Bình Luận Thời Sự
Rồi sẽ có một ngày
Vào tối Thứ Sáu 11 tháng 2 năm 2011, sau khi được tin Tổng Thống Hosni Mubarak từ chức, hằng trăm nghìn người dân Ai Cập đã xuống đường, chen chân tại trên quảng trường Tahrir của thủ đô Cairo, ăn mừng, đốt pháo bông và reo hò, đánh trống hay ca hát trong niềm vui tràn ngập.
Nhiều người dân ràn rụa nước mắt, đã quỳ xuống hôn lên mặt đất, cầu nguyện và tri ân đất nước của họ đã được tự do, đồng loạt hô lớn khẩu hiệu: “Ai Cập tự do! Ai Cập tự do!” Ðài CNN đã dùng danh từ “Cánh Mạng” để mô tả diễn biến này.
Sau 18 ngày tranh đấu ôn hòa và sau khi quân đội đứng về phía dân chúng, tổng thống độc tài cai trị Ai Cập 29 năm dài đã phải ra đi. Hình ảnh dân chúng ôm hôn những người lính, leo lên chiến xa, phất quốc kỳ và nhiều gia đình đã kéo đến chụp ảnh trước các xe tăng với những quân nhân, đã làm cho mọi người xúc động trong ý nghĩ quân đội từ dân mà ra, phải bảo vệ dân. Chế độ độc tài nào cuối cùng cũng phải kết thúc, khác nhau ở chỗ bằng máu hay bằng đường lối ôn hòa mà thôi.
Chúng ta hơn một triệu người đã bỏ nước ra đi, trước cảnh tượng hằng trăm nghìn người xuống đường chống cường quyền, độc tài, tham nhũng ở Tunisie hay ở Ai Cập, chúng ta không khỏi liên tưởng đến hoàn cảnh đất nước của chúng ta, từ đó, trong đắng cay chúng ta đã bỏ nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả ông cha để phiêu bạt tứ xứ, chân trời góc bể trên khắp năm châu.
Hosni Mubarak cai trị Ai Cập trong thời gian 29 năm, trong khi ở Việt Nam, Cộng Sản đã cai trị đất nước 36 năm. Mubarak là cá nhân, tại Việt Nam tuy có nhiều nhân vật thay phiên nhau cầm quyền nhưng cũng chỉ là một người đứng sau, đó là đảng Cộng Sản. Tờ Guardian ở Anh dẫn lời các chuyên gia về Trung Ðông cho biết, theo phân tích của họ, Hosni Mubarak cùng gia đình có tài sản lên tới 43.5 tỷ bảng Anh (70 tỷ US dollars). Tài sản này bao gồm tiền gởi trong các ngân hàng Anh và Thụy Sĩ cùng rất nhiều bất động sản ở London, New York, Los Angeles cũng như các khu du lịch có giá trị dọc theo bờ biển Hồng Hải. Căn cứ theo các tài liệu về gia sản của của cán bộ cao cấp đang cầm quyền, số tài sản của Bộ Chính Trị và trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam cộng lại, không thua tài sản của Mubarak. Chế độ của Mubarak ở Ai Cập là chế độ cảnh sát trị thì chế độ CS Việt Nam là chế độ công an trị, chúng ta đã thấy công an đầy đủ quyền lực và trấn áp người dân như thế nào.
Người ta đã viết về đất nước Ai Cập: “Tình trạng bất công, tham nhũng, lạm dụng chức quyền của những thành phần đảng viên đảng cầm quyền, là sự kiện phổ biến ở tất cả mọi chế độ độc đảng. Thiếu nền tảng dân chủ, đường lối phát triển kinh tế thị trường chỉ tạo cơ hội thuận lợi cho một giới ưu đãi thụ hưởng đặc quyền đặc lợi tới một tầm mức quá đáng trong khi cuộc sống của đại đa số quần chúng không được cải thiện bao nhiêu.” Hay qua tin tức qua báo chí: “Ðất nước Ai Cập dưới chế độ Hosni Mubarak từ lâu nay vẫn được coi là nơi mà tiền bạc mua được quyền lực chính trị và quyền lực chính trị đem đến giàu sang. Tuy khó có thể chứng minh được tất cả những điều này, người dân Ai Cập nhìn thấy sự trỗi vượt lên của thành phần giàu có, đều tin rằng tình trạng mánh mung, chia chác và tham nhũng tràn lan khắp nước.” (1) Ðọc đoạn văn này, mà không nói rõ là nói về đất nước Ai Cập từ 29 năm nay, thì bạn sẽ tưởng là một bài nói về đất nước Việt Nam hiện nay. Khi biết là nói về Ai Cập rồi thì các bạn sẽ có ngay một sự liên tưởng mạnh mẽ.
Tuổi trẻ ở Tunisie và Algérie đã quả cảm dấn thân vào các cuộc nổi dậy để đòi cải thiện quyền sống cũng như quần chúng Ai Cập đã nổi lửa tranh đấu độc tài, tham nhũng và đã thành công. Chừng nào thì chuyện này xảy ra ở Việt Nam?
Tôi không phải là nhà viết bình luận thời sự và không dám đặt câu hỏi này. Tuổi trẻ Việt Nam đang lo kiếm sống, Quân đội Việt Cộng đang có nhiều quyền lợi về thương mãi và chiếm cứ những vùng đất béo bở từ Nam ra Bắc, ở Việt Nam bây giờ chỉ có cá nhân tranh đấu đơn độc mà không có tập thể, quần chúng thì bươn chải kiếm miếng ăn và mang nỗi sợ thâm căn từ nửa thế kỷ nay. Trung Cộng đã bỏ mất cơ hội vào năm 1989, vì quân đội do đảng nắm và những chế độ Cộng Sản sẽ thẳng tay đàn áp đẫm máu không khoan nhượng những cuộc nổi dậy. Tố Hữu đã viết về tiếng kẻng của nhà tù thực dân, nhưng giờ đây chính là những gì xảy ra dưới chế độ Cộng Sản: “Kẻng dọa: Nằm yên.
Phải cúi đầu khuất phục. Ðây thành lao cửa ngục. Ðây xiềng xích, gông cùm. Ðây mũi súng, làn gươm. Chết, nếu mi đòi sống”.
Tuy vậy sáng nay ở trên đất Mỹ, tôi muốn có quyền lực gì để đánh thức cả tuổi trẻ và dân tộc Việt Nam dậy, vì giờ này bên Việt Nam còn đang là đêm. Ðêm Ai Cập đang rực sáng vì lửa đấu tranh, đêm Saigon cũng sáng lắm vì ánh đèn vũ trường. Tôi muốn gõ cửa từng ngôi nhà, bật sáng màn ảnh truyền hình cho mọi người chứng kiến giờ phút lịch sử của Ai Cập. Tôi muốn nói với các cụ già sống lưu vong đã ba mươi sáu năm nay ngoài tổ quốc, hãy đừng vội chết, đợi để còn được vui với con cháu một ngày sẽ đến. Và “Tôi ơi đừng tuyệt vọng” (TCS), các bạn ngậm ngùi nỗi nhớ quê hương, ba nươi sáu năm chưa phải là một thời gian dài để chôn hết hy vọng của một đời người.
Phải, rồi sẽ có một ngày:
“Sẽ có một ngày con người hôm nay
Vất súng, vất cờ, vất cùm, vất Ðảng,
Ðội lại khăn tang, quay ngang vòng nạng
Oan khiên…!
(Thơ Nguyễn chí Thiện-1971)
Vào tối Thứ Sáu 11 tháng 2 năm 2011, sau khi được tin Tổng Thống Hosni Mubarak từ chức, hằng trăm nghìn người dân Ai Cập đã xuống đường, chen chân tại trên quảng trường Tahrir của thủ đô Cairo, ăn mừng, đốt pháo bông và reo hò, đánh trống hay ca hát trong niềm vui tràn ngập.
Nhiều người dân ràn rụa nước mắt, đã quỳ xuống hôn lên mặt đất, cầu nguyện và tri ân đất nước của họ đã được tự do, đồng loạt hô lớn khẩu hiệu: “Ai Cập tự do! Ai Cập tự do!” Ðài CNN đã dùng danh từ “Cánh Mạng” để mô tả diễn biến này.
Sau 18 ngày tranh đấu ôn hòa và sau khi quân đội đứng về phía dân chúng, tổng thống độc tài cai trị Ai Cập 29 năm dài đã phải ra đi. Hình ảnh dân chúng ôm hôn những người lính, leo lên chiến xa, phất quốc kỳ và nhiều gia đình đã kéo đến chụp ảnh trước các xe tăng với những quân nhân, đã làm cho mọi người xúc động trong ý nghĩ quân đội từ dân mà ra, phải bảo vệ dân. Chế độ độc tài nào cuối cùng cũng phải kết thúc, khác nhau ở chỗ bằng máu hay bằng đường lối ôn hòa mà thôi.
Chúng ta hơn một triệu người đã bỏ nước ra đi, trước cảnh tượng hằng trăm nghìn người xuống đường chống cường quyền, độc tài, tham nhũng ở Tunisie hay ở Ai Cập, chúng ta không khỏi liên tưởng đến hoàn cảnh đất nước của chúng ta, từ đó, trong đắng cay chúng ta đã bỏ nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả ông cha để phiêu bạt tứ xứ, chân trời góc bể trên khắp năm châu.
Hosni Mubarak cai trị Ai Cập trong thời gian 29 năm, trong khi ở Việt Nam, Cộng Sản đã cai trị đất nước 36 năm. Mubarak là cá nhân, tại Việt Nam tuy có nhiều nhân vật thay phiên nhau cầm quyền nhưng cũng chỉ là một người đứng sau, đó là đảng Cộng Sản. Tờ Guardian ở Anh dẫn lời các chuyên gia về Trung Ðông cho biết, theo phân tích của họ, Hosni Mubarak cùng gia đình có tài sản lên tới 43.5 tỷ bảng Anh (70 tỷ US dollars). Tài sản này bao gồm tiền gởi trong các ngân hàng Anh và Thụy Sĩ cùng rất nhiều bất động sản ở London, New York, Los Angeles cũng như các khu du lịch có giá trị dọc theo bờ biển Hồng Hải. Căn cứ theo các tài liệu về gia sản của của cán bộ cao cấp đang cầm quyền, số tài sản của Bộ Chính Trị và trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam cộng lại, không thua tài sản của Mubarak. Chế độ của Mubarak ở Ai Cập là chế độ cảnh sát trị thì chế độ CS Việt Nam là chế độ công an trị, chúng ta đã thấy công an đầy đủ quyền lực và trấn áp người dân như thế nào.
Người ta đã viết về đất nước Ai Cập: “Tình trạng bất công, tham nhũng, lạm dụng chức quyền của những thành phần đảng viên đảng cầm quyền, là sự kiện phổ biến ở tất cả mọi chế độ độc đảng. Thiếu nền tảng dân chủ, đường lối phát triển kinh tế thị trường chỉ tạo cơ hội thuận lợi cho một giới ưu đãi thụ hưởng đặc quyền đặc lợi tới một tầm mức quá đáng trong khi cuộc sống của đại đa số quần chúng không được cải thiện bao nhiêu.” Hay qua tin tức qua báo chí: “Ðất nước Ai Cập dưới chế độ Hosni Mubarak từ lâu nay vẫn được coi là nơi mà tiền bạc mua được quyền lực chính trị và quyền lực chính trị đem đến giàu sang. Tuy khó có thể chứng minh được tất cả những điều này, người dân Ai Cập nhìn thấy sự trỗi vượt lên của thành phần giàu có, đều tin rằng tình trạng mánh mung, chia chác và tham nhũng tràn lan khắp nước.” (1) Ðọc đoạn văn này, mà không nói rõ là nói về đất nước Ai Cập từ 29 năm nay, thì bạn sẽ tưởng là một bài nói về đất nước Việt Nam hiện nay. Khi biết là nói về Ai Cập rồi thì các bạn sẽ có ngay một sự liên tưởng mạnh mẽ.
Tuổi trẻ ở Tunisie và Algérie đã quả cảm dấn thân vào các cuộc nổi dậy để đòi cải thiện quyền sống cũng như quần chúng Ai Cập đã nổi lửa tranh đấu độc tài, tham nhũng và đã thành công. Chừng nào thì chuyện này xảy ra ở Việt Nam?
Tôi không phải là nhà viết bình luận thời sự và không dám đặt câu hỏi này. Tuổi trẻ Việt Nam đang lo kiếm sống, Quân đội Việt Cộng đang có nhiều quyền lợi về thương mãi và chiếm cứ những vùng đất béo bở từ Nam ra Bắc, ở Việt Nam bây giờ chỉ có cá nhân tranh đấu đơn độc mà không có tập thể, quần chúng thì bươn chải kiếm miếng ăn và mang nỗi sợ thâm căn từ nửa thế kỷ nay. Trung Cộng đã bỏ mất cơ hội vào năm 1989, vì quân đội do đảng nắm và những chế độ Cộng Sản sẽ thẳng tay đàn áp đẫm máu không khoan nhượng những cuộc nổi dậy. Tố Hữu đã viết về tiếng kẻng của nhà tù thực dân, nhưng giờ đây chính là những gì xảy ra dưới chế độ Cộng Sản: “Kẻng dọa: Nằm yên.
Phải cúi đầu khuất phục. Ðây thành lao cửa ngục. Ðây xiềng xích, gông cùm. Ðây mũi súng, làn gươm. Chết, nếu mi đòi sống”.
Tuy vậy sáng nay ở trên đất Mỹ, tôi muốn có quyền lực gì để đánh thức cả tuổi trẻ và dân tộc Việt Nam dậy, vì giờ này bên Việt Nam còn đang là đêm. Ðêm Ai Cập đang rực sáng vì lửa đấu tranh, đêm Saigon cũng sáng lắm vì ánh đèn vũ trường. Tôi muốn gõ cửa từng ngôi nhà, bật sáng màn ảnh truyền hình cho mọi người chứng kiến giờ phút lịch sử của Ai Cập. Tôi muốn nói với các cụ già sống lưu vong đã ba mươi sáu năm nay ngoài tổ quốc, hãy đừng vội chết, đợi để còn được vui với con cháu một ngày sẽ đến. Và “Tôi ơi đừng tuyệt vọng” (TCS), các bạn ngậm ngùi nỗi nhớ quê hương, ba nươi sáu năm chưa phải là một thời gian dài để chôn hết hy vọng của một đời người.
Phải, rồi sẽ có một ngày:
“Sẽ có một ngày con người hôm nay
Vất súng, vất cờ, vất cùm, vất Ðảng,
Ðội lại khăn tang, quay ngang vòng nạng
Oan khiên…!
(Thơ Nguyễn chí Thiện-1971)
Con trai các nhà độc tài khiến cha mất chức
Stephen Kinzer/Daily Beast
V.Giang chuyển ngữ
NEW YORK - Con trai của nhà độc tài Qaddafi ở Libya bị cho là có liên hệ đến buôn lậu võ khí. Hai người con trai của Saddam là những kẻ hiếp dâm và tra tấn người.
Con của các tay bạo chúa, độc tài, thường giúp thúc đẩy sự sụp đổ của cha mình. Nếu không tin, ta cứ hỏi ông Mubarak khắc rõ.

Một trong những giọt nước tràn ly ở Ai Cập là dự định của Tổng Thống Hosni Mubarak để cho con mình, Gamal Mubarak
(trong tấm hình chụp năm 2007), lên kế vị tổng thống. (Hình: AP Photo/Ben Curtis) Tổng Thống Hosni Mubarak ở Ai Cập phải rời khỏi quyền lực của mình trong sự nhục nhã, một phần vì ông không chịu học một bài học của lịch sử: Các nhà độc tài chẳng nên có con trai.
Phần lớn trong số những người này lại có con trai. Và điều này thường góp phần đẩy họ ra khỏi quyền lực hay làm sụp đổ đất nước.
Người dân Ai Cập có thể chấp nhận đè nén sự căm phẫn của họ thêm một thời gian nữa, nếu ông Mubarak già nua đau yếu không nói rõ rằng ông muốn con trai của mình, Gamal Mubarak, lên kế vị. Trong tất cả mọi hành vi ngạo mạn của ông Mubarak, không có gì sỉ nhục dân chúng Ai Cập bằng thái độ cho rằng trong tất cả 80 triệu dân Ai Cập, chỉ có Gamal Mubarak là xứng đáng nhất để lãnh đạo đất nước. Kế hoạch đã được chuẩn bị để đưa Gamal lên nắm quyền, không qua lá phiếu của dân nhưng chỉ vì đó là ý muốn của ông cha.
Chưa đầy một tuần sau khi các vụ biểu tình phản kháng bùng nổ ở Ai Cập, Tổng Thống Ali Abdullah Saleh ở Yemen công khai tuyên bố sẽ chấm dứt việc tìm cách đưa con trai mình, Ahmed, lên làm tổng thống sau khi ông ra đi. Cùng lúc đó, Vua Abdullah ở Jordan, người lên kế vị cha mình, giải nhiệm chính phủ trong nỗ lực củng cố chế độ của mình. Triều đại Abdullah này có vẻ coi như vững chắc hiện nay, cũng giống như ở Saudi Arabia, nhưng quan niệm con trai có quyền lên kế vị cha ở các vị trí quyền lực gần như tối thượng ngày càng được ít người ủng hộ.
Một số ít con của các nhà độc tài vẫn còn tiếp tục giữ được quyền lực cha ông để lại, như Bashar al-Assad ở Syria và Kim Chính Nhật (Kim Jong-Il) ở Bắc Hàn. Nhưng đa số các chế độ khác bị thất bại thê thảm. Lục địa Phi Châu đặc biệt đầy rẫy những trường hợp này. Con trai của Idi Amin, Daniel Arap Moi, và Jomo Kenyatta không thể giữ được quyền hành mà cha họ muốn chuyển giao. Gần nước Mỹ hơn nữa, Jean-Claude “Baby Doc” Duvalier, lên nắm chức tổng thống Haiti sau khi cha ông ta qua đời nhưng không thể giữ được; các nỗ lực nhằm quay trở lại chính quyền của ông ta thời gian qua bị cản trở rất nhiều vì những gì người dân vẫn còn nhớ, không phải chỉ sự tham nhũng và tàn bạo dưới thời ông ta cai trị mà còn ở thời cha của ông.
Ở một số quốc gia, ngay cả viễn tượng sẽ có việc “cha truyền con nối” nay cũng có thể gây ra sự phẫn uất của dân chúng. Ðiều này có thể làm cho các nhà độc tài như Muammar Qaddafi ở Libya phải suy nghĩ lại. Ngay cả trong trường hợp họ không lên nắm quyền, đời sống hai người con trai của Qaddafi tiêu biểu cho lối sống đồi trụy thường thấy ở con trai các nhà độc tài.
Một người con của Qaddafi, Saif al-Arab, bị điều tra về tội buôn võ khí lậu tại Ðức. Người kia, Hannibal, gây ra cuộc tranh chấp ngoại giao với Thụy Sĩ khi bị bắt ở Geneva về tội hành hạ người làm của mình. Ông ta còn liên quan đến việc hành hung cảnh sát ở Ý, lái xe Porsche đi ngược chiều ở Champs-Élysées khi say rượu và khiến cảnh sát phải được gọi đến ở khách sạn Claridges ở London khi người ta nghe tiếng vợ ông kêu thét trong phòng (bà này sau đó nói rằng các vết bầm và trầy sướt là do bị té).
Hai người con trai của Saddam Hussein, Uday và Qusai, nổi danh là những kẻ hiếp dâm và tra tấn người vô cùng tàn bạo. Hiếp dâm cũng là một trò tiêu khiển của Nicu Ceausescu, con trai của nhà độc tài Romania; người ta nói rằng y thích hiếp dâm người vợ trong khi các cận vệ đánh đập người chồng. Nicu cũng là một kẻ nghiện rượu và cờ bạc, cũng như con trai của các nhà độc tài khác, và trong một số trường hợp khác, như Chucky Taylor ở Liberia và Marko Milosevic ở Serbia, cũng tự mình đi vào lãnh vực buôn ma túy.
Chẳng cần phải là nhà tâm lý học tài giỏi, ai cũng có thể đi đến kết luận là cảm nhận về quyền hạn tột đỉnh đã khiến con trai của những nhà độc tài này thấy rằng họ có thể sống sa đọa hay vô đạo đức đến thế nào cũng được.
Ngoài tính dục, rượu, ma túy, và bài bạc, nhiều người con của thành phần độc tài cũng có chung một sở thích khác là thể thao. Marko Milosevic thích đua xe, Baby Doc lái xe mô tô, con của Saddam Hussein và Qaddafi được trao cho trách nhiệm điều hành thể thao trong nước.
Và hành vi bạo động tùy hứng cũng ở trong những người này. Có cách nào khác hơn để giải thích được việc Chuck Taylor có lần đánh tài xế mình đến chết vì nhìn thấy vết trầy trên chiếc xe, hay Uday Hussein ra lệnh tra tấn các cầu thủ đội bóng tròn vì họ thi đấu không tốt như ý muốn của ông ta?
Kềm kẹp siết ngón tay, được cho là dụng cụ của Uday Hussein, con trai Sadam Hussein, dùng để trừng trị cầu thủ bóng đá
và những vận động viên nào khác mà không thi đấu được như ý muốn của Uday, từng là chủ tịch ủy ban Olympic Iraq. (Hình: Ahmad Al-Rubaye/AFP/Getty Images)
Việc đưa con các nhà độc tài lên nắm quyền cũng thường tạo ra các cuộc biểu tình phản kháng. Năm 2005, cảnh sát quốc gia Togo bắn chết hơn 400 người biểu tình sau khi chế độ cầm quyền tuyên bố đưa Faure Gnassingbe lên kế vị cha mình khi ông này qua đời. Bốn năm sau đó, bạo động nổ ra ở Gabon khi các giới chức bầu cử nói rằng Ali Ben Bongo được bầu làm tổng thống để thay người cha quá cố. Joseph Kabila lên nắm quyền ở Congo mà không gặp nhiều sự phản đối sau khi cha ông ta bị ám sát chết năm 2001, nhưng đây có thể coi là một trường hợp ngoại lệ.
Ở Uganda, Tổng Thống Yoweri Museveni có thể đang nghĩ đến việc đưa con trai mình lên kế vị.
Làm thế nào để các nhà độc tài tránh được khỏi vận hạn này? Có lẽ là chỉ có ba giải pháp. Một là giải pháp “sợi dây lụa” được các vị vua thời Ðế Quốc Ottoman. Họ thường ra lệnh giết con trai của mình-thắt cổ bằng sợi dây lụa vì máu hoàng gia không được đổ ra-để tránh hậu hoạn. Ðiều này có vẻ tàn bạo nhưng những người bênh vực cho truyền thống này nói rằng số người chết vì việc này quá nhỏ so với con số những người phải chết trong các cuộc chiến tranh giành ngôi báu ở Âu Châu.
Giải pháp thứ nhì là không có con. Ðó là con đường của George Washington -một số sử gia tin rằng việc mắc bệnh đậu mùa khi còn nhỏ khiến ông không thể có con- và điều này có thể có ảnh hưởng lớn lao đến lịch sử Mỹ. Ý hướng duy trì nền quân chủ vẫn còn rất mạnh mẽ ở thời của ông Washington và ông được sự trọng vọng của dân chúng đến nỗi nếu ông có con trai, có thể sẽ có nhiều áp lực để đưa người con thành tổng thống. Ðiều đó có thể đã đưa Hoa Kỳ về một hướng đi hoàn toàn khác.
Khi người ta tự hỏi tại Thổ Nhĩ Kỳ trở thành một trong những quốc gia cường thịnh nhất trong thế giới Hồi Giáo tại Trung Ðông, ta không nên bỏ qua sự kiện là cha già khai sáng quốc gia này, Kemal Ataturk, không có con. Cũng giống như Washington, ông được sự kính nể của cả quốc gia và có thể dễ dàng đưa con trai mình lên kế nghiệp.
Và giải pháp thứ ba là: Có con gái thay vì con trai. Lịch sử từng cho thấy là con gái của các nhà độc tài thường trở thành những nhà lãnh đạo giỏi, nhiều khả năng. Trong số này, ta có thể kể Megawati Sukaroputri ở Indonesia, Benazir Bhutto ở Pakistan, Sheikh Hasina ở Bangladesh, và Indira Gandhi ở Ấn Ðộ. Họ có vẻ được thừa hưởng khả năng lãnh đạo và chỉ huy quyền lực, và dù rằng họ cũng không vượt qua được sự tham nhũng, họ có vẻ cởi mở hơn, sẵn sàng thỏa hiệp hơn và ít ham thích những điều như đua xe, sử dụng ma túy và tra tấn.
Ðáng tiếc cho ông Mubarak là quá trễ để dùng đến 'sợi dây lụa' và ông cũng không có con gái.
Stephen Kinzer/Daily Beast
V.Giang chuyển ngữ
NEW YORK - Con trai của nhà độc tài Qaddafi ở Libya bị cho là có liên hệ đến buôn lậu võ khí. Hai người con trai của Saddam là những kẻ hiếp dâm và tra tấn người.
Con của các tay bạo chúa, độc tài, thường giúp thúc đẩy sự sụp đổ của cha mình. Nếu không tin, ta cứ hỏi ông Mubarak khắc rõ.

Một trong những giọt nước tràn ly ở Ai Cập là dự định của Tổng Thống Hosni Mubarak để cho con mình, Gamal Mubarak
(trong tấm hình chụp năm 2007), lên kế vị tổng thống. (Hình: AP Photo/Ben Curtis) Tổng Thống Hosni Mubarak ở Ai Cập phải rời khỏi quyền lực của mình trong sự nhục nhã, một phần vì ông không chịu học một bài học của lịch sử: Các nhà độc tài chẳng nên có con trai.
Phần lớn trong số những người này lại có con trai. Và điều này thường góp phần đẩy họ ra khỏi quyền lực hay làm sụp đổ đất nước.
Người dân Ai Cập có thể chấp nhận đè nén sự căm phẫn của họ thêm một thời gian nữa, nếu ông Mubarak già nua đau yếu không nói rõ rằng ông muốn con trai của mình, Gamal Mubarak, lên kế vị. Trong tất cả mọi hành vi ngạo mạn của ông Mubarak, không có gì sỉ nhục dân chúng Ai Cập bằng thái độ cho rằng trong tất cả 80 triệu dân Ai Cập, chỉ có Gamal Mubarak là xứng đáng nhất để lãnh đạo đất nước. Kế hoạch đã được chuẩn bị để đưa Gamal lên nắm quyền, không qua lá phiếu của dân nhưng chỉ vì đó là ý muốn của ông cha.
Chưa đầy một tuần sau khi các vụ biểu tình phản kháng bùng nổ ở Ai Cập, Tổng Thống Ali Abdullah Saleh ở Yemen công khai tuyên bố sẽ chấm dứt việc tìm cách đưa con trai mình, Ahmed, lên làm tổng thống sau khi ông ra đi. Cùng lúc đó, Vua Abdullah ở Jordan, người lên kế vị cha mình, giải nhiệm chính phủ trong nỗ lực củng cố chế độ của mình. Triều đại Abdullah này có vẻ coi như vững chắc hiện nay, cũng giống như ở Saudi Arabia, nhưng quan niệm con trai có quyền lên kế vị cha ở các vị trí quyền lực gần như tối thượng ngày càng được ít người ủng hộ.
Một số ít con của các nhà độc tài vẫn còn tiếp tục giữ được quyền lực cha ông để lại, như Bashar al-Assad ở Syria và Kim Chính Nhật (Kim Jong-Il) ở Bắc Hàn. Nhưng đa số các chế độ khác bị thất bại thê thảm. Lục địa Phi Châu đặc biệt đầy rẫy những trường hợp này. Con trai của Idi Amin, Daniel Arap Moi, và Jomo Kenyatta không thể giữ được quyền hành mà cha họ muốn chuyển giao. Gần nước Mỹ hơn nữa, Jean-Claude “Baby Doc” Duvalier, lên nắm chức tổng thống Haiti sau khi cha ông ta qua đời nhưng không thể giữ được; các nỗ lực nhằm quay trở lại chính quyền của ông ta thời gian qua bị cản trở rất nhiều vì những gì người dân vẫn còn nhớ, không phải chỉ sự tham nhũng và tàn bạo dưới thời ông ta cai trị mà còn ở thời cha của ông.
Ở một số quốc gia, ngay cả viễn tượng sẽ có việc “cha truyền con nối” nay cũng có thể gây ra sự phẫn uất của dân chúng. Ðiều này có thể làm cho các nhà độc tài như Muammar Qaddafi ở Libya phải suy nghĩ lại. Ngay cả trong trường hợp họ không lên nắm quyền, đời sống hai người con trai của Qaddafi tiêu biểu cho lối sống đồi trụy thường thấy ở con trai các nhà độc tài.
Một người con của Qaddafi, Saif al-Arab, bị điều tra về tội buôn võ khí lậu tại Ðức. Người kia, Hannibal, gây ra cuộc tranh chấp ngoại giao với Thụy Sĩ khi bị bắt ở Geneva về tội hành hạ người làm của mình. Ông ta còn liên quan đến việc hành hung cảnh sát ở Ý, lái xe Porsche đi ngược chiều ở Champs-Élysées khi say rượu và khiến cảnh sát phải được gọi đến ở khách sạn Claridges ở London khi người ta nghe tiếng vợ ông kêu thét trong phòng (bà này sau đó nói rằng các vết bầm và trầy sướt là do bị té).
