Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Bin Laden không một nấm mồ

Ngô Nhân Dụng

Khi nghe tin ông Osama bin Laden chết, nhiều người nghĩ ngay tới Ernesto “Che” Guevara, một lãnh tụ cộng sản Cuba sinh ở Argentina. Che, cái tên gọi quen thuộc, đã là một thần tượng cho nhiều thanh niên thời 1960, đã bị quân đội Bolivia giết tháng 10 năm 1967, với sự cộng tác của cơ quan Tình Báo Trung Ương Mỹ (CIA).

Che chết, phong trào cộng sản thế giới mất một thần tượng sống, đặc biệt là khi đó Che đã chống Nga Xô, theo Mao Trạch Ðông để làm cách mạng thế giới!

Nhưng Che chết trong rừng, trong khi đang bệnh tật và thiếu thuốc men, lực lượng tan rã vì bị quân chính phủ Bolivia bao vây. Xác chết của Che và 6 đồng đội được trả cho Cuba năm 1995, và được dựng lăng, lập đài kỷ niệm. Hình ảnh Che vẫn còn được nhiều người tôn thờ, ít nhất cho đến khi đế quốc Liên Xô sụp đổ, khi ai cũng thấy chủ nghĩa cộng sản chỉ là một ảo tưởng hão huyền và đã hoàn toàn thất bại.

Osama bin Laden cũng đã trở thành một thần tượng cho nhiều thanh niên Hồi Giáo trên thế giới kể từ năm 2001, khi các đệ tử của ông ta cướp máy bay đánh sập hai cao ốc ở New York và làm chết gần ba ngàn người Mỹ. Ông ta cũng trốn lánh như Che. Nhưng ông ta chết trong một tòa nhà đủ tiện nghi, với vợ nhỏ, con cái, và người hầu hạ. Hình ảnh của ông sẽ còn được dùng để khích động nhiều thanh niên Hồi Giáo trên thế giới trong nhiều năm tới. Nhưng chắc không được bao lâu sẽ chấm dứt, vì bin Laden không thể so sánh với Che Guevara.

Hình ảnh Che Guevara được cả một guồng máy tuyên truyền của các nước cộng sản sử dụng khi họ muốn xúi giục giới trẻ ở các nước nghèo nổi loạn. Trái lại, không chính phủ nào trong thế giới Hồi Giáo coi Osama bin Laden là một anh hùng. Trong khi đó, xã hội Á Rập đang thay đổi, theo một chiều hướng khác hẳn giấc mơ của Osama bin Laden. Một phong trào đòi tự do dân chủ đang bùng lên ở các quốc gia này cho thấy giới trẻ không đi tìm một xã hội Hồi Giáo lý tưởng thời trung cổ như bin Laden vẫn hô hào. Thanh niên các nước Hồi Giáo và Á Rập cũng có học, cũng dùng Internet, Twitter và Facebook, cũng ước ao được sống tự do, chứ không muốn sống dưới chế độ thần quyền như bin Laden muốn tái lập.

Osama bin Laden đã được nhiều người Á Rập chạy theo vì ông ta chống Mỹ. Nhưng người Á Rập có thể vẫn ghét Mỹ mà không cần đến bin Laden. Câu hỏi chính là bin Laden có cống hiến một lý tưởng nào khác cho giới trẻ các nước Hồi Giáo và Á Rập hay không, ngoài thái độ chống Tây phương và Mỹ? Mặt khác, khi chính phủ Mỹ ủng hộ các phong trào đòi dân chủ trong các nước Trung Ðông, Anh và Pháp giúp người dân Lybia đánh Gadhafi, thì họ đã trở thành đồng minh của các lực lượng dân chủ tại Trung Ðông. Người Á Rập có thể vẫn ghét Mỹ và Âu Châu khi họ nhớ lại thời các nước Tây phương nuôi dưỡng và bảo vệ các chính quyền thủ cựu, độc tài, bóc lột dân. Nhưng sau cùng họ có thể vẫn muốn xây dựng xã hội của họ theo một mô hình tương tự như Tây phương: Tự do, bình đẳng, tôn trọng quyền làm người, và phát triển kinh tế theo lối thị trường. Lý tưởng của bin Laden sẽ chết, như ông ta đã chết. Các nước Á Rập và Hồi Giáo sẽ tiếp tục xáo trộn trong nhiều năm tới. Nhưng đó sẽ là những cuộc tranh chấp giữa các lực lượng tiến bộ trên con đường canh tân, và những lực lượng bảo thủ. Người ta sẽ quan tâm đến việc phát triển xã hội, phát triển kinh tế, xây dựng dân chủ ngay trong nước mình, hơn là nhắm vào “những thế lực thù địch” ở bên ngoài. Họ sẽ không yêu nước Mỹ nhưng không cần phải đổ tất cả tội lỗi cho người Mỹ khi tự hỏi tại sao đất nước họ chìm đắm trong lạc hậu. Họ không nhất thiết phải coi nước Mỹ là kẻ thù phải tiêu diệt, mà quên đi nhu cầu canh tân của xã hội họ đang sống. Họ sẽ đi trên con đường khác hẳn Osama bin Laden.

Khi tường trình với dân chúng Mỹ về vụ này, Tổng Thống Barack Obama cẩn thận nhấn mạnh, “Tôi muốn nói rõ, giống như Tổng Thống Bush đã tuyên bố ngay sau ngày 11 tháng 9, rằng cuộc chiến của chúng ta không nhằm vào thế giới Hồi Giáo. Bin Laden không phải là thủ lãnh Hồi Giáo; ông ta là kẻ giết người Hồi Giáo.”

Tất nhiên, chỉ dùng lời nói không thôi, không đủ thuyết phục mọi người. Nhưng chính quyền Obama đã cho cả thế giới thấy thêm một điều nữa: Ðừng coi thường nước Mỹ. Khi ông Obama nói với dân Mỹ, ông cũng muốn cho nhiều người khác nghe, “...đêm nay, chúng ta một lần nữa nhắc nhở nhau rằng Hoa Kỳ có thể làm bất cứ điều gì khi đã quyết tâm.”

Người Mỹ cần nghe lại câu này. Có thể nói, trên thế giới ít có chính phủ nào vấp phải nhiều thất bại như chính phủ Mỹ; ít chính phủ nào bị dân chúng coi thường như chính phủ Mỹ. Vì thế họ cũng bị nhiều người khác trên thế giới coi thường. Chính phủ Mỹ đã thất bại trong kế hoạch giải cứu 52 con tin bị bắt ở Iran năm 1980. Chính phủ Mỹ đã phải rút quân ra khỏi Lebanon sau khi quân khủng bố đánh bom chết mấy trăm thủy quân lục chiến. Chính phủ Mỹ lại phải rút quân ra khỏi Somalia sau khi bị quân nổi loạn tấn công. Ông Saddam Hussein đã từng mô tả một “nước Mỹ mệt mỏi” trước khi đem quân đánh Kuwait năm 1990. Khi ông bin Laden muốn thúc đẩy các đồ đệ liều chết chống Mỹ, ông đã đưa ra thí dụ sự thất bại của Mỹ trong chiến dịch Blackhawk Down ở Somalia để chứng tỏ nước Mỹ chỉ là một “con ngựa yếu,” giống như Mao Trạch Ðông từng gọi Mỹ là Cọp Giấy.

Phần lớn người ta không biết rằng hình ảnh nước Mỹ yếu, chính phủ Mỹ thất bại, là hậu quả không thể tránh được của chế độ tự do dân chủ. Chính phủ Mỹ không bưng bít thông tin. Hàng ngày, ngay tại nước Mỹ, có hàng triệu người chăm chú theo dõi để tìm lời chỉ trích chính phủ của họ. Ít người biết rằng đó chính chế độ tự do dân chủ là sức mạnh của quốc gia trẻ trung này.

Nhiều người vẫn tin rằng nước Mỹ không có khả năng theo đuổi những cuộc chiến tranh lâu dài. Nhưng chúng ta cũng biết rằng kể từ năm 1946 đến năm 1989 nước Mỹ đã theo đuổi một cuộc chiến dai dẳng chỉ nhằm “ngăn ngừa” sự bành trướng của Liên Bang Xô Viết. Chiến lược “ngăn ngừa” (containment) đã thành công, sau hơn 40 năm.

Trước Osama bin Laden, người đã hoạch định và chỉ huy cuộc tấn công vào nước Mỹ đầu tiên là Ðô Ðốc Isoroku Yamamoto, với trận không kích quân cảng Pearl Harbor cuối năm 1941. Chính ông là người chủ trương muốn đương đầu với Mỹ thì phải đánh trước, tiêu diệt bớt lực lượng hải quân của họ. Lúc đó, Tổng Thống Mỹ Franklin D. Roosevelt đã ra lệnh cho Bộ Trưởng Hải Quân Frank Knox, “Tóm Yamamoto!” (Get Yamamoto). Tình báo Mỹ theo dõi các cuộc di chuyển của Yamamoto trong 16 tháng liền. Ngày 18 tháng 4 năm 1943, họ biết ông đáp máy bay đi gần đảo Bougainville. Một phi đội Mỹ được cử tới đón đầu, họ đã bắn hạ chiếc máy bay chở Ðô Ðốc Yamamoto. Tinh thần dân Mỹ và quân đội Mỹ đã bừng lên ngay sau đó.

Việc giết chết ông bin Laden có thể giúp cho chính người Mỹ lấy lại thêm niềm tự tin, giống như năm 1943. Và có thể khiến người dân các nước khác tin nước Mỹ nếu quyết tâm là có thể thành công. Các nhà lãnh đạo Mỹ nói là có thể tin được. Năm 2007, Nghị Sĩ Barack Obama đã nói rằng nếu bin Laden mà trốn ở Pakistan thì quân Mỹ cứ đến đó mà tìm bắt hoặc giết, không cần Pakistan đồng ý hay không. Lúc đó, các nhà chính trị khác (trong đó có bà Hillary Clinton) đã chỉ trích rằng ông Obama thiếu kinh nghiệm ngoại giao, đã xúc phạm một nước đồng minh. Năm nay, bà Clinton ngồi trong nhóm tham mưu và quyết định việc tấn công vào ngôi nhà ở thị xã Abbottabad. Họ không xin phép chính phủ Pakistan. Bộ tham mưu ở Tòa Bạch Ốc có thể theo dõi cuộc hành quân từng phút, nhờ máy thu hình đeo trên người các biệt kích hải quân, chuyển lên các vệ tinh nhân tạo truyền thông. Chắc từ nay sẽ không có nước nào muốn chứa chấp một kẻ tử thù của nước Mỹ nữa.

Trực thăng chở quân Mỹ từ Afghanistan đã dùng khí cụ đặc biệt vượt qua hàng rào radar của quân đội Pakistan (radar do Mỹ cung cấp), đánh gọn trong 40 phút, rồi rút về. Không ai bị thương, và không quên lấy theo các máy vi tính, hồ sơ và tài liệu mà bin Laden đang giữ, để khai thác thêm tin tức. Trong lúc rút ra một chiến hạm ngoài biển Á Rập, họ vẫn tránh không “đụng độ” với hàng rào phòng không của “nước bạn.” Trong cả chiến dịch hành quân phức tạp và nhiều rủi ro đó, họ không quên chuẩn bị trước để có một giáo sĩ Hồi Giáo trong quân đội làm lễ thủy táng ngay cho ông Osama bin Laden trong 24 giờ, sau khi tắm rửa thi hài của ông và quấn trong khăn tẩm liệm mầu trắng theo đúng nghi thức Hồi Giáo.

Chính quyền Obama giải thích rằng không quốc gia nào chịu nhận thi hài của bin Laden. Chắc họ đã hỏi ý kiến Á Rập Saudi (nơi gia đình cha mẹ ông sống) và Yemen, là quê hương gốc của gia đình này. Nhưng trước khi hỏi, họ đã biết sẵn câu trả lời rồi. Cuộc hành quân được tính toán cho đến chi tiết sau cùng: Sẽ không có một ngôi mồ của Osama bin Laden, như của Che Guevara để cho các người ngưỡng mộ đến chiêm bái. Thảm kịch 11 tháng 9, 2001 có thể coi như đã kết thúc.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Tin hay không tin Pakistan?

Ngô Nhân Dụng

Trước khi rút lui đem theo thi hài ông Osama bin Laden, nhóm biệt kích Hải Quân Mỹ SEAL đã đốt và phá hủy hoàn toàn chiếc trực thăng bị bị hư trong phút đầu cuộc tấn công.

Tại sao họ không để chiếc máy bay đó, mai mốt sẽ xin chính phủ Pakistan cho đến sửa chữa, rồi bay về?

Bởi vì người ta không biết chắc số phận chiếc trực thăng đó sẽ ra sao. Chính phủ Pakistan có thể sẽ phản đối Mỹ kịch liệt về vụ xâm nhập lãnh thổ của họ, làm mất mặt cả nhà nước lẫn quân đội. Họ sẽ không cho đem chiếc máy bay đó đi nữa.

