tôi thẫn thờ đón xuân.
Xuân nay tôi thật gần.
Sao xuân lại xa quá.
Trời tây đông buốt giá.
Biết bao giờ gặp xuân.
Xuân ơi nhớ muôn lần.
Yêu xuân trong xa cách.
Mơ xuân ngày gặp mặt.
Anh khẽ hát mừng xuân.
Quê hương dẫu có xa gần.
Mai vàng đào biếc trên cành nở hoa.
Lung linh khắp chốn quê nhà.
Tặng em khúc hát của người phương xa.
Trần Văn Dương
Xuân nay tôi thật gần. Sao xuân lại xa quá. Trời Tây đông buốt giá. Biết bao giờ gặp xuân. (Trần Văn Dương, Ba Lan).
Một cụ già đạp xe qua vườn hoa tại Ba Lan vào mùa xuân. Ảnh: blogspot.com.
Lại thêm một mùa đông giá lạnh nơi xứ người nhớ quê nhớ Tết.... Thấy cuộc thi "Xuân quê hương" thật thú vị,
tôi ngẫu hứng làm một bài thơ tham dự cho vui, như "góp lá rừng văn".
Kính chúc cô bác xa gần trong và ngoài nước một năm mới Tân Mão an khang thịnh vượng.
Lần trước tôi chờ xuân.
Tuyết rơi ngoài cửa sổ.
Hành lang hun hút gió.
Tôi thẫn thờ đón xuân.
Xuân nay tôi thật gần.
Sao xuân lại xa quá.
Trời tây đông buốt giá.
Biết bao giờ gặp xuân.
Xuân ơi nhớ muôn lần.
Yêu xuân trong xa cách.
Mơ xuân ngày gặp mặt.
Anh khẽ hát mừng xuân.
Quê hương dẫu có xa gần.
Mai vàng đào biếc trên cành nở hoa.
Lung linh khắp chốn quê nhà.
Tặng em khúc hát của người phương xa.
Trần Văn Dương
Người Cali ăn Tết đúng kiểu Việt Nam
Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV) - Sài Gòn ngày 29 Tết đường phố đông như mắc cửi, từ chợ lớn đến chợ nhỏ, từ siêu thị bình dân đến siêu thị dành cho giới nhà giàu,
đâu đâu cũng người là người. Ai cũng tất bật lo sắm sửa ăn Tết, trong những ngày cận kề giao thừa, dù ăn lớn ăn nhỏ, cũng phải ăn.
Không khí những ngày năm hết Tết đến ở thủ đô Little Saigon của người Việt tị nạn có lẽ cũng không kém gì so với không khí nhộn nhịp, rộn ràng ở quê hương.
(Hình: Ngọc Lan/Người Việt) Ở Little Saigon, các con đường đổ về phố Bolsa, khu chợ Tết Phước Lộc Thọ cũng đông đúc như nêm.
Cũng xe là xe. Và người đi bộ. Như hội.
Nhất là vào những ngày cuối tuần khi Xuân sắp chạm ngõ.
Những năm đầu khi người Việt Nam mới đặt chân đến vùng đất này, việc ăn Tết Nguyên Ðán chỉ được tổ chức một cách tượng trưng, đơn giản. Người ta cảm thấy lòng chông chênh nhiều nỗi nhớ quê nhà, bồn chồn khắc khoải không biết khi nào mới đến ngày đoàn viên cùng gia đình, hơn là tung tăng sắm sửa, cúng kiếng.
Nhưng giờ đây, qua 35 năm, không khí những ngày năm hết Tết đến ở thủ đô Little Saigon của người Việt tị nạn có lẽ cũng không kém gì so với không khí nhộn nhịp, rộn ràng ở quê hương.
***
Sáng Thứ Bảy, 26 Tết, hòa trong dòng người từ nhiều nơi đổ về chợ hoa Phước Lộc Thọ là gia đình anh Khanh Nguyễn, cư dân thành phố Pasadena, cách Little Saigon khoảng 45 phút lái xe. Cả nhà anh Khanh, từ bố mẹ, anh chị, các con các cháu, đều đã thành lệ, năm nào cũng đi chợ hoa, vừa ăn uống, chụp hình, vừa mua đồ sắm Tết. Cả nhà ai nhìn cũng “vui như Tết.”
