Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Thành Cát Tư Hãn Và Con Chim Ưng
Tác Giả : Margaret Jull Costa / Hoàng Ngọc Trâm (dịch)


Buổi sáng nọ, một chiến sĩ Mông-Cổ, Thành Cát Tư Hãn, và các thuộc hạ của ông đi săn. Những người cùng đi với ông mang theo cung tên, nhưng Thành Cát Tư Hãn mang theo trên cánh tay của ông con chim ưng mà ông yêu thích: nó sẽ bắt mồi nhanh hơn và chính xác hơn bất cứ mũi tên nào, bởi vì nó có thể bay vút lên trời cao và nhìn thấy mọi vật mà con người không thể thấy.

Tuy nhiên, mặc cho mọi cố gắng nhiệt tình của họ, họ vẫn không thể tìm thấy gì cả. Thất vọng, Thành Cát Tư Hãn quay lại chỗ cắm trại, và để khỏi phải cáu kỉnh với đám thuộc hạ, ông rời nhóm, cỡi ngựa đi một mình. Họ đã ở lại trong rừng lâu hơn dự tính, và Thành Cát Tư Hãn cảm thấy vô cùng mệt mỏi và khát nước. Trong sức nóng của mùa hè, mọi dòng suối đều khô cạn, và ông không tìm được nước để uống. Thế rồi, hết sức ngạc nhiên, ông nhìn thấy một dòng nước nhỏ chảy ra từ một tảng đá ngay trước mặt ông.

Ông nhấc con chim ưng ra khỏi cánh tay, và lấy ra chiếc cốc bằng bạc mà lúc nào ông cũng mang theo bên mình. Thật lâu nước mới chảy đầy cốc và, ngay lúc ông đưa chiếc cốc lên môi mình, con chim ưng bay lên và giật chiếc cốc từ tay ông rồi ném nó xuống đất.

Thành Cát Tư Hãn giận lắm, nhưng vì con chim ưng rất được ông yêu thích nên ông cho rằng có lẽ nó cũng khát nước. Ông cúi xuống nhặt chiếc cốc lên, lau sạch bụi đất, và lại hứng nước vào cốc. Lần này, khi nước chỉ mới được nửa cốc, con chim ưng lại lao đến tấn công và làm đổ nước lần nữa.

Thành Cát Tư Hãn rất quý con chim, nhưng ông không thể chấp nhận sự vô lễ như thế trong bất cứ hoàn cảnh nào; không chừng có ai đó nhìn thấy cảnh này từ xa và, sau đó, sẽ kể lại cho các chiến binh của ông rằng một nhà chinh phục vĩ đại mà lại không thể thuần hoá nổi chỉ một con chim.

Lần này, ông rút kiếm ra khỏi vỏ, nhặt chiếc cốc và lại hứng nước, một mắt canh chừng dòng nước chảy, còn mắt kia để ý đến con chim ưng. Ngay lúc ông có đủ nước trong cốc và sắp uống, thì con chim ưng lại bay lên và lao về phía ông. Thành Cát Tư Hãn, với một nhát kiếm, đâm thủng qua lồng ngực con chim.
Tuy nhiên, dòng nước kia cũng đã khô cạn; và Thành Cát Tư Hãn quyết định tìm một cái gì đó để uống, ông leo lên tảng đá để tìm nguồn suối. Ông kinh ngạc khi thấy quả nhiên có một vũng nước, và ngay giữa vũng nước đó là xác một con rắn độc nguy hiểm nhất của miền đất này. Nếu ông lỡ uống nước đó, chắc hẳn ông đã chết rồi.

Thành Cát Tư Hãn quay lại chỗ cắm trại, ôm theo xác chết của con chim ưng. Ông ra lệnh làm một bức tượng chim bằng vàng, và trên một cánh chim, ông khắc dòng chữ:

Thậm chí khi một người bạn làm điều gì đó anh không thích, người đó vẫn cứ là bạn của anh.

Và trên cánh bên kia, ông khắc dòng chữ:

Bất cứ hành động nào được thực hiện trong sự giận dữ đều là hành động đưa đến sự thất bại.

Dịch theo bản tiếng Anh của Margaret Jull Costa, “Genghis Khan and his Falcon”, trong Paulo Coelho, Like the Flowing River: Thoughts and Reflections ( Sydney : HarperCollins, 2007), 29-32.

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Image

SỰ SỐNG, MỞ ĐẦU & KẾT THÚC CỦA CON NGƯỜI


Sự sống, điểm khởi đầu và đoạn kết của đời người.

Con người không biết mình hiện hữu hay đến từ đâu nên đưa ra những câu truyện, truyền thuyết. Các triết gia và các nhà khoa học thì đưa ra các giả thuyết để giải thích về sự xuất phát và hiện hữu của con người.

Người xưa, khi chưa hiểu biết về những vận hành của vũ trụ, các vì sao, mặt trời, mặt trăng, và các hành tinh khác trong Giải Ngân Hà; hơn nữa, những thiên tai như hạn hán, mất mùa, đói kém, ôn dịch, động đất, mưa bão, lũ lụt, sấm sét, sóng thần, … kể cả những con vật hung dữ như sư tử, hùm, beo, gấu, rắn rết … , phải cúng vái như thần Mặt Trời, thần Sông, thần Núi, ông Cọp, ông Mãng Xà, cụ Rùa.

Con người thì có sinh-lão-bệnh-tử, tham-sân-si, và khổ đau. Có quan niệm cho đời-là-bể-khổ; muốn thoát khổ thì diệt tham-sân-si, và chọn con đường thoát-tục. Có quan niệm, đời là những thách đố để phấn đấu, tranh đua, vượt thắng nghịch cảnh, tai ương, khổ đau, và con đường nhập-thế. (Khi viết bài này thì xảy ra động đất với cường độ 8.9 và tsunami tại Nhật Bản. Nếu đời người chỉ là những chuỗi ngày tang thương, tai họa, khổ đau, già nua, bệnh tật, cuối cùng là cái chết thì đời người thật bất hạnh, vô nghĩa và vô lý).


Quả thế, chúng ta có các vị ngôn sứ, con Thiên Chúa là Đức Giêsu, các thánh nhân ở mỗi thời đại, sống đời hy sinh, dấn thân để cứu nhân độ thế. Các vị này tin rằng, khổ đau, hoạn nạn, nghịch cảnh, tang thương, chết chóc chỉ là tạm thời; quan trọng là cơ hội dể vượt thắng, để thăng hoa, và để ơn cứu độ của Thiên Chúa luôn được chiếu tỏa trong cuộc đời của các ngài.

Làm sao vượt thắng được những cám dỗ, tham vọng như quyền bính, của cải, ăn uống, trang phục; thay vì phục vụ, công bằng, nhân ái, chia sẻ. Đức Giêsu, một Adam mới, đã cho con người bài học vượt thắng những cám dỗ về tham-sân-si. Ngài đã là giữ, thực hành, kiện toàn, và hoàn tất giữ và sống lời Chúa để ơn cứu độ của Thiên Chúa đến với loài người.

Và quỷ không chỉ là con rắn hay mãng xà, hay hình dạng giống người, đầu có 2 sừng, người đen thui, có đuôi dài …; nhưng phải hiểu, quỷ chính là những “dối trá” để cám dỗ con người bất-tuân-phục lời Chúa dạy, như ăn “trái” bị cấm trong vườn-địa-đàng, thu góp của cải một cách bất chính, người trên đè kẻ dưới, mạnh hiếp yếu, vu vạ, cáo gian, trộm cắp, giết người …được liệt kê trong Mười Giới Răn Yêu Thương của Thiên Chúa.


Mùa chay vì thế là thời gian nhìn lại lời Chúa được tôi sống và thực hành như thế nào? Hơn hay kém hơn năm trước? Sinh động, tha thiết hay đã nguội lạnh trong lòng?

Lạy Chúa, xin cho anh em chúng con giữ và sống lời Chúa hàng ngày một cách sinh động và nóng bỏng, và luôn đặt ưu tiên hàng đầu để lời Chúa giúp chúng con vượt thắng những cám dỗ, và đứng vững trước mọi nghịch cảnh, khổ đau do sinh ly tử biệt, chiến tranh, thiên tai, bệnh tật, để ơn cứu độ của Chúa thể hiện nơi con và người anh em chúng con.


Đặng Bảo
Chúa Nhật I Mùa Chay
13-3-2011

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Nhạc Nguyễn Đức Quang, Tuổi Trẻ, Mặt Đất và Hiện Tại

Nguyễn Xuân Hoàng

Image
Đêm Du Ca Nguyễn Đức Quang tại quán Paloma Café, San Jose, chiều thứ Sáu 25 tháng Hai, 2011

1-

Cho dù các ca khúc của Nguyễn Đức Quang được viết cách đây hơn 30 năm ở trong nước, âm nhạc của anh mỗi khi vang lên bao giờ cũng thổi đến trong lòng người nghe hơi nóng của một trái tim bốc lửa.

Tuổi trẻ, đó là hơi thở trong toàn bộ những sáng tác của anh. Và quê hương là hình ảnh đẹp đẽ trong tiếng nói của anh. Các ca khúc của Nguyễn Đức Quang có thể nói tràn ngập những lời tình tự dân tộc.

Có người nói, âm nhạc của Nguyễn Đức Quang không thiếu những tình khúc. Điều này không sai, nếu tình khúc được hiểu như những khúc ca viết cho một mối tình khổ đau, chia ly, tan vỡ. Những Vì Tôi Là Linh Mục, Thiên Thu (phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên)… chỉ là một chút màu xanh trong bức tranh hoành tráng của tuổi trẻ trong âm nhạc của anh.

Nguyễn Đức Quang viết và hát và anh biết rõ anh đang viết gì, hát gì!

Vào giữa thập niên sáu mươi, bẩy mươi, trong khi Sài Gòn và các tỉnh trong nam vang lên một số những ca khúc não nuột, sướt mướt, những khúc bi ca nấc lên từ một trầm tư siêu hình, bốc hơi từ một thứ triết học trên mây,… Nguyễn Đức Quang – dù mới vừa bước vào tuổi hai mươi – đã chọn mặt đất, thực tại xã hội, dân tộc và quê hương làm hướng đi của anh.

Nhạc Nguyễn Đức Quang đã đánh thức một tuổi trẻ bị chìm đắm trong cơn mê dài của những dòng nhạc ru ngủ. Những ca khúc của anh mang tên Xin Chọn Nơi Này Làm Quê Hương, Xương Sống Ta Đã Oằn Xuống, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, Không Phải Là Lúc…, Hy Vọng Đã Vươn Lên…, Đã làm nên một Nguyễn Đức Quang khoẻ mạnh và vạm vỡ.

Không phải là lúc ngồi đặt vấn đề nữa rồi, phải dùng bàn tay mà làm cho tươi mới… Nguyễn Đức Quang đã nói như thế với những người cùng trang lứa với anh, và cái thông điệp ấy không phải chỉ riêng cho một tuổi trẻ Việt Nam. Thông điệp ấy anh đã gửi đến cho toàn thể con người Việt Nam trong một xã hội đang tan rã, trong một đất nước đang bị chia cắt từ đất đai đến tấm lòng…

Nếu xem những khúc bi ca làm đẫm ướt trái tim là bóng tối thì những ca khúc của Nguyễn Đức Quang là ánh sáng.

Nếu xem những tình khúc nức nở, nghẹn ngào là quá khứ thì nhạc của Nguyễn Đức Quang bao giờ cũng là của hiện tại.

2-

Tôi muốn nói nhạc của Nguyễn Đức Quang sẽ thuộc về hiện tại và mặt đất bao lâu mà xã hội chúng ta vẫn còn những con buôn (ở khắp nơi), còn những em bé ngồi khóc bên vĩa hè, còn những đứa trẻ lang thang ngoài đường phố, không nhà cửa, không người thân; bao lâu vẫn còn quanh quẩn đâu đây những ruồi nhặng và kên kên… thì nhạc Nguyễn Đức Quang vẫn còn tác động trên cuộc sống chúng ta.

Hãy nghe Nguyễn Đức Quang hát:

Anh ơi, mau đi coi món hàng chúng bán
Trên Bến Chương Dương,
Bên đường Tự Do, giữa nơi rừng già,
Buôn trong Chùa, Phật không tha,
thần không qua, buôn cả Thánh Chúa.
(Bọn Lái Buôn Ở Khắp Nơi)

Một lời phỉ báng đốt cháy một đời như là cây đuốc
một lời đàm tiếu cũng khiến họ hàng xa gần nhơ nhuốc
vậy mà một nước có mỗi ngày hàng trăm tờ tin tức
toàn lời nhục nhã mắng nhiếc phẩm bình chê bai không dứt
đó anh!
Xem đây quê hương tôi một thùng rác lớn
…
Nơi đây đang vây quanh một đàn ruồi xanh
Đàn ruồi xanh
ruồi xanh….
(Ruồi và Kên Kên)

Nhưng nhạc Nguyễn Đức Quang không chỉ đưa ra những mặt tiêu cực của cuộc sống. Nhạc của anh còn chứa đựng một tình yêu tràn trề về quê hương và hy vọng cho những ngày tới. Đó là những khúc hoan ca Xin Chọn Nơi Này Làm Quê Hương, Bầu Trời Quê Hương Ta, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ… cho thấy một Nguyễn Đức Quang tích cực trước cuộc sống:

Này người yêu, người yêu tôi ơi,
Bên kia sông là ánh mặt trời
Này người yêu người yêu anh hỡi,
Bên kia đời cỏ hoa đan lối…
(Bên Kia Sông – Thơ My Sơn)

Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền
Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến
Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn, tràn nước mắt
Hy vọng đã vươn lên như làn tên
Đang rực lên trong màn đêm….
(Hy vọng Đã Vươn Lên)

Và một trong những ca khúc đã làm Nguyễn Đức Quang trở nên người của quần chúng, của đám đông, có lẽ là Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ. Ở ca khúc này, âm nhạc của Quang như một cơn lũ cuốn phăng đi mọi rác rưới, phá tan đi xích xiềng, đốt cháy đi ô nhục….

Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn
đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm
đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang…
(Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ)

Tôi hiểu âm nhạc của Nguyễn Đức Quang phải gắn liền với xã hội, con người, quê hương, đất nước của chúng ta. Âm nhạc của anh phải được đập theo nhịp đập của những trái tim sôi nổi của một tuổi trẻ không bằng lòng với hiện tại. Âm nhạc của anh phải được vang lên trên vĩa hè thành phố từ Bắc chí Nam, vang lên trên các sân trường đại học, trên cánh đồng, trong khu rừng bập bùng ánh lửa, ở những nơi mà đồng bào ta cần những bàn tay, những cánh tay… Có thể nói nhạc của Nguyễn Đức Quang không thích hợp trong không khí của một phòng trà, nơi mà những ly cà phê đắng, những mịt mù khói thuốc và hơi rượu cay đốt cháy một đời tuổi trẻ….

Như tên một ca khúc của anh, nhạc của Nguyễn Đức Quang là những tiếng rống của những đàn bò:
“Sao chúng tôi phải làm mãi thân bò sát, trườn mình đi trong vũng tối mất tương lai?
Sao chúng tôi phải làm mãi loài lạc đà, mang niềm đau của một người nô lệ già?...”
(Tiếng Rống Đàn Bò)

Nguyễn Đức Quang không phải là người nói nhiều. Anh tin người và yêu đời.
Trong những năm ở Quận Cam, chúng tôi từng có những buổi sáng thứ Sáu ngồi bên nhau trong tiệm ăn có tên Spires ở góc đường McFadden-Brookhurst – và lúc đó tôi thấy một Nguyễn Đức Quang hoạt bát khi anh nói về quê hương, xã hội và âm nhạc. Tôi nói, nhạc của anh chưa mất tính hiện tại, nhạc của anh vẫn còn nguyên vẹn tính chất thời sự của nó khi được vang lên trên đường phố Việt Nam hiện tại.

Tôi cho rằng sở dĩ nhạc của Quang đi vào trái tim người trẻ dễ dàng và mạnh mẽ như vậy bởi vì nhạc của anh đi thẳng từ một trái tim lọc qua một khối óc tinh nhạy. Nguyễn Đức Quang suy nghĩ trên lời nhạc trước khi ghi lại những suy nghĩ ấy bằng âm thanh. Và cũng có thể ngược lại. Tôi nhớ có lần nhạc sĩ Phạm Duy nói với tôi: Nếu Lê Uyên Phương viết bằng da thịt thì Nguyễn Đức Quang viết bằng lý tưởng. Tôi không hiểu nhận định ấy của Phạm Duy đã gây cho Lê Uyên Phương và Nguyễn Đức Quang những suy nghĩ gì? Tôi chỉ có thể lập lại một điều: Nhạc của Nguyễn Đức Quang trước hết thuộc về Mặt Đất và Hiện Tại.

Là học trò của nhạc sĩ Lê Thương, nhưng âm nhạc của Nguyễn Đức Quang là một kết hợp kỳ lạ của ba dòng sông: âm hưởng của Nga qua những khúc dân ca, như Hò Kéo Gỗ Trên Sông Volga [lời Phạm Duy], những bài nhạc Do Thái [He-Sha-Luz] sáng tác cho những kibbutz, và sau cùng cốt lõi của nó chính là dân ca Việt Nam.