Nếu vậy tại sao không để nó cho Pakistan dùng, như hàng ngàn trực thăng khác mà Mỹ đã viện trợ cho quân đội nước này chống khủng bố? Vì người Mỹ không thể tin được chính phủ và quân đội Pakistan sẽ làm gì với những vũ khí và trang bị bí mật trên chiếc máy bay đặc biệt này. Chỉ một lớp kim loại tổng hợp tráng trên máy bay để “tàng hình,” tránh không cho máy radar của Pakistan “nhìn thấy,” cũng phải tốn hàng trăm triệu mỹ kim mới nghiên cứu và tìm ra được. Chưa kể các thiết bị tối tân khác. Người ta không lo Pakistan sẽ dùng các vũ khí mới này chống lại Mỹ. Ðiều đáng lo là sẽ có rất nhiều nước muốn mua các mảnh vụn của chiếc trực thăng này để đem về nghiên cứu lại và bắt chước. Trong số đó có Trung Quốc, một nước đồng minh với Pakistan suốt trong thời Chiến Tranh Lạnh cho đến ngày nay. Không ai quên được vụ tiết lộ năm 2004, cho thấy nhà bác học hàng đầu về bom hạt nhân Abdul Qadeer Khan của Pakistan đã từng đi bán kỹ thuật nguyên tử cho các nước khác, trong đó có Lybia của ông Gadhafi. Tất cả những người như Saddam Hussein (Iraq), Mahmoud Ahmadinejad (Iran), hay Kim Chính Nhật (Kim Jong Il, Bắc Hàn) đều không nguy hiểm cho an ninh nước Mỹ bằng nhà bác học nguyên tử này. Hiện nay ông vẫn sống ung dung ở trong nước.

Năm 1999, một máy bay F-117 của Mỹ bị rớt trong cuộc chiến Kosovo vào ngày 27 tháng 3. Ðó là chiếc “máy bay tàng hình” đầu tiên của Mỹ gặp nạn. Ngay sau đó, các chuyên gia Nga và Trung Quốc, chưa kể các nước khác, đã bay đến Serbia để mua, mỗi nước một ít mảnh. Các chuyên viên Trung Quốc đã đến tận nơi máy bay rớt, đi dạm mua với giá rất cao các mảnh vụn mà các nhà nông trong vùng đó lượm được. Vụ này liên can đến vụ Mỹ “đánh bom lầm” vào tòa Ðại Sứ Trung Quốc ở Beograde vào ngày 7 tháng 5 năm 1999. Năm ngoái, Không Quân Trung Quốc đã biểu diễn máy bay tàng hình của họ cho ông bộ trưởng Quốc phòng Mỹ chứng kiến. Trong 12 năm qua, các kỹ thuật “tàng hình” của không lực Mỹ chắc đã tiến hơn trước rất nhiều. Có gì bảo đảm Pakistan không đem bán các dấu tích kỹ thuật mới trên chiếc trực thăng cho những nước trả giá cao nhất?

Pakistan vẫn là một đồng minh của Mỹ từ khi lập quốc năm 1947. Khi Ấn Ðộ ngả về phía Nga Xô, Mỹ với Pakistan càng thân thiết. Nhờ đứng giữa Mỹ với Trung Quốc cho nên chính phủ Pakistan đã làm môi giới đưa đến cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Nixon và Mao Trạch Ðông vào năm 1972. Nhưng trong việc ngoại giao, mỗi nước vẫn phải lo cho quyền lợi của mình, chứ không ai nhắm mắt chịu làm “đồng chí-anh em” vô điều kiện.

Vì vậy, các lãnh tụ hai nước và những nhà ngoại giao của họ luôn luôn phải đóng trò. Rất thân thiện, rất kính cẩn, nhưng vẫn ngầm đá nhau tận tình. Giám đốc CIA đã nói thẳng rằng họ không hề cho một người nào trong chính phủ Pakistan biết Mỹ đang theo dõi ngôi nhà nghi có bin Laden ở, vì sợ tin tức bị tiết lộ. Nói cách khác: Mỹ không tin Pakistan.

Tất nhiên, chính phủ Pakistan không hề biết trước cuộc đột kích, xuất phát từ Afghanistan. Vụ tấn công này đã được ông Barack Obama báo trước, trong khi đang chuẩn bị tranh cử tổng thống, năm 2007; lúc đó không ai tin chuyện sẽ thành sự thật. Sau khi đem máy bay trực thăng xâm nhập một nước đồng minh mà không báo trước, bắn, giết mấy người rồi đem 2 xác chết đi, tới nay chính phủ Mỹ vẫn chưa chính thức xin lỗi chính quyền Pakistan và dân chúng nước này. Chắc chờ đến một ngày bà Hilarry Clinton đến xứ này sẽ xin tạ lỗi. Ông Obama có thể đã xin lỗi Tổng Thống Asif Ali Zardari trong điện thoại, sau khi quân Mỹ rút đi an toàn, nhưng Pakistan đã mất mặt! Phe đối lập đã lên án chính phủ và hô hào dân biểu tình; nhưng chính phủ Pakistan vẫn phải “ngậm bồ hòn làm ngọt.”

Ngay ngày hôm sau vụ đột kích, Tổng Thống Pakistan Ali Zardari đã viết trên nhật báo Washington Post, tỏ ý hoan hỉ về việc trừ được ông bin Laden, và kể công chính quyền Pakistan đã giúp Mỹ trong việc tìm kiếm thủ lãnh al Qaeda này trong 10 năm qua. Thủ Tướng Yusuf Raza Gilani thì thanh minh rằng họ không biết nơi bin Laden ở cũng bình thường, vì tình báo cả thế giới từ lâu đã không biết! Bộ Ngoại Giao Pakistan chỉ lên tiếng cảnh cáo Mỹ một cách yếu ớt, rằng “lần sau không được làm như thế nữa!” Chắc sẽ không có lần sau, vì chỉ có một người tên là Osama bin Laden! Báo Dawn ở Pakistan đã coi biến cố vừa qua là một điều sỉ nhục, không khác gì vụ chính quyền Pakistan phải thú nhận đã để cho nhà bác học Abdul Qadeer Khan đi rao bán các kỹ thuật nguyên tử!

Chính phủ Mỹ cũng đồng thanh hát cùng một điệu như ông Ali Zardari. Từ ông Giám Ðốc CIA Leon Panetta, đến bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton, và các phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc, đều lên tiếng công nhận Pakistan đã giúp đỡ họ trong công việc chống khủng bố và truy tầm, rồi bắt các thủ lãnh hàng thứ nhì của al Qaeda. Pakistan đã giúp CIA bắt được Ramzi bin al-Shibh trong một cao ốc ở Karachi, bắt Abu Zubaydah tại Faisalbad, và Kalid Sheikh Mohammed, người chỉ huy vụ đánh 11 tháng 9; rồi trao cho Mỹ khai thác. Chính một trong các người này, sau khi bị “nhận nước” vẫn từ chối không khai; nhưng sau khi được phỏng vấn bình thường, đã xác nhận danh tính một “người đưa thư” của bin Laden; mà nhờ đó CIA đã theo dõi anh ta, tìm đến nơi nghi rằng bin Laden trú ngụ. Chính quyền Obama công nhận Pakistan đã bắt giúp Mỹ nhiều tay khủng bố hơn tất cả các quốc gia khác.

Vậy Pakistan là bạn hay là thù? Hay chỉ là bạn với Mỹ nếu có lợi, và sẽ bỏ rơi Mỹ nếu bất lợi? Có thể nói, Pakistan đóng cả hai, hoặc ba vai trò đó. Chính quyền Pakistan cần số tiền Mỹ viện trợ mỗi năm. Họ cũng giúp Mỹ chống al-Qaeda, vì chính nhóm này đã tổ chức nhiều vụ ném bom trong nước họ. Nhưng trong chính quyền, nhất là trong quân đội, có nhiều người có cảm tình với tổ chức Taliban ở Afghanistan. Chính tình báo quân đội Pakistan, viết tắt là ISI, đã dựng lên Taliban, nuôi nhóm này để chống quân Nga trong thập niên 1980, với sự hỗ trợ tiền và vũ khí của CIA và quân đội Mỹ. Tuy nhiên, trong năm qua quân đội Pakistan cũng tấn công đánh đuổi một nhóm quân Taliban, họ từ Afghanistan chạy sang trú ẩn vùng thung lũng Swat, sau khi nhóm này đem thi hành các chính sách cực đoan về tôn giáo đối với dân chúng Pakistan ở đó.

Nhóm Taliban còn liên hệ với chính quyền và quân đội Pakistan vì lý do sắc tộc. Taliban thuộc giống dân Pashtun, chiếm đa số ở Afghanistan; nhưng số người thuộc sắc dân Pashtun ở trong nước Pakistan còn đông hơn ở Afghanistan! Chính phủ Pakistan khó thi hành một chính sách “không tình không nghĩa” với những người thuộc giống Pashtun!

Ông Husain Haqqani, đại sứ Pakistan ở Washington đã viết một cuốn sách về hai nền tảng của nước Pakistan từ ngày lập quốc. Một là quốc gia này được thành lập trên căn bản tôn giáo. Chính vì muốn giữ đạo nên những người Hồi Giáo đã tụ tập thành một quốc gia sau khi được Anh quốc trao trả độc lập. Nền tảng thứ hai là quân đội. Vì lúc nào cũng lo đề phòng với Ấn Ðộ, và muốn “giải phóng” miền Kashmir ra khỏi Liên Bang Ấn Ðộ, cho nên trong đời sống chính trị của Pakistan, quân đội và các tướng lãnh đóng một vai trò quan trọng. Mà trong quân đội thì tổ chức tình báo ISI đóng một vai trò then chốt.

Cả hai nền tảng đó khiến cho các chính quyền Pakistan, từ thời quân phiệt đến nay, luôn luôn đi dây. Một mặt họ muốn giúp Mỹ chống khủng bố, mà chính nước họ cũng chịu cùng hoạn nạn. Mặt khác, họ không muốn mất sự ủng hộ của giới lãnh đạo tôn giáo, kể cả những người quá khích, nhất là khi nhiều người trong quân đội có cảm tình với nhóm Taliban. Cuốn sách của Ðại Sứ Husain Haqqani, xuất bản năm 2005 khi ông còn là một người đối lập chống chính phủ của Tướng Musharraf, đã kết luận rằng chỉ khi nào Pakistan thực sự dân chủ hóa thì vấn đề chống khủng bố ở nước này mới giải quyết được.

Vụ hạ sát Osama bin Laden khiến nhiều người Mỹ đặt câu hỏi: Chính phủ Pakistan có chứa chấp Osama bin Laden hay không? Tại sao chính phủ Mỹ đã viện trợ cho Pakistan 2 tỷ đô la một năm để tiễu trừ khủng bố, để truy lùng thủ lãnh nhóm al-Qaeda, mà họ lại phản bội như vậy? Rồi bây giờ tại sao Mỹ vẫn tiếp tục viện trợ?

Một sự thật không thể chối cãi được là nước Mỹ vẫn cần quân đội Pakistan giúp để tiêu trừ những nhóm khủng bố trong hai nước, Pakistan và Afghanistan. Muốn giảm bớt số tiền viện trợ 2 tỷ Mỹ kim một năm, câu hỏi mà nước Mỹ nên đặt ra là có nên tiếp tục cuộc chiến tranh ở Afghanistan hay không? Có người nói: Quân đội Mỹ và NATO tiến vào nước này để truy bắt bin Laden và tiêu diệt nhóm al-Qaeda. Nay mục tiêu thứ nhất đã đạt được, bin Laden đã chết. Còn mục tiêu thứ hai sẽ là một vấn đề lâu dài, mà chiến tranh không phải là giải pháp duy nhất cũng như không phải là tốt nhất. Nước Mỹ đã chi tiêu 450 tỷ đô la trong 10 năm qua ở Afghanistan. Sẽ tiếp tục tiêu với một tốc độ cao hơn, vì quân số Mỹ ở đó đã tăng, từ trung bình 40,000 người lên thành 80,000, và trong năm 2011 có thể còn tăng thêm nữa.

Nước Mỹ không thể từ bỏ Pakistan nếu còn muốn giúp chính phủ Afghanistan. Cứ để yên, Pakistan sẽ làm ngơ cho quân Taliban tấn công và lật đổ chính quyền của Tổng Thống Karzai, và tái lập một chế độ thần quyền ở xứ này. Có nhà chính trị nào ở Mỹ dám đánh cá rằng dù Afghanistan lọt trở lại dưới một chính quyền Taliban thì phong trào khủng bố của những người Hồi Giáo quá khích cũng không nguy hiểm hơn hay không? Cho tới nay, chưa có ai cả. Cho nên số phận hai nước Mỹ và Pakistan vẫn còn bị ràng buộc không thể bỏ nhau được!

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Trung Quốc lo lạm phát

Ngô Nhân Dụng

Phái đoàn hai nước Mỹ, Trung Hoa mới họp với nhau hai ngày liền ở Washington trong Cuộc Ðối thoại Chiến lược và Kinh tế, một thông lệ hàng năm. Nhưng họ nói rất ít về chuyện kinh tế.

Hai bên chắc chỉ có dịp nghe những lời than phiền, trách móc về các vấn đề khác. Mỹ sẽ than tại sao Bắc Kinh tiếp tục ngăn cản không cho dân tự do thông tin, và vẫn bắt giam những người có chính kiến độc lập, như họa sĩ Ngải Vị Vị. Trung Quốc sẽ trách tại sao Mỹ cứ khuyến khích dân Tầu chống chính phủ của họ. Mỹ sẽ phản đối Trung Quốc ngăn cấm không cho các giáo sư Mỹ đến dự mấy cuộc hội thảo khoa học, chuyên môn, và bác bỏ 60 hoạt động bên ngoài của tòa Ðại Sứ Mỹ trong 3 tháng qua. Trung Quốc sẽ phản đối tại sao ông Ðại Sứ Jon M. Huntsman Jr. lại đến quán ăn McDonald vào đúng ngày 20 tháng 2, mà trên mạng đã có lời kêu gọi dân Bắc Kinh đến đó biểu tình Cách Mạng Hoa Lài đòi dân chủ?