Cả nhà anh Khanh Nguyễn (thứ ba từ phải), ở thành phố Pasadena, đã thành lệ, năm nào cũng đi chợ Tết, vừa ăn uống, chụp hình,
vừa mua đồ sắm Tết. Cả nhà ai nhìn cũng “vui như Tết.” (Hình: Ngọc Lan/Người Việt) “Ðã 30 năm rồi, tôi chưa về Việt Nam ăn Tết, nhưng năm nào tôi cũng cùng gia đình xuống Bolsa, để hưởng chỉ một chút không khí, hương vị ngày Xuân. Như vậy thôi cũng đủ rồi,” anh Khanh Nguyễn nói với phóng viên Người Việt.
Dù nói rằng chỉ “để hưởng một chút không khí hương vị ngày Xuân,” nhưng thực ra gia đình anh Khanh Nguyễn lại ăn mừng năm mới Âm lịch rất “bài bản.”
Những ngày cuối tuần ngay trước khi Xuân về, các thành viên trong đại gia đình anh Khanh Nguyễn cùng nhau đi chợ Tết, mua mai, mua đào, mua bánh mứt, trái cây, vừa chưng vừa cúng trong nhà, vừa mang biếu cho người thân, bạn bè.
Anh Khanh cho biết, “Thứ Tư này, ngày 30 Tết, là tôi bắt đầu xin nghỉ. Năm nào cũng vậy, làm gì làm tôi cũng lấy một tuần phép đúng dịp này, rồi xin phép cho mấy đứa nhỏ nghỉ vài ngày để ở nhà đón năm mới y như lúc còn ở Việt Nam.”
Theo lời người đàn ông còn mang tâm hồn “rất Việt Nam” này thì “từ hồi ông bà cụ sang, Tết đến cả nhà cũng đi chùa, cúng kiếng y hệt như lúc còn ở Việt Nam. Không rườm rà quá, nhưng tối thiểu cũng đón giao thừa, đi chùa ngay sau giao thừa, rồi chúc Tết ông bà, lì xì.”

Mẹ mua cho con áo dài mặc Tết nha! (Hình: Ngọc Lan/Người Việt) “Tôi thích chụp hình cho mấy đứa nhỏ trong những ngày này, cho chúng mặc quốc phục để như ý ba mẹ tôi, là giáo huấn cho tụi nó biết về ngày Tết cổ truyền là như thế nào,” anh Khanh vui vẻ cho biết thêm.
Chị Tuyết Hồng Nguyễn, một cư dân ở Garden Grove, vừa tan buổi chợ ngày 28 Tết, vừa thở hổn hển nói, “Mới mua thêm lỗ tai heo, lỗ mũi heo về làm giò thủ.”
Chuẩn bị cho ngày Tết, chị Tuyết Hồng cũng mua hoa về cắm, mua trái cây về chưng. Chị Hồng không chưng trái cây ngũ quả kiểu ‘cầu, sung, dừa, đủ, xài,” như ông bà hay nói mà thấy “bưởi đẹp quá thì chưng bưởi, thanh long tươi quá thì chưng thanh long.”
“Năm nay, ngoài nồi khổ qua hầm thịt, tôi cũng kho thịt với trứng, mà là trứng vịt hẳn hoi chứ không phải trứng gà, bởi ông xã tôi nói thèm mùi trứng vịt kho.” Chị Hồng tiết lộ thêm.
Nhìn nè, bao lì xì hình này đẹp nè! (Hình: Ngọc Lan/Người Việt) Bên nhà mẹ chị Tuyết Hồng thì món ăn ngày Xuân có thêm gà hầm măng. “Phải hầm gà, không được hầm với vịt, vì ngày đầu năm không nên ăn vịt, nếu không sẽ lạch bạch, chậm chạp như vịt suốt năm.” Chị Hồng “nghiêm giọng” nói thêm, “Ngày đầu năm cũng không được ăn cháo, không hên.”
Có lẽ vì cháo hay dành cho người bệnh ăn nên sợ ăn cháo sẽ bệnh hoạn cả năm chăng?
Chị Hồng cho rằng mình “thích ăn bánh tét,” nhưng “bánh chưng đặt trên bàn thờ nhìn đẹp hơn” thế nên chị mua cả bánh chưng lẫn bánh tét cho đề huề.
