QUÁN BIÊN THUỲ
Thương tiếc Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường
Tuesday, February 01, 2011
Phan Kỳ Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường đã không còn nữa. Ông đã qua đời trong nỗi cô đơn tại nhà thương Bascom, San José. Hiện tại Liên Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH Bắc Cali fornia chuẩn bị ma chay cho người cựu chiến binh sắp ra đi mà không có gia đình quyến thuộc chỉ có bạn bè thôi, và mặc dù đã nhắn tin cô con gái là Nguyễn Tường Ngọc Hương và con trai, Nguyễn Mạnh Tuân, ở bên Úc, nhưng biệt vô âm tín.
Những trang chiến sử Nguyễn Mạnh Tường xuất thân khóa 5 Vì Dân, năm 1955, tiểu sử của ông Tường thì rất đặc biệt. Bắt đầu từ trung úy Nhảy Dù đã tham gia cuộc binh biến 1960 trong lúc Tư Lệnh Nguyễn Chánh Thi và ông Phạm Văn Liễu chạy qua Cam Bốt thì ông Tường đi tù với ông Phan Khắc Sửu. Trải qua 4 năm từ 1960-1964 mới trở lại quân đội. Một thời gian sau, thuyên chuyển về Sư Ðoàn 22/BB với cấp bậc trung tá. Vào đầu năm 1970, Ðại Tá Nguyễn Văn Chức được bổ nhiệm về làm tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Tiểu Khu Bình Ðịnh, kiêm thị trưởng Thị Xã Qui Nhơn. Vì nhu cầu chiến trường và áp lực của Cộng quân muốn đánh chiếm cho bằng được cái lãnh thổ Liên Khu 5 của chúng trước 1954, nên Ðại Tá Nguyễn Văn Chức đã yêu cầu Bộ Tổng Tham Mưu và Tư Lệnh Quân Ðoàn bổ nhiệm về Bình Ðịnh hàng chục vị trung tá để giữ các chức vụ quận trưởng và đặc biệt là bộ chỉ huy Tiền Phương của tiểu khu. Từ đảm trách chức vụ tiểu khu phó kiêm tư lệnh bộ chỉ huy Tiền Phương nên ông Nguyễn Mạnh Tường trở nên anh hùng của vùng đất mà ngày xưa là quê hương Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ Quang Trung. Sau bình định, Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường về làm tư lệnh phó Sư Ðoàn 5/BB.
Sau ngày 30 tháng 4, 1975, Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường đã trải qua 13 năm tù cải tạo, còn bị kết án 12 năm tù phản nghịch, đến năm 1998 được quốc tế can thiệp ông đến Mỹ diện HO. năm 1999. Ông xa gia đình từ 1975, vợ và 2 con vượt biên đi Úc, từ đó đến nay chưa 1 lần gặp lại. Trong trang Chiến Sĩ, Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường mới thật là ly kỳ và phi thường. Ðất tung hoành của ông một thời là Bình Ðịnh-Qui Nhơn, một tỉnh, thị lớn nhất ở miền Trung, với 1 thị xã Qui Nhơn và 11 quận, 100 làng xã: Phía Tây giáp Trường Sơn, Bắc giáp Quảng Ngãi, Ðông giáp Thái Bình Dương, Nam giáp tỉnh Phú Yên. Ðây là chiến trường khốc liệt của các đơn vị cộng sản (mà với chúng là Liên Khu 5 cũ) với quân đội Ðồng Minh như Sư Ðoàn I Không Kỵ, Lữ Ðoàn 173 Dù, Sư Ðoàn Mãnh Hổ Ðại Hàn và Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 22/BB căn cứ tại Bà Di. Trung Ðoàn 40/BB ở Bồng Sơn và Trung Ðoàn 41/BB ở Gò Rừng, Phù Mỹ cùng với toàn bộ các đơn vị Ðịa Phương Quân/Nghĩa Quân an ninh diện địa thuộc Tiểu Khu Bình Ðịnh. Và cũng là nơi có gần chục tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng thay phiên nhau, nhưng chỉ có một tiểu khu phó Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường là nổi bật kiệt xuất. Trong cuộc chiến một mất một còn với Cộng quân vào năm 1972.
Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường với tài dụng binh. Ông đã tạo chiến thắng ở quân cảng Phù Cát, giữ vững căn cứ Không Quân Phù Cát và hơn thế nữa, ông đã sử dụng các đơn vị ÐPQ/NQ làm tổng trừ bị đem lại an ninh hoàn toàn cho 3 quận Bắc Bình Ðịnh từ Phù Mỹ đến Tam Quan. Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường với những chiến công hiển hách, nên Bộ Tổng Tham Mưu phải đặc cách cho ông đi giữ chức vụ sư đoàn phó Sư Ðoàn 5/BB. Và có lẽ với con người như ông Nguyễn Mạnh Tường đã say men chiến thắng và an cư cho hơn một triệu người dân tỉnh Bình Ðịnh mà không kịp gặp vợ con từ Sài Gòn ra Qui Nhơn thăm. Chờ đợi nản lòng rồi giận lẫy trở về gia trang. Vì không đo được lòng người quân tử của ông Nguyễn Mạnh Tường vì nước quên thân, vì dân phục vụ, nên đã xảy ra sự cố ngày hôm nay - một hình một bóng cô đơn hiu quạnh thênh thang về với cát bụi: Tổ Quốc Ghi Công - toàn dân Bình Ðịnh và thị xã Qui Nhơn tiếc nhớ một Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường.
Phan Kỳ, SVSQ khóa 17 Thủ Ðức
Nghị viên tổng thư ký Hội Ðồng Tỉnh Bình Ðịnh và thị xã Qui Nhơn
Tuesday, February 01, 2011
Phan Kỳ Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường đã không còn nữa. Ông đã qua đời trong nỗi cô đơn tại nhà thương Bascom, San José. Hiện tại Liên Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH Bắc Cali fornia chuẩn bị ma chay cho người cựu chiến binh sắp ra đi mà không có gia đình quyến thuộc chỉ có bạn bè thôi, và mặc dù đã nhắn tin cô con gái là Nguyễn Tường Ngọc Hương và con trai, Nguyễn Mạnh Tuân, ở bên Úc, nhưng biệt vô âm tín.
Những trang chiến sử Nguyễn Mạnh Tường xuất thân khóa 5 Vì Dân, năm 1955, tiểu sử của ông Tường thì rất đặc biệt. Bắt đầu từ trung úy Nhảy Dù đã tham gia cuộc binh biến 1960 trong lúc Tư Lệnh Nguyễn Chánh Thi và ông Phạm Văn Liễu chạy qua Cam Bốt thì ông Tường đi tù với ông Phan Khắc Sửu. Trải qua 4 năm từ 1960-1964 mới trở lại quân đội. Một thời gian sau, thuyên chuyển về Sư Ðoàn 22/BB với cấp bậc trung tá. Vào đầu năm 1970, Ðại Tá Nguyễn Văn Chức được bổ nhiệm về làm tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Tiểu Khu Bình Ðịnh, kiêm thị trưởng Thị Xã Qui Nhơn. Vì nhu cầu chiến trường và áp lực của Cộng quân muốn đánh chiếm cho bằng được cái lãnh thổ Liên Khu 5 của chúng trước 1954, nên Ðại Tá Nguyễn Văn Chức đã yêu cầu Bộ Tổng Tham Mưu và Tư Lệnh Quân Ðoàn bổ nhiệm về Bình Ðịnh hàng chục vị trung tá để giữ các chức vụ quận trưởng và đặc biệt là bộ chỉ huy Tiền Phương của tiểu khu. Từ đảm trách chức vụ tiểu khu phó kiêm tư lệnh bộ chỉ huy Tiền Phương nên ông Nguyễn Mạnh Tường trở nên anh hùng của vùng đất mà ngày xưa là quê hương Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ Quang Trung. Sau bình định, Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường về làm tư lệnh phó Sư Ðoàn 5/BB.
Sau ngày 30 tháng 4, 1975, Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường đã trải qua 13 năm tù cải tạo, còn bị kết án 12 năm tù phản nghịch, đến năm 1998 được quốc tế can thiệp ông đến Mỹ diện HO. năm 1999. Ông xa gia đình từ 1975, vợ và 2 con vượt biên đi Úc, từ đó đến nay chưa 1 lần gặp lại. Trong trang Chiến Sĩ, Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường mới thật là ly kỳ và phi thường. Ðất tung hoành của ông một thời là Bình Ðịnh-Qui Nhơn, một tỉnh, thị lớn nhất ở miền Trung, với 1 thị xã Qui Nhơn và 11 quận, 100 làng xã: Phía Tây giáp Trường Sơn, Bắc giáp Quảng Ngãi, Ðông giáp Thái Bình Dương, Nam giáp tỉnh Phú Yên. Ðây là chiến trường khốc liệt của các đơn vị cộng sản (mà với chúng là Liên Khu 5 cũ) với quân đội Ðồng Minh như Sư Ðoàn I Không Kỵ, Lữ Ðoàn 173 Dù, Sư Ðoàn Mãnh Hổ Ðại Hàn và Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 22/BB căn cứ tại Bà Di. Trung Ðoàn 40/BB ở Bồng Sơn và Trung Ðoàn 41/BB ở Gò Rừng, Phù Mỹ cùng với toàn bộ các đơn vị Ðịa Phương Quân/Nghĩa Quân an ninh diện địa thuộc Tiểu Khu Bình Ðịnh. Và cũng là nơi có gần chục tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng thay phiên nhau, nhưng chỉ có một tiểu khu phó Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường là nổi bật kiệt xuất. Trong cuộc chiến một mất một còn với Cộng quân vào năm 1972.
Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường với tài dụng binh. Ông đã tạo chiến thắng ở quân cảng Phù Cát, giữ vững căn cứ Không Quân Phù Cát và hơn thế nữa, ông đã sử dụng các đơn vị ÐPQ/NQ làm tổng trừ bị đem lại an ninh hoàn toàn cho 3 quận Bắc Bình Ðịnh từ Phù Mỹ đến Tam Quan. Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường với những chiến công hiển hách, nên Bộ Tổng Tham Mưu phải đặc cách cho ông đi giữ chức vụ sư đoàn phó Sư Ðoàn 5/BB. Và có lẽ với con người như ông Nguyễn Mạnh Tường đã say men chiến thắng và an cư cho hơn một triệu người dân tỉnh Bình Ðịnh mà không kịp gặp vợ con từ Sài Gòn ra Qui Nhơn thăm. Chờ đợi nản lòng rồi giận lẫy trở về gia trang. Vì không đo được lòng người quân tử của ông Nguyễn Mạnh Tường vì nước quên thân, vì dân phục vụ, nên đã xảy ra sự cố ngày hôm nay - một hình một bóng cô đơn hiu quạnh thênh thang về với cát bụi: Tổ Quốc Ghi Công - toàn dân Bình Ðịnh và thị xã Qui Nhơn tiếc nhớ một Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường.
Phan Kỳ, SVSQ khóa 17 Thủ Ðức
Nghị viên tổng thư ký Hội Ðồng Tỉnh Bình Ðịnh và thị xã Qui Nhơn

ĐỌC THƠ TRẠCH GẦM
Đinh Lâm Thanh Tôi yêu Trạch Gầm cả Thơ lẫn con Người. Những gì anh viết, chính là niềm đau của một người lính phải tức tưởi buông súng đầu hàng, chính là uất hận của một kẻ phải bỏ nước ra đi sau những năm tháng tù đày và cũng chính là nỗi xót xa đối với đồng đội đã một thời gắn bó với anh. Tôi yêu con người, vì anh thật xứng đáng một cấp chỉ huy,
tuy sống dưới chế độ tự do nhưng không bao giờ anh quên những người bạn sống chết với nhau đã nằm xuống hay còn kẹt lại ở quê nhà. Đời binh nghiệp của anh thật khiêm nhượng với vài ba ‘mai vàng’ dừng lại trên vai, nhưng trong lồng ngực của anh, mãi mãi là một trái tim vĩ đại mà anh đã trân trọng dành cho đồng đội đã hy sinh cho màu cờ tổ quốc và những phế nhân còn sống sót dưới chế độ cộng sản. Anh xứng đáng ngửng mặt lên khi nhìn lại những cấp chỉ huy lớn, những ‘vì sao’ đã rụng xuống ‘boong’ tàu của hạm đội Mỹ trước giờ mất nước ! Rồi 34 năm nay họ đã làm được gì cho đồng đội, thương binh, cô nhi quả phụ cũng như cho quê hương và dân tộc ? Và cứ mỗi năm, vẫn áo mũ chỉnh tề nhắc lại chiến công một thời vang bóng. Nhưng có mấy vị nhớ đến thuộc cấp của mình là những người đã hy sinh xương máu để đem lại những huy chương hiển hách trước ngực cũng như những ngôi sao lấp lánh trên cổ áo !
Nhắc đến Trạch Gầm là nói đến con người của tình cảm, luôn nặng tình với quê hương, ray rứt cho cuộc chiến và ấm ức vì đầu hàng…tất cả những trăn trở đó đều chất chứa trong thơ của anh. Đọc thơ Trạch Gầm độc giả nhận ra ngay trong con người anh là một khối tình gắn bó thiết tha với đồng đội, là ân sâu nghĩa nặng đối với bạn bè, là những người đã nằm xuống hay bị lãng quên dưới chế độ cộng sản.
Cách đây hai năm, tôi gặp Trạch Gầm trong một ngày nắng ấm tại quán café Tip-Top trên đường Westminster, Sàigòn nhỏ, Cali. Anh đọc cho nghe bài thơ ‘Lời Trước Nghĩa Trang’. Chưa dứt bốn câu đầu, anh đã bật khóc và làm tôi phải khóc theo trước ngạc nhiên của số thân hữu bạn bè. Thật khó tưởng tượng nổi, hai người đàn ông 65 và 71 tuổi đã khóc như một đứa trẻ khi nhắc đến những người bạn đã nằm xuống. Rồi hình ảnh Trạch Gầm với những giọt nước mắt bên tách càfé vẫn ngày đêm ám ảnh và gây xúc động mỗi khi tôi cầm cuốn Vụn Vặt trong tay.
Những lời thơ viết về tình đồng đội của anh đã kéo ký ức tôi trở lại quảng đời dĩ vãng mà trong thời Mậu Thân 1968, tôi đã sống trọn vẹn với những người lính thuộc trung đội tác chiến tại vùng rừng núi Quảng Đức. Những người bạn nầy đã ra đi nhưng họ vẫn sống mãi bên tôi và phù hộ cho tôi còn sót đến ngày hôm nay. Tôi xin mượn mấy câu thơ của Trạch Gầm để tưởng niệm những người lính đã nằm xuống :
Tao sống đến ngày cuối cùng cuộc chiến
Được cái hơn mầy nhìn thấy đau thương
Đành làm người ngu đổ thừa vận nước
Uổng cả tháng ngày gối đá nằm sương
(Lời trước nghĩa trang)
Cũng từ bài thơ nầy Trạch Gầm gởi đến với những người đã nằm xuống chân dung của anh trong những ngày tháng vô vị nơi quê người
Mầy đã hơn tao vì mầy đã chết
Hưởng chút lễ nghi hưởng chút ân cần
Có được người thân cho lời nuối tiếc
Còn tao bây giờ sống cũng như không
(Lời trước nghĩa trang)
Kỷ niệm để đời với Trạch Gầm là tuyển tập Vụn Vặt, cuốn thơ vừa lấy từ nhà in chưa ráo mực, anh đã biếu tôi và từ ngày đó đến nay tôi vẫn chưa đọc xong. Mỗi lần cầm cuốn thơ lên vừa nghiền ngẫm vài giòng thì tôi bị cuốn vào tâm trạng của tác giả…đau buồn cho vận nước, xót xa vì cuộc chiến và tiếc thương những người bất hạnh, rồi nước mắt tôi cũng xóa mờ những giòng chữ. Đa số thi nhân thường mượn các đề tài tình yêu nam nữ để tìm nguồn cảm hứng sáng tác nhưng trên 100 bài thơ trong tuyển tập Vụn Vặt, Trạch Gầm đã dành gần như đa số bài để nói về những gắn bó về tình huynh đệ, tình cảm của người trai thời chiến và để tưởng niệm đến đồng đội đã ra đi…
Những ai đã sống chết với đồng đội, đã cùng băng rừng lội suối, ngày đêm truy lùng địch thì mới cảm thông được tình thương gắn bó với nhau. Cuộc đời người lính chiến không có gì quý hơn ngoài chiếc ba lô độc nhất trên người, tấm ‘pông-sô’ thay mái ấm gia đình và việc kết nghĩa anh em đồng đội như tình thân ruột thịt. Họ là những người trai thời chinh chiến, hiến dâng cuộc đời cho tổ quốc non sông, thương tật, sống chết không biết sẽ đến bất chợt bao giờ. Đối với họ trên đầu là tổ quốc, trước mặt là kẻ thù, hai bên là đồng đội và sau lưng là chiếc ‘băng-ca’ hay cổ quan tài đang chờ sẵn ! Hãy nghe Trạch Gầm viết về số mệnh :
Một thoáng theo mây rơi dài nước mắt
Khóc nỗi bạn bè…lưu lạc bốn phương
Thằng mất thằng còn - Nổi trôi vận nước
Giọt ngán giọt dài ướt đẫm quê hương
(Vụn Vặt)
Những ai đã qua đoạn đường gian khổ với những lúc hành quân, lội sông, bằng rừng, vượt núi trong rét mướt, trong đói khát, trong gian khổ, ngày đuổi giặc, chiếm mục tiêu, đêm ngủ ngồi ngay tại hố cá nhân để chờ địch thì mới thấm thía được những cảnh :
‘Bi-đông’ nước bùn chia sẻ
Gói mì nhai vội chuyền tay
Chuyển nhau điếu thuốc cháy dở
Sống chết biết giờ nào hay
(Cho nhau, Thơ DinhLamThanh)
Để rồi từ đó những người con yêu quý khắp mọi nẻo đường đất nước đã trở thành anh em ruột thịt một nhà. ‘Pông-sô’cùng ngủ, cơm chung nón sắt, nước một bi-đông, miếng khô chia đôi thì việc đùm bọc sống chết với nhau vẫn là một cái gì thiêng liêng của những người khoác chiếc áo trận.
Em còn chia xẻ cùng anh
Nỗi xót xa tự ngọn ngành đau thương
Vẫy tay giã biệt chiến trường
Một ngày cũng đủ cô đơn suốt đời
(Hỏi)
Đối với bạn bè còn sống, Trach Gầm đã giải bày tâm sự về những năm tháng nơi đất khách quê người :
Mầy hỏi tao bây giờ sống ra sao
Cơm áo tha phương có phải nghẹn ngào
Gần mười năm tù còn in trong trí
Hay…cháy rồi giữa đất rộng trời cao
… Tao gởi về mầy một trang giấy trắng
Thật lao đao mầy cứ tự vẽ vời
Nơi tha phương trăm hội đoàn yêu nước
Tao ngu ngơ…không biết khóc hay cười
(Trả lời)
Rồi những đêm mưa vùng Cali, anh trăn trở như hổ nhớ rừng :
Mầy nhìn mưa mầy nhớ gì không hở ?
Tao nhìn mưa tao cứ mãi nhớ rừng
Rừng của quê hương những ngày khói lửa
Tao, bao năm dài cặm cụi hành quân
Mầy nhìn mưa…mầy nhớ gì không nhỉ
Tao nhìn mưa…Tao nhớ quá bạn bè.
(Từ cơn mưa dài)
Và cái ‘đau’ của anh vẫn vây quanh cuộc sống :
Tao bây giờ không tiềm mua rượu uống
Mà vẫn say…say ngút với nỗi buồn
Nhìn thiên hạ tranh nhau quyền yêu nước
Mấy chục năm ròng - Nước vẫn tang thương !
(Nói với bạn bè)
Mầy có tin không quê hương đã mất
Giữa lúc bọn tao nguyên vẹn hình hài
Đâu thuở quân trường đâu thời huấn nhục
Để nhận lấy ngày khốn nạn hôm nay
Một lũ đàn anh tan hàng cuốn gói
Bỏ mặc bọn tao đứng khóc dưới cờ
Món nợ tang bồng bao giờ trả nổi
Mất cả sơn hà cứ tưởng như mơ
Giờ chẳng dám nhìn ngay vào mắt Mẹ
Cũng chẳng đủ lời tâm sự cùng Cha
Đành đến thăm mày những thằng đã chết
Ngày…quê hương còn lắm nỗi thiết tha
(Lời trước nghĩa trang)
Ít thấy anh đề cập đến tình yêu đôi lứa cũng như những mộng mơ tuổi trẻ, mà nếu có, anh cũng mượn những mối tình vụn vặt để nói về thân phận đau thương đất nước cũng như những mất mát thời chiến tranh :
Anh có mẹ gì đâu mà để tặng
Một món quà sinh nhật cho em
Gặp gỡ thôi…dăm ba lần thất hẹn
Còn nhớ ngày anh còn tỉnh…chưa điên
Là thằng lính cứ rày đây mai đó
Có nhớ thương, cũng đỏ mắt phố phường
Chiếc võng tòn teng ôm đời chinh chiến
Có em vật vờ đở bớt cô đơn
(Quà sinh nhật cho người yêu)
Viết về Trạch Gầm mà không nhắc đến những chữ Đ.M. trong thơ của anh thì thật thiếu sót. Một vài người cho rằng nghe không được êm tai qua hai bài thơ :
Đọc thơ mầy…
Đ. M, tao buồn muốn khóc
Tao chẳng còn là tao, tao chẳng nên người
Mấy chục năm rồi tao lạc lỏng chơi vơi
Dù trước đó
Tao có triệu anh em chung màu áo trận
Tàn cuộc chiến…
Hình hài tao nguyên vẹn
Mười năm tù xem tựa giấc chiêm bao
Tao còn tay còn chân. Còn nỗi tự hào
Chỉ tội cái…mang ước mơ lần lựa
Cứ chờ đọi Ai cho tao nhúm lửa
Nơi tha phương tao hốt toàn tro tàn
Tro bụi từ quá khứ vinh quang
Đến nỗi đầu óc tao ung què, tao chẳng hề hay biết
Đọc thơ mầy
Đ. M. tao buồn muốn chết
Nơi quê hương mầy hào khí ngút trời
Nơi tha phương…
Tao cũng có lắm người
Yêu nước thật thà, thật thà yêu nước
Rắn không đầu, mạnh thằng nào nấy thét
Ngày cứ tàn, đất nước cứ tan thương
Hai chữ tự do sấp ngữa đoạn trường…
Tao ôm chặt lội qua ngày khốn đốn
Mầy cần súng mà tao không có súng
Nỗi nghẹn ngao nầy mới chết mẹ tao
Cám ơn mầy
…Ừ thì cũng dù sao
Nhờ mầy thét Trăm hồn sông núi thức
(Đến cùng Nguyễn Cung Thương)
Những ai đã sống đời quân ngũ, sống chết với đồng đội thì mới cảm nhận hai chữ Đ.M thoát ra từ miệng của người lính. Đối với người Miền Nam, hai chữ nầy không có nghĩa là một câu chưởi thô tục mà trong thân tình giữa bạn bè thường được xử dụng một cách thân thương. Tôi còn nhớ rõ câu nói của một đệ tử cũng như người bạn, người em theo sát tôi trong các cuộc hành quân. Một đêm trong rừng Quãng Đức, anh vén tấm ‘pông-sô’ chui vào hỏi tôi :
- Đ.M. ông thầy húp canh không ?”
Tôi hỏi lại :
- Đ.M. canh gì đó mầy ?”
- Thì Đ.M ! Canh nước mưa với bột ngọt chớ có gì nữa !”
‘Ca’ (ly bằng nhôm của lính) canh nóng thật ngon, chỉ có nước mưa pha với bột ngọt nhưng tôi thấy ấm bụng và cái mặn mà đang chạy vào tim phổi ruột gan, không biết vì bột ngọt hay chữ Đ.M. thân thương nằm trong chén canh của người lính !
Nhưng một trường hợp khác, Trạch Gầm lại xữ dụng hai chữ Đ.M, để chưởi cha bọn cộng
sản. Tôi biết anh không còn ngôn ngữ nào để diễn tả nỗi uất hận trong lòng, dù hai chữ Đ.M. nầy thật đúng nghĩa và hợp thời nhưng vẫn chưa lột hết ý nghĩa để chưởi bọn bán nước cướp của, hại dân hại nước, đem giang sơn bán cho Tàu cộng ! :
Đ.. má, cho tao chưởi mầy một tiếng
Đất của Ông Cha sao mầy cắt cho Tàu
Ngậm phải củ gì mà mầy cứng miệng
Đảng của mầy, chết mẹ… đảng tào lao
Chế độ mầy vài triệu tay cầm súng
Cầm súng làm gì… chẵng lẽ hiếp dân
Tao không tin lính lại hèn đến thế
Lại rụng rời … trước tai ách ngoại xâm
Mầy vỗ ngực. Anh hùng đầy trước ngỏ
Sao cứ luồn, cứ cúi, cứ van xin
Môi liền răng à thì ra vậy đó
Nó cạp mầy, mầy thin thít lặng thinh
Ông Cha mình bốn ngàn năm dựng nước
Một ngàn năm đánh tan tác giặc Tàu
Thân phận mầy cũng là Lê là Nguyễn
Hà cớ gì.... mầy hèn đến thế sao
Chuyện mầy làm Toàn Dân đau như thiến
Mầy chết rồi, tao nghĩ chẵng đất chôn
Hãy tỉnh lại ôm linh hồn sông núi
Cứ đà nầy... chết tiệt còn sướng hơn
Đàn gãy tai trâu.... xem chừng vô ích
Giờ mầy nghe tao chưởi còn hơn không.
