Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Libya được cứu vớt như thế nào
National Post
PBD dịch Tính ra thì chẳng cần phải lâu lắc gì: Mới chưa hết một ngày của chiến dịch quân sự do Âu Châu lãnh đạo để kềm chế cuộc tấn công của Muammar Gaddafi nhắm vào chính dân của y mà lãnh tụ Liên Hiệp Ả Rập đã lạnh cẳng. Hôm Chủ Nhật, Tổng Thư Ký Amr Moussa của Liên Hiệp Ả Rập nói: "Những gì diễn ra tại Libya khác với mục tiêu áp đặt một vùng cấm bay và điều chúng tôi muốn là bảo vệ thường dân chứ không phải oanh kích vào thường dân khác". Lời chỉ trích này cho thấy giọng điệu thay đổi đáng kể của tổ chức này, sau khi chính họ đã kêu gọi áp đặt một vùng cấm bay vào ngày 12 Tháng Ba - một tuần trước khi Liên Hiệp tự thức để hành động. (Tính đến lúc viết bài này, các nước Ả Rập, gồm Qatar và UAE, theo dự liệu vẫn sẽ đưa các chiến đấu cơ của họ tham gia chiến dịch áp đặt vùng cấm bay.)
Đúng là có thể có một số thường dân Libya bị thiệt mạng hồi cuối tuần vì các cuộc oanh kích bằng bom và hỏa tiễn của Hoa Kỳ và Âu Châu vào các mục tiêu phòng không tại Tripoli. Nhưng ông Moussa biết rất rõ là việc thành lập một vùng cấm bay đòi hỏi phải tiêu diệt khả năng phòng không của địch, và – nhất là trong các khu vực thành thị - có nghĩa là có thể gây thương vong cho thường dân. Không có bằng chứng nào khả tín cho thấy các cuộc oanh kích hồi cuối tuần là bừa bãi; và con số thương vong – Libya lúc đầu loan tin là 48, mà không được phân biệt rõ ràng giữa thường dân và nhân viên quân sự - không hề cho thấy là cố ý tàn sát. Một cách giải thích khả tín hơn về các nhận xét của ông Moussa là ông ta đang vuốt đuôi thái độ thù ghét chống Tây Phương theo phản xạ vẫn thường bùng lên trong thế giới Ả Rập trong những cuộc chiến như thế này.
Thế nhưng ông Moussa có thể hiểu sai hết bản chất thay đổi nhanh chóng của dư luận Ả Rập, kể cả tại Ai Cập, nơi mà ông ta có thể sắp sửa ra tranh cử tổng thống. Trong toàn vùng này, một làn sóng mạnh mẽ chán ghét những kẻ độc tài như Đại Tá Gadaffi đã làm bùng phát các cuộc xuống đường biểu trình rầm rộ tại Ai Cập, Tunisia, Yemen và Bahrain. Ngay cả tại Syria, một nước cai trị bằng công an và hầu như đã mất hết khả năng chống đối chính trị có tổ chức suốt cả một thế hệ, cũng đã bùng phát các cuộc phản đối hồi cuối tuần. Trong bầu không khí này, thái độ nghi ngờ chống Tây Phương và các thuyết cho là có âm mưu thiên về dầu hỏa đang nhường chỗ cho các quan điểm có lý lẽ hơn. Abdul Gader Dejuli, một người chăn dê tại Libya chứng kiến các cuộc oanh kích của Pháp và Mỹ phá hủy đoàn chiến xa bọc thép của Đại Tá Gaddafi bên ngoài tổng hành dinh của phe nổi dậy tại Libyan hồi cuối tuần, đã cho thấy được thái độ này qua mấy chữ thật vắn tắt: “Cảm ơn Pháp, cảm ơn Hoa Kỳ ... Obama tốt, Sarkozy tốt."
Trong khi đó, ngoài mặt trận, xem chừng như biện pháp can thiệp của Tây Phương đã đổi hướng cuộc chiến trong hai ngày cuối tuần: Sau khi các lực lượng của Gaddafi bị oanh kích tơi tả thật thảm hại ra khỏi Benghazi, tên bạo chúa đang bị vây hãm lại lên tiếng kêu gọi ngưng bắn, cho thấy là y biết y sẽ bại trận trong bất cứ cuộc giao tranh nào mới.
Mặc dù có biến chuyển đáng mừng này, chúng ta cũng không nên quên là hành động can thiệp của Tây Phương thật là quá sát nút. Tính đến hôm Thứ Bảy, khi loạt oanh kích đầu tiên bắt đầu, các lực lượng của Libya đang tiến vào Benghazi. Nếu các xe tăng và xe bọc thép khác của Đại Tá Gaddafi tiến vào được trung tâm thành phố đang thuộc quyền kiểm soát của phe nổi dậy, thì ắt chúng đã bố trí gần các bệnh viện, nhà thờ Hồi giáo và các tòa nhà chung cư để hầu như không còn có thể mở các cuộc oanh kích từ trên không. Quân nổi dậy rồi ắt sẽ không còn cách nào khác mà phải rời bỏ căn cứ của họ và phong trào của họ ắt đã bị bẻ gãy để lại thực tế là chiến thắng sẽ lọt vào tay Đại Tá Gaddafi.
Nói cách khác, vào lúc Tây Phương mở cuộc không kích thì tình thế lúc đó có thể chỉ còn vài ngày, hoặc ngay cả vài giờ, là không còn thay đổi được nữa cho Libya. Trước những lời tuyên bố của Đại Tá Gaddafi là sẽ trả đũa dữ dội các lãnh tụ của cuộc nổi dậy, hậu quả ắt có lẽ đã là một cuộc tắm máu.
Ai có công giải cứu quân nổi dậy tại Libyan và duy trì phong trào của họ? Hôm Thứ Sáu, tờ New York Times tường thuật là Obama chỉ đi đến quyết định can thiệp vào Libya đêm Thứ Hai, và cũng là chỉ để đáp ứng các nỗ lực của Ngoại Trưởng Hillary Clinton, mà chính bà ta cũng chỉ đổi ý muốn hành động như vậy vào cùng ngày hôm đó. “Trong vòng vài giờ,” Tờ Times viết, "Tổng Thống ra lệnh lập các kế hoạch quân sự, và Đô Đốc Mike Mullen, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, đã đích thân cầm tay đến Tòa Bạch Ốc ngày hôm sau. Vào ngày Thứ Năm, trong phiên họp một tiếng rưỡi, ông Obama đã quyết định cho phép các phi công Mỹ tham gia cùng với các lực lượng Âu Châu và Ả Rập trong các cuộc tấn công quân sự vào chính quyền Libya."
Trong nhiều năm qua, bà Clinton đã phải chịu đủ mọi lời qua tiếng lại từ tất cả mọi phía trong chính giới Hoa Kỳ. Thế nhưng tại Libya, nêu phe nổi dậy thành công, bà sẽ được xem đúng đắn là một nữ anh hùng ngoại giao đối với người dân Libya. Có lẽ ông Moussa, khi đang theo đuổi các tham vọng làm tổng thống tại Ai Cập mà bà Clinton cũng đã một thời từng có tại Hoa Kỳ, cũng nên học vài bài học từ bà về các quyết định khó khăn trong thời chiến.
Source: http://www.nationalpost.com/todays-pape ... story.html
National Post
PBD dịch Tính ra thì chẳng cần phải lâu lắc gì: Mới chưa hết một ngày của chiến dịch quân sự do Âu Châu lãnh đạo để kềm chế cuộc tấn công của Muammar Gaddafi nhắm vào chính dân của y mà lãnh tụ Liên Hiệp Ả Rập đã lạnh cẳng. Hôm Chủ Nhật, Tổng Thư Ký Amr Moussa của Liên Hiệp Ả Rập nói: "Những gì diễn ra tại Libya khác với mục tiêu áp đặt một vùng cấm bay và điều chúng tôi muốn là bảo vệ thường dân chứ không phải oanh kích vào thường dân khác". Lời chỉ trích này cho thấy giọng điệu thay đổi đáng kể của tổ chức này, sau khi chính họ đã kêu gọi áp đặt một vùng cấm bay vào ngày 12 Tháng Ba - một tuần trước khi Liên Hiệp tự thức để hành động. (Tính đến lúc viết bài này, các nước Ả Rập, gồm Qatar và UAE, theo dự liệu vẫn sẽ đưa các chiến đấu cơ của họ tham gia chiến dịch áp đặt vùng cấm bay.)
Đúng là có thể có một số thường dân Libya bị thiệt mạng hồi cuối tuần vì các cuộc oanh kích bằng bom và hỏa tiễn của Hoa Kỳ và Âu Châu vào các mục tiêu phòng không tại Tripoli. Nhưng ông Moussa biết rất rõ là việc thành lập một vùng cấm bay đòi hỏi phải tiêu diệt khả năng phòng không của địch, và – nhất là trong các khu vực thành thị - có nghĩa là có thể gây thương vong cho thường dân. Không có bằng chứng nào khả tín cho thấy các cuộc oanh kích hồi cuối tuần là bừa bãi; và con số thương vong – Libya lúc đầu loan tin là 48, mà không được phân biệt rõ ràng giữa thường dân và nhân viên quân sự - không hề cho thấy là cố ý tàn sát. Một cách giải thích khả tín hơn về các nhận xét của ông Moussa là ông ta đang vuốt đuôi thái độ thù ghét chống Tây Phương theo phản xạ vẫn thường bùng lên trong thế giới Ả Rập trong những cuộc chiến như thế này.
Thế nhưng ông Moussa có thể hiểu sai hết bản chất thay đổi nhanh chóng của dư luận Ả Rập, kể cả tại Ai Cập, nơi mà ông ta có thể sắp sửa ra tranh cử tổng thống. Trong toàn vùng này, một làn sóng mạnh mẽ chán ghét những kẻ độc tài như Đại Tá Gadaffi đã làm bùng phát các cuộc xuống đường biểu trình rầm rộ tại Ai Cập, Tunisia, Yemen và Bahrain. Ngay cả tại Syria, một nước cai trị bằng công an và hầu như đã mất hết khả năng chống đối chính trị có tổ chức suốt cả một thế hệ, cũng đã bùng phát các cuộc phản đối hồi cuối tuần. Trong bầu không khí này, thái độ nghi ngờ chống Tây Phương và các thuyết cho là có âm mưu thiên về dầu hỏa đang nhường chỗ cho các quan điểm có lý lẽ hơn. Abdul Gader Dejuli, một người chăn dê tại Libya chứng kiến các cuộc oanh kích của Pháp và Mỹ phá hủy đoàn chiến xa bọc thép của Đại Tá Gaddafi bên ngoài tổng hành dinh của phe nổi dậy tại Libyan hồi cuối tuần, đã cho thấy được thái độ này qua mấy chữ thật vắn tắt: “Cảm ơn Pháp, cảm ơn Hoa Kỳ ... Obama tốt, Sarkozy tốt."
Trong khi đó, ngoài mặt trận, xem chừng như biện pháp can thiệp của Tây Phương đã đổi hướng cuộc chiến trong hai ngày cuối tuần: Sau khi các lực lượng của Gaddafi bị oanh kích tơi tả thật thảm hại ra khỏi Benghazi, tên bạo chúa đang bị vây hãm lại lên tiếng kêu gọi ngưng bắn, cho thấy là y biết y sẽ bại trận trong bất cứ cuộc giao tranh nào mới.
Mặc dù có biến chuyển đáng mừng này, chúng ta cũng không nên quên là hành động can thiệp của Tây Phương thật là quá sát nút. Tính đến hôm Thứ Bảy, khi loạt oanh kích đầu tiên bắt đầu, các lực lượng của Libya đang tiến vào Benghazi. Nếu các xe tăng và xe bọc thép khác của Đại Tá Gaddafi tiến vào được trung tâm thành phố đang thuộc quyền kiểm soát của phe nổi dậy, thì ắt chúng đã bố trí gần các bệnh viện, nhà thờ Hồi giáo và các tòa nhà chung cư để hầu như không còn có thể mở các cuộc oanh kích từ trên không. Quân nổi dậy rồi ắt sẽ không còn cách nào khác mà phải rời bỏ căn cứ của họ và phong trào của họ ắt đã bị bẻ gãy để lại thực tế là chiến thắng sẽ lọt vào tay Đại Tá Gaddafi.
Nói cách khác, vào lúc Tây Phương mở cuộc không kích thì tình thế lúc đó có thể chỉ còn vài ngày, hoặc ngay cả vài giờ, là không còn thay đổi được nữa cho Libya. Trước những lời tuyên bố của Đại Tá Gaddafi là sẽ trả đũa dữ dội các lãnh tụ của cuộc nổi dậy, hậu quả ắt có lẽ đã là một cuộc tắm máu.
Ai có công giải cứu quân nổi dậy tại Libyan và duy trì phong trào của họ? Hôm Thứ Sáu, tờ New York Times tường thuật là Obama chỉ đi đến quyết định can thiệp vào Libya đêm Thứ Hai, và cũng là chỉ để đáp ứng các nỗ lực của Ngoại Trưởng Hillary Clinton, mà chính bà ta cũng chỉ đổi ý muốn hành động như vậy vào cùng ngày hôm đó. “Trong vòng vài giờ,” Tờ Times viết, "Tổng Thống ra lệnh lập các kế hoạch quân sự, và Đô Đốc Mike Mullen, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, đã đích thân cầm tay đến Tòa Bạch Ốc ngày hôm sau. Vào ngày Thứ Năm, trong phiên họp một tiếng rưỡi, ông Obama đã quyết định cho phép các phi công Mỹ tham gia cùng với các lực lượng Âu Châu và Ả Rập trong các cuộc tấn công quân sự vào chính quyền Libya."
Trong nhiều năm qua, bà Clinton đã phải chịu đủ mọi lời qua tiếng lại từ tất cả mọi phía trong chính giới Hoa Kỳ. Thế nhưng tại Libya, nêu phe nổi dậy thành công, bà sẽ được xem đúng đắn là một nữ anh hùng ngoại giao đối với người dân Libya. Có lẽ ông Moussa, khi đang theo đuổi các tham vọng làm tổng thống tại Ai Cập mà bà Clinton cũng đã một thời từng có tại Hoa Kỳ, cũng nên học vài bài học từ bà về các quyết định khó khăn trong thời chiến.
Source: http://www.nationalpost.com/todays-pape ... story.html
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
EM BÉ NHẬT & NGƯỜI CẢNH SÁT
Đinh văn Tiến Hùng
Em bé Nhật Fukushima vươn lên từ ngọn sóng thần,
Đứng thẳng trên hoang tàn đổ nát,
Với lòng Tự hào Dân tộc
Đã thành bài học sáng ngời cho bốn biển năm châu
Em đứng run run trong gió buốt
Chín tuổi đời mất tất cả tình thương
Cha sóng cuốn lúc chờ em tan trường
Mẹ và các em chìm theo ngôi nhà ven biển
Đứng cuối hàng cùng mọi người chờ nhận phần cứu trợ
Chiếc áo mong manh không đủ che ấm thân người
Nhìn em mà tim tôi nhỏ lệ,
Cởi áo ngoài vội phủ kín cho em,
Và thân thiết trao em phần ăn dự trữ.
Em cúi chào tỏ dấu biết ơn,
Rồi tiến đến phía trước thùng lương thực,
Nhẹ bỏ vào và lặng lẽ trở về hàng.
Hành động đó làm tôi sửng sốt bàng hoàng
Tôi vội hỏi: “Tại sao em không nhận? “
Ngước nhìn tôi em trả lời kính cẩn:
“ Không thưa chú! Còn nhiều người đang cần,
Xin gởi lại để cùng con chia xẻ. “
Tôi cúi đầu lòng nghẹn ngào tủi hổ,
Nghĩ đau buồn cho thế hệ trẻ Quê Hương.
Bao em thơ không được cắp sách đến trường,
Ngày ngày mải miết bới đống rác kiếm ăn,
Tranh đồ ăn thừa vứt bỏ của thực khách ,
Nơi những nhà hàng sa hoa bóng bẩy,
Với tiếng nhạc ồn ào quyện tấm thân nhún nhẩy.
Cuộc đời trẻ thơ Việt Nam là thế đấy!
Một nền giáo dục khoe khoang bịp bợm:
‘ Mười năm trồng cây! Trăm năm trồng người’
Theo lời bác dạy là thế hay sao?
Làm chính trị sai lầm là mất Nước rồi!
Nhưng văn hoá giáo dục sai lầm là phá tan biết bao thế hệ!
Bởi bọn Cộng Sản Việt Nam nhẫn tâm giữ vững lời thề:
‘ Thà mất Nước,mất Dân,chứ không thể nào mất Đảng! ‘
Em Bé Fukushima can đảm!
Dạy cho tôi một Bài học tuyệt vời!
Một Bông hoa đẹp giữa vùng trời bão tố,
Một Con tim đã được ươm hồng,
Trong nền giáo dục đầy tình người từ lúc tuổi thơ.
Ôi! Đất Nước tôi không biết đến bao giờ!
Biết giáo dục tuổi thơ đầy nhân bản!
Đinh văn Tiến Hùng
Em bé Nhật Fukushima vươn lên từ ngọn sóng thần,
Đứng thẳng trên hoang tàn đổ nát,
Với lòng Tự hào Dân tộc
Đã thành bài học sáng ngời cho bốn biển năm châu
Em đứng run run trong gió buốt
Chín tuổi đời mất tất cả tình thương
Cha sóng cuốn lúc chờ em tan trường
Mẹ và các em chìm theo ngôi nhà ven biển
Đứng cuối hàng cùng mọi người chờ nhận phần cứu trợ
Chiếc áo mong manh không đủ che ấm thân người
Nhìn em mà tim tôi nhỏ lệ,
Cởi áo ngoài vội phủ kín cho em,
Và thân thiết trao em phần ăn dự trữ.
Em cúi chào tỏ dấu biết ơn,
Rồi tiến đến phía trước thùng lương thực,
Nhẹ bỏ vào và lặng lẽ trở về hàng.
Hành động đó làm tôi sửng sốt bàng hoàng
Tôi vội hỏi: “Tại sao em không nhận? “
Ngước nhìn tôi em trả lời kính cẩn:
“ Không thưa chú! Còn nhiều người đang cần,
Xin gởi lại để cùng con chia xẻ. “
Tôi cúi đầu lòng nghẹn ngào tủi hổ,
Nghĩ đau buồn cho thế hệ trẻ Quê Hương.
Bao em thơ không được cắp sách đến trường,
Ngày ngày mải miết bới đống rác kiếm ăn,
Tranh đồ ăn thừa vứt bỏ của thực khách ,
Nơi những nhà hàng sa hoa bóng bẩy,
Với tiếng nhạc ồn ào quyện tấm thân nhún nhẩy.
Cuộc đời trẻ thơ Việt Nam là thế đấy!
Một nền giáo dục khoe khoang bịp bợm:
‘ Mười năm trồng cây! Trăm năm trồng người’
Theo lời bác dạy là thế hay sao?
Làm chính trị sai lầm là mất Nước rồi!
Nhưng văn hoá giáo dục sai lầm là phá tan biết bao thế hệ!
Bởi bọn Cộng Sản Việt Nam nhẫn tâm giữ vững lời thề:
‘ Thà mất Nước,mất Dân,chứ không thể nào mất Đảng! ‘
Em Bé Fukushima can đảm!
Dạy cho tôi một Bài học tuyệt vời!
Một Bông hoa đẹp giữa vùng trời bão tố,
Một Con tim đã được ươm hồng,
Trong nền giáo dục đầy tình người từ lúc tuổi thơ.
Ôi! Đất Nước tôi không biết đến bao giờ!
Biết giáo dục tuổi thơ đầy nhân bản!
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Những Câu Chuyện Thương Tâm
1.- 30 Em Bé Học Sinh Tiểu Học ...Vẫn Chờ Nhưng Cha Mẹ Không Bao Giờ Đến Đón Nữa...
Báo The Daily Mail từ Anh kể về chuyện 30 học sinh nhỏ tại trường tiểu học Kama của nước Nhật, các em ngồi lặng lẽ ở trong góc của lớp này nơi tầng lầu 3 của trường, mỗi ngày chờ ba mẹ tới đón về, kể từ ngaỳ sóng thần tràn vào thị trấn Ishinomaki. Cũng hơn cả tuần rồi, không có ba mẹ nàò tới đón các em. Và bây giờ thì không ai nghĩ là ba mẹ các em còn sống sót để đón các em về.
Các thầy cô nghĩ rằng một số bé gáí, bé trai này, tuổi từ 8 tới 12, biết rằng ba mẹ các em đã mất tích và sẽ không bao giờ xuất hiện trước mặt các em nữa, nhưng các em không nói gì.
Các em vẫn kiên nhẫn lặng lẽ đọc sách, hay chơi các trò thẻ bài, được quan sát và chăm sóc bởi thân nhân và thầy cô, những người ngăn không cho bất kỳ ai nói với các em.
Các viên chức sợ rằng ngay cả tiếng cửa kéo ra cũng đưa tới một hy vọng sai lầm rằng có một bậc bố mẹ nào tới đón các em về. Sự lặng lẽ của các em traí nghịch với tiếng chơi đùa ồn ào của các em chơi trong các hành lang của ngôi trường 4 tầng lầu này, mà các em đó có bố mẹ sống sót nhờ cơ may.
Ngôi trường này, nơi các tranh vẽ thiếu nhi còn nằm dọc trên tường, không còn nước máy, không điện, không sưởi nữa, và đã trở thành nơi cư ngụ cho 657 người nằm dọc các hành lang và trong các phòng đầy bùn và đủ thứ đổ nát. Trường chỉ cách 1 dặm là tới bức tường mà thành phố Ishinomaki đã dựng để ngăn sóng biển.
2.- Hình ảnh chấn động tâm can của một cậu bé Nhật
bài viết này được đăng vào lúc: 19/03/11 - 13:11:19
Cậu bé Toshihito Aisawa đang đi tìm cha mẹ và người thân.
Hình ảnh cậu bé 9 tuổi cầm hai tấm biển ghi tên cha mẹ và người thân đi dọc hành lang các khu tạm trú sau thảm họa kép ở Nhật Bản đã lay động tâm can hàng triệu người dân thế giới. Cậu bé đã trở thành một biểu tượng của nỗi đau mà người dân Nhật đang phải hứng chịu sau thảm họa động đất kèm sóng thần kinh hoàng xảy ra hôm 11/3.
Ngày qua ngày, cậu bé Toshihito Aisawa, 9 tuổi, đi hết từ khu tạm trú này đến khu tạm trú khác để tìm kiếm gia đình của mình.