Những buổi sáng thứ Sáu, từ quán ăn Spires trong thị xã Garden Grove, California, chúng tôi đã hình thành một tình bạn không bằng lời nói. Cũng như những dấu lặng trong âm nhạc, sự im lặng trong tình bạn chính là một thứ ngôn ngữ chứa nhiều ý nghĩa nhất.

Tôi thích nhạc Nguyễn Đức Quang, nhưng có thể tôi còn thích anh nhiều hơn ở nhân cách của anh.

3-

Bắt chước một nhà nghiên cứu phê bình văn học, chúng ta có thể nói: Nhân vật trung tâm của âm nhạc là người nhạc sĩ, nhưng sự phát triển của âm nhạc tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác. Đó là tài năng và nhân cách. Tài năng là cái trời cho, chỉ có thể bồi đắp chứ không thể đào tạo. Nhưng nhân cách thì ai cũng cần phải có. Đôi khi nhân cách còn quan trọng hơn cả tài năng. Và người ta chỉ thật sự có nhân cách khi biết sống vì những lẽ phải lớn, biết giữ được lòng trong sáng, và biết trung thực trước mỗi thử thách của cuộc sống. Không có nhân cách thì sẽ hoặc ngông nghênh vô lối, hoặc khúm núm xu thời….

Nguyễn Đức Quang, hơn là một nhạc sĩ tài năng, anh là một con người nhân cách.

Điều đó làm âm nhạc anh lớn hơn cái chiều cao nó vốn có.
Điều đó làm cho người ta càng quý Nguyễn Đức Quang hơn và yêu âm nhạc của anh nhiều hơn.[NXH]

Phần lớn những ý tưởng trong bài viết này đã là tựa cho tập nhạc Nguyễn Đức Quang Dưới Ánh Mặt Trời, xuất bản vào tháng Tám 1995.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Người Nhật luôn sẵn sàng cho động đất như thế nào

Đình Nguyễn
Nhật Bản thường xuyên hứng chịu động đất mạnh nhưng tổn thất về người thường thấp hơn so với các nơi khác, do nước này có lịch sử sống chung với địa chấn và người dân luôn sẵn sàng ứng phó thảm hoạ.


Chính người Nhật đã sinh ra từ sóng thần (tsunami - sóng ở bến cảng) và có hàng trăm lần những cơn sóng có sức tàn phá cực mạnh này được ghi lại trong lịch sử của họ.


Học sinh Nhật thường xuyên được luyện tập kỹ năng đối phó với động đất như chui xuống gầm bàn khi có địa chấn. Ảnh: AP

Một trận động đất ngoài khơi năm 1707 gây ra sóng thần đánh vào đảo Shikoku, khiến vài nghìn người thiệt mạng. Trước đó vào thế kỷ 15, một cơn sóng khổng lồ cũng được ghi lại khi nó quét đi một toà nhà lớn trên đỉnh đồi Daibutsu, một bức tượng Phật khổng lồ và một thị trấn ở phía nam kinh đô Tokyo.

Quần đảo Nhật Bản nằm tại nơi gặp nhau của một số mảng kiến tạo địa chất và sự bất ổn về địa chất này khiến Nhật hứng chịu khoảng 1.000 cơn địa chấn lớn nhỏ mỗi năm. Nhiều trận động đất nhỏ đến mức người dân không nhận thấy, nhưng cũng có những cơn địa chấn khủng khiếp đã khắc vào tiềm thức dân tộc Nhật.

Điển hình là trận động đất lịch sử tại Tokyo năm 1923 được gọi là Cơn địa chấn Kanto vĩ đại, mạnh 7,9 độ Richter (nhẹ hơn so với trận động đất 8,4 độ Richter hôm qua). Những đám cháy xảy ra sau động đất năm đó đã thiêu huỷ hầu hết những ngôi nhà truyền thống làm bằng gỗ của người thủ đô, làm khoảng 100.000 người thiệt mạng.

Đúng 72 năm sau, một trận động đất khác mạnh 7,3 độ Richter xảy ra ở thành phố cảng Kobe, phía tây Nhật Bản. Những tuyến đường cao tốc trên cao và hàng nghìn ngôi nhà đã bị phá huỷ tại đây năm 2005, làm khoảng 6.400 người chết và hơn 400.000 người bị thương, cùng các đám cháy khắp thành phố.

Trong khi đó, sau trận động đất năm 1923, Tokyo luôn trong tình trạng sẵn sàng đón chờ một cơn địa chấn mạnh tương tự. Không chỉ thủ đô mà hầu hết Nhật Bản cũng có những nỗ lực trong việc chuẩn bị cho tình huống động đất mạnh với cách thức đối phó có hệ thống, cơ sở hạ tầng được xây dựng với khả năng chống động đất và thói quen ứng phó với thảm hoạ của người dân.

Chính phủ Nhật đầu tư rất lớn vào hệ thống giám sát động đất, trong đó đầu não là Cơ quan cảnh báo sóng thần ra đời năm 1952 do Cục khí tượng Nhật Bản điều hành. Cơ quan này theo dõi hoạt động từ 6 trung tâm khu vực, đánh giá thông tin do các trạm đo động đất đặt cả trên bờ và ngoài khơi, được gọi chung là Hệ thống quan sát sóng thần và động đất, cung cấp.

Với hệ thống trên, Cục khí tượng Nhật có thể gửi đi cảnh báo sóng thần trong vòng 3 phút kể từ khi động đất bắt đầu. Khi xảy ra địa chấn, số liệu liên quan đến mức độ và vị trí cũng lập tức được phát trên truyền hình quốc gia Nhật NHK. Đi kèm đó là các thông điệp bổ sung về việc có cảnh báo sóng thần hay không và nếu có thì ở khu vực cụ thể nào.

Ngoài ra, tại hầu hết các thị trấn và thành phố của Nhật đều có hệ thống loa phát thanh, có thể phát đi nhanh chóng các thông tin khẩn cấp tới người dân. Tại một số vùng nông thôn, chính quyền địa phương còn phát cho người dân những chiếc radio để họ có thể được hướng dẫn sơ tán trong trường hợp khẩn cấp.

Trong suốt thời gian theo học ở trường, trẻ em Nhật còn thường xuyên diễn tập ứng phó với động đất như chui xuống gầm bàn. Tất cả những người trưởng thành thì đều được thông báo vị trí trung tâm sơ tán gần nhất đối với họ, thường là công viên hay sân vận động.

Cơ sở hạ tầng tại Nhật cũng được xây với quy định có khả năng chống động đất. Các toà nhà cao tầng tại các thành phố lớn được thiết kế để có thể lắc lư một cách linh hoạt, thay vì rung chuyển khi xảy ra động đất để an toàn hơn cho mọi người. Sau trận động đất Kobe năm 2005, Nhật Bản cũng áp dụng những quy định mới về xây nhà chống động đất.

Theo BBC, tại một số khu vực ven biển của Nhật có xây dựng sẵn những nơi trú ẩn sóng thần. Trong khi các nơi khác lập các cống chuyên dụng để chống đỡ với những đợt nước khổng lồ do sóng thần mang tới.

Hệ thống tàu điện tốc hành nổi tiếng của Nhật Bản cũng tích hợp công nghệ tự động dừng hoạt động khi động đất mạnh quá mức cho phép. Các nhà máy hạt nhân và cơ sở khác cũng có cơ chế tự ngừng hoạt động khi có động đất mạnh.

Về tổng thế, Nhật Bản được nhìn nhận như quốc gia có sự chuẩn bị tốt nhất ứng phó với động đất và sóng thần trên thế giới. Tuy nhiên, với dạng thiên tai có sức tàn phá khủng khiếp và chưa thể dự báo này thì nguy cơ vẫn luôn trực chờ bất chấp sự chuẩn bị đến đâu.

Trận động đất gây sóng thần mạnh nhất Nhật Bản trong vòng 140 năm xảy ra hôm qua một lần nữa cho thấy rõ điều này.

Đình Nguyễn

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Thế giới khâm phục Nhật Bản

Bất chấp những cảnh tượng kinh hoàng do động đất và sóng thần, nước Nhật sẽ bước ra khỏi cuộc khủng hoảng với uy tín lớn mạnh hơn bởi sự kiên cường của người Nhật đang được cả thế giới ca ngợi.Truyền hình và báo chí khắp thế giới ngày ngày đưa hình ảnh những con sóng khổng lồ cuốn phăng nhà cửa và ô tô tàu thủy như những món đồ chơi nhỏ, hình ảnh những người sống sót thất thần trước cảnh hoang tàn.
Loạt tin và phóng sự cũng cho thấy một nước Nhật Bản khác - người Nhật bình tĩnh và kiên trì đi tìm những người thân hay trật tự chờ đợi đến lượt được nhận nhu yếu phẩm. Không hề có dấu hiệu cướp bóc hay bạo lực.
Image
Một người đàn ông Nhật tìm thông tin về người thân ở tòa thị chính thành phố Natori, tỉnh Miyagi. Ảnh: AFP.
Vô số blog tiếng Anh trên thế giới mô tả những người Nhật là "khắc kỷ", và tự đặt câu hỏi nếu thảm họa như vậy xảy ra ở các nước phương Tây thì không hiểu mức độ thảm cảnh sẽ lên đến đâu.

Giáo sư đại học Havard Joseph Nye nhận xét rằng thảm họa này có thể khiến "quyền lực mềm" của nước Nhật tăng lên. Quyền lực mềm là thuật ngữ ông dùng để mô tả cách mà các quốc gia đạt được mục tiêu của mình bằng cách khiến nước khác ngưỡng mộ.

"Cho dù thảm họa này là to lớn, nó cho thấy một số nét tính cánh tuyệt vời của người Nhật, và sẽ giúp cho quyền lực mềm của họ", Nye viết.

"Họ cho thấy một xã hội ổn định, kỷ luật tốt và được chuẩn bị sẵn sàng cho những thảm họa, một quốc gia hiện đại. Họ đối phó với thảm họa một cách bình tĩnh và trật tự", ông bình luận.

Nhật Bản, một quốc gia với nền hòa bình được quy định trong hiến pháp, vốn từ lâu sử dụng viện trợ như một trong các chính sách đối ngoại quan trọng, nhiều khả năng sẽ phải xem xét lại các ngân khoản một khi họ bước vào giai đoạn tái tiết sau động đất, sóng thần.

Mỗi khi có thảm họa thiên nhiên, hầu như quốc gia nào cũng đều nhận được sự cảm thông và viện trợ từ cộng đồng quốc tế, nhưng hiếm khi nào được sự khâm phục và tăng uy tín như Nhật Bản.

Một số chuyên gia nhận định rằng kinh tế Nhật có thể thoát khỏi giai đoạn trì trệ sau thiên tai. "Còn quá sớm để đưa ra bất kỳ dự đoán nào. Nhưng tôi nghĩ, cho đến nay, có vẻ như người Nhật đã thể hiện sự kiên cường trong khủng hoảng. Tôi cho là sẽ có nhiều điều để nói trong những ngày tới, tuần tới, về Nhật Bản", Nicholas Szechenyi, phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Mỹ, nhận xét.

Báo chí thế giới cũng tràn ngập những lời ca ngợi dành cho người Nhật và công tác chuẩn bị đối phó thiên tai của nước này. Tờ National Post của Canada bình luận rằng tầm nhìn xa của Nhật Bản đã cứu "hàng chục nghìn mạng sống".

"Không như Haiti (2010), Pakistan (2005) hay Tứ Xuyên (2008), số người chết không lên cao vô lý như ở những nơi mà các tòa nhà to tướng đổ sập ngay lập tức lên đầu những người trú ngụ bên trong", báo này viết.

Tờ The Wall Street Journal trong phần xã luận viết: "Sau trận động đất kinh hoàng 300 năm mới có một lần, người Nhật đã giữ được bình tĩnh giữa tình trạng loạn lạc, thực hiện nhiệm vụ cứu hộ cứu nạn khổng lồ, và nhận được sự ngưỡng mộ của cả thế giới".

Thanh Mai
(theo AFP http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/0 ... -nhat-ban/

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Vài cảm nhận về tính cách con người Nhật trong ứng sử với cuộc sống Chồng tôi là kĩ sư IT đang làm việc tại Nhật Bản. Sau một thời gian làm việc tại Việt Nam, tôi đã theo chồng qua Nhật sống, tuy chỉ mới sống trên đất nước này một thời gian ngắn nhưng tôi đã cảm nhận được tất cả các đức tính tốt mà ít có dân tộc nào có được.

Tôi viết những dòng này chỉ để bạn đọc tại đất nước mình đọc để hiểu hơn về con người Nhật cũng như chia sẻ với những khó khăn mà đất nước họ đang gánh chịu. Từ Việt Nam qua tôi còn mang trong mình những suy nghĩ và cư sử của người Việt, nên phải một khoảng thời gian sau tôi mới phần nào thích ghi với suy nghĩ và cách sống của Đất nước này. Các bạn biết không? Đại đa số người Nhật rất văn minh trong cư xử và lịch sự trong giao tiếp, và bây giời khi tai họa xấy ra tôi lại thấy trong họ sự can đảm, bình tĩnhđến lạ lùng để đối phó với khó khăn. Ở họ tập trung những đức tính tốt mà khi chúng ta tiếp xúc đáng để học tập và trân trọng.

Đức tính đầu tiên mà chúng ta đáng trân trọng đó là người Nhật không bao giờ xả rác tùm lum ra đường, ở những nơi công cộng như đường đi, nhà ga... đều có các thùng để họ có thể vứt rác. Đường xá lúc nào cũng sạch bóng hiếm khi nào bạn thấy rác bị xả ra đường. Rác sinh hoạt trong gia đình thì được họ phân ra theo từng loại như rác cháy được, rác không cháy được và rác tái chế được. Ứng với mỗi loại rác là những ngày đổ khác nhau. Theo đó người dân cứ tuân theo lịch đổ rác từng ngày và mang rác bỏ vào những nơi quy định sẽ có nhân viên thu gom rác đến mang đi .


Một đức tính đáng trân trọng mà không đất nước nào có được đó là người Nhật cư xử rất lịch sự. Người Nhật làm bất cứ việc gì cũng sếp hàng theo trật tự, dù là mua hàng, lên tầu, xe, hay đi vào quán ăn... trong tất cả các hoạt động sinh hoạt thì họ đều làm việc theo thứ tự trước sau. Không ai bảo
ai họ cứ thực hiện theo trật tự ai đến trước thì sếp hàng trước, ai đến sau thì sếp hàng sau, không một ai chen lấn xô đẩy hay cãi lộn. Ngay cả hôm xẩy ra động đất hệ thống tầu điện ngừng chạy, phương tiện đi lại duy nhất là taxi. Không cần đến lực lượng công an đứng ra dẹp trật tự, nhưng hàng ngàn con người nối đuôi nhau sếp hàng để đón taxi. Đêm hôm lạnh buốt, họ cứ nối đuôi nhau sếp hàng không hề thấy sự xô đẩy chen lấn, điều này chắc khó có được trong cư sử của một dân tộc khác. Nếu ở một dân tộc khác tôi giám chắc rằng trong tình huống nguy cấp vì mong muốn về nhà để xem tin tức người thân, phần vì cả ngàn người nối đuôi nhau sếp hàng trong các ga tàu, phần vì giá buốt của mùa đông chắc chắn họ đã chen lấn xô đẩy để tranh giành nhau theo kiểu mạnh ai người đó thoát rồi.

Điều mà ta trân trọng trong cách cư sử của người Nhật nữa là họ rất thật thà và chân thật, nếu bạn đi trên tàu điện, hay xe bus, hay những chỗ đông người thì ta không phải đề phòng nạn móc túi như ở các nước khác. Chẳng may nếu có vô tình bạn để quê ví tiền, hay mọi đồ vật gì đó thì họ sẽ tìm cách liên hệ trao lại cho bạn nguyên vẹn bằng mọi hình thức có thể.


Người Nhật còn có tính tự lập rất cao. Ngay từ bé họ đã được giáo dục về tính tự lập từ rất sớm, ngay từ khi học lớp 1 các em bé Nhật đã tự mình đi học bằng tầu điện mà không cần sự dẫn dắt của người lớn, khi lên tuổi 18 phần đa họ đã dọn ra sống riêng với gia đình và bắt đầu kiếm tiền để trang trải học hành. Chính những điều ấy tạo ra chọ họ luôn chủ động bản lãnh trong mọi trường hợp.

Không chỉ dừng lại ở đó đức tính tốt của con người Nhật lại được thể hiện trong lúc khó khăn, họ rất bình tĩnh và can đảm. Điều đó thể hiện rõ nhất trong trận động đất mới nhất ngày 11/3 vừa qua. Mới đầu tôi nghĩ vì họ sống ở vùng có nhiều động đất nên mới có được tính bình tĩnh và can đảm như vậy nhưng tôi đã nhầm, bởi ở các nước hàng năm vẫn có nhiều thảm họa như bão lụt, nạn giẫm đạp, động đất, sóng thần. Trong những tình huống như vậy họ đâu bình tĩnh và vẫn chen lấn xô đẩy làm tình hình thêm phúc tạp, nhưng người Nhật thì không.


