Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

BẢY CHUYỆN ‘LẠ’ CỦA VIỆT NAM

ĐINH LÂM THANH


‘Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người’ và ‘Chiếc Nôi Của Nhân Loại’ là hai tiếng nổ phát xuất từ các kho đạn thiên đường cộng sản. Bọn rừng rú đã dốt lại dùng những chữ dao to búa lớn để lòe thiên hạ thì không thiếu gì chuyện lạ. Chắc chắn rồi đây đảng việt gian cộng sản sẽ đoạt giải vô địch thế giới về tất cả các bộ môn ‘nổ’ và ‘nói phét’. Từ những chuyện thường ngày được nhắc đến mới đây như ‘người lạ’, ‘tàu lạ’ đến ‘bệnh lạ’ ‘thuốc lạ’ ‘thức ăn lạ’…. nhưng thực tế chẳng có gì lạ cả ! Chỉ vì sợ phạm húy, từ quan đến dân không ai dám động tới hai chữ ‘thằng chệt’, nếu người nào vô tình nhắc đến có thể bị đi tù hay mất chỗ đội nón (cối) !



Ai cũng biết rằng, sau ngày ‘thằng chệt’ ngang nhiên kéo quân vào đô hộ Việt Nam theo lời mời của tập đoàn việt gian, cộng sản phải nhập cảng hàng ngàn tấn băng keo đặc biệt để dán mõn từ hàng phó thường dân cho đến bọn quan to súng dài. Từ đó, những gì liên quan đến các hành động ăn cướp giết người của bọn Tàu phù thì phải gọi là chuyện ‘lạ’ từ trời rơi xuống. Không ai được quyền thắc mắc và nhắc đến tên cúng cơm của đồng chí vĩ đại là bọn ‘Tàu ô’ hay còn gọi ‘thằng Chệt’ ! Những chuyện vưà nêu trên là một số chuyện lạ có tính cách ‘nội bộ’ Việt Nam, và chắc chắn trong tương lai, các vị học giả sẽ viết thêm nhiều chuyện lạ nữa để dành cho các thế hệ mai sau. Bài viết hôm nay, tôi xin phép đưa ra bảy chuyện ‘lạ’ có tầm ‘quốc tế’ để giúp cho thế giới mua vui cũng như các bạn trẻ hải ngoại tìm đọc, đồng thời để quý vị giải trí vài phút trong cữ café sáng hay sau một ngày làm việc mệt nhọc.



1. Chữa hoang : Xứ ‘thằng chệt’ trọng nam khinh nữ, do đó con gái sinh ra, nếu cần thì bóp cổ vứt sông là xong chuyện. Vì vậy, việc thiếu đàn bà là vấn nạn trầm trọng của một nước với 1 tỷ 400 triệu người mà trên hai phần ba là đàn ông. Nhưng bọn chúng đã giải quyết êm đẹp bằng cách đưa hàng chục sư đoàn quân đội nhân dân, bọn công an cũng như khuyến khích hàng vạn đàn ông điên khùng bệnh hoạn qua Việt Nam, vừa để giải quyết sinh lý vừa gầy giống… nhằm hợp thức hóa vùng đất đã tịếp thu từ tay bọn cộng sản đàn em ! Chỉ tội cho thân phận đàn bà con gái Việt Nam, lấy thằng chệt nhưng không thể làm hôn thú với đám người ‘lạ’ vô danh ! Rồi vài nằm sau, hàng chục ngàn thằng chệt con chào đời phải mang họ mẹ vì cha là người ‘lạ’ !!! Như vậy Việt Nam sẽ trở thành vô địch thế giới vì có đến hàng trăm ngàn con gái nhà lành mang bầu chính thức nhưng lại bị tiếng làm điếm đẻ con….với người lạ !



2. Dân kho đạn : Không biết số lượng kho đạn tại Miền Bắc có bao nhiêu nhưng dân chúng người nào cũng nổ như bắp rang, nhất là lúc chạy vào hôi của tại Miền Nam ngay sau ngày 30.4.1975. Tôi còn nhớ trong thời gian đi tù, bầy vẹt chính trị cũng như các chú ngố quản giáo đôi lúc hăng tiết vịt, chúng trả lời những câu hỏi ‘thật đểu’ do ‘lính ngụy’ nêu ra. Ví dụ như đề cập đến xe hơi ở Miền Bắc thì được các chú ngố vênh váo trả lời rằng : ‘Ô tô thì ngoài Bắc thiếu gì, chúng chạy đầy đường không còn chỗ cho người đi bộ’. Khi được hỏi đến thực phẩm thì được trả lời : ‘Heo, bò, gà, vịt hằng hà sa số ! Tha hồ ăn, hàng dư thừa phải đem biếu không cho Trung Quốc vĩ đại’…



Và còn một chuyện động trời nữa của cán ngố Miền Bắc, nếu trẻ con nghe được thì chắc chắn cười té ra trong quần : Số là trong thời gian ‘nín thở qua sông’ tại trại tù Kàtum, và, trong lúc kiểm điểm học tập chính trị theo từng tổ, một quản giáo đến tra khảo chữ ‘làm tình’ mà tôi đã gạt tên thượng úy chính trị viên tiểu đoàn, để tên nầy cao hứng đứng dậy vừa vỗ tay vừa hát đi hát lại cùng với anh em tù câu ‘Đêm thì giả gạo ngày vẫn làm tình’ (Đêm thì giả gạo ngày vẫn làm mùa – Bài hát Tiếng chày trên sóc Băm Bô). Sau đó bọn ănten báo cáo với tiểu đoàn ý nghĩa đểu cáng của tôi khi thay đổi vài chữ trong bài hát. Tôi bị gọi lên, tên chính trị viên đập bàn la hét : Địt mẹ mầy ! Đéo thì nói là đéo. Mày dùng chữ của đế quốc để bôi bác cách mạng. Mày hãy lói cho tao biết ‘nàm tình’ và đéo khác nhau ở chỗ lào ? Nhưng rồi chuyện cũng qua sau vài tờ tự kiểm cộng với một ngày bị nhốt trong thùng sắt…Nhưng tên quản giáo của khối còn căm chuyện nầy lắm, hôm nay ngày kiểm điểm của tổ là dịp để nó đến tra khảo tôi thêm một lần nữa. May thay, người bạn cùng tổ đã nhanh miệng đở đòn cho tôi khi tên cán ngố vừa xuất hiện: Thưa cán bộ, nghe nói bọn Mỹ đã lên đến cung trăng rồi phải không cán bộ ? Tên quản giáo trả lời thật nhanh rằng : Chưa chắc, để nhà nước hỏi chú Cuội xem thế nào ! Mấy anh em chúng tôi trố mắt nhìn, hắn nổi sùng nói một hơi : Chú Nguyễn Văn Cuội, gốc người Thanh Hóa của chúng ta, đã lên mặt trăng trước thằng Mỹ ! Thấy chúng tôi cười, hắn nóng mặt tiếp : Chú Cuội vì mê chị Hằng nên chú không trở về quả đất nữa. Kỳ lên lớp tới đồng chí chính trị tiểu đoàn sẽ giải thích sau !!! Thật hết ý kiến của dân kho đạn Miền Bắc.



Cũng chuyện nổ, cách đây vài năm, ‘vua’ nước Việt Nam, tên Nguyễn Minh Triết bị gậy ăn mày ở Mỹ, ngay sau ngày về, đã tuyên bố rằng chính y đã hoàn toàn thuyết phục được quốc hội Mỹ ! Mẹ khiếp, nổ ơi là nổ, rặn cả ngày chưa ra được chữ ‘No’ chữ ‘Yes’ mà nổ hơn cả đại pháo 175 ly. Còn nữa, mới đây bọn rừng rú tuyên bố rằng chúng ta ngang hàng với các cường quốc thế giới ! Thật không biết xấu hổ, khổ người thì đứng ngang thắt lưng quần người ta, bộ óc chỉ bằng hạt đậu, đầu không có một chữ làm vốn, tay chưa thắt được cái gút cà vạt và cũng chưa cột được sợi dây giày mà cứ mở miệng ra là đỉnh cao trí tuệ loài người và cái nôi văn hóa của nhân loại…



3. Vừa làm vua vừa kiêm ma cô dắt mối : Các vị nguyên thủ quốc gia đôi lúc đi thăm viếng nước ngoài thường dẫn theo đoàn tùy tùng kinh tế tài chánh để may ra còn ký thêm vài ba hợp đồng, như trường hợp Pháp mỗi khi đi qua Tàu hay Việt Nam… Bọn việt gian cộng sản cũng vậy, mỗi khi có dịp ra ngoại quốc, nhất là đi Mỹ, chúng thường dẫn theo một đoàn ngợm, ngồi chật cả chuyến bay mà chẳng làm được gì ngoài việc du hí và xài tiền. Riêng vai trò của vua Nguyễn Minh Triết, trước đây hai năm, ra ngoại quốc đã công khai rao bán thịt sống. Trường Cầu Muối dạy cho Nguyễn Minh Triết cách làm thương mãi thật đơn giản ; đến nơi nào chỉ cần kêu gọi giới đầu tư hãy vào làm ăn với Việt Nam vì Việt Nam có nhiều gái đẹp, tự nhiên chơi thoải mái mà giá cả lại rẻ như bèo. Như vậy là đủ ăn tiền cho một chuyến công du, cần gì phải tốn công sức để rặn từng chữ cho các chương trình kinh tế tài chánh thêm nhức đầu đau óc ! Đây là chuyện động trời trong giới chính trị, đáng ghi danh tranh giải vô địch thế giới về nghề ma cô dắt mối tại các động đĩ. Các trường đại học kinh tế thương mãi trên thế giới hãy nhanh tay mời cho bằng được Nguyễn Minh Triết về làm giáo sư giảng dạy môn ‘tiếp thị’ hiện đại của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, vì đây là bí quyết có một không hai trên hành tinh nầy.



4. Vay nợ : Vay nợ là chuyện của nhà nghèo, người nào túng thiếu tiền bạc để sống hoặc để giải quyết một việc gì ngoài khả năng dự trữ tài chánh nên buộc lòng phải đi vay. Ngược lại tại Việt Nam dưới thời đại Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người thì nguời đi vay nợ chính là những tên tỷ phú ! Điều nầy do ‘vua’ Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã thanh minh thanh nga và khẳng định với đám Vịt kiều yêu nước trong kỳ đại hội vừa qua tại Hà Nội rằng : Ở Việt Nam không có tham nhũng, nhất là đảng viên cán bộ nhà nước, tất cả hoàn toàn trong sạch. Xin đừng nghi oan mà tội nghiệp cho đảng viên và cán bộ nhà nước chúng tôi ! Số là, trong kho bạc quá nhiều tiền, để lâu ngày sợ mối cũng như mọt phá hoại, nên chúng tôi mượn đở đem về xài và gởi ra ngoại quốc cất giùm cho an toàn. Mượn lâu ngày không thấy ai đòi (!) do đó chúng tôi lại mượn thêm, rồi cứ tiếp tục mượn tiếp, mượn tiếp…Đó, đồng bào thấy không ? Chúng tôi có tham nhũng đâu, chỉ đơn giản là mượn tạm mà thôi !



Cũng chuyện nợ nữa, Việt Nam dưới thời cộng sản là con nợ từ làng trên xuống xóm dưới, từ xứ nầy qua quốc gia kia, từ tổ chức nầy đến tổ chức khác…Tập đoàn tham nhũng nhân danh nghèo đói, xây dựng và hiện đại hóa đất nước để mượn nợ khắp năm châu… Sau khi đánh bạc thua, làm ăn lỗ vốn thì chúng giở trò quỵt…Hãy ghi danh đảng việt gian cộng sản vào danh sách tranh chức vô địch ‘vô liêm sỉ’ và ‘quỵt nợ’ do thế giới sẽ tổ chức nay mai…



5. Bán nước : Không phải bán nước uống, nước đá, nước mía, nước cam, nuớc ngọt mà bán giang sơn tổ quốc Việt Nam. Chưa có một nhà vưa, nhà độc tài hay một chính thể nào mà giới lãnh đạo đất nước lại đi bán giang sơ tổ quốc cho kẻ thù. Độc nhất vô nhị chỉ có đảng cướp cộng sản Việt Nam. Từ tên già Hồ, Phạm văn Đồng nhượng biển cho Tàu phù để đổi lấy súng đạn đem về giết hại đồng bào ruột thịt Miền Nam. Tiếp đến tên Lê Khả Phiêu vì dính chàm vụ chơi gái do bọn Tàu phù dàn cảnh nên phải bàn một phần đất phía cực Bắn Việt Nam. Cuối cùng, tên Nguyễn Tấn Dũng cũng nhận tiền của thằng Chệt đễ trải thảm đỏ đỏ mời bọn Tàu đói vào khai thác Bauxiet tại Tây Nguyên. Từ lịch sử Đông Tây kim cổ, từ chốn đồ đá sơ khai cho đến các vùng văn minh hiện đại, chưa có một tập đoàn cai trị nào đi bán đất nước và tổ quốc của mình cho giặc để nhận tiền và đem vũ khí về giết hại chính đồng bào của mình.