Hai người con trai của Saddam Hussein, Uday và Qusai, nổi danh là những kẻ hiếp dâm và tra tấn người vô cùng tàn bạo. Hiếp dâm cũng là một trò tiêu khiển của Nicu Ceausescu, con trai của nhà độc tài Romania; người ta nói rằng y thích hiếp dâm người vợ trong khi các cận vệ đánh đập người chồng. Nicu cũng là một kẻ nghiện rượu và cờ bạc, cũng như con trai của các nhà độc tài khác, và trong một số trường hợp khác, như Chucky Taylor ở Liberia và Marko Milosevic ở Serbia, cũng tự mình đi vào lãnh vực buôn ma túy.
Chẳng cần phải là nhà tâm lý học tài giỏi, ai cũng có thể đi đến kết luận là cảm nhận về quyền hạn tột đỉnh đã khiến con trai của những nhà độc tài này thấy rằng họ có thể sống sa đọa hay vô đạo đức đến thế nào cũng được.
Ngoài tính dục, rượu, ma túy, và bài bạc, nhiều người con của thành phần độc tài cũng có chung một sở thích khác là thể thao. Marko Milosevic thích đua xe, Baby Doc lái xe mô tô, con của Saddam Hussein và Qaddafi được trao cho trách nhiệm điều hành thể thao trong nước.
Và hành vi bạo động tùy hứng cũng ở trong những người này. Có cách nào khác hơn để giải thích được việc Chuck Taylor có lần đánh tài xế mình đến chết vì nhìn thấy vết trầy trên chiếc xe, hay Uday Hussein ra lệnh tra tấn các cầu thủ đội bóng tròn vì họ thi đấu không tốt như ý muốn của ông ta?
Kềm kẹp siết ngón tay, được cho là dụng cụ của Uday Hussein, con trai Sadam Hussein, dùng để trừng trị cầu thủ bóng đá
và những vận động viên nào khác mà không thi đấu được như ý muốn của Uday, từng là chủ tịch ủy ban Olympic Iraq. (Hình: Ahmad Al-Rubaye/AFP/Getty Images)
Việc đưa con các nhà độc tài lên nắm quyền cũng thường tạo ra các cuộc biểu tình phản kháng. Năm 2005, cảnh sát quốc gia Togo bắn chết hơn 400 người biểu tình sau khi chế độ cầm quyền tuyên bố đưa Faure Gnassingbe lên kế vị cha mình khi ông này qua đời. Bốn năm sau đó, bạo động nổ ra ở Gabon khi các giới chức bầu cử nói rằng Ali Ben Bongo được bầu làm tổng thống để thay người cha quá cố. Joseph Kabila lên nắm quyền ở Congo mà không gặp nhiều sự phản đối sau khi cha ông ta bị ám sát chết năm 2001, nhưng đây có thể coi là một trường hợp ngoại lệ.
Ở Uganda, Tổng Thống Yoweri Museveni có thể đang nghĩ đến việc đưa con trai mình lên kế vị.
Làm thế nào để các nhà độc tài tránh được khỏi vận hạn này? Có lẽ là chỉ có ba giải pháp. Một là giải pháp “sợi dây lụa” được các vị vua thời Ðế Quốc Ottoman. Họ thường ra lệnh giết con trai của mình-thắt cổ bằng sợi dây lụa vì máu hoàng gia không được đổ ra-để tránh hậu hoạn. Ðiều này có vẻ tàn bạo nhưng những người bênh vực cho truyền thống này nói rằng số người chết vì việc này quá nhỏ so với con số những người phải chết trong các cuộc chiến tranh giành ngôi báu ở Âu Châu.
Giải pháp thứ nhì là không có con. Ðó là con đường của George Washington -một số sử gia tin rằng việc mắc bệnh đậu mùa khi còn nhỏ khiến ông không thể có con- và điều này có thể có ảnh hưởng lớn lao đến lịch sử Mỹ. Ý hướng duy trì nền quân chủ vẫn còn rất mạnh mẽ ở thời của ông Washington và ông được sự trọng vọng của dân chúng đến nỗi nếu ông có con trai, có thể sẽ có nhiều áp lực để đưa người con thành tổng thống. Ðiều đó có thể đã đưa Hoa Kỳ về một hướng đi hoàn toàn khác.
Khi người ta tự hỏi tại Thổ Nhĩ Kỳ trở thành một trong những quốc gia cường thịnh nhất trong thế giới Hồi Giáo tại Trung Ðông, ta không nên bỏ qua sự kiện là cha già khai sáng quốc gia này, Kemal Ataturk, không có con. Cũng giống như Washington, ông được sự kính nể của cả quốc gia và có thể dễ dàng đưa con trai mình lên kế nghiệp.
Và giải pháp thứ ba là: Có con gái thay vì con trai. Lịch sử từng cho thấy là con gái của các nhà độc tài thường trở thành những nhà lãnh đạo giỏi, nhiều khả năng. Trong số này, ta có thể kể Megawati Sukaroputri ở Indonesia, Benazir Bhutto ở Pakistan, Sheikh Hasina ở Bangladesh, và Indira Gandhi ở Ấn Ðộ. Họ có vẻ được thừa hưởng khả năng lãnh đạo và chỉ huy quyền lực, và dù rằng họ cũng không vượt qua được sự tham nhũng, họ có vẻ cởi mở hơn, sẵn sàng thỏa hiệp hơn và ít ham thích những điều như đua xe, sử dụng ma túy và tra tấn.
Ðáng tiếc cho ông Mubarak là quá trễ để dùng đến 'sợi dây lụa' và ông cũng không có con gái.
Phóng viên Mỹ bị cưỡng hiếp ở Ai Cập
Một phóng viên cấp cao của kênh CBS, Mỹ, bị đánh đập và cưỡng hiếp liên tục bởi một nhóm người trong khi đưa tin về các cuộc biểu tình ở Ai Cập.

Phóng viên Lara Logan. Ảnh: CBS. Trong một thông báo, CBS cho biết nữ phóng viên Lara Logan, 39 tuổi, và các đồng nghiệp bị một nhóm khoảng 200 người bao vây tại quảng trường Tahrir đông nghịt hôm 11/2. Khi đó, Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak vừa tuyên bố từ chức và xung quanh đang reo hò hỗn loạn.
Logan bị "đánh đập tàn bạo và cưỡng hiếp liên tiếp", BBC dẫn thông báo từ CBS cho biết. Cô sau đó được một nhóm phụ nữ và khoảng 20 binh sĩ cứu. Logan trở về Mỹ ngay hôm sau và đang hồi phục.
Logan, người gốc Nam Phi, từng đưa tin ở Iraq và Afghanistan.
Ủy ban Bảo vệ Nhà báo (CJP) gọi vụ tấn công trên là đáng "báo động". Họ ca ngợi Logan là một "phóng viên tài giỏi, dũng cảm và hết lòng vì công việc".
Theo báo cáo của ủy ban này, trong suốt cuộc biểu tình ở Ai Cập, 52 phóng viên bị đánh đập và 76 người bị bắt giữ. Toàn bộ những người này đã được thả.
Cũng trong báo cáo thường niên mà CJP đưa ra hôm qua, Pakistan được cho là quốc gia đáng sợ nhất đối với phóng viên với 10 người thiệt mạng khi đưa tin ở nước này. Trên thế giới con số này là 45.
Mai Trang
Một phóng viên cấp cao của kênh CBS, Mỹ, bị đánh đập và cưỡng hiếp liên tục bởi một nhóm người trong khi đưa tin về các cuộc biểu tình ở Ai Cập.

Phóng viên Lara Logan. Ảnh: CBS. Trong một thông báo, CBS cho biết nữ phóng viên Lara Logan, 39 tuổi, và các đồng nghiệp bị một nhóm khoảng 200 người bao vây tại quảng trường Tahrir đông nghịt hôm 11/2. Khi đó, Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak vừa tuyên bố từ chức và xung quanh đang reo hò hỗn loạn.
Logan bị "đánh đập tàn bạo và cưỡng hiếp liên tiếp", BBC dẫn thông báo từ CBS cho biết. Cô sau đó được một nhóm phụ nữ và khoảng 20 binh sĩ cứu. Logan trở về Mỹ ngay hôm sau và đang hồi phục.
Logan, người gốc Nam Phi, từng đưa tin ở Iraq và Afghanistan.
Ủy ban Bảo vệ Nhà báo (CJP) gọi vụ tấn công trên là đáng "báo động". Họ ca ngợi Logan là một "phóng viên tài giỏi, dũng cảm và hết lòng vì công việc".
Theo báo cáo của ủy ban này, trong suốt cuộc biểu tình ở Ai Cập, 52 phóng viên bị đánh đập và 76 người bị bắt giữ. Toàn bộ những người này đã được thả.
Cũng trong báo cáo thường niên mà CJP đưa ra hôm qua, Pakistan được cho là quốc gia đáng sợ nhất đối với phóng viên với 10 người thiệt mạng khi đưa tin ở nước này. Trên thế giới con số này là 45.
Mai Trang
THẾ GIỚI Á RẬP ĐANG VÙNG DẬY
Huệ Vũ Thế giới Á Rập gồm 22 nước nói tiếng Á Rập, đa số theo Hồi Giáo, nhưng không cùng nguồn gốc chủng tộc, trải dài từ Bắc Phi tới biên giới Iran và Vịnh Ba Tư, chiếm một diện tích trên 14 triệu cây số vuông, với dân số khoảng 300 triệu người. Vùng Châu Á của Thế giới Á Rập gọi là Mashriq và vùng các nước Bắc Phi tới phía tây Ai Cập gọi là Maghreh. Mặc dù Ai Cập nằm trên lục địa Phi Châu nhưng có liên hệ văn hóa sâu xa với phía Á Châu. Tự coi là trung tâm của Thế giới Á Rập.
Sau Thế Chiến Thứ Nhất, đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ (Ottoman Empire) tan rã, các nước Á Rập, ngoại trừ Saudi Arabia, trở thành thuộc địa của Anh, Pháp và Ý. Sau Thế Chiến Thứ Hai, mới dần dần được trao trả độc lập.
Vào năm 1945, Liên Đoàn Á Rập được thành lập để lo công tác vận động thống nhất, nhưng cho tới nay không đem lại kết quả nào.
Mặc dù nhiều nước Á Rập đã có nền văn minh lâu đời và nhiều nước chiếm giữ phần lớn trữ lượng dầu lửa thế giới, Thế Giới Á Rập là thế giới bất công, nghèo đói, có tỷ lệ mù chữ cao nhất trên thế giới. Các nước đều bị cai trị dưới những chế độ độc tài hay quân chủ chuyên chế nắm trong tay tất cả tài sản quốc gia. Theo Tổ Chức Văn Hóa Giáo Dục và Khoa Học của Liên Đoàn Á Rập (ALESCO), số người trong vùng bị mù chữ trên 100 triệu người, hay 30% dân số. Phụ nữ chiếm 2/3 trong số người bị mù chữ.
Theo Chỉ số Phát triển Nhân Loại (HDI) của Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) năm học trung bình của người dân trong Thế Giới Á Rập là 5.7 năm so với mức trung bình của thế giới là 7.4 năm. Nạn thất nghiệp trung bình trong toàn vùng là 14%.
Tunisia là nước được Pháp trao trả độc lập trong năm 1957, tổng thống đầu tiên là ông Habib Bourguiba muốn làm tổng thống trọn đời, nhưng ông ta bị Thủ tướng Zine El Abidine Ben Ali đảo chánh vào năm 1987. Sau khi lên làm tổng thống, Ben Ali củng cố quyền lực và cũng muốn làm tổng thống trọn đời. Vào tháng 10 năm 2009, ông ta ra ứng cử nhiệm kỳ thứ 5 và nhận được 89% số phiếu! Mặc dù Tunisia được thiên nhiên ưu đãi, có nhiều tài nguyên thiên nhiên, nền kinh tế đa dạng, và trong 20 năm liên tiếp có mức phát triển trung bình 5% , được coi là một trong những con sư tử của Phi Châu, nhưng tài sản quốc gia nằm trong tay gia đình ông Ben Ali, gia đình bà vợ Leila Trabelsi và đảng Tập hợp Dân chủ Hiến pháp của ông ta. Chế độ Ben Ali là một chế độ tham nhũng từ mọi lãnh vực, nạn thất nghiệp lên trên 14% và 25% số thanh niên toàn quốc tốt nghiệp đại học không có công ăn việc làm. Người dân ở các vùng nông thôn và các vùng ngoại ô nghèo phải sống với lợi tức dưới 2 mỹ kim một ngày.
Ngọn lửa phẩn nộ đã bùng cháy!
Vào ngày 17 tháng 12, anh Mohamed Bouazizi, 26 tuổi, ở thị trấn Sidi Bouzid, đẩy chiếc xe rau đi bán dạo bị một nữ cảnh sát chận bắt với lý do bán rau không xin giấy phép, mặc dù theo luật, Tunisia không buộc những người bán dạo phải xin giấy phép. Bouazizi từng gặp cảnh này nhiều lần, đưa 10 đồng dinar là số lợi tức cả ngày của anh ta để hối lộ, nhưng người nữ cảnh sát chê ít, không những chỉ tịch thu chiếc xe mà còn tát tai và sỉ nhục anh ta. Bouazizi sau đó tới văn phòng cảnh sát địa phương khiếu nại, nhưng không ai thèm lắng nghe nỗi oan ức của anh. Vào lúc 11 giờ 30 phút sáng, Bouazizi quay lại bộ chỉ huy cảnh sát, chế xăng tự thiêu. Ngọn lửa của anh thổi bùng sự tức giận của thị trấn Sidi Bouzid từ lâu bị cảnh sát và viên chức địa phương hoành hành, bóc lột, đã lập tức xuống đường và bị cảnh sát đàn áp dã man. Nhưng càng đàn áp, sự tức giận càng bùng nổ, lan tới nhiều thành phố khác. Ngày 27/12/10 trên 1000 người ở thủ đô Tunis xuống đường bày tỏ sự đoàn kết với dân chúng thị trấn, đòi hỏi công ăn việc làm.
Để vuốt ve sự tức giận của người dân, ngày 28/12, Tổng thống Ben Ali đã tới bệnh viện thăm Bouazizi, nhưng sau đó Anh đã mất vào ngày 4 tháng 01/2011.
Cách mạng lan mạnh trên toàn quốc.
Trong vòng 4 tuần, từ lúc ngọn lửa uất hận của Bouazizi bùng lên, dù vừa ban lệnh thiết quân luật, vừa đàn áp, vừa hứa hẹn không ra tranh cử nhiệm kỳ thứ 6, cải tổ nội các, Ben Ali không còn ngăn chận được cuộc cách mạng càng lúc càng tăng cao khí thế, hàng chục ngàn người xuống đường.
Vào ngày 14 tháng 01, nhà độc tài nắm trong tay hàng tỷ mỹ kim đã ngồi chiếc ghế tổng thống trong 23 năm phải rời bỏ Tunisia, chạy qua Saudi Arabia lánh nạn. Tài sản, trương mục của vợ chồng và tay chân thân cận đang bị các nước Tây phương phong tỏa.
Cuộc cách mạng Tunisia thành công tạo sự ngưỡng mộ của các dân tộc bị áp bức dưới các chế độ độc tài, tham nhũng, vi phạm nhân quyền trong Thế Giới Á Rập. Các cuộc biểu tình noi gương cách mạng Tunisia đã diễn ra ở Algeria, Ai Cập, Yemen, Jordan, Mauritania, Saudi Arabia, Oman, Sudan, Syria, Lybia và Morocco.
Cuộc cách mạng Ai Cập bùng lên vào ngày 25 tháng 01.
Trong 18 ngày liên tiếp, thanh niên chiếm công trường Tahrir hay Tự Do đòi Tổng thống Hosni Mubarak cầm quyền trong 30 năm phải ra đi.
Trong 18 ngày, ông Mubarak, 82 tuổi, lần lần nhượng bộ, lần đầu tiên chỉ định một người làm phó tổng thống, cải tổ nội các, hứa hẹn không ra tranh cử trong tháng 9 năm nay, cam kết sẽ lo tổ chức bầu cử công bằng và tự do, chuyển quyền trong hòa bình, nhưng những sự nhượng bộ này không còn làm cho người dân bị đàn áp trong suốt 30 năm chấp nhận.
Ngày thứ Sáu, 11/2, ông Mubarak đã phải giao quyền lại cho quân đội, rời khỏi thủ đô.
Trong vòng 7 tuần lễ, ngọn lửa Bouazizi đã thiêu hủy 2 chế độ độc tài.
Cách mạng có thể lan rộng theo thế domino để cáo chung những chế độ khác hay không chưa thể khẳng định vào lúc này, nhưng chắc chắn nó sẽ đem lại những sự thay đổi quan trọng trong thế giới Á Rập.
Ở Yemen, trước các cuộc biểu tình, Tổng thống Ali Abdullah Saleh cai trị 32 năm, hứa hẹn sẽ không ra tranh cử khi nhiệm kỳ chấm dứt vào năm 2013 và đề nghị đàm phán với đối lập để thành lập chính phủ liên hiệp, nhưng đối lập đòi hỏi phải đàm phán dưới sự chứng kiến của quốc tế. Từ ngày 11/02, ngày ông Mubarak ra đi ở Ai Cập, dân chúng và sinh viên trường đại học Sanaa đã liên tiếp xuống đường, tuyên bố sau cuộc cách mạng Ai Cập là cuộc cách mạng Yemen. Đảng cầm quyền đã thuê bọn vô lại biểu tình phản biểu tình, ngày nào nhóm người này cũng dùng gậy gộc tấn công những người biểu tình chống chính phủ.
Các cuộc biểu tình ở Jordan phản đối vật giá leo thang, đời sống khó khăn, đã buộc quốc vương Abdullah phải cải tổ nội các, thay thế thủ tướng.
Ở Algeria, từ ngày 12 tới ngày 19/01 nhiều người đã noi gương Bouazizi tự thiêu, khởi đầu là ngọn lửa của anh Bordj Menaiel và Mohsen Bouterfif. Vào ngày 22/01, khoảng 100 người biểu tình bị cảnh sát đàn áp làm 42 người bị thương. Vào ngày 29/01, trên 10 ngàn người đã xuống đường biểu tình ở thành phố Bejaia. Tổng thống độc tài Abdelaziz Bouteflika cầm quyền từ năm 1999 đã phải tuyên bố sẽ sớm hủy bỏ tình trạng khẩn trương, nhưng không xoa dịu được tinh thần chống đối. Vào ngày 11/2, khoảng 2000 người đã bất chấp lệnh cấm hội tụ, xuống đường biểu tình tại công trường Một Tháng 5.
Ở Bahrain, vào ngày 04/2, hàng trăm người đã tập trung trước tòa đại sứ Ai Cập bày tỏ sự ủng hộ với nhân dân Ai Cập, họ cũng đã kéo xuống đường ăn mừng ngày sụp đổ của chế độ độc tài Mubarak và tổ chức một cuộc biểu tình lớn trong ngày 14/02 với trên 10 ngàn người tham dự. Quốc vương Hamad bin Isa Al Khalifa muốn dập tắt căng thẳng, hứa hẹn sẽ tặng cho mỗi gia đình 1000 dinar ($2650) mỗi tháng, nhưng lời hứa không xoa dịu được sự bất mãn trong nước. Vào ngày 14/2 cảnh sát đã bắn chết một người biểu tình và ngày 15/2 đã bắn chết một người khác. Các nhà ngoại giao cho rằng các cuộc biểu tình ở Bahrain sẽ ngày càng mạnh. Sự đứng dậy của người Shiite ở Bahrain có thể làm cho người Shiite ở Saudi Arabia đứng lên đòi sự công bằng.
Nhằm ngăn chận trước tiềm năng sẽ gặp sự chống đối, Thủ tướng Nouri al-Maliki của Iraq đã tuyên bố sẽ không tìm cách lên làm thủ tướng nhiệm kỳ thứ 3. Mặc dù vậy, ngày 12/2, hàng ngàn người đã xuống đường đòi điều tra các vụ tham nhũng và cải thiện điều kiện sinh sống, cải thiện các dịch vụ công cộng trong nước. Trong ngày Tình Yêu, thanh niên cũng xuống đường đòi cải thiện tình trạng kinh tế, dịch vụ công cộng.
Ngưỡng mộ cuộc cách mạng Tunisia và Ai Cập, đối lập Lybia sống lưu vong ở hải ngoại đã lấy ngày 17 tháng 2 làm Ngày Phẩn Nộ của dân tộc Lybia đang bị nhà độc tài Muammar al-Gaddafi cai trị.
Ở Saudi Arabia, vào ngày 21/01, một người đàn ông đã tự thiêu, và lần đầu tiên tại vương quốc này, hàng trăm người đã xuống đường ở thành phố Jeddah chỉ trích quốc vương, cảnh sát đã nhanh chóng giải tán, bắt giữ trên 40 người. Ngày 10/2, đối lập tuyên bố thành lập đảng Umma Islamic, đòi chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế.
Các cuộc biểu tình nhỏ nhưng nhanh chóng bị dập tắt như ở Saudi Arabi cũng đã diễn ra ở nhiều nước khác trong Thế giới Á Rập.
Cuộc cách mạng Tunisia lan sang Ai Cập, có thể theo thế domino lan tới các nước khác đã làm nhiều khách Hoa Kỳ lo ngại.
Tổng thống Hosni Mubarak từng được coi là một đồng minh thân cận của Hoa Kỳ sau khi Ai Cập ký hiệp ước hòa bình với Do Thái trong năm 1979. Qua 4 đời tổng thống Hoa Kỳ, chính phủ nào cũng coi ông Hosni Mubarak là trụ cột giữ gìn, giữ ổn định Trung Đông. Được coi là người giám sát không chính thức của tiến trình hòa bình, từng chủ tọa các cuộc đàm phán giữa Do Thái - Palestine, và các cuộc hòa giải giữa 2 phe Fatah và Hamas của Palestine. Hoa Kỳ viện trợ cho Ai Cập khoảng gần 2 tỷ mỹ kim một năm, trong đó 1.3 tỷ là viện trợ quân sự. Dưới sự cai trị của ông Mubarak, phong trào Xã hội Huynh Đệ Hồi Giáo bị cấm hoạt động. Nhiều chính khách Hoa Kỳ lo ngại cuộc cách mạng lật đổ ông Mubarak sẽ tạo thời cơ cho phong trào này chiếm chính quyền, biến Ai Cập thành thành một đồng minh của Iran.
Xã hội Huynh Đệ Hồi Giáo được ông Hassan al-Banna thành lập trong năm 1928 với châm ngôn: “ Allah là cứu cánh, Koran là hiến pháp, Thánh chiến là phương tiện, chết cho đấng Allah là nguyện vọng cao cả nhất”. Vào năm 1936, Huynh Đệ Hồi Giáo chỉ phát triển được khoảng 800 người, nhưng 2 năm sau tăng lên 200 ngàn người và cuối thập niên 1940 được tin tưởng có trên 2 triệu hội viên trong Thế giới Á Rập. Vào năm 1948, cảnh sát Ai Cập khám phá một âm mưu tấn công quân sự của Huynh Đệ Hồi Giáo, Thủ tướng Mahmud Fahmi Nokrashi ra lệnh giải tán phong trào này. Vào tháng 12 năm 1948, Thủ tướng Nokrashi bị ám sát. Trên một tháng sau, ông Al-Banna bị ám sát. Từ năm 1954, sau vụ ám sát ông Gamal Abdel Nasser thất bại, thành viên của Huynh Đệ Hồi Giáo đã bị lực lượng an ninh Ai Cập coi là thành phần nguy hiểm nhất của quốc gia. Tuy nhiên sự đàn áp này không thể tiêu diệt được Phong Trào. Dù thường bị bắt tập thể, cấm hoạt động, Huynh Đệ Hồi Giáo vẫn là một lực lượng đối lập mạnh nhất ở Ai Cập. Qua cuộc bầu cử năm 2005, các ứng cử viên của Huynh Đệ Hồi Giáo ra ứng cử với tư cách cá nhân độc lập, nhưng đã chiếm được 88 ghế dân biểu.
Không hẳn Huynh Đệ Hồi Giáo sẽ lên cầm quyền ở Ai Cập, nhưng nếu đúng, cũng không hẳn sẽ trở thành đồng minh của Iran vì người Hồi Giáo theo phái Sunni và Shiite đã có truyền thống thù nghịch lâu đời.
Bán đảo Á Rập có thể coi là vùng đất chiến lược của Hoa Kỳ.
Con kênh đào Suez là con đường thủy sinh tử nối liền Âu Châu và Á Châu.
Mỗi ngày khoảng 17 triệu thùng dầu được chở qua eo biển Hormuz.
Bán đảo Á Rập là nơi sản xuất dầu hoả và dầu khí lớn nhất thế giới.
Vì lo ngại các lực lượng Hồi Giáo lên cầm quyền tại các nước Á Rập, đe doạ cho nguồn dầu lửa chiến lược và đe doạ cho an ninh Do Thái, chính sách của Hoa Kỳ và Tây Phương đã đặt nặng sự ổn định trong vùng, và chính sách này đã ngày càng cho các chế độ độc tài ăn sâu gốc rễ, làm cho người Hồi Giáo ngày càng ác cảm với Hoa Kỳ.
Việc Do Thái tiếp tục chiếm đóng, đàn áp người Palestine, sự hiện diện của các chế độ thế quyền, nhưng tham nhũng, thối nát là những nguyên nhân đưa tới các phong trào Hồi Giáo quá khích.
Khủng bố là điều mà nhân loại văn minh ngày nay không ai có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, nguyên nhân đưa tới các sự căm thù của người Á Rập, của người Hồi Giáo, lại hình như không được các nhà làm chính sách Hoa Kỳ quan tâm. Họ có thể mạnh mẽ lên án một quân nhân Do Thái bị bắt cóc, nhưng họ lại im lặng trước tình trạng phá nhà, chiếm đất, xua đuổi người Palestine, hay thậm chí một người dân Palestine, một thiếu niên Palestine có thể bị bắn chết bất cứ lúc nào mà không ai bị buộc tội, không cần phải bồi thường cho nạn nhân.
Hoa Kỳ là quốc gia đại diện cho tự do, dân chủ, luôn luôn lên án các chế độ độc tài, vi phạm nhân quyền, áp bức, nhưng đối với sự chiếm đóng của người Do Thái, và những sự vi phạm nhân quyền của lực lượng an ninh Do Thái bị chính tổ chức nhân quyền B’Tselem của Do Thái lên án, chính phủ Hoa Kỳ cũng im lặng!
Một nhân vật ngoại giao nào tuyên bố: “People will not calm down unless and until the Palestinian question is fairly resolved ”. Không chỉ bị Do Thái mà còn cả Hoa Kỳ lên án! Ông Amr Moussa bị Tổng thống Hosni Mubarak cách chức ngoại trưởng chỉ vì tuyên bố như trên!
Nhiều nhà phân tích nhận định chính sách an ninh của Hoa Kỳ ở Trung Đông là chính sách bảo vệ Do Thái nhiều hơn là bảo vệ cho quyền lợi an ninh thực sự của Hoa Kỳ.
Không chế độ độc tài nào có thể tồn tại mãi mãi.
Không có sự áp bức và bất công nào có thể chịu đựng mãi.
Với hệ thống truyền thông hiện nay những sự bất công, đàn áp, tham nhũng không còn có thể che dấu và tiếp tục che dấu, khi chính quyền không đáp ứng nguyện vọng của người dân, nhân dân sẽ quyết định cho chính quyền.
Cách mạng đã diễn ra ở Tunisia, ở Ai Cập và đang diễn ra trên nhiều nước. Các nhà lãnh đạo Tây Phương và Tổng thống Obama cũng đã cũng nhấn mạnh đây là thời gian thay đổi lập tức, “change now”, ở Ai Cập, thì có lẽ lúc này cũng là thời gian cần “change now” đối với chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ ở Trung Đông và chánh sách chiếm đóng của Do Thái.
Đầu thế kỷ thứ 20 các nước Tây Phương là những quốc gia chiếm đóng, bóc lột đàn áp người dân các nước thuộc địa Phi Châu, Á Châu và Châu Mỹ La Tinh. Ngày nay, Tây Phương đã trở thành những nước nêu cao dân chủ, tự do, nhân quyền, và đã hoàn toàn thay đổi, thì những nhà làm chính sách, chiến lược Tây Phương cũng không thể tiếp tục cho rằng những phong trào, những đoàn thể, đảng phái tại các nước trước đây có hoạt động, phương châm, cương lĩnh không còn thích họp với giai đoạn hiện nay là những thành phần nguy hiểm.
Vào năm 1998, những người Hồi giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ thành lập đảng Đạo Đức (Fazilet Partisi), đảng này bị cấm hoạt động trong năm 2001 vì có chủ trương vi phạm bản hiến pháp thế tục. Sau đó, những người có khuynh hướng cải cách của đảng Fazilet đã thành lập nên đảng Công lý và Phát triển (Adalet ve Kalkınma Partisi), gọi tắt là đảng AK. Xuất thân Hồi Giáo của đảng AK đã làm cho quân đội Thổ Nhĩ Kỳ, Tòa Án Thổ Nhĩ Kỳ, và dư luận Tây phương lo ngại. Đảng AK cũng suýt bị tòa án hiến pháp giải tán. Tuy nhiên, từ ngày thắng cử trong năm 2002, đảng AK đã rất thành công trong việc phát triển kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ, đẩy mạnh chủ trương gia nhập Liên Âu, và tạo cho Thổ Nhĩ Kỳ trở thành một nước dân chủ kiểu mẫu của một quốc gia Hồi Giáo.
