Bình Luận Thời Sự
Thế giới lo lắng cùng Nhật Bản
Ngô Nhân Dụng
Thế giới xúc động trước ba thảm kịch đến với người Nhật: Động đất, sóng thần tsunami, rồi phóng xạ nguyên tử đang đe dọa. Nhưng không ai nói mình thương hại dân Nhật; như trước đây nghe tin động đất ở Haiti hoặc bão lụt ở Miến Điện. Nhật Bản là một dân tộc được kính trọng, không chờ đợi được ai mở lòng thương hại. Họ sẽ cắn răng nhẫn nhục, đứng dậy ngay để xây dựng lại giữa cảnh tàn phá. Trong tinh thần kỷ luật, đức tự tin, chia sẻ, đùm bọc nhau, và trên dưới một lòng.
Cũng giống như năm 1945, người Nhật đã cho cả thế giới thấy câu “không lấy thành bại mà luận anh hùng” rất đúng. Chưa đầy dăm bẩy năm sau khi thua trận, vua và dân nước Nhật đã nghiêm chỉnh thi hành bản hiến pháp dân chủ hóa, xó bỏ chế độ quân chủ cổ truyền. Xe Honda bắt đầu được xuất cảng. Akira Kurosawa lại làm phim khiến cả thế giới kinh ngạc; Kawabata vẫn ngồi viết những tiểu thuyết rồi được tặng Giải Nobel.
Bây giờ, Nhật Bản lo sẽ gặp rất nhiều khó khăn kinh tế trong vài năm sắp tới. Nhưng cả thế giới cũng lo ngại. Vì khi guồng máy cường quốc kinh tế thứ ba này tạm ngưng chạy một thời gian thì kinh tế toàn cầu sẽ bị ngưng trệ. Trong bài này chúng tôi sẽ chú ý đến những mối lo lắng đó.
Mối lo biểu lộ qua thị trường chứng khoán: Chỉ số Nikkei của thị trường Tokyo ngày Thứ Hai mở ra lần đầu sau trận động đất đã mất hơn 6%, ngày hôm sau lại tụt giảm hơn 10% khi nghe tin về phóng xạ nguyên tử. Trong hai ngày thị trường Tokyo đã xóa đi khoảng 620 tỷ đô la Mỹ tổng cộng giá trị cổ phần của các công ty, lớn hơn 6 lần Tổng sản lượng nội địa của Việt Nam trong năm 2010.
Ảnh hưởng trên thế giới thấy rõ ràng khi giá dầu lửa sụt giảm. Giá xuống 97 đô la một thùng, mà tuần trước có lúc đã lên tới 105 đô la Mỹ. Cùng với dầu lửa, các kim loại như vàng, bạc, đồng đều xuống giá vì mọi người chờ đợi các xí nghiệp sẽ bớt hoạt động và người ta bớt tiêu thụ ở khắp nơi. Các thị trường Thượng Hải ở Trung Quốc, Hang Seng ở Hồng Kông, DAX ở Đức đều xuống từ một rưỡi đến 3%. Tại Mỹ, Chỉ số Dow Jones mất 51 điểm trong ngày Thứ Hai, sáng Thứ Ba khi mới mở cửa đã sụt 300 điểm rồi lên lại, sau cùng chỉ mất 138 điểm; trong 2 ngày đã giảm hơn 1%. Chỉ có thị trường Bolsa ở Mexico giảm rất nhẹ, nửa phần trăm.
Hậu quả kinh tế trực tiếp, tính trên những thiệt hại vật chất do sự tàn phá của động đất và sóng thần sẽ lên tới 73 tỷ mỹ kim. Cộng thêm những thiệt hại do các tai họa trên gây ra vì hoạt động kinh tế cả nước Nhật bị ngưng trệ thì tổng số có thể lên tới 183 tỷ mỹ kim, bằng hơn 3% GDP nước Nhật. Có thể so sánh với với trận động đất ở Kobe trước đây, khi đó tổng số thiệt hại kinh tế vào khoảng 100 tỷ. (Trận bão Katrina ở Mỹ đã gây thiệt hại kinh tế khoảng 45 tỷ đô la, nhưng chỉ bằng 3 phần mười của một trăm GDP của Mỹ). Kobe là một hải cảng nằm tại trung tâm các vùng công nghiệp của Nhật Bản cho nên ảnh hưởng trên thiệt hại kinh tế rất nặng trong khi lần này động đất xẩy ra tại Fukushima, một vùng chỉ đóng góp khoảng 6% vào Tổng sản lượng nội địa Nhật Bản. Tuy nhiên, số thiệt hại về nhân mạng lớn hơn lần trước: Năm 1995 động đất ở Kobe làm chết 6,000 người; lần này đã kể tới con số 10 ngàn người chết và hàng chục ngàn người khác mất tích, với nửa triệu người mất nhà cửa.
Ngay sau khi có tin động đất, giới đầu tư quốc tế đã “bỏ chạy” khỏi thị trường Nhật Bản vì biết kinh tế nước này sẽ giảm sụt tức khắc. Nhiều người rút tiền ra, bán các chứng khoán rồi đua nhau đổi đồng yên lấy đô la Mỹ, khiến cho giá đồng yen giảm xuống nhanh. Nhưng ngay sau đó, dòng tiên tệ đã đổi chiều. Nước Nhật cần tiền, các công ty và chính phủ Nhật Bản phải rút tiền đầu tư ở nước ngoài về; họ cũng bán các chứng khoán rồi đổi tiền euro hay mỹ kim lấy yên. Giá đồng yen lại tăng lên.
Trước trân động đất này, người Nhật đang giữ trong tay 882 tỷ đô la các trái khoán và công trái của Mỹ, gần 10% tổng số nợ của nước Mỹ. Khi cần tiền người ta đem bán các công trái sớm nhất, vì đó là thứ chứng khoán có thị trường lưu hoạt, tức là dễ bán, bán được nhanh nhất. Năm 1995 sau trận động đất Kobe, các công ty bảo hiểm Nhật Bản đã đem bán công trái ngắn hạn của Mỹ vì họ cần tiền bồi thường các thân chủ. Năm nay, số tiền bồi thường sẽ còn lớn hơn nữa.
Nhiều người có thể lo rằng khi người Nhật đua nhau rút tiền về nước thì giá công trái Mỹ và trái khoán nói chung sẽ sụt giảm. Trong thị trường trái khoán (giấy nợ), khi giá giảm xuống tức là lãi suất thật tự động tăng lên. Nhưng trong ngày hôm qua, điều đáng chú ý là giá các công trái của chính phủ Mỹ lại lên cao; tức là lãi suất, luôn đi ngược chiều, đã giảm. Lý do chính vì thị trường cổ phiếu trên cả thế giới đang tụt xuống. Khi thấy tương lai việc đầu tư vào các cổ phiếu có vẻ ít lời vì kinh tế yếu đi, giới có tiền đã bán bớt cổ phiếu để đi tìm nơi “trú ẩn an toàn.” Và cho tới nay vẫn không món đầu tư nào được coi là an toàn hơn là giấy nợ của chính phủ Mỹ.
Ảnh hưởng của động đất trên nền công nghiệp của nước Nhật sẽ rất nặng, đặc biệt là xe hơi. Những công ty Nhật nổi tiếng như Toyota, Honda, và cả Sony đều phải tạm ngưng sản xuất. Các nhà máy của Toyota, Honda không bị thiệt hại bao nhiêu nhưng hệ thống sản xuất các món đồ để ráp thành chiếc xe hơi bị ngưng trệ. Một chiếc xe hơi cần có từ 20 ngàn đến 25 ngàn món phụ tùng để ráp thành; chỉ cần một phần nhỏ trong số đó ngừng không cung cấp là cả hệ thống phải đứng lại. Các công ty xe hơi Nhật đã phân tản việc sản xuất ra khắp thế giới nên ảnh hưởng được giảm nhẹ. (Thị trường xe hơi ở Mỹ chắc không thấy ảnh hưởng quan trọng, vì các nhà bán xe ở Mỹ thường giữ đủ số xe bán trong 30 ngày. Không ai lo các hãng xe và phụ tùng xe ở Nhật Bản xẽ phải đóng cửa cả tháng).
Nói chung, tài sản của nhiều xí nghiệp và tư nhân Nhật Bản đã bị mất mát nặng. Người ta lo số tiêu thụ vốn rất thấp của dân Nhật sẽ còn giảm nữa. Nhu cầu kích thích kinh tế rất gay gắt. Ngân hàng trung ương Nhật Bản không thể giảm bớt lãi suất nhiều nữa; vì hiện đã ở mức gần số không. Nhưng họ đã phản ứng nhanh chóng bằng cách bơm thêm tiền vào nền kinh tế, qua hệ thống ngân hàng thương mại, để kích thích tiêu thụ và sản xuất. Ngày Thứ Hai họ đã mua 15 ngàn tỷ yen các chứng phiếu ngắn hạn, khoảng 184 tỷ đô la. Ngày Thứ Ba lại đổ thêm 8 ngàn tỷ yen, 98 tỷ đô la nữa, vào thị trường tiền tệ.
Một điều mọi người lo ngại là tinh thần kinh doanh của dân Nhật sẽ bị ảnh hưởng. Vì trước một thiên tai lớn lao, trông thấy con người nhỏ bé trước thiên nhiên, ai cũng sinh lòng dè dặt và e ngại trước các mối rủi ro khác. Một sức mạnh của kinh tế thị trường là óc mạo hiểm của người đầu tư. Nếu người ta sợ rủi ro hơn trước thì công cuộc phục hồi kinh tế sẽ chậm trễ.
Mọi người có thể làm an lòng là trong cơn nguy khó, chính phủ Nhật đã chứng tỏ họ có khả năng đứng mũi chịu sào. Ông Thủ tướng Naoto Kan đã có mặt tại những nơi nguy hiểm và xuất hiện trên ti vi nhiều lần để trấn an dân chúng. Chính phủ của ông đang ở thế yếu, sau khi ông bộ trưởng ngoại giao từ chức vì xì căng đan, và tuần trước ông vẫn bị báo chí cũng như phe đối lập chỉ trích nặng nề. Nhưng khi có động đất thì tất cả người Nhật đã bỏ qua những bất đồng ý kiến để cùng nhau xây dựng lại. Chính phủ Naoto Kan có thể đứng vững thêm nhiều tháng nữa.
Thử thách của ông Kan là việc phục hưng kinh tế; nhưng ông có thể làm nhiều hơn thế nữa. Nhiều người thấy trận động đất mới này có thể là một cơ hội để “câu điện” cho bộ máy Nhật Bản chạy lại (jump-start). Trong khi đó, người lãnh đạo Nhật có thể thay đổi cơ cấu nền kinh tế mà không lo bị các phe nhóm quyền lợi ngăn cản.
Kinh tế Nhật đã trì trệ từ hơn hai chục năm nay, vì cơ cấu nặng nề cổ lỗ. Nước Nhật chỉ chú trọng đến xuất cảng, việc tiêu thụ trong nước bị coi nhẹ. Từ năm 2008 đến nay Nhật Bản vẫn sống trong khung cảnh kinh tế trì trệ, giá cả bị đe dọa với mối nguy giảm phát (khiến mọi người ngưng tiêu thụ để chờ giá xuống sẽ mua); tình trạng lương bổng ngưng không lên (một nguyên do nữa khiến số tiêu thụ giảm) và chính phủ càng ngày càng mang nợ nhiều hơn (số nợ lớn gấp đôi GDP, nhưng may mắn đa số chủ nợ là người Nhật Bản chứ không phải nước ngoài). Các đại công ty, ngân hàng và bộ máy hành chánh của nhà nước cùng lo bảo vệ quyền lợi của nhau, không chịu thay đổi nhanh chóng. Nước Nhật Bản cần những luật lệ mới để kích thích cạnh tranh trong thị trường nội địa, thay đổi các thủ tục hành chánh để giảm bớt quyền giới thư lại, tăng quyền tự do cho giới kinh doanh.
Đối với người Đông phương, các thiên tai thường là điềm xấu, cho thấy những người đang cầm quyền đang làm phật lòng “trời đất.” Năm 1855 một trận động đất lớn xẩy ra trước khi chính quyền Mạc Phủ Tokugawa sụp đổ. Sau trận động đất năm 1923, giới quân phiệt ở Nhật bắt đầu lên, tiến tới giai đoạn xâm lăng xưng bá xưng hùng, rồi gây ra cuộc đại chiến đưa tới bại trận.
Nhưng trong nghề bói toán người ta có thể giải thích các hiện tượng trên theo cách khác. Có thể nói trận động đất năm 1855 thay đổi chính trị để chuẩn bị công cuộc duy tân của thời Minh Trị Thiên Hoàng. Cũng có thể nói trận động đất năm 1923 mở đầu công cuộc kỹ nghệ hóa nước Nhật.
Việc tái thiết nước Nhật sau trận động đất năm nay sau cùng có thể là một cơ hội để đưa nền kinh tế Nhật Bản lên cao, chứ không phải chỉ chịu cảnh tàn phá. Bao nhiêu vốn liếng được hồi hương để đầu tư. Bao nhiêu người sẽ có việc làm thêm vì công việc nhiều quá, riêng việc xây cất không thôi đã đủ kích thích kinh tế hàng chục năm. Thủ tục, luật lệ sẽ phải được nới lỏng cho thị trường chạy nhanh hơn, thay vì phải chờ các bàn giấy nhà nước từ từ cứu xét rồi mới đóng con dấu. Tất cả sẽ thúc đẩy kinh tế lên nhanh. Người Nhật Bản cũng nhìn thấy đây là một cơ hội để thay đổi mạnh và lâu dài.
Nếu ông Thủ tướng Naoto Kan đủ đảm lược ông có thể đưa ra những biện pháp cải tổ mạnh mẽ để thay đổi cơ cấu tài chánh và hành chánh nước Nhật, mở đầu một thời kỳ thịnh vượng mới. Muốn vậy, ông phải vượt qua những chướng ngại do những nhóm có quyền lợi riêng bầy đặt ra, từ hai chục năm nay. Các ngân hàng rất ngần ngại không muốn cải tổ. Giới quan chức thư lại không muốn giảm bớt quyền. Đảng Dân Chủ Tư Do đã nắm quyền nửa thế kỷ từ sau Đại Chiến, họ có những quyền lợi tương đồng với hai giới trên. Ông Naoto Kan phải thuyết phục được dân chúng Nhật để “đổi mới kinh tế!” Vì hơn 20 năm trì trệ kể từ sau trận động đất Kobe đã quá dài. Nếu không thì ông đáng được dân Nhật cho về nghỉ hưu sớm nội trong năm nay.
Ngô Nhân Dụng
Thế giới xúc động trước ba thảm kịch đến với người Nhật: Động đất, sóng thần tsunami, rồi phóng xạ nguyên tử đang đe dọa. Nhưng không ai nói mình thương hại dân Nhật; như trước đây nghe tin động đất ở Haiti hoặc bão lụt ở Miến Điện. Nhật Bản là một dân tộc được kính trọng, không chờ đợi được ai mở lòng thương hại. Họ sẽ cắn răng nhẫn nhục, đứng dậy ngay để xây dựng lại giữa cảnh tàn phá. Trong tinh thần kỷ luật, đức tự tin, chia sẻ, đùm bọc nhau, và trên dưới một lòng.
Cũng giống như năm 1945, người Nhật đã cho cả thế giới thấy câu “không lấy thành bại mà luận anh hùng” rất đúng. Chưa đầy dăm bẩy năm sau khi thua trận, vua và dân nước Nhật đã nghiêm chỉnh thi hành bản hiến pháp dân chủ hóa, xó bỏ chế độ quân chủ cổ truyền. Xe Honda bắt đầu được xuất cảng. Akira Kurosawa lại làm phim khiến cả thế giới kinh ngạc; Kawabata vẫn ngồi viết những tiểu thuyết rồi được tặng Giải Nobel.
Bây giờ, Nhật Bản lo sẽ gặp rất nhiều khó khăn kinh tế trong vài năm sắp tới. Nhưng cả thế giới cũng lo ngại. Vì khi guồng máy cường quốc kinh tế thứ ba này tạm ngưng chạy một thời gian thì kinh tế toàn cầu sẽ bị ngưng trệ. Trong bài này chúng tôi sẽ chú ý đến những mối lo lắng đó.
Mối lo biểu lộ qua thị trường chứng khoán: Chỉ số Nikkei của thị trường Tokyo ngày Thứ Hai mở ra lần đầu sau trận động đất đã mất hơn 6%, ngày hôm sau lại tụt giảm hơn 10% khi nghe tin về phóng xạ nguyên tử. Trong hai ngày thị trường Tokyo đã xóa đi khoảng 620 tỷ đô la Mỹ tổng cộng giá trị cổ phần của các công ty, lớn hơn 6 lần Tổng sản lượng nội địa của Việt Nam trong năm 2010.
Ảnh hưởng trên thế giới thấy rõ ràng khi giá dầu lửa sụt giảm. Giá xuống 97 đô la một thùng, mà tuần trước có lúc đã lên tới 105 đô la Mỹ. Cùng với dầu lửa, các kim loại như vàng, bạc, đồng đều xuống giá vì mọi người chờ đợi các xí nghiệp sẽ bớt hoạt động và người ta bớt tiêu thụ ở khắp nơi. Các thị trường Thượng Hải ở Trung Quốc, Hang Seng ở Hồng Kông, DAX ở Đức đều xuống từ một rưỡi đến 3%. Tại Mỹ, Chỉ số Dow Jones mất 51 điểm trong ngày Thứ Hai, sáng Thứ Ba khi mới mở cửa đã sụt 300 điểm rồi lên lại, sau cùng chỉ mất 138 điểm; trong 2 ngày đã giảm hơn 1%. Chỉ có thị trường Bolsa ở Mexico giảm rất nhẹ, nửa phần trăm.
Hậu quả kinh tế trực tiếp, tính trên những thiệt hại vật chất do sự tàn phá của động đất và sóng thần sẽ lên tới 73 tỷ mỹ kim. Cộng thêm những thiệt hại do các tai họa trên gây ra vì hoạt động kinh tế cả nước Nhật bị ngưng trệ thì tổng số có thể lên tới 183 tỷ mỹ kim, bằng hơn 3% GDP nước Nhật. Có thể so sánh với với trận động đất ở Kobe trước đây, khi đó tổng số thiệt hại kinh tế vào khoảng 100 tỷ. (Trận bão Katrina ở Mỹ đã gây thiệt hại kinh tế khoảng 45 tỷ đô la, nhưng chỉ bằng 3 phần mười của một trăm GDP của Mỹ). Kobe là một hải cảng nằm tại trung tâm các vùng công nghiệp của Nhật Bản cho nên ảnh hưởng trên thiệt hại kinh tế rất nặng trong khi lần này động đất xẩy ra tại Fukushima, một vùng chỉ đóng góp khoảng 6% vào Tổng sản lượng nội địa Nhật Bản. Tuy nhiên, số thiệt hại về nhân mạng lớn hơn lần trước: Năm 1995 động đất ở Kobe làm chết 6,000 người; lần này đã kể tới con số 10 ngàn người chết và hàng chục ngàn người khác mất tích, với nửa triệu người mất nhà cửa.
Ngay sau khi có tin động đất, giới đầu tư quốc tế đã “bỏ chạy” khỏi thị trường Nhật Bản vì biết kinh tế nước này sẽ giảm sụt tức khắc. Nhiều người rút tiền ra, bán các chứng khoán rồi đua nhau đổi đồng yên lấy đô la Mỹ, khiến cho giá đồng yen giảm xuống nhanh. Nhưng ngay sau đó, dòng tiên tệ đã đổi chiều. Nước Nhật cần tiền, các công ty và chính phủ Nhật Bản phải rút tiền đầu tư ở nước ngoài về; họ cũng bán các chứng khoán rồi đổi tiền euro hay mỹ kim lấy yên. Giá đồng yen lại tăng lên.
Trước trân động đất này, người Nhật đang giữ trong tay 882 tỷ đô la các trái khoán và công trái của Mỹ, gần 10% tổng số nợ của nước Mỹ. Khi cần tiền người ta đem bán các công trái sớm nhất, vì đó là thứ chứng khoán có thị trường lưu hoạt, tức là dễ bán, bán được nhanh nhất. Năm 1995 sau trận động đất Kobe, các công ty bảo hiểm Nhật Bản đã đem bán công trái ngắn hạn của Mỹ vì họ cần tiền bồi thường các thân chủ. Năm nay, số tiền bồi thường sẽ còn lớn hơn nữa.
Nhiều người có thể lo rằng khi người Nhật đua nhau rút tiền về nước thì giá công trái Mỹ và trái khoán nói chung sẽ sụt giảm. Trong thị trường trái khoán (giấy nợ), khi giá giảm xuống tức là lãi suất thật tự động tăng lên. Nhưng trong ngày hôm qua, điều đáng chú ý là giá các công trái của chính phủ Mỹ lại lên cao; tức là lãi suất, luôn đi ngược chiều, đã giảm. Lý do chính vì thị trường cổ phiếu trên cả thế giới đang tụt xuống. Khi thấy tương lai việc đầu tư vào các cổ phiếu có vẻ ít lời vì kinh tế yếu đi, giới có tiền đã bán bớt cổ phiếu để đi tìm nơi “trú ẩn an toàn.” Và cho tới nay vẫn không món đầu tư nào được coi là an toàn hơn là giấy nợ của chính phủ Mỹ.
Ảnh hưởng của động đất trên nền công nghiệp của nước Nhật sẽ rất nặng, đặc biệt là xe hơi. Những công ty Nhật nổi tiếng như Toyota, Honda, và cả Sony đều phải tạm ngưng sản xuất. Các nhà máy của Toyota, Honda không bị thiệt hại bao nhiêu nhưng hệ thống sản xuất các món đồ để ráp thành chiếc xe hơi bị ngưng trệ. Một chiếc xe hơi cần có từ 20 ngàn đến 25 ngàn món phụ tùng để ráp thành; chỉ cần một phần nhỏ trong số đó ngừng không cung cấp là cả hệ thống phải đứng lại. Các công ty xe hơi Nhật đã phân tản việc sản xuất ra khắp thế giới nên ảnh hưởng được giảm nhẹ. (Thị trường xe hơi ở Mỹ chắc không thấy ảnh hưởng quan trọng, vì các nhà bán xe ở Mỹ thường giữ đủ số xe bán trong 30 ngày. Không ai lo các hãng xe và phụ tùng xe ở Nhật Bản xẽ phải đóng cửa cả tháng).
Nói chung, tài sản của nhiều xí nghiệp và tư nhân Nhật Bản đã bị mất mát nặng. Người ta lo số tiêu thụ vốn rất thấp của dân Nhật sẽ còn giảm nữa. Nhu cầu kích thích kinh tế rất gay gắt. Ngân hàng trung ương Nhật Bản không thể giảm bớt lãi suất nhiều nữa; vì hiện đã ở mức gần số không. Nhưng họ đã phản ứng nhanh chóng bằng cách bơm thêm tiền vào nền kinh tế, qua hệ thống ngân hàng thương mại, để kích thích tiêu thụ và sản xuất. Ngày Thứ Hai họ đã mua 15 ngàn tỷ yen các chứng phiếu ngắn hạn, khoảng 184 tỷ đô la. Ngày Thứ Ba lại đổ thêm 8 ngàn tỷ yen, 98 tỷ đô la nữa, vào thị trường tiền tệ.
Một điều mọi người lo ngại là tinh thần kinh doanh của dân Nhật sẽ bị ảnh hưởng. Vì trước một thiên tai lớn lao, trông thấy con người nhỏ bé trước thiên nhiên, ai cũng sinh lòng dè dặt và e ngại trước các mối rủi ro khác. Một sức mạnh của kinh tế thị trường là óc mạo hiểm của người đầu tư. Nếu người ta sợ rủi ro hơn trước thì công cuộc phục hồi kinh tế sẽ chậm trễ.
Mọi người có thể làm an lòng là trong cơn nguy khó, chính phủ Nhật đã chứng tỏ họ có khả năng đứng mũi chịu sào. Ông Thủ tướng Naoto Kan đã có mặt tại những nơi nguy hiểm và xuất hiện trên ti vi nhiều lần để trấn an dân chúng. Chính phủ của ông đang ở thế yếu, sau khi ông bộ trưởng ngoại giao từ chức vì xì căng đan, và tuần trước ông vẫn bị báo chí cũng như phe đối lập chỉ trích nặng nề. Nhưng khi có động đất thì tất cả người Nhật đã bỏ qua những bất đồng ý kiến để cùng nhau xây dựng lại. Chính phủ Naoto Kan có thể đứng vững thêm nhiều tháng nữa.
Thử thách của ông Kan là việc phục hưng kinh tế; nhưng ông có thể làm nhiều hơn thế nữa. Nhiều người thấy trận động đất mới này có thể là một cơ hội để “câu điện” cho bộ máy Nhật Bản chạy lại (jump-start). Trong khi đó, người lãnh đạo Nhật có thể thay đổi cơ cấu nền kinh tế mà không lo bị các phe nhóm quyền lợi ngăn cản.
Kinh tế Nhật đã trì trệ từ hơn hai chục năm nay, vì cơ cấu nặng nề cổ lỗ. Nước Nhật chỉ chú trọng đến xuất cảng, việc tiêu thụ trong nước bị coi nhẹ. Từ năm 2008 đến nay Nhật Bản vẫn sống trong khung cảnh kinh tế trì trệ, giá cả bị đe dọa với mối nguy giảm phát (khiến mọi người ngưng tiêu thụ để chờ giá xuống sẽ mua); tình trạng lương bổng ngưng không lên (một nguyên do nữa khiến số tiêu thụ giảm) và chính phủ càng ngày càng mang nợ nhiều hơn (số nợ lớn gấp đôi GDP, nhưng may mắn đa số chủ nợ là người Nhật Bản chứ không phải nước ngoài). Các đại công ty, ngân hàng và bộ máy hành chánh của nhà nước cùng lo bảo vệ quyền lợi của nhau, không chịu thay đổi nhanh chóng. Nước Nhật Bản cần những luật lệ mới để kích thích cạnh tranh trong thị trường nội địa, thay đổi các thủ tục hành chánh để giảm bớt quyền giới thư lại, tăng quyền tự do cho giới kinh doanh.
Đối với người Đông phương, các thiên tai thường là điềm xấu, cho thấy những người đang cầm quyền đang làm phật lòng “trời đất.” Năm 1855 một trận động đất lớn xẩy ra trước khi chính quyền Mạc Phủ Tokugawa sụp đổ. Sau trận động đất năm 1923, giới quân phiệt ở Nhật bắt đầu lên, tiến tới giai đoạn xâm lăng xưng bá xưng hùng, rồi gây ra cuộc đại chiến đưa tới bại trận.
Nhưng trong nghề bói toán người ta có thể giải thích các hiện tượng trên theo cách khác. Có thể nói trận động đất năm 1855 thay đổi chính trị để chuẩn bị công cuộc duy tân của thời Minh Trị Thiên Hoàng. Cũng có thể nói trận động đất năm 1923 mở đầu công cuộc kỹ nghệ hóa nước Nhật.
Việc tái thiết nước Nhật sau trận động đất năm nay sau cùng có thể là một cơ hội để đưa nền kinh tế Nhật Bản lên cao, chứ không phải chỉ chịu cảnh tàn phá. Bao nhiêu vốn liếng được hồi hương để đầu tư. Bao nhiêu người sẽ có việc làm thêm vì công việc nhiều quá, riêng việc xây cất không thôi đã đủ kích thích kinh tế hàng chục năm. Thủ tục, luật lệ sẽ phải được nới lỏng cho thị trường chạy nhanh hơn, thay vì phải chờ các bàn giấy nhà nước từ từ cứu xét rồi mới đóng con dấu. Tất cả sẽ thúc đẩy kinh tế lên nhanh. Người Nhật Bản cũng nhìn thấy đây là một cơ hội để thay đổi mạnh và lâu dài.
Nếu ông Thủ tướng Naoto Kan đủ đảm lược ông có thể đưa ra những biện pháp cải tổ mạnh mẽ để thay đổi cơ cấu tài chánh và hành chánh nước Nhật, mở đầu một thời kỳ thịnh vượng mới. Muốn vậy, ông phải vượt qua những chướng ngại do những nhóm có quyền lợi riêng bầy đặt ra, từ hai chục năm nay. Các ngân hàng rất ngần ngại không muốn cải tổ. Giới quan chức thư lại không muốn giảm bớt quyền. Đảng Dân Chủ Tư Do đã nắm quyền nửa thế kỷ từ sau Đại Chiến, họ có những quyền lợi tương đồng với hai giới trên. Ông Naoto Kan phải thuyết phục được dân chúng Nhật để “đổi mới kinh tế!” Vì hơn 20 năm trì trệ kể từ sau trận động đất Kobe đã quá dài. Nếu không thì ông đáng được dân Nhật cho về nghỉ hưu sớm nội trong năm nay.
