Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Hạnh phúc chỉ là một nụ cười

Trong nhịp sống vội vàng cùng đầy ắp những lo toan bởi gánh nặng mưu sinh, ta chợt bắt gặp nụ cười nở trên môi của trẻ thơ với sự trong sáng, hồn nhiên, nụ cười trên gương mặt thấm ướt mồ hôi của anh phu bốc vác hay những chị bán hàng rong với gánh hàng nặng trĩu trên vai. Cuộc sống muôn màu đầy vất vả, nhưng đôi khi chợt nhận ra "hạnh phúc chỉ là một nụ cười".

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image

CON MẮT
Con mắt nhìn xuống biển rộng bao la
Con mắt nhìn gần quên điều nhỏ nhặt
Con mắt nhìn xa chợt thấy quê nhà.
(thơ Nguyễn Khánh Hòa)


Người Ấn Độ thường chấm một điểm trên trán giữa hai con mắt để diễn tả con mắt thứ ba, là thần nhãn, thấy được những gì mà hai con mắt thịt vẫn nhìn mà không thấy.

Hồi còn là sinh viên, trong lớp tôi cũng có mấy anh bạn người Ấn. Có lần tôi đã trót dại đi nhạo báng mấy tên này vì cái trò ăn bằng tay có vẻ mất vệ sinh, nhất là khi ăn cà ri thì nhoe nhoét quá chừng. Tôi khơi mào bằng chuyện “bước tiến hóa tất yếu của lịch sử” văn minh loài người, rằng cứ xem cách ăn thì biết một sắc dân đã văn minh tới cỡ nào. Này nhé: ăn bằng cả mười ngón tay là thuộc thời còn trong hang hốc rừng rú; người da trắng văn minh hơn một tí thì đã biết mặc quần áo và ăn bằng xiên tức là bốn ngón; còn người Việt thì chỉ dùng có hai ngón mà thôi, tức là dùng đũa. Văn minh chưa?

Nghe tôi cười nhạo như vậy mà tên người Ấn không tỏ dấu tức giận gì, nhưng cứ bình tĩnh đợi cho tôi nói cho đã rồi mới từ từ nói lại: “Này bạn, khi ba mình trao cho mình một món quà, thì bạn lấy hai cái gậy mà khều hay lấy bốn cái que mà chọc? Tôi thì tôi chẳng dám thế. Tôi sẽ cung kính giơ hai bàn tay ra mà lãnh nhận với lòng biết ơn. Người Ấn chúng tôi thấy mọi sự đều là ơn Trời ban: từng hơi thở, từng miếng ăn, từng ngụm nước, từng hạt cơm. Ăn cũng là một nghi thức đấy.”

Đang hí hửng đắc thắng, tôi bị cứng họng, thấy thẹn trong người. Phục tên này quá sức. Đúng là họ có con mắt thứ ba vẽ tượng trưng ở trán.
TIN VUI GỬI NGƯỜI MANG CON MẮT THỊT Nhiều người vẫn có cảm tưởng mình bị nhốt giam tù túng trong một cái bị thịt, con mắt không sao mà nhìn cao và xa hơn được. Ngay cả về thể lý,con mắt mình chắc chắn là không sáng bằng đôi mắt chim cú, không tinh và đầy quyền năng như con rắn nhìn chú gà con, không đơn thành trong sạch bằng đôi mắt bồ câu, không nhìn xa được bằng mắt chim phượng. Người ta đã từng khám phá ra mắt con ruồi có tới ba ngàn lăng kính, chính xác hơn ống kính nổi tiếng nhất thế giới ngày nay như Zeiss, Leica...

Người ta vẫn đổ tội cho ông A-đam và E-và tham ăn tham uống mà con mắt thứ ba là hạch tuyến Pituitary và Pineal bị vít lại, nên hóa ra mù tối mất đi chất sáng nguyên thủy. Nhưng thực ra thì những chuyện lắng lo lẩm cẩm và những vật lộn hằng ngày của mỗi người bây giờ càng ngày càng che lấp tầm mắt chẳng còn có thể nhìn thấy gì nữa. Cộng thêm vào đó là những ham hố, những tham vọng, những bon chen, khiến cho con mắt càng bị che phủ mờ mịt đi. Nhìn lên chỉ thấy ganh tị chưa bằng người; nhìn xuống chỉ thấy những vênh mặt tự đắc; nhìn gần chỉ toàn thấy những giấy đòi nợ và những bon chen hơn thiệt triền miên, đau khổ vật vã với những giằng co đi vào đường cùng. Đúng là quẩn quá!

Đến một khoảnh khắc nào đó mình bỗng dưng bình tỉnh, tầm mắt được mở ra, thoát ra khỏi những chặn vít thường ngày mà nhâm nhi với nhà thơ Nguyễn Trùng Khánh ở New Orleans:

Con mắt nhìn lên trời cao xanh ngát
Con mắt nhìn xuống biển rộng bao la
Con mắt nhìn gần quên điều nhỏ nhặt
Con mắt nhìn xa chợt thấy quê nhà.

Cũng chính vì tầm mắt được nâng lên khi nhìn trời cao biển rộng mà mình bỗng quên đi được những nhỏ nhặt thường ngày mà mọi khi mình vẫn cho là lớn lao vĩ đại. Tầm kích của sự vật, của vấn đề tự nhiên thay đổi giá trị. Và con mắt được mở ra với tầm nhìn xa hơn nữa, vượt cả không gian và thời gian mà nhìn về quê nhà thực sự là hương hằng thể.

Thi Cao -Sưu Tầm

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Về bài hát "Thuyền đời xa bến"
Chủ Nhật 27 tháng 03 năm 2011, 07 g 00 sáng thì một ông suôi gia của tôi gọi điện thoại báo tin Nguyễn Đức Quang qua đời tại bệnh viện "Fountain Valley Hospital" ở "Orange County" tại Nam Cali. Ông suôi gia của tôi là em rể của NĐQ và suốt thời gian anh bạn văn nghệ, sau trờ thành người "trong họ ngoài làng" với gia đình tôi, nằm ở bệnh viện thì tôi vẫn thường xuyên biết được tình trạng của bệnh nhân vì hầu như hàng ngày ông ấy vẫn ra vào bệnh viện nằm ở địa điểm khá gần nhà ông !



Sáng Chủ Nhật hôm anh Quang qua đời thì trời nơi vùng tôi ở có mưa rả rích từ suốt trong đêm. Tôi pha tách cà-phê, ra vườn sau, đứng nấp dưới mái hiên vừa nhâm nhi cà-phê vừa hút điếu thuốc, và nhìn trời, nhìn mưa. Trong đầu lởn vởn câu hỏi : "Nhóm bạn bè cũ thì như vậy ai mất ai còn nhỉ ?"
Chừng nửa tiếng sau tôi trở vào nhà, ngồi nơi bàn có cái màn hình của "computer", lấy giấy để viết nhạc ra viết những nốt nhạc đầu tiên cho một bài hát ngắn gọn mà nét nhạc đã nẩy sinh từ lúc ở vườn sau, khớp với lời hát mở đầu tôi đã "hườm sẵn" là "Bạn bẽ cũ còn bao người ? "
Ghi ký âm xong xuôi, đem bản nhạc ra ngoài chỗ cây đàn piano điện tử, dạo qua một vài lượt, thử nghe coi xem sao ! Nghe qua, thấy chẳng có gì cần sửa đổi, bèn soạn nhanh cái hòa âm, đàn và thu từng "track" một vào bộ nhớ của đàn; xong rồi mới làm một màn "hòa tấu" với những "voices" chủ đạo. Kế đó chuyển toàn bộ phần âm thanh từ đàn ra cái CD, đem vào máy PC mở ra nghe đi nghe lại đẻ dòng nhạc giúp dẫn dắt mình đến lời hát ! Chừng một tiếng đồng hồ sau thì hoàn tất phần lời ! Chả có gì khó khăn: Nghĩ sao thì cứ thế viết, không dùng sáo ngữ, không có vẽ vời hay "dựng chuyện" không có thực lòng mình !

Còn nhớ năm sáu năm trước đây, một hôm tôi đi ăn phở dưới vùng Bolsa ở Orange County, cách nhà tôi chừng 40 "miles" thì sau đó tôi ghé tòa báo Viễn Đông nơi anh Quang lúc ấy làm Chủ Nhiệm hay Chủ Bút gì đấy, lâu ngày tôi chẳng nhớ ! Anh ấy biếu tôi một cái CD gồm một số bài "mới" ( anh giải thích như thế ) do anh ấy hát và tự mình đệm ghi-ta ! Tôi hỏi :"Cái gì đây ? Vẫn "Du Ca" hay có gì khác ?" Trả lời :"Không ! Bây giờ coi như là "Tình Ca" rồi !" Trên đường về, tôi bỏ cái CD vào máy "CD player" nơi xe để nghe trên suốt quãng đường ! Đúng là không còn kiểu "Du Ca" ! Chỉ có điều là giọng hát vốn dĩ đã rổn rảng, oang oang như xưa kia anh vẫn quen hát "Du Ca" cho nên dù là hát "Tình Ca" thì vẫn là theo âm hưởng "Sforzando" như thường !

Thì cũng chẳng bao lâu sau, một ngày đẹp giời, gia đình tôi chuẩn bị đón tiếp "phái đoàn" bên "nhà giai" đến làm lễ dạm hỏi con gái áp út nhà tôi. Gấn trưa, "giờ lành", tôi lững thũng ra sân trước để chuẩn bị đón "phái đoàn" đang quần là áo lượt từ dãy xe đậu bên lề đường để mưng mâm quả này kia vào nhà ! Thấy Nguyễn Đức Quang từ ngoài bờ đường bước vào, tôi trố mắt hỏi :"Cậu đi đâu đây ?" Đáp : "Đi hỏi con gái cậu cho thằng cháu tôi !" Tôi nói :"Thay đổi phong tục rồi hả ? Bố Mẹ nó kia, sao bây giờ lại có màn Chú hay Bác đi hỏi con gái nhà người ta cho cháu mình ?"
Cái kiểu chuyện trò giữa tôi với anh Quang ngày anh còn sống thì nó là như thế !