Cầm chặt hai tấm biển ghi tên cha mẹ và người thân, cậu bé Aisawa suốt tuần qua đã mãi miết đi dọc khắp các hành lang ở những khu trú tạm trong thành phố quê hương Ishinomaki để tìm kiếm những người thân yêu của mình. Cậu bé dường như không biết mệt mỏi và không bao giờ hết hy vọng.
Lần cuối cùng, Aisawa nhìn thấy bố, mẹ, bà và anh họ của mình là khi cả nhà lèn vào một chiếc xe hơi và tìm cách chạy trốn những con sóng thần đen nghịt hung dữ. Nhưng chiếc xe của họ cuối cùng cũng chẳng thoát nổi. Những con sóng thần cao ngất đã nuốt chửng chiếc xe hơi trong vòng xoáy nước điên cuồng.
Aisawa đã thoát chết nhờ vào việc đập vỡ cửa sổ của xe và được các nhân viên cứu hộ lôi lên từ dòng nước trong tình trạng bất tỉnh.
Ngay sau khi tỉnh dậy, Aisawa đã đi tìm bố mẹ và những người thân của mình. Mỗi ngày cậu bé đều để lại lời nhắn trên giấy: “Con sẽ đến vào 11h ngày mai, xin hãy đợi con. Con sẽ đến vào ngày mai”. Những dòng chữ nhắn nhủ của cậu bé này đã khiến cho bất kỳ ai dù là cứng rắn nhất cũng phải rơi lệ.
Cậu bé Aisawa bên cạnh dòng chữ nhắn nhủ khiến bất kỳ ai cũng phải rơi lệ. Hy vọng đã lóe lên khi cậu bé Aisawa đã được đoàn tụ với anh họ - người đi cùng xe với gia đình Aisawa trong cuộc chạy trốn vừa rồi. Aisawa nhớ lại những âm thanh ầm ầm ghê sợ của những mảnh vỡ đang bị cuốn trôi bên cạnh chiếc xe hơi của gia đình mình trong vòng xoáy của cơn sóng thần.
Khi một trong những mảnh vỡ tác động mạnh vào cửa kính xe hơi và làm nó rạn ra, Aisawa và anh họ Yuto đã dùng tay để đập vỡ nó và bơi ra ngoài.
“Sau đó, một thứ gì đó, có thể là cái cây, lao về phía chúng cháu và cháu đã phải bỏ tay anh Yuto ra,” Aisawa cho biết. Cậu bé đã bị dòng nước chảy siết làm cho tơi tả suốt nửa tiếng đồng hồ trên một mảnh gỗ trôi nổi. Quần áo của Aisawa bị mắc vào một khóm tre và cậu được cứu khỏi dòng nước sau đó. Aisawa được đưa đến nhà người thợ cắt tóc 64 tuổi tên là Mitsunari Kitahara. Ông này là bạn của gia đình Aisawa.
Thành phố Ishinomaki tan hoang, đổ nát sau thảm họa kép động đất kèm theo sóng thần kinh hoàng hôm 11/3. Theo lời ông Kitahara, cậu bé đã không thể hiện nỗi đau khổ của mình khi đối mặt với thảm họa. “Nó vẫn giúp chúng tôi sắp xếp bàn ăn và làm việc vặt. Tôi chắc cậu bé đang trải qua thời điểm rất khó khăn nhưng tôi không thấy nó khóc”, ông Kitahara cho biết.
Dù không bộc lộ nỗi đau nhưng nếu nhìn thấy khuôn mặt buồn rầu của cậu bé, chẳng ai có thể cầm lòng được.
Khi sự choáng váng qua đi là lúc người dân Nhật phải đối mặt với thực tế đau đớn. Và hàng ngày, họ vẫn phải đối diện với nó. Ông Yoshikatsu Hiratsuka, 66 tuổi, và em gái của mình hàng ngày đều đến bên thi thể lạnh cóng được đắp một tấm chăn mỏng của người vợ đã chết của ông. Sau đó, hai anh em lại đến một đống gỗ cách đó không xa. Đây là nơi mẹ của ông Hiratsuka đang bị chôn vùi trong đó.
Ông Hiratsuka đã cố gắng lôi mẹ mình ra khỏi đống đổ nát nhưng nó quá nặng. “Mẹ, chắc mẹ phải lạnh lắm. Con xin lỗi con vẫn không thể giúp được mẹ,” ông Hiratsuka đã lẩm bẩm như vậy bên cạnh đống đổ nát.
Giống như hàng ngàn người khác ở các khu trú tạm đông nghẹt người, ông Hiratsuka và em gái đều đói và lạnh.
1.- 30 Em Bé Học Sinh Tiểu Học ...Vẫn Chờ Nhưng Cha Mẹ Không Bao Giờ Đến Đón Nữa...
Báo The Daily Mail từ Anh kể về chuyện 30 học sinh nhỏ tại trường tiểu học Kama của nước Nhật, các em ngồi lặng lẽ ở trong góc của lớp này nơi tầng lầu 3 của trường, mỗi ngày chờ ba mẹ tới đón về, kể từ ngaỳ sóng thần tràn vào thị trấn Ishinomaki. Cũng hơn cả tuần rồi, không có ba mẹ nàò tới đón các em. Và bây giờ thì không ai nghĩ là ba mẹ các em còn sống sót để đón các em về.
Các thầy cô nghĩ rằng một số bé gáí, bé trai này, tuổi từ 8 tới 12, biết rằng ba mẹ các em đã mất tích và sẽ không bao giờ xuất hiện trước mặt các em nữa, nhưng các em không nói gì.
Các em vẫn kiên nhẫn lặng lẽ đọc sách, hay chơi các trò thẻ bài, được quan sát và chăm sóc bởi thân nhân và thầy cô, những người ngăn không cho bất kỳ ai nói với các em.
Các viên chức sợ rằng ngay cả tiếng cửa kéo ra cũng đưa tới một hy vọng sai lầm rằng có một bậc bố mẹ nào tới đón các em về. Sự lặng lẽ của các em traí nghịch với tiếng chơi đùa ồn ào của các em chơi trong các hành lang của ngôi trường 4 tầng lầu này, mà các em đó có bố mẹ sống sót nhờ cơ may.
Ngôi trường này, nơi các tranh vẽ thiếu nhi còn nằm dọc trên tường, không còn nước máy, không điện, không sưởi nữa, và đã trở thành nơi cư ngụ cho 657 người nằm dọc các hành lang và trong các phòng đầy bùn và đủ thứ đổ nát. Trường chỉ cách 1 dặm là tới bức tường mà thành phố Ishinomaki đã dựng để ngăn sóng biển.
2.- Hình ảnh chấn động tâm can của một cậu bé Nhật
bài viết này được đăng vào lúc: 19/03/11 - 13:11:19
Cậu bé Toshihito Aisawa đang đi tìm cha mẹ và người thân.
Hình ảnh cậu bé 9 tuổi cầm hai tấm biển ghi tên cha mẹ và người thân đi dọc hành lang các khu tạm trú sau thảm họa kép ở Nhật Bản đã lay động tâm can hàng triệu người dân thế giới. Cậu bé đã trở thành một biểu tượng của nỗi đau mà người dân Nhật đang phải hứng chịu sau thảm họa động đất kèm sóng thần kinh hoàng xảy ra hôm 11/3.
Ngày qua ngày, cậu bé Toshihito Aisawa, 9 tuổi, đi hết từ khu tạm trú này đến khu tạm trú khác để tìm kiếm gia đình của mình.
Cầm chặt hai tấm biển ghi tên cha mẹ và người thân, cậu bé Aisawa suốt tuần qua đã mãi miết đi dọc khắp các hành lang ở những khu trú tạm trong thành phố quê hương Ishinomaki để tìm kiếm những người thân yêu của mình. Cậu bé dường như không biết mệt mỏi và không bao giờ hết hy vọng.
Lần cuối cùng, Aisawa nhìn thấy bố, mẹ, bà và anh họ của mình là khi cả nhà lèn vào một chiếc xe hơi và tìm cách chạy trốn những con sóng thần đen nghịt hung dữ. Nhưng chiếc xe của họ cuối cùng cũng chẳng thoát nổi. Những con sóng thần cao ngất đã nuốt chửng chiếc xe hơi trong vòng xoáy nước điên cuồng.
Aisawa đã thoát chết nhờ vào việc đập vỡ cửa sổ của xe và được các nhân viên cứu hộ lôi lên từ dòng nước trong tình trạng bất tỉnh.
Ngay sau khi tỉnh dậy, Aisawa đã đi tìm bố mẹ và những người thân của mình. Mỗi ngày cậu bé đều để lại lời nhắn trên giấy: “Con sẽ đến vào 11h ngày mai, xin hãy đợi con. Con sẽ đến vào ngày mai”. Những dòng chữ nhắn nhủ của cậu bé này đã khiến cho bất kỳ ai dù là cứng rắn nhất cũng phải rơi lệ.
Cậu bé Aisawa bên cạnh dòng chữ nhắn nhủ khiến bất kỳ ai cũng phải rơi lệ. Hy vọng đã lóe lên khi cậu bé Aisawa đã được đoàn tụ với anh họ - người đi cùng xe với gia đình Aisawa trong cuộc chạy trốn vừa rồi. Aisawa nhớ lại những âm thanh ầm ầm ghê sợ của những mảnh vỡ đang bị cuốn trôi bên cạnh chiếc xe hơi của gia đình mình trong vòng xoáy của cơn sóng thần.
Khi một trong những mảnh vỡ tác động mạnh vào cửa kính xe hơi và làm nó rạn ra, Aisawa và anh họ Yuto đã dùng tay để đập vỡ nó và bơi ra ngoài.
“Sau đó, một thứ gì đó, có thể là cái cây, lao về phía chúng cháu và cháu đã phải bỏ tay anh Yuto ra,” Aisawa cho biết. Cậu bé đã bị dòng nước chảy siết làm cho tơi tả suốt nửa tiếng đồng hồ trên một mảnh gỗ trôi nổi. Quần áo của Aisawa bị mắc vào một khóm tre và cậu được cứu khỏi dòng nước sau đó. Aisawa được đưa đến nhà người thợ cắt tóc 64 tuổi tên là Mitsunari Kitahara. Ông này là bạn của gia đình Aisawa.
Thành phố Ishinomaki tan hoang, đổ nát sau thảm họa kép động đất kèm theo sóng thần kinh hoàng hôm 11/3. Theo lời ông Kitahara, cậu bé đã không thể hiện nỗi đau khổ của mình khi đối mặt với thảm họa. “Nó vẫn giúp chúng tôi sắp xếp bàn ăn và làm việc vặt. Tôi chắc cậu bé đang trải qua thời điểm rất khó khăn nhưng tôi không thấy nó khóc”, ông Kitahara cho biết.
Dù không bộc lộ nỗi đau nhưng nếu nhìn thấy khuôn mặt buồn rầu của cậu bé, chẳng ai có thể cầm lòng được.
Khi sự choáng váng qua đi là lúc người dân Nhật phải đối mặt với thực tế đau đớn. Và hàng ngày, họ vẫn phải đối diện với nó. Ông Yoshikatsu Hiratsuka, 66 tuổi, và em gái của mình hàng ngày đều đến bên thi thể lạnh cóng được đắp một tấm chăn mỏng của người vợ đã chết của ông. Sau đó, hai anh em lại đến một đống gỗ cách đó không xa. Đây là nơi mẹ của ông Hiratsuka đang bị chôn vùi trong đó.
Ông Hiratsuka đã cố gắng lôi mẹ mình ra khỏi đống đổ nát nhưng nó quá nặng. “Mẹ, chắc mẹ phải lạnh lắm. Con xin lỗi con vẫn không thể giúp được mẹ,” ông Hiratsuka đã lẩm bẩm như vậy bên cạnh đống đổ nát.
Giống như hàng ngàn người khác ở các khu trú tạm đông nghẹt người, ông Hiratsuka và em gái đều đói và lạnh.

WikiLeaks:
Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng được trả 150 triệu,
Nông Đức Mạnh 300 triệu
Những chuyển ngân cho gia đình Thủ Tướng Nguyền Tấn Dũng chỉ bắt đầu vào cuối năm 2006 và đến tháng 6 năm 2009 thì tổng số cũng đã lên khoảng gần 150 triệu đô la. Kể từ cuối năm 2001 đã có những giao dịch chuyển ngân hàng chục triệu đô la từ Trung Quốc sang các tài khoản của gia đình Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh ở Thụy Sĩ và ở Cayman Islands. Vào thời điểm của điện văn này là tháng 6 năm 2009 thì tổng số đã chuyển ngân lên tới gần 300 triệu đô la
Dân Làm Báo – Những chuyển ngân cho gia đình Thủ Tướng Nguyền Tấn Dũng chỉ bắt đầu vào cuối năm 2006 và đến tháng 6 năm 2009 thì tổng số cũng đã lên khoảng gần 150 triệu đô la. Kể từ cuối năm 2001 đã có những giao dịch chuyển ngân hàng chục triệu đô la từ Trung Quốc sang các tài khoản của gia đình Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh ở Thụy Sĩ và ở Cayman Islands. Vào thời điểm của điện văn này là tháng 6 năm 2009 thì tổng số đã chuyển ngân lên tới gần 300 triệu đô la…
Theo tin từ một thân hữu báo chí ở Norway (Na Uy), một điện văn trong số 250,000 mà WikiLeaks lấy được từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và đã giao cho tờ báo buổi chiều lớn nhất Na Uy là tờ Aftenposten thì có một điện văn liên quan về Việt Nam nói đến dự án khai thác bô-xít nhôm ở Tây Nguyên.
Nội dung điện văn chính yếu là yêu cầu Bộ Tài Chính Hoa Kỳ giúp điều tra và xác minh một số giao dịch ngân hàng quốc tế. Cụ thể, theo điện văn này thì một nguồn tin trong giới ngân hàng Việt Nam cho biết kể từ cuối năm 2001 đã có những giao dịch chuyển ngân hàng chục triệu đô la từ Trung Quốc sang các tài khoản của gia đình Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh ở Thụy Sĩ và ở Cayman Islands. Vào thời điểm của điện văn này là tháng 6 năm 2009 thì tổng số đã chuyển ngân lên tới gần 300 triệu đô la.
Cũng trong điện văn này, nguồn tin từ ngân hàng Việt Nam cho biết những chuyển ngân cho gia đình Thủ Tướng Nguyền Tấn Dũng chỉ bắt đầu vào cuối năm 2006 và đến tháng 6 năm 2009 thì tổng số cũng đã lên khoảng gần 150 triệu đô la. Các chuyển ngân trong phần của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng thì không đề cập đến ngân hàng nước nào.
Khi Dân Làm Báo hỏi thân hữu ở Na Uy là có được tận mắt đọc điện văn này không thì thân hữu đó cho biết là tất cả 250,000 điện văn từ WikiLeaks được lưu trữ trong một căn hầm dưới đất trong một tòa nhà bình thường của báo Aftenposten và có một ủy ban đại diện báo chí, và cả chính phủ Na Uy, để tham khảo các điện văn trước khi công bố nhằm tránh nguy hiểm cho các nguồn tin cũng như tránh những nhạy cảm về chính trị, ngoại giao. Những thành viên của ủy ban này không được mang theo giấy bút, hay phương tiện sao chép gì vào phòng làm việc và chỉ có thể đọc và ghi nhớ mà thôi.
Thân hữu ở Na Uy cũng cho biết là nguồn tin từ ngân hàng Việt Nam không được tiết lộ trong điện văn mà chỉ nói là một quan chức cao cấp, có khả năng biết được thông tin loại này và đã được kiểm chứng là khả tín trong quá khứ.
Cũng theo thân hữu của Dân Làm Báo thì Đại sứ của Việt Nam tại Liên Hiệp Châu Âu tại Bỉ là bà Phan Thúy Thanh đã nhiều lần trực tiếp giao thiệp với Bộ Ngoại Giao Na Uy. Thân hữu của Dân Làm Báo đang tìm hiểu nội dung của các buổi làm việc ngoại giao này và có tin gì thêm sẽ thông tin sau.
DLB có hỏi là khi nào thì báo Aftenposten sẽ đăng tải những điện văn này thì thân hữu cho biết là thường chỉ khoảng 10 điện văn được đăng tải một lần và phải có sự đồng ý của tất cả các thành viên của ủy ban thẩm định nội dung điện văn. Cho đến hôm nay 22/3/2011 thì vẫn chưa có quyết định nào về đăng tải.
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Trần Mộng Tú
SAMURAI và HOA ANH ĐÀO
Khi nói đến nước Nhật, người ta liên tưởng ngay đến những ngôi chùa cổ kính, với mái ngói xanh lam phủ rêu xanh ngọc, ẩn hiện trong những rừng tùng xanh biếc của mùa xuân, hay những nóc chùa thấp thoáng trong mơ hồ của một rừng tuyết trắng xóa mùa đông. Nước Nhật với cầu kỳ trang trọng của trà đạo; nghệ thuật mang thiền tính trong hoa đạo; lãng mạn với những chiếc gáy gợi tình của các cô gái hé ra ở cái cổ áo kimono hơi trễ về phía sau, trong những ngày quốc lễ hay ngày hội hoa Anh Đào và vẻ quyến rũ của ngọn Phú Sĩ quanh năm tuyết phủ đã lôi cuốn du khách khắp nơi trên thế giới hàng năm đến Nhật. Nhưng bên trên những vẻ đẹp nên thơ và nặng về văn hóa đó là một nước Nhật với tinh thần Võ Sĩ Đạo dũng cảm.
Sau đệ nhị thế chiến, bước ra khỏi một nước Nhật với chế độ quân phiệt là một nước Nhật khác, với những sắc thái đặc biệt ít có nước nào trên thế giới theo kịp. Tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật cộng đồng,lòng tự trọng của con cháu Thái Dương Thần Nữ đã làm cho cả thế giới khâm phục. Tất cả tinh thần đó gói ghém trong chữ Samurai. Samurai viết theo chữ Hán là 侍 (đọc là thị, âm Hán Việt) gồm có chữ Nhân (人) đứng trước chữ Tự (寺), mang hình ảnh một người đứng trước cổng chùa (Người canh gác chùa). Trong thời đại Mặc Phủ Đằng Nguyên (thế kỷ 12),Samurai được dùng như chiến binh, thị vệ để bảo vệ Tướng Quân (Shogun). Những Samurai này được huấn luyện, thử thách để hấp thụ đủ ba điều kiện: trung thành, can đảm và danh dự. Samurai còn có nghĩa là “Người phục vụ” (thị = người phục vụ). Về sau, Samurai gần như đồng nghĩa với chữ bushi (武士), tức là “võ sĩ” và những người võ sĩ đó phải tuân thủ những nguyên tắc rất nghiêm ngặt, gọi là Bushidō, tức là “Võ Sĩ Đạo” ( 武士道). Hầu hết những nguyên tắc của Võ Sĩ Đạo đều dựa trên căn bản triết lý của đạo Phật và Thần đạo. Thần đạo thiên về khía cạnh tích cực, hướng dẫn con người thăng hoa vật chất, phát huy tối đa sự sáng tạo, xây dựng một xã hội vượt bực bằng tất cả khả năng của mỗi cá nhân. Trong khi đó Phật giáo giúp cho con người nhìn thấy cái phù du của đời sống, cái hư ảo của mất còn. Hai tôn giáo này đã nằm trong máu người dân Nhật. Nên với những phẩm hạnh đó, các Samurai hành xử qua sự thấm nhuần tư tưởng Phật Giáo, đặc biệt tinh thần an nhiên của Phật Giáo Thiền Tông, đơn giản và tĩnh lặng. Họ trở thành những anh hùng đơn giản và bình tĩnh trước mọi tình huống. Samurai tự coi mình mang vẻ đẹp thanh cao và lý tưởng của hoa Anh Đào. Khi nắng xuân ấm áp những nụ hoa Anh Đào đang khép, nở bung ra, nó khoe tất cả những nét đẹp tuyệt vời của từng cánh hoa. Nhưng khi một trận gió, một cơn mưa xuân đến thổi tung cánh hoa lìa cành, nó cũng dâng hiến một trận mưa hoa ngoạn mục trong không gian, để mọi người đứng ngẩn ngơ chiêm ngắm. Sống và chết, hoa Anh Đào cùng khoe vẻ đẹp dù mong manh ngắn ngủi. Samurai cũng sẵn sàng sống đẹp và chết đẹp như hoa Anh Đào.
Người võ sĩ đạo luôn luôn mang hoài bão chết trong danh dự hơn là chết trong ô nhục. Giai cấp Samurai cuối cùng đã tan rã hơn 130 năm nay, nhưng tinh thần Samurai vẫn mãi mãi tồn tại với dân Nhật, đó là: tinh thần cao với trách nhiệm xã hội. Không phải dân tộc nào cũng có được tinh thần này trong một sớm một chiều.
Khi một chiếc máy bay dân sự rớt xuống sân trường làm chết học sinh, không phải chỉ mình ông tổng giám đốc hàng không từ chức mà ông hiệu trưởng của ngôi trường đó cũng từ bỏ chức vụ của mình. Họ tự trách mình không làm tròn chức năng và chia xẻ cái đau khổ với gia đình nạn nhân. Chuyện từ chức vì nhiệm sở mình làm người lãnh đạo bị tai nạn, hay thất bại vì một lý do nào đó là chuyện rất tự nhiên của dân Nhật.
Liên tiếp trong vòng chưa đầy một tuần lễ. Bắt đầu từ ngày thứ sáu mồng 4 tháng 3 năm 2011, nước Nhật nhận liên tiếp ba tai nạn khủng khiếp: động đất, tsunami và nguy cơ tan chẩy lò phản ứng hạt nhân, gây ra cái chết của hàng chục ngàn người và sự thiệt hại ước tính hàng chục tỷ Mỹ kim vì còn lây lan ảnh hưởng đến cả thế giới. Đây là một thiên tai nặng nhất của Nhật trong lịch sử của 140 năm qua.(Trong vòng một thế kỷ Nhật Bản có tới 24 vụ động đất mạnh ở mức 6.độ Richter trở lên)
Trong cơn nguy khốn của quốc gia, tinh thần kỷ luật, danh dự và lòng tự trọng của người dân Nhật được nhìn thấy từng ngày.