Lúc trận động đất xẩy ra tôi đang làm việc tại công ty. Vì công ty tôi làm theo dây truyền dưới xưởng sản xuất, nên vị chí thoát hiểm ra ngoài cũng khó khăn hơn. Công ty tôi làm tập hợp mọi người ở các nước ở châu Á, khó khăn hơn. Công ty tôi làm tập hợp mọi người ở các nước ở châu Á, trong đó có Người Việt, người Trung Quốc, người Philipin, người Braxin, người Hàn Quốc. Trong đó Người Nhật chiếm nhiều nhất, khi động đất xẩy ta tất cả chúng tôi không được báo trước. Cả xưởng sản xuất chao đảo rung lắc, đồ đạc trong xưởng đổ ngổn ngang, bọn tôi rất sợ hãi hoang mang, có rất nhiều người đã khóc và la hét vì sợ hãi, nhưng riêng người Nhật thì không một ai có hành động như vậy.


Bây giờ nghĩ lại tôi thấy sao họ bình tĩnh như vậy, trong lúc tất cả bọn tôi sợ hãi không biết làm thế nào và nghĩ có lẽ nhà sắp sập thì họ đã bình tĩnh nói cùng họ chui xuống ngầm bàn tránh nạn, khi thấy tình thế không hề tốt hơn, họ đã hướng dẫn chúng tôi cùng chạy ra ngoài bãi đất trống theo lối thoát hiểm. Đó là những đức tính đáng trân trọng mà tôi đã cảm nhận được khi sống ở đây, và có lẽ ai đã từng sinh sống học tập và làm việc tại Nhật chắc chắn cũng có những cảm nhận như tôi. Tôi nghĩ rằng nếu đất nước mình cũng có được phần nào những tính cách tốt như vậy thì có lẽ đất nước sẽ phát triển hơn rất nhiều.


Bây giờ sau khi động đất qua đi, hậu quả của nó thật nặng nề, trên khắp các phương tiện truyền hình của Nhật đều đưa những hình ảnh về hậu quả của cơn sóng thần, nhìn những hình ảnh tang thương mà người Nhật gánh chịu tôi không cầm được nước mắt. Tôi hy vọng hậu quả sẽ nhanh chóng được khắc phụng và bình an sẽ nhanh đến với họ.

( Thúy Hồng )

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Về một bài thơ của
Phạm Công Thiện

Thiện xem mình là triết gia. Tôi nhìn Thiện như một thi sĩ.

Năm ấy, 1966. Tình cờ đến quán ăn nhỏ Lạc Hồng nằm sau lưng điện Panthéon ở xóm La tinh, quận 5 Paris, gặp lại Trần Hiếu. Hiếu là họa sĩ mà mười năm trước sang Paris tôi có giúp đỡ việc nhập học Trường Hội họa Quốc gia ở Paris. Hiếu đang ngồi ăn với một người trông lạ, mặt đỏ gay, mắt lừ đừ. Hiếu giới thiệu tôi với người lạ. Nghe tên tôi anh đứng phắt dậy vui mừng la lớn : “Trời ơi, ông Nguyễn Thái ! hai tuần nay tôi tìm ông muốn chết”. Nguyễn Thái là bút hiệu thời tôi bỉnh bút cho tạp chí Liên Hoa ở Huế thập niên 50. Tôi lấy làm lạ cho cách ăn mặt xi vin của anh ta, vì trước đó nghe anh đi tu lấy pháp danh Thích Nguyên Tánh.
Image
Thi Vũ và Phạm Công Thiện (bên phải) tại tòa soạn Quê Mẹ / Paris thập niên 80


Đó là Phạm Công Thiện. Chúng tôi biết nhau từ đây. Anh bỏ học ở Hoa Kỳ sang Pháp tìm người anh du học từ lâu trước. Nhưng chuyện gia đình sao đó Thiện bỏ thành phố Rennes về sống lang thang nơi vĩa hè Paris, ngày ngày làm đuôi theo đám clochard xin những bữa ăn xã hội. Gặp Trần Hiếu đem về nuôi được mấy hôm. Sau đó Thiện về ở với tôi. Thời ấy tôi chuẩn bị luận án ở Sorbonne đồng thời làm thư ký cho giáo sư Filliozart ở Collège de France như kế sinh nhai. Chúng tôi chỉ gặp nhau về đêm, đêm nào cũng kéo nhau ra quán cà phê nơi công trường Contrescarpe ồn ào những mộng mị văn chương cho đến 3, 4 giờ sáng. Hoặc quán đóng cửa, hoặc cháy túi mới về, tửu lượng Thiện không cao nhưng uống thì vô bờ.

Suốt ngày Thiện nằm dài đợi tôi đi làm về kéo nhau ra quán. Lâu lâu nổi hứng đòi đi Tây Tạng tu như Milarépa. Tôi bỡn, ông đi mau đi Mao Trạch Đông nó chờ ông bên đó. Ngày tháng lì trôi, thấy vậy tôi bày kế cho Thiện viết khi đề nghị phát hành một tạp chí văn học. Thiện hứng khởi lấy tên một tập thơ của tôi làm đề tạp chí : Hoa Nắng. Dự tính hai đứa tôi viết bài, kêu thêm bài trong nước rồi nhờ Thanh Tuệ ở An Tiêm coi sóc in và phát hành bên nhà. Chúng tôi viết quảng cáo gửi về Bách Khoa nhờ đăng giúp, anh Lê Ngộ Châu giúp đi mấy kỳ không tính tiền. Hàng trăm thư từ trong nước gửi sang hoan nghênh với nhiều sáng tác xin đăng. Tôi mong mỏi tập họp mọi cây bút đưa văn học chồm tới giữa thời khói lửa bạo tàn. Thiện chống lại, bảo : ”Ông ở nước ngoài lâu không biết bọn làm văn trong nước bè phái, tị hiềm, dìm đè, công kênh nhau thôi”, nên khăng khăng chủ trương tạp chí sẽ không đăng bất cứ tên tuổi nào đã thành danh. Thời gian này có Nguyễn Đức Sơn trong nước gửi thơ sang tặng, mang cùng tư tưởng chống hết “bọn caïd văn nghệ”.

Kể từ đó, Thiện bật tỉnh người, không nằm co hằng ngày như trước. Ngày ngày chờ tôi về để ra cà phê, hai đứa thi nhau viết. Đêm đêm ở quán Contrescarpe, cuối tuần kéo nhau ra quán Dôme ở Montparnasse. Chúng tôi chia nhau viết theo hai con đường Tính và Tình, qua mọi thể tài. Thiện đi con đường Tính, tôi theo con đường Tình. Một tháng, chúng tôi xong Hoa Nắng số một, dày vài trăm trang.

Bài sáng tác đầu tiên của Thiện là bài thơ “Quế Hương”, sau đó Thiện viết tiểu luận “Đặt lại căn bản học vấn của Nguyễn Văn Trung - Phê bình luận án Tiến sĩ của Nguyễn Văn Trung hay là tìm hiểu một thủ đoạn phá hoại Phật giáo”.

Bài vở chuẩn bị gửi về Saigon cho Thanh Tuệ in, thì đột nhiên Thượng tọa Thích Minh Châu đến thăm. Hôm ấy đang ngồi tán gẫu với Thiện ở căn nhà tôi cư ngụ số 8 rue Guy de la Brosse xóm La tinh, nghe tiếng gõ cửa gấp. Mở ra thấy Thượng tọa Thích Minh Châu đi cùng giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch. Thượng tọa vừa nói vừa thở hắt sau hai tầng gác : “Tôi biết Nhất Hạnh đang ở với anh, nhưng tôi cứ đến vì cần bàn chuyện khẩn”. Hai vị sư này có chuyện không vui với nhau từ Saigon. Tôi đáp cho Thượng tọa yên lòng : “Nhất Hạnh đi Úc rồi, mời Thầy vô”. An tọa xong, Thượng tọa Minh Châu, vị Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh vừa thành lập tại Saigon, nói : “Tôi sang dự hội nghị UNESCO, nhưng cố ý gặp anh mời anh về giúp Đại học Vạn Hạnh. Đại học mới mở trăm công nghìn việc khó khăn, nhiêu khê, phá phách, mình thiếu người quá, anh ráng về giúp cho một tay, …”. Tôi nhận lời. Thiện ngồi cạnh mặt đỏ gay vì rượu, tóc mọc dài hippie, có lẽ vì vậy Thượng tọa không để ý. Nhận lời xong, tôi tiếp : “Xin Thầy mời luôn Thiện về cho vui”. Thượng tọa Minh Châu mặt đỏ rầng ấp úng : “Ủa, chú… chú…?!”. Tôi đỡ lời “Dạ, chú Nguyên Tánh đó !”. Thầy Minh Châu gật đầu với nụ cười hiền giải thoát y như hai mươi năm trước, thời tôi còn gọi chú Minh Châu và giúp chú đánh bài vở ở Tổng trị sự đầu đường Thượng tứ, Huế : “Ừ thì chú Nguyên Tánh về luôn hí”.

Cả hai chúng tôi chuẩn bị lên đường. Thế nhưng lên Sứ quán xin chiếu khán nhập nội, tòa chỉ cấp cho Thiện, còn tôi họ bảo do những lời tuyên bố trên Truyền hình Pháp nên tòa không dám ký, xin Thượng tọa thương lượng với Bộ Nội vụ bên nhà. Số là tôi từng nói lên quan điểm Phật giáo về một nền hòa bình không Cộng sản, không chiến tranh trên báo chí, truyền hình, đài phát thanh Pháp lúc bấy giờ nên đụng chạm các quan.

Về đến Saigon Thượng tọa can thiệp với Bộ Nội vụ cho tôi về, nhưng tôi bỏ ý định hồi hương. Thế là Thiện ra đi một mình trên chuyến bay ngày ấy, sau này anh được chỉ định làm Khoa trưởng Phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn ở Đại học Vạn Hạnh. Thiện mang bản thảo Hoa Nắng số một về in. Chẳng biết vì khó khăn gì Thiện không cho Hoa Nắng ra đời như dự tính, mà chỉ rút những bài Thiện viết in thành hai tập sách “Im Lặng của Hố Thẳm” và “Bay đi những cơn mưa phùn”.

Nói về bài thơ đầu tiên làm sống lại cuộc đời sáng tác của Thiện khi đến Pháp sau một thời gian dài khủng hoảng. Bài “Quế Hương” mà tôi nhắc bên trên, có chi tiết nhỏ cũng nên ghi. Khi đến Pháp Thiện đã hoàn tục. Vì vậy hai câu thơ thứ tám và chín Thiện viết trên gác trọ nhà tôi ở Guy de la Brosse :

Em còn ca hát
Anh không còn làm tu sĩ

Báo hiệu cho câu thơ thứ 15 sau đó : Tóc anh mọc dài để che chở em những lúc mưa rơi.

Nhưng từ gặp Thượng tọa Minh Châu mời về Saigon cùng tôi, thì ngày hôm sau, Thiện nhờ tôi cạo đầu và tìm bộ y vàng Nam tông cho Thiện mặc. Người thay đổi hẳn, nghiêm trọng, ít nói năng, chỉ trầm tư mặc tưởng đăm chiêu không dứt. Khác hẳn những ngày trước đó ăn nói ồn ào, nhậu nhẹt, chửi thề vung mạng. Chuyện đầu tiên là Thiện sửa lại hai câu trên thành :

Em còn ca hát
Anh không còn làm thi sĩ

Một hôm sau Thiện bảo tôi bỏ bài Quế Hương khi in. Lúc ấy tôi chuẩn bị xuất bản cho Thiện tập « Ngày Sinh Của Rắn ». Tôi cự lại : « Ông đi tu cứ đi tu, chuyện văn học để tôi. Bài này là một trong những bài hay của ông, không bỏ được ». Rồi tôi cứ cho in bài thơ ấy vào tập « Ngày Sinh Của Rắn » ấn hành tại Paris năm 1966. Sau này tập thơ được in lại nhiều lần và dường như Thiện có sửa đổi qua nhiều bài, nhiều câu hay ý.

Hôm qua từ Jakarta bên Nam Dương trở về Paris, mở Internet thấy tin Lê Phong Sương, vợ hiện nay của Thiện, khấp báo Thiện qua đời tại một thị trấn gần thành phố Houston, bang Texas, lúc 6 giờ 30 chiều thứ ba 8.3.2011, thọ 71 tuổi. Thiện sinh ngày 1.6.1941 tại Mỹ Tho, âm lịch tuổi Tỵ - con Rắn. Nhân có ghi số điện thoại, tôi gọi chia buồn vợ Thiện, thì lại gặp Loan người vợ trước. Loan cho biết sang thăm Thiện 4 ngày qua nên chứng kiến phút ra đi khá nhẹ nhàng của Thiện, chẳng đau yếu gì ngoài sự mệt nhọc lúc tuổi già. Loan kể năm năm qua anh Thiện em xa lánh cộng đồng, sống ẩn mật trong vùng u tịch tựa như Dalat. Chỉ đọc sách, không viết chi nhiều. Chiều thứ ba hôm ấy, Thiện ngồi nghe bài Mùa Thu Chết do Julie Quang hát và khen hay. Sau thấy mệt đi nằm, một lát nghe Thiện trăn trở trên giường, Sương và Loan chạy ra lấy khăn thấm mồ hôi trên trán. Chốc sau Thiện im lặng ra đi theo hoàng hôn. Loan và Sương cho biết Thiện dặn chỉ làm đám giới hạn trong gia đình rồi hỏa thiêu. Tro cốt đưa về để ở chùa Viên Thông, một ngôi chùa đạm bạc ở Longbeach bên California.

Trả lời phỏng vấn trên Gió O về « những đóng góp nổi bật nào của văn hoá Phật Giáo vào trong văn hóa Việt Nam từ trước đến nay ? », đề cập thời cận đại suy nghĩ của tôi là:

« Ảnh hưởng cận đại thì căn bản là tâm tư người Phật tử Việt Nam biến thành thái độ chính trị để rộ nở ra văn học nghệ thuật. Đỉnh mốc của ảnh hưởng Phật giáo trong lòng dân tộc rõ nét nhất từ 1963 trở đi. Một sinh-thức-mới phi nhị tướng cũng gọi là bất nhị (non-duality) ra đời đối diện nhằm hóa giải tư tưởng khủng hoảng của Tây phương mà chiến tranh lạnh làm đầu mối cho sự sụp đổ toàn triệt của phương Tây mà chúng ta sẽ chứng kiến vào cuối thế kỷ XXI”.

Trong phong triều văn học mới này, thời hậu Tây và hậu Cộng, Phạm Công Thiện có đóng góp lớn.

Trở lại bài thơ « Quế Hương » nói trên, xin in lại làm kỷ niệm bản đầu tay của Thiện mà sau này Thiện sửa đi chữa lại nhiều lần dù tứ thơ không đổi, kể cả bản chữa lần đầu chọn in trong « Ngày Sinh Của Rắn » gồm 12 bài do Nhà xuất bản Hoa Nắng – 8 rue Guy de la Brosse – Paris 5, ấn hành lần thứ nhất vào Mùa Thu năm Bính Ngọ,1966 :
Image
Thủ bút đầu tay bài Quế Hương qua 2 lần sửa ở câu 9 (bên phải) lần đầu và câu 7 lần hai (bên trái)


QUẾ HƯƠNG

Trời mưa Nữu Ước cây mọc
Nhớ em trời mưa ngày tháng
Nhớ em đường hoang mái vắng
Nữu ước chỉ còn em trong giấc ngủ
Trên bến điện nghiến nát
Tim anh tràn máu
Con chim đã bay về rừng đạn

Em còn ca hát
Anh không còn làm thi sĩ
Anh chỉ còn em trong giấc ngủ
Anh chỉ còn máu để đổ vào tim em
Quê hương anh làm hỏa ngục yêu quí
Thiên đàng làm lá đổ trên những đường mòn
Trên bước chân em trong giấc ngủ
Trên đôi mắt cà phê đen của Greenwich Village
Tóc anh mọc dài để che chở em những lúc mưa rơi

Những lúc đông lạnh
Những lúc lá rụng
Những lúc chim chiều đi mất
Những lúc anh chỉ còn em
Quế hương là em trên hồ quế mọc
Trên hồ thơm cây quế

Cây Quế Hương
Mười năm rồi
Cây Quế Hương vẫn nở hoa trên tim anh
Trên hơi thở anh
Trên những bước chân buồn phố mẹ ngày xưa
Trên những bước chân chiều phố lạ hôm nay
Mưa làm tóc anh thơm
Thơm mùi cây quế
Nở hoa chiều ba mươi Tết
Khi em còn nhỏ
Khi anh còn trẻ
Cây quế mọc
Như mặt trời mọc
Mặt trăng mọc
Mặt em mọc
Và nở hoa

Trên đôi mắt anh khi còn trẻ
Khi anh còn ca hát
Bây giờ em còn ca hát
Hay em đã quên
Như anh đã quên
Cây quế
Cây quế hương
Mọc mười năm trước
Và vẫn mọc hôm nay
Giữa quán cà phê Ý Đại Lợi
Tại phố Greenwich Village
Giữa lúc đêm mưa
Khi anh còn nhớ
Khi anh không còn khóc được
Nhưng anh vẫn còn máu để đổ vào những đêm khuya
Để đổ vào tám tách cà phê đen
Mà anh thường uống mỗi đêm
Tại Greenwich Village
Tại làng thi sĩ
Tại đường khói bay
Tại em trong giấc ngủ
Tại chiều ba mươi ở Việt Nam

Bây giờ anh ở xa Việt Nam
Đến mấy đại dương xanh
Anh xa Quế hương đến mấy phương trời cỏ mọc
Mấy phương trời quế mọc
Mấy phương trời em khóc
Em ơi
Em còn nói
Em còn phơi áo
Em còn đứng giữa phố buồn
Em còn cười
Cây Quế Hương vẫn mọc
Trên đầu anh
Trên mắt anh trong giấc ngủ
Trên môi anh
Trên mười ngón tay
Trên hai bước chân anh
Giữa đêm khuya ở Greenwich Village

Giữa lúc mưa
Giữa lúc anh buồn
Và hỏi
Anh đã làm gì cho chim
Anh đã làm gì cho lá
Anh đã làm gì cho cỏ
Anh đã làm gì cho những con đường
Anh đã làm gì cho những cánh đồng
Anh đã làm gì cho cây quế
Cây quế hương giữa chiều ba mươi Tết
Anh đã làm gì cho đời anh
Trả lời đi
Chim rừng
Lá rừng
Đường rừng

Cây Quế rừng
Mọc giữa hồ
Giữa Hồ Quế Hương
Anh vẫn ngồi đây
Anh vẫn còn thở
Vẫn uống cà phê
Vẫn nghe nhạc buồn
Vẫn trời mưa
Mưa trên phố đêm
Mưa trên quán cà phê Ý Đại Lợi
Mưa trên cây quế giữa hồ
Mưa trên chiến tranh
Của quê hương
Của Quế Hương
Của anh
Còn em.