6. Tiến sĩ danh van (viết không dấu): Chuyện nầy thì lạ đối với thế giới, vì tại các xứ tự do hiện nay những người tốt nghiệp tiến sĩ thường thuộc các ngành khoa học, kỹ thuật, xã hội, văn chương, nghiên cứu với các danh hiệu Ts Toán, Ts Vật Lý, Ts Hóa học..Ts Xã Hội Học, Ts Văn Chương, Ts Môi Trường vân vân…chứ chưa bao giờ nghe đến Tiến sĩ Danh Van. Nhưng tại Việt Nam thì bằng cấp nầy không thiếu gì. Đó là Tiến sĩ Đánh Vần (viết có dấu) hay còn gọi là Tiến sĩ Cầu Muối. Trường đại học nầy cấp bằng cho thí sinh qua sự lựa chọn rất chu đáo, nhất là bậc tiến sĩ. Trường không dựa vào tiêu chuẩn phải có tối thiểu hai năm cao học và cũng không cần một luận án công phu, giá trị nào….mà điều kiện cần và đủ là thí sinh phải có thẻ đảng. Do đó, cán bộ đảng viên có bằng cấp Tiến sĩ dưới chế độ không cần phải biết làm tính cộng trừ nhân chia (tiến sĩ toán), không cần phải biết tính toán cân đo (tiến sĩ vật lý), không cần phân biệt được nước sạch nước dơ (tiến sĩ hóa học), không cần biết đời sống và quyền lợi người dân (tiến sĩ xã hội học), không cần viết đúng hay sai văn phạm (tiến sĩ văn chương) và không cần phân biệt được mùi thơm hay mùi thúi (tiến sĩ môi trường)…Chung quy những đảng viên cán bộ tiến sĩ không cần phải biết, không cần phải đọc, không cần phải viết…nên được gọi là Tiến Sĩ Đánh Vần ! Đấy là Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người. Giải vô địch nầy Việt Nam khỏi cần ghi danh tham dự, chỉ cần đưa mấy tên cán ngố ra trình diện, giám khảo quốc tế vừa trông thấy mặt thì tức thời chấm đậu hạng tối ưu.



7. Ảo thuật : Trường đảng nhằm đào tạo lý thuyết cộng cho cán bộ đảng viên tại Hà nội đã phải đóng cửa từ khi già Hồ hộc máu mồm lăn ra chết một năm sau vụ thất bại Mậu Thân 1968. Lý do đơn giản là bài vở nhà trường không còn hợp thời và lôi cuốn học viên. ‘Đảng cộng sản anh minh’ đành phải đổi tên thành ‘trường ảo thuật’ là nơi đào tạo trò múa rối và hát xiệc. Màn ảo thuật của khóa đầu tiên chúng trình diễn tại Miền Nam ngay sau ngày 30.4.1975. Thật ngoạn mục, chỉ một đêm hàng chục triệu người giàu sang phú quý đã biến thành ăn mày bị gậy, trên người chỉ còn chiếc quần xà lỏn, tay bồng tay bế kéo nhau lên vùng kinh tế mới phá núi phá rừng trồng khoai trống sắn hay chạy ra biển làm mồi cho cá mập. Trước đây, bằng những trò ảo thuật, chúng đem ngoại tệ viện trợ và vay mượn quốc tế đặt lên chiếu bạc, mua cỏ nuôi ngựa hoặc tổ chức đóng tàu thủy…rồi vổ tay hô ‘biến’ một cái, hàng trăm triệu dollars biến mất trong vài giây. Mấy ngày vừa qua Hà Nội lại bắt dân chúng nạp vàng và ngoại tệ cho nhà nước rồi cũng vỗ tay một cái. Màn ảo thuật nầy thật hấp dẫn, dân chúng trắng tay, không kêu ca khiếu nại được gì với bọn côn đồ tay cầm AK, túi lận lựu đạn, đứng làm cái chơi bài ba lá…Và trong vài ngày nữa, một màn ảo thuật đại chúng sẽ xảy ra từ hang cùng ngõ hẻm ra đến thành phố, thủ đô… chúng sẽ thu hồi tiền giấy già Hồ đang lưu hành và cho đổi lấy giấy lộn cũng mang hình già Hồ với mệnh giá cao hơn. Trò ảo thuật sắp tới sẽ đạt tới ‘đỉnh cao trí tuệ loài người’ vì đây là một lối ăn cướp có môn bài. Dân cả nước sẽ trắng tay. Chỉ có bọn cầm đầu đảng cướp thì đại thắng, đại đại thắng, vì chúng tự tay in tiền, tự ấn định số lượng đổi cho mỗi đầu ngườì, cho mỗi gia đình…còn bọn chúng thì in bao nhiêu và đổi bao nhiêu chẳng được !!!



Thế giới có bảy kỳ quan, Việt Nam dưới thời cộng sản thì có bảy chuyện lạ và chắc chắn trong tương lai sẽ trở thành bảy vô địch thế giới về các bộ môn ‘nổ’, ‘xạo’ và ‘bịp’. Thế mới thấy bọn việt gian cộng sản thật ‘tuyệt vời’, chính chúng nó đã đưa đất nước Việt Nam lên hàng đầu thế giới với tiếng nổ ‘Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người và Cái Nôi Trung Tâm Của Nhân Loại

Paris, 12.4.2011

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Tôi Hét Lên!

Tác giả: Nguyễn Trung Tiện
Tác giả là một Linh mục dòng truyền giáo Ngôi Lời thuộc tỉnh dòng Chicago , đang ở Alice Springs , Northern Territory , lo cho thổ dân vùng sa mạc đất đỏ Úc Châu. Với nhiều bài viết giá trị, ông là tác giả đã nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ năm thứ mười, 2010. Sau đây là bài viết mới của tác giả.
***

Tôi mệt nhọc với cuộc đời,
Tôi khò khè với cuộc sống!
Tôi làm hãng cam, làm anh cai.
Tôi đếm tiền.
Tôi, vợ đẹp.
Tôi, con khôn.
Tôi ung thư.
Tôi hét lên!
. . .

Hai mươi năm rồi, ngày nào tôi cũng mệt thở không ra hơi, đầu nhức căng căng, tim đập hồi hộp, thần mắt khờ khạo; bởi sáng nào cũng vậy, tôi dậy thật sớm, hốt hoảng như người bị ma đuổi, tôi phóng thật lẹ vào sâu trong phòng tắm. Nước ấm dội xuống cuống cuồng, tôi sấy tóc hối hả, tôi chải tóc vội vàng, tôi mặc quần áo thật lẹ, tôi ba chân bốn cẳng phóng ra xe, đề máy, tôi biến mất vào dòng đời xe cộ ngược xuôi.

Tách rời dòng xe đen nghìn nghịt như những con bọ hung đông lạnh không nhúc nhích trên xa lộ chằng chịt dọc ngang, tôi kiếm đường tắt, hốt hoảng bẻ trái, lừa lừa quẹo phải, tôi bực bội bấm còi, tôi phóng vội vàng vào hãng cam.

Ngồi nhặt những trái cam tươi, tôi xếp vào thùng đều đặn như người máy. Ngồi đếm những quả cam bóng lực lưỡng da căng tròn, tôi xếp vào thùng gỗ, đường rầy dây chuyền lăn đều đẩy tới những vòng quay. Nơi cuối đường, thùng gỗ đầy cam chầm chậm lăn vào lòng xe vận tải. Đầy những thùng cam, xe vận tải đề máy quay tròn mười sáu bánh xe lăn tới những nẻo đường xa lộ. Xe vận tải khác trống hoắc lầm lì lăn bánh tới, nóng nẩy chờ đợi những thùng gỗ cam tươi chất đầy lòng xe…

Hai mươi năm của cuộc đời vừa qua, tôi ngồi nhặt cam, xếp cam, lương khá. Thoạt tiên là mười lăm đồng. Năm năm sau lương tăng lên. Năm thứ bẩy, tôi hóa thành anh cai, nhận được lương phụ trội làm xếp. Được làm anh cai, tôi tới hãng sớm hơn, ở lại cũng trễ hơn. Nhưng cũng chẳng sao. Sớm và trễ đều hóa ra những đồng tiền bạc trăm bạc ngàn vào ngày thứ Sáu cuối tuần. Bởi thế tôi hăng hái lao vào nghề xếp những trái cam vô thùng gỗ. Cuộc đời bỗng dưng ngập những tiền là tiền. Cuối tuần, cầm tờ ngân phiếu hãng cam trả với bốn con số, tim tôi đập mạnh, niềm vui tiền bạc dâng lên tê tê đầu lưỡi, bao nhiêu nhọc nhằn cực khổ bởi sáng dậy sớm, chiều về trễ, hốt hoảng tranh giành đường đi trên xa lộ tự nhiên tan biến bởi những đồng tiền vào ngày thứ Sáu cuối tuần.

Tôi hát nho nhỏ,
“Tiền là tiên là Phật,
Là sức bật của tuổi trẻ,
Là sức khỏe của tuổi già.”

Tiền!
Có tiền là có tiên. Vợ tôi đã đẹp giờ lại càng thêm đẹp bởi những đồng tiền của hãng cam. Nàng sửa cằm, bơm môi, nâng ngực, cắt mắt, nàng đẹp rực rỡ, nàng ăn trắng mặc trơn. Tôi muốn ăn Phở, nàng nấu Phở nước trong. Tôi muốn ăn cháo lòng rắc tiêu sọ, cơm sườn tàu hủ ky, nàng lái xe Bimmơ xuống phố mua cơm cháo. Tôi muốn hút thuốc ba số 5, nàng ghé vào tiệm mua cho tôi mấy cây. Cẩn thận, nàng còn mua thêm mấy gói thuốc con mèo. Con tôi hai đứa, mịn da đẹp thịt, học hành giỏi giang trong trường đại học tư thục nhờ lương bốn số cuối tuần của anh cai hãng cam. Nhà tôi cất cao nhất khu đồi, bốn phòng rộng thênh thang. Hai vợ chồng tôi một phòng, căn phòng có màn cửa nhung. Một đứa con gái, một đứa con trai, mỗi đứa một phòng. Mỗi phòng căn bản là một TV và một máy vi tính. Cạnh phòng ăn là bar rượu rộng thênh thang. Dưới hầm nhà, xếp đều tăm tắp những chai rượu VSOP, rượu vang đắt tiền. Cạnh phòng ăn, tôi gọi người tới biến thành căn phòng có ghế da hơi nằm dài theo dõi dàn máy home theater hiệu Sony chiếu phim trên màn ảnh đại vĩ tuyến. Asia, Thúy Nga, Vân Sơn, phim Việt Nam, tôi nằm dài coi trong rạp nhà, mà tưởng là mình đang ngồi coi trong rạp màn ảnh 4D bốn chiều.

Cuộc sống tôi thênh thang. Xe Bim-mơ, vợ tôi một cái, tôi một cái. Tôi yêu vợ, yêu con, và yêu cuộc sống!

Bởi yêu vợ và yêu con, tôi anh cai hãng cam làm thêm ngày thứ Sáu, thứ Bẩy, và luôn cả ngày Chúa Nhật. Hai chục năm rồi, ngày nào tôi cũng đi làm.

Tôi đếm tiền mỏi tay!
Tiền giấy đếm, sướng những đầu ngón tay.
Tôi hạnh phúc mênh mông!
Đời tôi màu hồng.
Chuồn chuồn bay đầy trên cánh đồng cỏ xanh.
Chuột đồng no nê căng tròn rong chơi trên đồng lúa vàng.
Cá chem chép vàng ươm êm đềm bơi lội dọc theo bờ sông đỏ màu phù sa.
Tôi, thiên đàng trần thế!
Hồn ơi, vui lên!

Sáng hôm qua, như thường lệ, tôi dậy sớm, cổ họng đau ran rát.
Đi khám, bác sĩ nói,
— Ung thư cuống họng.
Lần đầu tiên trong đời tôi nếm vị thuốc.
Những lần chạy chemotherapy, tóc tôi rụng, đầu tôi sói sọi!
Thân thể xanh xao. Mặt bủng da chì!
Tôi vàng như những trái cam mà có một thời tôi xếp xếp gói gói vào thùng gỗ năm xưa.
Tôi húp phở, phở không ngon.
Tôi chán những chén cháo lòng rắc tiêu sọ.
Tôi ói ra những miếng cơm sườn nướng tàu hủ ky.
Tôi ho sặc sụa với hơi thuốc ba số 5, thuốc đầu con mèo.
Tôi nhổ ra phèn phẹt ngụm rượu đỏ Cabernet Sauvignon.
Tôi giờ này chỉ còn nuốt được những viên thuốc ung thư.
Sáng sáng nhìn qua khung cửa,
Bình minh rực rỡ,
tôi mơ sức khỏe.
Tôi khóc! Trời ơi, sao đời phù vân!

Nếu biết thế, tôi sẽ không sống như tôi đã từng sống hơn hai mươi năm vừa qua.
Trời mùa hạ xanh tươi, nhưng sao tôi thấy lá vàng đong đưa bên khung cửa.
Tôi hối tiếc cho những ngày xưa, những ngày còn sung mãn.
Cuối tuần, vợ tôi ghé vào viếng thăm.
Mười ngón tay của nàng, mầu hồng tô son thơm mùi phưng phức. Cặp môi trái tim, mắt phượng mở lớn, đôi ngực căng tròn, nước hoa từ thân thể nàng bốc mùi thơm hăng hắc. Tôi nhìn nàng, dáng nàng sang, tóc nàng đen óng sợi tóc dầy, tôi mơ ước sức khỏe ngày xưa.

Nàng hỏi, “Bao giờ anh về?”
Con tôi hôn lên vầng trán, “Thôi, con phải về,
Ngày mai con có bài thi cuối khóa.
Chúc bố chóng bình phục.”

Nhưng tôi vẫn tuột dốc.
Ung thư cổ họng gậm nhấm ăn mòn thân xác.
Tôi rớt xuống.
Tôi chạm đáy vực sâu.
Tôi đốt nến, nhìn lên tượng thánh giá.
Tôi đôi môi mấp máy như Hàn Mặc Tử:
“Ave Maria, Thánh Nữ Đồng Trinh,
Xin chữa con!
Xin cứu con.
Nếu bây giờ,
Phép lạ xẩy ra,
Con sẽ vẫn đi làm ở hãng cam,
Con sẽ vẫn làm anh cai,
Nhưng con sẽ không đi làm thêm ngày thứ Bẩy, Chúa Nhật.
Bởi con đã nhận ra đời sống này vô thường!
Có đó rồi mất đó,
Vô thường! Vô thường! Đại vô thường!”.