(Cho tao chưởi mầy một tiếng)
Tôi tin rằng những độc giả nào đã đọc thơ Trạch Gầm cũng sẽ Yêu Trạch Gầm như tôi vậy.
Paris, Tháng Tư Đen 2009
Nguôn http: www.hvhnvtd.com
ĐỌC ‘RÁNG CHỊU’ CỦA TRẠCH GẦM
* ĐINH LÂM THANH *
Đối với Trạch Gầm, chỉ có hai cái đáng quý và đáng nhớ trong đời anh : Bạn và Rượu. Hai lãnh vực nầy tuy xa nhưng mà gần, vì uống rượu thì phải có bạn mà gặp bạn thì cần phải có rượu ! Rượu và Bạn được Trạch Gầm trang trọng nhận làm hành trang kể từ lúc anh bước chân vào quân trường Thủ Đức, rồi theo chân anh trên khắp các nẽo đường đất nước. Và cho đến ngày nay, đối với anh, vẫn còn là một cái gì trang trọng và đáng quý nhất đời. Đọc ‘Vụn Vặt’ những người yêu thơ Trạch Gầm sẽ cảm thông được thế nào là ‘tình huynh đệ’ của những ai đã một thời chiến đấu bên nhau, cũng như để tưởng nhớ những chiến hữu đã an nghỉ trong lòng đất hay đang còn lây lất dưới chế độ cộng sản ‘Vụn Vặt’ là những kỷ niệm tình người, được Trạch Gầm dệt thành thơ với lối gieo vần ân tình và giản dị.
Trạch Gầm dùng chữ ‘Vụn Vặt’ làm tựa đề cho tập thơ đầu tay, có lẽ do bản tính khiêm tốn của anh, nhưng tôi cho đó những giòng thơ lớn và chân tình phát xuất từ con tim…vì nó bộc lộ tấm lòng bao la của anh đối với tình yêu quê hương, với bạn bè đồng đội, và cũng trong đó, chính là nỗi uất ức của một người lính đã tức tưởi bỏ súng giữa đường…
Hơn một năm sau anh cho xuất bản tập thơ thứ hai. Lần nầy Trạch Gầm mượn hai chữ ‘Ráng Chịu’ để làm đề tài cho 85 bài thơ và 8 bản nhạc do Quang Lăng, Nguyễn Hữu Tân, Hoa Sông Kiên, Quốc Anh và Yên Ly phổ nhạc. Đặc biệt trong tập thơ nầy, nhiều bài anh viết từ năm 1966 (Tuổi Trẻ Bây Giờ Là Quê Hương), 1970 (Không Đề - Nói Với Người Tình Tuổi Dưới 20 – Viết Từ Lai Khê)…không ngoài mục đích ca ngợi quê hương đất nước, tình yêu thầm kín của tuổi thanh xuân đồng thời nói lên cái thân phận con người trước và sau một cuộc chiến tương tàn.
Ta có một ngày…một ngày ngồi khóc
Ta có một ngày gãy đổ ước mơ
Mười năm lính tưởng đâu là sỏi đá
Ai có ngờ lại ngồi khóc như mưa
… …
Thân lính trận, nhận lịnh gì không nhận
Nhận lịnh đầu hàng…rời rã tai ương
Hồn chinh chiến chỉ còn trơ thân xác
Thân xác không hồn…điếng ngắt cô đơn
… …
Thôi chia tay, mà về đâu đã chứ
Mất hết cả rồi…mất dễ như chơi
Lịch sử sang trang…sang trang lịch sử
Mất cả vinh quang, mất cả ngậm ngùi
Mỗi lần nhắc đến quá khứ anh đều đề cập đến rượu và những người bạn đã một thời cùng chia sẻ sống chết với nhau. Nhưng những ai quen biết đều thấy tội nghiệp cho Trạch Gầm : Rượu lúc nào vẫn còn đó nhưng anh chỉ được phép ngồi nhìn mà thôi :
Xin lỗi mầy, ừ tao xin lỗi
Một giọt bây giờ tao uống không vô
Cái gan tao đã thành gan phá lấu
Mầy không tin, cứ nhậu…ngon ơ !
Bốn câu thơ trên trong bài ‘Ngồi Nhìn Bạn Bè Uống Rượu’ mà Trạch Gầm đã đọc cho tôi nghe lúc anh vừa viết xong, trong một đêm, khi hai đứa nằm dài giữa salon tại nhà ở Anahem. Nghe đọc, tôi không can đảm nhìn vào mắt anh, dù dưới ánh đèn đỏ trên bàn thờ Cụ Bà thân mẫu của anh, tôi vẫn thấy những giọt nước mắt cứ theo lời thơ tuông xuống. Tôi rùng mình và lòng bỗng dưng chùng lại. Những hình ảnh chia sẻ ‘ngụm rượu tình nghĩa’ với đồng đội trong những lúc ngồi chờ giặc dưới giao thông hào đang hiện về trước mắt và làm tôi bật khóc…
Ngày xưa, mầy tới đâu, tao tới đó,
Nhắc lại à…mà nhắc lại làm chi
Mình rượt giặc, giặc rượt mình…tung tóe
Khi quay về lại chan chát…cụng ly
Ly mầy, ly tao, ly cho thằng chết
Thằng chết rồi mình uống thế được sao
Lính bọn mình toàn những tay hào kiệt
Xô lệch trời đất, xô lệch thương đau
Làm quan, nghèo, mình chơi bằng rượu đế
Lại cợt đùa uống nước mắt Quê Hương
Nước mắt Quê Hương, uống sao cho hết
Ngập núi, ngập rừng ngập cả gió sương
Đã chết rồi giờ tao lại muốn sống
Sống để nhìn chung cuộc một trò chơi
Mầy còn sức cứ mình ênh ngồi uống
Ly cuối, dành cho…thân phận ngậm ngùi.
Xong bài thơ, cả hai đều qua một đêm thức trắng trong tố ấm gà trống nuôi con. Chúng tôi không nói gì thêm, yên lặng và buồn cho vận nước, cho số phận con người cũng như cuộc đời nổi trôi của những kẻ tha phương không có ngày về. Rồi những lần gặp gỡ tiếp theo, anh không được phép uống nhưng ngồi nhìn bạn bè nâng ly, có thể cảnh nầy giúp anh sống lại một thời sống chết với bạn bè đồng đội :
Uống đi mầy cứ làm thêm vài chén
Nhớ đừng say, còn nghĩ đến anh em
Những thằng bạn của một thời chinh chiến
Đổi mạng mình…để lấy sự bình yên
Mầy nhắc trước hay là tao kể trước
Mỗi dấu giày mình khép một mùa xuân
Bù Đăng, Phó Bình, Suối Ngô, Xóm Được
Mười ngón tay, cứ mất từng thằng
Rồi giữa đường gãy cánh, bạn bè thất lạc nhau, kẻ vô tù, người ra đi…
Súng trên tay bỏ xuống
Rõ ngu hơn người ngu
Rồi ôm nhau khóc lóc
Còn rủ nhau vô tù…
Hai chữ ‘Ráng Chịu’, có lẽ anh dùng để tự an ủi cái thân phận thiệt thòi của tuổi trẻ trước vận nước đảo điên, trước cuộc chiến khốc liệt hay để vỗ về những người bạn đã nằm xuống, chết gục trong tù, chìm sâu dưới biển hay dở sống dở chết nơi đất khách quê người…rồi hôm nay được gì hay chỉ còn lại những niềm đau bất tận :
Với Quê Hương, ta một đời ráng chịu
Người thương ta rồi…cũng ráng chịu theo
Lỡ yêu tính năm vài tuần…níu kéo
Chụp giựt không bằng mà vẫn cứ yêu
Ta vào lính, bài học đầu ráng chịu
Cứ thi hành, muốn khiếu nại, làm sau
Mỗi một mạng…đổi đuợc vài ba phút
Chiến trường đau, ngập lút, lút cả đầu
……
Cứ ráng chịu. Tin có ngày mai đẹp
Bỏ nụ cười người vào túi rong chơi
Ta xin cả những gì người thua thiệt
…đốt từng trang. Thắp sáng lại cuộc đời
Trang nhật ký người lại thêm nước mắt
Ráng chịu te tua, ráng chịu tận cùng
Bọn ta sống, sao Quê Hương lại mất
Xót xa nầy…còn ráng chịu nổi không
… …
Và ‘Ráng Chịu’ cũng có thể là một nuối tiếc những gì mà con tim thời loạn hằng ước mơ nhưng phải buộc lòng giã vờ làm kẻ ngây-thơ-vô-tình để chấp nhận khoác lên vai món nợ núi sông ! Rồi quả đất tròn, ước mơ trở về nhưng cuộc đời đã rẽ làm đôi, đầu tóc đổi màu…thôi thì đành ‘ráng chịu’ !
Hồi mới quen
Em bảo ta đừng bao giờ xin lỗi
Cắm đầu yêu thì làm gì nên tội…
Một trăm năm có rảnh phút nào đâu
Ta hẹn lung tung, hẹn lần hẹn lữa
Đời ta xuôi ta có lắm bạn bè
Những thằng bạn chia cả trời khói lửa
Chân đạp mòn cả vạn sơn khê…
Có lẽ vì thế mà anh đã vuột mất tình yêu…Cho đến một ngày :
Đêm ngồi nghe em hát
Rối bời sương Cali
Tóc thời gian bạc trắng
Em mang buồn…giấu đi… …
Cứ hờn anh em nhé
Bằng gợi nhớ đau thương
Anh xa rời cuộc chiến
Như…một chuyện hoang đường
Rồi Trạch Gầm đành phải thú nhận :
Anh kể em nghe tháng ngày phiêu bạt
Đốt đuốc quạnh hiu, tìm kiếm mỏi mòn
Phân nửa mặn nồng lạc từ ký ức
Tặng cho cuộc đời…vượt suối trèo non
Cuộc sống nơi quê người và nguồn yêu thương duy nhất của anh, bây giờ chính là :
Sáng vào trường…
Con ăn hamburger, hot dog
Chiều về nhà…
Con ăn rau luộc chấm tương
Ngồi cùng cha, con ngồi tận Quê Hương
Việt Nam mình…
Một ngày bỏ đi, một đời thương nhớ
Đất Mỹ tư do, cửa đời rộng mở
Con muốn hụt hơi…
Chạy tìm kiếm tương lai
Con đủ khôn ngoan, ôm trọn tháng ngày
Như lòng con…
Vẽ vời trăm điều mơ ước
Rau luộc chấm tương
Cha mong con còn nhớ được
Con có một đoạn đời…
Rất nghiệt ngã, rất đau thương
Đầu óc chết khô
Lúc con đứng giữa thiên đường
Cái thiên đường tối thui của bọn người cộng sản
Con đủ kiến thức chưa,
Hãy soi gương thân phận
Đổi được màu da không đổi được tâm hồn
Cũng thời gian nầy, con cười
Nhưng tại Quê Hương,
Việt Nam mình, bằng tuổi con…
Có triệu người đang khóc
Cha không giải bày, nhưng con hiểu được
Ai bạn, ai thù, ai mở cửa lầm than
Tại sao cha con mình…
Thành những kẻ lưu vong
Xếp tập thơ lại vì cảm thấy đôi mắt hơi cay. Trước mắt tôi, Trạch Gầm với cái điếu cày mà giờ đây anh xem như bình rượu để an ủi trong những ngày còn lại. Đặt ‘Ráng Chịu’ lên ngực và cố dỗ giấc ngủ nhưng những lời thơ của anh vẫn ám ảnh tôi như muôn ngàn tiếng thở dài của người lính bị buộc phải buông súng giữa đường một cách nhục nhã.
Đinh Lâm Thanh
Paris, 14.01.2010
Trung Đội Trưởng Nhảy Dù
Tôi bước thêm hai bước nữa thật nhẹ nhàng, ngồi sát xuống bên hông căn lều, lắng tai nghe. Giọng nói của người miền Nam:
- Đ.m, tối nay ăn cơm với thịt kho đã thiệt, hôm nào đi lãnh tiếp tế là hôm đó khoẻ ru. Ê Thành, tao nghe mấy thằng Nhảy Dù nói vài bữa nữa tụi nó sẽ rút ra, tao với mày đang ký vô Nhảy Dù, sẽ được ân xá, chứ còn hai năm lao công đào binh mệt mỏi quá.
Giọng trả lời của người miền Trung chắc nịch:
- Đ.m. mi, sao mi ngu quá vậy. Hôm nay mình đi vác đồ tiếp tế, mấy thằng Nhảy Dù cũng vác y như mình. Bây giờ tau với mi ngủ khoẻ, tụi nó còn phải gác mỗi thằng 4 tiếng đồng hồ nữa. Sáng ngày mai tụi nó lại phải đi đánh giặc, hễ có thằng nào chết hay bị thương, tụi mình mới tà tà khiêng về. Mi thấy không, mới một tháng nay tụi mình đã khiêng biết bao nhiêu là xác chết. Mi ngu thì cứ đăng vô Nhảy Dù, tau khoái làm lao công đào binh hơn, khoẻ re mà lại không chết là được rồi.
Tôi lẳng lặng đứng lên, lắc đầu đi thẳng về lều. Tôi kéo cao cổ áo vì đột nhiên cảm thấy lạnh. Tôi thấy thương cho tôi và các đồng đội của mình, những người lính Nhảy Dù chỉ thích đi mây về gió, đi có về không, đi đông về ít, đi khít về thưa. Đêm nay sao khó ngủ quá, trằn trọc mãi, thì ra thân phận người lính Nhảy Dù còn thảm hơn số kiếp của những người lao công đào binh.
Tôi giật mình thức giấc sau cái lắc chân của Quang. Chụp vội cái nón sắt lên đầu, tôi áp sát ống liên hợp lên tai:
- Thiên Trường, đây Sĩ Phú tôi nghe.
Giọng đều đều của trung úy đại đội trưởng:
- Anh kiểm soát lại mấy thằng em, coi lại đạn dược. Anh sẽ nhận thêm 8 người nữa, có một cánh gà mới. Khi Hoàng tới, anh bàn giao vị trí cho nó rồi về gặp tôi.
Về tới bộ chỉ huy đại đội, chưa kịp lên tiếng thì trung úy đại đội trưởng đã từ trong lều bước ra. Tôi định đưa tay lên chào thì trung úy Thành đã vội vã khoát tay:
- Được rồi, anh ngồi xuống đây, lấy bản đồ ra.
Trung úy Thành mở rộng tấm bản đồ, lấy bút mỡ khoanh tròn vị trí một ngọn đồi:
- Đây là ngọn đồi anh phải chiếm trong ngày hôm nay. Thằng 2 đã đánh 2 lần mà vẫn không xong.
Trung úy đại đội trưởng ngẩng đầu, nheo mắt nhìn tôi:
- Thế nào, anh nhắm làm được không.
- Để tôi cố gắng, trung úy.
- Anh cần gì cứ nói, tôi sẽ thỏa mãn tối đa cho anh.
- Tôi cần thêm nhiều lựu đạn, trung úy.
- Sẽ có ngay cho anh.
Tôi dẫn trung đội băng ngang qua chốt của trung đội 2, chuẩn úy trung đội trưởng Dũng đã bị thương rời khỏi mặt trận.
Quân số trung đội cứ hao hụt dần đi sau những cuộc giao tranh ác liệt kể từ ngày đầu của cuộc hành quân. Sau khi được bổ xung, trung đội bây giờ đã kha khá, đếm được 15 người, chia làm 2 toán. Một vị hạ sĩ quan trông coi một toán 6 người. Tôi dẫn toán còn lại tiến lên phía trước. Trước mặt tôi là binh nhất Binh, sau lưng tôi là người mang máy truyền tin, rồi đến trung sĩ Bền, người vừa mới tốt nghiệp trường hạ sĩ quan Đồng Đế, Phú đi sau cùng bao chót.
Ngọn đồi không cao lắm, nhưng cây cối nằm ngổn ngang chắn lối đi, hậu quả của những lần giao tranh trước đó. Tôi phất tay ra hiệu tiến lên, lòng hồi hộp căng thẳng, mắt tôi mở lớn quan sát về phía trước, tai nghe rõ những bước chân của đồng đội. Chắc chắn địch ẩn nấp ở đâu đó và đang chờ đợi chúng tôi.
Khi tôi vừa băng ngang một thân cây thì địch khai hỏa, nỗi lo lắng trông chờ đã được khai thông bằng những tràng AK chát chúa và những tiếng nổ dữ dội của B40. Tôi lao vội vào bên gốc cây, quát lớn:
- Bền đâu, đưa anh em lên ngay.
Đồng đội của tôi bám theo những gốc cây di chuyển lên, bắn trả thật dữ dội. Tôi vừa gọi máy báo về đại đội, vừa thúc anh em xông lên. Bỗng nhiên tôi thấy vắng hẳn đi tiếng súng M79, linh tính báo cho tôi biết đã có chuyện không may, tôi vội bò nhanh về phía Bính. Trời ơi, Bính nằm ngửa trên mặt đất, khẩu M79 đã tuột ra khỏi tay. Tôi đè tay lên ngực Bính:
- Bính! Bính! Có sao không?
Bính lặng yên không trả lời, chỉ đưa tay giật giật chiếc giây ba chạc. Nhìn Bính, tôi hiểu rằng không thể nào cứu được nữa rồi. Cằm của Bính đã vỡ, máu tuôn ra đầy miệng, tràn xuống ướt đẫm cả ngực áo. Tôi thử ấn bàn tay lên ngực của Bính, máu trào ra có lẫn bọt.
- Chuẩn úy, Bính chết rồi.
Tiếng nói của Quang như khơi dậy trong tôi nỗi căm hờn, tôi chụp lấy khẩu M79 hướng về phía địch bóp cò, như một người điên, tôi mò vào túi đựng đạn, nạp thêm, bắn nữa. Nhưng viên đạn thứ 5 chưa kịp bắn đi thì địch đã dọng về phía tôi một trái B40, cũng may viên đạn đã chạm vào một nhánh cây rồi phát nổ nên tầm sát hại cũng giảm đi rất nhiều.
Đầu óc lùng bùng nhưng tôi cố gắng trấn tỉnh để phán đoán tình hình. Địch bắt đầu bắn súng cối vào đội hình của chúng tôi. Tôi mở mắt lớn ra, thấy những cành cây ào ào gãy gục đổ xuống, những ánh lửa nháng lên. Tôi xả hết một băng đạn M16 về phía trước, rồi gọi:
- Quang, đem máy truyền tin lại đây.
Tôi nói như gào lên trong máy:
- Đích thân, xin phản pháo ngay, tụi nó cối 61 ly vào tụi tôi.
- Sĩ Phú, bình tĩnh, bắn ngay cho anh, kiểm soát lại con cái, nghe rõ không?
Chưa đầy 2 phút sau tôi đã nghe tiếng nổ của đạn pháo 105 ly rót lên trận địa, súng cối của địch giảm bớt cường độ. Lợi dụng khoảng thời gian ngắn ngủi, tôi di chuyển thật nhanh kiểm soát lại trung đội, sau đó tôi ra lệnh rút khỏi ngọn đồi, đem theo tất cả thương binh và tử sĩ.
Tôi ngồi bệt xuống đất, dựa lưng vào gốc cây mệt mỏi, gọi máy báo cáo về đại đội:
- Thiên Trường đây Sĩ Phú, tôi có 4 em đi tàu suốt, 3 em rách áo.
Trung úy Thành đổi giọng lúc nào tôi cũng không rõ:
- Đ.m, anh đang ở đâu mà giờ này mới báo cáo.
- Tôi cho anh em rút xuống rồi đích thân, tụi nó pháo quá chịu không nổi.
- Đ.m, tôi đưa anh ra toà án quân sự. Đ.m, Nhảy Dù gì mà mới chết có mấy thằng anh đã cho tuột xuống rồi, đánh đấm gì mà hèn vậy.
- Đích thân nghĩ coi, tụi nó chấm sẵn tọa độ, cối ngay chóc, tôi đâu còn đủ quân để tấn công.
Mỗi câu nói trung úy Thành lại nhấn thêm một câu chửi thề:
- Đ.m, bây giờ tôi cho anh một tiếng đồng hồ để làm lại, anh phải ở trên đó đêm nay, nghe rõ chưa. Tập trung những đứa chết và bị thương lại một chỗ, thằng 2 sẽ lên nhận. Đ.m, đừng làm mất mặt tôi, phải cố gắng lên, anh nghe rõ chưa.
Tôi đưa ống liên hợp lại cho Quang, móc trong túi ra điếu thuốc, bật hộp quẹt. Mùi vị của điếu thuốc không còn ngon lành gì nữa, nó đắng hơn bao giờ hết. Tôi thở dài, kiểm tra lại quân số.
Tôi lại tiếp tục trò chơi cũ. 6 người do trung sĩ Bền dàn bên tay phải, tôi giữ bên cánh trái. Lần này ăn thua đủ, tôi thúc anh em xông lên, và như những con trâu điên, anh em vừa bắn vừa la xung phong. Chẳng còn gì mong tồn tại ở nơi đây, chỉ còn điên rồ và cái chết, tôi không còn cảm nhận được bất cứ điều gì nữa, tôi xiết cò súng, tôi gào thét thúc dục anh em lao vào chỗ chết. Giữa tiếng súng nổ, tôi thấy mình lênh đênh trong cuồng nộ, xung phong, xung phong, tôi gào lên.
Tôi vấp phải xác chết của một đồng đội và ngã xuống đất. Tôi lồm cồm bò dậy rồi lại tiếp tục lao lên phía trước.
- Lên, lên. Đ.m, mày không lên tao bắn thấy mẹ. Hình như tôi có la một người lính.
Sau khi ném trái lựu đạn xuống căn hầm, tôi lăn người qua một bên chờ đợi, lúc này tôi mới cảm thấy mình đã lội đến bên bờ sự sống, tiếng nổ của trái lựu đạn dội lên từ lòng đất.
Những quả đạn cối 61 ly của địch bắt đầu rơi lên đầu chúng tôi. Tôi và Quang vội chui ngay vào căn hầm, chạm phải những khối thịt bầy nhầy.
Tôi gọi máy về đại đội, thông báo đã chiếm xong mục tiêu và xin phản pháo.
Trung úy Thành ra lệnh, giọng ông ta vui hẳn lên, lành mạnh, không có chữ Đ.m:
- Sĩ Phú, kiểm soát lại con cái, dặn tụi nó ngóc đầu lên quan sát, coi chừng đám vịt con phản công. Những đứa rớt lại sẽ có thằng 2 lo.
- Đích thân tăng cường thêm quân cho tôi, chỉ còn có 8 người không thể phòng thủ qua đêm.
- Cố gắng đi Sĩ Phú, tôi đã lo hết cho anh, bây giờ kẹt rồi.
Trời đã bắt đầu tối, tôi bò quanh các hầm dặn dò anh em. Cứ một người ngủ thì một người gác, cấm bắn súng, chỉ dùng lựu đạn khi hữu sự. Tôi và Quang cũng vậy, tôi gác thì Quang ngủ và ngược lại.
Trời đã tối hẳn, không lo bị bắn sẻ nữa, tôi leo lên ngồi trên nóc hầm, và đến bây giờ tôi mới cảm thấy đói bụng, tôi gọi Quang:
- Quang ơi, còn cái gì ăn không, đói bụng quá.
Quang dí vào tay tôi một bịch gạo sấy, tôi bốc vội bỏ vào miệng nhai. Nhưng nuốt không trôi dù rằng bao tử đang cào cấu lên vì đói, cái mùi hôi thối của xác chết cứ xông vào mũi tôi, dù có kéo cổ áo xuống bịt ngang lỗ mũi vẫn không thể nào ngăn được cái mùi kinh khủng ấy. Tôi móc bi đông nước ra uống từng ngụm nhỏ, không dám uống nhiều vì đã vơi quá nửa.
Sau khi đổi gác cho Quang, tôi chui vào hầm hút thuốc. Tôi mở trừng đôi mắt ngó ra chung quanh, bóng tối dày dặc, bình yên.