PHẠM CÔNG THIỆN

Paris, 11.3.2011
Thi Vũ

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Uống gì để phòng nhiễm phóng xạ?


Image
Một loại vật chất phổ biến nhất trong các đám bụi phóng xạ từ vụ nổ nhà máy điện hạt nhân là phóng xạ iod-131.
Nó nguy hiểm cho con người ở chỗ gây ung thư tuyến giáp.
Người dân trên quần đảo Nhật Bản, đang đối mặt với mối đe dọa bị nhiễm phóng xạ. Nhà chức trách đã phát ngay cho mọi người trong vùng nguy cơ viên nén i-ốt kali. Tại sao họ lại dùng nó để phòng nhiễm phóng xạ?

Theo hướng dẫn trên tờ doctissimo (Pháp), I-ốt là một phương thức phòng ngừa ung thư tuyến giáp.

Ngay khi một lò phản ứng hạt nhân gặp sự cố, giống như thảm họa mới xảy ra tại Nhật, một lượng lớn phóng xạ có thể thoát ra ngoài.

Lượng phóng xạ này xuất hiện dưới dạng i-ốt phóng xạ, và sẽ ảnh hưởng đến dân cư xung quanh khu vực bị nhiễm xạ. Loại i-ốt độc hại này có xu hướng đọng lại ở tuyến giáp, do vậy làm tăng nguy cơ xuất hiện hạch tuyến giáp cũng là các tế bào ung thư. Hoặc ung thư tuyến giáp cũng có thể xảy ra do triệu chứng suy chức năng của tuyến.

Khi đó, việc dùng ngay viên nén i-ốt kali sẽ cho phép giảm nguy cơ nhiễm i-ốt phóng xạ: I-ốt kali sau khi uống sẽ đọng lại trên tuyến giáp, làm bão hòa khả năng hấp thụ của cơ quan này và ngăn cản i-ốt độc hại (phóng xạ) đọng lại trên tuyến giáp.
Image
Khi uống I-ốt kali sẽ đọng lại ở tuyến giáp. Khi I-ốt phóng xạ xâm nhập vào cơ thể, sẽ không bị đọng lại và bị đào thải khỏi cơ thế. Ảnh: doctissimo.fr.
Vậy cần dùng với liều lượng bao nhiêu?

I-ốt phòng ngừa ở dạng viên nén i-ốt kali (iodure de potassium), phải uống ngay lập tức sau khi biết khu vực sống bị nhiễm phóng xạ.

Để giảm được 90% nguy cơ nhiễm phóng xạ, liều lượng cần thiết là :

- Tại những khu vực mà người dân hấp thụ i-ốt qua đường ăn uống ở mức bình thường: một liều tương đương hoặc hơn 30mg

- Tại những khu vực mà người dân không hấp thụ đủ i-ốt qua đường ăn uống (ví dụ như Pháp, Việt Nam): dùng từ 50 đến 100 mg

Thực tế, người dân thường được khuyến cáo dùng một liều duy nhất 130mg, tương đương 2 viên nén, hòa tan trong một cốc nước (trẻ em dưới 12 tuổi: 1 viên, trẻ từ 1 đến 36 tháng: ½ viên, trẻ mới sinh đến dưới 1 tháng: ¼ viên)

Khi nào cần phải uống i-ốt kali ?
Image
Một loại thuốc i-ốt kali ở Pháp, dùng cho người dân trong vùng dễ bị nhiễm xạ.
Tốt nhất là uống ngay khi có cảnh báo về phóng xạ thì mới có hiệu quả gần 100%.

Trong những vùng được cho là "giàu i-ốt", 2 giờ sau khi bắt đầu bị nhiễm phóng xạ thì hiệu quả chỉ còn 80%, và 40% sau 8 giờ.

Trong những vùng "nghèo i-ốt" uống thuốc sau 2 giờ hiệu quả gần 65% và sau 8 giờ còn 15 %.

Một ví dụ như ở Pháp (một nước mà người dân hấp thụ i-ốt qua đường ăn uống ít) người ta cung cấp viên nén i-ốt kali như thế nào cho người dân ở gần trung tâm nguyên tử?

Trước những nguy cơ bị nhiễm phóng xạ cho dù ít hay nhiều, Cơ quan An toàn Hạt nhân và chính quyền địa phương ở Pháp đã tổ chức đều đặn các chiến dịch phân phát viên nén i-ốt kali cho người dân và cho các cơ quan, tổ chức ở gần trung tâm hạt nhân với sự tài trợ của Tổng Công ty Điện lực quốc gia Pháp EDF. Nhờ đó những người sống trong khu vực có phóng xạ có thể uống thuốc ngay khi có chuông cảnh báo từ trung tâm hạt nhân.

Thực tế công tác phát thuốc này diễn ra như thế nào ?

Hoạt động phát thuốc cho các gia đình, các đơn vị như (trường học, khối hành chính văn phòng địa phương, các nhà máy, xí nghiệp và bệnh viện, …) ở trong vòng bán kính 10 km xung quanh khu vực đặt trung tâm hạt nhân của Pháp, tương đương khoảng 400.000 hộ gia đình và 2.600 các cơ sở công cộng tại 500 thành phố.

Mỗi người dân sống trong khu vực có khả năng bị nhiễm xạ được phát một phiếu và được mời đến lấy thuốc tại nhà thuốc.

Chiến dịch phát thuốc gần đây nhất diễn ra năm 2009, nhưng chỉ đạt được một phần thành công, theo trang web www.distribution–iode.com, chỉ có 22,5% lãnh đạo của các công ty, xí nghiệp và các cơ quan hành chính công cộng có trụ sở nằm trong bán kính 10 km xung quanh trung tâm hạt nhân đến nhà thuốc nhận thuốc, trong khi có 51,9% người dân đến nhận.

Thanh Bình

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Thương Người - Thương Mình Thương tới muốn khóc
hay 32 năm Người Mỹ và Tôi.
Bài viết thắng giải chung kết Viết Về Nước Mỹ (VVNM) do Việt Báo tổ chức. Đây là chuyện kể 32 năm của một cô dâu Việt, về một chàng trai Mỹ, người bắt Mẹ ký tên cho đi lính trước tuổi, khi anh mới có 17 để sang tận bên kia trái đất rồi “mang tui về trả nợ”, như tác giả Bảo Xuân Abbott nói đùa.

Nhân dịp Việt Báo tổ chức 10 năm Viết Về Nước Mỹ, Blog Mười Sáu hân hạnh được tuyển chọn bài viết độc đáo này mà mỗi lần đọc lại đều rưng rưng nước mắt, đầy cảm động, với những liên quan tới lịch sử, vận mệnh của dân tộc ở từng giai đoạn từ 1968 cho tới nay.

Theo thông tin bên lề thì tất cả những tuyển tập Viết Về Nước Mỹ hàng năm do Việt Báo Nam California xuất bản bằng cách này cách khác đều được in ra bán vô tội vạ tại Việt Nam và được nồng nhiệt hoan nghênh, đón nhận cuả độc giả quốc nội. Tuy nhiên điều đáng nói ở đây là câu chuyên ” 32 năm người Mỹ và Tôi” tác giả Trương Ngọc Bảo Xuân, bài viết thắng giải chung kết đầu tiên của VB. đã được họ cẩn thận lấy ra, không cho in…. điều thắc mắt này 16 xin dành quyền cho quý bạn đọc nhận xét.

*****

Hàng ngàn người. Có thể cả chục ngàn, trăm ngàn, rồi cả triệu không chừng. Những người Việt tan tác khắp nơi, chưa gặp, chưa quen… Lạ thay, khi không bỗng thấy nhau thân thiết. Thân tới mức mang cả chuyện nhà của mình ra kể cho nhau nghe. Toàn những chuyện khổ đau, oan ức, tang thương đã bao năm nuốt xuống. Giải Thưởng Việt BáoViết Về Nước Mỹ hàng ngày cho tôi cảm giác ấy. Khi viết, khi đọc, thấy thương người, thương mình. Thương tới muốn khóc.

Và bây giờ, bạn thân mến,

Đến phiên tôi kể chuyện nhà cho bạn nghe.

Viết về nước Mỹ, được rồi, đang sống ở Mỹ mà. Viết về người Mỹ, tìm đâu cho xa. Tôi muốn nói về người đi bên cạnh tôi 32 năm qua: David, chồng tôi.

Cuộc đời giống như cuốn sách dán hình kỷ niệm. Mấy chục năm gom vô vài trang giấy. Ngược giòng thời gian. Giở lại từng trang…
Image
Tết 1968, hình gia đình cuối cùng, tháng Năm năm này Ba mất
*1968, Năm Mậu Thân

Ngày 28 tháng 5, cư xá Cảnh Sát Phú Lâm A đường Lục Tỉnh quận 6 Chợ Lớn.

Cộng sản tấn công Sài Gòn lần thứ hai, đặt bộ tư lịnh tại khu cư xá Phú Lâm A. Gia đình tôi cư trú tại đây. Ba tôi là Cảnh sát, tùng sự tại phòng Giảo Nghiệm, Tổng nha Cảnh Sát Quốc Gia ở đường Vỏ Tánh, Sài Gòn.

Ba tôi bị cộng quân chận bắt, bắn chết tại chổ. Một viên đứt yết hầu, một viên xuyên bao tử. Hai chị em tôi chứng kiến cảnh Ba bị bắn chết. Tôi nâng đầu, máu nóng vọt ra. Ngọc Anh đở chân, máu nhểu dài xuống đất. Hai chị em lệt bệt, khiêng, rớt… khiêng, rớt… vừa khóc vừa khiêng thây Ba tôi về nhà. Em tôi mới 15 tuổi, mặt đầy nước mắt, hai bím tóc, bộ đồ trắng loang máu. Khoảng đường gần 100 thước đó dài, nặng, đau đớn, uất ức, hận thù, khắc sâu vô tim, vô óc, vô suốt cuộc đời chúng tôi.

1969, Giã Từ Các Bạn

Một ngày tháng giêng anh rể tôi đem về giới thiệu người bạn vừa ra lính Hải quân, David. Mới 20 tuổi, mắt sáng, tóc đen xanh, ốm gọn, nhanh nhẹn, rất lịch sự, đàng hoàng. Tôi thấy cảm tình.

Những người bạn học đã vô lính. Mấy đứa bạn gái vừa có chồng, chồng chết trận, tay bồng con thơ; tôi làm việc lương tháng ngàn mấy không đủ may áo dài bận đi làm, lấy đâu giúp mẹ nuôi đám em?

Khi Ba chết, đám em tuổi từ 15,13,10,7,5 và đứa em út (Thúy Phương) chưa đầy 3 tuổi. Má tôi vợ công chức chỉ biết nội trợ. Người chồng tốt, người cha hiền đã bị bắn chết. Con không cha như nhà không nóc. Là chị lớn của lũ em, thân con gái, biết làm sao đây?

Tôi đã nguyện với lòng sẽ tìm đủ cách để đi khỏi nước Việt Nam, khỏi nơi đầy thù hận, đầy bất công, đầy tủi nhục. Và đó, David tới đúng lúc. Chính y sẽ đem tôi ra khỏi vùng u tối và nhờ đó tôi sẽ tìm cách đem gia đình đi luôn. Thôi, giã từ các bạn, tôi rẽ qua ngả khác từ đây.

Tôi nhận lời làm đám cưới với y.

Đang để tang ba. Đám tang với đám cưới, gần quá. Tôi chọn đúng ngày Ba bị bắn làm ngày cưới. 28 tháng 5. Cho trộn lẫn vô nhau, trong tim, trong óc.

Đâu phải lúc tiệc tùng. Tất cả tại nhà, giản dị trước bàn thờ tổ tiên. Không hột xoàn, không vàng bạc, chỉ có lời vái hương hồn Ba. Xin Ba phù hộ cho ước nguyện của con: đem được Má và mấy đứa em ra khỏi địa ngục nầy. Tôi tự hứa sẽ là người vợ tốt suốt đời.

Chúng tôi ở chung với gia đình, trên căn gác nhỏ. David làm việc cho một ông bầu chuyên đem những dàn nhạc hát cho lính Mỹ nghe.

* 1970, Lần Đầu Tới Mỹ

Tháng 3, tôi sanh đứa con trai đầu lòng, tuổi Tuất , tên Lawrence Long .

Tội nghiệp đứa con so, 7 tháng đã ra đời. Cân nặng có 1 kí 700 gram, nhà thương Đức Chính (đường Cao Thắng) giữ trong lồng kiếng 24 giờ. Giao lại tôi, cô y tá cho hay “bé không biết bú”. Trời đất ơi, tôi biết làm sao?

Má tôi dạy “con nặn sữa ra, lấy cái ống nhỏ thuốc, hút sữa lên rồi nhỏ từng giọt vô miệng nó. Thấy hông, cái miệng nó nhỏ hơn đầu vú, làm sao mà bú bình thường được.”

Nhờ kinh nghiệm và sáng kiến của Má, con tôi qua khỏi mấy tháng đầu hung hiểm.

Lúc đó David làm lương tháng khoảng 3, 4 trăm đô. Một hôm đi làm về, say nhừ, vừa khóc vừa kể:
Image
Hiện trường một vụ đánh bom của quân du kích Mặt trận Dân tộc
Giải phóng miền Nam Việt Nam giữa phố Sài Gòn năm 1965
- Bạn tôi mới bị quân khủng bố liệng lựu đạn, chết rồi. Sống ở đây lúc nầy nguy hiểm quá.

Tháng 11 vừa hết giao kèo y đòi trở về Mỹ.

Chúng tôi đi lo thủ tục đem đứa em trai duy nhứt của tôi theo mà không được. Bởi tôi còn ngây thơ, không biết là đút tiền thì tới đâu cũng tới. Đành cắn răng, gạt nước mắt, ôm con theo chồng. Tôi hẹn ngày trở về vì bổn phận đối với gia đình chưa tròn. Tôi phải tin bên kia đám mây đen vẫn là ánh mặt trời.

Tôi tới Mỹ lần đầu ngày 22 tháng 11 năm 1970, bụng mang thai 5 tháng

Mẹ chồng, chị chồng tên Elaine ra tận phi trường Portland thuộc tiểu bang Oregon đón. Bước xuống phi trường, đèn sáng trưng, rực rỡ. Không khí tưng bừng nhộn nhịp, tôi như con ngáo, thấy mình càng nhỏ bé. Rồi, phố lớn, nhà to, cây đầy trái, rụng đầy sân. Ngồi trong xe hơi rộng rãi tôi cứ lấy mắt mà ngó, mà ước thầm, “phải chi Má với mấy đứa nhỏ qua được!”

Con người ta chỉ một lần sống, tại sao dân Mỹ quá sung sướng , dân mình thì nghèo khổ chiến tranh?

Cầm chùm nho lên ăn, nhớ tới mấy đứa em mà ứa nước mắt !

Cô chồng đãi bữa ăn lễ Tạ Ơn lần đầu tiên. Thịt gà lôi sao mà ngon, ngọt.

Bên chồng thay phiên ẵm Lawrence. Suốt ngày tôi ở ngoài sân sau, hái quít hái bom, vừa hái vừa tiếc hùi hụi mấy trái rụng đầy dưới đất.

Nhà chồng thấy tôi nhỏ xíu, ai cũng thương.

Qua lễ, lái xe xuống thị trấn Coquille thăm người cô thứ nhì. (David có 5 người cô, 5 người chị và hai người chú). Trên đường đi, David ngừng lại thăm mộ của cha; kế bên là miếng đất má chồng đã mua sẵn, dành cho bà.

Ông bà dì dượng chồng cho ở tạm trong cái nhà xe một phòng khoảng hai tuần. Mỗi đêm, leo lên cái giường rộng, không có mùng, trống lốc, trùm liền cái mền điện. Cái ấm nhân tạo không đủ sức ngăn cái lạnh cắt da, cắt thịt.

Nửa đêm nhớ nhà quá, tôi khóc. David ngồi dậy, gởi con cho bà nội, chở tôi ra bờ biển. Biển nầy là biển gì tôi cũng không biết, nhớ nhà quá đâm ra ngu ngơ. Vậy mà y kiên nhẫn, không nói gì, chỉ đem tôi ra biển. Có lẽ y muốn tôi nhìn về hướng Đông?