Mới chỉ có chẳng bao lâu anh ấy nhập viện do xuất huyết máu não, và ấy là sau lần nhập viện kỳ trước vì một vụ tim, thì một buổi sáng cuối tuần, hai anh em ngồi chuyện trò nhàn tản ở cái quán "Croissant doré" bên đường Bolsa ở khu "Little Saigon" tai Orange County. Trông mặt mũi diện mạo cũng như hình hài, chả có bất cứ một dấu hiệu nào dự báo là sẽ có chuyện chẳng lành về mặt sức khỏe sẽ ập đến !
Nhưng rốt cuộc thì âu đấy cũng là cái lẽ tử sinh nơi mỗi con người ! Có ai dám bảo là hôm nay mình đang yên lành, khỏe mạnh, thì rồi ngày mai đến cũng nhất thiết cứ sẽ phải là như thế ?

Anh Nguyễn Đức Quang xưa kia có bài hát "Bên kia sông". Con sông xưa nơi bài hát của anh ấy còn có một bến bờ ! Hình ảnh con sông trong bài hát "Thuyền đời xa bến" tôi viết để tiễn đưa anh là đi về chốn không cùng . Hiểu là trở về với bến bờ của "Đại Ngã" thì cũng được !


Image
Nam Cali, đầu mùa Xuân 2011

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Nhặt được thư trong chiếc chai 24 năm trên biển Một cậu bé người Nga vừa viết thư trả lời sau khi nhặt được một lá thư trong chai thủy tinh tới từ Đức, sau một hành trình kéo dài 24 năm.
Đang dạo chơi trên bãi biển gần làng Morskoye trên mũi đất Curonian dài 100 km giữa biên giới Kaliningrad thuộc Nga và Litva, cậu bé 13 tuổi có tên Daniil Korotkikh nhìn thấy một vật gì đó sáng lấp lánh trên cát. Khi lại gần, Korotkikh mới nhận ra đó là một chai bia và bên trong có một lá thư.

Lá thư trong chai bia thủy tinh có nút bằng gốm này đã được một người Đức có tên Frank Uesbeck gửi đi vào năm 1987, tức là từ gần một phần tư thế kỷ trước. Khi đó, Uesbeck mới 5 tuổi còn nay anh đã là một thanh niên 29 tuổi.
Image
Cậu bé Korotkikh và chiếc chai thủy tinh. Ảnh: AP
Lá thư của Uesbeck có nội dung: "Tên tôi là Frank, tôi 5 tuổi. Tôi và bố đang đi du lịch tới Đan Mạch trên một con tàu. Nếu bạn nhận được lá thư này, xin hãy hồi âm cho tôi và tôi sẽ gửi thư lại cho bạn". Thư đề địa chỉ là thị trấn Coesfeld (Đức), nơi Frank ở cùng bố. Thực ra, lá thư này của Uesbeck do bố anh viết hộ vì khi đó anh mới 5 tuổi.

Korotkikh rất thích thú khi đọc được lá thư và quyết định trả lời người gửi. Bố của Korotkikh giúp cậu dịch thư trả lời sang tiếng Đức và còn cẩn thận cuộn nó trong giấy bóng rồi dán kín bằng băng y tế.

Tất nhiên, chàng trai người Đức Uesbeck rất ngạc nhiên và thậm chí còn không tin khi nhận được lá thư trả lời sau 24 năm. Anh phải mất một lúc mới nhớ ra chuyến đi năm nào và lá thư trong chai thủy tinh đã gửi vào sóng biển trên đường tới Đan Mạch.
Image
Lá thư trong chai thủy tinh và bản đồ nơi ở của người gửi và người nhận. Ảnh: AP. Đồ họa: BBC


Anh đã ngay lập tức gửi lại cho Korotkikh địa chỉ mới của mình và hứa sẽ trao đổi thư thường xuyên. Thậm chí, Uesbeck còn hy vọng một ngày nào đó hai người sẽ gặp nhau trực tiếp.

Về phía Korotkikh, cậu bé chia sẻ với AP rằng chính cậu cũng không tin được rằng chiếc chai thủy tinh với lá thư ở bên trong đã trải qua 24 năm lênh đênh trên biển. Theo Korotkikh, chiếc chai khó có thể còn nguyên vẹn nếu ở dưới biển lâu đến thế.

"Có lẽ nó đã được giấu trong cát trước khi cháu tìm thấy", Korotkikh hồn nhiên nói.

Phan Lê

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Người hùng trong sóng thần ở Nhật

Khi Fujio Koshita điên cuồng rung chuông cảnh báo dân làng chài Otsuchi về trận sóng thần sắp ập đến, ông đã cứu sinh mạng của vô số người,
nhưng đó cũng là tiếng chuông giã biệt người lính cứu hỏa này.

Image
Một phụ nữ Nhật gạt nước mắt khi đi qua đống đổ nát sau trận sóng thần. Ảnh: AP.
Người dân Otsuchi ở tỉnh Iwate, phía đông bắc Nhật Bản, gần vùng tâm chấn của trận động đất kinh hoàng, cùng nhau nghe lại tiếng chuông và tưởng nhớ Koshita vì hành động mà họ coi là đặc trưng cho truyền thống danh dự và trách nhiệm của người Nhật.

Koshita, 57 tuổi, là một trong số 28 người thuộc đơn vị cứu hỏa số 2 ở Otsuchi đã lao đến trạm bên bờ biển chiều 11/3 sau đợt địa chấn đầu tiên. Khi đến nơi, ông phát hiện hệ thống loa báo động không thể hoạt động vì mất điện.

Trong cơn cuồng loạn khi trận động đất mạnh 9 độ Richter vừa xảy ra vài phút, Toru Suzuki, đồng nghiệp của ông, cũng kịp đến trạm nhưng Koshita vẫy tay bảo Suzuki ra về. “Anh về đi. Đừng lo cho tôi”, ông nói.

Koshita chộp lấy chiếc chuông kiểu cũ, thứ được dùng đề phòng khi mất điện. Ông nắm thật chặt và trèo lên mái nhà rồi lắc điên cuồng.

“Tiếng chuông rất to. Ông ấy thật dũng cảm, tôi thực sự tự hào về ông ấy”, Kaito Yamasaki, nam sinh 16 tuổi, kể lại và cho biết thêm cậu vội vã chạy đi khi nghe thấy tiếng chuông.

Tiếng chuông vang lên nhiều phút sau đó, cho đến khi những đợt sóng khổng lồ ập đến từ phía chân trời, cuốn trôi trạm cứu hỏa, tháp canh và cả Koshita.

“Chắc hẳn ông ấy mong mỏi cứu được càng nhiều người càng tốt”, Suzuki thì thầm nói. “Ông là người đáng tin cậy, thuộc kiểu người Nhật cũ và vô cùng tỉ mỉ. Ông thường nói chuyện với chúng tôi về phẩm chất của người làm nghề cứu hỏa”.

Theo các đồng nghiệp trẻ của Koshita, chính ông đã không làm theo những gì ông nói với họ. “Chỉ vài ngày trước, bác ấy nói với tôi đầy dứt khoát rằng ‘Không được chết. Các nhân viên cứu hộ cần phải sống’”, Akira Sasaki, 32 tuổi, kể lại. “Hôm 11/3, tôi đang bận hướng dẫn đám công nhân chạy lên vùng đất cao hơn và hét lên ‘Xin lỗi, cháu không theo kịp bác’. Koshita bảo tôi rằng ‘Được rồi, cứ để tôi’”.

Sasaki cho biết Koshita luôn là người chỉ đạo khi sóng thần xảy ra. “Đây là sự mất mát lớn. Bác ấy đã dạy chúng tôi rất nhiều, nhưng vẫn còn nhiều điều chúng tôi cần học từ bác ấy”, anh nói.

Một số thành viên trong đơn vị cứu hỏa của Koshita đưa dân làng, trong đó có người già và người tàn tật, đi sơ tán. Số khác lao đến bức tường chắn sóng và đóng 12 cánh cổng lại trước khi sóng ập tới. Tuy nhiên, sóng cao tới mức chúng đập vỡ và nhận chìm bức tường chắn.

Video tường chắn sóng cao 10 mét bị kéo sập

Koshita không phải là người duy nhất trong đơn vị thiệt mạng. 7 đồng nghiệp của ông đã chết hoặc mất tích. “Chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ và tin rằng nỗ lực của mình đã làm giảm nhẹ sức tàn phá của trận sóng thần và cứu được một số người”, Mineo Oguni, 61 tuổi, người già nhất trong đơn vị, nói.

Tính đến đầu tháng này, 540 thiệt mạng và 1.051 người mất tích tại làng Otsuchi. Tính trên toàn nước Nhật, số người chết đã vượt quá 12.000 và hơn 15.000 người mất tích.

Thân nhân của những người lính cứu hỏa đang chìm trong cảm giác hỗn độn. “Họ là những người đáng tin cậy nhưng cũng thật buồn. Nếu chồng tôi không nghỉ làm hôm ấy, có lẽ ông ấy cũng vội chạy đến trạm thôi. Tôi không muốn con trai mình sẽ làm lính cứu hỏa”, Kumiko Suzuki, vợ của một người lính cứu hỏa cho biết. Ngày thảm họa nổ ra, chồng bà đang nghỉ.

Tuy nhiên, các nhân viên trẻ trong đơn vị cảm thấy họ có trách nhiệm phải tiếp tục công việc. Sau khi hơn một phần tư số đồng nghiệp thiệt mạng, giờ không phải là lúc bỏ việc. “Tôi sẽ tiếp tục công việc này để tưởng nhớ những người đã mất. Chúng tôi mất nhà cửa, của cải, nhưng chúng tôi còn phải bảo vệ sinh mạng của nhiều người”, Yuki Kawabata, 22 tuổi, người trẻ nhất đơn vị, nói.

