Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!
Hiện tượng nóng chảy của các thanh nhiên liệu hạt nhân khi nhiệt độ trong lõi của lò phản ứng tăng lên mức quá cao được gọi là "nóng chảy hạt nhân".
Khi mực nước quá thấp, những thanh nhiên liệu hạt nhân nhô ra khỏi nước
và trở nên quá nóng. Ảnh: NHK.
Tuy nhiên, đây không phải là thuật ngữ chính thức của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế.
Các thanh nhiên liệu hạt nhân đang nóng chảy một phần trong hai hoặc ba lò phản ứng của nhà máy Fukushima Dai-ichi của Nhật Bản. Nhưng nhiều người vẫn chưa hiểu “nóng chảy hạt nhân” là gì.
“Nóng chảy hạt nhân là hiện tượng nóng chảy của urani dioxit (UO2). Nhiệt độ nóng chảy của UO2 là 2.865 độ C”, Livescience dẫn lời Martin Bertadono, một chuyên gia hạt nhân của Đại học Purdue tại Mỹ.
Nóng chảy hạt nhân thường xảy ra khi hệ thống làm lạnh không thể đưa nước tới lõi của lò phản ứng - nơi chứa các thanh nhiên liệu.
Livescience cho biết, trong những điều kiện bình thường, các thanh nhiên liệu UO2 được đặt trong nước để nhiệt độ trong thanh không đạt tới ngưỡng nóng chảy. Nước được bơm liên tục qua lõi của lò phản ứng. Nhưng nếu nước không được bơm với tốc độ đủ lớn, nó sẽ nóng rất nhanh do nhận lượng nhiệt lớn. Khi nhiệt độ đạt tới ngưỡng sôi, nước sẽ bốc hơi.
“Do nước sôi, mực nước trong lò phản ứng sẽ giảm. Khi mực nước tụt xuống dưới đỉnh của các thanh nhiên liệu, các thanh sẽ nóng lên. Nếu thanh nhiên liệu nhô ra khỏi nước khoảng một giờ, urani bắt đầu nóng chảy. Trong trường hợp nước bốc hơi hết, mọi thanh nhiên liệu trong lò phản ứng sẽ nóng chảy”, Bertadono giải thích.
Bằng cách bơm nước biển vào lò phản ứng khi hệ thống làm lạnh không hoạt động, các chuyên gia kỹ thuật của nhà máy Fukushima Dai-ichi muốn ngăn chặn hiện tượng nóng chảy toàn bộ các thanh nhiên liệu. Tuy nhiên, các thanh nhiên liệu đã tan chảy một phần.
Nếu các thanh nhiên liệu nhô ra khỏi nước đủ lâu, chúng sẽ tan chảy. Ảnh: NHK.
Điều gì xảy ra khi thanh nhiên liệu nóng chảy một phần?
“Khi nhiên liệu hạt nhân nóng chảy, các sản phẩm của phản ứng phân rã hạt nhân sẽ thoát khỏi lõi lò và xâm nhập vào bể nén. Sau đó chúng thoát ra ngoài bể nén nếu nước rò rỉ ra khỏi bể”, Taiwo Temipote, một nhà nghiên cứu hạt nhân của Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne của Mỹ, nói.
Tất nhiên, sau khi thoát ra khỏi bể nén, chất phóng xạ vẫn phải vượt qua một “cửa ải” nữa để phát tán ra ngoài. Đó là lớp vỏ bọc bằng kim loại bao quanh lò phản ứng. Lớp vỏ này được thiết kế để ngăn chặn sự phát tán của chất phóng xạ. Nếu lớp vỏ này bị hư hại hoặc phá hủy bởi một vụ nổ bên trong hoặc bên ngoài, tình hình sẽ trở nên nghiêm trọng.
Nhật Bản – một đất nước thực sự vĩ đại.Nguyễn Đình Đăng
(Theo blog Nguyễn Đình Đăng)
3:40 chiều hôm qua (Thứ Bảy, 12/3/2011) đã xảy ra một vụ nổ trong một toà nhà gần lò phản ứng số 1 tại nhà máy điện nguyên tử Fukushima. Nhà máy điện nguyên tử Fukushima có hai tổ hợp: Fukushima Daiichi (Fukushima 1) và Fukushima Daini (Fukushima 2), gồm tất cả 6 lò phản ứng, và là một trong 25 nhà máy điện nguyên tử lớn nhất thế giới. Nhà mà được thiết kế chịu được động đất 7.9 độ Richter. Trận động đất kinh hoàng giáng xuống Nhật Bản một ngày trước đó có sức mạnh tại tâm động đất (cách bờ 126 km) 9 độ Richter, vượt hơn 30 lần sức chịu đựng theo thiết kế nhà máy. Vào đến bờ, sức mạnh của động đất còn khoảng 6.5 – 7 độ Richter. Vụ nổ đã làm toàn bộ phần tường bao bọc phía trên toà nhà đó vỡ tung, chỉ còn trơ ra cái khung sắt. Nhưng lò phản ứng số 1 không bị hư hại và phóng xạ thoát ra không lớn. Thực tế ngay sau vụ nổ người ta đo thấy các nguyên tố phóng xạ giảm đi so với trước vụ nổ, và mật độ phóng xạ không tăng lên. Hiện thời mức độ phơi nhiễm phóng xạ lên một người trong một ngày bên ngoài nhà máy bằng mức độ phơi nhiễm cực đại mà không ảnh hưởng tới sức khoẻ một người có thể chịu trong một năm. Khoảng 200,000 người dân được sơ tán ra ngoài vùng bán kính 20 km quanh Fukushima 1 và Fukushima 2.
Tuy lõi các lò phản ứng không (chưa) chảy (hoặc có thể mới chỉ bị chảy một phần) nhưng người ta chưa làm nguội được chúng nên tất cả vẫn đang ở trong tình trạng nguy hiểm. Người ta đã bơm nước biển rồi nước ngọt vào để làm nguội lò phản ứng số 1 và số 3 nhằm cứu lõi lò khỏi bị nóng chảy. Đó là biện pháp cuối cùng và có lẽ sẽ làm hai lò này ngừng hoạt động vĩnh viễn, miễn là thảm hoạ hạt nhân đừng xảy ra. Nước Nhật đã ban bố tình trạng hạt nhân khẩn cấp. Từ ngày mai, 14/3/2011, điện sẽ bị cắt luân phiên trên toàn quốc.
Động đất đã làm 3000 người chết và mất tích. Con số này đang tiếp tục tăng lên, có thể tới trên 10 ngàn người. Trả lời họp báo, thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan cho rằng động đất, sóng thần, và sự cố ở nhà máy điện hạt nhân đã đẩy Nhật Bản vào tình trạng khủng hoảng tồi tệ nhất trong 65 năm kể từ sau Đệ nhị thế chiến.
Vé máy bay từ Nhật về Việt Nam đã bán hết sạch. Người Việt đang bỏ nước Nhật chạy. Còn người Nhật thì vẫn kiên cường chịu đựng. Họ chạy đâu nữa? Họ rất bình thản. Các cửa hiệu tại Tokyo vẫn bán hàng. Thức ăn, đồ dùng vẫn đầy ắp. Người bán hàng vẫn lễ phép cúi rạp người chào khách. Người tính tiền vẫn quay mặt đi không nhìn lúc khách hàng bấm mật mã sau khi quẹt thẻ tín dụng để trả tiền. Xem trên TV thấy một cụ già được quân lính cõng ra khỏi khu nhà đổ nát, vẫn mỉm cười trả lời phóng viên. Mấy phụ nữ nhận cơm nắm người ta phát trong căn nhà mất điện tối om, vẫn cúi lạy cảm ơn dưới ánh đèn pin. Cũng thấy có người khóc (cụ già và trẻ con). Toàn bộ nội các Nhật Bản làm việc hầu như 24/24 từ thứ Sáu. Tất cả, từ thủ tướng, chánh văn phòng chính phủ, các bộ trưởng đều vận đồng phục bảo hộ lao động màu xanh nước biển khi xuất hiện trên truyền hình. Các nữ phát thanh viên ngày thường vốn đã xinh đẹp, bây giờ trông lại các tao nhã hơn bởi vẻ mặt nghiêm trang, áo ngoài đen màu áo tang, áo lót trắng, đọc tin rõ ràng, giọng không hề xúc động.
Một đất nước mà người dân thực sự bình thản, lịch sự, giữ phẩm cách, rất trật tự, tử tế với nhau trong thảm hoạ có thể so với ngày tận thế là một đất nước thực sự vĩ đại.
Thị trấn Sendai (phiên âm Hán Việt là: Tiên Đài), Nhật Bản.
Tiên = cõi tiên, fairy land
Trước khi bị động đất, tỉnh Tiên Đài có phong cảnh thực là thần tiên.
Xin mời quí vị xem dưới đây:
Tòa đô chính
Công viên
Đại lộ Jozenji
Cảnh vật thanh bình êm ả
Toàn cảnh Tiên Đài (Sendai)
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng !
TIỂU BANG CALIFORNIA
CÓ THỂ PHẢI ĐỐI ĐẦU VỚI MỘT TRẬN BÃO LỚN KINH HOÀNG
* Tài liệu: N.Y. Times *
Đào Trường Phúc (HNC 58-65) chuyển ngữ
Chẳng những đã từng và sẽ còn tiếp tục đối đầu với nguy cơ các trận động đất gây thiệt hại nặng nề, mà tiểu bang "nắng đẹp miền Tây" (nơi có trên nửa triệu người Việt Nam cư ngụ) sẽ còn phải gồng mình chịu đựng một trận bão lớn khủng khiếp có thể tàn phá vùng bờ biển, làm ngập úng khu vực nông nghiệp Central Valley, và thiệt hại có thể lên gấp bốn, năm lần mức thiệt hại do một trận động đất gây ra: Đó là lời báo động của một nhóm khoa học gia tại buổi hội thảo hôm thứ Sáu 14/01/2011, với sự tham dự của các giới chức chính phủ liên bang Hoa Kỳ và chính quyền tiểu bang California, nhằm mục đích phối hợp sắp đặt kế hoạch đối phó với thiên tai kinh hoàng này.