Quyền và sử dụng quyền
Ngô Nhân Dụng
Gần đây ở nước ta có rất nhiều người dân chết trong đồn công an. Từ giữa năm 2007 đến nay hơn 20 người đã chết sau khi bị công an bắt giữ; nhiều người được nói là đã tự hủy mình. Khắp thế giới, chính quyền nào cũng phải chịu trách nhiệm về nơi mình giam người. Sơ ý để một người tự tử trong phòng giam là những cơ quan giam giữ bị khiển trách và trừng phạt. Không biết ở Việt Nam hiện nay có theo tục lệ văn minh đó hay không.
Tháng 3 năm nay là một tháng xấu; không chỉ vì lạm phát mà còn vì công an. Trong một tháng 3 năm 2011, ba người Việt Nam bị công an đánh tới chết hoặc “treo cổ tự tử” trong đồn công an. Bắt đầu là ngày 6 tháng 3, ông Nguyễn Lập Phương 46 tuổi tắt thở sau khi bị công an huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) giam giữ 4 ngày vì tình nghi ông ăn trộm cau ở Khu Công Nghiệp Shinec. Ngày 8 tháng 3, ông Trịnh Xuân Tùng, 54 tuổi, đã chết sau khi bị một trung tá công an dùng gậy đánh gẫy cổ, sau khi ông bị bắt ở bến xe Giáp Bát, Hà Nội, trước đó 8 ngày. Ngày 14 tháng 3 năm 2011, ông Ðặng Ngọc Trung, 48 tuổi, xô xát với một phụ nữ trước quan Karaoke ở thị xã Ðồng Xoài (Bình Phước), ông bị bắt, rồi sáng hôm sau thấy chết ở trụ sở công an; họ nói ông Trung tự tử.
Hai nạn nhân đầu tiên đều bị công an đánh đập, trước và trong khi bị giam giữ. Khẩu hiệu của công an Việt Nam là “Ðảng Còn thì Mình Còn.” Nhưng không có dấu hiệu nào chứng tỏ ba nạn nhân trên từng có ý định chống đối nhà nước. Chắc chắn họ không bao giờ tính lật đổ độc quyền chính trị của đảng Cộng Sản Việt Nam. Nghĩa là việc đánh những người này đến chết không hề có lý do chính trị, công an không giết họ vì cần bảo vệ chính quyền “chuyên chế vô sản.” Các hành động sát nhân đó xẩy ra hoàn toàn trong những nghiệp vụ bình thường của các vị “công an nhân dân.” Chính cái vẻ bình thường đó mới thật là điều đáng kinh ngạc. Và đáng lo ngại.
Anh Nguyễn Lập Phương bị bắt ngày 2 tháng 3 năm 2011, 4 ngày sau, công an nói, họ thấy anh “có dấu hiệu bất thường về sức khỏe nên cho đi cấp cứu, lên viện thì chết.”Trong đêm mùng 1 tháng 3, bị bắt giữ tại Khu Công Nghiệp Shinec, anh Nguyễn Lập Phương đã bị những người “bảo vệ” của xí nghiệp này đánh.” Sáng hôm sau, họ đưa anh tới công an xã Thiên. Vì trên người anh Phương có nhiều vết bầm tím, nên công an xã đã đưa anh đến bệnh viện huyện Thủy Nguyên. Các bác sĩ ở đó chứng nhận anh Phương đã “bị chấn thương phần mềm ở mặt, chân tay, đầu gối, sườn sưng tím, không kêu đau bụng, đau đầu hoặc ngực, trạng thái tỉnh táo.” Ngày 6 tháng 3 năm 2011 anh lại được công an huyện đưa vào bệnh vào buổi chiều. Nửa giờ sau, công an xã nhận được tin anh Phương đã tử vong và đã đến báo cho gia đình biết. Anh Nguyễn Trung Trực, em trai nạn nhân cùng người nhà có mặt tại nhà xác bệnh viện Thủy Nguyên, chứng kiến thi thể anh Phương có nhiều vết bầm tím trên 2 tay, dọc hai bên sườn, chân, cằm và ngực bầm tím, hai mi mắt và hai bên tai có vết rách. Các bác sĩ cho biết: “Bệnh nhân Nguyễn Lập Phương được công an huyện đưa vào bệnh viện lúc 15 giờ 30 phút ngày 6 tháng 3 trong tình trạng đã ngưng thở.”
Theo lời thân nhân của Nguyễn Lập Phương thì lối giải thích ông bị tử vong “do suy tim” là vô lý. Họ cả quyết “từ trước đến nay, anh này không hề có bệnh gì.” Ông Hoàng Phú Giảng, phó trưởng công an xã Thiên Hương cũng khẳng định: “Trong thời gian từ sáng đến chiều ngày 2 tháng 3, tại trụ sở công an xã, anh Phương hoàn toàn khỏe mạnh, không có biểu hiện bệnh tật, trừ việc kêu đau ở tay vì bị đánh. Buổi trưa, anh này còn ăn được hai bát cơm đầy do công an xã đem cho.” Nguyễn Lập Phương cao khoảng 1m70, nặng 65 ký, khi làm việc trong tổ bốc vác, anh được các đồng sự coi là người khỏe nhất. Do đó, cái chết của anh chắc vì bị đánh đập trong lúc ở đồn công an huyện.
Sau khi anh Phương qua đời 2 ngày, đến lượt ông Trịnh Xuân Tùng chết, sau khi bị công anh cùng với một nhóm dân phòng đánh đập ở bến xe Giáp Bát, Hà Nội từ 8 ngày trước. Ông Tùng đã bị trung tá công an Nguyễn Văn Ninh dùng gậy đánh vào cổ.
Theo lời tường thuật của thân nhân thì trưa ngày 28 tháng 2, 2011, ông Tùng thuê xe ôm đi đến bến xe Giáp Bát đón xe lên đường vào Nam. Khi gần tới bến xe, ông xin người lái xe ôm dừng lại, ông cởi mũ an toàn ra để gọi điện thoại cho một người bạn. Trung Tá Nguyễn Văn Ninh (Công an phường Thịnh Liệt, Hoàng Mai) thấy ông Tùng không đội mũ an toàn bèn đòi phạt người lái xe, bắt xe, đưa về phường Thịnh Liệt và hẹn chiều sẽ giải quyết. Khi hai người trở lại để “giải quyết,” anh lái xe không chịu nhận lỗi. Hai bên cãi nhau, Trung Tá Ninh đã túm cổ người lái xe, cho nên ông Tùng can ngăn, gỡ tay ông ta ra khỏi cổ người lái xe ôm; từ đó đưa tới giằng co. Sau đó viên trung tá công an đòi 150 ngàn đồng tiền phạt (khoảng 10 đô la Mỹ), nhưng ông Tùng chỉ chịu nộp 100 ngàn đồng thôi. Cuộc mặc cả đưa tới cãi cọ, xô xát; ba cán bộ về trật tự trong bến xe cũng tới đánh ông Tùng. Trung Tá Ninh đã dùng gậy đánh vào đầu và cổ ông Tùng, xích ông vào gốc cây, rồi giải về phường với lý do đã chống người thi hành công vụ.
Năm giờ chiều, gia đình ông Tùng tới trụ sở công an phường Thịnh Liệt thăm, thấy ông quá yếu, đã bị liệt nửa người, nên xin cho đưa ông đi bệnh viện, nhưng bị từ chối. Công an nói họ “không có thời gian để giải quyết vụ việc này.” Ông Trịnh Xuân Tùng tiếp tục bị còng, cho tới 9 giờ 30 tối mới được cho đi tới bệnh viện Bạch Mai, hai tay vẫn bị còng. Vì tình trạng nguy kịch, ông Tùng được đưa tới bệnh viện Việt Ðức. Ông đã qua đời ngày 8 tháng 3, 2011, mười ngày sau khi bị đánh vào đầu và cổ.
Cuối cùng người Việt Nam nào cũng phải tự hỏi: Có cách nào cho những vụ đánh chết người đó không tái diễn nữa? Ðể trả lời câu hỏi này,chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân vì sao những người gác Khu Công Nghiệp Shinec và công an huyện Thủy Nguyên lại đánh chết ông Nguyễn Lập Phương chỉ vì trộm mấy buồng cau? Vì đâu Trung tá công an Nguyễn Văn Ninh lại đánh ông Trịnh Xuân Tùng đến nỗi chết chỉ vì nghi đã đi xe gắn máy không đội mũ an toàn? Người Việt Nam nào cũng phải tìm hiểu căn nguyên những cái chết này.
Không nên giải thích rằng lý do chính là tính tình các ông công an này nóng nẩy, cục cằn. Ðổ tội cho tính vũ phu, tàn ác của những cá nhân thì không chấp nhận được. Có người sẽ chua chát nói rằng mạng sống dân ta rẻ lắm, ai cũng giết người khác dễ dàng chỉ vì những vụ cãi nhau, đánh nhau. Nhưng đây không phải là chuyện giết nhau giữa những người dân thường. Nhũng vụ đánh chết người này xẩy ra trong mối quan hệ giữa các nhân viên công lực đang làm việc với một người dân (mà các vị công bộc này có nhiệm vụ bảo vệ). Chắc chắn đây không phải là những tranh chấp riêng tư.
Cuối cùng, chúng ta phải vượt trên phạm vi cá nhân mà đi tìm đến “lỗi hệ thống!” Ðó một từ thông dụng bây giờ, từ khi được ông Nguyễn Văn An nhắc đi nhắc lại nhiều lần, và lại được cô Song Chi ghi nhớ. Nhìn tới cả hệ thống, ta cần hiểu vì sao có các vị công an lại ra tay đánh chết người dân chỉ vì những cái lỗi nhỏ nhoi như cái mũ an toàn, giờ quen gọi là mũ bảo hiểm; hoặc vì một vụ trộm cau.
Rất nhiều người sẽ lên án cả chế độ chính trị đã tạo ra những người công an như ông Nguyễn Văn Ninh và các ông ở Thủy Nguyên. Nhưng chế độ chính trị đó như thế nào, nó làm cái gì mà gây ra những vụ đánh chết người này?
Chắc chắn không một hệ thống chính trị nào lại cho phép cảnh sát, công an đánh chết người chỉ vì phạm luật đi đường hay đi ăn trộm vặt. Không có đạo luật giao thông nào nói rằng nếu người dân cãi lời, đôi co to tiếng với cảnh sát, hoặc dám mặc cả giá tiền phạt với công an, thì nhân viên công lực được quyền đánh cho hắn gẫy cổ, chết bỏ. Tàn bạo như chế độ của các ông Hitler, Stalin hay các ông Mao Trạch Ðông chắc cũng không thiết lập những định chế cho phép công an giết dân dễ dàng như vậy.
Thế thì cái gì trong hệ thống chính trị ở nước ta đã đưa tới những vụ công an giết dân?
Như ai đã nghe chuyện đều biết, Trung Tá Nguyễn Văn Ninh đã gây ra cái chết của ông Tùng khi đang thi hành quyền của một người cảnh sát. Ông có trách nhiệm bảo đảm rằng luật lệ về giao thông được dân chúng tuân thủ. Công an Thủy Nguyên gây ra cái chết của ông Phương trong khi thi hành quyền giam giữ một người, để bảo vệ tài sản của các công dân khác. Những người công an trên biết rằng họ đang thi hành quyền bắt người, do nhà nước giao cho; họ là những người được ủy nhiệm. Họ tin rằng nhà nước mà họ đại diện đã được xã hội ủy nhiệm các quyền đó, để bảo vệ trật tự, an ninh. Các ông công an đã giết người khi nhân danh cả chuỗi những sự ủy nhiệm này. Tất cả các xã hội loài người đều ủy nhiệm những quyền bảo vệ an ninh, trật tự cho nhà nước.
Tất cả các guồng máy nhà nước đều ủy nhiệm cho cảnh sát công an làm những công việc bắt người vi phạm luật để đưa ra tòa án. Ở Việt Nam cũng như ở Bắc Phi. Ngày 17 tháng 12, tại nước Tunisia một sinh viên tốt nghiệp nhưng không có việc làm, anh Mohamed Bouazizi, 26 tuổi, bị một chị công an 45 tuổi tát tai, bắt về bóp, sau khi cãi nhau về tội anh đẩy xe bán rau không giấy phép. Ngày 4 tháng 1, 2011, anh Bouazizi chịu nhục nhà không nổi, đổ xăng tự thiêu. Ngày 6 tháng 6 năm 2010, tại Ai Cập, anh Khaled Said, 28 tuổi, bị công an đánh chết. Hai cái chết đó đưa tới những cuộc nổi dậy lật đổ chế độ độc tài ở hai quốc gia này, rồi lan ra các nước Á Rập khác.
Tại sao ở các nước văn minh chúng ta không thấy cảnh công an giết chết người một cách dễ dàng như ở Tunisia, Ai Cập, và ở nước ta? Chúng ta cần suy nghĩ đến vấn đề Quyền và sử dụng Quyền trong xã hội.
Bao nhiêu người dân Hà Nội đã tới dự đám tang của ông Trịnh Xuân Tùng dù không quen biết. Trong lòng nhiều người chắc cũng phải suy nghĩ về những câu hỏi này: Người dân ủy nhiệm cho nhà nước những quyền nào? Những quyền hành đó có giới hạn hay không? Có định chế nào bảo đảm rằng những giới hạn này được tôn trọng hay không? Tất cả những câu hỏi đó là để trả lời tại sao anh Tùng bị đánh chết. Người dân Hà Nội đã có ai đưa các câu hỏi trên ra thảo luận trước công chúng, trên các mạng lưới hay chưa?
Một bài thơ của Quang Dũng viết về Người Hà Nội kết thúc với hai câu thơ:
“Hàng Gai tay bỏng trục ba càng.
Ðất cũ Thăng Long người lẫm liệt.”
Con người Thăng Long lẫm liệt, không phải chỉ vì biết ôm súng chống ngoại xâm. Con người lẫm liệt phải đặt ra những câu hỏi căn bản về cuộc sống của xã hội mình: Tại sao chúng tôi phải sống mãi như thế này?
Ngô Nhân Dụng
Gần đây ở nước ta có rất nhiều người dân chết trong đồn công an. Từ giữa năm 2007 đến nay hơn 20 người đã chết sau khi bị công an bắt giữ; nhiều người được nói là đã tự hủy mình. Khắp thế giới, chính quyền nào cũng phải chịu trách nhiệm về nơi mình giam người. Sơ ý để một người tự tử trong phòng giam là những cơ quan giam giữ bị khiển trách và trừng phạt. Không biết ở Việt Nam hiện nay có theo tục lệ văn minh đó hay không.
Tháng 3 năm nay là một tháng xấu; không chỉ vì lạm phát mà còn vì công an. Trong một tháng 3 năm 2011, ba người Việt Nam bị công an đánh tới chết hoặc “treo cổ tự tử” trong đồn công an. Bắt đầu là ngày 6 tháng 3, ông Nguyễn Lập Phương 46 tuổi tắt thở sau khi bị công an huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) giam giữ 4 ngày vì tình nghi ông ăn trộm cau ở Khu Công Nghiệp Shinec. Ngày 8 tháng 3, ông Trịnh Xuân Tùng, 54 tuổi, đã chết sau khi bị một trung tá công an dùng gậy đánh gẫy cổ, sau khi ông bị bắt ở bến xe Giáp Bát, Hà Nội, trước đó 8 ngày. Ngày 14 tháng 3 năm 2011, ông Ðặng Ngọc Trung, 48 tuổi, xô xát với một phụ nữ trước quan Karaoke ở thị xã Ðồng Xoài (Bình Phước), ông bị bắt, rồi sáng hôm sau thấy chết ở trụ sở công an; họ nói ông Trung tự tử.
Hai nạn nhân đầu tiên đều bị công an đánh đập, trước và trong khi bị giam giữ. Khẩu hiệu của công an Việt Nam là “Ðảng Còn thì Mình Còn.” Nhưng không có dấu hiệu nào chứng tỏ ba nạn nhân trên từng có ý định chống đối nhà nước. Chắc chắn họ không bao giờ tính lật đổ độc quyền chính trị của đảng Cộng Sản Việt Nam. Nghĩa là việc đánh những người này đến chết không hề có lý do chính trị, công an không giết họ vì cần bảo vệ chính quyền “chuyên chế vô sản.” Các hành động sát nhân đó xẩy ra hoàn toàn trong những nghiệp vụ bình thường của các vị “công an nhân dân.” Chính cái vẻ bình thường đó mới thật là điều đáng kinh ngạc. Và đáng lo ngại.
Anh Nguyễn Lập Phương bị bắt ngày 2 tháng 3 năm 2011, 4 ngày sau, công an nói, họ thấy anh “có dấu hiệu bất thường về sức khỏe nên cho đi cấp cứu, lên viện thì chết.”Trong đêm mùng 1 tháng 3, bị bắt giữ tại Khu Công Nghiệp Shinec, anh Nguyễn Lập Phương đã bị những người “bảo vệ” của xí nghiệp này đánh.” Sáng hôm sau, họ đưa anh tới công an xã Thiên. Vì trên người anh Phương có nhiều vết bầm tím, nên công an xã đã đưa anh đến bệnh viện huyện Thủy Nguyên. Các bác sĩ ở đó chứng nhận anh Phương đã “bị chấn thương phần mềm ở mặt, chân tay, đầu gối, sườn sưng tím, không kêu đau bụng, đau đầu hoặc ngực, trạng thái tỉnh táo.” Ngày 6 tháng 3 năm 2011 anh lại được công an huyện đưa vào bệnh vào buổi chiều. Nửa giờ sau, công an xã nhận được tin anh Phương đã tử vong và đã đến báo cho gia đình biết. Anh Nguyễn Trung Trực, em trai nạn nhân cùng người nhà có mặt tại nhà xác bệnh viện Thủy Nguyên, chứng kiến thi thể anh Phương có nhiều vết bầm tím trên 2 tay, dọc hai bên sườn, chân, cằm và ngực bầm tím, hai mi mắt và hai bên tai có vết rách. Các bác sĩ cho biết: “Bệnh nhân Nguyễn Lập Phương được công an huyện đưa vào bệnh viện lúc 15 giờ 30 phút ngày 6 tháng 3 trong tình trạng đã ngưng thở.”
Theo lời thân nhân của Nguyễn Lập Phương thì lối giải thích ông bị tử vong “do suy tim” là vô lý. Họ cả quyết “từ trước đến nay, anh này không hề có bệnh gì.” Ông Hoàng Phú Giảng, phó trưởng công an xã Thiên Hương cũng khẳng định: “Trong thời gian từ sáng đến chiều ngày 2 tháng 3, tại trụ sở công an xã, anh Phương hoàn toàn khỏe mạnh, không có biểu hiện bệnh tật, trừ việc kêu đau ở tay vì bị đánh. Buổi trưa, anh này còn ăn được hai bát cơm đầy do công an xã đem cho.” Nguyễn Lập Phương cao khoảng 1m70, nặng 65 ký, khi làm việc trong tổ bốc vác, anh được các đồng sự coi là người khỏe nhất. Do đó, cái chết của anh chắc vì bị đánh đập trong lúc ở đồn công an huyện.
Sau khi anh Phương qua đời 2 ngày, đến lượt ông Trịnh Xuân Tùng chết, sau khi bị công anh cùng với một nhóm dân phòng đánh đập ở bến xe Giáp Bát, Hà Nội từ 8 ngày trước. Ông Tùng đã bị trung tá công an Nguyễn Văn Ninh dùng gậy đánh vào cổ.
Theo lời tường thuật của thân nhân thì trưa ngày 28 tháng 2, 2011, ông Tùng thuê xe ôm đi đến bến xe Giáp Bát đón xe lên đường vào Nam. Khi gần tới bến xe, ông xin người lái xe ôm dừng lại, ông cởi mũ an toàn ra để gọi điện thoại cho một người bạn. Trung Tá Nguyễn Văn Ninh (Công an phường Thịnh Liệt, Hoàng Mai) thấy ông Tùng không đội mũ an toàn bèn đòi phạt người lái xe, bắt xe, đưa về phường Thịnh Liệt và hẹn chiều sẽ giải quyết. Khi hai người trở lại để “giải quyết,” anh lái xe không chịu nhận lỗi. Hai bên cãi nhau, Trung Tá Ninh đã túm cổ người lái xe, cho nên ông Tùng can ngăn, gỡ tay ông ta ra khỏi cổ người lái xe ôm; từ đó đưa tới giằng co. Sau đó viên trung tá công an đòi 150 ngàn đồng tiền phạt (khoảng 10 đô la Mỹ), nhưng ông Tùng chỉ chịu nộp 100 ngàn đồng thôi. Cuộc mặc cả đưa tới cãi cọ, xô xát; ba cán bộ về trật tự trong bến xe cũng tới đánh ông Tùng. Trung Tá Ninh đã dùng gậy đánh vào đầu và cổ ông Tùng, xích ông vào gốc cây, rồi giải về phường với lý do đã chống người thi hành công vụ.
Năm giờ chiều, gia đình ông Tùng tới trụ sở công an phường Thịnh Liệt thăm, thấy ông quá yếu, đã bị liệt nửa người, nên xin cho đưa ông đi bệnh viện, nhưng bị từ chối. Công an nói họ “không có thời gian để giải quyết vụ việc này.” Ông Trịnh Xuân Tùng tiếp tục bị còng, cho tới 9 giờ 30 tối mới được cho đi tới bệnh viện Bạch Mai, hai tay vẫn bị còng. Vì tình trạng nguy kịch, ông Tùng được đưa tới bệnh viện Việt Ðức. Ông đã qua đời ngày 8 tháng 3, 2011, mười ngày sau khi bị đánh vào đầu và cổ.
Cuối cùng người Việt Nam nào cũng phải tự hỏi: Có cách nào cho những vụ đánh chết người đó không tái diễn nữa? Ðể trả lời câu hỏi này,chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân vì sao những người gác Khu Công Nghiệp Shinec và công an huyện Thủy Nguyên lại đánh chết ông Nguyễn Lập Phương chỉ vì trộm mấy buồng cau? Vì đâu Trung tá công an Nguyễn Văn Ninh lại đánh ông Trịnh Xuân Tùng đến nỗi chết chỉ vì nghi đã đi xe gắn máy không đội mũ an toàn? Người Việt Nam nào cũng phải tìm hiểu căn nguyên những cái chết này.
Không nên giải thích rằng lý do chính là tính tình các ông công an này nóng nẩy, cục cằn. Ðổ tội cho tính vũ phu, tàn ác của những cá nhân thì không chấp nhận được. Có người sẽ chua chát nói rằng mạng sống dân ta rẻ lắm, ai cũng giết người khác dễ dàng chỉ vì những vụ cãi nhau, đánh nhau. Nhưng đây không phải là chuyện giết nhau giữa những người dân thường. Nhũng vụ đánh chết người này xẩy ra trong mối quan hệ giữa các nhân viên công lực đang làm việc với một người dân (mà các vị công bộc này có nhiệm vụ bảo vệ). Chắc chắn đây không phải là những tranh chấp riêng tư.
Cuối cùng, chúng ta phải vượt trên phạm vi cá nhân mà đi tìm đến “lỗi hệ thống!” Ðó một từ thông dụng bây giờ, từ khi được ông Nguyễn Văn An nhắc đi nhắc lại nhiều lần, và lại được cô Song Chi ghi nhớ. Nhìn tới cả hệ thống, ta cần hiểu vì sao có các vị công an lại ra tay đánh chết người dân chỉ vì những cái lỗi nhỏ nhoi như cái mũ an toàn, giờ quen gọi là mũ bảo hiểm; hoặc vì một vụ trộm cau.
Rất nhiều người sẽ lên án cả chế độ chính trị đã tạo ra những người công an như ông Nguyễn Văn Ninh và các ông ở Thủy Nguyên. Nhưng chế độ chính trị đó như thế nào, nó làm cái gì mà gây ra những vụ đánh chết người này?
Chắc chắn không một hệ thống chính trị nào lại cho phép cảnh sát, công an đánh chết người chỉ vì phạm luật đi đường hay đi ăn trộm vặt. Không có đạo luật giao thông nào nói rằng nếu người dân cãi lời, đôi co to tiếng với cảnh sát, hoặc dám mặc cả giá tiền phạt với công an, thì nhân viên công lực được quyền đánh cho hắn gẫy cổ, chết bỏ. Tàn bạo như chế độ của các ông Hitler, Stalin hay các ông Mao Trạch Ðông chắc cũng không thiết lập những định chế cho phép công an giết dân dễ dàng như vậy.
Thế thì cái gì trong hệ thống chính trị ở nước ta đã đưa tới những vụ công an giết dân?
Như ai đã nghe chuyện đều biết, Trung Tá Nguyễn Văn Ninh đã gây ra cái chết của ông Tùng khi đang thi hành quyền của một người cảnh sát. Ông có trách nhiệm bảo đảm rằng luật lệ về giao thông được dân chúng tuân thủ. Công an Thủy Nguyên gây ra cái chết của ông Phương trong khi thi hành quyền giam giữ một người, để bảo vệ tài sản của các công dân khác. Những người công an trên biết rằng họ đang thi hành quyền bắt người, do nhà nước giao cho; họ là những người được ủy nhiệm. Họ tin rằng nhà nước mà họ đại diện đã được xã hội ủy nhiệm các quyền đó, để bảo vệ trật tự, an ninh. Các ông công an đã giết người khi nhân danh cả chuỗi những sự ủy nhiệm này. Tất cả các xã hội loài người đều ủy nhiệm những quyền bảo vệ an ninh, trật tự cho nhà nước.
Tất cả các guồng máy nhà nước đều ủy nhiệm cho cảnh sát công an làm những công việc bắt người vi phạm luật để đưa ra tòa án. Ở Việt Nam cũng như ở Bắc Phi. Ngày 17 tháng 12, tại nước Tunisia một sinh viên tốt nghiệp nhưng không có việc làm, anh Mohamed Bouazizi, 26 tuổi, bị một chị công an 45 tuổi tát tai, bắt về bóp, sau khi cãi nhau về tội anh đẩy xe bán rau không giấy phép. Ngày 4 tháng 1, 2011, anh Bouazizi chịu nhục nhà không nổi, đổ xăng tự thiêu. Ngày 6 tháng 6 năm 2010, tại Ai Cập, anh Khaled Said, 28 tuổi, bị công an đánh chết. Hai cái chết đó đưa tới những cuộc nổi dậy lật đổ chế độ độc tài ở hai quốc gia này, rồi lan ra các nước Á Rập khác.
Tại sao ở các nước văn minh chúng ta không thấy cảnh công an giết chết người một cách dễ dàng như ở Tunisia, Ai Cập, và ở nước ta? Chúng ta cần suy nghĩ đến vấn đề Quyền và sử dụng Quyền trong xã hội.
Bao nhiêu người dân Hà Nội đã tới dự đám tang của ông Trịnh Xuân Tùng dù không quen biết. Trong lòng nhiều người chắc cũng phải suy nghĩ về những câu hỏi này: Người dân ủy nhiệm cho nhà nước những quyền nào? Những quyền hành đó có giới hạn hay không? Có định chế nào bảo đảm rằng những giới hạn này được tôn trọng hay không? Tất cả những câu hỏi đó là để trả lời tại sao anh Tùng bị đánh chết. Người dân Hà Nội đã có ai đưa các câu hỏi trên ra thảo luận trước công chúng, trên các mạng lưới hay chưa?
Một bài thơ của Quang Dũng viết về Người Hà Nội kết thúc với hai câu thơ:
“Hàng Gai tay bỏng trục ba càng.
Ðất cũ Thăng Long người lẫm liệt.”
Con người Thăng Long lẫm liệt, không phải chỉ vì biết ôm súng chống ngoại xâm. Con người lẫm liệt phải đặt ra những câu hỏi căn bản về cuộc sống của xã hội mình: Tại sao chúng tôi phải sống mãi như thế này?
Khủng hoảng Bờ Biển Ngà có lối thoát
Liên Hợp Quốc cho biết 3 tướng lĩnh của tổng thống sắp mãn nhiệm Bờ Biển Ngà Laurent Gbagbo đang thương thuyết đầu hàng nhằm kết thúc chiến tranh và đảm bảo an toàn cho bản thân và ông Gbagbo.
Theo nguồn tin Liên Hợp Quốc, quân đội cũng như các cố vấn dân sự của Gbagbo đang lần lượt bỏ ông ra đi. Ba vị tướng trên là những người đứng đầu lực lượng vũ trang, cảnh sát và lực lượng bảo vệ của ông Gbagbo đã yêu cầu binh sĩ dưới quyền ngừng chiến và giao nạp vũ khí cho phía Liên Hợp Quốc.