Ngày mùng Một Tết, sau lễ ở nhà thờ lúc 7 giờ tối, tất cả các gia đình anh chị em của chị Tuyết Hồng sẽ tụ họp lại nhà bố mẹ chị, cùng chúc Tết, lì xì và ăn bữa cơm sum họp ngày đầu năm.
Không chuẩn bị chu đáo như gia đình anh Khanh Nguyễn, hay chị Tuyết Hồng, cô Giang Trần, cư dân thành phố Anaheim, “ăn Tết một cách đại khái.”
Giang cho biết những năm trước đây, khi còn ở chung nhà với bố mẹ chồng thì mẹ chồng cô lo sắm sửa mọi thứ trong nhà, và vợ chồng cô “ăn ké theo.” Năm nay ra ở riêng, Giang cũng đi mua bánh chưng, củ kiện cho “ra dáng ngày Tết” nhưng chủ yếu “cũng là cho có.” Tuy nhiên, cuối tuần vừa qua, Giang cũng đi chợ hoa Phước Lộc Thọ, ngắm hoa, chụp hình, và “để ngửi mùi pháo Tết.”
Nhiều hàng quá nên mua cái nào ăn Tết cho ngon bây giờ? (Hình: Ngọc Lan/Người Việt) Về kế hoạch những ngày đầu năm sắp tới, Giang Trần cũng “sẽ thức khuya đón giao thừa cho giống Tết, rồi... đi ngủ vì sáng mùng Một vẫn phải đi làm như thường lệ, không được nghỉ.”
“Có thể sẽ hẹn hò với vài người bạn bè tụ lại ăn Tết vào Chủ Nhật, mùng 4 cho vui,” Giang dự tính.
Trong khi mọi người nô nức chuẩn bị Tết, cô Trần Diễm Châu, cũng là một cư dân ở thành phố Anaheim, lại “tiu nghỉu” nói, “Năm nay vào chương trình học khó quá, nên bao nhiêu thời gian đổ dồn hết vào chuyện học, không còn thời gian, đầu óc đâu mà nghĩ đến lo sắm sửa.”
Những năm trước, Diễm Châu cũng chuẩn bị ăn Tết khá kỹ lưỡng cho gia đình, như “tìm chỗ đặt người ta gói bánh chưng bánh tét trước cả tháng, rồi trang hoàng nhà cửa, mua hoa, mua trái cây về chưng.”
Châu nói một cách tiếc rẻ, “Năm nay nghe mọi người nói chợ Tết Phước Lộc Thọ vui lắm, tôi cũng nôn nao quá chừng nhưng bài vở nhiều quá, biết làm sao bây giờ! Ðành nhịn ăn năm nay, năm sau ăn bù!”
Tuy nói vậy, nhưng Diễm Châu cho biết, tuần trước cô đã cùng mẹ mình đi mua “thịt heo tươi” ở chợ Tam Biên trên đường Bolsa mang về “hầm giò, nấu phá lấu, cho vào tủ lạnh, đến Tết sẽ mang ra ăn.”
***
Chủ Nhật 27 Tết, trời bỗng nổi mưa, xám xịt. Thế nhưng các ngả đường đổ về trung tâm Bolsa, Phước Lộc Thọ vẫn đông nghịt xe.
Những ngôi chợ Việt Nam quanh vùng Little Saigon tràn ngập những mặt hàng ăn Tết, nào bánh chưng, bánh tét, nào mứt bí tăm bí cây, mứt dừa khô, dừa gừng dẻo, nào hạt dưa, hạt bí, mứt me, mứt mãng cầu, mứt hạt sen. Lại thêm tôm khô, củ kiệu, dưa món, dưa hành, bánh tổ...
Không khí đậm sắc Xuân trong một ngôi chợ Việt Nam quanh vùng Little Saigon. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt) Những trái cây hay được người Việt mua chưng trên bàn thờ tổ tiên cũng được đổ về, như những trái mãng cầu xiêm còn chưa kịp nở gai, những trái thơm nhỏ như trái cam... Ra chợ hoa, người ta còn bắt gặp những chậu “mai tứ quý” đầy nhóc nụ, chưa biết có kịp nở đúng ngày mùng Một hay không, nên phần lớn người đi sắm Tết vẫn chọn mua đào hồng, đào thế, hay cúc vàng, và các chậu lan về cho thêm sắc ngày Xuân.