Một hôm mỏ ác trên đầu con tôi tự dưng nổi phồng lên. Đem vô nhà thương, khi bác sĩ vừa cho biết phải thử nước trong tủy xương sống của nó để định bịnh, tôi ngã cái đùng bất tỉnh. Rốt cuộc cũng không biết bịnh gì. Có thể nó chịu lạnh không quen, cơ thể phản ứng tự nhiên, xương sọ phồng lên để bảo vệ bộ óc bên trong?. Báo hại mang cái nợ gần trăm bạc.

Người anh chồng kêu qua Tucson, tiểu bang Arizona, hứa sẽ giúp cho việc làm.

Nghe nói đó là xứ nóng, tụi tôi đi liền.

Gom va ly quần áo, thùng sách tiếng Việt, hình ảnh, mấy cái nón lá… gọn gàng trong chiếc xe Uhaul loại nhỏ nhứt, còn rộng rinh. Mùa đông trời lạnh thấu xương, quần áo không đủ ấm, ngầy ngật vì phải vặn máy sưởi suốt đoạn đường dài.

Bụng nặng nề, ngồi triền miên, phải để Lawrence nằm dưới sàn xe. Tội nghiệp con tôi, tới nơi mình mẩy nó nổi đầy phong đỏ.

* 1971, Sanh Con Tại Mỹ

Ở tạm nhà cháu Rea, David phải đi làm nghề đổ xăng, lau kiếng xe hết hai tuần rồi mới được vô làm trong hầm mỏ lộ thiên đào chất đồng đỏ, tên Anaconda Copper Mine.

Mỗi sáng đi làm, y vừa tra chìa khóa mở máy xe vừa khấn thầm “Nổ máy. Nổ máy. Nổ máy!” Trời còn tối mò, y mặc bộ đồ đồng phục màu xám đen, đầu đội nón sắt, tay xách hộp đồ ăn trưa, mặt mày còn sáng sủa. Buổi chiều về, sau một ngày trộn lẫn với bụi đất cùng mồ hôi, chồng tôi da trắng trở thành da đen!

Việc làm nầy cứ mỗi tuần là đổi ca sáng tối. Nhiều đêm y phải bận bộ đồ lót giữ nhiệt (thermal underwear) vậy mà vẫn còn lạnh run. Y lái xe đào và đổ đất, thứ xe có cả chục cái cần sang số, y giải thích, nhưng, ngôn ngữ bất đồng tôi cũng không hiểu gì mấy.

Lương một tuần 93 đô, mướn cái nhà hết 90 một tháng. Đây là nghe lời bà má chồng, tiền mướn nhà chỉ nên bằng một phần tư tiền lương tháng thì mới đủ sống.
Tôi đang mang thai, thèm cá kho tiêu, một chai nước mắm kiếm không ra, có khi chảy nước mắt

Chị chồng tên Pat đưa tôi đi thăm thai. Chị phải ẵm thằng lớn ngồi đợi ở ngoài, một mình tôi vô với cô y tá. Cô ta chỉ qua phòng restroom, nói một hơi một tràng. Tôi đoán mò, nghĩ là cổ hỏi mình có mắc đi tiểu hông, tôi liền lắc đầu. Cô ta không chịu, cứ vừa chỉ vừa nói, càng nói tôi càng không hiểu. Khớp quá, tiếng Mỹ văng đâu mất hết trơn. Sau cùng, cô ta chịu thua. Chừng về nhà, bà chị chồng vừa cười ngất vừa kể, David “dịch” lại, tôi mới hiểu ra. Thì ra cô y tá kêu tôi vô tiểu trong cái ly để sẵn, dán giâý lên rồi đề tên mình, đưa cho cổ đặng cổ thử. Quê một cục! Thôi, lần sau.

Thấy tôi gần ngày sanh, chị dặn David sáng trước khi đi làm, đem mẹ con tôi qua nhà, con gái chị, Linda sẽ nấu cho tụi tôi ăn luôn, vừa canh chừng, sợ tôi chuyển bụng bất tử.

Tháng 3 sanh đứa con trai thứ nhì, tuổi Hợi, đặt tên Tommy Phương.

Chỉ sanh thiếu một tháng mà nhà thương giữ nó lại hơn 30 ngày. Nuôi từ 5 pound 3 ounce cho tới đúng 6 pound mới cho về. Thiệt là khác biệt quá đáng giữa nước nghèo với nước giàu. Ở Saigòn mẹ nằm 1 tuần, trả tiền phòng, về là xong. Ở Mỹ, 2 ngày mẹ bị đuổi về, con giữ lại. Sanh xong mắc cái nợ hơn 4000 ngàn đô, trả góp gần 6 năm mới hết.

Được một chuyện hi hữu là hai anh em nó sanh cùng ngày cùng tháng, đứa lớn 11 giờ rưởi sáng, đứa nhỏ 9 giờ 45 sáng, cách nhau 1 năm. Sau nầy, năm nào làm sinh nhựt hai anh em chỉ tốn một cái bánh, đứa phân nửa .

Không biết có phải lúc mang bầu tôi quá buồn phiền, thèm ăn thèm uống, ảnh hưỡng tới bào thai hay không mà Tommy bụng dạ rất yếu. Cứ bú vô là ọc ra.

Má chồng tôi từ tiểu bang Nevada tới nuôi cho hai tuần. David làm lương ít, chỉ đủ sức mua loại tã bằng vải, xài xong bà má chồng tiếp giặt giũ. Bà cũng chỉ tôi mua loại sữa bột tự pha rẻ hơn.

Nhờ bà mà tôi học được cách làm bánh mì, mứt dâu mứt cam. Bà là người rất khéo nấu ăn.. Khi chồng chết (lúc David mới có 9 tuổi ) bà phải mở một quán ăn nhỏ để sinh sống. Bà dạy:

- Con cần nên học một nghề, nghề gì cũng được. Lỡ chồng có chết bất tử mình còn có thể đi làm nuôi thân và nuôi con. Đừng như má đây, chỉ biết nấu ăn cho nên phải làm nghề đứng nấu bếp, cực lắm.

Tôi thấy lời bà rất đúng vì phải khòm lưng ở cái lò nướng mà lưng bà còng hẳn đi.

* Dọn nhà

Khi Tommy được 4 tháng mấy, thấy chồng cực khổ quá sức, chịu không nổi, tôi bàn nên dọn qua thành phố Reno, tiểu bang Nevada. Thành phố cờ bạc, việc làm có lẽ đở cực hơn ở đây; vả lại, có mẹ có dì dầu sao cũng không đến đổi.

Trên đường đi, đồi non, đồi già, núi đồi đầy sỏi đá mà vương lên hằng hà sa số, ngàn trùng rừng xương rồng. Bông đủ màu trắng toát, đỏ tươi, vàng chói, tím ngát, đẹp quá trời là đẹp. Tôi lính quính kêu:

- Ngừng ngừng ngừng Ngừng cho tôi xuống đào một bụi đem theo.

- Cây của tiểu bang. Đào một cây là bị phạt 500 đô !

- Trời ơi, cây cả đồi mà hổng cho đào một cây. Vậy ngừng cho tôi hái một cái bông.

David tỉnh bơ.
- Bông cũng không được hái.

- Ở đây giữa sa mạc ai mà biết.

- Tôi biết, mình biết. Nhiều người cứ tưởng nhân viên kiểm lâm không thấy, chừng bị phạt rồi mới nói sao xui quá.

Anh chồng Mỹ biết tánh cô vợ Việt. Y đánh đòn tâm lý là tôi thua liền. Nghe giá 500 đô là tôi làm toán. (500 mua được nhiều thứ. Mua đồ cũ đầy đủ: tủ+giường, + chén bát, …..tội gì vì cái bông để bị chính phủ ăn.) Vậy là tôi im.

Thiệt xứ sở gì mà luật lệ quá gắt gao. Nhưng, phải đụng vô túi tiền thì thiên hạ mới sợ. Với lại, nếu ai cũng như tôi, thấy bông thì hái, thấy cây thì đào, rừng nào chịu thấu, lấy đâu để lại hậu thế chiêm ngưỡng?

Tới nơi, chúng tôi phải ở tạm dinh thự của nhà triệu phú, Mr. Hardy, nơi má chồng tôi đang làm quản gia cho ông. Ông là người hết sức tử tế. Ngày xưa ông là kỹ sư ngành hỏa xa. Trong phòng khách còn treo một chùm đèn bằng pha lê hình dạng giống như chùm đèn ở Tòa Bạch ốc nhưng kích thước nhỏ hơn, đã được ông cựu Tổng Tống Roosevelt trao tặng.

Đi xin việc làm, ngày nào về David cũng vừa lo lắng, vừa buồn vừa tức tối. Thời buổi đó, dân Mỹ đang cơn sôi động, chống chiến tranh, đòi chồng đòi con . Họ nhìn chúng tôi, một cựu quân nhân về từ Việt Nam và người đàn bà Việt đã chiếm chỗ một công dân của họ bằng những con mắt lãnh đạm. Sự thù hằn, ghét bỏ đó là chuyện thường tình của thế gian. Tôi thường khuyên chồng:

- Tôi hiểu người Mỹ lắm. Họ mất chồng, mất cha, mất con, mất người yêu, sự đau khổ ở nước nào cũng ngang nhau. Đừng nên để tâm. Cứ kiên nhẫn đi xin, thế nào cũng có việc làm.

Đúng như vậy, David được nhận làm người giữ an ninh cho casino tên Nevada Club .

Vài tháng sau tôi kiếm người giữ con, cũng đi làm trong casino The Nugget, nhiệm vụ đổi tiền cho khách. Nếu có sự hiểu biết như bây giờ, tôi đã không bỏ con đi làm như vậy. Tiền kiếm ra có giữ được đâu. Thời gian qua rồi là không trở lại. Các con lớn lên mình không gần gũi nhiều, tiếc thay!

Tuy cả hai cùng có công ăn việc làm, chúng tôi sống như chân không chấm đất. David thường hay uống rượu say sưa, tôi vô cùng buồn bã. Lúc đó, David coi tôi như… không khí, hổng cần giữ cũng chẳng mất đi đâu. Trong vòng mười mấy tháng, dọn nhà mấy lần. Và cũng mấy lần, tôi muốn bồng con đi. Rồi tôi nhớ lời nguyền của tôi trước bàn thờ ngày cưới. Rồi tôi nhớ lời Má tôi hay nói:

- Ba năm là tình, ba chục năm là nghĩa.

- Đồng vợ đồng chồng, chuyện gì cũng xong.

Rồi tôi nhớ lời Ba tôi khi còn sống:
- Nhịn đi con ơi (Thôi được, nhịn một chút cho con có cha có mẹ)

Rồi tôi nhớ lời thầy tôi (soạn giả Lê Hoài Nở, dạy ở trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ , đường Nguyễn Du, Sàigòn). Thầy đã dạy:

Chồng giận thì vợ làm lành

Miệng cười tủm tỉm……rằng anh giận gì ?…

Chồng bước tới, vợ bước lui,

Bước lui một bước, êm xuôi cả nhà.

Tôi tự nghĩ: “Không có trường dạy làm chồng, làm cha, làm vợ, làm mẹ. Ai cũng phải tự học cho nên cần một thời gian hơi…lâu”.

* 1973, Trở Lại Việt Nam

Tháng 2 năm đó, một buổi chiều đi làm về, David hớn hở hỏi:
- Muốn về Việt nam không?

- Muốn chớ, mà sao hỏi vậy?

- Hiệp định Paris. Việt Nam hóa chiến tranh. Không coi tin tức à?

- Tôi coi chương trình Seeseam Street. Đang học tiếng Mỹ mà. Tin hồi nào?

- Mới đây. Mình sửa soạn về Việt Nam.

Mượn tiền má chồng đủ mua ba vé máy bay rưỡi (phải đi trước khi Tommy hai tuổi vì trên hai tuổi phải mua nguyên vé).

Về lại Việt Nam, đọc báo, tôi biết đây là thời gian nhà báo văn nghệ sĩ “xuống đường”. Tôi không hiểu rỏ nghĩa “xuống đường” là gì. Đây cũng là lúc tôi đọc được những sách “Giải khăn sô cho Huế” của nhà văn Nhã Ca và cuốn “Mùa Hè Đỏ Lửa” của Phan Nhật Nam.

Theo lời con em Ngọc Anh, đang là thời gian thi hành hiệp định bốn bên: gồm Mỹ, Nam Việt Nam , Bắc Việt, Mặt Trận Giải Phóng. Mỹ đang từ từ giảm viện trợ, rút cố vấn, rút quân Mỹ, thu xếp trả tù binh.

Vì mừng quá, chúng tôi không cần biết gì về tin tức chiến tranh. Sống gần gia đình ngày nào hay ngày đó.
David được nhận làm cố vấn cho binh chủng Hải quân, ngành truyền tin, với tính cách công tra dân sự, đóng ở vịnh Cam Ranh. Tôi gởi hai đứa nhỏ cho mấy em, theo chồng kiếm nhà ở. Đi mà tôi đã quên một điều: gia đình tôi, chỉ là những người xa lạ đối với hai đứa nhỏ. Tommy vì nhớ cha nhớ mẹ, nó bịnh nặng, nằm thoi thóp, tưởng đâu tiêu rồi. Lúc đó má tôi theo mấy dì buôn bán quần áo con nít ở chợ Cầu Ông Lãnh. Buổi chiều về , má bồng nó đi bác sĩ liền, nó mới còn tới ngày nay. Thiệt tình, tôi làm mẹ quá dở.

Mới đầu, ở sau nhà đại úy Đương (chủ cây xăng gần cây số 9 ngoài cổng căn cứ Cam Ranh) Vài tháng sau dọn vô ở khu Đài Thu (Receiver Site) sát bãi biển, và cuối cùng ở Trung tâm Hải quân (Main Naval Base, Market Time).

Đây là thời gian vui nhứt của đại gia đình. Má với mấy đứa em thay phiên nhau lên chơi. Bãi biển Cam Ranh đẹp vô cùng. Có đảo Bình Ba có chợ Đá Bạc . Nhờ ở đây tôi mới biết và thấy những con rùa biển lớn bằng cái bàn (dân địa phương kêu là con Vích). Cam Ranh cũng là một trong ba chỗ trên trái đất giống rùa nầy lên đẻ trứng. Có một đêm theo mấy người lính rình coi . Nó đào lỗ, rặn một hơi cả trăm cái trứng, móp móp, ướt ướt, rồi dùng hai cái chân lấp đất, dấu xong, bò trở xuống biển. Mấy người lính đào lên đem về. Đôi khi, họ bắt luôn con rùa.

David hay nói :
- Sao người ta không chừa vài cái trứng. Ăn hết như vậy làm mất giống rùa !

Ngoài con rùa biển lớn còn có con kỳ nhông màu đỏ. Sau nầy về Mỹ tôi mới biết người Mỹ khám phá ra loại nầy dùng để chữa bịnh. (bịnh gì quên rồi )

Đám em tôi theo mấy người lính, nói thịt rùa đỏ tươi ăn như thịt bò, kỳ nhông cũng ăn thử, khen, như thịt gà!.
Thiệt, mấy đứa em tôi ăn uống “dã man”. Tôi sợ, không dám ăn. Ở đây, nghe nói cũng là xứ nhiều cọp. Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận mà. Trong khu căn cứ còn có một cái hồ cọp thường xuống uống nước. Mỹ đặt tên là Tiger Lake.

Ngày 9 tháng 8 Tổng Thống Nixon từ chức.

Chúng tôi ngày nào cũng vùng vẫy dưới biển. Ăn món gì cũng ngon. Lúc đó David làm lương tháng chỉ trên 400 đô. Đâu có sao. Cha mẹ vui thì con cái cũng vui.

* 1974, Rút Hết Về Mỹ

Cuối năm, tháng 12, một ngày sửng sốt. David về, hối hả:
- Sửa soạn về Mỹ.

- Cái gì ? Sao vậy?

- Mỹ phải rút hết. Mình có nghe đài Hoa Kỳ không? Nó đệm bản nhạc White Christmas suốt ngày là hiệu báo Mỹ dân sự phải rút hết.

- Trời đất ơi, đi liền sao?

- Đi liền. Về Sài gòn làm thông hành cho con.

Thử thời vận lần thứ nhì, tôi ra Bộ Nội Vụ hỏi cách thức đem thằng em trai duy nhứt theo. Họ cho biết đem em không được, nhứt là con trai, nhưng, con riêng thì được.
Vậy là, tự nhiên tôi có hai đứa con gái riêng (xin chính phủ Mỹ tha thứ cho tôi).

Tin chiến sự cho hay quân Trung Cộng dùng đầu đạn hỏa tiễn (Guided Missle) bắn chìm một chiến hạm Mỹ viện trợ cho Việt Nam (chiếc Destroyer Escort), chỉ sống sót một quân nhân. Trung Cộng ỷ mạnh hiếp yếu chiếm đoạt đảo Hoàng Sa, một cái một!

Ngày 24 tháng 12 năm 1974 chúng tôi trở về Mỹ, tới Louisana ở tạm nhà bà chị.

* Thề thoát cảnh nghèo đói

David xin được việc làm, tài xế lái xe đào đất cho hãng thầu xây cất nhà cửa, loại nhà 25.000 đô một căn. Những tưởng cuộc sống tạm yên, nào ngờ, nền móng xây xong, David bị layoff.