Tinh thần Võ Sĩ Đạo của 130 năm về trước được thể hiện ngay trong lửa, nước, khói và phóng xạ nguyên tử trước những con mắt khâm phục của những người tham gia cấp cứu ở nơi khác đến, của những phóng viên trên thế giới. Họ ngạc nhiên vì ngay trong hoang tàn đổ nát đó, tư cách của mỗi cá nhân người Nhật thể hiện một cách rõ rệt. Chết chóc, đói lạnh, thất vọng không làm họ đánh mất truyền thống. Họ không tranh nhau một chỗ đứng ở bến xe, dù ai cũng muốn lên ngay cái xe đó để chạy về nhà mình, chạy đi tìm thân nhân; không chen lấn khi nhận thực phẩm dù là một cậu bé lên chín tuổi hay ông lão chín mươi, dù họ đang đói và lạnh. Không lợi dụng cảnh hỗn loạn mà trộm cắp, hôi của ở những siêu thị, công, tư xưởng mở ngỏ, không hiếp đáp phụ nữ cô thế ở chỗ vắng người. Ai cũng có lòng hy sinh cho đám đông, cho sự sống còn của người khác trong cùng một cảnh ngộ như mình. Những câu chuyện nói lên cái phong cách hiếm có của người Nhật được báo chí trên thế giới ca ngợi, bạn bè chuyển cho nhau tới tấp trên máy điện toán. Vẻ đẹp của một dân tộc làm gương cho cả thế giới. Cho ta hình dung ra được vẻ đẹp đến bàng hoàng khi ta bước vào khu rừng hoa Anh Đào trong mùa xuân, đứng dưới một tán cây, ngửa mặt lên chiêm ngắm ngàn cánh hoa một lúc.
Khi những lò phản ứng nguyên tử lần lượt phát nổ, dân chúng được di tản, một đội ngũ nhỏ kỹ thuật viên cảm tử đã ở lại Lò Phản Ứng Nguyên Tử (Fukushima Daiichi Nuclear Power Station).Họ bò trong một cái vòng xoáy ốc như mê cung (labyrinths),với những cây đèn pin soi thủng bóng tối, họ thở qua cái bình dưỡng khí mang nặng trên lưng. Họ dấu mặt, dấu tên, họ mặc một bộ quần liền áo, liền mũ mầu trắng để ngăn chặn phần nào phóng xạ thấm qua da thịt họ. Dù họ tình nguyện hay họ được tuyển chọn, thì họ cũng là 50 cảm tử quân, họ đối diện với cái chết trong danh dự, trong tinh thần võ sĩ đạo, dù họ biết chết vì nhiễm phóng xạ là một cái chết ghê rợn, xấu xí, nhưng đối với họ đó là một cái chết cho kẻ khác, cái chết đó sẽ đẹp như những cánh hoa Anh Đào lìa cành,bay lã chã dưới gió xuân. Cái chết của những Samurai.
Nhật đã nhận sự giúp đỡ về vật chất từ Mỹ như thực phẩm, trực thăng, vòi rồng, xe chữa lửa chuyển tới nhà máy hạt nhân, các máy bơm với công xuất cao. Tổng cộng đã có 17.000 binh sĩ hải quân và thủy quân lục chiến tham gia vào việc cứu trợ. Nhưng cho đến hôm nay (3/17)Mỹ vẫn chưa nhận được lời mời tham dự vào việc chữa chạy cơ sở hạt nhân Fukushima và Nhật còn yêu cầu lực lượng Hoa Kỳ đứng cách xa Fukishima 80 cây số, tức gấp bốn lần khoảng cách của khu vực di tản 20 cây số. Mặc dù Ngũ Giác Đài đã ngỏ lời: Chúng tôi được huấn luyện và trang bị nguồn lực có thể vận hành trong mọi điều kiện môi trường. Chúng tôi biết cách đo đạc, trắc nghiệm, ứng phó và đề phòng.
Thủ Tướng Nhật Naoto Kan nói ông sẽ tự vẫn nếu không cứu vãn được tình trạng nguy kịch của phóng xạ lan xa từ nhà máy Fukushima .
Phải chăng dân tộc Nhật muốn được chính mình thể hiện những cái chết mang tinh thần Samurai và đẹp như hoa Anh Đào khi lìa cành cho đất nước mình.
Trần Mộng Tú
SAMURAI và HOA ANH ĐÀO
Khi nói đến nước Nhật, người ta liên tưởng ngay đến những ngôi chùa cổ kính, với mái ngói xanh lam phủ rêu xanh ngọc, ẩn hiện trong những rừng tùng xanh biếc của mùa xuân, hay những nóc chùa thấp thoáng trong mơ hồ của một rừng tuyết trắng xóa mùa đông. Nước Nhật với cầu kỳ trang trọng của trà đạo; nghệ thuật mang thiền tính trong hoa đạo; lãng mạn với những chiếc gáy gợi tình của các cô gái hé ra ở cái cổ áo kimono hơi trễ về phía sau, trong những ngày quốc lễ hay ngày hội hoa Anh Đào và vẻ quyến rũ của ngọn Phú Sĩ quanh năm tuyết phủ đã lôi cuốn du khách khắp nơi trên thế giới hàng năm đến Nhật. Nhưng bên trên những vẻ đẹp nên thơ và nặng về văn hóa đó là một nước Nhật với tinh thần Võ Sĩ Đạo dũng cảm.
Sau đệ nhị thế chiến, bước ra khỏi một nước Nhật với chế độ quân phiệt là một nước Nhật khác, với những sắc thái đặc biệt ít có nước nào trên thế giới theo kịp. Tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật cộng đồng,lòng tự trọng của con cháu Thái Dương Thần Nữ đã làm cho cả thế giới khâm phục. Tất cả tinh thần đó gói ghém trong chữ Samurai. Samurai viết theo chữ Hán là 侍 (đọc là thị, âm Hán Việt) gồm có chữ Nhân (人) đứng trước chữ Tự (寺), mang hình ảnh một người đứng trước cổng chùa (Người canh gác chùa). Trong thời đại Mặc Phủ Đằng Nguyên (thế kỷ 12),Samurai được dùng như chiến binh, thị vệ để bảo vệ Tướng Quân (Shogun). Những Samurai này được huấn luyện, thử thách để hấp thụ đủ ba điều kiện: trung thành, can đảm và danh dự. Samurai còn có nghĩa là “Người phục vụ” (thị = người phục vụ). Về sau, Samurai gần như đồng nghĩa với chữ bushi (武士), tức là “võ sĩ” và những người võ sĩ đó phải tuân thủ những nguyên tắc rất nghiêm ngặt, gọi là Bushidō, tức là “Võ Sĩ Đạo” ( 武士道). Hầu hết những nguyên tắc của Võ Sĩ Đạo đều dựa trên căn bản triết lý của đạo Phật và Thần đạo. Thần đạo thiên về khía cạnh tích cực, hướng dẫn con người thăng hoa vật chất, phát huy tối đa sự sáng tạo, xây dựng một xã hội vượt bực bằng tất cả khả năng của mỗi cá nhân. Trong khi đó Phật giáo giúp cho con người nhìn thấy cái phù du của đời sống, cái hư ảo của mất còn. Hai tôn giáo này đã nằm trong máu người dân Nhật. Nên với những phẩm hạnh đó, các Samurai hành xử qua sự thấm nhuần tư tưởng Phật Giáo, đặc biệt tinh thần an nhiên của Phật Giáo Thiền Tông, đơn giản và tĩnh lặng. Họ trở thành những anh hùng đơn giản và bình tĩnh trước mọi tình huống. Samurai tự coi mình mang vẻ đẹp thanh cao và lý tưởng của hoa Anh Đào. Khi nắng xuân ấm áp những nụ hoa Anh Đào đang khép, nở bung ra, nó khoe tất cả những nét đẹp tuyệt vời của từng cánh hoa. Nhưng khi một trận gió, một cơn mưa xuân đến thổi tung cánh hoa lìa cành, nó cũng dâng hiến một trận mưa hoa ngoạn mục trong không gian, để mọi người đứng ngẩn ngơ chiêm ngắm. Sống và chết, hoa Anh Đào cùng khoe vẻ đẹp dù mong manh ngắn ngủi. Samurai cũng sẵn sàng sống đẹp và chết đẹp như hoa Anh Đào.
Người võ sĩ đạo luôn luôn mang hoài bão chết trong danh dự hơn là chết trong ô nhục. Giai cấp Samurai cuối cùng đã tan rã hơn 130 năm nay, nhưng tinh thần Samurai vẫn mãi mãi tồn tại với dân Nhật, đó là: tinh thần cao với trách nhiệm xã hội. Không phải dân tộc nào cũng có được tinh thần này trong một sớm một chiều.
Khi một chiếc máy bay dân sự rớt xuống sân trường làm chết học sinh, không phải chỉ mình ông tổng giám đốc hàng không từ chức mà ông hiệu trưởng của ngôi trường đó cũng từ bỏ chức vụ của mình. Họ tự trách mình không làm tròn chức năng và chia xẻ cái đau khổ với gia đình nạn nhân. Chuyện từ chức vì nhiệm sở mình làm người lãnh đạo bị tai nạn, hay thất bại vì một lý do nào đó là chuyện rất tự nhiên của dân Nhật.
Liên tiếp trong vòng chưa đầy một tuần lễ. Bắt đầu từ ngày thứ sáu mồng 4 tháng 3 năm 2011, nước Nhật nhận liên tiếp ba tai nạn khủng khiếp: động đất, tsunami và nguy cơ tan chẩy lò phản ứng hạt nhân, gây ra cái chết của hàng chục ngàn người và sự thiệt hại ước tính hàng chục tỷ Mỹ kim vì còn lây lan ảnh hưởng đến cả thế giới. Đây là một thiên tai nặng nhất của Nhật trong lịch sử của 140 năm qua.(Trong vòng một thế kỷ Nhật Bản có tới 24 vụ động đất mạnh ở mức 6.độ Richter trở lên)
Trong cơn nguy khốn của quốc gia, tinh thần kỷ luật, danh dự và lòng tự trọng của người dân Nhật được nhìn thấy từng ngày.
Tinh thần Võ Sĩ Đạo của 130 năm về trước được thể hiện ngay trong lửa, nước, khói và phóng xạ nguyên tử trước những con mắt khâm phục của những người tham gia cấp cứu ở nơi khác đến, của những phóng viên trên thế giới. Họ ngạc nhiên vì ngay trong hoang tàn đổ nát đó, tư cách của mỗi cá nhân người Nhật thể hiện một cách rõ rệt. Chết chóc, đói lạnh, thất vọng không làm họ đánh mất truyền thống. Họ không tranh nhau một chỗ đứng ở bến xe, dù ai cũng muốn lên ngay cái xe đó để chạy về nhà mình, chạy đi tìm thân nhân; không chen lấn khi nhận thực phẩm dù là một cậu bé lên chín tuổi hay ông lão chín mươi, dù họ đang đói và lạnh. Không lợi dụng cảnh hỗn loạn mà trộm cắp, hôi của ở những siêu thị, công, tư xưởng mở ngỏ, không hiếp đáp phụ nữ cô thế ở chỗ vắng người. Ai cũng có lòng hy sinh cho đám đông, cho sự sống còn của người khác trong cùng một cảnh ngộ như mình. Những câu chuyện nói lên cái phong cách hiếm có của người Nhật được báo chí trên thế giới ca ngợi, bạn bè chuyển cho nhau tới tấp trên máy điện toán. Vẻ đẹp của một dân tộc làm gương cho cả thế giới. Cho ta hình dung ra được vẻ đẹp đến bàng hoàng khi ta bước vào khu rừng hoa Anh Đào trong mùa xuân, đứng dưới một tán cây, ngửa mặt lên chiêm ngắm ngàn cánh hoa một lúc.
Khi những lò phản ứng nguyên tử lần lượt phát nổ, dân chúng được di tản, một đội ngũ nhỏ kỹ thuật viên cảm tử đã ở lại Lò Phản Ứng Nguyên Tử (Fukushima Daiichi Nuclear Power Station).Họ bò trong một cái vòng xoáy ốc như mê cung (labyrinths),với những cây đèn pin soi thủng bóng tối, họ thở qua cái bình dưỡng khí mang nặng trên lưng. Họ dấu mặt, dấu tên, họ mặc một bộ quần liền áo, liền mũ mầu trắng để ngăn chặn phần nào phóng xạ thấm qua da thịt họ. Dù họ tình nguyện hay họ được tuyển chọn, thì họ cũng là 50 cảm tử quân, họ đối diện với cái chết trong danh dự, trong tinh thần võ sĩ đạo, dù họ biết chết vì nhiễm phóng xạ là một cái chết ghê rợn, xấu xí, nhưng đối với họ đó là một cái chết cho kẻ khác, cái chết đó sẽ đẹp như những cánh hoa Anh Đào lìa cành,bay lã chã dưới gió xuân. Cái chết của những Samurai.
Nhật đã nhận sự giúp đỡ về vật chất từ Mỹ như thực phẩm, trực thăng, vòi rồng, xe chữa lửa chuyển tới nhà máy hạt nhân, các máy bơm với công xuất cao. Tổng cộng đã có 17.000 binh sĩ hải quân và thủy quân lục chiến tham gia vào việc cứu trợ. Nhưng cho đến hôm nay (3/17)Mỹ vẫn chưa nhận được lời mời tham dự vào việc chữa chạy cơ sở hạt nhân Fukushima và Nhật còn yêu cầu lực lượng Hoa Kỳ đứng cách xa Fukishima 80 cây số, tức gấp bốn lần khoảng cách của khu vực di tản 20 cây số. Mặc dù Ngũ Giác Đài đã ngỏ lời: Chúng tôi được huấn luyện và trang bị nguồn lực có thể vận hành trong mọi điều kiện môi trường. Chúng tôi biết cách đo đạc, trắc nghiệm, ứng phó và đề phòng.
Thủ Tướng Nhật Naoto Kan nói ông sẽ tự vẫn nếu không cứu vãn được tình trạng nguy kịch của phóng xạ lan xa từ nhà máy Fukushima .
Phải chăng dân tộc Nhật muốn được chính mình thể hiện những cái chết mang tinh thần Samurai và đẹp như hoa Anh Đào khi lìa cành cho đất nước mình.
Trần Mộng Tú
Ba điều ước cuối cùng của Alexander Đại đế

Alexander Đại Đế đánh Vua Ba Tư Darius III Ta sắp sửa rời bỏ thế gian này. Ta có ba điều nguyện ước. Các ngươi cần phải thực hiện những gì ta bảo....
Alexander là một vị vua vĩ đại. Trên đường khải hoàn sau khi chinh phạt nhiều nước, ông ngã bệnh. Vào thời khắc ấy, những vùng đất ông chiếm được, quân đội hùng mạnh, những thanh gươm bén, và sự giàu có không còn nghĩa lý gì với ông. Ông nhận ra rằng cái chết sắp sửa đến và ông sẽ không về kịp mảnh đất quê hương. Ông bảo các sĩ quan của mình:
- “Ta sắp sửa rời bỏ thế gian này. Ta có ba điều nguyện ước. Các ngươi cần phải thực hiện những gì ta bảo”.
Các vị tướng tuân lệnh trong dòng nước mắt.
- “Điều ước đầu tiên của ta là hãy bảo thầy thuốc của ta mang cái hòm rỗng của ta về một mình”.
Sau khi cố hít thở một hơi, Alexander nói tiếp:
- “Ước nguyện thứ hai của ta là hãy rải vàng, bạc và châu báu trong kho tàng của ta trên suốt dọc đường đến nấm mồ của ta khi các ngươi mang quan tài của ta ra nghĩa địa”.
Sau khi quấn mình trong chiếc áo khoác và nghỉ một lúc, ông nói tiếp:
- “Ước muốn cuối cùng của ta là hãy đặt 2 bàn tay ta ra bên ngoài cỗ quan tài”.
Mọi người xung quanh ông tất cả đều rất tò mò, nhưng không ai dám hỏi nguyên nhân. Vị cận tướng của Alexander hôn bàn tay ông và hỏi:
- “Thưa đức Vua, chúng thần sẽ làm theo mệnh lệnh của Ngài. Nhưng Ngài có thể cho chúng thần biết tại sao Ngài lại muốn chúng thần làm như vậy hay không?”.
Sau khi gắng thở một hơi dài, Alexander trả lời:
- “Ta muốn mọi người hiểu được ba bài học mà ta đã học được:
- “Mong ước thứ nhất của ta, để người thầy thuốc đưa cỗ quan tài về một mình, là để cho người ta nhận ra rằng một vị thầy thuốc không thể nào thực sự chữa bệnh cho người ta. Nhất là khi đối diện với cái chết, thầy thuốc hoàn toàn bất lực. Ta hy vọng mọi người sẽ học được rằng, phải trân quý cuộc sống của họ.
- “Mong ước thứ hai của ta, là để nhắn nhủ mọi người rằng không nên giống như ta, theo đuổi mộng giàu sang. Nếu ta tiêu tốn cả đời chạy theo sự giàu có, ta sẽ lãng phí hầu hết thời gian quý báu của đời người.
- “Mong ước thứ ba của ta là để người đời hiểu rằng, ta đến thế gian này với hai bàn tay trắng và ta sẽ rời bỏ thế gian này cũng với hai bàn tay trắng”.
Nói xong ông nhắm mắt lại và trút hơi thở cuối cùng.

The Battle of Alexander by Albrecht Altdorfer (1529)

Alexander Đại Đế đánh Vua Ba Tư Darius III Ta sắp sửa rời bỏ thế gian này. Ta có ba điều nguyện ước. Các ngươi cần phải thực hiện những gì ta bảo....
Alexander là một vị vua vĩ đại. Trên đường khải hoàn sau khi chinh phạt nhiều nước, ông ngã bệnh. Vào thời khắc ấy, những vùng đất ông chiếm được, quân đội hùng mạnh, những thanh gươm bén, và sự giàu có không còn nghĩa lý gì với ông. Ông nhận ra rằng cái chết sắp sửa đến và ông sẽ không về kịp mảnh đất quê hương. Ông bảo các sĩ quan của mình:
- “Ta sắp sửa rời bỏ thế gian này. Ta có ba điều nguyện ước. Các ngươi cần phải thực hiện những gì ta bảo”.
Các vị tướng tuân lệnh trong dòng nước mắt.
- “Điều ước đầu tiên của ta là hãy bảo thầy thuốc của ta mang cái hòm rỗng của ta về một mình”.
Sau khi cố hít thở một hơi, Alexander nói tiếp:
- “Ước nguyện thứ hai của ta là hãy rải vàng, bạc và châu báu trong kho tàng của ta trên suốt dọc đường đến nấm mồ của ta khi các ngươi mang quan tài của ta ra nghĩa địa”.
Sau khi quấn mình trong chiếc áo khoác và nghỉ một lúc, ông nói tiếp:
- “Ước muốn cuối cùng của ta là hãy đặt 2 bàn tay ta ra bên ngoài cỗ quan tài”.
Mọi người xung quanh ông tất cả đều rất tò mò, nhưng không ai dám hỏi nguyên nhân. Vị cận tướng của Alexander hôn bàn tay ông và hỏi:
- “Thưa đức Vua, chúng thần sẽ làm theo mệnh lệnh của Ngài. Nhưng Ngài có thể cho chúng thần biết tại sao Ngài lại muốn chúng thần làm như vậy hay không?”.
Sau khi gắng thở một hơi dài, Alexander trả lời:
- “Ta muốn mọi người hiểu được ba bài học mà ta đã học được:
- “Mong ước thứ nhất của ta, để người thầy thuốc đưa cỗ quan tài về một mình, là để cho người ta nhận ra rằng một vị thầy thuốc không thể nào thực sự chữa bệnh cho người ta. Nhất là khi đối diện với cái chết, thầy thuốc hoàn toàn bất lực. Ta hy vọng mọi người sẽ học được rằng, phải trân quý cuộc sống của họ.
- “Mong ước thứ hai của ta, là để nhắn nhủ mọi người rằng không nên giống như ta, theo đuổi mộng giàu sang. Nếu ta tiêu tốn cả đời chạy theo sự giàu có, ta sẽ lãng phí hầu hết thời gian quý báu của đời người.
- “Mong ước thứ ba của ta là để người đời hiểu rằng, ta đến thế gian này với hai bàn tay trắng và ta sẽ rời bỏ thế gian này cũng với hai bàn tay trắng”.
Nói xong ông nhắm mắt lại và trút hơi thở cuối cùng.

The Battle of Alexander by Albrecht Altdorfer (1529)
Quyết định lịch sử của LHQ:
Ðặt cuộc sống đồng loại ở tầm cao nhất_VOA
Bùi Tín

Nghị quyết số 1973 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc chiều ngày 17-3-2011 là một nghị quyết lịch sử. Có thể nói trong lịch sử 69 năm của LHQ (1942 – 2011), Nghị quyết 1973 là một trong những nghị quyết có ý nghĩa chính trị và tư tưởng quan trọng nhất, cao quý nhất về tôn trọng quyền sống của đồng loại trên trái đất, về bảo vệ quyền tự do của một dân tộc đang bị nguy cơ tàn sát bởi một chính quyền cực kỳ hung bạo đang lên cơn điên.
Cái cao quý của Nghị quyết 1973 là nội dung của nó nhắm cấp cứu nhân dân một nước quyết nổi dậy chống ách độc tài cá nhân của Moammar Gadhafi, tên điên khùng ở Địa Trung Hải, và đang bị đàn áp điên cuồng, đang kêu cứu thế giới can thiệp gấp để tránh khỏi bị diệt chủng.
Cả 15 nước trong Hội đồng Bảo an, cả 192 nước thành viên của LHQ đều không có một lợi ích riêng tư nào khi bàn bạc về Nghị quyết này. Do đó động cơ để ra nghị quyết về tình hình Libya hoàn toàn là trong sáng, vô tư; đó là tình Người, là lòng Nhân ái giữa cộng đồng nhân loại, là thương Người như thể thương thân, người chung Quả đất hãy thương nhau cùng. Mục tiêu của Nghị quyết là bảo vệ cuộc sống vô giá của người dân tay không.
Một Nghị quyết vô tư, trong sáng, đẹp đẽ, cao thượng như thế là rất hiếm, cho nên rất đáng quý. Nghị quyết này sẽ có ý nghĩa dài lâu, vượt qua không gian và thời gian, làm nức lòng mọi người dân lương thiện trên trái đất, củng cố niềm tin cho mọi dân tộc chưa có tự do và quyền công dân thật sự, đang khao khát quyền sống dân chủ, tự do giữa thế giới văn minh hiện tại. Đây là một mũi đột phá có ý nghĩa lịch sử, mang lại tiếng thơm và vinh dự cho Hội đồng Bảo an và cho cả LHQ trong sứ mạng cao quý bảo vệ hòa bình và an ninh của toàn nhân loại.
