Bình Luận Thời Sự
Tại sao Trung Cộng lấn chiếm tại Biển Ðông?
Ngô Nhân Dụng Vụ tàu hải giám của Trung Cộng cắt dây cáp của tầu Bình Minh 2 của PetroVietnam không phải là một biến cố lẻ loi, đơn giản, mà có thể là một bước nằm trong một chiến lược lâu dài của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh.
Có những lý do chiến lược khiến Bắc Kinh muốn bảo đảm quyền hành động tự do của họ trong vùng Biển Ðông nước ta. Họ có thể đạt được mục đích này bằng nhiều cách, nhưng đứng trước những phản ứng yếu ớt của chính quyền Việt Nam từ hàng chục năm qua mỗi lần phải đương đầu với nước láng giềng thì họ đã chọn chiến thuật lấn chiếm từng bước một, để đặt thế giới trước những sự đã rồi.
Vụ Bình Minh 2 tuy không đổ máu, không giết người, nhưng quan trọng hơn hẳn những vụ cướp, chiếm tầu đánh cá trước đây. Bằng cớ là Hoàn Cầu Thời báo, một cơ quan ngôn luận của Cộng Sản Trung Hoa đã lên tiếng về biến cố này với những lời lẽ đe dọa nặng nề, một hiện tượng trước đây chưa bao giờ thấy. Nhật báo Asahi, Nhật Bản, cũng nói rằng Trung Quốc ngày càng cứng rắn trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Ðông; vì Cục Quản Lý Ðại Dương của Bắc Kinh mới đây đưa ra một phúc trình khuyến cáo sử dụng vũ lực quân sự để đạt mục tiêu trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng.
Tạp chí Hoàn Cầu Thời báo ở Bắc Kinh ngày 30 Tháng Năm 2011 đã viết bài bình luận nói đến vụ cắt dây cáp tầu Bình Minh 2. Bài viết không ký tên tác giả nào, cho thấy đây là lập trường chung của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Họ nhấn mạnh rằng vụ này là biến cố “nghiêm trọng nhất trong những năm gần đây.” Hoàn Cầu Thời báo, thuộc nhật báo Nhân Dân, Bắc Kinh, là cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Trung Quốc.
Ðiều đáng chú ý là bài báo này không hề nhắc đến những khẩu hiệu êm ái như “đồng chí, anh em, hợp tác toàn diện, 16 chữ vàng,” vân vân mà các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng gần đây đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Trái lại, tờ báo cảnh cáo bằng những lời đe dọa rất cứng rắn. Thí dụ, họ viết rằng việc tầu Bình Minh 2 đi khảo sát địa chấn là “thách thức lòng kiên nhẫn của Trung Quốc... Nếu như Việt Nam cứ tiếp tục hoạt động trong vùng biển chủ quyền của Trung Quốc, thì sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.”
Chúng ta biết rằng Bình Minh 2 chỉ hoạt động trong khu vực thuộc phạm vi “đặc quyền kinh tế” của nước ta, mà mỗi quốc gia đều có quyền đó trên vùng ven biển của mình. Khu vực này nằm hoàn toàn bên ngoài, ở về phía Tây của “đường chín đoạn” mà Trung Cộng đã vẽ trên bản đồ, coi Biển Ðông nước ta như là “ao nhà” của họ. Cả thế giới phủ nhận “vùng lưỡi bò” của Trung Cộng. Cho nên họ gây xung đột với Việt Nam, là để nhân cơ hội đó xác nhận “vùng biển chủ quyền của Trung Quốc,” đặt thế giới trước một sự đã rồi nếu mỗi lần bị họ lấn áp Việt Nam không phản đối mạnh mẽ, công khai, ra trước các cơ quan tài phán quốc tế.
Hoàn Cầu Thời báo đã đe dọa rằng “tình trạng tự kiềm chế của Trung Quốc không phải là không có giới hạn,” sau khi tố cáo tầu Bình Minh 2 vi phạm vùng chủ quyền của họ. Và họ còn nhắc nhở, “Trung Quốc là nước lớn, sức mạnh hơn hẳn Việt Nam!” Báo này đã đăng thêm những lời “góp ý kiến” của độc giả, và tất cả biểu lộ tinh thần đề cao Hán tộc, khinh thường người Việt Nam.
Liệu Trung Cộng có sẵn sàng tấn công Việt Nam để thực hiện quyền làm chủ vùng Biển Ðông hay không? Chắc họ sẽ không gây chiến tranh nếu có thể đạt được cùng một mục tiêu một cách hòa bình, theo lối tầm ăn dâu.