Phong trào Huynh Đệ Hồi Giáo ở Ai Cập có thể là một phong trào bảo thủ Hồi Giáo trong đầu thế kỷ thứ 20, nhưng thực tế hiện giờ họ là một phong trào đang do các thành phần trí thức tân tiến lãnh đạo, được giới trung lưu và người nghèo trong nước ngưỡng mộ, cho nên mọi sự kết luận nếu phong trào nào này lên cầm quyền ở Ai Cập sẽ nguy hại cho Hoa Kỳ, Do Thái và Tây Phương cũng chỉ là một sự lo ngại quá sớm.
Lo ngại al Qaeda mở rộng ảnh hưởng càng không có cơ sở. Huynh Đệ Hồi Giáo đã bị al Qaeda lên án là bọn phản bội Hồi Giáo và Huynh Đệ Hồi Giáo cũng đã lên án chủ trương khủng bố của al Qaeda là chủ trương phản Hồi giáo.
Trong ngày Chủ Nhật, 13/2, Cựu Thủ tướng Tony Blair đang làm đặc sứ của Bộ Tứ (Hoa Kỳ, Nga, Liên Âu, Liên Hiệp quốc) lo vận động hòa bình Trung Đông nói: “Tổng thống Mubarak từng là một lực đẩy cho ổn định và hòa bình trong vùng. Tuy nhiên, lúc này là thời điểm vui mừng, phấn khởi và thời cơ vì tất cả những lực lượng dân chủ bị đè nén trước đây đã bật dậy. Ông Mubarak ra đi sẽ trở thành sức bật cho toàn vùng, là thời cơ để toàn vùng đứng lên thay đổi dân chủ đem lại lợi ích cho toàn vùng và cho cả thế giới.”
Sự ổn định dưới thời ông Mubarak như cựu Thủ tướng Tony Blair đã ca ngợi rõ rệt là sự ổn định như dưới mặt nước đang dậy sóng ngầm, dưới mặt đất đang sắp có động đất. Sau những trận động đất làm sao đem lại sự ổn định lâu dài không chỉ là thách thức đối với các chế độ dân chủ Tunisia, Ai Cập, ở các nước Á Rập khác, mà cũng là thử thách đối với các nước Tây Phương.
Dân chủ là giá trị thời đại, dân chủ thực sự trong một thế giới Hồi giáo không thể loại bỏ mọi yếu tố Hồi Giáo và sự tham gia của các tổ chức Hồi Giáo. Mọi sự lo ngại và mưu toan loại trừ sẽ làm cho toàn vùng trở nên nguy hiểm. Trong ngày 15/2, ông Gilles de Kerchove là giám đốc chống khủng bố Liên Âu tuyên bố: “Các cuộc cách mạng ở Tunisia và Ai Cập không có liên hệ gì với al Qaeda, chính phủ các nước Liên Âu phải giúp cho các nước Trung Đông chuyển tiếp dân chủ, nhưng phải bảo đảm không để cho những người lãnh đạo Hồi Giáo cầm quyền.” Lời tuyên bố này có lẽ mâu thuẫn với nguyên tắc dân chủ, khó thực hiện và có thể đem lại nguy hiểm nhiều hơn sự nguy hiểm mà ông Kerchove lo ngại.
Các cuộc đứng dậy ở Tunisia, Ai Cập ngoài yếu tố đòi hỏi tự do, dân chủ, còn xuất phát từ các yếu tố xã hội và kinh tế. Và rõ rệt những yếu tố sau này mới các động lực chính. Các chế độ dân chủ trong tương lai ở Tusinia, Ai Cập có sớm đem lại một đời sống dễ chịu hơn cho người dân hay không? Tạo được công ăn việc làm cho giới thanh niên thất nghiệp hay không? Đây là những thách thức vô cùng lớn lao. Hoa Kỳ và Tây Phương đã có kế hoạch nào để giúp cho các chế độ dân chủ trong tương lai nhanh chóng đem lại ổn định kinh tế và xã hội hay không là điều cần phải quan tâm tới.
Nền kinh tế của Hoa Kỳ và các nước Tây Phương còn chưa phục hồi, đang gặp khó khăn tài chánh, thâm thủng ngân sách, chồng chất công nợ là điều rất đáng lo.
Trong tuần qua, khoảng 4000 người Tunisia đã dùng thuyền đến đảo Lampedusa của Ý. Làn sóng di dân của những người muốn tìm cơ hội mới và tránh sự trả thù sau cách mạng đã tạo báo động của Liên Âu, và tạo căng thẳng giữa Liên Âu với chính phủ lâm thời Tunisia. Đây là một triệu chứng không mấy tốt đẹp.
Không thể đem lại ổn định đời sống, không thể tạo được công ăn việc làm. Dù sống dưới chế độ dân chủ và tự do, thanh niên thất nghiệp vẫn có thể dễ dàng trở thành những con mồi của các lực lượng quá khích. Sự bất ổn rất có thể sẽ kéo dài một thời gian.
Tuy nhiên, nếu dân chúng được sống trong một chế độ thực sự dân chủ, mọi sự bất công, tham nhũng, lạm dụng quyền lực được giải quyết, tự do ngôn luận được nêu cao, những chủ trương quá khích tự nó sẽ chết dần.
Cuộc cách mạng Tunisia, Ai Cập sẽ lan trong Thế giới Á Rập đến đâu? Hoa Kỳ và Tây phương có thể hướng dẫn cuộc cách mạng hiện nay theo thế có lợi hay hại có lẽ sẽ tùy thuộc phần lớn vào quan niệm đối với Hồi giáo, chính sách đối với Hồi giáo, cũng như khả năng giúp giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội đã bị bệnh trầm kha qua nhiều thập niên bị độc tài và tham nhũng cai trị.
Cầu mong các cuộc cách mạng dân chủ ở Thế giới Á Rập thành công.
Các cuộc cách mạng này không chỉ đang làm rung chuyển tại các nước Á Rập mà còn đang vang dội tới Châu Mỹ La Tinh, đến Á Châu. Ông Hugo Chavez đang lo ngại. Bắc Kinh đang lo ngại.
Việt Nam cũng ở trong tình trạng không khác gì Tunisia:
• Mức phát triển kinh tế cao, một nước được coi là sư tử Phi Châu, một nước được coi là hổ Á Châu, nhưng tài sản quốc gia nằm trong tay đảng cầm quyền và gia đình những người lãnh đạo.
• Thanh niên là thành phần chiếm đa số dân số.
• Mọi thứ quyền tự do của con người bị tước đoạt.
• Tham nhũng đục khoét mọi lãnh vực.
• Trong khi giới lãnh đạo có người sống hơn đế vương, đa số dân chúng phải sống dưới lợi tức 2 mỹ kim một ngày.
Cùng một hoàn cảnh, thanh niên, dân chúng Tunisia đã vùng lên, đã lật đổ chế độ độc tài, đã giải tán đảng Tập hợp Dân chủ Hiến Pháp (RCD - Rassemblement Constitutionel Démocratique).
Không biết bao giờ cách mạng Dân chủ Việt Nam sẽ bùng lên để cáo chung chế độ Cộng Sản đã và đang tàn phá quê hương?
Mong rằng “Ngày Tức Giận” này sẽ diễn ra trong một thời gian không xa.
Huệ Vũ.
http://www.thegioimoionline.com/tm.php?recordID=1974
Huệ Vũ Thế giới Á Rập gồm 22 nước nói tiếng Á Rập, đa số theo Hồi Giáo, nhưng không cùng nguồn gốc chủng tộc, trải dài từ Bắc Phi tới biên giới Iran và Vịnh Ba Tư, chiếm một diện tích trên 14 triệu cây số vuông, với dân số khoảng 300 triệu người. Vùng Châu Á của Thế giới Á Rập gọi là Mashriq và vùng các nước Bắc Phi tới phía tây Ai Cập gọi là Maghreh. Mặc dù Ai Cập nằm trên lục địa Phi Châu nhưng có liên hệ văn hóa sâu xa với phía Á Châu. Tự coi là trung tâm của Thế giới Á Rập.
Sau Thế Chiến Thứ Nhất, đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ (Ottoman Empire) tan rã, các nước Á Rập, ngoại trừ Saudi Arabia, trở thành thuộc địa của Anh, Pháp và Ý. Sau Thế Chiến Thứ Hai, mới dần dần được trao trả độc lập.
Vào năm 1945, Liên Đoàn Á Rập được thành lập để lo công tác vận động thống nhất, nhưng cho tới nay không đem lại kết quả nào.
Mặc dù nhiều nước Á Rập đã có nền văn minh lâu đời và nhiều nước chiếm giữ phần lớn trữ lượng dầu lửa thế giới, Thế Giới Á Rập là thế giới bất công, nghèo đói, có tỷ lệ mù chữ cao nhất trên thế giới. Các nước đều bị cai trị dưới những chế độ độc tài hay quân chủ chuyên chế nắm trong tay tất cả tài sản quốc gia. Theo Tổ Chức Văn Hóa Giáo Dục và Khoa Học của Liên Đoàn Á Rập (ALESCO), số người trong vùng bị mù chữ trên 100 triệu người, hay 30% dân số. Phụ nữ chiếm 2/3 trong số người bị mù chữ.
Theo Chỉ số Phát triển Nhân Loại (HDI) của Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) năm học trung bình của người dân trong Thế Giới Á Rập là 5.7 năm so với mức trung bình của thế giới là 7.4 năm. Nạn thất nghiệp trung bình trong toàn vùng là 14%.
Tunisia là nước được Pháp trao trả độc lập trong năm 1957, tổng thống đầu tiên là ông Habib Bourguiba muốn làm tổng thống trọn đời, nhưng ông ta bị Thủ tướng Zine El Abidine Ben Ali đảo chánh vào năm 1987. Sau khi lên làm tổng thống, Ben Ali củng cố quyền lực và cũng muốn làm tổng thống trọn đời. Vào tháng 10 năm 2009, ông ta ra ứng cử nhiệm kỳ thứ 5 và nhận được 89% số phiếu! Mặc dù Tunisia được thiên nhiên ưu đãi, có nhiều tài nguyên thiên nhiên, nền kinh tế đa dạng, và trong 20 năm liên tiếp có mức phát triển trung bình 5% , được coi là một trong những con sư tử của Phi Châu, nhưng tài sản quốc gia nằm trong tay gia đình ông Ben Ali, gia đình bà vợ Leila Trabelsi và đảng Tập hợp Dân chủ Hiến pháp của ông ta. Chế độ Ben Ali là một chế độ tham nhũng từ mọi lãnh vực, nạn thất nghiệp lên trên 14% và 25% số thanh niên toàn quốc tốt nghiệp đại học không có công ăn việc làm. Người dân ở các vùng nông thôn và các vùng ngoại ô nghèo phải sống với lợi tức dưới 2 mỹ kim một ngày.
Ngọn lửa phẩn nộ đã bùng cháy!
Vào ngày 17 tháng 12, anh Mohamed Bouazizi, 26 tuổi, ở thị trấn Sidi Bouzid, đẩy chiếc xe rau đi bán dạo bị một nữ cảnh sát chận bắt với lý do bán rau không xin giấy phép, mặc dù theo luật, Tunisia không buộc những người bán dạo phải xin giấy phép. Bouazizi từng gặp cảnh này nhiều lần, đưa 10 đồng dinar là số lợi tức cả ngày của anh ta để hối lộ, nhưng người nữ cảnh sát chê ít, không những chỉ tịch thu chiếc xe mà còn tát tai và sỉ nhục anh ta. Bouazizi sau đó tới văn phòng cảnh sát địa phương khiếu nại, nhưng không ai thèm lắng nghe nỗi oan ức của anh. Vào lúc 11 giờ 30 phút sáng, Bouazizi quay lại bộ chỉ huy cảnh sát, chế xăng tự thiêu. Ngọn lửa của anh thổi bùng sự tức giận của thị trấn Sidi Bouzid từ lâu bị cảnh sát và viên chức địa phương hoành hành, bóc lột, đã lập tức xuống đường và bị cảnh sát đàn áp dã man. Nhưng càng đàn áp, sự tức giận càng bùng nổ, lan tới nhiều thành phố khác. Ngày 27/12/10 trên 1000 người ở thủ đô Tunis xuống đường bày tỏ sự đoàn kết với dân chúng thị trấn, đòi hỏi công ăn việc làm.
Để vuốt ve sự tức giận của người dân, ngày 28/12, Tổng thống Ben Ali đã tới bệnh viện thăm Bouazizi, nhưng sau đó Anh đã mất vào ngày 4 tháng 01/2011.
Cách mạng lan mạnh trên toàn quốc.
Trong vòng 4 tuần, từ lúc ngọn lửa uất hận của Bouazizi bùng lên, dù vừa ban lệnh thiết quân luật, vừa đàn áp, vừa hứa hẹn không ra tranh cử nhiệm kỳ thứ 6, cải tổ nội các, Ben Ali không còn ngăn chận được cuộc cách mạng càng lúc càng tăng cao khí thế, hàng chục ngàn người xuống đường.
Vào ngày 14 tháng 01, nhà độc tài nắm trong tay hàng tỷ mỹ kim đã ngồi chiếc ghế tổng thống trong 23 năm phải rời bỏ Tunisia, chạy qua Saudi Arabia lánh nạn. Tài sản, trương mục của vợ chồng và tay chân thân cận đang bị các nước Tây phương phong tỏa.
Cuộc cách mạng Tunisia thành công tạo sự ngưỡng mộ của các dân tộc bị áp bức dưới các chế độ độc tài, tham nhũng, vi phạm nhân quyền trong Thế Giới Á Rập. Các cuộc biểu tình noi gương cách mạng Tunisia đã diễn ra ở Algeria, Ai Cập, Yemen, Jordan, Mauritania, Saudi Arabia, Oman, Sudan, Syria, Lybia và Morocco.
Cuộc cách mạng Ai Cập bùng lên vào ngày 25 tháng 01.
Trong 18 ngày liên tiếp, thanh niên chiếm công trường Tahrir hay Tự Do đòi Tổng thống Hosni Mubarak cầm quyền trong 30 năm phải ra đi.
Trong 18 ngày, ông Mubarak, 82 tuổi, lần lần nhượng bộ, lần đầu tiên chỉ định một người làm phó tổng thống, cải tổ nội các, hứa hẹn không ra tranh cử trong tháng 9 năm nay, cam kết sẽ lo tổ chức bầu cử công bằng và tự do, chuyển quyền trong hòa bình, nhưng những sự nhượng bộ này không còn làm cho người dân bị đàn áp trong suốt 30 năm chấp nhận.
Ngày thứ Sáu, 11/2, ông Mubarak đã phải giao quyền lại cho quân đội, rời khỏi thủ đô.
Trong vòng 7 tuần lễ, ngọn lửa Bouazizi đã thiêu hủy 2 chế độ độc tài.
Cách mạng có thể lan rộng theo thế domino để cáo chung những chế độ khác hay không chưa thể khẳng định vào lúc này, nhưng chắc chắn nó sẽ đem lại những sự thay đổi quan trọng trong thế giới Á Rập.
Ở Yemen, trước các cuộc biểu tình, Tổng thống Ali Abdullah Saleh cai trị 32 năm, hứa hẹn sẽ không ra tranh cử khi nhiệm kỳ chấm dứt vào năm 2013 và đề nghị đàm phán với đối lập để thành lập chính phủ liên hiệp, nhưng đối lập đòi hỏi phải đàm phán dưới sự chứng kiến của quốc tế. Từ ngày 11/02, ngày ông Mubarak ra đi ở Ai Cập, dân chúng và sinh viên trường đại học Sanaa đã liên tiếp xuống đường, tuyên bố sau cuộc cách mạng Ai Cập là cuộc cách mạng Yemen. Đảng cầm quyền đã thuê bọn vô lại biểu tình phản biểu tình, ngày nào nhóm người này cũng dùng gậy gộc tấn công những người biểu tình chống chính phủ.
Các cuộc biểu tình ở Jordan phản đối vật giá leo thang, đời sống khó khăn, đã buộc quốc vương Abdullah phải cải tổ nội các, thay thế thủ tướng.
Ở Algeria, từ ngày 12 tới ngày 19/01 nhiều người đã noi gương Bouazizi tự thiêu, khởi đầu là ngọn lửa của anh Bordj Menaiel và Mohsen Bouterfif. Vào ngày 22/01, khoảng 100 người biểu tình bị cảnh sát đàn áp làm 42 người bị thương. Vào ngày 29/01, trên 10 ngàn người đã xuống đường biểu tình ở thành phố Bejaia. Tổng thống độc tài Abdelaziz Bouteflika cầm quyền từ năm 1999 đã phải tuyên bố sẽ sớm hủy bỏ tình trạng khẩn trương, nhưng không xoa dịu được tinh thần chống đối. Vào ngày 11/2, khoảng 2000 người đã bất chấp lệnh cấm hội tụ, xuống đường biểu tình tại công trường Một Tháng 5.
Ở Bahrain, vào ngày 04/2, hàng trăm người đã tập trung trước tòa đại sứ Ai Cập bày tỏ sự ủng hộ với nhân dân Ai Cập, họ cũng đã kéo xuống đường ăn mừng ngày sụp đổ của chế độ độc tài Mubarak và tổ chức một cuộc biểu tình lớn trong ngày 14/02 với trên 10 ngàn người tham dự. Quốc vương Hamad bin Isa Al Khalifa muốn dập tắt căng thẳng, hứa hẹn sẽ tặng cho mỗi gia đình 1000 dinar ($2650) mỗi tháng, nhưng lời hứa không xoa dịu được sự bất mãn trong nước. Vào ngày 14/2 cảnh sát đã bắn chết một người biểu tình và ngày 15/2 đã bắn chết một người khác. Các nhà ngoại giao cho rằng các cuộc biểu tình ở Bahrain sẽ ngày càng mạnh. Sự đứng dậy của người Shiite ở Bahrain có thể làm cho người Shiite ở Saudi Arabia đứng lên đòi sự công bằng.
Nhằm ngăn chận trước tiềm năng sẽ gặp sự chống đối, Thủ tướng Nouri al-Maliki của Iraq đã tuyên bố sẽ không tìm cách lên làm thủ tướng nhiệm kỳ thứ 3. Mặc dù vậy, ngày 12/2, hàng ngàn người đã xuống đường đòi điều tra các vụ tham nhũng và cải thiện điều kiện sinh sống, cải thiện các dịch vụ công cộng trong nước. Trong ngày Tình Yêu, thanh niên cũng xuống đường đòi cải thiện tình trạng kinh tế, dịch vụ công cộng.
Ngưỡng mộ cuộc cách mạng Tunisia và Ai Cập, đối lập Lybia sống lưu vong ở hải ngoại đã lấy ngày 17 tháng 2 làm Ngày Phẩn Nộ của dân tộc Lybia đang bị nhà độc tài Muammar al-Gaddafi cai trị.
Ở Saudi Arabia, vào ngày 21/01, một người đàn ông đã tự thiêu, và lần đầu tiên tại vương quốc này, hàng trăm người đã xuống đường ở thành phố Jeddah chỉ trích quốc vương, cảnh sát đã nhanh chóng giải tán, bắt giữ trên 40 người. Ngày 10/2, đối lập tuyên bố thành lập đảng Umma Islamic, đòi chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế.
Các cuộc biểu tình nhỏ nhưng nhanh chóng bị dập tắt như ở Saudi Arabi cũng đã diễn ra ở nhiều nước khác trong Thế giới Á Rập.
Cuộc cách mạng Tunisia lan sang Ai Cập, có thể theo thế domino lan tới các nước khác đã làm nhiều khách Hoa Kỳ lo ngại.
Tổng thống Hosni Mubarak từng được coi là một đồng minh thân cận của Hoa Kỳ sau khi Ai Cập ký hiệp ước hòa bình với Do Thái trong năm 1979. Qua 4 đời tổng thống Hoa Kỳ, chính phủ nào cũng coi ông Hosni Mubarak là trụ cột giữ gìn, giữ ổn định Trung Đông. Được coi là người giám sát không chính thức của tiến trình hòa bình, từng chủ tọa các cuộc đàm phán giữa Do Thái - Palestine, và các cuộc hòa giải giữa 2 phe Fatah và Hamas của Palestine. Hoa Kỳ viện trợ cho Ai Cập khoảng gần 2 tỷ mỹ kim một năm, trong đó 1.3 tỷ là viện trợ quân sự. Dưới sự cai trị của ông Mubarak, phong trào Xã hội Huynh Đệ Hồi Giáo bị cấm hoạt động. Nhiều chính khách Hoa Kỳ lo ngại cuộc cách mạng lật đổ ông Mubarak sẽ tạo thời cơ cho phong trào này chiếm chính quyền, biến Ai Cập thành thành một đồng minh của Iran.
Xã hội Huynh Đệ Hồi Giáo được ông Hassan al-Banna thành lập trong năm 1928 với châm ngôn: “ Allah là cứu cánh, Koran là hiến pháp, Thánh chiến là phương tiện, chết cho đấng Allah là nguyện vọng cao cả nhất”. Vào năm 1936, Huynh Đệ Hồi Giáo chỉ phát triển được khoảng 800 người, nhưng 2 năm sau tăng lên 200 ngàn người và cuối thập niên 1940 được tin tưởng có trên 2 triệu hội viên trong Thế giới Á Rập. Vào năm 1948, cảnh sát Ai Cập khám phá một âm mưu tấn công quân sự của Huynh Đệ Hồi Giáo, Thủ tướng Mahmud Fahmi Nokrashi ra lệnh giải tán phong trào này. Vào tháng 12 năm 1948, Thủ tướng Nokrashi bị ám sát. Trên một tháng sau, ông Al-Banna bị ám sát. Từ năm 1954, sau vụ ám sát ông Gamal Abdel Nasser thất bại, thành viên của Huynh Đệ Hồi Giáo đã bị lực lượng an ninh Ai Cập coi là thành phần nguy hiểm nhất của quốc gia. Tuy nhiên sự đàn áp này không thể tiêu diệt được Phong Trào. Dù thường bị bắt tập thể, cấm hoạt động, Huynh Đệ Hồi Giáo vẫn là một lực lượng đối lập mạnh nhất ở Ai Cập. Qua cuộc bầu cử năm 2005, các ứng cử viên của Huynh Đệ Hồi Giáo ra ứng cử với tư cách cá nhân độc lập, nhưng đã chiếm được 88 ghế dân biểu.
Không hẳn Huynh Đệ Hồi Giáo sẽ lên cầm quyền ở Ai Cập, nhưng nếu đúng, cũng không hẳn sẽ trở thành đồng minh của Iran vì người Hồi Giáo theo phái Sunni và Shiite đã có truyền thống thù nghịch lâu đời.
Bán đảo Á Rập có thể coi là vùng đất chiến lược của Hoa Kỳ.
Con kênh đào Suez là con đường thủy sinh tử nối liền Âu Châu và Á Châu.
Mỗi ngày khoảng 17 triệu thùng dầu được chở qua eo biển Hormuz.
Bán đảo Á Rập là nơi sản xuất dầu hoả và dầu khí lớn nhất thế giới.
Vì lo ngại các lực lượng Hồi Giáo lên cầm quyền tại các nước Á Rập, đe doạ cho nguồn dầu lửa chiến lược và đe doạ cho an ninh Do Thái, chính sách của Hoa Kỳ và Tây Phương đã đặt nặng sự ổn định trong vùng, và chính sách này đã ngày càng cho các chế độ độc tài ăn sâu gốc rễ, làm cho người Hồi Giáo ngày càng ác cảm với Hoa Kỳ.
Việc Do Thái tiếp tục chiếm đóng, đàn áp người Palestine, sự hiện diện của các chế độ thế quyền, nhưng tham nhũng, thối nát là những nguyên nhân đưa tới các phong trào Hồi Giáo quá khích.
Khủng bố là điều mà nhân loại văn minh ngày nay không ai có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, nguyên nhân đưa tới các sự căm thù của người Á Rập, của người Hồi Giáo, lại hình như không được các nhà làm chính sách Hoa Kỳ quan tâm. Họ có thể mạnh mẽ lên án một quân nhân Do Thái bị bắt cóc, nhưng họ lại im lặng trước tình trạng phá nhà, chiếm đất, xua đuổi người Palestine, hay thậm chí một người dân Palestine, một thiếu niên Palestine có thể bị bắn chết bất cứ lúc nào mà không ai bị buộc tội, không cần phải bồi thường cho nạn nhân.
Hoa Kỳ là quốc gia đại diện cho tự do, dân chủ, luôn luôn lên án các chế độ độc tài, vi phạm nhân quyền, áp bức, nhưng đối với sự chiếm đóng của người Do Thái, và những sự vi phạm nhân quyền của lực lượng an ninh Do Thái bị chính tổ chức nhân quyền B’Tselem của Do Thái lên án, chính phủ Hoa Kỳ cũng im lặng!
Một nhân vật ngoại giao nào tuyên bố: “People will not calm down unless and until the Palestinian question is fairly resolved ”. Không chỉ bị Do Thái mà còn cả Hoa Kỳ lên án! Ông Amr Moussa bị Tổng thống Hosni Mubarak cách chức ngoại trưởng chỉ vì tuyên bố như trên!
Nhiều nhà phân tích nhận định chính sách an ninh của Hoa Kỳ ở Trung Đông là chính sách bảo vệ Do Thái nhiều hơn là bảo vệ cho quyền lợi an ninh thực sự của Hoa Kỳ.
Không chế độ độc tài nào có thể tồn tại mãi mãi.
Không có sự áp bức và bất công nào có thể chịu đựng mãi.
Với hệ thống truyền thông hiện nay những sự bất công, đàn áp, tham nhũng không còn có thể che dấu và tiếp tục che dấu, khi chính quyền không đáp ứng nguyện vọng của người dân, nhân dân sẽ quyết định cho chính quyền.
Cách mạng đã diễn ra ở Tunisia, ở Ai Cập và đang diễn ra trên nhiều nước. Các nhà lãnh đạo Tây Phương và Tổng thống Obama cũng đã cũng nhấn mạnh đây là thời gian thay đổi lập tức, “change now”, ở Ai Cập, thì có lẽ lúc này cũng là thời gian cần “change now” đối với chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ ở Trung Đông và chánh sách chiếm đóng của Do Thái.
Đầu thế kỷ thứ 20 các nước Tây Phương là những quốc gia chiếm đóng, bóc lột đàn áp người dân các nước thuộc địa Phi Châu, Á Châu và Châu Mỹ La Tinh. Ngày nay, Tây Phương đã trở thành những nước nêu cao dân chủ, tự do, nhân quyền, và đã hoàn toàn thay đổi, thì những nhà làm chính sách, chiến lược Tây Phương cũng không thể tiếp tục cho rằng những phong trào, những đoàn thể, đảng phái tại các nước trước đây có hoạt động, phương châm, cương lĩnh không còn thích họp với giai đoạn hiện nay là những thành phần nguy hiểm.
Vào năm 1998, những người Hồi giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ thành lập đảng Đạo Đức (Fazilet Partisi), đảng này bị cấm hoạt động trong năm 2001 vì có chủ trương vi phạm bản hiến pháp thế tục. Sau đó, những người có khuynh hướng cải cách của đảng Fazilet đã thành lập nên đảng Công lý và Phát triển (Adalet ve Kalkınma Partisi), gọi tắt là đảng AK. Xuất thân Hồi Giáo của đảng AK đã làm cho quân đội Thổ Nhĩ Kỳ, Tòa Án Thổ Nhĩ Kỳ, và dư luận Tây phương lo ngại. Đảng AK cũng suýt bị tòa án hiến pháp giải tán. Tuy nhiên, từ ngày thắng cử trong năm 2002, đảng AK đã rất thành công trong việc phát triển kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ, đẩy mạnh chủ trương gia nhập Liên Âu, và tạo cho Thổ Nhĩ Kỳ trở thành một nước dân chủ kiểu mẫu của một quốc gia Hồi Giáo.
Phong trào Huynh Đệ Hồi Giáo ở Ai Cập có thể là một phong trào bảo thủ Hồi Giáo trong đầu thế kỷ thứ 20, nhưng thực tế hiện giờ họ là một phong trào đang do các thành phần trí thức tân tiến lãnh đạo, được giới trung lưu và người nghèo trong nước ngưỡng mộ, cho nên mọi sự kết luận nếu phong trào nào này lên cầm quyền ở Ai Cập sẽ nguy hại cho Hoa Kỳ, Do Thái và Tây Phương cũng chỉ là một sự lo ngại quá sớm.
Lo ngại al Qaeda mở rộng ảnh hưởng càng không có cơ sở. Huynh Đệ Hồi Giáo đã bị al Qaeda lên án là bọn phản bội Hồi Giáo và Huynh Đệ Hồi Giáo cũng đã lên án chủ trương khủng bố của al Qaeda là chủ trương phản Hồi giáo.
Trong ngày Chủ Nhật, 13/2, Cựu Thủ tướng Tony Blair đang làm đặc sứ của Bộ Tứ (Hoa Kỳ, Nga, Liên Âu, Liên Hiệp quốc) lo vận động hòa bình Trung Đông nói: “Tổng thống Mubarak từng là một lực đẩy cho ổn định và hòa bình trong vùng. Tuy nhiên, lúc này là thời điểm vui mừng, phấn khởi và thời cơ vì tất cả những lực lượng dân chủ bị đè nén trước đây đã bật dậy. Ông Mubarak ra đi sẽ trở thành sức bật cho toàn vùng, là thời cơ để toàn vùng đứng lên thay đổi dân chủ đem lại lợi ích cho toàn vùng và cho cả thế giới.”
