Cà Phê...Vịt
Moderator: khieulong
Khuynh hướng và những nét đặc thù trong nhạc Trúc Phương (tt)
Du Tử Lê Với số lượng trên dưới 70 ca khúc tính chung cho một đời viết nhạc của Trúc Phương/Nguyễn Thiện Lộc thì, đó không phải là con số lớn so với những nhạc sĩ cùng thời như nhạc sĩ Anh Bằng, Lam Phương, Tuấn Khanh...
Nhưng nếu tính tỷ lệ số ca khúc được nhiều người yêu thích thì, con số mà người nhạc sĩ bị định mệnh cay nghiệt gán cho bản án “nạn nhân của chính tài hoa mình” đạt được, lại là con số rất cao.
Sáng tác nào của Trúc Phương cũng được đám đông nồng nhiệt đón nhận. Các ca sĩ tên tuổi lần lượt tìm tới những ca khúc của ông, như tìm về nỗi niềm của chính họ. Dù cho đó là những ca khúc thuộc khuynh hướng quê hương, tình yêu hay thân phận người lính trong chiến tranh, với khá nhiều nhan đề liên quan tới bóng đêm. Nói cách khác, tài năng của ông tỏa rộng nhiều lãnh vực. Mỗi lãnh vực như một vườn khuya, cho người và, cho đời nhiều hương ân tình khổ lụy quý, hiếm.
Ở lãnh vực nào, Trúc Phương cũng tạo được cho mình một phong cách, một diện mạo riêng, không nhập nhòe, chung chung, lẫn lẫn với những nhạc sĩ khác.
Phong cách hay diện mạo Trúc Phương, theo ghi nhận của tôi, vốn hình thành từ âm điệu tới ca từ.
Qua tất cả mọi sáng tác của mình, Trúc Phương hầu như chưa từng có một ca khúc viết theo thang bậc ngũ cung, đặc thù của âm nhạc Việt (?).Vậy mà, ca khúc nào của ông cũng chứa đựng ít nhiều âm hưởng cổ nhạc và, dân ca Nam Bộ.
Về phương diện ca từ thì, xương sống của hầu hết những ca khúc của Trúc Phương là loại ngôn ngữ rất mộc. Chữ “mộc” ở đây, tôi dùng theo nghĩa những ngôn từ không hoa mỹ, sáo mòn hay bác học. Nó dân dã. Chân chất. Ðơn giản. Ðời thường.
Trong số những ca khúc của họ Nguyễn viết về quê hương, tôi nghĩ, nhiều người đến nay, còn nhớ âm điệu trong sáng, nhịp nhàng, thấp thoáng mơ ước, lãng mạn rất đồng quê của những thôn nữ cách đây trên nửa thế kỷ; như: “Anh ơi nhớ về thăm thôn xưa / để nghe tiếng ngọt ngào ru bóng dừa / xa xôi nhớ người anh lữ thứ / nhớ thương hoài câu hát chiều làng em.” (Chiều Làng
Em). Ở lãnh vực tình khúc Trúc Phương cũng mang đến cho nền tân nhạc Việt Nam nhiều mới lạ.
Trước nhất, theo tôi, đó là những lời nói chân thật, trực tiếp, không quanh co. Không gần, xa, bóng gió.
Thí dụ mở đầu bài “Ai Cho Tôi Tình Yêu,” ông gửi ngay câu hỏi của mình tới đối tượng: “Ai cho tôi tình yêu / của ngày thơ ngày mộng / tôi xin dâng vòng tay mở rộng / và đón người đi vào tim tôi / bằng môi trên bờ môi...”
Nhưng không vì thế mà ca từ của ông thiếu vắng những hình ảnh tân kỳ. Cụ thể như cách nói .”.. bằng môi trên bờ môi,” tới hôm nay, theo tôi vẫn là cách nói đầy ấn tượng.
Ở “Buồn Trong Kỷ Niệm,” Trúc Phương cũng mở vào ca khúc của mình một khẳng định chắc nịch, như đường kiếm dứt khoát, khiến người nghe (đối tượng) phải giật mình, choáng váng vì mức độ thuyết phục của nó: “Ðường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn / đôi khi nhầm lỡ, đánh mất ân tình cũ / có đâu chỉ thế, tiếc thương chỉ thế / khi mơ ước không chung cùng vui lối về...”
Tương tự, ở ca khúc “Chiều Cuối Tuần,” Trúc Phương cũng nhập đề “trực khởi.” Không ầu ơ, ví dầu: “Anh ơi tôi lên đường phố cũ, tìm anh chiều hẹn hò / cho nhau niềm vui cuối tuần, vì hơn mấy lần / vắng anh trời kinh đô nghe xao xuyến bước cô đơn...”
Thứ đến, qua ca từ của cả ba trong số những tình khúc nổi tiếng nhất của Trúc Phương kể trên, nếu để ý, ta sẽ nghiệm ra rằng: Những tỏ tình hay tâm sự trong ca khúc, không phải là tâm trạng của người nam. Chúng chính là những bộc bạch, thố lộ tình yêu thiết tha, đau khổ của một người nữ.
Tôi không biết có phải họ Nguyễn thác lời người nữ để thích hợp với các giọng ca nữ, (điển hình như Thanh Thúy), hay ông muốn tạo cho mình một cách viết khác? Như những nhà văn nam, đặt mình trong tâm thể người nữ, qua những nhân vật xưng “tôi” là người nữ (và ngược lại).
Trường hợp nào thì sự hóa thân để thăm dò đáy sâu tiềm thức người nữ của Trúc Phương, với tôi, vẫn là một nỗ lực, một phiêu lưu đáng kể trong lãnh vực tân nhạc. Nó như một thứ “Ai tư vãn” mới, của thời hiện đại. (*)
Trúc Phương cũng không dùng nhiều hai nhân xưng đại danh từ rất quen thuộc trong các tình khúc của hai mươi năm tân nhạc miền Nam, là “anh/em” - Mà ông thân thiết với hai chữ “người” và “tôi.”
Xét kỹ, chúng ta còn thấy, Trúc Phương thường sử dụng hình thức chủ từ ẩn, chủ từ vắng mặt trong một số ca khúc của ông. Như ngay khởi đầu bài “Hai Lối Mộng,” ông viết: “Xin giã biệt bạn lòng ơi / trao trả môi người cười / vì hai lối mộng hai hướng trông / mình thương nhau chưa trót / thì chớ mang nỗi buồn theo bước đời / dù cho chưa lần nói...”
Hoặc: “Buồn vào hồn không tên / thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời / Ðường phố vắng đêm nao quen một người / mà yêu thương trót trao nhau trọn lời / để rồi làm sao quên?...” (Nửa Ðêm Ngoài Phố)
Tóm lại, điều tôi muốn nói, Trúc Phương/Nguyễn Thiện Lộc không chỉ là một nhạc sĩ tài hoa. Ông còn là một nhà thơ có những cảm nghiệm tinh tế và, nắm được tu từ pháp.
Tuy nhiên, có một tương phản rõ nét hơn cả, là hình ảnh người lính trong chiến tranh của Trúc Phương, so sánh với người lính trong nhạc của các tác giả khác.
Hình ảnh người lính trong ca từ của Tuấn Khanh là người lính rất đáng yêu trong nhiệm vụ gìn giữ quê hương: “Em nhé! Mình thương nhau muôn đời / anh giữ gìn quê hương xa vời...” (Hoa Soan Bên Thềm Cũ). Hình ảnh người lính trong nhạc Lam Phương là người lính hân hoan với vai trò của mình: “Ðể rồi một năm nơi biên cương dấn bước thân trên sa trường / ngày thì tìm vui bên chiếc súng khi đêm anh vui với đàn...” (Chiều Hành Quân).
Hình ảnh người lính của Nguyễn Văn Ðông là người lính lãng mạn, gần với những cảm thức lãng mạn thời tiền chiến: “Anh đến thăm áo anh mùi thuốc súng / ngoài khuya mưa lê thê, qua ngàn chốn sơn khê...” (Mấy Dặm Sơn Khê). Phổ cập hơn, được nhiều người biết, là hình ảnh người lính hào hoa, đa tình: “Chiều hôm kia thăm làng / tiểu đội anh ra đứng gác ven ranh / một cô đi trên đường / đẹp tựa như em khóc lúc giận anh / để cho anh nghe thèm / đường chiều xưa ngời sáng áo em xanh / thèm một nét môi / một lần về phép thôi / và mình thì lại có đôi” (Tình Thư Của Lính). Và “Anh không chết đâu anh / người anh hùng mũ đỏ tên Ðương...” (Anh Không Chết Ðâu Anh). Cả hai ca khúc này, đều của Trần Thiện Thanh. Trong khi người lính trong ca khúc “Cho Một Người Nằm Xuống” của Trịnh Công Sơn, lại là hình ảnh người lính hồn nhiên rong chơi giữa đôi bờ chiến tranh sinh/tử. Ít nhiều mang tính triết lý tình cờ, hư vô: “Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây / Ðã vui chơi trong cuộc đời này...” v.v...
Nhưng hình ảnh người lính trong nhạc Trúc Phương khác hẳn. Nếu không muốn nói là hoàn toàn đối nghịch.
Ðiển hình, trong ca khúc “Kẻ Ở Miền Xa,” hình ảnh người lính của Trúc Phương là người lính thuộc về số đông. Họ vốn dĩ là thế trong đời thường. Ông không sơn phết, không mang hia đội mão, không hóa trang (hay ngụy trang?) bằng bất cứ một hình ảnh thơ mộng, lãng mạn, hào hoa, hào hùng, triết lý nào cho người lính trong nhạc của ông. Những người lính của Trúc Phương, có chung một mẫu số: Thành phần hy sinh lớn nhất. Nhưng họ cũng chịu nhiều thiệt thòi nhất, trước thực tế trần trụi và, bất trắc khốc liệt nơi chiến địa: “Tôi ở miền xa / trời quen đất lạ / nhiều đông lắm hạ / nối tiếp đi qua / thiếu bóng đàn bà (...)Ðơn vị thường khi / nằm trên đất giặc / thèm trong hãi hùng / tiếng hát môi em / tiếng hát ngọt mềm / người nâng lính khổ / viết bởi câu ca / vì tiền hay thiết tha? / Xin đối diện một lần bên tôi / cho tôi yêu bằng hình hài đó không thôi / đến với tôi, hãy đến với tôi / đừng yêu lính bằng lời...”
Tôi không nhớ nghe được ca khúc này bao giờ? Ở đâu?
Chỉ nhớ dường như đó là khoảng đầu năm (19)70, khi tôi đi công tác vùng Cao nguyên Trung phần. Chỉ nhớ ngày đó, tôi có thầm biết ơn nhân viên kiểm duyệt nào đấy, ở Bộ Thông Tin, đã cho phép ca khúc này ra đời!
Dù đã trên dưới 40 năm, bây giờ, mỗi lần ca khúc kia từ ký ức dềnh lên, tôi lại có cái cảm giác chua xót tới tê điếng bởi những câu như “Thiếu bóng đàn bà,” “Thèm trong hãi hùng / tiếng hát môi em...” Hoặc khẩn khoản trong tuyệt vọng: “Ðến với tôi, hãy đến với tôi / đừng yêu lính bằng lời...” của họ Nguyễn.
Từng là một người lính, từng có thời gian đóng quân hay công tác ở những nơi ngày đêm không thấy bóng một phụ nữ, tôi như uống được tới giọt cuối cùng của ly nước bị đời sống, xã hội lãng quên. Nhưng, tôi bất lực trước gọi, kêu khẩn khoản rất đỗi con người của họ Nguyễn. Tôi nghĩ, đồng đội, thính giả, những người hâm mộ ông, cũng bất lực, không kém! Không một ai trong chúng ta có thể làm được điều gì cho ông; cũng như cho chính mình! Bởi đó là sự bất lực chung của cả một dân tộc, một đất nước trong những trốt xoáy cuối cùng của cơn hồng thủy hủy diệt, mang tên chủ thuyết. Ðạn bom. Chết chóc...
Tôi nghĩ, chúng ta càng bất lực hơn, khi đứng trước bản án mà định mệnh tàn độc đã sớm gán cho một tài năng, một nhân cách như Trúc Phương/Nguyễn Thiện Lộc: Ðịnh mệnh của một người vốn là “nạn nhân của tài hoa chính mình!”
Tuy nhiên, tôi cũng chợt nghĩ, ở bên kia thế giới, hôm nay, hẳn nhạc sĩ Trúc Phương đã thấy, những người yêu nhạc ông, mang ơn ông, nhiều biết chừng nào! Mặc dù, tôi không biết điều đó, có đủ an ủi linh hồn ông ít nhiều, nơi cõi khác?
Du Tử Lê
(10 tháng 1, 2011)
Chú thích:
(*): Theo Wikipedia thì, năm 1786, khi Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc lần thứ nhất, qua môi giới của Nguyễn Hữu Chỉnh, vua Lê Hiển Tông đã gả công chúa Ngọc Hân, khi đó mới 16 tuổi, cho Nguyễn Huệ, 34 tuổi. Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lại đem quân ra Bắc để diệt quân Thanh. Ông phong Ngọc Hân làm Bắc Cung Hoàng Hậu. Năm 1792, vua Quang Trung đột ngộ băng hà. Bắc Cung Hoàng Hậu viết 2 bài: “Tế vua Quang Trung” và “Ai tư vãn” bày tỏ niềm thương tiếc và, nỗi đau khổ của mình trước cái chết của người chồng mà bà kính ngưỡng. Trong bài “Danh nhân Ngọc Hân,” tác giả Chu Quang Trứ ghi, sau đó Ngọc Hân đã đem hai con
về sống trong chùa Kim Tiền (Dương Xuân Huế) để tiếp tục thờ chồng, nuôi con. Bà gượng sống tới ngày 4 tháng 12 năm 1799 thì mất, lúc mới 29 tuổi!
Du Tử Lê Với số lượng trên dưới 70 ca khúc tính chung cho một đời viết nhạc của Trúc Phương/Nguyễn Thiện Lộc thì, đó không phải là con số lớn so với những nhạc sĩ cùng thời như nhạc sĩ Anh Bằng, Lam Phương, Tuấn Khanh...
Nhưng nếu tính tỷ lệ số ca khúc được nhiều người yêu thích thì, con số mà người nhạc sĩ bị định mệnh cay nghiệt gán cho bản án “nạn nhân của chính tài hoa mình” đạt được, lại là con số rất cao.
Sáng tác nào của Trúc Phương cũng được đám đông nồng nhiệt đón nhận. Các ca sĩ tên tuổi lần lượt tìm tới những ca khúc của ông, như tìm về nỗi niềm của chính họ. Dù cho đó là những ca khúc thuộc khuynh hướng quê hương, tình yêu hay thân phận người lính trong chiến tranh, với khá nhiều nhan đề liên quan tới bóng đêm. Nói cách khác, tài năng của ông tỏa rộng nhiều lãnh vực. Mỗi lãnh vực như một vườn khuya, cho người và, cho đời nhiều hương ân tình khổ lụy quý, hiếm.
Ở lãnh vực nào, Trúc Phương cũng tạo được cho mình một phong cách, một diện mạo riêng, không nhập nhòe, chung chung, lẫn lẫn với những nhạc sĩ khác.
Phong cách hay diện mạo Trúc Phương, theo ghi nhận của tôi, vốn hình thành từ âm điệu tới ca từ.
Qua tất cả mọi sáng tác của mình, Trúc Phương hầu như chưa từng có một ca khúc viết theo thang bậc ngũ cung, đặc thù của âm nhạc Việt (?).Vậy mà, ca khúc nào của ông cũng chứa đựng ít nhiều âm hưởng cổ nhạc và, dân ca Nam Bộ.
Về phương diện ca từ thì, xương sống của hầu hết những ca khúc của Trúc Phương là loại ngôn ngữ rất mộc. Chữ “mộc” ở đây, tôi dùng theo nghĩa những ngôn từ không hoa mỹ, sáo mòn hay bác học. Nó dân dã. Chân chất. Ðơn giản. Ðời thường.
Trong số những ca khúc của họ Nguyễn viết về quê hương, tôi nghĩ, nhiều người đến nay, còn nhớ âm điệu trong sáng, nhịp nhàng, thấp thoáng mơ ước, lãng mạn rất đồng quê của những thôn nữ cách đây trên nửa thế kỷ; như: “Anh ơi nhớ về thăm thôn xưa / để nghe tiếng ngọt ngào ru bóng dừa / xa xôi nhớ người anh lữ thứ / nhớ thương hoài câu hát chiều làng em.” (Chiều Làng
Em). Ở lãnh vực tình khúc Trúc Phương cũng mang đến cho nền tân nhạc Việt Nam nhiều mới lạ.
Trước nhất, theo tôi, đó là những lời nói chân thật, trực tiếp, không quanh co. Không gần, xa, bóng gió.
Thí dụ mở đầu bài “Ai Cho Tôi Tình Yêu,” ông gửi ngay câu hỏi của mình tới đối tượng: “Ai cho tôi tình yêu / của ngày thơ ngày mộng / tôi xin dâng vòng tay mở rộng / và đón người đi vào tim tôi / bằng môi trên bờ môi...”
Nhưng không vì thế mà ca từ của ông thiếu vắng những hình ảnh tân kỳ. Cụ thể như cách nói .”.. bằng môi trên bờ môi,” tới hôm nay, theo tôi vẫn là cách nói đầy ấn tượng.
Ở “Buồn Trong Kỷ Niệm,” Trúc Phương cũng mở vào ca khúc của mình một khẳng định chắc nịch, như đường kiếm dứt khoát, khiến người nghe (đối tượng) phải giật mình, choáng váng vì mức độ thuyết phục của nó: “Ðường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn / đôi khi nhầm lỡ, đánh mất ân tình cũ / có đâu chỉ thế, tiếc thương chỉ thế / khi mơ ước không chung cùng vui lối về...”
Tương tự, ở ca khúc “Chiều Cuối Tuần,” Trúc Phương cũng nhập đề “trực khởi.” Không ầu ơ, ví dầu: “Anh ơi tôi lên đường phố cũ, tìm anh chiều hẹn hò / cho nhau niềm vui cuối tuần, vì hơn mấy lần / vắng anh trời kinh đô nghe xao xuyến bước cô đơn...”
Thứ đến, qua ca từ của cả ba trong số những tình khúc nổi tiếng nhất của Trúc Phương kể trên, nếu để ý, ta sẽ nghiệm ra rằng: Những tỏ tình hay tâm sự trong ca khúc, không phải là tâm trạng của người nam. Chúng chính là những bộc bạch, thố lộ tình yêu thiết tha, đau khổ của một người nữ.
Tôi không biết có phải họ Nguyễn thác lời người nữ để thích hợp với các giọng ca nữ, (điển hình như Thanh Thúy), hay ông muốn tạo cho mình một cách viết khác? Như những nhà văn nam, đặt mình trong tâm thể người nữ, qua những nhân vật xưng “tôi” là người nữ (và ngược lại).
Trường hợp nào thì sự hóa thân để thăm dò đáy sâu tiềm thức người nữ của Trúc Phương, với tôi, vẫn là một nỗ lực, một phiêu lưu đáng kể trong lãnh vực tân nhạc. Nó như một thứ “Ai tư vãn” mới, của thời hiện đại. (*)
Trúc Phương cũng không dùng nhiều hai nhân xưng đại danh từ rất quen thuộc trong các tình khúc của hai mươi năm tân nhạc miền Nam, là “anh/em” - Mà ông thân thiết với hai chữ “người” và “tôi.”
Xét kỹ, chúng ta còn thấy, Trúc Phương thường sử dụng hình thức chủ từ ẩn, chủ từ vắng mặt trong một số ca khúc của ông. Như ngay khởi đầu bài “Hai Lối Mộng,” ông viết: “Xin giã biệt bạn lòng ơi / trao trả môi người cười / vì hai lối mộng hai hướng trông / mình thương nhau chưa trót / thì chớ mang nỗi buồn theo bước đời / dù cho chưa lần nói...”
Hoặc: “Buồn vào hồn không tên / thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời / Ðường phố vắng đêm nao quen một người / mà yêu thương trót trao nhau trọn lời / để rồi làm sao quên?...” (Nửa Ðêm Ngoài Phố)
Tóm lại, điều tôi muốn nói, Trúc Phương/Nguyễn Thiện Lộc không chỉ là một nhạc sĩ tài hoa. Ông còn là một nhà thơ có những cảm nghiệm tinh tế và, nắm được tu từ pháp.
Tuy nhiên, có một tương phản rõ nét hơn cả, là hình ảnh người lính trong chiến tranh của Trúc Phương, so sánh với người lính trong nhạc của các tác giả khác.
Hình ảnh người lính trong ca từ của Tuấn Khanh là người lính rất đáng yêu trong nhiệm vụ gìn giữ quê hương: “Em nhé! Mình thương nhau muôn đời / anh giữ gìn quê hương xa vời...” (Hoa Soan Bên Thềm Cũ). Hình ảnh người lính trong nhạc Lam Phương là người lính hân hoan với vai trò của mình: “Ðể rồi một năm nơi biên cương dấn bước thân trên sa trường / ngày thì tìm vui bên chiếc súng khi đêm anh vui với đàn...” (Chiều Hành Quân).
Hình ảnh người lính của Nguyễn Văn Ðông là người lính lãng mạn, gần với những cảm thức lãng mạn thời tiền chiến: “Anh đến thăm áo anh mùi thuốc súng / ngoài khuya mưa lê thê, qua ngàn chốn sơn khê...” (Mấy Dặm Sơn Khê). Phổ cập hơn, được nhiều người biết, là hình ảnh người lính hào hoa, đa tình: “Chiều hôm kia thăm làng / tiểu đội anh ra đứng gác ven ranh / một cô đi trên đường / đẹp tựa như em khóc lúc giận anh / để cho anh nghe thèm / đường chiều xưa ngời sáng áo em xanh / thèm một nét môi / một lần về phép thôi / và mình thì lại có đôi” (Tình Thư Của Lính). Và “Anh không chết đâu anh / người anh hùng mũ đỏ tên Ðương...” (Anh Không Chết Ðâu Anh). Cả hai ca khúc này, đều của Trần Thiện Thanh. Trong khi người lính trong ca khúc “Cho Một Người Nằm Xuống” của Trịnh Công Sơn, lại là hình ảnh người lính hồn nhiên rong chơi giữa đôi bờ chiến tranh sinh/tử. Ít nhiều mang tính triết lý tình cờ, hư vô: “Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây / Ðã vui chơi trong cuộc đời này...” v.v...
Nhưng hình ảnh người lính trong nhạc Trúc Phương khác hẳn. Nếu không muốn nói là hoàn toàn đối nghịch.
Ðiển hình, trong ca khúc “Kẻ Ở Miền Xa,” hình ảnh người lính của Trúc Phương là người lính thuộc về số đông. Họ vốn dĩ là thế trong đời thường. Ông không sơn phết, không mang hia đội mão, không hóa trang (hay ngụy trang?) bằng bất cứ một hình ảnh thơ mộng, lãng mạn, hào hoa, hào hùng, triết lý nào cho người lính trong nhạc của ông. Những người lính của Trúc Phương, có chung một mẫu số: Thành phần hy sinh lớn nhất. Nhưng họ cũng chịu nhiều thiệt thòi nhất, trước thực tế trần trụi và, bất trắc khốc liệt nơi chiến địa: “Tôi ở miền xa / trời quen đất lạ / nhiều đông lắm hạ / nối tiếp đi qua / thiếu bóng đàn bà (...)Ðơn vị thường khi / nằm trên đất giặc / thèm trong hãi hùng / tiếng hát môi em / tiếng hát ngọt mềm / người nâng lính khổ / viết bởi câu ca / vì tiền hay thiết tha? / Xin đối diện một lần bên tôi / cho tôi yêu bằng hình hài đó không thôi / đến với tôi, hãy đến với tôi / đừng yêu lính bằng lời...”
Tôi không nhớ nghe được ca khúc này bao giờ? Ở đâu?
Chỉ nhớ dường như đó là khoảng đầu năm (19)70, khi tôi đi công tác vùng Cao nguyên Trung phần. Chỉ nhớ ngày đó, tôi có thầm biết ơn nhân viên kiểm duyệt nào đấy, ở Bộ Thông Tin, đã cho phép ca khúc này ra đời!
Dù đã trên dưới 40 năm, bây giờ, mỗi lần ca khúc kia từ ký ức dềnh lên, tôi lại có cái cảm giác chua xót tới tê điếng bởi những câu như “Thiếu bóng đàn bà,” “Thèm trong hãi hùng / tiếng hát môi em...” Hoặc khẩn khoản trong tuyệt vọng: “Ðến với tôi, hãy đến với tôi / đừng yêu lính bằng lời...” của họ Nguyễn.
Từng là một người lính, từng có thời gian đóng quân hay công tác ở những nơi ngày đêm không thấy bóng một phụ nữ, tôi như uống được tới giọt cuối cùng của ly nước bị đời sống, xã hội lãng quên. Nhưng, tôi bất lực trước gọi, kêu khẩn khoản rất đỗi con người của họ Nguyễn. Tôi nghĩ, đồng đội, thính giả, những người hâm mộ ông, cũng bất lực, không kém! Không một ai trong chúng ta có thể làm được điều gì cho ông; cũng như cho chính mình! Bởi đó là sự bất lực chung của cả một dân tộc, một đất nước trong những trốt xoáy cuối cùng của cơn hồng thủy hủy diệt, mang tên chủ thuyết. Ðạn bom. Chết chóc...
Tôi nghĩ, chúng ta càng bất lực hơn, khi đứng trước bản án mà định mệnh tàn độc đã sớm gán cho một tài năng, một nhân cách như Trúc Phương/Nguyễn Thiện Lộc: Ðịnh mệnh của một người vốn là “nạn nhân của tài hoa chính mình!”
Tuy nhiên, tôi cũng chợt nghĩ, ở bên kia thế giới, hôm nay, hẳn nhạc sĩ Trúc Phương đã thấy, những người yêu nhạc ông, mang ơn ông, nhiều biết chừng nào! Mặc dù, tôi không biết điều đó, có đủ an ủi linh hồn ông ít nhiều, nơi cõi khác?
Du Tử Lê
(10 tháng 1, 2011)
Chú thích:
(*): Theo Wikipedia thì, năm 1786, khi Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc lần thứ nhất, qua môi giới của Nguyễn Hữu Chỉnh, vua Lê Hiển Tông đã gả công chúa Ngọc Hân, khi đó mới 16 tuổi, cho Nguyễn Huệ, 34 tuổi. Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lại đem quân ra Bắc để diệt quân Thanh. Ông phong Ngọc Hân làm Bắc Cung Hoàng Hậu. Năm 1792, vua Quang Trung đột ngộ băng hà. Bắc Cung Hoàng Hậu viết 2 bài: “Tế vua Quang Trung” và “Ai tư vãn” bày tỏ niềm thương tiếc và, nỗi đau khổ của mình trước cái chết của người chồng mà bà kính ngưỡng. Trong bài “Danh nhân Ngọc Hân,” tác giả Chu Quang Trứ ghi, sau đó Ngọc Hân đã đem hai con
về sống trong chùa Kim Tiền (Dương Xuân Huế) để tiếp tục thờ chồng, nuôi con. Bà gượng sống tới ngày 4 tháng 12 năm 1799 thì mất, lúc mới 29 tuổi!
Tết Việt Nam tại Paris
Thế là một cái Tết nữa lại đang đến. Năm nay chúng tôi đón Tết với đông đảo bạn bè và cộng đồng người Việt tại Paris, trong cái lạnh -2°C từ gần một tuần trước Tết.
Paris rộng hơn Hà Nội nhiều nhưng ở những khu ít người châu Á sống hay hoạt động thương mại thì những ngày này vẫn chỉ là những ngày cuối tháng 1 thường niên. Phải vào đến quận 13 mới thưởng thức được chút không khí bận rộn, hối hả khi năm hết Tết đến. Các phố chính của quận 13 nườm nượp người đi bộ xem hàng hay tay xách nách mang, các bãi đậu xe kín hết chỗ, nhất là vào những ngày cuối tuần.
Quận 13 là quận có mật độ người châu Á đông nhất ở Paris và có lẽ trên toàn nước Pháp. Ở đây Noel và Tết Tây người ta không chăng đèn kết hoa mấy nhưng Tết Nguyên Đán thì các đại lộ chính lại rực rỡ ánh đèn, băng rôn và bảng hiệu chúc mừng năm mới bằng nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt.
23 Tết, ngày ông Công ông Táo, chúng tôi đi chợ ở quận 13 mua sắm ít đồ chuẩn bị Tết. Các cửa hàng cửa hiệu đều bán đồ phục vụ Tết: từ lá dong, gạo nếp cái hoa vàng đến bánh chưng, bánh tét, bánh mứt kẹo các loại, hoa mai, hoa đào, cây quất... Đi chợ Tết giữa tuần sẽ đỡ đông người và có thể có thời gian thoải mái lựa chọn những gì mình muốn mua. Chúng tôi mua ít chân giò về nấu thịt đông, gấc và gạo nếp về nấu xôi, đậu xanh để nấu chè kho và quan trọng hơn cả là hoa đào.
Đào ở đây không được nguyên cành như ở Hà Nội mà chỉ là đào nhánh, nhưng nhánh cũng rất cao và khỏe nên chỉ 2-3 hôm sau cả 2 lọ hoa đào nhà tôi đã nở đều và thật đẹp. Thiếu gì thì thiếu, Tết với tôi không thể thiếu hoa đào, có lẽ bởi từ nhỏ tôi luôn được bố mẹ dẫn đi chợ hoa Quảng Bá hay phố Hàng Lược chọn hoa. Về nhà bố tôi cắt đi chút xíu chỗ cuối cành rồi đốt nhẹ vết cắt để thông nhựa cho cả cành rồi cắm cành đào lên bàn thờ tổ tiên. Dù đã xa nhà hơn chục năm, ăn hơn chục cái Tết ở nước ngoài nhưng cái nghi thức chuẩn bị cành đào ngày Tết ấy vẫn không hề phai nhạt trong tôi.
Tết năm nay nhiều nhóm bạn Việt Nam của tôi ở Paris và các vùng phụ cận tập hợp nhau lại tổ chức gói bánh chưng cho nên chúng tôi có nhiều lời hứa tặng bánh chưng, chồng tôi mừng lắm vì anh rất thích món này. Chồng tôi tuy sinh ra và lớn lên ở Pháp nhưng cũng rất thích không khí Tết và đặc biệt là các món ăn ngày Tết: nem, bánh chưng, dưa hành, canh măng khô với miến, xôi gấc... món nào anh cũng nhiệt tình “chiến đấu”. Không giỏi tiếng Việt nhưng anh cũng chịu khó mỗi ngày ngồi cùng tôi 30’-1h trước mành hình VTV4 xem phim hay nghe các tin tức thời sự về Việt Nam và cũng không biết tự bao giờ, hàng ngày anh đều hát “Tết Tết Tết Tết đến rồi, Tết Tết đến trong mọi nhà...” với cái giọng lơ lớ rất buồn cười.
Cũng như mọi năm, nhiều lễ hội Tết được cộng đồng người Việt tổ chức tại Paris cũng như trên toàn nước Pháp. Tối 26 Tết sứ quán Việt Nam tại Pháp tổ chức tiệc chiêu đãi nhân dịp Tết với bạn bè năm châu và sinh viên, du học sinh, bà con Việt kiều. Năm nay hơn 1.000 người đã đến dự và chia sẻ không khí Tết quê nhà trong khuôn viên của sứ quán, tuy không rộng rãi và xa hoa nhưng thật ấm cúng. Mùng 3 Tết Hội người Việt Nam cùng với Hội thanh niên Việt Nam tại Pháp (với phần lớn là các bạn thanh niên Việt kiều thế hệ 2 sinh trưởng tại Pháp) và các bạn sinh viên phối hợp tổ chức một ngày Tết cộng đồng. Năm nay Hội có mời một đoàn ca múa nhạc từ thành phố Hồ Chí Minh sang tham gia vào chương trình văn nghệ, trong đó có một số tiết mục đặc biệt tôn vinh ca trù. Cùng với Hội TW, các chi hội địa phương như Lyon, Marseille, Toulouse... cũng lần lượt tổ chức Tết.
Các bạn sinh viên năm nay tổ chức Tết mang tên “Chào Xuân” vào ngày 12/2 với một chương trình đặc biệt Miss Xuân 2011 để bầu ra Miss sinh viên Việt Nam tại Pháp của 2 năm liền. Trên trang web của Hội Sinh viên Việt Nam tại cùng các diễn đàn, các mạng xã hội nhộn nhịp những hình ảnh, bài hát cũng như những lời trao đổi nhắn nhủ, động viên, kêu gọi cổ vũ cho các Miss.
Tuy ở nơi xa này không có được cái không khí người người đón Tết, nhà nhà đón Tết nhưng chúng tôi, những người Việt sống xa Tổ quốc vẫn luôn cố gắng tái tạo lại ít nhiều không khí Tết để không quên đi phong tục tập quán của quê hương mình. Sang năm mới, chúc các gia đình, bà con, bạn bè gần xa và tất cả mọi người một cái Tết Tân Mão thật là đầm ấm cùng một năm mới an khang, thịnh vượng.
Lê Cảnh Chi
Paris rộng hơn Hà Nội nhiều nhưng ở những khu ít người châu Á sống hay hoạt động thương mại thì những ngày này vẫn chỉ là những ngày cuối tháng 1 thường niên. Phải vào đến quận 13 mới thưởng thức được chút không khí bận rộn, hối hả khi năm hết Tết đến. Các phố chính của quận 13 nườm nượp người đi bộ xem hàng hay tay xách nách mang, các bãi đậu xe kín hết chỗ, nhất là vào những ngày cuối tuần.
Quận 13 là quận có mật độ người châu Á đông nhất ở Paris và có lẽ trên toàn nước Pháp. Ở đây Noel và Tết Tây người ta không chăng đèn kết hoa mấy nhưng Tết Nguyên Đán thì các đại lộ chính lại rực rỡ ánh đèn, băng rôn và bảng hiệu chúc mừng năm mới bằng nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt.
23 Tết, ngày ông Công ông Táo, chúng tôi đi chợ ở quận 13 mua sắm ít đồ chuẩn bị Tết. Các cửa hàng cửa hiệu đều bán đồ phục vụ Tết: từ lá dong, gạo nếp cái hoa vàng đến bánh chưng, bánh tét, bánh mứt kẹo các loại, hoa mai, hoa đào, cây quất... Đi chợ Tết giữa tuần sẽ đỡ đông người và có thể có thời gian thoải mái lựa chọn những gì mình muốn mua. Chúng tôi mua ít chân giò về nấu thịt đông, gấc và gạo nếp về nấu xôi, đậu xanh để nấu chè kho và quan trọng hơn cả là hoa đào.
Đào ở đây không được nguyên cành như ở Hà Nội mà chỉ là đào nhánh, nhưng nhánh cũng rất cao và khỏe nên chỉ 2-3 hôm sau cả 2 lọ hoa đào nhà tôi đã nở đều và thật đẹp. Thiếu gì thì thiếu, Tết với tôi không thể thiếu hoa đào, có lẽ bởi từ nhỏ tôi luôn được bố mẹ dẫn đi chợ hoa Quảng Bá hay phố Hàng Lược chọn hoa. Về nhà bố tôi cắt đi chút xíu chỗ cuối cành rồi đốt nhẹ vết cắt để thông nhựa cho cả cành rồi cắm cành đào lên bàn thờ tổ tiên. Dù đã xa nhà hơn chục năm, ăn hơn chục cái Tết ở nước ngoài nhưng cái nghi thức chuẩn bị cành đào ngày Tết ấy vẫn không hề phai nhạt trong tôi.
Tết năm nay nhiều nhóm bạn Việt Nam của tôi ở Paris và các vùng phụ cận tập hợp nhau lại tổ chức gói bánh chưng cho nên chúng tôi có nhiều lời hứa tặng bánh chưng, chồng tôi mừng lắm vì anh rất thích món này. Chồng tôi tuy sinh ra và lớn lên ở Pháp nhưng cũng rất thích không khí Tết và đặc biệt là các món ăn ngày Tết: nem, bánh chưng, dưa hành, canh măng khô với miến, xôi gấc... món nào anh cũng nhiệt tình “chiến đấu”. Không giỏi tiếng Việt nhưng anh cũng chịu khó mỗi ngày ngồi cùng tôi 30’-1h trước mành hình VTV4 xem phim hay nghe các tin tức thời sự về Việt Nam và cũng không biết tự bao giờ, hàng ngày anh đều hát “Tết Tết Tết Tết đến rồi, Tết Tết đến trong mọi nhà...” với cái giọng lơ lớ rất buồn cười.
Cũng như mọi năm, nhiều lễ hội Tết được cộng đồng người Việt tổ chức tại Paris cũng như trên toàn nước Pháp. Tối 26 Tết sứ quán Việt Nam tại Pháp tổ chức tiệc chiêu đãi nhân dịp Tết với bạn bè năm châu và sinh viên, du học sinh, bà con Việt kiều. Năm nay hơn 1.000 người đã đến dự và chia sẻ không khí Tết quê nhà trong khuôn viên của sứ quán, tuy không rộng rãi và xa hoa nhưng thật ấm cúng. Mùng 3 Tết Hội người Việt Nam cùng với Hội thanh niên Việt Nam tại Pháp (với phần lớn là các bạn thanh niên Việt kiều thế hệ 2 sinh trưởng tại Pháp) và các bạn sinh viên phối hợp tổ chức một ngày Tết cộng đồng. Năm nay Hội có mời một đoàn ca múa nhạc từ thành phố Hồ Chí Minh sang tham gia vào chương trình văn nghệ, trong đó có một số tiết mục đặc biệt tôn vinh ca trù. Cùng với Hội TW, các chi hội địa phương như Lyon, Marseille, Toulouse... cũng lần lượt tổ chức Tết.
Các bạn sinh viên năm nay tổ chức Tết mang tên “Chào Xuân” vào ngày 12/2 với một chương trình đặc biệt Miss Xuân 2011 để bầu ra Miss sinh viên Việt Nam tại Pháp của 2 năm liền. Trên trang web của Hội Sinh viên Việt Nam tại cùng các diễn đàn, các mạng xã hội nhộn nhịp những hình ảnh, bài hát cũng như những lời trao đổi nhắn nhủ, động viên, kêu gọi cổ vũ cho các Miss.
Tuy ở nơi xa này không có được cái không khí người người đón Tết, nhà nhà đón Tết nhưng chúng tôi, những người Việt sống xa Tổ quốc vẫn luôn cố gắng tái tạo lại ít nhiều không khí Tết để không quên đi phong tục tập quán của quê hương mình. Sang năm mới, chúc các gia đình, bà con, bạn bè gần xa và tất cả mọi người một cái Tết Tân Mão thật là đầm ấm cùng một năm mới an khang, thịnh vượng.
Lê Cảnh Chi

