Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Thỏa hiệp ngân sách có gây hại cho sự phục hồi kinh tế?

Nguyên bản Anh ngữ: Stephen Gandel/TIME
Chuyển ngữ: Vann Phan/Người Việt


Hầu hết mọi người dường như đều đồng ý rằng tránh được việc đóng cửa chính phủ vào giờ chót có thể sẽ gây hại cho nền kinh tế. Nhưng câu hỏi ở đây là liệu đạt được thỏa hiệp về ngân sách để tránh việc đóng cửa chính phủ có gây nguy hại cho nền kinh tế nhiều hơn việc Washington phải đóng cửa, tắt đèn hay không?
Image
Tổng Thống Barack Obama loan báo đã đạt được thỏa thuận ngân sách với Quốc Hội, tránh cho chính phủ liên bang khỏi đóng cửa, ngày 8 tháng 4.
(Hình: Joshua Roberts-Pool/Getty Images)



Thỏa hiệp ngân sách giữa Tổng Thống Obama và Chủ Tịch Hạ Viện John Boehner cùng với các nhà lập pháp Cộng Hòa khác vào dịp cuối tuần qua sẽ cắt giảm đi $38.5 tỉ trong mức chi tiêu của chính phủ vào năm tới. Nhìn chung, khi chính phủ tiêu pha ít thì nền kinh tế tiến triển chậm lại, cũng y như khi người tiêu thụ hoặc các công ty sản xuất tiêu pha ít đi. Cuối cùng thì đó là lý do khiến nhiều người nghĩ rằng việc đóng cửa chính phủ, tức là tạm thời cắt giảm mức tiêu pha của chính phủ và cho nghỉ phép 800,000 công nhân, viên chức, có thể sẽ làm hại cho nền kinh tế đất nước.

Thomas Lam, kinh tế gia chuyên về Hoa Kỳ của tổ hợp OSK-DMG Economics Group có trụ sở tại Singapore, nói rằng thỏa thuận ngân sách có thể làm giảm mức tăng trưởng GDP (tổng sản lượng quốc gia) xuống ít nhất là 0.4%. Tỉ lệ thất nghiệp, mà mới đây ở mức 8.8%, có thể lên cao thêm từ 0.2% tới 0.4% sau khi có thỏa thuận ngân sách. Và kinh tế gia Lam không phải là người duy nhất suy nghĩ như vậy. Và ông cũng không phải là người âu lo nhất trong số các chuyên gia. Diane Swonk, trưởng ban kinh tế tại tổ hợp Mesirow Financial có trụ sở tại Chicago, nói rằng ảnh hưởng tiêu cực của vụ thỏa thuận ngân sách có thể lên cao gấp đôi ước tính của Lam, tức là tới 0.9%. Bà ước lượng rằng mức tăng trưởng GDP sẽ đạt 3.3% trong năm 2011, tức là giảm mất 4.3% so với tính hình nếu không có thỏa thuận ngân sách.

Nhưng điều lạ lùng là chẳng có ai nghĩ chuyện thỏa thuận ngân sách sẽ làm hại cho nền kinh tế cả. Một người là Mark Zandi, trên trang mạng Economy.com, nói rằng thỏa thuận ngân sách sẽ chỉ gây hậu quả tối thiểu lên mức tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ. Một số người khác thì nói rằng sự kiện đó còn thúc đẩy gia tăng nền kinh tế và công ăn việc làm nữa. Sau đây là lý do tại sao:

Trước hết, đúng như là Zandi đã chỉ ra, nền kinh tế liên bang hiện khá hơn là cách đây một năm. Vì thế, có lẽ việc cắt giảm phần nào mức tiêu pha của chính phủ sẽ không ai nhận ra khi các công ty và cá nhân khởi sự tiêu pha nhiều hơn. Có lẽ thế. Nhưng khi nhìn đến phần tích cực trong việc cắt giảm chi tiêu của chính phủ, tờ New York Times cũng lặp lại lý luận sau đây để giải thích lý do tại sao những cắt giảm ngân sách có thể làm tăng trưởng nền kinh tế:

Khi chính phủ tiêu pha ít hơn thì chính phủ sẽ vay tiền ít hơn. Khi chính phủ thu ít tiền thuế hơn thì các công ty có thể gia tăng sức chi tiêu và mức đầu tư của họ. Chris Edwards, giám đốc nghiên cứu chính sách thuế tại viện Cato Institute, một tổ hợp tư vấn chủ trương phải cắt giảm mức chi tiêu liên bang, nhận định: “Những cắt giảm này phối hợp với các cắt giảm khác trong chiều hướng cải cách sẽ đem tới các tin lành trên mặt trận tài chính tại Washington cho nền kinh tế, cho công cuộc kinh doanh và cho các nhà đầu tư.”

Thắc mắc của tôi về quan niệm nói trên là các công ty không hề bị trở ngại gì trong chuyện vay tiền. Nên nhớ rằng, hồi năm ngoái, công ty IBM đã chỉ vay có 1% số nợ mà thôi. Bất cứ đại công ty nào cần tiền thì họ đều có thể lấy được tiền đó và lấy được với phân lời thấp chưa từng có trong lịch sử. Vâng, thì cũng có một số ít các công ty không đủ khả năng vay tiền. Và đó chỉ là vì họ không có được uy tín trên thương trường. Và những ai nhìn thấy chỗ tích cực của việc cắt giảm chi tiêu của chính phủ đã lý luận dựa trên cái lợi vì phân lời đang thấp chứ không để ý tới những thành phần thiếu uy tín trên thương trường.

Cuối cùng, lời giải đáp cho câu hỏi liệu cuộc thỏa thuận ngân sách sẽ gây hại hay giúp ích cho nền kinh tế lại chuyển sang tùy thuộc vào cảm nhận của quý vị về mức độ mắc nợ của liên bang. Nếu quý vị tin rằng chúng ta đang ở mức bùng vỡ vì phải đối phó với các vấn nạn nghiêm trọng trong vấn đề liệu chúng ta có đủ sức trả hết mọi khoản tiền mà chính phủ đã vay hay không thì quả đúng là vụ thỏa thuận ngân sách có thể thúc đẩy thêm mức tăng trưởng kinh tế vì nó giữ cho phân lời ở mức thấp. Còn nếu không phải như thế thì vụ thỏa thuận ngân sách này rất có thể sẽ làm chậm đi phần nào mức độ phục hồi kinh tế đất nước. Làm sao chúng ta có thể xác quyết rằng Hoa Kỳ đang ở mức bùng vỡ về nợ nần? Ðây là vấn đề cần phải được bàn đến trong những ngày tới.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

CỰU TỔNG THỐNG AI CẬP HOSNI MUBARAK CÓ THỂ BỊ TREO CỔ,
CÒN VIỆT CỘNG NGUYỄN TẤN DŨNG THÌ SAO?
Truyền thông nhà nước Ai Cập ngày 15/4 đưa tin cựu Tổng thống nước này Hosni Mubarak, người bị bắt giữ trong khi chờ điều tra về các cáo buộc tham nhũng và bạo lực, có thể phải ngồi tù hoặc bị treo cổ nếu bị chứng minh là đã ra lệnh giết hại người biểu tình.

Tờ Al-Agram của nhà nước dẫn lời người đứng đầu tòa án phúc thẩm ở Cairo Zakaria Shalash cho biết ông Mubarak có thể phải đối mặt với án tử hình sau phiên xét xử dự kiến kéo dài trong ít nhất là 1 năm.

Ông Shalash cho hay ông Habib al-Adly, cựu Bộ trưởng Nội vụ dưới thời ông Mubarak, cũng đang bị xét xử vì các tội danh ra lệnh bắn vào người biểu tình chống chính phủ, đã khai rằng chính ông Mubarak đã ra lệnh dùng vũ lực đối phó với người biểu tình.

Ông Shalash khẳng định: "Nếu lời khai này được chứng minh là đúng, ông ta (Mubarak) sẽ phải nhận mức án tương tự như người đã thực hiện nó và có thể phải nhận án tử hình nếu chứng minh được rằng những người biểu tình hòa bình đã bị giết hại có chủ đích."

Ông Mubarak và hai con trai bị tạm giam trong 15 ngày sau khi các công tố viên tiến hành điều tra các cuộc trấn áp người biểu tình trong cuộc nổi dậy kéo dài 18 ngày buộc ông này phải từ chức hôm 11/2.

Theo Al-Agram, một ủy ban điều tra tham nhũng sẽ bắt đầu thẩm vấn ông Mubarak và hai con trai vào tuần tới


Tương tự như Ai Cập, ở Việt nam trong những năm gần đây nhiều người dân cũng đã ý thức được rằng họ đã bị Hồ Chí Minh và đảng cộng sản lừa bịp suốt hơn 80 năm qua, rằng cả dân tộc Việt bị biến thành giai cấp bị trị, nên đó đây đã diễn ra những cuộc biểu tình tự phát của những người dân oan, thấp cổ bé họng. Nhằm để bảo vệ quyền thống trị của đảng cộng sản, của giai cấp thống trị, Nguyễn Tấn Dũng đã ra lệnh cho "công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình" thẳng tay đàn áp dân lành khiến không ít người dân thấp cổ bé họng không một tấc sắt trong tay đã vong mạng ngay tại hiện trường cũng như tại các đồn công an... Nhiều tiếng nói đối lập cũng bị bắt bớ, giam cầm và tra tấn dã man... Không biết rồi đây khi cuộc cách mạng Hoa Lài xãy ra ở Việt nam liệu 86 triệu đồng bào Việt nam sẽ dùng hình phạt tương xứng nào đây cho Nguyễn Tấn Dũng cùng con trai và 14 tên cộng nô trong bộ chính trị???

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Tín hiệu mạnh gởi đến những kẻ độc tài và những tên bạo chúa

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)


Từ Côte d'Ivoire, tin vui truyền đi khắp nơi; 15 giờ ngày Thứ Hai 11 tháng 4 năm 2011, Laurent Gbagbo, nguyên tổng thống nước Cộng Hòa Côte d' Ivoire ở Tây Phi từ năm 2000 đến 2010, cầm đầu quân phiến loạn chống lại Tổng Thống Alassane Ouattara vừa được bầu tháng 11 năm 2010, đã bị bắt giữ.

Image
Tân Tổng Thống Alassane Ouattara của Ivory Coast (phải) hội kiến Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện Tia Kone tại Abidjan, ngày 14 Tháng Tư.
(Hình: STR/AFP/Getty Images)



Cuộc tiến công cuối cùng của phe ông Ouattara diễn ra vừa đúng 2 tuần lễ, được Liên Hiệp Quốc và khối NATO yểm trợ có hiệu quả, đã kết thúc thắng lợi gọn ghẽ. Thế lực cuối cùng của ông Gbagbo gồm có 800 quân, bộ tham mưu, các cố vấn, gia đình nguyên tổng thống gồm vợ là bà Simone Gbagbo, 6 con và cháu, tất cả cố thủ trong khách sạn lớn Golf, đã lần lượt bỏ súng đầu hàng, chịu sự cai quản của lực lượng mũ xanh giữ gìn Hòa bình của LHQ.

Cuộc tiến công được thuận lợi nhờ 6 chiếc trực thăng của quân đội Pháp và một chục xe tăng, xe bọc thép của lực lượng Licorne (Kỳ lân) cũng của Pháp biệt phái sang, đã bắn phá tiêu diệt các ổ đề kháng quanh khách sạn Golf từ sáng 11 tháng 4, tạo điều kiện cho bộ binh của Tổng Thống Ouattara xung phong hoàn thành nhiệm vụ.

Ngay sau đó, Tổng Thống Ouattara lên đài truyền hình quốc gia loan tin chiến thắng, kêu gọi tàn quân của ông Gbagbo buông súng, long trọng tuyên bố chấm dứt nội chiến, thực hiện ngay cuộc hòa giải và hòa hợp quốc gia. Hôm sau 12 tháng 4, ông Gbagbo cũng qua đài phát thanh kêu gọi quân lính ông chấm dứt cuộc chiến, tuân thủ chính quyền mới.

Một loạt 5 ông tướng quân đội và cảnh sát từng theo ông Gbagbo cũng trình diện tổng thống mới, ngỏ lời nhận tội lỗi và sẵn sàng phục vụ chính quyền mới theo tinh thần hòa hợp và thống nhất quốc gia...

Ông Gbagbo cùng vợ và một số kẻ thân cận nhất đang bị giam giữ bởi lực lượng LHQ, sẽ được xét xử về tội giết hại thường dân, khủng bố các nhà dân chủ, đồng thời về nhũng lạm tham ô trong 10 năm nắm quyền.

Laurent Gbagbo năm nay 66 tuổi, tốt nghiệp Ðại học 7 (Diderot) Paris về lịch sử, từng là giáo sư sử học, hoạt động chính trị từ năm 1980, hoạt động công đoàn từ năm 1981, năm 1982 lập ra Mặt Trận Nhân Dân Ivoire (Front Populaire d'Ivoire-FPI), từ năm 1988 là tổng bí thư của FPI, là đại biểu Quốc Hội từ năm 1990. Ông được bầu làm tổng thống năm 2000.

Sau khi hết nhiệm kỳ tổng thống năm 2005, ông Gbagbo không chịu tổ chức cuộc bầu tổng thống mới, cứ ở lỳ tại chức, trong khi chính quyền ngày càng trở nên độc đoán, đàn áp dân, chia rẽ bè phái giữa các bộ tộc, để vợ và họ hàng lũng đoạn các ngành kinh tế béo bở, nạn tham nhũng ngang nhiên hoành hành, từ đó tạo nên cuộc nội chiến âm ỉ từ năm 2007.

Ðến tháng 11 năm 2010, ông chịu tổ chức bầu cử. Ủy ban bầu cử quốc gia tuyên bố ông Ouattara trúng cử với 54.1% phiếu bầu, được dư luận quốc tế và LHQ công nhận. Do ông Gbagbo giật dây. Ủy ban Hiến pháp phủ nhận kết quả trên đây, ngang ngược tuyên bố ông Gbagbo trúng cử. Cả 2 ông đều tuyên thệ, ông Ouattara chiếm khu vực phía Bắc, đồi núi, sa mạc. Cuộc nội chiến diễn ra dữ dội từ tháng 11 năm 2010, đến đầu năm 2011 thêm gay gắt, phe ông Gbagbo sa sút nhanh do không được quốc tế thừa nhận, bị nhân dân phản đối do tệ nạn tham nhũng, đàn áp và gia đình trị hoành hành.

Sau 2 tuần lễ tiến công cuối cùng, được quốc tế hỗ trợ, phe hợp pháp đã thắng, hòa bình đã trở lại. Hòa hợp dân tộc đang thành hiện thực. Nhân dân Côte d' Ivoire bắt tay xây dựng lại đất nước, được cả thế giới yểm trợ.

Ðây là một thắng lợi cổ vũ thêm phong trào dân chủ đang dâng cao lan rộng ở Bắc Phi, Trung Cận Ðông, có tác động tốt đến tiến trình dân chủ toàn cầu.

Ngay tối 11 tháng 4 năm 2011 Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama đã gửi lời chúc mừng đến Tổng Thống Ouattara với những lời lẽ rất nhiệt thành. Một cuộc nội chiến dài đã chấm dứt. Xây dựng, hòa hợp và dân chủ đã đến với đất nước Côte d' Ivoire giàu tiềm năng.

Bà Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton phát biểu: “Sự kiện này là một tín hiệu mạnh gửi đến những kẻ độc tài và những tên bạo chúa”. Bà còn nói thêm: “Họ không thể coi thường tiếng nói của nhân dân nước họ”.

Ngày 12 tháng 4 năm 2011, tại Quốc Hội Pháp, Thủ Tướng François Fillon thông báo tình hình Côte d'Ivoire, tuyên dương sự hỗ trợ có hiệu quả của quân đội Pháp tại đó, nói rõ quân lính của thủ tướng.

Ouattara đã bắt sống ông Gbagbo và giao cho người của LHQ tại chỗ quản lý. Thủ tướng Pháp nhấn mạnh: “Ðây là thông điệp và cũng là sự cảnh cáo nghiêm khắc đối với mọi chế độ độc tài”.

Các báo lề phải trong nước mấy hôm nay rất tiết kiệm, thậm chí im re về các tin trên đây, về sự kết thúc nội chiến ở Côte d' Ivoire. Nhân dân Việt Nam trong nước không được biết chút gì về những câu nói đặc sắc trên đây của ngoại trưởng Hoa Kỳ cũng như của thủ tướng Pháp, nếu không có các mạng thông tin, các blog tự do đang trở thành nguồn truyền thông vỉa hè, ngoài luồng, rất kịp thời và đáng tin cậy.

Một loạt các tên bạo chúa ở Bắc Phi, Tây Phi, Trung Ðông... đã lăn kềnh hay đang ngắc ngoải. Trái đất như sạch sẽ hơn, đáng sống hơn. Cuộc tổng vệ sinh toàn cầu còn tiếp tục. Ðể mọi công dân của thế giới đều là công dân tự do thất sự, không nơi nào người dân chỉ là dân loại hai, có thể bị tù dài qua những phiên xét xử phi pháp, không có biện hộ, kết tội không lý lẽ, không chứng cứ.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Ngân sách tưởng giảm $38 tỷ, chỉ cắt $352 triệu
Saturday, April 16, 2011 2:58:58 PM



WASHINGTON (WashingtonPost) - Thỏa hiệp ngân sách, được ca tụng là “lịch sử”, đạt được vào phút cuối đêm Thứ Sáu tuần trước, thực ra chỉ giảm chi tiêu của liên bang khoảng $352 triệu cho tài khóa năm 2011 này, chưa bằng 1% so với số tiền cắt giảm $38 tỷ do cả hai đảng khoe, theo tính toán của Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (CBO), một cơ quan độc lập thuộc Quốc Hội Mỹ.

Dù sự tính toán này có thể làm giảm sự phấn khởi về thỏa thuận trong giới lập pháp Cộng Hòa, đạo luật được lưỡng viện Quốc Hội Mỹ thông qua và Tổng Thống Barack Obama ký ban hành.

CBO cảnh cáo rằng thỏa thuận này có thể sẽ không bao giờ đưa đến mức độ cắt giảm chi tiêu ở mức được hứa hẹn. Các phân tích gia thấy rằng từ $13 tỉ đến $18 tỉ liên hệ đến số tiền chỉ có trên giấy tờ và ít có hy vọng sẽ được thật sự chi ra trong thập niên tới.

Sự kiện CBO đưa ra nhận định này cũng làm giảm đi điều gọi là “thành quả” của chủ tịch Hạ Viện, Dân Biểu John A. Boehner, Cộng Hòa-tiểu bang Ohio, trong việc thương thảo với Tòa Bạch Ốc và phía đảng Dân Chủ.

Ðến khi bỏ phiếu, có khoảng một phần tư số dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện Mỹ bỏ phiếu chống. Trong số này có 28 trong số 87 tân dân biểu Cộng Hòa, những người được đưa vào Hạ Viện nhờ hứa hẹn sẽ có thay đổi.

Ðối với một số trong thành phần này, các chi tiết về cách “biến hóa” những con số trong ngân sách để đưa ra được một thỏa thuận để “ai cũng chấp nhận được” cho thấy Quốc Hội vẫn là nơi nhiều phức tạp, cho dù có sự hiện diện của họ ở bên trong.