Suzuki đồng ý với Kawabata. “Bỏ việc có nghĩa là đầu hàng thảm họa. Chúng tôi không muốn sinh mạng của các đồng nghiệp của mình uổng phí”, ông nói. Trên người người lính cứu hỏa này là bộ đồng phục đi mượn từ trạm bên cạnh sau khi toàn bộ vật dụng bị sóng cuốn trôi.

Trạm cứu hỏa Otsuchi được dựng tạm trên một ngọn đồi. Phía bên ngoài là tấm bìa ghi dòng chữ màu đỏ “Đơn vị cứu hỏa số 2 Otsuchi”.

Thi thể của Koshita vẫn chưa được tìm thấy.

Ngọc Sơn (theo AFP)

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Quan niệm về văn chương và người lính trong tiểu thuyết Văn Quang

Du Tử Lê

Nếu phải đi tìm một trong những hình ảnh xuất hiện nhiều nhất trong văn xuôi miền Nam, 20 năm có người cho rằng, đó là hình ảnh người lính.

Image
Nhà văn Văn Quang, trưởng phòng Cục Tâm Lý Chiến - 1964.



Tùy theo định tâm của người viết mà, hình ảnh người lính miền Nam sẽ có diện mạo hoặc chân dung nào đó, trong trang viết. Ðồng thời, người lính kia, sẽ giữ vai trò “tâm bão,” hay chỉ như một giới thiệu nhân thân, thoáng qua, làm nền mờ nhạt cho những động thái quan trọng khác.

Với những tác giả chỉ muốn mượn hình ảnh người lính miền Nam để dẫn tới những chủ tâm khác thì đã có không ít nhà văn chẳng những “hư cấu” sự kiện, tâm lý nhân vật mà còn...”hư cấu” cả hệ thống tổ chức của QL/VNCH nữa!

Chẳng hạn họ có thể cho một nhân vật mang cấp bậc Trung Sĩ làm trung đội trưởng một trung đội; hay làm Thường vụ Ðại đội... Trong khi trên thực tế, theo hệ thống tổ chức thì với cấp trung sĩ, vị hạ sĩ quan này không bao giờ được bổ nhiệm vào chức vụ trung đội trưởng - Trừ trường hợp đang giao chiến mà, các sĩ quan trung đội trưởng, trung đội phó, hoặc thượng sĩ... đều bị tử trận, vị trung sĩ thâm niên nhất sẽ thay thế trung đội trưởng, chỉ huy số binh sĩ còn lại. Nhưng khi trận chiến chấm dứt, vai trò tạm thời kia, cũng chấm dứt theo.

Lại nữa, vẫn theo tổ chức của QL/VNCH cũ, chức vụ Thường vụ Ðại đội, được giao cho một thượng sĩ thâm niên nhất, chứ không bao giờ là một trung sĩ.

Những trường hợp viết theo cảm tính về một thực thể như thế, không hiếm lắm, trong văn xuôi của của chúng ta.

Nếu không kể những nhà văn vì mặc cảm, muốn chứng tỏ mình là một “trí thức tiến bộ,” qua văn chương cho thấy quan điểm chống chiến tranh thì, người lính trong văn xuôi miền Nam, khi xuất hiện như một (hay những) nhân vật “trung tâm,” họ thường bị mô tả ở một trong hai diện mạo:

Diện mạo thứ nhất: Hình ảnh của một (hay những người hùng) xông pha trận mạc với lý tưởng chống cộng sản, cứu quê hương.

Ở dạng thức này, những người lính đó, là những người cực kỳ hoàn hảo, từ tư tưởng, kiến thức tới hành động. Họ cũng là những người được phụ nữ vây quanh, nhìn ngắm như những thần tượng... Nhưng vì là “người hùng lý tưởng,” nên chẳng những họ không màng tới phụ nữ; mà họ cũng không có những buồn, vui, ham hố, như một người thường. Họ không được phép có lúc quên nhiệm vụ. Có lúc điên rồ. Có lúc thất thố. Có lúc chán nản. Thất vọng. Họ cũng không được phép nghĩ tới tình riêng mà, lúc nào cũng canh cánh trong lòng một tình yêu duy nhất: Tình yêu tổ quốc.

Ở một cực khác, cực đối nghịch, diện mạo người lính lại hiện ra trên trang giấy như một con người dị dạng, thiếu nhân tính! Hình ảnh này thường được tô đậm bởi những nhà văn chủ tâm cho “người anh em phía bên kia” để mắt tới họ...

Dù mô tả người lính cực nào, những hình ảnh tốt/xấu kia, đều không thật.

Theo tôi, những tác giả ấy đã chọn thế đứng chông chênh, sau khi tự chặt cụt một chân mình. May thay, giữa hai hình ảnh người lính miền Nam cực tốt và cực xấu đó, văn chương miền Nam cũng có một số nhà văn trụ được đôi chân mình trên hai phạm trù: Thực tế và ý thức. Tôi muốn nói, người lính vẫn là nhân vật “trung tâm” nơi những sáng tác của số nhà văn ấy. Nhưng người lính trong tác phẩm của họ, là một người bình thường. Họ cũng có những khiếm khuyết, những sai lầm, những ham hố, yêu đương, thất tình như bất cứ một thanh niên nào khác.

Một trong những nhà văn viết về người lính miền Nam, trụ được đôi chân mình trên hai phạm trù Thực tế và, Ý thức kia, là nhà văn Văn Quang.

Ðược biết, nhà văn Văn Quang tên thật là Nguyễn Quang Tuyến, sinh năm 1933 tại Thái Bình. Ông khởi sự viết văn từ những ngày còn trẻ ở thành phố Hải Phòng. Khi được hỏi, trường hợp nào đã đưa một Nguyễn Quang Tuyến, trở thành nhà văn Văn Quang, tác giả tiểu thuyết “Chân Trời Tím” (1) cho biết, thuở nhỏ, ông sống ở vùng quê. Cả huyện không có một bệnh viện, tất nhiên không có bác sĩ. Cả tỉnh cũng chỉ có một hai bệnh viện. Cho nên ông đã thầm mong trở thành bác sĩ và mở bệnh viện ngay tại con phố chứng kiến, chia sẻ tuổi thơ ông. Ông nói:

“Nhưng rồi loạn ly, nhà cửa bị tiêu thổ kháng chiến, tôi phải ra Hải Phòng, vừa đi dạy học vừa đi học. Từ đó quen biết với một vài nhạc sĩ, vài nhóm văn nghệ, vài anh em viết văn, làm báo ở Hà Nội xuống chơi. Thế là tôi bắt đầu viết văn, làm báo. Hồi đó ở Hải Phòng chưa có một tờ báo nào. Thời gian đầu (khoảng đầu năm 1953) tôi làm thông tín viên, làm tin hàng ngày ở thành phố cảng cho 1 tờ nhật báo ở Hà Nội. Sau đó tôi viết truyện ngắn, phóng sự cho tuần báo Cải Tạo xuất bản tại Hà Nội. Truyện dài đầu tay của tôi được đăng trên nhật báo Thân Dân-Hà Nội năm 1953...”

Trước khi theo đơn vị dư cư vào miền Nam, năm 1954, nhà văn Văn Quang bị động viên khóa 4 trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức. Ông tốt nghiệp khóa này tháng 9 năm 1953.

Sau khi vào miền Nam, ông được bổ nhiệm về cục Tâm Lý Chiến, Saigon. Nhờ thế, ông có nhiều môi trường, cơ hội để tiếp tục nghiệp văn. Ông kể:

“Viết văn như một cái nghiệp nó bám theo mình và cũng phải kể đến môi trường cho mình theo đuổi chí hướng và khả năng sáng tạo nữa. Có nhiều người tôi quen, cũng thích viết văn làm báo, và cũng rất có khả năng. Nhưng trớ trêu thay, hoàn cảnh lại không cho phép vì nhiều lý do khác nhau, nên chỉ có vài truyện rồi bỏ dở. Rất đáng tiếc cho những tài năng bị mai một. Trường hợp đó không phải là hiếm.”

Có dễ đây là lần đầu tiên, tác giả những tiểu thuyết nổi tiếng như “Chân Trời Tím,” “Ðời Chưa Trang Ðiểm,” “Ngàn Năm Mây Bay,” “Tiếng Hát Học Trò” v.v... đã cho biết một cách chi tiết về giai đoạn khởi nghiệp văn của mình. Có thể, cũng là lần đầu tiên, khi trả lời câu hỏi “chủ đề và sự thật” nào có trong văn chương của ông, nhà văn Văn Quang nói, đại ý:

Ông thường chỉ viết những gì ông ghi nhận được từ đời sống hàng ngày. Thí dụ trong “Chân Trời Tím,” ông xác định đã viết về người lính trong tác phẩm này, với tất cả phần đời riêng tư, và tinh thần đồng đội qua những biến chuyển thời đại mà bản thân ông trải nghiệm. Ông nhấn mạnh:

“Thời trước tháng 4, 1975, là một quân nhân đi nhiều chiến trường và đơn vị, tôi có nhiều tài liệu, có nhiều cảm xúc. Tôi hoàn toàn tự tin có thể diễn tả được trung thực mọi sự kiện, mọi tâm tình trong tác phẩm của mình. Cũng thời gian ấy, đời sống xã hội Saigon có nhiều điều đáng ghi lại. Cuộc sống của những người trẻ tuổi chịu ảnh hưởng của lối sống Âu Mỹ du nhập vào Việt Nam. Tôi chọn đề tài này và chọn thể loại phóng sự như 'Những Ngày Hoa Mộng' đăng trên báo Truyện Phim, phóng sự 'Saigon Tốc' đăng trên nhật báo Chính Luận...”