Cuộc sống có ý nghĩa
Một nhà diễn thuyết bắt đầu buổi nói chuyện bằng một câu hỏi: "Nếu phải chết, bạn muốn chọn 1 cái chết như thế nào: Chết nhẹ nhàng, nhanh chóng hay đau đớn và từ từ?"
Đám đông ồn ào vì câu hỏi kỳ quặc. Ai mà chẳng muốn 1 cái chết nhẹ nhàng và nhanh chóng, vì vậy mà mọi người đều chọn nó.
Khi mọi người đều đã chắc chắn với quyết định của mình rồi, nhà diễn thuyết mới tiếp tục:
" Tôi cũng từng chọn giống như các bạn vậy. Cho đến 1 ngày, khi cha của tôi lâm bệnh nặng. Ông phải trải qua những cơn đau khủng khiếp, kéo dài ngày này sang ngày khác. Chúng tôi rất thương yêu ông nhưng cũng không muốn ông phải chịu đau đớn như vậy. Chỉ có cách giải thoát cho ông càng sớm càng tốt thôi. Mẹ tôi nói với cha tôi điều đó. Ông nhìn bà hồi lâu rồi nói:
Tôi đau lắm chứ, hơn ai hết tôi là người muốn giải thoát cho chính mình thoát khỏi những cơn đau. Nhưng tôi vẫn muốn sống, chỉ để nhìn các con tôi đi làm về chào cha, các cháu tôi chào ông mỗi buổi sáng. Để chúng ôm hôn tôi trước khi đi ngủ. Để mỗi sáng dậy tôi còn được nhìn thấy ánh mặt trời, để nghe tiếng sóng biển từ xa vọng về. Với bà và các con, điều đó thật đơn giản, nhưng với 1 người như tôi thì thật khó khăn. Tôi không còn thời gian để làm những điều đó nữa. Dù đau đớn nhưng tôi bằng lòng vì tôi có thể mang đi những gì tươi đẹp nhất của cuộc sống mà tôi đã không bao giờ nhận ra...
Các bạn thân mến, chúng ta luôn tiếc thời gian với gia đình, với chính bản thân mình. Ta luôn ngại phải nói những lời yêu thương với người thân chúng ta. Chúng ta luôn đuổi theo những ước mơ, những khát vọng tương lai và nghĩ rằng, đạt đuợc chúng mới là điều hạng phúc.
Tất nhiên điều đó không sai. Nhưng khi chúng ta không còn thời gian nữa, chúng ta lại đuổi theo những thứ ngay bên cạnh mà mình đã bỏ quên, mà thời gian thì chẳng bao giờ chờ ai...
Hãy sống với những gì bạn đang có, yêu thương và quan tâm đến xung quanh. Đừng bỏ qua thời gian quý báu mà bạn đang có. Hãy để ngày mà chúng ta nhắm mắt, ta có thể mỉm cười mà nói rằng:
"Tôi không hối hận, tiếc nuối những ngày tháng đã qua... Tôi không phải đau đớn, bứt rứt lương tâm, dằn vặt mình vì bất cứ điều gì nữa"..."
Tại Sao Về Nước Làm Từ Thiện?
Vi Anh
Phóng sự của Đài BBC của Anh, Alastair Leithead từ Hà nội gởi về nói về dân nhà giàu ăn chơi. Tựa đề phóng sự là “Ăn Phở 35 Đô Ở Nước Việt Nam Cộng Sản”. Chơi[ xe máy dầu Harley Davison mà một thành viên người ngoại quốc của câu lạc bộ nhận xét "Ông sẽ không bao giờ nhìn thấy nhiều xe hạng sang như thế này ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới." Chơi xe hơi mắc, mới, lạ không thể tưởng. Xe Porsche hai cầu dù Alastair Leithead là nhà báo đi nhiều nhưng chưa biết có loại xe đó; xe Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý người đặt hàng mua.
Tin RFA, thống kê của Bộ Công thương của CS Hà nội công bố trong năm 2010, Việt Nam CS đã “nhập khẩu“ những mặt hàng xa xỉ lên đến10 tỷ đô la. Ô tô và xe máy chỉ chiếm khoảng 1 tỷ đô la, trong khi “hàng hiệu” được xem là xa xỉ phẩm như: điện thoại di động loại mới, mỹ phẩm, rượu bia, thuốc lá, đồ trang sức, đá quý và quần áo loại sang chiếm 9 tỷ đô la.
Số triệu, tỷ phú Đô la nổi ở trong nước mỗi năm đều tăng lên. Có người chẳng những mua xe sang mà mua luôn máy bay để đi nữa. Số triệu, tỷ phú chìm ắt còn nhiều hơn nữa nhưng họ dấu kín. Đó là những cán bộ đảng viên có quyền khi tham nhũng trở thành quốc nạn. Tài sản họ cướp được của đất nước và nhân dân thôi vô số kể.
Làm gì trong bối cảnh tham nhũng là quốc nạn, một thiểu số 3 triệu 6 cán bộ đảng viên CS không hối mại quyền thế, tham ô nhũng lạm, dĩ công vi tư khi họ đang cầm quyền, nắm tiền, nắm của của nước Việt Nam. Họ giàu có, thừa mứa, mỗi năm xài hết 10 tỷ Mỹ kim cho hàng “nhập” xa xí. Họ là những người làm giàu nhờ nguời dân trong nước thì khi người dân gặp thiên tai thì họ là người phải gíup trả lại một phần cho cộng đồng chớ.
Người Việt hải ngoại đâu có giàu như họ, phải làm việc một tuần 40 giờ, hàng chục thứ hoá đơn phải trả, đóng thuế cao, đâu có được hưởng quyền lợi gì ở VN như họ, tại sao khi có thiên tai thì lại bị kêu gọi góp tiền đem về cứu trợ.
Hỏi có người Việt Hải ngoại nào ăn tô phở bò 35 Đô mắc như vàng, đi xe máy dầu loại dầu Harley Davison hạng sang, xe hơi Porsche hai cầu, Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý người chủ mua. Có mấy người mua Iphone 4 mới ra giá tương đương 900 Đô.
Thử tính sơ đi, sẽ thấy cán bộ, đảng viên và những người ăn theo trong nước VNCS giàu thế nào trong thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cái thời Đảng Nhà Nước và bọn tài phiệt theo cướp của quốc gia, bóc lột công người lao động như thời kinh tế tư bản hoang.
Từ hải ngoại, người Việt hải ngoại cũng đóng góp cho cái giàu của đảng viên, cán bộ và bọn tài phiệt ăn theo trong nước. Mỗi năm “Việt Kiều” gởi về nước 8 tỷ Đô và về chơi mang theo để xài tối thiểu cũng 6 tỷ nữa ( 300,000 người về, mỗi người tốn 2000$ để xài). Liên Hiệp Quốc viện trợ 3 tỷ. Sơ sơ Đảng Nhà Nước thu được 17 tỷ là giá chót. Đó là chưa nói số ngoại tệ Đảng Nhà Nước bòn vét tài nguyên dầu khí, cao su, gạo, v.v đem bán thô cho ngoại quốc. Phải hàng chục tỷ nữa.
Nếu so sánh với chánh quyền Việt Nam Cộng Hoà thời trước 75 ở Miền Nam mới thấy CS họ hoang phí vô độ. Việt Nam Cộng Hoà khi xưa chỉ nhận viện trợ dân sự 700 triệu Mỹ Kim mà phải lo cho 17 triệu dân với giáo dục công lập, y tế công cộng miễn phí. Tài trợ cho đồng bào Miền Trung ăn gạo giá có thể chịu được.
Thế nhưng khi có thiên tai bão lụt, nhân dân và chánh quyền đùm bọc lấy nhau, đâu có ngửa tay xin ngoại quốc. Và công dân VNCH lên máy bay đi ngoại được các nước xem là công dân của một nước có nền kinh tế phát triển, hơn Đài Loan, Nam Hàn, Thái Lan.
Còn bây giờ, Đảng Nhà Nước CS Hà nội là cơ quan có nhiệm vụ pháp lý và đạo lý phải lo cứu trợ. Luật CS Hà nội qui định không tổ chức nào trong và ngoài nước được phân phối tiền cứu trợ tại Việt Nam ngoại trừ cơ quan cứu trợ có thẩm quyền từ Trung Ương tới địa phương do Mặt Trận Tổ quốc lãnh đạo (Thông tư số 72/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính & Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/05/2008 của Chính phủ). Thế mà Đảng Nhà Nước giàu nức đổ vách lại lơ là không làm. Mà người Việt Hải ngoại đi làm một việc Đảng Nhà Nước CS cấm không cho làm.
Người Việt hải ngoại làm là trái luật của CS Hà nội. Nên đa số thu tiền ở hải ngoại đem về nước làm từ thiện đều tuyên bố khi thu rằng sẽ giúp trực tiếp cho dân. Nhưng kinh nghiệm cho thấy tất cả đều phải qua nhà cầm quyền CS ở địa phương mới đi đứng, gặp gỡ người cần gíup được. Ở trong xứ CS không thể họp dân mà nhà cầm quyền không hay biết.
Trong việc cứu trợ nhà cầm quyền địa phương có uyển chuyển với những người ngoại quốc vì có lợi cho họ. Họ không đòi hỏi phải giao tiền và quà cứu trợ cho họ vì họ biết đòi hỏi như thế “Việt Kiều” sẽ không đồng ý. Họ cho Việt Kiều đứng ra phát để chụp hình đem về chứng minh và làm thành tích của hội đoàn ở hải ngoại. Nhưng họ nắm quyền lợi của CS bên trong. Họ được “Việt Kiều” phải quấy với họ, làm “thủ tục đầu tiên” khi gặp để xin phát cho dân. Họ chọn người được phát đa số là thân nhân, bè bạn của họ.
Số tỷ, triệu phú Đô la ở VNCS hiện rất nhiều. Đảng Nhà Nước CS Hà nội rất giàu. Họ quá giàu đến đổi phải hoang phí. Không lý do gì người Việt hải ngoại lại đi làm vú sữa cho họ nữa. Mấy mươi năm đã quá thừa rồi. Không lý do gì để CS và những người chuyên sống bằng nghề từ thiện lợi dụng tình đồng bào, khai thác tai nạn của dân chúng để móc túi người Việt hải ngoại nữa.
Người Việt có thương ai, giúp ai cứ gởi trực tiếp, đường dây chuyển tiền bây giờ quá dễ./
Vi Anh
Phóng sự của Đài BBC của Anh, Alastair Leithead từ Hà nội gởi về nói về dân nhà giàu ăn chơi. Tựa đề phóng sự là “Ăn Phở 35 Đô Ở Nước Việt Nam Cộng Sản”. Chơi[ xe máy dầu Harley Davison mà một thành viên người ngoại quốc của câu lạc bộ nhận xét "Ông sẽ không bao giờ nhìn thấy nhiều xe hạng sang như thế này ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới." Chơi xe hơi mắc, mới, lạ không thể tưởng. Xe Porsche hai cầu dù Alastair Leithead là nhà báo đi nhiều nhưng chưa biết có loại xe đó; xe Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý người đặt hàng mua.
Tin RFA, thống kê của Bộ Công thương của CS Hà nội công bố trong năm 2010, Việt Nam CS đã “nhập khẩu“ những mặt hàng xa xỉ lên đến10 tỷ đô la. Ô tô và xe máy chỉ chiếm khoảng 1 tỷ đô la, trong khi “hàng hiệu” được xem là xa xỉ phẩm như: điện thoại di động loại mới, mỹ phẩm, rượu bia, thuốc lá, đồ trang sức, đá quý và quần áo loại sang chiếm 9 tỷ đô la.
Số triệu, tỷ phú Đô la nổi ở trong nước mỗi năm đều tăng lên. Có người chẳng những mua xe sang mà mua luôn máy bay để đi nữa. Số triệu, tỷ phú chìm ắt còn nhiều hơn nữa nhưng họ dấu kín. Đó là những cán bộ đảng viên có quyền khi tham nhũng trở thành quốc nạn. Tài sản họ cướp được của đất nước và nhân dân thôi vô số kể.
Làm gì trong bối cảnh tham nhũng là quốc nạn, một thiểu số 3 triệu 6 cán bộ đảng viên CS không hối mại quyền thế, tham ô nhũng lạm, dĩ công vi tư khi họ đang cầm quyền, nắm tiền, nắm của của nước Việt Nam. Họ giàu có, thừa mứa, mỗi năm xài hết 10 tỷ Mỹ kim cho hàng “nhập” xa xí. Họ là những người làm giàu nhờ nguời dân trong nước thì khi người dân gặp thiên tai thì họ là người phải gíup trả lại một phần cho cộng đồng chớ.
Người Việt hải ngoại đâu có giàu như họ, phải làm việc một tuần 40 giờ, hàng chục thứ hoá đơn phải trả, đóng thuế cao, đâu có được hưởng quyền lợi gì ở VN như họ, tại sao khi có thiên tai thì lại bị kêu gọi góp tiền đem về cứu trợ.
Hỏi có người Việt Hải ngoại nào ăn tô phở bò 35 Đô mắc như vàng, đi xe máy dầu loại dầu Harley Davison hạng sang, xe hơi Porsche hai cầu, Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý người chủ mua. Có mấy người mua Iphone 4 mới ra giá tương đương 900 Đô.
Thử tính sơ đi, sẽ thấy cán bộ, đảng viên và những người ăn theo trong nước VNCS giàu thế nào trong thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cái thời Đảng Nhà Nước và bọn tài phiệt theo cướp của quốc gia, bóc lột công người lao động như thời kinh tế tư bản hoang.
Từ hải ngoại, người Việt hải ngoại cũng đóng góp cho cái giàu của đảng viên, cán bộ và bọn tài phiệt ăn theo trong nước. Mỗi năm “Việt Kiều” gởi về nước 8 tỷ Đô và về chơi mang theo để xài tối thiểu cũng 6 tỷ nữa ( 300,000 người về, mỗi người tốn 2000$ để xài). Liên Hiệp Quốc viện trợ 3 tỷ. Sơ sơ Đảng Nhà Nước thu được 17 tỷ là giá chót. Đó là chưa nói số ngoại tệ Đảng Nhà Nước bòn vét tài nguyên dầu khí, cao su, gạo, v.v đem bán thô cho ngoại quốc. Phải hàng chục tỷ nữa.
Nếu so sánh với chánh quyền Việt Nam Cộng Hoà thời trước 75 ở Miền Nam mới thấy CS họ hoang phí vô độ. Việt Nam Cộng Hoà khi xưa chỉ nhận viện trợ dân sự 700 triệu Mỹ Kim mà phải lo cho 17 triệu dân với giáo dục công lập, y tế công cộng miễn phí. Tài trợ cho đồng bào Miền Trung ăn gạo giá có thể chịu được.
Thế nhưng khi có thiên tai bão lụt, nhân dân và chánh quyền đùm bọc lấy nhau, đâu có ngửa tay xin ngoại quốc. Và công dân VNCH lên máy bay đi ngoại được các nước xem là công dân của một nước có nền kinh tế phát triển, hơn Đài Loan, Nam Hàn, Thái Lan.
Còn bây giờ, Đảng Nhà Nước CS Hà nội là cơ quan có nhiệm vụ pháp lý và đạo lý phải lo cứu trợ. Luật CS Hà nội qui định không tổ chức nào trong và ngoài nước được phân phối tiền cứu trợ tại Việt Nam ngoại trừ cơ quan cứu trợ có thẩm quyền từ Trung Ương tới địa phương do Mặt Trận Tổ quốc lãnh đạo (Thông tư số 72/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính & Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/05/2008 của Chính phủ). Thế mà Đảng Nhà Nước giàu nức đổ vách lại lơ là không làm. Mà người Việt Hải ngoại đi làm một việc Đảng Nhà Nước CS cấm không cho làm.
Người Việt hải ngoại làm là trái luật của CS Hà nội. Nên đa số thu tiền ở hải ngoại đem về nước làm từ thiện đều tuyên bố khi thu rằng sẽ giúp trực tiếp cho dân. Nhưng kinh nghiệm cho thấy tất cả đều phải qua nhà cầm quyền CS ở địa phương mới đi đứng, gặp gỡ người cần gíup được. Ở trong xứ CS không thể họp dân mà nhà cầm quyền không hay biết.
Trong việc cứu trợ nhà cầm quyền địa phương có uyển chuyển với những người ngoại quốc vì có lợi cho họ. Họ không đòi hỏi phải giao tiền và quà cứu trợ cho họ vì họ biết đòi hỏi như thế “Việt Kiều” sẽ không đồng ý. Họ cho Việt Kiều đứng ra phát để chụp hình đem về chứng minh và làm thành tích của hội đoàn ở hải ngoại. Nhưng họ nắm quyền lợi của CS bên trong. Họ được “Việt Kiều” phải quấy với họ, làm “thủ tục đầu tiên” khi gặp để xin phát cho dân. Họ chọn người được phát đa số là thân nhân, bè bạn của họ.
Số tỷ, triệu phú Đô la ở VNCS hiện rất nhiều. Đảng Nhà Nước CS Hà nội rất giàu. Họ quá giàu đến đổi phải hoang phí. Không lý do gì người Việt hải ngoại lại đi làm vú sữa cho họ nữa. Mấy mươi năm đã quá thừa rồi. Không lý do gì để CS và những người chuyên sống bằng nghề từ thiện lợi dụng tình đồng bào, khai thác tai nạn của dân chúng để móc túi người Việt hải ngoại nữa.
Người Việt có thương ai, giúp ai cứ gởi trực tiếp, đường dây chuyển tiền bây giờ quá dễ./
Hạnh phúc vô biên
Hai người đàn ông đều bệnh nặng, được xếp chung một phòng tại bệnh viện. Một người được phép ngồi dậy mỗi ngày 1 tiếng để thông phổi. Giường ông ta nằm cạnh cửa sổ duy nhất trong phòng, người kia phải nằm suốt ngày. Hai người đã nói với nhau rất nhiều. Họ nói về vợ con, gia đình, nhà cửa công việc, những năm tháng trong quân đội và cả những kỳ nghỉ đã trải qua.
Mỗi chiều khi được ngồi dậy, người đàn ông cạnh cửa sổ dành hết thời gian để tả cho người bạn cùng phòng nghe những gì ông thấy được ngoài cửa sổ. Người kia, mỗi chiều lại chờ đợi được sống trong cái khoảnh khắc 1 tiếng đó - cái thời gian mà thế giới của người đó mở ra sống động bởi những họat động và màu sắc bên ngoài. Cửa sổ nhìn ra 1 công viên với 1 cái hồ nhỏ xinh xắn. Vịt, ngỗng đùa giỡn trên mặt hồ trong khi bọn trẻ thả những chiếc thuyền giấy. Những cặp tình nhân tay trong tay nhau đi dạo giữa ngàn hoa và ráng chiều rực rỡ. Những cây cổ thụ sum suê tỏa bóng mát, và xa xa là đường chân trời của thành phố ẩn hiện. Khi người đàn ông bên cửa sổ mô tả bằng những chi tiết tinh tế, người kia có thể nhắm mắt và tưởng tượng ra cho riêng mình 1 bức tranh sống động. Một chiều, người đàn ông bên cửa sổ mô tả 1 đoàn diễu hành đi ngang qua. Dù không nghe được tiếng nhạc, người kia vẫn như nhìn thấy được trong tưởng tượng qua lời kể của người bạn cùng phòng.
Ngày và đêm trôi dần….
Một sáng, khi mang nước đến phòng cho họ, cô y tá phát hiện người đàn ông bên cửa sổ đã qua đời êm ái trong giấc ngủ. Cô báo cho người nhà đến mang ông đi. Một ngày kia, người đàn ông còn lại yêu cầu được chuyển đến bên cạnh cửa sổ. Cô y ta đồng ý để ông được yên tĩnh một mình. Chậm chạp gắng sức, ông nhổm dậy bằng hai cùi chỏ và ngắm nhìn thế giới bên ngoài. Ông căng thẳng nhìn ra cửa sổ. Đối diện ông chỉ là một bức tường xám xịt.
Ông hỏi cô y tá điều gì khiến người bạn khốn khổ cùng phòng của ông đã mô tả cho ông nghe những điều tuyệt diệu qua cửa sổ.
Cô y tá cho biết rằng người đàn ông đó bị mù và thậm chí ông ta cũng không thấy được bức tường nữa. Cô nói: “Nhưng ông ta muốn khuyến khích ông can đảm lên”.
Có những hạnh phúc vô biên khi mang lại hạnh phúc cho người khác bất chấp hoàn cảnh riêng của mình. Nỗi khổ được chia sẻ sẽ vơi nửa, nhưng hạnh phúc được chia sẻ sẽ nhân đôi.
Hai người đàn ông đều bệnh nặng, được xếp chung một phòng tại bệnh viện. Một người được phép ngồi dậy mỗi ngày 1 tiếng để thông phổi. Giường ông ta nằm cạnh cửa sổ duy nhất trong phòng, người kia phải nằm suốt ngày. Hai người đã nói với nhau rất nhiều. Họ nói về vợ con, gia đình, nhà cửa công việc, những năm tháng trong quân đội và cả những kỳ nghỉ đã trải qua.
Mỗi chiều khi được ngồi dậy, người đàn ông cạnh cửa sổ dành hết thời gian để tả cho người bạn cùng phòng nghe những gì ông thấy được ngoài cửa sổ. Người kia, mỗi chiều lại chờ đợi được sống trong cái khoảnh khắc 1 tiếng đó - cái thời gian mà thế giới của người đó mở ra sống động bởi những họat động và màu sắc bên ngoài. Cửa sổ nhìn ra 1 công viên với 1 cái hồ nhỏ xinh xắn. Vịt, ngỗng đùa giỡn trên mặt hồ trong khi bọn trẻ thả những chiếc thuyền giấy. Những cặp tình nhân tay trong tay nhau đi dạo giữa ngàn hoa và ráng chiều rực rỡ. Những cây cổ thụ sum suê tỏa bóng mát, và xa xa là đường chân trời của thành phố ẩn hiện. Khi người đàn ông bên cửa sổ mô tả bằng những chi tiết tinh tế, người kia có thể nhắm mắt và tưởng tượng ra cho riêng mình 1 bức tranh sống động. Một chiều, người đàn ông bên cửa sổ mô tả 1 đoàn diễu hành đi ngang qua. Dù không nghe được tiếng nhạc, người kia vẫn như nhìn thấy được trong tưởng tượng qua lời kể của người bạn cùng phòng.
Ngày và đêm trôi dần….
Một sáng, khi mang nước đến phòng cho họ, cô y tá phát hiện người đàn ông bên cửa sổ đã qua đời êm ái trong giấc ngủ. Cô báo cho người nhà đến mang ông đi. Một ngày kia, người đàn ông còn lại yêu cầu được chuyển đến bên cạnh cửa sổ. Cô y ta đồng ý để ông được yên tĩnh một mình. Chậm chạp gắng sức, ông nhổm dậy bằng hai cùi chỏ và ngắm nhìn thế giới bên ngoài. Ông căng thẳng nhìn ra cửa sổ. Đối diện ông chỉ là một bức tường xám xịt.
Ông hỏi cô y tá điều gì khiến người bạn khốn khổ cùng phòng của ông đã mô tả cho ông nghe những điều tuyệt diệu qua cửa sổ.
Cô y tá cho biết rằng người đàn ông đó bị mù và thậm chí ông ta cũng không thấy được bức tường nữa. Cô nói: “Nhưng ông ta muốn khuyến khích ông can đảm lên”.
Có những hạnh phúc vô biên khi mang lại hạnh phúc cho người khác bất chấp hoàn cảnh riêng của mình. Nỗi khổ được chia sẻ sẽ vơi nửa, nhưng hạnh phúc được chia sẻ sẽ nhân đôi.
Bầu Bí Một Giàn
Tràm Cà Mau Người xưa viết rằng, tha hương mà gặp người quen biết cũ là một trong bốn cái thú lớn nhất trong đời. Tôi nghĩ, cần chi phải là quen biết cũ, tha hương mà gặp một đồng hương, cũng mừng đến lịm người đi chứ. Đó là trường hợp của anh Hy và tôi, khi gặp nhau trong cái thành phố Morris nhỏ bé, có dân số bảy ngàn người nầy, vào năm 1981. Tôi vì cơm áo, mà trôi dạt đến đây, gặp anh Hy. Việt Nam trong thành phố nhỏ hiền hòa nầy. Không quen biết trước, mà chúng tôi quý và thân thiết nhau còn hơn cả anh em ruột thịt. Gia đình anh Hy có năm người, bà mẹ già, hai vợ chồng anh và hai đứa con nhỏ. Lần đầu tiên gặp chúng tôi, bà cụ mẹ anh Hy cầm tay vợ tôi mà mắt rưng rưng vì mừng, bà cứ vuốt ve lưng bàn tay vợ tôi mãi. Vợ tôi thân thiết ngồi ép sát vào bà.
Bà cười nói sung sướng, như vợ tôi là đứa con gái của bà thất lạc nhiều năm mới tìm lại được. Gặp người đồng hương là sung sướng thế đó. Chị vợ anh Hy thì không dấu được niềm vui, cười nói tíu tít, và nhìn hai vợ chồng tôi với ánh mắt đầy thiện cảm. Anh Hy hiền lành, ít nói, nhưng nụ cười trên môi nở mãi không tàn. Hai đứa con chưa biết gì, chạy nhảy, reo hò. Gia đình anh Hy sung sướng, chúng tôi cũng hân hoan mừng.