“Ðó là lý do khiến tôi bỏ phiếu chống,” theo lời Dân Biểu Joe Walsh, thuộc tiểu bang Illinois, một trong số 28 tân dân biểu Cộng Hòa bày tỏ sự không đồng ý với đạo luật. “Ðây chỉ là cách mà hai đảng đã hành xử lâu nay. Và tôi không muốn là một phần của việc này.”

Ông Boehner bác bỏ ý kiến cho rằng các cắt giảm không lớn như được khoe trương. Thay vào đó, ông nói, ảnh hưởng của thỏa thuận có thể lớn hơn nhiều, một phần vì sẽ giảm mức chi tiêu căn bản cho các nhiệm kỳ Quốc Hội kế tiếp, và có thể tiết kiệm tới $315 tỉ trong hơn 10 năm.

“Có những người nói rằng thỏa thuận cắt giảm chi tiêu không thật, chỉ là trò biến hóa,” ông Boehner nói với các dân biểu trước khi bỏ phiếu.

“Tôi nghĩ đó là điều vô nghĩa lý. Cắt giảm là cắt giảm.”

Vấn đề ở đây, trong cách tính toán mù mờ của ngân sách liên bang, là không phải tất cả các ‘chi tiêu’ thật sự được chi ra.

Ðể hiểu được điều này, người ta phải biết rằng chính phủ không làm việc như một ngân hàng tiết kiệm. Các cơ quan chính phủ không có trương mục riêng của họ, được Quốc Hội đổ đầy ắp tiền mỗi năm.

Thay vào đó, Quốc Hội thường cho phép các bộ được quyền rút tiền từ một trương mục khổng lồ: Ðó là Quỹ Ðiều Hành của Bộ Tài Chánh, vốn liên tục nhận vào tiền thuế, tiền lệ phí và tiền mượn.

Các bộ sẽ không được lấy tiền ra khỏi trương mục này cho đến khi họ sẵn sàng để tiêu xài.

Và đó là lúc có sự mù mờ phức tạp.

Ðôi khi một cơ quan không sẵn sàng chi số tiền cho đến một năm hoặc lâu hơn nữa, sau khi Quốc Hội cho phép họ dùng tiền. Thí dụ, nếu một cơ quan mua món đồ nào đó như viết chì chẳng hạn, họ gọi cho nhà cung cấp, nhận được viết chì, viết chi phiếu trả tiền, thế là món tiền chi xong.

Nhưng nếu một cơ quan như Bộ Hải Quân mua hàng không mẫu hạm, thì vấn đề lại khác hẳn.

“Chi phiếu sau cùng sẽ không được ký trả cho đến khi hàng không mẫu hạm ra khơi chạy thử,” theo Scott Lilly, một chuyên gia về ngân sách tại viện nghiên cứu Center for American Progress. “Và thời gian đó thường kéo dài vào khoảng sáu năm.”

Ðạo luật vừa qua đã cắt bỏ một số tiền dự định sẽ xài nhưng chưa xài kịp, và đó là những phần giảm chi thật sự. Và cũng có những trường hợp một cơ quan hoàn thành một dự án mà không chi hết số tiền dự tính, hay Quốc Hội cho tiền cho một dự án nào đó mà không xài. Trước đây, các bộ thường đưa phần tiền có trên lý thuyết này vào ngân sách của năm tới, tạo ra một quỹ “dự phòng” khổng lồ có khi lên tới nhiều tỉ dollars.

Các chuyên gia ngân sách nói rằng nếu số tiền sẽ không bao giờ được xài tới thì không thể nào gọi là tiền cắt giảm chi tiêu.

Ông Brian Riedl ở cơ quan Heritage Foundation nói rằng “cũng giống như cha mẹ nói với con cái rằng ‘nếu con đi mua món đồ gì đó, cha mẹ sẽ trả tiền thẻ tín dụng cho con’. Nhưng đứa nhỏ không hề đi mua cái gì cả.”

Một phân tích của tờ Washington Post cho thấy, trong ngân sách dày 459 trang này có ít nhất 98 trường hợp Quốc Hội lấy lại số tiền không xài và gọi đây là “cắt giảm”. (V.Giang)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Quyền và sử dụng quyền

Ngô Nhân Dụng


Gần đây ở nước ta có rất nhiều người dân chết trong đồn công an. Từ giữa năm 2007 đến nay hơn 20 người đã chết sau khi bị công an bắt giữ; nhiều người được nói là đã tự hủy mình. Khắp thế giới, chính quyền nào cũng phải chịu trách nhiệm về nơi mình giam người. Sơ ý để một người tự tử trong phòng giam là những cơ quan giam giữ bị khiển trách và trừng phạt. Không biết ở Việt Nam hiện nay có theo tục lệ văn minh đó hay không.

Tháng 3 năm nay là một tháng xấu; không chỉ vì lạm phát mà còn vì công an. Trong một tháng 3 năm 2011, ba người Việt Nam bị công an đánh tới chết hoặc “treo cổ tự tử” trong đồn công an. Bắt đầu là ngày 6 tháng 3, ông Nguyễn Lập Phương 46 tuổi tắt thở sau khi bị công an huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) giam giữ 4 ngày vì tình nghi ông ăn trộm cau ở Khu Công Nghiệp Shinec. Ngày 8 tháng 3, ông Trịnh Xuân Tùng, 54 tuổi, đã chết sau khi bị một trung tá công an dùng gậy đánh gẫy cổ, sau khi ông bị bắt ở bến xe Giáp Bát, Hà Nội, trước đó 8 ngày. Ngày 14 tháng 3 năm 2011, ông Ðặng Ngọc Trung, 48 tuổi, xô xát với một phụ nữ trước quan Karaoke ở thị xã Ðồng Xoài (Bình Phước), ông bị bắt, rồi sáng hôm sau thấy chết ở trụ sở công an; họ nói ông Trung tự tử.

Hai nạn nhân đầu tiên đều bị công an đánh đập, trước và trong khi bị giam giữ. Khẩu hiệu của công an Việt Nam là “Ðảng Còn thì Mình Còn.” Nhưng không có dấu hiệu nào chứng tỏ ba nạn nhân trên từng có ý định chống đối nhà nước. Chắc chắn họ không bao giờ tính lật đổ độc quyền chính trị của đảng Cộng Sản Việt Nam. Nghĩa là việc đánh những người này đến chết không hề có lý do chính trị, công an không giết họ vì cần bảo vệ chính quyền “chuyên chế vô sản.” Các hành động sát nhân đó xẩy ra hoàn toàn trong những nghiệp vụ bình thường của các vị “công an nhân dân.” Chính cái vẻ bình thường đó mới thật là điều đáng kinh ngạc. Và đáng lo ngại.

Anh Nguyễn Lập Phương bị bắt ngày 2 tháng 3 năm 2011, 4 ngày sau, công an nói, họ thấy anh “có dấu hiệu bất thường về sức khỏe nên cho đi cấp cứu, lên viện thì chết.”Trong đêm mùng 1 tháng 3, bị bắt giữ tại Khu Công Nghiệp Shinec, anh Nguyễn Lập Phương đã bị những người “bảo vệ” của xí nghiệp này đánh.” Sáng hôm sau, họ đưa anh tới công an xã Thiên. Vì trên người anh Phương có nhiều vết bầm tím, nên công an xã đã đưa anh đến bệnh viện huyện Thủy Nguyên. Các bác sĩ ở đó chứng nhận anh Phương đã “bị chấn thương phần mềm ở mặt, chân tay, đầu gối, sườn sưng tím, không kêu đau bụng, đau đầu hoặc ngực, trạng thái tỉnh táo.” Ngày 6 tháng 3 năm 2011 anh lại được công an huyện đưa vào bệnh vào buổi chiều. Nửa giờ sau, công an xã nhận được tin anh Phương đã tử vong và đã đến báo cho gia đình biết. Anh Nguyễn Trung Trực, em trai nạn nhân cùng người nhà có mặt tại nhà xác bệnh viện Thủy Nguyên, chứng kiến thi thể anh Phương có nhiều vết bầm tím trên 2 tay, dọc hai bên sườn, chân, cằm và ngực bầm tím, hai mi mắt và hai bên tai có vết rách. Các bác sĩ cho biết: “Bệnh nhân Nguyễn Lập Phương được công an huyện đưa vào bệnh viện lúc 15 giờ 30 phút ngày 6 tháng 3 trong tình trạng đã ngưng thở.”

Theo lời thân nhân của Nguyễn Lập Phương thì lối giải thích ông bị tử vong “do suy tim” là vô lý. Họ cả quyết “từ trước đến nay, anh này không hề có bệnh gì.” Ông Hoàng Phú Giảng, phó trưởng công an xã Thiên Hương cũng khẳng định: “Trong thời gian từ sáng đến chiều ngày 2 tháng 3, tại trụ sở công an xã, anh Phương hoàn toàn khỏe mạnh, không có biểu hiện bệnh tật, trừ việc kêu đau ở tay vì bị đánh. Buổi trưa, anh này còn ăn được hai bát cơm đầy do công an xã đem cho.” Nguyễn Lập Phương cao khoảng 1m70, nặng 65 ký, khi làm việc trong tổ bốc vác, anh được các đồng sự coi là người khỏe nhất. Do đó, cái chết của anh chắc vì bị đánh đập trong lúc ở đồn công an huyện.

Sau khi anh Phương qua đời 2 ngày, đến lượt ông Trịnh Xuân Tùng chết, sau khi bị công anh cùng với một nhóm dân phòng đánh đập ở bến xe Giáp Bát, Hà Nội từ 8 ngày trước. Ông Tùng đã bị trung tá công an Nguyễn Văn Ninh dùng gậy đánh vào cổ.

Theo lời tường thuật của thân nhân thì trưa ngày 28 tháng 2, 2011, ông Tùng thuê xe ôm đi đến bến xe Giáp Bát đón xe lên đường vào Nam. Khi gần tới bến xe, ông xin người lái xe ôm dừng lại, ông cởi mũ an toàn ra để gọi điện thoại cho một người bạn. Trung Tá Nguyễn Văn Ninh (Công an phường Thịnh Liệt, Hoàng Mai) thấy ông Tùng không đội mũ an toàn bèn đòi phạt người lái xe, bắt xe, đưa về phường Thịnh Liệt và hẹn chiều sẽ giải quyết. Khi hai người trở lại để “giải quyết,” anh lái xe không chịu nhận lỗi. Hai bên cãi nhau, Trung Tá Ninh đã túm cổ người lái xe, cho nên ông Tùng can ngăn, gỡ tay ông ta ra khỏi cổ người lái xe ôm; từ đó đưa tới giằng co. Sau đó viên trung tá công an đòi 150 ngàn đồng tiền phạt (khoảng 10 đô la Mỹ), nhưng ông Tùng chỉ chịu nộp 100 ngàn đồng thôi. Cuộc mặc cả đưa tới cãi cọ, xô xát; ba cán bộ về trật tự trong bến xe cũng tới đánh ông Tùng. Trung Tá Ninh đã dùng gậy đánh vào đầu và cổ ông Tùng, xích ông vào gốc cây, rồi giải về phường với lý do đã chống người thi hành công vụ.

Năm giờ chiều, gia đình ông Tùng tới trụ sở công an phường Thịnh Liệt thăm, thấy ông quá yếu, đã bị liệt nửa người, nên xin cho đưa ông đi bệnh viện, nhưng bị từ chối. Công an nói họ “không có thời gian để giải quyết vụ việc này.” Ông Trịnh Xuân Tùng tiếp tục bị còng, cho tới 9 giờ 30 tối mới được cho đi tới bệnh viện Bạch Mai, hai tay vẫn bị còng. Vì tình trạng nguy kịch, ông Tùng được đưa tới bệnh viện Việt Ðức. Ông đã qua đời ngày 8 tháng 3, 2011, mười ngày sau khi bị đánh vào đầu và cổ.

Cuối cùng người Việt Nam nào cũng phải tự hỏi: Có cách nào cho những vụ đánh chết người đó không tái diễn nữa? Ðể trả lời câu hỏi này,chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân vì sao những người gác Khu Công Nghiệp Shinec và công an huyện Thủy Nguyên lại đánh chết ông Nguyễn Lập Phương chỉ vì trộm mấy buồng cau? Vì đâu Trung tá công an Nguyễn Văn Ninh lại đánh ông Trịnh Xuân Tùng đến nỗi chết chỉ vì nghi đã đi xe gắn máy không đội mũ an toàn? Người Việt Nam nào cũng phải tìm hiểu căn nguyên những cái chết này.

Không nên giải thích rằng lý do chính là tính tình các ông công an này nóng nẩy, cục cằn. Ðổ tội cho tính vũ phu, tàn ác của những cá nhân thì không chấp nhận được. Có người sẽ chua chát nói rằng mạng sống dân ta rẻ lắm, ai cũng giết người khác dễ dàng chỉ vì những vụ cãi nhau, đánh nhau. Nhưng đây không phải là chuyện giết nhau giữa những người dân thường. Nhũng vụ đánh chết người này xẩy ra trong mối quan hệ giữa các nhân viên công lực đang làm việc với một người dân (mà các vị công bộc này có nhiệm vụ bảo vệ). Chắc chắn đây không phải là những tranh chấp riêng tư.

Cuối cùng, chúng ta phải vượt trên phạm vi cá nhân mà đi tìm đến “lỗi hệ thống!” Ðó một từ thông dụng bây giờ, từ khi được ông Nguyễn Văn An nhắc đi nhắc lại nhiều lần, và lại được cô Song Chi ghi nhớ. Nhìn tới cả hệ thống, ta cần hiểu vì sao có các vị công an lại ra tay đánh chết người dân chỉ vì những cái lỗi nhỏ nhoi như cái mũ an toàn, giờ quen gọi là mũ bảo hiểm; hoặc vì một vụ trộm cau.

Rất nhiều người sẽ lên án cả chế độ chính trị đã tạo ra những người công an như ông Nguyễn Văn Ninh và các ông ở Thủy Nguyên. Nhưng chế độ chính trị đó như thế nào, nó làm cái gì mà gây ra những vụ đánh chết người này?

Chắc chắn không một hệ thống chính trị nào lại cho phép cảnh sát, công an đánh chết người chỉ vì phạm luật đi đường hay đi ăn trộm vặt. Không có đạo luật giao thông nào nói rằng nếu người dân cãi lời, đôi co to tiếng với cảnh sát, hoặc dám mặc cả giá tiền phạt với công an, thì nhân viên công lực được quyền đánh cho hắn gẫy cổ, chết bỏ. Tàn bạo như chế độ của các ông Hitler, Stalin hay các ông Mao Trạch Ðông chắc cũng không thiết lập những định chế cho phép công an giết dân dễ dàng như vậy.

Thế thì cái gì trong hệ thống chính trị ở nước ta đã đưa tới những vụ công an giết dân?

Như ai đã nghe chuyện đều biết, Trung Tá Nguyễn Văn Ninh đã gây ra cái chết của ông Tùng khi đang thi hành quyền của một người cảnh sát. Ông có trách nhiệm bảo đảm rằng luật lệ về giao thông được dân chúng tuân thủ. Công an Thủy Nguyên gây ra cái chết của ông Phương trong khi thi hành quyền giam giữ một người, để bảo vệ tài sản của các công dân khác. Những người công an trên biết rằng họ đang thi hành quyền bắt người, do nhà nước giao cho; họ là những người được ủy nhiệm. Họ tin rằng nhà nước mà họ đại diện đã được xã hội ủy nhiệm các quyền đó, để bảo vệ trật tự, an ninh. Các ông công an đã giết người khi nhân danh cả chuỗi những sự ủy nhiệm này. Tất cả các xã hội loài người đều ủy nhiệm những quyền bảo vệ an ninh, trật tự cho nhà nước.

Tất cả các guồng máy nhà nước đều ủy nhiệm cho cảnh sát công an làm những công việc bắt người vi phạm luật để đưa ra tòa án. Ở Việt Nam cũng như ở Bắc Phi. Ngày 17 tháng 12, tại nước Tunisia một sinh viên tốt nghiệp nhưng không có việc làm, anh Mohamed Bouazizi, 26 tuổi, bị một chị công an 45 tuổi tát tai, bắt về bóp, sau khi cãi nhau về tội anh đẩy xe bán rau không giấy phép. Ngày 4 tháng 1, 2011, anh Bouazizi chịu nhục nhà không nổi, đổ xăng tự thiêu. Ngày 6 tháng 6 năm 2010, tại Ai Cập, anh Khaled Said, 28 tuổi, bị công an đánh chết. Hai cái chết đó đưa tới những cuộc nổi dậy lật đổ chế độ độc tài ở hai quốc gia này, rồi lan ra các nước Á Rập khác.

Tại sao ở các nước văn minh chúng ta không thấy cảnh công an giết chết người một cách dễ dàng như ở Tunisia, Ai Cập, và ở nước ta? Chúng ta cần suy nghĩ đến vấn đề Quyền và sử dụng Quyền trong xã hội.

Bao nhiêu người dân Hà Nội đã tới dự đám tang của ông Trịnh Xuân Tùng dù không quen biết. Trong lòng nhiều người chắc cũng phải suy nghĩ về những câu hỏi này: Người dân ủy nhiệm cho nhà nước những quyền nào? Những quyền hành đó có giới hạn hay không? Có định chế nào bảo đảm rằng những giới hạn này được tôn trọng hay không? Tất cả những câu hỏi đó là để trả lời tại sao anh Tùng bị đánh chết. Người dân Hà Nội đã có ai đưa các câu hỏi trên ra thảo luận trước công chúng, trên các mạng lưới hay chưa?

Một bài thơ của Quang Dũng viết về Người Hà Nội kết thúc với hai câu thơ:

“Hàng Gai tay bỏng trục ba càng.

Ðất cũ Thăng Long người lẫm liệt.”

Con người Thăng Long lẫm liệt, không phải chỉ vì biết ôm súng chống ngoại xâm. Con người lẫm liệt phải đặt ra những câu hỏi căn bản về cuộc sống của xã hội mình: Tại sao chúng tôi phải sống mãi như thế này?

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Đức Giám mục Phaolo Nguyễn Thái Hợp ký tên
kiến nghị trả tự do cho Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ
Việc một Đức giám mục trong Hội Đồng giám mục Việt Nam, nhất là trong tư cách là Chủ tịch ủy ban Công lý và Hòa Bình, lên tiếng về những bất công xã hội, những cuộc bắt bớ trái pháp luật, cụ thể là trường hợp tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, thì phải được coi như đây là một lời ngỏ cho các tín hữu hãy dấn thân mạnh mẽ hơn nữa cho công lý và sự thật, chung tay xây dựng một xã hội công bằng và bác ái hơn.

Ngay sau khi phiên tòa ma quỷ xử tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ một phong trào ký tên kiến nghị trả tự do cho tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ đã được khởi động và thu hút mọi thành phần từ các cựu tướng lãnh, sĩ quan cao cấp, các nhà tri thức hải ngoại cũng như quốc nội, cho tới các thương gia, nông gia.

Image
“Bức xúc vì trong thời gian vừa qua có nhiều vụ án không được xử theo những trình tự pháp luật.
Trong vụ án xử Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ bộc lộ rõ chuyện đó. Chuyện bắt tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ có nhiều điều giả tạo quá”. – GM Phaolo Nguyễn Thái Hợp
Trong danh sách ký tên kiến nghị trả tự do cho tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ (danh sách đợt 2), đáng chú ý có tên Đức Giám mục Phaolo Nguyễn Thái Hợp – giám mục giáo phận Vinh, Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình trực thuộc Hội Đồng Giám mục Việt Nam.