Khi được thả ra từ trại tù cải tạo năm 1987, ông viết truyện dài “Ngã Tư Hoàng Hôn.” Ông chọn đề tài xã hội Việt Nam những năm 1990, cũng với tất cả những gì ông chứng kiến. Từ mặt phải tới mặt trái của những con người sống trong giai đoạn ấy.

Sau đó cuộc sống ở Saigon lại có quá nhiều biến chuyển. Một tầng lớp tư sản mới ra đời. Những băng đảng xã hội đen lộng hành, ông lại chọn thể loại tiểu thuyết phóng sự, để dễ dàng hơn trong việc diễn tả tính cách nhân vật, và sự kiện thời đại. Tiểu thuyết phóng sự “Lên Ðời” của ông, được ra mắt bạn đọc từ hoàn cảnh đó.

“Tuy vậy đôi khi tôi cũng đau đầu vì những chi tiết hợp lý hay gượng ép. Nên hay không nên đưa sự kiện này vào truyện? Có cần tìm kiếm thêm tài liệu nữa hay không?.. Cũng có khi đang viết, tôi bị khựng lại vì một nguyên nhân nào đó... Ðến nỗi sự đặt bút viết trở thành khó khăn như bị búa giáng vào đầu. Nhưng tôi vẫn cố gắng vượt qua để hoàn thành tác phẩm của mình,” ông nói.

Bằng vào kinh nghiệm riêng của mình sau hơn nửa thế kỷ cầm bút, ông kể, về phương diện kỹ thuật, khi viết một tiểu thuyết, bố cục truyện là cần thiết. Nhưng nó cũng chỉ có tính tương đối. Bởi vì, có nhiều trường hợp viết xong chương 1, thì trong ông lại nẩy sinh nhiều ý mới. Vì thế, chương 2 không còn như bố cục ban đầu. Chương 3 cũng vậy! Ông kết luận:

“Nói cho đúng là vừa viết vừa sáng tạo thêm. Không nhất thiết phải đi theo bố cục có sẵn. Nhưng chủ đề thì tôi nhất định không thay đổi, để tránh cho truyện bị loãng và, lạc đề...”

Trả lời câu hỏi có hài lòng về những tiểu thuyết được viết trong dạng “feuilleton,” Văn Quang đã rất thẳng thắn khi cho biết, những truyện ông viết đăng báo hàng ngày, hàng tuần không thể sửa chữa được vì viết đến đâu cho đăng báo đến đó rồi. Ông nói:

“Mặc dù, khi xuất bản, tôi cũng có thể sửa lại. Nhưng khó mà có thể sửa chữa hoàn chỉnh như mong ước...”

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Tuấn Khanh Và Giấc " Mộng Đêm Xuân "

Xuân vừa về trên bãi cỏ non…
Nghe câu hát ấy của Phạm Duy, ta nghe mùa xuân về đâu đó quanh đây, về trên những thảm cỏ xanh mướt, về trên những bông hoa dại đủ sắc mầu dọc theo con đường chúng ta đi.

Mùa xuân như đến gần thêm chút nữa khi ta nghe câu hát của Tuấn Khanh.
Em ơi xuân đến bên thềm rồi…
(Mùa Xuân Đầu Tiên)

Mùa xuân đến thật gần. Mùa xuân đã đến bên thềm, mùa xuân đã đến bên em.
Nghe câu hát, tưởng chừng nghe được cả tiếng bước mùa xuân, nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo dài lướt thướt của “nàng xuân” chạm vào những bậc thềm cửa, nghe được cả tiếng động nhè nhẹ trong câu lục bát Trần Dạ Từ, phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà.

“Anh nằm nghe bước em lên
Ngoài song lá động, trên thềm áo bay”
(Khi Nàng Đến)
Mùa xuân đến thật gần.
Xuân của đất trời, xuân trong lòng người.
Nỗi buồn ướp men say

Nghe những bài nhạc Xuân quen thuộc của các nhạc sĩ quen tên, tôi nhận ra một điều, mỗi “nàng xuân” của mỗi chàng nhạc sĩ có một vẻ đẹp riêng, những nét quyến rũ riêng.
Mùa xuân trong nhạc Tuấn Khanh là “Xuân mộng”, dắt ta đi vào những giấc mộng êm đềm, đi vào những giấc mơ tràn đầy mùa xuân tình ái của lứa đôi.
Nghe tiếng xuân về tim rộn rã
cho ước mơ thành những vần thơ… (Mộng Đêm Xuân)
Mùa xuân trong nhạc Tuấn Khanh còn là mùa xuân tao ngộ, mùa xuân tương phùng sau những cách ngăn, chia lìa qua bao tháng năm dài biền biệt.
Hết rồi mùa chia ly
cho tình xuân vừa ý…
(Mùa Xuân Đầu Tiên)

Mùa xuân trong nhạc Tuấn Khanh rất gần với mùa xuân của thi nhân.
“Ai bảo em là giai nhân
cho lệ tràn đêm xuân
cho tình tràn trước ngõ
cho mộng tràn gối chăn”

Những “lệ tràn đêm xuân” và những giấc mộng vàng, mộng đẹp ấy không chỉ có trong những câu thơ Lưu Trọng Lư thôi mà ta còn nghe được cả trong những câu hát của Tuấn Khanh nữa.
Mộng về một đêm xuân sang
em thì thầm ngày đó thương anh…
Mộng tràn ngập đêm trăng sao
sao đầy trời từng chiếc lấp lánh…

Những câu hát ấy ở trong bài “Chiếc lá cuối cùng”, một trong những ca khúc gắn liền với tên tuổi nhạc sĩ Tuấn Khanh, từng được nhiều ca sĩ trình bày nhất, được nhiều trung tâm băng, dĩa nhạc thu âm nhất và tất nhiên, được nhiều người yêu thích nhất.
Tại sao lại là “chiếc lá cuối cùng”? Không rõ là cái tựa của bài hát ấy và câu chuyện Chiếc Lá Cuối Cùng của nhà văn Mỹ nổi tiếng O’Henry có mối liên hệ nào(?).

Điểm tương đồng là cả bài hát lẫn câu chuyện đều buồn bã như nhau, và cả người họa sĩ trong câu chuyện ấy lẫn người nhạc sĩ trong bài hát ấy đều có những đêm thức trắng, những đêm dõi mắt trông chờ chiếc lá cuối cùng sẽ lặng lẽ lìa cành trong đêm lạnh vắng.
Chiếc lá cuối cùng rụng xuống là thời khắc cô bé trong câu chuyện ấy sẽ phải từ biệt thế gian này để đi về một thế giới khác, cũng là thời khắc hai kẻ yêu nhau trong bài hát ấy sẽ phải nói lời chia tay.
Lá trên cành một chiếc cuối bay xa…
Nghe “Chiếc lá cuối cùng”, ta nghe một nỗi buồn sâu thẳm, nỗi buồn trăn trở của nửa đêm về sáng, của những đêm không ngủ.
“Chiếc lá cuối cùng” là chuyện tình trái ngang, là mối duyên không thành, là tìm quên trong men rượu, là tiếc nhớ những ngày vui đã xa như dĩ vãng.
Rồi một chiều xuân thơ trinh
cho lòng mình về với dĩ vãng…
“Chiếc lá cuối cùng” là nỗi đau tê dại của trái tim rạn vỡ, là nỗi sầu chìm ngập trong men rượu, là nỗi-buồn-ướp-men-say.
Đã có bao nhiêu ca sĩ từng hát “Chiếc lá cuối cùng” kể từ khi bài hát ra đời (1962), kể từ khi người ta nghe Thái Thanh hát lên lần đầu tiên, tác giả bài hát không sao nhớ hết, không kể ra hết được. Gần đây nhất, các ca sĩ trẻ ở trong nước cũng đã tìm đến bài hát ấy, cũng đã cất giọng “Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng?...”
Bài hát có một đời sống thật là dài và vẫn luôn “mới”, luôn làm rung động những trái tim.
Đã có bao nhiêu là giai thoại về những người yêu “Chiếc lá cuối cùng”, như một nhạc sĩ Tuấn Khanh… khác ở trong nước đã đặt tựa cho một sáng tác của mình là…
“Chiếc lá đầu tiên”, hay như một người làm thơ đã cảm tác “Chiếc lá cuối cùng” để sáng tác bài thơ dài đến hơn trăm câu, mỗi câu bắt đầu bằng một hoặc hai chữ của trọn bài hát ấy.
. . . . .
Mộng về dưới bóng hoàng lan
một đêm trăng ngọt hương tràn môi xinh
xuân sang thắm lối ân tình
em duyên như nụ hoa quỳnh, trao nhau
thì thầm tiếng nhớ ngàn sau…

Đã có bao nhiêu người tìm gặp được mình, tìm gặp những nỗi niềm “trắng đêm tâm sự” của mình trong bài hát ấy. Bài hát, có phải vì lẽ ấy, đã ở lại về lâu về dài trong lòng người?
Một đàn chim cánh nhỏ chở mùa sang
Thật ít có ai sử dụng chữ “chở” tuyệt vời đến như thế!
Trong những câu hát của Tuấn Khanh ta vẫn nhặt ra được những câu thơ đẹp như thế, những chữ và nghĩa hay đến như thế, như là những chữ “vội vã”, “len lén”, “quấn quýt”, “lẻ loi”…

Sao khi chia ly hôn em một lần vội vã
Đêm đêm heo may len lén vào hồn tìm nhau
Giờ thì đôi tay đan tay quấn quýt
cho đêm không mơ, cơn mơ lẻ loi