Một buổi tối, tôi đi làm về, được điện thoại của anh Hy, anh hớn hở báo cho tôi biết rằng, sắp có một gia đình Việt Nam tị nạn đến thành phố nầy. Giọng anh vui mừng ríu rít. Ông bà người Mỹ bảo trợ mới thông báo cho anh biết. Ông bà muốn anh xếp đặt thì giờ, để cùng mấy người trong họ đạo đi đón người mới đến, vào thứ tư tuần tới. Tôi vội vã báo tin mừng cho vợ, và trong lòng nghe lâng lâng vui. Có thêm càng đông đồng hương, càng đở buồn, và thỉnh thoảng qua lại chuyện trò cũng bớt cô đơn nơi quê người. Vợ tôi bàn thêm, nếu thuận tiện, thì chúng tôi cùng đi đón gia đình Việt Nam tị nạn nầy cho vui, và tỏ cái tình thân thiết lúc ban đầu.
Suốt trong tuần, vợ anh Hy và vợ tôi soạn nồi niêu, chén bát, ly tách, muỗng đủa, chia bớt các thứ cần dùng trong nhà, để dành mà tặng cho gia đình mới đến. Mỗi khi bà Mỹ bảo trợ tiết lộ một tin tức gì về người sắp đến, chị vợ anh Hy vội vã điện thoại báo cho chúng tôi biết ngay.
Máy bay sẽ chở gia đình người tị nạn đến phi trường Chicago vào hôm thứ tư, lúc mười một giờ đêm. Hôm đó anh Hy bị cảm mạo, lên cơn sốt, thân nhiệt nóng hơn một trăm độ F. Hai ông bà người Mỹ bảo trợ kêu điện thoại cho tôi lúc bảy giờ tối, khi tôi mới đi làm việc về. Họ yêu cầu tôi thay anh Hy, đi cùng họ, để đón người tị nạn mới tới. Bỏ tắm rửa, tôi ăn vội vã, để khởi hành lúc tám giờ rưỡi, phòng khi đường sá có gì bất trắc. Ông Mỹ bảo trợ tên là Gary có vợ là bà Eva, cả hai ghé nhà tôi để hướng dẫn và chỉ đường trên bản đồ. Tôi cũng run lắm, vì chưa bao giờ đi đến phi trường nầy, và thấy cái bản đồ ghi chằng chịt đường sá đan nhau, như cái nùi chỉ rối. Ông bảo tôi chạy bám sát xe ông, nhưng chưa được mười phút thì đã lạc nhau. Khi cách phi trường ba mươi dặm, thì xa lộ bị tắc nghẽn, vì chiếc xe vận tải hàng hóa bị lật, gây tai nạn dính chùm. Xa lộ bị đóng hoàn toàn. Khi vào đến phi trường, tôi bị lạc đường hai lần, chạy quanh mãi mới vào được nhà đậu
xe. Ông bà Gary cũng đi lạc, và đến sau tôi. Tuyết rơi quá dày, nên máy bay cũng đến trể. Ông Gary cầm cái bảng lớn, đề tên người chủ gia đình là Phan Ly, đưa lên cao trước cỗng đi ra của hành khách. Gặp dáng người Á Đông nào, tôi cũng chăm chắm dòm kỹ. Cho đến khi hành khách
không còn ai cả, thì ông bà Gary bối rối. Ông chạy đi hỏi hãng máy bay, họ bay xác nhận là có gia đình anh Phàn trên chuyến máy bay vừa rồi. Hai vợ chồng ông Gary và tôi, cầm cái bảng đề tên anh Phàn đi quanh các ghế chờ trên phi trường, thấy gia đình Á Đông nào, cũng chìa cái bảng tên ra trước mặt họ, để dò hỏi. Đi quanh ba vòng, mà không tìm được, ông Gary nhờ loa kêu, hỏi gia đình anh Phàn ở đâu, cho biết để người bảo trợ đón về. Cũng vô hiệu. Đi tìm gia đình anh Phàn cả
tiếng đồng hồ mà không kết quả, cả ba người chúng tôi ngồi xuống ghế nghỉ một chốc với lòng vô cùng chán nãn. Tôi bảo hai ông bà Gary ngồi chờ, tôi cầm cái bảng tên đi tìm một lần nữa. Tôi đi dò tìm tên từng gia đình trên cái túi ni lông mà họ xách trên tay, của cơ quan ICM phát, khi họ cho mượn tiền máy bay. Tôi đến gần một anh mang cà vạt đỏ, áo vét ba mảnh bên trong, bên ngoài khoác áo bành tô bằng dạ. Tôi nhìn tận cái túi, và thấy loáng thoáng tên Phàn, tôi đánh bạo hỏi:
"Anh là Phàn phải không"
"Vâng. Tôi tên là Phàn, anh là ai?"
"Tôi đi theo hai ông bà bảo trợ người Mỹ đến đón gia đình anh. Sao nãy giờ chúng tôi đi qua đây nhiều lần, đưa cái bảng tên anh ra, mà anh lại ngồi im?" - Tôi nói với giọng hơi mất kiên nhẫn.
Anh Phàn chỉ vào cái bảng và nói:
"Cái bảng nầy ấy à? Thấy ông Mỹ chìa ra trước mặt tôi ba lần, nhưng đâu phải tên tôi mà nhận. Tên ông Ly nào đó mà. Tôi là Phàn."
Tôi cười, nói nhỏ nhẹ:
"Đây là tên anh . Theo lối Mỹ, ghi tên trước, họ sau."
"Ngược ngạo thế thì 'bố giời' mới biết được".
"Thế thì loa kêu tên anh nhiều lần, sao anh cũng chẵng trả lời?"
"Nghe được cái quái gì đâu?"
Tôi chợt nghĩ ra, nếu người ta có gọi tên tôi trên loa, chưa chắc tôi đã nghe kịp, huống chi anh Phàn là người mới đến. Tôi quay lại báo tin cho hai ông bà Gary, và giải thích tại sao không tìm ra. Ông bà Gary mừng, và tôi đọc được sự kiên nhẫn, chịu đựng của hai ông bà, khi đêm khuya không ngủ, tuyết đổ, lái xe cả trăm đặm, đi đón một gia đình ngoại quốc, khác màu da, khác chủng tộc, không hề bà con, không hề quen biết. Và trước đó nữa, phải làm bao nhiêu giấy tờ, mất bao nhiêu bao nhiêu thì giờ, tốn kém đủ thứ. Chỉ vì trái tim biết thương người mà thôi.
Gia đình anh Phàn có hai vợ chồng, năm đứa con, đứa đầu mười bốn tuổi, đứa út còn ẵm trên tay. Anh Phàn người da sậm, gầy ốm, cái má thóp, răng cỏ đen điu vì khói thuốc. Vợ anh thấp, trắng hơn, có bề ngang. Chị mang váy đầm dạ xám, áo vét, ngoài khoác áo bành tô cứng ngắt. Gia đình anh còn có một bà già mù, mang váy nâu, đầu quấn khăn mỏ quạ, răng nhuộm đen, trên mắt có che miếng vải đen, gợi tôi nhớ rõ hình vẽ trong cuốn sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư mà ngày còn bé tôi hay đọc. Bà cụ y hệt cái hình vẽ bà già mù trong sách. Trang phục của vợ chồng anh Phàn có vẽ sang trọng hơn cả ông bà bảo trợ nhiều, nhưng cũng không dấu được vẻ quê mùa.
Hành lý được chất lên cao trên bốn chiếc xe đẩy. Ông Gary , tôi, vợ anh Phàn, và cháu bé gái mười bốn tuổi, mỗi người đẩy một chiếc xe. Anh Phàn đi tay không thong thả, rút thuốc lá châm mồi và hút trong hành lang, nhả khói mù làm bà Eva ho sặc. ( Dạo nầy, chưa có luật gắt gao cấm hút thuốc nơi công cộng). Bà Eva đi dang xa ra khỏi anh Phàn, và ghé lại chiếc xe của cháu bé gái, phụ đẩy. Thấy đi mãi trong hành lang dài, anh Phàn hất đầu hỏi tôi:
"Sao không kêu tài xế lái xe vào gần đây, mà phải đi xa quá vậy?"
Tôi cười và trả lời:
"Tài xế? Tài xế là ông Gary và tôi đây. Xe đậu trong ga-ra là nơi gần nhất rồi, không có nơi nào gần hơn nữa".
Anh Phàn hỏi tôi:
"Anh làm tài xế cho ông bà Mỹ nầy? Lương trả có khá không?"
"Không, tôi làm việc cho công ty tư vấn. Ông bà Mỹ nầy nhờ tôi đi đón, phụ đưa gia đình anh về. Đường xa, anh có mệt lắm không?"
"Cũng mệt, nhưng chẵng can gì cả."
"Có lẽ anh nên đẩy xe giúp cho cháu bé thì hơn"- Tôi nói.
"Kệ nó, để nó làm việc cho quen"
Hành lý quá nhiều, hai chiếc xe hơi không đủ chở. May mắn ông Gary gặp người quen, ông gởi bạn mang về nhà, hẹn ngày sau sẽ đến lấy.
Vào ngày chủ nhật đầu tiên của anh chị Phàn trên đất Mỹ, chúng tôi tổ chức một bữa tiệc lớn để chào mừng và đãi đồng hương. Anh Hy và tôi, mỗi gia đình đóng bảy mươi lăm đồng làm chi phí. Chị Hy và vợ tôi trổ tài nấu ăn, rộn ràng nấu nướng từ sáng sớm tinh sương. Anh Hy kê thêm thùng giấy làm bàn, mượn thêm ghế của các gia đình bên cạnh. Chai rượu nho hồng đậm đặt trên bàn bên cạnh bình hoa giả. Anh Hy và tôi lái xe đến tận nhà anh Phàn đón tất cả mọi người, cả cháu bé còn bế trên tay.
Ba gia đình vui vẻ nhập tiệc. Anh Phàn kêu bà cụ già mù bằng dì. Tôi cảm phục cái tình gia đình của anh Phàn, khi đem bà dì mù lòa di vượt biển. Anh Phàn uống rượu rượu nho như uống nước ngọt, tu một hơi hết nữa li lớn. Anh nói:
"Rượu nầy nhạt lắm. Có đế trắng hoặc rượu Tây mới đã miệng.
Anh Hy nghe vậy, vào bên trong lục tủ, lôi ra nữa chai Vodka, rót vào ly anh Phàn. Anh Phàn uống một hớp nói:
"Cái nầy mới thật là rượu."
Khi đã ngà ngà, anh Phàn hăng say kể về cuộc chiến anh hùng chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Hạ máy bay Con Ma, bắt giặc lái. Máy bay của ta núp trong mây, chờ máy bay Mỹ đến thì bắn hạ rụng như sung chín. Anh kể công ơn bác, đảng, văn minh tiên tiến. Những chuyện nầy, tôi đã nghe nhiều lần khi còn ở bên nhà. Chị vợ anh Hy giận, nói lớn, hỏi sao anh không ở lại với bác đảng anh hùng của anh, mà lại đi qua Mỹ làm chi. Anh trả lời là sống với bọn đó không được, sống không nỗi, đời sống thua con chó, khoai sắn còn không có mà ăn, chứ đừng nói đến cơm.
Khi vợ anh Phàn khoe cái hay của ông chồng, chị nói:
"Ông nhà tôi thế chứ khảnh ăn lắm. Chỉ thích ăn quà, chứ không thích ăn cơm."
Chị vợ anh Hy nói:
"Sống với bác đảng, đói cho rã họng ra, ở đó mà thích quà không thích cơm. Nói làm sao mà tôi không hiểu chi cả."
Mỗi tuần, các bà trong hội nhà thờ đến đưa vợ anh Phàn đi chợ hai lần. Họ nhờ chị Hy đi theo để hướng dẫn và thông dịch. Mỗi lần đi chợ về, thì chị vợ anh Hy cũng kêu điện thoại cho vợ tôi để than vãn:
"Chị biết không, lần nào em xấu hổ muốn độn thổ quách. Chị ấy lựa những tảng thịt bò đắt tiền nhất, lấy hai ba tảng to tướng. Lựa các thức ăn ngon nhất, đắt nhất trong chợ, chất đầy một xe cao nghệu. Em đoan chắc với chị rằng, cái bà bảo trợ chưa bao giờ dàm đụng đến các thứ thịt đắt tiền đó. Bà bảo trợ cứ chỉ vào thịt gà, thịt heo, mà chị ấy lờ đi. Em thấy cái mặt bà bảo trợ nhăn như cái bị rách. Khi trả tiền, mặt mấy bà tái ngắt vì số tiền phải trả."
Có lần vợ anh Hy khuyên vợ anh Phàn rằng, nên chọn các thức ăn có giá trung bình hoặc rẽ mà mua, vì chính ngay các bà bảo trợ, cũng rất ít khi dám ăn các thứ đắt tiền đó. Vợ anh Phàn lắc đầu mà nói rằng, mình không trả tiền, tội gì không lựa món ngon mà ăn. Từ đó, vợ anh Hy sinh ra có thành kiến với gia đình anh Phàn.
Các ông bà bảo trợ trong nhà thờ rất chu đáo. Mua cho các cháu bé áo quần, giày vớ, áo lót chống lạnh, áo khoác đi tuyết, sách vở, viết chì, viết màu, túi xách mang lưng để đi học, ghi tên cho các cháu đến trường. Khi họ đến thông báo cho gia đình anh Phàn, để hẹn ngày đem các cháu đến trường, thì anh Phàn phản đối, nhất quyết không cho cháu gái đầu mười bốn tuổi đi học. Anh lấy lý do là nhà đông con dại, cháu nầy đã lớn, cần ở nhà giữ em, làm việc vặt, giúp mẹ nấu nướng. Ba bà bảo trợ cố gắng giải thích, qua sự thông dịch lỏm bỏm của vợ anh Hy, rằng luật pháp ở Mỹ bắt buộc trẻ con dưới mười tám tuổi phải đi học. Nếu không được đi học, thì cha mẹ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Chị vợ anh Hy cũng chỉ hiểu lơ mơ lời các bà, và thông dịch cho anh Phàn. Anh Phàn cứ lắc đầu, nhất quyết không chấp nhận lời khẩn cầu của các bà Mỹ, cho cháu lớn đi học. Các bà cứ thuyết phục mãi làm anh Phàn nỗi giận nói gằn với chị vợ anh Hy :
"Con của tôi sinh ra, tôi muốn cho nó đi học hay không là quyền của tôi. Sao các bà ấy cứ muốn xía vào chuyện riêng của chúng tôi mãi thế."
"Pháp luật bắt buộc cho trẻ con đi học. Không phải các bà muốn đâu"
"Pháp luật nào mà lạ thế? Tùy hoàn cảnh gia đình mỗi người, mà cho con đi học. Nhà nước nào mà can thiệp vào? Đây là xứ tự do mà."
"Đúng, xứ tự do, nhưng không phải cha mẹ muốn làm gì thì làm. Pháp luật bảo vệ con trẻ dưới tuổi trưởng thành."
"Thôi, chị đừng nói nữa, tôi đã nhất quyết rồi. Tôi đã có phương án riêng cho gia đình tôi. Vô ích. Chị đừng tuyên truyền tôi nửa."
Vợ anh Hy tức cành hông, muốn khóc vì không phá vỡ được cái vỏ cứng rắn của anh Phàn. Chị cùng ba bà Mỹ chán nản ra về. Tối hôm đó, bà Eva điện thoại cho tôi, nhờ giải thích cho anh Phàn hiểu luật pháp Mỹ .
Tôi chưa kịp kêu cho anh Phàn để giải thích, thì điện thoại reo. Anh Phàn ở đầu dây bên kia. Anh than phiền là các bà Mỹ, và vợ anh Hy cứ ép anh, buộc phải cho đứa con gái đầu đi học. Anh nói là họ làm áp lực anh, họ vô lý. Còn bày đặt ra là luật lệ bắt buộc để dọa anh. Nghe giọng nói của anh, tôi cũng phải chùn lại, vì biết rất khó thuyết phục anh trong lúc nầy. Tôi chỉ ừ è cho qua chuyện, và giả vờ theo phe anh, mà nói :
"Anh nói đúng, mỗi gia đình có hoàn cảnh riêng, giải quyết theo cách riêng. Không ai có quyền ép ai cả. Về luật lệ xứ nầy, thì tôi cũng không được rõ lắm. Hay là anh thử kêu điện thoại qua Oklahoma hỏi những người anh quen biết từ ngoài Bắc, mà họ đã đến xứ nầy từ lâu rồi, để biết thêm cho rõ. Biết chắc luật lệ, mà thi hành. Không ai có quyền ép mình theo ý họ, nhưng mình cũng không nên làm trái luật. Có gì thì anh cho tôi biết với."
Không biết anh có kêu điện thoại cho người quen ở Oklahoma hay không, nhưng sau cùng, anh Phàn cũng phải nhượng bộ yêu sách của nhà thờ, để cho cháu gái mười bốn tuổi đi học. Anh nói rằng : "Thôi, thì tôi cũng tạm thời lui một bước, mình mới đến đây mà căng quá cũng không nên. "
Các ông bà bảo trợ để anh chị Phàn nghỉ ngơi cho hoàn hồn trong hai tháng. Trời tuyết đổ bên ngoài, trong nhà đóng cửa kín mít, lò sưởi mở tối đa, anh chị và bà cụ bó gối ngồi trên ghế bành . Cái máy truyền hình nhấp nhem, nói tiếng Mỹ ồn ào. Anh Phàn bảo rằng, không đi tù, mà cũng giống như bị giam lỏng, bị quản chế. Ra ngoài thì trời lạnh, tuyết ngập, đi gần cũng không biết đi đâu, đi xa thì không có xe cộ.
Khi hội nhà thờ muốn kiếm việc cho anh chị làm, thì anh gạt ngang. Anh nói với ông bà bảo trợ, qua thông dịch của vợ tôi:
"Chưa biết nghe, biết nói chi cả chưa thể đi làm được."
Bà bảo trợ thuyết phục:
"Công việc cần làm, không cần nói, cũng không cần nghe."
"Khi nào chúng tôi nói và nghe giỏi như các bà, chúng tôi sẽ đi làm việc. Gấp làm chi. Tôi cần đi học tiếng Anh cho giỏi."
Vợ tôi bảo rằng, dù anh học thêm năm ba chục năm nữa, cũng không thể nói và nghe bằng họ được. Đi làm việc, chỉ cần cố gắng làm. Còn nghe và nói, thì ai cũng lơ mơ, nghe một phần, đoán một phần. Mình không lớn lên tại Mỹ, thì hiếm hoi lắm mới nghe và nói giỏi tiếng Mỹ. Phải vừa làm, vừa học. Nhưng anh Phàn nhất quyết rằng, chưa nghe, chưa nói giỏi thì chưa chịu đi làm. Nghe vậy, mấy bà trong họ đạo, ngày nào cũng thay phiên nhau đến nhà anh Phàn dạy tiếng Mỹ. Mỗi ngày dạy bốn giờ liên tiếp. Các ông bà Mỹ tin tưởng rằng, trong vòng ít tháng, thì cả nhà sẽ giỏi tiếng Mỹ, không giỏi bằng họ, thì cũng một tám một mười. Trong những buổi học tiếng Mỹ, anh Phàn và vợ thấy buồn ngủ khủng khiếp, cứ rán chống mắt lên, mà cái đầu cứ gục lia lịa. Anh chị uống trà đậm chống cơn buồn ngủ cũng không hiệu quả. Anh chị thấy những buổi học nầy, như cực hình, như tra tấn, và nản lòng vô cùng.
Học được phút trước, thì phút sau quên béng đi. Không nhớ gì cả. Anh chị kết luận, là cái óc của anh chị đã hư rồi, không thể học được gì nữa. Sau một tháng dạy liên tục, các bà Mỹ cũng nản lòng, bỏ lớp dần dần, và không đến dạy nữa. Kết quả vượt bực. Anh Phàn thì chỉ ấp úng
nói được hai chữ "yes" và "no", vợ anh giỏi hơn, nói được rất ngọng thêm chữ "thank you". Vợ tôi cho rằng, các bà Mỹ không có phương pháp sư phạm, nên dạy không kết quả.
Từ đó, anh Phàn mới chấp nhận là không thể học nói học nghe cho giỏi bằng các ông bà Mỹ được, và anh chị cắn răng để cho nhà thờ thu xếp việc làm cho anh chị.
Mỗi buổi sáng tinh sương, anh Hy đến chở anh Phàn đi làm, buổi chiều chở về tận nhà. Có những buổi chiều, khi tan sở, xe anh Hy là một đống tuyết khổng lồ, anh phải vất vả đào tuyết moi xe ra. Trong khi anh Hy quần thảo với đống tuyết, với nước mãng nước đá đông cứng trên kiếng xe, thì anh Phàn đứng hút thuốc lạnh lùng nhìn. Anh Hy bất bình, nhưng không nói. Một lần, mệt quá, anh Hy không nín được, quay qua hỏi anh Phàn:
"Anh không giúp tôi một tay dọn tuyết cho mau mà ra về?"
"Xe anh chứ có phải xe tôi đâu!"
"Nhưng... anh có đi trên xe nầy không?"
"Anh lái xe mà, đâu phải việc của tôi"
Anh Hy giận lắm, im lặng, và không nói với anh Phàn trong nhiều ngày liên tiếp. Anh Hy nói với tôi rằng, vì đã lỡ nhận lời gởi gắm của bà Mỹ bảo trợ, nếu không, thì anh chẵng chở anh Phàn đi làm nữa. Tôi an ủi anh Hy, khuyên anh đừng giận anh Phàn, vì đồng hương còn có ai đâu, giận nhau nữa thì còn ai. Nhiều khi anh Phàn cự nự anh Hy vì đã đến đón sớm hơn giờ quy định. Những khi nầy, anh Phàn rề rà cho anh Hy phải ngồi chờ thật lâu trong xe dưới tuyết đổ. Có lần anh Phàn ngần ngừ hỏi:
"Tôi hỏi thật, anh đừng dấu nhé. Nhà thờ trả cho anh mỗi tháng bao nhiêu, để anh đưa đón tôi đi làm ?"
Anh Hy nghe mà buồn cười, hỏi lại:
"Anh hỏi làm chi vậy?"
"Hỏi cho biết bao nhiêu, nếu số tiền đó khá, thì tôi xin lảnh tiền, và kiếm chiếc xe đạp đi làm cũng được."
"Không có xu nào cả. Tôi chở anh miễn phí, vì anh là đồng hương, và vì tôi cũng đã từng qua thời kỳ mới đến định cư như anh. Đáng ra anh phải chia tiền xăng, tiền hao mòn xe với tôi mới phải lẽ."
"Tôi không tin."
"Không tin thì anh thử hỏi mấy ông bà bảo trợ xem."
Anh Phàn cười mũi:
"Có hỏi mấy ông bà Mỹ, thì vợ anh hay anh phiên dịch. Anh chị muốn nói chi mà không được. Thà đừng hỏi."
Anh Hy buồn lắm, nhưng không nỡ nói nặng lời, anh chỉ thở dài:
"Năm ba năm nữa, nếu nhớ lại chuyện nầy, anh sẽ biết rõ sự thực."
Mỗi ngày, có xe nhà trường đến tận nhà chở ba cháu bé đi học. Cháu lớn học ở trường xa hơn, hai cháu nhỏ học trường tiểu học gần nhà. Anh Phàn nói rằng, nhờ đấu tranh gay gắt với nhà thờ về vụ cho đứa con lớn đi học, mà nhà thờ phải nhượng bộ, bằng cách đem xe đón tận nhà, đưa luôn ba đứa đi học. Chị vợ anh Hy giải thích rằng, trẻ con ở thành phố nầy, em nào cũng được vậy, không riêng gì các cháu con anh Phàn. Anh Phàn không tin và chỉ cười ruồi đáp lại.
Mùa đông miền Trung Bắc nước Mỹ, như mọi ngày đông khác, tuyết đổ ngập đường trắng xóa. Xe cào và thổi tuyết hoạt động liên miên. Muối được rải ra những con đường chính cho xe chạy. Một cháu trai nhỏ con anh Phàn đang ngồi trong lớp học, bỗng đứng dậy ôm sách vở ra về. Cô giáo
cản lại. Hai bên trao đổi vài câu. Không ai hiểu ai. Cô giáo chỉ ra sân đầy tuyết trắng chất thành đống cao, như muốn nói cho em hiểu rằng không thể đi được, và dắt em về lại chỗ ngồi. Em rươm rướm nước mắt, và đứng dậy, nhất định ra về. Cản mãi không được, cô giáo kêu bà hiệu trưởng. Bà xuống lớp, khuyên bảo em. Hai bên cũng không hiểu nhau. Bà không thể để em bé bảy tuổi ra về một mình trong gió hú, trong tuyết cao chất đầy như thế. Bà cầm tay giữ em bé lại. Em khóc lớn. Hai bà giáo nhìn nhau thất vọng, không biết phải làm gì. Bỗng bà hiệu trưởng nhớ là em bé có con chị học trên nó hai lớp. Bà cho người đi kêu chị nó xuống. Con chị xuống gặp đứa em, nói vài câu. Xong, con chị nắm tay thằng em dẫn nó ra về. Hai bà giáo vội cản lại. Kéo hai em vào bên trong lớp. Cả hai đứa đều khóc ròng. Bà hiệu trưởng dẫn hai chị em đứa bé về phòng, và kêu điện thoại cho bà Mỹ trong gia đình bảo trợ, nhờ giúp đở. Bà bảo trợ vào trường ngay. Bà dắt hai chị em về lớp, hai đứa không chịu đi, mà nhất định kéo nhau ra sân, để đi bộ về nhà. Ba bốn cô giáo họp lại bàn cãi. Một hồi sau, bà bảo trợ theo yêu cầu của các cô giáo, chạy xe đến công ty anh Phàn đang làm, xin cho anh được tạm nghỉ, đến trường giải quyết việc học của hai cháu. Anh Hy phiên dịch cho anh Phàn biết, là hai cháu không chịu học, mà đòi đi bộ giữa mưa tuyết, để về nhà. Anh Phàn giận hầm hầm và nói với anh Hy : "Con cái mất dạy. Đề tôi đến cho chúng vài bạt tai, cho bớt biếng nhác."
Anh Hy vội vã níu anh Phàn lại, đặn dò: "Không được, đánh trẻ con thì cảnh sát còng tay đó . Đừng dại dột." Anh Phàn hất tay anh Hy ra, và chưa dứt cơn giận: "Vợ chồng anh được cái giỏi là hay hù họa tôi mà thôi. Con cái mà không đánh cho sợ, thì thành hư đốn. Dạy con từ thuỡ nên ba." Anh Hy biết khó thuyết phục anh Phàn, bèn nói vọng theo: "Bớt nóng giận. Đừng đánh con, tội nghiệp. Có chi thì từ tốn, dạy bảo." Anh Hy sợ anh Phàn bị cảnh sát còng tay. Khi xe đến trường, anh Phàn hùng hổ, xăm xăm đi theo bà Mỹ đến gặp hai đứa con. Hai đứa bé mặt xám ngắt, trên mắt còn ướt sũng lệ. Anh lớn giọng gằn hai đứa bé. Sau vài câu trao đổi giữa ba cha con, mặt anh Phàn dịu xuống, đến nắm tay hai đứa con, dắt chúng ra về. Tuyết ngập trời, tuyết cao nghệu, các bà giáo cản cha con anh lại không cho đi. Không ai cho anh dắt trẻ con đi trong mưa tuyết lạnh lẽo nầy. Anh kéo con đi, nhưng một ông giáo to lớn như hộ pháp đang giữ tay hai em bé lại. Các bà giáo đang vây quanh thì líu lường xôn xao. Anh Phàn nhìn đám thầy cô người Mỹ với ánh mắt tuyệt vọng, với nét mặt anh nhăn nhúm đầy đau khổ, anh vội cúi xuống, banh quần thằng bé ra, và òa khóc lớn. Cả ba cha con cùng khóc vang thảm thiết. Mùi thối tha bốc lên làm ngát mũi. Mấy ông bà giáo người