Trong chợ Thuận Phát, một người phụ nữ mua cả bao nếp 50 pounds để “về nhà gói bánh chưng.” Người phụ nữ cho biết, “Nhiều năm rồi, năm nào nhà tôi cũng cùng nhau gói bánh ăn trong nhà!”
Trong khi đó, có người đứng đắn đo nên mua một cái bánh chưng hay mua đòn bánh tét, lại phải thêm hũ củ kiệu hay là hũ dưa món, bởi “tôi ở trọ một mình, mua nhiều sợ ăn không hết! Nhưng không mua thì lại không ra không khí ngày Tết!”
Trong chợ Phước Lộc Thọ, các hàng quán đặc nghẹt người, phần lớn là khách từ các nơi đổ về, vì như một vị khách vừa ngồi thưởng thức các món ốc len xào dừa, ốc gạo, hội vịt lộn vừa nói, “Trên đất Mỹ này, không đâu có không khí Tết đậm đà như Little Saigon.”
Có những người phụ nữ trẻ dẫn theo con nhỏ vào chợ tìm mua cho bé những bộ trang phục áo dài, khăn đóng. Bên quầy hàng khác, có những người thanh niên đứng lựa mua bao đựng tiền lì xì.
Và lạ lùng nhất có lẽ là những người đứng canh chừng “police” cho các bàn ‘bầu cua cá cọp’ chung chi, khi vừa thấy thấp thoáng đèn xe cảnh sát thì đám người tự động tan ra, chỉ còn trơ trọi cái bàn! Hay khi những dây pháo vừa nổ vang trời dứt tiếng, khói còn chưa kịp tan, lại có người đàn ông vừa đạp xe vừa rao “Mua pháo không? Ai mua pháo không?”
***
“Ði chợ Tết lúc nào tôi cũng có nhiều cảm xúc lắm! Tôi nhớ Việt Nam, tôi nhớ tôi lúc nhỏ và nhớ nhiều thứ lắm!” Anh Khanh Nguyễn chia sẻ.
30 năm chưa một lần ăn Tết tại quê nhà, nên không khí Tết, mùi pháo Tết nơi Phước Lộc Thọ, chợ Bến Thành khiến anh Khanh luôn cảm thấy nôn nao. Anh nói tiếp, “Giờ các con tôi đã lớn, tôi cắt nghĩa cho tụi nó, biết những hình ảnh này gợi nhớ cho daddy hồi nhỏ khoái quần áo mới, trong khi bên này quần áo mới đâu có nghĩa lý gì, mua là có liền. Còn khi xưa chỉ có được quần áo mới mỗi khi đến Tết, rồi mong được chúc Tết để nhận lì xì...”
Chị Tuyết Hồng Nguyễn, dù sau một năm bận rộn, vất vả cũng vẫn nói, “Làm gì làm cũng phải ăn Tết chứ! Mình sang đây chỉ còn mỗi cái Tết, nên kệ, cứ xả láng luôn!”
Tiếng người phụ nữ cười vang như Tết.
Trên đường Bolsa, ngang qua chợ Bến Thành, một cô gái tuổi đôi mươi lần đầu tiên ăn Tết xa quê, nói với người lái xe, “Quay kiếng xuống cho con ngửi mùi pháo một chút!”
Chiếc xe chạy về, mang theo cả một trời đầy hương Tết.
Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV) - Sài Gòn ngày 29 Tết đường phố đông như mắc cửi, từ chợ lớn đến chợ nhỏ, từ siêu thị bình dân đến siêu thị dành cho giới nhà giàu,
đâu đâu cũng người là người. Ai cũng tất bật lo sắm sửa ăn Tết, trong những ngày cận kề giao thừa, dù ăn lớn ăn nhỏ, cũng phải ăn.
Không khí những ngày năm hết Tết đến ở thủ đô Little Saigon của người Việt tị nạn có lẽ cũng không kém gì so với không khí nhộn nhịp, rộn ràng ở quê hương.
(Hình: Ngọc Lan/Người Việt) Ở Little Saigon, các con đường đổ về phố Bolsa, khu chợ Tết Phước Lộc Thọ cũng đông đúc như nêm.
Cũng xe là xe. Và người đi bộ. Như hội.
Nhất là vào những ngày cuối tuần khi Xuân sắp chạm ngõ.