Trả lời phỏng vấn đài RFI, đức cha Nguyễn Thái hợp cho biết lý do tham gia ký tên: “Bức xúc vì trong thời gian vừa qua có nhiều vụ án không được xử theo những trình tự pháp luật. Trong vụ án xử Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ bộc lộ rõ chuyện đó. Chuyện bắt tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ có nhiều điều giả tạo quá”.


Trong những ngày qua, đây là lần thứ hai, người ta thấy Đức cha Phaolo đã có những bước đi mạnh mẽ trong việc lên tiếng về những vấn đề bất công trong xã hội. Trước tiên là việc ngài can thiệp và yêu cầu nhà cầm quyền cộng sản phải thả luật sự Lê Quốc Quân, bác sĩ Phạm Hồng Sơn và lần này là ký kiến nghị yêu cầu chính quyền trả tự do cho tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ.

Cũng nên nhớ rằng ngài đã có văn thư gửi đến Chủ tịch UBND Đà Nẵng và Tòa án quận Cẩm Lệ vì một vụ án bất chấp pháp luật như vụ Cù Huy Hà Vũ đối với người dân Cồn Dầu.

Image
Phiên tòa Vũ Huy Hà Vũ, nỗi nhục quốc thể trước toàn dân và dư luận quốc tế
Trước đó, ngài cũng đã ký tên vào bản kiến nghị dừng dự án Bauxite ở Tây Nguyên, một dự án không hợp lòng dân, có nguy cơ cao đối với vùng văn hóa Tây Nguyên lâu đời cũng như đe dọa an ninh của nửa miền Nam đất nước. Đặc biệt dự án này được ví như hành động “rước voi giày mả tổ” khi đưa đội quân bành trướng bá quyền phương Bắc vào tận sào huyệt cốt tử của đất nước.


Việc một Đức giám mục trong Hội Đồng giám mục Việt Nam, nhất là trong tư cách là Chủ tịch ủy ban Công lý và Hòa Bình, lên tiếng về những bất công xã hội, những cuộc bắt bớ trái pháp luật, cụ thể là trường hợp tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, thì phải được coi như đây là một lời ngỏ cho các tín hữu hãy dấn thân mạnh mẽ hơn nữa cho công lý và sự thật, chung tay xây dựng một xã hội công bằng và bác ái hơn.


Hy vọng rằng việc Đức cha Phaolo Nguyễn Thái Hợp mạnh mẽ lên tiếng cho những bất công xã hội, những việc làm phi pháp của chính quyền Hà Nội thời gian qua, sẽ là tiền đề tạo nên một làn sóng hiệp thông cụ thể và mạnh mẽ hơn nữa trong Giáo hội Công giáo Việt Nam.


Cũng hi vọng rằng, sau khi TGM Giuse Ngô Quang Kiệt – người đã không ngần ngại chia sẻ với những thân phận đau khổ và lên tiếng chống lại bất công, xã hội – buộc phải rời nhiệm sở của mình, các Giám mục Việt Nam đã có một thời kỳ dài im lặng, nhiều khi tưởng như vô cảm trước những vấn đề xã hội, đất nước trước sự đau khổ của các thân phận nghèo hèn, bị áp bức… thì nay đã đến lúc các Giám mục Việt Nam sẽ mạnh mẽ hơn và có đường lối, hành động rõ ràng làm gương mẫu cho giáo dân vững bước tiến lân xây dựng đất nước theo con đường Sự thật – Công lý – Hòa bình mà Đức cha Nguyễn Thái Hợp đã có những bước đi mạnh mẽ, hợp lòng người cũng như sứ vụ của Giáo hội công giáo.

Nữ Vương Công Lý

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Bài học máu xương và nước mắt:
Nam Việt Nam Ngày 30 - 4 - 1975


Nói đến chuyện đó, trước hết ta nên nhớ lại câu nói hàm chứa cả một âm mưu, tham vọng của Lenine, cha đẻ của cách mạng tháng 10 ở Nga, của Đệ Tam Quốc Tế cộng sản, sư phụ của Hồ Chí Minh, sư tổ của phong trào cộng sản thế giới " … First, we will take eastern Europe, then the masses of Asia, then we will encircle the United States which will be the last bastion of capitalism.

We will not have to attack. It will fall into our hands like an overripe fruit …" (The Death of A Nation - John A. Stormer - 1978 .- Liberty Bell Press,. Florissant, Missouri - U.S.A - Page 14). Tư tưởng, tham vọng này từ lâu đã sai bét hết cả rồi!

Nhà lãnh tụ được coi là vĩ đại nhất cuả phong trào cộng sản quốc tế này, trước đó hơn nửa

thế kỷ, đã từng vạch ra một chiến lược để đánh thắng Hoa Kỳ mà không cần phải tấn công trực tiếp vào Hoa Kỳ, chỉ cần đem phong trào cộng sản đến thống trị Đông Âu, rồi thống trị khối nhân dân khổng lồ ở Á Châu , sau đó bao vây Hoa Kỳ, thành lũy cuối cùng của chế độ tư bản. Hoa Kỳ sẽ như trái cây chín nẫu, rơi vào tay cộng sản. Chủ quan ghê gớm thật!

*

Biết như vậy rồi, bây giờ chúng ta bắt đầu nhìn lại những biến cố đã xẩy ra trên đất nước mình: ngày 30 – 4 – 1975, để rồi cùng nhau dưạ vào kinh nghiệm lịch sử, vào trào lưu tiến hoá nhân loại, cầu xin các Đấng thiêng liêng phù trợ mà tìm ra một phương cách tự cứu lấy bản thân, cứu lấy dân tộc, quê hương, đất nước than yêu cuả mình.

* Ngày 6 - 1 - 1975 : Tỉnh Phước Long và Thị Xã Phước Bình, cách Sài Gòn 60 dặm về phiá Bắc, rơi vào tay quân cộng sản Bắc Việt. Sau vụ "Mùa Hè đỏ lửa" ở vùng địa đầu giới tuyến Quảng Trị, năm 1972 thì Phước Bình là Thị Trấn đầu tiên của Nam Việt Nam bị quân cộng sản đánh chiếm. Không Quân Việt Nam Cộng Hoà thiệt hại 20 máy bay trong công cuộc bảo vệ Tỉnh Phước Long. Nhiều máy bay bị bắn hạ bằng hoả tiễn SA-7 của Liên Sô (The South Vietnamese Air Force loses 20 planes defending the province, many to SA-7 missiles made by the Soviet Union).

Sự thiếu phản ứng quân sự của Hoa Kỳ càng xúi giục cộng sản làm tới vì các chiến lược gia của cộng sản biết rằng đã đến lúc Hoa Kỳ phải rời bỏ Việt Nam. Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Lê Duẫn và Bộ Chính Trị của Đảng cộng sản quyết định tăng cường các cuộc tấn công trên toàn lãnh thổ Nam Việt Nam để phát động một cuộc Tổng nổi dậy vào năm 1976. Cộng sản chỉ dám mong điều đó vào năm 1976 mà thôi.

· Ngày 28-1-1975 : Tổng Thống Hoa Kỳ, Gerald Ford , yêu cầu Quốc Hội tăng them

quân viện cho Nam Việt Nam và Kampuchia với ngân khoản 522 triệu Mỹ Kim vì lúc này Tổng Thống Ford được biết quân cộng sản Bắc việt đã có mặt tại Nam Việt Nam tới mức 289.000 người. Xe tăng, trọng pháo, hoả lực phòng không, do Liên Sô và Trung Quốc chi viện rất hùng hậu. Để giữ vững "Một tiền đồn chống cộng" ở Đông Nam Á Châu thì ngân khoản 522 triệu đô la có là bao ? Thế mà cũng không xong. Người ta đã muốn bỏ đi rồi.

* Ngày 5-2-1975 : Đại Tướng Bắc Việt Văn Tiến Dũng vào Nam để chỉ huy quân đội cộng sản.

* Ngày 10-3-1975 : Quân Bắc Việt, với những Sư Đoàn thiện chiến , phương tiện chiến

tranh hiện đại cuả Liên Sô và Trung Quốc , tấn công Ban Mê Thuột từ ngày 10-3. Ba ngày sau, quân cộng sản tràn ngập thị trấn này, trong khi những trận đánh lớn khác bùng nổ trên mặt trận Cao Nguyên Trung Phần.

* Ngày 14 - 3 - 1975 : Sau khi họp bàn với một số Tướng Lãnh và nhân vật thân cận (?), Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, bỏ vùng cao nguyên Trung Phần và các Tỉnh phiá Bắc của Nam Việt Nam. Các Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 2, Phạm Văn Phú, và Quân Đoàn I, Ngô Quang Trưởng, ngỡ ngàng, sửng sốt, không biết tại sao lại bỏ những vùng đất quan trọng, cửa ngõ, quyết định sự sống chết của Nam Việt Nam vào lúc này, chưa đánh nhau chi cả, trong khi các lực lượng chiến đấu của 2 Quân Đoàn ( Army Corps ) Việt Nam Cộng Hoà rất hùng mạnh, sẵn sàng đọ sức với quân đội cộng sản. Mất Ban Mê Thuột đâu có nghiã là phải mất luôn cả Quân Khu I và Quân Khu 2! Ông Thiệu làm như thế để gây áp lực với chính phủ Mỹ: phải quyết tâm tăng cường viện trợ mọi mặt cho Nam Việt Nam, nếu không thì "Tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á Châu cuả Mỹ " là Nam Việt Nam sẽ xụp đổ. Ông Thiệu khờ khạo quá trời quá đất ! Tại sao? - Bởi vì người Mỹ đã tìm cách tháo lui khỏi cái " Vũng lầy Việt Nam" để ra đi một cách ít phũ phàng, ít mất mặt chừng nào hay chừng đó , sau khi ông Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Mỹ, Henry Kissinger đã cố dọn đường, mở lối cho Tổng Thống Richard Nixon sang Trung Cộng năn nỉ với Mao Trạch Đông vào năm 1972 , qua sự giàn xếp của Tổng Thống Hồi Quốc Yahya Khan. Mao Trạch Đông với sức mạnh đàn anh, từng viện trợ, cố vấn tích cực cho cộng sản Hà Nội, đã ép cộng sản Hà Nội bớt ương ngạnh, ngưng chơi trội và bắt bí Mỹ ở Hội Nghị Paris, diễn ra tại Salle de Conférence Kléber. Trong vụ này, Mỹ được tí chút lợi lộc là ký được cái "Hiệp Định Ngưng Bắn - Agreement of Cease-Fire" để tháo lui có văn bản đàng hoàng, mà phe cộng sản coi như mớ giấy lộn, chẳng có giá trị gì cả, để tránh cái cảnh quân Mỹ tháo lui bỏ chạy vô tổ chức,nhưng trong đó Mỹ phải bấm bụng làm lơ, không được nói năng chi tới cái chuyện quân Bắc Việt đã vào Nam cả mấy chục Sư Đoàn (Divisions) rồi. Tội vạ đổ lên đầu người bạn đồng minh Việt Nam Cộng Hoà hết cả. .Phái đoàn Việt Nam Cộng Hoà phản đối mấy cũng hoài hơi mà thôi vì " Xếp " đã chơi đòn " tháu cáy " rồi thì ráng mà chịu cho quen. Dân nhược tiểu chơi với anh bạn khổng lồ là vậy! Việc Mỹ làm cú đi đêm ( Furtive Conspiracy ) liên kết với Trung Cộng để chống Liên Sô thì kể như 2 bên cùng có lợi, nhưng riêng phần Trung Cộng thì lời to : Trung Cộng nhẩy vào ngồi cái ghế " Hội viên thường trực - Permanent Member " cuả Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, với quyền phủ quyết ( Veto ) đáng giá cả…tỉ tĩ Mỹ Kim, đánh văng Ông Quốc Dân Đảng Trung Hoa ra Đài Loan mà chơi luôn, mặc dầu Trung Cộng đánh thắng và kiểm soát lục địa Trung Hoa từ năm 1949. Thêm cái lợi nữa là chính quyền Nixon phải lén lút, dấu diếm bán vũ khí tối tân cho Trung Cộng để chống Liên Sô mà không được cho ai biết hết, nhất là Liên Sô, kể cả Quốc Hội, Dân Chúng và Báo Chí Mỹ nữa. Đó! Mỹ dã tìm cách tháo lui bằng mọi giá, với thế bị đánh bại rồi thì Ông Thiệu có bỏ 2 Quân Khu 1 và 2, chớ Ông Thiệu có bỏ luôn cả Quân Khu 3, Quân Khu 4 và Biệt Khu Thủ Đô, bỏ hết miền Nam Việt Nam chăng nưã thì Mỹ cũng chẳng bao giờ dại dột quay đầu trở lại để cứu Nam Việt Nam nữa. Nếu nói là cứu thì cứu hết sức từ 1965 đến 1973, với 58 ngàn quân nhân Mỹ hy sinh, mấy ngàn người mất tích, hàng trăm ngàn bị thương, hàng triệu người đau khổ, mất mát, mà đâu có cứu nổi ! Nay trong lúc đã tan hàng, bỏ chạy thì còn cứu cái nỗi gì nữa đây? Rút mau chừng nào hay chùng đó! Ông Thiệu phải biết chớ! Dù cách nào đi nữa, Ông Thiệu ra lệnh bỏ 2 Quân Khu, bắt 2 Quân Đoàn phải bỏ chạy khi chưa đánh nhau với ai cả thì: Làm rối loạn hàng ngũ quân đội và dân chúng, làm mất nước mà không chiến đấu, không kháng cự gì cả là tội to tầy trời của Ông Thiệu ! Lịch sử cận đại Việt Nam không thể bỏ qua chỗ này! Đại quân cộng sản đã từng chiếm đóng thành phố Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968, đã từng đánh chiếm Quảng Trị và kiểm soát hoàn toàn Thị Trấn An Lộc trong Mùa Hè đỏ lửa 1972 mà có Quân Khu nào bị mất, phải bỏ chạy đâu ? Trái lại, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã phản công một cách vô cùng anh dũng, để giành lại những địa điểm chiến lược đã rơi vào tay giặc. Thế thì tại sao mới mất có Ban Mê Thuột mà phải bỏ Quân Khu I, trong khi Danh Tướng Ngô Quang Trưởng cuả Muà hè Đỏ Lửa 1972, từng được thế giới biết đến và kính phục, luôn luôn nắm vững tình hình Quân Khu của Ông, trong khi Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Khu 2, phải lớn tiếng cự lại Tổng Thống Thiệu trong hệ thống liên lạc Vô tuyến Siêu Tần Số, dù Ông biết rằng làm như thế là có thể mất lon, phải ra trước Toà Án Quân Sự Mặt Trận. Tướng Phú đang sẵn sàng chờ địch tiến đánh Pleiku, vì Tướng Phú biết rằng : đánh thì chưa chắc đã chết, nhưng tự dưng bỏ chạy thì chắc chắn cả lính lẫn dân đều phải chết bi thảm trong cảnh hỗn loạn, dưới những làn mưa bão pháo binh, hoả tiễn cuả cộng sản, tự do hoành hành mà không gặp sức chống trả. Năm ngày sau, khi quân đội và dân chúng đang tháo chạy một cách thê thảm, hỗn loạn thì Ông Thiệu lại ra lệnh cho Tướng Ngô Quang Trưởng là phải " Tử thủ thành phố Huế " ( … five days later, Thieu orders Hue held at all costs…). Ông Thiệu vốn được chính giới coi là khôn ngoan, mưu mô, xảo quyệt từ ngày còn là Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, tham gia đảo chính lật đổ Ông Diệm năm 1963, rồi lên làm Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, rồi lên làm Tổng Thống Việt Nam, Đệ Nhị Cộng Hoà, nhiệm kỳ I, kỳ 2, rồi còn định vận động Quốc Hội sửa đổi Hiến Pháp để Ông làm luôn Tổng Thống keo thứ 3 nưã, mà sao lúc này Ông Thiệu lại khờ khạo đến mức độ… nhiều người, nhất là nhiều Sĩ Quan trong quân đội cho là (xin lỗi) đại ngu xuẩn , để ra lệnh bỏ 2 Quân Khu, không đánh đấm chi cả, trong khi 2 Quân Đoàn Việt Nam Cộng Hoà đang trong tư thế sẵn sàng chờ địch để thêm một lần nữa cho cộng sản học lại những bài học Mậu Thân 1968 và Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Tướng Ngô Quang Trưởng trả lời là : không thể nào làm được việc đó vì trước đó 5 ngày, Ông Thiệu đã hạ lệnh rút bỏ Quân Khu I. quân đội và cả triệu dân chúng hỗn loạn rút chạy suốt 5 ngày rồi, làm sao mà trở lại vị trí cũ, tổ chức, phối trí lực lượng để mà "tử thủ ! " Ông Thiệu là Tướng Lãnh, là Tổng Thống, Tổng Tư Lệnh quân đội mà không biết việc đó hay sao? Chẳng lẽ Ông ta (xin lỗi) điên hay ngu dại đến mức kỳ lạ như vậy? * Ngày 24 - 3 - 1975 : Thấy tình thế thuận lợi, cộng sản Hà Nội quyết định chính thức mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh. Hà Nội giao cho Tướng Văn Tiến Dũng một " Thời khoá biểu " phải kịp thời đánh chiếm hoàn toàn Nam Việt Nam trước khi mùa mưa bắt đầu vào tháng 5. Muốn vậy, quân Bắc Việt phải vào chiếm Sài Gòn chậm nhất là tuần lễ cuối cùng của tháng 4, trước khi quân đội miền Nam có thể tái phối trí lực lượng hầu bảo vệ Sài Gòn và Quân Khu 4 ở miền Tây.

* Ngày 25 - 3 - 1975 : Ông Thiệu ra lệnh bỏ thành phố Huế. Trong có mấy ngày mà ra lệnh bỏ Quân Khu 1, có Huế trong đó, rồi lại ra lệnh Tử thủ Huế, rồi lại ra lệnh bỏ Huế ! Đúng là điên hạng nặng ! Vào lúc này, dân chúng đông tới hàng triệu người. Họ không quên cảnh cộng sản tàn sát tập thể dân chúng cũng như viên chức chính quyền, nhân vật Đảng Phái vào dịp Tết Mậu Thân- 1968 - nên đã kéo nhau tràn xuống thành phố Đà Nẵng, lúc đó đang bị quân cộng sản tấn công từ xa bằng hoả tiễn 122 ly cuả Trung Cộng và đại bác 130 ly cuả Liên Sô. Ông Thiệu còn ra lệnh: Không giữ được Huế thì cũng phải cố mà giữ lấy vùng duyên hải Đà Nẵng, coi như vị trí chiến lược làm đầu cầu cho quân đội Mỹ đổ bộ lên, một khi chính quyền Mỹ quyết định trở lại cứu vớt Việt Nam Cộng Hòa, đương đầu với cuộc xâm lăng đại quy mô của cộng sản. Trời Đất quỷ thần ơi! Tới lúc này mà Ông Thiệu còn hy vọng

Mỹ trở lại cứu Việt Nam Cộng Hòa thì trên thế gian này, Lãnh Tụ Quốc Gia, Tổng Tư Lệnh Quân Đội chỉ có Ông là một mà thôi ! Không thể có kẻ thứ 2 kiểu như thế ở cõi đời này! Ông Thiệu là Tổng Thống, “chơi“ với Mỹ, đồng minh thân thiết của Mỹ, lãnh tụ “ Tiền đồn chống cộng “ của Mỹ tại Đông Nam Á Châu mà Ông Thiệu đâu có biết gì về Mỹ : ngày 29 - 6 - 1973 Hạ Viện Hoa Kỳ đã biểu quyết dự luật cấm các hoạt động quân sự của Hoa kỳ trên toàn lãnh thổ Đông Nam Á Châu. Dự luật này được lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua ngày 21 – 9 – 1973. Kế theo đó, ngày 12 – 10 – 1973, lưỡng Viện lại thông qua dự luật hạn chế quyền của Tổng Thống Mỹ trong việc đưa quân đội Hoa Kỳ ra ngoại quốc ( sau bài học cay đắng tại Việt Nam ). Ông Thiệu lúc này loạng quạng, quáng gà là đúng thôi vì Ông không biết gì về người bạn dồng minh và cũng chẳng biết gì về công việc phải làm của mình nữa...