Nhưng đối với Trung Quốc, hoạt động tự do trong vùng Biển Ðông nước ta là một điều kiện thiết yếu về cả kinh tế lẫn quân sự. Chiếm được vùng này là bảo đảm an ninh cho Trung Quốc nếu xẩy ra chiến tranh với các cường quốc khác. Liệu những người cầm quyền ở Bắc Kinh có trù liệu sẽ có ngày lâm chiến với Mỹ, hay Ấn Ðộ, hoặc Nhật Bản hay không? Trong một tương lai gần thì chắc chiến tranh khó xẩy ra vì Trung Quốc còn quá yếu. Nhưng không ai tiên đoán được 50 năm đến 70 năm nữa thế giới sẽ như thế nào. Ðối với Bắc Kinh thì tốt nhất là hãy chuẩn bị sẵn sàng để nếu có chiến tranh thì Trung Quốc không bị phong tỏa kinh tế trên mặt biển, như Nhật Bản thời Ðại Chiến Thứ Hai.
Các nhà chỉ huy quân sự ở Trung Quốc chắc hẳn đã nghiên cứu lịch sử để thấy bài học Nhật Bản thất trận. Hiện nay hơn ba phần tư số nhập cảng về dầu khí, nguyên liệu của Trung Quốc đang phải chuyển qua eo biển Malacca giữa Indonesia và Mã Lai Á, rồi đi qua ngang vùng Biển Ðông của nước ta để tiếp tế cho các nhà máy hoạt động trong lục địa. Tình trạng này không khác gì Nhật Bản trước cuộc Ðại Chiến Thứ Hai.
Quân đội Thiên Hoàng thua năm 1945 không phải vì những người lính Nhật và cấp chỉ huy của họ yếu kém. Lý do khiến Nhật gây chiến với Mỹ, rồi thua trận, đều vì kinh tế bị phong tỏa.
Trước chiến tranh, Nhật Bản là quốc gia xuất cảng đứng hàng thứ tư trên thế giới; hàng hải thương thuyền có trọng tải đứng hàng thứ ba; trong thập niên 1930 kinh tế Nhật phát triển nhanh chóng, bành trướng sang Mãn Châu, Cao Ly, rồi vào Trung Quốc trong khi cả thế giới lâm vào cảnh đại khủng hoảng. Số sản xuất công nghiệp Nhật lớn hơn tất cả các nước Á Châu khác cộng lại. Số công nhân trong các công nghiệp tăng từ 5.8 triệu năm 1930 lên tới 9.5 triệu năm 1944.
Sau khi quân Nhật tiến vào Việt Nam với sự thỏa thuận của chính quyền thuộc địa Pháp, năm 1941 Hải Quân Mỹ đã bắt đầu ngăn cản các tầu chở dầu lửa của Nhật đi qua vùng biển Ðông Nam Á. Nhật đã tấn công Pearl Harbor vì nghĩ rằng có thể làm tê liệt lực lượng Hải Quân Mỹ ở Thái Bình Dương, để buộc Mỹ phải đứng ngoài. Giới tướng lãnh Nhật đã tính lầm vì hoàn toàn không biết gì về tiềm năng kinh tế của Mỹ. Trong những năm từ 1942 đến 1945, Mỹ sản xuất hơn 2,000 triệu tấn than đá, Nhật chỉ có dưới 200 triệu tấn; Mỹ sản xuất 6,660 triệu thùng dầu, Nhật dưới 30 triệu; Mỹ chế tạo 280,000 máy bay, Nhật chỉ có 65,000. Những năm sau cùng 1944, 45, sức mạnh của quân đội Nhật tàn dần vì kinh tế suy yếu, càng ngày càng yếu, khi lực lượng tầu ngầm, Không Quân và Hải Quân Mỹ tấn công các tầu chở hàng của Nhật trong Ðông Nam Á, trong đó có vùng Biển Ðông nước ta.
Nên nhớ đến năm 1945 Nhật vẫn chiếm đóng Mãn Châu, Hàn Quốc, Ðài Loan, các vùng duyên hải Trung Quốc, cùng Miến Ðiện, Việt Nam, chính phủ Nhật tự do bóc lột tài nguyên các nước này, phục vụ guồng máy chiến tranh. Nhưng bấy nhiêu vẫn chưa đủ. Nhật Bản cần ít nhất mỗi năm 6 triệu tấn dầu mua từ Miến Ðiện, từ Borneo và các đảo thuộc Indonesia bây giờ, vì trong nước chỉ sản xuất được 250,000 tấn. Dầu nhập cảng về Nhật phải đi qua vùng Biển Ðông nước ta, cũng như tình trạng Trung Quốc bây giờ.