Nhưng phép lạ không xẩy ra.
Tôi tiếp tục mệt nhọc với ung thư,
Tôi khò khè với bệnh tật!
Ung thư tiếp tục phá nát cuống họng!
Tôi nằm dài trên giường bệnh,
Con tôi hỏi, “Bố ơi, bao giờ bố về?”.
Tôi khóc, không nói được nữa, bởi ung thư đã phá rách toang cổ họng.

Tôi run run năm đầu ngón tay, viết lên trên tờ giấy trắng tinh, “Sao hai đứa con gầy vậy?”
Con tôi nói, “Bố ơi! Mẹ bỏ đi rồi!”
Tôi hét lên! Tiếng hét cuồn cuộn xoáy sâu đẩy tôi rơi xuống vực thẳm!
Tôi mở mắt ra,
Người ướt đẫm mồ hôi!
Nhìn qua khung cửa,
Tôi nhận ra bình minh thứ Bẩy cuối tuần rộn ràng khua vang.
Bên khung cửa,
Có chú chim nho nhỏ say mê hót vang khúc hát bình dị, “Good morning! Chào bình minh buổi sáng.”

Tỉnh cơn ác mộng,
Tôi KHÔNG hốt hoảng như người bị ma đuổi, phóng thật lẹ vào sâu trong phòng tắm như mọi ngày trong hai mươi năm qua.
Nhưng tôi quỳ bên chân giường, tôi đọc một lời kinh nho nhỏ với Chúa, với Phật, và với Bụt.
Thấy tôi bước xuống nhà pha ly café buổi sáng, vợ tôi ngạc nhiên hỏi,
— Ủa, không đi làm sao?
Tôi đáp cộc lốc,
— Không!
Nhưng mặt tươi như hoa, nhìn qua khung cửa, hát nho nhỏ một bài ca…

Linh mục Nguyễn Trung Tiện

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

HOÀ GIẢI hay HOÁ GIẢI ?

Lê Duy San


Sau khi cưỡng chiếm được miền Nam, bọn Cộng San Hà Nội đã áp đặt một chế độ độc tài chuyên chính vô sản trên toàn quốc Việt Nam. Các chính sách vô cùng độc ác và tàn bạo như “Học Tập Cải Tạo” để cho đi tù không cần xét xử hàng trăm ngàn quân nhân, công chức của Việt Nam Cộng Hoà, các cán bộ, các đoàn viên của các đảng phài chính trị và cả các văn nghệ sĩ miền Nam, “Kiểm kê tài sản” để cướp đoạt tài sản của các các giới doanh thương cũng như các công kỹ nghệ gia, “Khu kinh tế mới” để cướp nhà, cướp của và xua đẩy những người này ra khỏi thành phố. Chưa hết, thấy nhiều người vượt biên bỏ nước ra đi, chúng cho “Vượt biên bán chính thức” để vừa thu được vàng, vừa tống xuất được bọn người Việt gốc Hoa và các thành phần mà bọn chúng cho là ăn bám xã hội nhưng không có lý do gì để bỏ tù hoặc bắt đi “học tập cải tạo”.

Với những chính sách vô cùng độc ác và tàn bạo trên, bọn Cộng Sản Hà Nội hy vọng rằng sẽ vô hiệu hoá được tất cả các thành phần chống đối chúng hoặc có thể trở thành đối nghịch để đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh lên Xã Hội Chủ Nghĩa, một Thiên Đường mà bọn chúng tin tưởng rằng, nếu không hơn thì ít nhất cũng phải bằng các nước tiền tiến nhất thế giới.

Nhưng thực tế đã ngược hẳn lại, sau hơn 10 năm thống trị miền Nam và sau hơn 30 năm thống trị miền Bắc, bọn Cộng Sản Hà Nội đã đưa cả một đất nước giầu có về tài nguyên cũng như nhân lực, cả một dân tộc có tiếng là thông minh, cần cù và chịu khó thành một đất nước điêu tàn, một dân tộc ngu dốt và nghèo khổ nhất thế giới. Chính vì vậy mà năm 1985, bọn Cộng Sản Hà Nội đã phải noi gương quan thầy của chúng là Trung Cộng, nới lỏng một vài lãnh vực, nhất là lãnh vực kinh tế như cho phép dân chúng làm kinh doanh nhỏ và xã hội như cho phép những người có thân nhân ở ngoại quốc được nhận qùa cáp, tiền bạc của thân nhân gửi về để cứu vãn phần nào sự nguy khốn của chế độ.

Không những thế, bọn Cộng Sản Hà Nội còn giả vờ cởi trói văn nghệ để cho một số người trong đó có cả một số tay sai của chúng viết bài phê bình cán bộ, viết truyện chỉ trích nhà nước để tạo nên một bầu không khí cởi mở và một thứ văn nghệ chống đối gỉa tạo gọi là “Văn chương phản kháng”. Chúng cho cán bộ ra ngoại quốc ca tụng người Việt hải ngoại, những người mà trước kia bọn chúng gọi là những thành phần đĩ điếm, trộm cắp, là có khả năng cao, có tiềm năng lớn cùng khích động lòng yêu nước của người Việt hải ngoại và kêu gọi hãy quên đău thương, hận thù để cùng nhau xây dựng đất nước, đưa dân tộc ra khỏi tình trạng lạc hậu, nghèo đói. Điều này đã làm cho một số người Việt hải ngoại, ngay từ năm 1995, không hiểu vì nhậy cảm dễ tin hay vì hậu ý riêng hoặc vì muốn làm cò mồi cho bọn chúng, đã dám kết luận rằng”Hai mươi năm trước đây, chúng ta là những kẻ thua cuộc trong thời chiến. Ngày nay, năm 1995, chúng ta đã trở thành những kẻ thắng cuộc. Chúng ta không nên bỏ lỡ cơ hội này.”

“Chúng ta không nên bỏ lỡ cơ hội này” nghĩa là thế nào? Phải chăng họ muống chúng ta “hãy quên hận thù”, ‘hãy hoà hợp, hoà giải” với bọn Cộng Sản Hà Nội?

Làm sao chúng ta có thể quên được hận thù, làm sao chúng ta có thể hoà hợp, hoà giải với cướp của giết người? bọn bán nước, hại dân? Ngay nhà văn Tô Hải, một người đã đi theo Cộng Sản, một người suốt đời đã sống dưới chế độ Cộng Sản Hà Nội cũng đã phải than rằng”

“Làm sao có thể hòa giải-hòa hợp với hàng vạn gia đình, con cháu họ khi cha ông họ bị cướp sạch ruộng đất, nhà cửa, bị đấu tố rồi giết hại bằng đủ kiểu dã man như thời Trung Cổ bởi những Đoàn, Đội Cải cách ruộng đất cơ chứ?...........

Làm sao có thể hòa giải với hàng triệu gia đình , sau chiến thắng Điện Biên, phải bỏ hết của cải, nhà cửa, xưởng máy "di cư"vô Nam để tìm tự do. Những người ở lại, thì mất hết sau các đợt cải tạo tư sản, cải tạo nhà đất, bị tịch thu từ cái máy may đến cửa hàng không quá 3 mét ở các phố hàng Đào, hàng Ngang, hàng Trống.... và nhiều nhà hơi cao, cửa hơi rộng cũng vị tịch thu hoặc bố trí cho thành phần cốt cán vào ở cho đến nay cũng cấm đòi lại………

Làm sao hòa giải với con cháu những người văn nghệ sỹ, trí thức bị đi tù không án, không thời hạn, thậm chí ra tù cũng chết dần chết mòn cả thể xác lẫn sự nghiệp, dù hôm nay có đền bù một cái giải thưởng này nọ kèm theo tí tiền còm nhưng không một lời xin lỗi!! Tớ không tin con cái, cháu chắt họ thôi căm thù đâu!

Làm sao có thể hòa giảỉ với hàng triệu gia đình có cha, ông là sỹ quan phía "bên kia" bị đánh lừa bằng những lời hứa hẹn kiểu ông Trần văn Trà "Người Việt Nam không ai thắng ai thua, Chỉ có Đế Quốc Mỹ là thua thôi!", đã hồ hởi (?) đi "học tập mang theo lương thực 10- 20" ngày để rồi bị đi mút mùa ở các trại cải tạo nơi rừng sâu nước độc, để ỏ nhà vợ con bị xua đi kinh tế mới... và không ít người đã mất xác cho đến nay, bao gia đình vẫn phải về tìm hài cốt ở những nơi chồng, cha họ đã từng bị "học tập", dưới danh nghĩa "khúc ruột ngàn dặm" một cách đắng cay và mai mỉa...

Làm sao có thể hòa giải-hòa hợp với những người phải bỏ nước ra đi, sống ở quê người, những người bị làm mồi cho cá mập đại dương, cho lũ cướp biển, bỏ lại tất cả của cải ,nhà cửa, xe cộ cho mấy ông cán bộ lấy làm chiến lợi phẩm ? Cho đến tận hôm nay, mỗi lần về "du lịch thăm quê" nhìn ngôi nhà mình, cửa hàng mình, xưởng máy mình nay đã trở thành "của riêng" của mấy ông cán bộ cs đang làm chủ hợp pháp có đầy đủ giấy đỏ, giấy hồng mà chỉ dám đi qua mà chửi đổng?.........

Và còn hàng ngàn, hàng vạn thứ chủ trương, hành động gây thù, gây oán ngàn đời không rửa sạch nữa, xảy ra suốt hơn 60 năm tớ sống và làm việc trong kinh hoàng và sợ hãi thường trực nữa.....

Cho nên tớ mới nghĩ rằng: CHỈ KHI NÀO, NHỮNG KẺ GÂY NÊN THÙ HẬN NHÌN RA LÀ MÌNH CÓ TỘI THÌ MAY RA SỰ HẬN THÙ MỚI ĐƯỢC DẦN DẦN ĐƯỢC NGUÔI NGOAI”.

Có người cho rằng bọn Cộng Sản Hà Nội muốn “Hoà Hợp, Hoà Giải”. Thật ngây thơ và ngu xuẩn! Làm sao chúng chiụ hoà hợp hoà giải khi mà bọn đang nắm quyền trong tay, đang ăn trên ngồi trốc? Hoà hợp hoà giải gì mà chúng vẫn giam giữ cả ngàn người chỉ vì họ bất đồng chính kiến với chúng hoặc chỉ vì họ đã phổ biến một vài bài báo tỏ bầy những nguyện vọng chính đáng của dân tộc? Vậy mà nói: “Chúng ta không nên bỏ lỡ cơ hội này?” Vậy thì phải bắt lấy cơ hội này để làm gì? Phải chăng họ muốn chúng ta, những người đã bị bọn Cộng Sản Hà Nội cướp đoạt hết tài sản và đẩy lên rừng, ra biển với hai bàn tay trắng, nay lại đem tiền của trở về hợp tác với bọn chúng? Lời kêu gọi này cũng chẳng khác gì lời kêu gọi “Hãy xóa bỏ hận thù” và Hoà hợp hoà giải” của bọn Cộng Sản Hà Nội và một số tay sai , trở cờ hoặc cò mồi trước đây đã từng được cổ xúy rầm rộ qua các phong trào như “Ủy ban xây dựng và tái thiết VN” trước đây của NBC, NVT, “Kế hoạch hóa dân chủ VN và giải pháp chính phủ Liên Hiệp” của Stephen Young, của các nhón như “Thông Luận”, “Hợp Lưu” v.v…và vài cá nhân như Phó bá Long, Lê Xuân Khoa, Nhật Tiến, Thụy Khê, Khánh Trường v.v…

Thực ra thì chiêu bài ”Xóa bỏ hận thù” hay “Hoà hợp hoà giải” đã được bọn Cộng Sản Hà Nội dùng đi dùng lại nhiều lần, nhưng mỗi lần ở mỗi hoàn cảnh khác nhau và chủ đích khác nhau.

Năm 1945, để cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim, bọn Cộng Sản Hà Nội lúc bấy giờ được gọi là Việt Minh đã kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân, mọi đảng phái chính trị, mọi tôn giáo phải đoàn kết để làm một cuộc cách mạng dân tộc. Nhưng sau khi cướp được chính quyền, thay vì hoà hợp, hoà giải với các đang phái quốc gia, chúng đã hoà hợp hoà giải với thực dân Pháp để tiêu diệt tôn giáo và các đảng phái chính trị, nhất là Việt Nam Quốc Dân Đảng, một đảng phái quốc gia có thực lực nhất. Chính Đức thày Huỳnh Phú Sổ cũng vì qúa tin vào lời đường mật của bọn chúng nên đã bị bọn chúng thủ tiêu trên đường đi đến phó hội với bọn chúng.

Năm 1954, sau khi ký Hiệp Định Genève chia cắt Việt Nam, bọn Cộng Sản Hà Nội lại một lần nữa kêu gọi đoàn kết khi tiếp thu miền Bắc và cho các đàn em như Nguyễn Bảo Hoá (Tô Nguyệt Đình), Phạm Văn Huyến, Tôn Thất Dương Kỵ v.v… thành lập :Phong Trào Hoà Bình” ở miền Nam để chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử vào năm 1956.

Năm 1967, bọn Cộng Sản Hà Nội lại cho các tay sai thành lập một phong trào khác lấy tên là Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hoà Bình để chuẩn bị cho cuộc tổng công kích vào năm 1968.

Năm 1973, sau khi Hiệp Định Paris được ký kết, bọn Cộng Sản Hà Nội lại cho thành lập một lực lượng thứ ba với chủ trương “Hoà Hợp Hoà Giải Dân Tộc” để chuẩn bị cho cuộc cưỡng chiếm miền Nam vào năm 1975.