* Ngày 29 - 3 - 1975: Cộng sản chiếm thành phố Đà Nẵng, đang rối loạn, mà chẳng tốn 1 viên đạn nào. Dân chúng tìm mọi cách thoát khỏi vùng này bằng mọi giá, chấp nhận chết chóc, đau đớn chia lìa trong máu và nước mắt… Kẻ viết bài này kẹt lại Đà Nẵng, rồi đi tù cải tạo hơn 12 năm vì trước đó phi đạo Đà Nẵng bị hỏa tiễn Trung Cộng cầy nát, không sử dụng được nữa, trực thăng không có, tầu Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa từ trong Nam kéo ra bãi biển Mỹ Khê, Quận 3 Đà Nẵng cứu nạn, nhưng đủ thứ người trốn chạy cộng sản giành nhau leo lên tầu bằng đủ mọi cách đã gây nên cảnh kinh hoàng, người già, trẻ con rơi xuống biển như những chíếc lá mùa thu. Kẻ này phải vỗ vai Đại Úy Từ Khánh Sinh, Quản Đốc Quân Lao Đà Nẵng, cựu Đại Đội Trưởng nhẩy dù : “Không đi bằng cách này được! Mấy đứa trẻ này sẽ chết hết! “ Đại Úy Sinh kiếm được tay Nghĩa Quân, đàn em, hắn lôi cái thuyền nhỏ xíu dìm dưới nước lên và tính chuyện ra khơi, lên tầu Mỹ. Ngay tức khắc, hàng chục mũi súng AK của du kích địa phương đã chĩa vào cái thuyền : thuyền ra là bắn tất cả ngay ! Cả 2 chúng tôi cùng đi tù cải tạo với nhau nơi rừng sâu, núi thẳm ghê người! Điều an ủi cho kẻ này là trước đó chỉ non một ngày, nhân danh Sĩ Quan cấp chức cao nhất của 2 Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I và Toà án Quân Sự Thường Trực Đà Nẵng còn có mặt, tôi đã ra lệnh phóng thích tất cả hơn 1 ngàn quân phạm, bất kể Sĩ Quan hay Binh Sĩ, tiểu hay đại hình, xếp hàng, cứ 10 người một chạy ra khỏi Quân Lao, về lo chuyện gia đình trước họa cộng sản đang tràn đến... Ai cũng có thân nhân, gia đình, ai cũng là người cả !

* Ngày 6 đến 15 - 4 - 1975 : 2 Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh V.N. Cộng Hòa cùng với 1 Lữ Đoàn nhẩy dù được đổ xuống phi trường Phan Rang vào ngày 6 để hy vọng đánh trận phản công. Cộng sản thấy hơi khó ăn vì ngán quân nhẩy dù nên để cho tình hình yên tĩnh 3 ngày. Thế là Lữ Đoàn nhẩy dù được bốc đi Xuân Lộc là nơi đang có trận đánh lớn giữa Sư Đoàn 18 Bộ Binh VN Cộng Hoà dưới quyền chỉ huy cuả Tướng Lê Minh Đảo với 2 Sư Đoàn quân Bắc Việt. Thay thế cho Lữ Đoàn nhẩy dù thiện chiến, người ta đưa tới đó 1 đơn vị Biệt Động Quân. Lập tức quân cộng sản cho xe tăng T-54 của Liên Sô ào ạt tiến vào, chọc thủng phòng tuyến Phan Rang và chiếm đóng vùng này không khó khăn.

* Ngày 7 - 4 - 1975 : Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính Trị cộng sản Hà Nội, tới Tổng Hành Dinh quân cộng sản ở Miền Nam, đóng tại Lộc Ninh để xem xét tình hình và quyết định kế hoạch cho giai đoạn chót cuả cuộc đánh chiếm miền Nam. Lúc này, cộng sản đã kiểm soát được 2/3 lãnh thổ Nam Việt Nam.

· Ngày 8 đến 21 - 4 -1975 : Sư Đoàn 18 Bộ Binh

VN Cộng Hoà do Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy, chống giữ oanh liệt trước sức tấn công vũ bão cuả 2 Sư Đoàn cộng sản nhằm tiến chiếm Sài Gòn bằng cách phá vỡ phòng tuyến cuối cùng này. Một Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Lữ Đoàn nhẩy dù từ Phan Rang được đưa vào tăng viện. Tướng cộng sản Văn Tiến Dũng phải tung vào mặt trận này 2 Sư Đoàn nữa là 4 Sư Đoàn tất cả để hòng dứt điểm càng sớm càng tốt. Đánh chiếm miền Nam

mùa xuân năm 1975, đây là mặt trận duy nhất quân cộng sản gặp sức chiến đấu dũng mãnh, oanh liệt cuả quân đội VN Cộng Hoà, cộng sản phải dùng số quân 4 đánh 1, trong lúc thế mạnh mọi mặt đang ở phía chính họ. Tướng Homer Smith, tùy viên Quốc Phòng Mỹ tại Sài Gòn, ngày 13, đã gửi 1 bức điện văn cho Tướng George S. Brown, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ ca ngợi ý chí và tinh thần chiến đấu can đảm, dũng mãnh tuyệt vời của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, dù những bất lợi đang đè nặng tên vai họ. Tướng Smith, sau khi theo dõi cuộc chiến đấu tại Xuân Lộc, đã nói : “ Sự dũng cảm và chiến đấu anh hùng của quân chính phủ Miền Nam, kể cả Địa Phương Quân Tỉnh Long Khánh đã chứng tỏ họ chiến đấu giỏi hơn đối phương của họ rất nhiều...” Nếu Ông Nguyễn Văn Thiệu không ra lệnh bỏ 2 Quân Khu 1 và 2 ngay từ lúc chưa đánh nhau chi cả thì quân đội miền Nam Việt Nam sẽ có biết bao nhiêu trận đánh oanh liệt như thế này, và nếu chính quyền Mỹ không cố ý bỏ chạy khỏi Việt Nam thì làm sao cộng sản chiếm nổi Nam Việt Nam một cách dễ dàng như đã xẩy ra ? Cuối cùng phòng tuyến Xuân Lộc chỉ rơi vào tay quân cộng sản, đông và hỏa lực mạnh gấp 4 lần, vào ngày 21 - 4 - 1975, khi Tướng Tư Lệnh Quân Khu 3 Việt Nam Cộng Hoà không muốn hy sinh 1 Sư Đoàn 18 Bộ Binh anh dũng, thiện chiến trong hoàn cảnh bất lợi về tất cả mọi mặt nên đã ra lệnh cho Sư Đoàn này rút khỏi phòng tuyến đang trấn giữ.

* Ngày 21 đến 25 - 4 - 1975 : Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bị áp lực từ nhiều phía phải tuyên bố từ chức, chuyển giao quyền hành cho Phó tổng Thống Nguyễn Văn Hương để ra ngoại quốc, đem theo những gì Ông đã lo liệu từ trước cho cuộc sống ở nước ngoài, bỏ lại đằng sau: Quê Hương, Chiến Hữu và Đồng Bào của Ông, là những gì thiêng liêng mà Ông đã từng long trọng tuyên đọc lời thề khi nhậm chức Tổng Thống, cũng như trong các dịp Quốc Lễ là sẽ sống chết bảo vệ đến hơi thở cuối cùng.

* Ngày 23 - 4 - 1975: Tại Hoa kỳ, Tổng Thống Ford ( Gerald Rudolph Ford – Tổng thống thứ 38 – Ông Tổng Thống duy nhất của Hoa Kỳ làm Tổng Thống mà không hề được dân chúng, cử tri bầu vào chức vụ Tổng Thống hay Phó Tổng Thống, dù là chỉ 1 phiếu ) nói " Chiến tranh Việt Nam kể như chấm dứt. " Dư luận hiểu rằng "Chính quyền Mỹ lúc đó đã buông tay và… chạy làng" bằng mọi giá, trong khi Liên Sô và Trung Cộng hồ hởi, phấn khởi là đã hoàn thành nhiệm vụ " Dứt điểm tiền đồn chống cộng cuả Mỹ tại Á Châu ".

* Ngày 28 - 4 - 1975 : Bị áp lực nặng nề cũng từ nhiều phiá, Tổng Thống Trần Văn Hương phải trao quyền hành cho Tướng 4 sao Dương Văn Minh, người đã đóng vai chính trong vụ đảo chính lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm tháng 11 năm 1963, để cho chính quyền Mỹ đổ quân tác chiến vào Nam Việt Nam và lãnh đạo cuộc chiến tranh ở đây theo kiểu "chiến tranh nhà giầu cuả Mỹ " nhưng hoàn toàn vô hiệu đối với kiểu "chiến tranh nhân dân - People's War " không có mục tiêu, không trận tuyến, lẫn lộn với nhân dân của cộng sản. Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống theo đúng với sự sắp xếp cuả Hà Nội, qua trung gian cuả người em ruột Dương Văn Nhựt, Sĩ Quan cao cấp cuả cộng sản, đã có liên lạc với Dương Văn Minh từ hồi Tướng Minh được Ông Diệm cho thăng Trung Tướng sau khi Tướng Minh đánh tan các lực lượng giáo phái vũ trang ở miền Tây. Chuyện đó bại lộ. Tướng Minh, vì có công trạng, và Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, người bà con, cùng quê quán xin cho, nên được 2 Ông Diệm, Nhu tha tội, chỉ bị mất chức cầm quân, ngồi ghế Tổng Thanh Tra hữu danh nhưng vô thực. Tổng Thống Dương Văn Minh luôn luôn phải nhận lệnh qua điện thoại với Ông Thích Trí Quang, một nhân vật trong hàng lãnh đạo tôn giáo, người gốc Bắc Việt, đã được cộng sản sử dụng vào vị trí “ chuyên viên tôn giáo vận tử năm 1946 “ 2 lần bị Tây bắt từ hồi chiến tranh Việt-Pháp vì tình nghi hoạt động cho Việt Minh cộng sản, người đã lãnh đạo dân chúng đấu tranh tôn giáo lật đổ Ông Ngô Đình Diệm (… Thich Tri Quang, a politically sophisticated Monk of North Vietnamese origin, twice arrested by French on suspicion of Vietminh connections , stirs the people against Ngo Dinh Diem… ) đấu tranh tôn giáo chống chính quyền Thiệu - Kỳ - Có hồi 1966 ở Miền Trung Việt Nam, nhưng cuối cùng bị Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ, với cương vi Thủ Tướng, cùng 1 tôn giáo với Ông, cho quân đội và quân cảnh từ trong Nam ra dẹp tan, bắt Ông Thích Trí Quang cùng nhóm thân cận, nhốt lại, dẹp yên chuyện đấu tranh rối loạn lung tung, làm nát bét xã hội miền Nam, hoàn toàn chỉ có lợi cho cộng sản.

* Tướng Dương Văn Minh, một Tướng đánh giặc giỏi nhưng hoàn toàn không biết gì về chính trị, lại nhẩy ra làm Tổng Thổng trong giai đoạn nước sắp mất, với 1 cổ 2 tròng, nhận lệnh từ 2 nơi (Cả ông Thích Trí Quang lẫn đại diện cộng sản Hà Nội đều hứa hẹn với Ông những điều tốt đẹp) thì làm được cái gì đây? Ông Minh làm Tổng Thống chỉ làm được có mỗi một việc: Theo lệnh của cộng sản, đã

chiếm xong dinh Độc Lập, lên tiếng tuyên bố « đầu hàng vô điều kiện" mà thôi. Ôi! Giây phút xót sa, đau đớn cho biết bao nhiêu tâm hồn, nhất là những người quốc gia đã bao năm quyết tâm chống cộng sản Hà Nội để giữ vững Nam Việt Nam. Kẻ viết bài này cùng nhóm Sĩ Quan thân thiết xung quanh, hai tay ôm lấy mặt, nén chặt trong lòng, trong tim cho tiếng khóc đau sót khỏi bật ra, trong lúc đang bị tạm giam tại trại tập trung Vĩnh-Điện, Quảng Nam cùng với hàng chục ngàn người trong hoàn cảnh tan hàng, thua trận, bị cầm tù một cách đau buồn và tủi nhục. Năm 1951, với tuổi 20, đang đi kháng chiến chống Pháp, mình bị Tây bắt ở Huyện Tiên Hưng, Thái Bình lần thứ 2, đem về tập trung ở sân vận động tĩnh Thái Bình, rồi đưa về giam ở Nhà Máy Rượu, thành phố Nam – Định mà có sao đâu, coi là chuyện thường vì đấu tranh cho đại cuộc là như thế, không thấy đau buồn tủi nhục bằng hơn 20 năm chống cộng sản, bị cộng sản cầm tù, đưa đi cải tạo, rồi phải theo lệnh bộ đội cộng sản, dí súng vào sau lưng, bắt vỗ tay hoan hô khi nghe Dương Văn Minh, qua hệ thống truyền thanh, tuyên bố đầu hàng vô điều kiện... Thế là nước mất, nhà tan, đau buồn, uất hận vì... mất hết ! mất hết ! mất cả thể xác lẫn tâm hồn...

* Xin trở lại: rạng sáng Ngày 30 tháng 4, quân cộng sản tiến vào Sài Gòn, vẫn còn gặp vài ổ kháng cự lẻ tẻ. Xe tăng cộng sản hung hăng ủi xập cổng Dinh Độc Lập để quân cộng sản tiến vào. Dương Văn Minh cứ yên trí theo bài bản đã nhận được từ "cấp trên" qua điện thoại, ra đón tiếp quân "giải phóng" và sau đó "xin bàn giao chính quyền". Viên Đại Tá chỉ huy quân cộng sản lúc đó quát vào mặt Dương Văn minh "Các Anh còn cái gì nữa vào lúc này mà đòi bàn giao ? Chỉ có chấp nhận đầu hàng vô điều kiện mà thôi! "Đại Tá cộng sản Bùi Tín ( sau đã bỏ đi Pháp) lúc đó đóng vai Chính Ủy bên cạnh viên Đại Tá Chỉ huy quân giải phóng, vào Dinh Độc Lập. Bùi Tín khôn ngoan, nhỏ nhẹ hơn nên nói " Chúng tôi chấp nhận việc đầu hàng của các Ông. Các Ông không có chi phải sợ cả. Người Mỹ là kẻ xâm lăng đã bị đánh bại. Nếu các bạn là những người yêu nước thì hãy coi giờ phút này là niềm vui chung của dân tộc, và trên đất nước của chúng ta, chiến tranh đã chấm dứt!" Buổi sáng hôm đó, cộng sản bắt Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trước quân cộng sản. Chiến tranh đã chấm dứt, đất nước đã thống nhất nhưng dân chúng miền Nam không vui mừng, sung sướng, hạnh phúc mà lại xô nhau chạy đi mọi ngả, tìm cách thoát chạy khỏi chính quê hương, đất nước của mình để tránh họa cộng sản, bất kể mọi gian nguy, bị giết chóc, cướp bóc, hải tặc hãm hiếp, quăng xác xuống biển… Chính quyền mới truy lùng, tiêu diệt, bắt bớ những kẻ đã phục vụ cho chế độ cũ, nhân vật Đảng Phái chính trị, tống họ vào những trại tập trung cải tạo ở các vùng rừng núi âm u, hiểm hóc, cách biệt hẳn với xã hội loài người. Nam Bộ là cái túi đựng người quá đông đảo mà lại không có rừng núi thích hợp cho việc thiết lập các trại cải tạo, vừa an toàn lại có lợi nhiều cho nên cộng sản mới phải đưa số đông " kẻ thù " của họ ra Bắc, tống lên các trại cải tạo vùng Thượng Du Bắc Việt.

* Cán bộ cộng sản từ lớn đến nhỏ, ngơ ngáo nhìn Sài Gòn và Nam Việt Nam trong cảnh xác sơ, buồn thảm nhưng vẫn không làm mất, không che dấu được sự phồn thịnh, phát triển quá cao so với “thiên đàng hay địa ngục Bắc Bộ“. Cộng sản lớn nhỏ thi nhau vơ vét tài sản của kẻ bỏ chạy, của nhân dân Miền Nam "tay sai Mỹ Ngụy" đem về Bắc như những chiến lợi phẩm cuả 1 cuộc chiến thắng. Sau này, có cơ hội tiếp xúc với người thân ở Bắc Việt Nam, từng giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền cộng sản thời gian này, kẻ viết được biết mật lệnh của cộng sản Hà Nội lúc đó có những điểm rất kinh khủng: bắt nhốt hết mọi kẻ có khả năng chống cự, nổi dậy sau này, tịch thâu mọi loại vũ khí có tầm sát hại tập thể hay cá nhân, khi có dấu hiệu hay mầm mống biến động thì tất cả những kẻ ít nguy hiểm nhất cũng phải tập trung cải tạo (vì thế khi Trung Cộng tràn vào đánh phá 6 Tỉnh miền Bắc Việt Nam ngày 27 tháng 2 – 1979 để “dậy cho cộng sản Hà Nội 1 bài học“ thì ngay ngày hôm sau, tất cả mọi Sĩ Quan đã giải ngủ lâu hay mau, không đi cải tạo sau 30 – 4 – 1975, cũng phải nhốt đầu lại hết), cán bộ, nhất là công an phải tìm cách dụ dỗ vợ con, làm áp lực để phá tan các gia đình sĩ quan đã đi cải tạo để lấy hết, vét hết, không cho lực lượng sĩ quan khi trở về, còn có thể làm chi được nữa, chỉ còn lo miếng cơm ăn cũng không nổi ...Thân phận cuả một Đất Nước nhỏ bé đã có "Ngàn năm nô lệ giặc Tầu - Trăm năm nô lệ giặc Tây " nhưng cũng có 900 năm độc lập, tự chủ, sau trận đánh thắng lẫy lừng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng, đánh bại đạo quân xâm lược khổng lồ cuả nhà Nam Hán, lúc này lại như thế đó !

* Đất nước Việt Nam cuối cùng chỉ là bãi chiến trường để 2 phe đối nghịch ý thức hệ quốc tế tiêu thụ vũ khí chiến tranh và thử nghiệm chính sách cuả mình: 1 bên là chính sách ngăn chặn ( Containment Policy ) của Mỹ chống lại Chủ nghiã bành trướng (Expansionism) của phong trào cộng sản quốc tế. Sự việc này thực ra đã được nhìn thấy truớc và ra sức ngăn chặn không cho Nam Việt Nam rơi vào hoàn cảnh đó: Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Hai nhân vật này đã bị những người thân cận chung quanh lợi dụng uy thế để kiếm danh kiếm lợi, làm hỏng kế hoạch chống cộng có sách lược hiệu quả (Effective Policy & Strategy) hẳn hoi, đã bị sức ép, mưu hại từ phía người bạn đồng minh khổng lồ, lúc đó bị bị giới tài phiệt (Financial Oligarchy) khuynh đảo, chủ trương buôn bán chiến tranh, tìm cách loại trừ bằng sức mạnh quân đội và tôn giáo của chính Miền Nam Việt Nam.