Chỉ tới Tháng Ba năm 1945 máy bay Mỹ mới đánh bom vào các thành phố Nhật một cách quy mô; nhưng kinh tế Nhật đã co cụm vì bị phong tỏa trên mặt biển khi tầu ngầm Mỹ bắt đầu tấn công các thương thuyền chở hàng hóa, nguyên liệu và dầu lửa từ năm 1944. Năm đó, Nhật Bản tiêu thụ gần 20 triệu thùng dầu nhưng chỉ nhập cảng được 5 triệu vì bị tầu ngầm Mỹ ngăn cản. Riêng tầu ngầm Flasher đã đánh đắm 21 chiếc tầu thủy Nhật, trong đó có 4 tầu chở dầu chở mỗi chiếc 100,000 thùng dầu; trong Tháng Mười Hai năm 1944 tầu ngầm này đã làm cho số dầu lửa về đến nước Nhật giảm bớt 2 phần ba. Trong năm đó, tầu ngầm Mỹ đánh hư hơn 600 thương thuyền Nhật tổng cộng trọng tải 2.7 triệu tấn. Số hàng nhập cảng vào nước Nhật giảm 40%. Vào lúc cuối cuộc chiến, kinh tế Nhật chỉ bằng 10% của Mỹ, mà một lý do chính là không đủ nguyên liệu và dầu lửa, nhiều nhà máy bỏ trống không dùng đến. Từ đầu năm 1945 Nhật Bản không còn sức tiếp tế cho các đạo quân viễn chinh, vũ khí không sản xuất đủ, trang bị kỹ thuật cho quân sĩ như máy radar, máy truyền tin, không tân tiến bằng quân Ðồng minh vì các ngành khoa học, kỹ thuật và việc sản xuất trong nước bị tê liệt.
Thua kém vì kỹ thuật tiến chậm là một yếu tố thua trận. Ở Miến Ðiện, quân Nhật đã bị quân Anh đánh lừa bằng kế dương Ðông kích Tây; đánh vào hai địa điểm ở phía Tây Mandalay để nhử quân Nhật, nhưng cuối cùng tấn công vào yếu điểm ở phía Nam để chặn đường tiếp tế từ Rangoon lên. Quân Nhật bị lừa vì hệ thống truyền tin quá cổ lỗ! Tháng Ba 1945, Tướng Masaki Honda tại mặt trận Meiktila, Miến Ðiện báo cáo lên cấp chỉ huy: “Trong 2 sư đoàn của tôi, không tới 20 khẩu súng còn hoạt động bình thường... Súng chống xe tăng của chúng ta bắn trúng xe địch nhưng đạn bị văng ra!” Tháng Năm năm 1945, phi công Nhật Masashiko Ando bay thám thính khám phá một tầu ngầm Mỹ ở ngoài khơi Cam Ranh. Ando bay trên cao 2000 mét, quay đầu để đuổi theo phía sau chiếc tầu ngầm, xuống thấp, tới 200 mét thì thả loại bom chìm sâu chống tầu ngầm xuống mục tiêu, nơi chiếc tầu mới lặn. Ando về Cam Ranh, báo cáo đã thành công. Nhưng chiếc tầu ngầm Mỹ đã thoát nạn, vì kỹ thuật “lặn nhanh” của tầu Mỹ đã tiến xa hơn Nhật. Chỉ trong 35 giây đồng hồ là tầu đã lặn rất sâu, trong khi bom Nhật không xuống được sâu như vậy!
Không một quốc gia nào có thể nhắm mắt không nhìn thấy bài học thất trận của Nhật Bản trong cuộc Ðại Chiến Thứ Hai, sau khi kinh tế bị phong tỏa. Nếu những người lãnh đạo Trung Quốc lo xa có ngày nước họ phải lâm chiến, thì họ sẽ phải lo bảo đảm các con đường tiếp liệu. Trên đất liền, Trung Quốc đang thiết lập những ống dẫn dầu từ các nước vùng Trung Á, từ Iran, vân vân, qua miền Tây nước họ; và cả dự án ống dẫn dầu từ bờ biển Miến Ðiện đi lên Vân Nam. Ðồng thời, họ thiết lập đầu cầu cho các căn cứ hải quân ở bờ biển Miến Ðiện, trong khi nhòm ngó cả Campuchia. Bộ tham mưu chiến lược của họ chắc phải đặt câu hỏi: Tại sao không nhắm tới bờ biển Việt Nam? Năm 1945, máy bay diệt tầu ngầm của Nhật đã xuất phát từ phi trường Cam Ranh đi tìm bắn các tầu ngầm Mỹ.