Mỹ cùng ồ lên một tiếng lớn, và cùng cười. Họ hiểu, em bé đã phóng uế ra cả quần. Em đã không biết nói sao để xin cô giáo đi ra phòng vệ sinh, và cũng không biết phòng vệ sinh ở đâu, rán sức cầm cự, và khi hết chịu nỗi, thì phóng ra quần.
Mỗi buổi chiều, sau khi anh Phàn đi làm về chừng một tiếng, thì có bà Mỹ đến chở vợ anh đi làm. Mấy ông bà Mỹ xin cho chị được chân rửa bát tại một khách sạn sang nhất trong tỉnh nhà. Khoảng mười giờ rưỡi đêm, thì mấy bà Mỹ trong họ đạo chia phiên nhau, lái xe trong tuyết lạnh, đến chở vợ anh Phàn về nhà. Mùa đông tỉnh lẻ, họ ngủ sớm, mười giờ đêm là đã say giấc, họ phải để đồng hồ báo thức. Vợ tôi thường biểu lộ sự cảm phục lòng tốt của các bà trong họ đạo. Khuya lạnh, ai mà không muốn thẳng giấc, phải thức dậy đội tuyết ra đi là một cực hình. Có nhiều đêm, vì lý do bất khả kháng, các bà kêu tôi, nhờ đến đón chị Phàn về. Thời đó, dù sáng phải dậy lúc năm giờ, để kịp năm giờ rưỡi khởi hành, đi làm, nhưng tôi vui vẻ nhận lời ngay, để cám ơn cái lòng tốt của các bà Mỹ, đã giúp cho người đồng hương của tôi. Có lần tôi bị cảm mạo, chóng mặt, mà không dám từ chối, sợ các bà cho là tôi không có lòng. Mỗi lần đi đón, thì tôi phải cào tuyết trên xe hơn mười lăm
phút, chờ máy nóng mới đi được. Bỡi thế, nên thường đến trể. Chi vợ anh Phàn giận, không vui, ngồi trên xe mà không nói một lời nào . Cả không một lời cám ơn, một lời chào khi được đón và khi về thấu nhà. Có lần chị nói :
"Nếu đón tôi, thì đừng đến trể. Ngồi chờ rất nản."
"Tôi được các bà Mỹ kêu, nhờ đi đón chị, thì tôi đi ngay. Phải mang áo, phải cào tuyết, phải chờ xe ấm máy, nên hơi trể, chị đừng buồn. Các bà người Mỹ tử tế quá, đêm nào cũng đi đón chị trong lạnh lẽo, mưa, tuyết."
"Tôi có nhờ các bà đâu. Họ bắt tôi phải đi làm việc đấy chứ. Hừ, tử tế!"
Tôi không buồn mà thương cho chị. Có lẽ anh chị Phàn hiểu lầm rất nhiều về lòng tốt của những người chung quanh.
Một hôm, anh chị Phàn mời vợ chồng tôi, và vợ chồng anh Hy đến nhà, để nhờ chúng tôi một việc quan trọng. Hỏi anh chuyện gì, anh nói sẽ cho biết sau. Anh Hy cười nói với tôi rằng, sao cái lối nói nầy giống hệt cách thức của công an nhà nước cọng sản hồi trước. Buổi chiều đi làm việc về, có "giấy mời" tối nay ra trụ sở công an, lý do "Cho biết sau". Cứ thế mà run, mà thắc mắc, không biết có chuyện gì, không biết có bị nhốt luôn hay không. Ra đi mà hồi hộp, mà dặn dò vợ con phải làm
gì để sinh sống, nếu bị nhốt tù. Chúng tôi rủ nhau cùng qua nhà anh Phàn mà không phải hồi hộp, không phải lo lắng. Anh Chị Phàn cùng bà cụ đã ngồi sẵn trong phòng khách. Họ rót nước trà mời chúng tôi, xem bộ trịnh trọng, không lạt lẽo như thường ngày. Sau một hồi thăm hỏi xả giao, anh Phàn tằng hắng nói:
"Tôi mời các anh chị đến đây, vì không còn ai có thể giúp cho chúng tôi được trong hoàn cảnh câm điếc này. Nhà thờ đã ăn chận của gia đình
tôi mỗi tháng hơn hai ngàn đô. Tôi van xin các anh chị, nói với các ông, các bà trong nhà thờ, cho chúng tôi lại số tiền đó, để tôi làm vốn, ra làm ăn buôn bán, kiếm sống, chứ đi làm cu-li cho hãng sửa tàu, cho khách sạn, thì biết bao giờ mới ngóc đầu lên nỗi? Chúng tôi van lạy các anh chị, xin giúp chúng tôi, và vì thương các cháu nhỏ ..."
Cả bốn người chúng tôi bàng hoàng, không tin vào lổ tai mình. Chị vợ anh Hy ấp úng hỏi lại:
"Nhà thờ ăn chận tiền của anh chị? Mỗi tháng hơn hai ngàn ? Sao? Anh nói rõ hơn được không?"
Anh Phàn gằn giọng, nói lớn, rõ ràng:
"Đừng vờ vĩnh. Gia đình tôi có tám người, nhà nước Mỹ cấp cho, ít nhất cũng trên ba ngàn bạc mỗi tháng. Cứ cho tiền chợ, tiền nhà mà mấy ông bà bảo trợ chi cho chúng tôi, chừng mấy trăm là cùng, thì cũng còn hơn hai ngàn đồng mỗi tháng, chứ có ít đâu. Nếu không ăn chận, thì tiền đó để đâu, vào túi ai?"
Chị vợ anh Hy tái mặt, hỏi:
"Ai nói với anh điều đó? "
"Chúng tôi biết rõ lắm, không cần ai nói cả."
Anh Hy ôn tồn giải thích rằng, anh cũng đã đến đây trước. Anh rõ thủ tục. Ban đầu hội nhà thờ thuê giúp nhà, cho tiền chợ, mua cho đủ các thứ cần dùng hàng tháng. Rồi họ kiếm việc cho mình làm. Khi đã có lương tiền, thì mình phải tự túc lấy. Đó là chính sách của nhà thờ."
Mặt anh chị Phàn và cả cụ già đều sậm lại. Giọng chị Phàn chua ngoét:
"Chúng tôi đâu có ngu. Tôi biết rõ hai ông bà Hy nầy là những con cò mồi của nhà thờ. Biết rõ đến mười mươi."
Anh Hy run lên vì giận, chị Hy thì mặt đỏ bừng, thét lên the thé:
"Làm cò mồi để được cái gì? Ăn nói như những kẻ vô ân bạc nghĩa. Nói như vậy mà không biết tự xấu hổ sao? Giao thiệp với hạng người nầy thêm xấu hổ, thêm nhục nhã cho cái giống nòi mình mà thôi."
Chị Hy kéo anh chồng đứng dậy, giận dữ ra về. Anh Hy quay lại nói với anh Phàn:
"Tuần tới, ông tự kiếm lấy phương tiện mà đi làm. Tôi không muốn làm mọi cho ông nữa."
Vợ tôi cũng giận và muốn ra về theo vợ chồng anh Hy. Tôi làm dấu, bảo ngồi yên. Anh Phàn phân trần tiếp:
"Chuyện trợ cấp cho người mới định cư là luật của nhà nước Mỹ. Rõ ràng, không ai chối được. Chúng tôi đã biết rõ từ hồi còn ở trại tị nạn Hồng Kông. Nay nhà thờ ăn chận tiền, rõ ràng thế, mà còn chối loanh quanh."
Tôi thấy tội nghiệp cho vợ chồng anh Phàn, vì hiểu lầm, nên có nhiều suy nghĩ và hành động đáng tiếc. Tôi cũng không dám nói thẳng là anh đã hiểu lầm luật lệ. Biết là khó mà giải thích cho gia đình anh Phàn hiểu, không chừng càng giải thích, thì càng gây thêm nhiều ngộ nhận khác. Tôi ngồi im một lúc suy nghĩ. Anh Phàn nói tiếp :
"Bây giờ chỉ còn hai anh chị. Tôi nhờ anh chị 'báo cáo' lại cho nhà thờ những đòi hỏi chính đáng của gia đình chúng tôi. Chúng tôi kiên quyết đấu tranh cho đến thắng lợi cuối cùng."
Vợ tôi nghe cái giọng điệu giống hệt những anh cán bộ trong các buổi học tập chính trị bên nhà, thì phì cười, hết giận. Vợ tôi nói:
"Xem bộ mấy ông mấy bà trong họ đạo nầy dư công rỗi nghề gớm nhỉ. Mình ở xa ngàn dặm, không bà con, không quen biết, không ân nghĩa, không nợ nần, lại nai lưng ra bảo lảnh mình vào đây, cho nhà ở, cho cơm ăn, cho áo mặc, lo cho đủ thứ. Lại bị ghét bỏ, thật đáng đời. Của nợ giữa đường mà mang cõng lên lưng. Anh chị xem, không biết họ bảo lảnh cho mình, thì được lợi lộc gì nhĩ ? "
Hai vợ chồng anh Phàn cùng nói lớn một lúc, với giọng chắc nịch:
"Để lập thành tích chứ để làm gì. Ai mà không biết."
Vợ tôi bật cười ha hả và nói tiếp:
"Đúng. Lập thành tích dâng lên đảng !"
Tôi ôn tồn bảo vợ tôi đừng đùa nghịch. Tôi hứa sẽ cố gắng giúp hai anh chị Phàn và gia đình. Chữ hứa của tôi, trong thâm tâm, là hứa cố gắng giúp anh chị giải tỏa những hiểu lầm đáng tiếc, nhưng có lẽ anh chị Phàn tưởng là tôi sẽ đến nhà thờ đòi tiền "ăn quỵt" giúp cho anh chị.
Chúng tôi về, ghé lại nhà anh chị Hy. Anh chị Hy chưa nguôi giận. Chị vợ anh Hy nói:
"Chúng nó là thứ vô ân bạc nghĩa, không biết đạo lý làm người. Khi nào cũng ngoác miệng ra nói lời dóc lác, đao to búa lớn, nào là đấu tranh, nào là thắng lợi, kiên quyết. Nghe mà ngứa lỗ tai, chịu không nỗi."
Vợ tôi nói:
"Họ còn cho rằng, nhà thờ muốn lập thành tích nên bảo lảnh họ đến đây."
Anh Hy phì cười, nói:
"Mấy ông bà trong họ đạo mà nghe câu nầy, chắc tức mà hộc máu chết hết không còn một mống. Thôi, anh chị cũng nên tránh xa gia đình anh Phàn, để tránh bực mình và rắc rối về sau. Những hạng người nầy, không chơi được."
Tôi nói:
"Thôi, anh chị bớt giận. Tất cả cũng do hiểu lầm. Người ngoài, không cùng màu da, không cùng dòng giống, mà họ còn tận tình giúp đở. Mình không giúp nhau, thì làm sao cho lòng yên ổn được."
"Nhưng họ nói cái giọng khó nghe của 'bọn dân tộc anh hùng', ngứa tai chịu không nỗi."
Tôi dịu giọng:
"Họ cũng là nạn nhân dài hạn của chế độ. Họ còn đáng thương hơn chúng ta nữa, vì chịu đã chịu đựng chế độ lâu dài hơn hai mươi mấy năm. Nếu chúng ta sống trong hoàn cảnh đó, được giáo dục theo lối đó, thì không chừng chúng ta tệ hại hơn anh chị Phàn bây giờ. Anh chị đừng buồn nữa.
Thứ hai nầy, anh cứ đến chở anh Phàn đi làm như thường nhé. Chúng ta không thương nhau, thì ai thương chúng ta được?"
Anh Hy im lặng. Chúng tôi ra về. Không biết nghĩ sao, vào tối chủ nhật, anh Hy nhờ tôi điện thoại báo cho anh Phàn biết là sáng thứ hai, sẽ đến đón anh Phàn đi làm như thường lệ. Tôi nghe mà mừng. Nhưng anh Hy và anh Phàn vẫn còn buồn nhau. Cùng đi cùng về mà giữ im lặng, không nói một lời. Sau nầy, anh Phàn nói với tôi rằng: "Bố bảo, thằng Hy cũng không dám thôi đưa rước tôi đi làm. Nó còn phải rình mò, dò xét tôi, để báo cáo cho nhà thờ nữa chứ."
Mỗi sáng Chủ Nhật, các ông bà Mỹ đến chở toàn gia đình anh Phàn đi nhà thờ xem lễ. Với ý nghĩa làm ơn, làm phước, cứu vớt linh hồn của một gia đình ngoại đạo tội nghiệp, chưa biết đến danh Chúa Trời, đem ơn phước đến cho họ. Nhưng gia đình anh Phàn cắn răng chịu đi nhà thờ, là để làm ơn cho các ông bà Mỹ, làm họ vui lòng, may ra họ nghĩ lại mà trả lui số tiền họ đã ăn chận. Chứ đến nhà thờ, theo anh Phàn nói, chỉ nghe xi-lô xi-la không biết họ nói gì, buồn ngủ lắm, ngồi lâu mỏi
lưng, tê chân. Anh Phàn nói với tôi rằng: "Mấy ông bà Mỹ sang trọng, giàu có nầy, nhưng keo kiệt không ai bằng. Mỗi khi lễ xong, có người cầm cái vợt đi thu tiền, tôi thấy họ chỉ cúng vào vợt tờ bạc một đồng thôi. Để cho họ xấu hổ, nhục nhã, khi nào tôi cũng bỏ vào vợt mười đồng." Tôi chỉ cười, không dám có ý kiến.
Một hôm anh Phàn lội tuyết qua nhà tôi vào buổi tối, đem tặng một gói trà Tàu bèo nhèo mà anh đã mua từ Hồng Kông. Sau một vài câu chuyện vu vơ, anh lôi trong túi ra một xấp điện tín có mười bốn tờ, đưa cho tôi xem, và hỏi những món hàng ghi trong điện tín có thể mua ở đâu, làm sao tìm ra tiệm bán giá rẻ. Tôi lật từng trang điện tín từ Hãi Phòng, Hà Nội. Móng Cáy điện qua, do nhiều người khác nhau đánh đi, yêu cầu gởi những món đồ gia dụng như máy nghe nhạc, máy chụp hình, xe đạp đua, vải vóc, bột ngọt, thuốc trụ sinh và những món linh tinh khác nữa. Anh nói :
"Bên nhà tưởng tôi qua đây đi ăn cướp tiền của thiên hạ anh ạ. Tiền đâu mà đòi hỏi đủ thứ như thế nầy? Tôi cũng nhức đầu về mấy cái điện tín và thơ từ liệt kê dài lòng thòng các món hàng họ đòi hỏi. Điên lên được đấy chứ ."
Tôi an ủi anh:
"Bên nhà họ khổ quá, mình giúp đở được ít nhiều chi, thì giúp trong khả năng của mình. Anh lo buồn làm chi cho khổ tâm vô ích."
"Người ta tưởng qua đến Mỹ là hốt tiền thiên hạ như hốt lá vàng. Mỹ nó ngu cả hay sao? "
Tôi hứa khi nào rảnh, sẽ lái xe đưa anh lên Chicago, tìm các tiệm bán hàng cần thiết để anh dò hỏi giá cả. Anh hỏi vay tôi năm trăm đồng, có tiền lời mười phân, và sẽ hoàn trả lại khi lảnh được tiền trợ cấp. Tôi cười bảo anh:
"Để tôi bàn lại với vợ tôi, thuyết phục vợ cho anh vay. Vì hầu bao trong gia đình do các bà nắm giữ, và giữ chặt lắm. Mỗi ngày tôi phải ngữa tay xin tiền quà, tiền xăng. Và nếu có cho anh vay, thì cũng
không dám lấy lời. Ở Mỹ mà cho vay cắt cổ, thì cũng dễ vác chiếu ra tòa lắm."
"Tiền lời là do tôi đề xuất, và bằng lòng, chứ anh có ép tôi đâu? Anh tự quyết định cho tôi vay không được sao? Các anh yếu đuối quá, anh Hy cũng vậy, để cho vợ lấn lướt, qua mặt. "
Tôi cười, nói đùa:
"Đàn ông miền Nam chúng tôi không được dũng cảm như các anh. Mà khi ở trên đất Mỹ nữa , thì chúng tôi càng xìu như sợi bún thiu."
Làm việc được bốn tháng, anh Phàn bỏ việc mà không thông báo cho công ty, nên anh bị sa thải. Mấy người bảo trợ trong nhà thờ đến nhà anh tìm hiểu sự việc để giúp đở. Họ kêu vợ chồng anh chị Hy đi thông dịch, nhưng anh chị Hy từ chối. Họ đến nhờ vợ tôi. Nhóm nhà thờ gồm năm ông bà, đi hai xe. Họ hỏi lý do thôi việc. Anh Phàn lừng khừng đáp:
"Không muốn làm việc nữa, thì nghỉ."
"Thế anh đã kiếm ra việc làm khác chưa ?"
"Chưa"
"Không có việc làm, lấy tiền đâu chi tiêu, thuê nhà, ăn uống?"
"Tôi không biết!"
"Tại sao anh không muốn làm việc đó nữa? Có vấn đề gì không? "
"Không có vấn đề chi cả. "
"Anh có muốn nhà thờ tìm việc khác cho anh không?"
"Chưa muốn. Khoan đã."
Mấy ông bà trong nhà thờ lắc đầu, nhìn nhau, rồi nhìn anh Phàn với ánh mắt thương hại. Các ông bà hỏi, bây giờ anh muốn gì không? Anh nhờ vợ tôi nói, là muốn nhà thờ trả lại cho anh số tiền hơn hai mươi ngàn mà họ đang giữ giúp, để anh tính kế làm ăn. Vợ tôi tái mặt, không biết phải nói làm sao, để hội nhà thờ không bất bình. Ngập ngừng, vợ tôi nói trại ra rằng, anh Phàn tha thiết muốn biết những chi phí của nhà thờ đã chi tiêu cho anh, và ai đã đóng góp bao nhiêu, quỷ nhà thờ bao nhiêu, và nhà nước cho bao nhiêu, để anh tri ân họ. Các ông bà khoát tay, bảo là không cần thiết, đừng nghĩ đến, đừng thắc mắc. Vợ tôi năn nỉ, nói rằng, nếu không được biết những điều đó, thí anh Phàn cứ thắc mắc mãi, không yên tâm để làm ăn. Các ông bà cười sung sướng, thoải mái.
Cuộc đấu tranh kiên cường của anh Phàn gần thành công mà anh không biết. Khi nhà thờ thấy anh chị đều thôi việc, không chịu đi làm nữa, họ cũng quýnh lên, lo lắng lắm. Họ đạo cũng nghèo, tín hữu cũng không giàu có chi, không thể đài thọ dài ngày cho cái gia đình đông đảo nầy được. Các ông bà bảo trợ chịu thua, định ngày đem gia đình anh Phàn lên sở xã hội xin trợ cấp của quận hạt. Nhưng anh Phàn loan báo rằng, anh sẽ dời nhà về Oklahoma City. Cả họ đạo thở phào. Anh Phàn có nhiều bạn bè quen biết trong trại tị nạn cũ, họ đã định cư ở Oklahoma, và biết rành mạch cách xin trợ cấp xã hội.
Anh Phàn nhờ tôi mua vé máy bay cho cả gia đình về Oklahoma City, đồng thời dàn xếp xe cộ để chở anh chị ra phi trường. Ông Gary và bà Eve hứa thuê một chiếc xe có thùng sau lớn, để chở hành lý cồng kềnh của gia đình anh. Tôi và anh Hy, hai xe sẽ chở người trong gia đình. Anh Phàn nói nhỏ với tôi rằng, trước khi đi anh sẽ đốt căn nhà để trừ vào số tiền nhà thờ đã ăn quịt của anh. Ăn của ai thì được, ăn của anh thì nuốt không trôi đâu. Tôi can gián, và dọa anh rằng FBI của Mỹ giỏi
lắm, thế nào họ cũng điều tra ra. Và tội chi đi tù cho khổ thân, con cái không ai nuôi. Mình đến đây, đời sống còn dài, còn sức thì còn làm ra tiền. Vã lại, có đốt căn nhà, mình cũng không được đồng xu nào, chưa chắc đã hả được cái tức tối, mà mua thêm lo lắng vào thân. Lỡ cháy lan qua nhà lân cận, thì thêm tội nghiệp những người láng giềng tốt của anh. Anh nói rằng, nếu không đốt được nhà, thì trước giờ đi, anh sẽ phá cho tan tành, đập vỡ bồn cầu, nhà tắm, bẻ ống nước, phá tủ lạnh, đập bếp. Tôi cười bảo rằng, anh cứ lo đi trước, sau khi anh đến Oklahoma rồi, tôi sẽ thay anh làm các việc đó. Đừng làm sớm, mà họ giữ anh lại, không đi được, mất toi tiền máy bay.
Ngày anh Phàn ra phi trường, tôi và anh Hy xin nghỉ việc, thay phiên nhau đến nhà anh, lấy cớ là phụ soạn hành lý, nhưng thật tâm là để ngăn cản anh phá hoại căn nhà. Khi cả nhà lên xe hết, anh Hy chạy vào một vòng bên trong nhà, xem có gì hư hại không. Anh Hy ra xe và đưa
hai ngón tay lên làm một vòng tròn, cho tôi biết là mọi sự tốt đẹp. Tôi thở phào.
Trong khi chờ máy bay, anh Phàn nhờ tôi nói với ông Gary và bà Eva rằng, qua Oklahoma, anh sẽ gời tiền, mua vé máy bay, mời cả họ đạo của ông bà qua chơi, anh sẽ bao tiền săn ở, bao tất. Tôi dịch khác đi, nói là anh biết ơn hai ông bà lắm, và không bao giờ quên cái ơn bảo bọc lúc ban đầu nầy. Hai ông bà nghe xong cảm động, ôm chầm lấy anh chị mà nói cám ơn rối rít. Anh Phàn thì tưởng hai ông bà mừng vì được anh hứa cho vé máy bay, cả họ đạo sẽ được đi chơi.
Khi đưa gia đình anh ra máy bay, chúng tôi ôm nhau thân thiết, và mắt anh Phàn cũng rươm rướm, nói nhỏ với tôi, giọng run run rằng, thôi đừng phá căn nhà nữa. Tôi gật đầu.
Đưa gia đình anh Phàn đi rồi, anh Hy nói với tôi rằng: "Thế mà tôi cũng thấy buồn, trống trải, như mất mát một cái gì đó. Bây giờ chỉ cỏn hai gia đình mình trong thành phố nầy thôi.". Trong lòng tôi cũng thấy buồn.
****
Mười sáu năm sau, kể từ khi đưa gia đình anh Phàn về Oklahoma, tôi tình cờ gặp lại anh trong một tiệc cưới tại Houston, Texas. Anh nhận ra tôi, mà tôi không nhận ra anh. Vì bây giờ anh mập mạp, trắng hồng, ăn mặc chững chạc, không còn dáng quê mùa như xưa. Chị vợ anh thì sang trọng trong bộ áo kim tuyến lóng lánh, như cô ca sĩ. Anh ôm chầm lấy tôi, hỏi có còn nhớ ra anh là ai không. Anh nói: "Phàn đây, Phàn ở Morris, Illinois đây mà." Tôi cũng mừng vui gặp lại người quen biết
xưa. Anh xin chuyển bàn, để vợ chồng anh ngồi cạnh chúng tôi mà hàn huyên. Anh cho biết ở Oklahoma được hai năm, thì dọn về Houston, bây giờ cả hai vợ chồng đều làm việc cho một hãng sản xuất đồ nhựa. Suốt hơn mười mấy năm anh làm hai việc toàn thời gian, mỗi đêm chỉ ngủ năm
sáu giờ thôi. Ngày nghỉ thì đi sửa chửa nhà cửa, ống nước. Hai cháu gái lớn đã có gia đình. Cháu trai kế thì vừa tốt nghiệp đại học. Bây giờ anh chị Phàn có ba căn nhà, một căn để ở, hai căn cho thuê.
Tôi mừng cho anh. Anh nói với giọng thành thật:
"Hồi mới qua, chắc anh chị buồn chúng tôi lắm. Nhiều năm sau tôi còn ân hận, và xấu hổ vì chuyện xưa. Bị thông tin sai lạc, tôi hiểu lầm, làm nhiều chuyện lố lăng, kỳ cục, bậy bạ. Lại ăn nói ngang ngược. Tôi nhớ ơn anh chị, và cả vợ chồng anh Hy, chịu đựng được chúng tôi, mà không đấm cho vỡ mồm, hộc máu mũi. Càng lâu, tôi càng thấm thía cái câu ' Bầu bí một giàn' của anh Hy nói ngày xưa."
Chị vợ anh Phàn cười vui vẻ, nói tiếp:
"Ông nhà tôi thay đổi nhiều lắm rồi. Nhưng không bỏ được cái phét lác đã ăn sâu vào máu. Cứ một tấc thấu trời."
Chúng tôi cùng cười với nhau. Tôi nói đùa:
"Nếu phét lác mà không hại đến ai, thì cứ để anh phét lác cho sướng cái miệng. "
Anh Phàn ôm lấy vai tôi và lắc lắc, cười vui vẻ.
Tràm Cà Mau
Ví Dụ Ta yêu Nhau
Đoàn Thạch Biền
Lúc mới đặt chân đến Phan Rí lần đầu thú thật tôi đã muốn khóc. Tôi cứ tưởng thành phố này phải to lớn lắm vì nó có tên trên bản đồ Việt Nam đàng hoàng, không ngờ nó là một cái xã còn nhỏ hơn lòng bàn tay.
Chiếc xe đò tôi đi có từ hồi Pháp thuộc loang lổ vết sơn xanh đỏ, chạy một mình không nổi lại chất đầy những rổ cá lớn, cá bé trên mui và trong lòng xe, những rổ cá này nghe đâu bị kẹt đường nên phải trở về nguyên quán. Phải mất 3 giờ đồng hồ chiếc xe mới lết được từ Phan Thiết đến Phan Rí. Trên đoạn đường chỉ dài hơn 60 cây số. Vừa vào đến bến xe nằm ngay ở trung tâm con phố tôi vội xách valy bước xuống vì không chịu nổi mùi cá tanh nồng bốc lên khi xe đậu.
Đã sáu giờ chiều mà trời vẫn còn nắng gắt, thêm những ngọn gió thổi cát bụi bay mù khiến tôi nóng muốn điên người. Lấy khăn ra lau mồ hôi xong, tôi lững thững đi bộ dọc theo con đường trước mặt, nhìn lên tấm bảng một hiệu buôn, thấy đề Đại Lộ Trần Hưng Đạo mà buồn cười. Con đường chỉ rộng hơn một con hẻm ở Sài Gòn mà cũng xưng là Đại lộ. Địa chỉ tôi muốn đến: Công ty nước mắm Hoa Hồng số 3 Đại lộ Bạch Đằng. Cũng Đại lộ, không biết "đại lộ" đó lớn hơn "đại lộ" này được mấy phân. Đang lóng ngóng tìm một người hỏi thăm đường, tôi gặp một nữ sinh mặc quần áo trắng bước tới. Kinh nghiệm cho biết vào nhà hỏi bà già ra đường hỏi học trò nên tôi móc túi đưa mảnh giấy ghi địa chỉ cho cô bé.