Những năm đầu khi người Việt Nam mới đặt chân đến vùng đất này, việc ăn Tết Nguyên Ðán chỉ được tổ chức một cách tượng trưng, đơn giản. Người ta cảm thấy lòng chông chênh nhiều nỗi nhớ quê nhà, bồn chồn khắc khoải không biết khi nào mới đến ngày đoàn viên cùng gia đình, hơn là tung tăng sắm sửa, cúng kiếng.
Nhưng giờ đây, qua 35 năm, không khí những ngày năm hết Tết đến ở thủ đô Little Saigon của người Việt tị nạn có lẽ cũng không kém gì so với không khí nhộn nhịp, rộn ràng ở quê hương.
***
Sáng Thứ Bảy, 26 Tết, hòa trong dòng người từ nhiều nơi đổ về chợ hoa Phước Lộc Thọ là gia đình anh Khanh Nguyễn, cư dân thành phố Pasadena, cách Little Saigon khoảng 45 phút lái xe. Cả nhà anh Khanh, từ bố mẹ, anh chị, các con các cháu, đều đã thành lệ, năm nào cũng đi chợ hoa, vừa ăn uống, chụp hình, vừa mua đồ sắm Tết. Cả nhà ai nhìn cũng “vui như Tết.”
Cả nhà anh Khanh Nguyễn (thứ ba từ phải), ở thành phố Pasadena, đã thành lệ, năm nào cũng đi chợ Tết, vừa ăn uống, chụp hình,
vừa mua đồ sắm Tết. Cả nhà ai nhìn cũng “vui như Tết.” (Hình: Ngọc Lan/Người Việt) “Ðã 30 năm rồi, tôi chưa về Việt Nam ăn Tết, nhưng năm nào tôi cũng cùng gia đình xuống Bolsa, để hưởng chỉ một chút không khí, hương vị ngày Xuân. Như vậy thôi cũng đủ rồi,” anh Khanh Nguyễn nói với phóng viên Người Việt.
Dù nói rằng chỉ “để hưởng một chút không khí hương vị ngày Xuân,” nhưng thực ra gia đình anh Khanh Nguyễn lại ăn mừng năm mới Âm lịch rất “bài bản.”
Những ngày cuối tuần ngay trước khi Xuân về, các thành viên trong đại gia đình anh Khanh Nguyễn cùng nhau đi chợ Tết, mua mai, mua đào, mua bánh mứt, trái cây, vừa chưng vừa cúng trong nhà, vừa mang biếu cho người thân, bạn bè.
Anh Khanh cho biết, “Thứ Tư này, ngày 30 Tết, là tôi bắt đầu xin nghỉ. Năm nào cũng vậy, làm gì làm tôi cũng lấy một tuần phép đúng dịp này, rồi xin phép cho mấy đứa nhỏ nghỉ vài ngày để ở nhà đón năm mới y như lúc còn ở Việt Nam.”
Theo lời người đàn ông còn mang tâm hồn “rất Việt Nam” này thì “từ hồi ông bà cụ sang, Tết đến cả nhà cũng đi chùa, cúng kiếng y hệt như lúc còn ở Việt Nam. Không rườm rà quá, nhưng tối thiểu cũng đón giao thừa, đi chùa ngay sau giao thừa, rồi chúc Tết ông bà, lì xì.”

Mẹ mua cho con áo dài mặc Tết nha! (Hình: Ngọc Lan/Người Việt) “Tôi thích chụp hình cho mấy đứa nhỏ trong những ngày này, cho chúng mặc quốc phục để như ý ba mẹ tôi, là giáo huấn cho tụi nó biết về ngày Tết cổ truyền là như thế nào,” anh Khanh vui vẻ cho biết thêm.
Chị Tuyết Hồng Nguyễn, một cư dân ở Garden Grove, vừa tan buổi chợ ngày 28 Tết, vừa thở hổn hển nói, “Mới mua thêm lỗ tai heo, lỗ mũi heo về làm giò thủ.”
Chuẩn bị cho ngày Tết, chị Tuyết Hồng cũng mua hoa về cắm, mua trái cây về chưng. Chị Hồng không chưng trái cây ngũ quả kiểu ‘cầu, sung, dừa, đủ, xài,” như ông bà hay nói mà thấy “bưởi đẹp quá thì chưng bưởi, thanh long tươi quá thì chưng thanh long.”
“Năm nay, ngoài nồi khổ qua hầm thịt, tôi cũng kho thịt với trứng, mà là trứng vịt hẳn hoi chứ không phải trứng gà, bởi ông xã tôi nói thèm mùi trứng vịt kho.” Chị Hồng tiết lộ thêm.