Cần chỉ rõ vinh quang trước hết thuộc về 10 nước đã bỏ phiếu thuận cho bản dự thảo đã được Pháp và Anh khởi thảo, được Ngoại trưởng Alain Juppé Pháp đọc ttrước Hội đồng Bảo an. Đó là các nước: Pháp, Anh, Brazil, Colombia, Gabon, Bosnia Herzegovina, Lebanon, ibania, Nigeria, Bồ Đào Nha và Nam Phi.
Theo tin các nhà báo Pháp theo dõi chặt chẽ cuộc bỏ phiếu lịch sử, đến phút chót, Nigeria và Nam Phi định không tham gia bỏ phiếu, đại biểu Pháp và Lebanon đã ra sức thuyết phục có kết quả, do đó mà đạt vừa đủ 10 phiếu thuận. Thật đáng mừng.
Cũng nhờ đại biểu Lebanon đã thay mặt khối nước A-rập ra sức thuyết phục các đại biểu Nga và Trung Quốc để 2 nước này chỉ không tham gia bỏ phiếu mà không dùng quyền phủ quyết của nước thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an, do đó mà cuộc bỏ phiếu tránh khỏi thất bại.
Thái độ của Đức cũng đáng ghi nhận. Bà Merkel tuy giữ lập trường không can thiệp, không bỏ phiếu, nhưng ngày 19-3 bà vẫn sang Paris để tỏ tình đoàn kết với các nước châu Âu, A-rập và châu Phi; bà cho biết Đức sẽ gửi ngay một số máy bay quan sát AWACS hiếm hoi sang Afghanistan, để các nước bạn có thể điều các máy bay AWACS ở đó sang hoạt động ở bầu trời Libya và quanh đó.
Ngay chiều 19-3, máy bay quân đội Pháp đã đánh trúng 4 xe tăng Libya đầu tiên từng bắn vào dân thường. Các máy bay Anh, Canada đang hành động tiếp. Quân đánh thuê của Libya đang hoang mang, có dấu hiệu tan rã từng mảng.
Nghị quyết 1973 ngày 17-3-2011 của Hội đồng Bảo an LHQ sẽ cổ vũ các dân tộc Bắc Phi và Trung Đông vùng dậy giành dân chủ và tự do theo đường lối hòa bình không bạo lực. Nhân dân Algerie đang rục rịch. Nhân dân Bahrain đã xuống đường đông đảo. Nhân dân Yemen đang xuống đường quyết liệt đòi tự do và công ăn việc làm. Nhà Vua Maroc đã cam kết dân chủ hóa vương quốc với một bản hiến pháp mới. Nhân dân các nước trên đây tin rằng thế giới đã chi viện, tiếp sức cho nhân dân Libya thì cũng sẽ ủng hộ chi viện các dân tộc khác.
Ở Việt Nam, các báo nhà nước được lệnh không đưa tin sâu đậm, không bình luận gì về Nghị quyết 1973 của Hội đồng Bảo an. Nhưng dấu diếm hay úp mở chỉ khêu gợi tò mò của bạn đọc, và không thiếu nguồn thông tin và bình luận phong phú trên mạng lưới thông tin dày đặc.
Sau Nghị quyết 1973, có thể thấy trên trái đất, quan hệ người với người đã đổi khác. Gần gụi, thân quen, tinh thần cứu giúp nhau trong hoạn nạn nồng ấm hơn trước. Cái lý sự cùn «không can thiệp vào nội bộ nước khác» đã bị bẻ gãy vụn từ lâu rồi. Người với người, nước này với nước khác bị ràng buộc chặt chẽ cả về luật pháp và đạo lý. Đã có cả một lập luận văn minh về «quyền can thiệp», «về bổn phận can thiệp», «về nghĩa vụ can thiệp». Đã có nhiều đạo luật văn minh nghiêm trị những công dân thấy đồng bào, đồng loại lâm nguy mà bỏ qua không ứng cứu. Làm ngơ khi đó là phạm tội, tội nặng.
Rất cần giới thiệu kỹ cho 14 người trong Bộ Chính trị của đảng CS Việt Nam về sự hình thành của Nghị quyết 1973 trên đây, cũng nên cho họ tập huấn sâu sắc về «quyền can thiệp», về «nghĩa vụ can thiệp». Và cũng nên mời người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Hà Nội tham dự.VOA
Ðặt cuộc sống đồng loại ở tầm cao nhất_VOA
Bùi Tín

Nghị quyết số 1973 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc chiều ngày 17-3-2011 là một nghị quyết lịch sử. Có thể nói trong lịch sử 69 năm của LHQ (1942 – 2011), Nghị quyết 1973 là một trong những nghị quyết có ý nghĩa chính trị và tư tưởng quan trọng nhất, cao quý nhất về tôn trọng quyền sống của đồng loại trên trái đất, về bảo vệ quyền tự do của một dân tộc đang bị nguy cơ tàn sát bởi một chính quyền cực kỳ hung bạo đang lên cơn điên.
Cái cao quý của Nghị quyết 1973 là nội dung của nó nhắm cấp cứu nhân dân một nước quyết nổi dậy chống ách độc tài cá nhân của Moammar Gadhafi, tên điên khùng ở Địa Trung Hải, và đang bị đàn áp điên cuồng, đang kêu cứu thế giới can thiệp gấp để tránh khỏi bị diệt chủng.
Cả 15 nước trong Hội đồng Bảo an, cả 192 nước thành viên của LHQ đều không có một lợi ích riêng tư nào khi bàn bạc về Nghị quyết này. Do đó động cơ để ra nghị quyết về tình hình Libya hoàn toàn là trong sáng, vô tư; đó là tình Người, là lòng Nhân ái giữa cộng đồng nhân loại, là thương Người như thể thương thân, người chung Quả đất hãy thương nhau cùng. Mục tiêu của Nghị quyết là bảo vệ cuộc sống vô giá của người dân tay không.
Một Nghị quyết vô tư, trong sáng, đẹp đẽ, cao thượng như thế là rất hiếm, cho nên rất đáng quý. Nghị quyết này sẽ có ý nghĩa dài lâu, vượt qua không gian và thời gian, làm nức lòng mọi người dân lương thiện trên trái đất, củng cố niềm tin cho mọi dân tộc chưa có tự do và quyền công dân thật sự, đang khao khát quyền sống dân chủ, tự do giữa thế giới văn minh hiện tại. Đây là một mũi đột phá có ý nghĩa lịch sử, mang lại tiếng thơm và vinh dự cho Hội đồng Bảo an và cho cả LHQ trong sứ mạng cao quý bảo vệ hòa bình và an ninh của toàn nhân loại.
Cần chỉ rõ vinh quang trước hết thuộc về 10 nước đã bỏ phiếu thuận cho bản dự thảo đã được Pháp và Anh khởi thảo, được Ngoại trưởng Alain Juppé Pháp đọc ttrước Hội đồng Bảo an. Đó là các nước: Pháp, Anh, Brazil, Colombia, Gabon, Bosnia Herzegovina, Lebanon, ibania, Nigeria, Bồ Đào Nha và Nam Phi.
Theo tin các nhà báo Pháp theo dõi chặt chẽ cuộc bỏ phiếu lịch sử, đến phút chót, Nigeria và Nam Phi định không tham gia bỏ phiếu, đại biểu Pháp và Lebanon đã ra sức thuyết phục có kết quả, do đó mà đạt vừa đủ 10 phiếu thuận. Thật đáng mừng.
Cũng nhờ đại biểu Lebanon đã thay mặt khối nước A-rập ra sức thuyết phục các đại biểu Nga và Trung Quốc để 2 nước này chỉ không tham gia bỏ phiếu mà không dùng quyền phủ quyết của nước thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an, do đó mà cuộc bỏ phiếu tránh khỏi thất bại.
Thái độ của Đức cũng đáng ghi nhận. Bà Merkel tuy giữ lập trường không can thiệp, không bỏ phiếu, nhưng ngày 19-3 bà vẫn sang Paris để tỏ tình đoàn kết với các nước châu Âu, A-rập và châu Phi; bà cho biết Đức sẽ gửi ngay một số máy bay quan sát AWACS hiếm hoi sang Afghanistan, để các nước bạn có thể điều các máy bay AWACS ở đó sang hoạt động ở bầu trời Libya và quanh đó.
Ngay chiều 19-3, máy bay quân đội Pháp đã đánh trúng 4 xe tăng Libya đầu tiên từng bắn vào dân thường. Các máy bay Anh, Canada đang hành động tiếp. Quân đánh thuê của Libya đang hoang mang, có dấu hiệu tan rã từng mảng.
Nghị quyết 1973 ngày 17-3-2011 của Hội đồng Bảo an LHQ sẽ cổ vũ các dân tộc Bắc Phi và Trung Đông vùng dậy giành dân chủ và tự do theo đường lối hòa bình không bạo lực. Nhân dân Algerie đang rục rịch. Nhân dân Bahrain đã xuống đường đông đảo. Nhân dân Yemen đang xuống đường quyết liệt đòi tự do và công ăn việc làm. Nhà Vua Maroc đã cam kết dân chủ hóa vương quốc với một bản hiến pháp mới. Nhân dân các nước trên đây tin rằng thế giới đã chi viện, tiếp sức cho nhân dân Libya thì cũng sẽ ủng hộ chi viện các dân tộc khác.
Ở Việt Nam, các báo nhà nước được lệnh không đưa tin sâu đậm, không bình luận gì về Nghị quyết 1973 của Hội đồng Bảo an. Nhưng dấu diếm hay úp mở chỉ khêu gợi tò mò của bạn đọc, và không thiếu nguồn thông tin và bình luận phong phú trên mạng lưới thông tin dày đặc.
Sau Nghị quyết 1973, có thể thấy trên trái đất, quan hệ người với người đã đổi khác. Gần gụi, thân quen, tinh thần cứu giúp nhau trong hoạn nạn nồng ấm hơn trước. Cái lý sự cùn «không can thiệp vào nội bộ nước khác» đã bị bẻ gãy vụn từ lâu rồi. Người với người, nước này với nước khác bị ràng buộc chặt chẽ cả về luật pháp và đạo lý. Đã có cả một lập luận văn minh về «quyền can thiệp», «về bổn phận can thiệp», «về nghĩa vụ can thiệp». Đã có nhiều đạo luật văn minh nghiêm trị những công dân thấy đồng bào, đồng loại lâm nguy mà bỏ qua không ứng cứu. Làm ngơ khi đó là phạm tội, tội nặng.
Rất cần giới thiệu kỹ cho 14 người trong Bộ Chính trị của đảng CS Việt Nam về sự hình thành của Nghị quyết 1973 trên đây, cũng nên cho họ tập huấn sâu sắc về «quyền can thiệp», về «nghĩa vụ can thiệp». Và cũng nên mời người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Hà Nội tham dự.VOA
VNCH, biết mới tiếc....
Đào Nương Sau 36 năm Miền Nam rơi vào tay cộng sản, ngày nay không chỉ những người sinh sống tại Miền Nam Việt Nam trước đây, không công nhận lá cờ đỏ sao vàng của đảng cộng sản Việt Nam mà ngay cả những người trong nước cũng không tôn trọng lá cờ này mặc dù đó là lá cờ đang tung bay khắp lãnh thổ Việt Nam ngày nay. Người Việt hải ngoại tôn trọng lá cờ vàng ba sọc đỏ, không chỉ thuần túy vì đó là lá cờ của Việt Nam Cộng Hoa, của chính phủ Miền Nam Việt Nam mà vì đó là một biểu tượng cho một quốc gia mà đáng lẽ dân tộc Việt Nam phải có, một chính phủ tự do dân chủ, một nền kinh tế thịnh vượng, một xã hội công bằng bác ái mà lá cờ đỏ và cái chính phủ Việt gian cộng sản ngày nay tại Hà Nội sau 36 năm làm chủ đất nước đã chứng minh những điều ngược lại.
Dĩ nhiên, lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ mà những người sinh sống tại Miền Bắc không quen mắt, không chấp nhận dù họ có thù ghét chế độc cộng sản mà họ đang sinh sống đến tận xương tủy. Người ta không thể chấp nhận một biểu tượng mà người ta không biết, không hiểu, không có những kỷ niệm đẹp, không hy sinh xương máu để bảo vệ nó. Nhất là khi chỉ một sớm, một chiều, những người Việt Nam không chấp nhận Cộng Sản đã mang theo lá cờ vàng trên đường lưu vong, dù phải trải qua những nơi địa ngục trần gian là những nhà tù của cộng sản, và đã phải để lại sau lưng quê hương yêu dấu, mảnh vườn nhỏ, mái nhà ấm cúng, con sông hiền hoà, sau khi đã được chứng kiến chủ nghĩa xã hội cộng sản tiêu biểu cho văn hoá, đạo đức, luân lý Việt Nam phân hoá dần dần trước mắt. Việt Nam Cộng Hoà mặc dù là một xã hội chưa hoàn bị nhưng đã hình thành được mọi cơ cấu của một xã hội văn minh, công bình và dân chủ. Người Việt sống tại Miền Bắc đói khổ, đã phải hy sinh mọi thứ cho nhu cầu chiến tranh theo sự tuyên truyền của cộng sản nên có thể nói hầu hết đều không biết gì về Việt Nam Cộng Hoà.
Việt Nam Cộng Hòa không phải là Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ.... mà là xã hội Miền Nam Việt Nam xây dựng trên căn bản giáo dục. Đó là những cô bé, cậu bé đến trường mỗi buổi sáng, mặc đồng phục với nét mặt tinh anh trong sáng của tuổi thơ. Đó là những cô nữ sinh áo trắng dễ thương và ngoan ngoãn, thuần hậu trong gia đình. Đó là những thầy, cô giáo sống và hãnh diện với thiên chức của một bậc thầy và được mọi người trong xã hội kính trọng. Trước 1975 Việt Nam Cộng Hoà đã đào tạo nhiều chuyên viên với tiêu chuẩn quốc tế, văn bằng của VNCH được chính phủ Hoa Kỳ, Pháp và nhiều quốc gia khác công nhận tương đương hoặc gần tương đương. Nghề thầy do đó không phải là một thứ... “chuột chạy cùng đường mới vào sư phạm” như ngày nay. Nhưng trong ký ức của tuổi trẻ miền Nam Việt Nam thì Việt Nam Cộng Hoà là những con đường ngợp bóng lá me, các nam sinh đi theo nữ sinh mỗi khi tan học nhưng không dám có một cử chỉ sàm sỡ, một lời nói vô lễ. Phải nhắc đến điều này vì những kỷ niệm đẹp của thời thiếu niên thường ghi sâu trong ký ức người ta suốt đời:
Lời ru nào níu được
Lúc những cánh me xanh
Bay mềm con lộ nhớ
Em sau khung cửa đạn soi
Sách ngăn tầm mắt đời ngoài lộ cao
Khi không lòng bỗng dạt dào
Sông tôi cạn nước nguồn nào bỗng đi
(Bài cho người trong vườn dược thảo, thơ Du Tử Lê)
Cuộc chiến càng thảm khốc thì lại có biết bao thanh niên theo tiếng gọi của núi sông lên đường nhập ngũ để bảo vệ một hậu phương bình yên trong đó có cha, có mẹ, có anh, có em, có cái gia đình nhỏ bé của mình. Đó là lý tưởng. Đó là những chàng trai anh hùng của thế hệ. Hàng trăm ngàn bài hát, bài thơ đã được viết ra trong giai đoạn này và cho đến nay vẫn còn là nguồn cảm hứng bất tận cho toàn nước Việt Nam thống nhất. Nó chính là “nhạc vàng” của văn hoá Việt:
Anh rót cho khéo nhé
Kẻo trúng nhằm nhà tôi
Nhà tôi ở cuối thôn Đoài
Có giàn thiên lý có người tôi thương. (thơ Yên Thao)
Hay
Năm năm rồi đi biệt
Đường xưa chưa lối về
Thương người em năm cũ
Thương goá phụ bên song (thơ Phạm Văn Bình)
Hình ảnh của những tân sinh viên sĩ quan trong quân phục đại lễ ngày tốt nghiệp ở Đà Lạt, ở Nha Trang, ở Thủ Đức là những hình anh tinh anh của dân tộc Việt, không phải là hình ảnh của “nợ máu với nhân dân” sau ngày 1975 đâu. Họ đã chọn binh nghiệp để bảo vệ từng tấc đất của quê hương đang bị dày xéo vì bom đạn gây ra bởi bọn lãnh tụ cộng sản vô thần. Bây giờ sau 36 năm nhìn lại, nhìn thế hệ thanh niên tan rã mệt mỏi, tương lai không lối thoát của Việt Nam thời cộng sản mà thương cho họ không biết là bao nhiêu. Thương tuổi thơ của những người không lý tưởng, chỉ nắm“cái đuôi của đảng cộng sản Việt Nam” mà nhìn ra thế giới bên ngoài và trở thành một thế hệ “vô cảm” đến rợn người. Đời sống chỉ còn là sự tranh đua để đạt được điạ vị trong đảng vì quyền đi với tiền. Bằng được mua bằng tiền chứ không cần học để có kiến thức. Trong một quốc gia nghèo đói vào hàng nhất thế giới nhưng có hàng nửa triệu “tiến sĩ ma” làm trò cười cho thế giới.
Xã hội Việt Nam Cộng Hoà trước 1975 không phải là hoàn toàn trong sạch, không có bóng dáng của tham nhũng nhưng tham nhũng không phải là một chính sách để cai trị nước như đảng cộng sản Việt Nam ngày nay. Người dân Miền Nam sống hiền hoà trong tôn ti trật tự, trong đời sống hàng ngày, họ không phải đối đầu với cảnh sát, công an. Không phải bất cứ khi nào có việc liên hệ với chính quyền thì phải trả tiền cho công an từ xã, huyện, tỉnh đến trung ương. Khi vào bệnh viện, không có việc đút lót tiền thì mới có được giường nằm. Trẻ con học giỏi thì được xếp hạng cao, được cho đi du học dù là con nhà nghèo. Sĩ quan đánh trận oai hùng, gan dạ thì được thăng thưởng. Nhà cháy thì được cứu hỏa chữa cháy chứ không phải trả tiền mới được chữa cháy.
Về chính trị, Việt Nam Cộng Hoà là một nước dân chủ tự do thực sự mặc dù cũng có những khuyết điểm. Trước 1975 tại Miền Nam Việt Nam, chính phủ công nhận đối lập, cho biểu tình chống đối tự do nên từ những năm 1965 đã có nhiều cuộc biểu tình chống Mỹ, chống Thiệu Kỳ, chống tham nhũng thoải mái của sinh viên học sinh, của nhân dân. Có những ông giáo sư đại học nhận mình là thành phần thứ ba, theo chủ thuyết xã hội chứ không phải là chủ thuyết Mác Lê công khai ra báo, viết sách, viết luận án đại học lên án chính phủ, lên án chiến tranh, nhưng lại ve vãn cộng sản vì lý luận ấu trĩ rằng chính phủ Miền Nam bị Mỹ giựt dây, muốn chấm dứt chiến tranh thì phải nói chuyện với Hà Nội. Kinh tế thương mại tự do không bị chính phủ kiềm chế, về an ninh xã hội người dân được luật pháp bảo vệ, cảnh sát công an ức hiếp nhân dân bị truy tố ra trước pháp luật ngay.
Xã hội Miền Nam tự do tạo môi trường để tinh anh phát tiết trên mọi phương diện. Ngày nay, sau 36 năm nhìn lại, đảng cộng sản Việt Nam vẫn không biết rằng khi giam hãm, đầy đọa hàng triệu người sống ở Miền Nam có liên hệ với chính quyền đem nhốt vào ngục tù, họ đã hủy diệt đi hầu hết những nhân tài về mọi mặt của đất nước, những trí thức khoa bảng mà có thể vài trăm năm sau, Việt Nam chưa thể có lại. Miền Nam Việt Nam không chỉ “sản xuất”có hai “thiên tài” là Trịnh Công Sơn và Bùi Giáng đâu. Nhưng Việt cộng chỉ “chấp nhận’ có hai người này vì một anh thì trốn lính, sống hèn mọn trong sự che chở bao dung của chính phủ Miền Nam tôn trọng nghệ sĩ, còn người kia thì mang bệnh tâm thần. Cứ đếm lại số sách đã được xuất bản tại Miền Nam trong 20 năm từ 1954 đến 1975, từ khoa học đến chính trị, từ truyện ngắn, truyện dài, thơ văn đến âm nhạc rồi so sánh với 60 năm cộng sản CAI TRỊ Việt Nam thì sẽ hiểu.
Do đó, so với xã hội Việt Nam dưới thời Việt gian cộng sản thì xã hội Việt Nam Cộng Hoà là thiên đường, là con đường mà Việt Nam cần nhiều thập niên mới “back to the future” được. Những người Việt Nam sống tại Miền Nam trước 1975, biết rõ điều này. Lá cờ vàng và danh hiệu Việt Nam Cộng Hoà vì sao vẫn được họ sùng kính dù Việt Nam Cộng Hoà đã mất đi phần đất cuối cùng đã 36 năm.
Vì không được sống, không được trưởng thành, không được hoạt động chính trị, văn hoá hay sống đời quân ngũ của xã hội Miền Nam nên không có gì ngạc nhiên khi những người trí thức Cộng Sản thù ghét bọn cầm quyền cộng sản vì đã hất cẳng họ, đã đẩy họ ra khỏi nước, rồi vì hậm hực nên suốt ngày ngồi viết những điều phản đối bọn cầm quyền cộng sản nhưng vẫn vinh danh bác Hồ và “kẻ cả” xem cộng đồng Người Việt hải ngoại là những kẻ bại trận, lá cờ vàng là vô nghĩa nên không muốn đoàn kết để lật đổ chế độ độc tài cộng sản mà họ là một thành phần cốt cán trước đây. Sống nơi xứ sở tự do này, chúng ta nên tôn trọng họ. Thái độ không muốn đứng chung trong hàng ngũ với Người Việt quốc gia cũng là một điều dễ hiểu: bối cảnh lịch sử do đảng cộng sản Việt Nam từ 60 năm qua đã chia dân tộc và đất nước Việt Nam ra thành nhiều khối: trí thức, công nhân, cộng sản, quốc gia, vv...vv... Điều khó hiểu là những người cán bộ đảng trung kiên bị thất sủng như ông Nguyễn Minh Cần, ông Bùi Tín, ông Vũ Thư Hiên thường viết bài dạy Người Việt quốc gia, những công dân của Việt Nam Cộng Hoà chống cộng trong khi họ nhìn thấy trước mắt, cái đảng tạo ra họ, cho họ một vị thế, một tên tuổi, chính cái đảng đó đang làm tan rã đất nước và con người Việt Nam. Cái đảng bất nhân đó đang chia 85 triệu Người Việt ra làm hai khối: đại đa số quần chúng bình dân, không có phương tiện về an sinh xã hội, không có giáo dục, sống đời nô lệ phục vụ cho một thiểu số cán bộ tham ô mà ngôn ngữ Việt cộng gọi là “quan tham”. Cái đảng bất nhân đó đang đưa đất nước đến cái họa diệt vong trong tay Tàu Cộng.