Dưới tựa đề "FEMA Preparing California for Superstorm of "Leviathan" Proportions", nhật báo The New York Times viết về nguy cơ bão lụt tàn phá California như sau:
Sử dụng các dữ kiện thu thập được về bối cảnh lụt lội, dự phóng biến chuyển trên bầu khí quyển cùng với các dữ kiện địa chất về kinh nghiệm lụt lội trong lịch sử tiểu bang California, hơn 100 khoa học gia đã tính ra khả năng tàn phá của một trận bão lớn khủng khiếp (superstorm) sẽ mang theo hơi ẩm nhiệt đới từ vùng Nam Thái Bình Dương để trút xuống khoảng 10 feet (xấp xỉ 3 mét) nước mưa khắp tiểu bang.
"Ngoài động đất, lụt lội hiện cũng là một phần trong đời sống của người dân California", theo lời Tiến sĩ Lucy Jones, một trong các khoa học gia thuộc Cơ quan Nghiên cứu Địa chất của chính phủ liên bang (U.S. Geological Survey - USGS). Tiến sĩ Jones nói thêm: "Chúng ta có lẽ sẽ không đủ khả năng để đối phó với trận bão lớn cỡ này".
Cơ quan USGS dự đoán là một trận bão lớn có thể gây ra tới $300 tỷ Mỹ kim thiệt hại vật chất, chưa nói đến tổn thất nhân mạng. Dựa trên các mô hình, nhóm khoa học gia tiên liệu có tới gần một phần tư (1/4) số nhà cửa ở California sẽ bị hư hại nếu một trận bão lớn cỡ như vậy xảy ra.
Buổi hội thảo vừa nói do ba cơ quan USCS, FEMA (Federal Emergency Management Agency) và CEMA (California Emergency Management Agency) cùng tổ chức nhằm phối hợp hoạch định chiến lược mới chống để giảm bớt ảnh hưởng của thiên tai.
Các khoa học gia về khí hậu từ nhiều năm qua cho hay việc bầu khí quyển trái đất gia tăng nhiệt độ sẽ nâng cao số năng lượng dự trữ và khiến cho nguy cơ có các trận bão lụt dữ dội dễ xảy ra hơn.
Người dân California lâu nay vốn đã biết phải sẵn sàng đối phó với động đất cũng giống như người dân Florida chờ đợi những trận bão hàng năm. Mới khoảng một tuần trước đây, một trận động đất nhỏ (4.1 trên địa chấn kế) đã xảy ra ở khu vực phía Nam Vịnh San Francisco.
Vì hệ thống thoát nước trong tiểu bang California rất hữu hiệu nên không ai để ý tới ảnh hưởng của các trận bão trung bình, theo lời Tiến sĩ Jones. Cũng chính vì vậy, mặc dù hầu hết dân chúng California đều biết là nơi họ sống hay làm việc có thể xảy ra động đất, nhưng rất ít người biết rằng California cũng có thể lãnh các trận bão lớn ngang cỡ các trận bão từng đánh vào vùng Vịnh Mễ Tây Cơ (như Katrina, Rita, Gustav... cách đây vài năm) hoặc vào vùng bờ biển phía đông nam Đại Tây Dương của nước Mỹ.
Theo sự trình bày của Tiến sĩ Marcia K. McNutt, Giám đốc USGS, khoảng 150 năm trước đây, vào mùa Đông năm 1861-1862, đã từng có trận mưa lớn kéo dài mấy tuần lễ, làm ngập úng một vùng Central Valley dài 300 miles (480 km) rộng 20 miles (32 km), suốt từ phía Bắc thủ phủ Sacramento đến thị trấn Bakersfield ở phía Nam, gần khu sa mạc phía Đông hiện nay. Cơ quan USGS mô tả: "Các trận bão đã xảy ra trong 45 ngày liên tiếp, tạo nên nhiều hồ nước trong sa mạc Mojave Desert và biến khu thung lũng Sacramento Valley thành một biển hồ, buộc tiểu bang phải "dời đô" từ thủ phủ Sacramento đến thành phố San Francisco trong một thời gian, và khiến Thống Đốc Leland Stanford phải chèo xuồng đến dự lễ tuyên thệ nhậm chức của ông".
Về thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất nông phẩm và cung ứng lương thực, một trận bão cỡ "superstorm" sẽ gây ảnh hưởng tai hại chẳng kém gì động đất, chưa kể còn có thể pháhoại luôn cả hệ thống cấp nước từ miền bắc xuống miền nam tiểu bang California. Trả lời cuộc phỏng vấn sau buổi hội thảo, Tiến sĩ Jones xác nhận rằng kỹ thuật không ảnh vệ tinh được kiện toàn trong mấy năm qua đã cho phép các khoa học gia nhận diện hiện tượng mà họ mệnh danh là "dòng sông khí quyển" (atmospheric river, viết tắt A.R., nghĩa là luồng khí ẩm khổng lồ rộng 200 miles dài 2,000 miles) chảy từ các vùng nhiệt đới của Thái Bình Dương qua bờ biển phía Tây. Đó là lý do các nhà địa chất học đặt tên cho các trận bão sắp tới là "ARk Storms". (Xin coi mô hình của Sở Khí Tượng Quốc Gia - National Weather Service).
Nhóm khoa học gia tham dự buổi hội thảo ngày 14/01/2011 cũng nhắc thêm rằng, đừng quên trong lịch sử địa chất, nhiều trận bão rất lớn đã từng tấn công mảnh đất hiện mang tên là tiểu bang California vào những năm 212, 440, 603, 1029, 1418, và 1605.
Song Chi
Thế là Việt Nam lại lỡ con tàu “cách mạng hoa nhài” từ các nước Bắc Phi và Trung Đông. Như đã từng lỡ con tàu cách mạng “nhung”, cách mạng “màu” ở các nước Đông Âu thuộc khối XHCN cũ và ở Liên Xô hơn 20 năm trước. Và trước đó, sau khi thống nhất đất nước, giai đoạn từ năm 1975-1985, nếu những người cộng sản biết nắm lấy cơ hội, biết nhìn xa và có tấm lòng rộng mở,
thi hành một đường lối chính sách khác hẳn về chính trị, đối nội, đối ngoại, lẫn kinh tế, văn hóa, Việt Nam có thể đã đi theo một con đường khác hẳn. Đối nội, người Việt Nam, nhất là người miền Nam đã không phải chịu thêm những vết thương hậu chiến nặng nề từ sự phân biệt Bắc-Nam, chủ nghĩa lý lịch, trại cải tạo và rất nhiều sự sai lầm khác buộc hàng triệu người phải bỏ nước ra đi và cho đến bây giờ việc hòa giải, hòa hợp vẫn chưa thực hiện được; kinh tế miền Nam có thể đã không bị phá sản, cả nước đã không phải suýt nữa thì chết đói chẳng khác nào Bắc Hàn bây giờ để rồi mãi đến năm 1986, những người lãnh đạo mới bừng tỉnh “mở cửa”, thay đổi, thực chất là đi lại từ đầu, học lại cách làm ăn theo lối kinh tế thị trường…Đối ngoại, Việt Nam có thể đã không phải vướng vào hai cuộc chiến tranh với Campuchia và Trung Quốc, có thể giảng hòa với Mỹ sớm hơn khi chính Mỹ đã chìa bàn tay ra trước trong giai đoạn này, để từ đó hội nhập với thế giới sớm hơn rất nhiều, điều mà Trung Quốc đã làm được sau cuộc chiến tranh biên giới với VN mà thực chất, như nhiều nhà nghiên cứu, bình luận chính trị sau này đã phân tích, là một “món quà” để đổi lấy quan hệ với Mỹ và phương Tây…
Và nếu nhìn xa hơn nữa vào quá khứ, Việt Nam đã từng bỏ lỡ rất nhiều cơ hội khác. Giữa thế kỷ XIX, Minh Trị Thiên Hoàng của nước Nhật đã biết nhìn xa trông rộng, quyết định thực hiện những cải cách triệt để về mọi mặt từ giáo dục, chính trị, quân sự cho đến kinh tế, học tập phương Tây, thoát Á, biến Nhật Bản từ một nước phong kiến với một nền nông nghiệp lạc hậu trở thành một cường quốc về kinh tế-quân sự đầu thế kỷ XX và mấy mươi năm sau nữa, cả thế giới phải khiếp sợ trước sức mạnh quân sự của Nhật trong thế chiến thứ 2. Trong khi đó, Việt Nam thời nhà Nguyễn thì lại làm ngược lại, “bế quan tỏa cảng” khước từ mọi cơ hội cải cách, học hỏi, hậu quả là nước Việt Nam nghèo đói, lạc hậu phải trở thành thuộc địa của Pháp…
Việt Nam. Một dân tộc luôn luôn nhỡ tàu. Nhà văn Võ Thị Hảo từng than như thế. Phải, số phận bi kịch của đất nước này, dân tộc này chính là như thế.
Và bây giờ điều đó đang lập lại.
Trong suốt những ngày qua, khi phong trào cách mạng hoa nhài bắt đầu bùng lên từ Tunisia rồi lan rộng sang Ai Cập và các nước khác ở Bắc Phi, Trung Đông…nhiều người Việt Nam trong và ngoài nước cũng nhân đó nghĩ suy đến vận mệnh của đất nước. Một câu hỏi đau đáu nhất được đặt ra: Liệu có một cuộc cách mạng như thế ở Việt Nam vào thời điểm này?