Sự ổn định dưới thời ông Mubarak như cựu Thủ tướng Tony Blair đã ca ngợi rõ rệt là sự ổn định như dưới mặt nước đang dậy sóng ngầm, dưới mặt đất đang sắp có động đất. Sau những trận động đất làm sao đem lại sự ổn định lâu dài không chỉ là thách thức đối với các chế độ dân chủ Tunisia, Ai Cập, ở các nước Á Rập khác, mà cũng là thử thách đối với các nước Tây Phương.
Dân chủ là giá trị thời đại, dân chủ thực sự trong một thế giới Hồi giáo không thể loại bỏ mọi yếu tố Hồi Giáo và sự tham gia của các tổ chức Hồi Giáo. Mọi sự lo ngại và mưu toan loại trừ sẽ làm cho toàn vùng trở nên nguy hiểm. Trong ngày 15/2, ông Gilles de Kerchove là giám đốc chống khủng bố Liên Âu tuyên bố: “Các cuộc cách mạng ở Tunisia và Ai Cập không có liên hệ gì với al Qaeda, chính phủ các nước Liên Âu phải giúp cho các nước Trung Đông chuyển tiếp dân chủ, nhưng phải bảo đảm không để cho những người lãnh đạo Hồi Giáo cầm quyền.” Lời tuyên bố này có lẽ mâu thuẫn với nguyên tắc dân chủ, khó thực hiện và có thể đem lại nguy hiểm nhiều hơn sự nguy hiểm mà ông Kerchove lo ngại.
Các cuộc đứng dậy ở Tunisia, Ai Cập ngoài yếu tố đòi hỏi tự do, dân chủ, còn xuất phát từ các yếu tố xã hội và kinh tế. Và rõ rệt những yếu tố sau này mới các động lực chính. Các chế độ dân chủ trong tương lai ở Tusinia, Ai Cập có sớm đem lại một đời sống dễ chịu hơn cho người dân hay không? Tạo được công ăn việc làm cho giới thanh niên thất nghiệp hay không? Đây là những thách thức vô cùng lớn lao. Hoa Kỳ và Tây Phương đã có kế hoạch nào để giúp cho các chế độ dân chủ trong tương lai nhanh chóng đem lại ổn định kinh tế và xã hội hay không là điều cần phải quan tâm tới.
Nền kinh tế của Hoa Kỳ và các nước Tây Phương còn chưa phục hồi, đang gặp khó khăn tài chánh, thâm thủng ngân sách, chồng chất công nợ là điều rất đáng lo.
Trong tuần qua, khoảng 4000 người Tunisia đã dùng thuyền đến đảo Lampedusa của Ý. Làn sóng di dân của những người muốn tìm cơ hội mới và tránh sự trả thù sau cách mạng đã tạo báo động của Liên Âu, và tạo căng thẳng giữa Liên Âu với chính phủ lâm thời Tunisia. Đây là một triệu chứng không mấy tốt đẹp.
Không thể đem lại ổn định đời sống, không thể tạo được công ăn việc làm. Dù sống dưới chế độ dân chủ và tự do, thanh niên thất nghiệp vẫn có thể dễ dàng trở thành những con mồi của các lực lượng quá khích. Sự bất ổn rất có thể sẽ kéo dài một thời gian.
Tuy nhiên, nếu dân chúng được sống trong một chế độ thực sự dân chủ, mọi sự bất công, tham nhũng, lạm dụng quyền lực được giải quyết, tự do ngôn luận được nêu cao, những chủ trương quá khích tự nó sẽ chết dần.
Cuộc cách mạng Tunisia, Ai Cập sẽ lan trong Thế giới Á Rập đến đâu? Hoa Kỳ và Tây phương có thể hướng dẫn cuộc cách mạng hiện nay theo thế có lợi hay hại có lẽ sẽ tùy thuộc phần lớn vào quan niệm đối với Hồi giáo, chính sách đối với Hồi giáo, cũng như khả năng giúp giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội đã bị bệnh trầm kha qua nhiều thập niên bị độc tài và tham nhũng cai trị.
Cầu mong các cuộc cách mạng dân chủ ở Thế giới Á Rập thành công.
Các cuộc cách mạng này không chỉ đang làm rung chuyển tại các nước Á Rập mà còn đang vang dội tới Châu Mỹ La Tinh, đến Á Châu. Ông Hugo Chavez đang lo ngại. Bắc Kinh đang lo ngại.
Việt Nam cũng ở trong tình trạng không khác gì Tunisia:
• Mức phát triển kinh tế cao, một nước được coi là sư tử Phi Châu, một nước được coi là hổ Á Châu, nhưng tài sản quốc gia nằm trong tay đảng cầm quyền và gia đình những người lãnh đạo.
• Thanh niên là thành phần chiếm đa số dân số.
• Mọi thứ quyền tự do của con người bị tước đoạt.
• Tham nhũng đục khoét mọi lãnh vực.
• Trong khi giới lãnh đạo có người sống hơn đế vương, đa số dân chúng phải sống dưới lợi tức 2 mỹ kim một ngày.
Cùng một hoàn cảnh, thanh niên, dân chúng Tunisia đã vùng lên, đã lật đổ chế độ độc tài, đã giải tán đảng Tập hợp Dân chủ Hiến Pháp (RCD - Rassemblement Constitutionel Démocratique).
Không biết bao giờ cách mạng Dân chủ Việt Nam sẽ bùng lên để cáo chung chế độ Cộng Sản đã và đang tàn phá quê hương?
Mong rằng “Ngày Tức Giận” này sẽ diễn ra trong một thời gian không xa.
Huệ Vũ.
http://www.thegioimoionline.com/tm.php?recordID=1974
Ai rửa xe thuê?
Đinh Từ Thức
(Góp ý cùng nhà lý luận Hà Sĩ Phu qua bài Vong bản từ đâu?)

Người đi qua những khẩu hiệu viết trên tường gần Quảng trường Tahrir 13-2, 2011: “Chúng tôi yêu Ai Cập”, “Hãnh diện là người Ai Cập”.
Hình của Reuters/Asmaa Waguih Ngày 10 tháng 2, trên mạng Bauxite Việt Nam có bài Vong bản từ đâu? (1) Của nhà lý luận Hà Sĩ Phu, “Mạn đàm cùng nhà Sử học Dương Trung Quốc” về “phẩm chất con người Việt Nam”. Theo ông Hà Sĩ Phu, trong thế kỷ vừa qua, phẩm chất con người Việt Nam có khi cao, khi thấp. Ông nói:
Theo tôi, phẩm chất con người Việt Nam đạt đỉnh cao nhất ở nửa sau của thời kỳ Pháp thuộc. Còn đoạn lõm thấp nhất, bị tha hóa tệ hại nhất là ở nửa sau của cuộc “Cách mạng Vô sản”, tức chính là những năm tháng hiện nay.
Phẩm chất con người Việt Nam hiện nay được ông ghi nhận như sau:
Hãy nhìn vào thực tiễn xã hội: Có bao giờ người Việt Nam lại thờ ơ trước nguy cơ vong quốc, nguy cơ bị đồng hóa như bây giờ? Có bao giờ sự thờ ơ trước đau khổ của đồng loại, sự đâm chém, băm chặt nhau dễ dàng như cơm bữa, sự nhố nhăng mất gốc, sự phô bày thú tính, sự vênh vác rởm đời, sự hành hạ người yêu nước một cách ngang nhiên, sự nịnh bợ kẻ nội xâm và ngoại xâm… lại được tôn vinh trước thanh thiên bạch nhật như bây giờ? Có bao giờ sự thành thật lại thua sự giả dối, người lương thiện lại sợ kẻ gian manh, người yêu nước lại bị lép vế, bậc thức giả lại bị cười khinh, công lý lại bị nhạo báng một cách thảm hại như bây giờ?
Từ những ghi nhân trên, ông Hà Sĩ Phu đi tới kết luận là con người Việt Nam hiện bị “mất gốc hoàn toàn” hay “vong bản tuyệt đối”. Và đặt câu hỏi “Vong bản từ đâu?” Trong khi “mạn đàm” về câu trả lời, ông đã dựa vào văn học, sử học, triết học, toàn những thứ trừu tượng khó nắm bắt. Vì thế, tôi không dám phản bác ý kiến của ông Hà, chỉ xin góp với ông vài ý thô thiển để trả lời câu hỏi “Vong bản từ đâu?”
Với nhà báo chúng tôi, thường không quen lý luận cao siêu trừu tượng, mà chỉ tìm giải đáp ngay từ những gì thấy được hàng ngày, nhất là thời sự. Cho nên, trước khi góp ý, xin mời ông đọc mấy đoạn trích dịch sau đây từ bài “Out of Touch, Out of Time” của nhà báo Thomas L. Friedman viết từ Cairo, sau khi nghe ông Mubarak đọc diễn văn chót vào đêm 10 tháng 2, đăng trên The New York Times ngày 11 tháng 2, 2011 (2):
“Lời lẽ của ông Mubarak và Suleiman nói với những người biểu tình đòi dân chủ không thể nào xúc phạm hơn: “Hãy tin chúng tôi. Chúng tôi sẽ thi hành tiến trình cải tổ từ bây giờ. Mọi người có thể về nhà, trở lại làm việc và chấm dứt để cho mấy đài truyền hình ngoại quốc qua vệ tinh – như Al Jazeera – làm cho bức xúc như thế. Đồng thời, đừng để cho thằng cha Obama chỉ thị cho người Ai Cập tự hào chúng ta phải làm gì”.
“Bài bản này hoàn toàn xa rời thực tế cuộc nổi dậy đòi dân chủ tại Quảng trường Tahrir, đó hoàn toàn là cuộc tự giành quyền sau một thời gian dài bị áp bức, nhân dân không chịu sợ hãi nữa, không để tự do của mình bị tước đoạt nữa, và không chịu để các nhà lãnh đạo của mình làm nhục nữa, như đã nói với họ trong 30 năm rằng họ chưa sẵn sàng cho chế độ dân chủ. Thật vậy, phong trào dân chủ Ai Cập là tất cả những gì Hosni Mubarak nói rằng nó không phải như vậy: cây nhà lá vườn, không mỏi mệt và chính hiệu Ai Cập. Các sử gia tương lai sẽ viết về những thế lực lịch sử lớn lao đã tạo ra giây phút này, nhưng những mẩu chuyện nhỏ gặp được tại Quảng trường Tahrir cho thấy tại sao không thể ngăn chặn được nó.
“Tôi đã dành ra một phần buổi sáng tại quảng trường để quan sát và chụp hình một nhóm sinh viên trẻ Ai Cập đeo găng plastic, nhặt rác bằng cả hai tay và gọn gàng hốt rác bỏ vào những bao plastic màu đen, để giữ cho nơi này được sạch sẽ. Điều này làm tôi xúc động, nhất là bởi vì hơn một lần, tôi đã trích dẫn câu cách ngôn trong mục của tôi, là “trong lịch sử thế giới không một ai mang xe thuê đi rửa bao giờ”. Tôi dùng nó để nói rằng cũng không bao giờ có ai rửa một đất nước đi thuê – và trong thế kỷ qua người Ả Rập đã phải thuê đất nước họ từ vua chúa, độc tài và các thế lực thực dân. Vì vậy, họ đã không thèm rửa chúng.
“Người Ai Cập đã ngừng đi thuê, ít nhất tại Quảng trường Tahrir, nơi có treo một biểu ngữ hôm Thứ Năm, viết: “Tahrir – nơi tự do duy nhất tại Ai Cập”. Tôi tiến tới một trong những cậu có nhiệm vụ hốt rác – Karim Turki, 23 tuổi, từng làm việc tại một tiệm săn sóc da – và hỏi: “Tại sao anh đã tình nguyện làm việc này?” Anh vội vã trả lời bằng thứ tiếng Anh đứt đoạn: “Đây là đất tôi. Đây là nước tôi. Đây là nhà tôi. Tôi sẽ làm sạch cả Ai Cập khi Mubarak ra đi”. Quyền sở hữu là thứ thật đẹp.
“Khi rời đống rác, tôi gặp ba người đàn ông có vẻ giàu có và họ muốn nói. Một trong số là Ahmed Awn, 31 tuồi, giải thích rằng anh khá dễ chịu về tài chánh, và ngay cả chịu thiệt hại nếu vụ xáo trộn ở đây tiếp tục, nhưng anh muốn tham dự vì những lý do quan trọng hơn tiền bạc nhiều. Anh nói, trước vụ nổi dậy này, “Tôi đã không hãnh diện nói với người khác tôi là người Ai Cập. Hôm nay, với những gì xảy ra tại đây” tại Quảng trường Tahrir, “Tôi có thể hãnh diện lại nói tôi là một người Ai Cập”.
“Sự nhục nhã là tình cảm mạnh nhất của loài người, và vượt qua nó là tình cảm mạnh thứ nhì của loài người. Đó là một phần lớn của những gì đang diễn ra ở đây.
“Sau cùng, trong khi qua cầu sông Nile rời khỏi quảng trường, một người Ai Cập ăn mặc sang trọng chặn tôi lại – một độc giả của Times – đang làm việc tại Saudi Arabia. Ông ta cùng đi với vợ và hai con trai. Ông kể là ông tới Cairo hôm Thứ Năm để đưa hai con tới nhìn, nghe, cảm và sờ Quảng trường Tahrir. Ông nói: “Tôi muốn nó là dấu ấn trong tâm khảm chúng”. Có vẻ đây là cách của ông ta để bảo đảm rằng chế độ chuyên chế này không bao giờ trở lại. Đây là những người mà ông Mubarak lên án rằng họ đã hoàn toàn bị khuấy động bởi người nước ngoài. Sự thật, phong trào Tahrir là một trong những điều xác thực nhất, nhân bản nhất để đòi nhân phẩm và tự do mà tôi từng chứng kiến”.
Đó là những ghi nhận của Friedman đêm trước khi Mubarak chịu từ chức. Sau đây là ghi nhận của nhà báo Roger Cohen hôm sau ngày Mubarak ra đi, cũng liên hệ tới chuyện hốt rác tại Quảng trường Tahrir (3):
“Kamal, 26 tuồi, có vẻ hãnh diện trong bộ hijab (khăn che kín đầu tóc và chung quanh cổ nhưng hở mặt) mầu hồng. Cô đứng cạnh một biểu hiệu viết: “Xin lỗi làm phiền, chúng tôi đang xây dựng Ai Cập”. Được hỏi tại sao quét đường, cô nói: “Tất cả bụi bặm là quá khứ. Chúng tôi muốn thanh toán cái cũ và bắt đầu làm sạch”.
Ông Mahmoud Abdullah, một nhà hóa học đã về hưu chen vào, chỉ cô và nói với tôi: “Đây là một thế hệ rất quý. Họ đã làm điều chúng tôi không làm được”.
Sau đây là ghi nhận của nhà báo Kathy Lally của Washington Post, về một anh tên là Elennen, sau ngày Mubarak từ chức (4):
“Mọi Thứ Sáu trong cuộc phản đối tại Cairo, Elennen đều cùng với gia đình tới đứng tại Quảng trường Tahrir. Một anh em đồng hao về từ Saudi Arabia để có mặt tại đó; những người họ hàng khác về từ Morocco.
Anh nói: “Nếu tôi không tới, tôi cảm thấy tôi không xứng đáng là người Ai Cập”.
Anh tới đó, cùng với và vì mấy đứa con gái của anh. Vợ Elennen là người Algeria, và các con của họ thường nhận mình là người Algeria, xấu hổ vì Ai Cập và sự nghèo khổ cùng hèn mọn của nó. Bây giờ họ cảm thấy như là những công dân của một nước can đảm và hùng mạnh, và tự mình tuyên bố hoàn toàn là người Ai Cập, khiến Elennen gần khóc một lần nữa”.
*
Đến đây, dù chưa góp ý, chắc ông Hà cũng đã biết ý của tôi. Từ hơn thế kỷ qua, cũng như người dân Ai Cập, người dân Việt Nam đâu có làm chủ đất nước mình, họ là người thuê nước từ vua chúa, thực dân, và độc tài. Khi đất nước chỉ như cái xe thuê, họ đâu cần săn sóc, và thật ra, cũng không có quyền săn sóc, vì đó là quyền của chủ, không phải của người thuê.
Tại sao phẩm chất con người Việt Nam đạt điểm cao nhất ở nửa sau thời kỳ Pháp thuộc, và hiện đang ở giai đoạn thấp nhất?
Tình hình thế giới từ sau Đệ nhất đến sau Đệ nhị Thế chiến tạo cho người dân Việt Nam một hy vọng. Đó là sự kiện ông thực dân chủ xe bị đột quỵ, có thể sắp quy tiên, người thuê xe có thể trở thành chủ nhân cái xe mình đang dùng; trước sau gì cũng là của mình, nên bắt đầu săn sóc nó, tận tụy với nó. Đây là giai đoạn phẩm chất con người Việt Nam đạt cao điểm. Sang trọng có thể gọi là “Thế hệ vàng”. Dân dã hơn, có thể có những cách gọi bỗ bã khác.
Những tại sao lại là “vàng”?” Vì khi ông chủ thực dân quy tiên, trong một thời gian, quả thật người dân Việt Nam cảm thấy quyền sở hữu chiếc xe về tay mình. Cả một thế hệ đã sẵn sàng hy sinh, săn sóc, bảo vệ nó. Đó là thứ tình cảm giống như người dân Ai Cập cảm nhận khi vào năm 1952, ông Nasser không chịu thuê nước Ai Cập từ Vua Farouk nữa.
Nhưng hai năm sau, khi ông Nasser ban hành Hiến pháp, quy định Ai Cập là nước xã hội độc đảng, người dân Ai Cập trở lại là người thuê nước từ đảng cầm quyền, cho đến ông chủ cuối cùng là Mubarak. Người dân Việt Nam cũng vậy, sau thời gian tưởng mình là chủ nhân, cái xe nước đã chính thức (Hiến pháp quy định hẳn hoi) là vật sở hữu của ai khác. Người dân vẫn là người đi thuê. Trước kia thuê của thực dân, vì nó mạnh, đành chịu. Bây giờ phải thuê từ “người nhà”, tức ứ hơi. Muốn sống chỉ còn cách biết sợ và chịu nhục. “Tôi biết sợ nên tôi tồn tại”. Trong lịch sử nhân loại, có thế hệ nhục nhã nào được mệnh danh là “Thế hệ vàng”? Có cuộc sống nhục nào đạt phẩm chất cao? Đó là lý do phẩm chất con người Việt Nam đi từ chỗ cao nhất xuống chỗ thấp nhất.
Không phải chỉ thuê nước. Mỗi người dân còn là người thuê chính bản thân mình. Ông Hà Sĩ Phu đã có lần công khai phàn nàn không hiểu sao bản thân mình cứ bị nhà cầm quyền phiền hà, quấy nhiễu. Làm như vậy vì lầm tưởng ông là chủ bản thân mình. Đầu óc để nghĩ, miệng để phát biểu, tay để viết, chân đi lại, tất cả những thứ ấy đều là bộ phận của cơ thể, nhưng không phải ông, mà người ta có quyền định đoạt về cơ thể ông, như theo dõi, đụng xe, bắt giữ, buộc tội, bỏ tù, “đột quỵ”, hay “tự sát”. Ông không được quyền định đoạt cơ thể ông, vậy nó không thuộc về ông. Ông chỉ là người thuê. Thuê xe màu đỏ mà tự ý sơn xanh, ráp thêm loa, gắn thêm còi, bị chủ xe bắt “làm việc” là đúng. Không muốn “làm việc” thì cứ buông thả, sống như những gì ông đã ghi nhận trong điểm lõm hiện nay.
Mấy nhà báo Mỹ có mặt tại Quảng trường Tahrir tối 10 và 11 tháng 2 đã ghi được tâm trạng của mấy người Ai Cập từng cảm thấy nhục nhã là người Ai Cập. Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt cũng đã có lần phát biểu tương tự: Khi ra nước ngoài, ông cảm thấy nhục nhã là người Việt Nam. Điều gì đã khiến những người Ai Cập đang từ nhục nhã đổi sang hãnh diện, vui mừng tới phát khóc được làm người Ai Cập? Đó là sự ra đi của ông Mubarak, và đảng của ông hết cầm quyền.
Điều gì sẽ khiến những người như ông Ngô Quang Kiệt lại cảm thấy hãnh diện là người Việt Nam?
Hy vọng đã góp được vài ý mọn cho câu hỏi “Vong bản tại đâu?”
Đinh Từ Thức
(Góp ý cùng nhà lý luận Hà Sĩ Phu qua bài Vong bản từ đâu?)

Người đi qua những khẩu hiệu viết trên tường gần Quảng trường Tahrir 13-2, 2011: “Chúng tôi yêu Ai Cập”, “Hãnh diện là người Ai Cập”.
Hình của Reuters/Asmaa Waguih Ngày 10 tháng 2, trên mạng Bauxite Việt Nam có bài Vong bản từ đâu? (1) Của nhà lý luận Hà Sĩ Phu, “Mạn đàm cùng nhà Sử học Dương Trung Quốc” về “phẩm chất con người Việt Nam”. Theo ông Hà Sĩ Phu, trong thế kỷ vừa qua, phẩm chất con người Việt Nam có khi cao, khi thấp. Ông nói:
Theo tôi, phẩm chất con người Việt Nam đạt đỉnh cao nhất ở nửa sau của thời kỳ Pháp thuộc. Còn đoạn lõm thấp nhất, bị tha hóa tệ hại nhất là ở nửa sau của cuộc “Cách mạng Vô sản”, tức chính là những năm tháng hiện nay.
Phẩm chất con người Việt Nam hiện nay được ông ghi nhận như sau:
Hãy nhìn vào thực tiễn xã hội: Có bao giờ người Việt Nam lại thờ ơ trước nguy cơ vong quốc, nguy cơ bị đồng hóa như bây giờ? Có bao giờ sự thờ ơ trước đau khổ của đồng loại, sự đâm chém, băm chặt nhau dễ dàng như cơm bữa, sự nhố nhăng mất gốc, sự phô bày thú tính, sự vênh vác rởm đời, sự hành hạ người yêu nước một cách ngang nhiên, sự nịnh bợ kẻ nội xâm và ngoại xâm… lại được tôn vinh trước thanh thiên bạch nhật như bây giờ? Có bao giờ sự thành thật lại thua sự giả dối, người lương thiện lại sợ kẻ gian manh, người yêu nước lại bị lép vế, bậc thức giả lại bị cười khinh, công lý lại bị nhạo báng một cách thảm hại như bây giờ?
Từ những ghi nhân trên, ông Hà Sĩ Phu đi tới kết luận là con người Việt Nam hiện bị “mất gốc hoàn toàn” hay “vong bản tuyệt đối”. Và đặt câu hỏi “Vong bản từ đâu?” Trong khi “mạn đàm” về câu trả lời, ông đã dựa vào văn học, sử học, triết học, toàn những thứ trừu tượng khó nắm bắt. Vì thế, tôi không dám phản bác ý kiến của ông Hà, chỉ xin góp với ông vài ý thô thiển để trả lời câu hỏi “Vong bản từ đâu?”
Với nhà báo chúng tôi, thường không quen lý luận cao siêu trừu tượng, mà chỉ tìm giải đáp ngay từ những gì thấy được hàng ngày, nhất là thời sự. Cho nên, trước khi góp ý, xin mời ông đọc mấy đoạn trích dịch sau đây từ bài “Out of Touch, Out of Time” của nhà báo Thomas L. Friedman viết từ Cairo, sau khi nghe ông Mubarak đọc diễn văn chót vào đêm 10 tháng 2, đăng trên The New York Times ngày 11 tháng 2, 2011 (2):
“Lời lẽ của ông Mubarak và Suleiman nói với những người biểu tình đòi dân chủ không thể nào xúc phạm hơn: “Hãy tin chúng tôi. Chúng tôi sẽ thi hành tiến trình cải tổ từ bây giờ. Mọi người có thể về nhà, trở lại làm việc và chấm dứt để cho mấy đài truyền hình ngoại quốc qua vệ tinh – như Al Jazeera – làm cho bức xúc như thế. Đồng thời, đừng để cho thằng cha Obama chỉ thị cho người Ai Cập tự hào chúng ta phải làm gì”.
“Bài bản này hoàn toàn xa rời thực tế cuộc nổi dậy đòi dân chủ tại Quảng trường Tahrir, đó hoàn toàn là cuộc tự giành quyền sau một thời gian dài bị áp bức, nhân dân không chịu sợ hãi nữa, không để tự do của mình bị tước đoạt nữa, và không chịu để các nhà lãnh đạo của mình làm nhục nữa, như đã nói với họ trong 30 năm rằng họ chưa sẵn sàng cho chế độ dân chủ. Thật vậy, phong trào dân chủ Ai Cập là tất cả những gì Hosni Mubarak nói rằng nó không phải như vậy: cây nhà lá vườn, không mỏi mệt và chính hiệu Ai Cập. Các sử gia tương lai sẽ viết về những thế lực lịch sử lớn lao đã tạo ra giây phút này, nhưng những mẩu chuyện nhỏ gặp được tại Quảng trường Tahrir cho thấy tại sao không thể ngăn chặn được nó.
“Tôi đã dành ra một phần buổi sáng tại quảng trường để quan sát và chụp hình một nhóm sinh viên trẻ Ai Cập đeo găng plastic, nhặt rác bằng cả hai tay và gọn gàng hốt rác bỏ vào những bao plastic màu đen, để giữ cho nơi này được sạch sẽ. Điều này làm tôi xúc động, nhất là bởi vì hơn một lần, tôi đã trích dẫn câu cách ngôn trong mục của tôi, là “trong lịch sử thế giới không một ai mang xe thuê đi rửa bao giờ”. Tôi dùng nó để nói rằng cũng không bao giờ có ai rửa một đất nước đi thuê – và trong thế kỷ qua người Ả Rập đã phải thuê đất nước họ từ vua chúa, độc tài và các thế lực thực dân. Vì vậy, họ đã không thèm rửa chúng.
“Người Ai Cập đã ngừng đi thuê, ít nhất tại Quảng trường Tahrir, nơi có treo một biểu ngữ hôm Thứ Năm, viết: “Tahrir – nơi tự do duy nhất tại Ai Cập”. Tôi tiến tới một trong những cậu có nhiệm vụ hốt rác – Karim Turki, 23 tuổi, từng làm việc tại một tiệm săn sóc da – và hỏi: “Tại sao anh đã tình nguyện làm việc này?” Anh vội vã trả lời bằng thứ tiếng Anh đứt đoạn: “Đây là đất tôi. Đây là nước tôi. Đây là nhà tôi. Tôi sẽ làm sạch cả Ai Cập khi Mubarak ra đi”. Quyền sở hữu là thứ thật đẹp.
“Khi rời đống rác, tôi gặp ba người đàn ông có vẻ giàu có và họ muốn nói. Một trong số là Ahmed Awn, 31 tuồi, giải thích rằng anh khá dễ chịu về tài chánh, và ngay cả chịu thiệt hại nếu vụ xáo trộn ở đây tiếp tục, nhưng anh muốn tham dự vì những lý do quan trọng hơn tiền bạc nhiều. Anh nói, trước vụ nổi dậy này, “Tôi đã không hãnh diện nói với người khác tôi là người Ai Cập. Hôm nay, với những gì xảy ra tại đây” tại Quảng trường Tahrir, “Tôi có thể hãnh diện lại nói tôi là một người Ai Cập”.
“Sự nhục nhã là tình cảm mạnh nhất của loài người, và vượt qua nó là tình cảm mạnh thứ nhì của loài người. Đó là một phần lớn của những gì đang diễn ra ở đây.
“Sau cùng, trong khi qua cầu sông Nile rời khỏi quảng trường, một người Ai Cập ăn mặc sang trọng chặn tôi lại – một độc giả của Times – đang làm việc tại Saudi Arabia. Ông ta cùng đi với vợ và hai con trai. Ông kể là ông tới Cairo hôm Thứ Năm để đưa hai con tới nhìn, nghe, cảm và sờ Quảng trường Tahrir. Ông nói: “Tôi muốn nó là dấu ấn trong tâm khảm chúng”. Có vẻ đây là cách của ông ta để bảo đảm rằng chế độ chuyên chế này không bao giờ trở lại. Đây là những người mà ông Mubarak lên án rằng họ đã hoàn toàn bị khuấy động bởi người nước ngoài. Sự thật, phong trào Tahrir là một trong những điều xác thực nhất, nhân bản nhất để đòi nhân phẩm và tự do mà tôi từng chứng kiến”.
Đó là những ghi nhận của Friedman đêm trước khi Mubarak chịu từ chức. Sau đây là ghi nhận của nhà báo Roger Cohen hôm sau ngày Mubarak ra đi, cũng liên hệ tới chuyện hốt rác tại Quảng trường Tahrir (3):
“Kamal, 26 tuồi, có vẻ hãnh diện trong bộ hijab (khăn che kín đầu tóc và chung quanh cổ nhưng hở mặt) mầu hồng. Cô đứng cạnh một biểu hiệu viết: “Xin lỗi làm phiền, chúng tôi đang xây dựng Ai Cập”. Được hỏi tại sao quét đường, cô nói: “Tất cả bụi bặm là quá khứ. Chúng tôi muốn thanh toán cái cũ và bắt đầu làm sạch”.
Ông Mahmoud Abdullah, một nhà hóa học đã về hưu chen vào, chỉ cô và nói với tôi: “Đây là một thế hệ rất quý. Họ đã làm điều chúng tôi không làm được”.
Sau đây là ghi nhận của nhà báo Kathy Lally của Washington Post, về một anh tên là Elennen, sau ngày Mubarak từ chức (4):
“Mọi Thứ Sáu trong cuộc phản đối tại Cairo, Elennen đều cùng với gia đình tới đứng tại Quảng trường Tahrir. Một anh em đồng hao về từ Saudi Arabia để có mặt tại đó; những người họ hàng khác về từ Morocco.