Gần đây, trước sự Trung Cộng cưỡng chiếm biên giới và lãnh hải của Việt Nam cũng như sự bất mãn của dân chúng vì sự lộng quyền của chính quyền địa phương, nhất là bọn công an, chúng lại cho bọn tay sai, nằm vùng ở hải ngoại đưa ra chiêu bài “hãy xoá bỏ hận thù để đoàn kết chống giặc Tầu xâm lược” mà một trong những kẻ to mồm nhất la Bác Sĩ Nguyễn Thị Thanh ở Canada. Thử hỏi chúng (bọn Cộng Sản Hà Nội) có chính quyền, có quân đội, có vũ khí trong tay, sao chúng không chống mà lại kêu gọi chúng ta, những người Việt hải ngoại trong tay chẳng có gì, chống ?

Bởi vậy cho nên chúng ta có thể kết luận rằng chiêu bài “Xoá bỏ hận thù, Hoà Hợp Hoà Giải” của bọn Cộng Sản Hà Nội bây giờ được đề ra cũng không ngoài mục đích để hoá giải những nỗi khó khăn, những sự oán hận của dân chúng đang dâng cao chứ thực tâm chúng chẳng bao giờ chúng hoà hợp hoà giải hay đoàn kết gì cả. Không những thế, chúng còn luôn luôn gây căm thù, gây chia rẽ để dễ trị vì đó là chính sách của bọn chúng. Thực vậy, cứ mỗi lần bọn Cộng Sản Hà Nội đưa ra một chiêu thức nào đó, là y như rằng cộng đồng người Việt hải ngoại của chúng ta lại chia ra làm hai phe: phe ủng hộ và phe chống đối khiến cộng đồng chúng ta đã chia rẽ lại chia rẽ thêm.

Tóm lại, bọn Cộng Sản Hà Nội chỉ muốn chúng ta. những người Việt Quốc Gia chống Cộng, quên đi hận thù để chúng dễ dàng dẹp tắt những bất mãn của người dân đang manh nha nổi dậy và hoá giải được tất cả những gì bất lợi cho chúng, để chúng dễ dàng dụ dỗ những thành phần ngây thơ, nhẹ dạ nhưng có khả năng, có tài chánh, về nước để chúng dễ bề cướp đoạt. Chính Tạp Chí Cộng Sản do cơ quan Lý Luận và Chính Trị của Trung Ương Đảng Cộng Sản VN trong số phát hành vào tháng 5 năm 1990 đã viết: ” Đổi mới không phải là đổi hướng đi về phiá XHCN, mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện hiệu qủa bằng những quan niệm đứng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức , bước đi và biện pháp thích hợp”.

Thực ra thì đối với chúng ta, những người đã từng sống dưới chế độ Cộng Sản, nhất là những người đã từng bị Cộng Sản bỏ tù, chúng chẳng thể nào lừa bịp được chúng ta một lần nữa. Nhưng đối với những thành phần di tản tức những người chưa từng nếm mùi cộng sản, nhất là những thành phần trẻ, sinh sau, đẻ muộn lại có lòng yêu nước, thương nòi thì lại không phải là điều khó khăn đối với bọn chúng. Đây là điều mà chúng ta cần phải cẩn trọng, đừng vì qúa hăng say, đừng vì qúa căm thù mà vô tình xô đẩy họ về phía cộng sản.

Để kết luận bài này, xin nhắc lại lời của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn viết trong bài “Vài nét về văn học Trung Quốc sau Cách Mạng Văn Hóa” đăng trong Đặc San CVA Bắc Cali năm 1993 như sau: “Phê phán khuyết điểm để sửa đổi chế độ Cộng Sản là một việc làm vô vọng. Chỉ có xóa bỏ chế độ đó mới thật sự giải quyết được vấn đề của con người”. Cố Tổng Thống Nga Boris Yeltsin cũng nói:”Cộng sản không thể nào sửa chữa được, mà cần phải đào thải nó”. Cựu Tổng Thống Nga và hiện là Thủ Tướng cũng nói:”Kẻ nào tin những gì Cộng Sản nói là không có cái đầu. Kẻ nào làm theo lời Cộng Sản nói là không có trái tim”.

Chú thích
(1) Bài này được viết vào năm 1995 và đã được đăng trong Đặc San Chu Văn An Bắc Cali dưới bút hiệu Lê Nhân. Nay xin bổ túc và để tên thật.

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

VĂN HÓA XIN LỖI


Ở nước mình, xin lỗi là ghê gớm lắm. Mỗi lần phải xin lỗi cảm thấy như bị mất gì lớn lao, sợ mất chức, mất tiền, mang tiếng, nên ít người thích mở mồm dù phạm lỗi hai năm rõ mười. Văn hóa như thế nên thất thoát cả tỷ đô la, chả thấy ai “lấy làm tiếc”.

Trong khi Tây thấy chuyện xin lỗi rất tự nhiên vì họ đã quen như thế. Nhưng sống một thời gian trong môi trường ta thì đám mũi lõ mắt xanh cũng bắt chước.

Nhớ thời làm ở Hà nội, Tổng Cua quen anh bạn người Đức, giỏi tiếng Việt hơn cả người bản xứ. Hắn mà nói, nếu không nhìn mặt, thì không thể biết đây là Tây ăn rau muống. Rất lạ, hắn chửi tục cực kỳ, mở mồm là văng đ. nam., đ. bắc, mẹ… nghe ghê cả người. Góp ý thì lão nhăn răng “Đ. mẹ, mình không chửi trước thì đứa khác cũng đ. má mình thôi”.

Lần đầu sang VN, anh đi xe đạp, không may va vào một chân dài. Anh sorry rối rít thì người đẹp bản xứ nổi cơn tam bành “Tây đéo gì mà đi ngu thế”. Anh vội vàng “Xin em tha lỗi”. “Lỗi cái mẹ gì, đền cái quần giá mấy triệu bị bôi bẩn của bà đây”. Bị một bọn đầu gấu vây quanh, sợ bị đòn hội đồng, anh nghiến răng móc túi.

Rút kinh nghiệm lần sau đi chợ Hôm, anh không may chạm vai một tay lang thang. Biết mình có lỗi nhưng tay “Tây lai ta” này quắc mắt “Đi đứng kiểu mẹ gì thế”. Biết là động vào Tây cũng mệt, tay anh chị kia chuồn thẳng.

Từ đó anh suy ra, ở VN không cần xin lỗi. Cứ văng tục, chửi thề, dọa phủ đầu đối phương là dễ thoát nạn. Lịch sự có khi bị ăn đòn hay mất tiền. Có lỗi nhưng thấy đứa nào vạch lỗi của mình ra thì cho nó vào tù, đếm kiến vài năm, tha hồ học kiểu xin lỗi của đầu gấu.

Nói tóm lại, nhiều người không biết xin lỗi, không học được văn hóa xin lỗi và dạy luôn cả Tây thói xấu này.

Nhưng khi sang Tây thì dân ta quá lịch sự, chuyện không có gì mà xin lỗi tới cả chục lần, do môi trường văn hóa chăng.

Có chuyện vui thế này. Dành cho các bạn biết tiếng Anh vì trò chơi chữ : too – two, for – four, sick – six, then – ten. Phần dịch tạm dành cho các bạn IT English – i tờ tiếng Anh.

Ông Việt Nam mới học tiếng Anh vô tình đụng phải ông Tây trong metro nên nói: “I’m sorry – Xin lỗi”, ông Tây cũng lịch sự: “I’m sorry too – Tôi cũng xin lỗi”.

Ông Việt Nam nghe xong vội vàng: “I’m sorry three – Tôi xin lỗi ba lần”, ông Tây nghe thấy lạ quá hỏi: “What are you sorry for? – Anh xin lỗi về cái gì chứ”.

Ông VN làm luôn: “I’m sorry five – Tôi xin lỗi năm lần”. Ông Tây lo lắng hỏi ông Việt Nam “Sorry, are you sick – Xin lỗi, ông có ấm đầu không”.

Ông VN vẫn thản nhiên “I’m sorry seven – Tôi xin lỗi bẩy lần”.

Ông Tây tức lắm trợn mắt hỏi “Sorry, do you intend to count to eight? – Xin lỗi, ông định đếm đến tám chắc”. Ông Việt Nam kiên nhẫn “I’m sorry nine – Tôi xin lỗi 9 lần”.

Ông Tây ngọng luôn “Sorry, then..then…- Thế thì, thế thì”. Ông Việt Nam vớt vát “I’m sorry eleven…- Tôi xin lỗi 11 lần”.

Lão Tây phải ngừng. Nếu tiếp tục hỏi thì có lẽ tay VN này sẽ sorry hundred…

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

Câu chuyện người đàn bà quyền lực
Mới đây, báo Hong Kong rộ lên thông tin về một phụ nữ tên là Lý Vi, người được mệnh danh là "Nữ hoàng gái bao".

Bà Lý vừa chuyển sang định cư tại Hong Kong sau khi các bê bối liên quan tới quan hệ tình ái của bà với một loạt các quan chức cao cấp hàng đầu Trung Quốc vỡ lở tại Hoa lục.

Tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng số cuối tuần rồi có bài của ký giả Simon Parry nói về nhân vật gây chú ý này:

Bên ngoài một biệt thự xây kiểu cổ điển nhưng không kém phần lộng lẫy tại thành phố duyên hải Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông, môt đám thanh niên cười nói, chụp ảnh lưu niệm, đôi người nhón chân nghểnh cổ chiêm ngưỡng cảnh trí bên trong.
Image
Đây là biệt thự của nữ tỷ phú Lý Vi, người nổi danh vì các quan hệ với đàn ông có chức quyền.
Một trong số khách tham quan, cô Lili, nữ thư ký 24 tuổi, trầm trồ: "Bà Lý cho thấy là ở Trung Quốc phụ nữ cũng có thể có quyền chẳng kém đàn ông. Tôi ước sao tôi có thể mạnh mẽ như bà ấy".

Từ tay trắng, không đồng xu dính túi, trở thành tỷ phú, Lý Vi có ba "bí quyết": bà là phụ nữ, bà kiếm tiền bằng quan hệ với ít nhất 15 tình nhân có thế lực trong thế giới kinh doanh và trên chính trường; bà trốn thuế và tham nhũng.

Mỗi khi tình nhân của bà bị vướng vòng lao lý, lại một lần Lý Vi ra tòa làm chứng chống lại các vị chồng hờ.

Thế nhưng cuối cùng bà cũng phải ngồi tù bốn năm, và mới được trả tự do đầu năm nay để bắt đầu cuộc sống mới có phần tĩnh lặng hơn tại Hong Kong.

Thật may là bà còn giữ lại được phần lớn của cải.

Gây chấn động

Câu chuyện của Lý Vi rọi tia sáng vào giới quan tham khủng khiếp ở Trung Quốc và khi được tạp chí có uy tín Tài Kinh đăng tải, nó đã gây chấn động dư luận.

Tạp chí này tiết lộ tên tuổi một loạt tình nhân có thế lực của Lý Vi, nhưng nhật ký của bà có lẽ còn chứa đựng nhiều cái tên quan trọng hơn.

Không thể đầu tư vào quan hệ với riêng một người, mà cần có mạng lưới quan hệ càng rộng càng tốt, như một chiếc ô vậy.

Lý Vi
Số báo đăng chuyện Lý Vi nhanh chóng bị tịch thu và nội dung online bị xóa bỏ, thế nhưng những người mau mắn đã kịp lưu lại và truyền tay nhau câu chuyện nghe như tiểu thuyết của người đàn bà sinh ra ở Việt Nam.

Lý Vi được cho là không thực sắc nước hương thành, nhưng ăn mặc khêu gợi và dày dạn kinh nghiệm tình trường.

Bà cũng là một chủ nhà khả ái, có tài tổ chức những cuộc tiếp tân linh đình cho giới có tiền và có địa vị, nơi người ta không chỉ gặp mặt, trò chuyện, giải trí, mà còn khép lại những phi vụ nhiều triệu đôla.

Sinh ra tại Việt Nam năm 1963, Lý Vi cùng cha mẹ chạy sang Vân Nam, Trung Quốc, năm 1970 khi bà có bảy tuổi.

Tại đây, cô thiếu nữ họ Lý bắt đầu khởi nghiệp bằng nghề buôn bán thuốc lá và từng bước gây dựng mạng lưới quan hệ của mình.

Một trong những người tình đầu tiên của Lý Vi là Trịnh Thiếu Đông, một quan chức Bộ Nội vụ đã có vợ con.

Ông này giúp bà Lý và các chị em bà lấy hộ khẩu và căn cước để có thể đi lại làm ăn dễ dàng giữa Hong Kong và lục địa.

Những năm 1990, bà Lý cưới một quan chức địa phương chuyên trách về ngành thuốc lá, người đã giới thiệu bà với ông Lý Gia Đình, tỉnh trưởng Vân Nam, hơn bà 20 tuổi.

Tạp chí Tài Kinh viết rằng khi chứng kiến ông tỉnh trưởng tặng cho người tình cũ một chiếc thuyền trị giá sáu triệu Nhân dân tệ, Lý Vi mới hình dung ra làm 'vợ bé' cho quan lớn thì lợi hại thế nào.
Image
Đỗ Thế Thành, cựu bí thư Thanh Đảo, một trong các người tình của Lý Vi
Chẳng bao lâu sau, quan tỉnh trưởng bỏ tình nhân, cặp bồ với bà Lý.
Kể từ đó, quan hệ với Lý Gia Đình được người phụ nữ quyến rũ này nhanh tay chuyển thành hợp đồng và tiền bạc. Có tin đồn rằng bà cũng cặp bồ với Lý Bột, con trai ông tỉnh trưởng.