Nếu theo dõi một số bài viết, ý kiến của mọi người xung quanh chủ đề này, có thể thấy khá nhiều quan điểm đối chọi nhau nhưng nhìn chung, có thể chia làm hai luồng chính. Quan điểm thứ nhất, thường là của những người Việt ở hải ngoại và những người hoạt động cho phong trào dân chủ, cho rằng sẽ có, và cần phải có một cuộc cách mạng hoa nhài ở Việt Nam vào thời điểm này. Những người ủng hộ quan điểm này thường lý giải dựa trên tình hình kinh tế xã hội lẫn chính trị ở Việt Nam hiện nay quá bí bét, bất ổn về nhiều mặt chưa kể mối họa từ phương Bắc đã quá rõ ràng, người dân VN đã phải chịu đựng một cuộc sống tồi tệ quá lâu rồi, cần phải thay đổi để cứu mình, cứu dân tộc, cứu đất nước. Và rõ ràng là những cuộc cách mạng từ các nước Tunisia, Ai Cập…có những điểm khiến người ta có quyền hy vọng: không do các đảng phái tổ chức chính trị tạo nên, không có một gương mặt lãnh tụ nổi bật, hoàn toàn bất ngờ từ sự bức xúc của chính người dân, từ những cuộc biểu tình ôn hòa và đã đi đến thắng lợi…Tất nhiên, trường hợp của Lybia thì hoàn toàn khác. Có những người rất lạc quan, cũng đã có những lời kêu gọi được đưa ra trên các trang mạng…
Quan điểm thứ hai, thường là của những người ở trong nước, ngược lại, cho rằng VN sẽ không có một cuộc cách mạng, thậm chí chưa nên, không nên có, vào thời điểm này. Một số lập luận được đưa ra để lý giải tại sao như vậy: Có người cho rằng vì cuộc sống ở VN hiện nay dễ chịu hơn xưa nhiều, vì người dân VN đang tạm bằng lòng với những gì họ có. Có người thì chỉ trích phong trào dân chủ ở VN quá yếu, và lập luận: cứ cho là VN sẽ xảy ra một cuộc cách mạng tự phát của quần chúng, thế thì chuyện gì sẽ xảy ra sau đó, đâu là lực lượng đối lập có đủ sức đứng ra “làm việc”, thậm chí “giải giáp” đảng cộng sản VN , nắm quyền lãnh đạo đất nước? Liệu có chăng một tình trạng hỗn loạn, xâu xé tranh giành quyền lực khiến mọi chuyện càng thêm bí bét sau đó? Cũng có người cho rằng chỉ khi nào Trung Quốc thay đổi thì VN mới hy vọng có thay đổi, rằng ở VN không thể có cách mạng từ dưới lên mà chỉ có cách mạng từ trên xuống, rằng nên trông đợi vào sự thay đổi từ phía nhà nước VN, họ đã thay đổi nhiều và sẽ còn tiếp tục thay đổi v.v…
Thực tế cho thấy một cuộc cách mạng như mong đợi đã không xảy ra. Nhưng lại không hẳn từ những lý do như quan điểm thứ hai nói trên. Vậy thì vì sao?
Phân tích tình hình chính trị xã hội ở VN hiện nay, phải nói là thời cơ đã quá chín muồi. Quan điểm của ai đó cho rằng vì cuộc sống ở VN hiện nay dễ chiụ hơn trước kia nên người VN cảm thấy tạm bằng lòng như vừa nêu trên là hoàn toàn không đúng. Nếu là thời điểm nào khác, khi chính sách đổi mới bước đầu đã đem lại sự tăng trưởng về kinh tế, thoát khỏi nạn đói theo nghĩa đen…thì còn có lý. Còn hiện nay? Ai đang sống ở VN hoặc nếu không sống ở trong nước nhưng theo dõi đều đặn tình hình qua báo chí, đều thấy rõ VN hiện đang phải đối mặt với một giai đoạn khủng hoảng thực sự về kinh tế. Sự bất ổn đã thể hiện quá rõ. Đây là hậu quả của sự điều hành quản lý kinh tế kém cỏi và những phương pháp sai lầm suốt một thời gian dài, mà người dân đang phải trực tiếp gánh chịu. Lạm phát tăng cao, đồng tiền bị mất giá, vật giá leo thang tác động đến đời sống của từng gia đình. Chỉ trừ một bộ phận nhỏ là tầng lớp quan chức, giới giàu có, trung lưu trở lên ở các thành phố lớn, còn thì nông dân, công nhân, dân nghèo thành thị, sinh viên, công nhân viên chức bình thường cho tới đồng bào ở tỉnh lẻ, vùng sâu vùng xa, dân tộc thiểu số…đời sống thực sự khó khăn. Khái niệm “ổn định” mà nhà nước VN thường đem ra để mỵ dân và “hù dọa” mọi ý muốn đòi thay đổi đã không còn đứng vững nữa. Bởi ổn định đây không chỉ là ổn định về chính trị do được cai trị bằng bàn tay sắt. Người dân cần có sự ổn định về kinh tế, xã hội. Cuộc sống hàng ngày, tương lai có thể hoạch định được. Nên nếu nói đời sống hiện nay đã tạm ổn là một cái nhìn phiến diện. Đừng quên đời sống và thu nhập đầu người của các nước như Tunisia hay Ai Cập còn cao hơn của VN nhiều vậy mà dân chúng họ đã không bằng lòng.
Kinh tế thì như vậy, còn xã hội? Có lẽ cũng không cần phải chứng minh về bức tranh thực trạng xã hội VN hiện nay là như thế nào, chính báo chí truyền thông nhà nước hàng ngày đã nêu lên quá rõ. Nạn tham nhũng, những bất công phi lý trong xã hội, khoảng cách giàu nghèo, đạo đức bị xuống cấp, cái xấu cái ác cái không tử tế ngày càng tràn lan như cỏ dại trong lúc cái đẹp, cái thiện, cái tử tế ngày càng hiếm hoi; giáo dục thì lạc hậu, nạn chạy chữ chạy chức, đạo văn, thói lừa lọc…nhan nhản, môi trường sống bị ô nhiễm, thiên nhiên bị tàn phá… Một người sinh ra trong một gia đình quan chức hoặc có tiền, không quan tâm đến bất cứ chuyện gì trừ việc kiếm sống và ngắm vuốt bản thân có thể sẽ không thấy hết mọi điều nhưng còn đa số người dân? Vì sao 36 năm sau ngày thống nhất đất nước, người VN vẫn tìm mọi cách bỏ nước ra đi? Đi bằng con đường “xuất khẩu lao động” làm thuê cho xứ người, đi lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc...-những cuộc hôn nhân qua môi giới may ít rủi nhiều; đi học, đi làm ăn rồi tìm cách ở lại v.v…
Nếu thử một lần, tìm hiểu số phận của những người nông dân một nắng hai sương, là một trong hai lực lượng chính đem lại đồng tiền ngoại tệ cho đất nước qua con đường xuất khẩu gạo và các sản phẩm nông nghiệp nhưng lại luôn luôn bị ép giá từ chính những công ty nhà nước, bị cưỡng bức bán rẻ đất đai nhà cửa từ những đợt giải phóng mặt bằng để rồi một ngày nhập trong hàng ngũ dân oan đi khiếu kiện đất đai…Những người công nhân với đồng lương rẻ mạt, bị bóc lột ngay trên đất nước mình. Những ngư dân đi làm thuê ở xứ lạ bị hải tặc bắt cóc, còn ở ngay trên vùng bờ biển nước mình thì bị “tàu lạ” đâm chìm tàu, bắt giữ, đánh đập, đòi tiền chuộc…Những cô gái nông thôn vì nghèo khó phải đi lấy chồng xa, đi làm Ôsin, đi làm gái, đi đẻ thuê…kiếm tiền….Những đồng bào dân tộc thiểu số sống nghèo nàn lạc hậu mọi thứ từ tinh thần đến vật chất…
Nếu thử tìm hiểu, thì câu trả lời cuộc sống ở VN hiện nay có ổn không sẽ khác ngay.
Hoặc nếu một ngày chẳng may đi trên đường bị tai nạn giao thông do một kẻ nào đó chạy xe ẩu tông phải nhưng nếu kiện thì cũng chẳng ăn thua gì; một ngày chẳng may chạy xe ngoài đường quên đội mũ bảo hiểm và bị mấy tay công an đánh cho gãy cổ, tử vong-như đã từng có nhiều người chết oan vì bị những ông công an chả coi mạng sống của dân ra gì, quen thói dùng bạo lực hành hung người dân đến tử vong chỉ vì những sai phạm hết sức nhỏ nhặt; một ngày thấy mình học hành tử tế, làm việc vất vả cả đời nhưng vẫn chỉ là một nhân viên quèn trong khi thằng bạn cùng lớp dốt đặc cán mai, đạo đức tệ hại lại là xếp mình chỉ vì con của ông X cháu của ông Y; một ngày thấy người anh là công nhân xây dựng chết oan chỉ vì công trình đang xây bị “rút ruột", đổ sập trên đầu; người chị ngồi khóc đứa con gái nhỏ bị làm nô lệ tình dục cho ông Hiệu trưởng đạo mạo và những vị quan chức tai to mặt lớn…v.v…và v.v…
Đến lúc đó, câu trả lời cuộc sống ở VN hiện nay có ổn không sẽ khác ngay.
Nghĩa là nói thẳng ra, tình hình kinh tế chính trị xã hội ở VN đã quá đủ cho những mâu thuẫn xã hội dồn nén từ bao lâu nay. Chưa kể, mối họa từ Trung Quốc mà tôi sẽ nói đến sau.
Thế nhưng ở VN vẫn chẳng có chuyện gì xảy ra. Vì sao? Phải chua xót mà nhận thấy rằng dân tộc nào chính phủ ấy và ngược lại. Nếu như tính cách của một con người có thể tạo ra số phận của người đó thì với một dân tộc cũng vậy, tính cách của một dân tộc sẽ góp phần quyết định làm nên số phận của dân tộc, đất nước đó. Mà tính cách của một dân tộc phần lớn là từ cái môi trường xã hội tạo nên. Tính cách của người Việt, vốn dĩ đã mang nhiều nhược điểm của người dân sống trong một nước nông nghiệp lạc hậu, cộng thêm một thời gian dài sống dưới một chế độ độc tài toàn trị và một môi trường xã hội tệ hại, đã dần dần hình thành một số “căn bệnh” khó chữa. Trước đây tôi đã từng viết bài “Những căn bệnh đang hủy hoại xã hội VN”, đó là: bệnh vô cảm;cái xấu cái ác lên ngôi; sự bạc nhược, cầu an; sự giả dối;hoài nghi và mất lòng tin. Và nếu nói kỹ hơn thì sẽ còn một số “bệnh” khác nữa. Một cuộc sống bất an, luôn phải vật lộn với cơm áo gạo tiền, bao nhiêu nỗi lo nỗi sợ hàng ngày, mặt khác, cũng đang tồn tại phổ biến ở VN một lối sống phụ thuộc nặng nề vào vật chất và những giá trị giả, giá trị ảo, qua đó con người được đánh giá dựa theo cái nhà, cái xe, quần áo bên ngoài hay mảnh bằng, cái “ghế”…Cả hai khía cạnh đều khiến tạo nên những thế hệ “phi chính trị”, chỉ quan tâm đến việc mưu sinh và kiếm một chỗ đứng trong xã hội, đến bản thân, gia đình mình. Chưa bao giờ nội lực xã hội VN lại cạn kiệt về mọi mặt và nguyên khí con người VN cũng cạn kiệt đi như bây giờ. Bao nhiêu sự dũng cảm, quật khởi bất khuất, lòng tự hào tự tôn dân tộc đã bị chính những người nắm quyền đất nước bào mòn đi, làm cho hèn hạ bạc nhược đi, như họ.