Trong mông lung tôi lại nhớ về em. Tự nhiên tôi muốn kể cho em nghe về tôi, một chuẩn úy trung đội trưởng Nhảy Dù. Xin lỗi em, anh không phải là gỗ đá, lại càng không phải là một kẻ thô lỗ, nhưng xin em hãy cho anh chửi thề một câu trước khi kể chuyện cho em nghe. Vì nếu không chửi thề dường như câu chuyện sẽ thiếu đi chất mặn mà, không mặn mà thì câu chuyện sẽ trở nên hoang đường vô vị. Giờ này nếu em ở nơi đây, trên cái chốt chết tiệt này, có lẽ em sẽ không còn dám mơ dám mộng gì nữa. Đụng vào thực tế rồi, 100% em sẽ không bao giờ dám đi dạo phố chung với anh nữa. Ngày xưa em thường kể với anh rằng em lấy làm hãnh diện khi bước sóng đôi bên anh, một người hùng mũ đỏ, em nói rằng em có cảm giác dường như mọi người đang trầm trồ khen ngợi chúng mình đẹp đôi vừa lứa. Tội nghiệp em tôi, em ngây thơ quá nên mới cả tin vào những điều thêu dệt của đám thiên hạ bàng quang. Không em ạ, thiên hạ đang nhìn em với ánh mắt thương hại đấy thôi, vì họ biết chắc chắn rằng một ngày không xa em sẽ trở thành goá phụ đầu chit khăn tang.
Có bao giờ em đã trông thấy cái chết của một người lính Nhảy Dù? Họ chết đủ kiểu em ạ. Có đứa thân xác gom lại chưa đầy một ba lô, có đứa mất hẳn phần hàm dưới trông vô cùng ghê rợn, cũng có đứa diễm phúc chết nhẹ nhàng như một chiếc lá rơi. Họ chết khi còn quá trẻ, khi còn quá yêu đời. Họ chết cho mầu mũ đỏ kiêu hùng.
Anh đang ngồi đây, dưới căn hầm hôi thối, chung quanh là bóng tối mù loà, vậy mà hồn anh sáng rỡ khi nhớ về em. Suốt cả ngày hôm nay anh muốn điên lên mà không điên được. Em cứ xem, từ sáng đến tối chỉ bò quanh quẩn trong cái nhà mồ khốn kiếp chật chội, hễ ló đầu ra thì lo bị bắn sẻ, lo không biết lúc nào pháo của địch sẽ rơi. Có điều gì để anh đổi chác được hở em? Anh sẽ được điều gì để trao đổi tương xứng với những giây phút ngặt nghèo ngộp thở này. Chúa phật cũng quên tuốt, anh chỉ còn có em để mà giải bầy tâm sự, em là con tàu mang anh ra khơi để quên đi nỗi chán chường không lối thoát, tình em ru anh vào giấc ngủ bình yên hiếm hoi giữa tiếng bom đạn lở đất long trời.
Tôi giật mình thức giấc khi những hạt mưa lạnh quất vào mặt mình. Tôi lắc đầu một lát cho tỉnh ngủ, rồi sực nhớ, tôi vội gọi Quang. Hai đứa tôi lay hoay căng poncho hứng nước mưa, chỉ một lát đã hứng đầy 2 bi đông nước mưa. Trong bóng tối, tôi thè lưỡi liếm những giọt nước mát lạnh ngọt ngào. Nhưng sau đó lại là nỗi khổ của lạnh lẽo, quần áo ướt mem, người tôi run lên vì lạnh, 2 hàm răng cứ lập cập va vào nhau. Hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, mệt mỏi, tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay.
Khi thức dậy, tôi giật thót cả người khi thấy Quang cũng đã lăn ra ngủ say sưa từ lúc nào. Chết mẹ, thì ra nãy giờ không có người gác. Trời đã bắt đầu lờ mờ sáng, nhìn đồng hồ mới 5 giờ, một đêm ngủ bình yên.
Tôi bốc máy gọi về đại đội:
- Thiên Trường đây Sĩ Phú.
Gọi hai, ba lần mới nghe giọng nhừa nhựa ngái ngủ của người mang máy đại đội.
- Sĩ Phú có gì lạ không, sao đích thân gọi sớm vậy.
- Mày nói với ổng là trên này tụi tao không nấu nướng gì được, nấu cơm đem gấp lên cho tụi tao, đói thấy mẹ. Nhớ cẩu thêm đạn và lựu đạn nữa. Nói ổng cho tao thêm quân, Đ.m nó tấp chịu không nổi đâu.
Phải chờ thêm 5 tiếng đồng hồ nữa, gần 10 giờ sáng mới thấy lính trung đội 2 mò lên, đem theo 1 nón sắt cơm và nửa nón sắt thịt heo kho. Tôi chia đều cho 4 hầm. Móc vội chiếc muỗng ra, không cần lau chùi, tôi xúc cơm lùa vào miệng, chúng tôi cần sức lực để chịu đựng lâu dài.
Ngày hôm qua đã khiêng cái xác lên khỏi hầm nhưng không kéo ra xa được nên xác chết vẫn nằm vắt ngang sát bên miệng hầm, bắt đầu sình lên. Mùi hôi thối khiến tôi ngầy ngật khó chịu. Hai thầy trò lại dựa lưng nhau chịu đựng. Địch vẫn bám sát chung quanh, lâu lâu lại dọng cối 61. Đã 3 giờ chiều, tôi muốn khùng lên, khó chịu quá, tôi liều mạng bò lên, gặp ngay xác chết, thối ơi là thối, tôi bụm tay rít mạnh hơi thuốc.
Quang từ dưới hầm gọi lên:
- Chuẩn úy ơi, ông khùng quá, nó bắn sẻ bây giờ.
Tôi dơ cánh tay trái lên thật nhanh rồi kéo xuống, trúng đây đừng trúng chỗ nào khác. Tôi làm như vậy 2, 3 lần, nhưng trời còn thương tôi, còn muốn tôi khổ dài dài nên chẳng có điều gì bất hạnh xảy ra.
Tôi thản nhiên ngồi hút thuốc lá, nhìn trời hiu quạnh, mây vẫn bay, chẳng có gì lạ, chẳng có gì để nhớ cho ngày hôm nay.
Trời lại tối, đêm nay đã là đêm thứ hai.
12 giờ đêm, tôi nhận được lệnh zoulou, 8 thầy trò mò mẫm rút xuống trong đêm tối.
Chu y Quý -
KBC 4804
- Đ.m, tối nay ăn cơm với thịt kho đã thiệt, hôm nào đi lãnh tiếp tế là hôm đó khoẻ ru. Ê Thành, tao nghe mấy thằng Nhảy Dù nói vài bữa nữa tụi nó sẽ rút ra, tao với mày đang ký vô Nhảy Dù, sẽ được ân xá, chứ còn hai năm lao công đào binh mệt mỏi quá.
Giọng trả lời của người miền Trung chắc nịch:
- Đ.m. mi, sao mi ngu quá vậy. Hôm nay mình đi vác đồ tiếp tế, mấy thằng Nhảy Dù cũng vác y như mình. Bây giờ tau với mi ngủ khoẻ, tụi nó còn phải gác mỗi thằng 4 tiếng đồng hồ nữa. Sáng ngày mai tụi nó lại phải đi đánh giặc, hễ có thằng nào chết hay bị thương, tụi mình mới tà tà khiêng về. Mi thấy không, mới một tháng nay tụi mình đã khiêng biết bao nhiêu là xác chết. Mi ngu thì cứ đăng vô Nhảy Dù, tau khoái làm lao công đào binh hơn, khoẻ re mà lại không chết là được rồi.
Tôi lẳng lặng đứng lên, lắc đầu đi thẳng về lều. Tôi kéo cao cổ áo vì đột nhiên cảm thấy lạnh. Tôi thấy thương cho tôi và các đồng đội của mình, những người lính Nhảy Dù chỉ thích đi mây về gió, đi có về không, đi đông về ít, đi khít về thưa. Đêm nay sao khó ngủ quá, trằn trọc mãi, thì ra thân phận người lính Nhảy Dù còn thảm hơn số kiếp của những người lao công đào binh.
Tôi giật mình thức giấc sau cái lắc chân của Quang. Chụp vội cái nón sắt lên đầu, tôi áp sát ống liên hợp lên tai:
- Thiên Trường, đây Sĩ Phú tôi nghe.
Giọng đều đều của trung úy đại đội trưởng:
- Anh kiểm soát lại mấy thằng em, coi lại đạn dược. Anh sẽ nhận thêm 8 người nữa, có một cánh gà mới. Khi Hoàng tới, anh bàn giao vị trí cho nó rồi về gặp tôi.
Về tới bộ chỉ huy đại đội, chưa kịp lên tiếng thì trung úy đại đội trưởng đã từ trong lều bước ra. Tôi định đưa tay lên chào thì trung úy Thành đã vội vã khoát tay:
- Được rồi, anh ngồi xuống đây, lấy bản đồ ra.
Trung úy Thành mở rộng tấm bản đồ, lấy bút mỡ khoanh tròn vị trí một ngọn đồi:
- Đây là ngọn đồi anh phải chiếm trong ngày hôm nay. Thằng 2 đã đánh 2 lần mà vẫn không xong.
Trung úy đại đội trưởng ngẩng đầu, nheo mắt nhìn tôi:
- Thế nào, anh nhắm làm được không.
- Để tôi cố gắng, trung úy.
- Anh cần gì cứ nói, tôi sẽ thỏa mãn tối đa cho anh.
- Tôi cần thêm nhiều lựu đạn, trung úy.
- Sẽ có ngay cho anh.
Tôi dẫn trung đội băng ngang qua chốt của trung đội 2, chuẩn úy trung đội trưởng Dũng đã bị thương rời khỏi mặt trận.
Quân số trung đội cứ hao hụt dần đi sau những cuộc giao tranh ác liệt kể từ ngày đầu của cuộc hành quân. Sau khi được bổ xung, trung đội bây giờ đã kha khá, đếm được 15 người, chia làm 2 toán. Một vị hạ sĩ quan trông coi một toán 6 người. Tôi dẫn toán còn lại tiến lên phía trước. Trước mặt tôi là binh nhất Binh, sau lưng tôi là người mang máy truyền tin, rồi đến trung sĩ Bền, người vừa mới tốt nghiệp trường hạ sĩ quan Đồng Đế, Phú đi sau cùng bao chót.
Ngọn đồi không cao lắm, nhưng cây cối nằm ngổn ngang chắn lối đi, hậu quả của những lần giao tranh trước đó. Tôi phất tay ra hiệu tiến lên, lòng hồi hộp căng thẳng, mắt tôi mở lớn quan sát về phía trước, tai nghe rõ những bước chân của đồng đội. Chắc chắn địch ẩn nấp ở đâu đó và đang chờ đợi chúng tôi.
Khi tôi vừa băng ngang một thân cây thì địch khai hỏa, nỗi lo lắng trông chờ đã được khai thông bằng những tràng AK chát chúa và những tiếng nổ dữ dội của B40. Tôi lao vội vào bên gốc cây, quát lớn:
- Bền đâu, đưa anh em lên ngay.
Đồng đội của tôi bám theo những gốc cây di chuyển lên, bắn trả thật dữ dội. Tôi vừa gọi máy báo về đại đội, vừa thúc anh em xông lên. Bỗng nhiên tôi thấy vắng hẳn đi tiếng súng M79, linh tính báo cho tôi biết đã có chuyện không may, tôi vội bò nhanh về phía Bính. Trời ơi, Bính nằm ngửa trên mặt đất, khẩu M79 đã tuột ra khỏi tay. Tôi đè tay lên ngực Bính:
- Bính! Bính! Có sao không?
Bính lặng yên không trả lời, chỉ đưa tay giật giật chiếc giây ba chạc. Nhìn Bính, tôi hiểu rằng không thể nào cứu được nữa rồi. Cằm của Bính đã vỡ, máu tuôn ra đầy miệng, tràn xuống ướt đẫm cả ngực áo. Tôi thử ấn bàn tay lên ngực của Bính, máu trào ra có lẫn bọt.
- Chuẩn úy, Bính chết rồi.
Tiếng nói của Quang như khơi dậy trong tôi nỗi căm hờn, tôi chụp lấy khẩu M79 hướng về phía địch bóp cò, như một người điên, tôi mò vào túi đựng đạn, nạp thêm, bắn nữa. Nhưng viên đạn thứ 5 chưa kịp bắn đi thì địch đã dọng về phía tôi một trái B40, cũng may viên đạn đã chạm vào một nhánh cây rồi phát nổ nên tầm sát hại cũng giảm đi rất nhiều.
Đầu óc lùng bùng nhưng tôi cố gắng trấn tỉnh để phán đoán tình hình. Địch bắt đầu bắn súng cối vào đội hình của chúng tôi. Tôi mở mắt lớn ra, thấy những cành cây ào ào gãy gục đổ xuống, những ánh lửa nháng lên. Tôi xả hết một băng đạn M16 về phía trước, rồi gọi:
- Quang, đem máy truyền tin lại đây.
Tôi nói như gào lên trong máy:
- Đích thân, xin phản pháo ngay, tụi nó cối 61 ly vào tụi tôi.
- Sĩ Phú, bình tĩnh, bắn ngay cho anh, kiểm soát lại con cái, nghe rõ không?
Chưa đầy 2 phút sau tôi đã nghe tiếng nổ của đạn pháo 105 ly rót lên trận địa, súng cối của địch giảm bớt cường độ. Lợi dụng khoảng thời gian ngắn ngủi, tôi di chuyển thật nhanh kiểm soát lại trung đội, sau đó tôi ra lệnh rút khỏi ngọn đồi, đem theo tất cả thương binh và tử sĩ.
Tôi ngồi bệt xuống đất, dựa lưng vào gốc cây mệt mỏi, gọi máy báo cáo về đại đội:
- Thiên Trường đây Sĩ Phú, tôi có 4 em đi tàu suốt, 3 em rách áo.
Trung úy Thành đổi giọng lúc nào tôi cũng không rõ:
- Đ.m, anh đang ở đâu mà giờ này mới báo cáo.
- Tôi cho anh em rút xuống rồi đích thân, tụi nó pháo quá chịu không nổi.
- Đ.m, tôi đưa anh ra toà án quân sự. Đ.m, Nhảy Dù gì mà mới chết có mấy thằng anh đã cho tuột xuống rồi, đánh đấm gì mà hèn vậy.
- Đích thân nghĩ coi, tụi nó chấm sẵn tọa độ, cối ngay chóc, tôi đâu còn đủ quân để tấn công.
Mỗi câu nói trung úy Thành lại nhấn thêm một câu chửi thề:
- Đ.m, bây giờ tôi cho anh một tiếng đồng hồ để làm lại, anh phải ở trên đó đêm nay, nghe rõ chưa. Tập trung những đứa chết và bị thương lại một chỗ, thằng 2 sẽ lên nhận. Đ.m, đừng làm mất mặt tôi, phải cố gắng lên, anh nghe rõ chưa.
Tôi đưa ống liên hợp lại cho Quang, móc trong túi ra điếu thuốc, bật hộp quẹt. Mùi vị của điếu thuốc không còn ngon lành gì nữa, nó đắng hơn bao giờ hết. Tôi thở dài, kiểm tra lại quân số.
Tôi lại tiếp tục trò chơi cũ. 6 người do trung sĩ Bền dàn bên tay phải, tôi giữ bên cánh trái. Lần này ăn thua đủ, tôi thúc anh em xông lên, và như những con trâu điên, anh em vừa bắn vừa la xung phong. Chẳng còn gì mong tồn tại ở nơi đây, chỉ còn điên rồ và cái chết, tôi không còn cảm nhận được bất cứ điều gì nữa, tôi xiết cò súng, tôi gào thét thúc dục anh em lao vào chỗ chết. Giữa tiếng súng nổ, tôi thấy mình lênh đênh trong cuồng nộ, xung phong, xung phong, tôi gào lên.
Tôi vấp phải xác chết của một đồng đội và ngã xuống đất. Tôi lồm cồm bò dậy rồi lại tiếp tục lao lên phía trước.
- Lên, lên. Đ.m, mày không lên tao bắn thấy mẹ. Hình như tôi có la một người lính.
Sau khi ném trái lựu đạn xuống căn hầm, tôi lăn người qua một bên chờ đợi, lúc này tôi mới cảm thấy mình đã lội đến bên bờ sự sống, tiếng nổ của trái lựu đạn dội lên từ lòng đất.
Những quả đạn cối 61 ly của địch bắt đầu rơi lên đầu chúng tôi. Tôi và Quang vội chui ngay vào căn hầm, chạm phải những khối thịt bầy nhầy.
Tôi gọi máy về đại đội, thông báo đã chiếm xong mục tiêu và xin phản pháo.
Trung úy Thành ra lệnh, giọng ông ta vui hẳn lên, lành mạnh, không có chữ Đ.m:
- Sĩ Phú, kiểm soát lại con cái, dặn tụi nó ngóc đầu lên quan sát, coi chừng đám vịt con phản công. Những đứa rớt lại sẽ có thằng 2 lo.
- Đích thân tăng cường thêm quân cho tôi, chỉ còn có 8 người không thể phòng thủ qua đêm.
- Cố gắng đi Sĩ Phú, tôi đã lo hết cho anh, bây giờ kẹt rồi.
Trời đã bắt đầu tối, tôi bò quanh các hầm dặn dò anh em. Cứ một người ngủ thì một người gác, cấm bắn súng, chỉ dùng lựu đạn khi hữu sự. Tôi và Quang cũng vậy, tôi gác thì Quang ngủ và ngược lại.
Trời đã tối hẳn, không lo bị bắn sẻ nữa, tôi leo lên ngồi trên nóc hầm, và đến bây giờ tôi mới cảm thấy đói bụng, tôi gọi Quang:
- Quang ơi, còn cái gì ăn không, đói bụng quá.
Quang dí vào tay tôi một bịch gạo sấy, tôi bốc vội bỏ vào miệng nhai. Nhưng nuốt không trôi dù rằng bao tử đang cào cấu lên vì đói, cái mùi hôi thối của xác chết cứ xông vào mũi tôi, dù có kéo cổ áo xuống bịt ngang lỗ mũi vẫn không thể nào ngăn được cái mùi kinh khủng ấy. Tôi móc bi đông nước ra uống từng ngụm nhỏ, không dám uống nhiều vì đã vơi quá nửa.
Sau khi đổi gác cho Quang, tôi chui vào hầm hút thuốc. Tôi mở trừng đôi mắt ngó ra chung quanh, bóng tối dày dặc, bình yên.
Trong mông lung tôi lại nhớ về em. Tự nhiên tôi muốn kể cho em nghe về tôi, một chuẩn úy trung đội trưởng Nhảy Dù. Xin lỗi em, anh không phải là gỗ đá, lại càng không phải là một kẻ thô lỗ, nhưng xin em hãy cho anh chửi thề một câu trước khi kể chuyện cho em nghe. Vì nếu không chửi thề dường như câu chuyện sẽ thiếu đi chất mặn mà, không mặn mà thì câu chuyện sẽ trở nên hoang đường vô vị. Giờ này nếu em ở nơi đây, trên cái chốt chết tiệt này, có lẽ em sẽ không còn dám mơ dám mộng gì nữa. Đụng vào thực tế rồi, 100% em sẽ không bao giờ dám đi dạo phố chung với anh nữa. Ngày xưa em thường kể với anh rằng em lấy làm hãnh diện khi bước sóng đôi bên anh, một người hùng mũ đỏ, em nói rằng em có cảm giác dường như mọi người đang trầm trồ khen ngợi chúng mình đẹp đôi vừa lứa. Tội nghiệp em tôi, em ngây thơ quá nên mới cả tin vào những điều thêu dệt của đám thiên hạ bàng quang. Không em ạ, thiên hạ đang nhìn em với ánh mắt thương hại đấy thôi, vì họ biết chắc chắn rằng một ngày không xa em sẽ trở thành goá phụ đầu chit khăn tang.
Có bao giờ em đã trông thấy cái chết của một người lính Nhảy Dù? Họ chết đủ kiểu em ạ. Có đứa thân xác gom lại chưa đầy một ba lô, có đứa mất hẳn phần hàm dưới trông vô cùng ghê rợn, cũng có đứa diễm phúc chết nhẹ nhàng như một chiếc lá rơi. Họ chết khi còn quá trẻ, khi còn quá yêu đời. Họ chết cho mầu mũ đỏ kiêu hùng.
Anh đang ngồi đây, dưới căn hầm hôi thối, chung quanh là bóng tối mù loà, vậy mà hồn anh sáng rỡ khi nhớ về em. Suốt cả ngày hôm nay anh muốn điên lên mà không điên được. Em cứ xem, từ sáng đến tối chỉ bò quanh quẩn trong cái nhà mồ khốn kiếp chật chội, hễ ló đầu ra thì lo bị bắn sẻ, lo không biết lúc nào pháo của địch sẽ rơi. Có điều gì để anh đổi chác được hở em? Anh sẽ được điều gì để trao đổi tương xứng với những giây phút ngặt nghèo ngộp thở này. Chúa phật cũng quên tuốt, anh chỉ còn có em để mà giải bầy tâm sự, em là con tàu mang anh ra khơi để quên đi nỗi chán chường không lối thoát, tình em ru anh vào giấc ngủ bình yên hiếm hoi giữa tiếng bom đạn lở đất long trời.
Tôi giật mình thức giấc khi những hạt mưa lạnh quất vào mặt mình. Tôi lắc đầu một lát cho tỉnh ngủ, rồi sực nhớ, tôi vội gọi Quang. Hai đứa tôi lay hoay căng poncho hứng nước mưa, chỉ một lát đã hứng đầy 2 bi đông nước mưa. Trong bóng tối, tôi thè lưỡi liếm những giọt nước mát lạnh ngọt ngào. Nhưng sau đó lại là nỗi khổ của lạnh lẽo, quần áo ướt mem, người tôi run lên vì lạnh, 2 hàm răng cứ lập cập va vào nhau. Hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, mệt mỏi, tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay.
Khi thức dậy, tôi giật thót cả người khi thấy Quang cũng đã lăn ra ngủ say sưa từ lúc nào. Chết mẹ, thì ra nãy giờ không có người gác. Trời đã bắt đầu lờ mờ sáng, nhìn đồng hồ mới 5 giờ, một đêm ngủ bình yên.
Tôi bốc máy gọi về đại đội:
- Thiên Trường đây Sĩ Phú.
Gọi hai, ba lần mới nghe giọng nhừa nhựa ngái ngủ của người mang máy đại đội.
- Sĩ Phú có gì lạ không, sao đích thân gọi sớm vậy.
- Mày nói với ổng là trên này tụi tao không nấu nướng gì được, nấu cơm đem gấp lên cho tụi tao, đói thấy mẹ. Nhớ cẩu thêm đạn và lựu đạn nữa. Nói ổng cho tao thêm quân, Đ.m nó tấp chịu không nổi đâu.
Phải chờ thêm 5 tiếng đồng hồ nữa, gần 10 giờ sáng mới thấy lính trung đội 2 mò lên, đem theo 1 nón sắt cơm và nửa nón sắt thịt heo kho. Tôi chia đều cho 4 hầm. Móc vội chiếc muỗng ra, không cần lau chùi, tôi xúc cơm lùa vào miệng, chúng tôi cần sức lực để chịu đựng lâu dài.
Ngày hôm qua đã khiêng cái xác lên khỏi hầm nhưng không kéo ra xa được nên xác chết vẫn nằm vắt ngang sát bên miệng hầm, bắt đầu sình lên. Mùi hôi thối khiến tôi ngầy ngật khó chịu. Hai thầy trò lại dựa lưng nhau chịu đựng. Địch vẫn bám sát chung quanh, lâu lâu lại dọng cối 61. Đã 3 giờ chiều, tôi muốn khùng lên, khó chịu quá, tôi liều mạng bò lên, gặp ngay xác chết, thối ơi là thối, tôi bụm tay rít mạnh hơi thuốc.
Quang từ dưới hầm gọi lên:
- Chuẩn úy ơi, ông khùng quá, nó bắn sẻ bây giờ.
Tôi dơ cánh tay trái lên thật nhanh rồi kéo xuống, trúng đây đừng trúng chỗ nào khác. Tôi làm như vậy 2, 3 lần, nhưng trời còn thương tôi, còn muốn tôi khổ dài dài nên chẳng có điều gì bất hạnh xảy ra.
Tôi thản nhiên ngồi hút thuốc lá, nhìn trời hiu quạnh, mây vẫn bay, chẳng có gì lạ, chẳng có gì để nhớ cho ngày hôm nay.
Trời lại tối, đêm nay đã là đêm thứ hai.
12 giờ đêm, tôi nhận được lệnh zoulou, 8 thầy trò mò mẫm rút xuống trong đêm tối.
Chu y Quý -
KBC 4804
Tại sao Phải Thay Đổi Đường Lối Tranh Đấu?