Thế nhưng năm 2001, ông Lý bị bắt bỏ tù vì tội ăn hối lộ. Lý Vi cũng bị bắt thẩm vấn, nhưng được thả.

Bà đúc kết ra một kinh nghiệm là "không thể đầu tư vào quan hệ với riêng một người, mà cần có mạng lưới quan hệ càng rộng càng tốt, như một chiếc ô vậy".

Ô dù lớn

Những năm Thanh Đảo phát triển mạnh nhờ vị trí khá thuận tiện cho việc đi lại từ Bắc Kinh và Thượng Hải cũng là thời gian Lý Vi quan hệ với người quyền thế nhất thành phố: Bí thư Thành ủy Đỗ Thế Thành.

Bí thư Đỗ là người nổi tiếng lỗ mãng và nóng nảy, nhưng lại nhanh chóng siêu đổ trước hấp lực của người phụ nữ họ Lý.

Ông đã giúp bà mua nhiều bất động sản giá hời ở thành phố du lịch đang phát triển nhanh chóng này.

Một nhân viên chính quyền Thanh Đảo thời đó kể lại: "Ông Đỗ mê bà ta như điếu đổ, bà nói gì ông cũng làm. Thực ra ông ta không thông minh lắm nên suy tính chuyện gì cũng là nhờ bà ta cả".

Với chiếc ô của ông Đỗ, Lý Vi trở nên nhà đầu cơ địa ốc số một Thanh Đảo, với các dự án như sân vận động thể thao nước Thanh Đảo, bến đỗ thuyền hạng sang và khu dịch vụ mua sắm theo mô hình Darling Harbour ở Sydney.

Các hợp đồng đầu tư, phát triển bất động sản mang lại cho bà hàng tỷ đôla, và tất nhiên, bà cũng rộng rãi "lại quả" cho người tình.

Sau này, bà Lý khai đã đưa ông Đỗ nhiều khoản tiền từ 200.000 tới một triệu tệ trong thời gian 2003-2006.

Thế nhưng Lý Vi không dừng ở đó, mà bước tiến tiếp với một số tình nhân giàu có và thế lực khác, trong đó phải kể tới Trần Đồng Hải, Chủ tịch tập đoàn dầu khí Sinopec.

Thế nhưng bà không trung thành với bất kỳ ai.

Khi ông Đỗ, rồi ông Trần bị bắt ra tòa vì tội tham nhũng thì bà chính là người khai báo các thông tin góp phần khiến các ông này phải ngồi tù.

Có lẽ đây cũng là lý do giảm tội cho bà trong các vụ rắc rối mà bà bị liên quan.

Bí quyết

Người ta vẫn còn đồn đoán bí quyết quyến rũ quan chức của Lý Vi là gì vì ở Trung Quốc chắn chắn có nhiều phụ nữ đẹp hơn bà.
Image
Lý Vi trên bìa tạp chí Tài Kinh
Có lẽ bà thông minh và xảo trá hơn chăng?

Có người thì cho rằng "tài năng" của Lý Vi nằm ở chỗ bà biết suy nghĩ và hành động như một người đàn ông.

"Bà ấy dùng nữ tính để quyến rũ tình nhân, nhưng khi quay sang sử dụng quan hệ thì Lý Vi hành xử như một ông quan chức lắm mưu đồ."

Không bị lên án, ngược lại, Lý Vi lại trở nên nhân vật được nhiều phụ nữ ngưỡng mộ, phần nào vì đã "trả thù" được giới đàn ông có tiền nhưng mèo mỡ.

Thống kê những năm gần đây cho thấy có tới 90% quan chức Trung Quốc đang bị điều tra tham nhũng là có bồ bịch.

Mao Trạch Đông từng có nhiều bồ trẻ, người kế nhiệm ông sau này là Giang Trạch Dân mới đây cũng bị đồn có cô nhân tình là ca sỹ kém ông 40 tuổi.

Văn hóa "vợ nhỏ" tồn tại ở Trung Quốc xưa nay và chắc còn tiếp diễn.

Nhưng trường hợp Lý Vi cho thấy, các cô vợ bé nay không còn yên phận thủ thường mà ngày càng chủ động tìm cách kiếm chác chia phần gia tài của các ông hám của lạ.

Mới đây, Hiệp hội Vợ bé Trung Quốc đã được thành lập với diễn đàn trên mạng chia sẻ kinh nghiệm hành xử với các đức chồng hờ.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

CHỬI HAY

Kathy Trần


Miền Bắc là cái nôi cuả văn hoá Việt Nam.
Ca dao, tục ngữ, thơ phú miền Bắc đều bắt nguồn trước nên phong phú và trau chuốt hơn miền Trung và miền Nam dù miền Trung đã một thời là kinh đô triều Nguyễn cuối cùng.Ta nghe anh chàng Hoài Linh hay cô Hồng Đào “chửi xoen xoét” mà lại vui tai, thích thú hơn nghe các cô ca sĩ hạng nhì hát nhiều. Mà có phải tại người chửi có chất giọng hay gì cho cam, người ta chửi hay vì người ta có nhiều vốn liếng ngữ vựng, có óc tưởng tượng, biết cách xếp đặt câu chửi trở thành bài bản văn vẻ, vần điệu.
Tiểu muội đã nói tới các bà Bắc Kỳ chửi hay.

Các bà chửi hay vì các bà chửi nhiều, các bà có dịp “trau dồi nghiệp vụ” đều đều.
Ngoài Bắc đất đai cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt, dân chúng nghèo khó nên dễ đụng chạm quyền lợi, dễ thành xung đột. Bản tính nhiều bà lại chua ngoa, đanh đá hơn các bà Nam kỳ tuy dữ thiệt nhưng lại phổi bò, chửi ào ào cho xong để còn qua chuyện khác, “Sức đâu ở không chửi hoài?”

Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh.

Ngoài Bắc hồi xưa có nghề đi đòi nợ mướn. Mấy người hành nghề này được gán cho tên “Mấy mụ nặc nô”.
Mấy mụ nặc nô này chuyên môn tới nhà con nợ, chửi bới, nằm vạ, phá hoại, ăn ị ra tại nhà khổ chủ cho tới bao giờ khổ chủ chịu không thấu phải lạy van, cầm bán cả đồ đạc, gà, chó, con cái đi để trả nợ.
Có điều hình như nghề chửi của mấy mụ nặc nô chả thấm thía gì với những người dân trong “nếp sống văn hoá mới” của XHCH.
Một bà Bắc Kỳ- Hà Nội, nổi tiếng lừng lẫy hiện nay, nổi hơn cả chủ tịch Nông Đức Mạnh hay cả ông tướng Võ Nguyên Giáp. Ông tướng một thời được giao chức vụ “quản lý” dân số và được chị em khen ngợi:

Ngày xưa đại tướng cầm quân,
Ngày nay đại tướng cầm ...quần chị em!

Hai câu “ca dao thời đại” đó chẳng là hai câu chửi thần sầu à?
Đại tướng gì mà cứ khư khư cầm cái giải rút của chị em? (ngoài Bắc xài giải rút, không có dây thun như trong miền Nam)
Đại tướng nghe được chắc cũng ê chề, tê tái cõi lòng.
Và Trời đất ơi! Tiểu muội tin bằng chết rằng đó là tác phẩm đắc ý cuả một bà Bắc kỳ nào đó lúc đang bị ẩn ức vì bị... đại tướng Võ Nguyên Giáp đang cầm quần bà, không cho bà thoải mái... đẻ. Các bà vẫn bị khoá chặt vào cái nguyên tắc ba khoan mắc dịch truyền lại từ thời “Bác”còn sinh tiền: Khoan Yêu, khoan cưới và khoan đẻ !

Độc đáo nhất là sau bao năm ở với “Bác và Đảng”, được hưởng lối giáo dục “Trăm năm trồng người” để trở thành “Con người mới cuả XHCH”, các bà trở thành nổi tiếng lẫy lừng về tài ăn nói sống sượng, trắng trợn và bẩn thiủ mà những người sống và lớn lên dưới “chế độ Mỹ, Nguỵ” cuả chúng ta chào thua cả nón, nghe các bà chửi là lùng bùng lỗ tai!
Bà Bắc Kỳ Dương Thu Hương lúc đầu nổi tiếng về cuốn tiểu thuyết “Thiên Đường Mù” trong đó nhục mạ Việt Nam Cộng Hoà bằng cách cho trinh sát ta hiếp dâm các “chị em đồng chí gái”, sau đó lại còn cắt vú và các bộ phận sinh dục quăng đầy trong rừng (!).

Bà Bắc Kỳ này lúc đó đầu óc còn đỏ chét, đặc sệt nên viết sặc mùi tuyên truyền và ngu thấu trời.
Bà làm như trinh sát ta đi vào rừng Trường Sơn trong vùng địch cả mấy chục người một lượt (?) thong thả, khoẻ re như cưỡi xe đi chơi ...xa lộ để hưỡn hưỡn, điên điên làm chuyện... hiếp dâm rồi xẻo quăng tùm lum cuả tới 5, 6 chị em bộ đội (?).

Bà nói bà đi theo toán quân
“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,
Mà lòng phơi phới ngập tương lai..”

Vậy mà không cần biết tới điều kiện tối thiểu cuả trinh sát là tình báo, thu lụm tin tức, phải bảo mật tuyệt đối, không được tiết lộ một tí ti hình tích, sơ hở một chút là ...tiêu!
Điên điên mà làm những việc như bà tưởng tượng và gán cho các trinh sát ta là ồn ào tự sát rồi còn gì?
Nhưng thôi, đó là chuyện ngày xưa, khi bà còn chui rúc trong rừng, còn được “soi sáng dưới ngọn đèn chỉ đạo cuả đảng” còn “sáng mắt, sáng lòng” để nhắm mắt làm nhiệm vụ ca ngợi “Bác và đảng”.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, bà chui được vào miền Nam và bật ngưả khi thấy sự phồn vinh, nền văn hoá, tinh thần văn minh, lịch sự và sự lễ độ, ngôn ngữ có giáo dục của các em học sinh miền Nam.
Bà đau quá vì thấy mình bị lưà to.
Nỗi đau cuả bà chắc cũng bằng nỗi đau cuả nàng Kiều khi mắc lưà Thúc Sinh.

Bà là người thái quá nên cái gì cũng thái quá.
Lúc trước bà chửi lính ta, bà nhắm mắt, muá bút chửi không cần suy nghĩ, không cần đúng sai.
Bây giờ, bà cay cú vì bị lừa gạt cả cuộc đời thanh xuân để phục vụ một chế độ độc tài, hà khắc, hại dân, hại nước.
Bà tức mình, cay đắng, chua chát, thù hằn “Bác và đảng” hơn nên cách chửi cũng hung hăng, trắng trợn, cay cú và độc hại hơn.
Điều ngon lành cuả bà là sau khi mở mắt vào ngày 30/4/75 bà đã sáng suốt nhận ra con đường “Bác (dẫn bà) đi” là... con đường “bi đát”.
Khi biết bị lưà vào con đường sai bét, bà có đảm lược dám nói những gì mình nghĩ.

Tuyệt vời nhất, bà có ngòi bút cay độc, sống sượng và sắc bén coi bộ cả đảng với biết bao văn nô cũng không chống đỡ nổi những khi bà tung chưởng mịt mù trời đất, chửi bằng đủ những ngôn từ thô tục để trả thù.
Bà là người khôn ngoan, đấu ngang ngửa hay còn cao tay cả cái nhà nước với bộ chính trị cuả VC. Bà là người Cộng sản chửi Cộng Sản một cách bình dân, trắng trợn và hay không đối thủ.

Mỹ có câu nói về thế lực đồng tiền:
“When money talks, everybody listens”.
Câu này áp dụng vào trường hợp cuả bà là hết xẩy.
Khi bà chửi, mọi người dỏng tai nghe.
Đảng ta và các văn nô, báo... hại cuả “nhà nước” nghe để... chửi lại, để chống đỡ, để tìm cách hạ nhục bà.
Hơn nữa, còn phải nghiên cứu kỹ lưỡng để vạch lá tìm sâu, để chụp mũ, để kết án, để bỏ tù và nếu có thể để ... “Chẹt chết”, gây tai nạn xe cộ như ngày nào “Bác” thông đồng với Trần Quốc Hoàn dựng màn kịch tại nạn xe cộ “chẹt chết” cô Nông Thị Xuân, người tình, mẹ cuả cậu Trung, con đẻ cuả Bác!

Không ai biết ta bằng mình!
Không ai hiểu người Cộng Sản hơn người Cộng Sản !
Không ai chửi Cộng Sản đúng hơn, hay hơn, sâu sắc hơn , cay độc hơn người Cộng Sản !

Người ngoài nghe bà chửi để tìm được những điều thuộc tuy chưa thuộc về “thâm cung bí sử” nhưng cũng đầy chi tiết thích thú, hay ho bởi vì bà ở ngay trong lòng VC, bà hiểu họ như hiểu chính bà.
Bà là nạn nhân trực tiếp nên bà biết rõ, bà chửi đúng chỗ, đúng người, bà chửi thật, chửi thẳng.
Hãy nghe bà chửi:

“Triều đình CS là triều đình duy nhất cho tới nay, dạy con gái, con dâu vu khống cha hiếp dâm, dạy con trai chỉ vào mặt bố “đả đảo thằng bóc lột”, dạy láng giềng tố cáo điêu chác, đâm chém, dầy xéo mồ mả của nhau... Khi con người đã đủ can đảm vu khống, nhục mạ ngay bố mẹ đẻ cuả mình thì họ thừa sự nhẫn tâm để làm những điều ác gấp ngàn lần thế với tha nhân....
“Cả những người còn đang bảo vệ đảng CS cũng phải lên tiếng chửi ruả nhà cầm quyền là kẻ đểu cáng, tán tận lương tâm...
“Đòi hỏi nhà nước CHXHCN Việt Nam chơi đàng hoàng,đúng luật, biết tự trọng và liêm sỉ thì cũng hoang tưởng như tin Chủ nghiã Cộng Sản khoa học cuả ông Lê-Nin vậy.
“Ở nơi nào những hệ tự tưởng tự cho phép chúng là kim chỉ nam cho lương tâm nhân loại, là thứ duy nhất đúng để dẫn dắt con người tới một “ngày mai tươi sáng”, ở đó,cuộc sống đích thực cuả con người phải bị diệt vong..
“Những xứ sở mà kẻ lãnh đạo cố tìm cách giam dân chúng trong sự ngu dốt, sợ hãi, cô lập tinh thần để chúng mặc sức bóc lột họ và tàn phá tài nguyên quốc gia một cách có tính toán và thành hệ thống những khoản tiền lớn chuyển ra nước ngoài...”

