Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Lầm Lỗi Là Chuyện Thường

Hôm nay kỷ niệm ngày sinh của George Washington, vị tổng thống đầu tiên của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Con người đã có công đưa nước Mỹ đến độc lập, tự do và phồn thịnh ấy nổi tiếng là người nóng nảy, nhưng luôn biết phục thiện và yêu sự thanh liêm. Ngay từ lúc thiếu thời, ông đã tỏ ra là người đơn thành và sẵn sàng nhận lỗi của mình...

Ngày kia, cậu bé George được trao cho một con dao để ra vườn làm cỏ. Trong vườn có một cây anh đào nhỏ mà cha mẹ cậu rất quý. Chưa phân biệt được thế nào là cỏ dại thế nào là cây trái, George đã chặt đứt cây anh đào vô cùng qúy giá của cha mẹ mình.

Cha của George đau lòng nhìn thấy cây anh đào đổ xuống mặt đất. Ông đã thoáng nghi George là thủ phạm, nên mới hỏi cậu: "Con có biết ai là người đốn hạ cây anh đào không? Cha không muốn thấy điều đó lập lại một lần nữa...". George suy nghĩ một lúc và trả lời: "Chính con là người đã đốn cây anh đào. Cha cứ phạt con đi".

Và George ngạc nhiên vô cùng khi nghe cha cậu trả lời: "Ðiều con vừa làm là một điều sai trái.Nhưng con đã chữa được điều sai trái đó khi dám nói lên sự thật. Cha đánh giá lòng can đảm và sự thành thật của con cao hơn là trăm nghìn những cây đẹp như thế...".

Không ai trong chúng ta, đặc biệt là tuổi trẻ, mà lại không sống với hy vọng tốt đẹp hơn trong tương lai. Nhưng phải thành thật mà nói thì cuộc đời không phải lúc nào cũng là con đường trải hoa, vì nhiều lần chúng ta gặp hoàn cảnh vô cùng tệ hại. Ðố với nhiều người, dường như hy vọng về những điều tốt đẹp chỉ thành tựu trong mơ mộng mà thôi và thực tế rất phũ phàng.

Tuổi trẻ đi qua rất nhanh. Ngày tháng trôi qua, chúng ta chẳng mấy chốc già đi. Tóc trên đầu chúng ta mỗi lúc một điểm thêm nhiều muối tiêu. Sau khoảng 45, mỗi lần nhìn vào trong gương, chúng ta giật mình thấy mình già mau quá. nhìn lại tập ảnh của gia đình, lắm khi chúng ta không có can đảm ngắm lâu hơn. Chẳng những gương mặt, mái tóc bên ngoài, mà tuổi già còn gặp nhiều hạn chế hơn tuổi trẻ. Những môn thể thao trước kia ưa thích, nay không còn đủ sức để chơi nữa. Cặp mắt sắc sảo đã phải đeo thêm kính mới đọc được sách. Khi bước vào lớp tuổi 60 trở lên, bước đi của chúng trỏe nên chậm chạp hơn. Trí nhớ mỗi lúc một ra kém cỏi...

Tuổi trẻ là một chuỗi những vấp ngã, tuổi già là những tháng ngày để ân hận và hối tiếc khi chợt nhận ra giới hạn của mình. Cuộc đời là thế. Chúng ta có nên bi quan không?

Người Kitô chúng ta luôn được mời gọi để sống hy vọng. Ðổ vỡ, thất bại không phải là những ngõ cụt trong cuốc sống, nhưng phải là bàn đạp để chúng ta vươn cao hơn. Cuộc đời không phải là một chuỗi ngày giữa chiếc nôi và ngôi mộ. Cuộc đời là một hành trình đi từ chỗ hữu hạn đến chỗ vô hạn, từ chỗ tuyệt vọng đến chỗ đầy hy vọng. Và cuối cùng cánh cửa của sự chết mà chúng ta rồi đây sẽ bước qua chỉ là một khúc quanh của cuộc hành trình này mà thôi...

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Internet và điện thoại di động, 2 vũ khí góp phần lật đổ các chế độ độc tài
Thanh Phương -


Hôm nay, đài truyền hình chính thức của Libya bác bỏ thông tin về những vụ thảm sát người biểu tình chống chế độ Kadhafi, khẳng định đó chỉ là « những tin đồn và tin bịa đặt ». Nhưng nhiều người dân Libya cũng như dư luận quốc tế đều biết rằng từ nhiều ngày qua, chính quyền Tripoli đã thẳng tay đàn áp những người biểu tình, thậm chí sử dụng cả máy bay để oanh kích vào họ, khiến hàng trăm người chết.


Những thông tin này có được chủ yếu đó là nhờ các mạng xã hội đã liên tục chuyển tải những lời kể của nhân chứng tại chỗ, cũng như những hình ảnh do chính những người biểu tình quay bằng điện thoại di động.

Có thể nói là các mạng xã hội và điện thoại di động đã đóng góp vào việc lật đổ các chế độ độc tài Tunisia và Ai Cập, cũng như trong việc dấy lên phong trào phản kháng chưa từng có ở Libya và một số nước khác.

Nhờ những hình ảnh được quay bằng điện thoại di động ở Tunis, Cairo, Bahrain,. . . , được tải lên các mạng Facebook, Twitter, Flickr, YouTube, rồi sao đó được các đài truyền hình quốc tế như CNN hay Al-Jazira lấy lại để phát, mà cả thế giới biết được tầm mức của phong trào phản kháng tại những nước đó. Riêng mạng YouTube nay đang có rất nhiều đoạn phim do một người sử dụng Internet có bí danh là « enoughgaddafi » ( Kadhafi, thế là đủ rồi ). Những hình ảnh về các vụ đàn áp biểu tình đẫm máu ở Bahrain và Libya đã gây phẫn nộ cho cả thế giới và càng khiến cho người dân các nước này thêm căm thù chế độ.

Micah Sifry, đồng sáng lập viên trang blog techPresident, chuyên về chính trị và các công nghệ thông tin, trong một bài báo gần đây có viết rằng, tại vùng Trung Đông, điện thoại di động còn phổ biến hơn cả Internet. Theo ông Sifry, đang hình thành quyền lực của một thế hệ trẻ, sống ở đô thị và được trang bị điện thoại di động. Đây là nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy các phong trào phản kháng.

Theo lời anh Wael Ghonim, nhân viên của tập đoàn Internet Google và là một trong những gương mặt tiêu biểu của cuộc nổi dậy tại Ai Cập vừa qua, các mạng xã hội đã đóng vai trò chủ yếu trong việc lật đổ Mubarak. Phát biểu trên đài truyền hình Mỹ CBS, anh nói rằng : « Không có Facebook, Twitter, Google, YouTube, chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra. »

Ông Alec Ross, cố vấn cho Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton về các công nghệ mới, gần đây cũng nhìn nhận rằng, các mạng xã hội đã đóng một « vai trò quan trọng » trong các sự kiện ở Tunisia và Ai Cập, nhưng « công nghệ không tạo ra các phong trào ». Đúng hơn là, theo ông Alec Ross, công nghệ thông tin đã đẩy nhanh những biến chuyển. Bình thường, những phong trào đó có thể kéo dài hàng tháng hay hàng năm, nhưng nay được thu ngắn lại rất nhiều, nhờ các mạng xã hội. Ông so sánh mạng thông tin toàn cầu như là Che Guevara của thế kỷ 21.

Trong nỗ lực nhằm tiếp tục bưng bít thông tin, lãnh tụ Libya Kadhafi đã ngăn chận truy cập Internet trong nước. Cựu tổng thống Aicập Mubarak cũng đã làm như vậy, nhưng cuối cùng cũng đã bị lật đổ. Dĩ nhiên là tình hình của hai nước không hoàn toàn giống nhau. Khác với Mubarak, Kadhafi tỏ vẻ cương quyết dìm phong trào biểu tình trong biển máu. Nhưng phong trào được nuôi dưỡng bằng Internet và điện thoại di động chắc chắn sẽ khó mà bị dập tắt.

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

ViệtKiều nuôi ViệtCộng

Việt kiều dành dụm mang tiền về nước làm từ thiện cho nhà giầu,
Hà Nội ăn chơi xa hoa
Phóng sự của Đài BBC của Anh, Alastair Leithead từ Hà nội gởi về nói về dân nhà giàu ăn chơi. Tựa đề phóng sự là “Ăn Phở 35 Đô Ở Nước Việt Nam Cộng Sản”. Chơi xe máy dầu Harley Davidson mà một thành viên người ngoại quốc của câu lạc bộ nhận xét "Ông sẽ không bao giờ nhìn thấy nhiều xe hạng sang như thế này ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới." Chơi xe hơi mắc, mới, lạ không thể tưởng. Xe Porsche hai cầu dù Alastair Leithead là nhà báo đi nhiều nhưng chưa biết có loại xe đó; xe Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý người đặt hàng mua.

Tin RFA, thống kê của Bộ Công thương của CS Hà nội công bố trong năm 2010, Việt Nam CS đã “nhập khẩu“ những mặt hàng xa xỉ lên đến 10 tỷ đô la. Ô tô và xe máy chỉ chiếm khoảng 1 tỷ đô la, trong khi “hàng hiệu” được xem là xa xỉ phẩm như: điện thoại di động loại mới, mỹ phẩm, rượu bia, thuốc lá, đồ trang sức, đá quý và quần áo loại sang chiếm 9 tỷ đô la.

Số triệu, tỷ phú đô la nổi ở trong nước mỗi năm đều tăng lên. Có người chẳng những mua xe sang mà mua luôn máy bay để đi nữa. Số triệu, tỷ phú chìm ắt còn nhiều hơn nữa nhưng họ dấu kín. Đó là những cán bộ đảng viên có quyền khi tham nhũng trở thành quốc nạn. Tài sản họ cướp được của đất nước và nhân dân nhiều vô số kể.

Làm gì trong bối cảnh tham nhũng là quốc nạn, một thiểu số 3 triệu 6 cán bộ đảng viên CS không hối mại quyền thế, tham ô nhũng lạm, dĩ công vi tư khi họ đang cầm quyền, nắm tiền, nắm của của nước Việt Nam. Họ giàu có, thừa mứa, mỗi năm xài hết 10 tỷ Mỹ kim cho hàng “nhập” xa xí. Họ là những người làm giàu nhờ nguời dân trong nước thì khi người dân gặp thiên tai thì họ là người phải gíup trả lại một phần cho cộng đồng chớ.

Người Việt hải ngoại đâu có giàu như họ, phải làm việc một tuần 40 giờ, hàng chục thứ hoá đơn phải trả, đóng thuế cao, đâu có được hưởng quyền lợi gì ở VN như họ, tại sao khi có thiên tai thì lại bị kêu gọi góp tiền đem về cứu trợ.

Hỏi có người Việt Hải ngoại nào ăn tô phở bò 35 Đô mắc như vàng, đi xe máy dầu loại dầu Harley Davidson hạng sang, xe hơi Porsche hai cầu, Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý người chủ mua. Có mấy người mua Iphone 4 mới ra giá tương đương 900 Đô.