* Có bao giờ những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ dám nghĩ rằng: Một ngày nào đó Hoa Kỳ phải chịu sự thua trận đầu tiên, với cái giá quá cao, thê thảm như vậy không? Thê thảm đến nỗi Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, Graham Martin, suýt nữa thì không kịp ôm lá cờ "Bách chiến bách thắng" chui vào phi cơ trực thăng để tháo chạy hay không? Thật là đau đớn! Tuy nhiên, ở đây kẻ viết cũng xin nói lên lời ghi ơn ông Đại Sứ Martin đã cương quyết và khéo léo chống lại kế hoạch của Hoa Thịnh Đốn muốn di tản 6 - 7 ngàn người Mỹ, bị kẹt lại ở Sài Gòn vào lúc quân cộng sản đã chuẩn bị vào làm chủ vùng đất này, theo phương cách: đưa Thủy Quân Lục Chiến Mỹ vào Sài Gòn giữ vòng đai an ninh quanh khu vực Tòa Đại Sứ để phi cơ trực thăng từ Hạm Đội Thái Bình Dương liên tục bốc người Mỹ và một số nhân viên làm việc cho Tòa Đại Sứ và các cơ sở phụ thuộc của Mỹ mà thôi, không cho dân chúng Sài Gòn, Nam Việt Nam dính ké vào vụ di tản kinh hoàng này. Ông Đại Sứ khôn ngoan và ít nhiều nhân đạo Martin đã chống lại quyết định của Hoa thịnh Đốn với lý luận : Sĩ Quan, quân lính Nam Việt Nam còn đông đảo tại Sài Gòn và vùng phụ cận với tâm trạng tức giận lẫn bàng hoàng, họ còn đủ các loại vũ khí lớn nhỏ trong tay. Nếu người Mỹ di tản theo cách ích kỷ và tàn nhẫn đó thì những chiếc trực thăng cất cánh bay lên lập tức sẽ bị bắn hạ như trái cây chín rụng và cuộc chiến đẫm máu, tàn khốc giữa những chiến binh Nam Việt Nam và thủy quân lục chiến Mỹ bắt buộc phải xẩy ra, Sài Gòn và dân chúng vô tội sẽ lãnh nhiều hậu quả không cách nào lường trước được.

* Giới truyền thông cuả Mỹ, trước và sau ngày Miền Nam xụp đổ, đa số đã sa vào mê hồn trận của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, bị ảnh hưởng của phong trào phản chiến do Đảng Cộng sản Mỹ chủ trương và lãnh đạo, đánh giá Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa qua hình ảnh những ngày rút quân, bỏ chạy tán loạn do lệnh của ông Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Báo chí Mỹ bị mặc cảm lần đầu tiên thua trận, bỏ cuộc, chạy làng cho nên đã không tiếc lời đổ hết mọi tội lên đầu Quân Đội VN Cộng Hòa là thiếu tinh thần chiến đấu. Họ đâu có biết Quân Đội VN Cộng Hòa chiến đấu trong hoàn cảnh khắc nghiệt ra sao, chiến đấu không ngưng nghỉ, phương tiện thiếu thốn chớ đâu có được chiến đấu trong hoàn cảnh "nhà giầu" như quân đội Mỹ ở Việt Nam lúc đó, được bảo vệ, yểm trợ một cách gần như tuyệt đối. Họ đâu có biết chính quyền của Ông Johnson ở Hoa Thịnh Đốn đổ quân vào Việt nam, hòng tiêu diệt cộng sản ở đây trong vòng 3 năm, nhưng lại làm cái việc kỳ quái, mà chỉ có giới tài phiệt Mỹ mới hiểu được là "… Johnson's administration made agreements to sell or give the Soviet Union and her commuinist satellites hundreds of millions of dollars worth of food, electronics computers, chemical plants, oil refinery equipment, airborne radar apparatus, jet aircraft engines, machine tools for an $800-million auto assembly plant and military rifles…" Đó! Bán hoặc cho cộng sản Liên Sô và các nước cộng sản chư hầu thực phẩm, máy điện toán, dụng cụ, hoá chất, động cơ máy bay phản lực, máy Radar, nhà máy chế tạo xe cộ, súng đạn, để rồi tất cả những thứ đó lại đổ lên quân cảng Hải Phòng, đem vào chiến trường Miền Nam để giết lính Mỹ và Việt Nam Cộng Hoà! Chỉ có Trời mới hiểu nổi!

· Ở đây, kẻ viết chỉ muốn nói lên một điều: Quân Đội VN Cộng Hòa

nói chung, đã chiến đấu rất anh dũng, kiên cường, bất chấp mọi trở ngại, khó khăn, thiếu thốn. Miền Nam xụp đổ, nhiều Tướng Lãnh: Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng vv... và nhiều Sĩ Quan cao cấp đã tự sát trong khung cảnh vô cùng oanh liệt, chưa từng có trong quân đội 1 quốc gia nào trên thế giới, họ không chịu đầu hàng hay để bị bắt làm tù binh, hàng triệu quân nhân, viên chức chính phủ, nhân vật Đảng Phái chính trị bị nhốt vào các trại tù cải tạo khổng lồ nơi rừng thiêng, nước độc, dân chúng ồ ạt bỏ nước ra đi, bỏ hết tài sản, không kể sống chết, thảm hoạ kinh hoàng trên

biển cả vv… là những vấn đề vượt quá khả năng và tầm tay cuả người Việt Miền Nam chúng ta. Chỉ có các Đấng thiêng liêng, chỉ có Lịch Sử mới hiểu được mà thôi !

Điều đáng mừng cho chúng ta là càng ngày, dân chúng Hoa Kỳ cũng như thế giới loài người càng hiểu ra sự thật của cuộc chiến tranh Việt Nam (mà có những nhà chính trị, Giáo Sư Đại Học lẩm cẩm kêu là cuộc nội chiến, tức là người Việt Nam đánh lộn với nhau) một Bài Học Đắt Giá , quý báu cho người Việt Nam, cho siêu cường quốc Hoa Kỳ và tất cả các quốc gia nhược tiểu khác trên thế giới. Nước nhỏ yếu mà chỉ trông cậy, giao vận mạng dân tộc mình vào tay một nước lớn mạnh khác lo hộ hoàn toàn thì nhiều chuyện nguy hiểm bắt buộc sẽ phải đến. Nước lớn, dù là Đệ Nhất Siêu Cường Quốc mà thiếu chung thủy, coi thường Đồng Minh, bạn bè, phản bội dễ dàng những người đã từng sống chết với mình trên cùng một chiến tuyến, coi thường Liên Hiệp Quốc là cơ quan quốc tế có thẩm quyền cao nhất để giải quyết những khó khăn, tháo gỡ những rắc rối, tranh chấp điên khùng của loài người ngày nay có nhiều tham lam, ích kỷ, ưa dùng bạo lực, ít biết đến giá trị của hòa bình... thì không được đồng minh, bạn bè chân thành kính nể, rồi không lúc này thì cũng lúc khác sẽ bị những thế lực thù địch khác, mà tất nhiên có nhiều kẻ thù lớn nhỏ, tìm cơ hội đánh cho những đòn chí mạng, thảm khốc, kinh hoàng, loài người xưa nay chưa từng thấy, chưa dám nghĩ đến, nhất là trong một thế giới ngày nay khoa học, kinh tế, vũ khí chiến tranh, quyền lợi, tôn giáo xung đột, phát triển mau hơn, mạnh hơn so với mức độ hòa giải, tuy có, nhưng khó khăn và chậm chạp. Cho đến gaàn ñaây, tháng 3 – 2006, một số các nhân vật chính trị, các Giáo Sư Sử Học, Chính Trị Học mới tụ họp nhau lại ở Boston để tìm ra phần nào những sai lầm, thiếu sót của chính quyền Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam, như đã nói sơ lược ở trên, trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài báo, không phải là 1 cuốn sách, hầu cải thiện tình trạng bế tắc, hiểm nghèo, sa lầy của cuộc chiến tranh tại Iraq giữa 1 Siêu Cường Quốc ( Superpower ) hàng đầu của thế giới loài người với 1 quốc gia nhỏ bé, tầm thường, đã bị thương nặng trong cuộc chinh phạt thần tốc ( lighting-speed expedition ) của lực lượng Đồng Minh, Dân Chủ, Tư Do mà chính yếu là Hoa Kỳ, vào năm 1991. Chúng ta có quyền hi vọng ở tương lai: thế hệ trẻ Việt Nam, những người yêu nước trong cũng như ngoài nước, với trình độ kiến thức, hiểu biết rộng rãi về " Tiến trình cuả nhân loại - Process of Human Society " , hiểu biết về khoa học, kỹ thuật, nhất là với niềm tự hào cuả một Dân tộc tuy nhỏ bé, gần như suốt đời này qua đời khác, luôn luôn bị xâm lăng, thống trị dã man, tàn bạo, nhưng không bao giờ đánh mất Niềm Tin vào Tổ Quốc, từng có những trang sử oanh liệt cuả Ngô Quyền, Lê Lợi, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung Nguyễn Huệ vv… sẽ mãi mãi muôn đời có mặt trong Cộng Đồng Thế Giới Tự Do, Tiến bộ và thật sự Văn Minh. Tài liệu tiết lộ sau này để đọc thêm:
*
HENRY KISSINGER: LỖI LẦM TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM LÀ DO NGƯỜI MỸ GÂY RA

Ngày 2 Tháng 10 Năm 2010
(AP) - Tiến Sĩ Henry Kissinger, từng giữ các chức vụ cố vấn an ninh quốc gia và Ngoại Trưởng Hoa Kỳ dưới thời Tổng Thống Richard Nixon, là nhân vật nòng cốt trong việc chính sách của Washington vào những năm cuối của cuộc chiến Việt Nam, tuyên bố rằng những lỗi lầm trong cuộc chiến ấy là do chính người Mỹ gây ra. Ông Kissinger đưa ra nhận định này tại hội thảo về chiến lược và lịch sử cận đại của Hoa Kỳ tổ chức hôm thứ Tư 29-9-2010 tại trụ sở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ở thủ đô Washington. Theo ông thì người Mỹ muốn thương thuyết hầu chấm dứt cuộc chiến đó, nhưng phía Hà Nội thì nhất định phải đạt chiến thắng. Cộng Sản Việt Nam ấp ủ, tiến hành mục tiêu đó để thống nhất hai miền Nam Bắc từ khi họ đánh đuổi người Pháp ra khỏi Đông Dương vào năm 1954. Trước khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc hồi năm 1975, ông Kissinger cũng ca ngợi phía Hà Nội là khôn khéo nên đã thành công trong việc đàm phán với Mỹ. Tuy nhiên qua những lời nhận lỗi cho rằng thất bại hoàn toàn về phía Hoa Kỳ, ông đã làm lu mờ những chiến công mà từ phía đối thủ Bắc Việt, luôn cho đó là một chiến thắng “thần thánh” giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước về một mối.

Dư luận vẫn chưa quên lời phát biểu của ông Kissinger sau ngày 30 tháng tư, 1975, khi nói rằng “thời gian sẽ trả lời ai thắng ai.”

Phan Đức Minh

Tài liệu tham khảo:

* The Death of a Nation. - John A. Stormer. - Liberty Bell Press. - Missouri - 1978. * The World Almanac of The Vietnam War -John S. Bowman (General Editor). - Bison Books Corp, NewYork.-1985

* Vietnam - The History & The Tactics.- Ashley Brown & Adrian Gilbert.- Orbis Publishing Limited, London - 1982.

* Kennedy. - Theodore Sorensen. - Harper & Row . New York - 1965.

* New Standard Encyclopedia .-. Standard Educational Corporation. Chicago – 1981.

* Henry Kissinger’s Diplomacy. - Simon & Schuster .- New York, 1994.

* A Book of U.S. Presidents - George Sullivan - Scholastic Incorporation, New York - 1984.

* Một số tài liệu chọn lọc trên Internet của những Nhân Vật chính trị, Giáo Sư Chính Trị và Sử học danh tiếng.-

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

TRÍ THỨC NÀO, CHÍNH QUYỀN NẤY _

BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU



Thành phố Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, ngày 20 tháng 4 năm 2011,

Kính gửi Nhạc sĩ Tô Hải,
Thưa anh, Đọc sách của anh, tiếp tục theo dõi những bài viết của anh và nhiều lần trò chuyện cùng anh qua điện thoại, tôi nhận thấy anh xứng đáng là vị lão thành cách mạng anh hùng. Bởi vì anh dứt khoát lên án kẻ đánh lừa nhân dân đi vào con đường bán nước hại dân; trong khi lắm kẻ tay trót nhúng chàm , nhìn đất nước suy vi, dân tình khốn khổ, một mặt thì kiến nghị bày tỏ sự phản kháng mà miệng vẫn tụng câu “Bác Hồ vô vàn kính yêu”. Sợ là tâm lý rất thường tình của con người, chẳng có gì phải dấu giếm. Anh đã từng sợ, nhưng nay vượt qua nỗi sợ thì thẳng thừng lên án kẻ đã gieo rắc sự sợ hãi khiến cho cả dân tộc trở nên hèn. Anh tự thú nhận “Anh là thằng hèn” trong hàng triệu người hèn thì anh không còn hèn nữa. Một khi anh dám nói lên Sự Thật thì tâm hồn anh, xác thân anh được giải phóng. Vì ngưỡng mộ anh, hôm nay tôi ngồi viết thư này để tâm tình cùng anh về chuyện quê nhà. Trước năm 1975, ở Miền Nam nhà văn Nguyễn Mạnh Côn viết cuốn “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử” bằng những bức thư gửi cho người bạn mang tên Kiên Trung, để thuật lại bối cảnh lịch sử diễn ra vào thời điểm gọi là Cách Mạng Mùa Thu. Nhờ đọc cuốn sách này, hàng hậu bối như tôi mới có sự hiểu biết về những thủ đoạn chính trị của người cộng sản. Năm 1960, nhờ đọc cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” do học giả Hoàng văn Chí biên soạn và xuất bản năm 1959, tôi biết được tình hình các nhà trí thức, các văn nghệ sĩ ở Miền Bắc bị chủ nghĩa cộng sản đầy đọa như thế nào. Đặc biệt tôi ngưỡng mộ hai tác giả, một già và một trẻ, là cụ Phan Khôi khí phách qua bài tham luận “Phê Bình Lãnh Đạo Văn Nghệ” và thi sĩ Phùng Quán yêu sự chân thật qua bài thơ “Lời Mẹ Dặn.”

Tôi không phải là nhà văn chuyên nghiệp như Nguyễn Mạnh Côn, mà chỉ thuần là người lính đánh giặc để bảo vệ giá trị tự do (a freedom fighter), chẳng qua bị “lạc đường vào lịch sử” mà cầm bút viết chuyện nước non. Tự biết khả năng hạn hẹp của mình, tôi mạo muội đánh bạo kế tục con đường của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn và noi gương hai đức tính cao quý của cụ Phan Khôi và thi sĩ Phùng Quán với ước mong rằng mình không làm hổ thẹn thanh danh ba vị dưới suối vàng và hy vọng giúp thế hệ sau mình biết được những gì đã xảy ra trên đất nước Việt Nam vào thời đại mình đã sống. Dĩ nhiên, đây không phải là chính sử hay biên niên sử, nhưng chắc chắn những ghi chép này hoàn toàn độc lập, không thuộc phe phái nào, không định kiến hay lòng thù hận.

Vốn ảnh hưởng triết lý Phật giáo, nhưng thờ phượng Ông Bà Tổ Tiên là chính, tôi tin vào luật nhân quả luân hồi. Có lẽ kiếp trước mình không khéo tu nên bị đầu thai làm người Việt Nam ở vào thời đại quỷ ám. Dân tộc ta từng bị Tầu, Tây đô hộ, nhưng chưa có thời kỳ nào khủng khiếp như cái thời kỳ có những nhà cách mạng giả danh cứu nước mang về một loại tà giáo quái ác đến kinh hồn. Tầu và Tây không làm cho ta mất bản sắc văn hóa, không áp bức dân ta xuống hàng thú vật; chỉ có con quỷ cộng sản có khả năng làm điều đó mà thôi!

Tôi đoán chừng rằng ông Hồ Chí Minh là một Con Quỷ, tu luyện lâu năm thành tinh, rồi đầu thai vào dân tộc Việt Nam, hiện hình thành một nhà đạo đức giả với mục đích đầy đọa dân ta. Anh Hải biết vì sao tôi đoán như thế không? Bởi vì một con người dù tài ba đến thế nào đi nữa cũng không thể có khả năng mê hoặc những bộ óc thông minh nhất nước ta và những bộ óc thông minh nhất thế giới từ khi còn sống cho đến khi đã chết gần nửa thế kỷ như ông Hồ. Có những nạn nhân bị đảng cộng sản do ông Hồ lập lên dẫn ra pháp trường mà mồm vẫn hoan hô Hồ Chí Minh muôn năm. Có những người lương thiện, từng hết lòng nuôi dưỡng, phục vụ kháng chiến bị Hồ Chí Minh làm nhục, rồi giết chết mà con cái họ cứ tôn vinh, thờ kính ông ta. Ví dụ, nhạc sĩ Phạm Tuyên có người cha là nhà văn hóa Phạm Quỳnh bị Hồ Chí Minh giết chết, mà sau ngày ba mươi tháng tư năm 1975 lại đặt nhạc để tung hô hung thủ giết cha mình bằng bài ca “Như Có Bác Hồ Trong Ngày Vui Đại Thắng”!

Nay ông Hồ không còn trên thế gian nữa, tội ác của ông bị phanh phui rành rành từ thư khố cộng sản ở Liên Xô, nhưng vẫn còn có những tín đồ sụp lậy ông ta, coi ông ta như một bậc Thánh. Nếu không phải là loài quỷ, ông Hồ không thể sản sinh ra một đàn quỷ con làm nhiều điều cùng hung cực ác mà dân vẫn để cho ngồi yên trên chiếc ghế thống trị. Ấy là nhờ bọn quỷ con này đặt con quỷ Hồ nằm chình ình giữa quãng trường Ba Đình như hòn đá tảng không cho dân Việt cất đầu lên nổi.

Một con quỷ thứ hai rất đắc lực phục vụ con quỷ Hồ là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nằm chờ chết ở bệnh viện Việt Xô, nơi dành cho cán bộ cao cấp. Anh Hải có biết tại sao tôi gọi Võ Nguyên Giáp là con quỷ thứ hai? Khi thành lập chính phủ liên hiệp, ông Hồ Chí Minh mời cụ Huỳnh Thúc Kháng – một nhà cách mạng tên tuổi – làm Bộ trưởng Nội Vụ, tức là bộ Công An ngày nay. Cụ Huỳnh chỉ là bề mặt có tính cách trình diễn đoàn kết Quốc Cộng, người phụ tá Cụ Huỳnh là Giáp, giữ chức Thứ trưởng mới là kẻ có thực quyền, có nhiệm vụ tuân lệnh Hồ Chí Minh thủ tiêu những lãnh tụ quốc gia như Lý Đông A, Trương Tử Anh, Huỳnh Phú Sổ v… v… Võ Nguyên Giáp sau đó được Hồ Chí Minh phong chức Đại tướng năm 37 tuổi, dù chưa từng trải qua trường quân sự nào và chưa từng đạt được chiến công nào, để thành lập “Bộ Đội Cụ Hồ”. Hồ thờ “quỷ giáo Mác Lê” chủ trương tiêu diệt lãnh tụ quốc gia; Giáp là tay chân thừa hành mệnh lệnh của Hồ. Ngoài nhiệm vụ thủ tiêu lãnh tụ quốc gia khi làm thủ lãnh Công An, Giáp còn là Đại tướng cầm quân, đẩy thanh niên trí thức thuộc gia đình tiểu tư sản trong “Bộ đội Cụ Hồ” vào các mặt trận ác liệt nhất nhằm nướng cho kỳ hết giai cấp tư sản trong kế hoạch “đào tận gốc, trốc tận rễ”. Đại Hội 10 năm 2006, cả thế giới đã lên án cộng sản phạm tội ác chống nhân loại, Võ Nguyên Giáp dù tay nhúng vào máu hãm hại hàng triệu thường dân vô tội, không hề tỏ ra ăn năn, sám hối, lại còn ca ngợi những thành tích vẻ vang của Chủ nghĩa Xã hội.