Trung Cộng có cần phải chiếm để sử dụng các hải cảng của Việt Nam hay không? Chắc họ không cần. Vì các hòn đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa cũng đủ để thiết lập các phi trường và căn cứ bảo vệ con đường hàng hải trong vùng Ðông Nam Á. Nhưng Trung Cộng nhất thiết phải được tự do hoạt động, nếu có thể thì làm chủ cả vùng Biển Ðông, để bảo đảm con đường tiếp liệu này. Hiện nay Phi Luật Tân, Indonesia và Singapore đều thân Mỹ, eo biển Malacca bị Mỹ kiểm soát. Chỉ còn có một nước Việt Nam có thể là nơi Trung Cộng có thể dùng để củng cố thêm cho hàng rào bảo vệ đường tiếp tế cho họ.
Giờ đây Trung Cộng không thể gây chiến rồi chiếm Việt Nam, vì cả thế giới sẽ ngăn cản. Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đang tới dự một Hội nghị Shangri-La về an ninh vùng ở Singapore; từ năm ngoái các nước Ðông Nam Á đã yên tâm vì chính phủ Mỹ không bỏ rơi vùng này. Nhưng dù không gây chiến, Trung Quốc vẫn có thể tìm lý do để “cho Việt Nam một bài học” rồi lại rút về ngay, như Ðặng Tiểu Bình đã làm trước đây. Nói cho cùng thì ngày nay một cường quốc cũng không cần chiếm đóng một nước khác mà vẫn thiết lập được một chính quyền hoàn toàn nghe theo lời của họ, bằng những phương pháp mua chuộc, dọa nạt!
Vì vậy, chúng ta cần phải chứng tỏ cho cả thế giới thấy nhân dân Việt Nam không chấp nhận quyền bá chủ của Trung Quốc bằng cách phản đối mạnh mẽ những vụ xâm phạm hải phận nước ta. Chính quyền Việt Nam phải bày tỏ thái độ một cách cứng rắn hơn, không khiếp nhược trước những lời đe dọa của Hoàn Cầu Thời báo. Một cách cụ thể, Ðảng Cộng Sản Việt Nam phải chính thức rút lại một lá thư mà ông Phạm Văn Ðồng đã ký năm 1958, trong đó ông nhân danh một chính phủ Việt Nam tỏ ý hoàn toàn ủng hộ bản “Tuyên bố của Chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải” ngày 4 Tháng Chín năm 1958. Vì bản Tuyên bố này công nhiên nói Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Lá thư trên là một hành động phản quốc, mà hậu quả là từ đó Bắc Kinh coi Việt Nam như một nước do họ bảo hộ. Phải chấm dứt tình trạng đó!
Ngô Nhân Dụng Vụ tàu hải giám của Trung Cộng cắt dây cáp của tầu Bình Minh 2 của PetroVietnam không phải là một biến cố lẻ loi, đơn giản, mà có thể là một bước nằm trong một chiến lược lâu dài của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh.
Có những lý do chiến lược khiến Bắc Kinh muốn bảo đảm quyền hành động tự do của họ trong vùng Biển Ðông nước ta. Họ có thể đạt được mục đích này bằng nhiều cách, nhưng đứng trước những phản ứng yếu ớt của chính quyền Việt Nam từ hàng chục năm qua mỗi lần phải đương đầu với nước láng giềng thì họ đã chọn chiến thuật lấn chiếm từng bước một, để đặt thế giới trước những sự đã rồi.
Vụ Bình Minh 2 tuy không đổ máu, không giết người, nhưng quan trọng hơn hẳn những vụ cướp, chiếm tầu đánh cá trước đây. Bằng cớ là Hoàn Cầu Thời báo, một cơ quan ngôn luận của Cộng Sản Trung Hoa đã lên tiếng về biến cố này với những lời lẽ đe dọa nặng nề, một hiện tượng trước đây chưa bao giờ thấy. Nhật báo Asahi, Nhật Bản, cũng nói rằng Trung Quốc ngày càng cứng rắn trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Ðông; vì Cục Quản Lý Ðại Dương của Bắc Kinh mới đây đưa ra một phúc trình khuyến cáo sử dụng vũ lực quân sự để đạt mục tiêu trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng.
Tạp chí Hoàn Cầu Thời báo ở Bắc Kinh ngày 30 Tháng Năm 2011 đã viết bài bình luận nói đến vụ cắt dây cáp tầu Bình Minh 2. Bài viết không ký tên tác giả nào, cho thấy đây là lập trường chung của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Họ nhấn mạnh rằng vụ này là biến cố “nghiêm trọng nhất trong những năm gần đây.” Hoàn Cầu Thời báo, thuộc nhật báo Nhân Dân, Bắc Kinh, là cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Trung Quốc.