Thử tính sơ đi, sẽ thấy cán bộ, đảng viên và những người ăn theo trong nước việt cộng giàu thế nào trong thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cái thời Đảng Nhà Nước và bọn tài phiệt theo cướp của quốc gia, bóc lột công người lao động như thời kinh tế tư bản hoang.

Từ hải ngoại, người Việt hải ngoại cũng đóng góp cho cái giàu của đảng viên, cán bộ và bọn tài phiệt ăn theo trong nước. Mỗi năm “Việt Kiều” gởi về nước 8 tỷ Đô và về chơi mang theo để xài tối thiểu cũng 6 tỷ nữa ( 300,000 người về, mỗi người tốn 2000$ để xài). Liên Hiệp Quốc viện trợ 3 tỷ. Sơ sơ Đảng Nhà Nước thu được 17 tỷ là giá chót. Đó là chưa nói số ngoại tệ Đảng Nhà Nước bòn vét tài nguyên dầu khí, cao su, gạo, v.v đem bán thô cho ngoại quốc. Phải hàng chục tỷ nữa.

Nếu so sánh với chánh quyền Việt Nam Cộng Hoà thời trước 75 ở Miền Nam mới thấy CS họ hoang phí vô độ. Việt Nam Cộng Hoà khi xưa chỉ nhận viện trợ dân sự 700 triệu Mỹ Kim mà phải lo cho 17 triệu dân với giáo dục công lập, y tế công cộng miễn phí. Tài trợ cho đồng bào Miền Trung ăn gạo giá có thể chịu được.

Thế nhưng khi có thiên tai bão lụt, nhân dân và chánh quyền đùm bọc lấy nhau, đâu có ngửa tay xin ngoại quốc. Và công dân VNCH lên máy bay đi ngoại được các nước xem là công dân của một nước có nền kinh tế phát triển, hơn Đài Loan, Nam Hàn, Thái Lan.

Còn bây giờ, Đảng Nhà Nước Cộng Sản Hà nội là cơ quan có nhiệm vụ pháp lý và đạo lý phải lo cứu trợ. Luật CS Hà nội qui định không tổ chức nào trong và ngoài nước được phân phối tiền cứu trợ tại Việt Nam ngoại trừ cơ quan cứu trợ có thẩm quyền từ Trung Ương tới địa phương do Mặt Trận Tổ quốc lãnh đạo (Thông tư số 72/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính & Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/05/2008 của Chính phủ). Thế mà Đảng Nhà Nước giàu nứt đổ đổ vách lại lơ là không làm. Mà người Việt Hải ngoại đi làm một việc Đảng Nhà Nước CS cấm không cho làm.

Người Việt hải ngoại làm là trái luật của CS Hà nội. Nên đa số thu tiền ở hải ngoại đem về nước làm từ thiện đều tuyên bố khi thu rằng sẽ giúp trực tiếp cho dân. Nhưng kinh nghiệm cho thấy tất cả đều phải qua nhà cầm quyền CS ở địa phương mới đi đứng, gặp gỡ người cần gíúp được. Ở trong xứ CS không thể họp dân mà nhà cầm quyền không hay biết.

Trong việc cứu trợ nhà cầm quyền địa phương có uyển chuyển với những người ngoại quốc vì có lợi cho họ. Họ không đòi hỏi phải giao tiền và quà cứu trợ cho họ vì họ biết đòi hỏi như thế “Việt Kiều” sẽ không đồng ý. Họ cho Việt Kiều đứng ra phát để chụp hình đem về chứng minh và làm thành tích của hội đoàn ở hải ngoại. Nhưng họ nắm quyền lợi của CS bên trong. Họ được “Việt Kiều” phải quấy với họ, làm “thủ tục đầu tiên” khi gặp để xin phát cho dân. Họ chọn người được phát đa số là thân nhân, bè bạn của họ.

Số tỷ, triệu phú Đô la ở VNCS hiện rất nhiều. Đảng Nhà Nước CS Hà nội rất giàu. Họ quá giàu đến đổi phải hoang phí. Không lý do gì người Việt hải ngoại lại đi làm vú sữa cho họ nữa. Mấy mươi năm đã quá thừa rồi. Không lý do gì để CS và những người chuyên sống bằng nghề từ thiện lợi dụng tình đồng bào, khai thác tai nạn của dân chúng để móc túi người Việt hải ngoại nữa. Người Việt có thương ai, giúp ai cứ gởi trực tiếp, đường dây chuyển tiền bây giờ quá dễ./.

Vi Anh

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image

Luận về chữ NHẪN (nhịn )
Từ những kinh nghiệm xương máu của thực tế cuộc sống mà người Hán đã sáng tạo ra cách viết chữ nhẫn: chữ đao (con dao) ở trên và chữ tâm (con tim) ở dưới. Lưỡi dao ấy ở ngay trên tâm, và nếu như gặp chuyện mà không biết nhẫn nhịn thì tránh sao khỏi đau đớn, có nhẫn nhịn mới chuyển nguy thành yên, bại thành thắng, dữ thành lành…
Trong kinh điển, người biết nhẫn nhục, chính là ng
ười mạnh nhất. Còn theo thánh Gandhi: Nhẫn nhục ví như không khí, chẳng biết chống trả, nhưng có khả năng vô hiệu hóa những quả đấm của kẻ bạo tàn!
Vì thế mà người xưa đã tốn rất nhiều giấy mực để viết về nó, đã răn dạy rất nhiều những lợi ích và tác hại xung quanh chữ nhẫn này , ngày nay thì sao?

Nhẫn, không phải là sự cam chịu !
Đúng vậy, chẳng phải ngẫu nhiên mà chữ nhẫn lại có bộ đao phía trên như biểu hiện của những nỗi thống khổ sâu sắc như dao nhọn, chúng có thể khía vào trong tâm trí, trong con tim ta, làm cho ta đau đớn, tủi nhục và khó chịu.

Nhưng, nhẫn, đừng nên hiểu một cách tiêu cực, là phải gồng mình cam chịu ôm nhục, là luồn cúi để đạt được mục đích. Nếu có chuyện không hay, hãy dùng trí tuệ để thấy đúng lẽ thật, buông xả mọi hơn thua với người ta và không cố chấp phiền hận.

Người “chửi” mình, nếu đúng thì nhận, nếu không phải thì xả bỏ. Chứ nếu nhớ hoài suốt đời, thì tự mình chuốc lấy cái khổ cho mình và còn làm cho người khác khổ lây.

Tóm lại, chữ nhẫn ngoài sự chịu đựng điềm tĩnh còn cần phải có sự tha thứ, phải có từ - bi - hỷ - xả. Nhẫn là độ lượng, khoan dung, nhận đúng bản chất mà kiên tâm nhẫn nại... Nhẫn, chính là thể hiện bản lĩnh của con người.

Khổng Tử xưa đã nói: “Tiểu bất nhẫn, tắc loạn đại mưu” (Việc nhỏ mà không nhẫn được, thì việc lớn ắt sẽ hỏng).
Nhiều gia đình thường treo chữ nhẫn trong nhà, như tự răn mình để giữ được hòa khí trong gia đình. Ôi chao, nhịn đi có một sự, đổi lại được những chín điều lành cơ mà.
Vậy nên, anh em có tranh nhau tí đất đai, vợ chồng có nổi cơn tam bành, ta có “hận” sếp, có xích mích gì với hàng xóm, có bị ai “đì” đi nữa, thôi thì nhẫn đi.

Con tim nhức nhối lắm, khi thấy mình phải chịu đựng thua thiệt, phải kém chị kém em, thành ra hậm hực, tức tối nổ con ngươi con mắt chỉ vì những thứ nhỏ nhặt.
Người ta có cái ví đầm hàng hiệu xịn hơn, thế là phải đua đòi chẳng kém cạnh gì, kẻo mang tiếng “quê”! Hoặc người ta xe nọ xe kia, nếu mình không có, thì đau buồn mà bi luỵ trách móc số sao mãi chả giàu để được làm... đại gia.

Mẹ chồng hủ lậu, lắm lời... cẩn thận đấy! Ra đường, nhẫn á, nhịn á, ganh nhau đến từng chỗ đỗ xe trước đèn xanh đèn đỏ, còi bấm cứ là nhức cả óc. Tông xe vào nhau, là gầm gừ như chuẩn bị xuống cắn xé nhau ngay!
Đến cái chuyện quyền lợi hay tiền nong, ai mà động chạm, thì cứ liệu hồn. Tốt nhất là nên việc ai người đấy làm, tiền ai người ấy hưởng, chứ ức chế quá, là xử lý nhau ngay.

Nhẹ thì bằng bom thư, cao hơn nữa, sẽ được chọn làm đối tượng để buôn dưa lê, nặng thì đơn kiện nặc danh, tệ hơn là thuê xã hội đen dằn mặt...
Thuở phong kiến, chồng có là nông dân thì vợ cũng phải hầu như hầu ông chủ; thời này, chồng mà lười biếng, lại mắc tính loăng quăng bồ bịch, cờ bạc thì dè chừng! Vợ mà đỏng đảnh, hay “không biết đẻ”, hay nọ kia, lơ mơ là ông quăng quần áo ra ngoài đường.

Cho nên, kết hôn cũng nhanh, mà chia tay, ly dị cũng quá lẹ. Chẳng có vấn đề gì phải kéo dài những mấy chục năm. Thời này, chữ nhẫn là chữ gì mà đòi hỏi phải mất thời gian đến vậy?

Nhẫn, cũng không phải là nhục một cách hèn nhát :
Thời xưa, vua Câu Tiễn nằm gai nếm mật, nuốt mọi tủi nhục chỉ để chờ thời cơ làm nên chuyện lớn. Như vậy, cái chữ nhẫn nhục trở thành động cơ sống, thành quái chiêu của một số người nhằm đạt đến mục tiêu cần thiết của họ.
Ngược lại, chữ nhẫn như trái tim bồ tát của Quan Âm Thị Kính khi bị “vu oan” mọi bề, lay động thân tâm của con người, đó là:
“Chữ rằng nhẫn nhục nhiệm hòa/ Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu...”
Nhẫn ngày nay, nhiều khi đã thành nhẫn nhục một cách hèn nhát. Nhẫn quá, thành ra... nhục. Nó là điều sỉ nhục, làm xấu hổ, tổn thương đến lòng tự ái của mình.

Nhục, bởi vì sợ quyền thế, nhục vì đang nằm trong hoàn cảnh bất lợi chưa thể trả thù được, nhục để mong cầu có người khen, hay được chức trọng, quyền cao, nhẫn nhục vì khinh bỉ đối thủ, hay tự cho mình cao hơn người, không thèm chấp nê, phản đối.