Nhiều người, trong đó có những vị trí thức cũng như các bạn trẻ thường nói với tôi rằng cuộc tranh đấu chống cộng sản của người Việt Quốc Gia Hải Ngoại đã trên 36 năm nhưng vẫn chưa đi đến đâu ! Chúng ta cần xét lại và phải thay đổi đường lối tranh đấu cho thích hợp với tình thế hiện tại. Trước lời khuyên nầy, thật tình tôi cũng ghi nhận và để tâm suy nghĩ về những gì tôi đã làm trong thời gian qua.
Và ngày hôm nay, nhân tiện đọc bài « Xuân Hoà Giải Dân Tộc » phổ biến ở trên net, tôi xin mượn bài viết nầy để bày tỏ thiển ý của một người tranh đấu chống cộng, không ngoài mục đích trả lời những người đã trực tiếp nói chuyện với tôi cũng như với tác giả bài kêu gọi hãy từ bỏ quá khứ và bắt tay hoà giải với cộng sản trên các diễn đàn. Để đi vào vấn đề, xin tóm tắt thành 3 điểm chính mà nhiều người đã đặt ra với tôi :
1. Trước đây, tranh đấu chống cộng sản xem như có lý tưởng nhưng bây giờ thì đã lỗi thời ! Vì một khi Tàu Cộng xâm chiếm Việt Nam thì cộng đồng người Việt Quốc Gia phải bắt tay với cộng sản để chống lại ngoại xâm.
2. Bây giờ không còn là thời điểm tranh đấu quyết liệt nhằm giải thể hay xoá bỏ đảng cộng sản, mà phải xem cộng sản là một thành phần của dân tộc. Cần phải mở một lối thoát bằng cách hoà giải hoà hợp để hàn gắn những đau thương giữa người quốc gia với cộng sản.
3. Cộng đồng người Việt Quốc Gia đã làm được gì sau trên 36 năm chống cộng sản bằng mồm và tranh đấu một cách « quá khích » ? Chính hình thức chống cộng nầy đã làm cho giới trí thức cũng như thành phần trẻ Hải Ngoại chán nản và xa lánh !
Qua các lời khuyên trên tôi hình dung được những người đã liên hệ với tôi thuộc thành phần nào và họ đang làm gì để cổ võ cho âm mưu hoà giải hoà hợp. Mục đính của nhóm người nầy là chữa cháy và chạy tội cho Hà Nội đồng thời cứu nguy cho tập đoàn lãnh đạo đảng cộng sản đang lún dần xuống vực thẳm.
Xin trả lời từng điểm một :
1. Viện cớ Tàu Cộng xâm chiếm Việt Nam để kêu gọi bắt tay với đảng cộng sản Việt Nam chống Tàu là hình thức tuyên truyền không công cho cộng sản. Thật vậy, mới nghe qua thật chí tình chí lý, vì một khi giặc đến nhà thì tất cả mọi người phải gác qua một bên những bất đồng chính kiến để cùng chung sức chống kẻ thù. Nhưng nghĩ lại thì đúng là một nghịch lý, nhất là khi đế cập đến tình trạng đất nước hiện nay. Lý do thật đơn giản, trước tiên phải hiểu tại sao Tàu Cộng vào xâm chiếm Việt Nam một cách quá dễ dàng qua âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á. Có phải do cộng sản Hà Nội vừa nhượng, vừa bán, vừa dâng từ đất đến biển cho quan thầy của chúng.
Thì tại sao người Việt Quốc Gia không hỏi tội bọn bán nước rước voi về giày xéo quê hương mà phải bắt tay với chúng để chống Tàu ? Thằng ăn trộm trong nhà đập vách, lấy gạch, bán trâu, bưng đồ đạc trong nhà đen dâng, đem bán cho người ngoài thì phải nọc thằng ăn trộm nhà ra mà đánh mới phải. Lý do nào không đá động đến thằng ăn trộm nhà mà ra đường gào lên chửi bới người được dâng biếu hay kẻ bỏ tiền ra mua đồ trộm, rồi kêu gọi mọi người hợp tác biểu tình chống người thụ hưởng ! Đồng ý rằng việc chống Tàu Cộng, kẻ thù tryuền kiếp của dân tộc Việt Nam, là cần thiết và cấp bách. Nhưng không thể mù quáng nghe lời những tên cò mồi tại Hải Ngoại để rồi người Việt Quốc Gia cong lưng đi đỡ đạn cho tập đoàn cộng sản.
Lá bài hợp tác với cộng sản để chống Tàu là một âm mưu ấu trĩ của cộng sản mà chỉ có những người vô ý thức hay bọn cò mồi đón gió cũng như nằm vùng tung ra và cổ võ rầm rộ trong thời gian qua. Tàu Cộng càng ngày càng xâm lấn vào nội bộ Việt nam qua nhiều mặt, không những việc chiếm cứ lãnh hải, lãnh thổ, khai thác bauxite mà còn rất nhiều phương diện khác ... từ chính trị, quân sự, văn hoá, thương mãi và nhất là gây giống. Chừng vài tháng hoặc một năm nữa những đứa con hai dòng máu Tàu-Việt sẽ chào đời ào ạt và một ngày rất gần đây chúng sẽ lan tràn từ ải Nam Quan đến đến mũi Cà Mau. Lúc đó thì việc đồng hoá dân tộc Việt Nam sẽ xem như đã xong một đoạn đường dài.
Một điều cần phải ghi nhớ nằm lòng : Ngày nào đảng cộng sản còn trên đất nước Việt Nam thì ngày đó Tàu Cộng vẫn là quan thầy và xem Việt Nam như một chư hầu hay chỉ là một tỉnh nhỏ. Như vậy, qua lời kêu gọi hợp tác với cộng sản Việt Nam để chống Tàu có nghĩa là đám cò mồi đang hướng dẫn người Việt Quốc Gia hãy duy trì sự sống còn đảng cộng sản Việt Nam để cho Tàu dễ dàng đô hộ. Đây là một âm mưu mà thành phần cò mồi đã lập lờ đi khi chúng đề cập đến việc chống Tàu.
Chúng ta cần sáng suốt để ghi nhận : Tàu Cộng không thấy khó chịu cũng như quan tâm khi chúng ta chống chúng nó. Nhưng bí ẩn bên trong là làm thế nào để người Việt Quốc Gia Hải Ngoại không được đụng đến đảng cộng sản Việt Nam ! Đây là điểm then chốt. Vì Tàu Cộng biết rằng chúng ta hô hào chống chúng nó thì cũng như nước đổ lá môn. Nhưng một khi chế độ Hà Nội bị giải thể, nước Việt Nam sau nầy đi theo con đường không cộng sản thì Tàu Cộng sẽ hỏng chân, đồng thời chắc chắn bị chận đứng con đường xâm lăng và âm mưu thanh toán luôn cả vùng Đông Nam Á.
VẬY CHỈ HÔ HÀO CHỐNG TÀU CỘNG MÀ KHÔNG ĐÃ ĐỘNG GÌ ĐẾN VIỆC CHỐNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ ĐI VÀO ÂM MƯU CỦA BỌN GIẶC TÀU.
Nếu còn nghe theo việc cổ võ bắt tay hoà giải hoà hợp với cộng sản nữa thì đúng là chúng ta đã đem nước Việt Nam dâng hai tay cho bọn Tàu Cộng. Chính hành động nầy là hình thức giúp cho Tàu Cộng duy trì và biến mảnh đất thân yêu của chúng ta trở thành một tỉnh nhỏ của kẻ thù truyền kiếp. Hãy nghĩ lại hỡi những ông trí thức cò mồi mất gốc, những ông bà đối lập cuội VT và những anh chị em trẻ ăn phải bã của cộng sản !
2. Kết quả đại hội đảng vừa qua cộng sản đã tuyên bố thẳng thừng là không đa nguyên đa đảng, mà chỉ có độc nhất một đảng cộng sản mà thôi. Vậy người Việt Quốc Gia Hải Ngoại nghĩ gì về các cò mồi chính trị hay nằm vùng cứ gào ngày gào đêm đa nguyên đa đảng và hoà giải hoà hợp với cộng sản ? Nhiều nhân vật lịch sử, kể cả các tay trùm cộng sản đã nói "Cộng sản không thể thay đổi mà phải thay thế”. Nhưng tại sao một số trí thức cũng như thành phần trẻ Hải Ngoại lại lên tiếng phải xét lại đường lối tranh đấu và bắt tay với cộng sản để xây dựng đất nước ? Không kể thành phần trí thức đỏ, mà trong đó gồm một số trí thức du học từ thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà.
Họ là những người nhờ ân huệ của các chính phủ Miền Nam trước, ra nước ngoài du học để mai sau về giúp nước. Chúng tôi là những người ở lại buộc phải bỏ đời sống dân sự, bỏ lỡ công danh nữa chừng để cầm súng chiến đấu bảo vệ cha mẹ và tài sản gia đình họ. Chúng tôi vui lòng hy sinh xương máu và tính mạng để những người được chế độ, thế lực và tiền bạc ưu đãi được yên tâm ra nước ngoài học cái hay cái tốt xứ người.
Nhưng không ngờ, vừa ra đến Hải Ngoại thì đã làm tay sai cho cộng sản Hà Nội, đắc lực phá nát chế độ tự do tại quê nhà trong đó có gia đình dòng họ của thành phần du học. Tưởng rằng những người trí thức tương lai nầy lầm lẫn lúc đầu, nhưng không ngờ đến ngày nay họ vẫn còn chạy theo chiếc bánh vẽ của cộng sản. Đến giờ nầy, nếu nói rằng họ là thành phần trốn quân dịch ngày trước thì cũng còn nhẹ hơn những danh từ khác mà người Việt Quốc Gia Hải Ngoại có thể gán cho họ.
Đến giờ phút nầy những ai còn ca bài hoà giải hoà hợp với cộng sản thì thật là người không có mắt. Có thể ví dụ để cho những người đui dễ hiểu : Cộng sản xem như là một loại vi trùng vô cùng độc hại. Năm mươi sáu (56) năm qua chúng ta đã diệt trừ chúng bằng những viên trụ sinh cực mạnh. Ngày nay đã thấy hiệu quả vì những con vi trùng gian manh cứng đầu đó đang từ từ đi vào cõi chết. Tại sao lại hô hào đổi bằng các loại thuốc bổ để chúng bình phục trở lại.
Quan niệm của tôi, Việt Nam muốn đạt đến tự do dân chủ dân quyền và no ấm hạnh phúc cho người dân thì chế độ cộng sản thì PHẢI BỊ THAY THẾ hay PHẢI BỊ TRIỆT TIÊU chứ không thể vực chúng nó dậy để bắt hoà giải hay van lơn cộng sản chấp nhận đa nguyên đa đảng ... Tranh đấu là một mất một còn, không thể quỳ lạy van xin như chủ trương của con rối cò mồi Nguyễn Tiến Trung quỳ dưới bệ rồng đỏ để van xin một chút ân huệ cho tự do dân chủ.
Ngoài ra cần biết thêm một điều nữa: Kết quả của đại hội đảng cộng sản vừa rồi đúng là một hình thức thay phiên nhau để cai trị và chúng bắt đầu đưa con cháu là những tên ăn hại đái nát xã hội Việt Nam vào trung ương bộ chính trị nhằm tiếp tục con đường sắt máu của chúng. Ngoài ra đại hội cộng sản đã khẳng định Không Đa Nguyên Đa Đảng mà vẫn tiếp tục con đường cộng sản độc nhất để cai trị thì đúng là một cái tát vào mặt những tên cò mồi cứ kêu réo đa nguyên đa đảng, hoà giải hoà hợp ... Hãy mở mắt ra những ông trí thức "đang mê ngủ" những bà "chống bạo động" và những bạn trẻ "đòi thay đổi" ! ! !
3. Vấn đề "chống cộng bằng mồm" thì Luật Sư Lê Duy San đã viết một bài thật hay. Đây là câu trả lời thật thấm thía cho thành phần lếu láo và bôi bác người Việt Quốc Gia Hải Ngoại. Trong phần thứ 3 nầy, tôi xin trả lời về vấn đế chống cộng quá khích và bất bạo động của một số người như đã nói ở trên.
Cả thế giới vừa chứng kiến ngọn lửa bạo động từ Tunisie đã hạ bệ tên Tổng Thống độc tài một cách quá dễ dàng và tổn thất xương máu không đáng quan tâm. Kết quả đem lại chiến thắng vẻ vang cho riêng dân Tunisie đồng thời chứng minh cho thế giới việc vùng dậy của người dân trong một nước, dù ở dưới chế độ nào, là một sức mạnh phi thường không một thế lực nào có thể ngăn cản. Sự vùng dậy của người dân Tunisie qua hình thức bạo động đã gây thành một giây chuyền lan từ Bắc Phi qua Trung Đông và sẽ tiếp tục ở Âu và Á Châu.
Hà Nội đã thấy hiểm hoạ nầy trước sau gì cũng sẽ xảy ra cho tập đoàn cộng sản cầm quyền nên chúng đã chỉ thị cho thành phần nằm vùng, hoà giải hoà hợp phải ra mặt lên tiếng vừa bào chữa vừa đánh trống lảng, hầu xoa dịu và chuyển hướng tranh đấu của các phong trào trong nước cũng như Hải Ngoại nên đi theo con đường ru ngủ cố hữu của chúng. Trong 36 năm nay cũng vì tranh đấu bất bạo động mà mầm mống cộng sản càng ngày càng mạnh. Trong quá khứ chúng ta đã vuột mất nhiều cơ hội, chẳng qua là vì chúng ta sợ sệt, trùm chăn để xin hai chữ bình an.
Xin nhớ rằng không có một cuộc tranh đấu nào, không có một cuộc cách mạng nào không mà đổ máu, không có chết chóc ... Muốn thay đổi một chế độ, nhất là một chế độ sắt máu, ù lì như cộng sản thì không thể chờ phép lạ, chờ Mỹ, chờ Âu-Châu can thiệp hoặc ... nằm ngữa há miệng ra để đợi trái chín rơi vào cổ họng. Tranh đấu là phải dấn thân, phải đổ mồ hôi, đổ nước mắt và đổ máu thì may ra mới đánh thức được khối đa số quần chúng đang sợ sệt cũng như các nhà dân chủ salon, các nhà trí thức mê ngủ, các nhà tranh đấu trùm chăn ! Chủ trương “bất bạo động" là chủ trương của VT, là một đảng với cái vỏ bên ngoài chống cộng, đóng vai đối lập cuội. Những người lãnh đạo đảng VT đã đi đêm hợp tác để mưu đồ chia cái bánh vẽ cầm quyền với cộng sản trong tương lai.
Đảng nầy cũng là con cờ của Mỹ mà Mỹ sẽ xử dụng với 2 mục đích : Một là dùng đảng VT làm áp lực răn đe cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn chống cộng trên một vài điểm nào đó. Hai là xử dụng đảng VT làm thành phần hoà giải trong giải pháp chính trị với cộng sản Việt Nam một khi thời cơ chín mùi. Như vậy chúng ta đã thấy, trong quá khứ Mỹ vì quyền lợi, họ đã xử sự một cách "đểu cáng" với một đồng minh ưu tú, là tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á. Nay Mỹ lại âm thầm "nuôi" VT trong chương trình thương thuyết với một vài giải pháp với Hà Nội, nếu "lợi thì ăn không lợi thì chạy làng" trong danh dự.
Nếu vậy thì thật là một đại hoạ cho Dân Tộc và Đất Nước Việt Nam ! Từ lâu tôi đã khẳng định một điều rằng chế độ cộng sản sẽ bị giải thể tại nội địa và bằng con đường độc nhất do sức mạnh của người dân trong nước. Nay với những luồng gió bạo động ảnh hưởng từ những nước bị áp bức thì chế độ cộng sản cũng phải lãnh lấy những hậu quả tương tự. Cả dân tộc đang chờ một cuộc tự thiêu giống như hành động của người thanh niên Tunisie (hy vọng chuyên viên đạo diễn tuồng tự thiêu dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà tái xuất hiện biểu diễn vài màn để tạo khí thế !).
Đây chính là ngòi nổ, là phát súng lệnh cho toàn dân đứng dậy. Đến thời kỳ chín mùi, cuộc tranh đấu chống cộng sản phải xảy ra và sẽ thành công. Chỉ cần vài giọt máu, một xác người thì trang sử sẽ lật qua. Điều tối cần thiết là thanh niên phải can đảm đừng sợ, trí thức trùm mền phải tỉnh giấc, các nhà dân chủ sẵn sàng ra khỏi "salon" và giáo hội không còn cấm cản con chiên xuống đường. Cộng sản có thể đàn áp một người, mười người, trăm người ... nhưng chúng không thể ra tay sát hại khi hàng vạn hàng triệu người dân xuống đường đồng loạt.
Tôi đoán chắc luồng gió bạo động từ Bắc Phi và Trung Đông sẽ thổi đến Việt Nam trong nay mai và cuộc chiến lật đổ đảng cầm quyền cộng sản cũng xảy ra và sẽ hoàn tất tốt đẹp trong một vài ngày gần đây mà thôi.
Đinh Lâm Thanh
Paris 2011/01/31
Và ngày hôm nay, nhân tiện đọc bài « Xuân Hoà Giải Dân Tộc » phổ biến ở trên net, tôi xin mượn bài viết nầy để bày tỏ thiển ý của một người tranh đấu chống cộng, không ngoài mục đích trả lời những người đã trực tiếp nói chuyện với tôi cũng như với tác giả bài kêu gọi hãy từ bỏ quá khứ và bắt tay hoà giải với cộng sản trên các diễn đàn. Để đi vào vấn đề, xin tóm tắt thành 3 điểm chính mà nhiều người đã đặt ra với tôi :
1. Trước đây, tranh đấu chống cộng sản xem như có lý tưởng nhưng bây giờ thì đã lỗi thời ! Vì một khi Tàu Cộng xâm chiếm Việt Nam thì cộng đồng người Việt Quốc Gia phải bắt tay với cộng sản để chống lại ngoại xâm.
2. Bây giờ không còn là thời điểm tranh đấu quyết liệt nhằm giải thể hay xoá bỏ đảng cộng sản, mà phải xem cộng sản là một thành phần của dân tộc. Cần phải mở một lối thoát bằng cách hoà giải hoà hợp để hàn gắn những đau thương giữa người quốc gia với cộng sản.
3. Cộng đồng người Việt Quốc Gia đã làm được gì sau trên 36 năm chống cộng sản bằng mồm và tranh đấu một cách « quá khích » ? Chính hình thức chống cộng nầy đã làm cho giới trí thức cũng như thành phần trẻ Hải Ngoại chán nản và xa lánh !
Qua các lời khuyên trên tôi hình dung được những người đã liên hệ với tôi thuộc thành phần nào và họ đang làm gì để cổ võ cho âm mưu hoà giải hoà hợp. Mục đính của nhóm người nầy là chữa cháy và chạy tội cho Hà Nội đồng thời cứu nguy cho tập đoàn lãnh đạo đảng cộng sản đang lún dần xuống vực thẳm.
Xin trả lời từng điểm một :
1. Viện cớ Tàu Cộng xâm chiếm Việt Nam để kêu gọi bắt tay với đảng cộng sản Việt Nam chống Tàu là hình thức tuyên truyền không công cho cộng sản. Thật vậy, mới nghe qua thật chí tình chí lý, vì một khi giặc đến nhà thì tất cả mọi người phải gác qua một bên những bất đồng chính kiến để cùng chung sức chống kẻ thù. Nhưng nghĩ lại thì đúng là một nghịch lý, nhất là khi đế cập đến tình trạng đất nước hiện nay. Lý do thật đơn giản, trước tiên phải hiểu tại sao Tàu Cộng vào xâm chiếm Việt Nam một cách quá dễ dàng qua âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á. Có phải do cộng sản Hà Nội vừa nhượng, vừa bán, vừa dâng từ đất đến biển cho quan thầy của chúng.
Thì tại sao người Việt Quốc Gia không hỏi tội bọn bán nước rước voi về giày xéo quê hương mà phải bắt tay với chúng để chống Tàu ? Thằng ăn trộm trong nhà đập vách, lấy gạch, bán trâu, bưng đồ đạc trong nhà đen dâng, đem bán cho người ngoài thì phải nọc thằng ăn trộm nhà ra mà đánh mới phải. Lý do nào không đá động đến thằng ăn trộm nhà mà ra đường gào lên chửi bới người được dâng biếu hay kẻ bỏ tiền ra mua đồ trộm, rồi kêu gọi mọi người hợp tác biểu tình chống người thụ hưởng ! Đồng ý rằng việc chống Tàu Cộng, kẻ thù tryuền kiếp của dân tộc Việt Nam, là cần thiết và cấp bách. Nhưng không thể mù quáng nghe lời những tên cò mồi tại Hải Ngoại để rồi người Việt Quốc Gia cong lưng đi đỡ đạn cho tập đoàn cộng sản.
Lá bài hợp tác với cộng sản để chống Tàu là một âm mưu ấu trĩ của cộng sản mà chỉ có những người vô ý thức hay bọn cò mồi đón gió cũng như nằm vùng tung ra và cổ võ rầm rộ trong thời gian qua. Tàu Cộng càng ngày càng xâm lấn vào nội bộ Việt nam qua nhiều mặt, không những việc chiếm cứ lãnh hải, lãnh thổ, khai thác bauxite mà còn rất nhiều phương diện khác ... từ chính trị, quân sự, văn hoá, thương mãi và nhất là gây giống. Chừng vài tháng hoặc một năm nữa những đứa con hai dòng máu Tàu-Việt sẽ chào đời ào ạt và một ngày rất gần đây chúng sẽ lan tràn từ ải Nam Quan đến đến mũi Cà Mau. Lúc đó thì việc đồng hoá dân tộc Việt Nam sẽ xem như đã xong một đoạn đường dài.
Một điều cần phải ghi nhớ nằm lòng : Ngày nào đảng cộng sản còn trên đất nước Việt Nam thì ngày đó Tàu Cộng vẫn là quan thầy và xem Việt Nam như một chư hầu hay chỉ là một tỉnh nhỏ. Như vậy, qua lời kêu gọi hợp tác với cộng sản Việt Nam để chống Tàu có nghĩa là đám cò mồi đang hướng dẫn người Việt Quốc Gia hãy duy trì sự sống còn đảng cộng sản Việt Nam để cho Tàu dễ dàng đô hộ. Đây là một âm mưu mà thành phần cò mồi đã lập lờ đi khi chúng đề cập đến việc chống Tàu.
Chúng ta cần sáng suốt để ghi nhận : Tàu Cộng không thấy khó chịu cũng như quan tâm khi chúng ta chống chúng nó. Nhưng bí ẩn bên trong là làm thế nào để người Việt Quốc Gia Hải Ngoại không được đụng đến đảng cộng sản Việt Nam ! Đây là điểm then chốt. Vì Tàu Cộng biết rằng chúng ta hô hào chống chúng nó thì cũng như nước đổ lá môn. Nhưng một khi chế độ Hà Nội bị giải thể, nước Việt Nam sau nầy đi theo con đường không cộng sản thì Tàu Cộng sẽ hỏng chân, đồng thời chắc chắn bị chận đứng con đường xâm lăng và âm mưu thanh toán luôn cả vùng Đông Nam Á.
VẬY CHỈ HÔ HÀO CHỐNG TÀU CỘNG MÀ KHÔNG ĐÃ ĐỘNG GÌ ĐẾN VIỆC CHỐNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ ĐI VÀO ÂM MƯU CỦA BỌN GIẶC TÀU.
Nếu còn nghe theo việc cổ võ bắt tay hoà giải hoà hợp với cộng sản nữa thì đúng là chúng ta đã đem nước Việt Nam dâng hai tay cho bọn Tàu Cộng. Chính hành động nầy là hình thức giúp cho Tàu Cộng duy trì và biến mảnh đất thân yêu của chúng ta trở thành một tỉnh nhỏ của kẻ thù truyền kiếp. Hãy nghĩ lại hỡi những ông trí thức cò mồi mất gốc, những ông bà đối lập cuội VT và những anh chị em trẻ ăn phải bã của cộng sản !
2. Kết quả đại hội đảng vừa qua cộng sản đã tuyên bố thẳng thừng là không đa nguyên đa đảng, mà chỉ có độc nhất một đảng cộng sản mà thôi. Vậy người Việt Quốc Gia Hải Ngoại nghĩ gì về các cò mồi chính trị hay nằm vùng cứ gào ngày gào đêm đa nguyên đa đảng và hoà giải hoà hợp với cộng sản ? Nhiều nhân vật lịch sử, kể cả các tay trùm cộng sản đã nói "Cộng sản không thể thay đổi mà phải thay thế”. Nhưng tại sao một số trí thức cũng như thành phần trẻ Hải Ngoại lại lên tiếng phải xét lại đường lối tranh đấu và bắt tay với cộng sản để xây dựng đất nước ? Không kể thành phần trí thức đỏ, mà trong đó gồm một số trí thức du học từ thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà.