Hai bên chắc không bàn gì đến chuyện nào quan trọng về kinh tế. Chắc Trung Quốc không muốn than phiền Mỹ để cho đồng đô la sụt giá mãi không ngừng, khiến cho số tiền 3 ngàn tỷ dự trữ của họ, trong đó hơn 2 ngàn tỷ đồng bằng đô la Mỹ cứ mất giá trị mỗi ngày mà họ không làm gì được. Giá dầu lửa cùng các thứ nguyên liệu trên thế giới tăng lên vì đô la xuống, là một mối lo khác. Nhưng Mỹ cũng đang cần giữ đồng đô la ở giá thấp để thúc đẩy xuất cảng, khi kinh tế vẫn còn trì trệ, họ sẽ xin Bắc Kinh thông cảm. Mà chính Bắc Kinh cũng đã cưỡng lại đòi hỏi tăng giá đồng nhân dân tệ với lý do tương tự. Ðể đáp lại, chắc Washington cũng không tiếp tục đòi Bắc Kinh phải giảm số hàng xuất cảng sang Mỹ; trong lúc ông Hồ Cẩm Ðào đang lo làm sao đối phó với lạm phát. Phái đoàn Mỹ có thể cho phái đoàn Trung Quốc nghe bài học về cuộc suy thoái kinh tế từ năm 2007 đến nay chưa chấm dứt; nhưng kinh tế hai nước có những vấn đề cơ cấu khác hẳn nhau. Bên Mỹ, tai nạn chính xẩy ra trong thị trường địa ốc, và hệ thống ngân hàng. Bên Trung Quốc, họa lớn vẫn là các doanh nghiệp nhà nuớc.

Lạm phát là mối lo cốt tủy của Bộ Chính Trị Cộng Sản Trung Quốc hiện nay. Trong tháng 4, Ủy Ban Cải Tổ Kinh Tế và Ban Vật Giá Thượng Hải đã quyết định phạt công ty Unilever 2 triệu đồng nguyên (hơn 300 ngàn đô la Mỹ) vì công ty này đã thông báo sẽ tăng giá nhiều món hàng, trong đó có bột giặt. Báo chí loan tin bốn công ty lớn nhất về hàng tiêu dùng, trong đó có Unilever và Procter & Gamble sắp tăng giá tới 15% khiến dân Thượng Hải kéo nhau đi mua trước khi giá tăng thật.

Mối lo lạm phát khiến nhà nước dùng đủ cách ngăn không cho giá cả gia tăng, ngoài những biện pháp tiền tệ do Ngân Hàng Trung Ương ban bố. Chính phủ mới ban hành một văn thư 16 điểm cấm việc mua hàng tích trữ; bỏ bớt nhiều thứ lệ phí cho xe tải chở hàng rau trái; đem dâu tươi từ trong kho dự trữ ra bán, đưa ra thêm các luật cấm các cửa hàng thông đồng làm giá, vân vân. Theo thói quen kinh tế xã hội chủ nghĩa nhà nước đã yêu cầu các công ty không được tăng giá, hay hoãn tăng giá, các món hàng như dầu nấu ăn, mì gói, rượu, bột gạo và bột mì, còn ra lệnh các mỏ than không được tăng giá khi ký hợp đồng mới với các công ty điện lực. Nhưng người dân Trung Hoa biết phương pháp vẫn vâng lệnh nhà nước nhưng theo cách của họ. Các nhà chế dầu ăn đã giảm bớt số sản xuất, nhiều siêu thị thiếu dầu, giá lại tăng lên. Các mỏ than cho pha thứ than xấu vào than tốt, và giao hàng chậm lại, khiến nhiều nơi bị cúp điện. Một công ty ngoại quốc như Unilever thì ngoan ngoãn đóng tiền phạt. Nhưng người dân Trung Hoa đã sống 60 năm dưới chế độ cộng sản nên họ biết đủ cách để “nói vậy mà không phải vậy.” Chống lạm phát theo lối cửa quyền không hiệu quả!

Lạm phát chỉ lên trên 5.4%, bằng một phần ba tốc độ tiền mất giá ở Việt Nam, nhưng vẫn gây hai mối lo chính. Một là dân nghèo càng nghèo hơn khi giá gạo, giá xăng dầu tăng mà đồng lương không đuổi kịp. Còn dân giầu thì gửi tiền trong ngân hàng chỉ được 2 hay 3%, trong khi tiền mất giá 5%, rút tiền ra đi mua vàng, mua cổ phiếu và mua nhà khiến cho thị trường chứng khoán và địa ốc đang phồng lên như những chiếc bong bóng chờ nổ và xẹp. Ngân Hàng Trung Ương đã bắt các ngân hàng thương mại tăng số dự trữ bắt buộc sáu lần trong năm 2010. Cuối năm 2009, các ngân hàng có 100 đồng thì phải giữ lại 15.5 đồng; bây giờ phải giữ đủ 20.5 đồng không được đem cho vay; nhưng vẫn không gây được hiệu quả là giảm bớt số tiền mà ngân hàng đem cho vay, đủ để ngăn bớt lạm phát. Nhưng khi nhà nước lo ngăn lạm phát thì họ cũng phải lo hậu quả của việc ngăn lạm phát, là giảm bớt các hoạt động tiêu thụ và sản xuất.

Những biện pháp tiền tệ của Ngân hàng Nhân dân như giảm bớt số tiền cho các xí nghiệp vay, và việc giảm bớt chi tiêu của nhà nước để kiềm chế lạm phát sẽ khiến cho tốc độ phát triển kinh tế phải chậm lại. Ðiều đáng lo là, trong cùng lúc đó, tâm lý lạm phát trong dân chúng không thuyên giảm nhanh như trong dòng tài chánh. Tức là dù nhà nước bớt số lượng tiền chảy ra rồi nhưng người dân vẫn tiếp tục đồng lo tiền sẽ mất giá. Người nghèo vẫn chạy đua đi mua hàng để tích trữ còn nhà giầu thì tiếp tục đầu tư vào bất động sản, cả hai đều khiến giá cả tiếp tục leo thang. Tình trạng kinh tế yếu đi trong khi giá cả tăng lên đang đe dọa nước Trung Hoa, như ở Mỹ trước đây 30 năm. Kinh tế học vào đầu thập niên 1980 đã phải chế ra một danh từ mới, Stagflation, để mô tả tình trạng này khi xẩy ra ở Mỹ. Từ đó ghép Stagation, là kinh tế suy yếu trì trệ, với Inflation, là lạm phát, có thể dịch tạm là Suy-Lạm. Chính nước Mỹ năm nay cũng đang lo nguy cơ bị Suy-Lạm; vì trong ba tháng đầu năm nay tỷ lệ tăng trưởng kinh tế chỉ có 1.8% (so với 3.1% ba tháng cuối năm 2010) mà giá sinh hoạt thì tăng đến 3.8% (so với 1.7% ba tháng trước). Ở Âu Châu trong vùng đồng Euro, lạm phát cũng mới tăng lên tới 2.8%, nhưng hy vọng kinh tế phát triển tốt hơn năm ngoái.

Nguy cơ Suy Lạm bắt nguồn từ trong cơ cấu nền kinh tế. Kinh tế Trung Quốc phát triển trung bình 10% trong những năm qua nhờ hai “bộ máy kéo” là việc xây cất ào ạt và những món tiền chi tiêu của chính phủ địa phương. Số tiền lớn đổ vào các công trình xây dựng đường sá, phi trường, nhà cửa, cơ xưởng, đã giúp bảo vệ được công việc làm cho hàng trăm triệu người đáng lẽ thất nghiệp; nhưng không có hiệu quả để đem lại lợi nhuận tối thiểu; cho nên số tiền lưu hành tăng lên nhanh con nền kinh tế thì tăng chậm hơn. Trong năm 2009, tổng sản lượng nội địa Trung Quốc tăng 8.7% trong khi khối lượng tiền tệ tăng thêm gần 28%. Có thể nói, nhà nước in tiền phát cho các chính quyền địa phương và doanh nghiệp nhà nuớc chi tiêu, dù lợi suất rất thấp. Ðó là lý do chính gây ra nạn lạm phát hiện nay.

Bây giờ chính phủ trung ương coi chống lạm phát là ưu tiên số một, như các ông Hồ Cẩm Ðào và Ôn Gia Bảo đều tuyên bố. Các nhà xây cất sẽ vay được ít tiền hơn và các chính quyền địa phương sẽ bớt chi tiêu. Hai nguồn kích động kinh tế đó bị nghẽn, hậu quả là cả nền kinh tế sẽ bị khựng, chạy chậm lại. Hậu quả đó ở Trung Quốc diễn ra rất chậm chạp so với ở các nước như Mỹ, vì các đại công ty và chính quyền ở bên Tầu có quyền thế rất lớn; họ chỉ việc tạm ngưng không trả tiền cho những xí nghiệp mà họ thiếu nợ; các xí nghiệp đó lại trì hoãn không thanh toán ngay cho các công nhân hay con nợ của họ. Không ai phải tuyên bố vỡ nợ và khai phá sản ngay. Tuy hậu quả đến chậm, nhưng cái gì phải đến vẫn sẽ có ngày đến! Ðó là nguyên nhân mối lo tình trạng “Suy-Lạm” sẽ xẩy ra.

Trong ba năm qua, Trung Quốc đã tránh được cơn khủng hoảng đang lan trên thế giới nhờ chương trình kích thích kinh tế bằng tiền của nhà nước, bắt đầu vào cuối năm 2008. Họ sử dụng hai khí cụ trên làm động lực: các chính quyền địa phương chi tiêu hào phóng và cả nước tung tiền vào các chương trình xây dựng, mà các công ty xây dựng lớn nhất cũng thuộc về nhà nước. Khi đồng tiền được đổ vào nền kinh tế, nó sẽ thúc đẩy các hoạt động sản xuất và tiêu thụ, bảo vệ công việc làm, giữ tỷ lệ tăng trưởng cao. Nhưng tất nhiên khi nhiều đồng tiền được tuôn ra thì cũng gây ra cảnh vật giá leo thang.

Trung Quốc đang theo dõi bài học ở Mỹ. Cuộc khủng hoảng ở Mỹ bắt đầu từ năm 2007-08 do quả bóng địa ốc phồng lên to quá bị nổ, xẹp, đưa tới hệ quả là kỹ nghệ xây cất ngưng đọng và dân chúng thấy mình nghèo đi vì tài sản xuống giá. (Từ năm 2006 đến 2010, giá nhà cửa ở Mỹ bị tụt xuống 28%, dân Mỹ mất 6,300 tỷ đô la). Khi người tiêu thụ Mỹ thấy mình nghèo đi và lo lắng tương lai, cuộc khủng hoảng tài chánh khiến các ngân hàng run giảm bớt việc cho vay, kinh tế Mỹ trì trệ cho tới bây giờ chưa thoát. Mối đe dọa này đang diễn ra ở nước Trung Hoa.

Trong khi mối lo lớn ở Mỹ là hệ thống ngân hàng thương mại chưa hồi phục, thì vấn đề chính ở Trung Quốc vẫn là các doanh nghiệp nhà nuớc, chiếm một nửa số chi tiêu trong nền kinh tế. Trong mấy năm trước, các doanh nghiệp này đóng vai chi tiêu để kích thích; bây giờ đến lúc mối lo lạm phát khiến phải kiềm hãm tốc độ chi tiêu, chính khối doanh nghiệp này sẽ trở thành gánh nặng cho cả nền kinh tế vì hiệu quả rất thấp mà số tài nguyên được sử dụng lại cao. Các ngân hàng trả lãi rất thấp cho người dân gửi tiền, thu thập tiền để dành của dân rồi chuyển phần lớn cho các doanh nghiệp nhà nuớc. Tiền nhà nước giao cho các xí nghiệp của nhà nước không mang lại năng suất cao, trung bình phải chi ra bẩy đồng mới tạo thêm được một đồng cho tổng sản lượng nội địa. Chính tình trạng họ “chi rất nhiều sản xuất chẳng bao nhiêu” là một nguyên nhân chính gây nên lạm phát.

Nhưng Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Hoa không thể kìm hãm đà chi tiêu của các xí nghiệp quốc doanh một cách kiên quyết, vì đó là cơ sở nuôi những công nhân cho có việc làm để sống và các cán bộ có cơ hội làm giầu. Chính sách giảm bớt chi tiêu để ngăn lạm phát hiện đang được chính quyền trung ương công bố, nhưng không chắc các xí nghiệp nhà nước đã thi hành nghiêm chỉnh. Nếu Bộ Chính Trị ngã lòng, nới lòng việc chi tiêu, thì lạm phát phi mã sẽ không thể kìm lại được.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Tại Hà Nội bàn đổi mới chính trị

Ngô Nhân Dụng
Một bạn ở Hà Nội cho biết anh cứ tưởng mối lo lớn nhất của nhà nước trong hai ngày qua là vụ cái hầm cầu ở phi trường Nội Bài. Sau trận mưa hầm cầu bị nứt, nước nhơ bẩn tràn ra, ngập cả sân bay.