Tôi cũng muốn nói thêm một ý là một số người viết bài trong nước thường hay tỏ ra coi thường, chỉ trích người Việt hải ngoại và những người hoạt động dân chủ là không hiểu biết về tình hình trong nước, làm chính trị salon…rằng cách mạng nếu có, phải do người trong nước tạo nên. Không ai chối cãi và cũng không ai tranh công gì điều hiển nhiên này. Nhưng vận mệnh đất nước như thế này chưa lo được mà ngồi chỉ trích chê bai nhau làm gì, đất nước là của chung, ai cũng nên và có quyền đóng góp phần của mình, dù chỉ một bài viết, một câu nói, cũng đã là quý. Tôi nghĩ thế. Sự chia rẽ, dường như cũng là một trong những nhược điểm khá rõ của dân tộc tôi.
Với một dân tộc như thế, tinh thần đâu để có một cuộc cách mạng?
Lý do chính là nằm ở đó chứ không phải vì xã hội VN hôm nay đã ổn và người dân VN chưa muốn thay đổi.
Với quan điểm cho rằng ở VN không thể có cách mạng từ dưới lên, mà chỉ có cách mạng từ trên xuống, nên trông đợi vào sự thay đổi từ phía nhà nước VN, rằng họ đã thay đổi nhiều và sẽ còn tiếp tục thay đổi…tôi cũng nghi ngờ luôn vào điều này. Không phải vì quá cực đoan như Boris Yeltsin là "Cộng sản chỉ có thể thay thế chứ không thể thay đổi được". Đúng là trong những năm qua, các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản ở VN buộc phải thay đổi và có thay đổi. Ai cũng thấy, về mặt lý thuyết con đường đi của xã hội hiện nay cũng như trên thực tế, những gì họ đang tiến hành ở VN hoàn toàn trái ngược 180 độ so với những gì họ từng tuyên bố hay thực hiện trước kia, thời thập niên 50 cho tới 80. Nhưng có những cái không bao giờ họ thay đổi, ví dụ như sự bảo thủ đến cùng vì quyền lợi của chế độ, luôn luôn đặt quyền lợi của đảng, của chế độ, của một thiểu số đặc quyền đặc lợi lên trên quyền lợi của đất nước, dân tộc. Trong nhiều mặt, họ vẫn thay đổi rất chậm, họ tìm mọi cách để trì hoãn thời gian. Vả lại nếu có muốn đổi nhanh họ cũng không dám (và cũng không làm được) vì cứ nhìn qua các thế hệ lãnh đạo của VN thì thấy, không có ai có tầm nhìn xa, trí tuệ vượt trội, họ đều kém cả về đầu óc, tư duy lẫn bản lĩnh. VN không có một Mikhail Gorbachov hay Boris Yeltsin. Họ cứ dàn đều cùng nhau một bước tiến hai bước lùi.
Một dân tộc thì như thế, những người lãnh đạo thì như thế. Trong khi tình hình của VN thì không còn có thể chờ đợi được nữa. Bởi kinh tế quá nguy ngập. Xã hội nát bét. Nội lực, nguyên khí con người đều cạn kiệt. Bên cạnh đó là mối họa từ phương Bắc.
Tôi cũng từng viết: nếu đảng cộng sản Trung Quốc có tiếp tục lãnh đạo đất nước thêm cả trăm năm nữa, Trung Quốc cũng chẳng mất vào tay nước nào, nhưng nếu đảng cộng sản Việt Nam mà tiếp tục “tại vị” thêm chừng hai thập niên nữa thôi, VN chắc chắn sẽ mất vào tay Trung Quốc-không “mất” kiểu này thì kiểu khác.
Một chính quyền điều hành kinh tế kém cỏi, không đảm bảo được một sự ổn định trong đời sống hàng ngày của người dân. Một chính quyền bạc nhược để mất đất mất biển, đảo vào tay nước khác. Có còn xứng đáng để tiếp tục độc quyền lãnh đạo?
Trong cuộc đời một con người, chẳng bao giờ nên dùng chữ “nếu”. Vận mệnh của một dân tộc, một đất nước cũng vậy. Nhưng dù sao, cũng chỉ một lần thử đặt những chữ “nếu”…Hơn hai mươi năm trước, nếu VN cũng chuyển mình dứt khoát và triệt để như các nước Đông Âu, chúng ta đã có được 20 năm đi theo một con đường khác, với một thể chế chính trị khác, như hầu hết các nước tiến bộ trên thế giới đã lựa chọn. Những Hiệp ước Biên giới trên đất liền năm 1999, Hiệp định phân vịnh Bắc bộ VN-TQ năm 2000 đã không được ký, và VN đã không phải mất đi thêm hàng trăm kilomet vuông lãnh thổ dọc theo biên giới, hàng ngàn kilomet vuông lãnh hải, thác Bản Giốc, Ải Nam Quan vẫn còn…Chúng ta chắc chắn đã không mắc kẹt quá sâu trong mối quan hệ với TQ như bây giờ và TQ cũng không dám bắt nạt ta quá mức, bởi chúng ta có đồng minh quân sự chứ không phải như hiện tại. Hai mươi năm trước TQ khác xa bây giờ. Hai mươi năm là đủ cho một đất nước có thể tiến được rất xa nếu đi đúng đường.
Với một TQ ngày càng mạnh, càng đầy tham vọng, liệu sự mất mát của VN có dừng lại ở đó? Không ít lần trên những trang mạng TQ các tướng lĩnh thuộc phái diều hâu của TQ, với giọng điệu đầy hung hăng, đã từng hằm hè muốn gây chiến nữa ở vùng biển Đông nói chung và với VN nói riêng. Những ngày này nhiều bài viết cũng đã nói đến nguy cơ TQ có thể nhân dịp VN đang lao đao vì kinh tế, để tấn công chiếm thêm một số đảo ở Trường Sa. Và nếu sự thật xảy ra, gần như chắc chắn TQ sẽ chiếm được thôi, ai sẽ là đồng minh của VN, ai sẽ hỗ trợ VN? Mỹ ư. Đừng hy vọng hão. Hoặc chưa cần đến nói đến chuyện TQ tấn công bằng vũ lực. Nếu kinh tế VN sụp đổ, ai sẽ chìa bàn tay ra “giúp đỡ”? Vẫn không phải là Mỹ hay các nước phương Tây. Chỉ có ông anh cả TQ bỏ hầu bao ra và kèm theo đó là những điều kiện gì. Xin dành câu trả lời lại cho mọi người.
Lại nếu…Chính vì vậy, nếu VN lỡ tàu thêm lần này sẽ là ân hận vô cùng cho tương lai. Cũng có thể không còn đường lùi nữa, cái họa một ngàn năm phương Bắc lại trở lại chăng?
Song, số phận của VN là do chính người dân VN quyết định. Không một lời kêu gọi nào có tác dụng một khi người dân còn đang lơ mơ, mụ mị, chưa tỉnh thức. Hơn ba thập niên trước, cũng chính vì sự thờ ơ vô cảm với vận mệnh của đất nước đó mà người miền Nam đã khiến cho đồng minh của họ, người Mỹ thêm một lý do để nản lòng bỏ cuộc khi ván cờ VN vốn đã làm nước Mỹ quá thiệt hại, tốn kém. Trong khi miền Bắc thì quá quyết tâm đến cùng để giành chiến thắng, cho dù cái giá của chiến thắng là bao nhiêu.
Việt Nam-một số phận đầy bi kịch.
NGƯỜI VIỆT GỐC ỚT.
Tui là dân Huế chay tức là Huế 100% . Huế từ trong ra ngoài .Huế đến nỗi ra Bắc vào Nam lên vùng Cao Nguyêen tắm sông -hồ ao lạch mà cũng không gột rửa được chất Huế trong người .
Rồi một sáng một chiều theo với giòng người "di tản buồn", tôi đến cư ngụ trên xứ Cờ Hoa văn minh hết xảy này mà chất Huế vẫn còn tồn tại thâm căn cố đế trong người dù mỗi ngày cố gắng tắm một lần bằng nước ấm như ngày nào trên quê hương yêu dấu vào mùa Đông mưa dầm thối đất thối đai. Tôi dùng chữ "cố gắng" vì chẳng hiểu sao tôi rất lười tắm vì đã có lần tui thử không tắm gội trong suốt một tuần mà cũng chẳng thấy người bốc mùi thơm, thúi gì hết cả. Do đó tui tự nghĩ thầm tắm hay không tắm thì cũng như nhau chẳng được lợi ích gì, chẳng làm nên tích sự gì. Lại nữa, tui nhớ cách đây cũng khá lâu, trong lúc trà dư tửu hậu, chuyện trò với một ông bạn của ông Nội tui, tuổi ngoài tám mươi, Bố tôi mới hỏi:
- Thưa Bác , Bác có bí quyết gì để giữ chữ thọ cho đến bây giờ không?
Ông Cụ vuốt râu cười khà khà:
- Bác rất ít tắm con à! Tắm thì lỗ chân lông nở lớn nên vi trùng dễ xâm nhập vào người, vì vậy suốt mùa Đông, Bác không tắm, chỉ dùng khăn thấm nước lau sơ mình mẩy cho khỏi hôi thúi mà thôi.
Ông nội tui, tuổi lúc bấy giờ cũng trên tám mươi đã phì cười mà bảo rằng:
- Tui khác ông , mùa Hè cũng như mùa Đông, một ngày phải tắm một lần, một lần phải mất ít nhất 1 tiếng đồng hồ để kỳ cọ, xoa nắn các huyệt đạo cho máu huyết lưu thông.