Họ là những người nhờ ân huệ của các chính phủ Miền Nam trước, ra nước ngoài du học để mai sau về giúp nước. Chúng tôi là những người ở lại buộc phải bỏ đời sống dân sự, bỏ lỡ công danh nữa chừng để cầm súng chiến đấu bảo vệ cha mẹ và tài sản gia đình họ. Chúng tôi vui lòng hy sinh xương máu và tính mạng để những người được chế độ, thế lực và tiền bạc ưu đãi được yên tâm ra nước ngoài học cái hay cái tốt xứ người.
Nhưng không ngờ, vừa ra đến Hải Ngoại thì đã làm tay sai cho cộng sản Hà Nội, đắc lực phá nát chế độ tự do tại quê nhà trong đó có gia đình dòng họ của thành phần du học. Tưởng rằng những người trí thức tương lai nầy lầm lẫn lúc đầu, nhưng không ngờ đến ngày nay họ vẫn còn chạy theo chiếc bánh vẽ của cộng sản. Đến giờ nầy, nếu nói rằng họ là thành phần trốn quân dịch ngày trước thì cũng còn nhẹ hơn những danh từ khác mà người Việt Quốc Gia Hải Ngoại có thể gán cho họ.
Đến giờ phút nầy những ai còn ca bài hoà giải hoà hợp với cộng sản thì thật là người không có mắt. Có thể ví dụ để cho những người đui dễ hiểu : Cộng sản xem như là một loại vi trùng vô cùng độc hại. Năm mươi sáu (56) năm qua chúng ta đã diệt trừ chúng bằng những viên trụ sinh cực mạnh. Ngày nay đã thấy hiệu quả vì những con vi trùng gian manh cứng đầu đó đang từ từ đi vào cõi chết. Tại sao lại hô hào đổi bằng các loại thuốc bổ để chúng bình phục trở lại.
Quan niệm của tôi, Việt Nam muốn đạt đến tự do dân chủ dân quyền và no ấm hạnh phúc cho người dân thì chế độ cộng sản thì PHẢI BỊ THAY THẾ hay PHẢI BỊ TRIỆT TIÊU chứ không thể vực chúng nó dậy để bắt hoà giải hay van lơn cộng sản chấp nhận đa nguyên đa đảng ... Tranh đấu là một mất một còn, không thể quỳ lạy van xin như chủ trương của con rối cò mồi Nguyễn Tiến Trung quỳ dưới bệ rồng đỏ để van xin một chút ân huệ cho tự do dân chủ.
Ngoài ra cần biết thêm một điều nữa: Kết quả của đại hội đảng cộng sản vừa rồi đúng là một hình thức thay phiên nhau để cai trị và chúng bắt đầu đưa con cháu là những tên ăn hại đái nát xã hội Việt Nam vào trung ương bộ chính trị nhằm tiếp tục con đường sắt máu của chúng. Ngoài ra đại hội cộng sản đã khẳng định Không Đa Nguyên Đa Đảng mà vẫn tiếp tục con đường cộng sản độc nhất để cai trị thì đúng là một cái tát vào mặt những tên cò mồi cứ kêu réo đa nguyên đa đảng, hoà giải hoà hợp ... Hãy mở mắt ra những ông trí thức "đang mê ngủ" những bà "chống bạo động" và những bạn trẻ "đòi thay đổi" ! ! !
3. Vấn đề "chống cộng bằng mồm" thì Luật Sư Lê Duy San đã viết một bài thật hay. Đây là câu trả lời thật thấm thía cho thành phần lếu láo và bôi bác người Việt Quốc Gia Hải Ngoại. Trong phần thứ 3 nầy, tôi xin trả lời về vấn đế chống cộng quá khích và bất bạo động của một số người như đã nói ở trên.
Cả thế giới vừa chứng kiến ngọn lửa bạo động từ Tunisie đã hạ bệ tên Tổng Thống độc tài một cách quá dễ dàng và tổn thất xương máu không đáng quan tâm. Kết quả đem lại chiến thắng vẻ vang cho riêng dân Tunisie đồng thời chứng minh cho thế giới việc vùng dậy của người dân trong một nước, dù ở dưới chế độ nào, là một sức mạnh phi thường không một thế lực nào có thể ngăn cản. Sự vùng dậy của người dân Tunisie qua hình thức bạo động đã gây thành một giây chuyền lan từ Bắc Phi qua Trung Đông và sẽ tiếp tục ở Âu và Á Châu.
Hà Nội đã thấy hiểm hoạ nầy trước sau gì cũng sẽ xảy ra cho tập đoàn cộng sản cầm quyền nên chúng đã chỉ thị cho thành phần nằm vùng, hoà giải hoà hợp phải ra mặt lên tiếng vừa bào chữa vừa đánh trống lảng, hầu xoa dịu và chuyển hướng tranh đấu của các phong trào trong nước cũng như Hải Ngoại nên đi theo con đường ru ngủ cố hữu của chúng. Trong 36 năm nay cũng vì tranh đấu bất bạo động mà mầm mống cộng sản càng ngày càng mạnh. Trong quá khứ chúng ta đã vuột mất nhiều cơ hội, chẳng qua là vì chúng ta sợ sệt, trùm chăn để xin hai chữ bình an.
Xin nhớ rằng không có một cuộc tranh đấu nào, không có một cuộc cách mạng nào không mà đổ máu, không có chết chóc ... Muốn thay đổi một chế độ, nhất là một chế độ sắt máu, ù lì như cộng sản thì không thể chờ phép lạ, chờ Mỹ, chờ Âu-Châu can thiệp hoặc ... nằm ngữa há miệng ra để đợi trái chín rơi vào cổ họng. Tranh đấu là phải dấn thân, phải đổ mồ hôi, đổ nước mắt và đổ máu thì may ra mới đánh thức được khối đa số quần chúng đang sợ sệt cũng như các nhà dân chủ salon, các nhà trí thức mê ngủ, các nhà tranh đấu trùm chăn ! Chủ trương “bất bạo động" là chủ trương của VT, là một đảng với cái vỏ bên ngoài chống cộng, đóng vai đối lập cuội. Những người lãnh đạo đảng VT đã đi đêm hợp tác để mưu đồ chia cái bánh vẽ cầm quyền với cộng sản trong tương lai.
Đảng nầy cũng là con cờ của Mỹ mà Mỹ sẽ xử dụng với 2 mục đích : Một là dùng đảng VT làm áp lực răn đe cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn chống cộng trên một vài điểm nào đó. Hai là xử dụng đảng VT làm thành phần hoà giải trong giải pháp chính trị với cộng sản Việt Nam một khi thời cơ chín mùi. Như vậy chúng ta đã thấy, trong quá khứ Mỹ vì quyền lợi, họ đã xử sự một cách "đểu cáng" với một đồng minh ưu tú, là tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á. Nay Mỹ lại âm thầm "nuôi" VT trong chương trình thương thuyết với một vài giải pháp với Hà Nội, nếu "lợi thì ăn không lợi thì chạy làng" trong danh dự.
Nếu vậy thì thật là một đại hoạ cho Dân Tộc và Đất Nước Việt Nam ! Từ lâu tôi đã khẳng định một điều rằng chế độ cộng sản sẽ bị giải thể tại nội địa và bằng con đường độc nhất do sức mạnh của người dân trong nước. Nay với những luồng gió bạo động ảnh hưởng từ những nước bị áp bức thì chế độ cộng sản cũng phải lãnh lấy những hậu quả tương tự. Cả dân tộc đang chờ một cuộc tự thiêu giống như hành động của người thanh niên Tunisie (hy vọng chuyên viên đạo diễn tuồng tự thiêu dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà tái xuất hiện biểu diễn vài màn để tạo khí thế !).
Đây chính là ngòi nổ, là phát súng lệnh cho toàn dân đứng dậy. Đến thời kỳ chín mùi, cuộc tranh đấu chống cộng sản phải xảy ra và sẽ thành công. Chỉ cần vài giọt máu, một xác người thì trang sử sẽ lật qua. Điều tối cần thiết là thanh niên phải can đảm đừng sợ, trí thức trùm mền phải tỉnh giấc, các nhà dân chủ sẵn sàng ra khỏi "salon" và giáo hội không còn cấm cản con chiên xuống đường. Cộng sản có thể đàn áp một người, mười người, trăm người ... nhưng chúng không thể ra tay sát hại khi hàng vạn hàng triệu người dân xuống đường đồng loạt.
Tôi đoán chắc luồng gió bạo động từ Bắc Phi và Trung Đông sẽ thổi đến Việt Nam trong nay mai và cuộc chiến lật đổ đảng cầm quyền cộng sản cũng xảy ra và sẽ hoàn tất tốt đẹp trong một vài ngày gần đây mà thôi.
Đinh Lâm Thanh
Paris 2011/01/31

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh, Mãi Mãi Một Niềm Tin!
Trường Sơn Lê Xuân Nhị
Câu chuyện của người nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh bắt đầu cách đây trên 5 năm, tại khách sạn Marriott sang trọng của thành phố San Francisco Hoa Kỳ.
Ngày 13 tháng 12 năm 2001, trong lúc cả nước Mỹ, cả thế giới đang chuẩn bị đón mừng lễ giáng sinh thì Nguyễn Thị Ngọc Hạnh và một chiến hữu tên Phạm Anh Cường âm thầm lấy vé máy bay từ Pháp sang San Francisco, nơi tên phó thủ tướng Việt cộng Nguyễn Tấn Dũng đang cư ngụ tại khách sạn Marriot chờ nói chuyện với phái đoàn Hoa Kỳ về việc giao thương giữa hai nước. Mặc dầu khách sạn được mấy lớp hàng rào cảnh sát và FBI bao phủ, hai người đã lọt vào trong được khách sạn và đến tận văn phòng tên phó thủ tướng Việt cộng. Nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh liền rút túi lấy chai xăng mang theo ra để tính làm chuyện đã dự định, nhưng chưa kịp làm gì thì cơ quan an ninh đã ụp đến và bắt chị lại. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh liền chỉ tay vào mặt tên Việt cộng rồi hô to: "Đã đảo Cộng Sản. Lịch sử dân tộc sẽ xử tội chúng bây."
Dĩ nhiên, những ngày tiếp theo là những ngày lao lý nhọc nhằn, một cái giá phải trả cho người chiến sĩ chọn con đường chiến đấu quyết liệt. Sau vài tháng tạm giam, chính quyền Hoa Kỳ khuyên, và đúng hơn, phải dùng danh từ dụ dỗ chị và chiến hữu Cường rằng, nếu hai người chịu nhận tội thì họ sẽ được trả về Pháp liền, không bị phiền lụy gì đến pháp luật cả. Người bạn của Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nhận tội và được trả về Pháp đúng như lời hứa, nhưng nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh cương quyết nhất định không chịu nhận tội. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã chọn con đường của mình đi và quyết đi cho đến cùng. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh muốn dùng tòa án Hoa Kỳ, nơi chị bị truy tố và bị xét xử để biến nó thành một diễn đàn tố cáo tội ác của Cộng Sản Việt Nam. Dù rằng chị biết, chọn lựa như thế là phải chấp nhận ở tù nhiều năm vì luật pháp nước Mỹ không chấp nhận những hành động như thế. Và làm thân phận một người phụ nữ ngọai quốc đến từ Âu Châu, tiếng Anh không rành, văn hóa chưa hiểu được nhiều, những ngày tù tội sẽ là những ngày dài cam khổ. Nhưng nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã quyết định như thế và chị tiếp tục đi theo con đường ấy.
Và quả thật, đúng như những gì chị nghĩ, tại phiên xử, nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã biến thành một phiên xử tố cáo tội ác của Cộng Sản Việt Nam đối với dân tộc Việt Nam. Suốt gần hai tuần lễ, bằng những lời lẽ chân thật nhưng cảm động và tràn đầy phẫn uất, trong vai trò bị cáo, chị đã biến mình thành một một công tố viên đại diện cho dân tộc Việt Nam, cho lương tâm thế giới, dõng dạc tố cáo trước báo chí Hoa Kỳ và thế giới những tội ác của Cộng Sản Việt Nam đã phạm với dân tộc Việt Nam. Qua những lời tố cáo của chị tại tòa án, CSVN đã hiện nguyên hình một lũ ăn cướp bạo tàn, vô liêm sỉ, dã man, tham nhũng và ngu dốt.
Ngày 19-1-03, tòa chung thẩm Liên Bang kết án Nguyễn Thị Ngọc Hạnh 5 năm tù với hai tội danh: "Dự mưu phóng hỏa và chống cự nhân viên công lực." Trước khi phiên tòa chấm dứt, chị đã được mời lên nói những lời phát biểu cuối cùng trước tòa án. Chính giờ phút này, Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã làm cho nhiều người nhỏ lệ. Một lời phát biểu đáng lý chỉ được phép nói trong vòng dăm ba phút đồng hồ, chỉ Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã được quyền "thuyết giảng" hơn 30 phút. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói, khẩu khí oai dũng không thua gì Trần Bình Trọng năm nào nói với quân Nguyên:
"Tôi không xin ân huệ gì cho riêng tôi. Tôi chỉ xin bà chánh án quan tâm đến tập tài liệu tố giác tội ác Cộng Sản mà tôi đã trao tận tay bà... Tôi vô tội! Kẻ có tội chính là Hồ chí Minh và đảng CSVN. Hôm nay quý vị có thể nhân danh pháp luật để kết án tôi, đóng đinh tôi, nhưng không thể phủ nhận lòng yêu nước của tôi... Ngày nào tôi còn hơi thở, tôi còn tiếp tục hy sinh tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền của quê hương tôi".
Nghe những lời nói của người nữ anh hùng, người thư ký đánh máy tốc ký đã khóc sướt mướt cho đến khi đánh máy những lời nói cuối cùng của chị... Chị đã bình thản và chấp nhận 5 năm tù để đổi lấy thời gian hơn nửa tiếng đồng hồ, làm một công tố trạng tố cáo tội ác của Cộng Sản Việt Nam, cho cả dân tộcVN.
Sau đó, Nguyễn Thị Ngọc Hạnh được gởi về thọ hình tại nhà tù liên bang ở California. Nơi đây, chị đã gặp một số tù nhân Việt Nam và ai cũng đem lòng quý mến và thương yêu chị. Bao nhiêu tiền bạc chị nhận được từ bên ngoài, chị chia hết cho những người tù đang ở chung với chị mà chị coi như là những đứa em. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói:
"Tôi đã từng ở tù nhiều năm ở Việt Nam, sang đến tù Âu Châu, bây giờ tù Mỹ, tôi rất dễ thích hợp với nhà tù. Nơi chốn này, tôi quen rồi nên tôi không cần gì cho tôi cả. Tôi sống như thế nào cũng được, nhưng các em nó còn nhỏ, các em không quen với những khó khăn, không được tiếp tế, tội nghiệp chúng nó lắm."
Tháng 7 năm 2003, vì lý do sức khỏe, Nguyễn Thị Ngọc Hạnh được đưa về giam giữ ở nhà thương đồng thời là nhà tù duy nhất của chính phủ liên bang ở ngoại ô Dallas tên Carswell. Tại nơi đây, chị liền được những nhân vật chống chộng nổi tiếng của cộng đồng Việt Nam như giáo sư Cao Chánh Cương, nhà báo, nhà văn, nhạc sĩ, chiến sĩ đấu tranh nhiều năm Trương Sĩ Lương, nhà văn nữ Thu Nga, cựu đại tá Võ Văn Ân đến thăm viếng và ủy lạo tinh thần hầu như mỗi tuần lễ. Đặc biệt riêng đại tá Võ Văn Ân, những tháng sau cùng, đại tá đến thăm chị hầu như 2, 3 lần một tuần để an ủi khích lệ và bàn thảo với chị về một sách lược đấu tranh mới...
Cá nhân tôi, đã nghe tên anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh từ lâu, nhưng chưa hề có dịp được giáp mặt. Sau khi cơn bão Katrina tàn phá thành phố tôi ở, tôi phải lưu vong sang Dallas, tôi liền làm đơn để xin phép đi thăm chị.
Cảm giác lần đầu tiên khi gặp Nguyễn Thị Ngọc Hạnh thật là một cảm giác khó quên được trong đời. Trong hội trường thăm nuôi to lớn của nhà tù liên bang, tôi nhìn thấy một nữ tù nhân dáng người ốm, chiều cao trung bình so với một người Việt Nam trong bộ quần áo tù nhân bước ra. Dáng đi của chị hiên ngang và quả quyết như một nữ tướng, dù rằng đang mặc bộ đồng phục nhà tù, dù rằng đang bước trong nhà tù. Gương mặt chị sáng lạng, cặp mắt bất khuất kiên cường, luôn luôn chiếu sáng ánh lửa hy vọng.
Bắt tay và được giới thiệu với chị, tôi có cảm tình ngay với người phụ nữ anh hùng này. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói chuyện nhỏ nhẹ, rõ ràng, lý luận sâu sắc. Thỉnh thoảng, không quên chêm vào vài câu pha trò ý nhị, tươi sáng. Tôi ngồi im suốt một buổi sáng để nghe chị nói và âm thầm quan sát và tìm hiểu con người chị. Tôi muốn biết vì sao, hoặc động cơ nào đã thúc đẩy một người phụ nữ Việt Nam hiền lành, một người vợ hiền trong một gia đình bình thường của miền Tây Việt Nam, lớn lên từ chốn đồng ruộng thơm hơi lúa, trở thành một chiến sĩ chống cộng hăng say và có thể nói, quyết liệt và táo bạo có thể so sánh ngang hàng với Lý Tống. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã khóc khi nói đến những hình ảnh đau thương của "Anh Lính Cộng Hòa". Chị khóc một cách tự nhiên và chân thật. Chị coi những anh lính Cộng Hòa như những người anh ruột của mình. Một lần, gặp một anh lính Cộng Hòa trên một chuyến xe lửa trên đường ở tù về, chị đã móc hết tiền trong túi ra cho anh và nhường chỗ chị cho anh ngồi.
Chị đã kể lại những bất công không phải của chị nhưng mà của đồng bào chị đã phải gánh chịu trong chế độ Cộng Sản. Và Nguyễn Thị Ngọc Hạnh cũng kể phớt qua cuộc đời của chị. Cuộc đời của một người Việt Nam mà số ngày tù nhiều hơn số ngày sống tự do ở ngoài đời...
Sau nhiều giờ đồng hồ ngồi nói chuyện, tôi hiểu được lý do nào và động lực nào đã biến người vợ hiền Nguyễn Thị Ngọc Hạnh thành người nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh của thời đại này. Lý do đó là: Chị không chịu nỗi những bất công và đàn áp của bọn Cộng Sản Việt Nam đang đè xuống trên đầu trên cổ đồng bào chị. Chị không chịu nỗi cảnh chúng nó tàn phá quê hương của chị. Đơn giản như thế thôi. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh tuyên bố rằng chị không chiến đấu cho mình mà cho dân tộc Việt Nam. Chị đã hy sinh cả gia đình, mấy đứa con, chọn con đường tranh đấu, lấy hạnh phúc của dân tộc làm hạnh phúc của mình. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh tuyên bố:
"Tôi sinh ra là người Công Giáo, nhưng bây giờ thì dân tộc Việt Nam là tôn giáo của tôi. Tranh đấu giành lại tự do hạnh phúc cho người Người Việt Nam là ĐẠO, tức là con đường của tôi."
Và chị nói thêm:
"Sau năm năm ở tù, tôi đã có nhiều thì giờ để học hỏi và suy nghĩ. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều suốt năm năm qua để tìm một con đường để giải phóng dân tộc. Và tôi rất lạc quan, tin tưởng..."
Ngừng một chút, chị ngước mắt nhìn lên bầu trời xanh ở bên ngoài hàng rào trại tù và chậm rãi tuyên bố một câu quan trọng:
"Dù ngày xưa tôi là một người chuyên môn đốt tòa đại sứ Việt cộng, nhưng bây giờ thì tôi đã quyết định từ bỏ con đường bạo lực. Tôi đã tìm ra một phương pháp tranh đấu ôn hòa bất bạo động nhưng sẽ đem lại kết quả. Tôi sẽ không dùng lửa để đốt tòa đại sứ nữa, nhưng tôi sẽ gom lửa của đồng bào, gom lửa của tôi, của anh, của tất cả chúng ta để chúng ta cùng nhau đốt cháy chế độ Cộng Sản..."
Nguyễn Thị Ngọc Hạnh mỉm cười rồi lắc đầu tiếp:
"Tôi đã đốt tòa đại sứ của chúng nó ở Anh và ở Pháp, nhưng tôi không biết rằng mình đốt thì nó sẽ lấy tiền bảo hiểm để xây lại một tòa đại sứ mới hơn, đẹp hơn, lớn hơn xưa. Tôi đã quyết định từ bỏ con đường tranh đấu bạo động như ngày xưa. Lửa của tôi bây giờ sẽ được dùng một cách hữu hiệu hơn."
Và chị lập lại câu nói mà tôi cho rằng là một câu nói vô cùng quan trọng của một điểm khởi đầu của một cuộc tranh đấu mới:
"Tôi sẽ gom lửa của đồng bào, gom lửa của tôi, của anh, của tất cả chúng ta để chúng ta cùng nhau đốt cháy chế độ Cộng Sản..."
Lần cuối cùng tôi đến thăm chị, Chủ nhật ngày 16 tháng 4 năm 2006, chúng tôi bịn rịn từ giã nhau. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh hỏi tôi về cảm nghĩ của tôi về vấn đề chống Cộng. Tôi thành thực cho chị biết rằng tôi rất bi quan. Tôi thấy rằng chúng ta mỗi ngày một già đi, yếu đi. Tình hình cộng đồng lại ly tán, chia rẽ, đố kỵ. Không đồng ý với nhau thì đâm ra ghét nhau và nếu cần thì không ngần ngại chửi nhau là....Việt cộng. Trong khi đó, chính quyền Việt cộng mỗi ngày mỗi giàu mỗi mạnh và đặc biệt, những thằng mình muốn trù ẻo cho nó... bị trúng gió mà chết thì chúng nó lại không những không chết, mà xem hình thì thấy chúng càng ngày càng béo tốt thêm. Nhìn mặt mày chúng nó phè phỡn trên các tờ báo mà tối về nhà buồn ...ăn cơm không được.
Nghe như thế Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nghiêm sắc mặt lại và trách tôi liền, không hề có một chút rụt rè dù đây chỉ là lần thứ hai tôi gặp chị:
"Anh không được bi quan như thế. Tôi ở trong tù mà tôi còn nghĩ được sách lược chống chúng nó, anh ở ngoài tự do, có nhiều phương tiện, nhiều cơ hội, tại sao anh lại có những tư tưởng bi quan như thế? Một chiến sĩ chống cộng như anh mà bi quan như thế thì làm sao chúng ta chiến thắng Cộng Sản được?"
Tôi giật mình chưng hửng và ngồi im không biết nói gì, như một người học trò bị thầy giáo quở mắng ở những ngày còn đi học tiểu học. Đại tá Võ Văn Ân nhìn tôi ... thương hại.
Chị tiếp tục "giảng" cho tôi một bài thật dài, thật hay. Cuối cùng, chị nói:
"Chúng ta không được bỏ cuộc nửa chừng. Chúng ta phải chiến đấu đến giây phút cuối cùng. Và tôi tin tưởng chắc chắn chúng ta sẽ thành công. Tôi quả quyết như thế. Chế độ bạo tàn phi nhân của Việt cộng sẽ phải bị sụp đổ..."
Tôi nhìn thấy trong những lời chị nói, dường như có những ngọn lửa hừng hực phát ra... Tôi nghi nhận những gì Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói và cảm thấy những gì chị nhận xét về tôi rất đúng. Lâu nay, phần vì hoàn cảnh cá nhân, phần vì phải tranh sống hằng ngày, phần vì nhìn thấy cộng đồng chia rẽ, tôi như đâm ra thờ ơ với việc tranh đấu. Và tệ nhất, tôi cảm thấy bi quan.
Tôi xin cám ơn anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã thẳng thắn chỉ trích về những nhận định sai lầm của tôi. Sự chỉ trích rất đúng và tôi hứa với chị sẽ cố gắng nhìn lại thời thế để tìm một cái nhìn sáng sủa hơn. Những lời Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói làm tôi chợt nhớ đến những chiến sĩ quốc gia mà tôi luôn luôn nể phục, những con người đã âm thầm chiến đấu suốt bao nhiêu năm nay và cho đến giờ này vẫn còn một lòng dạ sắt son với tổ quốc, không hề tàn phai dù chỉ một chút: Nơi tôi ở ngày xưa, thành phố New Orleans, có những người như chiến hữu Lê Hồng Thanh, chiến hữu Trương Minh Đức, Không Quân Vũ Viết Ngữ. Nơi tôi ở bây giờ, thành phố Dallas, có những người chiến sĩ như Trương Sĩ Lương, như đại tá Võ Văn Ân. Xa hơn nữa, tôi nhớ đến những người như anh Huỳnh Lương Thiện ở San Francisco, anh Đào Trường Phúc và chị Nguyệt Ánh ở DC, thằng bạn già tôi, Không Quân Nguyễn Văn Ngà ở Vancouver, và người đàn anh khả kính, trung tá KQ Khưu văn Phát ở DC, Hội trưởng Tổng Hội Không Lực VNCH...