Nguyên do là vì nước mưa ngập không có lối thoát, chất phế thải từ dưới hầm chui lên, máy bay đang chờ khách phải đóng cửa cho đỡ ngửi mùi xú uế. Nhờ báo chí loan tin vụ này, với tựa đề, “Sân bay quốc tế Nội Bài bục bể phốt” mà dân ta học thêm được một tên gọi cái hầm cầu, tên chữ gọi là cái Bể Phốt. Chữ Phốt có lẽ do chữ Pháp fosse, cái hầm, cái hố, tiếng Tây gọi hầm chứa các chất phế thải là fosse septique, dịch sang tiếng Anh là septic tank. Cái sân bay của thủ đô, giống như cái cổng chính ngôi nhà mở ra thế giới, tại một nước Việt Nam đang tìm đường tiến tới Chủ Nghĩa Xã Hội, không lẽ lại để nước dơ chảy đem mùi hôi xông lên nồng nặc như vậy! Chắc Bộ Chính Trị phải quan tâm đến tai nạn này.

Nhưng người dân đoán lòng đảng bị sai hoàn toàn. Ngay trong lúc nhà nước chưa xử lý xong vụ nước lụt từ cái hầm, cái “phốt” tại sân bay, thì đảng đã nhanh tay chuyển mục tiêu sang một điểm mới, bắt buộc dân chúng phải quay mắt (hoặc mũi) về hướng khác, vào mục tiêu mới, rồi tha hồ bàn tán với nhau. Ðề tài mới đang được dân chú ý là một cuộc “tọa đàm” do tạp chí Cộng Sản tổ chức với đề tài lớn vô cùng: Ðổi mới chính trị! Cuộc hội thảo ngày Thứ Ba, 10 Tháng Năm 2011 vừa qua, góp mặt “nhiều nhà khoa học đến từ các viện nghiên cứu chiến lược và học viện lớn!” Có thể coi đây là một cái bể, cái phốt chứa đầy những bộ não siêu việt nhất của đảng và nhà nước, một cái bể tư duy!

Mạng Việt Nam Net thuật lời ông Vũ Văn Phúc, tổng biên tập tạp chí Cộng Sản, nói trong cuộc tọa đàm rằng nếu không đổi mới chính trị cùng với đổi mới kinh tế “đồng bộ, nhịp nhàng, ăn khớp” thì chúng sẽ cản trở lẫn nhau. Nói cách khác, đổi mới kinh tế không đi song song với đổi mới chính trị thì kinh tế sẽ ngừng tiến bộ. Ðây là một ý kiến đã được ký giả nêu lên trên tạp chí Thế Kỷ 21 từ 20 năm trước, trong một bài đặt câu hỏi “Ði Một Chân Ðược Bao Lâu?” Ý chính là: Không đổi mới chính trị thì sẽ tới lúc các tiến bộ kinh tế sẽ ngưng lại, vì các chế độ độc tài chuyên chế không tạo được khung cảnh để sử dụng hết các sức mạnh của kinh tế thị trường. Bây giờ đảng Cộng Sản Việt Nam mới cho mở cuộc hội thảo về đổi mới chính trị, nhưng lại chỉ cho các cán bộ nói chuyện với nhau và nghe lẫn nhau, trong một cái bể khép kín mà thôi!

Tại sao họ lại chậm trễ đến 20 năm như vậy? Một vị từng làm lớn trong Viện Báo Chí là ông Dương Xuân Ngọc nói rằng ở Việt Nam việc “đổi mới kinh tế được nghiên cứu kỹ” còn “vấn đề về đổi mới chính trị lại chưa được đề cập nhiều, thậm chí đôi khi né tránh.” Ðây là một nhận xét được người dân Hà Nội đánh giá là “tuyệt vời,” vì nó chứng tỏ người phát biểu ra câu nói đó không hề biết ở ngoài đường, trong tiệm cà phê dân chúng đang nói những chuyện gì với nhau!

Khi nói “vấn đề về đổi mới chính trị chưa được đề cập nhiều” có nghĩa là ông này không hề biết đến những vụ bắt giam, bỏ tù các nhà trí thức đòi đổi mới chính trị, như Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Văn Ðài, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Ðan Quế, vân vân, cho tới Cù Huy Hà Vũ! Ai đã bịt mắt bịt tai các ông mà quý ông lại nghĩ rằng người Việt Nam không bàn đến đổi mới chính trị? Chỉ những bộ óc tự nhốt trong cái hầm, cái “phốt tư duy” của đảng Cộng Sản mới có thể phát ngôn như thế!

Hàng chục năm qua, bao nhiêu người Việt Nam lên tiếng đòi đổi mới chính trị, đòi dân chủ hóa. Gần đây, một thanh niên 21 tuổi là sinh viên Nguyễn Anh Tuấn quê ở Ðà Nẵng cũng mạnh dạn thách thức chính quyền bằng cách gửi thư cho Viện Kiểm Sát Tối Cao, xin họ bắt giam và đem anh ra xử, về những “tội” giống hệt Cù Huy Hà Vũ! Anh Nguyễn Anh Tuấn còn trưng trên mạng bức hình chụp anh đang cầm những bài do Cù Huy Hà Vũ viết, những bài được gọi là chứng cớ buộc tội trong vụ xử án cấp tốc tháng trước! Anh Tuấn thách thức rằng nếu trong 20 ngày mà không bắt anh, tức là nhà nước công nhận các tài liệu do Cù Huy Hà Vũ viết ra không “phạm tội,” tức là chính Cù Huy Hà Vũ cũng vô tội!

Một thanh niên 21 tuổi yêu cầu cơ quan công tố cao nhất nước phải trả lời mình theo quy tắc minh bạch, công khai; hành động đó có nghĩa anh đang đòi nhà nước thay đổi từ quan niệm chính trị đến định chế tư pháp. Như vậy thì nói rằng không ai đề cập đến đổi mới chính trị làm sao được? Ngoài đường, trong quán, người ta nói chuyện đổi mới chính trị từ hai, ba chục năm nay, các ông cứ sống trong cái hầm tư duy đóng kín của đảng, không biết gì hết! Ðáng lẽ các ông phải mời những người đã thảo luận vấn đề này từ 20 năm qua, như Hà Sĩ Phu, Nguyễn Ðan Quế, Nguyễn Thanh Giang, Mai Thái Lĩnh, tới “tọa đàm” với các ông mới phải! Tại sao cứ tự nhốt mình trong cái hầm tư duy kín mít như thế? Người dân chỉ biết là cuộc tọa đàm này gồm toàn các “nhà khoa học” của đảng, họ nói cho nhau nghe trong một cái hầm của đảng, không cho người ngoài được tham dự, cũng không ai được vô dự thính! Cuối cùng chỉ có một bản tin tóm tắt trên mạng lưới của đảng, coi như hé cửa cái hầm cho người ngoài được ngửi một chút cho biết bên trong có những gì!

Nhưng người dân còn thắc mắc thêm, là tại sao bỗng dưng, trời không mưa dầm, nước không ngập lụt, mà Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam lại cho mở hé cái hầm tư duy để cho các “nhà khoa học” của họ lên tiếng nói với nhau và nghe lẫn nhau như vậy? Nhưng nếu ai tinh ý một chút thì thấy ngay đã có một tín hiệu được phát ra, báo trước “vụ mở cửa hầm” bàn về đổi mới chính trị, phát ra từ năm ngoái rồi. Không, không phải một tín hiệu loan ra trước đại hội đảng Cộng Sản. Trước, sau Ðại Hội XI, họ vẫn nói đi nói lại là không bàn vụ thay đổi chính trị, cấm ngặt! Cho tới khi đại hội đó bế mạc, đảng ta vẫn cương quyết đi một chân cho tới cùng!

Tín hiệu về đổi mới chính trị được phát ra từ năm ngoái, nhưng phát ra ở bên Tầu! Tháng Tám năm 2010, ông Ôn Gia Bảo, thủ tướng Trung Quốc đi thăm thành phố Thẩm Quyến, đã đề cập tới vấn đề này. Thẩm Quyến là nơi thí nghiệm đầu tiên chương trình cải tổ kinh tế của Cộng Sản Trung Hoa. Nhân dịp họ kỷ niệm 30 năm thành lập đặc khu kinh tế Thẩm Quyến, ông Ôn Gia Bảo tới thăm đã báo động rằng việc đổi mới kinh tế mà Thẩm Quyến đi tiên phong, sẽ bị ngưng trệ, nếu Trung Quốc không bước đi thêm cái chân thứ hai, là thay đổi chính trị!

Tháng Ba năm nay, sau khi bế mạc phiên họp của Quốc Hội ở Bắc Kinh, ông Ôn Gia Bảo nhắc lại một lần nữa. Trong một cuộc họp báo, ông Ôn Gia Bảo còn nói rõ hơn về nhu cầu cải tổ chính trị, gia tăng các quyền tự do cho dân chúng. Ông nói chỉ có thay đổi chính trị mới giải quyết được những nỗi oán than của dân về lạm phát, tham nhũng, môi trường sống bị hủy hoại, và sự chênh lệch về giầu nghèo mỗi ngày một lớn hơn.

Trong một cuộc bút đàm trên mạng, ông Ôn Gia Bảo đã nhấn mạnh tới vấn đề hạn chế quyền lực của nhà nước. Ông nói quyền hành của các quan chức lớn quá, mà không có định chế nào kiểm soát các giới hạn cả; đó là một nguyên nhân gây ra tham nhũng.

Cái gì của Ôn thì trả lại cho Ôn, cho nên trong cuộc tọa đàm ở Hà Nội ông Phó Viện Trưởng Viện Chiến Lược Bùi Tất Thắng đã nhắc lại những ý kiến của ông Ôn Gia Bảo, tức là “nếu không có sự đảm bảo về cải cách thể chế chính trị thì các thành tựu cải cách kinh tế sẽ biến mất.” Ông Ôn Gia Bảo còn nói: “Muốn trừ bỏ cái đất sống của nạn tham nhũng, chúng ta cần thay đổi những định chế và hệ thống chính trị.” Cho nên, các ông khác ở Hà Nội cũng nói giống hệt như vậy, như khi nói cần đổi mới chính trị để “hạn chế được tầm ảnh hưởng của một vài cá nhân đến lợi ích toàn cục” (Dương Xuân Ngọc) hoặc để “khắc phục tình trạng tha hóa, yếu kém của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có trọng trách cao ở các cấp” (Thiếu tướng Lê Văn Cương).

Tướng Lê Văn Cương, nguyên viện trưởng Viện Chiến Lược và Khoa Học, Bộ Công An cũng nói giống hệt như ông Ôn Gia Bảo: “Quyền lực không được giám sát là quyền lực sẽ bị tha hóa. Ðó là tất yếu và không có ngoại lệ.”

Như ta thấy, những lời Ôn gia Bảo nói ở Thẩm Quyến, Bắc Kinh, đã được lập lại ở Hà Nội trong cái “hầm tư duy” do Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam cho phép mở ra. Ðây là một truyền thống lâu đời của đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ năm 1950, Hồ Chí Minh đã theo đường lối đó. Khi Bác Mao hô “chỉnh huấn” thì Hồ cũng hô chỉnh huấn. Khi Mao hô “lao cải” thì Hồ cũng thành lập các trại tù “cải tạo lao động.” Mao đấu tố địa chủ thế nào thì Hồ cũng cải cách ruộng đất như vậy. Khi Mao hô “Bách hoa tề khai, bách gia tranh minh” thì Hồ cũng phát động “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng.” Tóm lại, cho đến nay đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn trước sau như một tiếp tục sự nghiệp “ăn theo, nói theo” đã được Hồ Chí Minh mở đường từ 60 năm qua! Bác đã nói theo Mao, giờ các cháu cũng biết nói theo Ôn!

Ðiều đáng chú ý là bữa Tháng Ba vừa qua, ông Ôn Gia Bảo đã lập lại các ý kiến về đổi mới chính trị sau khi đã nghe ông Ngô Bang Quốc, chủ tịch Quốc Hội, nhấn mạnh trong bài diễn văn khai mạc khóa họp, rằng đảng Cộng Sản Trung Hoa không chấp nhận cải tổ chính trị! Ông này còn dọa các đại biểu Quốc Hội rằng nếu thay đổi thì sẽ sinh loạn! Ngô Bang Quốc nói Trung Quốc không thể “sao chép” các thể chế chính trị dân chủ, mà ngược lại, phải “củng cố và nâng cao quyền lãnh đạo của đảng, phải làm cho quyền lãnh đạo này thêm chặt chẽ và hoàn hảo hơn!”

Như vậy thì đảng Cộng Sản Trung Quốc theo Ôn Gia Bảo hay theo Ngô Bang Quốc? Có lẽ họ theo cả hai. Nói theo Ôn, làm vẫn theo Ngô! Nên nhớ, Ngô Bang Quốc đứng hàng thứ hai trong Bộ Chính Trị, trên Ôn Gia Bảo và chỉ dưới Hồ Cẩm Ðào!

Ở Việt Nam, cái hầm tư duy của đảng cũng biết giữ mồm giữ miệng. Khi nói về đổi mới chính trị, ông tướng công an Lê Văn Cương không quên nhấn mạnh rằng “...đổi mới chính trị mạnh mẽ là để góp phần củng cố vai trò lãnh đạo của Ðảng!” Ðó là tóm tắt mục đích cuộc hội thảo trong hầm này: Ðổi mới chính trị làm sao cũng được, miễn là vẫn chỉ có một đảng thống trị!

Cái hầm tư duy được mở hé ra cho dân ngửi chút mùi “đổi mới chính trị.” Nhưng người dân Hà Nội vẫn chỉ ngửi thấy một thứ mùi từ bên trong cái hầm đó. lúc nào cũng vẫn một mùi cũ: Bên Tầu nói sao, bên ta nói vậy! Và mục đích vẫn là: Củng cố đảng!

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Ngày trước sợ ai? Bây giờ ai sợ?