Bà sống và “tiếp thu” chữ nghiã XHCN, cuả “nếp sống văn hoá mới” nên những “từ” trắng trợn, được bà tuôn ra chửi rủa rất tự nhiên, rất nhuyễn, rất “chỉnh” nên bà chửi tục ro ro, không ngượng ngập, nghe thật kêu, thật đã lỗ tai.

Khuôn mặt các lãnh đạo VC dưới mắt bà:
“...nhân cách một trong các bậc lương đống triều đình các ông chỉ là loài đểu giả, tâm tính hiểm ác, vô luân.”
Và cách đối xử cuả nhà nước với một người đàn bà:
“Bộ nọải vụ cuả CS đã nhiều lần cử những thằng thanh niên đến tìm cách ve vãn tôi và chờ cơ hội đến để họ có thể quay phim, chụp ảnh làm nhục tôi. Trong xã hội Việt Nam, hình ảnh một người đàn bà làm tình với một người đàn ông thì đó là cách đào mồ hay nhất để chôn sống một người đàn bà. Không những chôn mà còn nhục mạ cả gia đình người đó nữa...
“Thiếu tướng Quan Phòng và Trung tướng Dương Thông đã gán cho tôi tội gián điệp, bán bí mật quốc gia cho nước ngoài. Họ còn sỉ nhục tôi khi nói rằng tôi có cuộc sống trụy lạc với ông Bùi Duy Tâm. Họ bảo rằng tôi với ông Tâm làm tình trên cạn, làm tình dưới nước như chiếc xe tăng, vừa bò trên cạn, vừa lội dưới nước. ... Một đảng viên đã phải thốt “Đảng không còn việc gì làm nữa mà rúc vào cái khu cuả người đàn bà hay sao?” Đến bấy giờ các quan chức CS mới tỉnh ngủ mà ngưng nhục mạ tôi”.

Lãnh đạo như vậy, Cán bộ như vậy và Đảng như vậy thì còn gì không đáng cho bà chửi?

Ông Dương... Thông vô phúc đụng tới bà Dương... Thu Hương thì ông phải trả món nợ máu kinh khủng còn thiếu bà:
“Trong cuộc gặp Dương Thông, kẻ đại diện cho quyền lục của CS, tôi thấy thật là thảm hại. Nhất là về kiến thức thì phải nói tất cả các hạng người này chúng nó chỉ biết nói những lời viết sẵn trên giấy tờ chứ không bao giờ nghĩ được câu gì từ trong óc não chúng nó... Tôi nói thẳng vào mặt Dương Thông: “Ông là một con điếm, con điếm bán mình theo hạng tồi tàn nhất ở viả hè bán mình năm xu...” Khi tôi nói thế, mặt Dương Thông thâm tím lại, người run bắn lên. Bản mặt ấy đã từng đưa hàng trăm người vào nhà tù, khiến hàng vạn người lo sợ. Thế mà lúc đó thâm tím lại. Tôi bảo: “...Trước khi gặp ông, người ta đồn ông ghê gớm lắm, nhưng bây giờ, tôi thấy mặt ông giống bộ phận sinh dục cuả một con ngựa già, vừa tăm tối, vừa nhơ nhuốc. Tôi không ngờ kẻ làm nghề công an chuyên đàn áp người khác mà lại run rẩy như vậy...”

Người CS chửi người CS đã hay, người Bắc CS chửi lại càng xuất sắc nhưng chửi kiểu ... huỵch toẹt như bà thì tiểu muội chưa hề thấy. Nghe thiệt đã đời!
Nhưng đến chỗ bà so sánh mặt ông Dương Thông với “cuả” con ngựa già thì tiểu muội đành không đồng ý với bà.
Bà so sánh vậy tội nghiệp cho... con ngưạ quá!
Con ngựa già nó chỉ già chứ có làm gì nên tội mà bà nỡ so sánh với bản mặt ông Dương Thông, kẻ thù cuả bà, kẻ đã hãm hại bao nhiêu người vô tội, kẻ vô liêm sỉ, kẻ có chức quyền cuả nhà nước ta?
Bà nói vậy tội chết!

Bà chửi nghe đã lỗ tai thật. Cứ tưởng tượng bà vừa xỉ vả, xiả xói vừa nhẩy lên đong đỏng, vỗ bôm bốp trước mặt Dương Thông.
Mà đừng tưởng bà là người không được giáo dục đàng hoàng nhá.
Hãy nghe bà kín đáo khoe nề nếp gia phong cuả bà:
“Xưa kia, bố tôi cho rằng: Bỏ chồng là điếm nhục gia phong... Thế nên bằng mọi cách, ông bắt ép tôi phải quay về với người chồng cũ. Và dù tôi đã thành thân, đã có hai đứa con, đã thành người viết văn, đã kiếm được tiền để thêm vào nuôi ông và gia đình, bởi lương hưu cuả ông rất thấp, bố tôi vẫn quỳ gối, quay mặt vào tường rồi làm kiểm thảo đọc trước mặt ông và họ hàng... Những cuộc kiểm thảo kéo dài hơn hai năm, liên miên, không mệt mỏi...”
Nghe bà kể chuyện mà tưởng đang xem tiểu thuyết cuả Nguyễn Công Hoan thời tiền chiến!

Bà đang hăng, thừa thắng xông lên chửi nên có những điều bà nói nghe hơi ngược đời. Chẳng hạn bà nói ông Bùi Duy Tâm về Việt Nam:
“Ông Tâm đã lấy xe cuả ông Thông để gặp bà Nguyễn Thị Định, đến bộ Tổng Tham Mưu để bàn việc bán các kho vũ khí Long Thành. Có nghiã là ông Tâm đã gặp tất cả những người cầm quyền cao nhất xứ sở này...”
Chà chà, kho vũ khí Long Thành! Hồi xưa, khi ba tiểu muội về hưu, cụ mua một miếng vườn ở Long Thành, gần trường Thiết giáp nhưng tiểu muội không biết có kho đạn ở đó không? Chỉ nghe có kho đạn Long Bình.
Vụ nổ kho đạn Long Bình sau 1975 đã làm những người dân Sài Gòn sung sướng, hồi hộp, nôn nóng ao ước, khắc khoải đợi chờ vì tưởng quân ta kéo về lấy lại thủ đô!

Mà dù có kho vũ khí Long Thành đi nữa thì sau gần 30 năm được “nhà nước ta tiếp quản”, kho vũ khí mà ăn được thì đã bị chia chác, ăn hết nhẵn. Nếu không ăn được mà bán được thì... tham nhũng cũng đã tìm cách “móc ngoặc”để tuồn ra bán cho ...Cambodia hay cho ...Tầu khi họ đánh nhau với nhà nước ta, kho vũ khí cũng chẳng còn. Nếu không làm gì được, đành để đấy thì vũ khí cũng hư hỏng, gỉ sét, ông Tâm lấy ở đâu và tư cách gì bán cho ...những người cầm quyền VC?
Giá bà nói ông Tâm chạy affair, chào bán vũ khí ông ...lụm được cuả Mỹ ở đâu đâu bên ...Tây đem về bán cho VC nghe còn có lý hơn.
Nhưng mà thôi, bà chửi hay và sướng tai bắt chết, có sai sót tí tỉnh cũng ... chẳng sao.
Chỉ có điều, mỗi khi nghe bà khoái chí đại ngôn... chửi nhà nước cuả bà thì mình cũng nên cẩn thận, suy nghĩ chút đỉnh.

***
Đừng tưởng chỉ các bà biết chửi, các ông Bắc Kỳ dưới XHCH cũng chửi ra gì lắm. Chẳng qua chỉ vì theo đúng tục ngữ ta:
- Đi với bụt mặc áo cà-sa, đi với ma mặc áo giấy.
Ở với “nhà nước ta” mãi, có là thánh cũng phát điên lên mà chửi um lên.
Hãy xem “Ông Nhà nước ta”, những người tự phong “đầy tớ nhân dân” phát biểu xanh dờn:
- Ông là đầy tớ nhân dân, ông không ham chức quyền, ông chỉ ham phục vụ, ông quyết làm đầy tớ nhân dân cả đời. Đứa nào dám ngăn không cho ông phục vụ nhân dân, ông đánh bỏ mẹ!
Ông nhà nước cương quyết phục vụ nhân dân nhưng “nhân dân” thì cứ dẫy nẩy, bảo rằng không cần được phục vụ kiểu đó.
Gần đây nhất, trong phong trào tranh đấu cho nhân quyền, Hoà thượng Quảng Độ, Linh mục Nguyễn Văn Lý, cụ Lê Quang Liêm, ông Hoàng Minh Chính, luật sư Lê Chí Quang đều đồng thanh phản đối và điểm mặt “nhà nước ta” bằng những câu rất tới:
- Phản đạo lý nhân văn, vu khống trắng trợn...
- Mất dây thần kinh liêm sỉ
- Toà án dù bị nhân dân phản đối vẫn cứ im tịt, điếc đặc.
- Bạo tàn và độc tài hơn cả Phát Xít và Hít-le!
Còn những lời chửi nào đúng hơn nữa chăng? Chắc phải chờ nghe bà Dương Thu Hương chửi tiếp.

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Image

Niềm Vui Nho Nhỏ Trong Cuộc Sống
Biết tận hưởng những niềm vui nhỏ trong cuộc sống: đó là một trong những bí quyết của hạnh phúc.
Người Nhật Bản thường kể câu chuyện như sau:

Một người đàn ông nọ đi qua một cánh đồng, thình lình bị cọp đuổi theo
Và anh ta chạy bán sống bán chết mà vẫn không tìm ra chỗ dung thân.
Anh chạy mãi để rồi cuối cùng thấy mình đứng bên bờ vực thẳm.

Phía sau lưng, con cọp vẫn không buông tha.
Không còn biết làm gì nữa, người đàn ông phải lấy sức để đu lên một cành cây bắc qua vực thẳm.
Nhìn xuống dưới thung lũng, anh ta lại thấy một con cọp khác cũng đang nằm chờ chực.

Người đàn ông đáng thương chỉ còn niềm hy vọng duy nhất: đó là nằm chờ đợi cho đến khi hai thú vật mệt mỏi và chúng lần lượt bỏ đi...

Chờ đợi trong lo sợ vẫn là cực hình lớn lao nhất đối với con người. Giữa lúc anh ta đang phải chiến đấu với sợ hãi và mệt mỏi, thì tình cờ bỗng có hai con chuột bỗng từ đâu xuất hiện trên chính cành cây anh đang đu vào.
Hai con vật bắt đầu gặm nhấm lớp vỏ xung quanh cành cây.

Bình thường, chuột là một trong những loài thú mà anh gớm ghiếc nhất vì sự dơ bẩn của nó.
Tiếng kêu của nó cũng là một âm thanh làm cho lỗ tai anh khó chịu.

Thế nhưng, trong cơn sợ hãi tột cùng này, người đàn ông bỗng nhìn thấy hai con chuột thật đáng yêu.
Những hàm răng mũm mĩm của chúng trông dễ thương làm sao!

Tiếng kêu của hai con vật cũng trở thành một âm thanh êm dịu hơn tiếng gầm thét của hai con cọp.

Giữa lúc anh đang theo dõi từng động tác của hai con chuột, thì một con chim bỗng từ đâu bay lại, thả rớt trên cành cây một trái dâu rừng. Anh đưa tay nhặt lấy trái dâu và thưởng thức hương vị ngọt ngào của trái rừng bỗng nên thơ đáng yêu lạ lùng
Bí quyết của hạnh phúc cũng chính là biết đón nhận những niềm vui nhỏ trong cuộc sống mỗi ngày.

Có những ngày tù đày, chúng ta mới thấy được giá trị của hai chữ tự do.
Có sống xa gia đình, chúng ta mới nhung nhớ những ngày sống bên những người thân.

Có những lúc nằm quằn quại trên giường bệnh, chúng ta mới thấy được giá trị của sức khỏe.

Cuộc sống của chúng ta tràn ngập những niềm vui nhỏ mà chỉ khi nào mất đi, chúng ta mới cảm thấy luyến tiếc.
Bạn đồng ý chứ , chúng ta hãy tận hưởng những niềm vui nho nhỏ hàng ngày trong cuộc sống bạn nhé !

Sưu tầm

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Văn Quang, người viết được nét còn lại của chữ ‘Nhân’

Du Tử Lê

Thời điểm 1954, khi cuộc phân chia đất nước diễn ra, rất nhiều nhà văn trẻ, từng cầm bút trước hiệp định Genenva, ở miền Bắc, di cư vào Nam.
Trong số này, chúng ta không có nhiều nhà văn sớm có tiểu thuyết được các báo hàng ngày chọn đăng như trường hợp Văn Quang.