Trên đường Nam tiến, tổ tiên ta có lẽ đã giết hại nhiều dân tộc như Chàm, Thủy Chân Lạp, Khmer … cho nên con cháu đời này bị lũ quỷ hiện hình người, có nhiều ma thuật để trả thù, như các cụ ta đời trước đã dạy: “Đời Cha ăn mặn, đời Con khát nước”? Không phải tôi nghĩ quẩn hay loạn trí đâu, anh Hải. Tôi quả quyết tin rằng chỉ loài quỷ mới có khả năng làm tiêu tan văn hóa của một dân tộc với bốn ngàn năm văn hiến, biến cả một đất nước thành “Đêm Giữa Ban Ngày”. Đêm là bóng tối, là môi trường cho quỷ dữ lộng hành. Vì vậy con quỷ cộng sản phải làm cho cả dân tộc u tối bằng cách thi hành chính sách bưng bít thông tin để ngu dân. Hễ ai nói lên Sự Thật là chúng ra tay sát hại ngay!

Muốn chống lại quỷ, ta phải đưa ánh sáng vào nơi tối tăm. Ánh sáng đó là gì? Là Trí Tuệ, là Sự Thật, là Dũng Cảm. Thập niên cuối của thế kỷ trước, ông Hà Sĩ Phu đã dùng ba vũ khí đó để chống lại quỷ. Ấy là ông dùng trí tuệ để dẫn dắt đám quỷ sứ đang lộng hành ra khỏi vũng lầy. Ông lấy Sự Thật từ thực tiễn ba quốc gia có lãnh thổ bị chia đôi như Đức quốc, Triều Tiên và Việt Nam thì cái nửa thuộc phe “tư bản dẫy chết” có tự do hơn, cơm no áo ấm hơn, năng suất sản xuất cao hơn; còn cái nửa thờ tà giáo cộng sản thì như thể là địa ngục trần gian để chứng minh. Cái dũng cảm của ông Hà Sĩ Phu là dám ví cộng sản là loài ký sinh sống bám vào lòng yêu nước của nhân dân. Tiếc thay cái ánh sáng của nhà trí thức Hà Sĩ Phu chỉ le lói, không được các nhà trí thức khác phụ họa để tăng cường độ sáng, nên ông bị tù đầy, bị quản chế. Ông Hà Sĩ Phu đã không dồn quỷ vào chân tường. Ông dành cho quỷ một lối thoát. Ông tạm chấp nhận cái luận điểm của quỷ phô trương rằng nhờ chủ nghĩa cộng sản mà Việt Nam có thể đánh Tây đuổi Mỹ giành độc lập. Ông bảo rằng thôi được, các ông bảo thế thì ta tạm tin như thế. Nhưng dùng thuyền để sang sông được rồi, tại sao không bỏ thuyền xuống mà đi cho thoải mái, lại cõng cái thuyền ấy trên lưng để đi lom khom chả giống ai? Chính vì cứ cõng cái thuyền trên lưng (nhất định không bỏ Điều 4 Hiến pháp) nên tập đoàn quỷ Việt Nam cứ phải đi lom khom trước giặc thù Phương Bắc và bắt nhân dân cả nước cũng phải đi lom khom như mình!

Anh Tô Hải thân mến,

Xin lặp lại: Tôi đánh giá anh là nhà cách mạng lão thành số một vì không những anh dám tự xác nhận mình là thằng hèn, nhưng anh dám chống gậy đi biểu tình cùng với giới trẻ chống lại Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa. Còn các ông “quyết tử để dân tộc quyết sinh” thì trốn biệt tăm, biệt tích! Anh đã thẳng thừng kết tội Hồ Chí Minh trên giấy trắng mực đen. Thế kỷ trước tôi phục Hà Sĩ Phu, thế kỷ này tôi phục anh. Trông gương anh, tôi không hiểu sao các anh hùng quyết tử một thời còn dám tự xưng mình là lão thành cách mạng? Họ không đáng là hậu duệ của luật sư Cù Huy Hà Vũ; chứ đừng nói là bậc trưởng thượng!

Tổ tiên mình linh thiêng lắm anh Hải ạ! Nhà Trời phái xuống xứ sở mình một cô gái nhỏ nhắn tên là Phạm Thanh Nghiên dám ngồi nhà ôm tấm bảng “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” để phản kháng tại gia. Cô gái biểu dương lòng yêu nước bằng một hành động rất hiền hòa, bị tập đoàn ma quỷ bắt bỏ tù. Thế mà cả nước không ai biết cô là người của Nhà Trời phái xuống để bắt chước noi gương cô nhằm phản kháng thụ động để tê liệt bô máy cai trị. Tiếp theo, một vị Bồ Tát xuất hiện. Đó là tù nhân Trương văn Sương được ví như một Nelson Mandela. Trương văn Sương bị quỷ cộng sản bỏ tù chung thân, được quỷ tạm thả ra một năm để tự lo chữa bệnh tim, rồi sau đó phải vào ở tù tiếp. Thế mà một con người đang bệnh hoạn, ốm yếu ngồi giữa Saigon dám lên án cộng sản là kẻ có tội với dân tộc Việt Nam, nhưng sẵn sàng bao dung tha thứ vì ai cũng có thể phạm vào lỗi lầm. Ông khuyên: “Người Việt phải biết thương yêu người Việt”. Tôi nghĩ ông Trương văn Sương đúng là vị Bồ Tát tái sinh. Anh Hải biết tại sao không? Bởi vì ông Sương có cha là người Trung Hoa, mẹ là người Khmer. Nghĩa là về huyết hệ, ông Sương không phải là người Việt Nam, ông chỉ sinh trên đất nước Việt Nam. Vị Bồ Tát đã lấy lượng bao dung mở một lối thoát sám hối mà không thể cảm hóa được bọn cầm quyền. Điều đó chứng tỏ tập đoàn cai trị là quỷ, chứ đâu phải người?

Chưa hết! Trời còn cử ra một nhân vật khác để cứu dân Việt Nam. Đó là luật sư Cù Huy Hà Vũ. Anh tưởng rằng tôi nói nhảm à? Tổ tiên ta muốn dân ta giác ngộ, sám hối thì mới mong thoát ra cái họa bị quỷ ám. Ông Cù Huy Hà Vũ là con đẻ của nhà thơ Huy Cận và cũng là con nuôi của nhà thơ Xuân Diệu. Hai nhà thơ thời tiền chiến này được cả nước yêu chuộng, nhưng lầm đường lạc lối vị bị con quỷ cộng sản dụ dỗ. Hai nhà thơ dùng khả năng thiên phú của mình đã góp sức với quỷ làm mê hoặc lòng người, giúp cho quỷ lên ngôi. Nay Trời Phật bắt con của hai người phải có hành động sám hối. Lâu nay người ta ca tụng ông Hà Vũ bênh vực dân oan Cồn Dầu, bảo vệ di tích văn hóa Huế, kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà người ta không nói đền cái việc ông Hà Vũ đòi nhà cầm quyền làm lễ truy điệu và dựng bia tưởng niệm các anh hùng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa can trường chiến đấu chống lại bọn bành trướng Trung Cộng vào năm 1974. Lời đòi hỏi của luật sư Cù Huy Hà Vũ có một tầm chiến lược rất cao mà nhà cầm quyền vì mê muội bạc tiền, công danh nên không nhận ra đã đành, nhưng các nhà trí thức, các vị lão thành cách mạng không nhìn thấy tầm chiến lược đó thì thật là đáng trách.

Tại sao tôi khẳng định lời đòi hỏi của luật sư Cù Huy Hà Vũ có tầm chiến lược rất cao ư?

Thưa anh Tô Hải,

Tà giáo cộng sản luôn luôn giương cao ngọn cờ chính nghĩa để thu phục lòng người. Khát vọng của nhân dân Việt Nam dưới gót giày xâm lược của Thực dân Pháp là được độc lập, tự do và hạnh phúc. Nhờ núp dưới khẩu hiệu đó, cộng sản đã động viên toàn dân không tiếc máu xương. Giương cao ngọn cờ “Giải phóng Miền Nam”, cộng sản đã chiếm được Miền Nam, nhưng hành động của kẻ chiến thắng còn tàn ác hơn quỷ dữ: đẩy dân ra biển, lùa dân lên rừng để chiếm đoạt của cải! Đánh tư sản mại bản tan hoang. Trong đầu óc người cầm quyền và trong não trạng của thành phần gọi là cách mạng lão thành vẫn coi chính quyền Miền Nam là ngụy quân, ngụy quyền, đầy tớ Đế quốc Mỹ. Tội ác của cộng sản gây ra sau khi xâm chiếm Miền Nam được ông Hà Vũ yêu cầu Đảng sám hối bằng hành động tuyên dương chiến sĩ Hải Quân Việt Nam là anh hùng cứu nước để hòa giải hòa hợp nhằm đoàn kết toàn dân chống lại giặc thù Phương Bắc. Tầm chiến lược cao của ông Hà Vũ là điểm đó.

Cuối thế kỷ trước, căn cứ vào thực tiễn, ông Hà Sĩ Phu kết tội cộng sản là loài ký sinh sống bám vào lòng yêu nước. Đầu thế kỷ này, cũng căn cứ vào thực tiễn, ông Cù Huy Hà Vũ xác nhận rằng quân dân Miền Nam anh hùng, đã noi gương tiền nhân dám đương đầu chống lại Tầu Cộng mạnh hơn mình; trong khi đó cộng sản luôn luôn vỗ ngực tự cho rằng “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” thì lại quá ươn hèn nhu nhược. Đòi hỏi của ông Hà Vũ xây đài tưởng niệm chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa là nhìn nhận Miền Nam yêu nước, Đảng hãy xóa bỏ lằn ranh Quốc Cộng và trở về đạo lý dân tộc, cùng nhau đoàn kết diệt kẻ thù chung và xây dựng đất nước trong tình thương yêu giống như Bồ Tát Trương văn Sương nhắn nhủ: Người Việt Hãy Yêu Thương Người Việt. Năm 2010, phụ họa theo lời yêu cầu của Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, tôi gửi một bức thư cho nhà cầm quyền Việt Nam qua cơ quan ngoại giao của họ ở Hoa Kỳ, đề nghị Nhà Nước cung cấp một chiến hạm nhân Ngày Rằm Tháng Bảy lễ xá tội vong nhân, để chở thân nhân các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa chống Trung Cộng trong trận hải chiến năm 1974 và thân nhân chiến sĩ Hải Quân Nhân Dân chống Trung Quốc năm 1988 ra Hoàng Sa làm lễ truy điệu các chiến sĩ đã bỏ mình vì nước. Tôi dù là lính Không Quân, cũng sẵn sàng tháp tùng chiến hạm. Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ im lặng.

Tôi từng viết thư đề nghị nhà cầm quyền Việt Nam thành tâm thực hiện đoàn kết dân tộc bằng những hành động cụ thể (chứ không phải bằng Nghị quyết 36) thì người Việt hải ngoại sẽ bỏ qua quá khứ phạm tội ác của họ. Khối chất xám và tài chánh của người hải ngoại sẽ là nguồn lực giúp cho nước Việt Nam mau chóng trở thành con tiểu long của Châu Á. Bằng cớ là Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ dù là con đẻ và con nuôi của công thần chế độ mà chỉ cần kêu gọi nhà cầm quyền dựng tượng đài kỷ niệm chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa thì đã được hầu hết đồng bào hải ngoại lên tiếng ủng hộ. Có người đòi về Việt Nam biện hộ cho Cù Huy Hà Vũ trước tòa. Anh có thấy đấy chính là phía thua trận đã sẵn sàng xóa lằn ranh Quốc Cộng giữa người Việt quốc gia và Cù Huy Hà Vũ? Đảng cầm quyền bỏ tù Cù Huy Hà Vũ vì họ không muốn hòa giải hòa hợp với người quốc gia yêu nước, nhân dân Việt Nam có thấy không?

Nếu dân tộc ta chịu thức tỉnh để nhận ra tín hiệu từ Trời Phật gửi xuống thì mỗi người Việt phải là một Phạm Thanh Nghiên, một Trương văn Sương hoặc một Cù Huy Hà Vũ. Ai là người sẽ khởi xướng tự biến mình là Phạm Thanh Nghiên, là Trương văn Sương, là Cù Huy Hà Vũ, nếu không phải là các nhà trí thức, các cách mạng lão thành? Tôi tin chắc rằng cộng sản sẽ bó tay, không cách nào có thể bỏ tù hết 80 triệu con người nếu toàn dân ta dám noi gương các vị anh hùng vừa nêu. Tôi không đồng ý với người anh thúc bá – Hùm Xám Đặng văn Việt – gửi đơn khắp các cơ quan để xin phục hồi danh dự cho song thân mình. Mới đây, đọc thư của ông anh mình trên trang Bauxite-VN, tôi hoàn toàn thất vọng.

Năm ngoái, nhà văn Trần Mạnh Hảo viết bài tham luận “Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước” được nhiều độc giả quốc nội hải ngoại tán thành và khen hay. Bài tham luận đó cho đến nay vẫn còn được nhiều người nô nức phổ biến cho nhau đọc. Điều đó chứng tỏ ai cũng quý SỰ THẬT. Vậy tôi sắp sửa nói lên sự thật này thì liệu người nghe có thấy khó chịu? Nhóm chủ trương trang mạng Bauxite-VN tự nhận mình là những nhà trí thức phản biện. Liên tiếp mấy năm liền, các vị đã viết kiến nghị gửi lãnh đạo Việt Nam, được nhiều người tên tuổi ký vào để xin việc này việc nọ. Nhưng không lần nào được lãnh đạo đếm xỉa, các kiến nghị đều bị ném vào sọt rác! Sự khinh thường của người cầm quyền đến nước này là tột độ.

Theo tôi, viết đơn như anh Đặng văn Việt xin Đảng phục hồi danh dư song thân hoặc viết kiến nghị xin nhà cầm quyền ngưng dự án khai thác Bauxite ở Tây Nguyên như các nhà trí thức phản biện đã làm, là một cách hợp thức hóa cho Nhà Nước Cộng Sản có vị thế chính đáng (legitimacy) trong việc cai trị. Cộng sản tự nhận họ là chính quyền nhân dân là một sự tiếm dụng danh nghĩa, bởi vì họ dùng thủ đoạn chính trị và bạo lực để cướp chính quyền; chứ họ không hề cho người dân dùng lá phiếu để lựa chọn. Đáng lý ra sau nhiều lần gửi kiến nghị mà đều bị coi khinh thì người trí thức không nên kiên nhẫn làm việc đó nữa. Rồi đây kiến nghị xin tha Cù Huy Hà Vũ cũng sẽ bị nhà cầm quyền ném vào sọt rác.

Giá như các nhà trí thức viết một bản cáo trạng có nội dung tương tự như sau, để ai đồng ý thì ký vào:

“Chúng tôi – những cách mạng lão thành, những nhà trí thức – cực lực lên án việc Đảng Cộng sản Viêt Nam bỏ tù Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ về tội âm mưu lật đổ Chính quyền Nhân dân là vô căn cứ, trái với quyền làm người của một công dân yêu nước được quốc tế xác nhận, bởi vì dưới ách cai trị của cộng sản, Việt Nam chưa hề có Chính quyền Nhân Dân.

Chúng tôi – những cách mạng lão thành, những nhà trí thức – cực lực lên án việc Đảng Cộng Sản Việt Nam nhượng đất nhượng biển, cho ngoại nhân khai thác Bauxite ở Tây Nguyên, khai thác rừng đầu nguồn mà không cho dân biết, dân bàn, dân kiểm tra là hành động bán Non Sông của Tổ tiên để lại…”

Đó mới là khẩu khí của người tự nhận mình là cách mạng lão thành từng dám quyết tử để thế hệ sau quyết sinh, của nhà trí thức dám đứng về phía kẻ bị đàn áp, bị bóc lột để đòi quyền làm người. Tự do không thề xin mà có! Nếu các vị cách mạng lão thành không có cái dũng của Tô Hải, vẫn còn bám vào thần tượng Hồ Chí Minh để thờ, còn coi quân dân Miền Nam là ngụy, là phản động; và nếu các nhà trí thức không có cái dũng của Hà Sĩ Phu ở cuối thể kỷ trước dám coi cộng sản là ký sinh trùng hoặc cái dũng của Cù Huy Hà Vũ ở đầu thế kỷ này công khai xác nhận quân dân Miền Nam anh hùng đã oanh liệt chống lại giặc thù truyền kiếp Phương Bắc thì nước Việt Nam sẽ còn ngụp lặn trong vũng lầy. Các nhà cách mạng lão thành trót bị ma đưa lối quỷ đưa đường, tham gia vào cái đảng của tội ác thì nay nên quỳ xuống xin lỗi quốc dân. Các nhà trí thức phải có cái dũng như người tù kiệt xuất Trương văn Sương ngồi giữa Saigon mà ngang nhiên kết tội cộng sản. Tôi không viết bài phê bình nhà toán học Ngô Bảo Châu như một số người, vì xét cho cùng, anh ta đáng thương hơn đáng trách, vì bộ óc thông minh xuất chúng đó trót sinh ra trong chế độ … của quỷ! Cách mạng lão thành “quyết tử”, các nhà trí thức còn viết kiến nghị xin xỏ thì không thể đòi hỏi gì hơn ở người trẻ Ngô Bảo Châu!

Thưa anh Tô Hải quý mến,

Bộ máy tuyên truyền cộng sản dùng phương pháp nhai đi nhai lại sự dối trá khiến cho người nghe riết thì tưởng là sự thật. Thực chất họ là tay sai Nga Tầu, nhưng ngụy trang là anh em đồng chí. Họ miệt thị lãnh đạo Miền Nam là bè lũ Nhu Diệm, Thiệu Kỳ làm đầy tớ cho Đế quốc Mỹ với mục đích bôi nhọ chính nghĩa của người Miền Nam và giành chính nghĩa giải phóng dân tộc về phía họ. Thực tế đã cho toàn dân thấy rõ Đảng Cộng Sản là kẻ bán nước. Và sử sách để lại chứng tỏ Tổng thống Ngô Đình Diệm là người yêu nước tôn trọng chủ quyền quốc gia, nhất định không để quân đội Hoa Kỳ hiện diện trên đất nước Việt Nam. Tôi đã gửi cho anh xem bức thư của bà Đặng Tuyết Mai – nguyên phu nhân cựu Phó Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Cao Kỳ – nay đã ly dị, viết cho tôi thì anh thấy rõ cung cách ứng xử của lãnh đạo Miền Nam đối với Hoa Kỳ ra sao. Trong một bức thư ngắn ngủi, bà Đặng Tuyết Mai không thể kể ra hết những sự kiện mà người chồng cũ của bà được Đồng Minh không những chỉ có Hoa Kỳ mà còn có cả lãnh tụ của các nước như Úc, Tân Tây Lan, Đài Loan, Đại Hàn, Mã Lai, Phi Luật Tân… kính trọng lãnh đạo Miền Nam như thế nào. Bà Đặng Tuyết Mai đang ở Saigon, ai cũng có thể đến để hỏi cho rõ ngọn ngành, chứ không cần đợi đến lúc bà xuất bản cuốn hồi ký. Chẳng hiểu trong hàng ngũ Tướng lĩnh trẻ cộng sản có sản sinh ra nổi một Nguyễn Cao Kỳ đầy nhiệt tình yêu nước thương dân, trong sạch, có nhân cách lãnh đạo để dân không khinh, để ra tay cứu nước?