Gen Philippe Mangou, trưởng quân đội của ông Gbagbo nói với hãng tin AFP: "Do sự bắn phá của lực lượng Pháp tại một số địa điểm và vị trí chiến lược ở thành phố Abidjan, tự chúng tôi đã phải ngừng bắn và ban lệnh chung về việc đình chiến ".
Người phát ngôn cho ông Gbagbo là Ahoua Don Mello cho biết thêm: "Các cuộc đàm phán trực tiếp này dựa trên những khuyến nghị từ phía Liên minh Châu Phi về việc công nhận ông Alassane Ouattara là tổng thống Bờ Biển Ngà. Họ đang trao đổi về các điều kiện luật pháp và an ninh cho doanh trại và những người thân của ông Gbagbo".

Ông Laurent Gbagbo. Ảnh: BBC
Ngoại trưởng Pháp Alain Juppe cũng trao đổi với đại sứ quán của Bờ Biển Ngà tại Paris rằng họ đã sắp thuyết phục được ông Gbagbo từ bỏ việc tranh giành quyền lực. Tuy nhiên, chính ông Gbagbo lại phủ nhận thông tin ông sẵn sàng đầu hàng. Trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại với một kênh truyền hình Pháp, ông vẫn nhất quyết khẳng định rằng ông Ouattara không hề thắng cử hồi tháng 12.
Gabgbo hiện trú ngụ cùng với gia đình trong tầng hầm dinh thự ở thành phố Abidjan. Quân đội của Ouattara, vị tổng thống đương nhiệm được Liên Hợp Quốc công nhận và là phe đối đầu với ông Gabgbo trong những ngày qua, đã bao vây toàn bộ khu vực này. Patrick Achi, người phát ngôn của Ouattara tuyên bố nếu bắt được Gbagbo, ông này sẽ bị đưa ra xét xử theo công lý.
Nội chiến ở Bờ Biển Ngà xảy ra vào cuối tuần vừa rồi khi Gbagbo, tổng thống sắp mãn nhiệm từ chối rời khỏi vị trí bất chấp kết quả bầu cử thua cuộc hồi tháng 12. Lực lượng của ông Ouattara, từng là nhà kinh tế của Quỹ tiền tệ IMF và là người thắng cử được Liên Hợp Quốc công nhận, đã tổ chức một cuộc tấn công nhằm buộc ông Gbagbo nhường ghế. Hội Chữ Thập Đỏ quốc tế cho biết ít nhất 800 người đã thiệt mạng trong cuộc giao tranh này.
Anh Ngọc
Theo nguồn tin Liên Hợp Quốc, quân đội cũng như các cố vấn dân sự của Gbagbo đang lần lượt bỏ ông ra đi. Ba vị tướng trên là những người đứng đầu lực lượng vũ trang, cảnh sát và lực lượng bảo vệ của ông Gbagbo đã yêu cầu binh sĩ dưới quyền ngừng chiến và giao nạp vũ khí cho phía Liên Hợp Quốc.
Gen Philippe Mangou, trưởng quân đội của ông Gbagbo nói với hãng tin AFP: "Do sự bắn phá của lực lượng Pháp tại một số địa điểm và vị trí chiến lược ở thành phố Abidjan, tự chúng tôi đã phải ngừng bắn và ban lệnh chung về việc đình chiến ".
Người phát ngôn cho ông Gbagbo là Ahoua Don Mello cho biết thêm: "Các cuộc đàm phán trực tiếp này dựa trên những khuyến nghị từ phía Liên minh Châu Phi về việc công nhận ông Alassane Ouattara là tổng thống Bờ Biển Ngà. Họ đang trao đổi về các điều kiện luật pháp và an ninh cho doanh trại và những người thân của ông Gbagbo".

Ông Laurent Gbagbo. Ảnh: BBC
Ngoại trưởng Pháp Alain Juppe cũng trao đổi với đại sứ quán của Bờ Biển Ngà tại Paris rằng họ đã sắp thuyết phục được ông Gbagbo từ bỏ việc tranh giành quyền lực. Tuy nhiên, chính ông Gbagbo lại phủ nhận thông tin ông sẵn sàng đầu hàng. Trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại với một kênh truyền hình Pháp, ông vẫn nhất quyết khẳng định rằng ông Ouattara không hề thắng cử hồi tháng 12.
Gabgbo hiện trú ngụ cùng với gia đình trong tầng hầm dinh thự ở thành phố Abidjan. Quân đội của Ouattara, vị tổng thống đương nhiệm được Liên Hợp Quốc công nhận và là phe đối đầu với ông Gabgbo trong những ngày qua, đã bao vây toàn bộ khu vực này. Patrick Achi, người phát ngôn của Ouattara tuyên bố nếu bắt được Gbagbo, ông này sẽ bị đưa ra xét xử theo công lý.
Nội chiến ở Bờ Biển Ngà xảy ra vào cuối tuần vừa rồi khi Gbagbo, tổng thống sắp mãn nhiệm từ chối rời khỏi vị trí bất chấp kết quả bầu cử thua cuộc hồi tháng 12. Lực lượng của ông Ouattara, từng là nhà kinh tế của Quỹ tiền tệ IMF và là người thắng cử được Liên Hợp Quốc công nhận, đã tổ chức một cuộc tấn công nhằm buộc ông Gbagbo nhường ghế. Hội Chữ Thập Đỏ quốc tế cho biết ít nhất 800 người đã thiệt mạng trong cuộc giao tranh này.
Anh Ngọc
Những đóa hoa tặng Hà Vũ
Tuesday, April 05, 2011 7:20:31 PM
Ngô Nhân Dụng
Văn phòng của Luật Sư Nguyễn Thị Dương Hà đã nhận được rất nhiều bó hoa do người Hà Nội đem tặng trong buổi chiều ngày Luật Sư Cù Huy Hà Vũ bị xử, theo lời thuật của Mạng Người Buôn Gió.
Khi nghe tuyên án, ông Cù Huy Hà Vũ đã nói: “Tổ Quốc và Nhân Dân Việt Nam hãy phá án cho tôi.” Những chùm hoa tăng là bằng chứng: Nhân dân xoá bỏ phá bản án phi lý đó.
Những bản án dùng luật lệ của thực dân hay cộng sản cuối cùng đều bị lãng quên khi chế độ sụp đổ; còn những lời lên án trong lòng người sẽ tồn tại mãi mãi. Như Giáo Sư Phạm Toàn ở Hà Nội nhận xét về cung cách xét xử của tòa án: “Ðó là một phiên tòa lưu manh, ô nhục.“ Tòa án lương tâm của người Việt trong và ngoài nước cùng dư luận thế giới đã xử Luật Sư Cù Huy Hà Vũ thắng. Ðảng Cộng Sản thua.
Phê phán trên bình diện pháp lý, Luật Sư Nguyễn Thị Dương Hà vẫn tuyên bố rằng bản án bẩy năm tù giam và ba năm quản chế dành cho chồng bà là “một bản án trái với pháp luật,” chính thứ pháp luật mà chế độ cộng sản đang sử dụng.
Quan tòa tuyên án nói ông Cù Huy Hà Vũ đã vi phạm Ðiều 88, Bộ Luật Hình Sự: “Tuyên truyền chống Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.” Lý do vì ông đã có một số bài viết, bài trả lời phỏng vấn đài tiếng nói Hoa Kỳ, đài Châu Á Tự Do với nội dung kêu gọi cải tổ chính trị, xóa bỏ điều 4 Hiến Pháp, vân vân. Bà Hà nhắc lại những lý lẽ ông Vũ đã đưa ra chứng tỏ ông không hề vi phạm điều luật đó.
Ông Cù Huy Hà Vũ đã bị truy tố về những việc gì? Thứ nhất, ông đã phân tích và bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lenin. Ý kiến đó không phải là chống nhà nước được, vì chủ nghĩa Mác Lê là một lý thuyết chứ không phải là nhà nước. Ông nêu ý kiến cần xóa bỏ “quyền mỹ kim” của đảng Cộng Sản theo Ðiều 4 trong Hiến Pháp. Nhưng đảng Cộng Sản cũng không phải là nhà nước vì họ chỉ là một tập hợp của nhiều công dân. Nghĩa là trước pháp luật họ cũng chỉ là một pháp nhân không khác gì những hội, đoàn tư nhân khác! Chống chủ nghĩa Mác và đòi đề nghị thay đổi Hiến Pháp, ông Cù Huy Hà Vũ chỉ sử dụng những quyền tự do tư tưởng và tự do phát biểu được Hiến Pháp công nhận, thi hành các quyền hợp hiến đó không thể gọi là chống nhà nước! Nếu cứ xử tội như thế thì hầu hết nếu không phải là tất cả mọi người Việt Nam ai cũng có tội!
Mặt khác, những chứng cớ buộc tội do phiên tòa “lưu manh ô nhục” của đảng Cộng Sản đưa ra chỉ là các ý kiến; điều này không đủ buộc tội vì bản Hiến Pháp hiện hành nói các công dân đều có quyền “kiến nghị.“ Ông Cù Huy Hà Vũ chỉ viết những ý kiến hay nói khi trả lời phỏng vấn, chứ ông không hề hành động hay kêu gọi ai hành động lật đổ nhà nước cộng sản; cho nên không thể buộc tội ông phạm Ðiều 88. Hơn nữa, Ðiều 69 trong Hiến Pháp và Ðiều 19 của Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, chính trị mà cộng sản Việt Nam đã ký đều bảo đảm người dân Việt Nam có quyền tự do thông tin. Vì thế, ông Cù Huy Hà Vũ có quyền lưu trữ trong máy tính cá nhân một số tài liệu về tư tưởng và chế độ dân chủ tự do; tòa án đã dùng các tài liệu trong máy tính này để kết tội ông là vi phạm bản Hiến Pháp mà chính chế độ này đang sử dụng. Việc tịch thu máy tính của ông là một hành động phi pháp. Ai cũng biết, trong tinh thần tư pháp quốc tế, khi cảnh sát công an chiếm lấy các bằng cớ một cách phi pháp thì trước tòa án các chứng cớ đó cũng vô giá trị.
Phiên tòa ô nhục còn vi phạm nhiều thủ tục tư pháp khác. Các luật sư của ông Cù Huy Hà Vũ yêu cầu chánh án mời những người phỏng vấn ông và những trang mạng phỏng vấn ông tới làm nhân chứng, nhưng không ai được mời, mặc dù họ đều đã nói sẵn sàng tới tòa làm chứng. Khi các luật sư yêu cầu tòa đưa ra công khai các chứng cớ, quan tòa lại từ chối và còn đuổi Luật Sư Trần Vũ Hải ra ngoài. Hành động này vi phạm Ðiều 214 của luật Tố Tụng Hình Sự, điều đó nói rằng tòa án phải tuyên bố nội dung các tài liệu chứng cớ liên quan tới cáo trạng. Chính quan tòa đã bất chấp thủ tục, luật lệ xét xử, cho nên cho 3 luật sư khác quyết định bước ra ngoài để phản đối.
Tóm lại, chính đảng Cộng Sản Việt Nam đã bất chấp những luật lệ của họ khi tuyên án ông Cù Huy Hà Vũ. Họ bất chấp luật lệ. Ðiều này cũng không khác gì cảnh một viên chỉ huy công an lưu thông ở tỉnh Hậu Giang ra lệnh cho một tài xế taxi chở anh ta phải vượt đèn đỏ! Ông này không chịu nghe lời nên bị đánh thâm tím mặt mày. Có thể nói người tài xế này còn can đảm hơn ông Chánh án Nguyễn Hữu Chính ở Hà Nội! Ông Nguyễn Hữu Chính đã khiếp nhược không dám cưỡng lại lệnh miệng của Bộ Chính Trị đảng cộng sản, là những người ban chức và trả lương cho ông! Ông đã xử án gấp gấp để tuyên bố một bản án định sẵn, một bản “án bỏ túi,” tất cả chỉ diễn ra trong hơn 3 tiếng đồng hồ!
Bà Nguyễn Thị Dương Hà đã lập lại lời ông Cù Huy Hà Vũ nói rằng phiên tòa chỉ dựng lên một bản án để chống lại ông chồng bà. Nhưng chúng ta có thể nhìn rộng hơn và vượt lên trên thân phận của một cá nhân, để thấy rằng cả hệ thống pháp lý ở nước ta hiện nay chỉ là một “trò khỉ” của đảng Cộng Sản. Họ cũng lập ra quốc hội, có tòa án, giống như những con khỉ bắt chước loài người. Nhưng họ bất chấp các luật lệ do chính họ làm ra và trà đạp trên tinh thần trọng pháp của loài người văn minh.
Vì vậy, tại Việt Nam hiện nay các luật gia đã tích cực tham gia vào công cuộc đấu tranh đòi thực thi pháp luật. Các Luật Sư Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Ðịnh, Lê Quốc Quân, tích cực vận động cho dân quyền của mọi công dân Việt Nam, bằng cách sử dụng luật pháp của chế độ. Ông Cù Huy Hà Vũ và những luật sư biện hộ cho ông là Trần Ðình Triển, Trần Vũ Hải, Vương Thị Thanh và Hà Huy Sơn là những chiến sĩ dân chủ. Riêng ông Cù Huy Hà Vũ đã hai lần khởi đơn kiện Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng về tội quyết định cho khai thác bô xít; lần đầu ở tòa án Hà Nội (tháng 6, 2009) đã bị bác bỏ, lần sau lên thẳng tòa án tối cao (tháng 7, 2010) nhưng bị bỏ qua. Ông đã từng khởi tố chính quyền Thừa Thiên chiếm đất trên đồi Vọng Cảnh để xây khách sạn. Tháng 10 năm 2010 ông đã đứng ra bênh vực giáo dân xứ Cồn Dầu bị bắt khi phản đối chính quyền Ðà Nẵng chiếm đất. Cù Huy Hà Vũ cũng từng công khai kết tội tướng công an Vũ Hải Triều vi phạm tự do ngôn luận khi phá các mạng Internet và tố cáo ủy viên Bộ Chính Trị Lê Thanh Hải về tội ăn cướp đất của gia đình tử sĩ.
Cuộc tấn công của các luật gia ở Việt Nam có thể đang theo gót Thánh Gandhi khi phát động cuộc đấu tranh giành độc lập cho Ấn Ðộ trong thế kỷ trước, ông, cũng là một luật sư, đã sử dụng các luật lệ của chính chế độ thuộc địa Anh. Dùng ngay luật pháp của chế độ để vạch ra những chính sách bất công và hành động bất lương của chính quyền, trong thế kỷ này hàng ngàn các luật sư Pakistan đã xuống đường tranh đấu đòi luật pháp tự do dân chủ được thực sự thi hành; mà kết quả là một vị tổng thống quân phiệt phải từ chức để dân tự do bầu người khác..
Nhưng các chế độ chính trị ở Ấn Ðộ thời thuộc địa và ở Pakistan thời quân phiệt đều biết giữ tư cách, xử sự văn minh, tôn trọng pháp luật của chính họ. Còn chế độ cộng sản ở nước ta hiện nay không biết giữ liêm sỉ như vậy.
Vì bản chất chế độ cộng sản là chuyên chế. Họ nhân danh một chủ nghĩa trừu tượng và không tưởng, không khác gì một chế độ tôn giáo độc tôn. Những người cộng sản nhân danh một niềm tin để thống trị xã hội; tự coi họ là những người duy nhất đã “giác ngộ” chân lý của “Lịch sử!” Khi một nhóm người tự coi là độc quyền Chân Lý thì họ không ngần ngại làm bất cứ cái gì, có giết hàng triệu người cũng không từ! Hành động nào họ cũng có thể tự biện hộ vì nghĩ họ chỉ đi đúng con đường lịch sử; như khi Stalin hay Mao Trạch Ðông gây nạn đói làm chết mấy chục triệu người với các chính sách kinh tế sai lầm.
Hệ thống cai trị của đảng Cộng Sản Việt Nam cũng được thiết lập trên những căn bản như Stalin và Mao. Vì thế, họ đã lộng hành trong hơn nửa thế kỷ nay, bất chấp những cách cư sử văn minh của nhân loại, bất chấp ngay cả hệ thống luật pháp mà họ đặt ra. Dùng luật lệ để tranh đấu với những người bất chấp luật lệ sẽ không hiệu quả. Cho nên trong những ngày sắp tới, các chiến sĩ tranh đấu cho dân chủ tự do ở Việt Nam cần phải tiến thêm một bước mới. Phải thức tỉnh đồng bào và dư luận thế giới về tình trạng bất chấp luật pháp của chế độ cộng sản.
Người dân Việt Nam không thể chỉ tranh đấu đòi tự do dân chủ trong vòng luật lệ của chế độ. Như Luật Sư Nguyễn Văn Ðài mới nói về bản án xử Cù Huy Hà Vũ: Chính Ðiều 88 trong Bộ Luật Hình Sự là phản hiến! Hay Luật Sư Nguyễn Xuân Phước từng chỉ rõ, ngay bản Hiến Pháp hiện thời, và những bản Hiến Pháp sau năm 1946 đều vô giá trị. Vì tất cả các lần tu chính đó đều không thực hiện đúng như bản Hiến Pháp đầu tiên của nước ta vào năm 1946 đòi hỏi. Trong Hiến Pháp 1946, việc sửa đổi Hiến Pháp chỉ có giá trị sau khi được đem trưng cầu dân ý; nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam đã khinh thường dân, không bao giờ làm thủ tục hợp pháp hóa đó.
Hiện nay Luật Sư Nguyễn Xuân Phước đã thay mặt gia đình Luật Sư Cù Huy Hà Vũ nộp đơn khiếu kiện trước Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc. Ðây là một bước đấu tranh mới, có thể áp dụng cho mọi cuộc tranh đấu khác để đòi cho người dân Việt Nam được sống trong dân chủ tự do xứng đáng làm người trong một xã hội văn minh. Thế giới loài người văn minh sẽ phải hỗ trợ nhân dân Việt Nam.
Bà Nguyễn Thị Dương Hà đang tiếp tục cuộc tranh đấu trong khi ông Cù Huy Hà Vũ bị tù. Những bó hoa người dân Hà Nội tặng ông bà chứng tỏ đồng bào Việt Nam chúng ta đã ý thức rất rõ về quyền lợi chính trị rất chính đáng của các công dân. Nhân dân Việt Nam đã sẵn sàng tranh đấu vì họ không còn sợ guồng máy công an nữa. Hàng ngàn dân chúng Hà Nội kéo đến quanh tòa án bất chấp công an chìm, nổi. Ðầu thế kỷ trước, dân Hà Nội cũng bày tỏ ý kiến giống như vậy trong phiên tòa thực dân Pháp đem xử Phan Bội Châu. Các blog cá nhân Ba Sàm, Người Buôn Gió, Anh Ba Sài Gòn, Quê Choa, mạng Dân Làm Báo loan tin nhanh chóng và chính xác; gọi Cù Huy Hà Vũ là “người trí thức yêu nước chân chính.” Hàng vạn giáo dân khắp nơi thắp nến cầu nguyện; Phật tử Chùa Liên Trì tụng niệm cầu an; các giáo hữu Tin Lành Mennonite lên tiếng ủng hộ. Phiên tòa ô nhục xử Cù Huy Hà Vũ đang đánh thức tinh thần đoàn kết của người dân Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành tự do dân chủ.
Truyện cổ tích kể người Việt đời xưa khi vào rừng hay đeo cái ống tre trên cánh tay trước. Loài đười ươi bắt được họ, chỉ nắm chặt lấy cái ống tre, người ta chạy thoát lúc nào chúng cũng không biết! Ðảng Cộng Sản Việt Nam sẽ còn tiếp tục làm “trò khỉ” pháp lý của họ, dựa vào đám công an. Nhưng cả xã hội Việt Nam đang thay đổi; chính các đảng viên cộng sản cũng thay đổi. Như một nhà trí thức Hà Nội đã nhận xét, đám lãnh tụ cộng sản cũng đang làm trò “đười ươi giữ ống!” Vì người dân Việt Nam đã hết sợ!
Tuesday, April 05, 2011 7:20:31 PM
Ngô Nhân Dụng
Văn phòng của Luật Sư Nguyễn Thị Dương Hà đã nhận được rất nhiều bó hoa do người Hà Nội đem tặng trong buổi chiều ngày Luật Sư Cù Huy Hà Vũ bị xử, theo lời thuật của Mạng Người Buôn Gió.
Khi nghe tuyên án, ông Cù Huy Hà Vũ đã nói: “Tổ Quốc và Nhân Dân Việt Nam hãy phá án cho tôi.” Những chùm hoa tăng là bằng chứng: Nhân dân xoá bỏ phá bản án phi lý đó.
Những bản án dùng luật lệ của thực dân hay cộng sản cuối cùng đều bị lãng quên khi chế độ sụp đổ; còn những lời lên án trong lòng người sẽ tồn tại mãi mãi. Như Giáo Sư Phạm Toàn ở Hà Nội nhận xét về cung cách xét xử của tòa án: “Ðó là một phiên tòa lưu manh, ô nhục.“ Tòa án lương tâm của người Việt trong và ngoài nước cùng dư luận thế giới đã xử Luật Sư Cù Huy Hà Vũ thắng. Ðảng Cộng Sản thua.
Phê phán trên bình diện pháp lý, Luật Sư Nguyễn Thị Dương Hà vẫn tuyên bố rằng bản án bẩy năm tù giam và ba năm quản chế dành cho chồng bà là “một bản án trái với pháp luật,” chính thứ pháp luật mà chế độ cộng sản đang sử dụng.
Quan tòa tuyên án nói ông Cù Huy Hà Vũ đã vi phạm Ðiều 88, Bộ Luật Hình Sự: “Tuyên truyền chống Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.” Lý do vì ông đã có một số bài viết, bài trả lời phỏng vấn đài tiếng nói Hoa Kỳ, đài Châu Á Tự Do với nội dung kêu gọi cải tổ chính trị, xóa bỏ điều 4 Hiến Pháp, vân vân. Bà Hà nhắc lại những lý lẽ ông Vũ đã đưa ra chứng tỏ ông không hề vi phạm điều luật đó.
Ông Cù Huy Hà Vũ đã bị truy tố về những việc gì? Thứ nhất, ông đã phân tích và bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lenin. Ý kiến đó không phải là chống nhà nước được, vì chủ nghĩa Mác Lê là một lý thuyết chứ không phải là nhà nước. Ông nêu ý kiến cần xóa bỏ “quyền mỹ kim” của đảng Cộng Sản theo Ðiều 4 trong Hiến Pháp. Nhưng đảng Cộng Sản cũng không phải là nhà nước vì họ chỉ là một tập hợp của nhiều công dân. Nghĩa là trước pháp luật họ cũng chỉ là một pháp nhân không khác gì những hội, đoàn tư nhân khác! Chống chủ nghĩa Mác và đòi đề nghị thay đổi Hiến Pháp, ông Cù Huy Hà Vũ chỉ sử dụng những quyền tự do tư tưởng và tự do phát biểu được Hiến Pháp công nhận, thi hành các quyền hợp hiến đó không thể gọi là chống nhà nước! Nếu cứ xử tội như thế thì hầu hết nếu không phải là tất cả mọi người Việt Nam ai cũng có tội!
Mặt khác, những chứng cớ buộc tội do phiên tòa “lưu manh ô nhục” của đảng Cộng Sản đưa ra chỉ là các ý kiến; điều này không đủ buộc tội vì bản Hiến Pháp hiện hành nói các công dân đều có quyền “kiến nghị.“ Ông Cù Huy Hà Vũ chỉ viết những ý kiến hay nói khi trả lời phỏng vấn, chứ ông không hề hành động hay kêu gọi ai hành động lật đổ nhà nước cộng sản; cho nên không thể buộc tội ông phạm Ðiều 88. Hơn nữa, Ðiều 69 trong Hiến Pháp và Ðiều 19 của Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, chính trị mà cộng sản Việt Nam đã ký đều bảo đảm người dân Việt Nam có quyền tự do thông tin. Vì thế, ông Cù Huy Hà Vũ có quyền lưu trữ trong máy tính cá nhân một số tài liệu về tư tưởng và chế độ dân chủ tự do; tòa án đã dùng các tài liệu trong máy tính này để kết tội ông là vi phạm bản Hiến Pháp mà chính chế độ này đang sử dụng. Việc tịch thu máy tính của ông là một hành động phi pháp. Ai cũng biết, trong tinh thần tư pháp quốc tế, khi cảnh sát công an chiếm lấy các bằng cớ một cách phi pháp thì trước tòa án các chứng cớ đó cũng vô giá trị.
Phiên tòa ô nhục còn vi phạm nhiều thủ tục tư pháp khác. Các luật sư của ông Cù Huy Hà Vũ yêu cầu chánh án mời những người phỏng vấn ông và những trang mạng phỏng vấn ông tới làm nhân chứng, nhưng không ai được mời, mặc dù họ đều đã nói sẵn sàng tới tòa làm chứng. Khi các luật sư yêu cầu tòa đưa ra công khai các chứng cớ, quan tòa lại từ chối và còn đuổi Luật Sư Trần Vũ Hải ra ngoài. Hành động này vi phạm Ðiều 214 của luật Tố Tụng Hình Sự, điều đó nói rằng tòa án phải tuyên bố nội dung các tài liệu chứng cớ liên quan tới cáo trạng. Chính quan tòa đã bất chấp thủ tục, luật lệ xét xử, cho nên cho 3 luật sư khác quyết định bước ra ngoài để phản đối.
Tóm lại, chính đảng Cộng Sản Việt Nam đã bất chấp những luật lệ của họ khi tuyên án ông Cù Huy Hà Vũ. Họ bất chấp luật lệ. Ðiều này cũng không khác gì cảnh một viên chỉ huy công an lưu thông ở tỉnh Hậu Giang ra lệnh cho một tài xế taxi chở anh ta phải vượt đèn đỏ! Ông này không chịu nghe lời nên bị đánh thâm tím mặt mày. Có thể nói người tài xế này còn can đảm hơn ông Chánh án Nguyễn Hữu Chính ở Hà Nội! Ông Nguyễn Hữu Chính đã khiếp nhược không dám cưỡng lại lệnh miệng của Bộ Chính Trị đảng cộng sản, là những người ban chức và trả lương cho ông! Ông đã xử án gấp gấp để tuyên bố một bản án định sẵn, một bản “án bỏ túi,” tất cả chỉ diễn ra trong hơn 3 tiếng đồng hồ!
Bà Nguyễn Thị Dương Hà đã lập lại lời ông Cù Huy Hà Vũ nói rằng phiên tòa chỉ dựng lên một bản án để chống lại ông chồng bà. Nhưng chúng ta có thể nhìn rộng hơn và vượt lên trên thân phận của một cá nhân, để thấy rằng cả hệ thống pháp lý ở nước ta hiện nay chỉ là một “trò khỉ” của đảng Cộng Sản. Họ cũng lập ra quốc hội, có tòa án, giống như những con khỉ bắt chước loài người. Nhưng họ bất chấp các luật lệ do chính họ làm ra và trà đạp trên tinh thần trọng pháp của loài người văn minh.
Vì vậy, tại Việt Nam hiện nay các luật gia đã tích cực tham gia vào công cuộc đấu tranh đòi thực thi pháp luật. Các Luật Sư Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Ðịnh, Lê Quốc Quân, tích cực vận động cho dân quyền của mọi công dân Việt Nam, bằng cách sử dụng luật pháp của chế độ. Ông Cù Huy Hà Vũ và những luật sư biện hộ cho ông là Trần Ðình Triển, Trần Vũ Hải, Vương Thị Thanh và Hà Huy Sơn là những chiến sĩ dân chủ. Riêng ông Cù Huy Hà Vũ đã hai lần khởi đơn kiện Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng về tội quyết định cho khai thác bô xít; lần đầu ở tòa án Hà Nội (tháng 6, 2009) đã bị bác bỏ, lần sau lên thẳng tòa án tối cao (tháng 7, 2010) nhưng bị bỏ qua. Ông đã từng khởi tố chính quyền Thừa Thiên chiếm đất trên đồi Vọng Cảnh để xây khách sạn. Tháng 10 năm 2010 ông đã đứng ra bênh vực giáo dân xứ Cồn Dầu bị bắt khi phản đối chính quyền Ðà Nẵng chiếm đất. Cù Huy Hà Vũ cũng từng công khai kết tội tướng công an Vũ Hải Triều vi phạm tự do ngôn luận khi phá các mạng Internet và tố cáo ủy viên Bộ Chính Trị Lê Thanh Hải về tội ăn cướp đất của gia đình tử sĩ.