Anh nói: “Nếu tôi không tới, tôi cảm thấy tôi không xứng đáng là người Ai Cập”.
Anh tới đó, cùng với và vì mấy đứa con gái của anh. Vợ Elennen là người Algeria, và các con của họ thường nhận mình là người Algeria, xấu hổ vì Ai Cập và sự nghèo khổ cùng hèn mọn của nó. Bây giờ họ cảm thấy như là những công dân của một nước can đảm và hùng mạnh, và tự mình tuyên bố hoàn toàn là người Ai Cập, khiến Elennen gần khóc một lần nữa”.
*
Đến đây, dù chưa góp ý, chắc ông Hà cũng đã biết ý của tôi. Từ hơn thế kỷ qua, cũng như người dân Ai Cập, người dân Việt Nam đâu có làm chủ đất nước mình, họ là người thuê nước từ vua chúa, thực dân, và độc tài. Khi đất nước chỉ như cái xe thuê, họ đâu cần săn sóc, và thật ra, cũng không có quyền săn sóc, vì đó là quyền của chủ, không phải của người thuê.
Tại sao phẩm chất con người Việt Nam đạt điểm cao nhất ở nửa sau thời kỳ Pháp thuộc, và hiện đang ở giai đoạn thấp nhất?
Tình hình thế giới từ sau Đệ nhất đến sau Đệ nhị Thế chiến tạo cho người dân Việt Nam một hy vọng. Đó là sự kiện ông thực dân chủ xe bị đột quỵ, có thể sắp quy tiên, người thuê xe có thể trở thành chủ nhân cái xe mình đang dùng; trước sau gì cũng là của mình, nên bắt đầu săn sóc nó, tận tụy với nó. Đây là giai đoạn phẩm chất con người Việt Nam đạt cao điểm. Sang trọng có thể gọi là “Thế hệ vàng”. Dân dã hơn, có thể có những cách gọi bỗ bã khác.
Những tại sao lại là “vàng”?” Vì khi ông chủ thực dân quy tiên, trong một thời gian, quả thật người dân Việt Nam cảm thấy quyền sở hữu chiếc xe về tay mình. Cả một thế hệ đã sẵn sàng hy sinh, săn sóc, bảo vệ nó. Đó là thứ tình cảm giống như người dân Ai Cập cảm nhận khi vào năm 1952, ông Nasser không chịu thuê nước Ai Cập từ Vua Farouk nữa.
Nhưng hai năm sau, khi ông Nasser ban hành Hiến pháp, quy định Ai Cập là nước xã hội độc đảng, người dân Ai Cập trở lại là người thuê nước từ đảng cầm quyền, cho đến ông chủ cuối cùng là Mubarak. Người dân Việt Nam cũng vậy, sau thời gian tưởng mình là chủ nhân, cái xe nước đã chính thức (Hiến pháp quy định hẳn hoi) là vật sở hữu của ai khác. Người dân vẫn là người đi thuê. Trước kia thuê của thực dân, vì nó mạnh, đành chịu. Bây giờ phải thuê từ “người nhà”, tức ứ hơi. Muốn sống chỉ còn cách biết sợ và chịu nhục. “Tôi biết sợ nên tôi tồn tại”. Trong lịch sử nhân loại, có thế hệ nhục nhã nào được mệnh danh là “Thế hệ vàng”? Có cuộc sống nhục nào đạt phẩm chất cao? Đó là lý do phẩm chất con người Việt Nam đi từ chỗ cao nhất xuống chỗ thấp nhất.
Không phải chỉ thuê nước. Mỗi người dân còn là người thuê chính bản thân mình. Ông Hà Sĩ Phu đã có lần công khai phàn nàn không hiểu sao bản thân mình cứ bị nhà cầm quyền phiền hà, quấy nhiễu. Làm như vậy vì lầm tưởng ông là chủ bản thân mình. Đầu óc để nghĩ, miệng để phát biểu, tay để viết, chân đi lại, tất cả những thứ ấy đều là bộ phận của cơ thể, nhưng không phải ông, mà người ta có quyền định đoạt về cơ thể ông, như theo dõi, đụng xe, bắt giữ, buộc tội, bỏ tù, “đột quỵ”, hay “tự sát”. Ông không được quyền định đoạt cơ thể ông, vậy nó không thuộc về ông. Ông chỉ là người thuê. Thuê xe màu đỏ mà tự ý sơn xanh, ráp thêm loa, gắn thêm còi, bị chủ xe bắt “làm việc” là đúng. Không muốn “làm việc” thì cứ buông thả, sống như những gì ông đã ghi nhận trong điểm lõm hiện nay.
Mấy nhà báo Mỹ có mặt tại Quảng trường Tahrir tối 10 và 11 tháng 2 đã ghi được tâm trạng của mấy người Ai Cập từng cảm thấy nhục nhã là người Ai Cập. Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt cũng đã có lần phát biểu tương tự: Khi ra nước ngoài, ông cảm thấy nhục nhã là người Việt Nam. Điều gì đã khiến những người Ai Cập đang từ nhục nhã đổi sang hãnh diện, vui mừng tới phát khóc được làm người Ai Cập? Đó là sự ra đi của ông Mubarak, và đảng của ông hết cầm quyền.
Điều gì sẽ khiến những người như ông Ngô Quang Kiệt lại cảm thấy hãnh diện là người Việt Nam?
Hy vọng đã góp được vài ý mọn cho câu hỏi “Vong bản tại đâu?”
Vẫn đang xào bài....
Lữ Giang
“Nhân danh Thượng Đế nhân từ và hay thương xót, thưa đồng bào, “Trong giai đoạn rất khó khăn mà Ai Cập đang trải qua, Tổng Thống Hosni Mubarak đã quyết định rời bỏ chức vụ Tổng Thống của nước Cộng Hoà và giao cho Hội Đồng Quân Đội Tối Cao quản trị công việc của đất nước. “Xin Thượng đế phù hộ mọi người.” Đó là thông điệp ngắn mà Phó Tổng Thống Ai Cập Omar Suleiman đã đọc trên đài truyền hình quốc gia Ai Cập ngày 11.2.2011, loan báo Tổng thống Mubarak từ chức,
QUẦN CHÚNG CHỈ LÀ CÔNG CỤ
Trong hầu hết các biến cố chính trị thường được gọi là “cách mạng”, quần chúng bao giờ cũng chỉ là công cụ, những tay xào bài chuyên nghiệp đứng đàng sau hậu trường mới là những người làm chủ và lèo lái tình hình.
Việt Nam cũng đã trải qua hai cuộc “cách mạng” lớn đưa đất nước vào những ngày đen tối, đó là cuộc “cách mạng tháng 8” năm 1945 và cuộc “cách mạng ngày 1.1,1963”. Trong cả hai trường hợp, quần chúng đều bị biến thành công cụ.
Ngày 17.8.1945 Tổng Hội Công Chức tổ chức một cuộc biểu tình lớn trước Nhà Hát Lớn ở Hà Nội để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim. Vì đã chuẩn bị trước, Việt Minh cho khoảng 100 cán bộ trà trộn trong đám biểu tình, trương biểu ngữ của Mặt Trận Việt Minh lên, bắn mấy phát súng, và nhảy lên cướp máy phóng thanh, biến cuộc biểu tình thành cuộc diễn hành của Việt Minh.
VNQDĐ và Đại Việt có số đảng viên gấp muời ngàn lần Việt Minh, nhưng không biết phải làm gì. Lê Khang đòi đem quân cuớp chính quyền thì bị bác bỏ và bảo phải đợi quân đội Đồng Minh tới quyết định. Do đó Việt Minh đã cướp chính quyền và đưa Việt Nam vào cuộc chiến kéo dài 30 năm. Lúc đầu dân chúng tưởng Việt Minh là tổ chức giàng độc lập nên đi theo.
Trong cuộc đảo chánh 1963, các tài liệu được tiết lộ cho biết nhân vụ Phật giáo xẩy ra vào tháng 5 ở Huế, cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã đưa William Kohlmann, một điệp viên quen biết với Trần Quang Thuận khi còn ở London, đến Sài Gòn phối hợp với Trần Quang Thuận và Đại Đức Thích Đức Nghiệp thiêu Hoà Thượng Quảng Đức, rồi cho các ký giả CIA chụp hình và gởi đi khắp thế giới, tạo ra sự xúc động mạnh.
Sau đó, CIA xúi Tướng Trần Thiện Khiêm, một điệp viên khác của CIA, triệu tập các tướng lãnh lại và bàn nhau vào gặp ông Diệm, yêu cầu ban hành tình trạng khẩn cấp, ra lệnh lục xét các chùa, đưa các sư từ các tỉnh ra khỏi Sài Gòn để ổn định tình hình, nếu không làm như vậy quân đội sẽ không chịu chiến đấu. Ông Diệm không đọc kỹ Tam Quốc Chí nên bị trúng kế của CIA, ký vào bản dự thảo Sắc Lệnh ban hành tình trạng khẩn cấp do các tướng lãnh đệ trình và ra lệnh lục xét một số chùa. Washington dựa vào biến cố đó, gởi công điện khẩn cấp ra lệnh cho Đại Sứ Cabot Lodge tổ chức đảo chánh lật đổ ông Diệm. Hai nhân vật chính thực hiện kế hoạch này lại là hai người được ông Diệm tin cẩn nhất, nhưng lại là hai tay chân bộ hạ của CIA, đó là Tướng Trần Thiện Khiêm và Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu!
Cuộc đảo chánh thành công, dân chúng reo hò. Ngày 1 tháng 11 được biến thành ngày Quốc Khánh và đường Công Lý được đổi thành đường Cách Mạng 1 tháng 11. Nhưng miền Nam bị mất.
Năm 2003, Tổng Thống Bush đã tạo ra những lý do giả tạo, đưa quân đổ bộ vào Iraq bất chấp luật pháp quốc tế để khai thác dầu lửa và đấu thầu quốc phòng. Ông tuyên bố rằng giải phóng đất nước Iraq sẽ làm cho thế giới này yên bình hơn và không có Saddam Hussein, cuộc sống của người dân Iraq sẽ tốt đẹp hơn. Ông nói: “Tự do là một điều tuyệt vời. Khi có tự do, người Iraq sẽ được quyền thể hiện quan điểm, điều mà họ không thể làm trước đây”.
Dân chúng Iraq hò reo vui mừng khi Mỷ đổ quân vào Iraq. Họ đã kéo sập tượng Saddam Hussein xuống. Người Việt chống cộng còn vui mừng hơn, vì tin rằng sau Iraq sẽ đến Việt Nam. Nhiều cựu sĩ quan cao cấp của VNCH đã tình nguyện đi đánh Iraq và hiến kế để bình định Iraq, nhưng Mỹ bỏ ngoài tai. Kết quả, tình trạng ở Iraq và trên thế giới ngày nay còn tệ hơn dưới thời Saddam Hussein.
MUBARAK HẾT XÀI ĐƯỢC
Ai Cập có một vị trí chiến lược rất quan trọng: đó là một quốc gia liên lục địa, sở hữu một cầu nối lục địa giữa Châu Phi và Châu Á (Eo đất Suez), và một cầu nối giữa Biển Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương thông qua Biển Đỏ (đường thuỷ Kênh Suez). Do đó, Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương đã tìm mọi cách để nắm chặt, không cho Ai Cập rơi vào tay Liên Sô hay nhóm Hồi Giáo quá khích.
Ba năm sau cuộc chiến tranh 6 ngày năm 1967, trong đó Ai Cập mất bán đảo Sinai vào tay Israel, Nasser chết và được Anwar Sadat kế vị. Sadat bỏ liên minh với Liên Sô để quay sang Hoa Kỳ, trục xuất các cố vấn Liên Xô năm 1972. Năm 1979, Sadat ký hiệp ước hòa bình với Israel để đổi lấy bán đảo Sinai.
Sadat bị những kẻ theo tôn giáo chính thống ám sát năm 1981. Hosni Mubarak lên làm Tổng Thống Cộng Hoà A Rập Ai Cập từ 14.10.1981. Ông lãnh đạo đảng cầm quyền Dân Chủ Quốc Gia, chiếm 90% số ghế trong Quốc hội. Hiến pháp phân quyền hành pháp giữa tổng thống và thủ tướng, nhưng trong thực tế quyền hành nằm trong tay Mubarak. Ông thường ra tranh cử trong những cuộc bầu cử chỉ có một ứng cử viên duy nhất. Cuộc bầu cử gần nhất được tổ chức vào tháng 9 năm 2005. Đó là nhiệm kỳ thứ 5 của ông.
Đối với Mỹ, những chuyện đó không có gì quan trọng. Vấn đề quan trọng là Mubarak phải ổn định được tình hình ở Ai Cập, một nước lớn trong vùng với khoảng 80 triệu dân. Ai Cập có một hệ thống quân đội lớn nhất trong khối A Rập với khoảng 450.000 quân phục vụ thường xuyên và Tổng Thống Mubarak là tư lệnh tối cao. Đó là một công cụ để bảo vệ quyền lực.
Mubarak cũng đã làm cho nền kinh tế Ai Cập đi lên. Tuy Ai Cập không có nhiều tài nguyên dầu lửa nhưng lại có một trữ lượng lớn khí đốt được khai thác bán qua các nước Âu Châu. Kênh đào Suez, một thông lộ rất quan trọng, đã đem lại cho Ai Cập một số thu trên 3 tỷ USD mỗi năm.
Những đền đài và di tích cổ, đặc biệt là các Kim Tự Tháp, cũng như gần đây việc mở mang các khu nghỉ mát bên bờ biển Hồng Hải đã giúp du lịch phát triển mạnh, mỗi năm có trên 10 triệu du khách, đem lại thu nhập $11 tỷ USD hàng năm.
Hoa Kỳ đã yểm trợ Ai Cập tối đa. Ai Cập là nước nhận viện trợ lớn thứ ba của Hoa Kỳ từ sau chiến tranh Iraq (khoảng 2,2 tỷ USD mỗi năm). Do đó, sau một thời gian dài ngưng trệ, nền kinh tế Ai Cập đã phát triển nhanh từ đầu thiên niên kỷ này và theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), Ai Cập là một trong những nước trên thế giới đạt thành công tốt đẹp nhất về cải cách kinh tế.
Tuy nhiên, do chế độ ưu đãi những thành phần có liên hệ đến giới lãnh đạo và đảng cầm quyền, tình trạng tham nhũng lan tràn, lợi tức hầu hết chỉ tập trung vào tay một thiểu số, không được phân phối rộng rãi tới quảng đại quần chúng, nên khoảng 40% dân chúng Ai Cập đã phải sống với mức thu nhập dưới $2 mỗi ngày. Chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, chỉ số chứng khoán của Ai Cập giảm 54% so với năm 2008, thị trường chứng khoán Dubai xuống 72,4%.
Với tình trạng như trên, sự bất mãn ngày càng dâng lên và được các phe đối lập khai thác. Mubarak lại càng ngày càng già yếu, không còn khả năng lãnh đạo đất nước nên Mỹ đã chuẩn bị thay thế ông từ nhiều năm qua, khi thấy Mubarak có dự định tiếp tục lãnh đạo Ai Cập thêm một nhiệm kỳ thứ sáu.
CIA NHÚNG TAY VÀO
Vào mùa hè năm 2010 vừa qua CIA đã đưa ra một tài liệu nói rằng ông Mubarak đang mắc chứng bệnh ung thư dạ dày và tụy rất nặng và có thể ông không thể sống được đến kỳ bầu cử năm 2011.
Trên tờ The Daily Telegraph của Anh trong số ra ngày 5.2.2011, dưới đầu đề “Egypt protests: America's secret backing for rebel leaders behind uprising”, ba tác giả Tim Ross, Matthew Moore và Steven Swinford đã tiết lộ rằng chính phủ Mỹ đã bí mật hậu thuẫn cho các thành phần lãnh đạo đứng đàng sau cuộc nổi dậy ở Ai Cập để chuẩn bị thay đổi chế độ từ vài năm nay. Tài liệu này được biên soạn dựa vào các công điện về ngoại giao do Wikileaks tung ra.
Theo tài liệu, tòa Đại Sứ Mỹ ở Cairo đã giúp một nhân vật tranh đấu trẻ sang New York tham dự một cuộc hội thảo do Mỹ tổ chức, trong khi tìm cách che giấu danh tánh người này để không bị an ninh Ai Cập bắt giữ, nhưng bên ngoài Hoa Kỳ vẫn ca ngợi ông Mubarak như một đồng minh quan trọng ở Trung Đông.
Trong một công điện ngoại giao mật, gởi cho Ngoại trưởng Mỹ ở Washington hôm 30.12.2008, bà Margaret Scobey, Đại sứ Mỹ ở Cairo, cho hay các nhóm đối lập đang chuẩn bị các kế hoạch cho việc “thay đổi chế độ” xảy ra trước ngày có cuộc bầu cử tổng thống, dự trù diễn ra vào tháng 9 năm 2011. Một tu chính hiến pháp sẽ chuyển đổi từ chế độ hiện tại sang thể chế dân chủ nghị viện, với một tổng thống có ít quyền hơn và một thủ tướng cùng quốc hội có nhiều quyền hạn,
LỆNH TỪ WASHINGTON
Hôm 25.1.2011, hàng nghìn người xuống đường tại Cairo, thủ đô Ai Cập, hô to khẩu hiệu đòi Tổng thống Mubarak, người đã cầm quyền từ 30 năm qua phải từ chức. Cảnh sát đã đụng độ với những người biểu tình, khiến ít nhất 3 người thiệt mạng. Cuộc biểu tình kéo dài sang những ngày tiếp theo và càng ngày càng dữ dội.
Ngày 1.2.2011, gần ba tiếng sau khi Tổng Thống Hosni Mubarak xuất hiện trên truyền hình quốc gia ở Cairo tuyên bố không từ chức, từ Toà Bạch Ốc, Tổng Thống Obama tuyên bố ông tin rằng "đây là thời điểm để Ai Cập chuyển giao quyền lực hòa bình." Ông nói: "Tôi tin rằng một cuộc chuyển giao trong trật tự phải diễn ra trong hòa bình và phải bắt đầu ngay bây giờ,"
Sau đó, ông nói với những người biểu tình: "Nhân dân Ai Cập và các bạn thanh niên Ai Cập, chúng tôi đã nghe được tiếng nói của các bạn, nguyện vọng của các bạn."
Ngày 5.2.2011, Tổng Thống Obama kêu gọi "việc chuyển giao quyền lực một cách trật tự cần khởi đầu sớm". Ông muốn thấy Tổng Thống Mubarak "theo đuổi quyết định đúng đắn".
Hôm 6.2.2011, khi nói chuyện trên đài truyền hình Fox News, Tổng thống Obama nói: "Người dân Ai Cập muốn có tự do, họ muốn có bầu cử tự do và công bằng, muốn có một chính phủ đại diện cho họ, bởi thế chúng tôi cho rằng cần bắt đầu quá trình chuyển giao ngay từ bây giờ". Ông nói thêm rằng Hoa Kỳ sẽ không ép buộc ông Mubarak điều gì mà chỉ khuyên ông là "đã tới lúc ông cần bắt đầu thay đổi trong nước".
Ngày 9.2.2011, Ngoại trưởng Ai Cập Ahmed Aboul Gheit đã đến Washington gặp Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hilary Clinton để bàn về những vấn đề quan trọng giữa Ai Cập và Hoa Kỳ. Trong cuộc phỏng vấn của đài PBS NewsHour, Ngoại Trưởng Gheit nói rằng ông ta giận dữ về những thông điệp “mập mờ” trước đây của Hoa Kỳ về Ai Cập. Ông cho rằng những lời tuyên bố kêu gọi thay đổi ngay lập tức là không có lợi và bất chấp những sự tế nhị của tình hình Ai Cập. Nhưng theo ông, những thông điệp của Washington bây giờ đã tốt hơn rồi bởi vì Hoa Kỳ đã hiểu rằng cuộc thay đổi đột ngột sẽ đưa đến hổn loạn.
Ngày 10.2.2010, khi về lại Cairo, Ngoại trưởng Gheit lại nói với phóng viên Margaret Warner rằng tốt hơn là Hoa Kỳ nên khuyến khích Ai Cập trong những thay đổi của họ hơn là áp đặt ý muốn của mình.
Có lẽ đã có một sự đồng ý giữa Ngoại Trưởng Ai Cập và Ngoại Trưởng Hoa Kỳ tại Washington, nên ngày 11.2.2011, Tổng Thống Mubarak đã tuyên bố từ chức và trao quyền lại cho Hội Đồng Quân Đội Tối Cao.
Ngay sau đó, trong một cuộc họp báo, Tổng Thống Obama đã đề cao vai trò và thái độ trách nhiệm của quân đội Ai Cập trong “tiến trình dân chủ hóa” đất nước. Ông nói vì quyền lợi kinh tế và chiến lược, Hoa Kỳ có kế hoạch làm việc chặt chẽ với quân đội Ai Cập để bảo đảm ổn định tại Trung Đông.
Ngày 12.1.2011, Tổng Thống Obama tuyên bố việc tổng thống Hosni Mubarak từ chức đánh dấu sự khởi đầu của quá trình chuyển tiếp đến nền dân chủ tại Ai Cập, nhưng đó chưa không phải là điểm kết thúc. Ông cảnh báo "những ngày tháng khó khăn đang đợi phía trước". Ông kêu gọi quân đội Ai Cập hủy bỏ đạo luật ban hành tình trạng khẩn cấp mang tính trừng phạt người dân, sửa đổi hiến pháp, chuẩn bị cho bầu cử tự do và công bằng.
Ngày 13.2.2011, Quân Đội tuyên bố giải tán quốc hội, hủy bỏ hiến pháp và cam kết sẽ chuyển giao quyền hành cho một chính thể dân sự.
Những lời tuyên bố nói trên của Tổng Thống Obama được coi là những mệnh lệnh và đã được các nhà chức trách Ai Cập tuân hành.
AI SẼ THAY MUBARAK?
Sau khi lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Hoa Kỳ đã đưa Tướng Dương Văn Minh và ông Nguyễn Ngọc Thơ lên làm chính phủ trái độn, rồi để cho tình hình trở nên ngày càng xấu đi, sau đó sai Tướng Trần Thiện Khiêm, Tư Lệnh Quân Đoàn 3, làm “chỉnh lý”, và đưa Tướng Nguyễn Khánh lên làm Quốc Trưởng bù nhìn, còn Trần Thiện Khiêm làm Thủ Tướng nắm thực quyền. Nhưng tình hình lại xẩy ra không như Hoa Kỳ muốn.
Trước hết, Tướng Khánh không muốn làm Quốc Trưởng bù nhìn, đã đẩy Tướng Khiêm đi và nắm toàn quyền, gây ra những rối loạn. Ngoài ra, các kiêu binh Phật Giáo tưởng họ đã lật đổ được chính phủ Ngô Đình Diệm, nên nhảy ra xưng hùng xưng bá. Theo báo cáo của CIA, Phật Giáo đã chống bất cứ chính phủ nào không do Phật Giáo lãnh đạo, không cần biết chính phủ đó do ai cầm đầu và có chủ trương như thế nào. Hoa Kỳ phải dùng Tướng Nguyễn Cao Kỳ và Tướng Nguyễn Ngọc Loan để dẹp loạn, rồi mới đưa Tướng Nguyễn Văn Thiệu lên và Tướng Trần Thiện Khiêm về. Tiến trình này kéo dài từ 1964 đến 1967.
Sau Mubarak, ai sẽ là Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm ở Ai Cập?
Bây giờ Washington đang xào bài, nên rất khó đoán được, nhưng chắc chắn sẽ rất căm go như ở VNCH trước đây. Nhiều nguời tin rằng Mỹ sẽ đưa giới quân sự trở lại để ổn định tình hình.
Ngoài việc chọn tổng thống, việc phân chia các ghế cho các nhóm trong quốc hội cũng là một vấn đề gay cấn. Điều mà Hoa Kỳ và các nước Tây phưong quan tâm nhất là vai trò của nhóm Huynh Đệ Hồi Giáo (Muslim Brotherhood). Đây là nhóm Hồi Giáo mạnh nhất trong khối A Rập hiện nay, được Hassan al-Banna thành lập từ năm 1928 tại Ai Cập. Khẩu hiệu của nhóm là "Hồi Giáo là giải pháp” (Islam is the solution). Trong thời gia qua, nhóm này không đi theo nhóm Hồi Giáo chủ trương khủng bố và có thái độ ôn hoà trước các biến cố chính trị, nhưng bên trong vẫn tìm cách giành quyền thống lãnh đất nước Ai Cập. Trong cuộc chính biến vừa qua, Abdel Monem Abul Fotoh, lãnh tụ của nhóm Huynh Đệ Hồi Giáo, tuyên bố tổ chức của ông sẽ không phản đối việc Phó Tổng thống Omar Suleiman đảm nhiệm quyền Tổng thống Ai Cập để tổ chức các cuộc bầu cử. Nếu để nhóm Huynh Đệ Hồi Giáo chiếm đa số trong quốc hội, đó là một mối nguy lớn.
Dưới thời VNCH, CIA và Tổng Thống Thiệu đã để cho Tỉnh Trưởng An Giang và Tỉnh Trưởng Khánh Hoà phụ trách điều chỉnh kết quả bầu cử Tổng Thống và Thượng Nghị Viện, sau này Nguyễn Văn Ngân liên lạc với các tỉnh để điều chỉnh kết quả bầu cử Hạ Nghị Viện. Nhưng đó là thời chiến. Không hiểu CIA sẽ xào bài như thế nào ở Ai Cập.
HẬU CHẤN AI CẬP
Năm 1990 – 1991, khi chế độ cộng sản tại Liên Sô và các nước Đông Âu sụp đổ, nhiều người tiên đoán Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Hàn sẽ sụp đổ theo. Nhưng chuyện đó đã không xẩy ra vì ba nước này không nằm trong quỷ đạo hay vùng địa chấn của Liên Sô. Việt Nam và Bắc Hàn nằm trong quỷ đạo và vùng địa chấn của Trung Quốc. Khi nào Trung Quốc sụp đổ hai nước này sẽ bị kéo theo.
Hiện nay địa chấn phát ra tại Tunisia và Ai Cập đang lan rộng ra là trong khối Ai Cập và Bắc Phi. Chưa ai đoán được nó sẽ gây ra tình trạng như thế nào. Nhiều người Việt chống cộng muốn nó lan tới Việt Nam, nhưng giữa ước muốn và hiện thực cách nhau quá xa.
Vấn đề đem lại dân chủ cho Ai Cập mà Tổng Thống Obama đã hô hào, cũng chỉ là chiêu bài, vì các lý do sau đây:
1.- Không bao giờ có dân chủ ở các nước theo Hồi Giáo như các nước thuộc khối A Rập và Bắc Phi, mặc dầu có bầu cử tự do. Ở những nơi đó kinh Koral và luật Shariah sẽ nghiền nát dân chủ. Một thí dụ cụ thể: Khi Mỹ đổ quân vào Afghanistan và Iraq đã hứa đem lại dân chủ tại hai nước này rồi từ đó cho lan rộng ra các cùng xung quanh, nhưng nay đã thất bại hoàn toàn. Mới đây Hội Đồng Giám Mục Canada và các nhà lãnh đạo Khối NATO đã lên tiếng kêu gọi chính phủ Afghanistan trả tự do cho ông Musa Sayed, một cựu tín đồ Hồi giáo làm việc cho Tổ Chức Hồng Thập Tự bị kết án tử hình vì đã trở lại Kitô giáo. Nhưng ông Jamal Khan, một viên chức của bộ tư pháp Afghanistan, đã trả lời rằng "bản án dành cho một người từ bỏ Hồi giáo để cải đạo sang một tôn giáo khác là tử hình và sẽ không có bất cứ luật trừ nào".
2.- Ở tại các nước A Rập và Bắc Phi còn có quá nhiều người nghèo và có kiến thức thấp. Những ngưởi nghèo chỉ lo cơm áo, còn những người có kiến thức thấp thường suy nghĩ và hành động theo cảm tính, và hay xuẩn động. Một thí dụ cụ thể: Tại nước Mỹ này, một nước có tự do dân chủ nhất thế giới, nhưng một số người Việt sống tại Mỹ đã không chấp nhận quyền tự do dân chủ. Họ bắt những người khác phải suy nghĩ và hành động như họ, làm khác đi đều bị kết án là tay sai cộng sản hay đặc công cộng sản nắm vùng, Trong khi đòi CSVN thực hiện tự do dân chủ, họ lại vạch ra một “lề đường bên phải” để bắt mọi người phải theo. LHQ biết rõ điều đó nên đang cố gắng nâng cao mức sống và kiến thức ở các nước chập tiến lên, nhưng đó là chuyện của thế kỷ.
3.- Roger Hardy, một phân tích gia về Trung Đông, nói rằng Tây phương trong nhiều thập kỷ vẫn coi ổn định ở khu vực này là ưu tiên cao hơn so với các quyền dân chủ và quyền con người.
Đợi xem Mỹ xào bài như thế nào để các nước trong khối A Rập và Bắc Phi không rơi vào những ngày đen tối.
Ngày 15.2.2011
Lữ Giang
Lữ Giang
“Nhân danh Thượng Đế nhân từ và hay thương xót, thưa đồng bào, “Trong giai đoạn rất khó khăn mà Ai Cập đang trải qua, Tổng Thống Hosni Mubarak đã quyết định rời bỏ chức vụ Tổng Thống của nước Cộng Hoà và giao cho Hội Đồng Quân Đội Tối Cao quản trị công việc của đất nước. “Xin Thượng đế phù hộ mọi người.” Đó là thông điệp ngắn mà Phó Tổng Thống Ai Cập Omar Suleiman đã đọc trên đài truyền hình quốc gia Ai Cập ngày 11.2.2011, loan báo Tổng thống Mubarak từ chức,
QUẦN CHÚNG CHỈ LÀ CÔNG CỤ
Trong hầu hết các biến cố chính trị thường được gọi là “cách mạng”, quần chúng bao giờ cũng chỉ là công cụ, những tay xào bài chuyên nghiệp đứng đàng sau hậu trường mới là những người làm chủ và lèo lái tình hình.