Sau 1975, Người Việt Quốc Gia, những công dân của Việt Nam Cộng Hoà vì thất thế nên chúng gọi là “ngụy”, đày ải quân dân cán chính trong rừng già để chết dần chết mòn, gia đình ly tán, con cái thất học, nên bằng mọi cách Người Việt Quốc Gia phải ra đi và bằng ý chí cương cường quật khởi cuả dân tộc Việt Nam, khối Người Việt Tự Do, những công dân cuả Việt Nam Cộng Hoà đã chọn thế giới làm lãnh thổ, phát triển tài lực và trí tuệ, ngăn chận được sự tuyên truyền và bành trướng của bọn Việt gian cộng sản khắp nơi. Có mà nằm mơ, người ta cũng không thể nghĩ rằng những công dân Việt Nam Cộng Hòa trong điều kiện sinh sống dù lưu vong, dù trong lao tù cộng sản đã giữ vững được ý chí chống cộâng đến thế. Thế hệ thứ hai của cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản, của những công dân của Việt Nam Cộng Hòa vẫn giữ được nguyên vẹn đạo đức và luân lý của Việt Nam. Trong mọi gia đình, những đứa trẻ không nói rành tiếng Việt hay nói tiếng Việt với giọng ngọng nghịu của người bản xứ nhưng đều là những đưá trẻ ngoan ngoãn vì chúng biết rằng cha mẹ chúng phải lưu vong, phải hy sinh nhiều để chúng được lớn lên ở một đất nước tự do, có cơ hội để phát triển trí tuệ, những điều chúng sẽ không có được nếu sống dưới một chế độ cộng sản, như Việt Nam cộng sản ngày nay, như Cuba, như Bắc Hàn, hay ngay cả Trung cộng...
Nhưng những người như ông Nguyễn Minh Cần, ông Bùi Tín đâu phải là ngụy. Các ông này là những “trí thức cộng sản” lớn lên trong lòng chế độ. Đáng lẽ các ông đừng hèn, hãy ở lại Việt Nam, hãy kêu gọi nổi dậy, hãy dẫn dắt toàn dân chống lại cái đảng cướp đã tạo ra các ông, hãy cho toàn dân biết ‘chúng” đã đi sai... đường cách mạng. “Con đường Bác đi” cuả các ông không lẽ lại là con đường... bi đát, đưa hàng trăm ngàn gái Việt ra hải ngoại lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan, làm mãi dâm mới có cơm ăn? “Con đường Bác đi” không lẽ lại là con đường dâng nước Việt cho Tàu? Các ông hãy can đãm đứng dưới ngọn cờ do các ông lựa chọn miễn là các ông bảo vệ được dân, được đất nước khỏi rơi vào tay giặc là được. Hãy hành động như các chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã làm trước khi bị tước súng vì một thế cờ chính trị thế giới: họ đã đứng lên, đã anh dũng hy sinh, đã chống lại áp bức của chính quyền để bảo vệ dân, bảo vệ từng tấc đất Miền Nam để rồi đảng các ông đã lừa gạt dân Miền Bắc, đưa họ vào Nam, đem sinh mạng làm bia đỡ đạn để “giải phóng” một Miền Nam trù phú, một xã hội tôn ti trật tự, đạo đức văn hoá, luân lý cần được bảo tồn.
Mới đây có một bài viết của một người thuộïc thế hệ trẻ có tựa đề “Hãy để cho ViệtNam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên” do diễn đàn danchimviẹt.comphổ biến với lời toà soạn như sau:
(Trích) LTS: Trong công cuộc đấu tranh dân chủ hóa VN hôm nay, tìm hiểu tư duy của lớp người trẻ không tham dự vào cuộc chiến quốc-cộng trước kia - mà sẽ là chủ lực cách mạng nay mai - là một điều cần thiết. ĐCV chọn đăng bài viết của tác giả Tiên Sa trên mạng xã hội facebook cũng nằm trong tinh thần đó. Mời bạn đọc cùng suy tư và chia sẻ. (hết trích)
Nội dung bài viết của người bạn trẻ này cũng như nội dung bài viết của ông cán bộ già thất sủng Nguyễn Minh Cần giống nhau ở chỗ: cuộc cách mạng lật đổ bạo quyền cộng sản chưa xảy ra nhưng họ đã sợ lá cờ vàng và chế độ Việt Nam cộng hoà được tái lập ở Việt Nam... sau 36 năm bỏ chạy. Đào Nương tôi không tin đây là bài viết của một người viết trẻ ở hải ngoại. Thật ra, tháng 4, 1975, Người Việt Miền Nam đã quá mệt mỏi với một cuộc chiến không lối thoát giữa hai ý thức hệ tự do và cộng sản. Cái thành trì bảo vệ thế giới tự do đã không còn đứng vững sau khi tổng thống Hoa Kỳ Nixon qua gặp Mao Trạch Đông va øChu Ân Lai. Giữa một bên chiến đấu với viện trợ có điều kiện và một bên được viện trợ vô điều kiện của khối cộng sản, sự chiến thắng khó lòng ở về phía VNCH. Khi buông súng năm 1975, Người Việt Miền Nam đã muốn “Hãy để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên”để hai miền cùng nhau xây nước và dựng nước chứ. Nhưng việc gì đã xãy ra sau đó, chắc Ban Biên Tập của Đàn Chim Việt, nơi phát tán những bài viết của ông Nguyễn Minh Cần và “người bạn trẻ” Tiên Sa chắc đã biết rõ hơn ai hết: hàng triệu quân dân cán chính Miền Nam bị đầy vào lò “cải tạo”, gia đình họ bị đẩy đi vùng kinh tế mới, cướp nhà, cướp cuả, con cái họ không được đến trường. Cho đến ngày nay, những người sinh sống tại Miền Nam vẫn còn là những công dân hạng hai trên đất nước mình. Vì nghĩ rằng “Hãy để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên”nên hàng triệu người Miền Nam đã buông súng, xếp hàng đi tù cải tạo vì nghĩ rằng một giai đoạn chiến tranh tương tàn đã đi qua, đi trình diện một tháng rồi về sống đời công dân của một quốc gia độc lập và thống nhất. Chuyện gì đã xãy ra cho họ, cho những người sinh sống tại Miền Nam sau 1975?
Không lẽ ngày nay, trong công cuộc cứu nước, khi không còn ở vị thế cầm quyền thì những công dân của Việt Nam Cộng Hoà không thể là một tiếng nói đối lập với cái chính quyền vô nhân đang cai trị đất nước Việt Nam hay sao? Chúng ta sẽ đấu tranh để những người dân của đất nước Việt Nam dân chủ và tự do có quyền lựa chọn cho họ một đảng phái cầm quyền, họ sẽ biểu quyết về một lá cờ tượng trưng cho đất nước. Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay có 3 triệu đảng viên hầu hết là bọn thất học, tham ô. Cứ nhìn vào xã hội Việt Nam ngày nay thì thấy rõ. Cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản ở nước ngoài có 3 triệu người nhưng đồng thời họ cũng là công dân của những quốc gia tự do và dân chủ. Việc họ phải sống lưu vong ở hải ngoại không phải là một việc trốn chạy hèn nhát mà là hậu quả tất nhiên cuả một cuộc chiến tương tàn có kẻ thua, người thắng. Khi họ tập hợp để nói lên tiếng nói của Người Việt không chấp nhận chế độ cộng sản, một tiếng nói đối lập là một việc làm cần thiết khi Người Việt không thể làm được điều này ở quê hương. Tiếng nói đối lập này và lá cờ vàng trong giai đoạn này chắc hẳn là cần thiết cho công cuộc đấu tranh hơn là tiếng nói “lèm bèm” của những ông đảng viên thất sủng “chạy trốn” ra nước ngoài chứ?
Hy vọng bài viết này sẽ giải thích được phần nào tại sao Người Việt không cộng sản không thể “Để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên”được. Vì đó là tương lai của đất nước Việt Nam. Đừng bàn cãi trên những trang giấy hay trên những trang mạng điện tử. Thực tế chứng minh cho hành động. Trong 60 năm, đảng cộng sản Việt Nam đã tàn phá đất nước và con người Việt Nam đến tận cùng đáy vực, khi các ông “trí thức cộng sản” đủ hết hèn để la làng (nhưng cũng phải núp đàng sau cái xác còn thở của “đại tướng”) về cái hoạ mất nước mà cũng chỉ như tiếng rên trong lăng Ba Đình cuả cái xác thối rữa chưa chôn thì chúng ta có cần bàn cãi thêm về cờ vàng hay cờ đỏ không? Ngược lại, chỉ trong 36 năm, cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản đã “bành trướng” điạ bàn hoạt động khắp năm châu, những khu phố Việt Nam sầm uất, vững mạnh hơn các ChinaTown của người Tàu, mỗi năm cộng đồng Người Việt gửi về nuôi thân nhân hàng chục tỹ đô la. “Chạy trốn, thua trận” mà làm nên ... nghiệp lớn như vậy trong khi bọn cộng sản Việt Nam thì co cụm lại trong các toà sứ quán, ra đường thì mắt la, mày lét sợ người dân bắt gặp. Lãnh tụ ngoại giao như tên Nguyễn Xuân Việt ở Jordanie thì hành xử như bọn đầu gấu, du đãng khiến thế giới phải bàng hoàng và người nữ công nhân 20 tuổi bị xúc phạm đã được Hoa Kỳ cho nhập cảnh vì lý do chính trị thì đủ hiểu.
Dĩ nhiên, ở đâu, xã hội nào thì cũng gồm đủ con gà, con công, con phụng... đừng nhìn vào đàn gà của cộng đồng Việt Nam hải ngoại rồi kết luận tất cả chỉ là một đàn gà mà lầm to. Nhưng có một điều có thể coi như là chân lý “không thay đổi” dù bên này hay bên kia bờ Thái Bình Dương: đảng viên cộng sản thì anh nào cũng hèn, cứ phải dựa vào nhau để sống còn, để được làm “quan tham” bóc lột dân lành. Chúng đoàn kết theo đúng tôn chỉ “tranh đấu đến cùng với kẻ thù, chỉ hoà giãi với nội bộ”. Trong khi nếu vì tương lai dân tộc thì phải tìm cách liên kết mọi người với nhau chứ. Ra đến hải ngoại vẫn còn sợ lá cờ vàng nhưng tiền bạc của cờ vàng thì đưa lên mặt mà hít hà. Khinh bọn “thất trận, giặc ngụy” bỏ chạy, nhưng lại sợ chúng nó trở thành một thế chính trị đối lập trở về nhưng vẫn ra chính sách ve vãn Việt kiều. Chơi với cái đầu “ngụy” thì không dám chơi chỉ muốn chơi với các “khúc ruột thừa” của họ?
Việt Nam Cộng Hoà phải sống mãi trong lòng người Việt không cộng sản là vì thế! Vì không muốn nhận sự nhục nhã là công dân của một nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, muốn bảo vệ ngư dân cũng phải xin phép “thằng” Tàu cộng!
Chúng ta hãy hành động. Tự cứu mình và cứu những người khác nữa. Vì tương lai, xin tất cả hãy tìm cách liên kết với nhau trong tình dân tộc.
Đào Nương
Đào Nương Sau 36 năm Miền Nam rơi vào tay cộng sản, ngày nay không chỉ những người sinh sống tại Miền Nam Việt Nam trước đây, không công nhận lá cờ đỏ sao vàng của đảng cộng sản Việt Nam mà ngay cả những người trong nước cũng không tôn trọng lá cờ này mặc dù đó là lá cờ đang tung bay khắp lãnh thổ Việt Nam ngày nay. Người Việt hải ngoại tôn trọng lá cờ vàng ba sọc đỏ, không chỉ thuần túy vì đó là lá cờ của Việt Nam Cộng Hoa, của chính phủ Miền Nam Việt Nam mà vì đó là một biểu tượng cho một quốc gia mà đáng lẽ dân tộc Việt Nam phải có, một chính phủ tự do dân chủ, một nền kinh tế thịnh vượng, một xã hội công bằng bác ái mà lá cờ đỏ và cái chính phủ Việt gian cộng sản ngày nay tại Hà Nội sau 36 năm làm chủ đất nước đã chứng minh những điều ngược lại.
Dĩ nhiên, lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ mà những người sinh sống tại Miền Bắc không quen mắt, không chấp nhận dù họ có thù ghét chế độc cộng sản mà họ đang sinh sống đến tận xương tủy. Người ta không thể chấp nhận một biểu tượng mà người ta không biết, không hiểu, không có những kỷ niệm đẹp, không hy sinh xương máu để bảo vệ nó. Nhất là khi chỉ một sớm, một chiều, những người Việt Nam không chấp nhận Cộng Sản đã mang theo lá cờ vàng trên đường lưu vong, dù phải trải qua những nơi địa ngục trần gian là những nhà tù của cộng sản, và đã phải để lại sau lưng quê hương yêu dấu, mảnh vườn nhỏ, mái nhà ấm cúng, con sông hiền hoà, sau khi đã được chứng kiến chủ nghĩa xã hội cộng sản tiêu biểu cho văn hoá, đạo đức, luân lý Việt Nam phân hoá dần dần trước mắt. Việt Nam Cộng Hoà mặc dù là một xã hội chưa hoàn bị nhưng đã hình thành được mọi cơ cấu của một xã hội văn minh, công bình và dân chủ. Người Việt sống tại Miền Bắc đói khổ, đã phải hy sinh mọi thứ cho nhu cầu chiến tranh theo sự tuyên truyền của cộng sản nên có thể nói hầu hết đều không biết gì về Việt Nam Cộng Hoà.
Việt Nam Cộng Hòa không phải là Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ.... mà là xã hội Miền Nam Việt Nam xây dựng trên căn bản giáo dục. Đó là những cô bé, cậu bé đến trường mỗi buổi sáng, mặc đồng phục với nét mặt tinh anh trong sáng của tuổi thơ. Đó là những cô nữ sinh áo trắng dễ thương và ngoan ngoãn, thuần hậu trong gia đình. Đó là những thầy, cô giáo sống và hãnh diện với thiên chức của một bậc thầy và được mọi người trong xã hội kính trọng. Trước 1975 Việt Nam Cộng Hoà đã đào tạo nhiều chuyên viên với tiêu chuẩn quốc tế, văn bằng của VNCH được chính phủ Hoa Kỳ, Pháp và nhiều quốc gia khác công nhận tương đương hoặc gần tương đương. Nghề thầy do đó không phải là một thứ... “chuột chạy cùng đường mới vào sư phạm” như ngày nay. Nhưng trong ký ức của tuổi trẻ miền Nam Việt Nam thì Việt Nam Cộng Hoà là những con đường ngợp bóng lá me, các nam sinh đi theo nữ sinh mỗi khi tan học nhưng không dám có một cử chỉ sàm sỡ, một lời nói vô lễ. Phải nhắc đến điều này vì những kỷ niệm đẹp của thời thiếu niên thường ghi sâu trong ký ức người ta suốt đời:
Lời ru nào níu được
Lúc những cánh me xanh
Bay mềm con lộ nhớ
Em sau khung cửa đạn soi
Sách ngăn tầm mắt đời ngoài lộ cao
Khi không lòng bỗng dạt dào
Sông tôi cạn nước nguồn nào bỗng đi
(Bài cho người trong vườn dược thảo, thơ Du Tử Lê)
Cuộc chiến càng thảm khốc thì lại có biết bao thanh niên theo tiếng gọi của núi sông lên đường nhập ngũ để bảo vệ một hậu phương bình yên trong đó có cha, có mẹ, có anh, có em, có cái gia đình nhỏ bé của mình. Đó là lý tưởng. Đó là những chàng trai anh hùng của thế hệ. Hàng trăm ngàn bài hát, bài thơ đã được viết ra trong giai đoạn này và cho đến nay vẫn còn là nguồn cảm hứng bất tận cho toàn nước Việt Nam thống nhất. Nó chính là “nhạc vàng” của văn hoá Việt:
Anh rót cho khéo nhé
Kẻo trúng nhằm nhà tôi
Nhà tôi ở cuối thôn Đoài
Có giàn thiên lý có người tôi thương. (thơ Yên Thao)
Hay
Năm năm rồi đi biệt
Đường xưa chưa lối về
Thương người em năm cũ
Thương goá phụ bên song (thơ Phạm Văn Bình)
Hình ảnh của những tân sinh viên sĩ quan trong quân phục đại lễ ngày tốt nghiệp ở Đà Lạt, ở Nha Trang, ở Thủ Đức là những hình anh tinh anh của dân tộc Việt, không phải là hình ảnh của “nợ máu với nhân dân” sau ngày 1975 đâu. Họ đã chọn binh nghiệp để bảo vệ từng tấc đất của quê hương đang bị dày xéo vì bom đạn gây ra bởi bọn lãnh tụ cộng sản vô thần. Bây giờ sau 36 năm nhìn lại, nhìn thế hệ thanh niên tan rã mệt mỏi, tương lai không lối thoát của Việt Nam thời cộng sản mà thương cho họ không biết là bao nhiêu. Thương tuổi thơ của những người không lý tưởng, chỉ nắm“cái đuôi của đảng cộng sản Việt Nam” mà nhìn ra thế giới bên ngoài và trở thành một thế hệ “vô cảm” đến rợn người. Đời sống chỉ còn là sự tranh đua để đạt được điạ vị trong đảng vì quyền đi với tiền. Bằng được mua bằng tiền chứ không cần học để có kiến thức. Trong một quốc gia nghèo đói vào hàng nhất thế giới nhưng có hàng nửa triệu “tiến sĩ ma” làm trò cười cho thế giới.
Xã hội Việt Nam Cộng Hoà trước 1975 không phải là hoàn toàn trong sạch, không có bóng dáng của tham nhũng nhưng tham nhũng không phải là một chính sách để cai trị nước như đảng cộng sản Việt Nam ngày nay. Người dân Miền Nam sống hiền hoà trong tôn ti trật tự, trong đời sống hàng ngày, họ không phải đối đầu với cảnh sát, công an. Không phải bất cứ khi nào có việc liên hệ với chính quyền thì phải trả tiền cho công an từ xã, huyện, tỉnh đến trung ương. Khi vào bệnh viện, không có việc đút lót tiền thì mới có được giường nằm. Trẻ con học giỏi thì được xếp hạng cao, được cho đi du học dù là con nhà nghèo. Sĩ quan đánh trận oai hùng, gan dạ thì được thăng thưởng. Nhà cháy thì được cứu hỏa chữa cháy chứ không phải trả tiền mới được chữa cháy.
Về chính trị, Việt Nam Cộng Hoà là một nước dân chủ tự do thực sự mặc dù cũng có những khuyết điểm. Trước 1975 tại Miền Nam Việt Nam, chính phủ công nhận đối lập, cho biểu tình chống đối tự do nên từ những năm 1965 đã có nhiều cuộc biểu tình chống Mỹ, chống Thiệu Kỳ, chống tham nhũng thoải mái của sinh viên học sinh, của nhân dân. Có những ông giáo sư đại học nhận mình là thành phần thứ ba, theo chủ thuyết xã hội chứ không phải là chủ thuyết Mác Lê công khai ra báo, viết sách, viết luận án đại học lên án chính phủ, lên án chiến tranh, nhưng lại ve vãn cộng sản vì lý luận ấu trĩ rằng chính phủ Miền Nam bị Mỹ giựt dây, muốn chấm dứt chiến tranh thì phải nói chuyện với Hà Nội. Kinh tế thương mại tự do không bị chính phủ kiềm chế, về an ninh xã hội người dân được luật pháp bảo vệ, cảnh sát công an ức hiếp nhân dân bị truy tố ra trước pháp luật ngay.
Xã hội Miền Nam tự do tạo môi trường để tinh anh phát tiết trên mọi phương diện. Ngày nay, sau 36 năm nhìn lại, đảng cộng sản Việt Nam vẫn không biết rằng khi giam hãm, đầy đọa hàng triệu người sống ở Miền Nam có liên hệ với chính quyền đem nhốt vào ngục tù, họ đã hủy diệt đi hầu hết những nhân tài về mọi mặt của đất nước, những trí thức khoa bảng mà có thể vài trăm năm sau, Việt Nam chưa thể có lại. Miền Nam Việt Nam không chỉ “sản xuất”có hai “thiên tài” là Trịnh Công Sơn và Bùi Giáng đâu. Nhưng Việt cộng chỉ “chấp nhận’ có hai người này vì một anh thì trốn lính, sống hèn mọn trong sự che chở bao dung của chính phủ Miền Nam tôn trọng nghệ sĩ, còn người kia thì mang bệnh tâm thần. Cứ đếm lại số sách đã được xuất bản tại Miền Nam trong 20 năm từ 1954 đến 1975, từ khoa học đến chính trị, từ truyện ngắn, truyện dài, thơ văn đến âm nhạc rồi so sánh với 60 năm cộng sản CAI TRỊ Việt Nam thì sẽ hiểu.
Do đó, so với xã hội Việt Nam dưới thời Việt gian cộng sản thì xã hội Việt Nam Cộng Hoà là thiên đường, là con đường mà Việt Nam cần nhiều thập niên mới “back to the future” được. Những người Việt Nam sống tại Miền Nam trước 1975, biết rõ điều này. Lá cờ vàng và danh hiệu Việt Nam Cộng Hoà vì sao vẫn được họ sùng kính dù Việt Nam Cộng Hoà đã mất đi phần đất cuối cùng đã 36 năm.