Hai ông Cụ, ông nào cũng quy tiên lúc tuổi hạc đã ngoài chín mươi, ông nào cũng có lý khi bàn đến bí quyết sống lâu , rất chi là khoa học. Vậy tui phải nghe theo lời của ai bây giờ ? Sang Mỹ, sẵn có nước nóng chảy trong vòi, tắm một ngày một lần mà chất Huế trong tui vẫn còn nồng cay vì tui ăn ớt như nhồng trong ba bữa ăn sáng, trưa, tối. Vì thế, ai hỏi tui quê quán ở đâu, tui đều trả lời một cách hãnh diện rằng tui là người Việt gốc ớt. Câu trả lời thật đầy đủ "thông tin".(Tui dịch chữ "ìnformation" cho có vẻ văn minh thời thượng). Này nhé! người Việt tức là người Việt Nam không phải Phi Luật Tân hay Miên, Lào, Thái vv...Tui đã nhiều lần bị mấy ông bà người Phi hỏi tôi có phải là Philippino không. Tức như bò đá! Mình là con Rồng cháu Tiên mà bị nhận lầm là Phi thì có uất ức không cơ chứ? Chắc là tại tui xấu trai , thô kệch.! Dân Phi nghe tui phát biểu như thế này chắc là kiện tui ra toà, buộc tội mạ lỵ dân tộc. Các bạn có biết không, mấy cô, mấy bà Phi lai Tàu đẹp lắm các bạn ơi ! Rồi thì "gốc ớt" là biết ngay nơi chôn nhau cắt rún của tui là xứ Thần Kinh chứ còn théc méc gì nữa. Gốc ớt là gốc Huế không sai chạy vào đâu được vì có lần tui bị một ông bạn hỏi một câu cắc cớ:
- Mi dân Huế, vậy mi có biết tại sao dân Huế chỉ ăn ớt xanh không mà thôi không?
Tôi gân cổ cãi lại là dân Huế tui ăn đủ mọi thứ ớt: ớt xanh, ớt đỏ, ớt tím, ớt vàng, ớt chỉ Thiên, ớt chỉ Địa, ớt chìa vôi, ớt hiểm, ớt mọi, ớt bột, ớt trái tươi cắn dòn tan, chứ làm gì mà lại chỉ ăn ớt xanh. Ớt xanh là ăn với bánh bột lọc để hài hoà với màu đỏ của con tôm nằm nữa kín nữa hở trong lớp bột lọc. Ăn như thế là ăn kiểu cầu kỳ của các Mệ chứ thật ra ớt nào cay thì ăn chứ đâu kể màu sắc. Ông bạn tui để cho tui nói cho sướng lỗ miệng rồi mới ung dung giải thích:
- Mi thật là dân Huế mất gốc, không biết chi mô hết ! Dân Huế ăn nhiều ớt quá đến nổi ớt không kịp chín đỏ nên chỉ ăn toàn ớt xanh. Có rứa mà cũng không biết!
Ui chui choa, tui khoái quá trời khi nghe ông bạn tui ca tụng cái "đức" ăn ớt của quê hương tui. Tui chỉ muốn ôm hun ông ta một miếng để thưởng ông ta mà không dám, vì sợ bàn dân thiên hạ tưởng tui là dân "Gay" vừa mới từ San Francisco xuống quận Cam chơi.
Nói đến ớt thì phải nói đến cái món ăn "quốc hồn quốc tuý" của Huế tui là món bún bò. Ai cho tui ăn bún bò mà bảo tui đừng ăn ớt thì thà chết còn hơn. Thiệt là chưởi Cha tui, tui cũng không giận bằng! Ớt phải cay xé họng mới làm cho bún bò ngon được! Ăn bún bò Huế chính gốc là phải vừa ăn vừa hít hà vì ớt cay, phải đổ mồ hôi trán, tuôn mồ hôi nách (Vì vậy mà dân Huế ai cũng có một chai Lotion Kata, trị mồ hôi nách bỏ trong túi quần để xài mỗi khi ăn xong tô bún bò Huế. Tui nói rứa mà ai không tin tui thì thôi). Ăn bún bò Huế là chỉ dùng đũa chứ không dùng muỗng , phải húp xùm xụp mới đúng phong cách Huế. Muỗng chỉ dùng khi ăn phở Bắc Kỳ mà thôi. Cầm muỗng để ăn bún bò Huế là chưởi Cha cái tô bún bò Huế mất rồi! Mùa Đông ở Huế không có ớt tươi vì quý hiếm lắm: "Ớt mùa Đông ba đồng một trái" nên phải ăn ớt bột hay tương ớt hay ớt ngâm dấm nên vì vậy mà mùa Đông, tô bún bò Huế đã không ngon bằng tô bún mùa Hè. Trời đã "nóng nung người, nóng nóng ghê" (Trong Quốc văn giáo khoa thư, mô tả mùa Hè) thế mà lại còn sì sụp tô bún bò Huế ớt cay chảy nước mắt, nước mũi, thì thật là ngon không để mô cho hết. Ngon như rứa thì thôi! Tôi mời ai ăn bún bò Huế mà mặt cứ lạnh như tiền, ăn một cách ung dung, nhàn hạ không "khẩn trương" chê ớt không ăn , không thấy một giọt mồ hôi trên trán thì đừng có hòng được tui mời ăn lần thứ hai. Ăn như vậy là "thực bất tri kỳ vị" là không kính trọng tô bún bò là khinh thường dân Huế tụi tui. Lúc tui còn ở Bloomington, tiểu bang Indiana, tui có anh bạn trẻ người miền Nam, Saigon hay đâu đó tôi quên mất tiêu. Anh ta khoái bún bò lắm ! Mỗi lần đến nhà tui ăn bún bò, anh hít hà liền miệng, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, anh tham dự hết mình vào "công cuộc" ăn bún bò làm tôi thích thú quá chừng, xem anh ta như bạn tri kỷ, tri âm vậy.
Ngoài món bún bò bắt buộc phải có ớt lại còn một món ăn khác mà ớt cay đóng một phần tối ư quan trọng. Ấy là món "Cơm Hến". Người ta đã nói lạt như nước ốc, nước hến, vậy thì để bổ sung cho cái "lạt" đó chỉ có cái "cay "của ớt. Không có ớt là tô cơm hến xem như bỏ đi chẳng đáng một đồng xu. Còn nhiều món ăn đặc sệt Huế nữa như bánh bột lọc, bánh nậm, bánh ướt nhuỵ tôm, bánh ram bánh ít, cơm dấm nuốt vv...không món ăn nào là không có ớt đi kèm, dĩ nhiên là không ăn chè hạt sen hồ Tịnh Tâm cùng với ớt. Nhưng Mẹ tui lúc sinh thời, Bà ăn mít ráo ngọt lịm và dòn tan như rứa mà Bà cũng chấm múi mít vàng ươm vào trong chén nước mắm ớt cay. Mùi vị dĩ nhiên là có khác đi nhưng hương vị cũng độc đáo lắm, các bạn cứ thử xem một lần cho biết ra răng.
Ớt gắn liền với Huế của tụi tui nên sở dĩ tui phải nấn ná ở lại với quê hương gần 10 năm, sau 1975 là vì tui sợ qua Mỹ không có ớt mà ăn. Tui ăn ớt như nhồng! Tui còn nhớ lúc còn học cấp tiểu học trường làng, ông ngoại tui có nuôi một con nhồng, mỗi ngày phải cho nó ăn một chén ớt hoặc tươi hoặc ớt bột. Ăn nhiều ớt để lột lưỡi và nói được tiếng người. Và quả thật như vậy, sau một thời gian ăn ớt, con nhồng đã nói được. Cậu tôi đã bị ông ngoại tôi thưởng cho một tát tai là vì đã dạy cho con nhồng chào khách chẳng lich sự tí nào. Số là một hôm có khách đến nhà, ông ngoại tôi đang khoe với khách con nhồng biết nói thì đột nhiên nó xổ ra một câu khiến khách phải phì cười và thẹn đỏ mặt: "Chào khách toẹt!" (Khách toẹt là khách chẳng ra gì, là chỉ như một món ăn dở, không ngon, chỉ muốn nhổ toẹt ra khỏi miệng)
Nhồng ăn ớt để lột lưỡi, để nói nhiều. Như vậy, dân Huế tụi tui ăn ớt nhiều thì có nói nhiều không hí ? Ai răng tui không biết chứ tui thì hình như nói không ít mỗi khi bạn bè bắt đúng tần số của tui. Ông ngoại tui thường mắng tui là:
- Cái thằng ni răng mà hắn nói không để miệng đâm da non.
Chẳng lẽ ai nói ít thì miệng nhiều da non hay răng? Tui thực không biết! E là phải nhờ mấy nhà sinh vật học giải thích cho điều này mới được.
Trên đây tui đã nói đến cái công dụng của ớt làm chảy nước miếng nhiều và do đó làm thức ăn trở nên ngon miệng hơn. Nay xin nói về những đặc tính của ớt trên phương diện y học. Có thời gian tui làm việc ở tỉnh Bình Tuy gần căn cứ Bốn, khu Rừng Lá trên đường từ Saigòn ra Phan Thiết, tui có dịp tiếp xúc với các giáo viên dạy học vùng Rừng Lá này. Họ ăn ớt nhiều đến nổi tui từng tự phụ là người Việt gốc ớt mà cũng phải ngả mũ ra chào thua. Họ nhậu rượu đế đổ trong thau nhựa trộn chung với nước ngọt xá xị và mồi nhấm rượu chỉ là môt mâm trái cóc và một tô muối ớt, ớt nhiều hơn muối. Họ ăn ớt không những để món ăn khoái khẩu hơn mà còn dùng ớt như một phương thuốc trị bênh sốt rét vì người nào cũng bị chứng bệnh này hành hạ và chỉ nhờ có ớt mà căn bệnh thuyên giảm dần dần. Chắc các bạn đã từng nghe hai câu thơ nói về Rừng Lá:
Ngày anh đi, rừng em chưa xanh lá
Ngày anh về rừng lá đã xum xuê
Và hai câu thơ đối lại:
Ngày em đi, anh còn như trái ớt
Ngày em về thì ớt lớn bằng khoai.
Mới đây, tôi lại đọc được mẫu tin loan báo đại học UCLA và các khoa học gia người Nhật vừa khám phá ra ớt trị được căn bênh ung thư tiền liệt tuyến. Các tế bào ung thư đã bị chất cay của ớt tiêu huỷ dần dần. Thật là một tin mừng gây phấn khởi cho những con dân gốc Huế.