Việt Nam cũng đã trải qua hai cuộc “cách mạng” lớn đưa đất nước vào những ngày đen tối, đó là cuộc “cách mạng tháng 8” năm 1945 và cuộc “cách mạng ngày 1.1,1963”. Trong cả hai trường hợp, quần chúng đều bị biến thành công cụ.
Ngày 17.8.1945 Tổng Hội Công Chức tổ chức một cuộc biểu tình lớn trước Nhà Hát Lớn ở Hà Nội để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim. Vì đã chuẩn bị trước, Việt Minh cho khoảng 100 cán bộ trà trộn trong đám biểu tình, trương biểu ngữ của Mặt Trận Việt Minh lên, bắn mấy phát súng, và nhảy lên cướp máy phóng thanh, biến cuộc biểu tình thành cuộc diễn hành của Việt Minh.
VNQDĐ và Đại Việt có số đảng viên gấp muời ngàn lần Việt Minh, nhưng không biết phải làm gì. Lê Khang đòi đem quân cuớp chính quyền thì bị bác bỏ và bảo phải đợi quân đội Đồng Minh tới quyết định. Do đó Việt Minh đã cướp chính quyền và đưa Việt Nam vào cuộc chiến kéo dài 30 năm. Lúc đầu dân chúng tưởng Việt Minh là tổ chức giàng độc lập nên đi theo.
Trong cuộc đảo chánh 1963, các tài liệu được tiết lộ cho biết nhân vụ Phật giáo xẩy ra vào tháng 5 ở Huế, cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã đưa William Kohlmann, một điệp viên quen biết với Trần Quang Thuận khi còn ở London, đến Sài Gòn phối hợp với Trần Quang Thuận và Đại Đức Thích Đức Nghiệp thiêu Hoà Thượng Quảng Đức, rồi cho các ký giả CIA chụp hình và gởi đi khắp thế giới, tạo ra sự xúc động mạnh.
Sau đó, CIA xúi Tướng Trần Thiện Khiêm, một điệp viên khác của CIA, triệu tập các tướng lãnh lại và bàn nhau vào gặp ông Diệm, yêu cầu ban hành tình trạng khẩn cấp, ra lệnh lục xét các chùa, đưa các sư từ các tỉnh ra khỏi Sài Gòn để ổn định tình hình, nếu không làm như vậy quân đội sẽ không chịu chiến đấu. Ông Diệm không đọc kỹ Tam Quốc Chí nên bị trúng kế của CIA, ký vào bản dự thảo Sắc Lệnh ban hành tình trạng khẩn cấp do các tướng lãnh đệ trình và ra lệnh lục xét một số chùa. Washington dựa vào biến cố đó, gởi công điện khẩn cấp ra lệnh cho Đại Sứ Cabot Lodge tổ chức đảo chánh lật đổ ông Diệm. Hai nhân vật chính thực hiện kế hoạch này lại là hai người được ông Diệm tin cẩn nhất, nhưng lại là hai tay chân bộ hạ của CIA, đó là Tướng Trần Thiện Khiêm và Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu!
Cuộc đảo chánh thành công, dân chúng reo hò. Ngày 1 tháng 11 được biến thành ngày Quốc Khánh và đường Công Lý được đổi thành đường Cách Mạng 1 tháng 11. Nhưng miền Nam bị mất.
Năm 2003, Tổng Thống Bush đã tạo ra những lý do giả tạo, đưa quân đổ bộ vào Iraq bất chấp luật pháp quốc tế để khai thác dầu lửa và đấu thầu quốc phòng. Ông tuyên bố rằng giải phóng đất nước Iraq sẽ làm cho thế giới này yên bình hơn và không có Saddam Hussein, cuộc sống của người dân Iraq sẽ tốt đẹp hơn. Ông nói: “Tự do là một điều tuyệt vời. Khi có tự do, người Iraq sẽ được quyền thể hiện quan điểm, điều mà họ không thể làm trước đây”.
Dân chúng Iraq hò reo vui mừng khi Mỷ đổ quân vào Iraq. Họ đã kéo sập tượng Saddam Hussein xuống. Người Việt chống cộng còn vui mừng hơn, vì tin rằng sau Iraq sẽ đến Việt Nam. Nhiều cựu sĩ quan cao cấp của VNCH đã tình nguyện đi đánh Iraq và hiến kế để bình định Iraq, nhưng Mỹ bỏ ngoài tai. Kết quả, tình trạng ở Iraq và trên thế giới ngày nay còn tệ hơn dưới thời Saddam Hussein.
MUBARAK HẾT XÀI ĐƯỢC
Ai Cập có một vị trí chiến lược rất quan trọng: đó là một quốc gia liên lục địa, sở hữu một cầu nối lục địa giữa Châu Phi và Châu Á (Eo đất Suez), và một cầu nối giữa Biển Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương thông qua Biển Đỏ (đường thuỷ Kênh Suez). Do đó, Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương đã tìm mọi cách để nắm chặt, không cho Ai Cập rơi vào tay Liên Sô hay nhóm Hồi Giáo quá khích.
Ba năm sau cuộc chiến tranh 6 ngày năm 1967, trong đó Ai Cập mất bán đảo Sinai vào tay Israel, Nasser chết và được Anwar Sadat kế vị. Sadat bỏ liên minh với Liên Sô để quay sang Hoa Kỳ, trục xuất các cố vấn Liên Xô năm 1972. Năm 1979, Sadat ký hiệp ước hòa bình với Israel để đổi lấy bán đảo Sinai.
Sadat bị những kẻ theo tôn giáo chính thống ám sát năm 1981. Hosni Mubarak lên làm Tổng Thống Cộng Hoà A Rập Ai Cập từ 14.10.1981. Ông lãnh đạo đảng cầm quyền Dân Chủ Quốc Gia, chiếm 90% số ghế trong Quốc hội. Hiến pháp phân quyền hành pháp giữa tổng thống và thủ tướng, nhưng trong thực tế quyền hành nằm trong tay Mubarak. Ông thường ra tranh cử trong những cuộc bầu cử chỉ có một ứng cử viên duy nhất. Cuộc bầu cử gần nhất được tổ chức vào tháng 9 năm 2005. Đó là nhiệm kỳ thứ 5 của ông.
Đối với Mỹ, những chuyện đó không có gì quan trọng. Vấn đề quan trọng là Mubarak phải ổn định được tình hình ở Ai Cập, một nước lớn trong vùng với khoảng 80 triệu dân. Ai Cập có một hệ thống quân đội lớn nhất trong khối A Rập với khoảng 450.000 quân phục vụ thường xuyên và Tổng Thống Mubarak là tư lệnh tối cao. Đó là một công cụ để bảo vệ quyền lực.
Mubarak cũng đã làm cho nền kinh tế Ai Cập đi lên. Tuy Ai Cập không có nhiều tài nguyên dầu lửa nhưng lại có một trữ lượng lớn khí đốt được khai thác bán qua các nước Âu Châu. Kênh đào Suez, một thông lộ rất quan trọng, đã đem lại cho Ai Cập một số thu trên 3 tỷ USD mỗi năm.
Những đền đài và di tích cổ, đặc biệt là các Kim Tự Tháp, cũng như gần đây việc mở mang các khu nghỉ mát bên bờ biển Hồng Hải đã giúp du lịch phát triển mạnh, mỗi năm có trên 10 triệu du khách, đem lại thu nhập $11 tỷ USD hàng năm.
Hoa Kỳ đã yểm trợ Ai Cập tối đa. Ai Cập là nước nhận viện trợ lớn thứ ba của Hoa Kỳ từ sau chiến tranh Iraq (khoảng 2,2 tỷ USD mỗi năm). Do đó, sau một thời gian dài ngưng trệ, nền kinh tế Ai Cập đã phát triển nhanh từ đầu thiên niên kỷ này và theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), Ai Cập là một trong những nước trên thế giới đạt thành công tốt đẹp nhất về cải cách kinh tế.
Tuy nhiên, do chế độ ưu đãi những thành phần có liên hệ đến giới lãnh đạo và đảng cầm quyền, tình trạng tham nhũng lan tràn, lợi tức hầu hết chỉ tập trung vào tay một thiểu số, không được phân phối rộng rãi tới quảng đại quần chúng, nên khoảng 40% dân chúng Ai Cập đã phải sống với mức thu nhập dưới $2 mỗi ngày. Chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, chỉ số chứng khoán của Ai Cập giảm 54% so với năm 2008, thị trường chứng khoán Dubai xuống 72,4%.
Với tình trạng như trên, sự bất mãn ngày càng dâng lên và được các phe đối lập khai thác. Mubarak lại càng ngày càng già yếu, không còn khả năng lãnh đạo đất nước nên Mỹ đã chuẩn bị thay thế ông từ nhiều năm qua, khi thấy Mubarak có dự định tiếp tục lãnh đạo Ai Cập thêm một nhiệm kỳ thứ sáu.
CIA NHÚNG TAY VÀO
Vào mùa hè năm 2010 vừa qua CIA đã đưa ra một tài liệu nói rằng ông Mubarak đang mắc chứng bệnh ung thư dạ dày và tụy rất nặng và có thể ông không thể sống được đến kỳ bầu cử năm 2011.
Trên tờ The Daily Telegraph của Anh trong số ra ngày 5.2.2011, dưới đầu đề “Egypt protests: America's secret backing for rebel leaders behind uprising”, ba tác giả Tim Ross, Matthew Moore và Steven Swinford đã tiết lộ rằng chính phủ Mỹ đã bí mật hậu thuẫn cho các thành phần lãnh đạo đứng đàng sau cuộc nổi dậy ở Ai Cập để chuẩn bị thay đổi chế độ từ vài năm nay. Tài liệu này được biên soạn dựa vào các công điện về ngoại giao do Wikileaks tung ra.
Theo tài liệu, tòa Đại Sứ Mỹ ở Cairo đã giúp một nhân vật tranh đấu trẻ sang New York tham dự một cuộc hội thảo do Mỹ tổ chức, trong khi tìm cách che giấu danh tánh người này để không bị an ninh Ai Cập bắt giữ, nhưng bên ngoài Hoa Kỳ vẫn ca ngợi ông Mubarak như một đồng minh quan trọng ở Trung Đông.
Trong một công điện ngoại giao mật, gởi cho Ngoại trưởng Mỹ ở Washington hôm 30.12.2008, bà Margaret Scobey, Đại sứ Mỹ ở Cairo, cho hay các nhóm đối lập đang chuẩn bị các kế hoạch cho việc “thay đổi chế độ” xảy ra trước ngày có cuộc bầu cử tổng thống, dự trù diễn ra vào tháng 9 năm 2011. Một tu chính hiến pháp sẽ chuyển đổi từ chế độ hiện tại sang thể chế dân chủ nghị viện, với một tổng thống có ít quyền hơn và một thủ tướng cùng quốc hội có nhiều quyền hạn,
LỆNH TỪ WASHINGTON
Hôm 25.1.2011, hàng nghìn người xuống đường tại Cairo, thủ đô Ai Cập, hô to khẩu hiệu đòi Tổng thống Mubarak, người đã cầm quyền từ 30 năm qua phải từ chức. Cảnh sát đã đụng độ với những người biểu tình, khiến ít nhất 3 người thiệt mạng. Cuộc biểu tình kéo dài sang những ngày tiếp theo và càng ngày càng dữ dội.
Ngày 1.2.2011, gần ba tiếng sau khi Tổng Thống Hosni Mubarak xuất hiện trên truyền hình quốc gia ở Cairo tuyên bố không từ chức, từ Toà Bạch Ốc, Tổng Thống Obama tuyên bố ông tin rằng "đây là thời điểm để Ai Cập chuyển giao quyền lực hòa bình." Ông nói: "Tôi tin rằng một cuộc chuyển giao trong trật tự phải diễn ra trong hòa bình và phải bắt đầu ngay bây giờ,"
Sau đó, ông nói với những người biểu tình: "Nhân dân Ai Cập và các bạn thanh niên Ai Cập, chúng tôi đã nghe được tiếng nói của các bạn, nguyện vọng của các bạn."
Ngày 5.2.2011, Tổng Thống Obama kêu gọi "việc chuyển giao quyền lực một cách trật tự cần khởi đầu sớm". Ông muốn thấy Tổng Thống Mubarak "theo đuổi quyết định đúng đắn".
Hôm 6.2.2011, khi nói chuyện trên đài truyền hình Fox News, Tổng thống Obama nói: "Người dân Ai Cập muốn có tự do, họ muốn có bầu cử tự do và công bằng, muốn có một chính phủ đại diện cho họ, bởi thế chúng tôi cho rằng cần bắt đầu quá trình chuyển giao ngay từ bây giờ". Ông nói thêm rằng Hoa Kỳ sẽ không ép buộc ông Mubarak điều gì mà chỉ khuyên ông là "đã tới lúc ông cần bắt đầu thay đổi trong nước".
Ngày 9.2.2011, Ngoại trưởng Ai Cập Ahmed Aboul Gheit đã đến Washington gặp Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hilary Clinton để bàn về những vấn đề quan trọng giữa Ai Cập và Hoa Kỳ. Trong cuộc phỏng vấn của đài PBS NewsHour, Ngoại Trưởng Gheit nói rằng ông ta giận dữ về những thông điệp “mập mờ” trước đây của Hoa Kỳ về Ai Cập. Ông cho rằng những lời tuyên bố kêu gọi thay đổi ngay lập tức là không có lợi và bất chấp những sự tế nhị của tình hình Ai Cập. Nhưng theo ông, những thông điệp của Washington bây giờ đã tốt hơn rồi bởi vì Hoa Kỳ đã hiểu rằng cuộc thay đổi đột ngột sẽ đưa đến hổn loạn.
Ngày 10.2.2010, khi về lại Cairo, Ngoại trưởng Gheit lại nói với phóng viên Margaret Warner rằng tốt hơn là Hoa Kỳ nên khuyến khích Ai Cập trong những thay đổi của họ hơn là áp đặt ý muốn của mình.
Có lẽ đã có một sự đồng ý giữa Ngoại Trưởng Ai Cập và Ngoại Trưởng Hoa Kỳ tại Washington, nên ngày 11.2.2011, Tổng Thống Mubarak đã tuyên bố từ chức và trao quyền lại cho Hội Đồng Quân Đội Tối Cao.
Ngay sau đó, trong một cuộc họp báo, Tổng Thống Obama đã đề cao vai trò và thái độ trách nhiệm của quân đội Ai Cập trong “tiến trình dân chủ hóa” đất nước. Ông nói vì quyền lợi kinh tế và chiến lược, Hoa Kỳ có kế hoạch làm việc chặt chẽ với quân đội Ai Cập để bảo đảm ổn định tại Trung Đông.
Ngày 12.1.2011, Tổng Thống Obama tuyên bố việc tổng thống Hosni Mubarak từ chức đánh dấu sự khởi đầu của quá trình chuyển tiếp đến nền dân chủ tại Ai Cập, nhưng đó chưa không phải là điểm kết thúc. Ông cảnh báo "những ngày tháng khó khăn đang đợi phía trước". Ông kêu gọi quân đội Ai Cập hủy bỏ đạo luật ban hành tình trạng khẩn cấp mang tính trừng phạt người dân, sửa đổi hiến pháp, chuẩn bị cho bầu cử tự do và công bằng.
Ngày 13.2.2011, Quân Đội tuyên bố giải tán quốc hội, hủy bỏ hiến pháp và cam kết sẽ chuyển giao quyền hành cho một chính thể dân sự.
Những lời tuyên bố nói trên của Tổng Thống Obama được coi là những mệnh lệnh và đã được các nhà chức trách Ai Cập tuân hành.
AI SẼ THAY MUBARAK?
Sau khi lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Hoa Kỳ đã đưa Tướng Dương Văn Minh và ông Nguyễn Ngọc Thơ lên làm chính phủ trái độn, rồi để cho tình hình trở nên ngày càng xấu đi, sau đó sai Tướng Trần Thiện Khiêm, Tư Lệnh Quân Đoàn 3, làm “chỉnh lý”, và đưa Tướng Nguyễn Khánh lên làm Quốc Trưởng bù nhìn, còn Trần Thiện Khiêm làm Thủ Tướng nắm thực quyền. Nhưng tình hình lại xẩy ra không như Hoa Kỳ muốn.
Trước hết, Tướng Khánh không muốn làm Quốc Trưởng bù nhìn, đã đẩy Tướng Khiêm đi và nắm toàn quyền, gây ra những rối loạn. Ngoài ra, các kiêu binh Phật Giáo tưởng họ đã lật đổ được chính phủ Ngô Đình Diệm, nên nhảy ra xưng hùng xưng bá. Theo báo cáo của CIA, Phật Giáo đã chống bất cứ chính phủ nào không do Phật Giáo lãnh đạo, không cần biết chính phủ đó do ai cầm đầu và có chủ trương như thế nào. Hoa Kỳ phải dùng Tướng Nguyễn Cao Kỳ và Tướng Nguyễn Ngọc Loan để dẹp loạn, rồi mới đưa Tướng Nguyễn Văn Thiệu lên và Tướng Trần Thiện Khiêm về. Tiến trình này kéo dài từ 1964 đến 1967.
Sau Mubarak, ai sẽ là Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm ở Ai Cập?
Bây giờ Washington đang xào bài, nên rất khó đoán được, nhưng chắc chắn sẽ rất căm go như ở VNCH trước đây. Nhiều nguời tin rằng Mỹ sẽ đưa giới quân sự trở lại để ổn định tình hình.
Ngoài việc chọn tổng thống, việc phân chia các ghế cho các nhóm trong quốc hội cũng là một vấn đề gay cấn. Điều mà Hoa Kỳ và các nước Tây phưong quan tâm nhất là vai trò của nhóm Huynh Đệ Hồi Giáo (Muslim Brotherhood). Đây là nhóm Hồi Giáo mạnh nhất trong khối A Rập hiện nay, được Hassan al-Banna thành lập từ năm 1928 tại Ai Cập. Khẩu hiệu của nhóm là "Hồi Giáo là giải pháp” (Islam is the solution). Trong thời gia qua, nhóm này không đi theo nhóm Hồi Giáo chủ trương khủng bố và có thái độ ôn hoà trước các biến cố chính trị, nhưng bên trong vẫn tìm cách giành quyền thống lãnh đất nước Ai Cập. Trong cuộc chính biến vừa qua, Abdel Monem Abul Fotoh, lãnh tụ của nhóm Huynh Đệ Hồi Giáo, tuyên bố tổ chức của ông sẽ không phản đối việc Phó Tổng thống Omar Suleiman đảm nhiệm quyền Tổng thống Ai Cập để tổ chức các cuộc bầu cử. Nếu để nhóm Huynh Đệ Hồi Giáo chiếm đa số trong quốc hội, đó là một mối nguy lớn.
Dưới thời VNCH, CIA và Tổng Thống Thiệu đã để cho Tỉnh Trưởng An Giang và Tỉnh Trưởng Khánh Hoà phụ trách điều chỉnh kết quả bầu cử Tổng Thống và Thượng Nghị Viện, sau này Nguyễn Văn Ngân liên lạc với các tỉnh để điều chỉnh kết quả bầu cử Hạ Nghị Viện. Nhưng đó là thời chiến. Không hiểu CIA sẽ xào bài như thế nào ở Ai Cập.
HẬU CHẤN AI CẬP
Năm 1990 – 1991, khi chế độ cộng sản tại Liên Sô và các nước Đông Âu sụp đổ, nhiều người tiên đoán Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Hàn sẽ sụp đổ theo. Nhưng chuyện đó đã không xẩy ra vì ba nước này không nằm trong quỷ đạo hay vùng địa chấn của Liên Sô. Việt Nam và Bắc Hàn nằm trong quỷ đạo và vùng địa chấn của Trung Quốc. Khi nào Trung Quốc sụp đổ hai nước này sẽ bị kéo theo.
Hiện nay địa chấn phát ra tại Tunisia và Ai Cập đang lan rộng ra là trong khối Ai Cập và Bắc Phi. Chưa ai đoán được nó sẽ gây ra tình trạng như thế nào. Nhiều người Việt chống cộng muốn nó lan tới Việt Nam, nhưng giữa ước muốn và hiện thực cách nhau quá xa.
Vấn đề đem lại dân chủ cho Ai Cập mà Tổng Thống Obama đã hô hào, cũng chỉ là chiêu bài, vì các lý do sau đây:
1.- Không bao giờ có dân chủ ở các nước theo Hồi Giáo như các nước thuộc khối A Rập và Bắc Phi, mặc dầu có bầu cử tự do. Ở những nơi đó kinh Koral và luật Shariah sẽ nghiền nát dân chủ. Một thí dụ cụ thể: Khi Mỹ đổ quân vào Afghanistan và Iraq đã hứa đem lại dân chủ tại hai nước này rồi từ đó cho lan rộng ra các cùng xung quanh, nhưng nay đã thất bại hoàn toàn. Mới đây Hội Đồng Giám Mục Canada và các nhà lãnh đạo Khối NATO đã lên tiếng kêu gọi chính phủ Afghanistan trả tự do cho ông Musa Sayed, một cựu tín đồ Hồi giáo làm việc cho Tổ Chức Hồng Thập Tự bị kết án tử hình vì đã trở lại Kitô giáo. Nhưng ông Jamal Khan, một viên chức của bộ tư pháp Afghanistan, đã trả lời rằng "bản án dành cho một người từ bỏ Hồi giáo để cải đạo sang một tôn giáo khác là tử hình và sẽ không có bất cứ luật trừ nào".
2.- Ở tại các nước A Rập và Bắc Phi còn có quá nhiều người nghèo và có kiến thức thấp. Những ngưởi nghèo chỉ lo cơm áo, còn những người có kiến thức thấp thường suy nghĩ và hành động theo cảm tính, và hay xuẩn động. Một thí dụ cụ thể: Tại nước Mỹ này, một nước có tự do dân chủ nhất thế giới, nhưng một số người Việt sống tại Mỹ đã không chấp nhận quyền tự do dân chủ. Họ bắt những người khác phải suy nghĩ và hành động như họ, làm khác đi đều bị kết án là tay sai cộng sản hay đặc công cộng sản nắm vùng, Trong khi đòi CSVN thực hiện tự do dân chủ, họ lại vạch ra một “lề đường bên phải” để bắt mọi người phải theo. LHQ biết rõ điều đó nên đang cố gắng nâng cao mức sống và kiến thức ở các nước chập tiến lên, nhưng đó là chuyện của thế kỷ.
3.- Roger Hardy, một phân tích gia về Trung Đông, nói rằng Tây phương trong nhiều thập kỷ vẫn coi ổn định ở khu vực này là ưu tiên cao hơn so với các quyền dân chủ và quyền con người.
Đợi xem Mỹ xào bài như thế nào để các nước trong khối A Rập và Bắc Phi không rơi vào những ngày đen tối.
Ngày 15.2.2011
Lữ Giang
Bài học cho những chế độ độc tài
Nguyễn Văn Huy
Cái gì phải đến đã đến. Sau 30 năm độc quyền lãnh đạo Ai Cập, ngày 11/2/2011, tổng thống Hosni Mubarak của Ai Cập đã phải từ chức trước áp lực của đường phố. Trước đó một tháng, ngày 14/1/2011, tổng thống Zine el-Albidine Ben Ali của Tunisia cũng đã phải trốn chạy trước sự nổi dậy của quần chúng sau 23 năm cai trị đất nước với bàn tay sắt. Cuộc cách mạng hoa lài tại Tunisia không ngờ đã tạo ra một ảnh hưởng dây chuyền khuyến khích quần chúng Ả Rập tại khắp nơi vượt lên nỗi sợ xuống đường đòi tự do, cơm áo và công lý. Sau Tunisia và Ai Cập, sẽ đến lượt các quốc gia Ả Rập độc tài khác : Algeria, Yemen, Syria...
Làn sóng nổi dậy của nhân dân Tunisia
Các chính quyền độc tài Ả Rập đã gần như bất lực trong việc đánh dẹp những cuộc nổi dậy này vì không có lãnh đạo. Không riêng gì tại Tunisia và Ai Cập, các chế độ độc tài đều tin rằng tiêu diệt đối lập là biện pháp an toàn nhất cho họ khi nắm chính quyền. Ít có chế độ độc tài nào tin rằng sẽ có ngày họ bị mất chính quyền, do đó không hề nghĩ đến việc cho phép đối lập hoạt động hay thương lượng với đối lập để tìm một giải pháp chung cho đất nước hay một lối thoát an toàn.
Chính vì không biết thương lượng với ai để nhường quyền lãnh đạo, tổng thống Ben Ali đã phải bỏ chạy để tránh bị công lý đường phố xét xử. Cũng chính vì không biết thương lượng với ai, tổng thống Mubarak phải trao quyền lãnh đạo cho quân đội để rút lui vào bóng tối. Hậu quả của sự thiếu vắng một đối lập ôn hòa, phe cánh của tổng thống Ben Ali còn kẹt lại Tunisia đang là nạn nhân của những cuộc trả thù báo oán của đường phố. Trong những ngày sắp tới, gia đình tổng thống Mubarak cũng sẽ khó trả lời trước công lý về những tài sản mà họ đã sở hữu khi nắm chính quyền.
Thấy trước mối nguy không có đối lập này, các chính quyền độc tài Ả Rập khác tại Algeria, Yemen và Syria đang tìm cách xoa dịu sự nổi giận của quần chúng bằng cách tung tiền để tăng lương công chức, tài trợ giá cả, cho ra đời những tổ chức đối lập cuội để xoa dịu sự phẫn nộ của quần chúng. Nhưng những gian trá này đã không che mắt được ai, quần chúng càng nổi giận hơn trước những màn bịp bợm này. Một tổ chức đối lập lương thiện không thể được thành lập qua một cái búng tay, đó là cả một quá trình đấu tranh có lý luận và có tổ chức với những gương mặt lương thiện được quần chúng và dư luận quốc tế biết đến.
Tại Tunisia, vì không có một tổ chức đối lập nào có tầm vóc, cuộc tranh giành vào những chức vụ quan trọng trong chính quyền đã diễn ra gần như vô trật tự, không ai chịu nhường ai và cũng không ai phục tùng ai. Tunisia đang ở trong tình trạng vô chính phủ. Tại Ai Cập càng nguy hiểm hơn, tổ chức đối lập duy nhất có tổ chức là nhóm Huynh Đệ Hồi giáo (Muslim Brotherhood), đây là một tổ chức khủng bố đã từng ám sát và đặt bom giết người Ai Cập và bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Trong khi đó, những trí thức có tên tuổi như Mohamed El Baradei được cả thế giới biết tới nhưng không có tổ chức nên không thể tranh thủ được sự ủng hộ của quần chúng. Sinh hoạt chính trị tại Ai Cập trong những ngày sắp tới sẽ rất gay go giữa một bên là nhóm Hồi giáo quá khích có tổ chức và một bên là những trí thức không có tổ chức. Nếu xã hội Ai Cập tiếp tục bất ổn, chắc chắn quân đội sẽ nắm lại quyền hành như Mubarak đã từng làm trước đây 30 năm.
Bài học thứ nhất mà các chế độ độc tài đương quyền cần rút ra là hãy gấp rút cho phép các tổ chức đối lập tự do hoạt động trong nước. Chỉ qua những tổ chức đối lập lương thiện, những thương lượng về chuyển giao quyền hành sẽ không đổ máu và diễn ra trong hòa bình và tinh thần hòa giải dân tộc. Phải trả tự do cho những tù nhân chính trị và những nhà đối lập. Đây là một bảo đảm trước dư luận quốc tế đồng thời cũng là một bảo đảm cho chính mình khi sa cơ thất thế. Giờ cáo chung của các chế độ độc tài đang điểm, sau các chế độ độc tài Ả Rập và Hồi giáo sẽ đến lượt các chế độ độc tài Châu Á, trong đó có Việt Nam.
Một đặc điểm khác của các chế độ độc tài là sự giàu có tột bực của những người cầm quyền. Tài sản của mỗi người phải tính bằng tỷ Mỹ kim. Trong suốt 30 năm cầm quyền, tài sản của gia đình tổng thống Mubarak được giới quan sát thời cuộc ước tính từ 40 đến 70 tỷ USD, gấp 10 lần tài sản của tổng thống Ben Ali, khoảng 4 tỷ USD. Trước những tài sản kết sù này, quần chúng nào có thể làm ngơ ? Sự giàu có của những người này thách đố sự nghèo khó chung của cả một dân tộc. Hiện nay một phong trào "săn lùng phù thủy", tức những người thân cận với các chính quyền Ben Ali và Mubarak, đang diễn ra khắp nơi. Tại Tunisia và Ai Cập, quần chúng bất mãn đang truy lùng và tịch thu tài sản bất chính của những người đã từng hợp tác với chế độ độc tài. Cuộc săn lùng này cũng được diễn ra trên toàn thế giới, các quốc gia đã từng ủng hộ những chế độ độc tài này, như Thụy Sĩ và các quốc gia trong Liên Hiệp Châu Âu, đang lập danh sách tài sản và tài khoảng ngân hàng của phe cánh Ben Ali và Mubarak để trao lại cho nhân dân Tunisia và Ai Cập.