Nhìn nè, bao lì xì hình này đẹp nè! (Hình: Ngọc Lan/Người Việt) Bên nhà mẹ chị Tuyết Hồng thì món ăn ngày Xuân có thêm gà hầm măng. “Phải hầm gà, không được hầm với vịt, vì ngày đầu năm không nên ăn vịt, nếu không sẽ lạch bạch, chậm chạp như vịt suốt năm.” Chị Hồng “nghiêm giọng” nói thêm, “Ngày đầu năm cũng không được ăn cháo, không hên.”
Có lẽ vì cháo hay dành cho người bệnh ăn nên sợ ăn cháo sẽ bệnh hoạn cả năm chăng?
Chị Hồng cho rằng mình “thích ăn bánh tét,” nhưng “bánh chưng đặt trên bàn thờ nhìn đẹp hơn” thế nên chị mua cả bánh chưng lẫn bánh tét cho đề huề.
Ngày mùng Một Tết, sau lễ ở nhà thờ lúc 7 giờ tối, tất cả các gia đình anh chị em của chị Tuyết Hồng sẽ tụ họp lại nhà bố mẹ chị, cùng chúc Tết, lì xì và ăn bữa cơm sum họp ngày đầu năm.
Không chuẩn bị chu đáo như gia đình anh Khanh Nguyễn, hay chị Tuyết Hồng, cô Giang Trần, cư dân thành phố Anaheim, “ăn Tết một cách đại khái.”
Giang cho biết những năm trước đây, khi còn ở chung nhà với bố mẹ chồng thì mẹ chồng cô lo sắm sửa mọi thứ trong nhà, và vợ chồng cô “ăn ké theo.” Năm nay ra ở riêng, Giang cũng đi mua bánh chưng, củ kiện cho “ra dáng ngày Tết” nhưng chủ yếu “cũng là cho có.” Tuy nhiên, cuối tuần vừa qua, Giang cũng đi chợ hoa Phước Lộc Thọ, ngắm hoa, chụp hình, và “để ngửi mùi pháo Tết.”
Nhiều hàng quá nên mua cái nào ăn Tết cho ngon bây giờ? (Hình: Ngọc Lan/Người Việt) Về kế hoạch những ngày đầu năm sắp tới, Giang Trần cũng “sẽ thức khuya đón giao thừa cho giống Tết, rồi... đi ngủ vì sáng mùng Một vẫn phải đi làm như thường lệ, không được nghỉ.”
“Có thể sẽ hẹn hò với vài người bạn bè tụ lại ăn Tết vào Chủ Nhật, mùng 4 cho vui,” Giang dự tính.
Trong khi mọi người nô nức chuẩn bị Tết, cô Trần Diễm Châu, cũng là một cư dân ở thành phố Anaheim, lại “tiu nghỉu” nói, “Năm nay vào chương trình học khó quá, nên bao nhiêu thời gian đổ dồn hết vào chuyện học, không còn thời gian, đầu óc đâu mà nghĩ đến lo sắm sửa.”
Những năm trước, Diễm Châu cũng chuẩn bị ăn Tết khá kỹ lưỡng cho gia đình, như “tìm chỗ đặt người ta gói bánh chưng bánh tét trước cả tháng, rồi trang hoàng nhà cửa, mua hoa, mua trái cây về chưng.”
Châu nói một cách tiếc rẻ, “Năm nay nghe mọi người nói chợ Tết Phước Lộc Thọ vui lắm, tôi cũng nôn nao quá chừng nhưng bài vở nhiều quá, biết làm sao bây giờ! Ðành nhịn ăn năm nay, năm sau ăn bù!”
Tuy nói vậy, nhưng Diễm Châu cho biết, tuần trước cô đã cùng mẹ mình đi mua “thịt heo tươi” ở chợ Tam Biên trên đường Bolsa mang về “hầm giò, nấu phá lấu, cho vào tủ lạnh, đến Tết sẽ mang ra ăn.”
***
Chủ Nhật 27 Tết, trời bỗng nổi mưa, xám xịt. Thế nhưng các ngả đường đổ về trung tâm Bolsa, Phước Lộc Thọ vẫn đông nghịt xe.