Trong cảnh Cali mưa buồn nhớ mùa mưa xứ Huế, tôi thèm ăn một tô bún bò với ớt cay xé họng và tôi lẩm cà lẩm cẩm nghĩ rằng không biết ai là người đầu tiên tìm ra cây ớt trong rừng cây nhiệt đới và ai là người đầu tiên nếm thử trái ớt. Không biết lúc bấy giờ người đó có nhảy nhỏm người lên vì vị cay xé nồng của ớt và có lo cuống cuồng vì sợ ăn nhằm chất độc không. Nếu biết được vị tiền nhân nào tìm ra và nếm trái ớt đầu tiên trên trần thế thì tui sẽ xin bàn dân thiên hạ tôn ông ta là vị Thần Bếp hay nói văn hoa Hán(g) rộng thì ông ta thật xứng đáng được phong làm Trù Thần trên cỏi thế.
Vùng Cấm Bay’ đồng nghĩa với sự kết liễu triều đại Gaddafi?
Bùi Tín
(Nguồn: VOA, trích)
Việc thiết lập “vùng cấm bay” trên bầu trời Libya, cuối cùng, cũng đã được thực hiện hôm 17 tháng 3, với Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc bỏ 10 phiếu thuận, 5 phiếu trắng, và không có phiếu chống.
Dân chúng tại Benghazi trương biểu ngữ đòi quốc tế lập “vùng cấm bay” để ngăn chặn quân của Gaddafi tấn công phe nổi dậy. (Hình: ROBERTO SCHMIDT/AFP/Getty Images)
Nhắc lại, vấn đề “vùng cấm bay” đã được đặt ra 2 tuần lễ trước đây, từ cuối tháng 2 năm 2011. Có nhiều ý kiến tán thành, cũng có ý kiến phân vân, cho đây là vấn đề phức tạp, lại có ý kiến phản đối trong cộng đồng quốc tế. Nội dung của vấn đề, thủ tục ngoại giao quốc tế ra sao, khả năng thực hiện như thế nào, là những vấn đề nóng hổi trong thời sự quốc tế.
Thế nào là thiết lập “vùng cấm bay”? Ðó là quy định toàn bộ hay một vùng không phận nào đó của một nước bị phong tỏa, kiểm soát chặt chẽ, ngăn cấm không cho mọi loại máy bay của đối phương được sử dụng không phận đó nếu không được phép. Nếu đối phương vi phạm thì mọi máy bay xâm phạm “vùng cấm bay” có thể bị bắn hạ hay bị buộc phải hạ cánh. Ðiều này có nghĩa là các lực lượng thực hiện cuộc phong tỏa phải có lực lượng không quân quan sát và chiến đấu, phần lớn là máy bay tiêm kích, triển khai trên các sân bay bạn hay đồng minh, hay trên hàng không mẫu hạm ở quanh “vùng cấm bay”, nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích của cuộc phong tỏa. Những cuộc không chiến có thể xảy ra ngay trong vùng hay kế cận “vùng cấm bay”.
Lý lẽ để thiết lập “vùng cấm bay” là chính quyền của Gaddafi đã dùng không quân để tàn sát dân thường hàng loạt, phần lớn là nhân dân nổi dậy trên đường phố theo đường lối hòa bình, tay không, không bạo lực. Bằng hành động tàn bạo đối với nhân dân nước mình như thế, chính quyền Gaddafi đã hoàn toàn mất tính chất chính đáng của một chính quyền đúng nghĩa, hợp hiến và hợp pháp, mà trách nhiệm đầu tiên là bảo vệ mọi người dân. Quân đội của Gaddafi, đặc biệt là các đơn vị cảnh sát chống bạo loạn và không quân ném bom vào dân thường là những kẻ sát nhân tàn bạo phạm tội ác đối với nhân dân Libya và nhân loại, cần phải bị trừng phạt.
Ai có quyền đề ra quyết định thiết lập “vùng cấm bay”? Trước hết đó là quyền của nhân dân Libya.
Nhân dân Libya bị Tổng Thống Gaddafi khủng bố tàn sát đang tỏ rõ mong muốn kết thúc ngay triều đại Gaddafi tàn bạo. Qua Hội đồng Quốc gia Chuyển tiếp do nguyên bộ trưởng tư pháp ly khai làm chủ tịch, nhân dân Libya đã chính thức yêu cầu cộng đồng quốc tế sớm thiết lập “vùng cấm bay” để bảo vệ sinh mạng họ và sớm lật đổ chính quyền Gaddafi.
Ngày 11 tháng 3, 22 nước thuộc Liên đoàn A-rập họp ở Cairo đã thống nhất yêu cầu quốc tế thiết lập “vùng cấm bay” trên bầu trời Libya.
Theo tập quán và dư luận quốc tế, trên đây là những điều kiện cần và đủ để các nước thực hiện việc phong tỏa không phận Libya. Lý do vững chắc là đứng trước nguy cơ bị thảm sát hàng loạt của đồng loại thì bất cứ con người, tập thể hay quốc gia nào cũng đều có quyền, trách nhiệm, và bổn phận phải cấp cứu bằng tất cả khả năng của mình.
Vậy có cần có quyết định của LHQ hay của Hội đồng Bảo an LHQ không? Một số nhà luật học Pháp và Mỹ cho rằng không nhất thiết phải có, có thì càng tốt, càng hay, chưa có hay không có cũng không sao. Bởi vì đây là một trường hợp cực kỳ khẩn cấp, sự kêu cứu đến từ cả một khối nhân dân hàng triệu con người đang có nguy cơ bị tàn sát lớn, không thể bàn bạc dây dưa chậm trễ được. Thêm nữa, tại Iraq vào 2 năm 1991 và 1992 và tại Bosnia vào năm 1993 đã có thiết lập “vùng cấm bay” có hiệu quả, đã có một số tiền lệ và kinh nghiệm. Ở vùng trời phía Nam Bosnia hồi ấy, 4 máy bay của Serbia đã bị máy bay tiêm kích của khối Bắc Ðại Tây Dương bắn hạ. Năm 1992, khi lập “vùng cấm bay” ở phía Nam Iraq, đã không chờ nghị quyết của LHQ, do tình hình khẩn cấp.
Lực lượng quân sự của Libya, nhất là không quân không lớn, đáng kể nhất là 25 chiếc máy bay MiG-2, hơn 100 MiG-23 và khoảng 30 máy bay cường kích Su-22, hầu hết là mua từ Liên Xô cũ, gần 30 năm trước, rất lạc hậu về kỹ thuật. Có 7 tiểu đoàn phòng không, trang bị tên lửa đối không, một số radar mua của Liên Xô cũ, chưa hề sử dụng, lại rất cũ.
Các lực lượng này của Gaddafi khó che giấu, khó tồn tại lâu dài nếu bị một số đòn phủ đầu oanh kích dồn dập, vì hiện về quân sự Libya đứng đơn độc, không phối hợp hay hợp đồng tác chiến với nước nào khác. Libya có một số lính đánh thuê người Niger, Sudan được trả lương cao, rất dễ buông súng về nhà, rã ngũ.
Thực hiện “vùng cấm bay” sẽ là sự kết thúc nhanh gọn của triều đại Gaddafi, sự hỗ trợ có ý nghĩa quyết định cho quần chúng Libya nổi dậy giành toàn thắng trong cuộc Cách mạng Mùa Xuân 2011 này.
Tôi có những Kẻ Thù Lê Minh Lương
Khác với Lưu Hiểu Ba, tôi có những kẻ thù!
Kẻ thù của tôi KHÔNG là những người cán bộ nhà nước, bộ đội, công an hay đảng viên Cộng sản bình thường. Kẻ Thù của tôi là những người lãnh đạo đảng và Nhà Nước CSVN, những kẻ lén lút dâng nhượng lãnh thổ nước nhà cho ngoại bang, những tên cán bộ ác ôn hiếp đáp thô bạo người dân lành, và những tên tham quan ăn cắp của công, ăn cướp của dân một cách đê tiện.
Tôi chỉ mặt những tên bán nước là Kẻ Thù vì họ đã thẳng tay đàn áp những người yêu nước dám lên tiếng nói đấu tranh cho sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền bất khả xâm phạm của quốc gia. Họ phản bội lại công lao dựng nước của bao thế hệ Cha Ông, và sự đóng góp xương máu của bao nhiêu người Việt trong suốt quá trình bảo vệ tổ quốc. Tôi khinh bọn nội thù này hơn cả những tên xâm lăng.
Tôi gọi những tên độc tài bất nhân là Kẻ Thù, bởi vì tự họ đã dùng quyền lực cai trị để giết đồng bào tôi trong thời chiến tranh, và sau khi đất nước đã được gọi là thống nhất,hoà bình. Trước năm 1975, họ giết người bằng súng đạn. Sau năm 1975, họ giết người bằng sự thống trị dã man, bằng những bản án tù phi lý, bằng những hành động gây phẩn uất, và bằng những chính sách cướp bóc tài sản, ruộng đất của người dân một cách công khai.
Tôi không sợ bị kẻ thù Cộng sản ám hại vì dù gọi họ như thế nào, họ cũng sẽ không dung tha cho bất cứ ai quyết tâm giành lại quyền lãnh đạo đất nước cho toàn dân. Một khi những tên lãnh đạo độc ác này xem bất cứ người nào muốn thay đổi đất nước cho dân chủ hơn thì là kẻ thù của họ, họ xá gì những người dấn thân đấu tranh quyết liệt để giải thể chế độ độc tài?!!
Nhưng tôi không ghét và phân biệt đối xử đối với những người đã hoặc đang là đảng viên Cộng sản. Vì nếu họ theo đảng CS vì lý tưởng, thì họ là nạn nhân của một hoàn cảnh lịch sử; và nếu theo CS chỉ vì nhu cầu thực tế, thì họ chỉ là nạn nhân của một hoàn cảnh xã hội.
Tôi không có thành kiến với các sĩ quan, bộ đội Quân đội Nhân dân, vì họ chỉ là những người lính mà chế độ nào cũng cần có. Vấn đề chỉ là hàng ngũ quân đội này cần phải được độc lập để làm tròn bổn phận bảo vệ Tổ Quốc, chứ không phải là công cụ để bảo vệ đảng cầm quyền.
Tôi không xem cán bộ nhà nước hay công an là Kẻ Thù, vì họ chỉ là những người thừa hành của một bộ máy. Những điều sai lầm họ gây ra là do mệnh lệnh cấp trên. Họ không có tội lỗi gì đáng kể, vì chế độ đã làm thay đổi bản chất bình thường thực sự của họ. Người Việt Nam sinh ra không phải để trở thành Cộng sản. Thành phần đáng bị nguyền rủa là những tên lãnh đạo độc tài, tham ô ở cấp cao đã biến những người cán bộ nhà nước thành những người đồng phạm xấu xa.