“Tránh voi chẳng xấu mặt nào...”, nhiều khi thấy cái sự bất bình ra đấy, nhưng chẳng liên quan đến ta, thì ta “mackeno”. Cái sự nhịn ấy, xem phần nó cũng mang tính AQ, rằng thôi, nhịn đi một tí, chết ai!
Hiểu sai chữ nhẫn nhất là khi ghép chữ nhẫn với chữ tâm, để trở thành nhẫn tâm, ác độc. Cũng như hiểu chữ nhẫn với thói quen chịu đựng đến mức hèn yếu, bạc nhược hết ngày này, qua tháng khác, và cơ đồ sự nghiệp, thành quả chăíng thấy đâu, chỉ thấy con người ngày càng èo uột đi, thảm hại, nhưng họ vẫn tự ru mình là ta đang... nhẫn một cách chính đáng.
Nhẫn nhục một cách hèn nhát, là mềm yếu, cam chịu vô ích, rồi tự mình chìm trong cái cõi mịt mờ của mình, sẽ thành kẻ chui sâu vào vỏ ốc, và điều này sẽ làm suy thoái xã hội, đạo đức con người, làm cho cái ác, cái tham, cái xấu có mầm mống và nguy cơ phát triển.

Nhẫn nhục như thế, theo thuyết nhà Phật, là nhẫn nhục chấp tướng vì vẫn còn do dục vọng và lòng tham thúc đẩy chứ không phải nhẫn bà la mật.
Nhưng nếu không biết nhẫn, bạn sẽ có một khuôn mặt... xấu xí:
Nếu bạn không biết giữ được cho mình một chữ nhẫn, lúc nào đầu óc bạn cũng căng ra, như một chảo lửa, bạn có thể phản ứng ngay tức khắc các vấn đề vừa xảy ra một cách nông nổi, thiếu suy nghĩ...

Gặp chuyện khó chịu, không may, tức khắc lửa giận nổi lên, nếu nhẹ thì chỉ bộc lộ ra sắc mặt, hành động nóng nảy, nhưng nặng và đáng sợ hơn nữa, đó là để chất chứa trong lòng.
Bạn biết không, những cơn nóng giận ấy khiến cho khuôn mặt con người bỗng chẳng dễ coi chút nào và trở nên rất xấu. Đôi khi, chẳng những chúng ta không giải quyết được việc gì, mà còn tự tạo thêm những hành động nông nổi, gây thêm bực bội đúng như các cụ đã nói: “Tâm oán giận, mạnh hơn lửa dữ”.

Thật vậy, chỉ một phút nổi nóng, không tự kìm chế được mình mà không dằn được cơn tức giận, nghĩa vợ chồng phải phân rẽ, bạn bè trở thành kẻ oán thù, và mâu thuẫn dẫn đến xung đột (đánh đập vợ con đến tàn tật, vợ giết chồng, con giết cha, đốt phá nhà cửa, tự hủy hoại thân thể mình...)
Tôi còn nhớ câu chuyện của một chị, nói rằng, thời mà anh chị chưa ly hôn, chị đi “đánh” ghen anh. Đêm hôm, không thấy anh về, trong một đêm mùa đông giá rét, chị quyết định lôi con nhỏ mới hai tuổi, đặt lên đằng sau xe đạp, đèo con đến nhà nhân tình của chồng, và căm phẫn đập cửa ầm ầm...

Sau này, chị tự nhận ra rằng, chẳng phải vì thương con không có cha, chẳng phải lý do gì, ngoài lòng ích kỷ và hận thù nên chị quyết không ly dị. Cũng chỉ vì chị không nhẫn được, cơn nóng bốc lên đầu và chỉ còn nỗi căm hận.

Cho dù đã bao lần, chị tự dặn mình rằng, đừng để con cái nghe thấy tiếng của hai vợ chồng cãi nhau. Nhưng biết sao được, khi cơn sân hận dâng lên, tiếng chì chiết, cãi vã, lẫn xỏ xiên, thậm chí thượng cẳng chân, hạ cẳng tay ngay trước mắt con cái, vô tình anh chị không biết rằng họ chính là một bằng chứng xấu xí của hôn nhân.

Và nếu trước kia, chị nhất quyết không ký đơn ly dị để “hành hạ”, trả hận với chồng mình, thì sau khi đã hiểu ra: nhẫn không phải là chịu đựng, mà nhẫn còn là xả bỏ những nỗi nhọc nhằn uất hận, những đau buồn tủi nhục, để cuộc sống dễ chịu hơn, chị đã ký đơn ly dị, nhằm giải thoát cho cả gia đình thoát khỏi cảnh “địa ngục trần gian”.

Chữ nhẫn, giống như vàng :
Bạn hãy đọc kỹ những câu răn về chữ nhẫn, bạn sẽ thấy, muôn màu cuộc sống bày ra trong sức mạnh của chữ nhẫn. Chữ nhẫn ẩn chứa những phương kế sống của một đời người.
“... Có khi nhẫn để xoay vần/ Thiên thời, địa lợi, nhân tâm hiệp hòa/ Có khi nhẫn để vị tha/ Có khi nhẫn để thêm ta, bớt thù/ Có khi nhẫn: tỉnh giả ngu/ Hơn hơn, thiệt thiệt đường tu khó lường/ Có khi nhẫn để vô thường/Không không, sắc sắc đoạn trường trần ai/ Có khi nhẫn để lắng tai/ Khôn khôn, dại dại nào ai tránh vòng/ Có khi nhẫn để bao dung/ Ta vui người cũng vui cùng có khi/ Có khi nhẫn để tăng uy/ Có khi nhẫn để kiên trì bền gan...”

Việc lấy đức nhẫn làm sức mạnh (dĩ nhẫn vi lực) cho thấy lợi ích cũng như quyền năng biến hóa, nội lực mạnh mẽ của chữ nhẫn.
Trong cuốn “Luận về chữ nhẫn” của Mạnh Chiêu Quân có viết: “Bạn chớ nên cáu gắt, cáu gắt sẽ làm tổn thương hòa khí; Bạn chớ nên tức giận, tức giận sẽ làm hủy hoại nguyên khí; Bạn chớ nên đùa giỡn, đùa giỡn sẽ làm hỏng tài khí; Bạn phải nhẫn nhịn, nhẫn nhịn sẽ được thần khí”...

Cũng như câu tục ngữ của Việt Nam ta:

“Chữ nhẫn là chữ tương vàng, ai mà nhẫn được, thì càng sống lâu”.
Tự tìm được cho mình một chữ nhẫn thích hợp sẽ giúp ích cho cuộc sống của bạn, và nếu biết sử dụng chữ nhẫn sao cho đúng cách, sẽ mang lại cho con người một sức mạnh vô cùng!

Có khi nhẫn để yêu thương
Có khi nhẫn để tìm đường lo toan
Có khi nhẫn để vẹn toàn
Có khi nhẫn để tránh tàn sát nhau

Nhẫn một chút sóng yên gió lặng
Lùi một bước biển rộng trời cao

Có khi nhẫn để yêu thương
Có khi nhẫn để tìm đường lo toan
Có khi nhẫn để xoay vần
Thiên thời, địa lợi, nhân tâm hiệp hòa
Có khi nhẫn để vị tha
Có khi nhẫn để thêm ta, bớt thù
Có khi nhẫn: tỉnh giả ngu
Hơn hơn, thiệt thiệt đường tu khó lường
Có khi nhẫn để vô thường
Không không, sắc sắc đoạn trường trần ai
Có khi nhẫn để lắng tai
Khôn khôn, dại dại nào ai tránh vòng
Có khi nhẫn để bao dung
Ta vui người cũng vui cùng có khi
Có khi nhẫn để tăng uy
Có khi nhẫn để kiên trì bền gan
Có khi nhẫn để an toàn
Có khi nhẫn để rõ ràng đúng sai
Bạn bè quan hệ nào ai
Có khi nhẫn để khinh người trọng ta

Xem ra cũng khó đó mà
Chữ Tâm, chữ Nhẫn ngẫm ra cũng gần


Tài liệu trên NET

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

“sáng ăn mày, chiều ăn nhậu”

Ai cũng hay, lễ hội ngàn năm Thăng Long ở Vietnam của chúng ta là một sự kiện ăn mừng việc di dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Bắc. Để kỷ niệm sự kiện của một ngàn năm trước chúng ta đã chi ra bao nhiêu ngàn tỷ cho những cuộc khoe sắc, tô màu, đốt pháo hoa… Chi phí của nó khiến cho thế giới choáng váng và ganh tỵ xen lẫn khâm phục. Lại nữa, Vietnam chúng ta là con rồng cháu tiên nên với sự lãnh đạo kiên trì (bám cột) của các bác, trong tương lai dân số chúng ta cứ vài người là có một tiến sĩ. Tiến sĩ trên khắp quê hương nên chắc mẩn một điều là Vietnam chúng ta sẽ giàu có lắm, khả năng chi và khả năng giải quyết vấn nạn của chúng ta là việc búng ngón tay.

Ấy thế, tin cho hay, Lybia đang dầu sôi lửa bỏng mà một vạn người Việt vẫn kẹt bên trong. Những đỉnh cao trí tuệ có khả năng chi hàng vạn triệu để kỷ niệm việc di dời đâu đó của hàng ngàn năm trước nhưng lại không có khả năng chi cho một kế hoạch di dời một vạn công dân đang chờ chết ở Lybia của mình.

Những đỉnh cao trí tuệ có khả năng đào tạo hàng vạn tiến sĩ lại không có khả năng rút hàng vạn người con của đất nước ra khỏi khu vực nguy hiểm.

Những đỉnh cao trí tuệ của chúng ta vừa vung tiền như thác trước mặt quốc tế trong dịp ngàn năm Thăng Long lại vênh vang mặc áo tiến sĩ đi xin liên hiệp quốc giúp đỡ đưa công dân của mình ra khỏi Lybia.

Viết đến đây tôi chợt liên tưởng tới thằng ăn mày!

Từ cổ chí kim, dưới chế độ nào, dưới xã hội nào cũng có ăn mày. Ăn mày đôi khi do sa cơ thất thế mà ra, đại đa số là do nghèo rớt mồng tơi mà lại không có khả năng mưu sinh nên hóa kiếp ăn mày, nhưng lắm khi ăn mày cũng là một cái nghề kiếm sống hẳn hoi. Nói tới ăn mày người ta liệt kê năm bảy loại, nhưng có lẽ cái loại “sáng ăn mày, chiều ăn nhậu” là cái thứ bá tánh ghét nhất, ai đó vô tình nhận diện ra anh chàng ăn mày đang tung tiền vào những cuộc nhậu nhẹt, chơi bời thì chắc uất ức lắm, nhất định người ấy sẽ dặn lòng là phải cạch mặt cái thằng ăn mày cà chớn đó ra.

Tôi tự hỏi, các tiến sĩ chuyên ngành ăn mày của nhà ta khi đi hành khất vụ Lybia có bị bá tánh khắp thế gian điểm mặt mà phán “Chúng mày vừa huênh hoang ăn party lớn lắm, tổ chức linh đình những mươi ngày và ngốn hết hàng ngàn tỷ đồng mà lại đi ăn mày với việc đưa chục ngàn công dân ra khỏi nơi nguy hiểm à?!? Thật ra chúng mày không biết xấu hổ, không có đầu óc hay đang ăn mày?”