Ðiều đáng chú ý là bài báo này không hề nhắc đến những khẩu hiệu êm ái như “đồng chí, anh em, hợp tác toàn diện, 16 chữ vàng,” vân vân mà các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng gần đây đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Trái lại, tờ báo cảnh cáo bằng những lời đe dọa rất cứng rắn. Thí dụ, họ viết rằng việc tầu Bình Minh 2 đi khảo sát địa chấn là “thách thức lòng kiên nhẫn của Trung Quốc... Nếu như Việt Nam cứ tiếp tục hoạt động trong vùng biển chủ quyền của Trung Quốc, thì sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.”
Chúng ta biết rằng Bình Minh 2 chỉ hoạt động trong khu vực thuộc phạm vi “đặc quyền kinh tế” của nước ta, mà mỗi quốc gia đều có quyền đó trên vùng ven biển của mình. Khu vực này nằm hoàn toàn bên ngoài, ở về phía Tây của “đường chín đoạn” mà Trung Cộng đã vẽ trên bản đồ, coi Biển Ðông nước ta như là “ao nhà” của họ. Cả thế giới phủ nhận “vùng lưỡi bò” của Trung Cộng. Cho nên họ gây xung đột với Việt Nam, là để nhân cơ hội đó xác nhận “vùng biển chủ quyền của Trung Quốc,” đặt thế giới trước một sự đã rồi nếu mỗi lần bị họ lấn áp Việt Nam không phản đối mạnh mẽ, công khai, ra trước các cơ quan tài phán quốc tế.
Hoàn Cầu Thời báo đã đe dọa rằng “tình trạng tự kiềm chế của Trung Quốc không phải là không có giới hạn,” sau khi tố cáo tầu Bình Minh 2 vi phạm vùng chủ quyền của họ. Và họ còn nhắc nhở, “Trung Quốc là nước lớn, sức mạnh hơn hẳn Việt Nam!” Báo này đã đăng thêm những lời “góp ý kiến” của độc giả, và tất cả biểu lộ tinh thần đề cao Hán tộc, khinh thường người Việt Nam.
Liệu Trung Cộng có sẵn sàng tấn công Việt Nam để thực hiện quyền làm chủ vùng Biển Ðông hay không? Chắc họ sẽ không gây chiến tranh nếu có thể đạt được cùng một mục tiêu một cách hòa bình, theo lối tầm ăn dâu.
Nhưng đối với Trung Quốc, hoạt động tự do trong vùng Biển Ðông nước ta là một điều kiện thiết yếu về cả kinh tế lẫn quân sự. Chiếm được vùng này là bảo đảm an ninh cho Trung Quốc nếu xẩy ra chiến tranh với các cường quốc khác. Liệu những người cầm quyền ở Bắc Kinh có trù liệu sẽ có ngày lâm chiến với Mỹ, hay Ấn Ðộ, hoặc Nhật Bản hay không? Trong một tương lai gần thì chắc chiến tranh khó xẩy ra vì Trung Quốc còn quá yếu. Nhưng không ai tiên đoán được 50 năm đến 70 năm nữa thế giới sẽ như thế nào. Ðối với Bắc Kinh thì tốt nhất là hãy chuẩn bị sẵn sàng để nếu có chiến tranh thì Trung Quốc không bị phong tỏa kinh tế trên mặt biển, như Nhật Bản thời Ðại Chiến Thứ Hai.
Các nhà chỉ huy quân sự ở Trung Quốc chắc hẳn đã nghiên cứu lịch sử để thấy bài học Nhật Bản thất trận. Hiện nay hơn ba phần tư số nhập cảng về dầu khí, nguyên liệu của Trung Quốc đang phải chuyển qua eo biển Malacca giữa Indonesia và Mã Lai Á, rồi đi qua ngang vùng Biển Ðông của nước ta để tiếp tế cho các nhà máy hoạt động trong lục địa. Tình trạng này không khác gì Nhật Bản trước cuộc Ðại Chiến Thứ Hai.
Quân đội Thiên Hoàng thua năm 1945 không phải vì những người lính Nhật và cấp chỉ huy của họ yếu kém. Lý do khiến Nhật gây chiến với Mỹ, rồi thua trận, đều vì kinh tế bị phong tỏa.
Trước chiến tranh, Nhật Bản là quốc gia xuất cảng đứng hàng thứ tư trên thế giới; hàng hải thương thuyền có trọng tải đứng hàng thứ ba; trong thập niên 1930 kinh tế Nhật phát triển nhanh chóng, bành trướng sang Mãn Châu, Cao Ly, rồi vào Trung Quốc trong khi cả thế giới lâm vào cảnh đại khủng hoảng. Số sản xuất công nghiệp Nhật lớn hơn tất cả các nước Á Châu khác cộng lại. Số công nhân trong các công nghiệp tăng từ 5.8 triệu năm 1930 lên tới 9.5 triệu năm 1944.