Cuộc tấn công của các luật gia ở Việt Nam có thể đang theo gót Thánh Gandhi khi phát động cuộc đấu tranh giành độc lập cho Ấn Ðộ trong thế kỷ trước, ông, cũng là một luật sư, đã sử dụng các luật lệ của chính chế độ thuộc địa Anh. Dùng ngay luật pháp của chế độ để vạch ra những chính sách bất công và hành động bất lương của chính quyền, trong thế kỷ này hàng ngàn các luật sư Pakistan đã xuống đường tranh đấu đòi luật pháp tự do dân chủ được thực sự thi hành; mà kết quả là một vị tổng thống quân phiệt phải từ chức để dân tự do bầu người khác..
Nhưng các chế độ chính trị ở Ấn Ðộ thời thuộc địa và ở Pakistan thời quân phiệt đều biết giữ tư cách, xử sự văn minh, tôn trọng pháp luật của chính họ. Còn chế độ cộng sản ở nước ta hiện nay không biết giữ liêm sỉ như vậy.
Vì bản chất chế độ cộng sản là chuyên chế. Họ nhân danh một chủ nghĩa trừu tượng và không tưởng, không khác gì một chế độ tôn giáo độc tôn. Những người cộng sản nhân danh một niềm tin để thống trị xã hội; tự coi họ là những người duy nhất đã “giác ngộ” chân lý của “Lịch sử!” Khi một nhóm người tự coi là độc quyền Chân Lý thì họ không ngần ngại làm bất cứ cái gì, có giết hàng triệu người cũng không từ! Hành động nào họ cũng có thể tự biện hộ vì nghĩ họ chỉ đi đúng con đường lịch sử; như khi Stalin hay Mao Trạch Ðông gây nạn đói làm chết mấy chục triệu người với các chính sách kinh tế sai lầm.
Hệ thống cai trị của đảng Cộng Sản Việt Nam cũng được thiết lập trên những căn bản như Stalin và Mao. Vì thế, họ đã lộng hành trong hơn nửa thế kỷ nay, bất chấp những cách cư sử văn minh của nhân loại, bất chấp ngay cả hệ thống luật pháp mà họ đặt ra. Dùng luật lệ để tranh đấu với những người bất chấp luật lệ sẽ không hiệu quả. Cho nên trong những ngày sắp tới, các chiến sĩ tranh đấu cho dân chủ tự do ở Việt Nam cần phải tiến thêm một bước mới. Phải thức tỉnh đồng bào và dư luận thế giới về tình trạng bất chấp luật pháp của chế độ cộng sản.
Người dân Việt Nam không thể chỉ tranh đấu đòi tự do dân chủ trong vòng luật lệ của chế độ. Như Luật Sư Nguyễn Văn Ðài mới nói về bản án xử Cù Huy Hà Vũ: Chính Ðiều 88 trong Bộ Luật Hình Sự là phản hiến! Hay Luật Sư Nguyễn Xuân Phước từng chỉ rõ, ngay bản Hiến Pháp hiện thời, và những bản Hiến Pháp sau năm 1946 đều vô giá trị. Vì tất cả các lần tu chính đó đều không thực hiện đúng như bản Hiến Pháp đầu tiên của nước ta vào năm 1946 đòi hỏi. Trong Hiến Pháp 1946, việc sửa đổi Hiến Pháp chỉ có giá trị sau khi được đem trưng cầu dân ý; nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam đã khinh thường dân, không bao giờ làm thủ tục hợp pháp hóa đó.
Hiện nay Luật Sư Nguyễn Xuân Phước đã thay mặt gia đình Luật Sư Cù Huy Hà Vũ nộp đơn khiếu kiện trước Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc. Ðây là một bước đấu tranh mới, có thể áp dụng cho mọi cuộc tranh đấu khác để đòi cho người dân Việt Nam được sống trong dân chủ tự do xứng đáng làm người trong một xã hội văn minh. Thế giới loài người văn minh sẽ phải hỗ trợ nhân dân Việt Nam.
Bà Nguyễn Thị Dương Hà đang tiếp tục cuộc tranh đấu trong khi ông Cù Huy Hà Vũ bị tù. Những bó hoa người dân Hà Nội tặng ông bà chứng tỏ đồng bào Việt Nam chúng ta đã ý thức rất rõ về quyền lợi chính trị rất chính đáng của các công dân. Nhân dân Việt Nam đã sẵn sàng tranh đấu vì họ không còn sợ guồng máy công an nữa. Hàng ngàn dân chúng Hà Nội kéo đến quanh tòa án bất chấp công an chìm, nổi. Ðầu thế kỷ trước, dân Hà Nội cũng bày tỏ ý kiến giống như vậy trong phiên tòa thực dân Pháp đem xử Phan Bội Châu. Các blog cá nhân Ba Sàm, Người Buôn Gió, Anh Ba Sài Gòn, Quê Choa, mạng Dân Làm Báo loan tin nhanh chóng và chính xác; gọi Cù Huy Hà Vũ là “người trí thức yêu nước chân chính.” Hàng vạn giáo dân khắp nơi thắp nến cầu nguyện; Phật tử Chùa Liên Trì tụng niệm cầu an; các giáo hữu Tin Lành Mennonite lên tiếng ủng hộ. Phiên tòa ô nhục xử Cù Huy Hà Vũ đang đánh thức tinh thần đoàn kết của người dân Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành tự do dân chủ.
Truyện cổ tích kể người Việt đời xưa khi vào rừng hay đeo cái ống tre trên cánh tay trước. Loài đười ươi bắt được họ, chỉ nắm chặt lấy cái ống tre, người ta chạy thoát lúc nào chúng cũng không biết! Ðảng Cộng Sản Việt Nam sẽ còn tiếp tục làm “trò khỉ” pháp lý của họ, dựa vào đám công an. Nhưng cả xã hội Việt Nam đang thay đổi; chính các đảng viên cộng sản cũng thay đổi. Như một nhà trí thức Hà Nội đã nhận xét, đám lãnh tụ cộng sản cũng đang làm trò “đười ươi giữ ống!” Vì người dân Việt Nam đã hết sợ!
Người Việt khác người Nhật
Ngô Nhân Dụng
Sau khi đọc tin, coi hình ảnh hoặc chứng kiến thái độ bình tĩnh của người Nhật Bản sau cuộc động đất và sóng thần vừa qua, chúng ta phải công nhận dân Nhật có những đức tính mà mình phải học. Thái độ khiêm cung này rất cần thiết; vì nếu mình không nhìn thấy, không biết thán phục những cái hay của người khác thì cũng không biết tự sửa chữa những cái dở của mình.
Nhưng không thể so sánh Việt Nam với Nhật Bản hay với bất cứ nước nào, để nói dân tộc này hơn hay kém một dân tộc khác. Người mình có những ưu điểm khác với người Nhật, cũng như người Nhật có những nhược điểm khác với mình. Chúng ta có thể nhìn lại với con mắt quân bình, không thiên kiến, để thấy không phải cái gì mình cũng nên giống như người Nhật Bản. Có thể rút kinh nghiệm vụ động đất vừa qua để thấy xã hội Nhật Bản có một tinh thần khắc kỷ và trật tự rất mạnh; nhưng ngược lại họ quá cứng rắn, có khi thành cố chấp. Trong khi cũng phải công nhận dân Việt mình thì có tính mềm dẻo, linh động nhiều khi quá đáng, cần phải tránh.
Tuần báo Economist tường thuật sau trận động đất và sóng thần đánh vào làng Kesennuma, nơi có hơn 25 ngàn người chết hoặc mất tích, cho thấy guồng máy chính quyền Nhật Bản quá cứng nhắc. Vì động đất người dân phải xếp hàng chờ đợi mua xăng; trong khi. Tuy các nhà máy lọc dầu gia tăng hoạt động, số cung cấp xăng dầu không giảm đến mức quá thiếu thốn; nhưng chính việc áp dụng luật lệ cũng làm cảnh thiếu xăng trầm trọng hơn. Một điều luật ở Nhật bắt các trạm xăng phải dự trữ một số lượng đủ cung cấp cho 70 ngày. Ngay trong cảnh mới động đất xong, các trạm xăng khi thấy số dự trữ xuống tới mức 70 ngày cũng ngưng bán. Tất nhiên người tiêu thụ ở Nhật bình thản chấp nhận cảnh khan hiếm xăng do luật lệ gây ra như thế; vì bản chất họ luôn luôn trọng kỷ luật. Nhưng người ngoài thì ai cũng thấy trong hoàn cảnh khẩn cấp thì bảo vệ một điều luật như vậy là cố chấp! Phải đợi 10 ngày sau, chính phủ trung ương mới cho phép các trạm xăng chỉ giữ một khoảng dự trữ cho 45 ngày mà thôi!
Có thể nói hệ thống chính trị nước Nhật được xây dựng rất kiên cố, xã hội quá trật tự, không uyển chuyển để thích ứng với cơn nguy biến. Ngay khi bại trận, họ đã xóa bỏ chế độ quân phiệt độc tài, nhưng cả xã hội và hệ thống hành chánh vẫn tổ chức theo lối hàng dọc từ trên xuống dưới. Mọi sinh hoạt chính trị, kinh tế đều đặt dưới sự điều hành của ba thế lực trong xã hội. Ðó là guồng máy hành chánh, các ngân hàng lớn, và các đại công ty. Chưa kể, một đảng chính trị gần như nắm độc quyền trong hơn nửa thế kỷ, vì đảng Tự do Dân chủ liên kết được cả ba thế lực trên. Người dân Nhật thản nhiên chấp nhận tình trạng đó từ năm 1947 khi bản Hiến Pháp dân chủ được áp dụng. Nhờ đảng Tự do Dân chủ và các đồng minh của họ trong guồng máy hành chánh và giới tài phiệt đã mang lại cuộc sống thịnh vượng, với những người lãnh đạo có tư cách đáng kính trọng cho nên dân Nhật vẫn chấp nhận. Nhưng một hệ thống chính trị tập trung và chỉ huy như vậy chứa sẵn mối rủi ro, nếu dân trí không cao hoặc nếu người cai trị không lương thiện. Thói quen răm rắp tuân theo lệnh trên của người dân và quyền hành tập trung vào guồng máy hành chánh đó không còn thích hợp khi phải đối phó với những biến cố bất ngờ lớn.
Người Nhật Bản đã nhìn thấy nhược điểm đó một lần trong vụ động đất ở Kobe năm 1995. Năm đó, chính phủ Nhật lúng túng và chậm chạp trước tai biến lớn lao (phải công bằng mà nói thêm rằng chính phủ Mỹ cũng lúng túng như vậy trong thời gian bão Katrina). Cuộc động đất Kobe đã khiến nhiều người Nhật cảm thấy mất lòng tin vào khả năng của họ. Năm nay chính phủ Naoto Kan đã phản ứng rất nhanh trong việc trấn an tinh thần dân chúng. Các công chức bộ Kinh Tế, Thương Mại và Công Nghệ làm việc ngày đêm, có lúc làm việc trong bóng tối để tiết kiệm điện. Nhưng guồng máy hành chánh vẫn chạy theo thói quen cố hữu.
Một nghị sĩ đảng đối lập, ông Kouta Matsuda đã cố gắng đi cấp cứu vùng Miyagi mà ông là đại biểu. Vốn là một nhà kinh doanh thành công, ông Matsuda đã lái một chiếc xe tải nhỏ 4 tấn chở phẩm vật tới giúp các cử tri của mình. Nhưng cảnh sát không cho phép ông lái chiếc xe đó trên con đường dành cho xe tải. Bởi vì đã có lệnh con đường đó được dành riêng cho các xe cấp cứu. Ông cho biết tại Miyagi còn rất nhiều thực phẩm nhưng thiếu một hệ thống phân phối hữu hiệu.
Sau đó, ông Matsuda đã mượn môt chiếc máy bay trực thăng chở thức ăn, thuốc men và dụng cụ để sạc điện cho máy điện thoại di động tới Miyagi; nhưng cảnh sát không cho phép máy bay đáp xuống. Cũng vì đã có lệnh cấm. Ông bèn xin phép được thả các phẩm vật từ máy bay xuống đất; lại bị từ chối, vì làm như vậy là trái luật lệ, mặc dù chiếc trực thăng bay là là chỉ cách mặt đất có một mét!
Người Nhật rất trọng kỷ luật. Một chuyến xe lửa phải ngưng chạy trong 16 tiếng đồng hồ, nhưng tất cả các hành khách vẫn bình tĩnh và lễ độ; các phòng vệ sinh vẫn sạch sẽ không một vết nhơ. Ðức tính kỷ luật của cả một dân tộc rất đáng kính phục. Nhưng thi hành luật lệ một cách cứng nhắc thì không nên, sẽ trở thành cố chấp. Người Việt Nam trái lại; có thói quen sống linh động, “chín bỏ làm mười.” Nhưng biến báo, uyển chuyển thái quá thì có khi sẽ thành vô kỷ luật.
Giữa hai thói xấu, tính cứng nhắc và thiếu kỷ luật, chúng ta không thể nói thói nào xấu hơn. Nhưng người ta chỉ phạm lỗi cứng nhắc hoặc cố chấp khi phải đối phó với những hoàn cảnh bất thường. Nghĩa là những trường hợp hiếm hoi. Trong hoàn cảnh bình thường, giữ đúng kỷ luật thì không gọi là cố chấp nữa. Còn thói “biến báo” có khi bất chấp kỷ luật thì nếu đã tập nhiễm sẽ khó bỏ; có thể sẽ trở thành một thói xấu thường xuyên, xã hội sẽ khó sống hạnh phúc.
Tại sao người Nhật với người Việt mình khác nhau như vậy? Những thói quen có tính cách tập thể này chắc đã thành hình suốt chiều dài lịch sử mỗi dân tộc. Trong hơn một ngàn năm gần đây, lớp người được kính trọng nhất trong xã hội Việt Nam là các nhà Nho. Ở Nhật Bản, lớp người ưu tú là những võ sĩ, đẳng cấp bushi xuất hiện từ thời đại Bình An (Heian, 794-1185). Năm 1185 Tướng quân Minamoto Yoritomo biến tầng lớp Samurai thành một định chế chính thức. Họ cũng được rèn luyện theo luân lý Nho giáo giống như các nhà Nho Việt Nam; nhưng người Nhật lấy các võ sĩ làm gương. Nho giáo truyền vào nước Nhật qua ngả Hàn Quốc. Năm 285, Vua Keun Ch'ogo thuộc triều đại Paekche đã cử một nhà Nho là Wang In đem 10 chương trong sách Luận Ngữ và cuốn Nhất Thiên Tự (Senjimon) sang Nhật Bản. Nho giáo được đưa sang Việt Nam sớm hơn; chính thức bắt đầu từ thời Sĩ Nhiếp (187-226). Cùng học một hệ thống đạo lý nhưng ở nước Nhật thì đẳng cấp võ sĩ là tiêu biểu cho nền đạo đức, nhấn mạnh đến lòng trung thành tuyệt đối với chủ nhân, tức là các sứ quân; trong khi đó ở nước ta chính các nhà Nho, tức là những văn nhân, là lớp người chuyên chở đạo lý.
Văn khác với võ; người Nhật cương còn người mình nhu. Vì kỷ luật là điều kiện sống còn của các người ra chiến trận, còn các nhà văn cần được tự do, và nghĩ đến tình hơn lý, trọng những cá tính đặc thù hơn tính chất đồng nhất của tập thể. Dân tộc nào cũng cần biết khai triển những ưu điểm của nền văn hóa mình trong khi phải học hỏi người khác.
Khung cảnh thiên nhiên có thể thay đổi lối sống. Khổng Tử đã nhận xét về ảnh hưởng của địa dư trên tính khí con người: “Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo, nam phương chi cường dã; quân tử cư chi. Nhẩm kim cách, tử chi bất yếm, bắc phương chi cường dã; nhi cường giả cư chi” (Dạy dỗ người với lòng khoan nhu; không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của người phương Nam; người quân tử theo đó. Nằm ngủ với áo giáp, binh khí; chết cũng không sợ, đó là sức mạnh của người phương Bắc; người hùng mạnh theo đó, Trung Dung, chương 10). Trong câu trên Khổng Tử nói đến những giống dân không phải người Hán sống ở phía Nam Trường Giang và phía Bắc vùng châu thổ Hoàng Hà. Dân Nhật Bản có sức mạnh của người phương Bắc, người Việt Nam có sức mạnh của người phương Nam.
Nhu quá thành vô kỷ luật, cương qua thành cố chấp. Mỗi dân tộc Việt và Nhật có nhiều ưu điểm và nhược điểm khác nhau. Cả hai nước Việt Nam và Nhật Bản đều chịu ảnh hưởng của luân lý Nho giáo cũng như dân Hàn Quốc; và mỗi nước đã phát triển trên những con đường khác nhau. Chúng ta không nên thấy những thói quen xấu của người Việt Nam gần đây mà nghĩ rằng đó là những tật xấu có từ lâu, do bản tính dân tộc. Thực ra đại đa số những thói xấu như sống vị kỷ, vô kỷ luật, trọng tiền tài; đến cảnh quan chức tham nhũng, vô trách nhiệm, khinh dân, như chúng ta đang chứng kiến trong xã hội hiện nay đều là do ngoại cảnh hoặc gây ra, hoặc đẩy lên đến mức độ quá cao, quá lộ liễu. Vì thượng bất chính, hạ tất loạn, điều này ai cũng biết.
Nhật Bản là một nước dân chủ, tinh thần võ sĩ và luân lý Nho giáo vẫn tồn tại mặc dù chế độ chính trị thay đổi. Nhưng truyền thống của dân Nhật cũng đưa tới những nhược điểm trong hệ thống chính trị, hiện rõ qua vụ động đất vừa qua. Nổi bật nhất là trong vụ nhà máy điện nguyên tử Daiichi.
Như trên đã nói, hệ thống chính trị Nhật Bản tuy là dân chủ nhưng vẫn quá tập trung. Ðặc biệt là giới tư bản nắm guồng máy tài chánh, kinh tế, cộng tác quá chặt chẽ với hệ thống hành chánh. Người Nhật đoàn kết và tin cẩn nhau, nhìn ai cũng thấy người ta lương thiện, chính trực, ai cũng trọng công ích, có tinh thần trách nhiệm; đó là một ưu điểm tập thể nhờ truyền thống võ sĩ đạo. Nhưng khi những công chức có nhiệm vụ kiểm soát giới quản lý trong lãnh vực tư mà tin tưởng quá đáng vào những người mình phải kiểm soát, thì họ rất dễ phạm những sai lầm. Tình trạng cộng tác mật thiết đó khiến trong hệ thống bị thiếu thói quen chất vấn, tranh luận, thói quen nghi ngờ, phải kiểm tra và tái kiểm tra. Khi nhà quản lý bỏ qua không quan tâm đến những báo động về mối rủi ro mà giới công chức đồng ý một cách dễ dàng thì công chúng sẽ lãnh hậu quả xấu. Mặc dù giới công chức Nhật không cấu kết với giới quản lý kinh doanh, nhưng họ có thể làm không tròn nhiệm vụ kiểm soát chỉ vì hai bên đoàn kết và tin cẩn nhau quá đáng!
Từ mười năm qua nhiều chuyên gia độc lập đã báo động công ty điện lực TEPCO, chủ nhân nhà máy Daiichi rằng các lò nguyên tử ở đó, do các kỹ sư Mỹ thiết kế từ nửa thế kỷ trước, đã lỗi thời, Nhưng các báo động đó bị bỏ qua. Các chuyên viên ở nhà máy đã không thực hiện đủ những cuộc thanh tra kỹ thuật định kỳ bắt buộc, kể cả lần trước ngày động đất hai tuần. Khi động đất xẩy ra, các lò nguyên tử đang giữ chứa nhiều thỏi nguyên liệu hạt nhân đã dùng rồi, nhiều hơn con số tối đa được giữ. Một tháng trước ngày động đất, các công chức đã chấp thuận lời yêu cầu của công ty TEPCO triển hạn việc sử dụng sáu lò nguyên tử thêm 10 năm nữa mặc dù đã có những báo động là sức chịu đựng quá nặng nề rồi.
Không ai nghi ngờ giới công chức Nhật Bản đã dễ dãi với công ty điện lực vì được hối lộ. Tuy nhiên, trong hệ thống điều hành kinh tế cũng như chính trị một quốc gia, sau khi tạo ra những định chế cân bằng để tự kiểm soát thì vẫn còn phải tạo thêm thói quen chất vấn, tranh luận với nhau, chứ không thể nhân danh tình đoàn kết mà hoàn toàn tin tưởng nhau. Ðây là một vấn đề văn hóa chứ không còn là chính trị nữa.
Tất nhiên, dù hệ thống chính trị nước Nhật có nhược điểm như thế, nó cũng trăm lần tốt hơn một hệ thống chính trị hoàn toàn dựa trên tham nhũng và tinh thần bè đảng, bất chấp công ích và đạo lý. Nhưng xin đừng ai nghĩ rằng tình trạng xấu xa tàn tệ đó là do bản chất của người Việt Nam tạo ra! Không người Việt Nam nào chấp nhận tình trạng đó. Khi so sánh với nước ngoài, ai cũng cảm thấy nhục nhã.
Ngô Nhân Dụng
Sau khi đọc tin, coi hình ảnh hoặc chứng kiến thái độ bình tĩnh của người Nhật Bản sau cuộc động đất và sóng thần vừa qua, chúng ta phải công nhận dân Nhật có những đức tính mà mình phải học. Thái độ khiêm cung này rất cần thiết; vì nếu mình không nhìn thấy, không biết thán phục những cái hay của người khác thì cũng không biết tự sửa chữa những cái dở của mình.
Nhưng không thể so sánh Việt Nam với Nhật Bản hay với bất cứ nước nào, để nói dân tộc này hơn hay kém một dân tộc khác. Người mình có những ưu điểm khác với người Nhật, cũng như người Nhật có những nhược điểm khác với mình. Chúng ta có thể nhìn lại với con mắt quân bình, không thiên kiến, để thấy không phải cái gì mình cũng nên giống như người Nhật Bản. Có thể rút kinh nghiệm vụ động đất vừa qua để thấy xã hội Nhật Bản có một tinh thần khắc kỷ và trật tự rất mạnh; nhưng ngược lại họ quá cứng rắn, có khi thành cố chấp. Trong khi cũng phải công nhận dân Việt mình thì có tính mềm dẻo, linh động nhiều khi quá đáng, cần phải tránh.
Tuần báo Economist tường thuật sau trận động đất và sóng thần đánh vào làng Kesennuma, nơi có hơn 25 ngàn người chết hoặc mất tích, cho thấy guồng máy chính quyền Nhật Bản quá cứng nhắc. Vì động đất người dân phải xếp hàng chờ đợi mua xăng; trong khi. Tuy các nhà máy lọc dầu gia tăng hoạt động, số cung cấp xăng dầu không giảm đến mức quá thiếu thốn; nhưng chính việc áp dụng luật lệ cũng làm cảnh thiếu xăng trầm trọng hơn. Một điều luật ở Nhật bắt các trạm xăng phải dự trữ một số lượng đủ cung cấp cho 70 ngày. Ngay trong cảnh mới động đất xong, các trạm xăng khi thấy số dự trữ xuống tới mức 70 ngày cũng ngưng bán. Tất nhiên người tiêu thụ ở Nhật bình thản chấp nhận cảnh khan hiếm xăng do luật lệ gây ra như thế; vì bản chất họ luôn luôn trọng kỷ luật. Nhưng người ngoài thì ai cũng thấy trong hoàn cảnh khẩn cấp thì bảo vệ một điều luật như vậy là cố chấp! Phải đợi 10 ngày sau, chính phủ trung ương mới cho phép các trạm xăng chỉ giữ một khoảng dự trữ cho 45 ngày mà thôi!
Có thể nói hệ thống chính trị nước Nhật được xây dựng rất kiên cố, xã hội quá trật tự, không uyển chuyển để thích ứng với cơn nguy biến. Ngay khi bại trận, họ đã xóa bỏ chế độ quân phiệt độc tài, nhưng cả xã hội và hệ thống hành chánh vẫn tổ chức theo lối hàng dọc từ trên xuống dưới. Mọi sinh hoạt chính trị, kinh tế đều đặt dưới sự điều hành của ba thế lực trong xã hội. Ðó là guồng máy hành chánh, các ngân hàng lớn, và các đại công ty. Chưa kể, một đảng chính trị gần như nắm độc quyền trong hơn nửa thế kỷ, vì đảng Tự do Dân chủ liên kết được cả ba thế lực trên. Người dân Nhật thản nhiên chấp nhận tình trạng đó từ năm 1947 khi bản Hiến Pháp dân chủ được áp dụng. Nhờ đảng Tự do Dân chủ và các đồng minh của họ trong guồng máy hành chánh và giới tài phiệt đã mang lại cuộc sống thịnh vượng, với những người lãnh đạo có tư cách đáng kính trọng cho nên dân Nhật vẫn chấp nhận. Nhưng một hệ thống chính trị tập trung và chỉ huy như vậy chứa sẵn mối rủi ro, nếu dân trí không cao hoặc nếu người cai trị không lương thiện. Thói quen răm rắp tuân theo lệnh trên của người dân và quyền hành tập trung vào guồng máy hành chánh đó không còn thích hợp khi phải đối phó với những biến cố bất ngờ lớn.
Người Nhật Bản đã nhìn thấy nhược điểm đó một lần trong vụ động đất ở Kobe năm 1995. Năm đó, chính phủ Nhật lúng túng và chậm chạp trước tai biến lớn lao (phải công bằng mà nói thêm rằng chính phủ Mỹ cũng lúng túng như vậy trong thời gian bão Katrina). Cuộc động đất Kobe đã khiến nhiều người Nhật cảm thấy mất lòng tin vào khả năng của họ. Năm nay chính phủ Naoto Kan đã phản ứng rất nhanh trong việc trấn an tinh thần dân chúng. Các công chức bộ Kinh Tế, Thương Mại và Công Nghệ làm việc ngày đêm, có lúc làm việc trong bóng tối để tiết kiệm điện. Nhưng guồng máy hành chánh vẫn chạy theo thói quen cố hữu.
Một nghị sĩ đảng đối lập, ông Kouta Matsuda đã cố gắng đi cấp cứu vùng Miyagi mà ông là đại biểu. Vốn là một nhà kinh doanh thành công, ông Matsuda đã lái một chiếc xe tải nhỏ 4 tấn chở phẩm vật tới giúp các cử tri của mình. Nhưng cảnh sát không cho phép ông lái chiếc xe đó trên con đường dành cho xe tải. Bởi vì đã có lệnh con đường đó được dành riêng cho các xe cấp cứu. Ông cho biết tại Miyagi còn rất nhiều thực phẩm nhưng thiếu một hệ thống phân phối hữu hiệu.
Sau đó, ông Matsuda đã mượn môt chiếc máy bay trực thăng chở thức ăn, thuốc men và dụng cụ để sạc điện cho máy điện thoại di động tới Miyagi; nhưng cảnh sát không cho phép máy bay đáp xuống. Cũng vì đã có lệnh cấm. Ông bèn xin phép được thả các phẩm vật từ máy bay xuống đất; lại bị từ chối, vì làm như vậy là trái luật lệ, mặc dù chiếc trực thăng bay là là chỉ cách mặt đất có một mét!
Người Nhật rất trọng kỷ luật. Một chuyến xe lửa phải ngưng chạy trong 16 tiếng đồng hồ, nhưng tất cả các hành khách vẫn bình tĩnh và lễ độ; các phòng vệ sinh vẫn sạch sẽ không một vết nhơ. Ðức tính kỷ luật của cả một dân tộc rất đáng kính phục. Nhưng thi hành luật lệ một cách cứng nhắc thì không nên, sẽ trở thành cố chấp. Người Việt Nam trái lại; có thói quen sống linh động, “chín bỏ làm mười.” Nhưng biến báo, uyển chuyển thái quá thì có khi sẽ thành vô kỷ luật.
Giữa hai thói xấu, tính cứng nhắc và thiếu kỷ luật, chúng ta không thể nói thói nào xấu hơn. Nhưng người ta chỉ phạm lỗi cứng nhắc hoặc cố chấp khi phải đối phó với những hoàn cảnh bất thường. Nghĩa là những trường hợp hiếm hoi. Trong hoàn cảnh bình thường, giữ đúng kỷ luật thì không gọi là cố chấp nữa. Còn thói “biến báo” có khi bất chấp kỷ luật thì nếu đã tập nhiễm sẽ khó bỏ; có thể sẽ trở thành một thói xấu thường xuyên, xã hội sẽ khó sống hạnh phúc.