Đâu đó có ông tiến sĩ lăm le “dạ thưa, cả ba”. Háhá

Đại Ca
http://daicacamdau.multiply.com/journal/item/317/317

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Tên Việt Trên Đất Mỹ


Bà Loan To , tên Việt là Tô thị Loan, Mỹ lại đọc là Lôn To, đưọc dịp đứng lên phát biểu . Bà này lại có chồng Mỹ da đen Frank Quaker , hoả đầu quân của lính bộ binh Mỹ tham chiến thời trước. Nên tên bà nay có thêm họ Mỹ là Loan To Quaker. Mấy cụ trong lớp thì Việt Nam hoá tên bà là Lôn-To-Quá-Cỡ !!! Bà Lôn To phát biểu " Dạ tui không biết nhiều về lịch sử Mỹ, chỉ biết ngày đầu tiên về nhà chồng được ông xã tôi cho ăn món Hot Dog.

Tên Việt trên Đất Mỹ

Cũng như đêm cuối cùng của Đường Tăng trằn trọc không sao ngủ được, chờ ngày mai vào yết kiến Như Lai để lên kiếp Phật. Cụ Phúc đêm nay cũng vậy ! Ngày mai cụ tuyên thệ vào quốc tịch Mỹ. Cụ nằm trăn trở nghĩ đến cả mười năm trời dằng dẵng, từ khi đủ năm để hợp lệ nạp đơn đến những đêm đứa con trai đi làm về chở cụ đi học lớp luyện thi vào quốc tịch ở văn phòng USCC . Cụ nghĩ nó như con thoi giữa 2 thế hệ. Trong tuần đưa cụ đi học tiếng Anh, bắt cụ phải trả lời điện thoại " hello " chứ nói " tôi nghe đây " làm sao Mỹ hiểu được . Cuối tuần đưa con đi học tiếng Việt, mắng con gọi xe " fire truck" là " xe lửa " , phải nói là " xe cứu hỏa " hay " xe chữa lửa " chứ. Nhiều lúc cụ thấy phải chi mà thằng chắt đi học tiếng Anh, còn cụ đi học tiếng Việt thì mới đúng theo lý tự nhiên của trời đất.

Thoạt đầu cụ tưởng cả lớp luyện thi vào quốc tịch này , đầy những cụ tuổi gần đất xa trời , học để giết thì giờ, cho bớt nỗi buồn xa xứ. Vậy mà ngày bà cụ Ngà thi rớt , cả lớp xôn xao lên như ngày Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam . Thực ra thì bà này rớt cũng đáng đời lắm . Đời thuở nào ông quan tòa hỏi tổng thống Mỹ là ai, bà cụ lại trả lời là Nguyễn văn Thiệu thì đậu làm sao được ?

Sinh nhật người nào trong lớp, bà cũng làm cho một cái bánh gà-tồ rồi bắt các cụ vây quanh hát " Happy Birthday ". Cụ không biết đến ngày chết thì người ta có hát "Happy Deathday " không, bởi vì cụ nhớ bên quê nhà những ngày kỵ giỗ mới thật là quan trọng . Con cháu tụ họp ăn uống 2, 3 ngày liền. Chứ ngày bước vào trần thế khổ ải này, người ta phải dày công tu hành để thoát ra khỏi vòng luân hồi, thì mừng rỡ ngày sinh để làm gì ?

Vậy mà thời gian thấm thoát qua đi, rồi cũng đến ngày cả lớp đi thi. Các cụ sáng sớm đã ngồi đầy ra ngoài phòng đợi của sở di trú trong tòa đô sảnh thành phố . Cụ nghĩ ngày xưa đi thi Hương , thi đình cũng chỉ nhộn nhịp đến thế là cùng . Con cháu đem theo cho nào là bánh trái, nước uống , cả ghế xếp để ngả lưng , như thi vào quốc tịch đến mấy ngày trờị Bây giờ trí nhớ các cụ kém cỏi , học được tiếng Mỹ chữ nào , vài bữa lại quên hẳn đi không biết phát âm làm sao . Cho nên đi thi, cụ nào cũng viết chi chít , như xâm mình trên tay , các câu trả lời phiên âm ra tiếng việt. Thằng cháu cụ Tốc thì cứ nhắc đi , nhắc lại Ngoại nhớ ngày lễ quan trọng nhất của Mỹ không phải là Tết, mà là ngày Độc Lập nha !. Cụ lại kéo tay áo lên lẩm bẩm kiếm chữ IN ĐẺ BÊN ĐÀNG . Bà cụ Ngà hỏi với qua " có phải là ngày Tây về nước không , cụ Phúc ? ". Cụ đành thở dài, biết ông tòa muốn đánh rớt thí sinh nào thì chỉ cần bắt hát bài quốc ca Mỹ là thí sinh đó rớt ngaỵ .

Vậy mà Giời phù hộ, cả lớp đậu hết . Cụ còn nhớ ngày ăn mừng tân khoa , cụ nào cũng hí hửng như những đứa trẻ con vừa lên lớp, cầm vẫy lá cờ Mỹ để chụp hình lưu niệm. Bà cụ Ngà hôm ấy đẹp hẳn ra, mặc cái váy đầm thay cái quần đen vừa nói "Con gà tui lội sông" (congratulations), vừa high-five , vừa "hug" mọi người . Cụ thấy mọi người như trẻ ra dến cả chục tuổi. Có thể là vì cái ôm nồng nàn da thịt của bà cụ Ngà làm cụ thấy trong người đổi thay như cả một mùa xuân hừng hực kéo nhau về. Có thể là vào quốc tịch mới, làm người ta tưởng như đổi thành một kiếp người khác , trở lại cái tuổi tập ăn tập noí, nên hồn nhiên như một đứa trẻ thơ .

Thế mà đêm nay cụ lại trằn trọc . Một phần là vì cụ cứ nghĩ đến ngày mai ở tòa đô chính , ông thị trưởng thành phố tổ chức nghi lễ tuyên thệ vào quốc tịch riêng cho cộng đồng người Việt , để đánh dấu một chặng đường gần phần tư thế kỷ tàn cuộc chiến tranh của người Mỹ tại Việt Nam . Ông chủ tịch mấy hôm nay hăm hở nhắc nhở bà con mặc đồ cho đẹp để lên truyền hình . Mọi người học thuộc lòng câu "I am proud to be American " để khi báo chí radio người Mỹ phỏng vấn thì tỏ ra cộng đồng người Việt mình mau hội nhập hơn các cộng đồng sắc tộc khác .

Cụ cứ nghĩ tới lúc trước cử tọa cả nghìn người, có thống đốc tiểu bang, nghị sĩ , dân biểu quốc hội, quan chức các ngành , người ta gọi tên cụ lên khán đài nhận bằng công dân Mỹ , là cụ lại xốn xang trong người. Chả vì cụ ngang bướng giữ cái tên cúng cơm của cụ. Tên họ trong tờ khai sinh cụ là Dư Quí Phúc . Ỏ trại tỵ nạn, cụ đã bao nhiêu lần cãi gàn cãi bướng với mấy người thông dịch viên là tên cụ phải có dấu mới là tên của cụ Tiếng Việt một chữ có hằng chục nghĩa nếu không bỏ dấu. Thí dụ như LO có thể là lờ, lợ, lờ, lơ, lộ, lô, lố, lồ, lồ, lo, lọ ,lò, ló, lõ .. . Vậy mà có ai nghe cụ đâu , người ta cứ điền vào tên trước họ sau .

Cho đến hôm cụ còn nhớ mãi ngày nhà thờ First Bapstist Church bảo trợ gia đình cụ đến thành phố này . Hôm ấy chủ nhật, nhà thờ đông đảo chật cứng đến nỗi người ta phải đứng lan ra ngoài hành lang. Ông mục sư trịnh trọng giới thiệu gia đình cụ mới dịnh cư . Cứ mỗi lần tả cảnh gian khổ gia đình cụ trải qua, cả nhà thờ lại xướng ầm lên Alleluja có nghĩa là ngợi khen chúa. Cuối cùng ông mục sư nói dõng dạc giới thiệu cụ: Please welcome , Mr. Phuc Du Cái giọng ông oang oang lên "Phuc Du !" Cả nhà thờ đang xôn xao bỗng im lặng như chiếc xe lủa thắng gấp lại rồi lấy trớn lao tới cười nghiêng, cười ngửa . Ông mục sư ngơ ngác sửa lại gọng kiến, nhìn xuống tờ giấy viết tay rồi đọc lại tên cụ lần nữa Phuc Du Lần này đến phiên ông mục sư gấp người lại làm đôi, cười sặc sụa chảy cả nước mắt nước mũi ra . Cụ Phúc chân ướt chân ráo, tưởng đó là phong tục địa phương chào đón mình đứng bụm hai tay đưa lên trán bái tứ hướng để cảm ơn sự ưu ái của nhà thờ .

Sau này ông mục sư cho người đến đề nghị cụ đổi tên gọi để lấy lại sự nghiêm trang . Một là cụ lấy hẳn tên Mỹ như John, Peter, Larrỵ..cho dễ gọi Hoặc phiên âm tên cụ tiếng Việt Ông Phúc Dư ra tiếng Mỹ là Mr. Foot Joy . Cụ bực lắm , tên cụ từ Việt Nam là Quí Phúc , nghĩa là ơn phước quí báu của trời phật ban cho , sang đến đây thì lại thành ...Túc Hân , là bàn chân hân hoan. Cụ bỏ xứ sở ra đi, mất hết chỉ còn một cái tên Việt là cái di sản gốc gác của cụ mà đành phải mất luôn sao . Từ đó cụ không đi nhà thờ Tin Lành nữa, nhưng tên cụ thì cứ tạm thời giữ vậỵ Cụ đi tỵ nạn vài bữa, khi nào quốc gia thanh bình thì cụ lại dắt các con cháu về. Thà làm cụ Phúc nước Việt , hơn làm cụ Túc nước Huê Kỳ.

Ngày mai cụ tuyên thệ vào quốc tịch Mỹ. Thế mà cụ Phúc lại trằn trọc đêm nay không sao ngủ được. Cũng bởi vì mấy hôm trước các cụ tân khoa bàn về chuyện tiếp tân mừng ngày nhập tịch Mỹ. Bế tắc từ đầu chỉ vì các cụ phải chọn món ăn cho buổi tiệc . Món ăn nào đãi khách vừa thích hợp với quốc tịch mới , vừa có bản sắc dân tộc .