Những câu hát ấy–hay những câu thơ ấy–ở trong bài “Nỗi niềm” của nhạc sĩ Tuấn Khanh.
Từng ngày trôi qua tim em héo úa...
“Nỗi niềm” là nỗi buồn héo hắt đến rã rượi.
Những lời tình ta nghe được trong bài hát ấy như là tiếng thở dài não nuột của một người yêu. Nói “như là” vì lẽ, những lời ấy là “nỗi niềm” tâm sự của người vợ hiền, là nỗi lòng cô phụ những đêm dài trằn trọc, những đêm vò võ một mình một bóng, sau phút chia tay vội vã, tiễn chồng và các con lên đường… vượt biên.
Nên em cô đơn những đêm về sáng…
Anh ơi, đêm nay em nghe trống vắng buồn tênh…
Nghe “Nỗi niềm” mà nghe lòng chùng xuống, mà nghe tim thắt lại.
“Nỗi niềm”, nhạc sĩ Tuấn Khanh cho biết, là “Hoa soan bên thềm cũ” nối dài. Những lời thơ ý nhạc gửi gấm trong hai ca khúc ấy đều như lời hẹn ước gửi đến người bạn đời đầu gối tay ấp của ông.
Em nhé, mình thương nhau muôn đời… (Hoa Soan Bên Thềm Cũ)
Xin cho đêm đêm tình đầy mộng say… (Nỗi Niềm)

“Nỗi niềm”, trong một nghĩa nào đó, cũng là “Chiếc lá cuối cùng” nối dài. Cũng là nỗi buồn trăn trở của nửa đêm về sáng, của những đêm không ngủ, cũng là giai điệu chầm chậm, buồn buồn đến rã rời ấy. Có khác chăng, nỗi cách chia người yêu đổi thành nỗi chia lìa chồng vợ.
“Giàn hoa tím xưa chưa phai”
Dường như trong mỗi nhạc sĩ của chúng ta đều có ít nhiều một chàng thi sĩ. Nhờ vậy, chúng ta mới có được những câu hát thật là thơ, thật là đẹp.
Tôi vào vườn xưa
gặp em tóc buông vai gầy
thẹn thùng nhìn tôi ngỡ trong giấc mơ…
Nghe những câu hát như thế, ta nghe được cả những ý thơ.
Câu hát ấy ở trong bài nhạc có một mầu tím vấn vương của Tuấn Khanh, “Dưới giàn hoa cũ”, được ông sáng tác cách đây đúng năm mươi năm.
Nghe lại bài hát ấy, sau nửa thế kỷ, sau bao vật đổi sao dời, vẫn nghe lòng lâng lâng như “ngỡ trong giấc mơ”, vẫn nghe một nỗi xao xuyến, bâng khuâng như “thuở ban đầu” của bài hát, như mối tình đầu thường khó phai.
Nỗi xao xuyến, bâng khuâng ấy bàng bạc hầu hết trong các bài hát, trong từng lời ca ý nhạc của Tuấn Khanh.
Một hôm bước lần theo lối cũ tôi về
thầm mơ giàn hoa tím xưa chưa phai…
Bài hát như mẩu tự truyện của người nghệ sĩ ấy. Dường như mỗi bài nhạc của ông là mỗi câu chuyện kể, là câu chuyện thật; nói đúng hơn, là câu chuyện tình.
Lòng tôi vẫn còn ghi mãi phút êm đềm
thềm hoa chia tay lúc trăng đang lên
Hẹn tôi, “Đến một mùa se thắm duyên lành,
ngắt bông hoa tím trên cành trao anh.”

Những chuyện tình ấy thường dẫn đến một kết thúc “êm đềm”.
Chiều nay dưới giàn hoa thơm ngát êm đềm
vầng trăng thu soi mắt em long lanh…
Nếu ở Hoàng Trọng là “Trời buồn đem mây tím về chơi vơi…”
(Tôi Vẫn Yêu Hoa Màu Tím), ở Nguyễn Hiền là“Nhớ nhau khi mây vương vương màu tím…” (Ngàn Năm Mây Bay) thì ở Tuấn Khanh là…
Những chiều buồn mây tím xây thành
có thương hoa thắm mong chờ không anh?

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image


Bạn chưa từng khóc khi xem clip -
Đây sẽ là lần đầu tiên ....thật cãm động !



Ai bảo là loài thú vật không có tình thương và trí khôn ?
Chỉ có bọn cs là loài vô tâm, vô trí mới có hành động độc ác đối với đồng loại mà thôi !!!

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Chuyện xưa - Phong Trào Du Ca Việt Nam

Ngành Mai

Tuần qua nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang qua đời, hầu hết các cơ quan truyền thông loan tin chia buồn và đề cập khá nhiều về “Phong Trào Du Ca”
mà nhạc sĩ là một trong những người hoạt động mạnh mẽ trong phong trào này.

Image
Dược Sĩ Hoàng Ngọc Tuệ, chủ tịch Phong Trào Du Ca Việt Nam trong đêm Dạ Hội Du Ca tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn.
(Hình: Bộ sưu tập của Ngành Mai)



Có rất nhiều độc giả và thính giả đài Tiếng Nước Tôi đã hỏi chúng tôi rằng: Du Ca là gì? Ai sáng lập, có từ bao giờ, mục đích và đường hướng hoạt động ra sao, đã đạt được thành quả gì...? Ðồng thời cũng yêu cầu chúng tôi nếu biết gì về du ca thì xin nói trên đài, trên báo để mọi người cùng hiểu.

Thật ra thì phong trào Du Ca chỉ mới thành lập vào giữa thập niên 1960, nên phải tới những năm sau Mậu Thân mới bắt đầu nghe nói đây là phong trào do lớp người trẻ đứng lên thành lập với tôn chỉ: “Dùng tiếng hát chung của cộng đồng để tô điểm cho nền văn nghệ dân tộc một màu xanh đầy hy vọng, đưa mỗi người đến gần nhau hơn để cùng lo xây đắp một quê hương tươi sáng”.

Phong trào du ca được sự hưởng ứng của lớp trẻ và nhanh chóng lan rộng đến các tỉnh, thị xã: Ðà Nẵng, Quảng Nam, Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hòa, Darlac, Bình Thuận, Lâm Ðồng, Biên Hòa, Bình Dương, Gia Ðịnh, Tây Ninh, Long An, Ðịnh Tường, Kiến Hòa, Vĩnh Long, Sa Ðéc, Phong Dinh, Ba Xuyên, Châu Ðốc, Bạc Liêu, Kiên Giang, Kiến Tường.

Khoảng tháng 9, 1969 thì phong trào du ca tham gia “Tuần Lễ Văn Hóa” tổ chức tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn. Chủ tịch phong trào là Dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ, đã giới thiệu với quan khách, thính giả sự góp mặt của: Ca đoàn Tinh Thần, Lửa Việt - Ðoàn Du Ca Mùa Xuân - Toán Du Ca Hoa Thiên Lý - Ca đoàn Hương Nam - Toán Du Ca Viễn Du - Áo Nâu - Hồ Gươm - Gió Mới - Vùng Lên.

Ðêm Du Ca đã thu hút một số đông đảo khán thính giả, nhất là thành phần trẻ.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Chuyện Cái Nón Lá
Phạm Tín An Ninh

Lần “đáo xứ cố hương” vừa rồi, tôi có theo bà vợ Ninh-Hòa đến thăm ngôi trường Trần Bình Trọng, để tìm lại chút kỷ niệm xưa, mà bà cho là dễ thương nhất trong đời một người con gái, cho dù đến bây giờ tất cả chỉ là như khói như sương mà sao cứ mãi còn đọng lại ở đâu đó trong hồn nàng. Ngôi trường đã thay tên từ cái thuở thiên hạ đổi đời, sau cái ngày hai miền thống nhất để “miền Nam thì nhận họ, còn miền Bắc thì nhận..hàng”, nên không còn cái cảm giác thân quen, mặc dù bây giờ chúng tôi vẫn đang trở lại bằng những con đường xưa lối cũ.
Chúng tôi đến vào đúng lúc tan trường. Nhìn các em học trò từng nhóm bước ra khỏi cổng mà lòng dạ cứ bồi hồi, nhớ da diết một thời xa xưa cũ. Những em học sinh bây giờ dường như có ít nhiều khác với bọn chúng tôi xưa. Đặc biệt trong đám nữ sinh, có thiếu đi cái điều gì đó. Mãi đến khi về nhà, ngồi bàn bạc lại chuyện xưa- nay, chúng tôi mới khám phá ra cái điều thiếu vắng ấy chính là: Cái Nón Lá.

Không hiểu từ lúc nào, Cái Nón Lá đã biến mất trong những cô học trò, những cô con gái dễ thương ở quê tôi. Cái Nón Lá với những chiếc quai hồng, quai đỏ, quai tím, quai xanh,… đã một thời làm khổ biết bao nhiêu thằng con trai và cũng đã từng làm giàu thêm cho kho tàng văn chương thi phú. Bây giờ làm sao tìm lại được cái cảnh “nghiêng nghiêng vành nón che làn tóc.. “, ” mùa hè Ninh Hòa nắng mờ con mắt, tôi đứng nhìn em đội nón qua cầu ” và tôi không hiểu nếu ” Ninh Hòa, những ngày trời trở gió ” thì các nàng sẽ lấy cái gì để che…cái áo. Hèn gì ông nhà thơ Lê Hân ở tận bên Canada, đã biết dùng cái cặp táp để thay cho Cái Nón Lá… trong bài thơ Nữ Sinh thật dễ thương:
Cặp ôm che.. ngực xuân thì
Em đi hoa cỏ thầm thì trông theo
Áo dài tay đỡ vòng eo
Hai bên hông hở thơ trèo vào thăm
…..
Tôi dám chắc như đinh đóng cột là chàng trai Ninh Hòa đa tình nào trạc tuổi tôi ngày ấy, cũng đã từng có thời chạy theo hoặc chết lên chết xuống vì những cái quai nón hồng, đỏ, tím, xanh…buớc ra từ các cổng trường Trần Bình Trọng, Bán Công, Đức Linh.. hay xa hơn nữa là Võ Tánh, Huyền Trân, Lê Quí Đôn, Tương Lai, Kim Yến.. ở Nha Trang. Nhưng đẹp và dễ thương hơn vẫn là những mối tình học trò trường huyện. Ngày đó, có nhiều chàng (và nàng) thuộc lòng bài thơ..khi không có nón.. của ông Nguyễn Bính. Nhiều cô cậu đã nắn nót chép bài thơ “Bươm Bướm Ngày Xưa” dấu kỹ trong ngăn cặp táp..và cả trong ngăn nào đó của trái tim mới bắt đầu đập..lạc nhịp của mình. Bây giờ, nếu có dịp trở lại Ninh Hòa, đứng trước cổng ngôi trường cũ, chắc chắn từ một nơi thật sâu trong ký ức, bài thơ xưa sẽ ” đột xuất”trở về:

Học trò trường huyện ngày xưa ấy
Em tuổi bằng anh, lớp tuổi thơ
Những buổi học về không có nón
Đội đầu chung một lá sen tơ
Lá sen vương phấn hương sen ngát
Ấp ủ hai ta chút nhụy hờ
Lũ bướm tưởng hoa cài mái tóc
Theo về tận cổng mới tan mơ
Em đi phố huyện tiêu điều lắm
Trường huyện giờ xây kiểu khác rồi
Mà đến hôm nay anh mới nhớ
Tình anh như chuyện bướm xưa thôi…

Cuộc đời vốn đã là những hố bờ ngăn cách. Vậy mà chiến tranh (và đau đớn thay cả đến lúc có hòa bình nữa) thì cái thế hệ của những ” ngày xưa thân ái ” đó lại chia lìa tứ tán. Kẻ chân mây người góc bể. Kẻ ở người đi ai cũng ..đoạn trường. Vậy mà trong trời đất bao la lại có những con đường chạy theo kiểu vòng tròn khép kín, để bao nhiêu năm sau, ở một thành phố có cái tên lạ hoắc nào đó trên xứ người, nhiều chàng bất ngờ “đụng đầu” tái ngộ với “cái quai nón” ngày xưa, hoặc đã từng đội chung “lá sen tơ” của một ngày nàng quên mang theo nón lá. Tôi đã từng nghe được khá nhiều tâm sự của các chàng Ninh Hòa, bây giờ tóc đã hoa râm:

Nửa đời mới gặp lại nhau
Ngước nhìn mái tóc ngả màu thời gian
Cái ngày cùng học trường làng
Chép thơ Nguyễn Bính gởi sang cho mình
Đêm nằm nhớ nụ cười xinh
Lá sen tơ ấy chúng mình cầm tay
Thế mà nay.. đau lòng thay
Cái con bướm trắng đã bay xa rồi
Mỗi người ở một phương trời
Vẫn không quên được cái thời xưa xa
Cho dù nay đã ông bà…
Lá sen tơ ấy vẫn là sen tơ
Ước gì trở lại tuổi thơ
Để… cùng đội lá sen tơ với mình…

Riêng tôi, một thằng lính lang thang dọc đường số 1, vậy mà trời xui đất khiến thế nào cũng đã từng lỡ dại yêu một cái quai nón tím Ninh-Hòa. Ngày ấy mỗi lần lái xe qua trường Trần Bình Trọng mà không tìm ra cái quai nón tím là tôi buồn đến..tím gan tím ruột. Mà cũng lạ, trường Trần Bình Trọng ngày ấy có biết bao quai nón đủ màu, đủ sắc, cớ sao tôi lại phải lòng cái quai màu tím. Hay tại tôi là lính chiến, nên cứ tưởng cái quai nón màu tím là.. “rừng tím hoa sim, tím những chiều hoang biền biệt”. May quá, có một nhà thơ gốc Khánh Hòa viết giùm tôi cái “thiên tình sử “đó:

O con gái tóc dài - quai nón tím
Chiều ni về - O có nhớ ai không
Guốc khua chi - cho đây nhói cả lòng
Áo trắng quá - khiến hồn đây khờ khạo
O cười duyên - khoe dăm ba hạt gạo
Cho đây vay một hạt - để no lòng
Sợ nửa khuya về bên ngọn đèn chong
O dẫm lấm những tờ thư đây viết
Cứ nguýt háy đi - cứ lườm cứ liếc…
Miễn O đừng biền biệt tháng năm xanh
Miễn sáng - trưa - chiều O cứ quẩn quanh
Sau cửa lớp - ngập ngừng như bụi phấn
Ngày hai buổi tan trường ngang mấy bận
Đứng bên đường đây cứ mãi ngó mong
Quai nón tím ơi - khói thuốc thả vòng
Không dám gọi - dù chỉ lời thăm hỏi
O cứ đi qua - chẳng chờ - chẳng đợi
Chẳng đoái hoài đến một gã khờ si
Những ngả đường cũng năm bảy lối đi
Sao lòng đây chỉ O quai nón tím…!
(Phan Thị Ngôn Ngữ)

Nhưng mà tội nghiệp cho cô nàng có quai nón tím, bởi “đời một người con gái - ước mơ rất nhiều song trời cho không được mấy- đến khi đi lấy chồng chỉ còn một mối tình mang theo“, mà khốn khổ thay thằng chồng ấy lại chính là tôi. Bởi vì sau đó nàng đành phải bỏ cái quai nón tím để khốn khổ mà làm vợ..lính. Và từ ngày thằng lính ấy chui vô cái ” trại cải tạo khoan hồng” của người anh em, thì cho dù nàng có mở mắt hay nhắm mắt gì thì cũng chỉ thấy có một… chân trời tím ngắt. Câu ca dao quen thuộc ở cái xứ thơ Ninh Hòa “Trời mưa thì mặc trời mưa, tôi không có..nón trời chừa tôi ra “đã không còn linh ứng với riêng nàng. Trong những người vợ lính ở cái xứ Ninh-Hòa hiền khô, trời đã không chừa nàng ra, nên phải làm thân con cò lặn lội bờ sông.. với đủ thứ trăm cay nghìn đắng. Nhưng cuối cùng ” người hại người, chứ ông Trời lại thương người vô tội “, nên bây giờ những cái quai nón.. ấy lại trở thành những “khúc ruột ngàn dặm của quê hương” nơi có “chùm khế ngọt, mà em… không được quyền trèo hái bao giờ” !!
Tưởng đâu chạy sang xứ người ta làm Việt kiều yêu…tự do, là thoát được bao điều hệ lụy bởi ông chồng gốc lính. Nào ngờ cái ông chồng ấy bây giờ cũng vẫn vô tích sự. Mấy lần nhớ con gái ở xa, nàng định khăn gói một mình sang thăm, nhưng thấy tội nghiệp ông chồng, nên đành phải trả vé máy bay. Nàng đã oán trách lầm Kách Mệnh. Nàng bảo là hơn tám năm cải tạo mà ông chồng vẫn không chịu tiến bộ. Kách Mệnh dạy: ” Có sức người thì sỏi đá cũng thành cơm”, còn khổ thay ông chồng tôi thì “gạo đổ vô nồi (điện) rồi mà vẫn không chín nổi thành cơm”.

Nhưng có một Chiếc Nón Lá khác, quai không màu không sắc, lại làm tôi xúc động mỗi lần nhớ tới.
Năm 1976, tôi bị chuyển tù từ Nam ra Bắc, mà lại tới một nơi xa tít mịt nùng: Lào Cai. Ba năm sau, ông anh bá quyền Trung quốc quên lời hẹn ước “môi hở răng lạnh”, dở trò muốn dạy người đồng chí Việt Nam anh hùng một bài học, bèn xua quân tràn qua biên giới, đám tù tụi tôi bèn làm một cuộc “hành quân” thần tốc xuống Yên Bái, rồi sau đó chạy một mạch vào tận Nghệ Tĩnh. Trại tù nằm sát biên giới Lào. Vào mùa hè gió Lào thổi sang nóng đến cháy gan cháy ruột.

Một hôm bọn tù tôi đuợc đi lao động để tìm “vinh quang”, nhưng trời nóng quá, nên cứ đi vài chục mét thì tất cả tự động chui vào mấy bụi cây ven đường. Đám tù có nhiệm vụ san mặt bằng trên một cái đồi trọc để chính quyền đưa dân dưới thấp lên, vừa “ổn định” đời sống vừa làm một cứ điểm chống quân “bành trướng Bắc Kinh”. Trời nóng hơn lửa đốt, mà cái đồi thì không còn một bóng cây, nên đám tù bọn tôi chỉ còn có ” đầu đội trời, chân đạp đất” như ông Từ Hải của nàng Kiều.