Võ Long Triều
Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975 cả miền Nam Việt Nam sống trong lo âu sợ hãi! Công chức quân nhân bị đày đi tù khổ sai dưới chiêu bài “học tập cải tạo,” một sự trả thù, trấn áp, hôi của, giống như giặc thời thượng cổ, kẻ thắng trận có quyền cướp nhà, lấy đất, thu dọn chiến lợi phẩm chở về Bắc ngày nầy sang tháng khác, thậm chí máy in không chở được cũng tháo gỡ chở đi.
Image
Hình ảnh công an CSVN đàn áp dân chúng. (Hình: baotoquoc.com)

Dân chúng miền Nam, người thì bị cưỡng bức phải đi ‘kinh tế mới,” những nơi đất đai cằn cỗi, người thì bị buộc làm “lao động xã hội” mỗi tháng bao nhiêu ngày, mỗi gia đình bao nhiêu người. Rồi lại có tin đồn con gái miền Nam sẽ bị ép gả cho thương phế binh miền Bắc. Kết quả những cập trai gái hối hả lấy nhau để tránh cảnh đọa dày tình cảm.

Xã hội miền Nam đang sống trù phú bỗng dưng bị thiếu gạo ăn, toàn bộ nhu yếu phẩm được phân phối theo tiêu chuẩn. Tiền bạc đổi thành giấy lộn với hình Hồ Chí Minh không có vàng bảo chứng.

Trong tình huống đó miền Nam khởi sự có chống đối, cộng sản bắt người bừa bãi với khẩu hiệu “Bắt lầm hơn tha lầm.” Cái gọi là tòa án nhân dân xử 5, 10, 15, 20 năm đến chung thân, tử hình, tòa án không biết đếm số lẻ. Những năm tháng đó khu tử hình của khám Chí Hòa đầy người, sáng nào cũng có xe Volkswagen rè rè vô chở người đi hành quyết. Tôi bị giam trong đó khá lâu nhưng số may còn sống sót.

Sự đô hộ của cộng sản Hà Nội kéo dài với một chế độ hà khắc, khiến cho hàng trăm ngàn dân miền Nam liều chết bỏ xứ vượt biên, chấp nhận năm phần sống mười phần chết. Thời đó có một câu truyền miệng khắp xứ: “Một là nuôi cá, hai là nuôi má, ba là má nuôi.” Có nghĩa là nếu chết trên biển cả thì làm mồi cho cá, còn thoát được tới bến bờ bất cứ xứ tự do nào thì ra sức lao động kiếm tiền gởi về nuôi má, và nếu bị bắt lại ngồi tù thì má xách cơm nuôi.

Sự sợ hãi và tình trạng đói khổ kéo dài cho đến năm 1986, Tổng Bí Thư Trường Chinh tuyên bố “đổi mới để sống còn” thì người dân bắt đầu hy vọng thấy có ánh sáng. Tuy nhiên cái ánh sáng đó chiếu rọi trên người dân thì ít mà nó chiếu trên đảng viên cán bộ nhiều hơn nhờ hối lộ tham nhũng đều trời. Sự cai trị hà khắc, độc đoán độc tài kéo dài một phần tư thế kỷ!

Mãi đến đầu thế kỷ XXI sự sợ hãi mất dần vì sự bất công đàn áp, cướp đất, đuổi nhà, bất kể nhà đất của “gia đình cách mạng” hay của cán bộ về hưu. Từ đó có những cuộc biểu tình chống đối trước cửa Quốc Hội, trước dinh thự nhà cầm quyền, hay những nơi nào “dân oan” có thể tụ tập để phản đối. Trong số dân đó có đảng viên hưu trí mang mề đay đỏ ngực.

Công nhân hãng xưởng biểu tình đòi tăng lương, tố cáo chủ nhân người ngoại quốc cấu kết với nhà cầm quyền bóc lột nhân công. Mỗi năm xảy ra hàng ngàn cuộc đình công trên khắp xứ.

Công Giáo phản đối cướp đất nhà thờ, đàn áp giáo dân, bắt bớ đánh đập tu sĩ. Có lần giáo dân Công Giáo xuống đường đến 250,000 người, các hãng thông tấn ngoại quốc ước lượng gần 500,000 người.

Phật Giáo bị cấm đoán, giam cầm, quản thúc thượng tọa, đại đức.

Trí thức bất bình phê phán nhà nước công khai, hoặc bằng những trang blog cá nhân trên “Internet.” Những kẻ đó cũng bị tù đày, như blogger Ðiếu Cầy là điển hình. Phong trào dân chủ 8406 thành hình, bắt bớ càng đông.

Quân nhân, cựu tướng lãnh, đảng viên cao cấp phản đối nhà nước bán đất, dâng biển, cho thuê rừng.

Tóm lại sự sợ hãi biến thành sự phản đối và tố cáo nhà cầm quyền.

Hà Nội biết rõ, chẳng những dân chúng bất mãn mà đảng viên cũng chống đối. Ðứng trước tình trạng bất ổn ngày càng gia tăng, nhà cầm quyền Hà Nội khởi sự lo âu, lúng túng. Họ muốn tồn tại nắm giữ quyền hành lâu dài để thu gom của cải bất chính nên họ phải nặng tay đàn áp nhiều hơn. Bây giờ tình thế đổi ngược, dân, quân, trí thức không còn sợ nhà nước mà trái lại nhà nước lo sợ cho chế độ độc tài độc đảng có thể bị quần chúng đứng lên đạp đổ chưa biết lúc nào.

Sự lo sợ của nhà cầm quyền thể hiện bằng những cuộc bắt bớ vô cớ, phi lý, bằng những cuộc xử án phi pháp, bằng những sự hù dọa buộc dân đến sở công an làm việc, bằng sự ban hành điều 88 bộ hình luật, bằng những chỉ thị cho công an và quân đội phải cảnh giác theo sát những hiện tượng “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến.”

Gần đây nhứt, sau những biến cố chính trị ở Châu Phi lật đổ các chế độ độc tài, có đổ máu và không đổ máu, làm cho Hà Nội càng run sợ. Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế công khai kêu gọi xuống đường, và dùng điện thoại di động liên lạc để tập hợp. Công an không dám bắt ông Quế sợ đông đảo quần chúng xuống đường viện cớ đòi trả tự do cho BS Quế. Trước kia, một lời kêu gọi xuống đường lật đổ chính phủ như thế sẽ bị vào tù lãnh án chung thân hay tử hình ngay. Bây giờ Linh Mục Nguyễn Văn Lý hết phép dưỡng bệnh tại gia, công an không dám bắt trở lại, sợ ngài chết trong tù sẽ là nguyên do biểu tình lớn trong tang lễ của ngài. Nhà nước ra lệnh kiểm tra lý lịch khi đăng ký mua thẻ điện thoại di động trả tiền trước, đồng thời đóng cửa gần 500 cơ sở cho thuê mướn sử dụng Internet. Mục đích là ngăn chận tin tức và hình ảnh trong nước lọt ra ngoài và tin tức bên ngoài lọt vào trong xứ, làm sôi sục, tạo lửa đốt cháy chế độ.

Sự sợ hãi của đảng cộng sản Hà Nội còn thể hiện bằng thỏa ước “Hợp Tác Công Lực” ký kết giữa giám đốc công an Hà Nội và công an Trung Quốc. Phòng khi nào công an Hà Nội bị tràn ngập, hoặc không chấp nhận đàn áp dân lành theo lệnh của đảng, thì các nhà lãnh đạo Việt Nam nhân danh sự hợp tác công lực đó mà viện binh từ Mẫu Quốc Trung Hoa.

Cũng nhân cơ hội Hà Nội tỏ bày sự lo sợ đó, phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương Tàu Cộng sang Việt Nam hâm nóng 16 chữ vàng, trong đó có hợp tác toàn diện. Nghĩa là kinh tế, quân sự, ngoại giao, toàn bộ những gì liên quan đến người đồng chí “tốt” thì cũng là vấn đề liên can đến người anh em “tốt” cần phải được hỗ trợ.

Mặc dù mọi biện pháp an toàn đều được Hà Nội chuẩn bị gần như chu đáo, nhưng còn vận nước và lòng dân, Hà Nội hoàn toàn không có khả năng ngăn chận khi nó xẩy đến. Một cuộc nổi dậy hy sinh có đổ máu, chừng đó công an và quân đội sẽ đứng về phía nhân dân bảo vệ quốc gia, chống Trung Quốc xâm lăng, lật đổ chế độ độc tài đảng trị là điều rất hữu lý.

Ðã có chỉ dấu tuổi trẻ trong nước dấn thân đòi phải thay đổi: gần đây nhứt là LS Cù Huy Hà Vũ, sinh viên Nguyễn Anh Tuấn, LS Lê Quốc Quân, BS Phạm Hồng Sơn... và còn bao nhiêu tuổi trẻ trong tù và ngoài đời vẫn tích cực tranh đấu đòi trả lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho dân tộc Việt Nam.

Nhìn về lịch sử của xứ người, ta thấy có nhiều sự thay đổi chế độ bắt nguồn từ sinh viên, trí thức, và những cuộc đàn áp càng thô bạo càng xui khiến những cuộc cách mạng càng đến mau. Ông Hoàng Louis XVI của Pháp ra lệnh cho giám đốc cảnh sát Fouchet bỏ tù và giết hại nông nô, kết cuộc Louis XVI và hoàng hậu lên đoạn đầu đài tại công trường “cách mạng” (place de la revolution), nay là Concorde.

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Tổng tham mưu trưởng Trung Quốc thăm Mỹ Tổng tham mưu trưởng Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) Trần Bỉnh Đức hôm qua tới Mỹ, trong một chuyến thăm lịch sử.
Đây là lần đầu tiên trong 7 năm một tổng tham mưu trưởng của Trung Quốc có chuyến công cán chính thức tới Mỹ.

Trong một tuyên bố được đưa ra ngay khi tới Washington, ông Trần khẳng định việc duy trì một mối quan hệ quân sự Trung - Mỹ lành mạnh, ổn định và độc lập, sẽ thúc đẩy mối quan hệ tổng thể giữa hai nước phát triển bền vững.
Image
Tổng tham mưu trưởng Quân đội Trung Quốc, Trần Bỉnh Đức. Ảnh: China-defense-mashup


Xinhua dẫn lời Tổng tham mưu trưởng PLA cho hay chuyến thăm lịch sử của ông tới Mỹ, là một phần trong nỗ lực thực thi những điều mà Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và Tổng thống Mỹ Barack Obama đã đồng thuận, trong việc phát triển quan hệ giữa quân đội hai nước

Ông Trần sẽ lần lượt có những cuộc tiếp xúc với Tổng tham mưu trưởng Liên quân Mỹ Mike Mullen, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và Cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ, ông Tom Donilon.

Lịch trình của người đứng đầu quân đội Trung Quốc còn có chuyến viếng thăm một loạt các căn cứ và cơ sở quân sự của Mỹ, trong đó có rất nhiều địa điểm không đón tiếp các lãnh đạo quân sự nước ngoài suốt nhiều năm qua. Đây được coi là một phần trong nghi thức đón tiếp trọng thị của nước chủ nhà Mỹ.

Tháp tùng Tổng tham mưu quân đội Trung Quốc là một phái đoàn cấp cao gồm nhiều tướng lĩnh hàng đầu của quốc gia đông dân nhất thế giới.

Trung Quốc hy vọng thúc đẩy việc xây dựng một mối quan hệ quân sự mới với Mỹ thông qua chuyến thăm này. Tuy nhiên, Trung Quốc và Mỹ trước hết phải giải quyết những bất đồng còn tồn tại trong mối quan hệ quân sự giữa đôi bên.

Trong khi đó, AP dẫn lời giới chức Lầu Năm Góc cho hay, chuyến thăm của ông Trần được hi vọng đánh dấu một sự khởi đầu mới cho mối quan hệ vốn nhiều thăng trầm giữa hai cường quốc quân sự ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Chuyến thăm của Tổng tham mưu Quân đội Trung Quốc đã bị hoãn lại, như một cách phản ứng quyết liệt sau khi chính quyền của Tổng thống Mỹ Obama hồi tháng 1/2010 chấp thuận hợp đồng bán vũ khí có trị giá lên tới 6,4 tỷ USD cho Đài Loan. Quan hệ quân sự giữa Bắc Kinh và Washington chỉ ấm dần lên khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates thăm Trung Quốc tháng 1/2011 và sau đó là chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào.

Đài Loan vẫn sẽ là vấn đề tồn tại chính trong quan hệ quân sự Trung - Mỹ. Người đứng đầu chính quyền Đài Loan Mã Anh Cửu cuối tuần trước thậm chí đã kêu gọi Mỹ đáp lại yêu cầu mua các máy bay chiến đấu F-16 cũng như các tàu ngầm chạy bằng nhiên liệu diesel, một động thái quân sự mà Trung Quốc tỏ thái độ không đồng tình.

Chuyến thăm lịch sử tới Mỹ của Tổng tham mưu trưởng Quân đội Trung Quốc sẽ kết thúc vào ngày 22/5.

Phan Lê

nguyensydney
Posts: 4
Joined: Sat May 14, 2011 5:01 pm

Post by nguyensydney »

Phái viên của Gadhafi tới Nga đàm phán Các phái viên của đại tá Gadhafi hôm nay tham gia các cuộc đàm phán với giới chức Nga tại Matxcơva, trong bối cảnh Tòa án Tội phạm Quốc tế (ICC) đang gây sức ép đòi bắt giữ nhà lãnh đạo Libya này.