Vì không được sống, không được trưởng thành, không được hoạt động chính trị, văn hoá hay sống đời quân ngũ của xã hội Miền Nam nên không có gì ngạc nhiên khi những người trí thức Cộng Sản thù ghét bọn cầm quyền cộng sản vì đã hất cẳng họ, đã đẩy họ ra khỏi nước, rồi vì hậm hực nên suốt ngày ngồi viết những điều phản đối bọn cầm quyền cộng sản nhưng vẫn vinh danh bác Hồ và “kẻ cả” xem cộng đồng Người Việt hải ngoại là những kẻ bại trận, lá cờ vàng là vô nghĩa nên không muốn đoàn kết để lật đổ chế độ độc tài cộng sản mà họ là một thành phần cốt cán trước đây. Sống nơi xứ sở tự do này, chúng ta nên tôn trọng họ. Thái độ không muốn đứng chung trong hàng ngũ với Người Việt quốc gia cũng là một điều dễ hiểu: bối cảnh lịch sử do đảng cộng sản Việt Nam từ 60 năm qua đã chia dân tộc và đất nước Việt Nam ra thành nhiều khối: trí thức, công nhân, cộng sản, quốc gia, vv...vv... Điều khó hiểu là những người cán bộ đảng trung kiên bị thất sủng như ông Nguyễn Minh Cần, ông Bùi Tín, ông Vũ Thư Hiên thường viết bài dạy Người Việt quốc gia, những công dân của Việt Nam Cộng Hoà chống cộng trong khi họ nhìn thấy trước mắt, cái đảng tạo ra họ, cho họ một vị thế, một tên tuổi, chính cái đảng đó đang làm tan rã đất nước và con người Việt Nam. Cái đảng bất nhân đó đang chia 85 triệu Người Việt ra làm hai khối: đại đa số quần chúng bình dân, không có phương tiện về an sinh xã hội, không có giáo dục, sống đời nô lệ phục vụ cho một thiểu số cán bộ tham ô mà ngôn ngữ Việt cộng gọi là “quan tham”. Cái đảng bất nhân đó đang đưa đất nước đến cái họa diệt vong trong tay Tàu Cộng.
Sau 1975, Người Việt Quốc Gia, những công dân của Việt Nam Cộng Hoà vì thất thế nên chúng gọi là “ngụy”, đày ải quân dân cán chính trong rừng già để chết dần chết mòn, gia đình ly tán, con cái thất học, nên bằng mọi cách Người Việt Quốc Gia phải ra đi và bằng ý chí cương cường quật khởi cuả dân tộc Việt Nam, khối Người Việt Tự Do, những công dân cuả Việt Nam Cộng Hoà đã chọn thế giới làm lãnh thổ, phát triển tài lực và trí tuệ, ngăn chận được sự tuyên truyền và bành trướng của bọn Việt gian cộng sản khắp nơi. Có mà nằm mơ, người ta cũng không thể nghĩ rằng những công dân Việt Nam Cộng Hòa trong điều kiện sinh sống dù lưu vong, dù trong lao tù cộng sản đã giữ vững được ý chí chống cộâng đến thế. Thế hệ thứ hai của cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản, của những công dân của Việt Nam Cộng Hòa vẫn giữ được nguyên vẹn đạo đức và luân lý của Việt Nam. Trong mọi gia đình, những đứa trẻ không nói rành tiếng Việt hay nói tiếng Việt với giọng ngọng nghịu của người bản xứ nhưng đều là những đưá trẻ ngoan ngoãn vì chúng biết rằng cha mẹ chúng phải lưu vong, phải hy sinh nhiều để chúng được lớn lên ở một đất nước tự do, có cơ hội để phát triển trí tuệ, những điều chúng sẽ không có được nếu sống dưới một chế độ cộng sản, như Việt Nam cộng sản ngày nay, như Cuba, như Bắc Hàn, hay ngay cả Trung cộng...
Nhưng những người như ông Nguyễn Minh Cần, ông Bùi Tín đâu phải là ngụy. Các ông này là những “trí thức cộng sản” lớn lên trong lòng chế độ. Đáng lẽ các ông đừng hèn, hãy ở lại Việt Nam, hãy kêu gọi nổi dậy, hãy dẫn dắt toàn dân chống lại cái đảng cướp đã tạo ra các ông, hãy cho toàn dân biết ‘chúng” đã đi sai... đường cách mạng. “Con đường Bác đi” cuả các ông không lẽ lại là con đường... bi đát, đưa hàng trăm ngàn gái Việt ra hải ngoại lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan, làm mãi dâm mới có cơm ăn? “Con đường Bác đi” không lẽ lại là con đường dâng nước Việt cho Tàu? Các ông hãy can đãm đứng dưới ngọn cờ do các ông lựa chọn miễn là các ông bảo vệ được dân, được đất nước khỏi rơi vào tay giặc là được. Hãy hành động như các chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã làm trước khi bị tước súng vì một thế cờ chính trị thế giới: họ đã đứng lên, đã anh dũng hy sinh, đã chống lại áp bức của chính quyền để bảo vệ dân, bảo vệ từng tấc đất Miền Nam để rồi đảng các ông đã lừa gạt dân Miền Bắc, đưa họ vào Nam, đem sinh mạng làm bia đỡ đạn để “giải phóng” một Miền Nam trù phú, một xã hội tôn ti trật tự, đạo đức văn hoá, luân lý cần được bảo tồn.
Mới đây có một bài viết của một người thuộïc thế hệ trẻ có tựa đề “Hãy để cho ViệtNam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên” do diễn đàn danchimviẹt.comphổ biến với lời toà soạn như sau:
(Trích) LTS: Trong công cuộc đấu tranh dân chủ hóa VN hôm nay, tìm hiểu tư duy của lớp người trẻ không tham dự vào cuộc chiến quốc-cộng trước kia - mà sẽ là chủ lực cách mạng nay mai - là một điều cần thiết. ĐCV chọn đăng bài viết của tác giả Tiên Sa trên mạng xã hội facebook cũng nằm trong tinh thần đó. Mời bạn đọc cùng suy tư và chia sẻ. (hết trích)
Nội dung bài viết của người bạn trẻ này cũng như nội dung bài viết của ông cán bộ già thất sủng Nguyễn Minh Cần giống nhau ở chỗ: cuộc cách mạng lật đổ bạo quyền cộng sản chưa xảy ra nhưng họ đã sợ lá cờ vàng và chế độ Việt Nam cộng hoà được tái lập ở Việt Nam... sau 36 năm bỏ chạy. Đào Nương tôi không tin đây là bài viết của một người viết trẻ ở hải ngoại. Thật ra, tháng 4, 1975, Người Việt Miền Nam đã quá mệt mỏi với một cuộc chiến không lối thoát giữa hai ý thức hệ tự do và cộng sản. Cái thành trì bảo vệ thế giới tự do đã không còn đứng vững sau khi tổng thống Hoa Kỳ Nixon qua gặp Mao Trạch Đông va øChu Ân Lai. Giữa một bên chiến đấu với viện trợ có điều kiện và một bên được viện trợ vô điều kiện của khối cộng sản, sự chiến thắng khó lòng ở về phía VNCH. Khi buông súng năm 1975, Người Việt Miền Nam đã muốn “Hãy để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên”để hai miền cùng nhau xây nước và dựng nước chứ. Nhưng việc gì đã xãy ra sau đó, chắc Ban Biên Tập của Đàn Chim Việt, nơi phát tán những bài viết của ông Nguyễn Minh Cần và “người bạn trẻ” Tiên Sa chắc đã biết rõ hơn ai hết: hàng triệu quân dân cán chính Miền Nam bị đầy vào lò “cải tạo”, gia đình họ bị đẩy đi vùng kinh tế mới, cướp nhà, cướp cuả, con cái họ không được đến trường. Cho đến ngày nay, những người sinh sống tại Miền Nam vẫn còn là những công dân hạng hai trên đất nước mình. Vì nghĩ rằng “Hãy để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên”nên hàng triệu người Miền Nam đã buông súng, xếp hàng đi tù cải tạo vì nghĩ rằng một giai đoạn chiến tranh tương tàn đã đi qua, đi trình diện một tháng rồi về sống đời công dân của một quốc gia độc lập và thống nhất. Chuyện gì đã xãy ra cho họ, cho những người sinh sống tại Miền Nam sau 1975?
Không lẽ ngày nay, trong công cuộc cứu nước, khi không còn ở vị thế cầm quyền thì những công dân của Việt Nam Cộng Hoà không thể là một tiếng nói đối lập với cái chính quyền vô nhân đang cai trị đất nước Việt Nam hay sao? Chúng ta sẽ đấu tranh để những người dân của đất nước Việt Nam dân chủ và tự do có quyền lựa chọn cho họ một đảng phái cầm quyền, họ sẽ biểu quyết về một lá cờ tượng trưng cho đất nước. Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay có 3 triệu đảng viên hầu hết là bọn thất học, tham ô. Cứ nhìn vào xã hội Việt Nam ngày nay thì thấy rõ. Cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản ở nước ngoài có 3 triệu người nhưng đồng thời họ cũng là công dân của những quốc gia tự do và dân chủ. Việc họ phải sống lưu vong ở hải ngoại không phải là một việc trốn chạy hèn nhát mà là hậu quả tất nhiên cuả một cuộc chiến tương tàn có kẻ thua, người thắng. Khi họ tập hợp để nói lên tiếng nói của Người Việt không chấp nhận chế độ cộng sản, một tiếng nói đối lập là một việc làm cần thiết khi Người Việt không thể làm được điều này ở quê hương. Tiếng nói đối lập này và lá cờ vàng trong giai đoạn này chắc hẳn là cần thiết cho công cuộc đấu tranh hơn là tiếng nói “lèm bèm” của những ông đảng viên thất sủng “chạy trốn” ra nước ngoài chứ?
Hy vọng bài viết này sẽ giải thích được phần nào tại sao Người Việt không cộng sản không thể “Để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên”được. Vì đó là tương lai của đất nước Việt Nam. Đừng bàn cãi trên những trang giấy hay trên những trang mạng điện tử. Thực tế chứng minh cho hành động. Trong 60 năm, đảng cộng sản Việt Nam đã tàn phá đất nước và con người Việt Nam đến tận cùng đáy vực, khi các ông “trí thức cộng sản” đủ hết hèn để la làng (nhưng cũng phải núp đàng sau cái xác còn thở của “đại tướng”) về cái hoạ mất nước mà cũng chỉ như tiếng rên trong lăng Ba Đình cuả cái xác thối rữa chưa chôn thì chúng ta có cần bàn cãi thêm về cờ vàng hay cờ đỏ không? Ngược lại, chỉ trong 36 năm, cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản đã “bành trướng” điạ bàn hoạt động khắp năm châu, những khu phố Việt Nam sầm uất, vững mạnh hơn các ChinaTown của người Tàu, mỗi năm cộng đồng Người Việt gửi về nuôi thân nhân hàng chục tỹ đô la. “Chạy trốn, thua trận” mà làm nên ... nghiệp lớn như vậy trong khi bọn cộng sản Việt Nam thì co cụm lại trong các toà sứ quán, ra đường thì mắt la, mày lét sợ người dân bắt gặp. Lãnh tụ ngoại giao như tên Nguyễn Xuân Việt ở Jordanie thì hành xử như bọn đầu gấu, du đãng khiến thế giới phải bàng hoàng và người nữ công nhân 20 tuổi bị xúc phạm đã được Hoa Kỳ cho nhập cảnh vì lý do chính trị thì đủ hiểu.
Dĩ nhiên, ở đâu, xã hội nào thì cũng gồm đủ con gà, con công, con phụng... đừng nhìn vào đàn gà của cộng đồng Việt Nam hải ngoại rồi kết luận tất cả chỉ là một đàn gà mà lầm to. Nhưng có một điều có thể coi như là chân lý “không thay đổi” dù bên này hay bên kia bờ Thái Bình Dương: đảng viên cộng sản thì anh nào cũng hèn, cứ phải dựa vào nhau để sống còn, để được làm “quan tham” bóc lột dân lành. Chúng đoàn kết theo đúng tôn chỉ “tranh đấu đến cùng với kẻ thù, chỉ hoà giãi với nội bộ”. Trong khi nếu vì tương lai dân tộc thì phải tìm cách liên kết mọi người với nhau chứ. Ra đến hải ngoại vẫn còn sợ lá cờ vàng nhưng tiền bạc của cờ vàng thì đưa lên mặt mà hít hà. Khinh bọn “thất trận, giặc ngụy” bỏ chạy, nhưng lại sợ chúng nó trở thành một thế chính trị đối lập trở về nhưng vẫn ra chính sách ve vãn Việt kiều. Chơi với cái đầu “ngụy” thì không dám chơi chỉ muốn chơi với các “khúc ruột thừa” của họ?
Việt Nam Cộng Hoà phải sống mãi trong lòng người Việt không cộng sản là vì thế! Vì không muốn nhận sự nhục nhã là công dân của một nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, muốn bảo vệ ngư dân cũng phải xin phép “thằng” Tàu cộng!
Chúng ta hãy hành động. Tự cứu mình và cứu những người khác nữa. Vì tương lai, xin tất cả hãy tìm cách liên kết với nhau trong tình dân tộc.
Đào Nương
Giã Từ Đài Phát Thanh Tiếng Việt BBC Luân Đôn
Trần Củng Sơn
Có sinh thì có diệt, có bắt đầu thì có chấm dứt và đài phát thanh Việt Ngữ BBC Luân Đôn đã ngưng chương trình phát thanh bằng tiếng Việt Nam về trong nước vào ngày thứ sáu 26-3-2011 sau 59 năm hoạt động, tính từ ngày bắt đầu 6 tháng 1 năm 1952.
Nhớ lại vào thập niên 1960, 1970, 1980 kỹ thuật truyền thông chưa tiến bộ bằng bây giờ thì Radio phát thanh là phương tiện thông tin mau chóng và phổ biến rộng rãi nhất. Người Việt Nam từ thành phố đến rừng núi hẻo lánh đều có thể theo dõi tin tức thời sự quốc tế và trong nước qua làn sóng BBC Luân Đôn Việt Ngữ mỗi buổi sáng và buổi tối.
Với lối dịch thuật ngắn gọn, súc tích từ Anh ngữ qua Việt ngữ từ những bài viết của các ký giả quốc tế với cách hành văn phương Tây và lý luận của họ đã tạo nên một chất riêng làm cho thính giả Việt Nam thời đó thưởng thức thú vị. Những giọng đọc của xướng ngôn viên BBC thời điểm này nghe cũng hấp dẫn. Thời đó câu nói : “Chương trình Việt Ngữ BBC đến đây đã mãn, chữ “mãn” được dùng ở đây rất hay và đặc biệt cũng như khúc nhạc mở đầu.
Tuổi thọ của Việt Ngữ BBC Luân Đôn gần sáu mươi cho nên những bạn bè thính giả khắp mọi miền đất nước Việt Nam rất đông, mỗi người đều có những kỷ niệm khó quên gắn liền với tuổi thơ, với những biến cố lịch sử khi nghe chương trình phát thanh nói bằng tiếng Việt Nam từ một nơi rất xa, thủ đô Luân Đôn của Anh quốc.
Hồi nhỏ nhiều lần tôi tự hỏi lý do nào một nước Anh không phải là đại cường quốc lại có thể bỏ tiền ra để thực hiện chương trình tốn kém như vậy trong khi đó họ không có những lợi ích liên quan với Việt Nam như là Pháp. Mỹ, Tàu, Nga, Nhật. Và hôm nay tôi tự tìm câu trả lời rằng việc làm đó của chính phủ Anh nhằm nâng cao và giữ gìn uy tín của họ đối với thế giới khi mà Anh Ngữ là ngôn ngữ phổ thông nhất và được dùng làm ngôn ngữ quốc tế giống như đồng Mỹ Kim là thứ tiền tệ dùng để trao đổi khắp nơi.
Đài BBC Luân Đôn Việt Ngữ đã đồng hành cùng chiến tranh Việt Nam kéo dài mấy chục năm, đất nước hình chữ S đã một thời trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế từ lúc quân Pháp thua trận Điện Biên Phủ 1954, rồi hiệp định Geneve 20-7-1954 chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17, rồi đảo chánh tổng thống Ngô Đình Diệm 1963, rồi quân đội Hoa Kỳ đổ vào miền Nam 1965, rồi trận chiến Tết Mậu Thân 1968, rồi Mỹ oanh tạc miền Bắc, rồi chiến tranh Việt Nam leo thang với hai phe Tư Bản (Mỹ và đồng minh) và Cộng Sản( Nga, Tàu) giúp hai miền Nam và Bắc đánh nhau dữ dội.
Rồi hiệp định Paris 1973 giữa Mỹ và Bắc Việt chấm dứt chiến tranh Việt Nam, rồi Sài Gòn thất thủ vào ngày 30-4-1975, rồi thảm cảnh thuyền nhân vượt biển (boat people) những năm kế tiếp gây chấn động lương tâm nhân loại, rồi Trung Cộng đưa quân đánh Việt Cộng mùa Xuân 1979 cũng gây nên cái sốc tin tức cho quốc tế, rồi Mỹ trở lại bang giao với cựu thù Hà Nội vào năm 1995...
Mấy năm sau khi chiến thắng miền Nam, chế độ Cộng Sản cai trị khắc khe và sự kiểm soát chặt chẽ truyền thông trong nước Việt Nam càng làm người dân khát khao những tin tức thời sự và lúc này là đài BBC trở nên món ăn tinh thần được ưa chuộng.
Nhiều người còn nhớ vào đêm giao thừa Tết Âm lịch của năm 1976 khi đài BBC phát bản hợp ca Ly Rượu Mừng của Phạm Đình Chương đã làm thính giả xúc động rơi lệ vì lúc này các sản phẩm văn hóa của miền Nam đều bị cấm đoán.
Những tin tức của đài BBC đưa ra thường trở thành đề tài bàn luận của người dân sau đó trong quán cà phê hay các buổi gặp gỡ. Sự hiện diện của chương trình Việt Ngữ BBC trong mấy chục năm trở thành một đóng góp lịch sử cho sự phát triển của truyền thông trong nước.
Dù có khách quan, vô tư, dù có cố gắng loan tin trung thực thì bao giờ cũng có lầm lẫn, sơ hở, đài BBC Luân Đôn cũng không ngoại lệ. Có những sai lầm do vô ý mà cũng có khi do cố tình của một thế lực nào đó chi phối.
Món ăn ngon của BBC Luân Đôn có một số hạt sạn làm người ta không quên. Cho đến hôm nay nhiều người dân Miền Nam vẫn còn nhớ đài BBC đã loan tin “sớm” một hai ngày gây thiệt hại cho Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc rút quân Cao Nguyên tháng 3 năm 1975 và hệ quả của nó. Những ngày chiến cuộc sôi bỏng, khi Huế còn náo loạn chưa rõ ra sao thì BBC đã loan tin rằng Đà Nẵng bị thất thủ làm cho lòng người hoảng hốt, địch chưa tới mà quân dân đã bỏ chạy, và cứ thế tiếp tục các tỉnh miền Trung cho đến khi Sài Gòn thất thủ.
Suy gẫm về chuyện này thì có lẽ xướng ngôn viên tiếng Việt của đài BBC chỉ dịch thuật lại những tin tức, những bài báo của ký giả phương Tây vốn có khuynh hướng thiên về miền Bắc trong cuộc chiến và cũng muốn gây xốc nổi về khi đưa ra những nhận định gây chú ý và cũng muốn đưa tin “sớm” để ăn khách. Cũng có thể Ban Việt Ngữ đã bị mua chuộc, cũng có thể ký giả ngoại quốc có dụng ý khi viết tin để thực hiện theo một yêu cầu của thế lực chính trị nào đó. Dù vô tình hay cố ý thì chuyện “loan tin sớm” này là một tỳ vết trong cuộc đời phát thanh của BBC Luân Đôn.
Một sai lầm lớn không thể chấp nhận được của BBC Luân Đôn là vào ngày 17-4-2010 đăng bài viết Một Cách Nhìn Khác Về Tinh Thần Dân Tộc của Đỗ Ngọc Bích nói là “Một thực tế là lịch sử Việt Nam suốt hơn 2.000 năm từ thời Triệu Đà đến thời Nguyễn, cho dù thỉnh thoảng có tuyên bố "Sông núi nước Nam, Vua Nam ở," thì Việt Nam vẫn luôn là một phần của Trung Quốc.” Không hiểu ban Việt Ngữ vì lý do nào mà lại cho đăng một bài viết vừa sai trái vừa phản quốc như vậy. Có nhiều người phản đối từ trong nước Việt Nam đến hải ngoại, ở San Jose ngày 20-7-2010 đã có tổ chức gởi hàng ngàn lá thư bằng bưu điện đến ông tổng giám đốc Thompson để phản đối. Nhưng cho đến nay bài viết đó vẫn còn nằm trong trang mạng BBC không chịu gỡ bỏ như là một sự khiêu khích dân tộc Việt Nam.
Năm 2011, thế giới đã thay đổi nhiều, nước Anh không còn là đại cường quốc giàu có. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 còn kéo dài và chính phủ nhiều nước đã thiếu hụt ngân sách nên cắt giảm chi tiêu và chuyện bãi bỏ một số ban ngôn ngữ phát thanh của BBC trong đó có Việt Ngữ là điều tất nhiên. Bên cạnh lý do tài chánh thiếu hụt còn là lý do kỹ thuật truyền thông đã phát triển, radio phát thanh không còn chiếm ưu thế như ngày xưa nữa. Người ta bây giờ có thể gọi điện thoại viễn liên khắp thế giới cho nhau, có thể liên lạc bằng Internet và các tin tức toàn cầu được phổ biến mau chóng chỉ trong vài phút qua hai loại thông tin này. Một trận động đất ở Nhật Bản tháng 3 năm 2011 chỉ trong khoảnh khắc đã lan truyền khắp thế giới, đâu cần đợi đến giờ phát thanh của BBC Luân Đôn mới thông báo.
Nhưng cũng cần nói thêm là với dân số 90 triệu người thì Việt Nam cũng được xếp hạng cao trong số thính giả đón nghe; thế nhưng vẫn bị nằm trong danh sách một số ngôn ngữ bị bãi bỏ chương trình phát thanh.
Giã từ đài phát thanh Việt Ngữ BBC Luân Đôn ngày 26 tháng 3 năm 2011. Những kỷ niệm thập niên 60, 70, 80 với làn sóng này vẫn có nhiều điều đáng nhớ. Cuộc chia tay có vẻ không bịn rịn cho lắm vì thời thế đã thay đổi, lòng người nghe đã khác và khả năng của xướng ngôn viên cũng không còn chất hấp dẫn.
Một giai đoạn lịch sử đã qua với sự lệ thuộc vào sự thông tin của một đài nước ngoài, cái tệ trạng người dân tin truyền thông ngoại quốc hơn là trong nước cần phải chấm dứt. Có một ngày dân tộc Việt Nam có thể tự làm chủ lấy mình trong một hoàn cảnh độc lập, tự do, dân chủ và hùng mạnh. Lúc đó, tự do ngôn luận được tôn trọng để cho báo chí truyền thông nở rộ làm món ăn tinh thần không thể thiếu cho đời sống mọi người dân.