May mắn là tôi vừa qua một cơn kiết lỵ, nên được phân công nấu nước cho anh em. Phải xuống duới chân đồi mới có nước. “Đồng chí” quản giáo “đe” trước là phía dưới có khu nông trường mà đa số là đàn bà con gái. Chớ có bén mãn tới để “quan hệ” với nhân dân chân chính là bị cùm trong hầm núi. Tôi vốn nhát gan nên rất sợ mấy cái hầm tối trong hốc núi. Một lần có nhiệm vụ mang xác người bạn tù bị chết trong hầm núi ra, tôi mới biết cái địa ngục có thật này. Là một cái hang được moi ra từ chân núi đá, vừa đủ chỗ cho một thân người nằm. Khi kéo xác anh bạn tù ra, bọn tôi lạnh toát cả người. Không phải vì sợ thây ma, (vì chính những thằng tù còn sống cũng có khác cái thây ma là bao), nhưng vì bọn tôi nhìn thấy mấy con rắn, không biết có tội tình gì với Kách Mệnh mà đã tự giác chui vào để cùng “học tập cải tạo” với mấy anh tù khốn khổ nhất trên hành tinh này!
Trong lúc nấu nước, vừa cái nóng của trời, cái nóng trong gió lào thổi tới, cộng với cái nóng của lửa bốc lên, tôi bị choáng váng vì say nóng, bèn chui đại vào một lùm cây “cứt chồn” nằm. Chợp mắt vài phút, nghe có tiếng sột soạt, tôi giật mình tỉnh giấc. Ngồi dậy định chui ra thì bất ngờ thấy phía trước mặt có cái Nón Lá. Tôi dụi mắt tưởng nằm mơ, chứ tôi đâu có cây đèn thần để đọc ra ba điều ước bao giờ. Lúc này mà có cái Nón Lá, còn hơn cả mấy vị “cứu tinh của dân tộc”, nhưng nghĩ đến mấy con rắn trong cái hầm núi là tôi đành “bỏ của chạy lấy người”. Nhìn Chiếc Nón Lá nằm trong gang tấc mà với tôi sao xa thật ngàn trùng. Vừa bước đi, tôi nghe từ một bụi cây trước mặt, tiếng thỏ thẻ như chim:

- “Anh gì ơi ! Anh gì ơi ! Tôi cho anh chiếc nón, trong đó có mấy củ khoai luộc, anh cứ khẩn trương cầm lấy. Tôi đã cảnh giác kỹ rồi, chẳng có ai phát hiện đâu!
Bỗng dưng tôi trở thành một thằng tù vừa được no lại vừa lãng mạn: Thằng tù có nón !
Sau này khi được chuyển vào Nam rồi ra trại, tôi bàn giao Chiếc Nón ân tình này cùng cả câu chuyện cô gái nông trường cho người bạn tù trẻ hơn tôi bốn tuổi mà hai thằng đã từng kết nghĩa anh em. Sau ngày vượt biên, tôi tìm cách liên lạc với gia đình anh. Tôi nghiệp người bạn trẻ dễ thương đã chết sau gần một năm tôi chuyển trại.

Ở miền Bắc, người ta xem thường con gái nông trường nên ví von ” con gái nông trường như chiếc giường bệnh viện”. Sau này, mỗi lần nghe ai nhắc tới câu nói đó, tôi cảm thấy như chính mình bị xúc phạm. Tôi chỉ nghe tiếng nói, nhưng chưa thấy mặt người con gái ấy bao giờ. Nhưng Chiếc Nón Lá với cái quai chỉ bằng một sợi giây, có cái màu ướt đẫm mồ hôi, tôi không bao giờ quên. Cầu mong cho người con gái nông trường Thanh Chương ngày đó, giờ đây được sống yên lành, không phải bán mình sang Đài Loan, Hàn Quốc để nuôi cả một gia đình khốn khó.

Hôm rời Việt Nam, khi bước vào phi trường Tân Sơn Nhất, bất ngờ tôi nhìn thấy một lô Nón Lá. Nhưng mà tôi còn buồn hơn là “những ngày không tìm thấy.. nón”, Vì những chiếc Nón Lá này đang lắc lư trên đầu những bà đầm già đen, trắng. Có lẽ các công ty du lịch Việt Nam, ” những mũi nhọn xung kích của thiên niên kỷ mới”, giới thiệu Cái Nón Lá với khách bốn phương như là một giá trị văn hoá quê nhà, nhưng họ có biết là cái giá trị đó đang ngày mai một ngay trên chính quê hương của Nón ??

Tôi nhớ tới cái cảnh mấy ông nghị viên, dân biểu bên Mỹ, bên Tây trong những mùa tranh cử ở những vùng có nhiều cử tri gốc Việt, thường mặc áo dài, có khi đội cả khăn đống.. để vận động kiếm phiếu. Không biết bà con thì sao, có vui vì thấy thiên hạ “yêu” văn hóa ta hay không, chứ riêng một thằng có thói xấu bảo thủ như tôi thì không thấy đẹp chút nào mà còn hơi ngượng.. vì có cảm giác chiếc áo dài, khăn đống của mình bị người ta.. lợi dụng.
Về tới Nauy, tôi đem câu chuyện Cái Nón Lá bây giờ tự dưng biến mất ở các cổng trường.. bên quê nhà, kể cho mấy ông bạn già như là “món quà của một kẻ đi xa về”, thì lại nghe thêm được một chuyện buồn cũng về cái Nón:
Có một ông già Việt kiều gốc nhà quê yêu nước, được con cháu bảo lãnh sang đoàn tụ. Sống trên cái xứ Bắc Âu nhỏ bé nhưng vốn có đời sống cao hàng nhất nhì trên trái đất, ông già được nuôi nấng kỹ quá, bơ sửa thừa mứa, mỗi năm lại được cấp tiền đi du lịch vòng vòng, nên đâm ra.. rững mở nhờ thần dược Viagra.
Ông về Việt Nam liên tục, hết nói cất nhà từ đường, rồi xây mộ gia tộc. Hết chuyện tư ông lại mở tấm lòng bác ái.. làm chuyện công: xây đình xây miểu chưa xong lại sửa sang trường học,, giúp viện mồ côi..Kỳ thực thì ông đem tiền về xây nhà giữ trẻ, mà chỉ nuôi có mỗi một em. Đó chính là.. cô bồ nhí, tuổi đáng cháu nội của ông. Khốn thay cho những tên Việt kiều già mất nết. Cái tin này đến tai bà vợ già.. vốn mê đọc truyện Kiều nên có máu Hoạn Thư.. Bà huy động một đám con dâu, con gái đã từng có nhiều huy chuơng trong những cuộc chiến “đánh.. ghen cứu nước”, cùng về Việt Nam với bà chiến đấu. Ông già sợ quá, bèn đi tìm thầy bùa gốc Chàm còn sót lại từ lúc công chúa Huyền Trân về làm hoàng hậu cho vua Chế Mân của xứ Chiêm Thành. Theo lời dạy của ông thầy bùa, ông già Việt kiều đi tìm mua Cái Nón Lá có bài thơ tình.. xứ Huế, để ông thầy yếm bùa ” khờ ” vào Cái Nón.
Không ngờ bà vợ lại có tài “tình báo” còn hơn cả đám CIA của Mỹ chống khủng bố al Qaeda, nên nhất cử nhất động gì của ông chồng già.. dịch bà đều “nắm bắt” kịp thời !
Bà kéo đám quân thiện chiến về đúng vào mùa hè đỏ lửa. Ông chồng biết bà vợ rất sợ ông Trịnh Công Sơn xúi người ta ” Gọi Nắng…”, bèn mang Cái Nón Lá vào tận phi trưòng đón nữ tướng quân. Khi bà vợ vừa bước ra khỏi phi trường, ông chạy tới xum xoe, đưa Cái Nón lên âu yếm che đầu bà. Bà vung tay giật ngay Cái Nón vất xuống đất đạp tan tành. “Thừa thắng xông lên” bà cắt mái tóc mới nhuộm của ông già, rồi định cắt thêm…một cái gì nữa đó. Cả phi trường náo lọan, công an bảo vệ phải xông vào cứu ông già thoát nạn, trước sư hò reo của tất cả mọi người vừa chứng kiến một tấn tuồng hay..
Tôi nghĩ, nếu lỡ xui, hôm ấy có tôi, chắc tôi không thể nào mở miệng ra cười đuợc, mà có khi tôi còn khóc. Không chỉ khóc vì trong đám Việt kiều, có những gã già mất nết, mà khóc vì đau lòng và tội nghiệp cho.. cái Nón Lá. Vì nó có tội tình gì ?

Trong lúc ở quê nhà, cùng “tiến nhanh tiến mạnh” lên một nền “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, các em nữ sinh, các cô con gái dần dần bỏ rơi Cái Nón Lá, thì một ông già vừa mới xa quê mấy năm, vốn coi trọng truyền thống cha ông, lại sớm bán linh hồn cho quỷ, và dùng Cái Nón Lá vào một việc “cực kỳ″ kém văn hóa. Thử hỏi một thằng gốc nhà quê như tôi làm sao mà không buồn cho được.