Sau khi quân Nhật tiến vào Việt Nam với sự thỏa thuận của chính quyền thuộc địa Pháp, năm 1941 Hải Quân Mỹ đã bắt đầu ngăn cản các tầu chở dầu lửa của Nhật đi qua vùng biển Ðông Nam Á. Nhật đã tấn công Pearl Harbor vì nghĩ rằng có thể làm tê liệt lực lượng Hải Quân Mỹ ở Thái Bình Dương, để buộc Mỹ phải đứng ngoài. Giới tướng lãnh Nhật đã tính lầm vì hoàn toàn không biết gì về tiềm năng kinh tế của Mỹ. Trong những năm từ 1942 đến 1945, Mỹ sản xuất hơn 2,000 triệu tấn than đá, Nhật chỉ có dưới 200 triệu tấn; Mỹ sản xuất 6,660 triệu thùng dầu, Nhật dưới 30 triệu; Mỹ chế tạo 280,000 máy bay, Nhật chỉ có 65,000. Những năm sau cùng 1944, 45, sức mạnh của quân đội Nhật tàn dần vì kinh tế suy yếu, càng ngày càng yếu, khi lực lượng tầu ngầm, Không Quân và Hải Quân Mỹ tấn công các tầu chở hàng của Nhật trong Ðông Nam Á, trong đó có vùng Biển Ðông nước ta.
Nên nhớ đến năm 1945 Nhật vẫn chiếm đóng Mãn Châu, Hàn Quốc, Ðài Loan, các vùng duyên hải Trung Quốc, cùng Miến Ðiện, Việt Nam, chính phủ Nhật tự do bóc lột tài nguyên các nước này, phục vụ guồng máy chiến tranh. Nhưng bấy nhiêu vẫn chưa đủ. Nhật Bản cần ít nhất mỗi năm 6 triệu tấn dầu mua từ Miến Ðiện, từ Borneo và các đảo thuộc Indonesia bây giờ, vì trong nước chỉ sản xuất được 250,000 tấn. Dầu nhập cảng về Nhật phải đi qua vùng Biển Ðông nước ta, cũng như tình trạng Trung Quốc bây giờ.
Chỉ tới Tháng Ba năm 1945 máy bay Mỹ mới đánh bom vào các thành phố Nhật một cách quy mô; nhưng kinh tế Nhật đã co cụm vì bị phong tỏa trên mặt biển khi tầu ngầm Mỹ bắt đầu tấn công các thương thuyền chở hàng hóa, nguyên liệu và dầu lửa từ năm 1944. Năm đó, Nhật Bản tiêu thụ gần 20 triệu thùng dầu nhưng chỉ nhập cảng được 5 triệu vì bị tầu ngầm Mỹ ngăn cản. Riêng tầu ngầm Flasher đã đánh đắm 21 chiếc tầu thủy Nhật, trong đó có 4 tầu chở dầu chở mỗi chiếc 100,000 thùng dầu; trong Tháng Mười Hai năm 1944 tầu ngầm này đã làm cho số dầu lửa về đến nước Nhật giảm bớt 2 phần ba. Trong năm đó, tầu ngầm Mỹ đánh hư hơn 600 thương thuyền Nhật tổng cộng trọng tải 2.7 triệu tấn. Số hàng nhập cảng vào nước Nhật giảm 40%. Vào lúc cuối cuộc chiến, kinh tế Nhật chỉ bằng 10% của Mỹ, mà một lý do chính là không đủ nguyên liệu và dầu lửa, nhiều nhà máy bỏ trống không dùng đến. Từ đầu năm 1945 Nhật Bản không còn sức tiếp tế cho các đạo quân viễn chinh, vũ khí không sản xuất đủ, trang bị kỹ thuật cho quân sĩ như máy radar, máy truyền tin, không tân tiến bằng quân Ðồng minh vì các ngành khoa học, kỹ thuật và việc sản xuất trong nước bị tê liệt.
Thua kém vì kỹ thuật tiến chậm là một yếu tố thua trận. Ở Miến Ðiện, quân Nhật đã bị quân Anh đánh lừa bằng kế dương Ðông kích Tây; đánh vào hai địa điểm ở phía Tây Mandalay để nhử quân Nhật, nhưng cuối cùng tấn công vào yếu điểm ở phía Nam để chặn đường tiếp tế từ Rangoon lên. Quân Nhật bị lừa vì hệ thống truyền tin quá cổ lỗ! Tháng Ba 1945, Tướng Masaki Honda tại mặt trận Meiktila, Miến Ðiện báo cáo lên cấp chỉ huy: “Trong 2 sư đoàn của tôi, không tới 20 khẩu súng còn hoạt động bình thường... Súng chống xe tăng của chúng ta bắn trúng xe địch nhưng đạn bị văng ra!” Tháng Năm năm 1945, phi công Nhật Masashiko Ando bay thám thính khám phá một tầu ngầm Mỹ ở ngoài khơi Cam Ranh. Ando bay trên cao 2000 mét, quay đầu để đuổi theo phía sau chiếc tầu ngầm, xuống thấp, tới 200 mét thì thả loại bom chìm sâu chống tầu ngầm xuống mục tiêu, nơi chiếc tầu mới lặn. Ando về Cam Ranh, báo cáo đã thành công. Nhưng chiếc tầu ngầm Mỹ đã thoát nạn, vì kỹ thuật “lặn nhanh” của tầu Mỹ đã tiến xa hơn Nhật. Chỉ trong 35 giây đồng hồ là tầu đã lặn rất sâu, trong khi bom Nhật không xuống được sâu như vậy!