Đó là chưa kể những cuộc trả thù báo oán giữa những nạn nhân và những người đã từng đàn áp và tước đoạt tài sản của họ trước kia, đó là những cấp chính quyền, công an và cảnh sát, viên chức thuế quan địa phương. Tài sản của những người này không do đồng lương tạo ra mà do tham nhũng. Hiện nay hàng ngàn người Tunisia đã dùng tàu thuyền vượt thoát sang các quốc gia Châu Âu xin tị nạn vì sợ báo thù trả oán. Không biết trong những ngày sắp tới những tay chân của Mubarak tại Ai Cập sẽ xin tị nạn tại đâu?
Bài học thứ hai cần rút ra là trả lại tự do cho xã hội dân sự nhằm xoa dịu sự bực tức của quần chúng, nhất là giới trẻ. Đặc điểm chung của các chế độ độc tài là tuổi trẻ chiếm hơn 50% dân số, đa số đều không có công ăn việc làm mặc dù tốt nghiệp với những bằng cấp cao. Các chính quyền độc tài phải tỏ ra cương quyết trong việc bài trừ tham nhũng, căn bệnh ung thư đang tấn công vào chế độ. Sự thù ghét của dân chúng đối với chế độ phần lớn nhắm vào những quan chức tham nhũng.
Những cuộc nổi dậy của người Ả Rập cũng là bài học đối với chính quyền cộng sản Việt Nam. Bối cảnh xã hội Việt Nam không khác gì các quốc gia Ả Rập: vật giá leo thang, sự giàu có của các cấp cầm quyền thách đố sự nghèo khó chung của cả dân tộc, các viên chức chính quyền đều tham nhũng và đại đa số thanh niên không có công ăn việc làm. Trả lại tự do cho xã hội dân sự, chấp nhận sự hình thành các tổ chức đối lập và tự do truyền thông là lối thoát an toàn cho chính chế độ.
Nguyễn Văn Huy
Cái gì phải đến đã đến. Sau 30 năm độc quyền lãnh đạo Ai Cập, ngày 11/2/2011, tổng thống Hosni Mubarak của Ai Cập đã phải từ chức trước áp lực của đường phố. Trước đó một tháng, ngày 14/1/2011, tổng thống Zine el-Albidine Ben Ali của Tunisia cũng đã phải trốn chạy trước sự nổi dậy của quần chúng sau 23 năm cai trị đất nước với bàn tay sắt. Cuộc cách mạng hoa lài tại Tunisia không ngờ đã tạo ra một ảnh hưởng dây chuyền khuyến khích quần chúng Ả Rập tại khắp nơi vượt lên nỗi sợ xuống đường đòi tự do, cơm áo và công lý. Sau Tunisia và Ai Cập, sẽ đến lượt các quốc gia Ả Rập độc tài khác : Algeria, Yemen, Syria...
Làn sóng nổi dậy của nhân dân Tunisia
Các chính quyền độc tài Ả Rập đã gần như bất lực trong việc đánh dẹp những cuộc nổi dậy này vì không có lãnh đạo. Không riêng gì tại Tunisia và Ai Cập, các chế độ độc tài đều tin rằng tiêu diệt đối lập là biện pháp an toàn nhất cho họ khi nắm chính quyền. Ít có chế độ độc tài nào tin rằng sẽ có ngày họ bị mất chính quyền, do đó không hề nghĩ đến việc cho phép đối lập hoạt động hay thương lượng với đối lập để tìm một giải pháp chung cho đất nước hay một lối thoát an toàn.
Chính vì không biết thương lượng với ai để nhường quyền lãnh đạo, tổng thống Ben Ali đã phải bỏ chạy để tránh bị công lý đường phố xét xử. Cũng chính vì không biết thương lượng với ai, tổng thống Mubarak phải trao quyền lãnh đạo cho quân đội để rút lui vào bóng tối. Hậu quả của sự thiếu vắng một đối lập ôn hòa, phe cánh của tổng thống Ben Ali còn kẹt lại Tunisia đang là nạn nhân của những cuộc trả thù báo oán của đường phố. Trong những ngày sắp tới, gia đình tổng thống Mubarak cũng sẽ khó trả lời trước công lý về những tài sản mà họ đã sở hữu khi nắm chính quyền.
Thấy trước mối nguy không có đối lập này, các chính quyền độc tài Ả Rập khác tại Algeria, Yemen và Syria đang tìm cách xoa dịu sự nổi giận của quần chúng bằng cách tung tiền để tăng lương công chức, tài trợ giá cả, cho ra đời những tổ chức đối lập cuội để xoa dịu sự phẫn nộ của quần chúng. Nhưng những gian trá này đã không che mắt được ai, quần chúng càng nổi giận hơn trước những màn bịp bợm này. Một tổ chức đối lập lương thiện không thể được thành lập qua một cái búng tay, đó là cả một quá trình đấu tranh có lý luận và có tổ chức với những gương mặt lương thiện được quần chúng và dư luận quốc tế biết đến.
Tại Tunisia, vì không có một tổ chức đối lập nào có tầm vóc, cuộc tranh giành vào những chức vụ quan trọng trong chính quyền đã diễn ra gần như vô trật tự, không ai chịu nhường ai và cũng không ai phục tùng ai. Tunisia đang ở trong tình trạng vô chính phủ. Tại Ai Cập càng nguy hiểm hơn, tổ chức đối lập duy nhất có tổ chức là nhóm Huynh Đệ Hồi giáo (Muslim Brotherhood), đây là một tổ chức khủng bố đã từng ám sát và đặt bom giết người Ai Cập và bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Trong khi đó, những trí thức có tên tuổi như Mohamed El Baradei được cả thế giới biết tới nhưng không có tổ chức nên không thể tranh thủ được sự ủng hộ của quần chúng. Sinh hoạt chính trị tại Ai Cập trong những ngày sắp tới sẽ rất gay go giữa một bên là nhóm Hồi giáo quá khích có tổ chức và một bên là những trí thức không có tổ chức. Nếu xã hội Ai Cập tiếp tục bất ổn, chắc chắn quân đội sẽ nắm lại quyền hành như Mubarak đã từng làm trước đây 30 năm.
Bài học thứ nhất mà các chế độ độc tài đương quyền cần rút ra là hãy gấp rút cho phép các tổ chức đối lập tự do hoạt động trong nước. Chỉ qua những tổ chức đối lập lương thiện, những thương lượng về chuyển giao quyền hành sẽ không đổ máu và diễn ra trong hòa bình và tinh thần hòa giải dân tộc. Phải trả tự do cho những tù nhân chính trị và những nhà đối lập. Đây là một bảo đảm trước dư luận quốc tế đồng thời cũng là một bảo đảm cho chính mình khi sa cơ thất thế. Giờ cáo chung của các chế độ độc tài đang điểm, sau các chế độ độc tài Ả Rập và Hồi giáo sẽ đến lượt các chế độ độc tài Châu Á, trong đó có Việt Nam.
Một đặc điểm khác của các chế độ độc tài là sự giàu có tột bực của những người cầm quyền. Tài sản của mỗi người phải tính bằng tỷ Mỹ kim. Trong suốt 30 năm cầm quyền, tài sản của gia đình tổng thống Mubarak được giới quan sát thời cuộc ước tính từ 40 đến 70 tỷ USD, gấp 10 lần tài sản của tổng thống Ben Ali, khoảng 4 tỷ USD. Trước những tài sản kết sù này, quần chúng nào có thể làm ngơ ? Sự giàu có của những người này thách đố sự nghèo khó chung của cả một dân tộc. Hiện nay một phong trào "săn lùng phù thủy", tức những người thân cận với các chính quyền Ben Ali và Mubarak, đang diễn ra khắp nơi. Tại Tunisia và Ai Cập, quần chúng bất mãn đang truy lùng và tịch thu tài sản bất chính của những người đã từng hợp tác với chế độ độc tài. Cuộc săn lùng này cũng được diễn ra trên toàn thế giới, các quốc gia đã từng ủng hộ những chế độ độc tài này, như Thụy Sĩ và các quốc gia trong Liên Hiệp Châu Âu, đang lập danh sách tài sản và tài khoảng ngân hàng của phe cánh Ben Ali và Mubarak để trao lại cho nhân dân Tunisia và Ai Cập.
Đó là chưa kể những cuộc trả thù báo oán giữa những nạn nhân và những người đã từng đàn áp và tước đoạt tài sản của họ trước kia, đó là những cấp chính quyền, công an và cảnh sát, viên chức thuế quan địa phương. Tài sản của những người này không do đồng lương tạo ra mà do tham nhũng. Hiện nay hàng ngàn người Tunisia đã dùng tàu thuyền vượt thoát sang các quốc gia Châu Âu xin tị nạn vì sợ báo thù trả oán. Không biết trong những ngày sắp tới những tay chân của Mubarak tại Ai Cập sẽ xin tị nạn tại đâu?
Bài học thứ hai cần rút ra là trả lại tự do cho xã hội dân sự nhằm xoa dịu sự bực tức của quần chúng, nhất là giới trẻ. Đặc điểm chung của các chế độ độc tài là tuổi trẻ chiếm hơn 50% dân số, đa số đều không có công ăn việc làm mặc dù tốt nghiệp với những bằng cấp cao. Các chính quyền độc tài phải tỏ ra cương quyết trong việc bài trừ tham nhũng, căn bệnh ung thư đang tấn công vào chế độ. Sự thù ghét của dân chúng đối với chế độ phần lớn nhắm vào những quan chức tham nhũng.
Những cuộc nổi dậy của người Ả Rập cũng là bài học đối với chính quyền cộng sản Việt Nam. Bối cảnh xã hội Việt Nam không khác gì các quốc gia Ả Rập: vật giá leo thang, sự giàu có của các cấp cầm quyền thách đố sự nghèo khó chung của cả dân tộc, các viên chức chính quyền đều tham nhũng và đại đa số thanh niên không có công ăn việc làm. Trả lại tự do cho xã hội dân sự, chấp nhận sự hình thành các tổ chức đối lập và tự do truyền thông là lối thoát an toàn cho chính chế độ.
Làn Sóng Dân Chủ
Trần Khải Điều chúng ta suy nghĩ và quan tâm, rằng làn sóng dân chủ có thể tràn vào Việt Nam hay không? Có vẻ như trong khi nhà nước Trung Quốc quan ngại trước các cuộc biểu tình ở Ai Cập và ra sức ngăn các bản tin liên hệ trên mạng Internet, phía báo chí quốc nội Việt Nam vẫn loan tin về Ai Cập, tuy không xem ở tầm quan trọng. Có phải Việt Nam đã có độc chiêu ngăn cản biểu tình đòi dân chủ?
Trong khi đó, các thông tấn Việt ngữ hải ngoại bày tỏ chú tâm về tình hình có thể xảy ra những cuộc biểu tình tại Việt Nam. Hay là một mồi lửa cho dân chủ. Bởi vì Ai Cập tuy là một nước độc tài, nhưng sự sụp đổ rất là bất ngờ, ngoài tầm tiên đoán của lãnh đạo Ai Cập và ngay sau đó cơ quan CIA đã nhìn nhận là không thấy trước, và bị chỉ trích nặng nề.
Mức độ quan sát về làn sóng dân chủ này tới mức Đàì VOA hôm 10-2-2011 đã có ngay một bài viết nhan đề “Lính Việt Nam sẽ theo gương Ai Cập hay Trung Quốc?” Nghĩa là, khi đối diện với làn sóng biểu tình, dù vì lý do dân chủ hay đòi cải thiện dân sinh, bộ đội Việt Nam sẽ không bắn vào dân (như lính Ai Cập) hay sẽ bắn xối xả vào dân (như lính TQ ở Thiên An Môn).
Bản tin VOA viết về quan tâm này:
“Những biến động ở Ai Cập hồi gần đây đã khiến nhiều người, đặc biệt là những người quan tâm tới triển vọng phát triển dân chủ ở Việt Nam, nêu lên câu hỏi “Khi nào Việt Nam sẽ có một phong trào xuống đường đòi dân chủ như vậy?” Một câu hỏi khác cũng không kém phần quan trọng là "Trong trường hợp xảy ra một cuộc biểu tình như cuộc biểu tình ở Cairo, liệu những người lính Việt Nam sẽ theo gương binh lính Ai Cập để không nổ súng vào người biểu tình hay họ sẽ bước theo vết xe đổ của quân đội Trung Quốc năm 1989 để dùng xe tăng súng máy bắn giết thường dân vô tội?"...”(hết trích)
Không phải là nhìn vô căn cứ. Bởi vì làn sóng dân chủ đã lan từ Tunisia sang Ai Cập, lật đổ 2 chế độ hung hãn ở vùng naỳ, rồi các cuộc biểủ tình tràn sang Yemen, Syria, Lybia, Jordan, Bahrain, Algeria... Nghĩa là, dân chủ là ước mơ lớn của nhân loại, chỉ cần một mồi lửa là sẽ bùng lên.
Nhà báo Bùi Tín trên blog riêng ở Đaì VOA, hôm Thứ Năm 17-2-2011 đã viết bài nhan đề “Khi Ai Cập bước vào thời đại dân chủ,” ghi nhận:
“Ai Cập đã chuyển mình và đang vươn dậy. Do bề thế của một nước Hồi giáo đông dân - 83 triệu - do vị trí trung tâm giao lưu ở châu Phi và Trung Đông, do bề dày lịch sử từ cổ đại với nền văn minh Ai Cập đặc sắc, sự chuyển biến của Ai Cập từ độc đoán sang dân chủ đang được toàn thế giới theo dõi chặt chẽ và bình luận sôi nổi.
Lãnh đạo Israel nhận định «một cuộc động đất đang xảy ra trong thế giới A-rập».
Một hiện tượng chấn động dây chuyền đang diễn ra rộng khắp. Nhân dân Syria rục rịch xuống đường. Đường phố Yemen bắt đầu sôi động với sinh viên, thanh niên hoan nghênh cuộc thắng lợi lịch sử ở Tunisia và Ai Cập. Algeria loan báo sắp xóa bỏ «tình trạng khẩn cấp», hạn chế quyền tự do của công dân. Vua Bahrain vội mở kho nhà nước, phát cho công dân mỗi người một ngàn đôla. Cả thế giới A-rập không còn như trước nữa.
Trước đây luận điệu thịnh hành là: thế giới Hồi giáo và thế giới phương Tây là xung khắc, không chung sống hòa bình được với nhau, dân chủ đa nguyên đa đảng với bầu cử tự do bình đẳng và minh bạch là xa lạ với nền văn minh truyền thống Hồi giáo.
Cuộc sống thực tế đã và đang trả lời. Tự do dân chủ là giá trị phổ cập toàn nhân loại, bầu cử tự do đa nguyên đa đảng theo pháp luật là nguyện vọng sâu xa của quần chúng đông đảo mọi nước, không có trường hợp ngoại lệ, không trừ một nước nào. Hạnh phúc, niềm vui sướng của nhân dân được tự do ứng cử, bầu cử, tự do lựa chọn thật sự người đại diện cho mình là một niềm hạnh phúc, niềm vui sướng luôn có tính hấp dẫn và lan tỏa không sức gì cưỡng được...”(hết trích)
Việt Nam có thể bén mồi lửa dân chủ tương tự hay không?
Một diễn biến đáng chú ý ở Đà Nẵng hôm Thứ Năm cho thấy có vẻ như sự bất mãn chế độ đã lên tới cao độ.
Trang blog Dân Làm Báo viết bài nhan đề “Tai nạn hay “tự thiêu” trước trụ sở UBND TP Đà Nẵng ?” hôm 18-2-2011, có ghi hình ảnh và một băng video cảnh được suy đoán là tự thiêu ngay trước cổng trụ sở quan quyền Đà Nẵng. Thực tế, trông băng hình video, khó nghĩ rằng đó là tai nạn. Bản tin Dân Làm Báo viết:
“Khoảng 12h30”, trưa ngày 17/02, trước trụ sở UBND TP Đà Nẵng (trên đường Bạch Đằng) bất ngờ xuất hiện một chiếc xe máy bốc cháy dữ dội, bên cạnh là thi thể nạn nhân đã cháy đen. Ngay lập tức, lực lượng công an, cơ động… được huy động nhằm phong tỏa hiện trường. Nạn nhân được xác định là anh Phan Thanh Sơn, 31 tuổi, nhà ở đường Ngô Quyền – Quận Sơn Trà, hiện là kỹ sư CNTT tại công ty cao su Đà Nẵng.
Theo ghi nhận tại hiện trường, đám cháy khiến chiếc xe chỉ còn trơ lại khung sắt, nạn nhân chết ngay tại chỗ trên vỉa hè cách chiếc xe 2m. Công tác cứu hộ và dập lửa diễn ra rất chậm chạp, lực lượng công an được huy động chủ yếu để phong tỏa hiện trường.
Tại bệnh viện và nhà riêng của nạn nhân trên đường Ngô Quyền, ít nhất có trên 20 công an mặc sắc phục túc trực xung quanh....
Nguồn tin từ bạn đọc danlambao tại Đà Nẵng cho biết, hiện dư luận tại phường An Hải Đông – nơi nạn nhân cư ngụ – đang bàn tán xôn xao về việc có khả năng đây là một vụ “tự thiêu” để phản đối việc giải phóng mặt bằng. Được biết, gia đình anh Phan Thanh Sơn đang có bất đồng với chính quyền TP xung quanh việc giải tỏa, đền bù khu đất tại Cầu Rồng.
Cũng theo nguồn tin này, trước những lời bàn tán như trên, chính quyền địa phương đã phản ứng lại bằng cách cho rằng nạn nhân Phan Thanh Sơn là người mắc bệnh tâm thần...” (http://danlambao1.wordpress.com/2011/02 ... 1%BA%B5ng/)
Báo nhà nước lúc đầu nói là tai nạn, sau lại nghe chính quyền nói là tâm thần... Và tại sao xảy ra ngay trước cổng trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Đà Nẵng, mà không công an nào ra dập tắt, và cứ cố ý để cho thiêu rụi?
Điều chúng ta còn quan tâm là: làn sóng dân chủ nên bùng phát ở đâu trước? Thí dụ, hai trung tâm biểu tình lớn ở Ai Cập là thủ đô Cairo và thành phố Alexandria. Nhưng quyết định cho chế độ Mubarak sụp đổ đã thấy là Cairo, nơi tập trung các công sở, dinh Tổng Thống, dinh Thủ Tướng, và là nơi thông tấn quốc tế dày đặc.
Trường hợp Việt Nam, có lẽ cũng tương tự, nếu làn sóng biểu tình dân chủ bùng phát. Đà Nẵng tất nhiên không thể là chủ điểm. Nếu tại Sài Gòn, cũng chưa chắc đã thành công, thậm chí ngay cả trường hợp bộ đội và công an Sài Gòn đứng về phía biểu tình, cũng có thể bị bao vây, cắt điện, cắt nước, cắt giao thông... liên tục vài tuần mà không lây lan ra Hà Nội thì cũng bế tắc. Như thế, phải là Hà Nội, nơi gia đình nào cũng có chiến binh chết trận thời nội chiến, nơi đại đa số các gia đình thuộc thành phần có công xây dựng chế độ CSVN.
Nhưng đa số tuổi trẻ Hà Nội lại có vẻ như đang lạnh nhạt, và chỉ quan tâm về kiếm tiền, hay vào xem tin về đám cưới các tài tử, diễn viên.
Thực ra,dân chủ cũng cần huấn luyện.
Một bản tin trên tờ Boston Globe ngày 13-2-2011 cho thấy tình hình Ai Cập thực ra là do một mồi lửa bất ngờ do Tổng Thống Goerge W. Bush quăng từ hồi xa xưa, và bây giờ mới ngún cháy. Chắc chắn, ông Bush cũng không ngờ rằng ông đã làm sụp đổ bạn vàng Mubarak mau chóng như thế, trong khi Bush và tất cả các quan chức Mỹ chỉ muốn diễn biến hòa bình để thúc đẩy bạn vàng dân chủ hóa -- kiểu như Đại Sứ Michael Michalak nói rằng, ưu tiên của Mỹ là giaó dục thế hệ trẻ tại VN.
Bản tin nhan đề “Bush program helped lay the groundwork in Egypt” (Chương trình của Bush đã giúp đặt nền móng tại Ai Cập).
Bản tin nói, một nỗ lực thời TT Bush để tài trợ và huấn luyện các quan sát viên bầu cử tại Ai Cập đã đóng vai chính trong phong trào lật đổ chế độ Tổng Thống Hosni Mubarak.
Chương trình này bơm nhiều triệu đôla trực tiếp cho các nhóm dân chủ, giúp đưa 13,000 thiện nguyện viên đi quan sát các cuộc bầu cử quốc hội Ai Cập hồi tháng 12-2010. Nghĩa là, chương trình từ thời Bush, nhưng nỗ lực dân chủ hóa là thời TT Barack Obama. Chính nhiều ngàn thiện nguyện viên này đã nổi giận vì nhìn thấy gian lận bầu cử, một số trở thành lãnh đaọ các cuộc biểu tình, những người khác sử dụng khả năng truyền thông và nối mạng từ chương trình huấn luyện này để tổ chức phối hợp biểu tình liên tục 18 ngaỳ.
Nhìn cho kỹ, nếu không có nỗ lực này của Bush, các cuộc biểu tình vẫn bùng nổ, nhưng sẽ thiếu phối hợp, một khả năng do nhóm thiện nguyện viên này thực hiện.
Stephen McInerney, giám đốc điều hành Project on Middle East Democracy, một tổ chức nghiên cứu bản doanh ở Washington, nói những người biểu tình sẽ vẫn xuống đường tích cực mà không cần Mỹ hỗ trợ, nhưng họ sẽ không phối hợp tổ chức khéo được.
Nói là Mỹ hỗ trợ, nhưng Mỹ là một nước đa nguyên. Trong khi CIA bắt tay chặt chẽ với Mubarak, thì các tổ chức bất vụ lợi ủng hộ dân chủ luôn luôn quan tâm lật đổ các chế độ độc tài toàn cầu.
Tình hình này cũng tương tự tại VN. Trong khi Mỹ muốn kết thân kinh tế, quân sự với VN... thì một số hội bất vụ lợi tại Mỹ, và cả các dân cử như DB Ed Royce, DB Loretta Sanchez... liên tục đòi dân chủ hóa VN, thậm chí đòi bầu cử đa đảng, có nghĩa là phảỉ xóa bỏ chế độ độc đảng CSVN.
Chỉ có sống ở Mỹ nhiều năm mới hiểu được các vận hành đa nguyên ở Mỹ. Do vậy, mồi lửa của Bush phựt cháy ngoài tiên đoán và ngoài mong muốn của CIA tại Ai Cập cũng là dễ hiểu.
Điều để quan sát bây giờ là, có một
mồi lửa nào từ chính sách hỗ trợ dân chủ của các đời Tổng Thống Mỹ đã được ném vào Việt Nam chưa, và ngọn đuốc dân chủ VN có thể bén lửa hay không, và sẽ khởi phát từ nơi nào?
Phải thấy, mồi lửa dân chủ tại Việt Nam đã được đưa vào âm ỉ tại Sài Gòn qua nhiều hình thức, như Hội Việt Mỹ, Trung Tâm Văn Hóa Lincoln... từ hơn nửa thế kỷ trước. Và từ sau này mới gài được mồi lửa vào Hà Nội, qua các học bổng do Hoa Kỳ ban cấp. Và gần đây là Internet, một cánh cửa tuyệt vời.
Vấn đề chỉ còn là, mồi lửa có sẽ bị tắt ngấm, hay là người mang mồi lửa sẽ bị bắt giam, hay là khi nào sẽ lan thành trận cháy rừng...
Trần Khải Điều chúng ta suy nghĩ và quan tâm, rằng làn sóng dân chủ có thể tràn vào Việt Nam hay không? Có vẻ như trong khi nhà nước Trung Quốc quan ngại trước các cuộc biểu tình ở Ai Cập và ra sức ngăn các bản tin liên hệ trên mạng Internet, phía báo chí quốc nội Việt Nam vẫn loan tin về Ai Cập, tuy không xem ở tầm quan trọng. Có phải Việt Nam đã có độc chiêu ngăn cản biểu tình đòi dân chủ?
Trong khi đó, các thông tấn Việt ngữ hải ngoại bày tỏ chú tâm về tình hình có thể xảy ra những cuộc biểu tình tại Việt Nam. Hay là một mồi lửa cho dân chủ. Bởi vì Ai Cập tuy là một nước độc tài, nhưng sự sụp đổ rất là bất ngờ, ngoài tầm tiên đoán của lãnh đạo Ai Cập và ngay sau đó cơ quan CIA đã nhìn nhận là không thấy trước, và bị chỉ trích nặng nề.
Mức độ quan sát về làn sóng dân chủ này tới mức Đàì VOA hôm 10-2-2011 đã có ngay một bài viết nhan đề “Lính Việt Nam sẽ theo gương Ai Cập hay Trung Quốc?” Nghĩa là, khi đối diện với làn sóng biểu tình, dù vì lý do dân chủ hay đòi cải thiện dân sinh, bộ đội Việt Nam sẽ không bắn vào dân (như lính Ai Cập) hay sẽ bắn xối xả vào dân (như lính TQ ở Thiên An Môn).
Bản tin VOA viết về quan tâm này:
“Những biến động ở Ai Cập hồi gần đây đã khiến nhiều người, đặc biệt là những người quan tâm tới triển vọng phát triển dân chủ ở Việt Nam, nêu lên câu hỏi “Khi nào Việt Nam sẽ có một phong trào xuống đường đòi dân chủ như vậy?” Một câu hỏi khác cũng không kém phần quan trọng là "Trong trường hợp xảy ra một cuộc biểu tình như cuộc biểu tình ở Cairo, liệu những người lính Việt Nam sẽ theo gương binh lính Ai Cập để không nổ súng vào người biểu tình hay họ sẽ bước theo vết xe đổ của quân đội Trung Quốc năm 1989 để dùng xe tăng súng máy bắn giết thường dân vô tội?"...”(hết trích)
Không phải là nhìn vô căn cứ. Bởi vì làn sóng dân chủ đã lan từ Tunisia sang Ai Cập, lật đổ 2 chế độ hung hãn ở vùng naỳ, rồi các cuộc biểủ tình tràn sang Yemen, Syria, Lybia, Jordan, Bahrain, Algeria... Nghĩa là, dân chủ là ước mơ lớn của nhân loại, chỉ cần một mồi lửa là sẽ bùng lên.
Nhà báo Bùi Tín trên blog riêng ở Đaì VOA, hôm Thứ Năm 17-2-2011 đã viết bài nhan đề “Khi Ai Cập bước vào thời đại dân chủ,” ghi nhận:
“Ai Cập đã chuyển mình và đang vươn dậy. Do bề thế của một nước Hồi giáo đông dân - 83 triệu - do vị trí trung tâm giao lưu ở châu Phi và Trung Đông, do bề dày lịch sử từ cổ đại với nền văn minh Ai Cập đặc sắc, sự chuyển biến của Ai Cập từ độc đoán sang dân chủ đang được toàn thế giới theo dõi chặt chẽ và bình luận sôi nổi.
Lãnh đạo Israel nhận định «một cuộc động đất đang xảy ra trong thế giới A-rập».
Một hiện tượng chấn động dây chuyền đang diễn ra rộng khắp. Nhân dân Syria rục rịch xuống đường. Đường phố Yemen bắt đầu sôi động với sinh viên, thanh niên hoan nghênh cuộc thắng lợi lịch sử ở Tunisia và Ai Cập. Algeria loan báo sắp xóa bỏ «tình trạng khẩn cấp», hạn chế quyền tự do của công dân. Vua Bahrain vội mở kho nhà nước, phát cho công dân mỗi người một ngàn đôla. Cả thế giới A-rập không còn như trước nữa.
Trước đây luận điệu thịnh hành là: thế giới Hồi giáo và thế giới phương Tây là xung khắc, không chung sống hòa bình được với nhau, dân chủ đa nguyên đa đảng với bầu cử tự do bình đẳng và minh bạch là xa lạ với nền văn minh truyền thống Hồi giáo.
Cuộc sống thực tế đã và đang trả lời. Tự do dân chủ là giá trị phổ cập toàn nhân loại, bầu cử tự do đa nguyên đa đảng theo pháp luật là nguyện vọng sâu xa của quần chúng đông đảo mọi nước, không có trường hợp ngoại lệ, không trừ một nước nào. Hạnh phúc, niềm vui sướng của nhân dân được tự do ứng cử, bầu cử, tự do lựa chọn thật sự người đại diện cho mình là một niềm hạnh phúc, niềm vui sướng luôn có tính hấp dẫn và lan tỏa không sức gì cưỡng được...”(hết trích)
Việt Nam có thể bén mồi lửa dân chủ tương tự hay không?
Một diễn biến đáng chú ý ở Đà Nẵng hôm Thứ Năm cho thấy có vẻ như sự bất mãn chế độ đã lên tới cao độ.
Trang blog Dân Làm Báo viết bài nhan đề “Tai nạn hay “tự thiêu” trước trụ sở UBND TP Đà Nẵng ?” hôm 18-2-2011, có ghi hình ảnh và một băng video cảnh được suy đoán là tự thiêu ngay trước cổng trụ sở quan quyền Đà Nẵng. Thực tế, trông băng hình video, khó nghĩ rằng đó là tai nạn. Bản tin Dân Làm Báo viết:
“Khoảng 12h30”, trưa ngày 17/02, trước trụ sở UBND TP Đà Nẵng (trên đường Bạch Đằng) bất ngờ xuất hiện một chiếc xe máy bốc cháy dữ dội, bên cạnh là thi thể nạn nhân đã cháy đen. Ngay lập tức, lực lượng công an, cơ động… được huy động nhằm phong tỏa hiện trường. Nạn nhân được xác định là anh Phan Thanh Sơn, 31 tuổi, nhà ở đường Ngô Quyền – Quận Sơn Trà, hiện là kỹ sư CNTT tại công ty cao su Đà Nẵng.