San Jose, 26-3-2011
Trần Củng Sơn
Có sinh thì có diệt, có bắt đầu thì có chấm dứt và đài phát thanh Việt Ngữ BBC Luân Đôn đã ngưng chương trình phát thanh bằng tiếng Việt Nam về trong nước vào ngày thứ sáu 26-3-2011 sau 59 năm hoạt động, tính từ ngày bắt đầu 6 tháng 1 năm 1952.
Nhớ lại vào thập niên 1960, 1970, 1980 kỹ thuật truyền thông chưa tiến bộ bằng bây giờ thì Radio phát thanh là phương tiện thông tin mau chóng và phổ biến rộng rãi nhất. Người Việt Nam từ thành phố đến rừng núi hẻo lánh đều có thể theo dõi tin tức thời sự quốc tế và trong nước qua làn sóng BBC Luân Đôn Việt Ngữ mỗi buổi sáng và buổi tối.
Với lối dịch thuật ngắn gọn, súc tích từ Anh ngữ qua Việt ngữ từ những bài viết của các ký giả quốc tế với cách hành văn phương Tây và lý luận của họ đã tạo nên một chất riêng làm cho thính giả Việt Nam thời đó thưởng thức thú vị. Những giọng đọc của xướng ngôn viên BBC thời điểm này nghe cũng hấp dẫn. Thời đó câu nói : “Chương trình Việt Ngữ BBC đến đây đã mãn, chữ “mãn” được dùng ở đây rất hay và đặc biệt cũng như khúc nhạc mở đầu.
Tuổi thọ của Việt Ngữ BBC Luân Đôn gần sáu mươi cho nên những bạn bè thính giả khắp mọi miền đất nước Việt Nam rất đông, mỗi người đều có những kỷ niệm khó quên gắn liền với tuổi thơ, với những biến cố lịch sử khi nghe chương trình phát thanh nói bằng tiếng Việt Nam từ một nơi rất xa, thủ đô Luân Đôn của Anh quốc.
Hồi nhỏ nhiều lần tôi tự hỏi lý do nào một nước Anh không phải là đại cường quốc lại có thể bỏ tiền ra để thực hiện chương trình tốn kém như vậy trong khi đó họ không có những lợi ích liên quan với Việt Nam như là Pháp. Mỹ, Tàu, Nga, Nhật. Và hôm nay tôi tự tìm câu trả lời rằng việc làm đó của chính phủ Anh nhằm nâng cao và giữ gìn uy tín của họ đối với thế giới khi mà Anh Ngữ là ngôn ngữ phổ thông nhất và được dùng làm ngôn ngữ quốc tế giống như đồng Mỹ Kim là thứ tiền tệ dùng để trao đổi khắp nơi.
Đài BBC Luân Đôn Việt Ngữ đã đồng hành cùng chiến tranh Việt Nam kéo dài mấy chục năm, đất nước hình chữ S đã một thời trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế từ lúc quân Pháp thua trận Điện Biên Phủ 1954, rồi hiệp định Geneve 20-7-1954 chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17, rồi đảo chánh tổng thống Ngô Đình Diệm 1963, rồi quân đội Hoa Kỳ đổ vào miền Nam 1965, rồi trận chiến Tết Mậu Thân 1968, rồi Mỹ oanh tạc miền Bắc, rồi chiến tranh Việt Nam leo thang với hai phe Tư Bản (Mỹ và đồng minh) và Cộng Sản( Nga, Tàu) giúp hai miền Nam và Bắc đánh nhau dữ dội.
Rồi hiệp định Paris 1973 giữa Mỹ và Bắc Việt chấm dứt chiến tranh Việt Nam, rồi Sài Gòn thất thủ vào ngày 30-4-1975, rồi thảm cảnh thuyền nhân vượt biển (boat people) những năm kế tiếp gây chấn động lương tâm nhân loại, rồi Trung Cộng đưa quân đánh Việt Cộng mùa Xuân 1979 cũng gây nên cái sốc tin tức cho quốc tế, rồi Mỹ trở lại bang giao với cựu thù Hà Nội vào năm 1995...
Mấy năm sau khi chiến thắng miền Nam, chế độ Cộng Sản cai trị khắc khe và sự kiểm soát chặt chẽ truyền thông trong nước Việt Nam càng làm người dân khát khao những tin tức thời sự và lúc này là đài BBC trở nên món ăn tinh thần được ưa chuộng.
Nhiều người còn nhớ vào đêm giao thừa Tết Âm lịch của năm 1976 khi đài BBC phát bản hợp ca Ly Rượu Mừng của Phạm Đình Chương đã làm thính giả xúc động rơi lệ vì lúc này các sản phẩm văn hóa của miền Nam đều bị cấm đoán.
Những tin tức của đài BBC đưa ra thường trở thành đề tài bàn luận của người dân sau đó trong quán cà phê hay các buổi gặp gỡ. Sự hiện diện của chương trình Việt Ngữ BBC trong mấy chục năm trở thành một đóng góp lịch sử cho sự phát triển của truyền thông trong nước.
Dù có khách quan, vô tư, dù có cố gắng loan tin trung thực thì bao giờ cũng có lầm lẫn, sơ hở, đài BBC Luân Đôn cũng không ngoại lệ. Có những sai lầm do vô ý mà cũng có khi do cố tình của một thế lực nào đó chi phối.
Món ăn ngon của BBC Luân Đôn có một số hạt sạn làm người ta không quên. Cho đến hôm nay nhiều người dân Miền Nam vẫn còn nhớ đài BBC đã loan tin “sớm” một hai ngày gây thiệt hại cho Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc rút quân Cao Nguyên tháng 3 năm 1975 và hệ quả của nó. Những ngày chiến cuộc sôi bỏng, khi Huế còn náo loạn chưa rõ ra sao thì BBC đã loan tin rằng Đà Nẵng bị thất thủ làm cho lòng người hoảng hốt, địch chưa tới mà quân dân đã bỏ chạy, và cứ thế tiếp tục các tỉnh miền Trung cho đến khi Sài Gòn thất thủ.
Suy gẫm về chuyện này thì có lẽ xướng ngôn viên tiếng Việt của đài BBC chỉ dịch thuật lại những tin tức, những bài báo của ký giả phương Tây vốn có khuynh hướng thiên về miền Bắc trong cuộc chiến và cũng muốn gây xốc nổi về khi đưa ra những nhận định gây chú ý và cũng muốn đưa tin “sớm” để ăn khách. Cũng có thể Ban Việt Ngữ đã bị mua chuộc, cũng có thể ký giả ngoại quốc có dụng ý khi viết tin để thực hiện theo một yêu cầu của thế lực chính trị nào đó. Dù vô tình hay cố ý thì chuyện “loan tin sớm” này là một tỳ vết trong cuộc đời phát thanh của BBC Luân Đôn.
Một sai lầm lớn không thể chấp nhận được của BBC Luân Đôn là vào ngày 17-4-2010 đăng bài viết Một Cách Nhìn Khác Về Tinh Thần Dân Tộc của Đỗ Ngọc Bích nói là “Một thực tế là lịch sử Việt Nam suốt hơn 2.000 năm từ thời Triệu Đà đến thời Nguyễn, cho dù thỉnh thoảng có tuyên bố "Sông núi nước Nam, Vua Nam ở," thì Việt Nam vẫn luôn là một phần của Trung Quốc.” Không hiểu ban Việt Ngữ vì lý do nào mà lại cho đăng một bài viết vừa sai trái vừa phản quốc như vậy. Có nhiều người phản đối từ trong nước Việt Nam đến hải ngoại, ở San Jose ngày 20-7-2010 đã có tổ chức gởi hàng ngàn lá thư bằng bưu điện đến ông tổng giám đốc Thompson để phản đối. Nhưng cho đến nay bài viết đó vẫn còn nằm trong trang mạng BBC không chịu gỡ bỏ như là một sự khiêu khích dân tộc Việt Nam.
Năm 2011, thế giới đã thay đổi nhiều, nước Anh không còn là đại cường quốc giàu có. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 còn kéo dài và chính phủ nhiều nước đã thiếu hụt ngân sách nên cắt giảm chi tiêu và chuyện bãi bỏ một số ban ngôn ngữ phát thanh của BBC trong đó có Việt Ngữ là điều tất nhiên. Bên cạnh lý do tài chánh thiếu hụt còn là lý do kỹ thuật truyền thông đã phát triển, radio phát thanh không còn chiếm ưu thế như ngày xưa nữa. Người ta bây giờ có thể gọi điện thoại viễn liên khắp thế giới cho nhau, có thể liên lạc bằng Internet và các tin tức toàn cầu được phổ biến mau chóng chỉ trong vài phút qua hai loại thông tin này. Một trận động đất ở Nhật Bản tháng 3 năm 2011 chỉ trong khoảnh khắc đã lan truyền khắp thế giới, đâu cần đợi đến giờ phát thanh của BBC Luân Đôn mới thông báo.
Nhưng cũng cần nói thêm là với dân số 90 triệu người thì Việt Nam cũng được xếp hạng cao trong số thính giả đón nghe; thế nhưng vẫn bị nằm trong danh sách một số ngôn ngữ bị bãi bỏ chương trình phát thanh.
Giã từ đài phát thanh Việt Ngữ BBC Luân Đôn ngày 26 tháng 3 năm 2011. Những kỷ niệm thập niên 60, 70, 80 với làn sóng này vẫn có nhiều điều đáng nhớ. Cuộc chia tay có vẻ không bịn rịn cho lắm vì thời thế đã thay đổi, lòng người nghe đã khác và khả năng của xướng ngôn viên cũng không còn chất hấp dẫn.
Một giai đoạn lịch sử đã qua với sự lệ thuộc vào sự thông tin của một đài nước ngoài, cái tệ trạng người dân tin truyền thông ngoại quốc hơn là trong nước cần phải chấm dứt. Có một ngày dân tộc Việt Nam có thể tự làm chủ lấy mình trong một hoàn cảnh độc lập, tự do, dân chủ và hùng mạnh. Lúc đó, tự do ngôn luận được tôn trọng để cho báo chí truyền thông nở rộ làm món ăn tinh thần không thể thiếu cho đời sống mọi người dân.
San Jose, 26-3-2011
Tại sao nước Nhật sẽ phục hồi
Trần Mạnh Trác Theo cơ quan GSI (sở địa dư của Nhật bản) thì trận động đất 8.9 độ richter và cơn sóng thần dường như đã di dời các hòn đảo chính của Nhật tới 8 feet (2.4 mét) và chuyển trục trái đất lệch đi gần 9 inches (10cm).
Sau khi chứng kiến sự tàn phá chung quanh những hải cảng đã một thời rất nhộn nhịp, người ta phải đồng ý với lời của vị thủ tướng Nhật Naoto Kan than rằng nước ông đang phải chịu một cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất sau Thế chiến II.
Cảnh tàn phá gợi lại hình ảnh của thành phố Hiroshima sau trận đánh bom nguyên tử năm 1945, mới hai tuần trước, còn là những đường phố, nhà ở, cửa hàng, nhà máy, nhà kho, hôm nay là một dải đất bùn kéo dài tới tận chân trời, đầy nghẹt những di tích lạnh tanh của nhiều cuộc sống đã bị bức tường nước cuốn trôi ngày 11 Tháng 3.
Xe cộ lật nhào bẹp dúm. Những cột đèn bê tông gẫy gục, uốn cong như ống hút. Một vài ngôi nhà còn nguyên vẹn nhưng bị bật ra khỏi nền móng, nằm nghiêng ngả đây đó như những tên say rượu.
Những hình ảnh giống ngày tận thế đó xuất hiện ở mỗi thị trấn và làng mạc dọc theo vùng duyên hải đông bắc. Hơn thế nữa và mỉa mai thay, quốc gia duy nhất đã hứng chịu những tác hại của vũ khí nguyên tử, nay lại phải đương đầu với một thảm họa hạt nhân mới khi nhà máy điện Fukushima Daiichi chiến đấu tận lực để ổn định các lò phản ứng bị hư hại.
Nhật Bản, một nước đã vật lộn hai chục năm với tình trạng trì trệ về chính trị và kinh tế, đôi khi dường như đã bị lay động vì nghi ngờ bản thân, và đang còn phải đối phó với gánh nặng của một dân số già đi nhanh chóng, thì với số tử vong lớn vì thiên tai, với chi phí tài chính nặng nề và những tác dụng hạt nhân nguy hại, tình trạng bất ổn sâu rộng sẽ có nguy cơ còn kéo dài thêm?
Nước Nhật chắc chắn sẽ phải mất nhiều năm để phục hồi. Nhưng không đâu người ta chứng kiến một dân tộc có sức bật mạnh mẽ và gắn bó với nhau như ở Nhật Bản.
Peter Ford của tờ The Christian Science Monitor cho biết nhiều nhà quan sát trong và ngoài nước nghĩ rằng trong thực tế những đòi hỏi cho việc phục hồi từ cuộc khủng hoảng này có thể sẽ cung cấp cho đất nước này một tâm trạng mới về mục đích: Cái may có thể sinh ra từ cái rủi theo câu châm ngôn của Nhật Bản.
"Thảm họa này có thể đòan kết dân Nhật trong việc phục hồi và tái thiết", theo ông Koichi Nakano, giáo sư chính trị tại Đại học Sophia ở Tokyo. "Những thách thức để đưa mọi thứ trở lại như xưa sẽ đoàn kết chúng tôi, và chúng tôi đã từng biết phải làm thế nào."
Nhật Bản đã từng làm điều đó trên một quy mô rộng lớn hơn nhiều. Cuối Thế chiến II, 60 thành phố đã bị san bằng, nửa triệu người chết, 10 triệu người vô gia cư, và một phần tư tài sản quốc gia bị tiêu huỷ.
Trong vòng chưa đầy bốn chục năm sau, nước này đã chuyển đổi thành một nền kinh tế lớn thứ hai trên trái đất. "Họ hợp sức và xây dựng lại một cách ngoạn mục," theo lời ông John Dower, tác giả của cuốn sách kể lại cuộc phục hồi đó có tên là "Embracing Defeat" "Ôm hôn thất bại", "Tôi nghĩ họ sẽ hợp quần một lần nữa và sẽ phục hồi một cách đáng kinh ngạc."
Sâu thẳm trong tâm khảm của người Nhật Bản là tinh thần "gaman" ("Kiên trì".) Là trọng tâm của tinh thần quốc gia, gaman có nghĩa là "Chịu đựng, nhận lấy bất cứ điều gì đến và hãy cố gắng", ông Roland Kelts nói, ông là người đã dựa vào di sản hỗn hợp Nhật và Mỹ để viết cuốn "Japanamerica." "Họ thừa hưởng những DNA văn hóa qua nhiều thế kỷ phải đương đầu với hòan cảnh bị vây bủa."
Đó là một tinh thần mà người dân Nhật đã buộc phải rút ra từ một quá khứ thường xuyên đối diện với thảm họa tự nhiên và do con người gây ra. Từ các trận động đất lớn ở Tokyo năm 1923, qua chiến tranh thế giới II đến trận động đất Kobe năm 1995, "những trường hợp trên dù có khác biệt, nhưng vẫn có một hằng số chung," theo lời ông Merry White, một nhà nhân chủng học chuyên về Nhật Bản tại Đại học Boston, "đó là tương đối có rất nhiều sinh động và rất ít tinh thần buông xuôi."
Makoto Mizenoya là một trong những người không buông xuôi. Đứng bên ngoài một ngôi trường dùng làm chỗ tạm cư cho tất cả các cư dân của thành phố Narahama, gần nhà máy hạt nhân Fukushima, ông gạt bỏ những lo ngại rằng ông có thể đã bị ô nhiễm phóng xạ.
"Tôi không thực sự nghĩ về điều đó," ông vừa nói vừa lo giúp cho những ông bà lớn tuổi đang tụm năm tụm ba trên một sàn lớp học. "Tôi cảm thấy có lỗi mỗi khi nghe những lời chúc may mắn từ bạn bè. Tôi chỉ muốn tiếp tục làm tốt công việc của tôi bây giờ."
Tuy nhiên quy mô của thảm họa, và một trường hợp khẩn cấp liên quan đến hạt nhân, "có thể là bài kiểm tra cuối cùng của tinh thần Nhật Bản", ông Kelts cảnh báo.
Số tử vong do động đất và sóng thần đã tăng cao hơn 10.000. Gần nửa triệu người mất nhà. 850.000 nhà mất điện, và 1,5 triệu gia đình không có nước. Trong vùng động đất, thực phẩm thiếu hụt và xăng nhớt cạn kiệt.
Đối diện với những khó khăn, các nạn nhân đã chứng tỏ một tinh thần khắc kỷ đáng nể. Dù cho các nỗ lực cứu trợ đã không trơn tru, rầy rà vì thiếu thông tin và vận tải, nhưng các nạn nhân không phàn nàn. Họ kiên nhẫn chờ đợi trong trật tự để nhận nước, thức ăn, khí đốt, chăn mền, hoặc bất cứ những gì được cấp phát.
Tại Sendai, một thành phố mà một nửa dân số không có điện nước, một hàng người đứng đợi ngòai trời tuyết bên ngoài một cửa hàng mở cửa lần đầu sau trận động đất. "Tôi chờ để mua thức ăn và nước," là lời của Yuta Okada, một thanh niên trẻ vừa đứng vào cuối hàng. "Tôi lo lắng vì các nhân viên nói rằng họ không có đủ cho mọi người. Tất cả tôi có thể làm là nhẫn nại chờ xem."
Ở phố Fukushima, cách nhà máy điện Fukushima khoảng 25km, ông Hà Minh Thành, một cảnh sát Nhật gốc Việt, đã kể lại chuyện một em bé 9 tuổi cô đơn đứng ở cuối hàng phát thực phẩm. Động lòng thương ông đã khóac cho em tấm áo và nhường cho em khẩu phần của mình. Trước con mắt ngạc nhiên của ông, em khom mình cám ơn rồi mang khẩu phần đó đặt vào thùng thực phẩm chung và quay lại chỗ cuối hàng tiếp tục chờ đợi. Em nói với ông: "Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng".
Các ký giả ngọai quốc từng săn tin các thảm họa trên thế giới đã ngạc nhiên khi không thấy có tin tức về cướp bóc, dù cho các cửa hàng không có nhân viên bảo vệ. Trong một xã hội mà quyền lợi tập thể được coi trọng hơn những ước muốn cá nhân, theo lời giáo sư Nakano, "thì có một tinh thần tôn trọng trật tự, sẵn lòng tuân thủ các quy định và không gây ra khó khăn cho người khác. Thật là một tinh thần rất hữu ích trong những tình huống như thế này.."
Nhiệm vụ xây dựng lại những thị trấn bị tàn phá sẽ khó khăn, và có thể chi phí sẽ lên đến 185 tỷ đô la theo ước tính của hãng Barclays Capital. Ngay cả với một nước Nhật Bản có quyết tâm và có nhiều gắn bó xã hội, vẫn có thể cần tới nhiều năm.
Những thảm họa ở các nơi khác như New Orleans chẳng hạn, sau cơn bão Katrina 5 năm rưỡi mà vẫn còn nhiều khu phố chưa xây dựng lại được. Mười năm sau cơn bão Andrew ở miền Đông Nam Hoa Kỳ năm 1992, công việc phục hồi vẫn còn chưa kết thúc.
Tuy nhiên, không thể áp dụng những đo lường từ những thảm họa thiên nhiên ở nơi khác cho Nhật Bản, vì đây là nơi đầu tiên phải đối diện với ba cuộc khủng hoảng cùng một lúc: sóng thần, động đất, và nguy cơ nguyên tử. "Chúng ta chưa bao giờ có một trường hợp như thế này," theo lời ông David Neal, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu thiên tai và những sự cố khắc nghiệt tại Oklahoma State University.
Duy chỉ một việc làm sạch cơ sở hạt nhân Fukushima sẽ là một nhiệm vụ ghê gớm. Ngay cả khi tình hình ổn định, ít nhất là có ba trong số sáu lò phản ứng tại cơ sở đã bị hư. Nếu người Nhật quyết định dỡ bỏ các đơn vị hư hỏng, thì dựa trên bài học của Three Mile Island, Pennsylvania, có thể sẽ cần đến hai năm. "Ngừng hoạt động là một công việc rất, rất lớn", theo ông Charles Forsberg, một chuyên gia hạt nhân tại MIT (Học viện Công nghệ Massachusetts) ở Cambridge, Mass "Nó giống như là xây dựng một lò phản ứng mới vậy."
Người Nhật cũng sẽ phải đối diện với sự gián đoạn kinh tế. Tất cả các hãng xe lớn đã tạm thời đóng cửa, một phần vì thiếu bộ phận từ các nhà máy bị hư hỏng ở miền bắc. Nhiều nhà máy điện tử trong khu vực động đất cũng đình chỉ hoạt động. Những hải cảng miền đông bắc Nhật Bản đều bị thiệt hại, và nhiều công ty nước ngoài và trong nước đã ngưng việc kinh doanh vì công nhân bỏ chạy trước nguy cơ phóng xạ.
Tuy nhiên, nhiều kinh tế gia hy vọng rằng những thiệt hại có ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung sẽ chỉ là tối thiểu. "Tác động trực tiếp của thiên tai trên nền kinh tế là rất hạn chế", theo ông Martin Schulz, một nhà phân tích tại Viện Nghiên cứu Fujitsu tại Tokyo. Đổ đồng, Nhật mất đi một nhà máy thép, hai nhà máy lọc dầu, và một số nhà máy khác bị suy giảm. Nhưng khu vực động đất và sóng thần chỉ có ảnh hưởng tới 6 % của nền kinh tế. Các vành đai công nghiệp lớn ở miền trung và miền nam Nhật Bản vẫn còn nguyên vẹn, và mặc dù nhiều nhà máy vẫn còn đóng cửa, họ có thể mở lại ngay khi giao thông được phục hồi.
Trong trận động đất Kobe trước đây, cũng có nhiều thiệt hại như lần này nhưng "đã không gây ra thậm chí là một đốm sáng trên các số liệu thống kê kinh tế," ông Schulz nhớ lại, và ông ta nghĩ sự suy giảm tốc độ tăng trưởng sẽ rất nhỏ nhoi (marginal drop,) cho năm nay, sẽ vẫn nằm ở số 1.5% như những dự đoán trước thiên tai. Năm tới nhiều đầu tư lớn để xây dựng lại nhà cửa, cầu cống, đường xá, và đường sắt sẽ có thể thúc đẩy tăng trưởng GDP lên chút ít.