Tôi nhớ ngày đó, sự thất vọng và tức tối hiện rõ trên mặt, nước mắt muốn trào ra của y. Anh rể còn trong Hải quân, chị tôi theo chồng. Chúng tôi trơ trọi.

“Giải pháp Reno” là có nhiều hy vọng. Lại kêu gọi tới má chồng gởi xuống 500 đô.

Bạn hãy tưởng tượng hai người lớn, bốn đứa nhỏ cùng quần áo đồ đạc chen nhau trong chiếc xe nhỏ xíu, trong tay có khoảng 675 đô, vượt hơn 1,500 miles. Nửa chừng xe bị ãy nhíp ngừng sửa, tiêu hơn trăm rưởi. Dọc đường chỉ đậu ở chỗ bãi xe hàng , nghỉ đỡ 1, 2 tiếng. Ăn uống luôn trong xe, David lái một mạch 72 tiếng đồng hồ, xuyên qua mấy tiểu bang, giữa trời bảo tuyết!

Tới Reno 1 giờ trưa.

Đậu xe bên lề đường David đi bộ tới Casino để tìm việc. Ngồi lâu nóng ruột dặn hai đứa em coi chừng cháu , tôi cũng xuống xe đi lòng vòng coi có việc gì làm đại hay không. May mắn tôi được nhận liền chân bồi phòng ở nhà trọ tên Caravan.

Khi trở lại xe đã quá 3 giờ. David đi tới đi lui, tức tối:
- Đi đâu vậy? Tôi có việc làm, phải bắt đầu lúc 2 giờ, bây giờ trễ rồi, ai mà cho vô nữa.

- Không sao, tôi có việc, ngày mai bắt đầu.

Tìm chỗ ở. Motel Atlas, một phòng ngủ, có bếp nhỏ, tủ lạnh

Chiều hôm sau tôi đi làm về, David mặt mày một đống:
- Hôm nay tôi đi nộp đơn lãnh tiền thất nghiệp. Nó làm như mình đi xin vậy. Tôi không trở lại đó nữa đâu.

- Thì cũng phải ráng chớ sao. Lãnh tiền đó trong khi chờ kiếm việc. Chẳng lẽ để mấy đứa nhỏ đói?

Chúng tôi sống chật vật như vậy hết một lúc.

Bạn ơi, đây là thời gian khủng hoảng, xuống tinh
thần nhứt. Lương tôi một tuần 63 đô, trả tiền phòng hết 60, còn lại bao nhiêu? Mỗi ngày dọn phòng, khách để lại cho mấy chục cents, một đô là mừng lắm.

Tôi bán đầu tiên cái kiềng trơn hơn một lượng vàng 24 kara chưa từng đeo, rồi cặp nhẫn vàng Má tôi cho trước khi đi với lời dặn “để dành chừng nào con đói bán lấy tiền cho con ăn”, rồi cặp nhẫn xoàn má chồng cho.

Mỗi tuần mua hai hộp cereal hiệu Captain Crunch loại hột tròn tròn có đậu phọng (thằng con lớn tới bây giờ vẫn còn nhớ mùi vị đó) 1 đô 10 ổ bánh mì, loại bánh mì gần ngày hết hạn , nhưng vì ăn trừ cơm cho nên mau hết, không sợ hư ! hai hộp mứt, hai keo đậu phọng nát, hai hộp cacao pha sữa, một bịch gạo hai cân (chỉ nấu cháo) nhiều bắp cải, có khi 1, 2 con gà là món ăn của 6 người. Cũng may, hai đứa em đi học , được ăn uống đầy đủ, mỗi ngày để dành đem về cho hai đứa cháu mấy trái cam trái bom, vài cái bánh !

Còn nhớ một ngày bà dì chồng mời ăn bữa tối. Thiệt là một bữa ăn nhớ đời, đang đói mà!

Chồng tôi, người Mỹ, sống trên đất Mỹ mà cũng trải qua thời gian đói khổ, cũng như quí vị sau tháng 4 năm 1975.
Tôi lại mắc thêm một lời thề nữa. Tôi thề sẽ không để con tôi đói khổ…

Từ đây, tôi tập nhìn đời bằng con mắt khôi hài, chuyện gì cũng thấy nhẹ bớt đi. Và rồi cái đói khổ không kéo dài lâu.

Tôi xin được việc làm trong một hãng may màn, tấm trải giường, áo gối, đồ làm bếp…

Có biết may vá gì đâu. Có lẽ họ nhận vì cái mặt Á Đông của tôi. Ngày đầu tập sự tôi hỏi việc cho chồng, gặp ông giám đốc tử tế, y đắn đo một hồi rồi nói:

- Thông thường chúng tôi không nhận vợ chồng làm việc chung, nhưng lần nầy tôi phá lệ. Việc gì cũng đủ người rồi nếu chồng you muốn thì vô làm việc sắp đặt máy may, dọn dẹp hãng.

- Thiệt là…. Đội ơn ông.

Mỗi ngày tôi ngồi vật lộn với cái máy. Máy gì chạy lẹ quá trời ! Vừa đặt miếng vải vô nó làm một cái rẹt níu không kịp.

Mỗi ngày nhìn anh chồng Mỹ cầm cây chổi quét hãng mà ứa nước mắt.

Sau một tháng đi làm khi trời còn tối, về nhà thì trời đã tối rồi!, hết việc dọn hãng.

David hỏi ông giám đốc :
- Trong hãng việc nào làm lương cao nhứt ?

- Trừ việc quản lý, chỉ còn việc làm sửa máy may là lương cao.

David nói:
- Tôi có kinh nghiệm sửa máy kéo tiền trong Casino. Ông cho tôi thử nghề sửa máy may trong hai tháng, nếu làm không xong tôi sẽ tự động xin thôi.

Từ nghề sửa máy, David được lên chức phụ tá quản lý.
Ông Harvy, người ân nhân đã mất năm 1977. Chúng tôi không bao giờ quên ơn ông. Ông biết nhìn người, ông đã khởi đầu, hướng dẫn nghề nghiệp, cho chồng tôi có cơ hội xử dụng khả năng, vượt qua cảnh nghèo.

* 1975, Thắt Ruột, Thắt Gan

Bắt đầu từ tháng ba Ngọc Anh gởi thơ với tin tức chiến sự, càng ngày càng sôi động. Miền Nam thật sự trong cơn dầu sôi lửa bỏng. Qua tháng tư , mỗi ngày coi tin tức, thấy bản đồ chữ S bị màu đỏ nhuộm lần lần từ vĩ tuyến 17 xuống miền Nam, ngày nào ba chị em tôi cũng khóc. Sự lo sợ, nóng ruột nóng gan không còn nghi ngờ gì nữa, màu đỏ xuống tới Xuân Lộc, rồi Long Khánh, miền Nam lọt vô tay cộng sản là cái chắc.

Ngồi may mà nước mắt tuôn ra, tới nổi cô bạn nhỏ người Hong Kong, tên Siu Woo, chịu không thấu. Sẵn máy sẵn vải dư, nó may liền một cái túi, đi vòng vòng hãng xin tiền đồng nghiệp cho tôi. Thiệt có gặp cảnh khổ mới thấy người có lòng, nhứt là người nghèo. Nó xin được hơn trăm bạc. Rồi bà má chồng và ông giám đốc tốt bụng, cho chúng tôi mượn tiền gởi chị tôi cùng chồng trở về Việt Nam tìm cách rước gia đình. Nhưng, máy bay chỉ hạ cánh ở Thái Lan vì đã được lịnh không thể đáp xuống Việt Nam. Vậy là hết đường !

Đài truyền hình loan báo chiến hạm Mỹ đang neo ngoài khơi, ai ra tới sẽ được vớt. Lộ trình di tản, người ta chết trên đường lộ, chết chưa ra khơi, chết từ trên không trung rớt xuống. Một máy bay di tản trẻ mồ côi bị Cộng quân bắn hạ, mấy trăm trẻ chết hết???.

Đau đớn biết bao cho những người lính Cộng hòa đã bị bỏ lại. Càng coi càng thắt ruột thắt gan.

Cuối tháng Tư, trong tình trạng vô cùng tuyệt vọng, kể như sẽ không còn nhìn thấy mẹ và mấy đứa em nữa. Thình lình, đêm 29, khoãng 2, 3 giờ sáng, má chồng tôi kêu, nói, có người nào từ phi trường Hawaii cho hay má và mấy em đã rời Việt Nam.

Thủy quân Lục Chiến Mỹ làm hàng rào nhân sự, cầu không vận giờ chót đã bốc gia đình tôi ra khỏi địa ngục. Mừng quính, David liên lạc được với phi trường, nghe tiếng thằng em tôi:

- Cả nhà đi đuợc, chưa biết chắc đi đâu, họ nói Wake gì đó, em hổng hiểu, sợ quá.

David nói :

- Rồi, nó đưa qua đảo Wake, căn cứ quân sự.

Mừng thôi là mừng. Sau cơn mưa, trời sáng sủa hơn..
Mấy ngày sau, biết chắc những người trong chuyến bay đó đang ở trại Pendleton, California. Chúng tôi đi rước về. Gia đình tôi ở trại chỉ có vài ngày.

Về Reno, đài truyền hình Eye Witness News và đài số 2 tới tận nhà phỏng vấn.

Qua ngày sau, má và ba đứa em tôi vô hãng may làm, đài truyền hình lại tới quay phim, báo chí đăng hình, viết bài chúc mừng, gia đình tị nạn đầu tiên. Thiệt đúng là báo có đăng đài có nói đàng hoàng.

David nói với tôi:

- Tôi không tin tôn giáo nhưng đây là lần đầu tôi đã cầu nguyện.

Lúc đó vì mừng quá, đem gia đình ra khỏi trại sớm quá, chúng tôi không hiểu gì về quyền lợi và sự giúp đở bước đầu mà chính phủ Mỹ dành cho dân tị nạn. Chúng tôi chỉ biết có một điều là qua được rồi thì đi làm nuôi thân và trả nợ. Tội nghiệp Ngọc Anh, Kim Loan và Tấn Long thằng em trai mới có 17 tuổi là tuổi có thể trở vô trường, phải đi làm. Chỉ có Kim Phượng, Hoàng Thư và Thúy Phương được tiếp tục đi học.

Dân chúng Mỹ, chồng con về rồi, lòng nhân đạo họ cũng mở ra.

Thời gian nầy là lúc người Việt tị nạn có đủ chuyện vui về việc tự dịch tiếng Mỹ. Hiểu sao dịch vậy, giản dị gọn gàng.

Đưa tay chỉ vợ, chàng giới thiệu với người Mỹ:
- This is my house (đây là nhà tôi)
Ai làm gì sai, lắc đầu, xí xóa:
- No star where (không sao đâu)
- The wind hit him (nó bị trúng gió)
Bạn còn nhớ hôn?

* 1976, Cái Nghèo Đeo Đuổi

Sanh đứa con gái út, tuổi Thìn, tên Elizabeth Xuân. Hơn hai thằng anh, con rồng nầy ở đủ tháng đủ ngày. Nó uốn éo, nó vùng vẫy, nó nhào lộn, nó cân nặng 6 pound 12 ounce, sanh 6 giờ sáng.

Được chuyện nầy mất chuyện kia. Sợ con đói khổ, sợ cái nghèo đeo đuổi, sanh mới hai tuần tôi mướn người giữ con, đi làm lại.

Hai đứa rồi, thêm đứa thứ ba, đứa con gái mà David từ lâu mong đợi, tôi cũng đã bỏ bê nó cho người giữ.

Có phải vì lý do đó mà sau nầy lớn lên có chuyện gì buồn nó chỉ tâm sự với bạn mà thôi. Bây giờ nghĩ lại tôi vô cùng hối tiếc.

Sang năm 1977, dọn qua California. David làm Giám đốc hãng Barth&Dreyfus.

1978, Làn Sóng Thuyền Nhân

Sang năm 1978, Việt Mỹ được thư từ qua lại.

Làn sóng thuyền nhân tràn ngập các đảo nước lân cận. Cuối năm, cả đại gia đình dọn xuống North Carolina mở thêm chi nhánh. Làm ra tiền mà chỗ ở quá buồn.

Cuối năm, dì Năm cho hay chính quyền giải toả nghĩa trang Phú Thọ Hòa, phải lấy cốt Ba. Má tôi dặn đem đốt rồi gởi vô chùa. Dì Năm cho đứa con trai vượt biên, qua đảo Bulabidong an toàn.
*1979, Trận Cuồng Phong David
Năm nầy, thơ dì Năm cho hay cha con tụi tôi sẽ gặp nhau. Đó chỉ là cách nói bóng gió cho biết dì sẽ mang theo tro cốt của ba tôi đi vượt biên. Chừng không nghe tin tức của dì mà chỉ nghe tin thời tiết về trận bão chúng tôi lo lắng vô cùng.

Trận cuồng phong (hurricane ) trớ trêu thay lại có tên là David, khủng khiếp, tàn phá, giết hơn 1,100 dân vùng duyên hải đảo Caribbean. Bão dữ sóng thành nhận chìm biết bao thuyền nhân.

David liên lạc với hội Hồng Thập Tự, họ cho biết tin dữ : chiếc tàu Minh Hải khởi từ Cà Mau đã không tới bến. Hơn 20 người bà con cùng dì Năm ôm bình tro cốt ba tôi, chìm sâu đáy biển. Ba tôi chết lần thứ hai! Một lần vì chiến tranh. Một lần vượt biên.

Nghe tin, không biết phải làm gì. Thấy tôi ngồi chết lặng cả buổi trong xó nhà, David ra xe lái đi. Y đi tìm chỗ làm thủ tục đứng tên bảo lãnh hai gia đình thuyền nhân Việt Nam.

Ở North Carolina, tôi đã gặp nhiều cựu quân nhân, thương phế binh Mỹ trở về từ Việt Nam. Một người da trắng, mặt mày bị cháy bởi bom Napaln, không còn hình dạng mắt, mũi nữa… Một người da đen, tay chống nạng, ông nói:

- Tôi để lại một chân bên xứ của cô.

Bạn nghe đau lòng không?

* 1984, dọn hẳn về California

David nhảy từ hãng nầy qua hãng nọ, chỗ vài tháng, không hài lòng với việc làm. Hùn hạp với một người Đại Hàn mở hãng in vải, lỗ vốn, đóng cửa .

Thất nghiệp. Y bỏ uống rượu. Nhất định không chịu xin tiền thất nghiệp. Năm nầy là năm thất thời thất chí của y. Ngồi trước TiVi, không đổi đài, hồn lạc đâu mất tiêu. Nhiều đêm, y ngồi dậy, lâu lắm, không nói gì. (Sau nầy nghe người ta nói cựu quân nhân Mỹ tại Việt Nam thường bị flashback, có nghĩa bị hình ảnh quá khứ ám ảnh, hổng biết dịch tiếng Việt là gì.)

Tôi cũng không khá hơn. Ở nhà lãnh tiền thất nghiệp. Vừa may em tôi, Thúy Phương, đem cuốn sách dạy về ngành Thẩm Mỹ cho tôi dịch mướn, kiếm thêm chút đỉnh!

* 1987, Má Chồng Mất

Việt kiều bắt đầu trở về Việt Nam thăm nhà.

David làm cho hãng Design Collection (DC) chuyên mua bán, xuất nhập cảng hàng vải. Tôi đậu bằng thẩm mỹ, ở lại dạy cho trường.

Giữa năm, má chồng tôi mất. Trước khi chết bà dặn không được mở nắp hòm.Bà muốn con cháu nhớ lúc bà còn sống chớ không nhớ tới cái xác vô hồn. Thôi rồi!

Bà đi trước khi được thấy sự nghiệp thành công của con trai. Cũng không kịp cho tôi nói lời cám ơn, thưa với bà là đứa con dâu Việt Nam của bà đã có nghề nghiệp chuyên môn, khỏi phải lo đứng bếp như lời bà từng dặn.

Còn đâu nữa những buổi ăn ngon lành thuần túy thức ăn Mỹ. Những ngày lễ lớn, nếu tụi tôi không đi thăm được, bà luôn luôn gởi thùng bánh trái tự tay làm cho con cháu. Tôi nhớ những lúc túng quẫn, bao giờ tụi tôi cũng kêu gọi tới bà. Lòng mẹ thương con dân tộc nào cũng như nhau.

Từ đây, bà đã nằm kế bên ngôi mộ người chồng yêu dấu.

* 1988 – 1990

David lao đầu vô việc làm. Mỗi tháng đi Nửu Ước hoặc South Carolina một tuần. Tôi cũng lo việc của tôi.

Hai đứa con trai tới tuổi vị thành niên, tuổi nguy hiểm. Bắt đầu nếm mùi lo buồn vì con cái. Lỗi chúng tôi phần nào vì đã không biết dạy dỗ tụi nó đúng cách.

1990. Bà chị thứ tư của David mất vì bịnh đứng tim.

1991, David Bị Kích Tim

David bị heart attack (kích tim) vô nhà thương mấy tuần. Hậu quả của gần 30 năm hút thuốc. Hút càng ngày càng nhiều. Việc làm càng khó khăn, căng thẳng, y càng cố gắng, càng cố gắng thì hút thuốc càng nhiều.

Chưa từng biết gì về computer nhưng với kinh nghiệm làm việc, y đã điều hành, kiểm chứng cho chuyên viên lập ra một chương trình để xử dụng trong hãng. Từ lúc hãng mới mở cửa năm 1986, việc ít, người ít, mọi sự đều làm bằng tay. Cơ sở phát triển lên hàng trăm nhân viên, phải điều hành bằng hệ thống điện toán.