Tôi có thể là "kẻ thù" của chế độ nhưng điều đó không khiến tôi xem tất cả những người đã hoặc đang ở trong bộ máy cầm quyền đó là kẻ thù. Tôi phân biệt rõ ràng những ai là thành phần thừa hành -- kể cả thừa hành một cách thiếu ý thức hoặc lạm dụng quyền lực vì thiếu tri thức, và những ai là thành phần ác ôn lúc nào cũng muốn trù dập người dân thế cô để bảo vệ quyền lực thống trị.
Những tên lãnh đạo độc tài, tham ô và bất nhân cần được loại bỏ khỏi bộ máy nhà nước. Nhưng tôi không chủ trương sẽ đối xử tàn nhẫn với những kẻ thù xấu xí này. Luật pháp trong tương lai sẽ xử định thân phận họ một cách công minh.
Tôi không thù hận tất cả người Cộng sản như họ đã hận thù và đối xử với những người từng phục vụ cho chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Tôi không chủ trương khai thác lòng thù hận để làm động lực đấu tranh, dù tôi biết rằng chế độ Cộng sản đã gây oán thù chồng chất trong lòng bao nhiêu triệu người dân Việt trong quá trình mấy mươi năm cai trị. Tôi muốn chứng tỏ cho những người Cộng sản thấy rằng họ có thể đàn áp, thậm chí giết chết những người đối kháng; nhưng họ sẽ không giết được tinh thần nhân bản của những người đấu tranh cho dân chủ ngày nay.
Tôi biết hậu quả của chiến tranh thù hận đến ngày nay vẫn còn hoành hành dân tộc ta nên vẫn luôn chủ trương "Lấy tình thương xoá bỏ hận thù". Nhưng tình thương đó chỉ dành cho những người Cộng sản đã thức tỉnh và sẵn sàng trở về với dân tộc. Đối với những kẻ bán nước, hại dân, lúc nào cũng muốn dùng bạo lực để duy trì quyền lực lãnh đạo độc tài, thì thành phần này không đáng để được tha thứ. Không những thế, họ cần phải được trừng trị để làm gương cho các thế hệ mai sau.
Tôi ghét chiến tranh và ghê tởm bạo lực, vì nó đã tàn phá đất nước tôi, gây cảnh tang thương cho đồng bào tôi. Nhưng tôi sẽ không vì vậy mà chủ trương dân chủ hoá đất nước bằng cách van xin đảng cầm quyền hiện nay ban cho người Việt Nam thêm chút tự do. Quyền dân chủ, tự do là của người dân và phải được trao trả lại cho người dân. Tôi sẽ đấu tranh đến cùng để giành lại quyền sống và sự sống cho những người dân cô thế không có được điều kiện để giải phóng chính họ.
Tôi không xem tất cả người dân ở đất nước phía Bắc là kẻ thù. Với tôi, họ cũng là nạn nhân của chế độ Cộng sản, cũng cùng hoàn cảnh bị thống trị như đồng bào Việt Nam của ta. Nhưng đối với những người Trung Hoa muốn đô hộ nước Việt Nam, tôi xem họ là kẻ thù như Cha Ông tôi đã ứng xử.
Đất nước Trung Hoa là xứ sở láng giềng của nước tôi. Tôi tin rằng tình hữu nghị với dân tộc Trung Hoa cần thiết để hai dân tộc có thể sống hài hoà với nhau trong lâu dài, một khi cả hai quốc gia không còn dưới ách thống trị của Cộng sản. Nhưng tôi yêu đất nước tôi và sẽ chống lại bất cứ hành động hay âm mưu nào nhằm lấn chiếm quê hương tôi.
Tôi quý đất nước Hoa Kỳ vì tính nhân đạo bao dung của người dân Hiệp Chủng Quốc. Tôi tôn trọng quyền lợi của đất nước Hoa Kỳ, vì đây là đất tạm dung cho tôi. Tuy nhiên, tôi không tin rằng Hoa Kỳ sẽ là một đồng minh tốt trong công cuộc đấu tranh giải thể chế độ CSVN. Chính phủ Hoa Kỳ rất tốt nhưng khi cần phải thay đổi chính sách cho một nhu cầu chiến lược quan trọng hơn, đồng minh có thể sẽ bị phản bội. Nhưng tôi tin một cách mãnh liệt rằng Hoa Kỳ sẽ hậu thuẫn mạnh mẽ cho phong trào đấu tranh dân chủ hoá Việt Nam, một khi đảng CSVN không còn khả năng tồn tại nữa.
Tôi quý trọng tư cách và lòng bao dung của ông Lưu Hiểu Ba. Tôi nghĩ, ông rộng lượng được là nhờ ông có tên tuổi lớn, có địa vị xã hội cao và có uy tín lớn với quốc tế. Ít nhất, ông không bị ngược đãi một cách tàn bạo như những người tù chính trị không tên tuổi khác ở Trung Hoa. Ông cũng không bị phẩn uất vì đảng Cộng sản Trung Hoa đem lãnh thổ nước Tàu dâng nhượng cho ngoại bang và mỗi ngày phải phập phồng trong nỗi lo mất nước. Ông cũng không phải đau đớn khi thấy hàng chục ngàn phụ nữ nước ông phải đem danh dự và chính thân thể mình để đổi lấy miếng cơm cho gia đình, trong khi bọn cầm quyền giàu sang cực độ bằng tiền bạc bất chính. Có lẽ nhờ vậy mà ông có cái nhìn bao dung, thanh thản với đảng cầm quyền ở nước ông.
Ở nước tôi, những người từ hải ngoại về hoạt động chính trị cũng không bị tra tấn, ngược đãi khi bị bắt. Những nhà dân chủ có bằng cấp cao hay nổi tiếng ở trong nước cũng vậy. Nhưng những người đấu tranh không tên tuổi thường bị hành hạ, tra tấn rất dã man. Trong nhà tù Cộng sản hiện nay, những nhân chứng đó vẫn còn bị giam cầm. Nhưng những người dấn thân chống chế độ độc tài đều đủ trưởng thành để không oán trách hay van xin chế độ. Chỉ tội nghiệp cho mấy mươi triệu dân lành, chờ đợi độc lập, tự do, hạnh phúc từ gần nửa thế kỷ qua, nay vẫn còn tiếp tục sống trong nghèo đói, bất công.
Như ông Lưu Hiểu Ba, tôi mong người tù chính trị vừa bị kêu án những ngày qua sẽ là nạn nhân sau cùng bị giam cầm vì nỗ lực đấu tranh nhằm đòi lại những gì của chính mình đã bị chế độ độc tài cướp mất.. Đó là quyền dân chủ, tự do tất nhiên của con người. Nhưng tôi đủ cảnh giác để tin rằng: chỉ khi nào chế độ Cộng sản này không còn nữa, thì ngày đó những người tù lương tâm đang ở tù mới được tự do. Và lúc đó, những người đối lập với chính phủ mới sau này sẽ không phải bị giam cầm vì sự bất đồng chính kiến.
Ông Lưu Hiểu Ba ơi! Ngày nào chế độ Cộng sản không còn thì ngày đó hai tiếng "kẻ thù" mới không còn hiện hữu trong ngôn ngữ chính trị của nước tôi. Và có lẽ của nước Trung Hoa của ông cũng vậy! Mong ông và thế giới cảm thông rằng: Trong hoàn cảnh nước tôi bị xâm lăng và dân tôi bị thống trị, tôi không có sự chọn lựa nào khác hơn: Tôi có những kẻ thù!
Cuộc tấn công của liên quân vào Libya mở màn đêm 19/3 mới chỉ là giai đoạn đầu Anh, Mỹ và Pháp
thực thi chiến dịch thị uy sức mạnh quân sự, chống lại chế độ Gadhafi mà họ cáo buộc đang “điên cuồng tàn sát dân lành”.
Chiến đấu cơ Rafale của Pháp tại căn cứ quân sự Saint-Dizier chuẩn bị cho chiến dịch tại Libya, hôm 19/3. Ảnh: AFP.
Việc lên kế hoạch tấn công các mục tiêu là cơ sở hạ tầng quân sự của Libya đã được liên quân nghiên cứu từ vài tuần trước, bằng cách sử dụng ảnh vệ tinh cùng những chuyến bay trinh sát của máy bay do thám Anh và Mỹ. Mục tiêu của việc thu thập thông tin tình báo này là theo dõi mọi di biến động và liên lạc giữa các lực lượng ủng hộ đại tá Gadhafi.
Tổng tư lệnh chiến dịch đánh Libya là đô đốc Mỹ Samuel Locklear, chỉ huy lực lượng liên quân đóng tại căn cứ Naples, Italy. Sau hội nghị thượng đỉnh bất thường về Libya tại Paris ngày 19/3, đô đốc Locklear được giao nhiệm vụ đập tan cỗ máy quân sự của Gadhafi và đảm bảo lệnh cấm bay trên toàn cõi Libya.
Theo đó, tấn công hệ thống radar và tên lửa phòng không của Libya là giai đoạn đầu của chiến dịch “đánh hội đồng” này. Mở màn chiến dịch, chiến đấu cơ Rafale của Pháp tiêu diệt một chiếc xe quân sự của Libya, có thể là xe tăng, lúc 16h45’ giờ GMT (23h45’ giờ Hà Nội) ngày 19/3, gần Benghazi. Khi màn đêm buông xuống, chiến dịch mang tên Odyssey Dawn của liên quân mới thực sự ác liệt khi Lầu Năm Góc cho biết có tổng cộng 110 quả tên lửa đối đất Tomahawk đã được Anh và Mỹ bắn vào Libya.
Cơn mưa tên lửa Tomahawk của liên quân đã rơi xuống dọc khu vực bờ biển trải dài của Libya. Những quả hỏa tiễn hạng nặng bay với tốc độ siêu thanh này được phóng từ tàu ngầm lớp Trafalgar của Anh và hai chiến hạm của Mỹ là khu trục hạm USS Mason mang tên lửa dẫn đường và tàu ngầm USS Providence gắn tên lửa Tomahawk tại Địa Trung Hải.
Tham gia màn phủ đầu này còn có những chiếc chiến đấu cơ cường kích mặt đất Tornado GR4 của Anh, trang bị tên lửa Storm Shadow chuyên oanh tạc các trung tâm chỉ huy, hầm điều khiểu và trạm radar của đối phương. Bên cạnh đó, những chiếc F-18 Super Hornet của hải quân Mỹ cũng xuất kích từ tàu sân bay USS Enterprise tại Biển Đỏ và máy bay chiến đấu Pháp từ tàu sân bay Charles de Gaulle tại cảng Toulon của Pháp.