Dĩ nhiên là danh sách còn rất nhiều và nhiều nữa và tôi không nhớ hết được ở đây, chỉ ghi vội lên vài tên, như một lời tạ tội vì đã vắng mặt khá lâu trên con đường tranh đấu, và đồng thời cũng gởi đến những lời khích lệ cùng khen ngợi tấm lòng sắt son đến các anh các chị.
Chúng tôi bịn rịn chia tay nhau và chắc phải một thời gian khá lâu mới được gặp lại. Tuần sau, Nguyễn Thị Ngọc Hạnh sẽ mãn hạn tù và sau đó sẽ được chuyển sang sở di trú trước khi lên đường trở về Pháp.
Trên đường về nhà với đại tá Võ Văn Ân, chúng tôi nói chuyện với nhau và chúng tôi nghĩ rằng nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh sẽ là ngọn lửa chiến đấu, ngọn lửa hy vọng cuối cùng của chúng ta. Tôi nguyện cầu cho chị có đủ can đảm, tài năng và phương tiện để, như lời chị nói, sẽ gom lửa của chị và của đồng bào đốt cháy chế độ Cộng Sản phi nhân tàn bạo.
Đã từ lâu, cá nhân tôi cũng như nhiều người quốc gia khác, dù không nói ra, nhưng chúng ta luôn luôn âm thầm đi tìm một ngọn lửa để khôi phục quê hương. Và chúng ta đã nhìn thấy nhiều phong trào, nhiều đoàn thể, nhiều đảng phái nổi lên. Nhưng sau 31 năm, tôi chưa nhìn thấy một niềm hy vọng hoặc một hứa hẹn nào thực tiễn cả. Thậm chí một đoàn thể chính trị hoạt động đến giờ này mà còn tồn tại được, số thành viên đi họp còn được 25% so với ngày mới thành lập thì phải được coi như là một đảng phái thành công và có thực lực. Có lẽ cái tật làm ít nói nhiều, lãnh tụ thích đọc diễn văn dài giòng hơn là tích cực dấn thân, lãnh tụ sợ thay đổi, lãnh tụ luôn luôn muốn được bao vây bởi những nịnh thần ngon ngọt của một thời quá vãng, lãnh tụ không dám đối diện với thực tế phũ phàng trước mặt vẫn là một cơn bịnh trầm kha trong các đoàn thể đảng phái của chúng ta. Cộng thêm vào đó, là kẻ thù... thời gian. Càng ngày, chúng ta càng già đi và yếu đi vì chúng.
Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy một hứa hẹn, một đốm lửa, dù chỉ là một đốm lửa rất nhỏ, rất leo lét được khai sinh và đốt lên từ một người phụ nữ Việt Nam bé nhỏ và có thể nói, chưa được nhiều người biết đến tên như Nguyễn Thị Ngọc Hạnh. Và bản chất của lửa, ai cũng biết, luôn luôn bắt đầu rất bé nhỏ, leo lét, khiêm nhường, yếu đuối, nhiều khi bị gió thổi tắt, nhưng lại bùng lên trở lại nhờ vài ngọn gió nhỏ. Và nếu ta biết đặc tính của lửa thì phải biết sự nguy hiểm của lửa. Cứ nhìn một đám cháy rừng thì biết. Nó thường bắt đầu bằng một ngọn lửa rất nhỏ, rất leo lét, chỉ đốt cháy vài ngọn lá nhỏ nằm trên mặt đất. Nhưng một khi lửa đã bắt lên nhờ những cọng lá nhỏ bé này rồi thì những cây cổ thụ to lớn, cho đến nguyên cả một khu rừng vĩ đại, cho đến cả một tiểu bang rộng vài trăm triệu mẫu tây sẽ bị chìm trong biển lửa chỉ trong vòng vài tuần lễ ngắn ngủi.
Hôm nay, nhân ngày mãn hạn tù của nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh, tôi xin kính cẩn viết lên bài này để giới thiệu Nguyễn Thị Ngọc Hạnh với những đồng hương chưa biết chị. Với những ai đã biết chị, chúng ta hãy cùng nhau chúc mừng chị. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã hứa với chúng ta rằng chị sẽ dùng hết quãng đời còn lại của chị để đấu tranh cho dân tộc Việt Nam.
Tất cả chúng ta, những người đã biết Nguyễn Thị Ngọc Hạnh và mới biết chị, chúng ta cần phải tiếp một tay với chị để đốt lên ngọn lửa mà tôi mạo muội gọi rằng ngọn lửa Nguyễn Thị Ngọc Hạnh. Trong tương lai, chị Nguyễn Thị Ngọc Hạnh và những chiến hữu như đại tá Võ Văn Ân, nhóm anh em Bến Cũ và những chiến hữu liên hệ sẽ có những chương trình hoạt động và sẽ thông báo sau.
Chúng ta phải cùng nhau gom lửa chung với Nguyễn Thị Ngọc Hạnh. Với ngọn lửa này, chúng ta sẽ cùng nhau đốt cháy chế độ bạo tàn của Việt cộng như lời Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói... Chúng ta sẽ thắng!

Chuyến bay cuối cùng 2
Trần Ngọc Toàn Tình hình trong phi trường Đà Nẵng càng lúc càng tồi tệ, từ vùng núi phía tây, quân cộng sản Bắc Việt đã nã pháo 130 ly vào phi đạo khiến các chuyến bay vận tải chuyển người về Nam phải ngưng lại. Hành khách chen lấn đổ xô lên những chuyến bay C-130 đến nỗi trưởng phi cơ phải ra lệnh vừa đóng nắp bửng vừa di chuyển ra phi đạo. Có những người bị bị kẹt trong buồng bánh phi cơ về tới Sài Gòn mới biết .
Trong tình thế đó, phi công chính của chiếc trực thăng vận tải Chinook CH-47A đã quyết định cất cánh rời phi trường Đà Nẵng với hơn 60 hành khách gồm hầu hết là thân nhân gia đình quân nhân tạm lánh nạn qua phi trường Non Nước bên vịnh Tiên Sa sát biển còn ổn định dưới sự trấn đóng của quân phòng ngự TQLC. Phi hành đoàn gồm phi công chính Đại úy Phạm-Văn-Kiến, phi công phụ Trung úy Nguyễn-Đình-Hương, hoa tiêu Đại úy Nguyễn-Anh-Dũng và hai xạ thủ đại liên. Tờ mờ sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975, Bộ Tư Lệnh Hành Quân cùa Sư Đoàn TQLC bắt đầu xuống tàu Hải quân HQ .402 vừa ủi dọn bãi đón quân tại Non Nước.
Tình thế lại dao động khi Thiết Giáp nghe tin TQLC rút quân đã ùn ùn từ trong Đà Nẵng chạy ra hướng biển. Lo sợ quân lính TQLC đồn trú cưỡng bức chiếc trực thăng vận tải vốn đã đầy người. Đại úy Kiến quyết định rời Non Nước, dự tính bay về phi trường Phù Cát. Thời tiết xấu với mây mù xuống thấp và gió lớn. VớI trọng tải quá mức. phi cơ không thể nhấc lên cao khỏi tầng mây thấp, không định rõ tầm quan sát, phi công phải nhờ người hạ sĩ quan xạ thủ ra dấu bên trái là biển và bên phải là cát đề tiếp tục bay dọc theo bờ biển về Nam.
Sau hơn một giờ bay, khi nhìn xuống chỉ thấy ruộng muối mênh mông, sợ lạc hướng Đại úy Kiến đã kéo lệch con tàu về hướng đất liền và bắt buộc phải bay rà thấp cách mặt đất chỉ vài trăm bộ Anh, khi bay ngang Sa Huỳnh, quận Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, quân du kích vc đổ ra chĩa súng trường bắn lên như pháo tết, đạn AK gây tử thương cho 4,5 người, khiến hành khách bấn loạn. Phi công phụ Trung úy Nguyễn Đình Hương bị trúng đạn, máu loang đỏ bộ quần áo phi hành màu xanh xám, Đại úy Kiến thấy nguy cơ trước mắt nhưng vẫn lên tiếng trấn an Hương khi vị sĩ quan này dự định tự sát vì không muốn trở thành gánh nặng cho đồng đội
“ Đừng làm vậy, để tao lái một mình được rồi. “
ĐạI úy Kiến kéo cần lái nhấc đầu chiếc Chinook lên cao dướI làn mưa đạn của Việt Cộng dướI đất bắn lên. Chiếc Chinook từ từ cất lên cao. 1000 bộ, 2000 bộ. Bỗng chiếc tàu như con ngựa bất kham, khựng lạI rồI chúi xuống, kim đồng hồ áp suất sụt xuống, động cơ nổ lụp bụp. Đại úy kiến cố kìm cần điều khiển, tai họa chụp xuống ngay trước mắt. Dù tay bị thương nhưng Trung úy Hương lấy lại bình tĩnh phụ kéo cần lái cho phi cơ từ từ đáp xuống, như một phép lạ, chiếc trực thăng bị trúng đạn lỗ chỗ chỉ hơi chao đảo rồI hạ cánh ép buộc xuống bờ biển, một nửa thân tàu ngập nườc, một nửa nằm chênh vênh trên bãi cát. Mọi ngườI ùn ùn chạy thoát ra ngoài, thất kinh hồn vía. Tiếng súng VC lại vang lên từ hướng Sa Huỳnh, Phổ Châu, mạnh ai nấy chạy thoát thân về hướng Nam. Người cha ruột của Đại úy Kiến vốn di tản từ Huế vô Đà Nẵng đã chạy theo con trên chuyến tàu, lo sợ hốI thúc lôi tay con chạy theo đám đông. Trong khi ầy Đại úy Nguyễn Anh Dũng đã chạy lên tháo dây nịt an toàn ghế phi công phụ rồI bồng ẵm Trung úy Hương lên bờ cát. Trung úy Hương máu đã đẫm ướt bộ đồ bay, tay cầm súng ru-lô hét lớn:
“ Tao đã bị thương nặng, thà chết không để bọn việt cộng bắt.”
Nói rồi Hương quay mũi súng qua hướng người yêu đã theo chân từ Đà Nẵng nói :
“ Mình cùng chết không để cho tụi vc bắt nghe em .”
Viên đạn ru-lô xuyên qua ngực phải ngườI con gái, khiến nàng ngã xuống ngất lịm, nhưng nàng đã sống sót nhờ viên đạn đi lệch lên vai phải. Hương đưa súng qua tay Dũng nói lớn :
Mày bắn tao, tao theo Đạo Chúa không tự tử được!
Trong cơn chấn động, trước viễn ảnh quân cộng sản đang tràn tới, Dũng bình tĩnh cầm khẩu ru-lô P.38 nổ ngay vào màng tang của Hương rồi quay mũi súng vào đầu mình bóp cò. Súng không nổ, vẫn ở tư thế quỳ hai chân, Dũng bình tĩnh mở trục đạn xoay một nấc rồI đưa súng lên bắn vào màng tang. Anh ngã xuống bên cạnh xác đồng đội trước những cặp mắt kinh hoàng nể sợ của những người chứng kiến .
Sau đó bọn VC cũng đã gom bắt những ngườI sống sót giải về làng. Xác hai người phi công trực thăng Chinook Phi Đoàn 247 được đồng bào chôn cất tử tế ngay sát bờ biển làng Phổ Châu, quận Đức Phổ. Quảng Nam vào giờ Ngọ ngày 29 tháng 3 năm 1975 . Những ngày sau đó bắt đầu những trang sử khốc liệt bi hùng, những ngày đen tốI của miền Nam Việt Nam Tự Do .
Mãi tớI năm 2003, sau khi đến định cư tại Hoa Kỳ, Đại úy Kiến gửi một lá thơ ngắn nhờ đọc trên đài phát thanh Little Saigon về hai ngườI Sĩ Quan Anh Hùng Bất Khuất đã vùi thây tại Sa Huỳnh. Gia đình của Đại úy Nguyễn Anh Dũng và Trung úy Nguyễn Đình Hương đã bắt liên lạc với tin tức chính xác về địa điểm chôn cất và nhờ anh ruột của Tr./u. Hương còn ở Việt Nam và người thân của Đ/u Dũng tìm đến tận nơi làng quê hẻo lánh này để hốt cốt đem về Nam an táng.
Khi được tin, dân làng đã đổ xô tới và lên tiếng xin cho hai vị “Thần Làng” được để nguyên tại đây. Theo lời dân làng thì hai phi công tự tử này rất linh thiêng và được dân làng dựng miếu thờ. Nhưng do nguyện vọng của gia quyến bên Mỹ hài cốt của hai người phi công Anh Hùng đã được đưa về Nam an táng.
Trong cuộc chiến chống Cộng Sản ở miền Nam Việt Nam, hàng ngàn anh linh hào kiệt của QLVNCH đã ngã xuống cho an nguy của dân tộc, cho sự bình an của hậu phương đến nay vẫn còn là những chiến sĩ vô danh, trong ấy có phi công Đại úy Nguyễn-Anh-Dũng và phi công Trung úy Nguyễn-Đình-Hương của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa .
Trần Ngọc Toàn
(Anh Trần Ngọc Toàn là một Tiểu đoàn trưởng TQLC, xuất thân trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt năm 1962, Khóa 16 )

BAY VÀO TÌNH SỬ (Vì lý do tế nhị, tác giả xin dấu tên nhân vật và địa danh để " khỏi làm phiền lòng người hàng xóm đang cần sự yên tĩnh nghỉ ngơi)
Biệt phái cho tiểu khu, tôi được lệnh đáp tại bãi đáp ven biển, gần những hàng dương đang reo vi vu trong gió. Phái đoàn gồm một sĩ quan cấp tá và một cô bé khoảng mười sáu tuổi trông rất dễ thương, đến bằng một chiếc xe Jeep sơn màu trắng dân sự. Anh Thiếu úy phi công đồng hành, với bộ đồ bay đen, chiếc khăn quàng cổ màu tím trông dáng vẻ thư sinh rất ga lăng, nháy mắt với tôi, ra vẻ xí phần, ngầm nói rằng: Của tui à nha.
Một lúc sau, quan đầu tỉnh tới với toàn bộ giàn giá: Sĩ quan tham mưu, cận vệ ....mọi người đều võ trang đến tận răng, ra lệnh cho phi cơ cất cánh bay lên quận lỵ địa đầu ranh giới của tỉnh. Anh Thiếu úy phi công quay qua phía tôi nói:
- Ông để tôi.
Anh ta cho máy bay cất cánh và bốc tít lên mãi trời xanh. Vào thời điểm này, không còn cảnh lè phè bay sát ngọn dừa để ngắm mấy em tắm lộ thiên nữa, nhưng tôi tự hỏi hà cớ gì mà phải bay cao lên đến đỉnh trời như vậy. Thây kệ, tôi ngả người ra lưng ghế, gác chân lên cánh cửa để enjoy một phi vụ có người đẹp đi cùng.
Đang thả hồn theo mây gió, tự nhiên tôi cảm thấy như mình bị mất trọng lực, ngó ra ngoài cửa, chỉ thấy thấp thoáng nam tào bắc đẩu gì đó, chứ không thấy cảnh vật dưới đất nữa, hóa ra ngài Thiếu úy đang biểu diễn màn "xoáy trôn ốc" từ cao độ tám ngàn bộ, ngài cúp ga để đáp xuống cái đồn nhỏ xíu. Thiếu úy bay hay thật, chiếc UH 1 lọt vào bãi đáp đẹp như để. Bộ chỉ huy chạy ra chiếc Jeep lùn đón phái đoàn vào trong, anh Thiếu úy nói vội: Ông tắt máy giùm tôi, rồi phóng xuống kè theo em bé và phái đoàn vào trong Bộ chỉ huy.
Tôi tắt máy, chờ Cơ phi cột cánh quạt xong, nhìn vào phía chiếc xe Jeep hồi nãy, đám sĩ quan Bộ binh đã vào hết trong hầm chỉ huy, chiếc xe đậu bên ụ bao cát chỉ còn cô bé ngồi ở ghế trước, anh Thiếu úy thì đứng dưới đất, một chân gác lên vè bánh xe, đang nói chuyện gì đó.
Anh Cơ phi cũng tò mò theo dõi hoạt cảnh trước mặt, bỗng anh lên tiếng:
- Em bé nói gì mà Thiếu úy mặt sượng trân hà Trung úy.
( Khoảng cách cỡ 45 thước không hiểu sao anh Cơ phi nhận ra khuôn mặt sượng trân).
Thấy vậy, tôi và hai anh Cơ phi, Xạ thủ rời máy bay bước về hướng chiếc xe để cứu bồ. Đến nơi, cũng đúng lúc Chi khu cho người đem nước ra mời Phi hành đoàn, tôi đón lấy chai coke đưa cho cô bé và nói:
- Mời cô dùng nước.
Cô bé cầm chai nước, cám ơn. Thiếu úy hào hoa nhân cơ hội này rút lui, Cơ phi Xạ thủ nháy mắt với nhau dọt luôn để tôi một mình với cô bé.
Tưởng cô là con của một thương gia nào đó, xin quá giang máy bay về quê, như tôi thường thấy ở những vùng bất an ninh, đường bộ
hay bị giật mìn. Tôi hỏi:
- Nhà cô ở đâu, bộ không sợ súng đạn hay sao mà theo ra đây.
- Dạ ở thị xã, ba mới đổi ra đây, nay đi thăm quan các quận, cháu đòi đi theo.
Thì ra đây là cô gái rượu của quan đầu tỉnh, tôi phải ăn nói cẩn thận hơn.
- Cô ra đây lâu chưa, học ở đâu?
- Dạ cháu học ở N. C. L. mà này, chút nữa chú bay được không? Hồi nãy chú kia bay làm cháu muốn ói.
- Sao cô biết hồi nãy chú kia bay?
- Tại cháu thấy chú gác chân lên cửa.
- Chút nữa mình đi đâu?
- Ba nói đi qua quận kế.
- Ừ, chút nữa chú bay.
..................
Máy bay đáp xuống Chi khu kế cận, phái đoàn được mời dùng cơm tại đây .
Trong bữa tiệc, quan đầu tỉnh được xếp ngồi ở ghế đầu bàn, bên phải là ông Quận trưởng chủ nhà, bên trái là ông Phó tỉnh nội an. Kế bên Phó tỉnh là cô bé, phía bên này đối diện, kế bên ông Quận trưởng là tôi, vô tình tôi lại được xếp ngồi đối diện với cô bé.
( Cấp bậc tôi nhỏ nhất so với các sĩ quan Bộ binh dự tiệc, nhưng vì cao nhất của quân chủng Không quân, nên họ tế nhị xếp chỗ cao hơn những sĩ quan cấp tá khác)
Cơm trưa xong, mấy vị trong phái đòan bàn những chuyện trách nhiệm riêng của họ, tôi cảm thấy lạc lõng nên đứng lên ra vườn ngoạn cảnh. Nhìn lại cũng thấy cô bé đi theo, chúng tôi ra vườn sau dinh quận để xem vườn cây, suối cá nhân tạo .. Ông Trung sĩ quản gia tự hào giới thiệu những kỳ hoa dị thảo mà ông đã dày công vun trồng, trong đó có một cây ổi dị dạng, ra được ba trái rất lớn. Ông nói:
- Thiếu tá Quận trưởng thích lắm, ngày nào cũng ra ngắm mấy trái ổi, nâng niu như qủa đào tiên.
Tôi ngó qua, thấy cô bé đứng bên cạnh, máu si tình nổi lên, bèn tưởng mình là Roméo đứng bên cạnh Juliette, liền bứt một trái ổi lớn nhất đưa cho cô.
Ông Trung sĩ thấy vây hồn phi phách lạc:
- Chết tôi rồi ông phi công ơi, ba trái ổi ông quận quí như vàng mà ông dám hái.
Tôi thấy mình cũng ngu quá, hình như gần người đẹp, trí óc tôi lú lẫn hay sao đó. Nhưng trời còn thương, tôi nghĩ được một kế, liền bảo cô bé:
- K.H. đem vào cho ba coi đi.
Cô bé ôm trái ổi bước vào phòng mọi người đang họp, nói lớn:
- Ba, trái ổi ngoài vườn lớn quá. Vừa nói, cô vừa đưa quả ổi cho quan đầu tỉnh, vị này cũng công nhận và khen là qủa ổi lớn thật.
Bây giờ lại tới phiên mặt ông Quận trưởng xanh lè, tuy nhiên, ông cao tay ấn hơn ông Trung sĩ quản gia, ông bèn hối quần thần tả hữu đem trái ổi ra sau xẻ ra cho ông đãi khách. Cuối cùng tôi cũng được chia một phần nhỏ của qủa ổi đào tiên.
Ông Trung sĩ thoát nạn, nhưng cứ lắc đầu lẩm bẩm: Phi công liều quá, phi công liều quá.
Hai đứa chúng tôi lững thững đi dạo quanh khu vườn, cứ như đôi nhân tình quen nhau từ kiếp trước.
Sau một hồi chú, chú, cháu, cháu, tôi gạ:
- Mai mốt vô phi trường chỗ chú ở chơi.
- Không được đâu, ba đâu có cho, đi đâu cũng phải có mấy chú cận vệ đi theo.
Tôi thấy chuyện gạ gẫm này sẽ đi vào ngõ cụt ,nhưng cũng cố đưa cho em bé số điện thoại trên cư xá độc thân.
............
Một tuần sau, chuông điện thoại hành lang của barrack độc thân reo vang, thím Tư Nãi bốc điện thoại nghe rồi la lớn:
- Chaplain, có điện thoại.
- Phòng Hành quân hả, hôm nay tao off.
- Không phải, ghế gọi chứ không phải phòng trực Phi đoàn.
Tôi ngạc nhiên vì không hiểu ai lại biết số điện thoại ở đây mà gọi, nhưng tính dê không chừa, mỗi khi có dính dáng gì tới con gái là lăn vào lửa tôi cũng không chừa xá gì ra nghe điện thoai.
Bên kia đầu giây, giọng con gái thật dễ thương :
- Chú hả? Cháu đây, K.H. đây.
Tim tôi đập lọan xạ, tựa như đang bay vào Đồi Gió An Lộc năm nào. Thú thật bây giờ tôi chẳng còn nhớ hồi đó mình nhả ngọc phun châu như thế nào, chỉ biết rằng sau đó, "cháu "gọi thường xuyên, có khi nói chuyện cả nửa giờ, nhưng cũng có khi mới được mấy phút thì đầu giây kia hoảng hốt:
- Chết, em cúp nha, ba vô (Cũng chẳng biết từ Chú Cháu sang Anh Em hồi nào nữa).
Một bữa nọ, tôi hứa là sẽ gặp nàng ở cổng trường lúc tan học, vào những ngày tôi không bay. Sáng sớm, tôi xuống phi đoàn quá giang chiếc biệt phái cho Tiểu khu, rồi lội bộ đến cổng trường ngồi chờ giờ tan học để được nói hươu nói vượn với nàng được vài câu, trước khi em lên xe về lại dinh.
Tôi nhận diện được mặt hai anh cận vệ thường xuất hiện ở trường gần giờ tan học. Một hôm tôi chơi khăm, lúc ngồi ở quán sinh tố ngoắc một anh đứng sớ rớ gần đó . Anh ta biết mặt tôi những lần bay cho Tiểu khu nhưng không hề biết sự liên hệ Chú Cháu giữa tôi và K. H. Tôi bắt chuyện:
- Đón con đi học hả?
- Dạ không, ngày nghỉ ra đây chơi.
- Ngồi uống nước, nói dóc chơi.
- Dạ.
Ly sinh tố uống chưa được một phần thì chuông tan trường reo vang. Anh Trung sĩ nhổm dậy, xin phép đi có chuyện cần, tôi nắm tay anh ta kéo lại, anh vội giật ra rồi vội vã ra góc đường chỗ mọi ngày anh vẫn đứng. Ngay lúc đó, gần cổng chính của trường, một chiếc xe Jeep trắng cũng vừa trờ tới. K. H. thanh khiết với chiếc áo dài trắng bước ra, nói nhỏ với bác tài xế rồi vụt qua đường với tôi, trước sự ngạc nhiên của anh cận vệ. Từ đó về sau, tôi và anh này " bồ " với nhau rất thân.
Một ngày tháng ba 1975, đang ngủ nướng buổi sáng, lại cũng giọng Thím Tư Nãi vang vang:
- Chaplain, có điện thoại ghệ gọi.
Tôi bung mền nhảy ra hành lang nghe điện thoại, đầu giây bên kia, " Cháu " có vẻ khẩn trương:
- Anh ra đây ngay được không?