Ông Hai Bò lên tiếng ngaỵ Ông này tên việt nam là Cao Văn Tự, trong giấy tờ viết là Tu Cao. Mỹ đọc là " two cows " nghĩa là 2 con bò . Từ đó có tên Hai Bò . Vốn là dân thông dịch viên cho Mỹ ở căn cứ Long Bình , sang bên này ông bán bảo hiểm nhân thọ . Cụ nào mà được ông kéo riêng ra góc phòng đều sợ run lên như tử thần đến, vì ông Hai Bò cứ thúc dục luôn "cụ thử nghĩ coi cụ còn sống được bao lâu, trời gọi ai người nấy dạ . Thú chết để da, người ta chết để tiếng . Mấy cụ qua đây ăn phút tem ( Food Stamps)thì có tiếng gì mà để, chi bằng mua cái bảo hiểm nhân thọ , đến khi chết để lại cả bạc triệu cho người ta xây một cái chùa hay nhà thờ có phải là tên tuổi mình khắc vào bia đá nghìn năm, bất tử với đời không ". Tưởng ông dọa chết thì cóc ai thèm mua, thế mà từ ngày cụ Hanh mua cái bảo hiểm nhân thọ đầu tiên, Hai Bò bỗng đắt khách như tôm tươi.

Chả vì cụ Hanh mới đoàn tụ gia đình vài năm nay. Mấy đứa con qua từ năm 75 , nhà cao cửa rộng , ngày cụ đến phi trường không thấy đứa nào ra đón . Thằng Tư thì đùn cho chị Ba , vợ thằng Bảy thì nói nhà nó có lầu cao , sợ ổng già đi chỏng gọng, té bể đầu . Hôm ấy, cụ Hanh lủi thủi đi với bà Mỹ USCC về ở cái phòng trong khu housing Mỹ đen. Hôm nghe Hai Bò dụ mua bảo hiểm nhân thọ, lại chịu lấy bằng phút-tem, cụ Hanh mua ngay . Vài hôm tin đồn cụ có cái bảo hiểm bạc triệu, mấy đứa con bỗng có hiếu hẳn ra , tranh nhau mời cụ về nhà ở. Chồng con Năm Thúy đánh lộn với thằng Tư chỉ vì tội không để cho nó báo hiếu nuôi ông già vợ . Ngày nào cụ muốn ăn thức gì , đám con rối rít đi mua về ăn không hết . Có điều hơi lạ là... không đứa nào mua sâm cao-ly để cụ uống cho khoẻ người , sống thọ thêm ra.

Thỉnh thoảng trái gió trở trời , cụ mới ho hen cảm cúm nằm trên giương vài ngày là cả nhà xúm lại bàn chuyện làm cái di chúc sao cho hợp lệ với thủ tục tiểu bang , để lãnh tiền bảo hiểm mà không phải đóng nhiều thuế.

Thấy cụ Hanh chỉ mua cái bảo hiểm nhân thọ mà được con cái hậu đãi, đi học mặc áo vest, tay cầm mô bai thì các cụ ngộ ra rằng tội gì ở xứ cờ hoa này mà không làm triệu phú . Sống trên đời mà không mua bảo hiểm nhân thọ, xuống âm phủ biết có hay không, bèn ùn ùn theo năn nỉ Hai Bò để được giá rẻ. Chết được bonus một cái hòm cẩm lai của nhà táng xác tặng quảng cáo .

Hai Bò bỗng dưng trở thành ân nhân của hội bô lão , nên khi Hai Bò nói bất cứ cái gì , mọi người đều lắng nghẹ Hai Bò trịnh trọng xoa 2 tay vào nhau . " Cái tradition của người Mỹ từ trước đến nay, party mà có tính cách dân tộc là phải có barbecue . Barbecue là chữ ghép bởi 2 chữ "Barbaric" and "cuisine" có nghĩa là cách nấu ăn cách mọi rợ . Ám chỉ một sinh hoạt văn hóa bán khai của người da đỏ ngày trước . Họ mới là người Mỹ chính hiệu con nai vàng. Tuy những người da trắng đến đây, dùng vũ lực cướp hết đất đai của người da đỏ để lập nên Hiệp Chủng Quốc , người Mỹ luôn luôn nhắc nhở con cháu họ ông tổ Mỹ là người da đỏ bằng cách ăn barbecue . Do đó chúng ta trở thành công dân Mỹ, uống nước nhớ nguồn : " drinking water remember origin hole ". Tôi xin đề nghị món ăn barbecue "

Cụ Can't Do đứng lên khua tay phản đối . Tên thật cụ là Đỗ Thành Cẩn. Viết theo lối Mỹ thì họ tên lẫn là Can T. Do . Bà cô dậy Anh ngữ thấy cụ chả bao giờ chịu làm homework , bèn đọc luôn là "Can't Do". Cụ là người duy nhất không mua bảo hiểm của Hai Bò vì bà xã cụ còn sồn sồn. Cụ chỉ sợ có bảo hiểm nhân thọ thì nhiều khi chết sớm vì lâu nay cụ Can't Do không còn hăng hái trong chuyện phòng the, mà vợ cụ còn xuân xanh lắm. Ngày xưa bán bánh cuốn ngoài chợ Thị Nghè, vợ cụ ngồi xổm nhiều nên cái bàn mông mẩy ra tròn trịa to như hai cái lồng bàn. Ở Việt Nam thì cái quần đen với cái áo bà ba che hết đi, qua Mỹ mặc cái quần jean vào nó lồ lộ , khêu gợi làm sao . Thế mà cụ Can't Do lại cứ cố tình phớt lờ như thể cụ là một nhà hiền triết đạo mạo. Ngày nào cụ cũng tập Tai Chi cho cứng gân cứng cốt , mà hễ cứ gần vợ cả người cụ rủ nhau... mềm nhũn ra như bún . Lần nào vợ cụ cũng thở dài thườn thượt , bảo cụ chết quách cho xong. Nói vậy thì cụ mua bảo hiểm nhân thọ để làm quái gì . Nghe Hai Bò trình bày món ăn barbecue, cụ Can't Do gạt phắt đi . "

Miếng thịt Barbecue là biểu tượng cái đầu óc thực dân, kỳ thị của người da trắng . Họ coi sự chinh phục những người bản xứ da đỏ là một chiến thắng vĩ đại trong lịch sử Hoa Kỳ. Món barbecue của người Mỹ thường là do các đấng mày râu đứng nướng để biểu lộ hùng tính và cương vị thủ lãnh của phái nam, nhắc nhở chúng ta hình ảnh các chiến sĩ xẻo thịt rồi xóc vào gươm mà nướng để khao thưởng sau các trận mạc. Nước mỹ là nơi melting pot, hợp chủng quốc .Món ăn tiêu biểu phải là hamburger , món thịt bằm hầm bà lằng . Người Mỹ ăn hamburger còn để nhắc nhở con cháu họ về cuộc chiến Nam Bắc phân tranh tương tàn của họ Tôi xin đề nghị món thịt băm hamburger ".

Bà Loan To , tên Việt là Tô thị Loan, Mỹ lại đọc là Lôn To, đưọc dịp đứng lên phát biểu . Bà này lại có chồng Mỹ da đen Frank Quaker , hoả đầu quân của lính bộ binh Mỹ tham chiến thời trước. Nên tên bà nay có thêm họ Mỹ là Loan To Quaker. Mấy cụ trong lớp thì Việt Nam hoá tên bà là Lôn-To-Quá-Cỡ !!! Bà Lôn To phát biểu " Dạ tui không biết nhiều về lịch sử Mỹ, chỉ biết ngày đầu tiên về nhà chồng được ông xã tôi cho ăn món Hot Dog . Tui thấy hot dog mới là biểu tượng đúng cho chức vị siêu cường quốc , hùng mạnh của nước Mỹ. Tui xin đề nghi Hot Dog, mà size loại Jumbo à nghen ".
Bà cụ Ngà ngồi bên đắc ý hùa theo "Cùng là bò mà thịt bò Mỹ nó khác thịt bò Việt Nam chị ạ . Để cả tuần trong tủ lạnh , bỏ ra nó cứ đỏ ửng lên. Còn thịt bò việt nam mình để từ sáng đến trưa nó tái hẳn đi như thịt trâu ấy " .

Các cụ ông... lấm lét nhìn nhau không biết bà cụ Ngà đang bàn về văn hóa của những miếng thịt hay nói xéo qua về những đồ gia dụng hàng ngày của... các cụ ông ?

Cụ Quýnh trưởng ban tổ chức thấy mọi người nhao nhao lên , nên theo tinh thần dân chủ của Mỹ đề nghị là sẽ có cả 3 món barbecue, hamburger và hot dog. Ông Hai Bò lại có thêm ý kiến để có tinh thần Mỹ Việt đề huề, các món ăn trong thực đơn phải dịch ra tiếng việt . Cụ Quýnh sẽ cho ghi bên cạnh là : barbecue (thịt nướng kiểu mọi), hamburger (thịt bằm dập), hot dog ( thịt chó nóng) .

Đã gần nửa đêm mà Cụ Phúc chưa thấy ai lên tiếng về phần món ăn việt nam. Có thể là vì người việt mình ở Tây phương trong những xã hội tự do nhất hoàn cầu lại cảm thấy mình như côi cút, lạc lối , xa lạ cả với chính tình tự quê hương của mình. Từ xưa đến nay cụ vẫn tự hào về bản sắc văn hóa riêng biệt của người Việt . Ra ngoại quốc cụ thấy rằng cái mà xưa nay ta vẫn tưởng là Việt tính, nay chỉ còn lại chẳng bao nhiêu là Việt, mà tính cũng chẳng còn là bao ; cái mà xưa nay ta vẫn tưởng là của ta , ngờ đâu chỉ là cái đàn cha, đàn chú, đàn anh của ta vay mượn từ lâu của ngoại nhân . Với cái hoang mang đo , cụ nghĩ đến câu văn hào Paul Valry " Muốn biết văn hóa của giống dân nào thì cứ nhìn vào sinh hoạt hàng ngày của giống dân đó " . Cụ nghĩ nếu đãi khách bằng một món ăn có bản sắc dân tộc, biểu tượng cho người Việt thì phải chọn là món ăn gì . Không gì Pháp bằng crêpe, không gì Mỹ bằng hamburger, không gì Ý bằng pizza ,không gì Đức bằng bratwurst, không gì Mễ bằng taco , không gì Nhật bằng sushi . Còn Việt nam là phở ư ?


Ở bên này Cụ thấy hầu hết những đám cưới, đám hỏi người ta giữ đủ phong tục nghi lễ cổ truyền mà có đám nào đãi ăn phở đâu mà gọi là món ăn dân tộc ?

Hay là tại sao mình không tổ chức tiếp tân tại nhà hàng Tàu cho tiện .

Chỉ có thế thôi mà giông bảo nổi lên trong phòng hội chỉ vì sự khủng hoảng về hiện tượng bám víu thê thảm vào cái tính đồng nhất riêng biệt của hành trang ý thức và tình cảm quê cha đất tổ .

Trời đã quá đêm....

Ánh trăng còn lại một chút trên khung cửa ẩm uớt hơi sương. Cụ Phúc vẫn còn nằm trăn trở không sao ngủ được ...