Viết tới đây tự dưng tôi liên tường tới một điều, mà cứ mỗi lần nghĩ tới là lòng thấy nhói đau. Nói theo kiểu mấy ông nhà văn thì “dường như đang có những nhát chém hư vô” nào đó ở trong lòng.
Cũng kể từ lúc những nữ sinh, những cô con gái Việt Nam dần dần bỏ rơi cái Nón Lá, thì cũng là lúc số phận của những người phụ nữ một thời ” anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang” vốn là con cháu của các “chị ba dũng sĩ quê ở Trà Vinh, chị hai năm tấn quê ở Thái Bình”đi đến chỗ cùng tận của nỗi…thê lương.
Trong lịch sử dân tộc ta, dường như chưa có thời kỳ nào mà số phận của nhiều người con gái, phụ nữ Việt Nam lại bi thương rẻ rúng như bây giờ.
Hơn một trăm ngàn ( xin nhắc lại: một trăm ngàn) các cô gái, mà trong đó có hơn 60% các em ở tuổi vị thành niên đã phải sang Campuchia và Thái Lan làm gái điếm. Hơn sáu chục ngàn cô gái bị lừa (và bị bán) sang Đài Loan, Hàn Quốc, nói là để làm vợ, nhưng thực ra chỉ làm nô lệ và nô lệ tình dục cho bọn lưu manh. Một số đông bị hiếp tập thể hay hiếp luân phiên bởi những gã đàn ông bệnh hoạn trong một đại gia đình, vốn cũng chẳng khấm khá gì. Rồi sau khi tả tơi, bị bán rẻ lại cho những ổ mại dâm mạt hạng. Oái ăm và đau đớn thay, bọn đàn ông khốn kiếp này lại là đám con cháu của ” bọn phản động Tưởng Giới Thạch và bọn Pác Chung Hy từng sang Việt Nam đánh thuê cho “đế quốc Mỹ″năm nào ! Hàng vạn cô gái vị thành niên sang hành nghề gái điếm bên Nga. Cái nôi của một chế độ mà đã có thời được đàn em cúc cung tung hô “vạn tuế “, nơi mà đã có một nhà thơ lớn viết một bài thơ để đời: “thương cha thì thương một mà thương ông (Stalin) thì thương đến mười”, để cho một ông nhà thơ đàn em hùa theo ca ngợi ” đồng hồ Liên Xô đẹp hơn đồng hồ Thụy Sĩ”, ” trăng nước Nga tròn hơn trăng nước Mỹ″ ! Bây giờ thì cái thành quả ” Kách Mệnh tháng 10 ” đó đang bày bán khắp các chợ trời ở biên giới các nước bắc Âu: từ huy chương, phù hiệu, cờ xí.. cho đến những cô con gái, mà cha mẹ ông bà vốn một thời là đồng chí của Stalin !)
Chưa bao giờ người con gái Việt nam lại đem bày hàng rao bán ở bên Singapore, Hàn Quốc, như là những cộng rau héo úa của buổi chợ chiều. Từng nhóm những cô gái quê, trần truồng như nhộng, sắp hàng đi tới đi lui, quay trước quay sau, để cho những gã Tàu già, nghiện hút, tàn tật tha hồ chọn lựa.
Trong nước, thì từ thành phô, đến thôn quê, từ vùng xuôi đến “vùng sâu vùng xa”, nơi nào cũng dẫy đầy gái điếm ! Điếm bây giờ có đủ hạng bậc, chẳng khác gì một đội quân gái với đầy đủ các cấp quân hàm: từ ca sĩ, diễn viên điện ảnh, người mẫu, hoa khôi, á hậu,,đến những cô sinh viên, đang còn theo học hoặc vừa mới ra trường. Bi thảm và thương tâm nhất là các em gái học trò nghèo, tuổi mới mười ba, mười bốn cũng phải bán dâm. Mà khốn nạn thay những kẻ mua dâm lại là những ông thầy và đám quan lại quyền thế của triều đình.
Từ vụ ông tiến sĩ TCP/TCTDTT Lương quốc Dũng hiếp dâm một bé gái 13, đến ông TGĐ/PMU18 Bùi tiến Dũng, cứ mỗi lần cùng bọn tham quan đánh bạc là có các cô xinh đẹp trần truồng ngồi sẵn một bên để các ngài xả xui ngay tại chỗ. Rồi đến ngài thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến rửa ghế với mấy cô người mẫu trần truồng ngồi trong những chậu sứ, rượu ngoại được thay nhau đổ từ trên đầu xuống khắp châu thân, chảy qua đủ ngõ ngách của các nàng kiều nữ, để đám nịnh thần cụng ly chúc mừng quan lớn ! Mới nghe, tôi cứ mơ hồ như chuyện chỉ có trong phim tàu của cái thời có nhiều bạo chúa.
Mấy năm trước, hơn mười em học trò nghèo, tuổi mới 14, 15 ở cái huyện Hòa An hẻo lánh trên tận Cao Bằng heo hút gió mưa bị ép bán dâm cho một ông thầy đang làm quan trong Sở Giáo Dục và Đào Tạo tỉnh. Rồi một ngài Trung tá Phó Trưởng Công An Thị Xã Cao Bằng cưởng bức mua dâm một em gái mồ côi tại Trung Tâm Bảo Trợ Xã Hội Tỉnh Cao Bằng chưa đến tuổi 15.
Và mới đây, tại tỉnh Hà Giang, hơn 15 em nữ sinh tuổi từ 13 đến 17 bị chính ông hiệu trưởng Sầm Đức Xương dụ dỗ, cưỡng ép, khống chế buộc phải quan hệ tình dục với ông và sau đó còn dâng lên làm quà cho ngài chủ tịch tỉnh Nguyễn Trường Tô và một đám quan lớn khác. Điều đặc biệt là sau khi thỏa mản thú tính, ngài chủ tịch đốn mạt còn nằm trần truồng cho các em “vô tư” chụp hình, quay phim thoải mái, bởi ngài nghĩ đã có bao cái lọng trên đầu!
Hèn gì một cô nghệ sĩ ưu tú Hát Chèo, bộ môn văn hóa cổ truyền đang được cổ võ hồi sinh, lại bỏ chèo để làm “má mì” chuyên cung cấp những cô gái loại “hàng xịn”. Một cô sinh viên của một trường đại học danh giá ngay giữa lòng thủ đô, ” Hà Nội.. niềm tin yêu và hy vọng của núi sông hôm nay và mai sau”, lại trở thành tú bà, chuyên cung cấp nữ sinh viên cho các ngài đại gia mà phần lớn là đám hôn quan lớn bé của triều đình thời mở cửa. Trong khi ấy thì các quan lớn dùng tiền nhà nước đánh bạc, cá độ cả tiền tỷ, cả đến gần ba triêu đô la! Đã vậy các qúy tử, công nương dốt nát của quí ngài còn được đi du học “ăn chơi ” đó đây bằng tiền của E-Việt Nam Giao Chỉ !
( Tôi cũng xin nói rõ: tất cả những tin tức này đã được đăng tải công khai trên các báo Công An, Thanh Niên, Tuổi Trẻ của nhà nước, chứ không phải từ những tên phản động, hoặc những phần tử ” diển biến hòa bình” nào đâu nhé ).
Trong một bài thơ khá dài và thật cảm động gởi cho một em bé nghèo phải sang bán mình cho các nhà chứa ở Bangkok, nhà thơ Trần Trung Đạo (một người trẻ có trọn tấm lòng với quê hương, đất nước, hiện tị nạn tại Hoa Kỳ) có một đoạn:
Lịch sử Việt Nam
Vinh nhục thăng trầm bao nhiêu bận
Nhưng chưa bao giờ đen tối như hôm nay
Ông cha ta có khi phải xuống biển tìm ngọc trai
Lên non tìm ngà voi trầm hương châu báu
Có những lúc cả dòng sông thắm máu
Có nhiều khi xương trắng gởi rừng sâu
Nhưng chưa một lần trong bốn ngàn năm
Có những cô gái Việt nam
Phải sang xứ người bán thân nuôi miệng
Tủi nhục này không bao giờ rửa
Nỗi đau này không phải của riêng em
Mà của mọi người còn một chút lương tâm
Và còn biết như thế nào là quốc nhục
………
Trách nhiệm này xin hỏi thuôc về ai ? Câu trả lời thuộc quyền “sở hữu trí tuệ” của các bạn. Tuy nhiên nếu có bạn nào bảo trách nhiệm này thuộc về Nhà Nước là tôi cực lực phản đối.
Bởi cái thằng vốn “duy tâm biện chứng” tôi xin lý luận một cách rất “lô gíc” theo kiểu tam đoạn luận như sau:

Đây nhất định không phải là trách nhiệm của nhà nước ( hay là chính quyền ), mà đích thực là của nhân dân. Vì trong xã hội xhcn, nhà nước chỉ quản lý, chính quyền chỉ là“công bộc”, còn nhân dân mới làm chủ (chắc các bạn ai cũng cũng thấy ở Việt Nam ta, trừ duy nhất cái Kho Bạc Nhà Nước, còn tất tần tật cái gì cũng của nhân dân: Chính quyền Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Công An Nhân Dân, Tòa Án Nhân Dân,…..) mà đã là làm chủ (nhất là làm chủ tập thể) là đích thị trách nhiệm phải thuộc về nhân dân rồi. Tôi xin đề nghị là: đưa nhân dân ra Tòa án Nhân Dân xét xử. Và nếu tôi vinh dự được làm bồi thẩm Nhân Dân (lại..nhân dân), tôi xin các đồng chí nhân dân nhất trí:-

- chiếu theo điều 1/HV của bộ luật dân sự thời vua Hùng dựng nước
- thi hành lời di chúc của cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ
- xét rằng, Chiếc Nón Lá là biểu tương cho phụ nữ Việt Nam, anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang
- xét rằng Chiếc Nón Lá là chứng tích của bao cuộc tình học trò dưới cành hoa phượng đỏ
- xét rằng Chiếc Nón Lá đã góp phần làm giàu cho thi ca và làm đẹp cho quê hương có bốn ngàn năm văn hiến
- xét rằng Chiếc Nón Lá đang có thành tích trong kế hoạch kinh tế vĩ mô: góp sức to lớn cho ngành Du Lịch nước nhà.
- Xét rằng chính các cô gái Việt nam đã phản bội, dần dần bỏ rơi Chiếc Nón Lá, nên đã đưa người con gái nước ta vào bao cảnh lầm than, khốn khổ, đoạn trường như hiện nay.
- Đề nghị hình thức kỷ luật:
- Em nữ sinh nào bỏ Nón Lá, khi vào phòng thi sẽ không được mua trước đề thi như ở Hà Tây và Cai Lậy (Tiền Giang), nơi có đến 536 bài thi giống nhau như đúc!
- Người đẹp nào bỏ Nón Lá sẽ không được mua chỗ vào học tiếp viên hàng không Giao Chỉ với giá rẻ 20.000 đô la Mỹ.
- Bà nào bỏ Nón Lá, sẽ không được làm bồ nhí cho các ông quan trong Pờ Mu 18.
Dù sao, tôi cũng xin cám ơn Cái Nón Lá, đã cho thế hệ chúng tôi thật nhiều kỷ niệm, để mỗi lần hồi tưởng về một quá khứ xa xăm, lại thấy trong lòng lâng lâng nỗi nhớ. Không chỉ nhớ những Cái Nón Lá có quai hồng, quai tím… hay mấy mối tình học trò vụng dại, mà nhớ một thời mà cả…đất trời và ai nấy cũng dễ thương. Thôi thì, xin mượn đỡ mấy câu thơ của ông Khoa Hữu mà thay cho lời tạ từ cùng Cái Nón Lá ngàn đời yêu dấu:

Trăm năm hạt cát vô cùng
Trăm năm ta vẫn một lòng nhớ em…
Bắc Âu,một ngày không có mặt trời.

Post Reply