Tổng cộng, Guardian cho biết trong đêm 19/3 đã có tổng cộng hơn 20 mục tiêu đã định của quân đội Libya bị tiêu diệt. Các đơn vị tên lửa đất đối không của lực lượng thân Gadhafi bị phá hủy hàng loạt. Ngoài ra, mạng lưới thông tin liên lạc quân sự có ý nghĩa sống còn đối với Gadhafi cũng bị đánh tơi tả.
Cuộc oanh tạc bằng tên lửa và máy bay nhằm vào quân đội Gadhafi này được mô tả là giai đoạn “tạo động lực” cho chiến dịch, với mục tiêu làm “câm họng” hệ thống phòng không của Libya. Đồng thời đợt tấn công này mở đường cho giai đoạn hai của màn dạo đầu đánh Libya.
Ngay khi hệ thống phòng không của Libya được xác định đã mất năng lực chiến đấu sau đợt tấn công đêm 19/3, đến lượt các chiến đấu cơ của NATO xuất hiện để tấn công các mục tiêu khác trên mặt đất. Mục tiêu của giai đoạn tấn công thứ hai này đa dạng từ các đơn vị xe tăng, xe bọc thép, hệ thống tên lửa tầm xa và những cỗ xe phóng hỏa tiễn tự hành của đại tá Gadhafi.
Ngay khi hai giai đoạn tấn công mục tiêu quân sự trên mặt đất hoàn tất, liên quân sẽ bước vào giai đoạn “làm cảnh sát trên không”, trong đó các máy bay liên tục quần đảo trên không phận Libya để đảm bảo vùng cấm bay có hiệu lực. Trong giai đoạn này, ngoài Anh, Mỹ và Pháp sẽ có máy bay và phương tiện của nhiều nước khác như Đan Mạch, Qatar, Canada, Các tiểu vương quốc Ảrập thống nhất và một số quốc gia tham gia.
Giai đoạn thực thi và giám sát vùng cấm bay thực sự cho thấy chiến dịch can thiệp vào Libya mang tính đa quốc gia. Nhưng việc điều phối các chuyến bay của chiến đấu cơ nhiều nước, cất cánh từ nhiều khu vực khác nhau cùng đến không phận Libya làm nhiệm vụ sẽ thực sự là một thách thức trong chiến dịch can thiệp Libya.
Vùng cấm bay tại Libya được Anh và Pháp cùng đề xuất sau khi quân đội ủng hộ đại tá Gadhafi tấn công người chống đối bằng vũ khí hạng nặng hồi tháng trước. Ban đầu Mỹ lưỡng lực với đề xuất này, nhưng sau đó ủng hộ. Sau khi chịu sức ép gay gắt, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đầu tuần này đã bỏ phiếu phê chuẩn lập vùng cấm bay tại Libya, nhằm ngăn chặn cuộc tấn công của quân Gadhafi vào thường dân.
Để thiết lập vùng cấm bay, liên quân đã tập trung một lượng lớn vũ khí gần Libya với hàng trăm máy bay chiến đấu có khả năng tiếp cận quốc gia Bắc Phi này trong thời gian ngắn. Trong số này có những phi đội F-16 của Mỹ, Đan Mạch, CF-18 của Canada, Tornado và Typhoon của Anh, chủ yếu đóng ở miền nam Italy. Pháp thì triển khai khoảng 100 máy bay chiến đấu, gồm chủ yếu là Rafale và Mirage 2000 cùng tàu sân bay Charles de Gaulle tham gia chiến dịch tại Libya.
Khi thế giới nín thở theo dõi cuộc khủng hoảng tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima I của Nhật Bản,
những người công nhân đang nỗ lực ngăn chặn thảm họa trong nhà máy trở thành niềm hy vọng duy nhất của công chúng.
Người dân Nhật Bản trong một trại sơ tán theo dõi tin tức về nhà máy điện hạt nhân Fukushima I trên đài truyền hình hôm 17/3. Ảnh: AP.
Vài chục nghìn người sống quanh nhà máy Fukushima I đã sơ tán do lo ngại bụi phóng xạ phát tán từ các lò phản ứng gặp sự cố sau trận động đất, sóng thần hôm 11/3.
Trước khi động đất xảy ra, tổng số người làm việc trong nhà máy là 1.800. Hai người thiệt mạng trong trận động đất, 22 người bị thương bởi sóng thần và các vụ nổ, hai người mất tích.
"Các bạn là những người duy nhất có thể giải quyết cuộc khủng hoảng hạt nhân. Vì thế rút lui là điều các bạn không được phép nghĩ tới", Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan nói về lực lượng lao động trong nhà máy.
Mặc dù vậy, các báo đưa tin chỉ khoảng 180 tới 200 người ở lại nhà máy để cứu các lò phản ứng. Họ bao gồm các chuyên gia, cảnh sát, nhân viên cap cứu, binh sĩ, công nhân, lính cứu hỏa.
Khi quyết định ở lại, họ biết rằng họ có thể mất mạng nếu lõi lò phản ứng nổ. Ngay cả khi chiến dịch cứu nhà máy thành công, họ vẫn có thể chết sớm vì bụi phóng xạ.
Do không ai được phép ở trong nhà máy Fukushima I quá 15 phút, nhóm người ở lại làm việc theo chế độ luân phiên để đảm bảo rằng luôn có 50 người cùng xuất hiện trong nhà máy.
Vì thế giới truyền thông gọi họ là nhóm "Fukushima 50". Với trang phục bảo hộ cồng kềnh trên người và đèn pin trên tay, họ dùng sức để bơm nước vào lò phản ứng, sửa chữa các đường ống dẫn nước và trám các khe nứt trên thành bể nén, New York Post đưa tin.
“Những người ở lại nhà máy Fukushima I đang thực hiện một hành động anh hùng. Tại một số nơi trong nhà máy, nồng độ phóng xạ có thể đe dọa tính mạng”, Robert Alvarez, một cựu quan chức của Bộ Năng lượng Mỹ, nói trên CNN.
Giáo sư Keiichi Nakagaw, một chuyên gia về phóng xạ hạt nhân của Đại học Tokyo tại Nhật Bản, gọi công việc của nhóm "Fukushima 50" là sứ mệnh liều chết.
"Tôi không biết phải diễn đạt bằng cách nào khác, song quả thực những con người đó giống như lính cảm tử trong chiến tranh", ông bình luận.
Báo chí Nhật Bản hầu như không tiết lộ thông tin nào về những người ở lại nhà máy, chỉ nói rằng trong đó có nhiều người được đào tạo bài bản, giàu kinh nghiệm, có kiến thức sâu rộng về điện hạt nhân và các vấn đề an toàn.
"Cha tôi làm việc trong nhà máy Fukushima I. Sau khi ông quyết định ở lại nhà máy tôi thấy mẹ tôi khóc rất lâu. Chưa bao giờ bà khóc nhiều đến thế.
Mẹ tôi nói rằng những người trong nhà máy chấp nhận hy sinh để cứu tôi. Bà tin cha tôi sẽ sống sót trở về", một cư dân mạng có nick "nekkonekonyaa" chia sẻ trên Twitter.
Đài truyền hình Nhật Bản công bố nội dung thư điện tử do con gái của một người tình nguyện ở lại nhà máy gửi tới. Bức thư có đoạn: "Cha tôi vẫn đang làm việc trong đó. Ông và các đồng đội không còn thức ăn. Tình hình rất khó khăn. Cha tôi nói ông chấp nhận số phận".
"Chồng tôi ở lại dù biết anh ấy có thể nhiễm bụi phóng xạ. Anh ấy gửi thư điện tử cho tôi để nói rằng hãy cố gắng sống tốt, vì anh ấy phải vắng nhà một thời gian", một phụ nữ nới với ABC News.
Richard Wakeford, một chuyên gia của Viện Nguyên tử Dalton thuộc Đại học Manchester ở Anh, nhận xét rằng, đối với nhiều người trong số họ, việc ở lại là vấn đề bình thường, giống như làm thêm một ngày vậy.
“Những người ở lại nhà máy coi đó là một phần công việc của họ. Nhìn chung người Nhật rất tận tụy với trách nhiệm và những người ở lại coi cứu nhà máy là trách nhiệm”, ông nói.
Theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới, một người bình thường phơi nhiễm vối khoảng 3 millisievert (đơn vị liều lượng chiếu xạ, viết tắt là “mSv”) chất phóng xạ mỗi năm từ dược phẩm, không khí và các nguồn tự nhiên khác.
Nhưng trong nhà máy Fukushima I, nồng độ phóng xạ ở nhiều vị trí lên tới 400 mSv mỗi giờ - mức nguy hiểm đối với sức khỏe con người.
"Với tình hình hiện nay, nhóm người trong nhà máy Fukushima I đang phơi nhiễm với lượng phóng xạ mà một công nhân điện hạt nhân tại Mỹ hứng chịu trong suốt sự nghiệp", David Richardson, một giáo sư về bệnh học của Đại học North Carolina tại Mỹ, so sánh.
Nồng độ phóng xạ từ 1.000 mSv trở lên có thể gây bệnh. Do những người trong nhà máy bị phơi nhiễm phóng xạ toàn thân nên họ có nguy cơ mắc một số dạng ung thư, như ung thư máu, bạch cầu và tuyến giáp.
“Nếu tôi là họ tôi sẽ lo lắng hơn về những vụ nổ khí hydro. Những vụ nổ như thế luôn có sức công phá khủng khiếp – đủ lớn để thổi bay mái của hai lò phản ứng. Đó mới là mối đe dọa lớn nhất của những người lao động trong nhà máy Fukushima I”, Wakeford nhấn mạnh.
Wakeford nói các chuyên gia và kỹ sư luôn ý thức rằng một ngày nào đó họ sẽ phải đối mặt với tình huống nguy hiểm như hiện nay. Vì thế mà quyết định ở lại nhà máy của họ khiến mọi người khâm phục.
"Họ là những anh hùng. Chẳng ai bàn cãi về điều đó. Thật đáng tiếc là công chúng không biết nhiều thông tin hơn về họ. Tôi cúi đầu trước những con người anh hùng này", ông bày tỏ.