Image
Nhà văn Văn Quang. (Hình của NPK)

Cũng vậy, trả lời câu hỏi khác về sức ép, lương tâm của một nhà văn khi nhân vật chính của mình là người lính? Nhà văn Văn Quang đã thẳng thắn cho thấy quan niệm của ông về văn chương như sau:

Với ông, khi viết về cái tốt hay cái xấu, đều khó như nhau. Viết về một nhân vật tốt quá, nhân vật sẽ trở thành ông thánh. Viết xấu quá, có thể sẽ chỉ tỏ rõ lòng thù hận không đáng có. Cả hai trường hợp đều không thật.

Ðể rõ hơn, quan điểm của mình, nhà văn Văn Quang giải thích, khi chúng ta đặt ra một vấn đề nào, nó luôn có hai mặt. Mặt phải và mặt trái. Thí dụ nói đến đời sống quân nhân, nói đến sự hào hùng, anh dũng, tình yêu quân ngũ, tình yêu đồng đội không thôi, chưa đủ... Nó phiến diện. Theo ông, một quân nhân không phải là một ông thánh. Cũng chẳng là một thầy tu! Không ai hoàn hảo. Cho nên vẫn có những cái không tốt, hay nói trắng ra là những cái xấu. Cái xấu tầm thường và bình thường của mọi con người. Như lòng ganh ghét, đố kỵ. Sự hợm hĩnh, kiêu ngạo...

“Vậy nói bao nhiêu, nói thế nào cho đúng?”

Ông tự đặt câu hỏi, cho mình. Ðó là một thứ áp lực của lương tâm người cầm bút. Ông nói, ông đã hết sức cố gắng gạn lọc để nói được một phần nào sự thật. Phần nào “mặt trái” trong tác phẩm của mình.

Ðiển hình, như trong tiểu thuyết “Chân Trời Tím,” bên cạnh những nhân vật như Phi, như Ðiền, ông còn có nhân vật khác, như ông Minh. Ông cũng đã đề cập nói sự kiện quân đội bị lôi kéo vào những chuyện có tính chính trị, phe phái. Trong một cuộc đảo chính giữa các phe phái trong quân đội, dẫn tới thảm trạng “quân ta bắn quân mình!” Ông khẳng định:

“Quân đội không phản bội ai cả! Chỉ có những người lợi dụng quân đội mà thôi.”

Nhưng:

“...Tuy nhiên, tôi cũng thành thật thú nhận rằng, áp lực này luôn đè nặng lên tâm tư người cầm bút. Ðôi khi đặt một vấn đề nặng quá sẽ làm mình ân hận. Ðặt nhẹ quá thì không đủ. Áp lực đó sẽ là lâu dài...”

Tôi không biết có phải vì cuộc chiến “không tiếng súng” là cuộc chiến cân não giữa nhu cầu hiện thực và trách nhiệm của một người nhà văn trong hoàn cảnh phức tạp, tế nhị của một đất nước chiến tranh - Như phần đất miền Nam tự do - Khiến tác giả “Chân Trời Tím” phải thú nhận ông luôn bị một sức nặng vô hình, sức nặng nghìn cân treo lửng đâu đó, trước ngòi bút của ông?

Cái ý thức và trách nhiệm kia, ở nơi Văn Quang, qua hầu hết những tác phẩm viết về người lính miền Nam, cho thấy ông không hề là nhà văn như một thứ “Thượng đế!” một “Ông trời” ban phước, giáng họa cho nhân vật của mình. Ông cũng không cho thấy sự lạm dụng cái quyền lực... ảo, mà ngòi bút đem lại. Ðể cùng lúc, đóng cả hai vai, “khai sinh/khai tử” nhân vật.

Sự kiện nhà văn cùng lúc đóng cả hai vai khai sinh và, khai tử nhân vật của mình, vốn thường thấy nơi những nhà văn viết tiểu thuyết dạng feuilleton, tức viết từng ngày cho các báo, từ Ðông qua Tây.

Sự kiện này cũng thường thấy nơi những tác phẩm viết về chiến tranh. Nhất là khi mảnh đất mà cuộc chiến đó diễn ra, lại như một bàn cờ, một sa-bàn được điều khiển... từ xa! Ðể trắc nghiệm một quan niệm chiến lược, chiến thuật mới! Ðể kiểm chứng hay điều chỉnh một chủ thuyết chính trị! Ðể đo lường những hiệu quả súng, đạn mới! Thử thách sáng kiến... “tiền đồn!” Trường hợp này, sinh mạng người lính (cũng như người dân) trong mảnh đất ấy, chỉ là những con số vô nghĩa!

Hiểu như thế, người đọc sẽ thấm thía hơn trước câu văn Văn Quang, khi ông can đảm, chua chát viết xuống:

“Quân đội không phản bội ai cả! Chỉ có những người lợi dụng quân đội mà thôi!”

Câu nói trên, ghi nhận đó, không phải nhà văn quân đội nào cũng có thể viết được.

Trong cuộc chiến miền Nam, hai mươi năm, không chỉ có một mình Văn Quang là người lính mà, ngay tự những năm khởi đầu cuộc chiến, đã là một phóng viên chiến trường, có điều kiện sống thực, sống sát, sống cùng cuộc chiến. Ngoài ông, chúng ta còn có nhiều nhà văn quân đội khác.

Cũng không phải chỉ một mình Văn Quang có được những ghi nhận vi tế từ thực địa! Chúng ta có nhiều cây bút trong/ngoài quân đội. Nhiều phần họ cũng có những thụ cảm bén nhậy như ông. Nhưng, khi ngồi vào bàn viết, trước trang giấy của mình, không ai cấm họ ném người lính, nhân vật trong tiểu thuyết/phóng sự của họ về một trong hai cực: “Thiên sứ!” Hoặc “tội đồ!” Cả hai cực, dù chỉ là nhân vật trong tiểu thuyết, đều bất cập! Chúng mất hẳn tính người!

Phải chăng vì bản chất lương thiện, nhân ái nên, mặc dù số tiểu thuyết được in thành sách của Văn Quang, không nhiều lắm (chỉ trên dưới mười tác phẩm) mà, đã có tới 3 cuốn được chuyển thể, thành phim? (Tôi muốn nhắc tới các tiểu thuyết “Chân Trời Tím,” “Ngàn Năm Mây Bay,” “Tiếng Hát Học Trò” của ông.)

Trong chừng mực nào đó, thành tựu vừa kể của Văn Quang, dường không xẩy tới cho một số tác giả cùng thời. Những cây bút viết về người lính miền Nam, như ông. Dù số lượng tiểu thuyết của họ, có thể nhiều hơn.

Tuy nhiên, một cách chủ quan, theo tôi, ở một khía cạnh khác, Văn Quang/Nguyễn Quang Tuyến cũng đạt được những thành tựu rực rỡ không kém. Nếu không muốn nói là có phần rực rỡ hơn cả khía cạnh văn chương của ông. Ðó là khía cạnh: Làm người. Sống.

Ở khía cạnh này, với 12 năm tù cải tạo, họ Nguyễn không những đủ điều kiện để ra đi theo chương trình H.O. Mà, như ông cho biết, nếu quyết định sống ở nước ngoài, ông sẽ được đôn từ danh sách H.O. 22 lên danh sách H.O. 18; vì ông nhận được nhiều hơn một giấy cam kết bảo lãnh cần thiết.

Không cần biết lý do sâu xa của khước từ kia! Chỉ cần biết, thực tế, Văn Quang/Nguyễn Quang Tuyến, đã chọn ở lại. Ông chọn ở lại với đồng đội, bằng hữu, độc giả của mình.

Họ Nguyễn chọn ở lại trong thời điểm mà, dư luận khi ấy, từng phản ảnh qua một câu nói đau đớn, được truyền tụng rộng rãi:

“Nếu những cột đèn ở Việt Nam có chân, chúng cũng sẽ ra đi.”

Sự chọn lựa ở lại với đồng đội, bằng hữu, độc giả của mình của họ Nguyễn, từ đó tới nay, đã trên dưới hai mươi năm.

Cũng trên dưới hai mươi năm, ông tình nguyện đóng vai chiếc cầu nối giữa những tấm lòng biết ơn một cách cụ thể của rất nhiều trái tim Việt nơi quê người, với hàng trăm thương phế binh VNCH cũ.

Ðó là một trong những việc làm thuần tính nhân ái, tình người của tác giả “Ngàn năm mây bay.” Nhưng cuối cùng, ông vẫn bị chặn đứng bởi bức tường nghi kỵ của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam!

Kết quả, họ Nguyễn bị cảnh cáo. Computer bị tịch thu. Ông phải ngưng viết!

Dù cho, viết, với Văn Quang/Nguyễn Quang Tuyến là “một cách sống khác” như phát biểu của nhà văn Gustave Flaubert. (2)

Chọn lựa ở lại, quên mình, sống cho kẻ khác (dẫn tới hoạn nạn) của Văn Quang/Nguyễn Quang Tuyến, tôi nghĩ, không phải là một chọn lựa dễ dàng. Nó càng không phải là cách sống (dẫn tới hoạn nạn) mà, bất cứ một nhà văn ở lại nào, cũng có thể làm được!

Tai họa vẫn nóng hực, như quả cầu lửa, luôn chực chờ nổ chụp lên số phận ông. Số phận một nhà văn miền Nam sắp bước vào tuổi 80! Vậy mà, trong một thư ngắn, gửi bạn, họ Nguyễn vẫn băn khoăn:

“Tôi biết mình đã cố gắng làm nhiều việc nhưng vẫn cứ thấy là chưa đủ! Tôi làm vì thấy cần phải làm vậy thôi. Danh tiếng và những thứ khác là lúc mình còn trẻ, còn ham chứ đứng tuổi rồi, nhất là sau những năm tháng gian khổ thì chẳng còn nghĩ đến điều gì khác ngoài cái việc thích làm và cần làm, bỏ hết ngoài tai những mưu toan và thị phi...”

Nếu được là một trong những người bạn có đủ tình thân với Văn Quang/Nguyễn Quang Tuyến, tôi sẽ nhân danh tình bạn ấy, để nhắc nhở ông:

Người xưa từng nói, tuy sống suốt một đời thật đấy, nhưng nghiệm lại xem, đã mấy ai, tới khi từ trần, viết được trọn vẹn chỉ một nét thôi, của chữ “Nhân” hai nét, theo Hán tự? Càng hiếm hoi hơn nữa, số người viết nốt được nét còn lại của chữ “Nhân” ấy!

Riêng ông, trong ghi nhận của tôi thì, chẳng những ông đã viết được trọn vẹn chữ “Nhân” hai nét - Mà, ông còn viết được trong một hoàn cảnh khó khăn hơn những gì chúng ta có thể tưởng.

Vì thế, thưa ông, cho phép tôi được gửi tới ông, lời chúc mừng chân thành, của một người ở bên ngoài đất nước.

Du Tử Lê
(Calif. 13 tháng 4, 2011)

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Tách trà và tô phở
Tạp ghi Huy Phương

Tôi xin khoe với quý bạn là tôi vừa đi ăn phở về. Hàng ngày đã ăn cơm nhà, lâu lâu đổi món ăn bát phở, tôi chắc các bạn cũng thông cảm. Ở Little Saigon này muốn ăn phở ngon thì phải xếp hàng, nhất là đối với những tiệm phở có tiếng. Ở Việt Nam người ta nói XHCN là “xếp hàng cả ngày”, nhưng sang đây mới thấy Mỹ là “sư” xếp hàng. Ở các tiệm ăn, người ta không xếp hàng rồng rắn như ở chỗ trả tiền trong tiệm buôn hay ở các chỗ “fast food”, nhưng đứng ngồi lố nhố trông rất thiếu thẩm mỹ không khác gì mấy quầy vé số, có để cái radio trực tiếp các cuộc xổ số ở Saigon, khoảng sau năm 1980. Mấy hôm nay trời quá lạnh, khách ngại đứng ngoài trời, tràn cả vào trong tiệm, cạnh cả bàn của người đang ăn. Ðang húp bát phở, nhìn lên thấy cái giây nịt bụng bằng da của một người, nhìn cao hơn nữa thì thấy có đôi mắt đang nhìn thẳng vào mặt mình, tự dưng đâm ra ngượng về cái mồm của mình đang nhai.