Tại sao người Nhật với người Việt mình khác nhau như vậy? Những thói quen có tính cách tập thể này chắc đã thành hình suốt chiều dài lịch sử mỗi dân tộc. Trong hơn một ngàn năm gần đây, lớp người được kính trọng nhất trong xã hội Việt Nam là các nhà Nho. Ở Nhật Bản, lớp người ưu tú là những võ sĩ, đẳng cấp bushi xuất hiện từ thời đại Bình An (Heian, 794-1185). Năm 1185 Tướng quân Minamoto Yoritomo biến tầng lớp Samurai thành một định chế chính thức. Họ cũng được rèn luyện theo luân lý Nho giáo giống như các nhà Nho Việt Nam; nhưng người Nhật lấy các võ sĩ làm gương. Nho giáo truyền vào nước Nhật qua ngả Hàn Quốc. Năm 285, Vua Keun Ch'ogo thuộc triều đại Paekche đã cử một nhà Nho là Wang In đem 10 chương trong sách Luận Ngữ và cuốn Nhất Thiên Tự (Senjimon) sang Nhật Bản. Nho giáo được đưa sang Việt Nam sớm hơn; chính thức bắt đầu từ thời Sĩ Nhiếp (187-226). Cùng học một hệ thống đạo lý nhưng ở nước Nhật thì đẳng cấp võ sĩ là tiêu biểu cho nền đạo đức, nhấn mạnh đến lòng trung thành tuyệt đối với chủ nhân, tức là các sứ quân; trong khi đó ở nước ta chính các nhà Nho, tức là những văn nhân, là lớp người chuyên chở đạo lý.
Văn khác với võ; người Nhật cương còn người mình nhu. Vì kỷ luật là điều kiện sống còn của các người ra chiến trận, còn các nhà văn cần được tự do, và nghĩ đến tình hơn lý, trọng những cá tính đặc thù hơn tính chất đồng nhất của tập thể. Dân tộc nào cũng cần biết khai triển những ưu điểm của nền văn hóa mình trong khi phải học hỏi người khác.
Khung cảnh thiên nhiên có thể thay đổi lối sống. Khổng Tử đã nhận xét về ảnh hưởng của địa dư trên tính khí con người: “Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo, nam phương chi cường dã; quân tử cư chi. Nhẩm kim cách, tử chi bất yếm, bắc phương chi cường dã; nhi cường giả cư chi” (Dạy dỗ người với lòng khoan nhu; không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của người phương Nam; người quân tử theo đó. Nằm ngủ với áo giáp, binh khí; chết cũng không sợ, đó là sức mạnh của người phương Bắc; người hùng mạnh theo đó, Trung Dung, chương 10). Trong câu trên Khổng Tử nói đến những giống dân không phải người Hán sống ở phía Nam Trường Giang và phía Bắc vùng châu thổ Hoàng Hà. Dân Nhật Bản có sức mạnh của người phương Bắc, người Việt Nam có sức mạnh của người phương Nam.
Nhu quá thành vô kỷ luật, cương qua thành cố chấp. Mỗi dân tộc Việt và Nhật có nhiều ưu điểm và nhược điểm khác nhau. Cả hai nước Việt Nam và Nhật Bản đều chịu ảnh hưởng của luân lý Nho giáo cũng như dân Hàn Quốc; và mỗi nước đã phát triển trên những con đường khác nhau. Chúng ta không nên thấy những thói quen xấu của người Việt Nam gần đây mà nghĩ rằng đó là những tật xấu có từ lâu, do bản tính dân tộc. Thực ra đại đa số những thói xấu như sống vị kỷ, vô kỷ luật, trọng tiền tài; đến cảnh quan chức tham nhũng, vô trách nhiệm, khinh dân, như chúng ta đang chứng kiến trong xã hội hiện nay đều là do ngoại cảnh hoặc gây ra, hoặc đẩy lên đến mức độ quá cao, quá lộ liễu. Vì thượng bất chính, hạ tất loạn, điều này ai cũng biết.
Nhật Bản là một nước dân chủ, tinh thần võ sĩ và luân lý Nho giáo vẫn tồn tại mặc dù chế độ chính trị thay đổi. Nhưng truyền thống của dân Nhật cũng đưa tới những nhược điểm trong hệ thống chính trị, hiện rõ qua vụ động đất vừa qua. Nổi bật nhất là trong vụ nhà máy điện nguyên tử Daiichi.
Như trên đã nói, hệ thống chính trị Nhật Bản tuy là dân chủ nhưng vẫn quá tập trung. Ðặc biệt là giới tư bản nắm guồng máy tài chánh, kinh tế, cộng tác quá chặt chẽ với hệ thống hành chánh. Người Nhật đoàn kết và tin cẩn nhau, nhìn ai cũng thấy người ta lương thiện, chính trực, ai cũng trọng công ích, có tinh thần trách nhiệm; đó là một ưu điểm tập thể nhờ truyền thống võ sĩ đạo. Nhưng khi những công chức có nhiệm vụ kiểm soát giới quản lý trong lãnh vực tư mà tin tưởng quá đáng vào những người mình phải kiểm soát, thì họ rất dễ phạm những sai lầm. Tình trạng cộng tác mật thiết đó khiến trong hệ thống bị thiếu thói quen chất vấn, tranh luận, thói quen nghi ngờ, phải kiểm tra và tái kiểm tra. Khi nhà quản lý bỏ qua không quan tâm đến những báo động về mối rủi ro mà giới công chức đồng ý một cách dễ dàng thì công chúng sẽ lãnh hậu quả xấu. Mặc dù giới công chức Nhật không cấu kết với giới quản lý kinh doanh, nhưng họ có thể làm không tròn nhiệm vụ kiểm soát chỉ vì hai bên đoàn kết và tin cẩn nhau quá đáng!
Từ mười năm qua nhiều chuyên gia độc lập đã báo động công ty điện lực TEPCO, chủ nhân nhà máy Daiichi rằng các lò nguyên tử ở đó, do các kỹ sư Mỹ thiết kế từ nửa thế kỷ trước, đã lỗi thời, Nhưng các báo động đó bị bỏ qua. Các chuyên viên ở nhà máy đã không thực hiện đủ những cuộc thanh tra kỹ thuật định kỳ bắt buộc, kể cả lần trước ngày động đất hai tuần. Khi động đất xẩy ra, các lò nguyên tử đang giữ chứa nhiều thỏi nguyên liệu hạt nhân đã dùng rồi, nhiều hơn con số tối đa được giữ. Một tháng trước ngày động đất, các công chức đã chấp thuận lời yêu cầu của công ty TEPCO triển hạn việc sử dụng sáu lò nguyên tử thêm 10 năm nữa mặc dù đã có những báo động là sức chịu đựng quá nặng nề rồi.
Không ai nghi ngờ giới công chức Nhật Bản đã dễ dãi với công ty điện lực vì được hối lộ. Tuy nhiên, trong hệ thống điều hành kinh tế cũng như chính trị một quốc gia, sau khi tạo ra những định chế cân bằng để tự kiểm soát thì vẫn còn phải tạo thêm thói quen chất vấn, tranh luận với nhau, chứ không thể nhân danh tình đoàn kết mà hoàn toàn tin tưởng nhau. Ðây là một vấn đề văn hóa chứ không còn là chính trị nữa.
Tất nhiên, dù hệ thống chính trị nước Nhật có nhược điểm như thế, nó cũng trăm lần tốt hơn một hệ thống chính trị hoàn toàn dựa trên tham nhũng và tinh thần bè đảng, bất chấp công ích và đạo lý. Nhưng xin đừng ai nghĩ rằng tình trạng xấu xa tàn tệ đó là do bản chất của người Việt Nam tạo ra! Không người Việt Nam nào chấp nhận tình trạng đó. Khi so sánh với nước ngoài, ai cũng cảm thấy nhục nhã.
CIA Chánh Thức Trở Lại VN
Vi Anh
Richard Halloran trong một bản tin phân tích khá dài tựa là “A Long Reconciliation” (Một Cuộc Hòa Giải Lâu Dài), đăng trên báo Honolulu Star-Advertiser ngày 20-3-2011, có nói đến việc Cơ Quan Trung Ương Tình Báo Mỹ là CIA mở văn phòng liên lạc tại Hà nội, thủ đô của nước Cộng Hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tin này đáng chú ý trong việc hợp tác an ninh giữa Washington và Hà nội trên phương diện nổi. Nó còn rất đáng chú ý trên phương diện chìm trong những sinh hoạt của những nhà hoạt động đối lập và đối kháng với nhà cầm quyền CS Hà nội.
Một, nguồn tin CIA chánh thức trở lại VN xuất phát đúng chỗ. Honolulu như nhiều người biết là đầu cầu Á châu của Mỹ. Về quân sự là nơi toạ lạc của Bộ Tư Lệnh Quân Lực Mỹ Vùng Thái Bình Dương. Về chánh trị Honolulu là trạm trung chuyển giữa các nước Á châu và Mỹ. Hẩu hết những cán chính Việt Nam Cộng Hòa khi xưa trước khi đến Mỹ để công du Mỹ theo lời mời của các cơ quan công quyền Mỹ như Quốc Hội với Fulbright Grant, hay các bộ và đại học Mỹ đều được “Mỹ“ mời ghé thăm East West Center (Trung Tâm Đông Tây). Nói là viếng thăm theo văn từ ngoại giao chớ thực sự là để được thuyết trình và nghe ý kiến về tình hình. Bây giờ trước khi có Một Cuộc Hòa Giải Lâu Dài như là nhà báo nói trên đã viết, Đaị Sứ Lê Công Phụng mười ngày trước cũng đã bay tới Honolulu.
Hai, Washington, Hanoi hợp tác an ninh. Chuyện này đã chuẫn bị từ lâu. Hàng chục cuộc họp, hàng chục biểu thị họp tác, hàng chục lời tuyên bố của các giới chức Ngoại giao, Quốc Phòng từ Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, Phụ tá, kể cả Tư Lịnh Thái bình Dương nữa.
Như Việt Báo kể sơ sơ, “Hạm Đội Thái Bình Dương của Mỹ tại Trân Châu Cảng, nơi đã gửi khoảng nửa tá tàu chiến sang thăm các hải cảng VN các năm gần đây, dự định mở một hội nghị với các cấp chỉ huy tương nhiệm vào mùa xuân này để thu xếp thêm các chuyến tàu chiến Mỹ thăm VN. Trong một quyết định có tính đột phá, Việt Nam báo rằng hải cảng ở Vịnh Cam Ranh sẵn sàng mở ngõ đón tàu chiến hải quân nước ngoài.”.. “Năm ngoái, phi cơ từ mẫu hạm USS George Washington đã chở nhiều lãnh tụ quân sự và chính trị VN bay ra tàu chiến đậu ngoaì khơi. Mẫu hạm USS John Stennis cũng làm như thế trước đó cùng năm, cả 2 lần đều bị Bắc Kinh phản đối vì nói rằng vi phạm vùng Biển Đông của TQ.”
Không cần gì một chuyên viên theo dõi và phân tích thời sự mới biết, người phó thường dân VN cũng biết “Mỹ đi rồi Mỹ lại vế” nhứt là sau những chuyễn động dồn dập của Mỹ vào Biển Đông qua ngỏ ASEAN với các cuộc họp Bộ Trưởng Ngoại Giao, Quốc Phòng Mỹ ở Hà nội và họp thượng đỉnh có mặt TT Mỹ Obama và Chủ Tịch Nước Cộng Hoà Xã hội Chủ nghĩa VN Nguyễn minh Triết ở New York. CS Hà nội muốn Mỹ làm lá chắn cho VN trong vấn đề Biễn Đông mà Trung Cộng đã chiếm gần 80% lãnh hải và hai đảo Hoàng sa Trướng sa làm thành Huyện Tam Sa của TC.
Mà họp tác an ninh của Mỹ ở ngoại quốc điều kiện cần và đủ là phải có CIA vì CIA là cơ quan trung ương tình báo an ninh chánh trị, là tai mắt của chánh quyền Mỹ nói chung, có một vị thế trọng yếu trong Hội Đồng An Ninh Quốc gia Mỹ, thường thuyết trình cho tổng thống khi có biến cố ở hải ngoại.
Ba, Hà nội đã tạo điều kiện dễ dàng cho CIA hoạt động chánh thức và công khai ở VN với việc đồng ý cho CIA lập văn phòng liên lạc hay trụ sở ở VN. Hai chục năm, từ ngày Washington lập bang giao rồi giao thương với nhà cầm quyền CS Hà nội tới nay, theo truyền thống tổ chức, nhu cầu công vụ quốc gia,chắc chắn CIA đã bí mật vào Việt Nam rồi. Nhiều hình thức ngụy trang lắm, đội lốt ngoại giao, kinh doanh, báo chí, văn hoá, giáo duc, thiện nguyện, v.v...
Nói không có CIA ở VNCS thời mở cửa cho đầu tư nước ngoài vào và bang giao, giao thương với Mỹ là không biết Mỹ. Ngay thời VN Cộng Hoà đồng minh với Mỹ mấy ông lớn còn ngán CIA. Nhưng CS Hà nội quá cần Mỹ trong kinh tế, giao thương, ngoại giao, còn CIA thì quá dồi dào con người và phương tiện tài chánh, kỹ thuật điêu luyện. Nên người ta chưa thấy một lần nào CS bắt và trục xuất một CIA..
Cho CIA lập văn phòng liên lạc tức chánh thức có mặt và hoạt động ở VN là siết mối dây hợp tác an ninh chặt chẽ để thêm tai mắt tin tức về TC. Đúng nhưng mới một mặt nhỏ thôi. Luật đầu của CIA về tương quan là không bạn, “first law no friend”. Luật đầu của công tác CIA là quyền lợi của nhân dân và chánh quyền Mỹ là tối thượng. Chánh quyền Mỹ có thể hết tổng thống này tới tổng thống kia, đảng này tới đảng nọ cầm quyền, nhưng chánh nghĩa quyền lợi Mỹ là lý tưởng bất di bất dịch trong hoạt động của CIA.
Cho đến bây giờ CIA vẫn còn là cơ quan tình báo số 1 hoàn cầu. Đối với CIA. TC là một đối tác, VC cũng là một đối tác của CIA. Cái gì lợi cho đất nước, nhân dân Mỹ là CIA làm.
Bốn, ngoài công tác an ninh tình báo, CIA còn làm công tác chánh trị nữa, lắm trường họp công tác chánh trị còn nhiều và trội yếu hơn nữa. Nhiều khi công tác chánh trị của CIA không cùng chiều hướng với Toà Đại sứ. CIA có thể làm việc chánh thức với ngành an ninh đồng nhiệm và bán chánh thức với tất cả các ngành quân dân cán chính, nhứt là ngành chánh trị là lãnh vực tổng hợp của nhà cầm quyền.
Ngân sách của CIA rất bí mật nhiều khi hội đoàn tư nhân và các cơ quan công quyền của Mỹ tặng nhưng đó là tiền của CIA. Khi nào cần thì CIA nói với “bạn của chúng ta” giúp dưới nhiều hình thức.
Truyền thống, lịch sử, tinh lý và nguyên tắc của nên tự do, dân chủ Mỹ không bao giờ chấp nhận một chế độ độc tài, độc đảng, chuyên chính, toàn trị. Quốc Hội Mỹ không thể chấp nhận một nền chánh trị không có đối lập. Nên người ta không ngạc nhiên tại sao khi xưa ở Saigon Toà Đại sứ Mỹ, Cơ quan Viện Trợ Quân sự Mỹ ủng hộ chánh quyền của TT Nguyễn văn Thiệu. Nhưng Đại Tướng Dương văn Minh đối thủ của TT Thiệu vẫn hoạt dộng tĩnh bơ. Báo chí đối lập càng bị tịch thu càng lời, nhờ “ bon” giấy của cơ quan thông tin Mỹ giúp. Đó là chưa nói những số tiền mà người bạn Mỹ kín đáo giúp trong các nhà an toàn có rất nhiều, ở nhiều nơi, kể cả Huế, Đà nẵng, Cần Thơ, dĩ nhiên có rất nhiều ở Saigon, nơi đây có lúc văn phòng chi nhánh của CIA ở Đông Nam Á.
Bốn, một thời sự để đối chiếu về hoạt động muôn mặt của CIA vì một thứ là quyền lợi Mỹ. Tin Reuters của nước Anh, nhân viên CIA đã có mặt tại Libya: trước khi tổng thống Obama ký sắc lịnh hành pháp điều động; trước khi những siêu cường Tây Phương giằn co nên hay không nên viện trợ vũ khí cho quân nổi dậy chống độc tài Gadhafi; trước hai ba tuần trước khi Quốc Hội Mỹ một số vị chỉ trích TT sử dụng không lực lập vùng cấm bay mà không tham khảo Quốc Hội.
CIA đã phái nhân viên sang Libya để tiếp xúc với phe nổi dậy và đánh giá khả năng của lực lượng này. TT Mỹ có đặc quyền cho phép CIA tiến hành các hoạt động bí mật mà không cần phải ký sắc lệnh. Việc làm này Hành Pháp không báo cho Ủy Ban Tình Báo Thượng Viện trước khi xuất phát. Số nhân viên tình báo Mỹ này xâm nhập Libya qua biên giới Ai cập.
Từ đó cho thấy việc Hà nội cho CIA lập văn phòng liên lạc ở Hà nội là một con dao hai lưỡi đối với nhà cầm quyền quá tham nhũng, quá độc tài, quá mang tiếng xấu trên thế giới.
Nhưng đối với phong trào người dân đấu tranh thì lợi nhiều vì bên cạnh bản tường trình của toà đại sứ còn có bản tường trình mật của CIA. Đó là chưa nói việc bí mật yểm trợ để VN có đối lập, có tự do, dân chủ./.( Vi Anh)
Vi Anh
Richard Halloran trong một bản tin phân tích khá dài tựa là “A Long Reconciliation” (Một Cuộc Hòa Giải Lâu Dài), đăng trên báo Honolulu Star-Advertiser ngày 20-3-2011, có nói đến việc Cơ Quan Trung Ương Tình Báo Mỹ là CIA mở văn phòng liên lạc tại Hà nội, thủ đô của nước Cộng Hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tin này đáng chú ý trong việc hợp tác an ninh giữa Washington và Hà nội trên phương diện nổi. Nó còn rất đáng chú ý trên phương diện chìm trong những sinh hoạt của những nhà hoạt động đối lập và đối kháng với nhà cầm quyền CS Hà nội.
Một, nguồn tin CIA chánh thức trở lại VN xuất phát đúng chỗ. Honolulu như nhiều người biết là đầu cầu Á châu của Mỹ. Về quân sự là nơi toạ lạc của Bộ Tư Lệnh Quân Lực Mỹ Vùng Thái Bình Dương. Về chánh trị Honolulu là trạm trung chuyển giữa các nước Á châu và Mỹ. Hẩu hết những cán chính Việt Nam Cộng Hòa khi xưa trước khi đến Mỹ để công du Mỹ theo lời mời của các cơ quan công quyền Mỹ như Quốc Hội với Fulbright Grant, hay các bộ và đại học Mỹ đều được “Mỹ“ mời ghé thăm East West Center (Trung Tâm Đông Tây). Nói là viếng thăm theo văn từ ngoại giao chớ thực sự là để được thuyết trình và nghe ý kiến về tình hình. Bây giờ trước khi có Một Cuộc Hòa Giải Lâu Dài như là nhà báo nói trên đã viết, Đaị Sứ Lê Công Phụng mười ngày trước cũng đã bay tới Honolulu.
Hai, Washington, Hanoi hợp tác an ninh. Chuyện này đã chuẫn bị từ lâu. Hàng chục cuộc họp, hàng chục biểu thị họp tác, hàng chục lời tuyên bố của các giới chức Ngoại giao, Quốc Phòng từ Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, Phụ tá, kể cả Tư Lịnh Thái bình Dương nữa.
Như Việt Báo kể sơ sơ, “Hạm Đội Thái Bình Dương của Mỹ tại Trân Châu Cảng, nơi đã gửi khoảng nửa tá tàu chiến sang thăm các hải cảng VN các năm gần đây, dự định mở một hội nghị với các cấp chỉ huy tương nhiệm vào mùa xuân này để thu xếp thêm các chuyến tàu chiến Mỹ thăm VN. Trong một quyết định có tính đột phá, Việt Nam báo rằng hải cảng ở Vịnh Cam Ranh sẵn sàng mở ngõ đón tàu chiến hải quân nước ngoài.”.. “Năm ngoái, phi cơ từ mẫu hạm USS George Washington đã chở nhiều lãnh tụ quân sự và chính trị VN bay ra tàu chiến đậu ngoaì khơi. Mẫu hạm USS John Stennis cũng làm như thế trước đó cùng năm, cả 2 lần đều bị Bắc Kinh phản đối vì nói rằng vi phạm vùng Biển Đông của TQ.”
Không cần gì một chuyên viên theo dõi và phân tích thời sự mới biết, người phó thường dân VN cũng biết “Mỹ đi rồi Mỹ lại vế” nhứt là sau những chuyễn động dồn dập của Mỹ vào Biển Đông qua ngỏ ASEAN với các cuộc họp Bộ Trưởng Ngoại Giao, Quốc Phòng Mỹ ở Hà nội và họp thượng đỉnh có mặt TT Mỹ Obama và Chủ Tịch Nước Cộng Hoà Xã hội Chủ nghĩa VN Nguyễn minh Triết ở New York. CS Hà nội muốn Mỹ làm lá chắn cho VN trong vấn đề Biễn Đông mà Trung Cộng đã chiếm gần 80% lãnh hải và hai đảo Hoàng sa Trướng sa làm thành Huyện Tam Sa của TC.
Mà họp tác an ninh của Mỹ ở ngoại quốc điều kiện cần và đủ là phải có CIA vì CIA là cơ quan trung ương tình báo an ninh chánh trị, là tai mắt của chánh quyền Mỹ nói chung, có một vị thế trọng yếu trong Hội Đồng An Ninh Quốc gia Mỹ, thường thuyết trình cho tổng thống khi có biến cố ở hải ngoại.
Ba, Hà nội đã tạo điều kiện dễ dàng cho CIA hoạt động chánh thức và công khai ở VN với việc đồng ý cho CIA lập văn phòng liên lạc hay trụ sở ở VN. Hai chục năm, từ ngày Washington lập bang giao rồi giao thương với nhà cầm quyền CS Hà nội tới nay, theo truyền thống tổ chức, nhu cầu công vụ quốc gia,chắc chắn CIA đã bí mật vào Việt Nam rồi. Nhiều hình thức ngụy trang lắm, đội lốt ngoại giao, kinh doanh, báo chí, văn hoá, giáo duc, thiện nguyện, v.v...
Nói không có CIA ở VNCS thời mở cửa cho đầu tư nước ngoài vào và bang giao, giao thương với Mỹ là không biết Mỹ. Ngay thời VN Cộng Hoà đồng minh với Mỹ mấy ông lớn còn ngán CIA. Nhưng CS Hà nội quá cần Mỹ trong kinh tế, giao thương, ngoại giao, còn CIA thì quá dồi dào con người và phương tiện tài chánh, kỹ thuật điêu luyện. Nên người ta chưa thấy một lần nào CS bắt và trục xuất một CIA..
Cho CIA lập văn phòng liên lạc tức chánh thức có mặt và hoạt động ở VN là siết mối dây hợp tác an ninh chặt chẽ để thêm tai mắt tin tức về TC. Đúng nhưng mới một mặt nhỏ thôi. Luật đầu của CIA về tương quan là không bạn, “first law no friend”. Luật đầu của công tác CIA là quyền lợi của nhân dân và chánh quyền Mỹ là tối thượng. Chánh quyền Mỹ có thể hết tổng thống này tới tổng thống kia, đảng này tới đảng nọ cầm quyền, nhưng chánh nghĩa quyền lợi Mỹ là lý tưởng bất di bất dịch trong hoạt động của CIA.
Cho đến bây giờ CIA vẫn còn là cơ quan tình báo số 1 hoàn cầu. Đối với CIA. TC là một đối tác, VC cũng là một đối tác của CIA. Cái gì lợi cho đất nước, nhân dân Mỹ là CIA làm.
Bốn, ngoài công tác an ninh tình báo, CIA còn làm công tác chánh trị nữa, lắm trường họp công tác chánh trị còn nhiều và trội yếu hơn nữa. Nhiều khi công tác chánh trị của CIA không cùng chiều hướng với Toà Đại sứ. CIA có thể làm việc chánh thức với ngành an ninh đồng nhiệm và bán chánh thức với tất cả các ngành quân dân cán chính, nhứt là ngành chánh trị là lãnh vực tổng hợp của nhà cầm quyền.
Ngân sách của CIA rất bí mật nhiều khi hội đoàn tư nhân và các cơ quan công quyền của Mỹ tặng nhưng đó là tiền của CIA. Khi nào cần thì CIA nói với “bạn của chúng ta” giúp dưới nhiều hình thức.
Truyền thống, lịch sử, tinh lý và nguyên tắc của nên tự do, dân chủ Mỹ không bao giờ chấp nhận một chế độ độc tài, độc đảng, chuyên chính, toàn trị. Quốc Hội Mỹ không thể chấp nhận một nền chánh trị không có đối lập. Nên người ta không ngạc nhiên tại sao khi xưa ở Saigon Toà Đại sứ Mỹ, Cơ quan Viện Trợ Quân sự Mỹ ủng hộ chánh quyền của TT Nguyễn văn Thiệu. Nhưng Đại Tướng Dương văn Minh đối thủ của TT Thiệu vẫn hoạt dộng tĩnh bơ. Báo chí đối lập càng bị tịch thu càng lời, nhờ “ bon” giấy của cơ quan thông tin Mỹ giúp. Đó là chưa nói những số tiền mà người bạn Mỹ kín đáo giúp trong các nhà an toàn có rất nhiều, ở nhiều nơi, kể cả Huế, Đà nẵng, Cần Thơ, dĩ nhiên có rất nhiều ở Saigon, nơi đây có lúc văn phòng chi nhánh của CIA ở Đông Nam Á.
Bốn, một thời sự để đối chiếu về hoạt động muôn mặt của CIA vì một thứ là quyền lợi Mỹ. Tin Reuters của nước Anh, nhân viên CIA đã có mặt tại Libya: trước khi tổng thống Obama ký sắc lịnh hành pháp điều động; trước khi những siêu cường Tây Phương giằn co nên hay không nên viện trợ vũ khí cho quân nổi dậy chống độc tài Gadhafi; trước hai ba tuần trước khi Quốc Hội Mỹ một số vị chỉ trích TT sử dụng không lực lập vùng cấm bay mà không tham khảo Quốc Hội.
CIA đã phái nhân viên sang Libya để tiếp xúc với phe nổi dậy và đánh giá khả năng của lực lượng này. TT Mỹ có đặc quyền cho phép CIA tiến hành các hoạt động bí mật mà không cần phải ký sắc lệnh. Việc làm này Hành Pháp không báo cho Ủy Ban Tình Báo Thượng Viện trước khi xuất phát. Số nhân viên tình báo Mỹ này xâm nhập Libya qua biên giới Ai cập.
Từ đó cho thấy việc Hà nội cho CIA lập văn phòng liên lạc ở Hà nội là một con dao hai lưỡi đối với nhà cầm quyền quá tham nhũng, quá độc tài, quá mang tiếng xấu trên thế giới.
Nhưng đối với phong trào người dân đấu tranh thì lợi nhiều vì bên cạnh bản tường trình của toà đại sứ còn có bản tường trình mật của CIA. Đó là chưa nói việc bí mật yểm trợ để VN có đối lập, có tự do, dân chủ./.( Vi Anh)
Thương yêu từ California gửi tới Nhật
Ðoàn Thanh Liêm
Thương cảm với nỗi đau thương khốn khó của bà con nạn nhân tai họa động đất và sóng thần ở Nhật mới đây,
người Việt ở miền Nam cũng như Bắc California đang ra sức góp phần vào việc cứu trợ khẩn cấp đến Nhật.
Nhân viên cấp cứu Nhật tìm người sống sót tại thị trấn Ishinomaki sau trận động đất hồi Tháng Ba, 2011. (Hình: Paula Bronstein/Getty Images)
Từ các em nhỏ học sinh 13-14 tuổi rủ nhau đi rửa xe để lấy tiền góp vào quỹ cứu trợ, đến các hội đoàn, các tổ chức từ thiện, nhất là các cộng đoàn tín đồ tôn giáo cũng đứng ra tổ chức những buổi gây quỹ thật quy mô qua các buổi xuống đường lạc quyên, các sinh hoạt trình diễn âm nhạc, hay bữa ăn kèm theo việc bán đấu giá tranh nghệ thuật, đĩa âm nhạc v.v...