Những ngôi chợ Việt Nam quanh vùng Little Saigon tràn ngập những mặt hàng ăn Tết, nào bánh chưng, bánh tét, nào mứt bí tăm bí cây, mứt dừa khô, dừa gừng dẻo, nào hạt dưa, hạt bí, mứt me, mứt mãng cầu, mứt hạt sen. Lại thêm tôm khô, củ kiệu, dưa món, dưa hành, bánh tổ...
Không khí đậm sắc Xuân trong một ngôi chợ Việt Nam quanh vùng Little Saigon. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt) Những trái cây hay được người Việt mua chưng trên bàn thờ tổ tiên cũng được đổ về, như những trái mãng cầu xiêm còn chưa kịp nở gai, những trái thơm nhỏ như trái cam... Ra chợ hoa, người ta còn bắt gặp những chậu “mai tứ quý” đầy nhóc nụ, chưa biết có kịp nở đúng ngày mùng Một hay không, nên phần lớn người đi sắm Tết vẫn chọn mua đào hồng, đào thế, hay cúc vàng, và các chậu lan về cho thêm sắc ngày Xuân.
Trong chợ Thuận Phát, một người phụ nữ mua cả bao nếp 50 pounds để “về nhà gói bánh chưng.” Người phụ nữ cho biết, “Nhiều năm rồi, năm nào nhà tôi cũng cùng nhau gói bánh ăn trong nhà!”
Trong khi đó, có người đứng đắn đo nên mua một cái bánh chưng hay mua đòn bánh tét, lại phải thêm hũ củ kiệu hay là hũ dưa món, bởi “tôi ở trọ một mình, mua nhiều sợ ăn không hết! Nhưng không mua thì lại không ra không khí ngày Tết!”
Trong chợ Phước Lộc Thọ, các hàng quán đặc nghẹt người, phần lớn là khách từ các nơi đổ về, vì như một vị khách vừa ngồi thưởng thức các món ốc len xào dừa, ốc gạo, hội vịt lộn vừa nói, “Trên đất Mỹ này, không đâu có không khí Tết đậm đà như Little Saigon.”
Có những người phụ nữ trẻ dẫn theo con nhỏ vào chợ tìm mua cho bé những bộ trang phục áo dài, khăn đóng. Bên quầy hàng khác, có những người thanh niên đứng lựa mua bao đựng tiền lì xì.
Và lạ lùng nhất có lẽ là những người đứng canh chừng “police” cho các bàn ‘bầu cua cá cọp’ chung chi, khi vừa thấy thấp thoáng đèn xe cảnh sát thì đám người tự động tan ra, chỉ còn trơ trọi cái bàn! Hay khi những dây pháo vừa nổ vang trời dứt tiếng, khói còn chưa kịp tan, lại có người đàn ông vừa đạp xe vừa rao “Mua pháo không? Ai mua pháo không?”
***
“Ði chợ Tết lúc nào tôi cũng có nhiều cảm xúc lắm! Tôi nhớ Việt Nam, tôi nhớ tôi lúc nhỏ và nhớ nhiều thứ lắm!” Anh Khanh Nguyễn chia sẻ.
30 năm chưa một lần ăn Tết tại quê nhà, nên không khí Tết, mùi pháo Tết nơi Phước Lộc Thọ, chợ Bến Thành khiến anh Khanh luôn cảm thấy nôn nao. Anh nói tiếp, “Giờ các con tôi đã lớn, tôi cắt nghĩa cho tụi nó, biết những hình ảnh này gợi nhớ cho daddy hồi nhỏ khoái quần áo mới, trong khi bên này quần áo mới đâu có nghĩa lý gì, mua là có liền. Còn khi xưa chỉ có được quần áo mới mỗi khi đến Tết, rồi mong được chúc Tết để nhận lì xì...”
Chị Tuyết Hồng Nguyễn, dù sau một năm bận rộn, vất vả cũng vẫn nói, “Làm gì làm cũng phải ăn Tết chứ! Mình sang đây chỉ còn mỗi cái Tết, nên kệ, cứ xả láng luôn!”
Tiếng người phụ nữ cười vang như Tết.
Trên đường Bolsa, ngang qua chợ Bến Thành, một cô gái tuổi đôi mươi lần đầu tiên ăn Tết xa quê, nói với người lái xe, “Quay kiếng xuống cho con ngửi mùi pháo một chút!”
Chiếc xe chạy về, mang theo cả một trời đầy hương Tết.