Hôm nay là một ngày Thứ Bảy, ngủ nướng, dậy trưa, đến tiệm phở đã một giờ chiều, nhưng còn thấy khách đứng chờ lố nhố bên ngoài rất đông. Ði một mình, vào ghi danh thì nhận ra mình được xếp hạng 16. Ðang thất vọng muốn về, thì gặp một ông bạn già cũng đi ăn một mình, cho biết đứng đợi đã 45 phút, nhưng cũng sắp được “xướng danh” rồi. Từ khi đỗ xe cho đến khi được vào ngồi bàn, đã mất 45 phút. Từ khi được ngồi cho đến lúc bát phở được bưng ra, lâu hơn nửa giờ nữa. Tôi thấy một bà cụ ở bàn cạnh bên vào sau, cụ đang móc một cái nón len dang dở trên tay. Tôi mỉm cười với cụ và khen cụ có nhiều kinh nghiệm, cụ bà cười hiền nói với tôi: “Tuổi già vừa có kinh nghiệm, vừa thừa kiên nhẫn, ông ạ!” Tôi nghĩ ngày xưa, tôi phải đợi bao nhiêu năm mới được cái sướng đi Mỹ, bây giờ bốn mươi lăm phút hay một giờ để được cái khoái ăn một bát phở nóng cũng chẳng sao.
Hai chúng tôi ăn bát phở xong, uống tách cà phê, nhưng không thấy nhà hàng đem nước trà ra, bèn gọi trà, nhưng biết ý nên hỏi: “Nước trà có tính tiền không?” Nhà hàng cho biết: “Trà nóng $0.75.” Tôi nói với bạn là tôi vốn ghét cái lối tính tiền nước trà để móc túi thêm khách, thà tô phở tính thêm $0.50, khách không hề phàn nàn, nhưng tính tiền trà thì chỉ phát sinh ra ở một vài tiệm mới đây thôi. Người bạn tôi nói: “Không sao! Tôi có tiền đây! Thay vì mình bỏ tiền “tip” $2.00, bây giờ uống hai tách trà $1.50, còn lãi $0.50, sao mình không uống trà cho ấm bụng!” Anh bạn tôi có lý. Không trả tiền nước trà, nhà hàng níu áo, nhưng không ai bắt buộc khách phải trả tiền “tip” khi ăn xong, xem như mình là người bên Sydney mới sang Cali lần đầu, chưa quen với phong thổ. (Úc không có thói quen cho tiền “tip”.)
Miền Nam trước năm 1975, trong tiệm ăn không ai tính tiền nước trà. Khách vào tiệm, việc trước tiên là rót trà mời khách, sau đó mới hỏi khách đặt món ăn. Chúng ta đi, mang theo lối sống ấy. Ở Nam Cali, cách đây khoảng 10 năm, nhóm kịch trẻ “Cup O’ Noodle” đã “đùa” ông Tony Lâm lúc đó là chủ nhà hàng Viễn Ðông, với cử chỉ và lời mời: “Mời trà! Nước trà đây!” Ai cũng biết là ông Lâm rất hiếu khách, khách vào tiệm, ông mời trà liên tục từ lúc vào cho đến lúc đứng dậy đi ra. Ðó là văn hoá của những người tử tế. Chúng ta cũng biết trà ở các nhà hàng cho khách uống không phải là trà Thiết Quan Âm, Ô Long hay Kim Ngân Trà... mà là loại trà xổi bán kí lô, không đáng giá bao nhiêu đến phải tính tiền. Nhưng đến thời mà “không xin, không cho, chỉ bán,” phát sinh từ cái thời quái thai “bao cấp” thì người ta chủ trương kiếm được càng nhiều càng tốt, với suy nghĩ, ai vào ăn bát phở, tô bún mà để miệng... mỡ đi ra.
Từ ngày các tay tài phiệt trong nước bung ra làm ăn ở Mỹ, thì theo phong tục “ở ngoài ta”, nước trà bắt buộc phải tính tiền, không như người Việt, lâu nay không nói chuyện trà đã hoàn toàn miễn phí, mà khách ăn còn được mời chén chè hay ly nước mát để mời khách trở lại. Tô phở đắt thêm năm bảy chục xu, khách hàng ít khi lưu tâm miễn là phở ngon, nhưng du nhập lối tính tiền từ chút giá trụng, chén hành trần... có vẻ thiếu chút lòng hiếu khách.
Ly trà là sự tử tế đón khách, sự giao tiếp đầu tiên. Chắc bạn còn nhớ ở các quán “cóc” Saigon, năm ba ông khách ngồi uống cà phê buổi sáng, tán chuyện gẫu, ly cà phê đã cạn, nhưng bình trà vẫn được chủ châm đều, vui vẻ xem nhưng chuyện đương nhiên. Lửa trên bếp đang đỏ, ấm nước vẫn sôi đều, chốc chốc chủ quán lại châm nước vào bình trà, không tính toán đó là bình trà thứ mấy. Tôi đến Mỹ đã hai mươi năm, mà mãi đến gần đây mới thấy quán xá có nơi bắt đầu tính tiền trà, vậy là họ bắt đầu đuổi theo chúng ta đến nơi rồi.
Trong khi thiên hạ bàn chuyện quốc gia đại sự, tôi lại nói chuyện đi ăn phở, bàn chuyện ly trà, không đầu không đuôi, không biết có lẩm cẩm không? Vả lại, sáng nay đi ăn phở, tưởng vui, hoá ra mang thêm mấy chuyện bực mình. Từ nhà, lái xe đi về ăn tô phở, chờ đợi, xếp hàng tính ra mất hơn hai tiếng đồng hồ, quả là không bõ công cho một tô phở, cũng gọi là ngon, nhưng không phải quá đỗi cần thiết đến phải bỏ công lao và thời gian như thế.
Ăn phở phiền thật, sợ xương hầm nhiều cholesterol, sợ bột ngọt, thì thôi cứ “cơm nhà” cho xong. Thế mới biết tuổi già, răng yếu, cơm nhà thì thích nhão, mà giờ ra đường thấy phở sáng mắt cũng ngại ăn.
(Viết nhân buổi đi ăn tại một tiệm phở mới khai trương).

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Cao niên và câu chuyện tháng 4
Tác Giả: Huy Phương
Ðể giảm bớt gánh nặng trợ cấp cho người già trên đất Mỹ, và trước tình trạng ngân sách thiếu hụt của quốc gia này, cuối cùng vào ngày 1 tháng 4 năm nay, Lưỡng Viện Quốc Hội Mỹ đã thông qua đạo luật chấp thuận cho những người cao niên trên 65 tuổi, không sinh ra tại Mỹ, được lãnh một số tiền quy định đồng đều là $30,000 nếu đồng ý trở về sinh sống tại quốc gia nguyên thủy của họ.

Ðạo luật này sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2012, nhưng chỉ dành cho những người tự ý chấp thuận, không có tính cách bắt buộc hay kỳ thị, và công dân cao niên phải làm đơn trong vòng 90 ngày từ ngày đạo luật có hiệu lực tại các cơ quan xã hội quận hạt nơi mình cư ngụ.

Cao niên hiện nay ở tại Mỹ, được lãnh đủ số tiền này, một người già sống chung với chồng hay vợ phải mất thời gian gần 42 tháng (nếu tính theo số tiền được quy định từ tháng 3 năm 2011 trở về trước là $703.00 cho một người sống chung với hôn phu hay hôn thê.

Nay với số tiền này ($30,000) được lãnh trọn, người trở về nước của họ sẽ có một số vốn làm ăn hay an hưởng tuổi già mà không cần phải ở lại Mỹ để được hưởng hàng tháng số trợ cấp do chính phủ quy định.

Ðạo luật nay đã được nghiên cứu và cứu xét trong nhiều năm kể từ tháng 5 năm 1990, theo các bản phúc trình có giá trị, thì những người cao niên như sắc dân Châu Á, mỗi năm đã dành số tiền trợ cấp mười một tháng để đem tiêu xài hết trong một tháng trở về đất nước của họ.
Mặt khác số tiền trợ cấp đã thay đổi tùy theo nấc thang thời giá được ấn định lại hằng năm, nhưng đối với mức sống thấp của những người di dân đến Mỹ, họ còn có khả năng gởi về đất nước của họ hằng tỷ đô-la mỗi năm. Theo con số của Ủy Ban Người Nước Ngoài Việt Nam, mỗi năm Việt Nam nhận 8 tỷ dollars do các di dân gửi về trong đó có 65% số tiền xuất phát từ Mỹ.

Nếu số cao niên Châu Á hay từ các quốc gia sau chiến tranh có sự tham dự của Mỹ đồng ý chọn giải pháp nhận số tiền trợ cấp của đạo luật 1/1/12, như đã ghi trên, nước Mỹ sẽ tiết kiệm được những chi phí sau đây:
- Tiền trợ cấp y tế, (thuốc men, bệnh viện, săn sóc tại gia, các chi phí cho dịch vụ cấp cứu): 78 tỷ mỗi năm.
- Tiền day-care cho các cụ (đến ăn trưa, tập thể dục, chơi bài, đấm bóp, xem TV, vào internet): 892 triệu mỗi năm.
- Chi phí về housing: 3 tỷ 2 mỗi năm.
Hiện nay, theo sự thăm dò của cơ quan Orange County Senior Research (OCSR) cùng một số thiện nguyện viên quan tâm đến vấn đề này, đã tiếp xúc với với các vị cao niên tại các nơi sinh hoạt tôn giáo như chùa, nhà thờ, tại các dịch vụ day-care, chỗ đông người như chợ, siêu thị, trên các chuyến xe bus hằng ngày chở đi các casino, các quán cà phê có hay không có bàn cờ tướng, các phòng massage.
Kết quả tạm ghi nhận được:
- Nhóm thứ nhất: 65% chấp nhận lãnh số tiền trợ cấp một lần $30,000 để trở về nguyên quán không trở lại, trong số này có:
21% bệnh tật lâu năm, khó chữa muốn về chết trên quê hương,
17% hiện có bất động sản đã mua hay của con cái, gia đình làm ăn khá giả, nên muốn về ở luôn, có thể mở tiệm phở, hớt tóc, massage, cà phê đủ loại, 8% xem Việt Nam ngày nay có tiến bộ, giàu có, có tự do sống thoải mái,
7% đã mua sẵn đất chôn, mỗi năm đều về Việt Nam và đã có ý định về ở luôn,
23% bị con cái bạc đãi, không chăm sóc, buồn phiền, trầm uất,
8% không thích hợp với đời sống, văn hóa Mỹ, không có nhiều bạn bè lui tới,
7% sắp qua đời, muốn về chết ở việt Nam.
9% đời sống ở Mỹ bó buộc, không có tự do (sử dụng rượu, thuốc lá) phương tiện di chuyển đắt, khó khăn, sẽ làm đơn, nhưng không cho biết ý kiến, sợ đụng chạm.
- Nhóm thứ hai: 10% đang cứu xét và thăm dò, chưa có quyết định.
- Nhóm thứ ba: 18% không chấp nhận, dù vì hoàn cảnh khó khăn của nước Mỹ, trợ cấp bị cắt giảm (đã nhận nơi này làm quê hương), không muốn về Việt Nam dù với điều kiện nào.
- Nhóm thứ tư: 7% không có ý kiến.
Chưa bao giờ nước Mỹ thâm thủng và nghèo mạt như hiện nay. Một tiểu bang của Mỹ giàu có đứng vào hàng thứ năm của thế giới đã nghèo hơn bao giờ hết.

Theo nguồn tin mới nhất từ thủ phủ Sacramento của California, ngân sách tiểu bang thâm thủng 42 tỷ đô la.
Thống Ðốc Brown của tiểu bang vừa loan báo sự cắt giảm ngân sách giáo dục lên đến 1,200 triệu Mỹ kim, trong đó, tài khoản của hệ thống CSU (California State University System) sẽ còn dưới 500 triệu Mỹ kim, hệ thống CU (University of California) sẽ bớt đi 500 triệu cho và 200 triệu ít hơn cho các cơ quan nghiên cứu.

Thống đốc cho biết đây là “trong điều kiện thuận lợi nhất và nếu trong kỳ trưng cầu dân ý vào tháng 6 năm 2011 nếu dân chúng không chấp nhận cho gia hạn thuế khóa như hiện nay thì tình hình cắt giảm sẽ nặng nề hơn nữa”.
Không còn giải pháp nào khác có thể cứu vãn tình hình ngân sách thâm thủng. Ở cấp tiểu học và trung học, Học Khu Westminster đã bớt đi 10 ngày học và Học Khu Garden Grove giảm 5 ngày.

Trong tổng số hơn 200 ngày giảng huấn mỗi năm, sự giáo dục sẽ có những kết quả tai hại nếu trong tương lai số ngày nghỉ học phải tăng lên vì không đủ ngân sách tài trợ từ tiểu bang.

Nói chung, giờ học của con em chúng ta ở California chỉ còn 175 ngày, trong khi con số trung bình toàn quốc hiện nay là 180 ngày.
Niên học sẽ rút ngắn đi ít nhất là 6 tuần lễ, nghĩa là học sinh, nghỉ hè sau lễ Phục Sinh vào tháng 4, chứ không còn như thường lệ kéo dài đến giữa tháng 6 nữa.

Một thành phố của California là Anaheim vừa đi đến một quyết định theo đó tất cả công chức thành phố không sử dụng trong trường hợp khẩn cấp sẽ giảm 5% lương, đồng thời bớt 10% số giờ làm việc và tiền lương của hơn 1,100 công chức thành phố, kể cả ban quản trị sở cứu hỏa, sở cảnh sát và các nhà quản trị khác, sẽ bị cắt lương 5%, giúp tiết kiệm cho thành phố khoảng $3.4 triệu.

Xa hơn nữa, Neward của New Jersey, trong một cố gắng tuyệt vọng để làm giảm mức thâm thủng của thành phố lên tới 70 triệu đô la trong năm 2010, thị trưởng của Newark đã cho cắt luôn khoản tiền mua giấy vệ sinh cho các cầu xí của nhân viên, cắt bớt 4 ngày làm việc cho các nhân viên không chính thức, dẹp bỏ các biểu ngữ trang trí lễ lạc, đóng cửa các hồ bơi công cộng và bất cứ hợp đồng nào không cần cho an ninh đường phố, phòng cháy cũng sẽ bị cắt. Các biện pháp này sẽ tiết kiệm từ 10 triệu đến 15 triệu đô là mức thâm thủng của thành phố.

Nước Mỹ của chúng ta không còn là một anh chàng công tử nhà giàu nữa, mà là một anh chàng nghèo kiệt xác đang giật gấu vá vai để qua hồi suy thoái kinh tế.

Nửa phần bài tạp ghi hôm nay, viết vào những ngày đầu tháng 4 theo truyền thống “Cá Tháng Tư” (April Fools' - Poisson d'Avril), hy vọng không ai mừng hụt và cũng không hy vọng đạo luật này sẽ thành hình.

Nửa phần cuối của bài này là chuyện nước Mỹ đang nghèo, con cháu chúng ta phải chịu dốt hơn vì ngân sách giáo dục bị cắt, giờ học bị bớt, lớp học bị dồn lại, ngay cả vòi nước uống, sân chơi cho các em cũng không có tiền tu bổ. Xin quý vị cao niên, nhịn bớt tiêu xài, phá phách, đừng đem tiền ra khỏi nước Mỹ nữa, xin hãy sống với nước Mỹ và yêu nước Mỹ hơn, xin đừng xem đây là nhà trọ, là nơi “share” phòng nữa!

Post Reply