Tôi ngạc nhiên với thái độ khẩn khoản đó, hứa bừa:
- Ừ, anh ra ngay.
Bỏ mẹ rồi, làm sao mà tôi ra thị xã ngay bây giờ được.
Phóng vội xuống Phi đoàn, tôi hỏi Sĩ quan trực:
- Mấy chiếc Tiểu khu và Sư đoàn cất cánh chưa?
- Tiểu khu nay không có, Sư đoàn chưa thấy cất cánh.
Tôi vọt ra phi đạo, may quá, chiếc biệt phái cho Sư đoàn chuẩn bị cất cánh .
- Ê, cho quá giang ra phố chút.
Trưởng phi cơ thắc mắc:
- Hẹn đào hả?
- Ừ, làm ơn đi, mai trả chầu hột gà ốp la quán Thượng sĩ Khoa.
Chiếc UH thả tôi xuống bãi đáp Tiểu khu rồi vội vã bốc lên như sợ có ai thấy mình vừa làm điều gì phi pháp. Đang phân vân, không biết phải làm gì thì anh Trung sĩ cận vệ xuất hiện, đưa cho tôi một mảnh giấy viết vội: "Em và gia đình phải chuẩn bị ra phi trường để về Saigon ngay, ba nói tình hình nguy ngập lắm. Nhận được thơ này, anh trở về phi trường ngay, đừng lang thang ngoài phố nữa. Nếu có về Saigon đến kiếm em ở Cư xá Sĩ quan Chí Hòa, nhà em số xyz......"
Tôi lang thang ngoài phố đến ba giờ chiều thì đón xe về lại phi trường, trong lòng trống vắng khôn tả.
Ba hôm sau, chiếc biệt phái Tiểu khu đưa về cho tôi một phong thư gián kín, nói là do một ông Trung sĩ nhờ chuyển, tôi bóc vội ra đọc: ..........Em đã dặn anh là phải về ngay phi trường, vậy mà anh cũng không nghe, máy bay em đi mãi mười hai giờ mới cất cánh, em gọi về Phi đoàn anh không biết là bao nhiêu lần, họ vẫn nói là anh chưa về. Em buồn quá, không hiểu tình thế này rồi mình có gặp được nhau không, nhớ có về Saigon thì đến nhà em ở địa chỉ trong thơ ......
Phi trường di tản, tôi về Saigon, tìm đến nhà K. H. ở Cư xá Sĩ quan Chí hòa hai lần, lần nào trước cửa cũng thấy mấy chiếc xe Jeep đậu, người đứng chung quanh toàn là sĩ quan cao cấp trong quân đội, tôi không dám bước vào. Sau 30-4 cư xá không còn được ra vào tự do nữa.
...................
Trại giam Tù binh Phú quốc 1976:
Tù Cải tạo bị đưa từ đất liền ra nhốt ở trại giam tù binh cũ đúng vào ngày 30 Tết .
Nguyễn văn Hóa, Phó đốc sự Hành chánh, có biệt tài chế lại những bài hát " cách mạng" , chẳng hạn như bài: Bác đang cùng chúng cháu hành quân, anh ta hạ một nửa tông nhạc xuống, khi đánh đàn hoặc hát lên nghe như người chết đói thều thào hát; hoặc như bản nhạc được máy hát dĩa ngày xưa hát khi hết giây thiều. Anh kể chuyện nhiều về thành phố mà tôi đã có nhiều kỷ niệm khi xưa.
Tôi hỏi:
- Ông Hóa, ông ở tỉnh đó nhiều, có biết Đại tá XZY tỉnh trưởng không?
- Chú tao mà sao lại không biết.
Tim tôi lại nhói mạnh một lần nữa.
- Gia đình ông ta ra sao rồi?
- Nghe nói con cháu cặp với một thằng phi công trực thăng, nhà cứ mong nó đến để bàn chuyện bốc gia đình di tản, mong hoài mà không thấy tăm hơi anh chàng đâu, không biêt có di tản được hay lại hay lại rớt mất xác ở đâu rồi. Cũng may, cuối cùng móc nối được một chỗ khác, cả gia đình thoát được, nghe nói Pháp nhận cho định cư rồi.
Tôi thở một hơi dài, lặng đi một lúc rồi nói:
- May quá nhỉ.
( Thực ra tôi chỉ muốn nói: Thằng phi công đó vì quá ngu nên không di tản, cũng chưa chết mất xác mà nó đang mặc bộ đồ rách te tua ngồi cạnh ông đây)
Viết để nhớ lại một mảnh tình thời bay bổng với K.H. vẫn mãi ghi nhớ trong lòng.
Phương Toàn
Thương Tiếc Bác Sĩ Nguyễn Văn Thế Vị lương y của người homeless Bolsa
WESTMINSTER - Tin Bác Sĩ Quân Y Nguyễn Văn Thế, có phòng mạch tại đường Bolsa, giữa lòng Little Saigon, tạ thế sáng 21 tháng 2 khiến nhiều người xúc động,
dù họ không là thân bằng quyến thuộc của ông.
Tiếp xúc với phóng viên nhật báo Người Việt qua điện thoại, nữ ca sĩ Thanh Mai bảo rằng, bà “rất buồn, rất thương tiếc,” vì theo bà, trong cộng đồng mình “rất hiếm ai có được tấm lòng hay trái tim như thế!”
“Phải nói bác sĩ Thế là người có trái tim Bồ Tát!” Ca sĩ Thanh Mai chia sẻ.
Rồi bà kể lại một câu chuyện khiến bà “rất ngạc nhiên, cảm kích, và nhớ mãi.”
Ðó là lúc bà mới từ Pháp sang Hoa Kỳ, chân ướt chân ráo, chưa có bảo hiểm sức khỏe, con gái của bà bị té, và bị chiếc vòng cẩm thạch bể đâm vào tay chảy máu rất nhiều. Bà được một người quen giới thiệu đưa con đến gặp Bác Sĩ Thế.
“Bác sĩ tự tay rửa vết thương, tự tay cắt và may lại, rồi không lấy tiền gì hết!”
“Lúc đó tôi rất lấy làm lạ,” ca sĩ Thanh Mai kể, vì “mình không quen biết gì với bác sĩ hết!”
Ca sĩ Thanh Mai cho rằng, có thể Bác Sĩ Thế cũng không nhớ là đã giúp bà, và sau này bà cũng không có dịp phải nhờ đến lòng tốt của bác sĩ nữa, nhưng “điều ông đã làm, tôi thực sự không bao giờ quên được.”
Không riêng Thanh Mai, trong số những người thương tiếc Bác Sĩ Thế, còn có một nhóm người khác, rất đặc biệt!
Họ ở mọi lứa tuổi, đến từ những nẻo đời khác nhau, và có những quá khứ rất cá biệt, nhưng đời sống đã vô tình đưa đẩy họ đến gặp nhau ở hàng hiên của tiệm bánh mì Lee's Sandwiches, trên một góc của Bolsa, gần đối diện phòng mạch của Bác Sĩ Thế phía bên kia đường.
Ðó là nơi họ thường xuyên tụ tập để chia sẻ nỗi niềm mà chỉ có những người “homeless” - vô gia cư - như họ mới có thể hiểu được.
Và buổi chiều được tin Bác Sĩ Nguyễn Văn Thế từ trần, họ có thêm một điều nữa giống nhau: Cùng chung một niềm thương tiếc.
Họ đứng tụm vào nhau, nét mặt buồn rầu, tư lự, nhưng cùng đua nhau kể, như sợ nếu không kể thì sẽ mất cơ hội nói về một vị lương y mà họ hết sức quý mến, và chịu ơn.
“Bác Sĩ Thế chết rồi! Em mới nghe tức thời thôi!” Một người nói.
“Buồn lắm! Buồn như mất một cái gì lớn lắm lận!” Người khác tiếp lời.
“Tụi tôi ở đây là người không nhà! Bác sĩ giúp cho anh em ở đây nhiều lắm!” Một người đứng tuổi giải thích với phóng viên Người Việt.
Một người trẻ tuổi, tên Ba, kể: “Ông giúp cho bữa ăn. Chiều chiều, anh em nào đói bụng, không có tiền ăn, tới đây, bác sĩ cho anh em mỗi đứa 5 đồng.”
Một người trẻ tuổi tên Cường tiếp lời: “Mà không phải bác sĩ giúp năm bữa nửa tháng thôi đâu, giúp nhiều năm lắm lận!”
“Giúp nhiều năm rồi, năm, bảy năm rồi. Có lúc tụi em kéo đến phòng mạch gần hai chục đứa!”
“Thoạt đầu, sau giờ làm việc, tụi em kéo vào phòng mạch hết, sau này tụi em nghe mấy bệnh nhân nói sao bác sĩ cho mấy anh em không nhà (homeless) vô nhiều quá, sợ dơ phòng mạch, tụi em sợ bác sĩ mất khách, cho một anh em vào thôi rồi mang tiền bác sĩ cho đưa ra cho các anh em khác.”
Như sợ các bạn nói hết, một người khác tên Châu cắt ngang: “Còn em nè, em là ngày nào em cũng tự vô trong chỗ ổng khám cho bệnh nhân luôn, chính tay bác sĩ cho em lúc 10 đồng, lúc 5 đồng, đi ăn.”
“Hồi đó, em ở dưới đường Main, em ở tù về, không có tiền trả tiền tòa, tới ngày trả tiền tòa mà không có tiền thì phải vô lại tù. Em thì không có ai giúp vì em homeless, em nói: ‘Bác Sĩ Thế, giờ con còn thiếu 50 đồng tiền tòa.’ Bác sĩ nói không sao, rồi cho em 50 đồng, rồi cho em tiền đi tắm rửa, rồi cho tiền đi ăn uống nữa.”
Một người đứng tuổi từ tốn cho biết bác sĩ tốn tiền với họ nhiều lắm, “ngày hơn cả trăm bạc,” vì “có bữa tụi tôi kéo đến mấy chục người.”
“Còn em, cách đây mấy tháng em bị chó cắn, chó cắn em ngay cái ngực, còn cái thẹo nè, cắn đau lắm. Em kéo vô phòng mạch, ông băng cho em, cho thuốc em uống, dặn em hoài, là phải uống thuốc một ngày hai lần, còn cho thêm 20 đồng nữa.” Một người nói.
Người khác kể lể: “Chiếc xe của bác sĩ đi, đậu đằng sau, mỗi ngày em rửa em chùi sạch bóng, em rửa xong bác sĩ cho em 20 đồng. Em nói chỉ làm giúp để cám ơn bác sĩ, không nhận tiền, nhưng bác sĩ không chịu, bắt em lấy tiền vì biết hoàn cảnh của tụi em.”
“Ai cần gì ông cũng giúp, ai đau ổng khám bệnh cho. Nghèo thì khám không lấy tiền, rồi còn cho thuốc, còn dặn phải uống thuốc cho đúng giờ mới hết!”
Họ lắng nghe câu chuyện của nhau, rồi cùng nghĩ về vị ân nhân vừa qua đời.
Một người cất tiếng: “Tụi em biết ông bịnh, vì phòng mạch đóng cửa hoài, vậy mà nghe tin ông mất, sững sờ, buồn quá!”
“Người đâu mà tốt quá không biết, tốt còn hơn Bồ Tát nữa, Bồ Tát đâu có giúp tụi em được gì đâu!”
Một người tên Ba nói: “Lâu lâu, nhớ bác sĩ, em bước qua đường nhìn phòng mạch coi bác sĩ về chưa. Rồi hôm nay thì nghe tin ông chết!”
“Tụi tôi nghèo, nhưng đang tính góp tiền mua cho bác sĩ một vòng hoa, rồi đi viếng...” Người đứng tuổi vừa nói vừa lắc đầu.
Nắng tắt, từ bên hông tiệm Lee's Sandwiches, mọi người chợt cúi đầu rồi lại ngước mắt lên, hướng về phía phòng mạch Bác Sĩ Thế.
Có thể, một số trong họ sẽ tìm cách đến để thăm bác sĩ ở nhà quàn, có thể họ sẽ đến để đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Và sau đó, họ thôi, sẽ không còn bao giờ được nhận từ ông những săn sóc mỗi khi bệnh tật hay đói lòng.
Họ sẽ nhớ mãi nụ cười hiền hậu của ông, những đồng tiền ông dúi vào tay họ cho những bữa cơm chiều.
Nhưng hơn tất cả, điều mà họ sẽ nhớ nhất chính là cử chỉ của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thế - những cử chỉ củng cố cho họ niềm tin, và nhắc nhở họ, rằng lòng nhân là một điều có thật.
Hà Giang/Người Việt
WESTMINSTER - Tin Bác Sĩ Quân Y Nguyễn Văn Thế, có phòng mạch tại đường Bolsa, giữa lòng Little Saigon, tạ thế sáng 21 tháng 2 khiến nhiều người xúc động,
dù họ không là thân bằng quyến thuộc của ông.
Tiếp xúc với phóng viên nhật báo Người Việt qua điện thoại, nữ ca sĩ Thanh Mai bảo rằng, bà “rất buồn, rất thương tiếc,” vì theo bà, trong cộng đồng mình “rất hiếm ai có được tấm lòng hay trái tim như thế!”
“Phải nói bác sĩ Thế là người có trái tim Bồ Tát!” Ca sĩ Thanh Mai chia sẻ.
Rồi bà kể lại một câu chuyện khiến bà “rất ngạc nhiên, cảm kích, và nhớ mãi.”
Ðó là lúc bà mới từ Pháp sang Hoa Kỳ, chân ướt chân ráo, chưa có bảo hiểm sức khỏe, con gái của bà bị té, và bị chiếc vòng cẩm thạch bể đâm vào tay chảy máu rất nhiều. Bà được một người quen giới thiệu đưa con đến gặp Bác Sĩ Thế.
“Bác sĩ tự tay rửa vết thương, tự tay cắt và may lại, rồi không lấy tiền gì hết!”
“Lúc đó tôi rất lấy làm lạ,” ca sĩ Thanh Mai kể, vì “mình không quen biết gì với bác sĩ hết!”
Ca sĩ Thanh Mai cho rằng, có thể Bác Sĩ Thế cũng không nhớ là đã giúp bà, và sau này bà cũng không có dịp phải nhờ đến lòng tốt của bác sĩ nữa, nhưng “điều ông đã làm, tôi thực sự không bao giờ quên được.”
Không riêng Thanh Mai, trong số những người thương tiếc Bác Sĩ Thế, còn có một nhóm người khác, rất đặc biệt!
Họ ở mọi lứa tuổi, đến từ những nẻo đời khác nhau, và có những quá khứ rất cá biệt, nhưng đời sống đã vô tình đưa đẩy họ đến gặp nhau ở hàng hiên của tiệm bánh mì Lee's Sandwiches, trên một góc của Bolsa, gần đối diện phòng mạch của Bác Sĩ Thế phía bên kia đường.
Ðó là nơi họ thường xuyên tụ tập để chia sẻ nỗi niềm mà chỉ có những người “homeless” - vô gia cư - như họ mới có thể hiểu được.
Và buổi chiều được tin Bác Sĩ Nguyễn Văn Thế từ trần, họ có thêm một điều nữa giống nhau: Cùng chung một niềm thương tiếc.
Họ đứng tụm vào nhau, nét mặt buồn rầu, tư lự, nhưng cùng đua nhau kể, như sợ nếu không kể thì sẽ mất cơ hội nói về một vị lương y mà họ hết sức quý mến, và chịu ơn.
“Bác Sĩ Thế chết rồi! Em mới nghe tức thời thôi!” Một người nói.
“Buồn lắm! Buồn như mất một cái gì lớn lắm lận!” Người khác tiếp lời.
“Tụi tôi ở đây là người không nhà! Bác sĩ giúp cho anh em ở đây nhiều lắm!” Một người đứng tuổi giải thích với phóng viên Người Việt.
Một người trẻ tuổi, tên Ba, kể: “Ông giúp cho bữa ăn. Chiều chiều, anh em nào đói bụng, không có tiền ăn, tới đây, bác sĩ cho anh em mỗi đứa 5 đồng.”
Một người trẻ tuổi tên Cường tiếp lời: “Mà không phải bác sĩ giúp năm bữa nửa tháng thôi đâu, giúp nhiều năm lắm lận!”
“Giúp nhiều năm rồi, năm, bảy năm rồi. Có lúc tụi em kéo đến phòng mạch gần hai chục đứa!”
“Thoạt đầu, sau giờ làm việc, tụi em kéo vào phòng mạch hết, sau này tụi em nghe mấy bệnh nhân nói sao bác sĩ cho mấy anh em không nhà (homeless) vô nhiều quá, sợ dơ phòng mạch, tụi em sợ bác sĩ mất khách, cho một anh em vào thôi rồi mang tiền bác sĩ cho đưa ra cho các anh em khác.”
Như sợ các bạn nói hết, một người khác tên Châu cắt ngang: “Còn em nè, em là ngày nào em cũng tự vô trong chỗ ổng khám cho bệnh nhân luôn, chính tay bác sĩ cho em lúc 10 đồng, lúc 5 đồng, đi ăn.”
“Hồi đó, em ở dưới đường Main, em ở tù về, không có tiền trả tiền tòa, tới ngày trả tiền tòa mà không có tiền thì phải vô lại tù. Em thì không có ai giúp vì em homeless, em nói: ‘Bác Sĩ Thế, giờ con còn thiếu 50 đồng tiền tòa.’ Bác sĩ nói không sao, rồi cho em 50 đồng, rồi cho em tiền đi tắm rửa, rồi cho tiền đi ăn uống nữa.”
Một người đứng tuổi từ tốn cho biết bác sĩ tốn tiền với họ nhiều lắm, “ngày hơn cả trăm bạc,” vì “có bữa tụi tôi kéo đến mấy chục người.”
“Còn em, cách đây mấy tháng em bị chó cắn, chó cắn em ngay cái ngực, còn cái thẹo nè, cắn đau lắm. Em kéo vô phòng mạch, ông băng cho em, cho thuốc em uống, dặn em hoài, là phải uống thuốc một ngày hai lần, còn cho thêm 20 đồng nữa.” Một người nói.
Người khác kể lể: “Chiếc xe của bác sĩ đi, đậu đằng sau, mỗi ngày em rửa em chùi sạch bóng, em rửa xong bác sĩ cho em 20 đồng. Em nói chỉ làm giúp để cám ơn bác sĩ, không nhận tiền, nhưng bác sĩ không chịu, bắt em lấy tiền vì biết hoàn cảnh của tụi em.”
“Ai cần gì ông cũng giúp, ai đau ổng khám bệnh cho. Nghèo thì khám không lấy tiền, rồi còn cho thuốc, còn dặn phải uống thuốc cho đúng giờ mới hết!”
Họ lắng nghe câu chuyện của nhau, rồi cùng nghĩ về vị ân nhân vừa qua đời.
Một người cất tiếng: “Tụi em biết ông bịnh, vì phòng mạch đóng cửa hoài, vậy mà nghe tin ông mất, sững sờ, buồn quá!”
“Người đâu mà tốt quá không biết, tốt còn hơn Bồ Tát nữa, Bồ Tát đâu có giúp tụi em được gì đâu!”
Một người tên Ba nói: “Lâu lâu, nhớ bác sĩ, em bước qua đường nhìn phòng mạch coi bác sĩ về chưa. Rồi hôm nay thì nghe tin ông chết!”
“Tụi tôi nghèo, nhưng đang tính góp tiền mua cho bác sĩ một vòng hoa, rồi đi viếng...” Người đứng tuổi vừa nói vừa lắc đầu.
Nắng tắt, từ bên hông tiệm Lee's Sandwiches, mọi người chợt cúi đầu rồi lại ngước mắt lên, hướng về phía phòng mạch Bác Sĩ Thế.
Có thể, một số trong họ sẽ tìm cách đến để thăm bác sĩ ở nhà quàn, có thể họ sẽ đến để đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Và sau đó, họ thôi, sẽ không còn bao giờ được nhận từ ông những săn sóc mỗi khi bệnh tật hay đói lòng.
Họ sẽ nhớ mãi nụ cười hiền hậu của ông, những đồng tiền ông dúi vào tay họ cho những bữa cơm chiều.
Nhưng hơn tất cả, điều mà họ sẽ nhớ nhất chính là cử chỉ của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thế - những cử chỉ củng cố cho họ niềm tin, và nhắc nhở họ, rằng lòng nhân là một điều có thật.
Hà Giang/Người Việt

Kiếp Người ... Đời Lính ...
Sáng mở mắt thức dậy đi cày trả nợ áo cơm, tối lên giường nhắm mắt khép lại thêm một ngày trôi qua của đời người, hay là khép lại cánh cửa trần gian vĩnh viễn nào ai biết ... Mỗi ngày chạy đua với thời gian trong cái vòng tròn nhỏ bé chỉ có 12 con số với bao nhiêu việc, ngày này sang ngày khác đã vương lại "dấu chân chim" nơi khóe mắt, thời gian vùn vụt lướt qua in hằn trên vầng trán những nếp ưu tư, trăn trở quê hương, dân tộc vẫn còn đang ngập chìm trong thiên đàng máu của lũ bạo quyền CSVN. "Trách Nhiệm" chưa hoàn thành mà đã gần hết một kiếp người, gót giày saut viễn xứ đang di hành về hướng nghĩa trang mà cố quốc vẫn dặm trường cách trở ...!
Đời người chỉ là thoáng phù du ... nhưng thoáng phù du đó là cả một chiều dài ngụp lặn bể dâu trong cuộc sống, thăng trầm trong dòng lịch sử quê hương ... những tháng ngày vô tư nô đùa của tuổi thơ, những năm dài mài đủng đáy quần trên ghế nhà trường, những ngày mòn gót giày xuôi ngược sông hồ làm người lính gìn giữ quê hương ... thời gian đã mang đi tất cả chỉ để lại hai chữ "dĩ vãng" buồn tênh và phần đời viễn xứ buốt đau ...!
Hằng ngày dành chút thì giờ lặng lẽ đi vào dòng tiềm thức, lục lọi tìm kiếm những trang "KBC" còn vương lại trong chiếc balô "ký ức" kể từ ngày gãy súng, để mà thương, để mà nhớ những ngày khoác chinh y ... Để "Tưởng Niệm" những người trong một chuyến quân hành mãi mãi không trở về ... những chuyến hải hành ra khơi không bao giờ trở lại cập bến ... những phi vụ miên viễn không trở lại hạ cánh chạy dài trên phi đạo ... những "Kinh Kha" thời đại trong công tác vượt tuyến, xâm nhập mật khu của giặc và trở thành những chiến sĩ vô danh ; Để "Vinh Danh-Tri Ân" những người đã đem máu đào tô thắm Lá Cờ Hồn Thiêng Sông Núi, đem giòng máu đỏ làm mạch sống cho cả Miền Nam Việt Nam ... những người đã đem cánh tay, cái chân làm hàng rào bảo vệ hai chữ "Tự Do" cho quê hương ... những người hy sinh cặp mắt làm ánh hỏa châu soi sáng chiến trường cho đồng đội dựng cờ chiến thắng. Nói tóm lại ... Người Lính VNCH từ hậu phương ra đến tiền tuyến, người đóng góp sinh mạng, kẻ góp một phần thân thể, người góp máu, kẻ đổ mồ hôi, kẻ công người lao bảo toàn "Danh Dự", chu toàn "Trách Nhiệm " bảo vệ "Tổ Quốc" cho đến một ngày ...
Một ngày nhớ để mà đau ... ngày Miền Nam Việt Nam bị người bạn đồng minh bức tử, Người Lính VNCH bị trói tay trong thế chiến lược trên bàn cờ chính trị của hai khối Tư Bản và Cộng Sản ; Ngân khoản 300 triệu đô viện trợ khẩn cấp về mặt quân sự theo yêu cầu của chính phủ VNCH trong cơn hấp hối, cũng bị người bạn đồng minh nhẫn tâm làm ngơ ... để rồi ngày 30/04/1975 đã trở thành ngày đại tang của quê hương, dân tộc ! Ôi ... VNCH là một tiền đồn tự do với một quân đội hùng mạnh, thiện chiến ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản nơi vùng Đông Nam Á trong suốt hai mươi năm đã sụp đổ tang thương chỉ vì 300 triệu đô !
30/04/1975, một ngày tàn chinh chiến thương đau, uất nghẹn, tang tóc ... Mẹ Việt Nam xót xa, tan nát cõi lòng nhìn những đứa con yêu của tổ quốc hiên ngang đi vào lịch sử ... một số hối hả, kinh hoàng rời bỏ quê hương ... một số rút vào rừng lập chiến khu phục quốc tiếp tục chiến đấu ... hằng trăm ngàn lê lết bên lề cõi sống trong cặp mắt hận thù của kẻ mang danh "giải phóng" ... hằng trăm ngàn đứa con "dại khờ" lần lượt khăn gói đi vào cạm bẫy giết người trong chính sách gian trá "một tháng học tập cải tạo" của lũ cộng sản độc ác, gian tà, khát máu, điêu ngoa, xảo trá. "Một tháng học tập" đó đã bị lũ "đỉnh cao trí tuệ" "giải phóng" thành vài năm cho đến gần 20 năm tùy theo cấp bậc, chức vụ, ban ngành ... Hơn hai trăm ngàn đã nhắm mắt vĩnh viễn trong các trại tù khổ sai, khắc nghiệt vì bị tra tấn, bỏ đói, thủ tiêu, cưỡng bức lao động quá sức người, bệnh hoạn không được chữa trị, vượt ngục không thành, một số đã tự tử trong cơn uất nghẹn tột cùng !