Không nhớ tên tác giả là ai.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Những điều để chúng ta suy gẫm

Càng có tuổi

- Càng có tuổi, tôi lại càng thấy sự kỳ diệu của mỗi độ xuân về.
- Càng có tuổi, tôi càng thấy những mùa xuân còn lại không còn bao nhiêu nữa.
- Càng có tuổi, tôi càng sung sướng thưởng thức mỗi giây phút quý giá qua đi trong cuộc đời.
- Càng có tuổi, tôi càng thấy mùa xuân mang lại cho tôi sự ngất ngây và vui sướng.
- Càng có tuổi, tôi càng thích săn sóc cây và hoa của tôi, và tôi thích tâm sự với những người bạn im lặng này.
- Càng có tuổi, tôi càng thích nghe chim hót; mỗi tiếng chim là mỗi một giai điệu mật ngọt rót vào tai.
- Càng có tuổi, tôi càng ao ước được thấy nhiều mùa xuân trở lại.
- Càng có tuổi, tôi càng thấy mình không nghĩ được như vậy khi còn trẻ.
- Càng có tuổi, tôi càng muốn cám ơn cuộc sống đã cho tôi thấy thêm một mùa Xuân trở lại.

Những điều nên nhớ

- Bạn là duy nhất; không ai giống bạn 100%. Hãy biết tận hưởng trọn vẹn một ngày bạn sống. Hãy đếm những điều làm bạn hạnh phúc; đừng tính những điều làm bạn phiền muộn.
- Đừng biến bất cứ vấn đề gì trở nên trầm trọng. Đừng sống một cuộc đời tiếc nuối.
- Hãy nhớ rằng nhiều thứ sẽ ra đi mãi mãi và không bao giờ quay trở lại. Cuộc sống thật quý giá khi người ta ở bên nhau. Hãy nhận ra rằng mọi thứ không bao giờ trễ cả. Hãy thực hiện những điều bình dị theo những cách phi thường nhất.
- Hãy luôn nhớ về gia đình; họ là những người làm mục tiêu cho đời sống của bạn. Quý trọng họ khi bạn có thể, bởi vì có ai ở bên bạn mãi đâu.
- Thời gian luôn chuyển động, và hãy ước rằng, một lúc nào đó, ta sẽ vươn tới những vì sao.

Hãy cảm ơn

- Hãy cảm ơn những gì bạn muốn mà không được, vì nếu được, thì bạn sẽ không còn gì để mà mong đợi.
- Hãy cảm ơn khi bạn không biết về một điều gì đó, vì nó sẽ tạo cho bạn một cơ hội để tìm tòi, học hỏi.
- Hãy cảm ơn những giờ phút khó khăn, vì nhờ đó mà bạn trưởng thành.
- Hãy cảm ơn những nhược điểm của bạn, vì chúng thách thức bạn cố hoàn thiện bản thân.
- Hãy cảm ơn những sai lầm của bạn, vì nó là bài học dạy bạn những bài học có giá trị.
- Hãy cảm ơn những ngày gian khổ của bạn để chúng trở thành những ân điển.
- Nếu mọi người chưa công nhận khả năng của bạn, điều đó không có nghĩa là bạn sẽ ngừng khám phá bản thân, mà hãy tiếp tục nỗ lực hết mình.
- Nếu chưa có ai đến chia sẻ cùng bạn, điều đó không có nghĩa là bạn đang lẻ loi.
- Nếu chưa có những điều tốt đẹp nhất như bạn muốn, điều dó không có nghĩa là cuộc đời này thiếu công bằng.
- Nếu công việc của bạn chưa có dấu hiệu tiến triển, điều đó không có nghĩa là bạn là người thiếu khả năng.
- Nếu chưa thành công, điều đó không có nghĩa là bạn đã thua cuộc.
- Hãy giữ vững niềm tin, giữ lấy những hy vọng để vươn tới điều mà bạn chắc chắn là mình đã sẵn sàng để có được.
Sẽ đến lúc
- Sẽ đến lúc bạn nhận ra tình yêu không còn là một điểm tựa, và bên nhau không có nghĩa là bình yên.
- Sẽ đến lúc bạn nhận ra không phải mùa nắng nào cũng đẹp, và bạn biết chấp nhận thất bại với tư thế ngẩng cao đầu và đôi mắt sáng , với sự cao thượng của tuổi trưởng thành, chứ không bị lụy cố chấp của trẻ thơ.
- Có ai bước đi mà không vấp ngã một đôi lần. Hãy góp nhặt những mãnh vỡ của mình và bước tiếp từ đây trên con đường đã chọn ngày hôm nay, và không trông chờ vào những gì chưa chắc chắn của ngày mai.
- Ta hãy cho đi đừng tiếc nuối, níu kéo, vì có ai cho đi mà cảm thấy mất mát bao giờ. Và hãy giữ lại những gì tốt đẹp nhất, gieo hạt trồng hoa trên mảnh đất tâm hồn, hơn là mòn mỏi đợi chờ ai mang đến.
- Hãy nhớ là, cho dù bất cứ điều gì xảy ra, thì tất cả những điều tốt đẹp nhất đang chờ đón bạn phía trước. Hãy sống với ánh mắt ngập tràn niềm tin của ngày mới đang đến, bạn nhé!

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Hàm răng mình cười
(Tạp ghi Huy Phương)


Con người ta có 32 cái răng, nhưng nếu kể hết cuộc đời thì chúng ta có những 52, vì phải cộng thêm 20 răng sữa thời thơ ấu nữa, chưa kể đến một hai cái răng khôn nó làm khổ đời ta. Chỉ tiếc là chúng ta chỉ có một quả tim, hai con mắt hay một cái mũi, nhất là trong giai đoạn Medicare không còn trả tiền cho phần chữa răng, nên lúc này nha sĩ có phần làm ăn khấm khá.

Chúng ta có thể trì hoãn khi đau bụng, đau đầu hay đau chân tay, nhưng không thể nào ngồi yên khi đau răng, đúng như ông bà xưa đã có thành ngữ “nhất đau mắt, nhì giắt răng”. 32 cái răng nó hành hạ bạn suốt đời, từ lúc trẻ cho đến tuổi già, cái mẻ, cái đau, cái sưng, khổ tâm là dường nào.

Bạn có lúc nào bị nhức răng chưa? Với tình trạng không ăn uống được, đêm không ngủ, chỉ vài ngày là người gầy sút hẳn đi. Bây giờ đau răng, trong khi chờ đi nha sĩ, bạn có thể uống thuốc giảm đau, ngậm chút nước muối, nhưng ở trong một tình trạng như ngày trước khi tôi còn ở trong nhà tù Cộng Sản mà tù tận Yên Bái, Sơn La, đêm đau răng, tôi chỉ mơ ước sao có cánh mà bay về nhà, hay nghĩ mình được tha ra khỏi nhà tù để cắm đầu chạy một mạch tới ông nha sĩ, hay lúc đó nếu được chết chắc thân xác đỡ khổ hơn.

Bây giờ trên đất Mỹ này, thấy ai cũng đẹp hẳn ra, không thấy ai khểnh, móm, hô hay sún răng. Sún thì trồng thêm răng, móm thì chỉnh nha, hô thì niềng răng cho mỹ thuật, ai cũng có “nụ cười đẹp, tự tin và thành công” như lời quảng cáo của các nha sĩ trên các đài truyền hình. Nhớ lại ngày còn nhỏ ở Việt Nam mà thương thân cũng như thương cho người khác, có hàm răng hô thì bị bạn bè chế nhạo không thương tiếc là “bàn nạo dừa”, “mái che mưa” hay răng không đều đặn thì bị gọi là “hàng rào ấp chiến lược”, “hàm răng vô trật tự”, đúng là kỳ thị vô số kể.

Răng hô, răng vẩu thì chê, cớ sao răng khểnh vẫn thường được khen, gọi là răng duyên như trong một bài hát của Trần Thiết Hùng: “Này cô bé chiếc răng khểnh. Sao thừa một cái chắc để làm duyên...!”

Vì vậy hiện nay nghe nói có nàng muốn thêm duyên phải đi cấy thêm một chiếc răng khểnh vào chỗ răng nanh.

Người đời cứ xấu thì chê riết, đẹp lại thường nức nở khen. Hàm răng đều đặn trắng muốt thì được khen là hạt lựu:

“Răng em lổ đổ hạt cườm

Giả như trái lựu chín hườm trên cây”.

Quý cụ ngày xưa nhuộm răng đen thì được gọi là hạt huyền hay hạt na (mãng cầu) như câu “răng đen nhưng nhức hạt na” và hàm răng đen được xếp hạng thứ tư trong mười cái thương: “Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua!”

Thi sĩ Nguyên Sa một thời đã thấy:

“Nắng Saigon em đi mà chợt mát,
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông”
Nhưng các cụ ngày xưa lại nói:

“Răng đen em nhoẻn miệng cười
Dẫu trời đương nực cũng nguôi cơn nồng.”

Người xưa thương nhau khi xa nhau không nhớ đến vòng số 1, 2 hay 3 của người thương mà chỉ nhớ mỗi cái miệng cười, nói cho đúng ra là nhớ đến hàm răng, dù đó là răng đen hay răng trắng:

“Mình về mình nhớ ta chăng,
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười!”

Trước năm 1975, những bức tranh vẽ trong các bích chương tuyên truyền chống Cộng của miền Nam, như tranh của Hiếu Ðệ, các cán binh Cộng Sản đều có hàm răng “vẩu”. Người ta giải thích lý do là miền Bắc nước có nhiều chất vôi khiến răng tốt, chắc, chen nhau không có chỗ mọc thành ra hô, trái lại trong Nam không có núi đá vôi, răng sâu răng sún rất nhiều. Người ta nói “ghét nhau trái bồ hòn cũng méo”, nên cứ Việt Cộng là răng phải “bàn nạo dừa”. Ðiều này chắc cũng thái quá, bằng chứng Phạm Văn Ðồng gốc Quảng Ngãi có hàm răng hô, nhưng Trường Chinh gốc Bắc lại không!

Quý bà ngày xưa có tục nhuộm răng cũng đã phải qua một công trình gian khổ mới có được hàm răng đẹp mà lại ít bị sâu răng. Trong buổi giao thời vào đầu thế kỷ XX việc nhuộm răng đã bị bỏ dần và các cô răng trắng tân thời bị các bà già cổ hủ chê là hàm răng “trắng nhỡn”, là “như me Tây.”

Gần đây, các cụ đi tù nhiều năm, sang Mỹ theo diện H.O. phần lớn răng đều xộc xệch, một phần vì ở tù nhiều ngày, thiếu chất bổ dưỡng, một phần phải nhai bo bo nhiều năm, nên khi được đến Mỹ, ai cũng có cơ hội tân trang lại hàm răng. Trong thời gian này, nhiều cụ chỉ còn khoảng chục cái răng. Chữa răng sâu, nhổ răng thì cơ quan y tế cho phép, nhưng trồng răng mới thì không, trừ phi làm nguyên hai hàm răng giả. Từ đó nha sĩ thay vì khuyên các cụ bảo vệ những chiếc răng còn lại, hay cho các cụ trả góp để trồng răng, thì lại khuyên các cụ nhổ phứt hết răng và làm hai hàm răng mới. Do đó tôi có những ông bà bạn “lợi thì có lợi nhưng răng không còn”, được cấp luôn hai hàm răng mới, ăn uống khó khăn, nên lúc đi ra ngoài thì mang vào cho có răng, nhưng lúc ăn thì nhai bằng nếu, xệu xạo, móm mém rất tội nghiệp. Hàm răng này được gọi là “hàm răng H.O.” Nhưng lỡ rồi, “răng nhổ đi rồi lỗ bỏ không”, không bao giờ tìm lại được những chiếc răng của “ngày xưa thân ái” nữa.