- Em cho tôi hỏi thăm địa chỉ này ở đâu?
Cô bé mở to đôi mắt đen láy quan sát tôi từ đầu đến chân xem tôi có phải là người lạ không rồi mới cúi đọc tờ giấy. Trước khi đến đây tôi nghe người ta đồn rằng con gái xứ này hai mắt đều toét vì bị cát bụi thổi vào, nhưng nhìn kỹ cô bé đây tôi chẳng thấy mắt em toét tí nào mà trái lại còn trong sáng hơn mắt mèo nhiều, tôi không hiểu thiên hạ đồn sai hay cô bé là người xứ lạ đến đây như tôi?
- Ông mới đến đây lần đầu?
- Phải, nếu đến đây lần thứ hai thì tôi khỏi làm phiền em.
- Em cũng ở đường đó, vậy ông cứ đi theo em là đến nơi.
Em trả lại tờ giấy rồi ôm cặp đi trước, tôi vội xách valy đi nhanh cho ngang hàng với em. Cô bé dừng lại lắc đầu.
- Đừng. Ông hãy đi sau em vài bước, ông đi bên em thiên hạ sẽ đồn thế này thế nọ ngay.
- Ở đây thiên hạ thích bàn chuyện của người khác lắm sao?
- Vâng, chỗ nhỏ bé mà. Ông cảm phiền.
Tôi đành đứng lại đợi cô bé đi trước rồi mới lẽo đẽo xách va ly theo sau. Tức mình, tôi rủa thầm mẹ kiếp thiên hạ, chắc quý vị no cơm ấm cật, dư thì giờ nên thích bàn chuyện người khác còn đói như tôi thì bàn chuyện bao tử của chính mình mãi vẫn chưa xong. Đến một con hẻm lầy cát, hai bên là bờ tường cao thấy không có bóng dáng "thiên hạ" tôi vội bước lên đi cạnh cô bé trò chuyện.
- Đi một mình lủi thủi ở sau tôi thấy tủi thân quá.
- Tại sao vậy?
- Tôi có cảm tưởng người ở đây đã bạc đãi mình.
Cô bé cười:
- Vậy ông đến đây làm gì?
Tôi kể cho em nghe tôi là một quân nhân giải ngũ loại hạng hai đang thất nghiệp. Có một người bạn ở Sài Gòn giới thiệu tôi ra đây làm thư ký cho công ty nước mắm Hoa Hồng để sống qua ngày và tôi hy vọng người ta sẽ không từ chối.
- Em sợ ông không chịu nổi đâu.
- Làm thư ký có gì nặng nhọc mà hông chịu nổi?
- Không, em muốn nói mùi nước mắm kìa.
- Đó là mùi quốc hồn quốc túy người Việt nào sống ở ngoại quốc cũng nhớ nó, sao em lại nói là chịu không nổi.
- Rồi ông sẽ biết.
Đi thêm một lúc cô bé dẫn tôi đến bờ sông. Con sông rộng ở gần cửa biển đậu đầy ghe chài sơn màu sắc rực rỡ. Trên bờ người ta qua lại tấp nập và những nong mực được phơi đầy hai bên đường choán cả lối đi. Cô bé chỉ tôi một ngôi nhà lớn quét vôi vàng cách chỗ chúng tôi đứng một cột đèn.
- Đó là công ty Hoa Hồng. Em chúc ông may mắn.
Tôi thật cảm động nghe câu nói đó từ ngày thất nghiệp đến nay, chưa ai chúc tôi một lời may mắn nào. Tôi nhìn thẳng vào mắt cô bé.
- Cám ơn em, tôi tin người ta không nỡ từ chối một thương phế binh đói rách như tôi. Nhà em ở đâu có dịp tôi sẽ đến thăm?
Cô bé chỉ tay về một khu nhà lố nhố ở phía xa.
- Nhà em gần chợ cá kia kìa, chắc ông không nhìn thấy đâu. Nếu ông được làm việc ở công ty, em sẽ còn gặp ông vì thỉnh thoảng em vẫn đến đó nhận giấy giao hàng. Thôi, em xin chào ông.
Nhìn cô bé đi khuất vào đám người trên bờ, tôi mới lững thững xách va ly đến công ty. Phía trước nhà có một tấm bảng lớn hai bên vẽ hai bông hồng to ướng, tôi đi thẳng vào cửa và xin gặp ông giám đốc. Người lao công dẫn tôi đi vào một phòng nhỏ, tôi gặp một ông tóc bạc đang ngồi đọc nhật báo. Tôi cúi đầu chào ông và đưa lá thư giới thiệu việc làm do người cháu ruột ông ta viết.
Đọc thư xong ông hỏi tôi những giấy tờ cần thiết, tôi mở va ly lấy và đưa ông xem. Ông nói được rồi cậu sẽ ở luôn đây và bắt đầu làm việc từ ngày mai. Được việc làm tôi mừng rỡ nói cảm ơn ông. Ông nói không có gì tôi sẽ xem cậu như cháu tôi, rồi ông gọi người lao công vào căn dặn thu xếp nơi ăn chốn ở cho tôi.
Công ty chiếm một khu đất khá rộng, người lao công dẫn tôi đi quanh một vòng cho biết và chỉ cho tôi chỗ ngủ là một cái chái nhỏ lợp tôn ở gần nhà ông. Về cơm nước ông nói nếu cậu muốn ăn ở ngoài, ngày mai tôi sẽ dẫn đến một nơi nấu cơm tháng. Tôi nói nếu tiện nhờ bác nấu cho tôi ăn luôn khỏi phải đi xa. Ông nói nhà tôi ăn uống bết lắm sợ cậu nuốt không nổi. Tôi cười nói có rau có cháo để ăn là may rồi tôi đang thất nghiệp mà bác. Ông cười nói vậy thì được.
Công việc làm ở công ty tương đối nhàn hạ. Hàng ngày tôi đánh máy những hoá đơn giao hàng, nhận hàng, nhưng giấy tờ chứng nhận phân tích nước mắm đến các tỉnh khác. Phía sau công ty là nhà lều nước mắm của riêng ông giám đốc. Trong những thùng gỗ lớn người ta đổ cá vào đầy ướp muối rồi đợi ngày cá rã ra nhỏ giọt thành nước mắm. Mỗi lần vào lều kiểm soát các phu vợi nước mắm vào những thùng sắt nhỏ để chở đi bán tôi phải bôi dầu cù là vào mũi và phải châm thuốc hút liên miên. Hôm đầu nhìn người ta lấy xác mắm ra tôi phải chạy ra ngoài nôn ọe vì không chịu nổi mùi hôi kinh khủng từ xác mắm bốc ra. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao cô bé nói sợ tôi không chịu nổi mùi nước mắm. Nếu không vì cái bao tử mỗi gày đều đói chắc tôi đã xách va ly đi ngay sau lần nôn ọe đó.
Tôi lẩm cẩm nghĩ không hiểu tại sao các ông "hàm hộ" ở đây chẳng ông nào chịu lấy dấu hiệu nước mắm của mình là cá nục, cá thu, cá cơm, cá óc nóc... mà đi chọn những hình con thỏ, con gà, con én, hoa sen, hoa hồng...? Nếu những đôi tình nhân ở xa đều biết hoa hồng là dấu hiệu của công ty nước mắm lớn ở đây chắc họ sẽ không ham tặng người yêu một đóa hồng vì chẳng lẽ họ còn muốn tình yêu của họ sẽ mặn mòi và sực nước mắm?
Dù không thích mùi hương của nó nhưng tôi cũng phải cám ơn nước mắm đã giúp tôi có công ăn việc làm và sống qua những ngày đói khát. Mỗi sáng để khỏi ăn điểm tâm tốn tiền tôi thường xuống lều múc một ly nhỏ nước mắm uống ực một hơi rồi chạy lên nhà uống luôn hai ly cối nước trà cho đã khát. Như vậy no suốt buổi. Cũng may nước mắm có nhiều chất đạm nên càng ngày tôi càng nặng xương.
Một buổi sáng khi tôi vừa uống xong ly nước mắm điểm tâm miệng đang mặn đắng thì cô bé tôi gặp hôm đầu tiên đến xứ này, đi vào. Em chào tôi, tôi chẳng kịp chào lại mà vội rót hai ly cối nước trà uống luôn một hơi. Em hỏi:
- Ông làm cái gì mà khát dữ vậy?
- Tôi mới điểm tâm bằng nước mắm.
Cô bé trợn tròn mắt không hiểu. Tôi phải giải thích cặn kẽ cho em rõ. Nghe xong cô bé cười.
- Ông thật có duyên với nước mắm. Em chỉ uống một muỗng nhỏ thôi cũng đủ sặc chết người.
Tôi hỏi em sao cả tuần nay không đến chơi, tôi có ý đợi em mãi. Cô bé nói em cũng muốn đến thăm nhưng không có dịp, sáng nay em nghỉ học và ba em sai em đi phân chất nước mắm nên em mới có cơ hội đến đây. Em trao tôi một chai nước mắm nhỏ, tôi cầm lấy đem vào phòng giảo nghiệm. Ở đây các nhà lều trước khi đem bán nước mắm đều phải đem đi giảo nghiệm để xem nước mắm của mình có bao nhiêu chất cá, chất cá càng nhiều nước mắm bán giá càng cao. Phòng giảo nghiệm chưa có người làm việc, tôi trở ra kéo ghế mời em ngồi đợi. Em hỏi:
- Ông đã đi đâu chơi chưa?
- Ở đây có chỗ nào mà đi chơi. Mỗi tối tôi chỉ biết ra bờ sông nhìn thiên hạ qua lại hay đến quán Lều Gỗ uống nước rồi về ngủ.
- Vậy thì còn thiếu sót nhiều. Ở đây có nhiều chỗ đáng đi chơi lắm như đi rẫy ăn táo, đi xóm Rừng ăn mận, đi tắm biển ở bãi Trùng Dương hay Ghềnh Son. Đi thăm chùa ông Hai Đại, đi xem thắng cảnh đập Đồng Mới ...vv...
- Vậy hôm nào rảnh tôi mượn xe Honda chở em đi chơi nghe.
- Đâu được thiên hạ nói chết.
Lại thiên hạ. Tôi rủa thầm mẹ kiếp thiên hạ, xin quí vị để cho tôi sống với chứ. Tôi phân bua với cô bé.
- Thây kệ họ. Chúng ta hãy sống cho chính chúng ta, họ đâu có sống giùm chúng ta mà chúng ta lo.
Cô bé cũng đồng ý với tôi như vậy nên vào những chúa nhật kế tiếp em đã đến dẫn tôi đi thăm những nơi chốn em nói. Từ khi chúng tôi thân với nhau, những tối rảnh rỗi em thường đến nơi tôi ở, nấu chè chuối bột báng nước dừa hay đem cá hấp ở nhà đến rồi chúng tôi quấn bánh tráng rau sống chấm với nước mắm "nhĩ" ăn thật ngon lành.
Một tối em đến chơi, tôi vui miệng nói lại với em những điều cậu học sinh con trai bác lao công cho tôi biết là có rất nhiều nam sinh ở trường đã si em bỏ cả học hành. Cô bé cười nói:
- Ai mà si em, em cho chết luôn.
Tôi khoái chí cười:
- Đúng, đúng. Nhưng còn tôi?
- Ông hả, em cũng cho chết luôn.
Tôi chưng hửng hỏi:
- Bộ nhất định em không khóc thương?
- Khóc hả, cười bể bụng thì có.
- Chúa ơi, chắc tim em bằng sắt?
- Sắt hả, ai mà ưa thứ mau rỉ sét.
- Bằng đá chăng?
- Nước chảy đá mòn, đá yếu xìu.
- Bằng gỗ thùng nước mắm?
- Vâng bằng gỗ, nhưng không phải gỗ làm thùng nước mắm đâu mà là gỗ thông sản xuất từ rừng thông Đà Lạt.
- Vậy chắc em sinh ở Đà Lạt?
Cô bé gật đầu kể cho tôi biết gia đình em trước kia ở Đà Lạt sau đó dời xuống đây lập nghiệp đã được 10 năm và bây giờ ở chốn này em là một cây thông nhớ rừng.
Cô bé cười nói:
- Em mới nhận được một lá thư tình.
Tôi ngạc nhiên nói:
- Tôi có viết thư cho em hồi nào đâu mà em nhận được?
- Ai nói ông viết bao giờ đâu, thư này của một người khác.
- Em đã có một người tình khác?
- Không phải đâu, thư này của người dạy kèm em gửi cho em, để em đưa cho ông đọc.
Cô bé móc túi đưa cho tôi một phong thư màu xanh để ngỏ, bên trong có một tờ giấy màu hồng viết đầy chữ Anh. Tôi hỏi:
- Thầy dạy em người Mỹ à?
- Không, ông ấy dạy kèm Anh Văn cho em và mấy nhỏ bạn.
Anh văn tôi mới học đến lession 10 trong quyển English For Today book one nên chẳng hiểu ông giáo viết gì, tôi trao lại lá thư cho cô bé.
- Em dịch dùm tôi đi. Lần sau em nhớ nói ổng viết bằng chữ Việt tôi mới có thể đọc được.
- Đại ý ông ấy viết, ông ấy thương yêu em và muốn gặp em chiều Chúa Nhật này tại nhà trọ ông ấy.
Tôi nổi sùng nói:
- Sao em không đưa lá thư mắc dịch này cho ba má em đọc.
- Thôi, em sợ rùm beng cả nhà đều biết em dị chết.
- Em có viết thư trả lời cho ông ấy không? Em có định đến thăm ông ấy không?
- Còn lâu. Nhưng em sợ ông ấy cứ viết thư hay gọi em tập đọc hoài tụi bạn biết được chúng chọc em chết. Vậy em nhờ ông đóng vai anh em đến nói ông ấy đừng có viết thư cho em nữa.
- Xong rồi, chiều chủ nhật này tôi sẽ thay em đóng vai người tình đến thăm ông ấy.
- Khỏi đợi đến chiều chủ nhật, chiều mai khoảng 6 giờ ông đợi em ở quán Lều Gỗ rồi em sẽ chỉ cho ông thấy thầy em vì ông ấy ăn cơm tháng gần đó.
Buổi chiều, mới 5 giờ tôi đã có mặt ở quán Lều Gỗ, một quán nước vĩ đại nhất ở xứ Phan Rí này. Quán gồm hai phần: một sân rộng đặt bàn ghế bán nước uống và một căn nhà có những tủ kính (trước bày bán đồ điện sau ế dẹp luôn) bày những quyển sách truyện cho thuê. Tôi vẫn thường đến đây trước để uống một ly đá chanh cho đã khát vì lỡ uống nước mắm quá nhiều, sau đó thuê vài quyển truyện chưởng về nhà tối đọc đở buồn. Tôi thuộc loại khách đặc biệt được chủ quán đeo kính cận trông rất trí thức thông cảm cho ký sổ vàng cuối tháng trả tiền nên chiều nay dù trong túi không có đồng nào tôi vẫn mạnh dạn bước vào quán gọi một chai 33, nữa gói Capstan. Tôi uống bia dở ẹc, chỉ một chai mặt cũng đỏ bừng như gà đá nhưng vì sắp đụng độ với ông giáo nên tôi muốn mặt mình phải sừng sừng một tí cho ông ấy ớn.
Buổi tối quán thường đông nghẹt khách nhưng vào giờ này thì vắng như chùa bà đanh. Học sinh còn đi học và những ông "ba đờ ghe" còn bận bán cá chưa có thì giờ rảnh đến ngồi thưởng thức nhạc "tiền chiến hậu chiến" do chính tay chủ quán chọn lọc. Tôi chúa ghét nghe nhạc ở các quán nước, ồn ào điếc tai nên rất thích ngồi ở đây vào buổi xế chiều để được thiên nhiên ca bản The Sound Of Silence. Trên chiếc sàn xi măng rộng (trước là sân patin sau ế dẹp luôn) đọng đầy những vũng nước do ông chủ tưới những chậu kiểng, chưa đến tuổi tam thập nhị lập mà ông ta đã thích cái thú "vạch lá tìm sâu" kể cũng lo hưởng nhàn hơi sớm.
Nắng càng lúc càng đậm màu trên cây bạc đầu ở cuối sân, tôi ngồi im chờ đợi buổi chiều len lén vào hồn xem nó ra làm sao nhưng đợi mãi chẳng thấy buổi chiều đâu cả mà chỉ thấy có cô bé len lén đi vào sân.
- Ông đợi lâu chưa?
- Chưa, chỉ mới hơi dài cổ thôi.
- Em hẹn ông sáu giờ mà.
- Quân đội dạy tôi muốn phục kích địch phải đến sớm quan sát địa thế cho chắc ăn.
- Nhưng ngồi chỗ này làm sao ông quan sát được?
Cô bé kéo tôi ngồi ở một chiếc bàn khác gần hàng rào được kết bằng những ống tre chẻ đôi. Ngồi đây nhìn qua kẻ hở hai thân tre có thể thấy rõ bên ngoài. Nhìn mãi mỏi cả mắt chẳng thấy ông giáo dạy kèm đâu tôi nói cô bé quan sát thay tôi, khi nào thấy ông ta đến thì báo động. Tôi vừa hút xong điếu thuốc, cô bé nói:
- Ông ấy kìa. Tôi ghé mắt nhìn qua khe hở thấy có hai người đang từ xa đi đến, tôi hỏi cô bé.
- Thầy của em là người đeo kính cận, mặt mũi sáng sủa đi bên kia đường phải không?
- Không phải đâu, đó là học sinh. Thầy của em đang đi gần gốc me kìa.
Tôi chăm chú quan sát gã đàn ông theo lời cô bé chỉ. Y mặc áo thun màu xanh thẫm có in đầu một con dê to tổ bố (dậu hiệu của tuổi Dương Cưu?) Y dê mà dám nhận mình dê kể cũng khá chì. Quần y may bằng vải bố trắng ống rộng và chân đi giày mọi màu vàng. Tóc y để dài thòng, phía trước cắt ngang chân mày và miệng phì phà điếu thuốc ngậm ở khóe môi trái. Người y cao, ốm như con mắm, mặt đen đen giống y chang dân "ba đờ ghe" mới đánh cá ngoài khơi về, vậy mà y lại là giáo sư dạy kèm thì thật là lạ . Tướng y thật thích hợp để đóng vai "Xì-ke đại huynh" và chắc không tài tử nào đóng hay hơn y trong vai đó.
Tôi nói với cô bé:
- Em ngồi đây để tôi ra nói chuyện phải trái với ông ấy.
Uống hết ly bia cho hào khí bừng bừng và cầm theo một điếu thuốc tôi bước ra ngoài quán vừa lúc ông giáo đi đến, chắc y cũng định vào quán thuê truyện chưởng về đọc. Tôi nói:
- Xin lỗi ông bạn cho châm nhờ điếu thuốc.
Y trao điếu thuốc cho tôi mỗi rồi tôi tại lại y:
- Ông bạn là ông giáo dạy kèm Anh văn?
Y gật đầu bù xù như tổ quạ.
- Phải. Ông muốn học thêm Anh văn?
- Tôi học Anh văn làm quái gì! Sở Mỹ đóng cửa hết rồi. Tôi chỉ yêu cầu ông đừng viết thư cho em Phạm Thị Đồng Ý nữa.
- Ông là gì mà cấm tôi viết thư cho em ấy?
- Tôi là anh hai nó.
- Sao trông ông không giống em ấy tí nào hết vậy?
- Giống hay không kệ tôi. Bộ ông giống tía ông lắm hay sao?
- Ông đừng giận, tôi có lời khen ngợi em ông học rất giỏi và tôi rất mến em ấy.
- Nó học giỏi hay dốt cũng thây kệ nó, tôi không cần ông mến nó. Ở đây thiếu gì cô giáo xinh đẹp sao ông không mến các cô mà đi mến nữ sinh làm gì cho tai tiếng.
- Tôi không ưa cô giáo, tôi chỉ ưa nữ sinh thì đã sao?
- Ông không ưa cô giáo thây kệ ông, ông chỉ ưa nữ sinh thây kệ ông nhưng tôi không ưa ông ưa em gái tôi.
- Tại sao ông lại không ưa tôi nhiều quá vậy?
Thật ra tôi cũng không ghét gì ông giáo này, y xứng đáng là bạn tri kỷ của tôi vì cả hai cùng chung một sở thích là cô bé nhưng tại y có lợi thế là địa vị cao hơn tôi nên tôi nổi sùng nói:
- Tôi không ưa ông vì ông dạy kèm, chỉ giản dị thế thôi.
- Dạy kèm là một nghề cao quí mà.
- Nghề đó không cao quí tí nào nếu ông tiếp tục tán em gái tôi, còn ông tán bất cứ ai nghề đó vẫn cao quí như thường.
- Được rồi, ông để tôi về suy nghĩ lại.
- Không suy nghĩ tới suy nghĩ lui gì nữa cả, nếu ông còn viết thư cho em gái tôi có ngày ông ăn đòn.
- Ông hăm dọa giái sư dạy kèm phải không? Ông tên gì? Tôi sẽ nộp đơn kiện ông ở Hội đồng xã.
Nghe kiện cáo tôi cũng hơi "rét" nhưng kinh nghiệm cho biết một người có "rét" hơn mình mới hăm dọa kiện cáo lôi thôi nên tôi thừa thắng xông lên.
- Ông có nộp đơn kiện ở Tối cao pháp viện tôi cũng không sợ. Tôi là lính giải ngũ, tên Phạm Bất Bình, số quân 68'156890 ông nhớ kỹ chưa?
- Tôi không cần nhớ tên ông nữa. Tôi nhớ mặt ông rồi, nếu ông đánh tôi là tôi nhận ra ngay ông đánh tôi.
Ông giáo dạy kèm hầm hầm bỏ đi chẳng thèm chào tôi một lời cho đúng với nguyên tắc sư phạm. Tự dưng tôi thương y chi lạ. Trong lúc nói chuyện, nhìn kỹ đôi mắt y tôi mới biết y đã cố ý làm cho mọi người hiểu lầm y qua cách ăn mặc, cách nói chuyện để che dấu nỗi cô đơn mà y đang chịu đựng. Nếu không kẹt cô bé chắc tôi đã mời y vào quán uống vài chai 33 để kết bạn tâm giao. Ở xứ này có người bạn như y cũng thú lắm chứ nhưng chắc là không thú bằng được quen với cô bé rồi. Tôi trở vào quán hăm hở kể lại cho cô bé nghe trận đụng độ vừa qua. Em cười nói ông đóng kịch tài ghê sao ông không đi theo các ban kịch ở Sài Gòn?
Vì có cuộc hộp họp quan trọng với các hãng nước mắm ở Phan Thiết tôi phải đi theo ông giám đốc làm biên bản mất ba ngày. Buổi tối về đến nhà bác lao công trao cho tôi hai lá thư.
Một lá của tổng hội thương phế binh cho biết tôi đã được nhận làm thư ký cho một hãng buôn ở Saigon, nếu muốn làm tôi phải về Saigon nhận việc gấp. Tôi phân vân không biết quyết định thế nào. Ở Phan Rí này được bốn tháng, tôi đã mến người dân ở đây. Họ tuy lắm chuyện nhưng rất chân thật và sẵn lòng giúp đỡ người lạ. Mảnh đất này tuy nhỏ bé nhưng rất hậu đãi những người phương xa đến đây lập nghiệp. Nắng ở đây có làm da tôi đen sậm nhưng không khí vùng biển trong lành đã giúp tôi khoẻ mạnh hơn xưa. Tôi cũng đã bắt đầu nghiền mùi nước mắm, một mùi hương khó quên như hương tóc người tình đã chia xa nhưng tôi vẫn nhớ rõ ràng vào những đêm mưa. Ở Sai Gòn dĩ nhiên là vui vẻ hơn, bạn bè đông hơn và có nhiều cơ hội tiến thân hơn nhưng tôi chưa muốn xa cô bé. Tình yêu đã bắt hụt nhiều lần vì với quá cao, lần này nó đang nằm trong tầm tay tôi không lẽ tôi lại bỏ mất dịp may.
Lá thư thứ hai của cô bé mới gửi đến sáng nay. Em cho biết trường em đã nghỉ hè, gia đình em mới mở một đại lý bán nước mắm ở Đà Lạt, em sẽ theo má lên đó buôn bán và xin chuyển trường lên học ở Bùi Thị Xuân. Em đã đến tìm tôi hai lần nhưng không gặp và sáng mai em phải đi sớm một mình vì má em đã đi trước. Em viết: "Thôi ông khỏi tiễn đưa làm gì cho mất công. Thiên hạ biết cười chết. Em muốn chúng ta chia tay âm thầm. Nếu gặp ông ở bến xe em sẽ không viết thư cho ông nữa và khi nào có dịp về thăm ba, em cũng không thèm ghé thăm ông."
Tờ mờ sáng hôm sau tôi đã có mặt tại bến xe. Trời hơi lạnh vì đêm qua mưa suốt đêm, tôi co ro đứng núp trong bóng tối một hiên nhà mong nhìn thấy cô bé một lần nữa trước khi chia tay. Khoảng năm giờ ba mươi tôi thấy vai em mang xách tay đi từ một con hẻm nhỏ một mình. Em đến ghi tên ở quầy lấy vé rồi bước lên xe ngồi ở một ghế gần cửa. Thây kệ thiên hạ cười, thây kệ những lời dặn trong thư tôi chạy vội đến gặp em.
- Ông không nghe lời em há. Được rồi em sẽ làm đúng theo những gì em đã viết.
Tôi đưa mắt nhìn em chẳng biết nói gì. Tôi luôn luôn chẳng biết nói gì vào những dịp chia tay. Mãi đến khi xe rồ máy chạy, tôi không ngăn được, đưa tay nắm chặt bàn tay nhỏ bé của em bỏ ra ngoài cửa. Cô bé nói như sắp khóc.
- Ông là một con mọt.
- Chúa ơi! Một người bảnh bao như tôi lại có hình dáng như con mọt sao? Cô bé có cận thị chăng?
- Ông là một con mọt kinh khủng đã ăn rỗng trái tim bằng gỗ thông của em.
Đoàn Thạch Biền
Lúc mới đặt chân đến Phan Rí lần đầu thú thật tôi đã muốn khóc. Tôi cứ tưởng thành phố này phải to lớn lắm vì nó có tên trên bản đồ Việt Nam đàng hoàng, không ngờ nó là một cái xã còn nhỏ hơn lòng bàn tay.
Chiếc xe đò tôi đi có từ hồi Pháp thuộc loang lổ vết sơn xanh đỏ, chạy một mình không nổi lại chất đầy những rổ cá lớn, cá bé trên mui và trong lòng xe, những rổ cá này nghe đâu bị kẹt đường nên phải trở về nguyên quán. Phải mất 3 giờ đồng hồ chiếc xe mới lết được từ Phan Thiết đến Phan Rí. Trên đoạn đường chỉ dài hơn 60 cây số. Vừa vào đến bến xe nằm ngay ở trung tâm con phố tôi vội xách valy bước xuống vì không chịu nổi mùi cá tanh nồng bốc lên khi xe đậu.