Trên mặt trận chính trị, chính phủ cách đây vài tuần đã có nguy cơ xụp đổ, nay được hưởng lợi nhờ nhửng tham gia đi kèm với tình trạng khẩn cấp quốc gia. Và dù cho có nhiều chỉ trích mạnh mẽ xung quanh vấn đề hạt nhân và sự chậm trễ đưa hàng cứu trợ lên miền bắc, cuộc khủng hoảng quốc gia này đã cung cấp một cơ hội cho các nhà lãnh đạo để tập hợp quốc gia, và cải thiện cơ may của chính mình, dĩ nhiên là nếu chính phủ không thực hành đúng đắn thì rủi ro sẽ tăng lên. "Nhờ cuộc khủng hoảng, các đảng đối lập không thể chỉ trích chính phủ, và trong thời gian này thì điều đó đã giải cứu chính phủ", Eisuke Sakakibara, cựu bộ trưởng tài chính, cho biết.
Chính phủ đã phản ứng hợp lý, theo ý kiến của nhiều chuyên gia chính trị, và những công dân bình thường đang bận tâm với những vấn đề cá nhân không còn quan tâm nhiều đến chính trị. Nhắc lại những năm trước đây dân chúng đã không hài lòng cách sâu sắc với nhiều chính phủ kế tiếp nhau: Nhật Bản đã có 5 thủ tướng trong 5 năm. Đã có chút hy vọng khi cử tri bỏ phiếu lọai Đảng Dân chủ Tự Do trong năm 2009 (sau khi đảng này cầm quyền một nửa thế kỷ) nhưng rồi hy vọng cũng đã bị tiêu tan khi tỷ số được lòng dân của ông Kan đã giảm xuống dưới 20 phần trăm trước trận động đất ",nhưng sự việc này (Thiên tai) có thể thực sự khởi động lại một cái gì đó," ông Schulz nói.
Chuyển động mới trên chính trường có thể bắt đầu, ông nói, nếu cử tri đổ lỗi cho Công ty Điện lực Tokyo vì những tai nạn hạt nhân. Là một cơ chế quan liêu cổ điển bí mật và là sở hữu chủ nhà máy nguyên tử Fukushima, sự giận dữ của công chúng đòi hỏi sự minh bạch trong cơ chế "sẽ gây ra những thay đổi lớn," ông Schulz tin tưởng.
Một cách sâu xa hơn, một số nhà quan sát nhìn thấy một cơ hội ở chỗ các nỗ lực phục hồi sẽ khích lệ một xã hội dường như bị sa lầy trong sự nghi ngờ bản thân sau khi đã đạt được nhiều điều kỳ diệu sau chiến tranh. Một mặt, nó có thể làm sống lại hình ảnh truyền thống của người dân Nhật, tóm gọn trong câu tâm niệm của quốc gia, đó là đất nước là một quần đảo nhỏ với rất ít tài nguyên mà luôn phải đối phó với các lực lượng thù địch từ bên ngoài.
Đồng thời, người dân đã rất phấn khởi với các làn sóng cảm thông đến từ bên ngòai thế giới. Không giống như hồi năm 1995, khi chính quyền từ chối sự trợ giúp của các nước ngoài sau trận động đất Kobe. Tokyo ngày nay đang đón tiếp viện trợ, yêu cầu quân đội Mỹ và Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế phụ giúp.
Phản ứng của quốc tế "đã nhắc nhở chúng tôi rằng chúng tôi vẫn được coi là quan trọng và rằng mọi người vẫn quan tâm đến chúng tôi ngay cả khi chính người Nhật chúng tôi có cảm giác không an toàn về vị thế quốc tế của chúng tôi", ông Nakano nói.
Đồng tình với ông, ông Michael Green, một nhà phân tích châu Á tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế ở Washington thêm rằng những thảm họa "đang xây dựng lại sự tự tin trên những khía cạnh văn hóa và xã hội cốt lõi của Nhật Bản."
Nhật Bản có thể đã mất đi sự năng động từng là sức bật cho sự tăng trưởng bất thường trong hậu bán thế kỷ 20, nhưng nước Nhật là một quốc gia còn đủ năng lực để phục hồi từ các thảm họa vừa qua miễn là một thảm họa hạt nhân mới có thể tránh khỏi. Nhật là một trong những nước giàu nhất thế giới, với một lực lượng lao động được đào tạo tốt nhất và tài năng nhất và có một cơ chế quốc gia vững mạnh. Nhật Bản rõ ràng không phải là Haiti. Hậu thuẫn cho những sức mạnh đó là cảm xúc hiện tại của những người dân đã mất tất cả mọi thứ và không có cách nào khác hơn là "bắt đầu trong một đất nước tan vỡ", như Giáo sư Dower mô tả nhiệm vụ của quốc gia Nhật vào năm 1945.
Trong một làng nhỏ ven biển của vùng Yamamoto, người quản lý của một cửa hàng nông nghiệp, ông Toshiyo Shishido, đang điều khiển các nhân viên dọn dẹp đống gạch vụn, cây cối, và bùn lầy che lấp lối đi và cửa hàng. Ông lo lắng rằng có thể phải mất hàng tháng trước khi ông có thể kinh doanh trở lại. "Nhưng chúng tôi phải xây dựng lại," ông nói. "Đây là nhiệm vụ của những người còn sống sót."
Trần Mạnh Trác Theo cơ quan GSI (sở địa dư của Nhật bản) thì trận động đất 8.9 độ richter và cơn sóng thần dường như đã di dời các hòn đảo chính của Nhật tới 8 feet (2.4 mét) và chuyển trục trái đất lệch đi gần 9 inches (10cm).
Sau khi chứng kiến sự tàn phá chung quanh những hải cảng đã một thời rất nhộn nhịp, người ta phải đồng ý với lời của vị thủ tướng Nhật Naoto Kan than rằng nước ông đang phải chịu một cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất sau Thế chiến II.
Cảnh tàn phá gợi lại hình ảnh của thành phố Hiroshima sau trận đánh bom nguyên tử năm 1945, mới hai tuần trước, còn là những đường phố, nhà ở, cửa hàng, nhà máy, nhà kho, hôm nay là một dải đất bùn kéo dài tới tận chân trời, đầy nghẹt những di tích lạnh tanh của nhiều cuộc sống đã bị bức tường nước cuốn trôi ngày 11 Tháng 3.
Xe cộ lật nhào bẹp dúm. Những cột đèn bê tông gẫy gục, uốn cong như ống hút. Một vài ngôi nhà còn nguyên vẹn nhưng bị bật ra khỏi nền móng, nằm nghiêng ngả đây đó như những tên say rượu.
Những hình ảnh giống ngày tận thế đó xuất hiện ở mỗi thị trấn và làng mạc dọc theo vùng duyên hải đông bắc. Hơn thế nữa và mỉa mai thay, quốc gia duy nhất đã hứng chịu những tác hại của vũ khí nguyên tử, nay lại phải đương đầu với một thảm họa hạt nhân mới khi nhà máy điện Fukushima Daiichi chiến đấu tận lực để ổn định các lò phản ứng bị hư hại.
Nhật Bản, một nước đã vật lộn hai chục năm với tình trạng trì trệ về chính trị và kinh tế, đôi khi dường như đã bị lay động vì nghi ngờ bản thân, và đang còn phải đối phó với gánh nặng của một dân số già đi nhanh chóng, thì với số tử vong lớn vì thiên tai, với chi phí tài chính nặng nề và những tác dụng hạt nhân nguy hại, tình trạng bất ổn sâu rộng sẽ có nguy cơ còn kéo dài thêm?
Nước Nhật chắc chắn sẽ phải mất nhiều năm để phục hồi. Nhưng không đâu người ta chứng kiến một dân tộc có sức bật mạnh mẽ và gắn bó với nhau như ở Nhật Bản.
Peter Ford của tờ The Christian Science Monitor cho biết nhiều nhà quan sát trong và ngoài nước nghĩ rằng trong thực tế những đòi hỏi cho việc phục hồi từ cuộc khủng hoảng này có thể sẽ cung cấp cho đất nước này một tâm trạng mới về mục đích: Cái may có thể sinh ra từ cái rủi theo câu châm ngôn của Nhật Bản.
"Thảm họa này có thể đòan kết dân Nhật trong việc phục hồi và tái thiết", theo ông Koichi Nakano, giáo sư chính trị tại Đại học Sophia ở Tokyo. "Những thách thức để đưa mọi thứ trở lại như xưa sẽ đoàn kết chúng tôi, và chúng tôi đã từng biết phải làm thế nào."
Nhật Bản đã từng làm điều đó trên một quy mô rộng lớn hơn nhiều. Cuối Thế chiến II, 60 thành phố đã bị san bằng, nửa triệu người chết, 10 triệu người vô gia cư, và một phần tư tài sản quốc gia bị tiêu huỷ.
Trong vòng chưa đầy bốn chục năm sau, nước này đã chuyển đổi thành một nền kinh tế lớn thứ hai trên trái đất. "Họ hợp sức và xây dựng lại một cách ngoạn mục," theo lời ông John Dower, tác giả của cuốn sách kể lại cuộc phục hồi đó có tên là "Embracing Defeat" "Ôm hôn thất bại", "Tôi nghĩ họ sẽ hợp quần một lần nữa và sẽ phục hồi một cách đáng kinh ngạc."
Sâu thẳm trong tâm khảm của người Nhật Bản là tinh thần "gaman" ("Kiên trì".) Là trọng tâm của tinh thần quốc gia, gaman có nghĩa là "Chịu đựng, nhận lấy bất cứ điều gì đến và hãy cố gắng", ông Roland Kelts nói, ông là người đã dựa vào di sản hỗn hợp Nhật và Mỹ để viết cuốn "Japanamerica." "Họ thừa hưởng những DNA văn hóa qua nhiều thế kỷ phải đương đầu với hòan cảnh bị vây bủa."
Đó là một tinh thần mà người dân Nhật đã buộc phải rút ra từ một quá khứ thường xuyên đối diện với thảm họa tự nhiên và do con người gây ra. Từ các trận động đất lớn ở Tokyo năm 1923, qua chiến tranh thế giới II đến trận động đất Kobe năm 1995, "những trường hợp trên dù có khác biệt, nhưng vẫn có một hằng số chung," theo lời ông Merry White, một nhà nhân chủng học chuyên về Nhật Bản tại Đại học Boston, "đó là tương đối có rất nhiều sinh động và rất ít tinh thần buông xuôi."
Makoto Mizenoya là một trong những người không buông xuôi. Đứng bên ngoài một ngôi trường dùng làm chỗ tạm cư cho tất cả các cư dân của thành phố Narahama, gần nhà máy hạt nhân Fukushima, ông gạt bỏ những lo ngại rằng ông có thể đã bị ô nhiễm phóng xạ.
"Tôi không thực sự nghĩ về điều đó," ông vừa nói vừa lo giúp cho những ông bà lớn tuổi đang tụm năm tụm ba trên một sàn lớp học. "Tôi cảm thấy có lỗi mỗi khi nghe những lời chúc may mắn từ bạn bè. Tôi chỉ muốn tiếp tục làm tốt công việc của tôi bây giờ."
Tuy nhiên quy mô của thảm họa, và một trường hợp khẩn cấp liên quan đến hạt nhân, "có thể là bài kiểm tra cuối cùng của tinh thần Nhật Bản", ông Kelts cảnh báo.
Số tử vong do động đất và sóng thần đã tăng cao hơn 10.000. Gần nửa triệu người mất nhà. 850.000 nhà mất điện, và 1,5 triệu gia đình không có nước. Trong vùng động đất, thực phẩm thiếu hụt và xăng nhớt cạn kiệt.
Đối diện với những khó khăn, các nạn nhân đã chứng tỏ một tinh thần khắc kỷ đáng nể. Dù cho các nỗ lực cứu trợ đã không trơn tru, rầy rà vì thiếu thông tin và vận tải, nhưng các nạn nhân không phàn nàn. Họ kiên nhẫn chờ đợi trong trật tự để nhận nước, thức ăn, khí đốt, chăn mền, hoặc bất cứ những gì được cấp phát.
Tại Sendai, một thành phố mà một nửa dân số không có điện nước, một hàng người đứng đợi ngòai trời tuyết bên ngoài một cửa hàng mở cửa lần đầu sau trận động đất. "Tôi chờ để mua thức ăn và nước," là lời của Yuta Okada, một thanh niên trẻ vừa đứng vào cuối hàng. "Tôi lo lắng vì các nhân viên nói rằng họ không có đủ cho mọi người. Tất cả tôi có thể làm là nhẫn nại chờ xem."
Ở phố Fukushima, cách nhà máy điện Fukushima khoảng 25km, ông Hà Minh Thành, một cảnh sát Nhật gốc Việt, đã kể lại chuyện một em bé 9 tuổi cô đơn đứng ở cuối hàng phát thực phẩm. Động lòng thương ông đã khóac cho em tấm áo và nhường cho em khẩu phần của mình. Trước con mắt ngạc nhiên của ông, em khom mình cám ơn rồi mang khẩu phần đó đặt vào thùng thực phẩm chung và quay lại chỗ cuối hàng tiếp tục chờ đợi. Em nói với ông: "Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng".
Các ký giả ngọai quốc từng săn tin các thảm họa trên thế giới đã ngạc nhiên khi không thấy có tin tức về cướp bóc, dù cho các cửa hàng không có nhân viên bảo vệ. Trong một xã hội mà quyền lợi tập thể được coi trọng hơn những ước muốn cá nhân, theo lời giáo sư Nakano, "thì có một tinh thần tôn trọng trật tự, sẵn lòng tuân thủ các quy định và không gây ra khó khăn cho người khác. Thật là một tinh thần rất hữu ích trong những tình huống như thế này.."
Nhiệm vụ xây dựng lại những thị trấn bị tàn phá sẽ khó khăn, và có thể chi phí sẽ lên đến 185 tỷ đô la theo ước tính của hãng Barclays Capital. Ngay cả với một nước Nhật Bản có quyết tâm và có nhiều gắn bó xã hội, vẫn có thể cần tới nhiều năm.
Những thảm họa ở các nơi khác như New Orleans chẳng hạn, sau cơn bão Katrina 5 năm rưỡi mà vẫn còn nhiều khu phố chưa xây dựng lại được. Mười năm sau cơn bão Andrew ở miền Đông Nam Hoa Kỳ năm 1992, công việc phục hồi vẫn còn chưa kết thúc.
Tuy nhiên, không thể áp dụng những đo lường từ những thảm họa thiên nhiên ở nơi khác cho Nhật Bản, vì đây là nơi đầu tiên phải đối diện với ba cuộc khủng hoảng cùng một lúc: sóng thần, động đất, và nguy cơ nguyên tử. "Chúng ta chưa bao giờ có một trường hợp như thế này," theo lời ông David Neal, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu thiên tai và những sự cố khắc nghiệt tại Oklahoma State University.
Duy chỉ một việc làm sạch cơ sở hạt nhân Fukushima sẽ là một nhiệm vụ ghê gớm. Ngay cả khi tình hình ổn định, ít nhất là có ba trong số sáu lò phản ứng tại cơ sở đã bị hư. Nếu người Nhật quyết định dỡ bỏ các đơn vị hư hỏng, thì dựa trên bài học của Three Mile Island, Pennsylvania, có thể sẽ cần đến hai năm. "Ngừng hoạt động là một công việc rất, rất lớn", theo ông Charles Forsberg, một chuyên gia hạt nhân tại MIT (Học viện Công nghệ Massachusetts) ở Cambridge, Mass "Nó giống như là xây dựng một lò phản ứng mới vậy."
Người Nhật cũng sẽ phải đối diện với sự gián đoạn kinh tế. Tất cả các hãng xe lớn đã tạm thời đóng cửa, một phần vì thiếu bộ phận từ các nhà máy bị hư hỏng ở miền bắc. Nhiều nhà máy điện tử trong khu vực động đất cũng đình chỉ hoạt động. Những hải cảng miền đông bắc Nhật Bản đều bị thiệt hại, và nhiều công ty nước ngoài và trong nước đã ngưng việc kinh doanh vì công nhân bỏ chạy trước nguy cơ phóng xạ.
Tuy nhiên, nhiều kinh tế gia hy vọng rằng những thiệt hại có ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung sẽ chỉ là tối thiểu. "Tác động trực tiếp của thiên tai trên nền kinh tế là rất hạn chế", theo ông Martin Schulz, một nhà phân tích tại Viện Nghiên cứu Fujitsu tại Tokyo. Đổ đồng, Nhật mất đi một nhà máy thép, hai nhà máy lọc dầu, và một số nhà máy khác bị suy giảm. Nhưng khu vực động đất và sóng thần chỉ có ảnh hưởng tới 6 % của nền kinh tế. Các vành đai công nghiệp lớn ở miền trung và miền nam Nhật Bản vẫn còn nguyên vẹn, và mặc dù nhiều nhà máy vẫn còn đóng cửa, họ có thể mở lại ngay khi giao thông được phục hồi.
Trong trận động đất Kobe trước đây, cũng có nhiều thiệt hại như lần này nhưng "đã không gây ra thậm chí là một đốm sáng trên các số liệu thống kê kinh tế," ông Schulz nhớ lại, và ông ta nghĩ sự suy giảm tốc độ tăng trưởng sẽ rất nhỏ nhoi (marginal drop,) cho năm nay, sẽ vẫn nằm ở số 1.5% như những dự đoán trước thiên tai. Năm tới nhiều đầu tư lớn để xây dựng lại nhà cửa, cầu cống, đường xá, và đường sắt sẽ có thể thúc đẩy tăng trưởng GDP lên chút ít.
Trên mặt trận chính trị, chính phủ cách đây vài tuần đã có nguy cơ xụp đổ, nay được hưởng lợi nhờ nhửng tham gia đi kèm với tình trạng khẩn cấp quốc gia. Và dù cho có nhiều chỉ trích mạnh mẽ xung quanh vấn đề hạt nhân và sự chậm trễ đưa hàng cứu trợ lên miền bắc, cuộc khủng hoảng quốc gia này đã cung cấp một cơ hội cho các nhà lãnh đạo để tập hợp quốc gia, và cải thiện cơ may của chính mình, dĩ nhiên là nếu chính phủ không thực hành đúng đắn thì rủi ro sẽ tăng lên. "Nhờ cuộc khủng hoảng, các đảng đối lập không thể chỉ trích chính phủ, và trong thời gian này thì điều đó đã giải cứu chính phủ", Eisuke Sakakibara, cựu bộ trưởng tài chính, cho biết.
Chính phủ đã phản ứng hợp lý, theo ý kiến của nhiều chuyên gia chính trị, và những công dân bình thường đang bận tâm với những vấn đề cá nhân không còn quan tâm nhiều đến chính trị. Nhắc lại những năm trước đây dân chúng đã không hài lòng cách sâu sắc với nhiều chính phủ kế tiếp nhau: Nhật Bản đã có 5 thủ tướng trong 5 năm. Đã có chút hy vọng khi cử tri bỏ phiếu lọai Đảng Dân chủ Tự Do trong năm 2009 (sau khi đảng này cầm quyền một nửa thế kỷ) nhưng rồi hy vọng cũng đã bị tiêu tan khi tỷ số được lòng dân của ông Kan đã giảm xuống dưới 20 phần trăm trước trận động đất ",nhưng sự việc này (Thiên tai) có thể thực sự khởi động lại một cái gì đó," ông Schulz nói.
Chuyển động mới trên chính trường có thể bắt đầu, ông nói, nếu cử tri đổ lỗi cho Công ty Điện lực Tokyo vì những tai nạn hạt nhân. Là một cơ chế quan liêu cổ điển bí mật và là sở hữu chủ nhà máy nguyên tử Fukushima, sự giận dữ của công chúng đòi hỏi sự minh bạch trong cơ chế "sẽ gây ra những thay đổi lớn," ông Schulz tin tưởng.
Một cách sâu xa hơn, một số nhà quan sát nhìn thấy một cơ hội ở chỗ các nỗ lực phục hồi sẽ khích lệ một xã hội dường như bị sa lầy trong sự nghi ngờ bản thân sau khi đã đạt được nhiều điều kỳ diệu sau chiến tranh. Một mặt, nó có thể làm sống lại hình ảnh truyền thống của người dân Nhật, tóm gọn trong câu tâm niệm của quốc gia, đó là đất nước là một quần đảo nhỏ với rất ít tài nguyên mà luôn phải đối phó với các lực lượng thù địch từ bên ngoài.
Đồng thời, người dân đã rất phấn khởi với các làn sóng cảm thông đến từ bên ngòai thế giới. Không giống như hồi năm 1995, khi chính quyền từ chối sự trợ giúp của các nước ngoài sau trận động đất Kobe. Tokyo ngày nay đang đón tiếp viện trợ, yêu cầu quân đội Mỹ và Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế phụ giúp.
Phản ứng của quốc tế "đã nhắc nhở chúng tôi rằng chúng tôi vẫn được coi là quan trọng và rằng mọi người vẫn quan tâm đến chúng tôi ngay cả khi chính người Nhật chúng tôi có cảm giác không an toàn về vị thế quốc tế của chúng tôi", ông Nakano nói.
Đồng tình với ông, ông Michael Green, một nhà phân tích châu Á tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế ở Washington thêm rằng những thảm họa "đang xây dựng lại sự tự tin trên những khía cạnh văn hóa và xã hội cốt lõi của Nhật Bản."
Nhật Bản có thể đã mất đi sự năng động từng là sức bật cho sự tăng trưởng bất thường trong hậu bán thế kỷ 20, nhưng nước Nhật là một quốc gia còn đủ năng lực để phục hồi từ các thảm họa vừa qua miễn là một thảm họa hạt nhân mới có thể tránh khỏi. Nhật là một trong những nước giàu nhất thế giới, với một lực lượng lao động được đào tạo tốt nhất và tài năng nhất và có một cơ chế quốc gia vững mạnh. Nhật Bản rõ ràng không phải là Haiti. Hậu thuẫn cho những sức mạnh đó là cảm xúc hiện tại của những người dân đã mất tất cả mọi thứ và không có cách nào khác hơn là "bắt đầu trong một đất nước tan vỡ", như Giáo sư Dower mô tả nhiệm vụ của quốc gia Nhật vào năm 1945.
Trong một làng nhỏ ven biển của vùng Yamamoto, người quản lý của một cửa hàng nông nghiệp, ông Toshiyo Shishido, đang điều khiển các nhân viên dọn dẹp đống gạch vụn, cây cối, và bùn lầy che lấp lối đi và cửa hàng. Ông lo lắng rằng có thể phải mất hàng tháng trước khi ông có thể kinh doanh trở lại. "Nhưng chúng tôi phải xây dựng lại," ông nói. "Đây là nhiệm vụ của những người còn sống sót."