Người xưa cho rằng “cái răng cái tóc là gốc con người”, là máu huyết của cha mẹ nên tóc dài không cắt, răng rụng thì giữ lại không nỡ bỏ đi. Trong thân thể người ta, xương thịt khi chôn xuống đất qua thời gian sẽ mục nát, nhưng những chiếc răng bao giờ cũng là vật còn lại cuối cùng và nhân loại không hề có hai hàm răng hoàn toàn giống nhau.

Răng không mang được khí thế của kẻ anh hùng mà thường ở thế thụ động để chịu đựng. Tức giận thì cũng chỉ biết nghiến răng chịu trận, trong xót xa, khổ ải con người cũng phải nương tựa đến hàm răng để “cắn răng” mà chịu đựng với đời, lúc kinh hãi, run sợ thì hai hàm răng đánh vào nhau lập cập, lúc bí lối, chỉ biết “nhe răng ra cười trừ”. Trong lúc lâm trận, con người cần phải chiến thắng bằng tay chân, mưu trí mà lúc thất thế lại dùng hàm răng để tấn công, như trường hợp võ sĩ Tyson đêm 28 tháng 16-1997, đã cắn dứt lỗ tai địch thủ Hopefield trên võ đài MGM, Las Vegas, thì bị người đời lên án là hèn hạ. Như vậy chỉ có thú vật mới dùng hàm răng như là một vũ khí để cắn xé nhau, nhưng đối loài người thì đó là điều tối kỵ. Răng con người chỉ dùng để nhai xé thức ăn nên lại mang tiếng là độc ác, là “tên sát nhân thầm lặng” khi người ta kết án con người dùng hàm răng để tự đào huyệt chôn mình.

Răng nhai được rau nhưng cũng biết xé nghiền thịt. Răng cắn thì lưỡi lùa, sớm tối có nhau, nhưng cũng có lúc răng cắn lưỡi. Môi che kẻo răng lạnh nhưng cũng có lúc răng cắn luôn môi. Răng, lưỡi và môi là láng giềng thân thiết, nhưng môi, lưỡi thì mềm mà răng thì cứng, nó là thứ phản phúc, nhưng sao không nhớ lưỡi, nhớ môi mà chỉ nhớ đến răng. Bây giờ đã đến lúc (nói riêng với các cụ già), những cái răng “đã bỏ chúng ta đi như những dòng sông nhỏ” mà môi, lưỡi vẫn còn.

Bây giờ, khi tình đã già:

“Hai mươi bốn năm sau,
Tình cờ đất khách gặp nhau,
Ðôi cái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen lung đố có nhìn ra được!
Ôn chuyện cũ mà thôi,
Liếc đưa nhau đi rồi!
Con mắt còn có đuôi.”

(Phan Khôi)

Mà không nghe ai nói đến “hàm răng mình cười!”

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Chuyện rùa ở hồ Hoàn Kiếm

Nguyên Hưng Quốc



Một trong những tin tức nổi bật nhất trên báo chí cũng như trên tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng tại Việt Nam trong suốt mấy tháng vừa qua chắc chắn là chuyện liên quan đến con rùa ở hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội.Hầu như không ngày nào không có tin. Hết tin rùa nổi và bơi lờ đờ vài chục phút lại đến tin rùa đang nhấm nháp xác cá chết hay mèo chết trôi trên hồ, rồi lại đến tin rùa có thêm một số vết trầy và vết lở trên đầu, trên cổ hoặc trên mai. Cuối cùng là tin tức về các nỗ lực chữa bệnh cho rùa.

Không những báo chí Việt Nam mà ngay cả báo chí quốc tế cũng loan tin.

Chung quanh các tin tức ấy có mấy điều đáng chú ý.

Thứ nhất, các hoạt động của chính quyền. Trước hết, người ta tổ chức hội nghị quốc tế với sự tham dự của nhiều chuyên gia về rùa trên thế giới. Sau đó, người ta thành lập ủy ban chỉ đạo công tác cứu chữa bao gồm nhiều sở và nhiều ban ngành ở Hà Nội, và cuối cùng, thành lập Hội đồng trị bệnh cho rùa gồm 13 thành viên do một bác sĩ kiêm phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ở Hà Nội làm chủ tịch. Từ ngày 4 tháng 3 vừa rồi, mọi kế hoạch đã bắt đầu hoạt động. Các chuyên viên và nhân công chia nhau làm việc ba ca, cả ngày lẫn đêm. Tin tức về các hoạt động của họ cũng như tin tức về việc xuất hiện của rùa được cập nhật thường xuyên trên các phương tiện truyền thông đại chúng, cả “lề trái” lẫn “lề phải”.

Thứ hai, thái độ của quần chúng. Đọc các bản tin trên báo chí, người ta không thể không ghi nhận sự kính trọng của rất nhiều người dành cho con rùa ở hồ Hoàn Kiếm. Sự kính trọng ấy có ít nhất ba biểu hiện: một, hình ảnh của hàng ngàn người đứng xem rùa nổi, trong đó, không ít người chắp tay khấn vái cầu nguyện cho rùa; hai, ở sự theo dõi thường xuyên suốt cả mấy tháng trời qua các phương tiện truyền thông; và ba, ở cách xưng hô. Rùa ở hồ Hoàn Kiếm không phải là con rùa như vô số những con rùa khác. Nó là “cụ” rùa. Mà không phải “rùa” viết thường như tôi vừa viết. Đó là Rùa với chữ “r” được viết hoa.

Có thể nói con rùa ở hồ Hoàn Kiếm là hiện tượng độc nhất vô nhị ở Việt Nam: Dường như chưa có một con vật nào được gọi bằng “cụ” như thế. Cũng chưa có con vật nào mà tên lại được viết hoa như thế. Một “đối tác” có thể được nêu lên để so sánh với con rùa này không thể tìm trong thế giới động vật. Mà chỉ thấy ở người. Hơn nữa, chỉ ở một người: ông Hồ Chí Minh, kẻ được gọi là “Bác” và tất cả các đại từ nhân xưng tạm thời được dùng để chỉ “Bác” phải được viết hoa: từ “Đồng chí” đến “Người”.

Nhưng con rùa ở hồ Hoàn Kiếm có lẽ còn hơn cả Hồ Chí Minh nữa. Tôi không biết năm 1969, lúc Hồ Chí Minh bị bệnh và sắp chết, dư luận có quan tâm theo dõi như bây giờ không. Tôi đoán là không. Chắc không có cuộc hội nghị quốc tế nào được tổ chức để bàn kế hoạch cứu chữa “Bác”. Cũng không có ủy ban hay hội đồng liên sở, liên ngành nào họp hành và hoạt động nhộn nhịp như bây giờ (trừ Hội đồng y khoa đương nhiên phải có!). Càng không có tin tức hay hình ảnh từng cơn ho, từng cái trở mình của “Bác” được tung lên báo in hay báo mạng như bây giờ.

Con rùa này còn hơn Hồ Chí Minh ở điểm nữa: nó sản sinh ra những nhà “Rùa học” (tiêu biểu nhất là phó giáo sư Hà Đình Đức, người bỏ ra cả hai chục năm nghiên cứu và viết cả hàng ngàn bài báo về rùa). Chung quanh Hồ Chí Minh có nhiều người, thậm chí, vô số người làm thơ và viết văn nịnh hót, nhưng theo chỗ tôi biết, cho đến nay, ở Việt Nam, chưa có “nhà” Hồ-Chí-Minh-học nào cả. Thậm chí tham vọng thành lập một ngành Hồ-Chí-Minh-học cũng không có.

Chuyện sùng bái đối với con rùa ở hồ Hoàn Kiếm, theo tôi, một phần, phần nhỏ, xuất phát từ lý do lịch sử, và phần khác, lớn hơn, từ sự mê tín. Lịch sử: Nó gắn liền với truyền thuyết Lê Lợi được trao gươm thần để đánh giặc Minh, và sau chiến thắng, phải trả lại chiếc gươm thần ấy cho một con rùa. Truyền thuyết ấy được tượng hình và lưu truyền trong cái tên chính thức của cái hồ nằm ngay ở trung tâm Hà Nội: hồ Hoàn Kiếm (hoặc gọn hơn, hồ Gươm). Thế nhưng, thứ nhất, đó chỉ là truyền thuyết. Mà truyền thuyết lại thường là không thật. (Riêng trong trường hợp này lại càng không thể thật!). Thứ hai, không ai dám chắc con rùa hiện nay chính là con rùa “thần” đã từng nuốt lưỡi kiếm của Lê Lợi sáu trăm năm trước. Có thể nói con rùa hiện đang ở hồ Hoàn Kiếm (theo sự ước đoán của các nhà khoa học, chỉ khoảng từ 80 đến 100 tuổi) đang được hưởng ké vinh quang của huyền thoại rùa thần và kiếm thần ngày xưa. Nó trở thành linh vật nhờ một huyền thoại cũ.

Nếu gắn liền sự sùng bái đối với con rùa ở hồ Hoàn Kiếm hiện nay với các trò chen chúc và giẫm đạp lên nhau của cả hàng chục ngàn người để mua ấn đền Trần ở Nam Định vào ngày 16 tháng 2 vừa qua, chúng ta rất dễ thấy một sự tương đồng: cuồng tín và mê tín trước huyền thoại.

Riêng đối với những sự cuồng tín và mê tín chung quanh con rùa ở hồ Hoàn Kiếm, tôi không thấy có gì cần phản đối. Thành thực mà nói ở đâu cũng có những sự cuồng tín và mê tín như vậy. Hơn nữa, về phương diện văn hóa và chính trị, những sự cuồng tín và mê tín như vậy có lúc cũng cần thiết để nuôi dưỡng một ký ức văn hóa tập thể vốn là nền tảng để xây dựng chủ nghĩa quốc gia.

Tôi không phản đối các nỗ lực chữa trị cho con rùa già nua và thương tật ấy. Tôi chỉ thấy gờn gợn trong lòng mấy nỗi băn khoăn:

Một, trong khi hầu như mọi người, từ chính quyền đến dân chúng tập trung quan tâm đến việc cứu chữa một con rùa già nua và thương tật ở hồ Hoàn Kiếm, có mấy ai quan tâm đến những con người bất hạnh rất đáng thương và rất cần sự giúp đỡ, từ những người tật nguyền đến những người nghèo khổ đang nghẹt thở trước các cơn bão giá ở khắp nơi; từ những cô gái phải bán mình cho người ngoại quốc, sau đó, bị đày đọa ở Hàn Quốc hay Trung Quốc đến những người đang lao động xuất khẩu, có khi thực chất chỉ là nô lệ ở nhiều quốc gia trên thế giới; từ những ngư dân bị tàu “lạ” bắt bớ hay đánh đắm và thân nhân khốn khổ của họ đến những người bệnh hoạn không đủ tiền để đi bác sĩ hay vào bệnh viện?