Đã sáu giờ chiều mà trời vẫn còn nắng gắt, thêm những ngọn gió thổi cát bụi bay mù khiến tôi nóng muốn điên người. Lấy khăn ra lau mồ hôi xong, tôi lững thững đi bộ dọc theo con đường trước mặt, nhìn lên tấm bảng một hiệu buôn, thấy đề Đại Lộ Trần Hưng Đạo mà buồn cười. Con đường chỉ rộng hơn một con hẻm ở Sài Gòn mà cũng xưng là Đại lộ. Địa chỉ tôi muốn đến: Công ty nước mắm Hoa Hồng số 3 Đại lộ Bạch Đằng. Cũng Đại lộ, không biết "đại lộ" đó lớn hơn "đại lộ" này được mấy phân. Đang lóng ngóng tìm một người hỏi thăm đường, tôi gặp một nữ sinh mặc quần áo trắng bước tới. Kinh nghiệm cho biết vào nhà hỏi bà già ra đường hỏi học trò nên tôi móc túi đưa mảnh giấy ghi địa chỉ cho cô bé.
- Em cho tôi hỏi thăm địa chỉ này ở đâu?
Cô bé mở to đôi mắt đen láy quan sát tôi từ đầu đến chân xem tôi có phải là người lạ không rồi mới cúi đọc tờ giấy. Trước khi đến đây tôi nghe người ta đồn rằng con gái xứ này hai mắt đều toét vì bị cát bụi thổi vào, nhưng nhìn kỹ cô bé đây tôi chẳng thấy mắt em toét tí nào mà trái lại còn trong sáng hơn mắt mèo nhiều, tôi không hiểu thiên hạ đồn sai hay cô bé là người xứ lạ đến đây như tôi?
- Ông mới đến đây lần đầu?
- Phải, nếu đến đây lần thứ hai thì tôi khỏi làm phiền em.
- Em cũng ở đường đó, vậy ông cứ đi theo em là đến nơi.
Em trả lại tờ giấy rồi ôm cặp đi trước, tôi vội xách valy đi nhanh cho ngang hàng với em. Cô bé dừng lại lắc đầu.
- Đừng. Ông hãy đi sau em vài bước, ông đi bên em thiên hạ sẽ đồn thế này thế nọ ngay.
- Ở đây thiên hạ thích bàn chuyện của người khác lắm sao?
- Vâng, chỗ nhỏ bé mà. Ông cảm phiền.
Tôi đành đứng lại đợi cô bé đi trước rồi mới lẽo đẽo xách va ly theo sau. Tức mình, tôi rủa thầm mẹ kiếp thiên hạ, chắc quý vị no cơm ấm cật, dư thì giờ nên thích bàn chuyện người khác còn đói như tôi thì bàn chuyện bao tử của chính mình mãi vẫn chưa xong. Đến một con hẻm lầy cát, hai bên là bờ tường cao thấy không có bóng dáng "thiên hạ" tôi vội bước lên đi cạnh cô bé trò chuyện.
- Đi một mình lủi thủi ở sau tôi thấy tủi thân quá.
- Tại sao vậy?
- Tôi có cảm tưởng người ở đây đã bạc đãi mình.
Cô bé cười:
- Vậy ông đến đây làm gì?
Tôi kể cho em nghe tôi là một quân nhân giải ngũ loại hạng hai đang thất nghiệp. Có một người bạn ở Sài Gòn giới thiệu tôi ra đây làm thư ký cho công ty nước mắm Hoa Hồng để sống qua ngày và tôi hy vọng người ta sẽ không từ chối.
- Em sợ ông không chịu nổi đâu.
- Làm thư ký có gì nặng nhọc mà hông chịu nổi?
- Không, em muốn nói mùi nước mắm kìa.
- Đó là mùi quốc hồn quốc túy người Việt nào sống ở ngoại quốc cũng nhớ nó, sao em lại nói là chịu không nổi.
- Rồi ông sẽ biết.
Đi thêm một lúc cô bé dẫn tôi đến bờ sông. Con sông rộng ở gần cửa biển đậu đầy ghe chài sơn màu sắc rực rỡ. Trên bờ người ta qua lại tấp nập và những nong mực được phơi đầy hai bên đường choán cả lối đi. Cô bé chỉ tôi một ngôi nhà lớn quét vôi vàng cách chỗ chúng tôi đứng một cột đèn.
- Đó là công ty Hoa Hồng. Em chúc ông may mắn.
Tôi thật cảm động nghe câu nói đó từ ngày thất nghiệp đến nay, chưa ai chúc tôi một lời may mắn nào. Tôi nhìn thẳng vào mắt cô bé.
- Cám ơn em, tôi tin người ta không nỡ từ chối một thương phế binh đói rách như tôi. Nhà em ở đâu có dịp tôi sẽ đến thăm?
Cô bé chỉ tay về một khu nhà lố nhố ở phía xa.
- Nhà em gần chợ cá kia kìa, chắc ông không nhìn thấy đâu. Nếu ông được làm việc ở công ty, em sẽ còn gặp ông vì thỉnh thoảng em vẫn đến đó nhận giấy giao hàng. Thôi, em xin chào ông.
Nhìn cô bé đi khuất vào đám người trên bờ, tôi mới lững thững xách va ly đến công ty. Phía trước nhà có một tấm bảng lớn hai bên vẽ hai bông hồng to ướng, tôi đi thẳng vào cửa và xin gặp ông giám đốc. Người lao công dẫn tôi đi vào một phòng nhỏ, tôi gặp một ông tóc bạc đang ngồi đọc nhật báo. Tôi cúi đầu chào ông và đưa lá thư giới thiệu việc làm do người cháu ruột ông ta viết.
Đọc thư xong ông hỏi tôi những giấy tờ cần thiết, tôi mở va ly lấy và đưa ông xem. Ông nói được rồi cậu sẽ ở luôn đây và bắt đầu làm việc từ ngày mai. Được việc làm tôi mừng rỡ nói cảm ơn ông. Ông nói không có gì tôi sẽ xem cậu như cháu tôi, rồi ông gọi người lao công vào căn dặn thu xếp nơi ăn chốn ở cho tôi.
Công ty chiếm một khu đất khá rộng, người lao công dẫn tôi đi quanh một vòng cho biết và chỉ cho tôi chỗ ngủ là một cái chái nhỏ lợp tôn ở gần nhà ông. Về cơm nước ông nói nếu cậu muốn ăn ở ngoài, ngày mai tôi sẽ dẫn đến một nơi nấu cơm tháng. Tôi nói nếu tiện nhờ bác nấu cho tôi ăn luôn khỏi phải đi xa. Ông nói nhà tôi ăn uống bết lắm sợ cậu nuốt không nổi. Tôi cười nói có rau có cháo để ăn là may rồi tôi đang thất nghiệp mà bác. Ông cười nói vậy thì được.
Công việc làm ở công ty tương đối nhàn hạ. Hàng ngày tôi đánh máy những hoá đơn giao hàng, nhận hàng, nhưng giấy tờ chứng nhận phân tích nước mắm đến các tỉnh khác. Phía sau công ty là nhà lều nước mắm của riêng ông giám đốc. Trong những thùng gỗ lớn người ta đổ cá vào đầy ướp muối rồi đợi ngày cá rã ra nhỏ giọt thành nước mắm. Mỗi lần vào lều kiểm soát các phu vợi nước mắm vào những thùng sắt nhỏ để chở đi bán tôi phải bôi dầu cù là vào mũi và phải châm thuốc hút liên miên. Hôm đầu nhìn người ta lấy xác mắm ra tôi phải chạy ra ngoài nôn ọe vì không chịu nổi mùi hôi kinh khủng từ xác mắm bốc ra. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao cô bé nói sợ tôi không chịu nổi mùi nước mắm. Nếu không vì cái bao tử mỗi gày đều đói chắc tôi đã xách va ly đi ngay sau lần nôn ọe đó.
Tôi lẩm cẩm nghĩ không hiểu tại sao các ông "hàm hộ" ở đây chẳng ông nào chịu lấy dấu hiệu nước mắm của mình là cá nục, cá thu, cá cơm, cá óc nóc... mà đi chọn những hình con thỏ, con gà, con én, hoa sen, hoa hồng...? Nếu những đôi tình nhân ở xa đều biết hoa hồng là dấu hiệu của công ty nước mắm lớn ở đây chắc họ sẽ không ham tặng người yêu một đóa hồng vì chẳng lẽ họ còn muốn tình yêu của họ sẽ mặn mòi và sực nước mắm?
Dù không thích mùi hương của nó nhưng tôi cũng phải cám ơn nước mắm đã giúp tôi có công ăn việc làm và sống qua những ngày đói khát. Mỗi sáng để khỏi ăn điểm tâm tốn tiền tôi thường xuống lều múc một ly nhỏ nước mắm uống ực một hơi rồi chạy lên nhà uống luôn hai ly cối nước trà cho đã khát. Như vậy no suốt buổi. Cũng may nước mắm có nhiều chất đạm nên càng ngày tôi càng nặng xương.
Một buổi sáng khi tôi vừa uống xong ly nước mắm điểm tâm miệng đang mặn đắng thì cô bé tôi gặp hôm đầu tiên đến xứ này, đi vào. Em chào tôi, tôi chẳng kịp chào lại mà vội rót hai ly cối nước trà uống luôn một hơi. Em hỏi:
- Ông làm cái gì mà khát dữ vậy?
- Tôi mới điểm tâm bằng nước mắm.
Cô bé trợn tròn mắt không hiểu. Tôi phải giải thích cặn kẽ cho em rõ. Nghe xong cô bé cười.
- Ông thật có duyên với nước mắm. Em chỉ uống một muỗng nhỏ thôi cũng đủ sặc chết người.
Tôi hỏi em sao cả tuần nay không đến chơi, tôi có ý đợi em mãi. Cô bé nói em cũng muốn đến thăm nhưng không có dịp, sáng nay em nghỉ học và ba em sai em đi phân chất nước mắm nên em mới có cơ hội đến đây. Em trao tôi một chai nước mắm nhỏ, tôi cầm lấy đem vào phòng giảo nghiệm. Ở đây các nhà lều trước khi đem bán nước mắm đều phải đem đi giảo nghiệm để xem nước mắm của mình có bao nhiêu chất cá, chất cá càng nhiều nước mắm bán giá càng cao. Phòng giảo nghiệm chưa có người làm việc, tôi trở ra kéo ghế mời em ngồi đợi. Em hỏi:
- Ông đã đi đâu chơi chưa?
- Ở đây có chỗ nào mà đi chơi. Mỗi tối tôi chỉ biết ra bờ sông nhìn thiên hạ qua lại hay đến quán Lều Gỗ uống nước rồi về ngủ.
- Vậy thì còn thiếu sót nhiều. Ở đây có nhiều chỗ đáng đi chơi lắm như đi rẫy ăn táo, đi xóm Rừng ăn mận, đi tắm biển ở bãi Trùng Dương hay Ghềnh Son. Đi thăm chùa ông Hai Đại, đi xem thắng cảnh đập Đồng Mới ...vv...
- Vậy hôm nào rảnh tôi mượn xe Honda chở em đi chơi nghe.
- Đâu được thiên hạ nói chết.
Lại thiên hạ. Tôi rủa thầm mẹ kiếp thiên hạ, xin quí vị để cho tôi sống với chứ. Tôi phân bua với cô bé.
- Thây kệ họ. Chúng ta hãy sống cho chính chúng ta, họ đâu có sống giùm chúng ta mà chúng ta lo.
Cô bé cũng đồng ý với tôi như vậy nên vào những chúa nhật kế tiếp em đã đến dẫn tôi đi thăm những nơi chốn em nói. Từ khi chúng tôi thân với nhau, những tối rảnh rỗi em thường đến nơi tôi ở, nấu chè chuối bột báng nước dừa hay đem cá hấp ở nhà đến rồi chúng tôi quấn bánh tráng rau sống chấm với nước mắm "nhĩ" ăn thật ngon lành.
Một tối em đến chơi, tôi vui miệng nói lại với em những điều cậu học sinh con trai bác lao công cho tôi biết là có rất nhiều nam sinh ở trường đã si em bỏ cả học hành. Cô bé cười nói:
- Ai mà si em, em cho chết luôn.
Tôi khoái chí cười:
- Đúng, đúng. Nhưng còn tôi?
- Ông hả, em cũng cho chết luôn.
Tôi chưng hửng hỏi:
- Bộ nhất định em không khóc thương?
- Khóc hả, cười bể bụng thì có.
- Chúa ơi, chắc tim em bằng sắt?
- Sắt hả, ai mà ưa thứ mau rỉ sét.
- Bằng đá chăng?
- Nước chảy đá mòn, đá yếu xìu.
- Bằng gỗ thùng nước mắm?
- Vâng bằng gỗ, nhưng không phải gỗ làm thùng nước mắm đâu mà là gỗ thông sản xuất từ rừng thông Đà Lạt.
- Vậy chắc em sinh ở Đà Lạt?
Cô bé gật đầu kể cho tôi biết gia đình em trước kia ở Đà Lạt sau đó dời xuống đây lập nghiệp đã được 10 năm và bây giờ ở chốn này em là một cây thông nhớ rừng.
Cô bé cười nói:
- Em mới nhận được một lá thư tình.
Tôi ngạc nhiên nói:
- Tôi có viết thư cho em hồi nào đâu mà em nhận được?
- Ai nói ông viết bao giờ đâu, thư này của một người khác.
- Em đã có một người tình khác?
- Không phải đâu, thư này của người dạy kèm em gửi cho em, để em đưa cho ông đọc.
Cô bé móc túi đưa cho tôi một phong thư màu xanh để ngỏ, bên trong có một tờ giấy màu hồng viết đầy chữ Anh. Tôi hỏi:
- Thầy dạy em người Mỹ à?
- Không, ông ấy dạy kèm Anh Văn cho em và mấy nhỏ bạn.
Anh văn tôi mới học đến lession 10 trong quyển English For Today book one nên chẳng hiểu ông giáo viết gì, tôi trao lại lá thư cho cô bé.
- Em dịch dùm tôi đi. Lần sau em nhớ nói ổng viết bằng chữ Việt tôi mới có thể đọc được.
- Đại ý ông ấy viết, ông ấy thương yêu em và muốn gặp em chiều Chúa Nhật này tại nhà trọ ông ấy.
Tôi nổi sùng nói:
- Sao em không đưa lá thư mắc dịch này cho ba má em đọc.
- Thôi, em sợ rùm beng cả nhà đều biết em dị chết.
- Em có viết thư trả lời cho ông ấy không? Em có định đến thăm ông ấy không?
- Còn lâu. Nhưng em sợ ông ấy cứ viết thư hay gọi em tập đọc hoài tụi bạn biết được chúng chọc em chết. Vậy em nhờ ông đóng vai anh em đến nói ông ấy đừng có viết thư cho em nữa.
- Xong rồi, chiều chủ nhật này tôi sẽ thay em đóng vai người tình đến thăm ông ấy.
- Khỏi đợi đến chiều chủ nhật, chiều mai khoảng 6 giờ ông đợi em ở quán Lều Gỗ rồi em sẽ chỉ cho ông thấy thầy em vì ông ấy ăn cơm tháng gần đó.
Buổi chiều, mới 5 giờ tôi đã có mặt ở quán Lều Gỗ, một quán nước vĩ đại nhất ở xứ Phan Rí này. Quán gồm hai phần: một sân rộng đặt bàn ghế bán nước uống và một căn nhà có những tủ kính (trước bày bán đồ điện sau ế dẹp luôn) bày những quyển sách truyện cho thuê. Tôi vẫn thường đến đây trước để uống một ly đá chanh cho đã khát vì lỡ uống nước mắm quá nhiều, sau đó thuê vài quyển truyện chưởng về nhà tối đọc đở buồn. Tôi thuộc loại khách đặc biệt được chủ quán đeo kính cận trông rất trí thức thông cảm cho ký sổ vàng cuối tháng trả tiền nên chiều nay dù trong túi không có đồng nào tôi vẫn mạnh dạn bước vào quán gọi một chai 33, nữa gói Capstan. Tôi uống bia dở ẹc, chỉ một chai mặt cũng đỏ bừng như gà đá nhưng vì sắp đụng độ với ông giáo nên tôi muốn mặt mình phải sừng sừng một tí cho ông ấy ớn.
Buổi tối quán thường đông nghẹt khách nhưng vào giờ này thì vắng như chùa bà đanh. Học sinh còn đi học và những ông "ba đờ ghe" còn bận bán cá chưa có thì giờ rảnh đến ngồi thưởng thức nhạc "tiền chiến hậu chiến" do chính tay chủ quán chọn lọc. Tôi chúa ghét nghe nhạc ở các quán nước, ồn ào điếc tai nên rất thích ngồi ở đây vào buổi xế chiều để được thiên nhiên ca bản The Sound Of Silence. Trên chiếc sàn xi măng rộng (trước là sân patin sau ế dẹp luôn) đọng đầy những vũng nước do ông chủ tưới những chậu kiểng, chưa đến tuổi tam thập nhị lập mà ông ta đã thích cái thú "vạch lá tìm sâu" kể cũng lo hưởng nhàn hơi sớm.
Nắng càng lúc càng đậm màu trên cây bạc đầu ở cuối sân, tôi ngồi im chờ đợi buổi chiều len lén vào hồn xem nó ra làm sao nhưng đợi mãi chẳng thấy buổi chiều đâu cả mà chỉ thấy có cô bé len lén đi vào sân.
- Ông đợi lâu chưa?
- Chưa, chỉ mới hơi dài cổ thôi.
- Em hẹn ông sáu giờ mà.
- Quân đội dạy tôi muốn phục kích địch phải đến sớm quan sát địa thế cho chắc ăn.
- Nhưng ngồi chỗ này làm sao ông quan sát được?
Cô bé kéo tôi ngồi ở một chiếc bàn khác gần hàng rào được kết bằng những ống tre chẻ đôi. Ngồi đây nhìn qua kẻ hở hai thân tre có thể thấy rõ bên ngoài. Nhìn mãi mỏi cả mắt chẳng thấy ông giáo dạy kèm đâu tôi nói cô bé quan sát thay tôi, khi nào thấy ông ta đến thì báo động. Tôi vừa hút xong điếu thuốc, cô bé nói:
- Ông ấy kìa. Tôi ghé mắt nhìn qua khe hở thấy có hai người đang từ xa đi đến, tôi hỏi cô bé.
- Thầy của em là người đeo kính cận, mặt mũi sáng sủa đi bên kia đường phải không?
- Không phải đâu, đó là học sinh. Thầy của em đang đi gần gốc me kìa.
Tôi chăm chú quan sát gã đàn ông theo lời cô bé chỉ. Y mặc áo thun màu xanh thẫm có in đầu một con dê to tổ bố (dậu hiệu của tuổi Dương Cưu?) Y dê mà dám nhận mình dê kể cũng khá chì. Quần y may bằng vải bố trắng ống rộng và chân đi giày mọi màu vàng. Tóc y để dài thòng, phía trước cắt ngang chân mày và miệng phì phà điếu thuốc ngậm ở khóe môi trái. Người y cao, ốm như con mắm, mặt đen đen giống y chang dân "ba đờ ghe" mới đánh cá ngoài khơi về, vậy mà y lại là giáo sư dạy kèm thì thật là lạ . Tướng y thật thích hợp để đóng vai "Xì-ke đại huynh" và chắc không tài tử nào đóng hay hơn y trong vai đó.
Tôi nói với cô bé:
- Em ngồi đây để tôi ra nói chuyện phải trái với ông ấy.
Uống hết ly bia cho hào khí bừng bừng và cầm theo một điếu thuốc tôi bước ra ngoài quán vừa lúc ông giáo đi đến, chắc y cũng định vào quán thuê truyện chưởng về đọc. Tôi nói:
- Xin lỗi ông bạn cho châm nhờ điếu thuốc.
Y trao điếu thuốc cho tôi mỗi rồi tôi tại lại y:
- Ông bạn là ông giáo dạy kèm Anh văn?
Y gật đầu bù xù như tổ quạ.
- Phải. Ông muốn học thêm Anh văn?
- Tôi học Anh văn làm quái gì! Sở Mỹ đóng cửa hết rồi. Tôi chỉ yêu cầu ông đừng viết thư cho em Phạm Thị Đồng Ý nữa.
- Ông là gì mà cấm tôi viết thư cho em ấy?
- Tôi là anh hai nó.
- Sao trông ông không giống em ấy tí nào hết vậy?
- Giống hay không kệ tôi. Bộ ông giống tía ông lắm hay sao?
- Ông đừng giận, tôi có lời khen ngợi em ông học rất giỏi và tôi rất mến em ấy.
- Nó học giỏi hay dốt cũng thây kệ nó, tôi không cần ông mến nó. Ở đây thiếu gì cô giáo xinh đẹp sao ông không mến các cô mà đi mến nữ sinh làm gì cho tai tiếng.
- Tôi không ưa cô giáo, tôi chỉ ưa nữ sinh thì đã sao?
- Ông không ưa cô giáo thây kệ ông, ông chỉ ưa nữ sinh thây kệ ông nhưng tôi không ưa ông ưa em gái tôi.
- Tại sao ông lại không ưa tôi nhiều quá vậy?
Thật ra tôi cũng không ghét gì ông giáo này, y xứng đáng là bạn tri kỷ của tôi vì cả hai cùng chung một sở thích là cô bé nhưng tại y có lợi thế là địa vị cao hơn tôi nên tôi nổi sùng nói:
- Tôi không ưa ông vì ông dạy kèm, chỉ giản dị thế thôi.
- Dạy kèm là một nghề cao quí mà.
- Nghề đó không cao quí tí nào nếu ông tiếp tục tán em gái tôi, còn ông tán bất cứ ai nghề đó vẫn cao quí như thường.
- Được rồi, ông để tôi về suy nghĩ lại.
- Không suy nghĩ tới suy nghĩ lui gì nữa cả, nếu ông còn viết thư cho em gái tôi có ngày ông ăn đòn.
- Ông hăm dọa giái sư dạy kèm phải không? Ông tên gì? Tôi sẽ nộp đơn kiện ông ở Hội đồng xã.
Nghe kiện cáo tôi cũng hơi "rét" nhưng kinh nghiệm cho biết một người có "rét" hơn mình mới hăm dọa kiện cáo lôi thôi nên tôi thừa thắng xông lên.
- Ông có nộp đơn kiện ở Tối cao pháp viện tôi cũng không sợ. Tôi là lính giải ngũ, tên Phạm Bất Bình, số quân 68'156890 ông nhớ kỹ chưa?
- Tôi không cần nhớ tên ông nữa. Tôi nhớ mặt ông rồi, nếu ông đánh tôi là tôi nhận ra ngay ông đánh tôi.
Ông giáo dạy kèm hầm hầm bỏ đi chẳng thèm chào tôi một lời cho đúng với nguyên tắc sư phạm. Tự dưng tôi thương y chi lạ. Trong lúc nói chuyện, nhìn kỹ đôi mắt y tôi mới biết y đã cố ý làm cho mọi người hiểu lầm y qua cách ăn mặc, cách nói chuyện để che dấu nỗi cô đơn mà y đang chịu đựng. Nếu không kẹt cô bé chắc tôi đã mời y vào quán uống vài chai 33 để kết bạn tâm giao. Ở xứ này có người bạn như y cũng thú lắm chứ nhưng chắc là không thú bằng được quen với cô bé rồi. Tôi trở vào quán hăm hở kể lại cho cô bé nghe trận đụng độ vừa qua. Em cười nói ông đóng kịch tài ghê sao ông không đi theo các ban kịch ở Sài Gòn?
Vì có cuộc hộp họp quan trọng với các hãng nước mắm ở Phan Thiết tôi phải đi theo ông giám đốc làm biên bản mất ba ngày. Buổi tối về đến nhà bác lao công trao cho tôi hai lá thư.
Một lá của tổng hội thương phế binh cho biết tôi đã được nhận làm thư ký cho một hãng buôn ở Saigon, nếu muốn làm tôi phải về Saigon nhận việc gấp. Tôi phân vân không biết quyết định thế nào. Ở Phan Rí này được bốn tháng, tôi đã mến người dân ở đây. Họ tuy lắm chuyện nhưng rất chân thật và sẵn lòng giúp đỡ người lạ. Mảnh đất này tuy nhỏ bé nhưng rất hậu đãi những người phương xa đến đây lập nghiệp. Nắng ở đây có làm da tôi đen sậm nhưng không khí vùng biển trong lành đã giúp tôi khoẻ mạnh hơn xưa. Tôi cũng đã bắt đầu nghiền mùi nước mắm, một mùi hương khó quên như hương tóc người tình đã chia xa nhưng tôi vẫn nhớ rõ ràng vào những đêm mưa. Ở Sai Gòn dĩ nhiên là vui vẻ hơn, bạn bè đông hơn và có nhiều cơ hội tiến thân hơn nhưng tôi chưa muốn xa cô bé. Tình yêu đã bắt hụt nhiều lần vì với quá cao, lần này nó đang nằm trong tầm tay tôi không lẽ tôi lại bỏ mất dịp may.
Lá thư thứ hai của cô bé mới gửi đến sáng nay. Em cho biết trường em đã nghỉ hè, gia đình em mới mở một đại lý bán nước mắm ở Đà Lạt, em sẽ theo má lên đó buôn bán và xin chuyển trường lên học ở Bùi Thị Xuân. Em đã đến tìm tôi hai lần nhưng không gặp và sáng mai em phải đi sớm một mình vì má em đã đi trước. Em viết: "Thôi ông khỏi tiễn đưa làm gì cho mất công. Thiên hạ biết cười chết. Em muốn chúng ta chia tay âm thầm. Nếu gặp ông ở bến xe em sẽ không viết thư cho ông nữa và khi nào có dịp về thăm ba, em cũng không thèm ghé thăm ông."
Tờ mờ sáng hôm sau tôi đã có mặt tại bến xe. Trời hơi lạnh vì đêm qua mưa suốt đêm, tôi co ro đứng núp trong bóng tối một hiên nhà mong nhìn thấy cô bé một lần nữa trước khi chia tay. Khoảng năm giờ ba mươi tôi thấy vai em mang xách tay đi từ một con hẻm nhỏ một mình. Em đến ghi tên ở quầy lấy vé rồi bước lên xe ngồi ở một ghế gần cửa. Thây kệ thiên hạ cười, thây kệ những lời dặn trong thư tôi chạy vội đến gặp em.
- Ông không nghe lời em há. Được rồi em sẽ làm đúng theo những gì em đã viết.
Tôi đưa mắt nhìn em chẳng biết nói gì. Tôi luôn luôn chẳng biết nói gì vào những dịp chia tay. Mãi đến khi xe rồ máy chạy, tôi không ngăn được, đưa tay nắm chặt bàn tay nhỏ bé của em bỏ ra ngoài cửa. Cô bé nói như sắp khóc.
- Ông là một con mọt.
- Chúa ơi! Một người bảnh bao như tôi lại có hình dáng như con mọt sao? Cô bé có cận thị chăng?
- Ông là một con mọt kinh khủng đã ăn rỗng trái tim bằng gỗ thông của em.
Đoàn Thạch Biền