"
Ban đầu, các đại diện của ông Gadhafi dự định tiếp xúc với cả các quan chức phe đối lập trong các cuộc đàm phán riêng tại Nga. Tuy nhiên, vì những lý do kỹ thuật, các cuộc gặp này đã không được diễn ra, BBC đưa tin. Điện Kremlin vẫn từ chối thừa nhận phe đối lập là chính quyền hợp pháp tại Libya, đồng thời duy trì quan hệ chính thức với chính quyền Gadhafi.
Image
Ông Gadhafi đang phải đối mặt với lệnh bắt của ICC. Ảnh: AP
Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov hôm qua cho hay: "Chúng tôi đồng ý tổ chức các cuộc gặp tại Matxcơva với các đại diện của cả chính quyền Gadhafi lẫn phe đối lập." Ông Lavrov cũng hi vọng các cuộc đàm phán với phe đối lập sẽ được nối lại trong một tương lai gần, sau khi bị hoãn lại.

Ngoại trưởng Nga nhấn mạnh nước này sẵn sàng đối thoại với tất cả các bên, đồng thời nhắc lại rằng Matxcơva kêu gọi chấm dứt giao tranh tại Libya.

Các phái viên của Gadhafi tới Nga trong bối cảnh ICC bắt đầu gây sức ép. Công tố viên trưởng Luis Moreno-Ocampo của ICC hôm qua tuyên bố đại tá Gadhafi, con trai ông là Saif al-Islam và giám đốc cơ quan tình báo Libya phải chịu trách nhiệm lớn nhất cho "những cuộc tấn công có hệ thống và tràn lan" nhằm vào thường dân nước này.

Ông Moreno-Ocampo cho hay, sau khi nghiên cứu hơn 1.200 tài liệu và 50 đoạn phỏng vấn với những nhân vật trong cuộc và các nhân chứng quan trọng, ICC có đầy đủ bằng chứng cho thấy đại tá Gadhafi "đã ra những mệnh lệnh cá nhân để thực hiện các vụ tấn công nhằm vào những thường dân không có vũ khí tại Libya".

"Các lực lượng của ông ta tấn công thường dân Libya tại nhà của họ và cả những nơi công cộng, bắn đạn thật vào những người biểu tình, sử dụng vũ khí hạng nặng để bắn vào các đám tang và bố trí các tay súng bắn tỉa để tiêu diệt những người rời các nhà thờ Hồi giáo sau khi cầu nguyện", vị công tố viên nói trong một cuộc họp báo tại trụ sở ICC ở The Hague, Hà Lan.

Theo ông Moreno-Ocampo, các hành động bức hại này vẫn đang tiếp diễn tại những khu vực thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Gadhafi. Các lực lượng trung thành với nhà lãnh đạo Libya chuẩn bị sẵn một danh sách những người bị cáo buộc là có tư tưởng chống đối, để lùng bắt và bỏ tù họ tại thủ đô Tripoli, rồi tra tấn những người này và khiến họ biến mất.
Image
Công tố viên trưởng Moreno-Ocampo trong cuộc họp báo tại The Hague. Ảnh: AFP


Vị công tố viên ICC cũng cho biết thêm rằng, dựa trên những bằng chứng thu thập được từ những người trốn thoát khỏi Libya, ông đã gần như chuẩn bị xong một phiên tòa dành cho Gadhafi và các nhân vật liên quan.

Các thẩm phán của ICC hiện vẫn chưa quyết định việc có đưa ra lệnh bắt với những người kể trên hay không. Trong khi đó, chính phủ Libya tuyên bố không quan tâm tới động thái của ICC, còn Hội đồng Chuyển giao Quốc gia của phe đối lập lại ca ngợi diễn biến có lợi cho họ. Tuy nhiên, Abdel Hafez Ghoga, phó chủ tịch của hội đồng này mong muốn rằng Gadhafi phải bị xét xử tại Libya trước khi bị đưa ra một tòa án quốc tế.

Kể từ khi những cuộc biểu tình chống chính phủ nổ ra ở Libya ngày 15/2 tới khi liên quân NATO bắt đầu tấn công nước này ngày 19/3, khoảng 500 tới 700 dân thường đã chết.

Phan Lê

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Quyền lực không qua mặt luật pháp
Ngô Nhân Dụng
Vụ ông Dominique Strauss-Kahn bị bắt giữ cho thấy trước một hệ thống pháp luật chạy bình thường, mọi người đều bình đẳng. Giữa một “bồi phòng” vô danh thuộc lớp người “nghèo hèn” và một nhà chính trị có danh vọng quốc tế, không ai hơn kém ai.

Chúng ta không nên xử án ông trong công luận trước khi ông được ra tòa, không cần phê phán về đời tư của ông, nhưng vẫn có thể rút ra những bài học guồng máy công lý.

Dominique Strauss-Kahn đang là giám đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) với thẩm quyền sử dụng hàng tỷ đô la; ông có khả năng cứu nguy nhiều nước ra khỏi nguy cơ phá sản (ông đang thi hành các quyền đó trước khi bị bắt giam) với những món tiền cho vay hàng trăm triệu đô la Mỹ, ảnh hưởng đến công việc và nồi cơm hàng trăm triệu con người. Việc bắt giữ ông ở New York vào tối Thứ Bẩy vừa qua, có thể nói không ngoa, đã làm rung chuyển nhiều thủ đô trên thế giới. Ðáng lẽ ông đã tới Berlin ngày hôm sau để gặp bà Thủ Tướng Ðức Merkel vào hôm sau để thuyết phục bà ủng hộ việc cho Hy Lạp vay thêm tiền lần nữa để cứu kinh tế nước này khỏi suy sụp. Ngày Thứ Hai đáng lẽ ông đã tới Bruxelles để họp với các vị bộ trưởng tài chánh Âu Châu quyết định việc chi thêm tiền cho Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan và Bồ Ðào Nha. Ông có thể sẽ thuyết phục họ rằng cứu ba quốc gia này tức là cứu các nước dùng đồng Euro; nếu không cứu thì kinh tế Pháp, Ý, Áo, Tây Ban Nha sẽ gặp nguy hiểm! Nếu kinh tế Hy Lạp lâm cảnh khủng hoảng vì không đủ tiền trả nợ thì tất cả hệ thống ngân hàng trên thế giới sẽ bật đèn đỏ báo động; hậu quả là các nước khác cũng sẽ khó đi vay nợ! Ở Bắc Kinh, Brasilia, người ta cũng xôn xao; không phải vì sợ khủng hoảng tài chánh nhưng họ đã bắt đầu lên tiếng về việc tuyển chọn giám đốc mới cho IMF. Hai nước này muốn mở rộng cho nhiều quốc gia chứ không nên chỉ chọn người từ Âu Châu (ý nói Á Châu và Châu Mỹ La Tinh cũng nhiều nhân tài sẵn sàng ứng cử)!

Tóm lại, Dominique Strauss-Kahn là một nhân vật rất quan trọng! Chắc ông biện lý và ông chỉ huy trưởng cảnh sát New York đã phải suy nghĩ rất kỹ trước khi thi hành việc bắt giữ một người đầy quyền lực như thế. Chắc họ phải phỏng vấn người phụ nữ tố cáo ông Strauss-Kahn cưỡng ép tình dục rất kỹ để thấy có đủ lý do để tạm giam một nhân vật quốc tế. Nếu bắt giữ sai lầm, họ có thể bị khiển trách, ghi vào hồ sơ, sẽ khó được thăng thưởng sau này, có khi còn bị mất việc nữa. Hành động bắt ông Strauss-Kahn đã diễn ra rất gấp và bất ngờ.

Người tố cáo, cô nhân viên khách sạn Sofitel nói cô bị ông Strauss-Kahn tấn công vào buổi chiều khi cô vào dọn phòng. Ðến tối ông đã lên máy bay ngồi vào ghế rồi mới bị mời ra khỏi máy bay, và bắt giữ ngay. Người phụ nữ tố cáo ông là một di dân từ Phi Châu tới, 32 tuổi, có báo nói là cô góa chồng và có một con gái 16 tuổi, có báo nói cô đang sống với chồng, con ở Bronx. Luật sư của cô cho biết cô đã được đưa tới bệnh viện để chữa vết thương nhẹ. Nhưng luật sư của ông Kahn nói không hề có việc sử dụng bạo lực trong vụ này, nghĩa là nếu có chuyện gì xẩy ra còn để lại vết tích thì đó là do sự thỏa thuận của hai bên.

Nếu ra tòa, luật sư của bên tố cáo và của Biện Lý Cuộc New York có thể mời những nhân chứng để cho thấy trong quá khứ ông Strauss-Kahn đã có tiền lệ đối xử với phụ nữ một cách không xứng đáng.

Một người mới tái xuất hiện ở Pháp là cô Tristane Banon, đã từng tố cáo bị ông Strauss-Kahn tấn công trong khi ông mời cô đến phỏng vấn ông vào năm 2002. Năm 2007 cô đã nói chuyện trên một đài truyền hình ở Pháp, mô tả chi tiết cảnh cô giằng co rồi chạy thoát. Bà mẹ của cô Banon, một nhà chính trị cũng thuộc đảng Xã Hội Pháp, hôm Thứ Hai vừa qua kể, năm 2002 bà đã khuyên con gái không nên làm to chuyện. Lý do vì cô sẽ bị tai tiếng trong nghề làm báo, và sẽ khó kiếm việc làm. Hơn nữa, bà nói, chính ông Strauss-Kahn đã ngỏ lời xin lỗi rồi. Nhưng, bây giờ, sau khi vụ New York đăng đầy trên các báo ở Pháp, cô Banon đang nói cô có thể sẽ kiện ông Kahn.

Một nhân chứng khác nữa là bà Piroska Nagy, một nhân viên Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế dưới quyền ông Kahn. Năm 2008, bà khai đã bị ông đã sách nhiễu tình dục, nhưng một hội đồng điều tra của IMF đã kết luận ông không có tội vì mọi liên hệ đều do hai bên thỏa thuận. Nếu Biện Lý Cuộc New York mời được những nhân chứng như trên, họ có thể đưa ra tòa để buộc tội, nói về tật xấu của ông Kahn.

Ngược lại, luật sư của ông có thể tìm cách chứng minh những gì xẩy ra trong khách sạn Sofitel ở New York vào Thứ Bẩy tuần trước cũng là một cuộc trao đổi có thỏa thuận. Ðây là một cuộc tranh luận theo lối “Anh nói thế này, ả nói thế khác.” Kết quả vụ án sẽ tùy thuộc vào những chứng cớ được đưa ra, do tài điều tra và lý luận của các luật sư.

Nhưng phản ứng trong dư luận nước Pháp không giản dị như ở Mỹ. Cựu Bộ Trưởng Văn Hóa Jack Lang mô tả vụ bắt giữ ông Kahn giống như một “cuộc hành hình người da đen” (lynching) để ám chỉ cảnh sát Mỹ có thể kỳ thị một người Pháp. Ông Bernard Debré nhận xét việc đưa ra cảnh ông Strauss-Kahn bị còng tay, râu ria chưa cạo, là một hình ảnh “sỉ nhục đối với IMF và sỉ nhục đối với công nhân Pháp.” Một đạo luật ở Pháp, từ năm 2002, đã cấm không được đưa hình ảnh một nghi can bị còng tay, vì như vậy là vi phạm nguyên tắc mọi người đều được coi là vô tội trước khi tòa tuyên án.

Nước Mỹ không có một đạo luật như vậy; mà có lẽ nên có. Vì một người với hình ảnh bị còng tay có thể sẽ tiêu tan sự nghiệp. Tai hại không khác gì bị tuyên án là có tội. Trong khi chưa có đạo luật tương tự, cảnh sát Mỹ không có quyền cấm các nhà báo không được chụp hình một nghi can khi giải ra tòa, dù người đó bị còng tay. Ở Mỹ người ta đã thấy hình ảnh những đại phú gia hoặc nhân viên cao cấp của các ngân hàng lớn bị còng tay đưa ra tòa vì bị tình nghi trốn thuế. Nghi can sau đó có thể thỏa thuận nộp tiền phạt để khỏi ra tòa, nhưng hậu quả của hình ảnh nhục nhã đó không bao giờ gột bỏ được.

Nhưng đối với dư luận bên Pháp, nhiều người đã đưa ra ý kiến là ông Strauss-Kahn đã bị gài bẫy. Ông đã nổi tiếng là người “đào hoa.” Trước đây hai tuần, được báo Libération phỏng vấn, Strauss-Kahn đã đề cập tới vấn đề này. Tờ báo hỏi nếu tranh cử thì ông nghĩ sẽ gặp những khó khăn thử thách nào. Ông nói rằng khi ông chính thức ra ứng cử (phải ghi danh trong Tháng Bẩy năm 2011) có ba điều sẽ được đối thủ dùng để đánh lại ông: Tiền, đàn bà, và gốc Do Thái (đương kim Tổng Thống Sarkozy cũng gốc Do Thái). Ông Kahn nêu lên cả một thí dụ: ông có thể bị gài bẫy tình dục, “một phụ nữ được trả 500,000 hay một triệu đồng Euro để tố cáo tôi hãm hiếp cô ta trong xe hơi chẳng hạn!” Ông Kahn nói thẳng với nhà báo: “Tôi yêu phụ nữ, thế thì sao nào, Alors?” Theo nhật báo Anh quốc The Telegraph, ông Henri de Raincourt, một bộ trưởng trong chính phủ Sarkozy tuyên bố ông không gạt bỏ giả thuyết ông Strauss-Kahn bị gài bẫy! bà Michelle Sabban, một nghị viên vùng Paris nói, bà tin chắc đây là một vụ âm mưu có tính chất quốc tế, vì nhiều người muốn ông phải ra khỏi IMF! Nhưng đằng nào thì cuối năm nay ông cũng hết nhiệm kỳ.