Hai, ai cũng thấy và ai cũng đồng ý vấn đề sức khỏe của con rùa ở hồ Hoàn Kiếm liên quan đến vấn đề môi trường: nước hồ thì đục ngầu và bẩn thỉu, đáy hồ thì đầy rác rến, cả hồ bị ô nhiễm nặng nề. Công việc cứu chữa rùa, do đó, gắn liền với việc tẩy uế cả hồ. Nhưng như vậy thì có nhiều vấn đề khác nổi lên: Vấn đề môi trường chung của cả nước thì sao? Vô số dòng sông khác đang chết dần hoặc đang nhiễm đầy chất độc thì sao? Những người dân sống trong các làng ung thư rải rác ở Việt Nam mà báo chí thường nhắc đến thì sao? Liệu có ai quan tâm đến những vấn đề ấy? Và những con người ấy?

Và ba, tôi có cảm giác đằng sau những sự ồn ã chung quanh nỗ lực cứu chữa con rùa ở hồ Hoàn Kiếm dường như có một toan tính chính trị nào đó. Có phải người ta dùng việc đó để đánh lạc hướng sự chú ý của quần chúng chăng? Trong khi ở khắp nơi trên thế giới, các phương tiện truyền thông đại chúng loan tin dồn dập về các cuộc nổi dậy giành tự do và dân chủ ở Trung Đông và Bắc Phi thì ở Việt Nam, ngược lại, mọi người lại chú mục vào những vết trầy lở trên mình một con rùa!

Bạn có thấy có cái gì bất bình thường không? ( VOA)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Tôi Không Có Kẻ Thù

Lưu Hiểu Ba


Tháng sáu 1989 là bước ngoặc lớn của cả cuộc đời 50 năm của tôi.

Trước kia, tôi từng là một sinh viên trong lứa đầu tiên được tuyển sinh vào trường đại học vừa mở cửa lại sau Cách Mạng Văn Hóa; đường học của tôi diễn tiến êm ả từ cấp cử nhân lên cao học rồi Tiến sĩ. Sau khi tốt nghiệp, tôi được giữ làm giảng viên trường Đại Học Bắc Kinh.

Trên bục giảng, tôi là một thầy giáo được nhiều sinh viên biết đến. Tôi cũng là một trí thức của công chúng: những năm 1980, tôi viết nhiều bài báo và sách có tiếng vang.

Tôi thường đi lại nhiều nơi diễn thuyết, được mời đi thỉnh giảng tại Châu Âu và Hoa Kỳ. Tôi đòi hỏi ở mình đức chân thực, tinh thần trách nhiệm, và lòng tự trọng cả trong đời sống lẫn trong bài viết.

Sau đó, khi tôi từ Hoa Kỳ trở về, tôi tham gia phong trào sinh viên 1989, bị tù vì “tuyên truyền phản cách mạng và kích động bạo loạn”, bị tước mất vị thế tôi trân trọng; tôi bị cấm không được viết lách hay diễn thuyết tại Trung Quốc. Chỉ vì mỗi một chuyện là phát biểu quan điểm khác biệt về chính trị và tham gia các phong trào dân chủ và hoà bình, mà một thầy giáo phải xa bục giảng, người cầm bút bị cấm xuất bản, và người trí thức thì mất cơ hội nói với công chúng. Điều này đáng buồn cho cá nhân tôi đã đành, mà còn cho cả đất nước Trung Hoa sau ba thập niên đổi mới và mở cửa.

Xem nào, những trải nghiệm nặng nề nhất của tôi từ sau biến cố 4 Tháng Sáu 1989 đều dính dáng với toà án; hai dịp mà tôi có điều kiện nói với công chúng đều là tại toà án sơ thẩm Bắc Kinh, một lần vào Tháng Giêng 1991 và lần này. Tuy rằng tội danh vào mỗi dịp đều khác nhau, về thực chất cả hai đều là tội danh liên quan đến quyền tự do ngôn luận.

Đã hai mươi năm qua, những linh hồn trong trắng của biến cố 4 Tháng Sáu vẫn chưa được yên nghỉ, và tôi, một kẻ đã đi trên con đường bất đồng chính kiến vì nhiệt tâm với 4 Tháng Sáu, sau khi rời nhà tù Tần Thành năm 1991, đã bị cấm ăn nói tại chính quê hương mình, và chỉ được phép phổ biến quan điểm của mình qua truyền thông hải ngoại, vì thế bị theo dõi suốt nhiều năm qua; bị quản chế (Tháng Năm 1996 – Tháng Mười 1999), và bây giờ bị đẩy vào thế đứng kẻ thù của chế độ.

Tuy nhiên tôi muốn nói với chế độ đã tước đoạt quyền tự do của tôi, rằng tôi vẫn thuỷ chung với niềm tin của mình mà tôi từng bày tỏ hai mươi năm trước, khi tôi phát biểu tại kì tuyệt thực –Tôi không có kẻ thù, không có lòng căm thù. Không một nhân viên an ninh theo dõi, bắt giữ và thẩm vấn tôi, công tố viên kết tội tôi, hay vị chánh án đã xử án tôi, không ai là kẻ thù tôi cả. Mặc dù tôi không thể chấp nhận sự theo dõi, bắt bớ, kết tội, tuyên án của các vị, tôi vẫn tôn trọng nghiệp vụ và nhân cách của các vị. Kể cả sự buộc tội lần này: Tôi biết các vị tôn trọng tôi và giữ sự chân tình trong lúc thẩm vấn tôi hôm 3 Tháng Mười Hai.

Bởi vì lòng thù hận chỉ làm hoen rỉ sự khôn ngoan và ý thức của ta; não trạng thù hận có thể làm hỏng hồn tính một quốc gia, gây ra bao nhiêu là bạo động oan khiên cho vạn sinh linh, phá hỏng lòng khoan hoà và tình người của một xã hội, và ngăn chặn bước tiến của một quốc gia trên hành trình về tự do dân chủ. Do vậy tôi mong rằng mình sẽ có thể vượt lên khỏi những thăng trầm của số phận một cá nhân nhỏ bé để mà hiểu được sự phát triển của quốc gia và những đổi thay của xã hội, vượt qua thái độ thù hận mà chế độ dành cho tôi bằng thái độ chính đính nhất, và lấy tình thương để gỡ bỏ sự thù hận.

Tôi vững tin rằng tiến bộ chính trị tại Trung Hoa sẽ không bao giờ ngừng lại, và tôi hoàn toàn lạc quan chờ đợi ngày tự do đến với Trung Hoa trong một tương lai không xa, bởi sẽ không có thế lực nào có thể cản trở khát vọng tự do của con người. Sẽ có ngày Trung Hoa trở thành một quốc gia pháp trị, ở đó quyền con người là tối thượng. Tôi cũng chờ đợi bước tiến ấy thể hiện cụ thể qua phiên toà này, và chờ đợi một phán quyết công bằng của toà như một phép thử của lịch sử.

Hỏi rằng trong hai thập niên qua, điều gì là một trải nghiệm may mắn nhất đời tôi, tôi không ngần ngại mà nói rằng đấy là tình yêu tràn đầy của Lưu Hà, người vợ thân yêu. Em không thể có mặt tại phiên toà hôm nay, nhưng anh vẫn muốn bày tỏ với người yêu dấu của anh một điều, rằng anh vẫn vững tin vào tình yêu bền chặt của chúng ta. Đã bao năm nay, trong hoàn cảnh đời sống mất tự do, tình yêu chúng ta đã chỉ có lắm chua xót vì ngoại cảnh đưa đẩy, nhưng nó vẫn bay bổng khỏi những rào chắn. Anh bị giam cầm trong một nhà tù nhỏ, còn em thì vẫn đang vò võ đợi anh trong nhà tù lớn.

Tình yêu em là ánh sáng đã giúp anh vượt qua những bức tường và thanh sắt, vẫn dịu dàng trên từng li tấc da thịt anh, sưởi ấm từng tế bào cơ thể anh, giúp anh giữ lòng mình được thanh thản, cao thượng và trong sáng, vì vậy mỗi phút giây trong nhà tù vẫn tràn đầy ý nghĩa. Bù lại, tình yêu anh dành cho em toàn là sự thống hối, có khi làm nặng trĩu từng bước chân đi. Anh là một viên đá tảng nặng nề nơi chốn hoang vu, hứng chịu những nghiệt ngã của bão tố, và trở thành lạnh băng trước nhân gian. Nhưng tình yêu anh vẫn bền,sắc, và có thể vượt qua bao cản ngại. Cho dù ai có nghiền nát anh, anh vẫn nguyện ôm ấp em bằng tro than của mình.

Có tình yêu em, người yêu dấu ơi, anh sẽ nhìn thẳng vào phiên toà hôm nay với lòng thanh thản, không tiếc hận về những chọn lựa của mình, và vẫn lạc quan tin tưởng vào một ngày mai. Anh chờ đợi đất nước chúng ta sẽ trở thành xứ sở tự do, ở đó tiếng nói của mọi công dân được đối xử ngang nhau; ở đó mọi khác biệt về giá trị, quan điểm, niềm tin, chính kiến… đều được quyền tương tranh và cộng tồn bên nhau trong hoà bình; ở đó quan điểm của đa số và thiểu số đều được bảo đảm, nhất là những chính kiến khác biệt với quan điểm quan phương chính thống sẽ được tôn trọng và bảo vệ; ở đó tất cả mọi quan điểm chính trị đều được công khai cho nhân dân lựa chọn; ở đó mọi công dân sẽ được quyền biểu đạt chính kiến mà không phải sợ hãi, không bị trấn áp vì cất tiếng nói bất đồng.

Tôi mong mỏi rằng bản thân mình sẽ là nạn nhân cuối cùng của chuỗi dài truy đuổi bất tận những kẻ bất đồng tại Trung Hoa, và rằng sau tôi sẽ không ai còn phải chịu cảnh tù đày vì bày tỏ quan điểm của mình.

Quyền tự do phát biểu là cơ sở của nhân quyền, là nguyên uỷ của nhân tính và là mẹ của sự thật. Cấm đoán tự do ngôn luận là giày xéo lên quyền con người, bóp nghẹt nhân tính, và trấn áp sự thật.


Tôi không thấy mình có tội gì khi sử dụng quyền tự do phát biểu hiến định, để làm tròn trách vị công dân của mình. Dẫu có bị kết tội vì đã làm thế, tôi cũng chẳng than phiền điều gì cả.

LưuHiểuBa Xuyến Như chuyển ngữ

Post Reply