Phương cách cai trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam là dùng mánh mung, tiểu xảo, thủ đoạn từ đối nội đến đối ngoại. Họ không tuân thủ chính luật lệ do họ đặt ra. Nhân dân trong nước căm ghét họ vì cái tội nói dối; thế giới khinh khi họ vì tội đưa tay ký kết chấp nhận luật chơi quốc tế, nhưng vẫn có hành vi côn đồ đối với nhân dân. Tập đoàn thống trị cộng sản chắc chắn phải sụp đổ vì ngay trong nội bộ đã cho ta thấy mầm chia rẽ. Cái nguy cho đất nước là người cộng sản mang tâm lý không ăn được thì đạp đổ, nên họ nhất quyết không cho một tổ chức nào thành hình để chuyển nhượng quyền lực một cách êm thắm. Do đó, sự sụp đổ của cộng sản sắp tới đây sẽ vô cùng ghê gớm, vì ông Ba Tầu ở Phương Bắc chắc chắn sẽ nhẩy vào ăn có. Nghĩ tới ngày đó, tôi vô cùng lo lắng. Vì vậy ngày đêm tôi cầu mong sẽ có một vị Tướng cộng sản đang cầm quân bỗng nhiên được Trời Phật thanh tẩy để trở thành một vị Thánh Gióng, một Quang Trung Nguyễn Huệ … Ngoài ra, hết thuốc chữa rồi anh Tô Hải ạ!

Xin anh hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe để viết những bài viết thức tỉnh các vị lão thành cách mạng cùng thời với anh.

Trân trọng,

Bằng Phong Đặng văn Âu

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

SỰ HỐI HẬN MUỘN MÀNG

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Trước khi Khmer Đỏ vào Phnom Penh, ngày 12-4-1975, ông Đại Sứ Mỹ tại Cambodia, John Gunther Dean, đưa ra đề nghị mời các giới chức hàng đầu trong Chính Phủ Cộng Hòa Khmer đi tỵ nạn tại Mỹ, nhưng các ông Sirik Matak, Long Boret, và Lon Non , cùng với các thành viên trong Nội Các Lon Non từ chối, mặc dù các ông Long Boret và Sirik Matak đã có tên trong danh sách tử hình “7 Kẻ Phản Bội’ của Khmer Đỏ. Ông Sirik Matak viết thư trả lời ông Đại Sứ Mỹ như sau:

Tôi thành thực cám ơn lá thư của ngài cùng với lời đề nghị đưa tôi đi tị nạn. Rất tiếc, tôi không thể ra đi một cách hèn nhát như thế được. Về phần ngài và đặc biệt về phần quốc gia vĩ đại của ngài, tôi không bao giờ mảy may tin rằng quí vị lại có ý bỏ rơi một dân tộc đã chọn lựa tự do. Quí vị đã từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng làm gì được. Quí vị rời bỏ chúng tôi và tôi xin cầu mong cho ngài và đất nước của ngài tìm được hạnh phúc dưới bầu trời. Xin ngài ghi nhớ điều này là, nếu tôi có chết ngay lập tức tại đây trên quê hương của tôi mà tôi yêu dấu, thì đó là điều quá tồi tệ, bởi vì tất cả chúng ta đều sinh ra và một ngày nào đó phải chết. Tôi chỉ phạm phải một sai lầm là đã tin vào quí ngài, những người Mỹ. Thưa ngài Đại Sứ, người bạn quí mến của tôi, xin ngài nhận nơi đây tình cảm chân thành và tha thiết của tôi.
Image
Hoàng Thân Sirik Matak (*)

Thủ tướng Cam Bốt Sirik Matak và cả chính phủ của ông Lon Non vì tin vào Mỹ nên mất nước và bị Khmer Đỏ phanh thây. Nhiều người VN cho đến bây giờ vẫn còn trông chờ Mỹ giúp họ đánh đuổi VGCS. Nhân mùa Quốc Hận tưởng niệm ngày 30-4-1975, nhắc lại sự kiện Sirik Matak để học hỏi và tìm hiểu xem người Mỹ thực sự chống cộng sản ra sao thiết nghĩ cũng chẳng phải là chuyện vô bổ.

Người viết xin mở một dấu ngoặc để lưu ý bạn đọc:

Chữ “người Mỹ” chúng tôi dùng trong bài là để chỉ chính quyền và các tập đoàn tư bản Mỹ chứ không nói nhân dân Hoa Kỳ.

Mỹ và Liên Sô

Tháng 5-1943, quân đội Đồng Minh đã đẩy được quân Đức Quốc Xã ra khỏi Phi Châu. Sau đó một tháng, Đồng Minh đổ bộ lên đảo Sicily, và ngày 3-9 các lực lượng Đồng Minh chiếm toàn bộ nước Ý. Nhưng đột nhiên và bất ngờ, quân Đồng Minh bị buộc phải dừng lại chỉ còn cách biên giới phía Nam nước Đức vài trăm dặm. Guồng máy chiến tranh kinh khủng -danh từ đại tướng Mark Clark thường gọi quân Đồng Minh- tiến lên hướng Bắc xuyên qua Ý kéo dài cuộc chiến đấu mấy tháng trời vô lý không thể tan vỡ được. Trong cuốn sách viết năm 1950 “Calculated Risk”, ông tuyên bố: “Một chiến dịch có thể làm thay đổi lịch sử liên hệ giữa Tây Phương và Nga Sô đã bị mờ dần. Đó là những quyết định từ cấp thượng tầng và vì những lý do ngoài thẩm quyền và hiểu biết của tôi. Không phải theo ý kiến của tôi, mà của một số các chuyên gia cận kề với vấn đề, việc giảm cường độ chiến dịch tại Ý, thay vì tiến quân vào Balkan, là một trong các lầm lỗi chính trị nổi bật của cuộc chiến.” Sự trì hoãn được giải thích là để tập trung quân đánh vào miền Bắc nước Pháp 9 tháng sau đó, thực ra đã cho Liên Sô có thì giờ thanh toán quân đội Đức trong chiến dịch Barbarossa đã bị đánh tơi tả để tiến về phía Tây Âu.

Quyết định rút các sư đoàn tác chiến khỏi mặt trận Ý Đại Lợi ngay lúc họ có thể thọc mũi dùi vào chỗ hiểm yếu của quân Đức đã được hoạch định từ Hội Nghị Đồng Minh ở Quebec năm 1943. Ở đó Churchill muốn từ phía Nam tấn công thẳng vào nước Đức, chiếm Trung Âu và vùng Balkan trước khi các vùng này kịp rơi vào chế độ nô lệ đỏ. Nhưng Churchill đã bị Hoa Kỳ gạt đi. Hoa Kỳ nhấn mạnh rằng, những đơn vị rút khỏi Ý sẽ được sử dụng để đổ bộ Pháp lần thứ hai. Sau cuộc đổ bộ lên Normandy nước Pháp tháng 6-1944, quân Đồng Minh được đặt dưới quyền chỉ huy của Eisenhower, một vị tướng mà hoạn lộ như diều gặp gió và là chuẩn thành viên của Hội Đồng Liên Lạc Ngoại Giao CFR (Council on Foreign Relations). Ông tướng trận này được cố vấn bởi Bernard Baruch, một nhà tài chánh, cố vấn của các TT Wilson và Roosevelt thời Đệ I và Đệ II Thế Chiến. Hiểu rõ được sự liên hệ này, người ta có thể hiểu được cuộc chiến, và lý do tại sao Đông Âu lại được trao cho Liên Sô.

Tướng Wrangel chỉ huy đoàn quân Bạch Nga ở miền Nam đang chiến thắng bọn Bolsheviks thì được lệnh từ phía Đồng Minh buộc phải rút lui về khu vực Biển Đen và bỏ nước Nga. Nếu từ chốị ông sẽ bị cắt đứt tiếp liệu và quân lính sẽ bị nguy hiểm. Những nhân viên tình báo Đồng Minh phá hủy những máy bay mà ông tự sắm lấy. Tướng Wrangel rơi vào tình trạng bó buộc phải từ bỏ việc giải phóng nước Nga.

Thống chế Kolchak cũng ở vào tình trạng tương tự. Ông lãnh đạo lực lượng chống cộng tại mặt trận phía Đông. Ông cũng bị cắt đứt tiếp tế trong khi đang chiến thắng Hồng Quân Liên Sô.

Trên mặt trận miền Đông, quân Liên Sô được tự do. Sự tiến quân của Nga chạy đua với các lực lượng Tây Âu, mặc dù các lực lượng này, dưới quyền chỉ huy của tướng Eisenhower, bị giữ chân ở nhiều điểm như Prague chẳng hạn. Sự thể đã cho phép Liên Sô đoạt được những vùng mà lực lượng Hoa Kỳ có thể chiếm giữ trước một cách dễ dàng. Tuớng Patton cũng như tướng Clark của Đồng Minh đều không tưởng tượng được tại sao các miền Đông Âu lại bị nhường cho quân đội Nga.

Nhưng chuyện bí mật vĩ đại này không thể che giấu được dưới ánh sáng mặt trời. Lý do là vì Hội Đồng Liên Lạc Ngoại Giao CFR (Council on Foreign Relations) giữ một vai trò trong yếu trong nền chính trị Hoa Kỳ. Người ta nói Hội Đồng là người ngồi ghế tài xế của chiếc xe. Mục sư Jim Shaw, một cựu hội viên Hội Tam Điểm bậc 33 sau khi rút lui khỏi hội Tam Điểm, trong một cuộc phỏng vấn năm 1989 đã tiết lộ về bức tranh nổi tiếng Roosevelt, Churchill, và Stalin tại Hội Nghị Yalta. Ông nói, bởi vì cả ba tay tổ này lúc đó đều là hội viên của hội Tam Điểm (Masonry.)

Có một ngưòi nào đó, người viết không nhớ tên, khẳng định: Có thể nói không ngoa rằng Liên Bang Sô Viết được dựng lên từ Hoa Kỳ. Thật vậy, có rất nhiều chứng cớ cho thấy, các Cơ Sở (Foundation) Ford, Rockefeller, và Carnegie đã yểm trợ cho cái gọi là cuộc Cách Mạng Vô Sản tại Nga và tài trợ cho CS Liên Sô.

- Tờ New York Journal-American ngày 3-2-1949 tiết lộ, Jacob Schiff đã đổ vào cho chiến thắng cuối cùng của cách mạng Bolshevik 20 triệu dollars. Ngoài ra có nhiều phát giác về các tập đoàn tư bản Hoa Kỳ làm ăn với Liên Bang Sô Viết trong thời chiến cũng như trong thời bình.

- Trong cuộc điều trần năm 1953, khi nghị sĩ Norman Dodd khi đọc bản báo cáo viết rằng các nhà kỹ nghệ Hoa Kỳ đã thu được khoảng 200 triệu lợi nhuận từ cuộc Thế Chiến II, ông đã muốn té nhào khỏi chiếc ghế. Ông nói: Sau Thế Chiến I, Quĩ Dự Trữ Liên Bang đã cho nền độc tài Sô Viết vay 200 triệu khi chúng mới lên nắm quyền. Và ông tự hỏi, tại sao những nhà giầu trong thế giới tài chánh lại ủng hộ CS là chế độ công khai muốn tiêu diệt thế giới tư bản. Còn tác giả Phyllis Schlafly viết: Tôi càng nghiên cứu càng cảm thấy hồ đồ (confused), không hiểu tại sao những người càng giầu có càng thích làm việc với kẻ thù của chúng ta.

Tổng thống Roosevelt tuyên bố vói Martin Dies, chủ tịch một Ủy Ban Đặc Biệt Hạ Viện Hoa Kỳ, và được ông này tường thuật lại trước Hạ Viện rằng, Tổng Thống không tin vào CS cũng như chúng ta, nhưng theo ông, không có gì sai trái về những người CS trên xứ sở này. Một số bạn thân nhất của tổng thống cũng là CS …. Quả thật về sau, viên cố vấn hàng đầu của TT Roosevelt, Alger Hiss, thành viên CFR, đã bị toà án kết tội làm tình báo cho Liên Sô.

Mỹ và Trung Cộng

Phần đông người ta đã quên những chuyện kỳ lạ xẩy ta dưới thời TT Harry Truman (người kế vị TT Roosevelt). Trước hết, sau khi ông ký Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, bản văn thừa nhận cơ quan quốc tế này là một Chính Phủ Toàn Cầu. Sau đó ông nhường quyền kiểm soát Đông Âu và Trung Hoa cho CS. Khi công luận bắt đầu nêu thắc mắc tại sao ông phản bội hàng trăm triệu con người để làm thân phận nô lệ, thì ông đã đưa đẩy rằng cuộc chiến tại Á Châu không thắng được. Khi đại tướng MacArthur nói với một vị dân biểu rằng ông không được phép chiến thắng trong cuộc chiến Triều Tiên, thì TT Truman cách chức tư lệnh của ông. Tướng Lâm Bưu, tư lệnh quân đội Trung cộng tham chiến tại Bắc Triều Tiên thừa nhận rằng đã có một thỏa thuận bí mật ngăn chận quân lực Mỹ chiến thắng tại Triều Tiên. Lâm Bưu viết: Tôi không bao giờ tấn công để phải hy sinh binh sĩ và danh tiếng của tôi, nếu tôi không được bảo đảm rằng Washington hạn chế những biện pháp trả đũa tương xứng của tướng MacArthur nhắm vào những tuyến đường tiếp liệu và truyền tin của chúng tôi.

Cuối năm 1945, khi tướng Marshall đi Trung Hoa, cán cân quyền lực nghiêng về phía quốc gia, và giữ nguyên cho đến tháng 6-1946. Những sư đoàn của Tưởng Giới Thạch đang dồn CS về phía Bắc và cơ hội chiến thắng của phía quốc gia cao hơn bao giờ hết. Nhưng, khi tướng Marshall tới Trung Hoa, ông có ý định thành lập sự phối hợp chỉ huy. Kế hoạch bị thất bại khi liên minh thất bại. Khi chính quyền Trung Hoa không thực hiện sự liên minh, thì vào mùa hè 1946, Hoa Kỳ chấm dứt viện trợ quân sự cho Trung Hoa. Hoa Kỳ không chỉ ngưng gởi tiếp tế quân dụng cho Trung Hoa, mà còn ra lệnh ngưng các chuyến tầu chở quân dụng do chính phủ Trung Hoa đã mua. Chính phủ Trung Hoa cũng đã mua các quân dụng ở Okinawa và nhiều nơi khác trên Thái Bình Dương. Những hàng hoá này cũng bị đình chỉ, và lệnh cấm vận hoàn toàn có hiệu lực vào mùa hè năm 1946. Lệnh này kéo dài tới tháng 5-1947. Tướng Chennault xác nhận rằng chuyến tầu đầu tiên chỉ đến Thượng Hải tháng 12-1948. Hơn nữa ông tướng này còn quả quyết rằng các chiến cụ đuợc gởi đến Trung Hoa sau lệnh cấm vận đã không được chở tới đúng lúc để giúp quân đội quốc gia ở ngoài chiến trường. Thống chế Cook xác nhận nhiều sư đoàn của Tưởng Giới Thạch đưọc trang bị bằng vũ khí của Hoa Kỳ. Khi nguồn tiếp liệu do Hoa Kỳ bị ngưng, các đơn vị này không còn sức chiến đấu và bị đánh bại. Dù sau khi Quốc Hội Khóa 80 đã chấp thuận viện trợ 125 triệu cho phe quốc gia, các chuyến tầu chở tiếp liệu vẫn bị trễ, và khi vũ khí tới được viên tư lệnh của vùng Bắc Trung Hoa, thì súng ống lại thiếu cơ bẩm và trở thành vô dụng.

Tại sao Bộ Ngoại Giao lại gởi vũ khí không có cơ bẩm cho người Trung Hoa quốc gia? Đó có phải là việc làm vô tình không? Tiến sĩ Stanley Monteith viết trong cuốn Brotherhood of Darkness: người ta không thể đọc hết bản báo cáo của Ủy Ban Điều Tra McCarran mà không đi đến kết luận rằng, Chính quyền Truman đã phản bội người Trung Hoa Quốc Gia để đưa Mao Trạch Đông lên cầm quyền tại Trung Hoa.

Để theo dõi việc cộng sản thống trị toàn Trung Hoa năm 1950, Thượng Viện Mỹ đã chỉ định một Ủy Ban Đặc Biệt do Dân Biểu Carrol Reece cầm đầu để điều tra xem tại sao Bộ Ngoại Giao lại ra lệnh cấm vận vũ khí cho phe Quốc Gia Tầu và đưa Mao Trạch Đông lên cầm quyền tại Trung Hoa. Ủy Ban Điều Tra đã khám phá ra rằng hai tổ chức Rockefeller Foundation và Ford Foundation đã tài trợ cho các chương trình phát thanh tuyên truyền của CS nhiều năm trước khi Trung Hoa sụp đổ. Ủy Ban bèn điều tra các tổ chức được miễn thuế này để xác định người ta tài trợ cho CS bằng cách nào. Có nhiều khía cạnh bị điều tra, nhưng những việc liên quan trực tiếp đến chiến tranh quốc cộng tại Trung Hoa, DB Reece khám phá ra hai sự kiện:

Thứ nhất, có nhiều tổ chức lớn (large foundation) đã thực sự cổ võ chủ nghĩa cộng sản và Xã Hội Chủ Nghĩa.

Thứ hai, các tổ chức (foundations) đã gây ảnh hưởng đến chính sách của Bộ Ngoại Giao, và do đó phải chịu trách nhiệm phần lớn việc đưa CS lên nắm chính quyền tại Trung Hoa.

Một nhóm các nhà đại tư bản lập kế hoạch ngăn chận cuộc điều tra của Ủy Ban Reece. Reece khám phá ra rằng nhũng tổ chức được miễn thuế này đã hoạt động sát cánh với tập đoàn (trust) Rhodes. Các học giả của tập đoàn này được điều phối vào các vị trí chiến lược trong chính quyền Hoa Kỳ. Nhiều người có thế lực đem hết cố gắng chống lại cuộc điều tra của DB Reece. Họ áp lực lên các nhà lãnh đạo Quốc Hội phải chấm dứt cuộc điều trần. Kết quả như ông René Wormser, cố vấn của Ủy Ban Reece viết: Tôi cảm thấy công việc còn để lại nhiều vấn đề chưa được trả lời, trong đó điều quan trọng nhất là, với ý đồ gì, nếu có, các tổ chức lớn lại đem tiền bạc giúp và tiếp tay cho các khuynh hướng Marxist tại Mỹ và làm tàn lụi đi sư yêu mến lối sống của họ mà người dân Mỹ nên có?