Nụ Cười
Giá một nụ cười rẻ hơn giá tiền điện, thế nhưng nụ cười lại tỏa sáng nhiều hơn hàng trǎm bóng đèn điện.
Không ai nghèo đến nỗi không thể mỉm một nụ cười, cũng không ai đủ giàu để sống mà không cần đến nụ cười của người khác.
Một nụ cười - vốn liếng tuy nhỏ bé nhưng lại sinh hoa lợi nhiều, nó làm giàu cho kẻ đón nhận nó mà không hề làm kẻ trao tặng nó phải nghèo đi. Ngược lại, có khi người ta sẽ còn mãi mãi ghi nhớ.
Không ai đủ giàu mà bỏ qua không nhận lấy một nụ cười.
Nụ cười tạo được hạnh phúc trong gia đình.
Nụ cười là dấu hiệu của nhân ái.
Nụ cười làm cho kẻ nhọc nhằn tìm được sự thoải mái dễ chịu.
Nụ cười đem lại sự can đảm cho người nản chí, hoang mang.
Nếu có một lúc nào đó trong đời, bạn gặp một ai đó không cho bạn được một nụ cười như bạn đáng được nhận, thì bạn hãy quảng đại mà nở một nụ cười với người đó. Bởi vì không ai cần đến nụ cười cho bằng người không bao giờ biết cười.
Có một câu chuyện kể rằng: Saint Exupery từng là phi công tham gia chống phát xít trong Đệ nhị Thế chiến. Chính từ những nǎm tháng này ông đã viết ra tác phẩm "Nụ cười".. Không biết đây là một tự truyện hay một truyện hư cấu, nhưng tôi tin rằng nó có thật. Trong truyện, Saint Exupery là một tù binh bị đối xử khắc nghiệt và ông biết nay mai có thể bị xử bắn như nhiều người khác.
Ông viết: "Tôi trở nên quẫn trí. Bàn tay tôi giật giật, cố gắng rút trong túi áo một điếu thuốc. Nhưng tôi lại không có diêm. Qua hàng chấn song nhà giam, tôi trông thấy một người cai tù.
Tôi gọi: "Xin lỗi, anh có lửa không?"...
Anh ta nhún vai rồi tiến lại gần. Khi rút que diêm, tình cờ mắt anh nhìn vào mắt tôi. Tôi mỉm cười mà chẳng hiểu tại vì sao lại làm thế. Có lẽ vì khi muốn làm thân với ai đó, người ta dễ dàng nở một nụ cười. Lúc này dường như có một đốm lửa bùng cháy nhanh qua kẽ hở giữa hai tâm hồn chúng tôi, giữa hai trái tim con người. Tôi biết anh ta không muốn, nhưng do tôi đã mỉm cười nên anh ta phải mỉm cười đáp lại. Anh ta bật que diêm, đến gần tôi hơn, nhìn thẳng vào mắt tôi và miệng vẫn cười. Giờ đây trước mặt tôi không còn là viên cai ngục phát xít mà chỉ là một con người.
Anh ta hỏi tôi: "Anh có con chứ?".
Tôi đáp: "Có" và lôi từ trong ví ra tấm hình nhỏ của gia đình mình.
Anh ta cũng vội rút trong túi áo ra hình những đứa con và bắt đầu kể lể về những kỳ vọng của anh đối với chúng. Đôi mắt tôi nhoà lệ. Tôi biết mình sắp chết và sẽ chẳng bao giờ gặp lại được người thân. Anh ta cũng bật khóc. Đột nhiên, không nói một lời, anh ta mở khoá và kéo tôi ra khỏi buồng giam. Anh lặng lẽ đưa tôi ra khỏi khu vực thị trấn chiếm đóng, thả tôi tự do rồi quay trở về. Thế đó, cuộc sống của tôi đã được cứu rỗi chỉ nhờ một nụ cười".
Từ khi đọc được câu chuyện này tôi nghiệm ra được nhiều điều.
Tôi biết rằng bên dưới mọi thứ vỏ bọc chúng ta dùng để thủ thế, để bảo vệ phẩm giá và địa vị, vẫn còn đó một điều thật quý giá mà tôi gọi là tâm hồn.
Tôi tin rằng: nếu tâm hồn bạn và tâm hồn tôi nhận ra nhau thì chúng ta chẳng còn gì phải sợ hãi hay cǎm thù oán ghét nhau.
Nếu bạn từng có một khoảnh khắc gắn bó với đồng loại qua sức mạnh của nụ cười, thì tôi tin rằng bạn cũng đồng ý với tôi, đó là một phép lạ nho nhỏ, một món quà tuyệt vời mà chúng ta có thể dành cho nhau.
Một nữ tu ở Calcutta đã cảm nhận được điều này trong cuộc sống, và bà đưa ra lời khuyên chân thành: "Hãy mỉm cười với nhau, mỉm cười với vợ, với chồng, với con cái bạn và với mọi người dù đó là ai đi nữa, vì điều này sẽ giúp bạn lớn lên trong tình yêu của nhau..."
Sưu tầm
Chị Sui
Nguyễn Viết Tân và Thanh Mai Chưa tới sáu mươi mà tôi hên quá, có tới những hai chị sui nhỏ tuổi hơn tôi nhiều. Còn hên hơn nữa là cả hai anh sui đều đã đi bán muối mấy năm nay rồi, để lại hai chị phòng không chích bóng, ngó thấy muốn ứa nước mắt, thiệt tội nghiệp vô cùng.
Có những lúc phởn chí, tôi ngâm lên bài thơ Chị Sui, giọng ngâm trầm ấm rỉ rả trong canh vắng, nghe hay hơn ông Nguyễn Ngọc Ngạn trong Thúy Nga Paris rất nhiều:
- Đêm nằm bên vợ nhớ chị sui
Thấy tình cảnh chị luống ngậm ngùi
Ước ngày nào đó tôi góa vợ
Ghé thăm nhà chị chắc là dzui...
Bà vợ nhỏ của tôi ban đầu nghe tức lắm, nhưng cũng nhờ như thế mà bà ấy biết chìu chuộng, đối xử vời chồng đàng hoàng hơn xưa, chứ cà chớn cà cháo là tôi... ghé thăm chị sui liền một khi.. thì mất cả chì lẫn chài.
Bây giờ bả nghe ngâm thơ riết đã lờn rồi, nên tuyên bố thẳng thừng:
- Đi đâu thì đi, càng đỡ mòn của nhà.
Xin quí cụ cao niên đừng hiểu lầm là tôi có vợ nhỏ rồi hừng chí bắt chước. Bởi vì bà xã tôi hơi nhỏ con (nhưng rất mắn đẻ) nên hồi tôi mới quen bả thì gọi là người em gái nhỏ, bây giờ bả đã đến tuổi "mày thuôn lá ổi, vú thõng dưa gang" rồi thì tôi kêu là vợ nhỏ, chứ chính thực bả là vợ lớn.
Hai chị sui tôi hồi còn con gái chắc là đẹp lắm, bởi vì theo lời hai chị mô tả thì đồ đạc còn nguyên si, khôngcó bơm hút, cắt chích gì hết mà trông vẫn còn phông, nói theo kiểu bình dân là "cứng cạy" lắm.Chắc nhiều người không biết cứng cạy là cái gì.Đó là trái dừa vỏ hết còn là màu xanh, nó đã biến qua màu xám vàng, cơm ở trong không còn mềm èo, mà cùi dừa cũng chưa khô khốc như dừa khô, làm mứt thì ăn vừa miệng vô cùng. Nói tóm lại thì dừa cứng cạy vừa dòn, vừa mềm mà còn nước nôi lắm lắm.
Bây giờ nói về chuyện chị sui thứ nhứt:
Con trai tôi quen con gái chị được chừng một năm thì cưới nhau. Ngày thằng Cậu Cả dẫn tôi đến nhà vợ tương lai của nó, tôi đi cắt tóc, nhuộm đen, mặc bộ đồ lớn, đeo kiếng trắng gọng vàng coi cũng oách như ông này ông nọ chớ chẳng phải chơi.
Thấy ánh mắt là tôi biết chị cũng "chịu đèn" tôi rồi, nhưng cả hai còn thẹn thò đâu dám nói ra. Hôm đám cưới, chị mặc một chiếc váy đen. Chị nhảy đầm tốc cả váy lên coi rất điệu nghệ, tiếc rằng tôi là người chân quê, hồi nhỏ chỉ biết nhảy cò cò, sau lớn lên đi lính thì biết thêm nhảy xổm với nhảy dù, chớ có biết nhảy đầm nhảy đìa chi đâu, bởi vậy cứ ngồi trơ mắt ếch ra xem chị nhảy mà nuốt nước miếng ừng ực.
Ngày tôi có đứa cháu nội đầu tiên thì chị dọn về ở chung với con, để săn sóc cháu ngoại cho tụi nó đi làm. Mỗi lần phải đi lên City làm giấy tờ gì đó, là tôi lại kiếm cớ tạt ngang thăm cháu nội.
Nhấn chuông xong thì thấy chị vội vàng chạy ra mở cửa, tay bế đứa bé mũm mĩm đang chu mỏ ra phun mưa, chân tay chòi chòi đạp đạp.
Chị đưa đứa nhỏ cho tôi bồng, miệng nói:
-Dễ thương lắm đó.
Tôi nhìn vào tay đứa nhỏ đang níu cổ áo bà ngoại nó mà kéo doãng ra, thấy rõ hai trái ổi xá lị không có gì che đậy nên tôi nói nhỏ:
-Ừ, dễ thương quá à!
Chị ngước lên nhìn tôi, màu hồng đỏ bừng lên tới tận tai, miệng cười mủm mỉm coi dễ thương hết sức.
Chị sui nhỏ nhẻ hỏi:
- Bữa nay anh có rảnh không, mời anh vô nhà chờ chút tui nấu chè anh ăn.
Tôi là tay hảo ngọt có tiếng, nghe chị mời chè thì khoái chí tử, bồng thằng nhỏ xà vào cái ghế bành. Thấy chị sui lấy ra một rổ hột me, tôi quăng thằng cháu nội vô cái lồng con nít rồi ngồi bệt với chị ...
Chị sui nói với anh sui
Giờ nầy còn sớm ở chơi khoan về
Vô đây phụ lột hột... me
Để tui chuẩn bị nấu chè mình ăn.
Hôm nay mồng mấy vậy anh?
Nhìn ra ngoài ngõ ánh trăng đã tròn
Hồi xưa ông xã tui còn
Ảnh phụ tui nấu thường hơn anh à
Tụi tui ngồi dưới trăng ngà...
Ăn chè, tán dóc thật là vui tươi
Thắm thoát gần chục năm trời...
Ảnh chết, tui bỏ cả xôi lẫn chè
Hôm nay làm lại đó nhe
Bảo đảm, anh thử sẽ mê tới già...
Tối đó về nhà, vợ tôi thấy tôi bần thần đầu óc mơ màng cứ tưởng tôi bịnh nên giã chén muối ớt, cắt mấy trái khế để tôi ăn chua vào cho giải cảm. Nào ngờ nhìn chén muối ớt mà tôi lại nhớ đến hai trái ổi xá lị, nước miếng cứ dâng lên miệng, cục Adam thì cứ chạy lên chạy xuống. Tôi nuốt nước miếng ừng ực, hít một hơi để dồn chân khí chạy xuống... phía dưới, vừa ăn khế vừa tưởng tượng đến ổi xá lị.
Ăn xong, tôi vội chạy ngay lên giường trùm mền, mơ màng rồi ngủ quên hồi nào không biết. Có ai ngờ là tôi bị bịnh mộng du, thế mới có chuyện xảy ra....Có trời biết, đất biết, Chúa biết, chị sui biết...mà tôi hổng biết.
Hèn chi sáng hôm sau tôi ghé qua thăm thằng cháu nội lần nữa thì chị sui ra mở cửa, mặt ửng hồng, thẹn thùng hỏi:
Tối qua ...anh đến nhà tui?
Sao không gọi cửa ...mà...chui hàng rào?
Tôi thộn mặt ra chắc chắn là …rất ngố. Tại sao mình lại phải chui hàng rào mà không…vượt rào? Nhưng tôi nhanh trí mạnh miệng chối phăng còn ngố hơn:
Đêm khuya chị ngáy ào ào,
Tui chun dzô đó khác nào tui điên?
Than ôi, nhưng đó chỉ là giấc mơ, cơn mộng du thôi, chớ có bóng đèn làm chứng cho tôi, mối tình anh sui chị sui vẫn còn ngây thơ trong trắng không vướng chút bụi trần. Ai không tin thây kệ.
Bây giờ kể đến chị Sui thứ hai:
Thằng con trai kế của tôi ra trường đi làm việc đã lâu. Thành phố nó ở lại không có mấy người Việt, mà từ hồi các con còn nhỏ, chúng tôi thường khuyên nhủ là nên lấy người Việt Nam, kẹt lắm thì lấy Tàu, Thái, Phi cũng còn đỡ, chứ lấy Mỹ hay Mễ thì ba má không phản đối nhưng cũng không thích đâu.
Mấy đứa nhỏ nghe lời, nên bạn bè cặp xách thì cũng có lai rai, nhưng khi lấy vợ thì tuân theo ý cha mẹ, là cô dâu phải biết húp nước mắm. Nhân dịp về Việt Nam thăm bà nội, nó được giới thiệu với một cô gái đẹp lắm, lại con nhà giàu.
Nghe người ta đồn là con gái bây giờ ma mãnh lắm, nó lợi dụng qua đây được rồi là đá liền mà theo thằng khác, nên tôi phải thân chinh về tận bên đó coi lại cho chắc, chứ thằng con tuy gần 30 tuổi rồi mà còn ngây ngô như đá.
Gia đình chị Sui ra rước tận phi trường. Đứa con dâu tương lai ôm bó hoa lớn tặng cho tôi ngay khi gặp mặt tại cổng.
Dĩ nhiên tôi để ý theo dõi nét mặt, tướng đi, lời nói của con nhỏ thì thấy được quá. Con nhà giàu mà không chưng diện, mặc chiếc áo đầm trắng đơn giản, giống như thiên thần.
Còn chị Sui tương lai của tôi thì khỏi nói, mới chừng bốn mươi thôi và nhan sắc thì ôi thôi.. chậc chậc.. giới địa ốc bên Việt Nam gọi là "điện nước đầy đủ cả".
Anh Sui đã cất bước theo ông bà khoảng chừng năm năm nay, để lại cho chị một gia sản kếch sù, gồm nhiều căn nhà ở thành phố và các tỉnh miền tây, với một đoàn xe tải ba bốn chục chiếc, chuyên chở hàng từ những cửa khẩu về SG hay các tỉnh. Tôi choáng ngợp trước sự giàu có của họ, cho dù ở bên Mỹ tôi cũng chẳng nghèo hèn gì.
Nhà đàng gái có nhiều xe, nhiều tài xế, nhiều người làm, nên nếu sau này con nhỏ đó có về làm vợ thằng con tôi, chắc nó cũng không biết nấu ăn, giặt quần áo gì đâu, chỉ tội cho thằng con lo hầu vợ mà thôi. Nhưng ngẫm đi nghĩ lại, bà xã tôi ngày xưa có là tiểu thư khuê các con nhà giàu gì đâu, mà bây giờ tôi cũng vẫn phải nai lưng ra hầu việc bả vậy. Thôi cũng đành phó thác cho mệnh trời.
Giấy tờ làm hôn thú, bảo lãnh cũng còn khá lâu, nên chị Sui muốn nhờ tôi làm một thư mời bả qua Mỹ, thực tế là đi chơi, nhưng giấy tờ là mời một "đối tác" từ bên VN qua để làm ăn.
Chắc bả muốn coi gia đình tôi có môn đăng hộ đối không, thằng con tôi là kỹ sư thiệt hay dỏm, nó đang làm ông Sếp hay đang cong đít lau sàn nhà.
Thư mời, tôi có bấm con dấu nổi của công ty, bả dòm thấy nổi cộm lên một cục chắc lé con mắt, vì mộc bên VN đóng đỏ toè loe, nhưng làm sao oai bằng con dấu của tôi được.
***
Mấy tháng nay, kinh tế Mỹ lao xuống vùn vụt, thằng Cậu Cả nhà tôi bị lay off, nó đành dọn về nhà cha mẹ ở chứ không còn đủ khả năng ở nhà lớn nữa, mà nhà tôi thì các con dần dần như con chim mọc đủ lông cánh, bay đi khắp bốn phương trời.
Chị Sui ở một mình cô quạnh nên tôi phải thường xuyên ghé thăm thay thế cho đám nhỏ. Một bữa tôi nghe chỉ than mà thấy thương quá.
Cám ơn anh đã ghé qua...
Con gả đi hết cửa nhà quạnh hiu!
Làm tui cảm thấy buồn thiu
Riết rồi sanh bệnh ít nhiều anh ơi!
Thế rồi tôi và mấy đứa con thuyết phục bà vợ nhỏ của tôi nên rốt cuộc mời được chị Sui về ở chung với gia đình tôi.
Sắp tới chị Sui thứ Hai qua đây chơi, tôi cũng không đành để chỉ ngụ tại Khách sạn, nó lạnh lẽo và bất tiện lắm, tôi sẽ đem về ở chung nhà.
Tưởng tượng đến cảnh mấy người đề huề "chung một mái nhà" mà tôi thấy mình như sắp lên thiên đường.
***
Chị Sui hai chưa qua mà tôi bây giờ đã biết thế nào là cảnh 1 ông nhiều bà. Trời ơi là sướng như tiên mặc dù hơi...điên cái đầu.
Trước hết nói về cái Sướng là bởi mấy bà trong nhà lúc nào cũng chìu chuộng, trổ tài chinh phục trái tim mong manh của tôi.
Bà xã tôi hồi giờ ăn hiếp bắt tôi nội trợ lo cơm nước thì nay lại chịu khó lăng xăng lí xí nấu nướng bưng cơm dâng tận tay tôi, lại còn bưng nước, xĩa răng cho tôi nữa. Tôi mới ưỡn lưng than mỏi là bả xà vào đấm bóp, massage cho tôi ra cái điều tôi là sở hữu của bả.
Còn chị Sui thì tự nhiên đòi dạy tôi nhảy đầm. Chỉ bảo là hôm đám cưới thấy tôi ngồi thộn mặt ra ngó thiên hạ nhảy nhót giống y mặt con cóc tía mà tiếc cho tôi và...chỉ hết sức nên phải kiếm dịp mà luyện võ nghệ cho tôi. Chỉ bảo điệu sì lô cóc khô gì gì đó là dễ nhất và hợp với cái tướng to con của tôi. Ừ, nhảy thì nhảy, tôi sợ gì mà không tập. Sẵn bà vợ nhỏ của tôi mắc đi đánh tứ sắc ở nhà bạn, vợ chồng thằng Cậu Cả được dịp xúi vào, hổng hiểu tụi nó có dụng ý gì:
- Má đi rồi, Ba tới đi Ba.
- Ừ, tới thì tới. Nhảy đầm là một môn nghệ thuật mà.
Thế là thằng con mang đờn ra, còn tui thì diện bộ đồ vía vào. Chị Sui vào trong thay đồ thật lâu làm tui sốt ruột quá xá, không tranh thủ mà làm phí thì giờ vàng ngọc thật là uổng. Nhưng úi trời, lúc chị Sui ỏn ẻn từ trong phòng bước ra hai con mắt tui muốn nổ đom đóm, máu cam từ từ ứa ra từ mũi y hệt trong phim Tàu. Chỉ mặc bộ đồ kiểu gì mà cứ y như không mặc. Hai trái ổi giờ được che bởi những bông hoa vải đỏ nho nhỏ được đính trên cái áo voan màu da mỏng dính. Còn thêm những cái tua đỏ dài dài như tấm màn mỏng nửa che nửa hở. Kiểu này mà nhảy nhót sao được, chưa chi tui đã cứng cả cẳng, run cả đầu gối.
Nhưng phải công nhận chị Sui thật là tài, chỉ dìu tôi đi tới đi lui theo tiếng nhạc dìu dặt mê ly. Biết nhảy đầm mà hấp dẫn như vầy là tôi đã xin đi học nhảy từ hồi mới chui ra khỏi bụng mẹ. Ô, mê lý, mê ly đời ta! Hai trái ổi của chị sui lâu lâu chạm nhẹ vào tôi làm tôi nỗi cả da gà da rắn...Mà đâu cần chị sui chạm, chỉ cần nhìn bộ đồ chỉ mặc kiểu “có mà như không” là trái tim tôi cứ thắt lại, mắt nổ hào quang.
Ấy chỉ là mấy điều sung sướng của tôi, kể nhiều lộ hết bí mật. Còn nổi khổ thì trời ơi là khủng khiếp.
Cái thằng cậu Cả của tôi thật là ngu đại ngu. Cái ngu thứ nhất là nó đem ông Sui bà Sui ghép với nhau. Cái ngu thứ hai là nó thấy hai sui nhảy đầm hết xảy nên biểu con vợ vào lấy máy chụp hình chụp vài “bô” làm kỷ niệm. Thế mới có cái hình đẹp ác chiến và cũng là nguyên cớ cho cái trận ghen ác liệt xảy ra.
Anh sui cùng với chị sui,
Đôi ta say đắm mùi ơi là mùi.
Cái hình này tôi đã nhét dưới mấy cục tạ mà hổng hiểu sao nó lại lọt vào tay vợ tôi. Sau này mới biết hóa ra thằng con nó thấy đẹp rửa ra và gởi cho Paris by night xin ghi tên cho 2 đứa tôi dự thi khiêu vũ. Lại thêm một cái ngu của nó là xớn xác ghi địa chỉ không đúng nên thơ được châu về hợp phố và lọt vào tay con vợ chằn lửa của tôi. Ngu gì mà ngu truyền kiếp! Đúng là con hơn cha nhà mất nóc.
Trước con sư tử dơ nanh vuốt, tôi quỳ thụp xuống xin tha mạng và mếu máo ngâm bài thơ:
Trên đời quý nhất là CON
Cho nhau chẳng tiếc, mình còn dùng chung.
Tiếc chi cái tấm ... thân còng
Còn "ngon" mà chẳng ai dùng, phí đi!!!
Dĩ nhiên là nghe tôi ngâm xong, bả gầm lên và nhào vô cấu xé “tấm thân còng” và xé tan nát luôn cái hình làm tôi tiếc đứt ruột. Nhưng nghĩ cho cùng, cái hình đã được save trong computer thì mắc mớ gì mà tiếc.
Chỉ tiếc có một điều là con vợ của tôi nó ra tối hậu thư:
«Một chị Sui chung nhà là đủ. Còn chị Sui hai thì ông lo mà đem chỉ đi đâu thì đi. Tui không cho phép rước thêm vô căn nhà này.»
Tâm Hiền trích đăng (tác giả là bạn văn của TH)
http://tamhien.multiply.com/journal/item/241
Nguyễn Viết Tân và Thanh Mai Chưa tới sáu mươi mà tôi hên quá, có tới những hai chị sui nhỏ tuổi hơn tôi nhiều. Còn hên hơn nữa là cả hai anh sui đều đã đi bán muối mấy năm nay rồi, để lại hai chị phòng không chích bóng, ngó thấy muốn ứa nước mắt, thiệt tội nghiệp vô cùng.
Có những lúc phởn chí, tôi ngâm lên bài thơ Chị Sui, giọng ngâm trầm ấm rỉ rả trong canh vắng, nghe hay hơn ông Nguyễn Ngọc Ngạn trong Thúy Nga Paris rất nhiều:
- Đêm nằm bên vợ nhớ chị sui
Thấy tình cảnh chị luống ngậm ngùi
Ước ngày nào đó tôi góa vợ
Ghé thăm nhà chị chắc là dzui...
Bà vợ nhỏ của tôi ban đầu nghe tức lắm, nhưng cũng nhờ như thế mà bà ấy biết chìu chuộng, đối xử vời chồng đàng hoàng hơn xưa, chứ cà chớn cà cháo là tôi... ghé thăm chị sui liền một khi.. thì mất cả chì lẫn chài.
Bây giờ bả nghe ngâm thơ riết đã lờn rồi, nên tuyên bố thẳng thừng:
- Đi đâu thì đi, càng đỡ mòn của nhà.
Xin quí cụ cao niên đừng hiểu lầm là tôi có vợ nhỏ rồi hừng chí bắt chước. Bởi vì bà xã tôi hơi nhỏ con (nhưng rất mắn đẻ) nên hồi tôi mới quen bả thì gọi là người em gái nhỏ, bây giờ bả đã đến tuổi "mày thuôn lá ổi, vú thõng dưa gang" rồi thì tôi kêu là vợ nhỏ, chứ chính thực bả là vợ lớn.
Hai chị sui tôi hồi còn con gái chắc là đẹp lắm, bởi vì theo lời hai chị mô tả thì đồ đạc còn nguyên si, khôngcó bơm hút, cắt chích gì hết mà trông vẫn còn phông, nói theo kiểu bình dân là "cứng cạy" lắm.Chắc nhiều người không biết cứng cạy là cái gì.Đó là trái dừa vỏ hết còn là màu xanh, nó đã biến qua màu xám vàng, cơm ở trong không còn mềm èo, mà cùi dừa cũng chưa khô khốc như dừa khô, làm mứt thì ăn vừa miệng vô cùng. Nói tóm lại thì dừa cứng cạy vừa dòn, vừa mềm mà còn nước nôi lắm lắm.
Bây giờ nói về chuyện chị sui thứ nhứt:
Con trai tôi quen con gái chị được chừng một năm thì cưới nhau. Ngày thằng Cậu Cả dẫn tôi đến nhà vợ tương lai của nó, tôi đi cắt tóc, nhuộm đen, mặc bộ đồ lớn, đeo kiếng trắng gọng vàng coi cũng oách như ông này ông nọ chớ chẳng phải chơi.
Thấy ánh mắt là tôi biết chị cũng "chịu đèn" tôi rồi, nhưng cả hai còn thẹn thò đâu dám nói ra. Hôm đám cưới, chị mặc một chiếc váy đen. Chị nhảy đầm tốc cả váy lên coi rất điệu nghệ, tiếc rằng tôi là người chân quê, hồi nhỏ chỉ biết nhảy cò cò, sau lớn lên đi lính thì biết thêm nhảy xổm với nhảy dù, chớ có biết nhảy đầm nhảy đìa chi đâu, bởi vậy cứ ngồi trơ mắt ếch ra xem chị nhảy mà nuốt nước miếng ừng ực.
Ngày tôi có đứa cháu nội đầu tiên thì chị dọn về ở chung với con, để săn sóc cháu ngoại cho tụi nó đi làm. Mỗi lần phải đi lên City làm giấy tờ gì đó, là tôi lại kiếm cớ tạt ngang thăm cháu nội.
Nhấn chuông xong thì thấy chị vội vàng chạy ra mở cửa, tay bế đứa bé mũm mĩm đang chu mỏ ra phun mưa, chân tay chòi chòi đạp đạp.
Chị đưa đứa nhỏ cho tôi bồng, miệng nói:
-Dễ thương lắm đó.
Tôi nhìn vào tay đứa nhỏ đang níu cổ áo bà ngoại nó mà kéo doãng ra, thấy rõ hai trái ổi xá lị không có gì che đậy nên tôi nói nhỏ:
-Ừ, dễ thương quá à!
Chị ngước lên nhìn tôi, màu hồng đỏ bừng lên tới tận tai, miệng cười mủm mỉm coi dễ thương hết sức.
Chị sui nhỏ nhẻ hỏi:
- Bữa nay anh có rảnh không, mời anh vô nhà chờ chút tui nấu chè anh ăn.
Tôi là tay hảo ngọt có tiếng, nghe chị mời chè thì khoái chí tử, bồng thằng nhỏ xà vào cái ghế bành. Thấy chị sui lấy ra một rổ hột me, tôi quăng thằng cháu nội vô cái lồng con nít rồi ngồi bệt với chị ...
Chị sui nói với anh sui
Giờ nầy còn sớm ở chơi khoan về
Vô đây phụ lột hột... me
Để tui chuẩn bị nấu chè mình ăn.
Hôm nay mồng mấy vậy anh?
Nhìn ra ngoài ngõ ánh trăng đã tròn
Hồi xưa ông xã tui còn
Ảnh phụ tui nấu thường hơn anh à
Tụi tui ngồi dưới trăng ngà...
Ăn chè, tán dóc thật là vui tươi
Thắm thoát gần chục năm trời...
Ảnh chết, tui bỏ cả xôi lẫn chè
Hôm nay làm lại đó nhe
Bảo đảm, anh thử sẽ mê tới già...
Tối đó về nhà, vợ tôi thấy tôi bần thần đầu óc mơ màng cứ tưởng tôi bịnh nên giã chén muối ớt, cắt mấy trái khế để tôi ăn chua vào cho giải cảm. Nào ngờ nhìn chén muối ớt mà tôi lại nhớ đến hai trái ổi xá lị, nước miếng cứ dâng lên miệng, cục Adam thì cứ chạy lên chạy xuống. Tôi nuốt nước miếng ừng ực, hít một hơi để dồn chân khí chạy xuống... phía dưới, vừa ăn khế vừa tưởng tượng đến ổi xá lị.
Ăn xong, tôi vội chạy ngay lên giường trùm mền, mơ màng rồi ngủ quên hồi nào không biết. Có ai ngờ là tôi bị bịnh mộng du, thế mới có chuyện xảy ra....Có trời biết, đất biết, Chúa biết, chị sui biết...mà tôi hổng biết.
Hèn chi sáng hôm sau tôi ghé qua thăm thằng cháu nội lần nữa thì chị sui ra mở cửa, mặt ửng hồng, thẹn thùng hỏi:
Tối qua ...anh đến nhà tui?
Sao không gọi cửa ...mà...chui hàng rào?
Tôi thộn mặt ra chắc chắn là …rất ngố. Tại sao mình lại phải chui hàng rào mà không…vượt rào? Nhưng tôi nhanh trí mạnh miệng chối phăng còn ngố hơn:
Đêm khuya chị ngáy ào ào,
Tui chun dzô đó khác nào tui điên?
Than ôi, nhưng đó chỉ là giấc mơ, cơn mộng du thôi, chớ có bóng đèn làm chứng cho tôi, mối tình anh sui chị sui vẫn còn ngây thơ trong trắng không vướng chút bụi trần. Ai không tin thây kệ.
Bây giờ kể đến chị Sui thứ hai:
Thằng con trai kế của tôi ra trường đi làm việc đã lâu. Thành phố nó ở lại không có mấy người Việt, mà từ hồi các con còn nhỏ, chúng tôi thường khuyên nhủ là nên lấy người Việt Nam, kẹt lắm thì lấy Tàu, Thái, Phi cũng còn đỡ, chứ lấy Mỹ hay Mễ thì ba má không phản đối nhưng cũng không thích đâu.
Mấy đứa nhỏ nghe lời, nên bạn bè cặp xách thì cũng có lai rai, nhưng khi lấy vợ thì tuân theo ý cha mẹ, là cô dâu phải biết húp nước mắm. Nhân dịp về Việt Nam thăm bà nội, nó được giới thiệu với một cô gái đẹp lắm, lại con nhà giàu.
Nghe người ta đồn là con gái bây giờ ma mãnh lắm, nó lợi dụng qua đây được rồi là đá liền mà theo thằng khác, nên tôi phải thân chinh về tận bên đó coi lại cho chắc, chứ thằng con tuy gần 30 tuổi rồi mà còn ngây ngô như đá.
Gia đình chị Sui ra rước tận phi trường. Đứa con dâu tương lai ôm bó hoa lớn tặng cho tôi ngay khi gặp mặt tại cổng.
Dĩ nhiên tôi để ý theo dõi nét mặt, tướng đi, lời nói của con nhỏ thì thấy được quá. Con nhà giàu mà không chưng diện, mặc chiếc áo đầm trắng đơn giản, giống như thiên thần.
Còn chị Sui tương lai của tôi thì khỏi nói, mới chừng bốn mươi thôi và nhan sắc thì ôi thôi.. chậc chậc.. giới địa ốc bên Việt Nam gọi là "điện nước đầy đủ cả".
Anh Sui đã cất bước theo ông bà khoảng chừng năm năm nay, để lại cho chị một gia sản kếch sù, gồm nhiều căn nhà ở thành phố và các tỉnh miền tây, với một đoàn xe tải ba bốn chục chiếc, chuyên chở hàng từ những cửa khẩu về SG hay các tỉnh. Tôi choáng ngợp trước sự giàu có của họ, cho dù ở bên Mỹ tôi cũng chẳng nghèo hèn gì.
Nhà đàng gái có nhiều xe, nhiều tài xế, nhiều người làm, nên nếu sau này con nhỏ đó có về làm vợ thằng con tôi, chắc nó cũng không biết nấu ăn, giặt quần áo gì đâu, chỉ tội cho thằng con lo hầu vợ mà thôi. Nhưng ngẫm đi nghĩ lại, bà xã tôi ngày xưa có là tiểu thư khuê các con nhà giàu gì đâu, mà bây giờ tôi cũng vẫn phải nai lưng ra hầu việc bả vậy. Thôi cũng đành phó thác cho mệnh trời.
Giấy tờ làm hôn thú, bảo lãnh cũng còn khá lâu, nên chị Sui muốn nhờ tôi làm một thư mời bả qua Mỹ, thực tế là đi chơi, nhưng giấy tờ là mời một "đối tác" từ bên VN qua để làm ăn.
Chắc bả muốn coi gia đình tôi có môn đăng hộ đối không, thằng con tôi là kỹ sư thiệt hay dỏm, nó đang làm ông Sếp hay đang cong đít lau sàn nhà.
Thư mời, tôi có bấm con dấu nổi của công ty, bả dòm thấy nổi cộm lên một cục chắc lé con mắt, vì mộc bên VN đóng đỏ toè loe, nhưng làm sao oai bằng con dấu của tôi được.
***
Mấy tháng nay, kinh tế Mỹ lao xuống vùn vụt, thằng Cậu Cả nhà tôi bị lay off, nó đành dọn về nhà cha mẹ ở chứ không còn đủ khả năng ở nhà lớn nữa, mà nhà tôi thì các con dần dần như con chim mọc đủ lông cánh, bay đi khắp bốn phương trời.
Chị Sui ở một mình cô quạnh nên tôi phải thường xuyên ghé thăm thay thế cho đám nhỏ. Một bữa tôi nghe chỉ than mà thấy thương quá.
Cám ơn anh đã ghé qua...
Con gả đi hết cửa nhà quạnh hiu!
Làm tui cảm thấy buồn thiu
Riết rồi sanh bệnh ít nhiều anh ơi!
Thế rồi tôi và mấy đứa con thuyết phục bà vợ nhỏ của tôi nên rốt cuộc mời được chị Sui về ở chung với gia đình tôi.
Sắp tới chị Sui thứ Hai qua đây chơi, tôi cũng không đành để chỉ ngụ tại Khách sạn, nó lạnh lẽo và bất tiện lắm, tôi sẽ đem về ở chung nhà.
Tưởng tượng đến cảnh mấy người đề huề "chung một mái nhà" mà tôi thấy mình như sắp lên thiên đường.
***
Chị Sui hai chưa qua mà tôi bây giờ đã biết thế nào là cảnh 1 ông nhiều bà. Trời ơi là sướng như tiên mặc dù hơi...điên cái đầu.
Trước hết nói về cái Sướng là bởi mấy bà trong nhà lúc nào cũng chìu chuộng, trổ tài chinh phục trái tim mong manh của tôi.
Bà xã tôi hồi giờ ăn hiếp bắt tôi nội trợ lo cơm nước thì nay lại chịu khó lăng xăng lí xí nấu nướng bưng cơm dâng tận tay tôi, lại còn bưng nước, xĩa răng cho tôi nữa. Tôi mới ưỡn lưng than mỏi là bả xà vào đấm bóp, massage cho tôi ra cái điều tôi là sở hữu của bả.
Còn chị Sui thì tự nhiên đòi dạy tôi nhảy đầm. Chỉ bảo là hôm đám cưới thấy tôi ngồi thộn mặt ra ngó thiên hạ nhảy nhót giống y mặt con cóc tía mà tiếc cho tôi và...chỉ hết sức nên phải kiếm dịp mà luyện võ nghệ cho tôi. Chỉ bảo điệu sì lô cóc khô gì gì đó là dễ nhất và hợp với cái tướng to con của tôi. Ừ, nhảy thì nhảy, tôi sợ gì mà không tập. Sẵn bà vợ nhỏ của tôi mắc đi đánh tứ sắc ở nhà bạn, vợ chồng thằng Cậu Cả được dịp xúi vào, hổng hiểu tụi nó có dụng ý gì:
- Má đi rồi, Ba tới đi Ba.
- Ừ, tới thì tới. Nhảy đầm là một môn nghệ thuật mà.
Thế là thằng con mang đờn ra, còn tui thì diện bộ đồ vía vào. Chị Sui vào trong thay đồ thật lâu làm tui sốt ruột quá xá, không tranh thủ mà làm phí thì giờ vàng ngọc thật là uổng. Nhưng úi trời, lúc chị Sui ỏn ẻn từ trong phòng bước ra hai con mắt tui muốn nổ đom đóm, máu cam từ từ ứa ra từ mũi y hệt trong phim Tàu. Chỉ mặc bộ đồ kiểu gì mà cứ y như không mặc. Hai trái ổi giờ được che bởi những bông hoa vải đỏ nho nhỏ được đính trên cái áo voan màu da mỏng dính. Còn thêm những cái tua đỏ dài dài như tấm màn mỏng nửa che nửa hở. Kiểu này mà nhảy nhót sao được, chưa chi tui đã cứng cả cẳng, run cả đầu gối.
Nhưng phải công nhận chị Sui thật là tài, chỉ dìu tôi đi tới đi lui theo tiếng nhạc dìu dặt mê ly. Biết nhảy đầm mà hấp dẫn như vầy là tôi đã xin đi học nhảy từ hồi mới chui ra khỏi bụng mẹ. Ô, mê lý, mê ly đời ta! Hai trái ổi của chị sui lâu lâu chạm nhẹ vào tôi làm tôi nỗi cả da gà da rắn...Mà đâu cần chị sui chạm, chỉ cần nhìn bộ đồ chỉ mặc kiểu “có mà như không” là trái tim tôi cứ thắt lại, mắt nổ hào quang.
Ấy chỉ là mấy điều sung sướng của tôi, kể nhiều lộ hết bí mật. Còn nổi khổ thì trời ơi là khủng khiếp.
Cái thằng cậu Cả của tôi thật là ngu đại ngu. Cái ngu thứ nhất là nó đem ông Sui bà Sui ghép với nhau. Cái ngu thứ hai là nó thấy hai sui nhảy đầm hết xảy nên biểu con vợ vào lấy máy chụp hình chụp vài “bô” làm kỷ niệm. Thế mới có cái hình đẹp ác chiến và cũng là nguyên cớ cho cái trận ghen ác liệt xảy ra.
Anh sui cùng với chị sui,
Đôi ta say đắm mùi ơi là mùi.
Cái hình này tôi đã nhét dưới mấy cục tạ mà hổng hiểu sao nó lại lọt vào tay vợ tôi. Sau này mới biết hóa ra thằng con nó thấy đẹp rửa ra và gởi cho Paris by night xin ghi tên cho 2 đứa tôi dự thi khiêu vũ. Lại thêm một cái ngu của nó là xớn xác ghi địa chỉ không đúng nên thơ được châu về hợp phố và lọt vào tay con vợ chằn lửa của tôi. Ngu gì mà ngu truyền kiếp! Đúng là con hơn cha nhà mất nóc.
Trước con sư tử dơ nanh vuốt, tôi quỳ thụp xuống xin tha mạng và mếu máo ngâm bài thơ:
Trên đời quý nhất là CON
Cho nhau chẳng tiếc, mình còn dùng chung.
Tiếc chi cái tấm ... thân còng
Còn "ngon" mà chẳng ai dùng, phí đi!!!
Dĩ nhiên là nghe tôi ngâm xong, bả gầm lên và nhào vô cấu xé “tấm thân còng” và xé tan nát luôn cái hình làm tôi tiếc đứt ruột. Nhưng nghĩ cho cùng, cái hình đã được save trong computer thì mắc mớ gì mà tiếc.
Chỉ tiếc có một điều là con vợ của tôi nó ra tối hậu thư:
«Một chị Sui chung nhà là đủ. Còn chị Sui hai thì ông lo mà đem chỉ đi đâu thì đi. Tui không cho phép rước thêm vô căn nhà này.»
Tâm Hiền trích đăng (tác giả là bạn văn của TH)
http://tamhien.multiply.com/journal/item/241
Chuyên Xôi Sài Gòn
Người Sài Gòn rất chuộng xôi. Xôi sớm, xôi chiều, xôi tối lúc nào cũng có người ăn.
Đất Sài thành có một phố chuyên bán xôi và còn rất nhiều món xôi "đặc sản" khó tìm nơi khác.
Xôi Sài Gòn có thể chia làm hai loại là xôi ngọt và xôi mặn.
Xôi ngọt phổ biến nhất vẫn là xôi gấc, xôi cẩm (hay còn gọi là xôi tím), xôi nếp than, xôi đậu, xôi sầu riêng, xôi vò.
Mỗi loại xôi lại có cách thêm hành phi, mỡ hành, dừa bào hay đường riêng.