Theo ghi nhận tại hiện trường, đám cháy khiến chiếc xe chỉ còn trơ lại khung sắt, nạn nhân chết ngay tại chỗ trên vỉa hè cách chiếc xe 2m. Công tác cứu hộ và dập lửa diễn ra rất chậm chạp, lực lượng công an được huy động chủ yếu để phong tỏa hiện trường.
Tại bệnh viện và nhà riêng của nạn nhân trên đường Ngô Quyền, ít nhất có trên 20 công an mặc sắc phục túc trực xung quanh....
Nguồn tin từ bạn đọc danlambao tại Đà Nẵng cho biết, hiện dư luận tại phường An Hải Đông – nơi nạn nhân cư ngụ – đang bàn tán xôn xao về việc có khả năng đây là một vụ “tự thiêu” để phản đối việc giải phóng mặt bằng. Được biết, gia đình anh Phan Thanh Sơn đang có bất đồng với chính quyền TP xung quanh việc giải tỏa, đền bù khu đất tại Cầu Rồng.
Cũng theo nguồn tin này, trước những lời bàn tán như trên, chính quyền địa phương đã phản ứng lại bằng cách cho rằng nạn nhân Phan Thanh Sơn là người mắc bệnh tâm thần...” (http://danlambao1.wordpress.com/2011/02 ... 1%BA%B5ng/)
Báo nhà nước lúc đầu nói là tai nạn, sau lại nghe chính quyền nói là tâm thần... Và tại sao xảy ra ngay trước cổng trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Đà Nẵng, mà không công an nào ra dập tắt, và cứ cố ý để cho thiêu rụi?
Điều chúng ta còn quan tâm là: làn sóng dân chủ nên bùng phát ở đâu trước? Thí dụ, hai trung tâm biểu tình lớn ở Ai Cập là thủ đô Cairo và thành phố Alexandria. Nhưng quyết định cho chế độ Mubarak sụp đổ đã thấy là Cairo, nơi tập trung các công sở, dinh Tổng Thống, dinh Thủ Tướng, và là nơi thông tấn quốc tế dày đặc.
Trường hợp Việt Nam, có lẽ cũng tương tự, nếu làn sóng biểu tình dân chủ bùng phát. Đà Nẵng tất nhiên không thể là chủ điểm. Nếu tại Sài Gòn, cũng chưa chắc đã thành công, thậm chí ngay cả trường hợp bộ đội và công an Sài Gòn đứng về phía biểu tình, cũng có thể bị bao vây, cắt điện, cắt nước, cắt giao thông... liên tục vài tuần mà không lây lan ra Hà Nội thì cũng bế tắc. Như thế, phải là Hà Nội, nơi gia đình nào cũng có chiến binh chết trận thời nội chiến, nơi đại đa số các gia đình thuộc thành phần có công xây dựng chế độ CSVN.
Nhưng đa số tuổi trẻ Hà Nội lại có vẻ như đang lạnh nhạt, và chỉ quan tâm về kiếm tiền, hay vào xem tin về đám cưới các tài tử, diễn viên.
Thực ra,dân chủ cũng cần huấn luyện.
Một bản tin trên tờ Boston Globe ngày 13-2-2011 cho thấy tình hình Ai Cập thực ra là do một mồi lửa bất ngờ do Tổng Thống Goerge W. Bush quăng từ hồi xa xưa, và bây giờ mới ngún cháy. Chắc chắn, ông Bush cũng không ngờ rằng ông đã làm sụp đổ bạn vàng Mubarak mau chóng như thế, trong khi Bush và tất cả các quan chức Mỹ chỉ muốn diễn biến hòa bình để thúc đẩy bạn vàng dân chủ hóa -- kiểu như Đại Sứ Michael Michalak nói rằng, ưu tiên của Mỹ là giaó dục thế hệ trẻ tại VN.
Bản tin nhan đề “Bush program helped lay the groundwork in Egypt” (Chương trình của Bush đã giúp đặt nền móng tại Ai Cập).
Bản tin nói, một nỗ lực thời TT Bush để tài trợ và huấn luyện các quan sát viên bầu cử tại Ai Cập đã đóng vai chính trong phong trào lật đổ chế độ Tổng Thống Hosni Mubarak.
Chương trình này bơm nhiều triệu đôla trực tiếp cho các nhóm dân chủ, giúp đưa 13,000 thiện nguyện viên đi quan sát các cuộc bầu cử quốc hội Ai Cập hồi tháng 12-2010. Nghĩa là, chương trình từ thời Bush, nhưng nỗ lực dân chủ hóa là thời TT Barack Obama. Chính nhiều ngàn thiện nguyện viên này đã nổi giận vì nhìn thấy gian lận bầu cử, một số trở thành lãnh đaọ các cuộc biểu tình, những người khác sử dụng khả năng truyền thông và nối mạng từ chương trình huấn luyện này để tổ chức phối hợp biểu tình liên tục 18 ngaỳ.
Nhìn cho kỹ, nếu không có nỗ lực này của Bush, các cuộc biểu tình vẫn bùng nổ, nhưng sẽ thiếu phối hợp, một khả năng do nhóm thiện nguyện viên này thực hiện.
Stephen McInerney, giám đốc điều hành Project on Middle East Democracy, một tổ chức nghiên cứu bản doanh ở Washington, nói những người biểu tình sẽ vẫn xuống đường tích cực mà không cần Mỹ hỗ trợ, nhưng họ sẽ không phối hợp tổ chức khéo được.
Nói là Mỹ hỗ trợ, nhưng Mỹ là một nước đa nguyên. Trong khi CIA bắt tay chặt chẽ với Mubarak, thì các tổ chức bất vụ lợi ủng hộ dân chủ luôn luôn quan tâm lật đổ các chế độ độc tài toàn cầu.
Tình hình này cũng tương tự tại VN. Trong khi Mỹ muốn kết thân kinh tế, quân sự với VN... thì một số hội bất vụ lợi tại Mỹ, và cả các dân cử như DB Ed Royce, DB Loretta Sanchez... liên tục đòi dân chủ hóa VN, thậm chí đòi bầu cử đa đảng, có nghĩa là phảỉ xóa bỏ chế độ độc đảng CSVN.
Chỉ có sống ở Mỹ nhiều năm mới hiểu được các vận hành đa nguyên ở Mỹ. Do vậy, mồi lửa của Bush phựt cháy ngoài tiên đoán và ngoài mong muốn của CIA tại Ai Cập cũng là dễ hiểu.
Điều để quan sát bây giờ là, có một
mồi lửa nào từ chính sách hỗ trợ dân chủ của các đời Tổng Thống Mỹ đã được ném vào Việt Nam chưa, và ngọn đuốc dân chủ VN có thể bén lửa hay không, và sẽ khởi phát từ nơi nào?
Phải thấy, mồi lửa dân chủ tại Việt Nam đã được đưa vào âm ỉ tại Sài Gòn qua nhiều hình thức, như Hội Việt Mỹ, Trung Tâm Văn Hóa Lincoln... từ hơn nửa thế kỷ trước. Và từ sau này mới gài được mồi lửa vào Hà Nội, qua các học bổng do Hoa Kỳ ban cấp. Và gần đây là Internet, một cánh cửa tuyệt vời.
Vấn đề chỉ còn là, mồi lửa có sẽ bị tắt ngấm, hay là người mang mồi lửa sẽ bị bắt giam, hay là khi nào sẽ lan thành trận cháy rừng...
Còn Cách Nào Hay Hơn?
Vi Anh Các cuộc biểu tình lật đổ độc tài ở Tunisia, Ai Cập đã thành công. Mới đây hàng hai triệu người Ai cập biểu tình lại, mừng cách mạng thành công. Phong trào đang lan sang các nước Bắc Phi và Cận Đông. Cuộc nổi dậy lan đến Libya, Bahrain, Yemen, Djibouti, Jordan và Iran và bị đàn áp đẫm máu. Người dân đứng lên biểu tình, chấp nhận chết chóc, bị thương và tù đày trong hiện tại để đồng bào sống tự do, dân chủ, nhân quyền trong tương lai.
Đây là dịp cho một số ít người Việt hải ngoại chê đồng bào hải ngoại của mình thường biểu tình chống Cộng. Những người mất Việt Nam, mất gốc tỵ nạn CS này mỗi lần thấy đồng bào tay cầm quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ, ngực hay lưng đeo biểu ngữ, miệng hô to chống CS, thì tránh xa, sợ bị chụp hình, CS biết được sẽ làm khó không đi VN ăn chơi được. Thế nhưng họ dấu nỗi sợ CS của mình trong bụng bằng cách lên mặt, tỏ vẽ ưu thời mẫn thế, hiểu Mỹ hơn đồng hương ở Mỹ, trề môi chê người biểu tình, ngạo cuộc biểu tình là «chống Cộng bằng mồm». Nhưng thử hỏi không chống Cộng bằng biểu tình, không chống Cộng bằng cách bày tỏ lập trường, ý chí muốn tự do dân chủ, nhân quyền cho VN, thì chống Cộng bằng gì. Còn cách nào hay hơn ?
Các nước CS ở Đông Âu và CS ở Liên xô sụp đổ tan tành là vì cái gì - không phải do các cuộc biểu tình của dân chúng hay sao. Đâu có một người Mỹ, Pháp nào vào giúp đâu. Không có những cuộc biểu tình của dân chúng ở Ba lan, Hung gia lợi, Bảo gia Lợi, Roumanie, Đông Đức thì đâu có những cuộc cách mạng nhung, cách mạng màu sắc do dân chúng biều tình lật đổ khiến cả thế giới thán phục.
Nhứt là người Việt tỵ nạn CS ở các nước Tây Phương không dại gì nghe lời xúi dại, nói bậy của những kẻ không dám ló mặt ra biểu tình vì sợ đi biểu tình bị CS chụp hình không về VN ăn chơi được, nên chê người biểu tình, nói chán chống Cộng bằng mồm.
Chớ chống Cộng bằng võ lực à.. Đã có hai vụ án khá rõ. Người Miên bị ra toà vì vận động tiền ở Mỹ gởi về nước mua súng chống Cộng ở nước nhà. Người Lào Hmong, trong đó có Tướng Vang Pao một người từng làm việc trực tiềp cho CIA Mỹ vẫn bị truy tố vì một tội tương tự nhưng sau đó vụ án bị hủy, và Ông mới vừa qua đời. Ai cũng biết luật pháp của các nước văn minh như Mỹ không cho phép công dân tổ chức võ trang chống lại một chế độ có bang giao và giao thương với Mỹ như CS Hà nội, CS Bắc Kinh. Do vậy những tổ chức chống Cộng của VN tùy tình hình mà thực hiện nhiệm vụ chống kẻ thù Cộng sản – thường bằng hình thức đấu tranh chánh trị không bạo lực. Nhiều người ăn học ở Mỹ thắc mắc tại sao các đảng chánh trị của Việt Nam hoạt động như hội kín. Thời Thực dân Pháp nếu các đảng phái quốc gia không hoạt động như hội kín, thì Thực Dân sẽ diệt sạch. Đảng chánh trị của người Việt Quốc gia trong thời Thực dân Pháp, thời độc tài CS nếu hoạt động công khai như đảng Dân Chủ, Cộng Hoà ở Mỹ là bị tận diệt. Hoạt động khác Mỹ vì chánh đảng quốc gia của VN có mục tiêu khác chánh đảng Mỹ. Mỹ hoạt động tranh cử để thay thế nắm chánh quyền, chớ không có lật đổ chánh quyền. Còn đảng phái Việt mục đich chánh là lật đổ nhà cầm quyền Thực dân và CS.
Giáo sư chính trị học biện thuyết, chánh trị gia của Mỹ tranh cử, cạnh tranh với nhau trong tinh thần giành nắm chánh quyền không thể hiểu rõ tinh thần đấu tranh như chiến đấu của những đảng phái, những tổ chức, đoàn thể và nhân vật chiến đấu để lật đổ nhà cầm quyền độc tài như người dân Việt.
Chống nhà cầm quyền đối địch phải khôn khéo, hoạt động trong lòng địch phải linh hoạt và uyển chuyển. Phải hoạt động như một hội kín trong thời thực dân Pháp, chớ không phải như một chánh đảng hoạt động công khai, trong sáng và cởi mở được với quần chúng trong một thể chế tự do, dân chủ như Mỹ, Pháp.
Phân tích cuộc biểu tình lật đổ TT Mubarak độc tài của người dân Ai Cập ở Công Trường Tahrir cho thấy. Người biểu tình tổ chức cuộc biểu tình như một cộng hoà tự trị. Về hình thức như một tập thể, một khối không cơ cấu, không người chỉ huy, nhưng về nội dung hoạt động có tổ chức như một thực thể. Để không thể khai những thành phần nồng cốt khi bị bắt. Để tránh việc truy tố cá nhân về hình cũng như hộ nếu bị bắt.
Có một miếng đất dụng võ để có tập trung và huy động. Thường là công trường ở thành phố của đô, tỉnh, thị. Như ở Tahrir của Thủ đô Cairo và Alexandria một hải cảng lớn. Sau đó phát huy ra trước Phủ Tổng Thống và Đài Truyền hình Quốc gia khi TT Mubarak mở cuộc phản công và không từ chức.
Chọn nơi có thế cố thủ khi bị nhà cầm quyền bao vây bằng cảnh sát, xe tăng hay phe chống biểu tình. Phải có thể làm hàng rào áng ngữ và canh phòng đường ra vào. Có bất cứ vật liệu gì xài cái nấy như xác xe bị đốt, rác rưởi, hàng rào di dộng, con ngựa sắt của các cơ quan gần đó. Rất cần những vật liệu dễ đốt để nều cần làm thành hàng rào lửa.
Phải có lớp người trẻ canh phòng, tuần tra, sẵn sàng chống lại những xâm nhập bằng những đống đá gạch gom góp sẵn sàng để liện chọi kẻ tấn công. Phải có hệ thống báo động, thổi tu hít, đánh vào bất cứ cái gì bằng kim loại để tiếp cứu những chỗ phòng ngự bị địch thọc mũi nhọn mạnh. Phụ nữ Ai cập rất giỏi dùng giấy bồi nhúng nước làm thành nón an toàn tại chỗ.
Cứu thương dã chiến rất cần và phải có. Phải có dấu hiệu Hồng Thập Tự. Ở các nước Hồi Giáo như Ai cập không dùng chữ Thập tượng trưng cho Ky tô giáo nên dùng Lưỡi Liềm Đỏ. Có bác sĩ và sinh viên y dược tình nguyện là những bàn tay vàng. Ở công trường Tahrir của Ai cập, trạm cứu thương do Sherif Omar và sinh viên phụ trách chữa trị cho hàng trăm người biều tình.
Bảo đảm an ninh. Theo dõi, bao vây phe chống biểu tình xâm nhập, như cảnh sát mặc thường phục, du đảng ủng hộ người hay phe bị biểu tình. Ở Tahrir triển lãm thẻ bài của cãnh sát, bom lửa của phe chống biểu tình, dao mác, súng đạn mà phe ủng hộ TT Mubarak tấn công người biểu tình đã xài.
Liên tục tác động tinh thần người biểu tình bằng hoan hô đả dảo, diễn thuyết ngắn gọn và ca nhạc đấu tranh. Như người biểu tình Ai cập đã dùng loa tay phát liên tục và tay đờn ghi ta trứ danh Romi Essam vừa chơi vừa hát những lời ca cười ngạo Mubarak.
Cầu nguyện dùng trong biểu tình rất hữu hiệu. Ở Tunisia, Ai cập đều sử dụng. Ở VN người biểu tình đã dùng rất có kết quả, qui tụ đến một phần tư triệu người như ở Vinh.
Ăn uống, nghỉ ngơi là chuyện không thể thiếu, có sức khoẻ mới đầu tranh, dãi nắng dầm mưa, chịu sương gió lâu dài được. Bìểu tình là đấu tranh, chiến tranh chánh trị, thường là lâu dài. Ngủ ngay dưới đất, chỗ nào dựa lưng, ngã lưng được. Ở Tahrir các nữ sinh viên có sáng kiến hay, làm một cái mái chòi và lấy hiệu «Khách sạn Tự do » (Hôtel de la Liberté).
Quần chúng thường ủng hộ người biểu tình vì tinh thần binh vực kẻ yếu, yêu chuộng việc chung. Đồ ăn thức uống thì dân chúng và người biểu tình ra vào đổi phiên tiếp tế dùng không hết. Âm thầm và khéo lép kiểm soát an toàn bằng sự quen biết của người cho và hàng hoá như thức ăn họp chưa khui, trái cây còn nguyên vỏ, nước chai chưa khui. /. ( Vi Anh)
Vi Anh Các cuộc biểu tình lật đổ độc tài ở Tunisia, Ai Cập đã thành công. Mới đây hàng hai triệu người Ai cập biểu tình lại, mừng cách mạng thành công. Phong trào đang lan sang các nước Bắc Phi và Cận Đông. Cuộc nổi dậy lan đến Libya, Bahrain, Yemen, Djibouti, Jordan và Iran và bị đàn áp đẫm máu. Người dân đứng lên biểu tình, chấp nhận chết chóc, bị thương và tù đày trong hiện tại để đồng bào sống tự do, dân chủ, nhân quyền trong tương lai.
Đây là dịp cho một số ít người Việt hải ngoại chê đồng bào hải ngoại của mình thường biểu tình chống Cộng. Những người mất Việt Nam, mất gốc tỵ nạn CS này mỗi lần thấy đồng bào tay cầm quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ, ngực hay lưng đeo biểu ngữ, miệng hô to chống CS, thì tránh xa, sợ bị chụp hình, CS biết được sẽ làm khó không đi VN ăn chơi được. Thế nhưng họ dấu nỗi sợ CS của mình trong bụng bằng cách lên mặt, tỏ vẽ ưu thời mẫn thế, hiểu Mỹ hơn đồng hương ở Mỹ, trề môi chê người biểu tình, ngạo cuộc biểu tình là «chống Cộng bằng mồm». Nhưng thử hỏi không chống Cộng bằng biểu tình, không chống Cộng bằng cách bày tỏ lập trường, ý chí muốn tự do dân chủ, nhân quyền cho VN, thì chống Cộng bằng gì. Còn cách nào hay hơn ?
Các nước CS ở Đông Âu và CS ở Liên xô sụp đổ tan tành là vì cái gì - không phải do các cuộc biểu tình của dân chúng hay sao. Đâu có một người Mỹ, Pháp nào vào giúp đâu. Không có những cuộc biểu tình của dân chúng ở Ba lan, Hung gia lợi, Bảo gia Lợi, Roumanie, Đông Đức thì đâu có những cuộc cách mạng nhung, cách mạng màu sắc do dân chúng biều tình lật đổ khiến cả thế giới thán phục.
Nhứt là người Việt tỵ nạn CS ở các nước Tây Phương không dại gì nghe lời xúi dại, nói bậy của những kẻ không dám ló mặt ra biểu tình vì sợ đi biểu tình bị CS chụp hình không về VN ăn chơi được, nên chê người biểu tình, nói chán chống Cộng bằng mồm.
Chớ chống Cộng bằng võ lực à.. Đã có hai vụ án khá rõ. Người Miên bị ra toà vì vận động tiền ở Mỹ gởi về nước mua súng chống Cộng ở nước nhà. Người Lào Hmong, trong đó có Tướng Vang Pao một người từng làm việc trực tiềp cho CIA Mỹ vẫn bị truy tố vì một tội tương tự nhưng sau đó vụ án bị hủy, và Ông mới vừa qua đời. Ai cũng biết luật pháp của các nước văn minh như Mỹ không cho phép công dân tổ chức võ trang chống lại một chế độ có bang giao và giao thương với Mỹ như CS Hà nội, CS Bắc Kinh. Do vậy những tổ chức chống Cộng của VN tùy tình hình mà thực hiện nhiệm vụ chống kẻ thù Cộng sản – thường bằng hình thức đấu tranh chánh trị không bạo lực. Nhiều người ăn học ở Mỹ thắc mắc tại sao các đảng chánh trị của Việt Nam hoạt động như hội kín. Thời Thực dân Pháp nếu các đảng phái quốc gia không hoạt động như hội kín, thì Thực Dân sẽ diệt sạch. Đảng chánh trị của người Việt Quốc gia trong thời Thực dân Pháp, thời độc tài CS nếu hoạt động công khai như đảng Dân Chủ, Cộng Hoà ở Mỹ là bị tận diệt. Hoạt động khác Mỹ vì chánh đảng quốc gia của VN có mục tiêu khác chánh đảng Mỹ. Mỹ hoạt động tranh cử để thay thế nắm chánh quyền, chớ không có lật đổ chánh quyền. Còn đảng phái Việt mục đich chánh là lật đổ nhà cầm quyền Thực dân và CS.
Giáo sư chính trị học biện thuyết, chánh trị gia của Mỹ tranh cử, cạnh tranh với nhau trong tinh thần giành nắm chánh quyền không thể hiểu rõ tinh thần đấu tranh như chiến đấu của những đảng phái, những tổ chức, đoàn thể và nhân vật chiến đấu để lật đổ nhà cầm quyền độc tài như người dân Việt.
Chống nhà cầm quyền đối địch phải khôn khéo, hoạt động trong lòng địch phải linh hoạt và uyển chuyển. Phải hoạt động như một hội kín trong thời thực dân Pháp, chớ không phải như một chánh đảng hoạt động công khai, trong sáng và cởi mở được với quần chúng trong một thể chế tự do, dân chủ như Mỹ, Pháp.
Phân tích cuộc biểu tình lật đổ TT Mubarak độc tài của người dân Ai Cập ở Công Trường Tahrir cho thấy. Người biểu tình tổ chức cuộc biểu tình như một cộng hoà tự trị. Về hình thức như một tập thể, một khối không cơ cấu, không người chỉ huy, nhưng về nội dung hoạt động có tổ chức như một thực thể. Để không thể khai những thành phần nồng cốt khi bị bắt. Để tránh việc truy tố cá nhân về hình cũng như hộ nếu bị bắt.
Có một miếng đất dụng võ để có tập trung và huy động. Thường là công trường ở thành phố của đô, tỉnh, thị. Như ở Tahrir của Thủ đô Cairo và Alexandria một hải cảng lớn. Sau đó phát huy ra trước Phủ Tổng Thống và Đài Truyền hình Quốc gia khi TT Mubarak mở cuộc phản công và không từ chức.
Chọn nơi có thế cố thủ khi bị nhà cầm quyền bao vây bằng cảnh sát, xe tăng hay phe chống biểu tình. Phải có thể làm hàng rào áng ngữ và canh phòng đường ra vào. Có bất cứ vật liệu gì xài cái nấy như xác xe bị đốt, rác rưởi, hàng rào di dộng, con ngựa sắt của các cơ quan gần đó. Rất cần những vật liệu dễ đốt để nều cần làm thành hàng rào lửa.
Phải có lớp người trẻ canh phòng, tuần tra, sẵn sàng chống lại những xâm nhập bằng những đống đá gạch gom góp sẵn sàng để liện chọi kẻ tấn công. Phải có hệ thống báo động, thổi tu hít, đánh vào bất cứ cái gì bằng kim loại để tiếp cứu những chỗ phòng ngự bị địch thọc mũi nhọn mạnh. Phụ nữ Ai cập rất giỏi dùng giấy bồi nhúng nước làm thành nón an toàn tại chỗ.
Cứu thương dã chiến rất cần và phải có. Phải có dấu hiệu Hồng Thập Tự. Ở các nước Hồi Giáo như Ai cập không dùng chữ Thập tượng trưng cho Ky tô giáo nên dùng Lưỡi Liềm Đỏ. Có bác sĩ và sinh viên y dược tình nguyện là những bàn tay vàng. Ở công trường Tahrir của Ai cập, trạm cứu thương do Sherif Omar và sinh viên phụ trách chữa trị cho hàng trăm người biều tình.
Bảo đảm an ninh. Theo dõi, bao vây phe chống biểu tình xâm nhập, như cảnh sát mặc thường phục, du đảng ủng hộ người hay phe bị biểu tình. Ở Tahrir triển lãm thẻ bài của cãnh sát, bom lửa của phe chống biểu tình, dao mác, súng đạn mà phe ủng hộ TT Mubarak tấn công người biểu tình đã xài.
Liên tục tác động tinh thần người biểu tình bằng hoan hô đả dảo, diễn thuyết ngắn gọn và ca nhạc đấu tranh. Như người biểu tình Ai cập đã dùng loa tay phát liên tục và tay đờn ghi ta trứ danh Romi Essam vừa chơi vừa hát những lời ca cười ngạo Mubarak.
Cầu nguyện dùng trong biểu tình rất hữu hiệu. Ở Tunisia, Ai cập đều sử dụng. Ở VN người biểu tình đã dùng rất có kết quả, qui tụ đến một phần tư triệu người như ở Vinh.
Ăn uống, nghỉ ngơi là chuyện không thể thiếu, có sức khoẻ mới đầu tranh, dãi nắng dầm mưa, chịu sương gió lâu dài được. Bìểu tình là đấu tranh, chiến tranh chánh trị, thường là lâu dài. Ngủ ngay dưới đất, chỗ nào dựa lưng, ngã lưng được. Ở Tahrir các nữ sinh viên có sáng kiến hay, làm một cái mái chòi và lấy hiệu «Khách sạn Tự do » (Hôtel de la Liberté).
Quần chúng thường ủng hộ người biểu tình vì tinh thần binh vực kẻ yếu, yêu chuộng việc chung. Đồ ăn thức uống thì dân chúng và người biểu tình ra vào đổi phiên tiếp tế dùng không hết. Âm thầm và khéo lép kiểm soát an toàn bằng sự quen biết của người cho và hàng hoá như thức ăn họp chưa khui, trái cây còn nguyên vỏ, nước chai chưa khui. /. ( Vi Anh)
Hành trình đi qua Đông Libya:
Khoảnh khắc dễ đổ vỡ cuả Tự Do
Dân chúng vui mừng về kết quả cuả cuộc Cách Mạng. Về phía Đông, gần biên giới Ai Cập ở Tobruk, Libya rõ ràng nằm trong tay cuả các đối thủ chống nhà cầm quyền độc tài. Lực lượng an ninh đã bỏ chạy hoàn toàn. Những phóng viên, ký giả đến đầu tiên được hoan hô. "Cuối cùng rồi quý vị cũng đến, để tường thuật Sự Thật về đất nước cuả chúng tôi".
Tại biên giới Slum đi qua Ai Cập - cờ cuả Quốc Gia Libya - trước thời Gaddafi nắm quyền - tung bay phất phới - lá Cờ này cũng đại diện cho một Libya mới - sau khi Gaddafi bị lật đổ - mặc dù ngay cả khi chưa ai biết - Libya trong tương lai sẽ như thế nào. Ở cây chặn cuả biên giới - các địch thủ cuả nhà cầm quyền độc tài - bịt mặt đứng gác tại đấy, thay vì là quân đội cuả Gaddafi.
Biểu tượng quyền lực cuả Gaddafi: một cái cổng hình vòng cung to lớn ngay sau biên giới giáp với Ai Cập. Phiá đối lập đã nắm quyền tại đây, hứa hẹn: "Chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ giựt sập những biểu tượng này, không còn lâu nữa chính Gaddafi cũng sẽ sụp đổ".
Từ trong nội địa hàng ngàn người tỵ nạn chạy về hướng biên giới Ai Cập. Họ đem theo những gì mà lúc di tản họ cầm theo được. Tất cả đều sợ rằng nhà cầm quyền độc tài có thể củng cố lại và có thể tàn phá giây phút Tự Do ngắn ngủi cuả họ.
Khoảnh khắc dễ đổ vỡ cuả Tự Do
Dân chúng vui mừng về kết quả cuả cuộc Cách Mạng. Về phía Đông, gần biên giới Ai Cập ở Tobruk, Libya rõ ràng nằm trong tay cuả các đối thủ chống nhà cầm quyền độc tài. Lực lượng an ninh đã bỏ chạy hoàn toàn. Những phóng viên, ký giả đến đầu tiên được hoan hô. "Cuối cùng rồi quý vị cũng đến, để tường thuật Sự Thật về đất nước cuả chúng tôi".
Tại biên giới Slum đi qua Ai Cập - cờ cuả Quốc Gia Libya - trước thời Gaddafi nắm quyền - tung bay phất phới - lá Cờ này cũng đại diện cho một Libya mới - sau khi Gaddafi bị lật đổ - mặc dù ngay cả khi chưa ai biết - Libya trong tương lai sẽ như thế nào. Ở cây chặn cuả biên giới - các địch thủ cuả nhà cầm quyền độc tài - bịt mặt đứng gác tại đấy, thay vì là quân đội cuả Gaddafi.
Biểu tượng quyền lực cuả Gaddafi: một cái cổng hình vòng cung to lớn ngay sau biên giới giáp với Ai Cập. Phiá đối lập đã nắm quyền tại đây, hứa hẹn: "Chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ giựt sập những biểu tượng này, không còn lâu nữa chính Gaddafi cũng sẽ sụp đổ".
Từ trong nội địa hàng ngàn người tỵ nạn chạy về hướng biên giới Ai Cập. Họ đem theo những gì mà lúc di tản họ cầm theo được. Tất cả đều sợ rằng nhà cầm quyền độc tài có thể củng cố lại và có thể tàn phá giây phút Tự Do ngắn ngủi cuả họ.