Không một quốc gia nào có thể nhắm mắt không nhìn thấy bài học thất trận của Nhật Bản trong cuộc Ðại Chiến Thứ Hai, sau khi kinh tế bị phong tỏa. Nếu những người lãnh đạo Trung Quốc lo xa có ngày nước họ phải lâm chiến, thì họ sẽ phải lo bảo đảm các con đường tiếp liệu. Trên đất liền, Trung Quốc đang thiết lập những ống dẫn dầu từ các nước vùng Trung Á, từ Iran, vân vân, qua miền Tây nước họ; và cả dự án ống dẫn dầu từ bờ biển Miến Ðiện đi lên Vân Nam. Ðồng thời, họ thiết lập đầu cầu cho các căn cứ hải quân ở bờ biển Miến Ðiện, trong khi nhòm ngó cả Campuchia. Bộ tham mưu chiến lược của họ chắc phải đặt câu hỏi: Tại sao không nhắm tới bờ biển Việt Nam? Năm 1945, máy bay diệt tầu ngầm của Nhật đã xuất phát từ phi trường Cam Ranh đi tìm bắn các tầu ngầm Mỹ.
Trung Cộng có cần phải chiếm để sử dụng các hải cảng của Việt Nam hay không? Chắc họ không cần. Vì các hòn đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa cũng đủ để thiết lập các phi trường và căn cứ bảo vệ con đường hàng hải trong vùng Ðông Nam Á. Nhưng Trung Cộng nhất thiết phải được tự do hoạt động, nếu có thể thì làm chủ cả vùng Biển Ðông, để bảo đảm con đường tiếp liệu này. Hiện nay Phi Luật Tân, Indonesia và Singapore đều thân Mỹ, eo biển Malacca bị Mỹ kiểm soát. Chỉ còn có một nước Việt Nam có thể là nơi Trung Cộng có thể dùng để củng cố thêm cho hàng rào bảo vệ đường tiếp tế cho họ.
Giờ đây Trung Cộng không thể gây chiến rồi chiếm Việt Nam, vì cả thế giới sẽ ngăn cản. Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đang tới dự một Hội nghị Shangri-La về an ninh vùng ở Singapore; từ năm ngoái các nước Ðông Nam Á đã yên tâm vì chính phủ Mỹ không bỏ rơi vùng này. Nhưng dù không gây chiến, Trung Quốc vẫn có thể tìm lý do để “cho Việt Nam một bài học” rồi lại rút về ngay, như Ðặng Tiểu Bình đã làm trước đây. Nói cho cùng thì ngày nay một cường quốc cũng không cần chiếm đóng một nước khác mà vẫn thiết lập được một chính quyền hoàn toàn nghe theo lời của họ, bằng những phương pháp mua chuộc, dọa nạt!
Vì vậy, chúng ta cần phải chứng tỏ cho cả thế giới thấy nhân dân Việt Nam không chấp nhận quyền bá chủ của Trung Quốc bằng cách phản đối mạnh mẽ những vụ xâm phạm hải phận nước ta. Chính quyền Việt Nam phải bày tỏ thái độ một cách cứng rắn hơn, không khiếp nhược trước những lời đe dọa của Hoàn Cầu Thời báo. Một cách cụ thể, Ðảng Cộng Sản Việt Nam phải chính thức rút lại một lá thư mà ông Phạm Văn Ðồng đã ký năm 1958, trong đó ông nhân danh một chính phủ Việt Nam tỏ ý hoàn toàn ủng hộ bản “Tuyên bố của Chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải” ngày 4 Tháng Chín năm 1958. Vì bản Tuyên bố này công nhiên nói Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Lá thư trên là một hành động phản quốc, mà hậu quả là từ đó Bắc Kinh coi Việt Nam như một nước do họ bảo hộ. Phải chấm dứt tình trạng đó!