Vì trách nhiệm, vì việc làm đòi hỏi sự quan tâm thường xuyên, y đã quên thân mình. Một ngày hai bình cà phê, ba gói thuốc thì thân nào chịu nổi. Bác sĩ cho biết nếu không tự săn sóc lấy mình thì y sẽ không sống tới ngày có cháu!

Sợ chết ,y bỏ hút thuốc. Một cái một. (y nói nhỏ không muốn bỏ tôi lại một mình)

Tôi thi đậu, làm giám khảo ngành thẩm mỹ.

Chiến tranh giữa Kuwai và Iraq bùng nổ.

Hai đứa con trai nói “khi quốc gia cần tụi con sẽ đi lính ” dù ba nó đã cho biết sự sai lầm của chính bản thân. Tôi quá lo sợ, sợ cho tới ngày Tổng Thống Bush rút quân về.
Con gái tôi bắt đầu cãi cha ghét mẹ. Khi buồn nó chỉ tâm sự với bạn mà thôi. Lỗi tại tôi, ham làm việc, ít gần gụi nó.

Diện con lai, gia đình HO bắt đầu qua Mỹ.

* 1992 – 1993

Lawrence vừa đi học vừa đi làm. Đứa con trưởng có tánh tự lập từ nhỏ. Có em sớm, nó cũng sớm biết nhường nhịn, thường ngồi chơi một mình.

Còn nhớ Tommy, lúc mới mấy tháng biết nhìn ai là mẹ rồi, tối nào tôi cũng phải ẵm nó từ 8 tới 9 giờ rồi bỏ vô giường thì nó mới chịu ngủ.

Vậy mà vù một cái, năm 1993, tôi cưới dâu trưởng, gốc Quảng Đông, tên Elaine.

* 1994 – 1996

Hãng DC chia ra chi nhánh lấy tên Division 92, David đươc một phần trong bốn phần hùn. Y vừa làm chủ hãng DIV 92, vừa làm phó giám đốc cho hãng chính DC.
Cuối 1994, Tommy vô hãng làm việc cho cha.

Sang năm 1995, con dâu có bầu. Đứa đầu không giữ được.

Tôi cứ suy nghĩ hoài. Có thể nào, vì Agent Orange (chất độc mầu da cam từng xài quanh các căn cứ Mỹ ở Việt Nam thời chiến) ảnh hưởng máu ông nội, qua tới đời cháu? Chẳng lẽ hậu quả của chiến tranh đeo đẵng theo phá hoại tới đời con cháu?

1996, Thêm Công Dân Hợp Chủng

Elaine có bầu lần thứ nhì. Lần nầy thì mẹ tròn con vuông. Chúng tôi có cháu nội gái tên Emily.

Vậy là, xứ sở có tên Hợp Chủng Quốc thêm một công dân hợp chủng. Emily có 3/4 máu Á Đông, máu Mỹ còn có 1 phần. Nếu theo cái đà nầy, vài thế hệ tới nước Mỹ sẽ không còn da trắng, đen, vàng, đỏ, nâu nữa mà sẽ có cùng chung một màu … lờ lợ. Với cháu nội, tôi muốn sửa lại những sai lầm, thiếu sót của tôi khi nuôi con, tất cả thì giờ rảnh tôi dành cho nó.
* 1997, xuống tàu, “ra riêng”

Elizabeth vô hãng làm phụ tá cho David.

Tụi tôi để nhà lại cho vợ chồng Lawrence. Mua chiếc tàu dài 28 feet, “ra riêng”, sống luôn trên tàu. Kể như chúng tôi ăn trái do mình trồng, bây giờ có dư chút đỉnh tiền, y dụ tôi mua chiếc tàu để thỉnh thoảng đi câu cá. Tôi chìu theo dù không biết lội.

Ai mà ngờ ngày ký tên nhận tàu, cũng là ngày tụi tôi ở luôn trên con tàu neo giữa Boat City tại Marina del Rey…. Không khí mát mẻ, tôi dứt chứng bịnh dị ứng mũi kinh niên. Từ ngày ở trên tàu không còn phải xài thuốc thông mũi nữa.

Sang năm 1998, con tim của David có vẻ chịu gió biển, không thấy lên cơn bất tử nữa. Công việc “xuôi chèo mát mái” y đòi đổi chiếc tàu 38 feet. Tôi lại phải gật.
Sống trên mặt nước là ước muốn từ lâu của y. Có con tàu riêng đúng ý, David vui vẻ coi là “mộng đã thành.”
Nhìn y vui, tôi nhớ đủ thứ. Chẳng có giấc mộng nào tự nhiên mà thành. May mắn không đủ. Núi cao có núi cao hơn. Lúc nào chúng tôi cũng tự hỏi “Mình có làm đầy đủ nhiệm vụ chưa” để khỏi phụ công ơn của những người trên đường đời đã một lần nào đó, giúp mình.

* 1999, Vĩnh Biệt Elaine

Trước ngày lễ Tạ Ơn, nhận tin chị Elaine đang hấp hối. Tới nhà chị, tụi tôi quẩn quanh trong 4 ngày. Đây là lần thứ hai tôi chứng kiến mạng người chênh vênh giữa sự sống và chết.

Khi Ba tôi bị bắn, cái chết thời chiến đến thình lình, tức tưởi, tê dại. Chị Elaine chết trong cảnh an bình. Đứng lặng bên giường chị, tôi thấy sự hấp hối, lấy hơi lên, hớp từng hớp không khí mà không nghe hơi thở ra, cho tới hớp không khí cuối cùng. Thình lình, tim ngừng đập.

Chị mất, tuổi mới 53. Tro tàn chị dặn hãy đem rải trên ngọn núi Table Rock ở Medford, nơi chôn nhau cắt rún. Một cuộc đời, chỉ sống loanh quanh nơi thị trấn nghèo nàn, buồn thiu. Sống giản dị, chết cũng giản dị.

Còn nhớ mới ngày nào chị cùng má chồng ra sân bay rước tụi tôi, năm 1970. Tôi gặp chị vào lễ Tạ Ơn, nay chị xa tôi cũng vào dịp lễ nầy! Thoắt cái. Ba mươi năm. Thôi rồi, xong một đời người. Vĩnh biệt Elaine.

Image
Một vài hình ảnh gia đình do tác giả cung cấp.
* 2000, Sau 32 Năm

Ngày 28 tháng 5 năm 2000, ngày giỗ Ba tôi.

Sau 32 năm, nhìn đám con nguyên vẹn 7 đứa (chị tôi đi xa không về kịp) cùng gia đình sum họp, có lẽ Má tôi, chen lẫn trong buồn nhớ là sự hài lòng. BMá đã không uổng công ở vậy nuôi con. Mấy chị em tôi, dù con cháu đầy đàn, vẫn luôn luôn quẩn quanh bên Má. Tôi không đủ chữ nghĩa để viết về người mẹ. Bà là người đã tạo cho tôi lòng tin và sự cứng rắn. Chính bà là chỗ dựa để tôi đứng lên vững hơn mỗi lần bị đời đạp xuống. Má tôi đã lên chức Bà Cố từ lâu.

Tháng 6, tôi có thêm đứa cháu nội gái tên Charlotte. Đứa lớn giống mẹ đứa nầy giống cha. Đứa cháu lớn nói tiếng Tàu thiệt là giỏi. Tiếng Mỹ khỏi học cũng biết. Tiếng Việt nói gì nó cũng hiểu, mà còn mắc cỡ miệng. Năm nay tôi cho nó 2 cuốn băng học tiếng Việt, má nó cùng học luôn thể. Mới 4 tuổi rưởi mà nó ma le lắm. Khi nào muốn tôi chơi với nó, nó sẽ giở giọng nhõng nhẽo ra ” bà nội, lại đây” bằng tiếng Việt có bỏ dấu đàng hoàng (giỏi hơn ông nội) lòng tôi mềm nhủn liền.

Khi nhận tin người anh rể chết bất thình lình, tôi nhớ ngày anh mang David về ngôi nhà cũ ở Phú Lâm giới thiệu. Anh chính là “ông mai” của chúng tôi. Tôi biết ơn anh.

Cho tới ngày nay, David cũng chỉ nói được vài tiếng Việt không bỏ dấu.

Tôi xào đồ ăn, y nhắc:
- Put alot of Cu Hanh ( để nhiều củ hành).

Mỗi lần ai hỏi về “Chuyện gì xảy ra ở “Nam’” y trả lời:
- Mình rút, mình thua. Vinh hạnh gì mà khai? Tôi thấy xấu hổ…

Tôi không nhìn người đàn ông đi bên tôi là người ngoại chủng, chỉ thấy một người chồng, người cha, lòng tốt lấp đi tật xấu. Y bắt buộc ba đứa con phải nói tiếng Việt để tỏ lòng kính trọng người mẹ Việt và gia đình bên ngoại.

Đó bạn, “chuyện nhà” chúng tôi, cũng ba chìm bảy nổi như bao câu chuyện khác.

Qua kinh nghiệm sống hơn ba chục năm, tôi thấy nước Mỹ chuộng người siêng năng, cầu tiến, cố gắng và biết chụp cơ hội. “Ngồi mà chờ thời, đời nào mà thành.”

Tôi hay chọc David :
- Nước Mỹ nợ nước Việt Nam, cho nên phải cưu mang người Việt. Má tôi hơn 75 tuổi còn sáng suốt, ăn uống đầy đủ, bịnh hoạn đã có bác sĩ, nhà thương lo. Các em tôi có công ăn việc làm đàng hoàng. Còn you, you nợ tôi, you tình nguyện vô lính lúc chưa tới 17 tuổi, bắt mẹ phải đi ký tên, đi tuốt qua bên kia trái đất, rước tôi về đây để trả nợ.

Y nịnh:
- Nợ tình. “I love you từ kiếp trước”. Nợ tiền trả lần lần cũng hết. Nợ tình thì anh trả suốt đời. Kiếp nầy không xong trả thêm kiếp sau.

Vậy là sau bao năm coi vợ như… không khí, y bắt đầu hiểu ra là không khí cũng có chút giá trị.

Vợ chồng, khi hiểu được điều nầy, thường đã…quá “đát”. David nay không còn ốm gọn, mà y như cái thùng phuy. Tôi cũng đã tròn như cái gối ôm, đâu còn nhỏ xíu, mỏng manh như khi đứng bên y trước bàn thờ Ba tôi năm nào.

Trong trận cuồng phong David năm 1979, mạng sống hàng ngàn người và thuyền nhân đã bị nhận chìm, trong đó có dì Năm và tro cốt Ba tôi. Tất cả chìm tan nhưng biển vẫn còn đó.

Hàng ngày, tôi đang là “tàu nhân” sống ngay trên biển.

Đứng bên David, người chồng Mỹ cùng tên với trận cuồng phong, nhìn biển, nghe tiếng sóng xô, lớp sau đùa lớp trước, tôi hiểu điều tôi khấn nguyện và tự hứa năm xưa vẫn được Ba tôi liên tiếp nhắc nhở và phù hộ.

TRƯƠNG NGỌC BẢO XUÂN

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image


Nét văn hóa độc đáo của người Nhật
Vũ Văn An


Cả thế giới đều đã được nhìn tận mắt sức tàn phá khủng khiếp của trận động đất và cơn sóng thần ngày 11 tháng 3 vừa qua tại Nhật. Hình ảnh cơn lũ biển cao 10 thước với vận tốc gần 2 trăm cây số giờ đổ xuống các làng mạc và thị thành ven biển phía bắc của Nhật, mang theo thác chẩy của nó bất cứ vật gì, sẽ còn hiển hiện trong tâm trí nhiều người trên thế giới trong nhiều thời gian sau. Nhưng một hình ảnh khác, xuất hiện muộn hơn một chút, cũng sẽ không thua xa độ bền trong tâm trí họ. Đó là hình ảnh một dân tộc anh dũng duy trì được nền đạo đức cộng đồng trong một hoàn cảnh cực kỳ cùng cực và hỗn độn do thiên nhiên tạo ra: người chết hàng loạt, người mất tích đông vô kể, nhiều thành phố và làng mạc bị san bằng trong phút chốc, và viễn tượng phóng xạ không thua 1945, viễn tượng mà có người cho rằng: tôi sống sót, nhưng không biết là tốt hay xấu (theo tin CNN). Tốt hay xấu, người Nhật vẫn một lòng biểu lộ nền đạo đức cộng đồng của họ.

Đài CNN trưng trường hợp: không một nạn cướp giật nào xẩy ra nhân vụ động đất và sóng thần khủng khiếp này. Tất cả những biến động gần đây, dù là ở đâu, ở Anh hay ở Mỹ, nạn cướp giật vẫn xẩy ra nhãn tiền. Ở Nhật, nó đã không xẩy ra. Có người nói tới những đôi dép đặt ngay ngắn bên ngoài các trung tâm tạm cư; những hàng người kiên nhẫn đứng chờ hàng giờ đến lượt vào mua nửa cân gạo, một cây nến; những viên chức cho biết chỉ nhận được 10% sự giúp đỡ cho dân mình, nhưng sẵn sàng kiên nhẫn vì “ai cũng đau khổ như mình”; những người chủ siêu thị, máy bán thức ăn thức uống sẵn sàng bán chịu hay tặng không; những thanh thiếu niên cúi đầu cám ơn khi “được” rà máy khám phá tia phóng xạ; người dân âm thầm bắt tay vào diễn trình phục hồi, tái thiết, không đợi ai, không ta thán ai, không khoán trắng cho ai. Và đài CNN làm một cuộc thăm dò: tại sao người Nhật không cướp giật? Nay mai, thế giới chắc chắn sẽ được đài này cho biết câu trả lời. Có điều ai cũng biết câu trả lời chắc chắn không như câu trả lời lâu nay trên liên mạng đối với câu hỏi tại sao ở Texas không có nạn cướp giật: đó là một tấm hình, chụp một nhóm thanh niên tay cầm súng lên nòng sẵn, tay kia ôm một biển ngữ viết hàng chữ màu đỏ (mầu máu?): “Drunks with guns, U loot we shoot” (say rượu có súng, mày cướp, bọn tao bắn). Đài CNN gợi ý: có thể là do Thần Đạo và Phật Giáo. Chả lẽ cướp giật lại là phó sản của các tôn giáo không phải là Thần Đạo và Phật Giáo? Thần Đạo thì chỉ Nhật mới có, nhưng Phật Giáo thì không của riêng Nhật. Và không thiếu cảnh cướp giật trong nhiều xứ Phật Giáo. Nhiều ý kiến cho rằng không hẳn do yếu tố chủng tộc mà do yếu tố văn hóa, bén rễ trong tâm trí người dân Nhật cả hàng nghìn năm nay, bất kể các tấn công như vũ bão từ bên ngoài. Họ là những người khiêm tốn, tự trọng, quyết tâm bảo vệ danh dự gia đình. Danh dự là điều xác định ra tác phong văn hóa Nhật Bản. Họ quí trọng người trẻ, người già, thành quả giáo dục, mục tiêu nghề nghiệp, gia đình. Tại Nhật, ô danh không những mang nhục cho cá nhân mà nhục cho cả gia đình, dòng tộc. Danh dự ấy, người dân Nhật đang kiêu hãnh chứng tỏ cho cả thế giới thấy.

Mặt mũi và thực cảm

Nhiều tài liệu viết về văn hóa Nhật Bản nhấn mạnh tới “tatemae”, tư cách bên ngoài (public persona) và “honne”, tâm tư thực sự bên trong và cho rằng: ngoài công cộng, người Nhật ưa biểu lộ mặt mũi, vì địa vị, vì vai trò của mình, bất chấp các ý kiến tư riêng. Những tâm tư, tình cảm, ý kiến riêng luôn được khuyến khích dấu kín, nhất là khi làm việc công, chỉ nên thổ lộ với bạn bè. Chỉ xét như thế, người Nhật có vẻ khép kín, theo chủ nghĩa cá nhân.

Thực ra, người Nhật không đơn giản như thế, họ có cả một thứ triết lý sống phong phú và phức tạp hơn nhiều. Cũng như nhiều dân tộc trên thế giới, trong thần thoại học của họ, các vị thần cũng biểu lộ các xúc cảm nhân bản như yêu thương và giận dữ. Trong các truyện kể này, tác phong nào đem lại các tương quan tích cực với người khác đều được tưởng thưởng, và sự tương cảm (empathy) tức việc đặt mình vào hoàn cảnh người khác, rất được trân quí. Ngược lại, hành vi nào chống lại xã hội, có hại cho người khác, đều bị kết án, trừng phạt. Không một xã hội nào có thể hiện hữu mà lại dung túng tác phong phản xã hội về lâu về dài, nhưng Nhật Bản là một trong những xã hội dựa nhiều nhất vào sự thưởng phạt có tính xã hội hơn là có tính siêu nhiên và nhấn mạnh tới ích lợi của sự hòa hợp. Trẻ em Nhật, từ rất sớm, đã được dạy rằng sự thành toàn nhân bản phát sinh từ việc liên hợp với người khác. Chúng được người ta dạy rất sớm rằng chúng là thành phần của một xã hội liên lập, bắt đầu từ gia đình và sau đó lan rộng ra các nhóm lớn hơn như khu xóm, trường học, cộng đồng, và nơi làm việc. Tùy thuộc người khác là một phần tự nhiên trong thân phận làm người; nó chỉ bị coi là tiêu cực khi các trói buộc xã hội do nó tạo ra quá nặng nề đến chu toàn không nổi.