Ðáng kể nhất tại miền Nam California là buổi đại nhạc hội có tên là “VietLove for Japan” diễn ra vào chiều ngày Thứ Sáu, 8 Tháng Tư, từ 2 giờ chiều đến 9 giờ tối, tại khu Fountain Valley Town Center, ở góc đường Brookhurst và Edinger, Fountain Valley. Vừa đây trong buổi họp báo vào ngày 4 Tháng Tư tại tòa soạn nhật báo Người Việt, cô Khánh Liên, thủ quỹ của ban tổ chức, cho biết đã gây quỹ được trên $21,000, và kêu gọi công chúng tiếp tục đóng góp cho công việc làm có ý nghĩa này. Còn về nội dung của buổi trình diễn, ca sĩ Ý Lan cho biết đã có đến 59 nghệ sĩ ghi danh tham dự buổi trình diễn này. Bà con nào muốn đóng góp, thì có thể viết chi phiếu đề tên “American Red Cross,” trong phần Memo xin đề: “VietLove for Japan.”
Còn tại miền Bắc California, thì sẽ có một buổi văn nghệ gây quỹ được tổ chức thật quy mô vào chiều Chủ Nhật, 10 Tháng Tư, tại nhà hàng Dynasty, trong khu Grand Century Mall, trên đường Story, San Jose. Chương trình này được đặt tên là: “Thương về xứ Phù Tang - Japan! We're With You!” Nhà báo Huỳnh Lương Thiện trong ban tổ chức cho biết các ca sĩ Khánh Ly, Như Quỳnh từ miền Nam California đã nhận lời tham gia trình diễn ca nhạc trong dịp này. Ðặc biệt ca sĩ Khánh Ly còn hát bài nổi tiếng “Diễm Xưa” bằng tiếng Việt và tiếng Nhật, như đã được hát tại Nhật hồi năm 1970 nhân dịp Hội Chợ Quốc Tế tại Osaka. Và bà Nga là phu nhân của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cũng đã hứa sẽ gửi biếu ban tổ chức buổi gây quỹ này một số băng CD ghi âm bài hát “Nắng Chiều” nổi tiếng từ hồi năm 1956-1957, mà cũng có bản chuyển âm tiếng Nhật nữa. Trong số quan khách được mời, còn có đại diện của Tòa Lãnh Sự Nhật ở San Francisco. Và ban tổ chức còn dự trù sẽ trực tiếp trao số tiền thu được cho vị tổng lãnh sự hiện diện trong bữa tiệc này nữa.
Cũng tại miền Bắc California, thì vào ngày Chủ Nhật, 27 Tháng Ba, gia đình Phật tử Chánh Hòa ở thành phố Hayward đã tổ chức một cuộc xuống đường quyên góp từ thiện nhằm cứu giúp nạn nhân ở Nhật. Và Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trường Bưởi-Chu Văn An Bắc California cũng đã phát động cuộc quyên góp trong nội bộ các hội viên để gửi cho quỹ cứu trợ của tổ chức Hồng Thập Tự Mỹ ở địa phương.
Nói vắn tắt lại, riêng tại California đã có rất nhiều sáng kiến của các tổ chức nhân đạo từ thiện của người Việt, cũng như của các nghệ sĩ cùng đứng ra kêu gọi bà con đồng hương người Việt tích cực tham gia vào công cuộc cứu trợ các nạn nhân thiên tai động đất ở Nhật hiện nay. Ðó là sự tiếp nối cái truyền thống nhân ái và liên đới ruột rà của người Việt Nam sống trên đất Mỹ đối với anh chị em đồng loại giữa cơn hoạn nạn tai ương. Ðiều này đã từng được thể hiện năm 2010 vừa qua đối với các nạn nhân của trận động đất ở Haiti, năm 2005 với bão Katrina ở Louisiana, năm 2004 với nạn sóng thần ở Indonesia vậy.
Lần này, do ảnh hưởng kinh tế vẫn còn khó khăn hạn chế, cho nên có thể tổng số tiền quyên góp được sẽ rất khiêm tốn. Nhưng đó vẫn là một biểu lộ chân thật của tấm lòng người dân Việt ở California chia sẻ với những bạn người Nhật giữa cơn hoạn nạn tai biến ở phía bên kia bờ biển Thái Bình Dương nữa vậy.
Ðoàn Thanh Liêm
Thương cảm với nỗi đau thương khốn khó của bà con nạn nhân tai họa động đất và sóng thần ở Nhật mới đây,
người Việt ở miền Nam cũng như Bắc California đang ra sức góp phần vào việc cứu trợ khẩn cấp đến Nhật.
Nhân viên cấp cứu Nhật tìm người sống sót tại thị trấn Ishinomaki sau trận động đất hồi Tháng Ba, 2011. (Hình: Paula Bronstein/Getty Images)
Từ các em nhỏ học sinh 13-14 tuổi rủ nhau đi rửa xe để lấy tiền góp vào quỹ cứu trợ, đến các hội đoàn, các tổ chức từ thiện, nhất là các cộng đoàn tín đồ tôn giáo cũng đứng ra tổ chức những buổi gây quỹ thật quy mô qua các buổi xuống đường lạc quyên, các sinh hoạt trình diễn âm nhạc, hay bữa ăn kèm theo việc bán đấu giá tranh nghệ thuật, đĩa âm nhạc v.v...
Ðáng kể nhất tại miền Nam California là buổi đại nhạc hội có tên là “VietLove for Japan” diễn ra vào chiều ngày Thứ Sáu, 8 Tháng Tư, từ 2 giờ chiều đến 9 giờ tối, tại khu Fountain Valley Town Center, ở góc đường Brookhurst và Edinger, Fountain Valley. Vừa đây trong buổi họp báo vào ngày 4 Tháng Tư tại tòa soạn nhật báo Người Việt, cô Khánh Liên, thủ quỹ của ban tổ chức, cho biết đã gây quỹ được trên $21,000, và kêu gọi công chúng tiếp tục đóng góp cho công việc làm có ý nghĩa này. Còn về nội dung của buổi trình diễn, ca sĩ Ý Lan cho biết đã có đến 59 nghệ sĩ ghi danh tham dự buổi trình diễn này. Bà con nào muốn đóng góp, thì có thể viết chi phiếu đề tên “American Red Cross,” trong phần Memo xin đề: “VietLove for Japan.”
Còn tại miền Bắc California, thì sẽ có một buổi văn nghệ gây quỹ được tổ chức thật quy mô vào chiều Chủ Nhật, 10 Tháng Tư, tại nhà hàng Dynasty, trong khu Grand Century Mall, trên đường Story, San Jose. Chương trình này được đặt tên là: “Thương về xứ Phù Tang - Japan! We're With You!” Nhà báo Huỳnh Lương Thiện trong ban tổ chức cho biết các ca sĩ Khánh Ly, Như Quỳnh từ miền Nam California đã nhận lời tham gia trình diễn ca nhạc trong dịp này. Ðặc biệt ca sĩ Khánh Ly còn hát bài nổi tiếng “Diễm Xưa” bằng tiếng Việt và tiếng Nhật, như đã được hát tại Nhật hồi năm 1970 nhân dịp Hội Chợ Quốc Tế tại Osaka. Và bà Nga là phu nhân của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cũng đã hứa sẽ gửi biếu ban tổ chức buổi gây quỹ này một số băng CD ghi âm bài hát “Nắng Chiều” nổi tiếng từ hồi năm 1956-1957, mà cũng có bản chuyển âm tiếng Nhật nữa. Trong số quan khách được mời, còn có đại diện của Tòa Lãnh Sự Nhật ở San Francisco. Và ban tổ chức còn dự trù sẽ trực tiếp trao số tiền thu được cho vị tổng lãnh sự hiện diện trong bữa tiệc này nữa.
Cũng tại miền Bắc California, thì vào ngày Chủ Nhật, 27 Tháng Ba, gia đình Phật tử Chánh Hòa ở thành phố Hayward đã tổ chức một cuộc xuống đường quyên góp từ thiện nhằm cứu giúp nạn nhân ở Nhật. Và Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trường Bưởi-Chu Văn An Bắc California cũng đã phát động cuộc quyên góp trong nội bộ các hội viên để gửi cho quỹ cứu trợ của tổ chức Hồng Thập Tự Mỹ ở địa phương.
Nói vắn tắt lại, riêng tại California đã có rất nhiều sáng kiến của các tổ chức nhân đạo từ thiện của người Việt, cũng như của các nghệ sĩ cùng đứng ra kêu gọi bà con đồng hương người Việt tích cực tham gia vào công cuộc cứu trợ các nạn nhân thiên tai động đất ở Nhật hiện nay. Ðó là sự tiếp nối cái truyền thống nhân ái và liên đới ruột rà của người Việt Nam sống trên đất Mỹ đối với anh chị em đồng loại giữa cơn hoạn nạn tai ương. Ðiều này đã từng được thể hiện năm 2010 vừa qua đối với các nạn nhân của trận động đất ở Haiti, năm 2005 với bão Katrina ở Louisiana, năm 2004 với nạn sóng thần ở Indonesia vậy.
Lần này, do ảnh hưởng kinh tế vẫn còn khó khăn hạn chế, cho nên có thể tổng số tiền quyên góp được sẽ rất khiêm tốn. Nhưng đó vẫn là một biểu lộ chân thật của tấm lòng người dân Việt ở California chia sẻ với những bạn người Nhật giữa cơn hoạn nạn tai biến ở phía bên kia bờ biển Thái Bình Dương nữa vậy.
Khổng Tử thay Mao
Ngô Nhân Dụng
Sau trận động đất ở Nhật Bản, một ký giả tờ Trung Ương nhật báo của Nam Hàn mô tả: “Hầu như không thấy có một người Nhật nào gặp phải thảm cảnh này mà khóc lóc than van. Cũng không nghe nói có chuyện thừa cơ trong lúc lộn xộn vì động đất để giết người cướp của.” Nói với đồng bào người Hàn quốc, ký giả viết: “Chúng ta vẫn còn phải học hỏi nhiều từ Nhật Bản, và còn xa chúng ta mới có thể trở thành một nước tiên tiến (như họ).”
Trong mục này bài trước đã dẫn những lời khen tương tự của ông Vương Hy Văn, ký giả Hoàn Cầu Thời Báo của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Khi chứng kiến hành vi của dân Nhật sau trận động đất, ông thốt lên: “50 năm nữa người Trung Quốc cũng chưa thể có trình độ dân trí và ý thức công dân cao như người Nhật hiện nay.” Ông phải thú nhận: “Tôi hổ thẹn mình là con cháu của Khổng Tử nhưng không hiểu cái đạo Nhân Nghĩa bằng họ.”
Có thể nói Khổng Giáo là một gia tài văn hóa chung của các nước Á Ðông. Tại Việt Nam, trước cửa trường Trung học Trương Vĩnh Ký ở Sài Gòn năm xưa có đôi câu đối, vế đầu là “Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khắc Cốt.” Khi chúng ta nhắc nhau hãy noi theo tấm gương của những Chu An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Ðình Chiểu, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, không ai quên rằng tất cả các bậc tiền nhân đó đều được đào tạo trong “Cửa Khổng Sân Trình” và họ không bao giờ từ bỏ gia tài văn hóa đó để theo một chủ nghĩa ngoại lai nào cả.
Trung Quốc và Hàn Quốc là hai quốc gia bị quân đội Nhật Bản chiếm đóng nhiều năm và áp dụng những chính sách rất tàn bạo. Ai cũng biết hai dân tộc đó rất quật cường, nhưng các khái niệm Nhân Nghĩa, Trung Tín, mà hiện nay họ vẫn dạy trong các trường học đều xuất phát từ Nho Giáo. Khi nhìn thấy những cảnh đáng khâm phục ở nước Nhật, các ký giả trên đã thành thực nói lên ý nghĩ của mình mà không sợ đồng bào của họ chỉ trích. Nếu không biết thán phục những cái hay của người khác thì cũng không ý thức được cái dở của mình, và không bao giờ sửa đổi được.
Trong khi ở Nhật Bản và Nam Hàn Nho giáo vẫn được kính trọng và được dạy dỗ cho giới trẻ, thì ở chính trong nước Trung Hoa số phận ông Khổng Tử không được may mắn như vậy. Chế độ Mao Trạch Ðông đã quét sạch các “tàn tích” của Nho giáo, để thay thế bằng những giáo điều mới của Marx và Lenin, qua lời dẫn giải của Mao Trạch Ðông. Ký giả Vương Hy Văn chắc cũng biết rằng nếu đồng bào Trung Hoa của ông đã không thi hành đạo Nhân Nghĩa của Không Tử được bằng người Nhật, thì đó là do đảng Cộng Sản gây ra. Ở Việt Nam cũng vậy. Vừa rồi một ông ngoại trưởng Nhật Bản phải từ chức sau khi thú nhận đã vô tình nhận một món tiền ủng hộ tranh cử sai luật, vì do một người di dân không có quốc tịch Nhật đóng góp. Số tiền chỉ đáng 600 đô la Mỹ. Nhưng các quan chức Trung Quốc và Việt Nam ăn hối lộ hoặc tẩu tán tài sản công, hàng chục triệu Mỹ kim, hoặc hàng tỷ Mỹ kim như trong vụ Vinashin, thì không sao cả!
Ðầu năm 2011, trước khi ông Hồ Cẩm Ðào sang thăm nước Mỹ, một bức tượng Khổng Tử cao 8 mét được dựng lên tại Quảng trường Thiên An Môn, đối diện với cái lăng trưng xác ướp của Mao Trạch Ðông. Nhật báo Nhân Dân đã mở cuộc trưng cầu ý kiến độc giả, có hơn 800 ngàn người góp ý kiến, và 62% họ không đồng ý việc dựng pho tượng này! Tỷ số này đáng ngạc nhiên, vì trong hai mươi năm qua đảng Cộng Sản đã bắt đầu cho Khổng Từ “sống lại” rồi. Hội Khổng Học đã được chính thức thành lập năm 1990, sau biến cố Thiên An Môn đẫm máu dân lành. Chủ Tịch Giang Trạch Dân tới khai mạc hội này, đã hãnh diện kể chuyện rằng chính ông ta hồi nhỏ vẫn được thân phụ lén lút dạy Tam Tự Kinh: “Nhân chi sơ tính bản thiện,” một câu trong Luận Ngữ!. Một chương trình ti vi do Giáo Sư Vu Ðan phụ trách bàn về Luận Ngữ rất được hâm mộ. Sau cô đã xuất bản thành sách, tựa đề “Luận Ngữ Tâm Ðắc” bán ngay được mười triệu cuốn; cô được mời đi khắp thế giới thuyết trình; bản dịch tiếng Anh tựa là “Confucius From The Heart.” Căn cứ vào các sự kiện đó, phải nói là người Trung Hoa hiện nay cũng thiết tha muốn học lại nền tảng đạo đức của Nho Giáo. Sau khi đã bỏ qua các Sách Ðỏ của Mao, họ cũng muốn lấp vào khoảng trống tinh thần đó những lời nhân nghĩa, đạo đức, thay vì chỉ học “làm giầu là vinh quang” như ông Ðặng Tiểu Bình dạy!
Chúng ta có thể hiểu tại sao gần hai phần ba độc giả góp ý với báo Nhân Dân không đồng ý với việc dựng pho tượng Khổng Tử; nếu biết họ là những người nào. Ai cũng biết chỉ các cán bộ cộng sản cấp cao mới chịu bỏ thời giờ đọc báo Nhân Dân, để xem “các cụ ở trên” đang nói gì! Sau hơn nửa thế kỷ nghe bộ máy tuyên truyền bài bác, đả kích, bôi nhọ Nho giáo, các cán bộ này không thể hiểu tại sao bây giờ hình ảnh Khổng Tử lại được tôn kính như vậy!
Nhưng câu chuyện Giang Trạch Dân trên đây cho thấy ngay dưới chế độ Mao Trạch Ðông, người dân bình thường vẫn tôn kính Khổng Tử. Phần lớn thế hệ những người cầm đầu đảng Cộng Sản cũng đã được cha mẹ dạy Nho giáo, ảnh hưởng của nền giáo dục cổ truyền vẫn rất sâu đậm. Một lãnh tụ cộng sản biết bắt chước ngôn ngữ Nho giáo sớm nhất là Lưu Thiếu Kỳ. Trong cuốn “Ðể làm một người cộng sản tốt” do ông soạn (Như hà tố nhất cá hảo đích cộng sản chủ nghĩa, 1949). Lưu Thiếu Kỳ đã dùng động từ Tố, theo chữ Tố Nhân, nghĩa là Làm Người mà Nho giáo hay dùng. Lưu Thiếu Kỳ còn liệt kê những khẩu hiệu “Cách vật, Chí tri, Chính tâm, Thành ý, Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ” trong sách Ðại Học, một trong Tứ Thư. Ông nói các đảng viên cộng sản phải học thuộc các khẩu hiệu mới, giống như nhà Nho xưa vẫn thuộc lòng các khẩu hiệu Tu Tề Trị Bình! Muốn thúc đẩy các đảng viên “học tập tốt,” ông còn trích dẫn lời Trình Tử đời Tống, “Ngô nhật tam tỉnh ngô thân,” (Mỗi ngày tôi tự hỏi tôi ba điều) để nói đảng viên cộng sản phải bắt chước mà “học tập” và “tự phê bình!”
Nhưng một “hảo cộng sản” như Lưu Thiếu Kỳ vẫn không được yên. Năm 1966, ông bị Mao hất ra khỏi hàng ngũ lãnh đạo. Ðến thời Cách Mạng Văn Hóa, bộ máy tuyên truyền của Mao Trạch Ðông đả kích cuốn “Cẩm nang đảng viên” của Lưu Thiếu Kỳ, tố cáo ông ta là kẻ đã muốn phục hồi “Chủ nghĩa Cá nhân” của Khổng giáo! Lưu bị bắt giam rồi chết trong ngục tối.
Tất nhiên Khổng Tử cũng không được yên. Cuối thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa, nhóm Tứ Nhân Bang được lệnh Mao đã mở chiến dịch “Phê Lâm Phê Khổng.” Mục tiêu thứ nhất là để xóa trong trí nhớ người Trung Hoa mối sai lầm của Mao khi chọn Lâm Bưu làm “đông cung thái tử.” Lâm đã viết lời tựa cho Cuốn Sách Ðỏ của Mao, được coi như tài liệu học tập tương đương với cuốn sách “Luận Ngữ” của Khổng Tử đời xưa. Lâm Bưu đã được Mao chỉ định sẽ lên kế vị, điều này được ghi cả vào cương lĩnh đảng. Tháng 9 năm 1971, con trai Lâm Bưu tính đảo chính lật đổ vợ chồng Mao nhưng bị lộ, cùng bố mẹ chạy trốn, chết trong tai nạn máy bay trên đường sang Nga. Mãi một năm sau, người Trung Hoa ở lục địa mới biết Lâm Bưu đã chết. Rồi đến năm 1973, chiến dịch Phê Lâm Phê Khổng bắt đầu; mục tiêu thứ hai cốt nhắm đánh vào Thủ Tướng Chu Ân Lai. Khổng Tử bị phê là một “tên phản động.”
Tại sao Khổng Tử bị gán tội phản động? Mao đã phân chia các thời kỳ trong lịch sử Trung Hoa theo Duy vật Lịch sử của Karl Marx. Thời Xuân Thu được gọi thời kỳ Trung Quốc đang chuyển từ chế độ Nô lệ sang chế độ Phong kiến mà nền tảng là giai cấp các địa chủ. Khổng Tử bị tố cáo là “tên phản động” vì ông muốn bảo vệ quyền lợi tầng lớp quý tộc, chống giai cấp đang lên thiết lập chế độ “địa chủ chuyên chính” trong lịch sử! Năm 1974, phong trào “Phê Lâm Phê Khổng” được đẩy lên tột đỉnh. Tất cả các chi bộ đảng được lệnh học tập đấu tranh. Không những Khổng Tử bị đấu mà cả đến Beethoven và Shubert cũng bị liệt vào hàng ngũ phản động nữa! Lâm Bưu được gắn cho nhãn hiệu là một trong số nhiều ông “Khổng Tử Ðương Ðại!” Chu Ân Lai cũng được xếp loại như một “Khổng Tử Con,” nhưng may mắn ông ta bị ung thư đang nằm chờ chết cho nên không bị đem ra đấu trường.
Trong lúc đó, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc khi còn ở lục địa cũng như khi chạy qua Ðài Loan vẫn tuyên dương Nho giáo. Năm 1948, khi Liên Hiệp Quốc soạn thảo bản Tuyên Ngôn Nhân quyền, phái đoàn Trung Hoa Quốc gia đã nhất thiết yêu cầu ghi được vào Lời Nói Ðầu một lời của Khổng Tử: “All Men are brothers,” dịch câu “Tứ hải chi nội giai huynh đệ,” (Luận Ngữ, chương XII Nhan Uyên, câu số 2). Ðến khi chính quyền Trung Cộng được vào Liên Hiệp Quốc thay thế Trung Hoa Dân Quốc vào cuối năm 1972, đại diện của Bắc Kinh đã kịch liệt công kích việc ghi tên Khổng Tử trong bản Tuyên Ngôn; họ muốn xóa bỏ đi! Vì cũng trong thời gian đó, chiến dịch Phê Lâm Phê Khổng sắp được Mao phát động!
Với những thành tích chống Khổng Mạnh quá khứ như thế, bây giờ Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc định sử dụng Khổng Tử vào mục đích củng cố chế độ chuyên chế độc đảng. Nhưng rồi họ sẽ thất bại. Vì khi được học hỏi, nghiên cứu và trao đổi với thế giới bên ngoài một cách tự do, người Trung Hoa sẽ thấy: Khổng Tử, Mạnh Tử không phải là những người ủng hộ một chính quyền chuyên chế, ngay trong thời đại của họ, dưới chế độ quân chủ và phong kiến. Chủ trương “tôn quân quyền” tuyệt đối chỉ bắt đầu xuất hiện từ đời Hán, ba, bốn thế kỷ sau thời Khổng, Mạnh. Dân Nhật Bản vẫn coi Khổng Tử là một vị thầy muôn đời nhưng tất cả mọi người Nhật vẫn tuân thủ một hiến pháp tự do dân chủ, không có điều gì mâu thuẫn cả
Người Trung Hoa ở lục địa cũng như người Việt Nam trong nước, vẫn có thể học được những quy tắc đạo lý mà Nho Giáo đã truyền bá suốt hai ngàn năm, mà không cần phải nhắm mắt tuân theo ý muốn của những kẻ nắm quyền, như ý đồ của Cộng Sản Trung Quốc. Người ta có thể học các quy tắc Trung Tín, Nhân Nghĩa, Chánh Trực Quang Minh, vân vân, mà không cần phải nhắc đến tên Khổng hay Mạnh! Chính những quy tắc đạo đức đó, khi được đem giảng dạy trong trường hy vọng sẽ thay đổi cách sống của thế hệ thanh niên mới lớn. Sau một vài thế hệ, thanh niên ở Việt Nam và Trung Quốc sẽ được đào tạo trong môi trường đạo lý không khác gì những người dân Nhật Bản ngày nay. Nhưng muốn cho họ không những học mà còn thực hành các quy tắc nhân nghĩa, thì tất cả guồng máy cai trị từ trên xuống dưới phải thi hành các quy tắc đó trước. Nếu không thì cảnh “nhà dột từ nóc dột xuống” sẽ khiến cho xã hội vẫn chìm đắm trong cảnh vô đạo! Nói theo lối nhà Nho, đó là “Thượng bất chính, hạ tắc loạn!”
Ngô Nhân Dụng
Sau trận động đất ở Nhật Bản, một ký giả tờ Trung Ương nhật báo của Nam Hàn mô tả: “Hầu như không thấy có một người Nhật nào gặp phải thảm cảnh này mà khóc lóc than van. Cũng không nghe nói có chuyện thừa cơ trong lúc lộn xộn vì động đất để giết người cướp của.” Nói với đồng bào người Hàn quốc, ký giả viết: “Chúng ta vẫn còn phải học hỏi nhiều từ Nhật Bản, và còn xa chúng ta mới có thể trở thành một nước tiên tiến (như họ).”
Trong mục này bài trước đã dẫn những lời khen tương tự của ông Vương Hy Văn, ký giả Hoàn Cầu Thời Báo của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Khi chứng kiến hành vi của dân Nhật sau trận động đất, ông thốt lên: “50 năm nữa người Trung Quốc cũng chưa thể có trình độ dân trí và ý thức công dân cao như người Nhật hiện nay.” Ông phải thú nhận: “Tôi hổ thẹn mình là con cháu của Khổng Tử nhưng không hiểu cái đạo Nhân Nghĩa bằng họ.”
Có thể nói Khổng Giáo là một gia tài văn hóa chung của các nước Á Ðông. Tại Việt Nam, trước cửa trường Trung học Trương Vĩnh Ký ở Sài Gòn năm xưa có đôi câu đối, vế đầu là “Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khắc Cốt.” Khi chúng ta nhắc nhau hãy noi theo tấm gương của những Chu An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Ðình Chiểu, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, không ai quên rằng tất cả các bậc tiền nhân đó đều được đào tạo trong “Cửa Khổng Sân Trình” và họ không bao giờ từ bỏ gia tài văn hóa đó để theo một chủ nghĩa ngoại lai nào cả.
Trung Quốc và Hàn Quốc là hai quốc gia bị quân đội Nhật Bản chiếm đóng nhiều năm và áp dụng những chính sách rất tàn bạo. Ai cũng biết hai dân tộc đó rất quật cường, nhưng các khái niệm Nhân Nghĩa, Trung Tín, mà hiện nay họ vẫn dạy trong các trường học đều xuất phát từ Nho Giáo. Khi nhìn thấy những cảnh đáng khâm phục ở nước Nhật, các ký giả trên đã thành thực nói lên ý nghĩ của mình mà không sợ đồng bào của họ chỉ trích. Nếu không biết thán phục những cái hay của người khác thì cũng không ý thức được cái dở của mình, và không bao giờ sửa đổi được.
Trong khi ở Nhật Bản và Nam Hàn Nho giáo vẫn được kính trọng và được dạy dỗ cho giới trẻ, thì ở chính trong nước Trung Hoa số phận ông Khổng Tử không được may mắn như vậy. Chế độ Mao Trạch Ðông đã quét sạch các “tàn tích” của Nho giáo, để thay thế bằng những giáo điều mới của Marx và Lenin, qua lời dẫn giải của Mao Trạch Ðông. Ký giả Vương Hy Văn chắc cũng biết rằng nếu đồng bào Trung Hoa của ông đã không thi hành đạo Nhân Nghĩa của Không Tử được bằng người Nhật, thì đó là do đảng Cộng Sản gây ra. Ở Việt Nam cũng vậy. Vừa rồi một ông ngoại trưởng Nhật Bản phải từ chức sau khi thú nhận đã vô tình nhận một món tiền ủng hộ tranh cử sai luật, vì do một người di dân không có quốc tịch Nhật đóng góp. Số tiền chỉ đáng 600 đô la Mỹ. Nhưng các quan chức Trung Quốc và Việt Nam ăn hối lộ hoặc tẩu tán tài sản công, hàng chục triệu Mỹ kim, hoặc hàng tỷ Mỹ kim như trong vụ Vinashin, thì không sao cả!
Ðầu năm 2011, trước khi ông Hồ Cẩm Ðào sang thăm nước Mỹ, một bức tượng Khổng Tử cao 8 mét được dựng lên tại Quảng trường Thiên An Môn, đối diện với cái lăng trưng xác ướp của Mao Trạch Ðông. Nhật báo Nhân Dân đã mở cuộc trưng cầu ý kiến độc giả, có hơn 800 ngàn người góp ý kiến, và 62% họ không đồng ý việc dựng pho tượng này! Tỷ số này đáng ngạc nhiên, vì trong hai mươi năm qua đảng Cộng Sản đã bắt đầu cho Khổng Từ “sống lại” rồi. Hội Khổng Học đã được chính thức thành lập năm 1990, sau biến cố Thiên An Môn đẫm máu dân lành. Chủ Tịch Giang Trạch Dân tới khai mạc hội này, đã hãnh diện kể chuyện rằng chính ông ta hồi nhỏ vẫn được thân phụ lén lút dạy Tam Tự Kinh: “Nhân chi sơ tính bản thiện,” một câu trong Luận Ngữ!. Một chương trình ti vi do Giáo Sư Vu Ðan phụ trách bàn về Luận Ngữ rất được hâm mộ. Sau cô đã xuất bản thành sách, tựa đề “Luận Ngữ Tâm Ðắc” bán ngay được mười triệu cuốn; cô được mời đi khắp thế giới thuyết trình; bản dịch tiếng Anh tựa là “Confucius From The Heart.” Căn cứ vào các sự kiện đó, phải nói là người Trung Hoa hiện nay cũng thiết tha muốn học lại nền tảng đạo đức của Nho Giáo. Sau khi đã bỏ qua các Sách Ðỏ của Mao, họ cũng muốn lấp vào khoảng trống tinh thần đó những lời nhân nghĩa, đạo đức, thay vì chỉ học “làm giầu là vinh quang” như ông Ðặng Tiểu Bình dạy!