Xôi ngọt tại Sài Gòn thường có lớp đường phủ lên trên

Xôi mặn Sài Gòn

Người Sài Gòn cũng rất thích xôi gấc

Xôi sầu riêng có hương vị rất đặc biệt

Ví như ăn xôi đậu bao giờ cũng phết thêm một miếng đậu xanh nhuyễn vàng ươm,
thêm một ít sợi dừa bào nhỏ, sau cùng là rắc lên một ít đường cát trắng phau.

Xôi cẩm là loại xôi có màu tím thủy chung. Ăn xôi tím phải có thêm mỡ hành
và hành phi mới đúng vị. Người ta vẫn thường rưới mỡ hành và hành phi khi ăn
các món mặn, nhưng riêng với một số món xôi ngọt như xôi cẩm lại phải kèm
theo hai vị này mới ngon.

Cách ăn này quả thực chỉ phổ biến ở Sài Gòn vì người Sài Gòn ăn món ăn nào
mà không có nước dường như đều phải có thêm ít mỡ hành beo béo mới đã.
Các món xôi có nguồn gốc từ phía bắc như xôi cốm, xôi gấc cũng chễnh chệ
nằm trên các quầy hàng khắp các nẻo đường Sài Gòn. Vào đến trong Nam,
hương vị của các món xôi này ít nhiều đã thay đổi. Vẫn là xôi với gạo nếp thơm lừng,
khác chăng là hương vị ngọt hơn theo khẩu vị của người Nam.

Xôi ngọt thuần túy miền Nam thì phải kể đến xôi bắp.
Bắp phải là bắp nếp, hầm với nước dừa, tạo thành món ăn nửa xôi nửa cháo.

Hạt bắp hầm xong nở bung thật mềm, thậm chí hơi nhão, có màu trắng tươi,
rắc thêm đậu xanh đánh cho tơi mịn, rồi lại thêm ít dừa nạo, muối mè.
Ăn vào vừa ngọt vừa béo nhưng không ngấy lại ngon tuyệt.

Xôi ngọt Sài Gòn, đúng như tên gọi của nó, vị ngọt quyện với cái dẻo thơm của nếp,
beo béo của dừa, đậu xanh xoay nhuyễn và mỡ hành, lại thêm ít hành phi thơm thơm
giòn giòn tạo nên một hương vị riêng mà quen thuộc.

Ngoài ra còn có một món xôi ngọt khá đặc sắc nhưng không phổ biến bằng
các món xôi ngọt như đã kể ở trên là món xôi xiêm. Xôi xiêm có nguồn gốc từ Thái Lan.
Xôi Xiêm là sự tổng hợp từ các nguyên liệu từ gạo nếp Thái Lan, nước cốt dừa, sầu riêng,
đường thốt nốt…
Việc chế biến Xôi xiêm không phức tạp nhưng lại cần có kinh nghiệm và sự khéo léo.
Xôi hấp phải chín tới, dẻo, không nhão mà cũng không cứng, nước xốt có vị ngọt,
ngậy mà không béo, thơm mát. Ở Sài Gòn xôi xiêm thường được bán ở khu người Hoa (quận 5).
Xôi mặn thì phải kể đến xôi gà, xôi lạp xưởng, trứng cút, xá xíu, xôi chả, pa tê… Thường người ta
sẽ để xôi gà sang một bên, còn xôi với lạp xưởng, chả, trứng cút, pa tê sẽ gộp chung gọi là xôi mặn.

Xôi gà luộc-một món rất riêng

Xôi mặn thập cẩm

Xôi trứng lạp xưởng

Các món trên đều có thành phần chung là xôi nếp nấu dẻo thơm, mỡ hành beo béo
với cọng hành xắt nhỏ còn nguyên màu xanh ươm dù đã qua lớp dầu nóng,
thêm ít hành phi cho giòn thơm. Tùy theo nhu cầu và khẩu vị mà chọn các món ăn kèm
như tôm khô, tôm chiên bột, lạp xưởng, trứng cút…
Riêng với xôi gà thì cũng có nhiều cách để thưởng thức. Phổ biến nhất vẫn là xôi gà xé,
vừa tiện lợi lại ngon, đó là đáp ứng cái nhu cầu nhanh, tiện lợi của người thành phố.
Nơi mà sự bận rộn khiến người ta thích được làm sẵn.

Từng miếng gà được xé thành xợi nhỏ, khi ăn không phải động tay xé gà,
chỉ việc thưởng thức vị ngon thức ăn đem lại. Gà xé có thể là gà luộc kỹ cho nước ngọt
vào trong từng thớ thịt, cũng có thể là gà chiên giòn, có nơi lại chọn cách là dùng gà nướng.
Xôi Sài Gòn thường bán vào sáng hoặc chiều tối. Sáng thì các hàng xôi thường tụ tập
trước cổng trường học, hoặc bán bên lề đường. Trước trường nào cũng có ít nhất
một gánh hàng xôi mà trên vỉa hè các con đường lớn nhỏ cũng không thể thiếu gánh xôi.

Xôi chiều thì phải kể đến đoạn đường Cao Thắng từ đầu đường đến ngã tư Điện Biên Phủ.
Xe nào xe nấy đều được đầu tư kỹ lưỡng, để ba bốn xửng xôi cao, khói bốc nghi ngút.
Chủ yếu là xôi ngọt với đủ màu sắc bắt mắt. Chỉ cần chạy xe ngang qua, nghe mùi thơm
tản mác trong không khí thì khó có thể kìm lòng mà đi tiếp. Mỗi gói xôi ở đây có giá từ 5.000đ đến 10.000đ.

Góc đường Sương Nguyệt Ánh giao với Cách Mạng Tháng Tám cũng có một gánh
hàng xôi gà, xôi bắp rất ngon chỉ bán buổi chiều. Gánh hàng xôi đã xấp xỉ hai mươi năm.
Trải qua bao thăng trầm cùng thời gian, cái son sắc một thời của cô bán hàng cũng
vơi đi ít nhiều, nhưng hương vị gói xôi vẫn ngon như thuở nào. Xôi ở đây chỉ 7.000 đồng
một gói, lại được gói trong lá chuối chứ không phải gói bằng giấy bóng như các nơi khác.
Sài Gòn cũng có một quán xôi nức tiếng từ xưa đến nay nằm ở đường Bùi Thị Xuân.
Đây được mệnh danh là quán xôi ngon nhất Sài Gòn với món xôi gà chiên, xôi lòng gà
và xôi gấc nổi danh. Xôi ở đây có độ nở vừa phải, lại dẻo thơm.

Xôi gấc có vị ngọt thanh mát tự nhiên lại thơm lừng. Người đến đây ăn một lần
chắc chắn sẽ có lần thứ hai, thứ ba. Quán tuy nhỏ nhưng có đội ngũ nhân viên đông đảo,
lại nhiệt tình, dù đến ăn hay mang về đều không phải đợi lâu.
Văn hoá xôi ở Sài Gòn đa dạng vậy đó. Xôi luôn là món ăn vừa ngon, vừa no vừa tiện lợi
chẳng kém bánh mì. Người Sài Gòn phóng khoáng, dễ tiếp nhận và xởi lởi.
Gánh hàng xôi cũng theo đó mà trở nên phong phú, đa dạng hơn nhiều. Từ một món xôi
dân dã bé nhỏ cũng phần nào đã khắc họa nên nét văn hóa riêng biệt của người dân chốn Sài Thành.
Người Sài Gòn rất chuộng xôi. Xôi sớm, xôi chiều, xôi tối lúc nào cũng có người ăn.
Đất Sài thành có một phố chuyên bán xôi và còn rất nhiều món xôi "đặc sản" khó tìm nơi khác.
Xôi Sài Gòn có thể chia làm hai loại là xôi ngọt và xôi mặn.
Xôi ngọt phổ biến nhất vẫn là xôi gấc, xôi cẩm (hay còn gọi là xôi tím), xôi nếp than, xôi đậu, xôi sầu riêng, xôi vò.
Mỗi loại xôi lại có cách thêm hành phi, mỡ hành, dừa bào hay đường riêng.

Xôi ngọt tại Sài Gòn thường có lớp đường phủ lên trên

Xôi mặn Sài Gòn

Người Sài Gòn cũng rất thích xôi gấc

Xôi sầu riêng có hương vị rất đặc biệt

Ví như ăn xôi đậu bao giờ cũng phết thêm một miếng đậu xanh nhuyễn vàng ươm,
thêm một ít sợi dừa bào nhỏ, sau cùng là rắc lên một ít đường cát trắng phau.

Xôi cẩm là loại xôi có màu tím thủy chung. Ăn xôi tím phải có thêm mỡ hành
và hành phi mới đúng vị. Người ta vẫn thường rưới mỡ hành và hành phi khi ăn
các món mặn, nhưng riêng với một số món xôi ngọt như xôi cẩm lại phải kèm
theo hai vị này mới ngon.

Cách ăn này quả thực chỉ phổ biến ở Sài Gòn vì người Sài Gòn ăn món ăn nào
mà không có nước dường như đều phải có thêm ít mỡ hành beo béo mới đã.
Các món xôi có nguồn gốc từ phía bắc như xôi cốm, xôi gấc cũng chễnh chệ
nằm trên các quầy hàng khắp các nẻo đường Sài Gòn. Vào đến trong Nam,
hương vị của các món xôi này ít nhiều đã thay đổi. Vẫn là xôi với gạo nếp thơm lừng,
khác chăng là hương vị ngọt hơn theo khẩu vị của người Nam.

Xôi ngọt thuần túy miền Nam thì phải kể đến xôi bắp.
Bắp phải là bắp nếp, hầm với nước dừa, tạo thành món ăn nửa xôi nửa cháo.

Hạt bắp hầm xong nở bung thật mềm, thậm chí hơi nhão, có màu trắng tươi,
rắc thêm đậu xanh đánh cho tơi mịn, rồi lại thêm ít dừa nạo, muối mè.
Ăn vào vừa ngọt vừa béo nhưng không ngấy lại ngon tuyệt.

Xôi ngọt Sài Gòn, đúng như tên gọi của nó, vị ngọt quyện với cái dẻo thơm của nếp,
beo béo của dừa, đậu xanh xoay nhuyễn và mỡ hành, lại thêm ít hành phi thơm thơm
giòn giòn tạo nên một hương vị riêng mà quen thuộc.

Ngoài ra còn có một món xôi ngọt khá đặc sắc nhưng không phổ biến bằng
các món xôi ngọt như đã kể ở trên là món xôi xiêm. Xôi xiêm có nguồn gốc từ Thái Lan.
Xôi Xiêm là sự tổng hợp từ các nguyên liệu từ gạo nếp Thái Lan, nước cốt dừa, sầu riêng,
đường thốt nốt…
Việc chế biến Xôi xiêm không phức tạp nhưng lại cần có kinh nghiệm và sự khéo léo.
Xôi hấp phải chín tới, dẻo, không nhão mà cũng không cứng, nước xốt có vị ngọt,
ngậy mà không béo, thơm mát. Ở Sài Gòn xôi xiêm thường được bán ở khu người Hoa (quận 5).
Xôi mặn thì phải kể đến xôi gà, xôi lạp xưởng, trứng cút, xá xíu, xôi chả, pa tê… Thường người ta
sẽ để xôi gà sang một bên, còn xôi với lạp xưởng, chả, trứng cút, pa tê sẽ gộp chung gọi là xôi mặn.

Xôi gà luộc-một món rất riêng

Xôi mặn thập cẩm

Xôi trứng lạp xưởng

Các món trên đều có thành phần chung là xôi nếp nấu dẻo thơm, mỡ hành beo béo
với cọng hành xắt nhỏ còn nguyên màu xanh ươm dù đã qua lớp dầu nóng,
thêm ít hành phi cho giòn thơm. Tùy theo nhu cầu và khẩu vị mà chọn các món ăn kèm
như tôm khô, tôm chiên bột, lạp xưởng, trứng cút…
Riêng với xôi gà thì cũng có nhiều cách để thưởng thức. Phổ biến nhất vẫn là xôi gà xé,
vừa tiện lợi lại ngon, đó là đáp ứng cái nhu cầu nhanh, tiện lợi của người thành phố.
Nơi mà sự bận rộn khiến người ta thích được làm sẵn.

Từng miếng gà được xé thành xợi nhỏ, khi ăn không phải động tay xé gà,
chỉ việc thưởng thức vị ngon thức ăn đem lại. Gà xé có thể là gà luộc kỹ cho nước ngọt
vào trong từng thớ thịt, cũng có thể là gà chiên giòn, có nơi lại chọn cách là dùng gà nướng.
Xôi Sài Gòn thường bán vào sáng hoặc chiều tối. Sáng thì các hàng xôi thường tụ tập
trước cổng trường học, hoặc bán bên lề đường. Trước trường nào cũng có ít nhất
một gánh hàng xôi mà trên vỉa hè các con đường lớn nhỏ cũng không thể thiếu gánh xôi.

Xôi chiều thì phải kể đến đoạn đường Cao Thắng từ đầu đường đến ngã tư Điện Biên Phủ.
Xe nào xe nấy đều được đầu tư kỹ lưỡng, để ba bốn xửng xôi cao, khói bốc nghi ngút.
Chủ yếu là xôi ngọt với đủ màu sắc bắt mắt. Chỉ cần chạy xe ngang qua, nghe mùi thơm
tản mác trong không khí thì khó có thể kìm lòng mà đi tiếp. Mỗi gói xôi ở đây có giá từ 5.000đ đến 10.000đ.

Góc đường Sương Nguyệt Ánh giao với Cách Mạng Tháng Tám cũng có một gánh
hàng xôi gà, xôi bắp rất ngon chỉ bán buổi chiều. Gánh hàng xôi đã xấp xỉ hai mươi năm.
Trải qua bao thăng trầm cùng thời gian, cái son sắc một thời của cô bán hàng cũng
vơi đi ít nhiều, nhưng hương vị gói xôi vẫn ngon như thuở nào. Xôi ở đây chỉ 7.000 đồng
một gói, lại được gói trong lá chuối chứ không phải gói bằng giấy bóng như các nơi khác.
Sài Gòn cũng có một quán xôi nức tiếng từ xưa đến nay nằm ở đường Bùi Thị Xuân.
Đây được mệnh danh là quán xôi ngon nhất Sài Gòn với món xôi gà chiên, xôi lòng gà
và xôi gấc nổi danh. Xôi ở đây có độ nở vừa phải, lại dẻo thơm.

Xôi gấc có vị ngọt thanh mát tự nhiên lại thơm lừng. Người đến đây ăn một lần
chắc chắn sẽ có lần thứ hai, thứ ba. Quán tuy nhỏ nhưng có đội ngũ nhân viên đông đảo,
lại nhiệt tình, dù đến ăn hay mang về đều không phải đợi lâu.
Văn hoá xôi ở Sài Gòn đa dạng vậy đó. Xôi luôn là món ăn vừa ngon, vừa no vừa tiện lợi
chẳng kém bánh mì. Người Sài Gòn phóng khoáng, dễ tiếp nhận và xởi lởi.
Gánh hàng xôi cũng theo đó mà trở nên phong phú, đa dạng hơn nhiều. Từ một món xôi
dân dã bé nhỏ cũng phần nào đã khắc họa nên nét văn hóa riêng biệt của người dân chốn Sài Thành.