Chính Tổng Thống Sarkozy đã đề cử ông Kahn vào chức vụ giám đốc IMF bốn năm trước đây, nhiều người cho đó là một cách để đưa một đối thủ chính trị ra khỏi nước Pháp!

Ông Strauss-Kahn đang có triển vọng sẽ được đảng Xã Hội đưa ra làm đối thủ của Tổng Thống Nicolas Sarkozy trong cuộc tranh cử sang năm, mà trong tuần trước điểm dư luận của ông lên cao hơn đương kim tổng thống. Ông thuộc Ðảng Xã Hội Pháp có khuynh hướng trung-tả, nhưng bản thân ông lại được giới bảo thủ bên hữu tin tưởng vì thành tích khi làm bộ trưởng Kinh Tế, đã vận động và đưa nước Pháp vào khối sử dụng đồng Euro làm tiền tệ chung. Vì thế ông có nhiều triển vọng đắc cử tổng thống vào Tháng Tư năm tới. Sau vụ rắc rối này, triển vọng làm một ứng cử viên tổng thống của ông Kahn có lẽ sẽ chấm dứt, mặc dù tương lai chính trị của ông vẫn còn, nếu đóng vai bộ trưởng.

Biện lý có thể sẽ đòi tòa tuyên án nặng nhất, vì hệ thống tư pháp ở Mỹ thường đứng về phía những người thấp cổ bé miệng trong xã hội. Những người có quyền thế thường bị đề nghị án nặng hơn mức trung bình, nếu nạn nhân thuộc lớp người địa vị yếu kém. Ngoài ra, trong vụ này còn có một khía cạnh khác, là mối tương quan bất bình đẳng giữa người đàn ông và người đàn bà trong xã hội. Người Mỹ rất bén nhậy trong vấn đề này, và hệ thống công lý ở Mỹ thường thiên về phía phụ nữ khi họ tố cáo bị cấp trên sách nhiễu tình dục. Văn hóa ở các nước cổ truyền như tại Á Châu và Âu Châu thì không nhậy cảm như vậy; có lẽ vì thế cô Banon đã giữ im lặng trong nhiều năm qua. Quan tòa ở New York từ chối không cho ông tại ngoại hậu tra, vì sợ khi ông ra khỏi nước Mỹ thì sẽ khó kêu ông trở lại được, như trường hợp nhà đạo diễn Roman Polanski, từng bị tố cáo về tội tình dục, đang còn ở Âu Châu và khó bị dẫn độ về nước Mỹ.

Tuy nhiên, văn hóa các nước đều đang thay đổi, phụ nữ Âu Châu và Á Châu ngày càng mạnh bạo hơn. Khi một viên công an ở Việt Nam đe dọa và sách nhiễu tình dục một người đàn bà sau khi đã bắt giam chồng của bà (đã chết trong khi bị giam), thì chính người phụ nữ đó đã công khai lên tiếng tố giác. Chúng ta không ngạc nhiên khi hai người đầu tiên ở Âu Châu lên tiếng đề nghị ông Kahn từ chức là hai phụ nữ. Bà Maria Fekter, bộ trưởng Tài Chánh Công Nhân Áo nói tại Bruxelles rằng ông Kahn đang làm hại cho uy tín của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Bà Elena Salgado, bộ trưởng Tài Chánh Tây Ban Nha nói rằng nếu cần bày tỏ thái độ, bà sẽ ủng hộ người đàn bà bị tấn công, nếu đúng là có việc tấn công. Ðiều may mắn cho IMF là họ không phải trả tiền án phí trong vụ này, vì ông Strauss-Kahn đi New York về việc riêng, chỉ để thăm con gái ông đang học tại đây, và ông tự trả tiền khách sạn ($3,000/đêm).

Trong khi chờ đợi ra tòa để được thụ lý vào ngày Thứ Sáu tới, ông Strauss-Kahn vẫn được đối xử như một nhân vật quan trọng trong nhà tù ở đảo Rikers, New York. Trong một nhà giam với hàng chục ngàn tù nhân, ông được ở phòng riêng, ăn cơm riêng. Cảnh sát nói họ muốn bảo vệ ông, vì các tù nhân ở Mỹ rất ghét những người bị buộc tội về tình dục. Ngay ở trong nhà tù, hệ thống công lý cũng lo đến quyền lợi của người bị giam cầm. Tại nhà tù này, năm ngoái, một người gác đã bị án 6 năm tù vì ra lệnh đánh một tù nhân. Theo Biện Lý Cuộc, thì nhân viên này đã bảo một thanh niên đánh một thanh niên khác, vì hắn bước ra khỏi hàng. Vào Tháng Hai năm nay, ban giám đốc nhà tù này đã phải bồi thường gia đình một tù nhân bị chết, sau khi đánh nhau với lính gác.

Chúng ta không bao giờ có một hệ thống công lý hoàn hảo. Nhưng một hệ thống tư pháp có lo cho những người yếu thế, bảo vệ sự công đẳng giữa người giầu và người nghèo, giữa người nam và nữ, giữa người gác tù và người bị giam, đó là những điều kiện tối thiểu. Như vụ một du học sinh Việt Nam được tòa án ở San Jose bảo vệ, cảnh sát phải bồi thường cho anh trên 200,000 đô la, vì một cảnh sát đã có cử chỉ bạo hành với anh. Mặc dù anh không phải là công dân Mỹ nhưng quyền lợi của anh vẫn được bảo vệ, vì anh là một con người. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, đó là nguyên tắc chúng ta phải giữ gìn.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Một số điểm chính trong bài diễn văn của TT Obama
Thứ Năm, 19 tháng 5 2011

Image
Hình: AP
Tổng thống Obama đọc bài diễn văn về Bắc Phi và Trung Ðông

Tổng thống Barack Obama nêu lên chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với một số quốc gia Trung Đông trong bài diễn văn hôm thứ Năm:

Đối với Ai Cập

Tổng thống Obama nói Hoa Kỳ cần phải giúp người dân Ai Cập phục hồi sau vụ gián đoạn đột ngột vì biến động đòi dân chủ bằng cách giúp những nhu cầu tài chánh ngắn hạn của nước này.

Hoa Kỳ sẽ giúp Ai Cập giảm khoảng 1 tỉ đô la tiền nợ và giúp Cairo được trở lại tiếp cận các thị trường bằng cách bảo đảm 1 tỉ đô la tiền vay.

Đối với Tunisia

Chính quyền Obama sẽ làm việc với Quốc hội để thành lập “quỹ doanh thương” để đầu tư vào Tunisia và Ai Cập. Quỹ này sẽ theo khuôn mẫu của quỹ từng giúp sự chuyển đổi của Đông Âu ra khỏi chế độ cộng sản trong những năm 1990.

Đối với Syria

Đề cập một cách trực tiếp khác với bình thường, Tổng thống Obama nói Tổng thống Syria Bashar al-Assad có một lực chọn: lãnh đạo việc chuyển tiếp dân chủ hay tránh đi nơi khác. Tổng thống Obama nói quân đội Syria phải ngưng việc nổ súng vào những người biểu tình, cho phép những cuộc biểu tình ôn hòa, thả tù chính trị và chấm dứt những vụ bắt bớ vô cớ.

Ông cũng kêu gọi Syria để cho những quan sát viên nhân quyền đến những thành phố hiện là các địa điểm nóng như Dara'a và cho phép họ tham dự vào những cuộc đối thoại nghiêm chỉnh để tiến đến chuyển tiếp dân chủ. Bằng không, theo lời tổng thống Obama, Tổng thống Assad sẽ tiếp tục bị thách thức trong nước và bị cô lập tại nước ngoài.

Đối với Bahrain

Tổng thống Obama gọi Bahrain là một đối tác lâu đời mà an ninh của quốc gia này được Hoa Kỳ cam kết bảo vệ. Ông nói chính phủ do phe Hồi Giáo Sunni lãnh đạo có quyền lợi chính đáng trong việc cai trị bằng luật pháp trong một quốc gia có đa số là người Shia.

Tuy nhiên Tổng thống Mỹ nói Hoa kỳ vẫn một mực giữ lập trường, cho dù công khai hay trong phạm vi riêng tư là những hành động bắt bớ hàng loạt và dùng vũ lực mạnh bạo là trái với quyền phổ quát của công dân Bahrain, và sẽ không chấm dứt được những đòi hỏi cải cách chính đáng.

Tổng thống Obama nói con đường duy nhất ở trước mặt là chính phủ và đối lập cần phải đối thoại. Ông nói chính phủ cần phải tạo ra những điều kiện đối thoại trong đó những người đối lập ôn hòa không bị cầm tù và đối lập phải được tham gia vào việc hình thành một tương lai công chính cho tất cả mọi người dân Bahrain.

Đối với Iran

Iran nói họ ủng hộ những cuộc biểu tình “mùa xuân Ả Rập,” nhưng lại áp chế quyền của chính người dân trong nước. Tổng thống Obama nói điều này là đạo đức giả.

Ông nói chính phủ Iran đàn áp tàn bạo phụ nữ và nam giới và bỏ tù những người vô tội vì đã tổ chức những cuộc biểu tình ôn hòa trên đường phố Tehran cách đây vài năm.

Tổng thống Obama hứa Hoa Kỳ sẽ tiếp tục kiên trì lập trường là người dân Iran cần phải lấy lại được những quyền của họ và có một chính phủ không bóp nghẹt những nguyện vọng của người dân.

Đối với Libya:

Tổng thống Obama nói việc nhà lãnh đạo Libya Moammar Gadhafi rời bỏ quyền lực là một điều không tránh khỏi khi những cuộc không kích của NATO và những chế tài quốc tế tiếp tục. Ông nói sự can thiệp quốc tế vào Libya cứu được hàng ngàn sinh mạng của những người chống đối ông Gadhafi.

Đối với Israel và Palestine

Tổng thống Barack Obama ủng hộ đòi hỏi chính của người Palestine về ranh giới của một quốc gia tương lai. Ông nói ông tin là ranh giới này sẽ căn cứ vào đường ranh 1967 - ranh giới có sẵn trước khi cuộc chiến 6 ngày xảy ra trong đó Israel đã chiếm những vùng đất của người Palestine.

Tổng thống Obama nói việc tiến đến một nền hòa bình bền vững chấm dứt cuộc xung đột Ả Rập-Israel khẩn thiết hơn bao giờ hết và Israel và người Palestine phải giải quyết những vấn đề then chốt xuyên qua những cuộc thương thuyết, để thành lập một quốc gia Palestine vững mạnh và một nước Israel được bảo vệ.

Tổng thống Barack Obama nói Hoa Kỳ tin tưởng là những cuộc thương thuyết cần đưa đến kết quả là thành lập hai quốc gia. Ông nói tiếp là Palestine cần có biên giới thường trực với Israel, Jordan và Ai Cập.

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Trung Quốc dân chủ hóa được hay không?
Ngô Nhân Dụng
Tuần trước, mục này đã nhắc đến cuộc thảo luận (gọi là tọa đàm) ở Hà Nội nói đến nhu cầu đổi mới chính trị tại Việt Nam, vì nếu không thay đổi chính trị thì kinh tế sẽ không tiến được.

Tất cả những lời phát biểu (được đưa lên một mạng của đảng Cộng Sản) quanh đi quẩn lại chỉ tóm lược các ý kiến mà ông Ôn Gia Bảo đã nói công khai ở bên Tầu, từ tháng 8 năm ngoái tới tháng 3 năm nay.

Một điểm “nổi bật” trong cuộc tọa đàm này chính là những lời không được nói tới, ít nhất là không được tường thuật! Các diễn giả chỉ nói rất hùng hồn đến việc “đổi mới chính trị” một cách chung chung, nhưng không thấy ai dám đả động đến những chữ “dân chủ hóa.” Ðiều đó cũng có thể đoán trước được; vì chính ông Ôn Gia Bảo cũng vẫn tránh không nhắc đến ba chữ kỵ húy này khi nói chuyện với đồng bào của ông. Chỉ có ông Ngô Bang Quốc, khi nói ngược lại, thì trình bày những điều rất cụ thể, thí dụ, ông nói Trung Quốc không thể chấp nhận chế độ đa đảng tranh cử, cũng không chấp nhận bầu lên một Quốc Hội giống như các nước tây phương.

Trước đây Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu đổi mới kinh tế sau khi Ðặng Tiểu Bình đã thí nghiệm bên Tầu. Bây giờ nghe bên Bắc Kinh người ta nói đến “đổi mới chính trị,” ở nước ta cũng lập lại giống hệt!

Nhưng liệu Cộng Sản Trung Quốc có thể thực hiện được việc thay đổi về chính trị hay không? Có thể trả lời ngay, việc dân chủ hóa nước Trung Hoa sẽ vô cùng khó khăn. Vì họ sẽ gặp rất nhiều chướng ngại xuất phát ngay trong nội bộ. Trong 30 năm thay đổi kinh tế, đảng Cộng Sản Trung Quốc đã gieo mầm và nuôi dưỡng những thế lực bảo thủ chống lại mọi thay đổi chính trị. Họ nằm trong các doanh nghiệp nhà nuớc và thế lực của họ hiện nay càng ngày càng mạnh hơn! Ông Tập Cận Ðình lên làm tổng bí thư, dù có muốn cũng khó lòng dân chủ hóa nước Trung Hoa.