Chúng ta có thể hiểu tại sao gần hai phần ba độc giả góp ý với báo Nhân Dân không đồng ý với việc dựng pho tượng Khổng Tử; nếu biết họ là những người nào. Ai cũng biết chỉ các cán bộ cộng sản cấp cao mới chịu bỏ thời giờ đọc báo Nhân Dân, để xem “các cụ ở trên” đang nói gì! Sau hơn nửa thế kỷ nghe bộ máy tuyên truyền bài bác, đả kích, bôi nhọ Nho giáo, các cán bộ này không thể hiểu tại sao bây giờ hình ảnh Khổng Tử lại được tôn kính như vậy!
Nhưng câu chuyện Giang Trạch Dân trên đây cho thấy ngay dưới chế độ Mao Trạch Ðông, người dân bình thường vẫn tôn kính Khổng Tử. Phần lớn thế hệ những người cầm đầu đảng Cộng Sản cũng đã được cha mẹ dạy Nho giáo, ảnh hưởng của nền giáo dục cổ truyền vẫn rất sâu đậm. Một lãnh tụ cộng sản biết bắt chước ngôn ngữ Nho giáo sớm nhất là Lưu Thiếu Kỳ. Trong cuốn “Ðể làm một người cộng sản tốt” do ông soạn (Như hà tố nhất cá hảo đích cộng sản chủ nghĩa, 1949). Lưu Thiếu Kỳ đã dùng động từ Tố, theo chữ Tố Nhân, nghĩa là Làm Người mà Nho giáo hay dùng. Lưu Thiếu Kỳ còn liệt kê những khẩu hiệu “Cách vật, Chí tri, Chính tâm, Thành ý, Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ” trong sách Ðại Học, một trong Tứ Thư. Ông nói các đảng viên cộng sản phải học thuộc các khẩu hiệu mới, giống như nhà Nho xưa vẫn thuộc lòng các khẩu hiệu Tu Tề Trị Bình! Muốn thúc đẩy các đảng viên “học tập tốt,” ông còn trích dẫn lời Trình Tử đời Tống, “Ngô nhật tam tỉnh ngô thân,” (Mỗi ngày tôi tự hỏi tôi ba điều) để nói đảng viên cộng sản phải bắt chước mà “học tập” và “tự phê bình!”
Nhưng một “hảo cộng sản” như Lưu Thiếu Kỳ vẫn không được yên. Năm 1966, ông bị Mao hất ra khỏi hàng ngũ lãnh đạo. Ðến thời Cách Mạng Văn Hóa, bộ máy tuyên truyền của Mao Trạch Ðông đả kích cuốn “Cẩm nang đảng viên” của Lưu Thiếu Kỳ, tố cáo ông ta là kẻ đã muốn phục hồi “Chủ nghĩa Cá nhân” của Khổng giáo! Lưu bị bắt giam rồi chết trong ngục tối.
Tất nhiên Khổng Tử cũng không được yên. Cuối thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa, nhóm Tứ Nhân Bang được lệnh Mao đã mở chiến dịch “Phê Lâm Phê Khổng.” Mục tiêu thứ nhất là để xóa trong trí nhớ người Trung Hoa mối sai lầm của Mao khi chọn Lâm Bưu làm “đông cung thái tử.” Lâm đã viết lời tựa cho Cuốn Sách Ðỏ của Mao, được coi như tài liệu học tập tương đương với cuốn sách “Luận Ngữ” của Khổng Tử đời xưa. Lâm Bưu đã được Mao chỉ định sẽ lên kế vị, điều này được ghi cả vào cương lĩnh đảng. Tháng 9 năm 1971, con trai Lâm Bưu tính đảo chính lật đổ vợ chồng Mao nhưng bị lộ, cùng bố mẹ chạy trốn, chết trong tai nạn máy bay trên đường sang Nga. Mãi một năm sau, người Trung Hoa ở lục địa mới biết Lâm Bưu đã chết. Rồi đến năm 1973, chiến dịch Phê Lâm Phê Khổng bắt đầu; mục tiêu thứ hai cốt nhắm đánh vào Thủ Tướng Chu Ân Lai. Khổng Tử bị phê là một “tên phản động.”
Tại sao Khổng Tử bị gán tội phản động? Mao đã phân chia các thời kỳ trong lịch sử Trung Hoa theo Duy vật Lịch sử của Karl Marx. Thời Xuân Thu được gọi thời kỳ Trung Quốc đang chuyển từ chế độ Nô lệ sang chế độ Phong kiến mà nền tảng là giai cấp các địa chủ. Khổng Tử bị tố cáo là “tên phản động” vì ông muốn bảo vệ quyền lợi tầng lớp quý tộc, chống giai cấp đang lên thiết lập chế độ “địa chủ chuyên chính” trong lịch sử! Năm 1974, phong trào “Phê Lâm Phê Khổng” được đẩy lên tột đỉnh. Tất cả các chi bộ đảng được lệnh học tập đấu tranh. Không những Khổng Tử bị đấu mà cả đến Beethoven và Shubert cũng bị liệt vào hàng ngũ phản động nữa! Lâm Bưu được gắn cho nhãn hiệu là một trong số nhiều ông “Khổng Tử Ðương Ðại!” Chu Ân Lai cũng được xếp loại như một “Khổng Tử Con,” nhưng may mắn ông ta bị ung thư đang nằm chờ chết cho nên không bị đem ra đấu trường.
Trong lúc đó, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc khi còn ở lục địa cũng như khi chạy qua Ðài Loan vẫn tuyên dương Nho giáo. Năm 1948, khi Liên Hiệp Quốc soạn thảo bản Tuyên Ngôn Nhân quyền, phái đoàn Trung Hoa Quốc gia đã nhất thiết yêu cầu ghi được vào Lời Nói Ðầu một lời của Khổng Tử: “All Men are brothers,” dịch câu “Tứ hải chi nội giai huynh đệ,” (Luận Ngữ, chương XII Nhan Uyên, câu số 2). Ðến khi chính quyền Trung Cộng được vào Liên Hiệp Quốc thay thế Trung Hoa Dân Quốc vào cuối năm 1972, đại diện của Bắc Kinh đã kịch liệt công kích việc ghi tên Khổng Tử trong bản Tuyên Ngôn; họ muốn xóa bỏ đi! Vì cũng trong thời gian đó, chiến dịch Phê Lâm Phê Khổng sắp được Mao phát động!
Với những thành tích chống Khổng Mạnh quá khứ như thế, bây giờ Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc định sử dụng Khổng Tử vào mục đích củng cố chế độ chuyên chế độc đảng. Nhưng rồi họ sẽ thất bại. Vì khi được học hỏi, nghiên cứu và trao đổi với thế giới bên ngoài một cách tự do, người Trung Hoa sẽ thấy: Khổng Tử, Mạnh Tử không phải là những người ủng hộ một chính quyền chuyên chế, ngay trong thời đại của họ, dưới chế độ quân chủ và phong kiến. Chủ trương “tôn quân quyền” tuyệt đối chỉ bắt đầu xuất hiện từ đời Hán, ba, bốn thế kỷ sau thời Khổng, Mạnh. Dân Nhật Bản vẫn coi Khổng Tử là một vị thầy muôn đời nhưng tất cả mọi người Nhật vẫn tuân thủ một hiến pháp tự do dân chủ, không có điều gì mâu thuẫn cả
Người Trung Hoa ở lục địa cũng như người Việt Nam trong nước, vẫn có thể học được những quy tắc đạo lý mà Nho Giáo đã truyền bá suốt hai ngàn năm, mà không cần phải nhắm mắt tuân theo ý muốn của những kẻ nắm quyền, như ý đồ của Cộng Sản Trung Quốc. Người ta có thể học các quy tắc Trung Tín, Nhân Nghĩa, Chánh Trực Quang Minh, vân vân, mà không cần phải nhắc đến tên Khổng hay Mạnh! Chính những quy tắc đạo đức đó, khi được đem giảng dạy trong trường hy vọng sẽ thay đổi cách sống của thế hệ thanh niên mới lớn. Sau một vài thế hệ, thanh niên ở Việt Nam và Trung Quốc sẽ được đào tạo trong môi trường đạo lý không khác gì những người dân Nhật Bản ngày nay. Nhưng muốn cho họ không những học mà còn thực hành các quy tắc nhân nghĩa, thì tất cả guồng máy cai trị từ trên xuống dưới phải thi hành các quy tắc đó trước. Nếu không thì cảnh “nhà dột từ nóc dột xuống” sẽ khiến cho xã hội vẫn chìm đắm trong cảnh vô đạo! Nói theo lối nhà Nho, đó là “Thượng bất chính, hạ tắc loạn!”
Người đâu? Người đây!
Tạ Phong Tần
(Nguồn: Blog TạPhongTần)
Lâu nay, đọc báo nhà nước thấy “nhà nước ta” cứ than thở không đủ người làm việc, không đủ cán bộ chống buôn lậu bảo vệ nền kinh tế nước nhà, bảo vệ tính mạng người dân mà thấy thương “nhà nước ta” đáo để.
Nào là: “Càng gần Tết, hàng lậu bắt không xuể bởi lực lượng chức năng không đủ người để ngăn chặn tất cả các hướng xâm nhập của dân buôn lậu”. (Buôn lậu nóng vùng biên - Báo Tuyên Quang - 30/12/2010). Rồi “2 tháng cuối năm Âm lịch là thời điểm hoạt động nhộn nhịp nhất của dân buôn lậu. Vì món lời lớn, dễ tiêu thụ nên họ đã bất chấp pháp luật để làm liều. Các cơ quan chức năng luôn kêu ca không đủ người để kiểm soát buôn lậu”. (Thể Thao & Văn Hóa - 21/01/2011)
Ở biên giới Tây Nam, xăng dầu thoải mái xuất lậu ồ ạt sang bên kia biên giới mà “nhà nước ta” thì bó tay, bắt xăng lậu như bắt cóc bỏ dĩa.
Không phải là cán bộ loại xoàng “kêu” thiếu người chung chung, mà là “quan chức đáng kính” hẳn hoi “kêu” nhé. Ông Phùng Quang Hội - chi cục trưởng Chi cục Hải quan Tân Thanh nói: “Tôi vừa phải tăng cường 5 cán bộ chi viện cho Cốc Nam. Thiếu cán bộ quá. Cửu vạn hàng lậu thì nhiều, ‘chim lợn’ thì lắm. Anh em ‘trần mình’ rét mướt để đấu tranh nhưng cũng không thể ngăn chặn triệt để”. (Gia Ðình - 28/01/2011).
Ðây là nói về mặt trận chống buôn lậu các loại ở khu vực biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam. Thời gian gần đây, không ít vụ tai nạn đường sắt thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản đã xảy ra, nhưng việc ngăn chận, phòng ngừa tai nạn trong thời gian tới thì... phó mặc cho trời. Ông Nguyễn Văn Bình - trưởng ban an toàn giao thông đường sắt Tổng công ty Ðường sắt Việt Nam nói: “Dù biết nguyên nhân chủ yếu của tai nạn đường sắt xuất phát từ đường ngang bất hợp pháp, nhưng nếu chỗ nào cũng lập rào chắn thì ngành đường sắt không đủ người”. (Tuổi Trẻ - 01/04/2011)
“Một nguyên nhân khác cũng tạo điều kiện cho rác công nghiệp nhập ồ ạt vào nước ta ở sự quá mỏng lực lượng cảnh sát môi trường, hải quan không đủ người, cộng với sự thiếu thốn phương tiện kiểm tra”. (Dân Việt - 25/10/2011)
Ðại khái là mỗi khi làm chuyện gì vì lợi ích của dân thì các quan kêu: Thiếu người làm nên tình hình mới tệ như vậy. Chúng tôi cũng muốn làm đúng pháp luật nhưng lấy đâu ra người làm. Người đâu?
Cứ tưởng “nhà nước ta” thật sự thiếu người làm việc công ích (được trả lương đàng hoàng), thôi tự an ủi nhau cố gắng lạc quan yêu đời dù cho phải mua hàng dỏm nhập lậu, dù phải chịu “sống chung với rác”, dù mỗi ngày ra đường là một cuộc chơi “Vượt lên tử thần”... nhưng biết làm sao được. Dân Việt Nam phải hiểu và thông cảm với “nỗi khổ” của “nhà nước ta” vì thiếu người làm việc mà.
Thế nhưng, qua những phiên tòa được ghi rõ trong quyết định đưa vụ án ra xét xử là “xét xử công khai” của “nhà nước ta” thời gian gần đây thì thực tế không phải như vậy. Từ vụ án của blogger Ðiếu Cày năm 2008, vụ án 8 giáo dân Thái Hà năm 2009, vụ án của Luật Sư Lê Công Ðịnh năm 2010, vụ án các giáo dân Cồn Dầu năm 2010, và ngày đám tang ông Trịnh Xuân Tùng (Hà Nội)... Mới nhất là vụ xử ông Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ ở Hà Nội ngày 4/4/2011, cho thấy thực tế lực lượng chìm nổi của “nhà nước ta” bên ngoài tòa án rất hùng hậu, “đông như rươi” với đủ loại binh chủng. Còn bên trong phòng xử, ngoài lực lượng bảo vệ mặc sắc phục, ngoài vợ ông Vũ là thân nhân duy nhất của bị cáo được phép vào phòng xử, thì những người mặc thường phục ngồi đầy kín phòng xử cũng đều là “phe ta” được chọn lọc kỹ càng để vào đấy cả, ngoài phóng viên “lề phải”, phóng viên quốc tế (được phép) vào phòng kế bên phòng xử để xem “truyền hình chất lượng kém” thì đố có thằng dân đen nào lọt vào được.

Tiến Sĩ Cù Hà Huy Vũ (giữa, quay lưng) bị đưa ra tòa và bị kết án 7 năm tù cộng thêm 3 năm quản chế, ngày 4 Tháng Tư. (Hình: Bee.net) Bà Nguyễn Thị Dương Hà nói: “Bản thân tôi, vợ của Cù Huy Hà Vũ, tôi là người duy nhất trong gia đình được có mặt trong phiên xử hôm nay. Cả dòng tộc nội, ngoại, Cù Huy hay Ngô Xuân, không một ai được phép vào dự phiên xử gọi là công khai. Ðây là điều hoàn toàn vi phạm về tố tụng. Bản thân tôi ngồi trong phiên tòa cũng có một cô đeo biển số 47. Cô này tự nhận là công an được trao nhiệm vụ giám sát tôi. Tôi có nói với cô ấy rằng: ‘Tôi có phải là phạm nhân đâu mà giám sát tôi?’ Tôi muốn nói rằng, động vào chỗ nào là chỗ ấy là vi phạm về tố tụng, vi phạm pháp luật”.
Các phiên xử trước đó (những vụ được liệt kê ở trên) “thành phần tham dự” bên trong lẫn bên ngoài tòa án cũng đều như thế.
Cứ nhìn vào các bức hình, video được “phóng viên nhân dân” post lên mạng Internet mà xem. Hình ảnh, phim phèo cho thấy “lực lượng ta” hoàn toàn dư quân số, dư khả năng (gồm con người, vũ khí, phương tiện hỗ trợ, xe cộ, chó nghiệp vụ, máy phá sóng...) bao vây, trấn áp, khủng bố đám đông quần chúng cả mấy ngàn người dân muốn tham dự phiên tòa hay đưa tiễn người quá cố chết oan ức về nơi an nghỉ cuối cùng. Máy móc của “lực lượng ta” thừa khả năng làm “ngủm củ tỏi” tất cả các USB 3G của toàn bộ đám nhà báo “lề phải” được vào bên trong phiên tòa thì mấy cái máy định vị GPRS bọn buôn lậu dùng để báo động chả là cái thá gì so với các phương tiện hiện đại được bố trí vây quanh tòa án của “nhà nước ta”.
Thông tin từ gia đình Luật Sư Lê Quốc Quân và Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn tại Hà Nội cho biết hai ông bị bắt giữ và khám xét nhà vì hành vi “gây rối trật tự công cộng” và “chống người thi hành công vụ” ở khu vực tòa án (nơi xét xử ông Vũ). Nếu quả thật ông Quân, ông Sơn có phạm tội thì tài sản cá nhân và nhà của 2 ông liên quan gì đến hành vi phạm tội đó mà “người nhà nước” phải xông vào lục soát?
Kết quả thấy rõ ràng là “lực lượng ta” đã “thành công tốt đẹp”, “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” ngăn cản đám đông thường dân này, khiến cho bọn chúng không thể nào tiếp cận hàng rào tòa án, nói gì đến vào phòng xử, còn bên trong thì “quân ta” làm chủ tình hình, hễ khi nào “phe ta” nói thì dàn loa phát âm thanh tốt, còn bị cáo và luật sư của bị cáo nói thì “âm thanh bị trục trặc”, bọn bên ngoài đếch biết bên trong nói cái gì, “phe ta” tha hồ viết bài (láo khoét) đăng báo vung vít.
Ðó là chưa liệt kê hết tổng số cái loại “được trả lương” để suốt ngày mặc đủ kiểu thường phục, đội nón sùm sụp, đeo kính che mặt... ngồi rình quanh tư gia những người Việt Nam hay “vạch áo nhà nước ta cho dân xem mụt ghẻ”. Mỗi “ca rình” ít nhất 2 tên, một ngày 24 giờ vị chi có ít nhất 6 tên, nhân cho số “tư gia đặc biệt” sẽ có cả trung đoàn chứ chẳng chơi.
Ðến đây thì rõ rồi, quý vị quan chức có trách nhiệm chống buôn lậu, quý vị có trách nhiệm chống rác lậu, quý vị có trách nhiệm bảo vệ môi trường, quý vị có trách nhiệm bảo vệ đường sắt... Xin quý vị đừng có lên báo mà kêu ca điệp khúc “thiếu người” nữa. Làm gì có chuyện thiếu người, dư người nữa là đằng khác. Người ở đây chứ ở đâu, quý vị cứ việc đến ngay các phiên tòa, hay đến các “tư gia đặc biệt” thì sẽ thấy có ối “người nhà nước” ăn tiền dân rồi vô công rỗi nghề ngồi rình mò xung quanh suốt ngày. Quý vị cứ bảo bọn họ đi canh gác biên giới, canh gác những doanh nghiệp thích xả thải ẩu, canh gác đường tàu... sẽ có ích nước lợi dân hơn nhiều, lại được dân khen, chớ đi làm chi mấy chuyện rình mò, đàn áp dân chúng kiểu xã hội đen chỉ tổ phải chui rúc giấu mặt thiệt là cực khổ.
Cần nhấn mạnh rằng mấy cái việc cản trở người dân tham gia phiên tòa công khai, cướp đoạt tài sản hợp pháp của công dân (điện thoại, máy ảnh, máy ghi âm, USB...), cản trở báo chí tác nghiệp, cản trở người ta dự đám tang, hay rình rập nhà dân... đều là hành vi trái pháp luật Việt Nam và trái với các công ước quốc tế mà chính phủ Việt Nam đã tham gia ký kết. Ðiều phi lý ở Việt Nam hiện nay là làm việc ích quốc lợi dân, làm việc đúng pháp luật thì thiếu người, không có người, nhưng làm việc trái pháp luật thì “nhà nước ta” lại quá dư thừa người.
Chính cán bộ, quan chức “nhà nước ta” còn lên báo tự nhận xét về mình là: “Nói một đàng làm một nẻo”. Ngày xưa, ông cha người Việt có câu: “Miệng quan trôn trẻ” tuy xưa lắc xưa lơ, nhưng đến giờ chẳng hề thấy lạc hậu gì hết, mà xem chừng câu này càng ngày càng trở thành “hot thành ngữ” nữa á!
Tạ Phong Tần
(Nguồn: Blog TạPhongTần)
Lâu nay, đọc báo nhà nước thấy “nhà nước ta” cứ than thở không đủ người làm việc, không đủ cán bộ chống buôn lậu bảo vệ nền kinh tế nước nhà, bảo vệ tính mạng người dân mà thấy thương “nhà nước ta” đáo để.
Nào là: “Càng gần Tết, hàng lậu bắt không xuể bởi lực lượng chức năng không đủ người để ngăn chặn tất cả các hướng xâm nhập của dân buôn lậu”. (Buôn lậu nóng vùng biên - Báo Tuyên Quang - 30/12/2010). Rồi “2 tháng cuối năm Âm lịch là thời điểm hoạt động nhộn nhịp nhất của dân buôn lậu. Vì món lời lớn, dễ tiêu thụ nên họ đã bất chấp pháp luật để làm liều. Các cơ quan chức năng luôn kêu ca không đủ người để kiểm soát buôn lậu”. (Thể Thao & Văn Hóa - 21/01/2011)
Ở biên giới Tây Nam, xăng dầu thoải mái xuất lậu ồ ạt sang bên kia biên giới mà “nhà nước ta” thì bó tay, bắt xăng lậu như bắt cóc bỏ dĩa.
Không phải là cán bộ loại xoàng “kêu” thiếu người chung chung, mà là “quan chức đáng kính” hẳn hoi “kêu” nhé. Ông Phùng Quang Hội - chi cục trưởng Chi cục Hải quan Tân Thanh nói: “Tôi vừa phải tăng cường 5 cán bộ chi viện cho Cốc Nam. Thiếu cán bộ quá. Cửu vạn hàng lậu thì nhiều, ‘chim lợn’ thì lắm. Anh em ‘trần mình’ rét mướt để đấu tranh nhưng cũng không thể ngăn chặn triệt để”. (Gia Ðình - 28/01/2011).
Ðây là nói về mặt trận chống buôn lậu các loại ở khu vực biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam. Thời gian gần đây, không ít vụ tai nạn đường sắt thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản đã xảy ra, nhưng việc ngăn chận, phòng ngừa tai nạn trong thời gian tới thì... phó mặc cho trời. Ông Nguyễn Văn Bình - trưởng ban an toàn giao thông đường sắt Tổng công ty Ðường sắt Việt Nam nói: “Dù biết nguyên nhân chủ yếu của tai nạn đường sắt xuất phát từ đường ngang bất hợp pháp, nhưng nếu chỗ nào cũng lập rào chắn thì ngành đường sắt không đủ người”. (Tuổi Trẻ - 01/04/2011)
“Một nguyên nhân khác cũng tạo điều kiện cho rác công nghiệp nhập ồ ạt vào nước ta ở sự quá mỏng lực lượng cảnh sát môi trường, hải quan không đủ người, cộng với sự thiếu thốn phương tiện kiểm tra”. (Dân Việt - 25/10/2011)
Ðại khái là mỗi khi làm chuyện gì vì lợi ích của dân thì các quan kêu: Thiếu người làm nên tình hình mới tệ như vậy. Chúng tôi cũng muốn làm đúng pháp luật nhưng lấy đâu ra người làm. Người đâu?
Cứ tưởng “nhà nước ta” thật sự thiếu người làm việc công ích (được trả lương đàng hoàng), thôi tự an ủi nhau cố gắng lạc quan yêu đời dù cho phải mua hàng dỏm nhập lậu, dù phải chịu “sống chung với rác”, dù mỗi ngày ra đường là một cuộc chơi “Vượt lên tử thần”... nhưng biết làm sao được. Dân Việt Nam phải hiểu và thông cảm với “nỗi khổ” của “nhà nước ta” vì thiếu người làm việc mà.
Thế nhưng, qua những phiên tòa được ghi rõ trong quyết định đưa vụ án ra xét xử là “xét xử công khai” của “nhà nước ta” thời gian gần đây thì thực tế không phải như vậy. Từ vụ án của blogger Ðiếu Cày năm 2008, vụ án 8 giáo dân Thái Hà năm 2009, vụ án của Luật Sư Lê Công Ðịnh năm 2010, vụ án các giáo dân Cồn Dầu năm 2010, và ngày đám tang ông Trịnh Xuân Tùng (Hà Nội)... Mới nhất là vụ xử ông Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ ở Hà Nội ngày 4/4/2011, cho thấy thực tế lực lượng chìm nổi của “nhà nước ta” bên ngoài tòa án rất hùng hậu, “đông như rươi” với đủ loại binh chủng. Còn bên trong phòng xử, ngoài lực lượng bảo vệ mặc sắc phục, ngoài vợ ông Vũ là thân nhân duy nhất của bị cáo được phép vào phòng xử, thì những người mặc thường phục ngồi đầy kín phòng xử cũng đều là “phe ta” được chọn lọc kỹ càng để vào đấy cả, ngoài phóng viên “lề phải”, phóng viên quốc tế (được phép) vào phòng kế bên phòng xử để xem “truyền hình chất lượng kém” thì đố có thằng dân đen nào lọt vào được.

Tiến Sĩ Cù Hà Huy Vũ (giữa, quay lưng) bị đưa ra tòa và bị kết án 7 năm tù cộng thêm 3 năm quản chế, ngày 4 Tháng Tư. (Hình: Bee.net) Bà Nguyễn Thị Dương Hà nói: “Bản thân tôi, vợ của Cù Huy Hà Vũ, tôi là người duy nhất trong gia đình được có mặt trong phiên xử hôm nay. Cả dòng tộc nội, ngoại, Cù Huy hay Ngô Xuân, không một ai được phép vào dự phiên xử gọi là công khai. Ðây là điều hoàn toàn vi phạm về tố tụng. Bản thân tôi ngồi trong phiên tòa cũng có một cô đeo biển số 47. Cô này tự nhận là công an được trao nhiệm vụ giám sát tôi. Tôi có nói với cô ấy rằng: ‘Tôi có phải là phạm nhân đâu mà giám sát tôi?’ Tôi muốn nói rằng, động vào chỗ nào là chỗ ấy là vi phạm về tố tụng, vi phạm pháp luật”.
Các phiên xử trước đó (những vụ được liệt kê ở trên) “thành phần tham dự” bên trong lẫn bên ngoài tòa án cũng đều như thế.
Cứ nhìn vào các bức hình, video được “phóng viên nhân dân” post lên mạng Internet mà xem. Hình ảnh, phim phèo cho thấy “lực lượng ta” hoàn toàn dư quân số, dư khả năng (gồm con người, vũ khí, phương tiện hỗ trợ, xe cộ, chó nghiệp vụ, máy phá sóng...) bao vây, trấn áp, khủng bố đám đông quần chúng cả mấy ngàn người dân muốn tham dự phiên tòa hay đưa tiễn người quá cố chết oan ức về nơi an nghỉ cuối cùng. Máy móc của “lực lượng ta” thừa khả năng làm “ngủm củ tỏi” tất cả các USB 3G của toàn bộ đám nhà báo “lề phải” được vào bên trong phiên tòa thì mấy cái máy định vị GPRS bọn buôn lậu dùng để báo động chả là cái thá gì so với các phương tiện hiện đại được bố trí vây quanh tòa án của “nhà nước ta”.
Thông tin từ gia đình Luật Sư Lê Quốc Quân và Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn tại Hà Nội cho biết hai ông bị bắt giữ và khám xét nhà vì hành vi “gây rối trật tự công cộng” và “chống người thi hành công vụ” ở khu vực tòa án (nơi xét xử ông Vũ). Nếu quả thật ông Quân, ông Sơn có phạm tội thì tài sản cá nhân và nhà của 2 ông liên quan gì đến hành vi phạm tội đó mà “người nhà nước” phải xông vào lục soát?
Kết quả thấy rõ ràng là “lực lượng ta” đã “thành công tốt đẹp”, “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” ngăn cản đám đông thường dân này, khiến cho bọn chúng không thể nào tiếp cận hàng rào tòa án, nói gì đến vào phòng xử, còn bên trong thì “quân ta” làm chủ tình hình, hễ khi nào “phe ta” nói thì dàn loa phát âm thanh tốt, còn bị cáo và luật sư của bị cáo nói thì “âm thanh bị trục trặc”, bọn bên ngoài đếch biết bên trong nói cái gì, “phe ta” tha hồ viết bài (láo khoét) đăng báo vung vít.
Ðó là chưa liệt kê hết tổng số cái loại “được trả lương” để suốt ngày mặc đủ kiểu thường phục, đội nón sùm sụp, đeo kính che mặt... ngồi rình quanh tư gia những người Việt Nam hay “vạch áo nhà nước ta cho dân xem mụt ghẻ”. Mỗi “ca rình” ít nhất 2 tên, một ngày 24 giờ vị chi có ít nhất 6 tên, nhân cho số “tư gia đặc biệt” sẽ có cả trung đoàn chứ chẳng chơi.