Những người tù "ngã ngựa" may mắn còn thoi thóp, lần lượt rời khỏi trại tù "cải tạo" để bước vào nhà tù "quê hương" với lý lịch "ngụy" lê tấm thân tàn, ma dại dưới sự quản chế của đám quỷ đỏ địa phương trong cái chế độ bạo quyền, thù hằn, phi nhân, vô thần, khát máu, độc tài, độc ác, gian trá và ngu dốt. Với mảnh bằng tốt nghiệp "cải tạo" kèm theo lý lịch "ngụy", nên đi đến nơi nào xin việc làm cũng "được" .... từ chối, thôi thì đành cầm cái mảnh bằng lót "bàn tiếp hậu" ngồi nơi góc đường vá xe, đạp xích lô, kéo xe cây, khuân vác .v..v... để đỡ gánh nặng kinh tế cho cha mẹ, vợ con trong cái thiên đàng "xuống hố cả nước".
Cái mảnh bằng "cải tạo" với lý lịch "ngụy" bị lũ cộng sản ngu dốt, căm thù "giải phóng" ra ngoài cuộc sống của xã hội, bỗng trở thành vị cứu tinh khi chính phủ Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Ronald Reagan đón nhận vào Mỹ theo diện tị nạn chính trị trong chương trình nhân đạo. Những người "gãy súng" đang thoi thóp trong biển máu "giải phóng", có bằng tốt nghiệp "cải tạo" từ ba năm trở lên, nghẹn ngào giã từ quê hương, vui mừng thoát khỏi cái địa ngục trần gian, ra đi về hướng ánh sáng ngọn đuốc "Tự Do soi sáng Thế giới" của "Nữ Thần Tự Do" nơi Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Kẻ đến trước, người đến sau đã trở thành "Người Lính Già xa Quê Hương", trong cuộc chiến họ vai sát vai gánh vác giang sơn, đem sinh mạng "Bảo Quốc-An Dân" ... ngày nay trên mảnh đất lưu vong, họ tiếp tục chung tấm lưng gầy đem những chuỗi ngày còn lại đóng góp vào công cuộc đấu tranh giành lại hai chữ "Tự Do" cho quê hương dân tộc đã bị lũ CSVN cướp mất từ một ngày nửa phần còn lại của đất nước rơi vào tay cộng sản 35 năm về trước. Những người trai một thời đi viết sử xanh, bây giờ tóc đã hoa râm cho đến bạc trắng mái đầu, nhưng họ luôn luôn có mặt và tiên phong trong đoàn người biểu tình dưới cơn nắng cháy gay gắt, dưới cơn mưa đẫm ướt hoặc ngồi lạnh căm ngoài trời thắp nến trong những đêm không ngủ ... để lên án, tố cáo tội ác của cộng sản, đả đảo bạo quyền hại dân và bán nước, cũng như đập tan sự xâm nhập của bè lũ cộng sản đã và đang len lõi vào Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại bằng con đường văn hóa vận trong Nghị Quyết 36.
Trong khi những Người Lính VNCH lê tấm thân già cùng đồng bào và giới trẻ hải ngoại miệt mài đấu tranh cho Tự Do hay nói đúng hơn là đấu tranh giải thể bạo quyền CSVN, thì lại có những kẻ nhẫn tâm cởi bỏ manh áo tị nạn, trơ trẻn khoác vào mình chiếc áo gấm Việt kiều trở về tung tiền ăn chơi thỏa thích trên thân thể quê hương mẹ rách nát, dày vò những thân xác mang đầy vết tích tang thương đẫm nước mắt xót xa ; Có kẻ dã man vì chút lợi riêng trở về cúi đầu nhận cái áo gấm bố thí "Việt kiều yêu nước_Khúc ruột ngàn dặm" của đảng, để bắt tay hợp tác với giặc xóa bỏ ngày đại tang của quê hương ...! Những con sâu này không nhiều thì ít đã làm ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại ... Những con vi khuẩn này đã làm cho thế giới tự do nhận định về bạo quyền CSVN ở góc cạnh chính trị nào ...!
Có người thì suy nghĩ cao siêu hơn, nên ngồi im chờ tình hình thế giới thay đổi CSVN, hoặc "ngây thơ" nằm mơ đợi chờ lũ chó dại gian trá CSVN tự thay đổi, tự khai tử đảng CSVN, tự giải tán chế độ bạo quyền và trao trả đất nước lại cho người dân ; Giở lại trang sử cũ trong quá khứ, nếu lũ chó điên CSBV tôn trọng những gì đã ký kết, thì đã không có khói lửa chiến tranh triền miên phủ dày quê hương suốt 20 năm, không có Tết Mậu Thân 1968 kinh hoàng, dòng lịch sử Việt Nam không có trang sử máu "Tháng Tư Đen 1975" với năm vị tướng lãnh cùng một số Quân-Cán- Chính VNCH phải tự sát và hơn hai trăm ngàn Quân-Cán-Chính VNCH phải vùi xác không manh chiếu rách bó thây trong hai trăm ngôi mộ máu "Trại Cải Tạo" trên hai miền Nam Bắc ... 850 ngàn người Việt không phải ngủ vùi dưới lòng đại dương ... không có thảm cảnh mấy chục triệu người dân phải uống nước mắt ngày này sang ngày khác để mà sống ngay chính trên quê hương của mình ... không có ba triệu người Việt bước chai gót chân tha hương trên khắp thế giới và cũng không bao giờ có lũ "dép râu, nón cối, mũ tai bèo" hút cạn máu người dân, nhưng lại khiếp nhược, ươn hèn quỳ lạy dâng quê cha, bán đất tổ cho giặc để trở thành lũ bạo quyền tư bản đỏ ngày hôm nay. Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã từng nói "Đối với bọn CSVN, không có hội đàm hay thương thảo, mà chỉ có đem bom ném lên đầu bọn chúng" ... Hiện tại, chúng ta không có bom để ném lên đầu bọn chúng, nhưng chúng ta có quả bom "toàn dân" với mấy chục triệu ngòi nổ đang chờ người châm ngòi để khai tử lũ bạo quyền CSVN.
Năm 1975, Miền Nam Việt Nam bị cúp 300 triệu đô viện trợ về mặt quân sự, nên đã rơi vào bàn tay khát máu của CSBV ... Ngày nay, đồng bào hải ngoại gởi tiền về VN từ tám đến mười tỷ đô hằng năm, lũ cộng sản đã dùng một phần trong số tiền này tung ra Nghị Quyết 36 để làm lủng đoạn và đánh phá công cuộc đấu tranh của Cộng Đồng Người Việt tị nạn cộng sản nơi hải ngoại ... Thử hỏi như thế thì bao giờ bạo quyền CSVN sụp đổ đây ...! Con đường đấu tranh đầy dẫy chông gai, muôn ngàn khó khăn, đòi hỏi sự hy sinh, đoàn kết, kiên gan, bền chí, nhiệt tâm, tài trí, nhân lực, không ỷ lại và nhận thức rõ điểm "Tâm" và "Diện". Dù tình hình thế giới có ảnh hưởng đến Việt Nam như thế nào đi nữa hoặc áp lực lũ bạo quyền CSVN thay đổi đường lối, chính sách, thì cộng sản vẫn là cộng sản. Con đường đấu tranh của chúng ta phải tiếp tục đi cho đến ngày thành công, chuyện nhà chúng ta thì chúng ta phải lo trước, đừng bao giờ ỷ lại, hy vọng từ bất cứ một thế lực ngoại bang nào hay trông chờ một biến chuyển của thế giới thay đổi CSVN ... Cộng sản không thể thay đổi mà phải bị thay thế bởi chính toàn dân Việt Nam.
Con đường viễn xứ kéo dài gần 36 năm ... những gót giày saut tha hương từ từ di hành về bên kia thế giới, bỏ lại đồng đội trên xứ lạ quê người ... Những vì "Sao" của một thời lửa đạn lần lượt rụng rơi ... Trung Tướng Lê Nguyên Khang, cựu Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC lừng danh, đã cỡi "Cọp Biển" ra đi vĩnh viễn ngày 12/11/1996 ; Trung Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Quân Chủng Không Quân VNCH, nghiêng cánh sắt "Tổ Quốc Không Gian" vĩnh biệt ngày 27/08/1997 ; Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, cựu Tư Lệnh CSQG với tấm hình lịch sử xử tử tên đại úy đặc công cộng sản Nguyễn Văn Lém tự Bảy Lốp, ra đi vĩnh viễn ngày 14/07/1998 ; Người Lính lớn nhất của nền Đệ Nhị Cộng Hòa, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu kiêm Tổng Tư Lệnh Tối Cao QLVNCH, đã mang bao tâm tư và câu nói bất hủ "Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm", lặng lẽ vĩnh biệt toàn thể Quân-Dân- Cán-Chính VNCH" ngày 29/09/2001 ; Chuẩn Tướng "Thiên Thần Mũ Đỏ" Lê Quang Lưỡng tung cánh dù vĩnh biệt ngày 21/09/2005 ; Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, người hùng của Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, mang chiến dịch "Lôi Phong" lịch sử "Tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị" ra đi vĩnh viễn ngày 22/01/2007 ; Hải Quân Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang vượt bao hải lý "Tổ Quốc Đại Dương" về bên kia thế giới ngày 24/01/2007 ; Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, vĩnh viễn từ giã ba quân, tướng sĩ ngày 22/01/2008 ; Đúng ba tháng sau, vào ngày 22/04/2008 ... Trung Tướng Dư Quốc Đống, cựu Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù đã bung cánh dù vĩnh biệt theo vị cựu tư lệnh tiền nhiệm là Đại Tướng Cao Văn Viên ; Trung Tướng Cao Hảo Hớn, Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Điều Hợp Bình Định và Phát Triển Trung Ương kiêm nhiệm Phụ Tá Quốc Phòng, từ trần ngày 25/02/2010 ; Chuẩn Tướng Huỳnh Thới Tây, Phụ Tá Tư Lệnh CSQG kiêm Trưởng Khối Cảnh Sát Đặc Biệt Trung Ương, khép mắt vĩnh viễn ngày 12/09/2010 .v..v... Những "Người Lính Già xa Quê Hương" còn lại, chẳng lẽ rồi đây cũng ra đi mãi mãi trên bước quân hành lưu vong tủi nhục ; Những "KBC" còn kẹt lại trên quê hương, các anh em Thương Phế Binh VNCH, không lẽ mai này cũng khập khễnh chống chiếc nạng gỗ hoặc lết lê ôm nỗi "Quốc Hận" đi vào lòng đất mẹ bị ngập chìm trong bể máu của lũ cộng sản vô thần. Cuộc đời của những người hy sinh máu xương để bảo vệ Tổ Quốc, những người mang sinh mạng đặt trên đầu súng để cho Quê Hương, Dân Tộc được sinh tồn ... Không lẽ giây phút cuối của cuộc đời phải kết thúc đắng cay, chua xót như thế này sao ...!!!
Con đường viễn xứ, con đường vong quốc và cũng là con đường đấu tranh, tính theo thời gian thì đã kéo dài trên 35 năm, nói về không gian thì con đường này kéo dài từ trong ngục tù trên quê huơng Việt Nam đến tận các quốc gia tự do trên thế giới có dấu chân của người Việt tị nạn cộng sản ... Người thì vẫn miệt mài tranh đấu ... Người thì no cơm, ấm áo ngoảnh mặt thờ ơ ... Người thì "áo gấm về làng" tiếp máu hoặc bắt tay với giặc ... Người thì vung vít, khoa tay, múa chân đấu tranh trên salon, trên bàn tiệc với rượu thịt ê chề, chờ tình hình thế giới thay đổi bạo quyền CSVN ... Người thì lần lượt trở về cát bụi ...!
Hai mươi năm binh lửa, Người Lính VNCH hiện diện trên khắp các mặt trận, trực diện chiến đấu đánh đuổi bọn CSBV xâm lược ... Hơn bảy ngàn ngày đêm, Người Lính VNCH có mặt trên mọi nẻo đường đất nước, lấy máu hồng của mình viết hai chữ "Tự Do" cho Miền Nam Việt Nam ; Ba mươi lăm năm vong quốc, Người Lính VNCH miệt mài đấu tranh, để giành lại hai chữ "Tự Do" đã mất trên quê hương, tổng cộng 55 năm, hơn nửa thế kỷ, gần hết một kiếp người ... Những đứa con yêu của Tổ Quốc chiến đấu không mệt mỏi từ lúc tuổi còn son trẻ cho đến tuổi "nhân sinh thất thập ..." mái tóc đã ngã màu sương tuyết ... Những người hùng của một thời lửa đạn, giờ đây là những "Người Lính già không quân trang" chật vật với thời gian hạn hẹp còn lại của cuộc đời, vẫn tiếp tục bước đi trên trận tuyến Quốc-Cộng còn dang dở, cho đến một ngày ... dù tâm vẫn tràn đầy, nghị lực chưa vơi, nhưng ... thân xác đã hao gầy, sức đã mòn, bình dưỡng khí trong hai lá phổi đã cạn, đôi chân cứng đá mềm giờ đã ngả nghiêng, cặp mắt mờ mờ thấp thoáng cổng nghĩa trang, mà con đường đấu tranh thì vẫn "Đường trường xa ..."....!!!
Dec. 20, 2010
"Mũ Đen" Hoàng Nhật Thơ.

CHÀO CỜ VIỆT MỸ & CÁCH CẮM CỜ
1/ Quốc Ca Nếu có hơn hai bài quốc ca của những Quốc Gia tham dự thì luôn luôn những bài quốc ca của nước ngoài phải được hát trước , và quốc ca Hoa Kỳ hát sau cùng và liên tục ( không ngưng nghỉ giữa các bài Quốc Ca ) 2/ Quốc Ca hay Quốc Thiều , trước đây chúng ta thường chỉ cho chơi bản nhạc Quốc Thiều Hoa Kỳ ( mãi gần đây mới có một vài buổi lễ cử một người đứng lên hát Quốc Ca Hoa Kỳ ) , trong khi đó bài Quốc ca VNCH thì được toàn thể khách tham dự cất tiếng ca vang vọng...
CHÀO CỜ VIỆT MỸ & CÁCH CẮM CỜ
Ngày xưa khi còn tàu còn biển , các chiến sĩ Hải Quân, cứ mỗi thứ hai , hầu như tất cả các đơn vị Hải Quân , tất cả các căn cứ HQ trên khắp các vùng đất nước, đến các chiến hạm ở Sài Gòn , cứ thứ hai đều phải dự lễ chào cờ , sau lễ chào cờ , tất cả nhân viên phải nghe một bài đọc : Câu Chuyện Dưới Cờ " của Đề Đốc Tư Lệnh HQVNCH Trần Văn Chơn....
Sau năm 1975 , Công Đồng Người Việt Hải Ngoại nói chung , Các hội đoàn , tập thể quân nhân nói riêng , mỗi khi có lễ hội đều có làm lễ chào cờ ( Mỹ Việt ) , Phút mặc niệm.....
Khi chúng ta làm công việc đó không hề tìm hiểu , các nghi thức của người bản xứ ( Mỹ ) mà chỉ làm theo thói quen , tuỳ sự suy diễn....Theo phong tục của Người Việt chúng ta thì luôn luôn lễ phép " tiên học lễ , hậu học văn "mà, bởi thế cho nên chúng ta giữ lễ với Lá Cờ và bài Quốc Ca của Mỹ là " Tiên chủ hậu khách ", đó là nói về bài Quốc ca hay dù chỉ chơi Quốc Thiều....Còn vấn đề vị trí của Lá Cờ Mỹ và vị trí của lá cờ VNCH chúng ta cũng cung kính luôn đặt để lá cờ Mỹ ở vị trí trung tâm , vì thường có ba lá cờ cho mỗi một buổi lễ hội , ( Cờ VNCH , Cờ Mỹ , Cờ hội đoàn , hoặc quân binh chủng )....Có lẽ chúng ta làm những điều đó đã tới khoảng hơn ba mươi năm , mà không một ai thắc mắc hay khiếu nại , cho đến một ngày đẹp trời có một buổi lễ nơi Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ ( Freedom Park ) Buổi lễ này có một số khách là những người thuộc cơ quan chính quyền của thành phố Westminster tham dự , những người này họ nói cho ban tổ chức biết những điều sai lầm mà chúng ta đã mắc phải cần thay đổi :
1/ Quốc Ca Nếu có hơn hai bài quốc ca của những Quốc Gia tham dự thì luôn luôn những bài quốc ca của nước ngoài phải được hát trước , và quốc ca Hoa Kỳ hát sau cùng và liên tục ( không ngưng nghỉ giữa các bài Quốc Ca )
2/ Quốc Ca hay Quốc Thiều , trước đây chúng ta thường chỉ cho chơi bản nhạc Quốc Thiều Hoa Kỳ ( mãi gần đây mới có một vài buổi lễ cử một người đứng lên hát Quốc Ca Hoa Kỳ ) , trong khi đó bài Quốc ca VNCH thì được toàn thể khách tham dự cất tiếng ca vang vọng ....Đây là một điều làm nghĩ kỹ lại chúng ta đã không công bằng , bởi thế họ đề nghị nếu đã hát thì phải hát cả hai bài Quốc Ca , và nếu chỉ Chơi Nhạc ( Quốc Thiều )thì cũng nên chơi nhạc luôn cả hai bài chứ đừng một bài chỉ đờn một bài hát
3/ Vị Trí của Cờ Hoa Kỳ luôn luôn nằm bên cạnh trái đối với khán giả và dĩ nhiên chiều cao cũng như khuôn khổ của các lá cờ phải bằng nhau ...Nếu muốn đặt cờ Hoa Kỳ ở trung tâm , thì cờ Hoa Kỳ phải có chiều cao cao hơn các lá cờ kia hơn thế các lá cơ kia phải thụt lùi ở hàng sau chứ không được đi ngang hàng
"Nói có sách , mách có chứng " họ đã in ra những bản nghị định thư (protocol ) chỉ định hướng dẫn về cách chào cờ , đi cờ và cắm cờ đưa cho chúng ta đọc để học hỏi và thực hành , ngoài ra họ cũng phổ biến những link của các web site có viết những bài hướng dẫn đó để chúng ta tự tìm hiểu và kiểm chứng :
http://www.state.gov./s/cpr/what/c18027.htm
Protocol Frequently Asked Questions Q: How do you address the President of the United States?
A: An envelope is addressed as:
The President
The White House
Washington, D.C. 20500
The salutation would be: Dear Mr. President
Q: How do you address the Secretary of State?
A: When addressing an envelope to the Secretary of State, it would be:
The Honorable
Hillary Rodham Clinton
Secretary of State
Washington, D.C. 20520
The salutation would be: Dear Madam Secretary
Q: Does a person retain the honorific title "The Honorable" after leaving the position for which they hold it?
A: Yes, a person who has been in a position that entitled them to "The Honorable" continues to retain that honorific title even after he or she leaves that position.
Q: If both the U.S. national anthem and the national anthem of a foreign country were being played at an event (in the United States), which one would be played first?
A : Traditionally, as a courtesy, the foreign anthem is played first.
Q: What is the order of display for the U.S. flag and a flag of a foreign nation?
A: The two flags should be on separate staffs. Both flags should be the same size and flown at the same height. The U.S. flag is flown in the place of honor, which is to the viewer's left.
Q: How is a meeting between a foreign leader and the President of the United States arranged?
A: The President, working with the White House staff, schedules meetings with foreign chiefs of state and heads of government. The country's Ambassador in Washington, D.C. works with the President's National Security Advisor and his staff to set a date. When the date is set, the Office of the Chief of Protocol coordinates with the foreign Ambassador to the United States and the American Embassy overseas to make all of the arrangements from arrival through departure.
The Office of the Chief of Protocol coordinates approximately 350 visits per year by foreign leaders, foreign ministers and other high-ranking foreign dignitaries to Washington, D.C.
Q: Is the United States the only country with a Chief of Protocol?
A: No. There is a counterpart, usually called the Chief of Protocol, in almost every country.
Diplomatic protocol is a very historic profession dating back to the Babylonians who initiated the first recorded exchange of envoys with other kingdoms. The word "protocol" is the combination of two Greek words: "Proto," meaning first, and "colon," meaning glued. The "glued" portion of the word is derived from the Greek diplomatic tradition, or protocol, requiring that any diplomatic dispatch have a content summary glued to the outside of its case so that it could be read first and quickly
Q: What is the Blair House?
A: The Blair House is the building officially known as The President's Guest House. It is located on Pennsylvania Avenue across the street from the White House and its principal use is as a guest house for foreign chiefs of state and heads of government visiting the President.
It is named the Blair House after the Blair Family who owned he residence and lived there from 1835 until 1943. In 1943 it was purchased from the family by President Franklin Roosevelt for use as a guest house for foreign leaders. The Blairs were the nearest neighbor of every President from Andrew Jackson through Franklin Roosevelt. A great deal of American history occurred in the house when the Blairs lived there. The term "kitchen cabinet" was born in the house when Andrew Jackson's friends and advisors would gather in the Blair's kitchen.
For a wonderful website about the Blair House, including an interactive tour, visit www.blairhouse.org.
Q: When a chief of state, head of government or foreign dignitary from another country is in the United States, does the Secret Service provide all security or is the home country's protection used or a combination of each?
A: When a foreign chief of state or head of government visits the United States, the Secret Service provides security for them from entry in the United States through departure. This includes not only Washington, D.C. but anywhere in the United States they may travel.
A foreign minister is provided security by the State Department's Diplomatic Security (DS) Service. DS may also provide security for foreign dignitaries who are not foreign ministers. For example, Prince Charles and his wife Camilla, the Duchess of Cornwall, were provided security by DS during their visit to the United States.
Q: What is the process for accrediting a new Ambassador to the United States?
A: A government must request agrement and await approval for an individual to be accepted as Ambassador to the United States. Agrement often is requested in the form of a diplomatic note from the Embassy in Washington to the Department of State or from the Ministry of Foreign Affairs to an American Embassy abroad. After agrement is approved, the local embassy in Washington should be in touch with the Office of Protocol Diplomatic Affairs Division regarding the arrival of the new Ambassador in Washington.
The Embassy should submit the Form DS-2008 (Notification of Termination of Diplomatic, Consular, or Foreign Government Employment) for the previous Ambassador. After the new Ambassador has arrived in Washington with the necessary documents, the Office of Protocol will arrange for him/her to present copies of credentials to the Secretary of State or her designee. The Embassy should submit the Form DS-2003 (Notification of Appointment of Foreign Diplomatic and Career Consular Officer) for the new Ambassador. The final step is for the new Ambassador to present credentials to the President at a White House Credentialing ceremony.
Thế rồi, có những hội đoàn vì thói quen , vì không biết nên vẫn cứ chào cờ theo nghi thức cũ có nghĩa là chào cờ Hoa Kỳ trước rồi mới chào cờ VNCH ( làm như vậy là sai ) " Nhập gia tuỳ tục , đáo giang tuỳ khúc ".... Nếu vì không biết thì nên tìm hiểu và học hỏi , còn vì thói quen thì nên cố gắng bỏ dần những điều sai lầm đó đi....Lại có một số người cứng lòng, biết mà không làm không nghe theo...Chả hiểu vì sao (?)
Nếu như người Hoa Kỳ nói rằng Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ , bây giờ không còn đại diện cho Quốc Gia VN nữa mà chỉ là lá cờ đại diện cho những Cộng Đồng Người Việt tỵ nạn cộng sản , bởi thế không được hát ngang hàng với Quốc Ca Hoa Kỳ , nếu thế lại là lẽ khác , đằng này họ chỉ yêu cầu chúng ta thực hiện cho đúng nghi thức mà quốc hội của Hoa Kỳ đã đặt thành luật hơn nữa khi làm những điều đó không hạ phẩm giá của lá cờ Vàng VNCH mà trái lại là khác...Thế mà họ không chịu tuân theo thì, Xin mượn lời của ông Du Tử Lê mà vò đầu bứt tóc than rằng :"Chuyên dương gian không thể hiểu "
Xin quí vị hay có lòng " vác ngà voi " thích tổ chức lễ hội hãy vào link trên để tìm hiểu , để cùng thực hiện những buổi lễ chào Cờ Việt Mỹ đồng nhất giống nhau, chúng ta nên chứng tỏ cho người Hoa Kỳ thấy rằng chúng ta cũng văn minh và phục thiện....