Khi ông Ôn Gia Bảo báo động vào tháng 8 năm ngoái rằng Trung Quốc phải thay đổi về chính trị thì mới giữ được các thành quả do cải tổ kinh tế mang lại, người ngoài có thể rất ngạc nhiên. Nhưng các người theo dõi tình trạng kinh tế ở Trung Quốc thì biết rằng ông đang nói một nhu cầu khẩn thiết. Nhìn từ bên ngoài, kinh tế Trung Quốc đang phát triển gần 10% một năm, không có nhu cầu thúc bách nào bắt phải thay đổi. Nhưng nhìn rõ hơn vào tình trạng kinh tế Trung Quốc, thì người ta thấy chứa đầy mâu thuẫn nội tại, không thể giải quyết được nếu không thay đổi cơ chế. Ông Ôn Gia Bảo đã nói đến nhu cầu đặt ra những giới hạn trên quyền lực của những người đang cầm quyền như chính ông ta, nói đến nhu cầu phải để cho người dân được phê phán, được phát biểu ý kiến, và được bầu những người đại diện đích thực cho quyền lợi của họ lên nắm quyền. Nói cách khác, là phải dân chủ hóa.

Giới lãnh đạo như ông Ôn Gia Bảo biết đang có một mối mâu thuẫn ngày càng gay gắt là quyền lợi xung khắc giữa các doanh nhân ngoài đảng và những người nắm guồng máy kinh tế trong đảng. Như Giáo Sư Hoàng Á Sinh thuộc Ðại Học MIT thường nêu lên, kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng trong thập niên 1980 chính là nhờ giới tư doanh, nhưng sau vụ tàn sát ở Thiên An Môn, Cộng Sản Trung Hoa đã chuyển trục, lo củng cố các doanh nghiệp nhà nước và bỏ rơi, phải nói là kỳ thị các xí nghiệp tư nhân. Các doanh nghiệp nhà nuớc ngày càng lớn, lại được đảng Cộng Sản ưu đãi bằng cách cho vay tiền dễ dãi với lãi suất nhẹ. Trong khi đó, các xí nghiệp tư nhân phải đi vay trong một hệ thống “ngân hàng không chính thức” với lãi suất cắt cổ, cao gấp 10 lần lãi suất mà các doanh nghiệp nhà nuớc phải trả. Trong ba năm qua, đảng Cộng Sản lại bơm thêm tiền kích thích kinh tế, đi qua các doanh nghiệp nhà nuớc, tức là nuôi béo những thế lực bảo thủ nhất và kém hiệu năng nhất trong nền kinh tế. Các xí nghiệp tư rất năng động, thì đã bị bỏ rơi từ hai chục năm nay, nhưng vẫn cố tiến lên.

Một hình ảnh tiêu biểu cho tình trạng các xí nghiệp tư là thành phố Ôn Châu trong tỉnh Chiết Giang, với gần 8 triệu dân nhưng đã có 300 ngàn xí nghiệp nhỏ và trung (MSE). Trước đây Ôn Châu chỉ là một làng đánh cá, khi cả vùng này bị đảng Cộng Sản bỏ rơi vì ở bờ biển với núi non bao bọc, rất dễ bị quân đội Trung Hoa Quốc Gia tấn công. Ngay cả khi Ðặng Tiểu Bình cải tổ kinh tế, vùng này vẫn tiếp tục bị bỏ rơi. Chính người dân ở đây đã đứng ra mở mang kinh doanh và làm giầu. Ôn Châu đã trở thành thủ đô của nghề sản xuất máy lửa (hộp quẹt máy), chiếm 70% thị trường thế giới. Ôn Châu sản xuất 20% số giầy dép cho hơn một tỷ dân ở Trung Quốc, mỗi ngày làm ra 40,000 đôi giầy, tức là mỗi giây đồng hồ một đôi.

Một người đã đóng góp vào việc biến Ôn Châu thành thủ đô giầy dép ở Trung Quốc là Lý Viên Niên, bắt đầu kinh doanh năm 1988, với số vốn do thân nhân cung cấp. Năm 1988 là lần đầu tiên Cộng Sản Trung Quốc chính thức công nhận các xí nghiệp tư có từ 8 công nhân trở lên, cho nên hầu hết các công ty tư đều được lập năm đó, mặc dù trước kia họ đã làm chui rồi! (Tại sao Bộ Chính Trị chọn con số 8 làm giới hạn? Vì Karl Marx đã viết rằng khi số công nhân lên trên 8 người thì bắt đầu sản xuất theo lối tư bản chủ nghĩa. Ông Marx viết cái đó hồi thế kỷ 19!) Năm 2007, công ty Cự Nhất (Juyi) của ông Lý đã có 3,600 công nhân và sản xuất 10 triệu đôi giầy, bán trong nước và xuất cảng sang Âu Châu.

Một doanh nhân khác tên Nam Tồn Huy (Nan Cunhui) bắt đầu sự nghiệp với nghề vá giầy, sau vay tiền bà con và rủ bạn bè, ban đêm làm thêm việc chế tạo cái chốt để bật đèn, với những đồ phế thải. Từ đó, anh lập ra công ty sản xuất đồ điện đặt tên là Chính Thái, Chint. Ðến năm 2008, theo nhật báo Financial Times, số bán của công ty Chính Thái lên tới 2 tỷ 300 triệu đô la Mỹ, trở thành công ty sản xuất đồ điện lớn nhất ở Trung Quốc.

Khi Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đã quyết định thay đổi cương lĩnh để thu nhận các nhà tư bản, họ đã nhắm đến chính các nhà tư bản như ở Ôn Châu này. Năm 2007, trong số 300 ngàn xí nghiệp tư đã có gần 4,000 thành lập chi bộ đảng Cộng Sản. Trong phòng hội của công ty Cự Nhất đã treo hình của các lãnh tụ Marx, Engels, Lenin, Stalin, Mao, và Ðặng Tiểu Bình. Công ty Chint thì được ghi công là xí nghiệp tư đầu tiên đã thành lập một chi bộ đảng Cộng Sản, mặc dầu chủ nhân Nam Tồn Huy chưa được gia nhập đảng!

Một doanh nhân khác ở Ôn Châu mà tuần báo Economist kể chuyện, đã bỏ học năm 16 tuổi, vay mượn được 360 đồng nguyên, mua hai cái máy làm mì sợi, rồi mua cái vé xe lửa đem máy đi bán ở một tỉnh trong lục địa, được 480 nguyên. Sau 6 tháng nhiều người bắt chước, anh đổi sang nghề buôn khuy áo, rồi buôn đồ phế thải để chế ra khuy áo, rồi buôn tới máy móc để chế plastic làm khuy. Năm nay anh đang ở Hồng Kông, chuyển sang loại máy móc làm plastic cho các loại đèn LED.

Cuộc khủng hoảng tài chánh đưa tới suy thoái kinh tế ở Mỹ năm 2007, 08 đã lan khắp thế giới, ảnh hưởng tới Ôn Châu và các doanh nghiệp tư ở Trung Quốc. Chủ tịch Hội các Doanh nghiệp cỡ trung và nhỏ tại Ôn Châu, ông Chu Ðức Văn (Zhou Dewen) cho biết trong năm 2010 mức lời của các công ty này xuống tới số không! Những nhà tư bản mới ở Ôn Châu tất nhiên biết tìm cách đem tiền đi đầu tư nơi khác. Họ đã đổ tiền vào địa ốc, họ đã lập ra các quỹ đầu tư như ở Mỹ, góp vốn vào công nghê thông tin, vào mỏ than, vân vân.

Theo phòng thương mại tỉnh ủy Chiết Giang cho biết thì 90% trong số 43 triệu xí nghiệp trong cả nước Trung Hoa là các xí nghiệp tư. Những doanh nghiệp tư này sử dụng 92% số công nhân toàn quốc. Nhưng giới tư doanh ở Trung Quốc vẫn bị gạt ra ngoài hệ thống ngân hàng của nhà nước, họ phải đi vay với lãi suất cắt cổ. Theo Trung Quốc Nhật báo ở Bắc Kinh thì 57% các xí nghiệp và 89% dân chúng Ôn Châu đều đi vay tiền ngoài hệ thống ngân hàng của nhà nước. Lãi suất họ trả thường là 40% đến 80% một năm; có khi lên tới 10% trong 30 ngày (214% một năm) như tờ Economist kể, trong khi các doanh nghiệp nhà nuớc chỉ trả 6% hay 8%. Nhưng hệ thống “tín dụng chui” này sẽ giảm hiệu lực khi các cuộc kinh doanh phát triển cao hơn.

Chính sách kinh tế của đảng Cộng Sản Trung Quốc ưu đãi các doanh nghiệp nhà nuớc, là bộ phận kém hiệu năng, và bỏ mặc cho giới tư doanh xoay trở lấy, mà các xí nghiệp tư thì chạy với công suất cao hơn. Tình trạng kỳ thị, phân biệt này sẽ đưa tới kinh tế trì trệ. Ðảng Cộng Sản vẫn chưa cải tổ được hệ thống ngân hàng, vì các thế lực chống đối trong đảng còn quá mạnh. Các doanh nghiệp nhà nuớc đã trở thành một đảng riêng trong đảng Cộng Sản. Họ liên hệ với nhau qua hệ thống đảng. Họ có tiền để vận động các ủy viên Trung Ương Ðảng và cả Bộ Chính Trị để bảo vệ quyền lợi của họ. Chính họ sẽ bảo vệ chính sách hiện nay, là ưu đãi quốc doanh, kỳ thị tư doanh! Nhưng chính sách đó chắc chắn sẽ đưa tới trì trệ kinh tế. Ðó chính là mối lo lớn đằng sau những lời tuyên bố muốn thay đổi chính trị của ông Ôn Gia Bảo! Nhưng ông khó có thể cải tổ chính trị, vì đụng chạm quyền lợi những người có thế mạnh nhất trong đảng.

Nếu Trung Quốc cải tổ chính trị, thì một Quốc Hội do dân bầu lên sẽ quyết định thay đổi cả chính sách kinh tế. Trong một xã hội dân chủ tự do các xí nghiệp tư cũng có quyền vận động trong các cuộc bầu cử, dân chúng được tự do phán xét và bầu chọn người đại diện. Các doanh nghiệp nhà nuớc sẽ thất thế, vì không một chính quyền dân chủ tự do nào chấp nhận tình trạng độc quyền kinh tế của họ như hiện nay. Cho nên, nhóm lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nuớc sẽ chống đến cùng việc dân chủ hóa Trung Quốc. Thế lực những người khao khát muốn dân chủ hóa thì còn rất yếu.

Khi kinh tế một nước phát triển, một giai cấp trung lưu thành hình, người ta tin rằng chính giai cấp trung lưu này sẽ trở thành động lực thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa. Nhưng giai cấp trung lưu ở Trung Quốc đã đủ lớn mạnh để làm sứ mạng đó hay chưa? Báo The Japan Times ở Nhật Bản vào cuối năm 2010 đã tìm hiểu vấn đề này trên khía cạnh thương mại, với mục đích cho các xí nghiệp ở Nhật biết thị trường tiêu thụ người Trung Hoa lớn hay nhỏ. Theo báo này thì hiện nay giai cấp trung lưu ở Trung Quốc chỉ chiếm độ 23% dân số, khoảng 300 triệu người. Tại các nước kỹ nghệ hóa đã phát triển thì giai cấp trung lưu chiếm khoảng 70% dân số. Các nhà nghiên cứu định nghĩa giai cấp trung lưu ở Trung Quốc là những gia đình có lợi tức hơn 6,000 đồng nguyên (dưới một ngàn đô la Mỹ). Với số lợi tức đó thì họ đang sống rất vất vả trong các thành phố như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, nơi mà giá một căn hộ trong cao ốc (condo) cao từ 200 ngàn đến 400 ngàn, gấp 30 lần đến 50 lần số lương một năm của một gia đình trung lưu. Thị trường tiêu thụ ở Trung Quốc trong năm 2009 chi tiêu khoảng 12 ngàn tỷ đồng nguyên, là một thị trường lớn tương đương với gần 2,000 tỷ đô la. Nhưng trong con số 12 ngàn tỷ đó, gần một nửa là chi tiêu vào việc mua nhà; số tiền còn lại rất nhỏ trong ngân sách các gia đình. The Japan Times kết luận rằng giai cấp trung lưu đang cố gắng để sống chứ không phải là một động lực chủ yếu trong xã hội Trung Hoa. Vậy tiền bạc của cải được tạo ra nhờ cuộc cải cách kinh tế trong hơn 30 năm qua đi đâu? Báo Times trong 10 năm qua đại đa số tiền tiêu thụ là do những người rất giầu có, khoảng 70 đến 80 triệu người là đảng viên hoặc có quan hệ mật thiết với đảng Cộng Sản Trung Quốc. Họ chính là những người sẽ bảo vệ chế độ chính trị hiện nay đến cùng!

Nếu tính ở Trung Quốc có gần 40 triệu xí nghiệp tư (trong đó các xí nghiệp tư do các đảng viên làm chủ có thể cũng lớn) thì con số những người muốn vận động thay đổi chính trị sẽ chỉ bằng một phần ba hay một nửa con số những người không muốn thay đổi.

Cho nên không có hy vọng gì đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ dân chủ hóa được chế độ. Như nhà tranh đấu dân chủ Ngụy Kinh Sinh đã nói khi đến thăm báo Người Việt: Ðảng Cộng Sản Trung Quốc không thể tự thay đổi được! Người dân Trung Quốc phải đứng dậy đòi dân chủ tự do!

Post Reply