Ðến đây thì rõ rồi, quý vị quan chức có trách nhiệm chống buôn lậu, quý vị có trách nhiệm chống rác lậu, quý vị có trách nhiệm bảo vệ môi trường, quý vị có trách nhiệm bảo vệ đường sắt... Xin quý vị đừng có lên báo mà kêu ca điệp khúc “thiếu người” nữa. Làm gì có chuyện thiếu người, dư người nữa là đằng khác. Người ở đây chứ ở đâu, quý vị cứ việc đến ngay các phiên tòa, hay đến các “tư gia đặc biệt” thì sẽ thấy có ối “người nhà nước” ăn tiền dân rồi vô công rỗi nghề ngồi rình mò xung quanh suốt ngày. Quý vị cứ bảo bọn họ đi canh gác biên giới, canh gác những doanh nghiệp thích xả thải ẩu, canh gác đường tàu... sẽ có ích nước lợi dân hơn nhiều, lại được dân khen, chớ đi làm chi mấy chuyện rình mò, đàn áp dân chúng kiểu xã hội đen chỉ tổ phải chui rúc giấu mặt thiệt là cực khổ.
Cần nhấn mạnh rằng mấy cái việc cản trở người dân tham gia phiên tòa công khai, cướp đoạt tài sản hợp pháp của công dân (điện thoại, máy ảnh, máy ghi âm, USB...), cản trở báo chí tác nghiệp, cản trở người ta dự đám tang, hay rình rập nhà dân... đều là hành vi trái pháp luật Việt Nam và trái với các công ước quốc tế mà chính phủ Việt Nam đã tham gia ký kết. Ðiều phi lý ở Việt Nam hiện nay là làm việc ích quốc lợi dân, làm việc đúng pháp luật thì thiếu người, không có người, nhưng làm việc trái pháp luật thì “nhà nước ta” lại quá dư thừa người.
Chính cán bộ, quan chức “nhà nước ta” còn lên báo tự nhận xét về mình là: “Nói một đàng làm một nẻo”. Ngày xưa, ông cha người Việt có câu: “Miệng quan trôn trẻ” tuy xưa lắc xưa lơ, nhưng đến giờ chẳng hề thấy lạc hậu gì hết, mà xem chừng câu này càng ngày càng trở thành “hot thành ngữ” nữa á!
Khi các đao phủ run sợ
Ngô Nhân Dụng
Họa sĩ Ngải Vị Vị (Ai Wei Wei) ở bên Tầu có nhiều điểm giống như Luật Sư Cù Huy Hà Vũ ở Việt Nam. Cả hai đều sinh từ những gia đình danh vọng; và cả hai đều thức tỉnh chống lại chế độ mà người cha họ đã từng phục vụ. Cù Huy Hà Vũ mới bị đưa ra tòa kết án về tội “chống chính quyền” cộng sản; còn việc bắt giam Ngải Vị Vị đầu tháng này được bộ Ngoại Giao Bắc Kinh giải thích là để điều tra ông “vi phạm luật lệ về kinh tế!”
Ông Cù Huy Hà Vũ là con Thi sĩ Huy Cận nổi tiếng, là đảng viên cộng sản Việt Nam từ thời còn trẻ, làm đến chức bộ trưởng. Thân phụ ông Ngải Vị Vị là Ngải Thanh (Ai Qing), một thi sĩ lừng danh trong thế kỷ 20 tại Trung Quốc. Ngải Thanh đã từng du học ở Pháp, từng bị chính quyền Quốc Dân Ðảng bỏ tù năm 1932. Vốn tên là Tưởng Chính Hàm, nhưng khi in tập “Sông Ðại Yển, Mẹ Vú Nuôi của Tôi” năm 1935 ông tự đổi họ Tưởng sang họ Ngải chỉ vì ghét Tưởng Giới Thạch! Năm 1941 ông tới Diên An gia nhập đoàn quân cộng sản. Dù được Mao Trạch Ðông ái mộ lúc đầu, năm 1958 ông vẫn bị bắt tù cải tạo, cho đến khi Mao qua đời ông mới được xuất bản thơ, năm 1979.
Ngải Vị Vị mới bị bắt ngày 3 Tháng Tư năm 2011 trước khi đáp máy bay đi Hồng Kông. Ông đang triển lãm tại London, và dự trù sẽ khai mạc một cuộc triển lãm khác ở New York, sẽ mở một xưởng họa và điêu khắc ở Berlin. Chính quyền Bắc Kinh phải biết nếu bắt giam ông họ sẽ gây phản ứng bất lợi trên trường quốc tế; và quả nhiên cả thế giới đã lên tiếng. Cho nên quyết định bắt ông phải do Bộ Chính Trị quyết định chứ không phải do một cấp thấp hơn.
Bắt giữ Ngải Vị Vị là dấu hiệu cho thấy phe “diều hâu” trong đảng Cộng Sản Trung Hoa đang thắng thế, tiêu biểu là Châu Vĩnh Khang, ủy viên Thường Vụ Bộ Chính Trị phụ trách các vấn đề an ninh nội địa. Cũng giống như việc bắt và truy tố Cù Huy Hà Vũ cho thấy phe công an trong Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam đã lên chân. Phiên tòa kết tội Cù Huy Hà Vũ vi phạm cả các thủ tục pháp lý, đến nỗi các luật sư bào chữa đồng loạt bỏ ra về; nó cho thấy là phe công an đang biểu dưng quyền lực một cách ngang nhiên, dù làm mất mặt cả chế độ. Vụ bắt giữ Ngải Vị Vị cũng vậy. Ông bị giữ mười ngày mà không ai biết ông bị ai bắt, giam ở đâu; mặc dù lâu nay chính quyền Trung Quốc vẫn tìm cách tôn trọng những luật lệ của chính họ, như việc bắt giữ phải có trát của viện công tố; phải báo cho gia đình biết trong 24 giờ; và chỉ được giam giữ 3 ngày nếu không truy tố. Khi công an Trung Quốc bất chấp các thủ tục hình thức đó, bắt một người nổi danh quốc tế, họ cho thấy đây là một thái độ mới của chính quyền cộng sản Bắc Kinh, bất chấp thể diện quốc tế. Nhất là khi bộ Ngoại Giao Trung Quốc đưa ra lý do là Ngải Vị Vị chỉ bị bắt để điều tra về một tội kinh tế, có thể là về thuế má.
Nếu chính quyền cộng sản ở nước ta đã vu tội “trốn thuế” cho nhà báo Ðiếu Cầy trước đây, chỉ trong một hoạt động kinh doanh là cho thuê nhà, thì việc vu cáo Ngải Vị Vị tội không đóng đủ thuế sẽ rất dễ dàng! Tác phẩm của ông, gồm hội họa, điêu khắc, và kiến trúc được trả giá rất cao trên thị trường quốc tế. Tháng Hai năm 2011 có người đã trả 560,000 Mỹ kim để mua một phần còn lại thuộc tác phẩm điêu khắc của ông mang tên “Những hạt giống Hoa Hướng Dương,” sau khi công an tới đập phá cả họa thất của ông ở Bắc Kinh! Lúc đầu nhà bán đấu giá Sotheby ở London định giá chỉ có 195,000 đô la! Tác phẩm này đã được triển lãm ở London năm ngoái gồm những mảnh nhỏ và hình nhân bằng gốm gọi là những “Hạt giống của Hoa Hướng Dương” mà ông đã thuê 1,600 người thợ ở Cảnh Ðức Chấn tô mầu bằng tay.
Ngải Vị Vị được mời làm cố vấn cho công ty Thụy Sĩ phụ trách vẽ kiểu và xây dựng vận động trường “Tổ Chim” của Thế Vận Hội Bắc Kinh năm 2008. Nhưng khi thấy chính quyền cộng sản tìm cách dùng cuộc thịnh diễn thể thao này làm một khí cụ tuyên truyền, ông đã rút lui và tuyên bố tẩy chay. Chính ông tạo ảnh hưởng khiến Steven Spielberg cũng rút lui không cộng tác với Trương Nghệ Mưu trong việc đạo diễn màn khai mạc. Cuối năm 2009 Ngải Vị Vị đã triển lãm tại Francfurt, Ðức Quốc, với đề tài “Ân Hận,” để mỉa mai những kẻ phạm tội ác rồi chỉ biết nói “Rất ân hận!” Suốt mặt tiền Nhà Nghệ thuật của Francfurt ông cho treo 9,000 cái túi đeo lưng của học sinh. Ðó là một biểu tượng cho những vụ chết oan của hàng ngàn học sinh trong cuộc động đất ở tỉnh Tứ Xuyên, năm 2008, vì bọn quan chức ăn hối lộ để nhà thầu rút ruột khi xây cất trường học. Khi tới Tứ Xuyên ông đã trông thấy những cái túi đeo lưng rớt lại sau khi hàng ngàn học sinh bị tường đè chết. “Phải tưởng niệm các em học sinh này vì báo chí của nhà nước không được phép nhắc tới các em đó; rồi dần dần mọi người sẽ lãng quên!” Ngải Vị Vị đã ủng hộ phong trào đòi điều tra cho ra lẽ tội ác này, giữa năm 2009 ông đã công bố danh sách 5,385 tên tuổi các học sinh chết oan, trong khi cuộc điều tra vẫn tiến hành. Vì chuyện này, ông đã bị công an bắt và đánh đến trọng thương; đến cuối năm 2009 ông được đưa vào bệnh viện ở Munich giải phẫu cấp cứu vì chẩy máu trong óc do các vết thương cũ gây ra.
Quyết định bắt giam Ngải Vị Vị, và hàng loạt các nhà báo, luật sư cùng những người chủ trương các blog, cũng chứng tỏ nhóm lãnh đạo đảng Cộng Sản Trung Quốc đang lo sợ. Họ muốn ra tay ngăn chặn một làn sóng chống đảng đang lên mạnh trên mạng lưới Internet có thể thúc đẩy một cuộc “Cách Mạng Hoa Lài;” trước khi hiện tượng này trở thành một phong trào quần chúng. Họ muốn đánh phủ đầu trên giới trí thức Trung Quốc để dập tắt các hành động phản kháng đang âm ỷ bốc lên và có thể lan rộng trên toàn quốc nhờ mạnh lưới Internet.
Tháng trước, khi có những lời kêu gọi xuất hiện trên Internet mời dân Trung Hoa đi biểu tình tại những địa điểm hẹn trước ở Bắc Kinh và Thượng Hải, guồng máy công an đã mở cuộc tấn công toàn diện trên các phương tiện truyền thông như Internet, Twitter, vân vân. Tháng Ba vừa qua, công an Bắc Kinh ngang nhiên đặt máy nghe trộm và theo dõi tất cả các điện thoại di động trong thành phố 20 triệu dân này, lấy cớ là họ cần theo dõi việc lưu thông và tránh bị kẹt trong xe điện ngầm. Công an Thượng Hải đã yêu cầu cuộc diễn hành Thánh Patrick ngày 12 Tháng Ba phải đổi địa điểm tụ họp, vì nơi họ chọn quá gần nơi hẹn biểu tình Hoa Lài; khiến cho ban tổ chức, gồm những người Ái Nhĩ Lan ở Thượng Hải, phải bãi bỏ cả chương trình lễ Thánh Quan Thầy của nước họ.
Chính quyền cộng sản sợ các mạng lưới thông tin, vì họ đã nếm mùi cay đắng. Những cuộc biểu tình của người dân Tây Tạng năm 2008 và người Yughur ở Tân Cương năm 2009 đều được tổ chức qua các mạng thông tin điện tử.
Các “công dân mạng” rất hoạt động ở Trung Quốc và họ đã gây nên nhiều phong trào quần chúng lớn. Vụ điều tra về nạn tham nhũng sau trận động đất ở Tứ Xuyên là một thí dụ. Cũng trong năm 2008, các công dân mạng cùng nhau hoan hô một người bị kết án tử hình, là Dương Giai (Yang Jia) ở Thượng Hải. Chàng thanh niên 28 tuổi này đã bị công an chửi bới đánh đập khi bị bắt, chỉ vì chuyện đi xe đạp mà không đóng tiền mua bảng số. Anh ta đã trở lại đồn công an, ném chai xăng lửa, xông vào đâm chết 6 viên công an và làm nhiều người bị thương. Anh bị đưa ra tòa, nhưng cả một phong trào toàn quốc đã nổi lên, ví anh như Võ Tòng đả hổ, ca ngợi anh như là một “Ðao Khách Bất Hủ!” Nhiều người viết trên mạng: “Chúng tôi có lúc cũng muốn làm như anh nhưng chưa dám!”
Tháng Năm năm 2009, vụ án oan khuất của cô Ðặng Ngọc Kiều (Deng Yujiao's) cũng được các công dân mạng gây nên thành phong trào phản kháng khắp nước. Cô Kiều ở quận Ba Ðông, tỉnh Hồ Bắc, làm thợ “neo” ở một khách sạn, bị một viên quan chức trong thị xã đến khách sạn tìm hoa dụ dỗ cô không được nên tìm cách cưỡng bức. Cô dùng con dao nhỏ đồ nghề của mình đâm hung thủ đến chết. Câu chuyện cô bị đưa ra tòa được đưa lên Internet, với nhiều chi tiết cho thấy các quan chức khinh thường người dân như thế nào. Bốn triệu blog đã lên tiếng kêu gọi dân chúng phản đối. Nhiều đám sinh viên đã tổ chức biểu tình ngay tại thủ đô Bắc Kinh, họ trương biểu ngữ gọi cô là nữ anh hùng, là liệt nữ, vân vân. Những chiếc áo T Shirt in các khẩu hiệu, trong đó có cả một câu thơ của Mao Trạch Ðông: “Giang sơn như thử đa Kiều!” (Ðất nước như vầy nhiều vẻ đẹp; nhưng có thể hiểu là “nhiều người như Kiều”). Trong cuộc biểu tình, một cô gái mặc toàn đồ trắng nằm co quắp trên đường, chung quanh là hàng chữ: “Ai cũng có thể thành một Ðặng Ngọc Kiều!” Cuối cùng công tố viện phải thay đổi tội danh cho cô được xử nhẹ hơn.
Hiện tượng “Công Dân Mạng” (Nettizens, Võng Dân trong tiếng Trung Hoa) đang phát triển rộng lớn là một mối đe dọa cho độc quyền chính trị của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Số người vào Internet gia tăng rất nhanh; năm 2007 có 162 triệu, các năm sau đã tăng lên thành 298, 384 và năm ngoái lên 457 triệu “công dân mạng.” Những người vào mạng đều thuộc thành phần có học và khá giả hơn người dân thường (mỗi tháng trung bình họ chi tiêu 25 đô la để vào mạng), đa số là thanh niên ở các thành phố. Những nhà trí thức có tinh thần độc lập và đấu tranh cho tự do dân chủ như Ngải Vị Vị đang sử dụng mạng lưới Internet để đánh thức giới trẻ về tình trạng đảng Cộng Sản xâm phạm các quyền công dân của người Trung Hoa. Chế độ cộng sản sợ nhất là có thể một biến cố lớn sẽ khiến người dân nổi giận, khi đó chỉ cần một người lên tiếng, tất cả mọi người sẽ đứng lên, nhất hô vạn ứng. Vì vậy, bộ phận công an trong đảng Cộng Sản đã thuyết phục được Bộ Chính Trị thay đổi sang đường lối cứng rắn! Các tay đao phủ đang run sợ, họ phải ra tay trước. Họ đã bắt rất nhiều nhà trí thức trong thời gian gần đây, và chắc chắn sẽ tiếp tục chính sách này trong 2 năm cầm quyền sau cùng của các ông Hồ Cẩm Ðào và Ôn Gia Bảo.
Ngô Nhân Dụng
Họa sĩ Ngải Vị Vị (Ai Wei Wei) ở bên Tầu có nhiều điểm giống như Luật Sư Cù Huy Hà Vũ ở Việt Nam. Cả hai đều sinh từ những gia đình danh vọng; và cả hai đều thức tỉnh chống lại chế độ mà người cha họ đã từng phục vụ. Cù Huy Hà Vũ mới bị đưa ra tòa kết án về tội “chống chính quyền” cộng sản; còn việc bắt giam Ngải Vị Vị đầu tháng này được bộ Ngoại Giao Bắc Kinh giải thích là để điều tra ông “vi phạm luật lệ về kinh tế!”
Ông Cù Huy Hà Vũ là con Thi sĩ Huy Cận nổi tiếng, là đảng viên cộng sản Việt Nam từ thời còn trẻ, làm đến chức bộ trưởng. Thân phụ ông Ngải Vị Vị là Ngải Thanh (Ai Qing), một thi sĩ lừng danh trong thế kỷ 20 tại Trung Quốc. Ngải Thanh đã từng du học ở Pháp, từng bị chính quyền Quốc Dân Ðảng bỏ tù năm 1932. Vốn tên là Tưởng Chính Hàm, nhưng khi in tập “Sông Ðại Yển, Mẹ Vú Nuôi của Tôi” năm 1935 ông tự đổi họ Tưởng sang họ Ngải chỉ vì ghét Tưởng Giới Thạch! Năm 1941 ông tới Diên An gia nhập đoàn quân cộng sản. Dù được Mao Trạch Ðông ái mộ lúc đầu, năm 1958 ông vẫn bị bắt tù cải tạo, cho đến khi Mao qua đời ông mới được xuất bản thơ, năm 1979.
Ngải Vị Vị mới bị bắt ngày 3 Tháng Tư năm 2011 trước khi đáp máy bay đi Hồng Kông. Ông đang triển lãm tại London, và dự trù sẽ khai mạc một cuộc triển lãm khác ở New York, sẽ mở một xưởng họa và điêu khắc ở Berlin. Chính quyền Bắc Kinh phải biết nếu bắt giam ông họ sẽ gây phản ứng bất lợi trên trường quốc tế; và quả nhiên cả thế giới đã lên tiếng. Cho nên quyết định bắt ông phải do Bộ Chính Trị quyết định chứ không phải do một cấp thấp hơn.
Bắt giữ Ngải Vị Vị là dấu hiệu cho thấy phe “diều hâu” trong đảng Cộng Sản Trung Hoa đang thắng thế, tiêu biểu là Châu Vĩnh Khang, ủy viên Thường Vụ Bộ Chính Trị phụ trách các vấn đề an ninh nội địa. Cũng giống như việc bắt và truy tố Cù Huy Hà Vũ cho thấy phe công an trong Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam đã lên chân. Phiên tòa kết tội Cù Huy Hà Vũ vi phạm cả các thủ tục pháp lý, đến nỗi các luật sư bào chữa đồng loạt bỏ ra về; nó cho thấy là phe công an đang biểu dưng quyền lực một cách ngang nhiên, dù làm mất mặt cả chế độ. Vụ bắt giữ Ngải Vị Vị cũng vậy. Ông bị giữ mười ngày mà không ai biết ông bị ai bắt, giam ở đâu; mặc dù lâu nay chính quyền Trung Quốc vẫn tìm cách tôn trọng những luật lệ của chính họ, như việc bắt giữ phải có trát của viện công tố; phải báo cho gia đình biết trong 24 giờ; và chỉ được giam giữ 3 ngày nếu không truy tố. Khi công an Trung Quốc bất chấp các thủ tục hình thức đó, bắt một người nổi danh quốc tế, họ cho thấy đây là một thái độ mới của chính quyền cộng sản Bắc Kinh, bất chấp thể diện quốc tế. Nhất là khi bộ Ngoại Giao Trung Quốc đưa ra lý do là Ngải Vị Vị chỉ bị bắt để điều tra về một tội kinh tế, có thể là về thuế má.
Nếu chính quyền cộng sản ở nước ta đã vu tội “trốn thuế” cho nhà báo Ðiếu Cầy trước đây, chỉ trong một hoạt động kinh doanh là cho thuê nhà, thì việc vu cáo Ngải Vị Vị tội không đóng đủ thuế sẽ rất dễ dàng! Tác phẩm của ông, gồm hội họa, điêu khắc, và kiến trúc được trả giá rất cao trên thị trường quốc tế. Tháng Hai năm 2011 có người đã trả 560,000 Mỹ kim để mua một phần còn lại thuộc tác phẩm điêu khắc của ông mang tên “Những hạt giống Hoa Hướng Dương,” sau khi công an tới đập phá cả họa thất của ông ở Bắc Kinh! Lúc đầu nhà bán đấu giá Sotheby ở London định giá chỉ có 195,000 đô la! Tác phẩm này đã được triển lãm ở London năm ngoái gồm những mảnh nhỏ và hình nhân bằng gốm gọi là những “Hạt giống của Hoa Hướng Dương” mà ông đã thuê 1,600 người thợ ở Cảnh Ðức Chấn tô mầu bằng tay.
Ngải Vị Vị được mời làm cố vấn cho công ty Thụy Sĩ phụ trách vẽ kiểu và xây dựng vận động trường “Tổ Chim” của Thế Vận Hội Bắc Kinh năm 2008. Nhưng khi thấy chính quyền cộng sản tìm cách dùng cuộc thịnh diễn thể thao này làm một khí cụ tuyên truyền, ông đã rút lui và tuyên bố tẩy chay. Chính ông tạo ảnh hưởng khiến Steven Spielberg cũng rút lui không cộng tác với Trương Nghệ Mưu trong việc đạo diễn màn khai mạc. Cuối năm 2009 Ngải Vị Vị đã triển lãm tại Francfurt, Ðức Quốc, với đề tài “Ân Hận,” để mỉa mai những kẻ phạm tội ác rồi chỉ biết nói “Rất ân hận!” Suốt mặt tiền Nhà Nghệ thuật của Francfurt ông cho treo 9,000 cái túi đeo lưng của học sinh. Ðó là một biểu tượng cho những vụ chết oan của hàng ngàn học sinh trong cuộc động đất ở tỉnh Tứ Xuyên, năm 2008, vì bọn quan chức ăn hối lộ để nhà thầu rút ruột khi xây cất trường học. Khi tới Tứ Xuyên ông đã trông thấy những cái túi đeo lưng rớt lại sau khi hàng ngàn học sinh bị tường đè chết. “Phải tưởng niệm các em học sinh này vì báo chí của nhà nước không được phép nhắc tới các em đó; rồi dần dần mọi người sẽ lãng quên!” Ngải Vị Vị đã ủng hộ phong trào đòi điều tra cho ra lẽ tội ác này, giữa năm 2009 ông đã công bố danh sách 5,385 tên tuổi các học sinh chết oan, trong khi cuộc điều tra vẫn tiến hành. Vì chuyện này, ông đã bị công an bắt và đánh đến trọng thương; đến cuối năm 2009 ông được đưa vào bệnh viện ở Munich giải phẫu cấp cứu vì chẩy máu trong óc do các vết thương cũ gây ra.
Quyết định bắt giam Ngải Vị Vị, và hàng loạt các nhà báo, luật sư cùng những người chủ trương các blog, cũng chứng tỏ nhóm lãnh đạo đảng Cộng Sản Trung Quốc đang lo sợ. Họ muốn ra tay ngăn chặn một làn sóng chống đảng đang lên mạnh trên mạng lưới Internet có thể thúc đẩy một cuộc “Cách Mạng Hoa Lài;” trước khi hiện tượng này trở thành một phong trào quần chúng. Họ muốn đánh phủ đầu trên giới trí thức Trung Quốc để dập tắt các hành động phản kháng đang âm ỷ bốc lên và có thể lan rộng trên toàn quốc nhờ mạnh lưới Internet.
Tháng trước, khi có những lời kêu gọi xuất hiện trên Internet mời dân Trung Hoa đi biểu tình tại những địa điểm hẹn trước ở Bắc Kinh và Thượng Hải, guồng máy công an đã mở cuộc tấn công toàn diện trên các phương tiện truyền thông như Internet, Twitter, vân vân. Tháng Ba vừa qua, công an Bắc Kinh ngang nhiên đặt máy nghe trộm và theo dõi tất cả các điện thoại di động trong thành phố 20 triệu dân này, lấy cớ là họ cần theo dõi việc lưu thông và tránh bị kẹt trong xe điện ngầm. Công an Thượng Hải đã yêu cầu cuộc diễn hành Thánh Patrick ngày 12 Tháng Ba phải đổi địa điểm tụ họp, vì nơi họ chọn quá gần nơi hẹn biểu tình Hoa Lài; khiến cho ban tổ chức, gồm những người Ái Nhĩ Lan ở Thượng Hải, phải bãi bỏ cả chương trình lễ Thánh Quan Thầy của nước họ.
Chính quyền cộng sản sợ các mạng lưới thông tin, vì họ đã nếm mùi cay đắng. Những cuộc biểu tình của người dân Tây Tạng năm 2008 và người Yughur ở Tân Cương năm 2009 đều được tổ chức qua các mạng thông tin điện tử.
Các “công dân mạng” rất hoạt động ở Trung Quốc và họ đã gây nên nhiều phong trào quần chúng lớn. Vụ điều tra về nạn tham nhũng sau trận động đất ở Tứ Xuyên là một thí dụ. Cũng trong năm 2008, các công dân mạng cùng nhau hoan hô một người bị kết án tử hình, là Dương Giai (Yang Jia) ở Thượng Hải. Chàng thanh niên 28 tuổi này đã bị công an chửi bới đánh đập khi bị bắt, chỉ vì chuyện đi xe đạp mà không đóng tiền mua bảng số. Anh ta đã trở lại đồn công an, ném chai xăng lửa, xông vào đâm chết 6 viên công an và làm nhiều người bị thương. Anh bị đưa ra tòa, nhưng cả một phong trào toàn quốc đã nổi lên, ví anh như Võ Tòng đả hổ, ca ngợi anh như là một “Ðao Khách Bất Hủ!” Nhiều người viết trên mạng: “Chúng tôi có lúc cũng muốn làm như anh nhưng chưa dám!”
Tháng Năm năm 2009, vụ án oan khuất của cô Ðặng Ngọc Kiều (Deng Yujiao's) cũng được các công dân mạng gây nên thành phong trào phản kháng khắp nước. Cô Kiều ở quận Ba Ðông, tỉnh Hồ Bắc, làm thợ “neo” ở một khách sạn, bị một viên quan chức trong thị xã đến khách sạn tìm hoa dụ dỗ cô không được nên tìm cách cưỡng bức. Cô dùng con dao nhỏ đồ nghề của mình đâm hung thủ đến chết. Câu chuyện cô bị đưa ra tòa được đưa lên Internet, với nhiều chi tiết cho thấy các quan chức khinh thường người dân như thế nào. Bốn triệu blog đã lên tiếng kêu gọi dân chúng phản đối. Nhiều đám sinh viên đã tổ chức biểu tình ngay tại thủ đô Bắc Kinh, họ trương biểu ngữ gọi cô là nữ anh hùng, là liệt nữ, vân vân. Những chiếc áo T Shirt in các khẩu hiệu, trong đó có cả một câu thơ của Mao Trạch Ðông: “Giang sơn như thử đa Kiều!” (Ðất nước như vầy nhiều vẻ đẹp; nhưng có thể hiểu là “nhiều người như Kiều”). Trong cuộc biểu tình, một cô gái mặc toàn đồ trắng nằm co quắp trên đường, chung quanh là hàng chữ: “Ai cũng có thể thành một Ðặng Ngọc Kiều!” Cuối cùng công tố viện phải thay đổi tội danh cho cô được xử nhẹ hơn.
Hiện tượng “Công Dân Mạng” (Nettizens, Võng Dân trong tiếng Trung Hoa) đang phát triển rộng lớn là một mối đe dọa cho độc quyền chính trị của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Số người vào Internet gia tăng rất nhanh; năm 2007 có 162 triệu, các năm sau đã tăng lên thành 298, 384 và năm ngoái lên 457 triệu “công dân mạng.” Những người vào mạng đều thuộc thành phần có học và khá giả hơn người dân thường (mỗi tháng trung bình họ chi tiêu 25 đô la để vào mạng), đa số là thanh niên ở các thành phố. Những nhà trí thức có tinh thần độc lập và đấu tranh cho tự do dân chủ như Ngải Vị Vị đang sử dụng mạng lưới Internet để đánh thức giới trẻ về tình trạng đảng Cộng Sản xâm phạm các quyền công dân của người Trung Hoa. Chế độ cộng sản sợ nhất là có thể một biến cố lớn sẽ khiến người dân nổi giận, khi đó chỉ cần một người lên tiếng, tất cả mọi người sẽ đứng lên, nhất hô vạn ứng. Vì vậy, bộ phận công an trong đảng Cộng Sản đã thuyết phục được Bộ Chính Trị thay đổi sang đường lối cứng rắn! Các tay đao phủ đang run sợ, họ phải ra tay trước. Họ đã bắt rất nhiều nhà trí thức trong thời gian gần đây, và chắc chắn sẽ tiếp tục chính sách này trong 2 năm cầm quyền sau cùng của các ông Hồ Cẩm Ðào và Ôn Gia Bảo.