Mỹ và Việt Nam

Còn câu hỏi Hoa Kỳ có thực tâm giúp người VN chống VGCS không thì người viết khỏi cần phải dài dòng. Mỗi người VN dù lớn hay nhỏ đều đã có đủ hiểu biết và tài liệu để tự trả lời cho chính mình.

Thời Đệ I Cộng Hòa, khi người Mỹ ngỏ ý muốn trực tiếp can thiệp bằng vũ lực trước vấn đề CS miền Bắc xâm lăng VNCH. Họ muốn đổ quân đội Mỹ vào VN để đánh CS. TT Ngôi Đình Diệm yêu cầu giữa Hoa Kỳ và Việt Nam cần phải ký kết một bản Hiệp Ước An Ninh hỗ tương thì vấn đề đó mới danh chánh ngôn thuận, và CSVN không xuyên tạc được, nhưng Mỹ từ chối. Sự thể cho thấy ngay từ đầu cái dã tâm đen tối của người Mỹ, nên TT Ngô Đình Diện từ chối. Từ đó người Mỹ quyết tâm diệt trừ TT Diệm để thực hiện âm mưu của mình. Khi loại trừ được TT Ngô Đình Diệm rồi, Mỹ ngang nhiên đổ quân vào VN mà không cần có một chính quyền VNCH nào cho phép. Người Mỹ tự ý vào, rồi tự ý nắm quyền chủ động cuộc chiến, cũng như sau này việc thương thuyết hòa bình. Trong cuộc chiến, nước Mỹ đã mất 58 ngàn quân sĩ tử trận, nhưng điều bỉ ổi nhất mà nhiều người không biết là 80% đồ tiếp tế của Liên Sô cho VGCS trong thời gian chiến tranh là do các hãng Hoa Kỳ đầu tư và sản xuất tại Nga. Như thế có phải là chính người Mỹ đã gián tiếp giết người Mỹ không?

Khi người Mỹ đã hoàn tất mục tiêu thầm kín của mình rồi thì họ tìm cách rút chân ra khỏi VN. Bằng nhiều cách và nhiều thủ đoạn, người Mỹ đã thực hiện ý định nhiều khi khá lộ liệu. Cuộc hành quân Lam Sơn 79 Quân Lực VNCH đánh sang Nam Lào, người Mỹ đã bí mật thông báo kế hoạch và phóng đồ hành quân cho Hànội. Mục đích của hành động tồi bại này là để làm suy yếu khả năng chiến đấu của các đại đơn vị tinh nhuệ và thiện chiến nhất của QLVNCH. Ý đồ phản bội miền Nam rõ rệt nhất của Mỹ là năm 1962, khi Kissinger sang thăm Bắc Kinh, y đã nói với Mao Trạch Đông rằng nước Mỹ sẵn sàng chấp nhận một nước VN thống nhất dưới quyền cai trị của CS miền Bắc. Mao ngu gì mà không chịu? Để thực hiện ý đồ nàỵ, chính quyền Mỹ đã giàn dựng cả một chiến dịch ta thưòng gọi là “phong trào phản chiến” bôi nhọ và vu cáo miền Nam, làm cho dư luân Mỹ chán ghét chiến tranh để lấy cớ rút lui. Biện pháp cuối cùng là cắt viện trợ và “embargo” quân dụng và vũ khí đạn dược cho QLVNCH. Biện pháp xẩy ra giống y chang như Mỹ đã làm đối với quân đội của Tưởng Giới Thạch. Để che mắt thế giới, và để đánh lừa cái lương tâm bất chính của mình, người Mỹ đã muối mặt chở đến Saigon 6 chuyến máy bay vận tải toàn đồ quân trang như bi đông đựng nước, giầy trận, áo mưa v.v. Vào những giờ phút sinh tử của cuộc chiến, người Mỹ chở súng không có cơ bẩm cho người Trung Hoa. Nay người Mỹ chở poncho, bidong v.v. cho VN thay vì vũ khí đạn dược. Trên thế giới này có lẽ chỉ có người Mỹ mới có cái tính khôi hài qua việc làm bôi bác như thế mà thôi.

Nước láng giềng Cambodia của chúng ta cũng giống như chúng ta: bị người Mỹ bịp, và vì thế ông Sirik Matak mới có lá thư gởi cho ông đại sứ Mỹ như chúng tôi ghi lại trên trang đầu của bài viết. Phần đông chúng ta vẫn tưởng nước Mỹ thay đổi chính sách mỗi khi có một tổng thống mới lên cầm quyền. Vì thế mới bị lầm, và bị lầm rồi mà vẫn cứ hy vọng. Nghị sĩ Barry Goldwater cho biết: khi một tổng thống lên nắm quyền, đó chỉ là vấn đề thay đổi nhân sự, nhưng chính sách không thay đổi. Ông đưa ra thí dụ, thời TT Nixon Cộng Hòa, Henry Kissinger là thành viên CFR, người được Nelson Rockefeller đỡ đầu, nắm chính sách ngoại giao. Khi Jimmy Carter Dân Chủ đắc cử, Kissinger được thay thế bởi Brzezinski. Brzezinski cũng là thành viên CFR và được David Rockefeller che chở.

Với những dẫn chứng lịch sử trên, và với kinh nghiệm bản thân của mỗi người VN, chúng ta có thể khẳng định rằng chính sách của nước Mỹ đối vói cộng sản không thay đổi. Chính sách đó như Ts Stanley Montieth cho biết là: Cộng sản và tư bản luôn luôn cộng tác với nhau, bởi vì cả hai cùng được thúc đẩy bởi một đông lực tinh thần, và cả hai cùng tìm kiếm một mục tiêu (communists and capitalists have always worked together because they are motivated by the same spiritual force, and they seek the same goal.) Người viết xin thêm vào một ý kiến riêng để câu nói được trọn nghĩa: mục tiêu đó là khống chế toàn bộ đời sống con người và xã hội.

Kết luận

Không biết dân tộc Khmer có được mấy trăm, mấy ngàn năm văn hiến mà sản sinh ra được cả một nội các chính phủ đáng kính và đáng khâm phục như thế. Họ thà chết chứ không chạy theo những kẻ đã lừa bịp họ. Thế mà trước đó báo chí Mỹ la rùm beng chính quyền Lon Non tham những số một trên thế gian này. Nếu quả như báo chí dòng chính Mỹ tố cáo, các ông Lon Non, Sirik Matak v.v. đem tiền bạc tham nhũng sang Mỹ hưởng vinh hoa phú quí không sướng hơn ở lại để mất đầu hay sao! Biết chắc chắn mình sẽ không thọ khi rơi vào tay Khmer Đỏ, trước khi chết thủ tướng Sirik Matak đã bầy tỏ sự hối tiếc vì tin vào người Mỹ.

Thực ra, không phải chỉ có ông Matak tin vào người Mỹ, mà cả nước Việt Nam (VNCH) chúng tôi tin vào người Mỹ. Nhưng khi ông mở mắt bừng tỉnh thì đã quá muộn rồi. Ông Sirik Matak phạm sai sầm, nhưng cuối cùng khi nhận ra mình sai lầm, ông đã thành khẩn nhận sai lầm và tỏ ra hối hận. Chỉ có người VN, chưa thấy ai nhận ra sự sai lầm của mình và tỏ ra hối hận như ông sirik Matak. Tệ hại hơn nữa là cho đến bây giờ vẫn còn có rất nhiều người u mê tin rằng người Mỹ chống cộng, và trông đợi hão huyền rằng người Mỹ sẽ giúp người VN chống Trung Cộng, đòi đất, đòi biển.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Thiện tâm ở tại lòng ta

Ngô Nhân Dụng


Mấy năm trước, mục này đăng một bài với đề tài: Thiện vẫn hơn Ác. Một vị độc giả Người Việt là Bác Sĩ Henny Nguyễn đã chọn đọc lại bài đó trong chương trình phát thanh Niềm Vui Mới nhân dịp Lễ Phục Sinh này.

Ðây là cơ hội để chúng ta cùng nhìn lại đề tài đó, để nuôi nấng niềm tin vào cái Thiện.

Nội dung bài Thiện vẫn hơn Ác nhắc đến một cuộc nghiên cứu khoa học in trên Tạp chí Nature năm 2008 trình bày kết quả một cuộc thí nghiệm của Giáo Sư Martin Nowak ở Ðại Học Havard, kết luận rằng, trong đời sống loài người, sau cùng ai ăn ở thiện vẫn “có lợi” hơn là những người sống với cái ác. Con người hướng về điều thiện, đó là một bẩm tính có thể chứng minh cho phương pháp khoa học được. Cũng giống như các loài chim thiên di mỗi mùa Thu bay về phương Nam bao giờ cũng bay từng đàn chứ không con chim nào bay riêng lẻ, loài người làm việc thiện vì đó là “sách lược tối ưu” cho cả chủng loại. Trải qua hàng triệu, hàng tỷ năm, mỗi loài sinh vật có những thói quen được tích tụ và truyền cho các thế hệ sau để tự bảo toàn, trong loài người Sống Thiện là một “chọn lọc tự nhiên,” đã trở thành di truyền.

Môn sinh học, khi nói đến “chọn lọc theo thiên nhiên” (natural selection) thì người ta nghĩ tới những sinh vật ích kỷ giành lấy tài nguyên cho chính mình, thắng thế với các đồng loại. Nhưng bây giờ thì các nhà nghiên cứu lại chú ý đến những hệ thống sinh học được tổ chức trên quy tắc cộng tác và vị tha, đặc biệt là trong xã hội loài người. Những cuộc nghiên cứu tên đề tài này hiện nay rất phổ biến và có những khám phá rất đáng chú ý. Từ phạm vi sinh học, người ta dùng cùng một phương pháp để nghiên cứu về kinh tế, xã hội học, và đạo đức học.

Hai Giáo Sư Claus Wedekind và Manfred Milinski ở Ðại Học Bern, đã làm một cuộc thí nghiệm về tính thiện của con người, bản báo cáo của họ vào năm 2000 nay đã trở thành một công trình “cổ điển.” Làm việc thiện tức là việc ích lợi cho người khác, và thế nào mình cũng chịu tốn kém một chút nào đó. Mục đích cuộc thí nghiệm của hai ông là xem tại sao có nhiều người thích làm việc thiện dù không được đáp lại. Hai ông dùng một lý thuyết sinh học là “đền đáp gián tiếp” (indirect reciprocity).

Bình thường, ai làm việc tốt cho mình thì chúng ta báo đáp. Trong quan hệ trực tiếp giữa hai cá nhân, hiện tượng vay trả, đáp ứng (reciprocity), có đi có lại, là chuyện thường diễn ra và dễ hiểu. Nhưng chúng ta cũng hay làm những việc tốt lành cho những người hoàn toàn hoàn toàn xa lạ; cho những người mình chỉ gặp gỡ tình cờ và không nghĩ trong đời sẽ còn gặp lại.

Tại sao người ta làm việc thiện “không cần đáp ứng” cho người lạ như vậy? Các nhà xã hội học thử đoán nguyên do theo lối thuần lý. Họ giả thiết là loài người ai cũng lo cho lợi ích của chính mình. Do đó có một lý do khiến mọi người làm việc tốt cho người khác mà không cần được đáp lại trực tiếp, là làm việc thiện sẽ tạo được tiếng tốt cho mình; nhờ được tiếng tốt đó mà sẽ được người khác tin, rồi sẽ làm việc tốt cho mình. Các nhà nghiên cứu gọi đây là hiện tượng “đền đáp gián tiếp” (indirect reciprocity). Trong văn hóa Việt Nam chúng ta còn tin là khi làm việc thiện thì sẽ tạo được phước đức, dù mình không được xã hội đền đáp trong đời này thì đến đời con, đời cháu cũng sẽ được đền đáp gián tiếp. Cả xã hội loài người có một guồng máy phân bố phước đức, có thể coi như một thị trường cho chúng ta đầu tư phúc đức. Mỗi người sinh ra đều nhận được một di sản Phúc Ðức do ông bà để lại, mình có thể được hưởng và đóng góp thêm vào kho phước đức đó cho đời sau! Niềm tin đơn giản đó giúp cả xã hội cùng tốt lành, có lẽ vì thế mà người Việt Nam cứ giữ niềm tin đó suốt bao nhiêu thế hệ! Nói theo lối thuyết tiến hóa, những thói quen nào có ích lợi cho cả chủng loại thường được lưu giữ trong phong tục, tập quán, thấm nhuần trong nền văn hóa.

Nói đến luật tiến hóa là người ta nghĩ đến quy tắc “cạnh tranh để sinh tồn;” nhờ mỗi sinh vật cố gắng giành phần lợi ích về tay mình cho nên cả xã hội được thúc đẩy tiến tới. Sống trải qua hàng triệu năm, những hành vi, thái độ và tính toán mà một sinh vật tập được để tự bảo tồn sự sống của mình, dần dần trở thành những thói quen tự nhiên. Những thói quen nào giúp bảo vệ chủng loại sẽ được truyền qua nhiều thế hệ, dần dần được coi là bản tính. Ngược lại, những hành vi, thái độ nào không có lợi cho chủng loại thì sẽ không được truyền lại vì những sinh vật mang các thói quen đó sẽ dần dần sẽ biến mất. Thí dụ khi quan sát một giống ong, người ta thấy những con ong thợ khi đến hút mật hoa trên một loại cây luôn luôn chọn hút các bông hoa từ dưới gốc cây rồi đi dần lên trên. Khi khảo sát người ta thấy những bông hoa ở phía dưới thường chứa nhiều mật hơn. Từ bản năng, các con ong đã biết lựa chọn một “giải pháp tối ưu!” Mặt khác, khi một con ong bay tới, sà vào một bông hoa mà thấy có “dấu chân” của một con ong khác đã tới thăm bông hoa đó rồi, thì rời bỏ cả cái cây đó luôn, không thử dò tìm các bông hoa khác trên cùng một cây nữa. Làm như vậy cũng là “lựa chọn tối ưu” vì về lâu về dài sẽ tiết kiệm được nhiều thời giờ.

Chắc không phải những con ong thợ này đã được huấn luyện trong tổ trước về “đường lối,” “chính sách,” và phương pháp quyết định “giải pháp tối ưu” trước khi cho đi “làm công tác?” Thói quen đó có thể giải thích bằng thuyết tiến hóa. Trong hàng tỷ năm cuộc đời của loài ong, những con ong có thói quen tốt này thì được sống lâu hơn, đông hơn, có cơ hội tồn tại và truyền giống; trải qua hàng tỷ thế hệ ong, nghệ thuật tìm mật hoa này đã biến thành những đặc tính bẩm sinh.

Trước đây khi nghiên cứu về diễn trình tiến hóa của các sinh vật và của loài người, người ta chỉ giả thiết ai cũng có thói vị kỷ, ganh đua, nhưng không mấy người chú ý đến vai trò của óc vị tha, của lòng từ ái. Nói chung là khi nghiên cứu thuyết tiến hóa người ta thiên về mặt duy lợi, vị kỷ mà không chú ý về Cái Thiện. Nếu đặt trọng tâm trên sự cộng tác giữa các cá nhân trong một giống sinh vật, người ta chỉ chú ý tới những hành động hy sinh của cá thể để bảo tồn giòng giống của chủng loại; một thứ bản năng có tính sinh học. Trong khi đó, một điều ai cũng phải thấy là tất cả các nền văn minh trong lịch sử đều đề cao Cái Thiện, thúc đẩy sự cộng tác giữa mọi người và ngăn ngừa tánh ích kỷ hại nhân.

Hai giáo sư người Thụy Sĩ Claus Wedekind and Manfred Milinski đã bày ra một “trò chơi” nhờ các sinh viên tham dự vào một cuộc thí nghiệm để tìm hiểu hiện tượng “đền đáp gián tiếp” có thật sự thể hiện hay không. Họ được 80 sinh viên cộng tác, mỗi người ngồi trước máy điện toán, coi như được phát một số đồng Franc tiền Thụy Sĩ. Họ có quyền phát tiền cho một người bạn tham dự cuộc chơi. Mỗi lần mỗi sinh viên lại cho tiền một người khác nhau, mỗi người chơi không biết ai là “đối tác” của mình; trên màn ảnh máy vi tính chỉ biết là đối tác đó đã từng phát tiền cho người khác bao nhiêu lần.

Kết quả cho thấy thuyết “đền đáp gián tiếp” (indirect reciprocity) được thể hiện. Nếu thuyết đó không đúng, tức là các sinh viên quyết định đem tặng tiền cho người khác một cách hoàn toàn ngẫu nhiên, thì khi trò chơi kết thúc, số tiền vốn của mọi người sẽ gần như bằng nhau. Nhưng sau cùng, khi tổng kết xem mỗi người còn bao nhiêu tiền, người ta thấy những sinh viên nào hay đem tiền cho người khác nhất cũng là những sinh viên nhận được nhiều hơn các bạn khác.

Nhưng tất nhiên trong nhân loại có những người vị tha hơn người khác, và ngược lại có người thường chỉ nghĩ đến mình. Hành vi của họ khác nhau như thế nào khi biết rằng những người có tiếng vị tha có thể được đền đáp?

Một cuộc nghiên cứu khác, công bố năm 2008 trên tạp chí Social Psychology Quarterly, của hai Giáo Sư Brent Simpson và Robb Willer ở Mỹ, đã tìm hiểu kỹ hơn về tác phong của con người trong hoàn cảnh có sự đền đáp gián tiếp. Trong thí nghiệm này, người ta trắc nghiệm trước các đối tượng để xếp loại những người có khuynh hướng vị kỷ trong một nhóm, nhóm kia là những người được xếp loại vị tha. Khi tham dự cuộc chơi mà biết rằng các hành động thiện trong tương lai có thể được đền đáp thì những người vị kỷ phản ứng rất tích cực. Ngược lại, những người vốn tính vị tha thì dù biết sau này có được đền đáp hay không, họ cũng không chịu ảnh hưởng. Như vậy nghĩa là hành động hoàn toàn vị tha là có thật; nhưng nhân loại không phải ai cũng vị tha. Thí nghiệm thêm lần nữa, hai tác giả thấy rằng khi được chứng ai có hành động thiện, thì những người vị tha thường “tưởng thưởng” cho những người thiện đó nhiều hơn những người có tính vị kỷ qua việc đền đáp gián tiếp.

Tạp chí Games and Economic Behavior tháng 11 năm 2009 đăng kết quả cuộc nghiên cứu của ba giáo sư ở Âu Châu, họ chia các đối tượng nghiên cứu làm hai nhóm, một nửa thì mỗi lần “làm việc thiện” đều được báo cho mọi người biết, một nửa thì hoàn toàn không. Kết quả cho thấy trong xã hội quả thật có hiện tượng thuần túy “đền đáp gián tiếp.” Nhưng bên cạnh đó cũng có những người làm điều thiện vì tính toán hơn thiệt.

Nhiều quý vị nghe những câu chuyện trên sẽ thấy là kết quả của những cuộc nghiên cứu mới kể thật ra không có gì lạ. Nếu vậy thì rất đáng mừng. Không thấy gì mới lạ, nghĩa là chúng ta không cần phải mất công bầy ra các cuộc nghiên cứu (hàng ngàn cuộc nghiên cứu đã thực hiện) chỉ để biết một điều mà ai cũng đã tin là đúng từ lâu rồi: “Thiện tâm ở tại lòng ta.”

Post Reply