Trong các liên hệ liên bản ngã, phần lớn người Nhật có khuynh hướng tránh việc cạnh tranh hay tranh chấp công khai. Làm việc với người khác đòi có tinh thần tự chế (self-control), nhưng nó đem lại phần thưởng tự hào vì đã đóng góp cho nhóm, an toàn xúc cảm, và bản sắc xã hội. Hòa (wa), tức ý niệm hòa hợp trong nhóm, đòi tác phong hợp tác và nhìn nhận các vai trò xã hội. Nếu mỗi cá nhân trong nhóm hiểu rõ bổn phận bản thân và tương cảm với hoàn cảnh người khác, thì cả nhóm được nhờ. Thành công chỉ đến nếu mọi người đóng góp phần cố gắng hết sức mình của mình. Các quyết định thường chỉ được đưa ra sau khi tham khảo với mọi người trong nhóm. Nhất trí không bao hàm mọi người phải đồng ý, nhưng phong thái đưa ra quyết định có tính tham khảo này bao gồm mọi thành viên của nhóm trong các buổi trao đổi tín liệu, củng cố tâm tư tình cảm của cả nhóm, và làm cho việc thi hành các quyết định trôi chẩy hơn. Sự hợp tác trong nhóm cũng thường được tập chú vào việc thi đua giữa tiểu nhóm này và tiểu nhóm kia… Các biểu tượng như đồng phục, bảng tên, huy hiệu và có khi cả bài ca được dùng để lên bản sắc cho tiểu nhóm để cả bên ngoài lẫn trong nhóm đều nhận ra. Tham gia sinh hoạt của nhóm, dù chính thức hay không chính thức, đều là một cách biểu tượng nói lên rằng cá nhân muốn được coi là thành phần của nhóm. Bởi vậy, những buổi la cà ở hàng quán sau giờ làm việc không những là cách trao đổi tin tức và xả “xú bắp” căng thẳng xã hội mà còn là dịp để nói lên một cách không lời (noverbally) ý muốn được tiếp tục thuộc về nhóm.

Ở Nhật Bản, làm việc trong một nhóm đòi người ta phải khai triển nhiều “kênh” thông đạt để tăng cường tinh thần liên lập của nhóm và cảm thức khác biệt với những người không thuộc nhóm mình. Còn các tương giao xã hội bên ngoài các nhóm này, tuy hiện đã trở thành một điều cần thiết trong xã hội hiện đại, nhưng nếu tương giao này ngắn ngủi hay tương đối vô nghĩa, như đi mua một tờ báo chẳng hạn, thì người ta vẫn duy trì sự ẩn danh. Trái lại, nếu thấy tương giao này tiếp diễn lâu dài, dù trong thương trường, trong hôn nhân, nơi làm việc hay khu xóm, thì người ta hết sức quan tâm để làm sao thiết lập cho bằng được những liên hệ tốt và lâu bền. Các mối liên hệ này thường bắt đầu nhờ dùng mạng lưới thân nhân, bè bạn hay đồng nghiệp là những người sẵn sàng giới thiệu họ, làm trung gia mối lái (nakodo) cho họ với người họ muốn. Mối lái tất nhiên xẩy ra nhiều trong lãnh vực hôn nhân, nhưng trong các lãnh vực khác vẫn không thiếu. Việc của họ là tìm hiểu bối cảnh gia đình, chuyển tải các câu hỏi và phê phán, và làm trơn tru các trở ngại, khó khăn.

Lãnh vực tư

Địa vị liên hệ được coi là căn bản cho các tổ chức xã hội, và việc liên hợp với người khác được coi là đáng mong ước, nhưng các giả định này không hề triệt tiêu ý niệm bản ngã. Ý thức hệ hòa hợp với người khác không tự động tạo ra sự đồng quy của cá nhân với nhóm hay với mục tiêu của định chế.
Nhà nhân chủng học Brian Moeran phân biệt các thái độ đối với cá tính và chủ nghĩ cá nhân. Cá tính (individuality), hay tính độc đáo của một con người, không những được dung túng mà thường còn được ca ngợi nếu người đó được nhận là thành thực, hành động theo lương tâm. Một tác phẩm nghệ thuật chuyên chở những nét mạnh và đẹp là do “ cá tính” của nó. Tuy nhiên, chủ nghĩa cá nhân bị coi là tiêu cực, vì nó đồng nghĩa với vị kỷ, ngược hẳn với tương cảm là điều người Nhật hết sức trân quí. Dù đa số người Nhật ngày nay bác bỏ giá trị của ý niệm “seishin”, tức đức quên mình đến chấp nhận cái chết của các binh sĩ trong Thế Chiến II, nhưng lòng vị kỷ (nhất là lòng vị kỷ nơi các bà mẹ, là lòng vị kỷ được người Nhật coi là có ảnh hưởng tới sức khỏe thể lý và tinh thần của con cái), vốn được người ta gán cho đủ mọi thứ nan đề của xã hội đương thời. Các nan đề này bao gồm những bệnh được xếp loại là hội chứng tâm bệnh như hội chứng bếp núc (dadokoro shokogun) tức tình trạng các bà nội trợ, trước đây vốn tỉ mỉ, bỗng nhiên có những tác phong kỳ cục và than đau đầu đau lưng, biểu lộ sự chán nản thất vọng của mình bằng cách khước từ vai trò làm mẹ và làm vợ. Hay hội chứng khước từ trường học (toko kyohi), trong đó trẻ em kêu đau bụng, đau đầu để khỏi đi học, khỏi thất bại về đường học vấn và xã hội.

Giống mọi xã hội khác, Nhật Bản cũng có những tranh chấp giữa cá nhân và nhóm. Điều khác với xã hội Bắc Mỹ, không phải là việc người Nhật không có ý thức về bản thân mình mà đúng hơn, bản thân ấy được xác định qua tương giao với người khác, chứ không qua sức mạnh của nhân cách cá nhân. Theo Reischauer, “người ta không quan niệm một người Nhật, vốn có tinh thần hợp tác, sống bằng tương giao, như một sản phẩm vô vị của tác động hóa xã hội đến làm mòn hết mọi góc cạnh của cá tính, nhưng đúng hơn như một sản phẩm của lòng tự chế nội tâm đầy kiên vững khiến họ khuất phục được… bản năng phản xã hội…. Tính hợp khuôn theo xã hội của họ… không phải là dấu chỉ yếu nhược mà đúng hơn chính là sản phẩm đầy tự hào và tôi luyện của sức mạnh nội tâm”. Sự khuất phục này đạt được là nhờ thắng vượt khó khăn bằng tự kỷ luật chính mình, cố gắng bản thân nhằm sự hoàn thiện, điều mà họ biết là không thể thực hiện được nhưng lúc nào cũng là một mục tiêu đáng vươn tới. Với tầm nhìn này, cả bản thân lẫn xã hội đều thăng tiến, và thực sự có tương quan qua lại với nhau vì lý tưởng toàn thành bản thân (selfhood) mà người Nhật nào cũng cố gắng nhắm tới chính là lý tưởng trong đó quan tâm tới người khác là điều rất quan trọng. Theo David W. Plath, trong khi người Mỹ cố gắng vun sới một bản ngã độc đáo, thì đa số người Nhật đặc biệt nhấn mạnh tới việc vun sới “một bản ngã biết cảm nhận điều nhân bản trong tình liên hợp với người khác”. Sự trưởng thành chín chắn vừa có nghĩa tiếp tục quan tâm tới điều người khác cảm nghĩ vừa có nghĩa cảm thấy tự tin vào khả năng phán đoán và hành động hữu hiệu của mình, vừa nhìn nhận các qui phạm xã hội vừa trung thực với chính bản ngã mình.

Lãnh vực công

Khó có thể hiểu được quan điểm của người Nhật về trật tự xã hội nếu không xét tới ảnh hưởng của Khổng Giáo bởi vì trước khi chịu ảnh hưởng của Trung Hoa vào thế kỷ thứ 6, nước Nhật không hề có một xã hội có tầng lớp. Khổng Giáo nhấn mạnh tới sự hòa hợp giữa trời, đất và xã hội con người nhờ việc mọi người biết chấp nhận vai trò xã hội của mình và góp phần vào trật tự xã hội bằng chính tác phong của mình. Câu người ta hay trích dẫn từ Sách Đại Học là câu này: “tu thân, tề gia, trị quốc bình thiên hạ”. Câu này cho thấy phẩm trật là điều tự nhiên. Sự khác nhau trong địa vị gần như xác định ra mọi tương giao trong xã hội. Tuổi tác, phái tính, trình độ giáo dục, và nơi làm việc là những dị biệt hướng dẫn việc tương giao trên. Không biết hậu cảnh của người khác, thì tuổi tác và phái tính là các hướng dẫn duy nhất cho cá nhân. Người Nhật không mấy thích giao tiếp với người lạ, để tránh sai lầm về xã giao. Danh thiếp năng được trao đổi ở Nhật, làm phương tiện qúy giá cho việc giao tế trong xã hội, vì chúng cung cấp khá nhiều tín liệu về người khác giúp cho việc giao tế xuông xẻ. Nhà học giả về Nhật Bản Edwin O. Reischauer nhận định rằng trong khi người Mỹ có khuynh hướng hành động để giảm thiểu hóa các dị biệt về địa vị, thì đối với người Nhật, nếu một ai đó không xử sự đúng theo địa vị của mình, thì quả là vụng về, có khi còn bất xứng nữa.

Ngôn ngữ Nhật là một ngôn ngữ phẩm trật, dồi dào phương tiện giúp người ta biểu lộ các dị biệt về địa vị, và do đó, cho thấy phẩm trật là điều tự nhiên. Người Nhật có cả một ngữ vựng phong phú gồm các hạn từ mô tả danh dự hay thân phận hèn mọn, vì chúng cho thấy địa vị của người ta. Đàn ông và đàn bà sử dụng cách ăn nói hơi khác nhau: đàn bà thường dùng lối nhã nhặn, lễ phép hơn. Người ta có thể nhận dạng hạn từ nào đàn bà hay dùng và hạn từ nào đàn ông hay dùng. Giống người Việt chúng ta, nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít mà tiếng Anh vỏn vẹn chỉ là “I”, thì người Nhật tùy theo hoàn cảnh, phái tính và địa vị của mình mà thay đổi khác nhau. Tóm lại, bất cứ nền văn hóa nào chú trọng tới tương cảm, thì người nói không thể lên tiếng nếu không có sự chú trọng tới người khác.
Hạn từ phẩm trật hàm nghĩa có sự xếp hạng các vai trò, cũng như hàm nghĩa có những qui luật cứng ngắc và nền hành chánh của Nhật cũng phản ảnh triết lý này. Tuy nhiên, ở đây, người ta thấy có sắc thái độc đáo mà nhà nhân chủng học Robert J. Smith gọi là “trật tự khuếch tán” (diffuse order, không tập quyền). Thí dụ, trước thời hiện đại, các nhà lãnh đạo địa phương được ban cho nhiều quyền tự trị, nhưng để đáp lại họ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về công việc của địa phương. Thời hiện đại của Nhật cũng thế, trách nhiệm thì có tính tập thể và thẩm quyền thì có tính khuếch tán. Một người nào đó xem ra trọn quyền điều khiển, nhưng thực tế, bị cột vào một mạng lưới liên lập của nhóm cũng nghiêm ngặt như những người xem ra là cấp dưới của ông hay bà ta. Vì thế, việc lãnh đạo không đòi phải có một cá tính mạnh mẽ và các kỹ năng quyết định bén nhậy, nhưng đúng hơn phải biết nhậy cảm đối với tâm tư người khác và kỹ năng môi giới. Ngay đầu thập niên 1990, người ta vẫn mong các nhà lãnh đạo nên nhận trách nhiệm đối với những vấn đề lớn do nhóm của mình gây ra mà từ chức, dù họ không trực tiếp dính líu vào hoàn cảnh này.

Tại Nhật, địa vị dựa trên các mối liên hệ đặc thù giữa các cá nhân, thường là các liên hệ tùy thuộc nhau về phương diện xã hội giữa những người có địa vị không bằng nhau. “Giri” (nghĩa vụ), tức cảm thức trói buộc phải có đối với người ta mang ơn, đòi ta phải có tác phong tôn kính và sau cùng đền đáp công ơn, và việc đền ơn này khích lệ các ân huệ tương lai. Các liên hệ tùy thuộc nhau về xã hội này cứ thế kéo dài bất tận, chính sự bất bình đẳng đã liên kết các cá nhân lại với nhau như thế. Bởi thế, qui luật của phẩm trật đã được chính mối liên hệ làm dịu đi. Diễn trình làm dịu này được người Nhật gọi là ninjo (cảm thương). Tiềm năng đối nghịch giữa “giri” và “ninjo” vốn là đề tài rất thường xuyên trong nền kịch nghệ và văn chương Nhật Bản. Dù giới trẻ Nhật Bản ngày nay coi ý niệm “giri” là lỗi thời, nhưng đa số vẫn cảm thấy căng thẳng khi phải làm điều nên làm dù không muốn. Trật tự xã hội sở dĩ hiện hữu được, một phần là nhờ mọi thành viên trong xã hội đều được liên kết trong mạng lưới liên lụy xã hội, ai cũng vừa nhận vừa cho.

Truyền thống tôn giáo và triết học

Các giá trị mô tả trên đây đã phát sinh từ một số truyền thống tôn giáo và triết học, cả từ trong nước lẫn từ bên ngoài du nhập. Xét gộp lại, các truyền thống này có thể được xem như thế giới quan của người Nhật, dù niềm tin bản thân của từng người Nhật có thể khiến họ tiếp nhận điều này mà loại bỏ điều kia. Xét như thế, ta thấy thế giới quan của người Nhật có tính chiết trung, tương phản với thế giới quan Tây Phương trong đó, tôn giáo có tính độc hữu và xác định ra bản sắc người ta. Xã hội đương thời của Nhật là một xã hội thế tục cao độ. Các liên hệ nhân quả thường đặt căn bản trên các mô thức khoa học, và bệnh tật cũng như chết chóc được giải thích theo các lý thuyết y khoa hiện đại. Ấy thế nhưng, quan điểm khoa học cũng chỉ là một trong những lựa chọn được cá nhân dùng để giải thích các kinh nghiệm sống của họ.

Thế giới quan Nhật Bản cũng có đặc tính nữa là cách tiếp cận có tính thực tiễn trong việc giải quyết các vấn đề, trong đó, kỹ thuật không quan trọng bằng kết quả. Do đó, người Nhật nào bị bệnh, họ đều có thể vừa đi bác sĩ y khoa, vừa đi “hốt” thuốc của một đông y sĩ hay đến một đền miếu nào đó để cầu kinh. Mỗi hành động này đều dựa vào một niềm tin khác nhau về nguyên nhân tạo ra cơn bệnh: tây y sĩ có thể cho hay, cơn bệnh là do nhiễm trùng gây ra; đông y sĩ thì có thể nói rằng cơ thể mất thăng bằng hay quân bình; đền thờ có thể bảo: tâm trí người ta cần được thanh tẩy thì cơ thể mới lành mạnh. Ở Tây Phương, các lối giải thích ấy thường được coi là loại trừ lẫn nhau, nhưng một người bệnh Nhật Bản có thể cùng một lúc tiếp nhận cả ba lối giải thích ấy mà không thấy có gì mâu thuẫn cả. Cũng vậy, một học sinh đang dọn thi vào đại học hiểu rất rõ rằng không chịu khó học tập một cách ngoại thường thì cổng đại học sẽ không bao giờ mở ra cho mình. Nhưng cậu hay cô ta vẫn cứ tới một ngôi chùa hay một ngôi đền đặc biệt để xin thế giới thần linh phù giúp sự thành công của mình.
Gốc rễ thế giới quan trên do nhiều truyền thống khác nhau mà có. Thần đạo, tôn giáo bản địa duy nhất của Nhật, tạo nền. Khổng Giáo, phát xuất từ Trung Hoa, đem tới các quan niệm phẩm trật, chữ trung, và hoàng đế như con trời. Lão Giáo, cũng phát xuất từ Trung Hoa, giúp đem lại trật tự và chế tài cho hệ thống cai trị vốn tiềm tàng trong Thần Đạo. Phật Giáo không những đem tới khía cạnh chiêm niệm mà còn là nền văn hóa phát triển cao về nghệ thuật và đền thờ, rất ảnh hưởng tới cuộc sống công cộng. Kitô Giáo bơm vào nhiều ý niệm Tây Phương, nhất là công bình xã hội và canh cải. Chỉ có điều, nhiều xã hội khác cũng thừa hưởng đủ thứ truyền thống như thế, nhưng đâu có xã hội nào tổng hợp một cách sống động và nhuần nhuyễn được như xã hội Nhật Bản. Đã đành xã hội này cũng có những sâu mọt như bất cứ xã hội nào khác, nhưng đại đa số các thành viên của nó đã chứng tỏ được bản chất tích cực thực sự của nó, dù là trong một hoàn cảnh bị thử thách đến cùng cực như cuộc động đất và sóng thần ngày 11 tháng 3 vừa qua. Do phép lạ hay do tâm thức người dân Nhật?

Vũ Văn An

Post Reply