Cuộc đối thoại trước LSQ/TQ và trong trụ sở TNCS TP
Đỗ Trung Quân
Đêm qua tôi bay chuyến cuối cùng từ Đà Nẵng về Sài Gòn. Các Anh Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Lập, Lê Hiếu Đằng hẹn “Sáng 5-6-20011 ở Sài Gòn”. 6g 30 sáng 5-6: Người đến sớm nhất là anh A. Menras, tên Việt là Hồ Cương Quyết, người Pháp quốc tịch Việt. Hơn 30 năm trước, Menras đã treo cờ mặt trận trên tượng đài Thủy Quân Lục Chiến trước Hạ nghị viên Sài Gòn và giờ này đang ngồi cặm cụi viết biểu ngữ “ Hòa bình và công lý cho Hoàng Sa- Trường Sa & biển Đông”. Lần lượt các anh Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Lập, Lê Công Giàu, Lê Hiều Đằng, Nguyễn Quốc Thái và Giáo sư sử học ngoài 90 tuổi Nguyễn Đình Đầu, quần áo chỉnh tề, cùng có mặt. Hai chiếc taxi ra Nhà thờ Đức Bà, đồng hồ chỉ 8 giờ kém 15 phút.
Đối thoại trước lãnh sự quán Trung Quốc
Chúng tôi nhập vào một nhóm người trẻ đến sát Lãnh sự quán Trung Quốc xế bên Nhà Văn Hóa Thanh Niên số 4 Phạm Ngọc Thạch. Khu vực tràn ngập chốt chăn và cảnh sát chìm thường phục nhưng dễ nhận họ ra bằng máy bộ đàm. Nhiếu người thường phục đưa máy ảnh, điện thoại di động lên chỉa về phía chúng tôi. Cuộc đối thoại bắt đầu. Một chiếc áo thường phục hung hăng nhất: “Đề nghị giải tán, hoạt động phải có luật pháp”. Anh Cao Lập, cựu tù Côn Đảo vốn nóng tính, hét to: “Pháp luật là để bảo vệ người dân và bảo vệ đất nước không phải để bảo vệ bọn Trung Quốc!”. Tiếng vỗ tay ầm ĩ. Một người mặc thường phục khác tiến về anh Lê Hiếu Đằng [Cựu Phó Chủ tịch Mặt trận tổ quốc TP], anh Đằng chỉ mặt quát: “Anh đứng về phía nào, Việt Nam hay Trung Quốc?”. Người mặc thường phục phải lùi lại. Anh Huỳnh Tấn Mẫm và tôi băng qua đường sang phía Nhà Văn Hóa Thanh Niên quan sát.
một vài người tôi chưa hân hạnh biết tên. chỉ biết đeo cà vạt là gs sử học nguyễn đình đầu. ông lê hiếu đằng đứng cạnh gs,các ông andre, cao lập và bs huỳnh tấn mẫm đứng cuối cùng tay phải...
Trụ sở của Đoàn thanh niên Cộng sản kéo cổng, vắng tanh, trừ những nhân viên an ninh. Trên sân thượng, Camera chỉa xuống thu toàn cảnh. Một người còn trẻ tiến đến nói: “Chú Quân, chú Mẫm, khuyên dùm anh em, bày tỏ thế là được rồi, giải tán đi…”. Đấy là một cán bộ thành đoàn tôi không biết tên, anh Huỳnh Tấn Mẫm nói: “Được là sao? lẽ ra Thành đoàn phải tổ chức cho thanh niên, Thành đoàn không dám thì thanh niên họ phải tự làm thôi!”. Bên kia đường, các anh Lê Hiếu Đằng, Lê Công Giàu, Cao Lập, A. Menras dương cao các khẩu hiệu phản đối Trung Quốc. Một vài người lăm lăm dùi cui tiến đến chỉ vào mặt anh Lê Công Giàu, Huỳnh Tấn, Mẫm: “Đề nghị các chú giải tán!”. Anh Lê Hiếu Đằng nói: “Hãy để cái dùi cui vào mặt bọn Trung Quốc. ”. Chắc họ còn trẻ không biết, nhưng camera trên Nhà Văn Hóa Thanh Niên đã biết và báo cho ông Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư thường trực Thành phố. Một cán bộ Thành đoàn ra, nói: “Anh Ba Đua mời các anh vào nói chuyện”. Anh Lê Hiếu Đằng khoát tay: “Chúng tôi không có chuyện gì để nói?”. Ba mươi phút sau, đích thân ông Nguyễn Văn Đua, Nguyễn Thành Tài xuất hiện, bắt tay và đề nghị chúng tôi vào trụ sở thành đoàn số 1 Phạm Ngọc Thạch để tiếp chuyện. Sau vài phút hội ý anh Lê Công Giàu , Huỳnh Tấn Mẫm ,Lê Hiếu Đằng , Cao Lập… đồng ý vào.
Cuộc đối thoại trong trụ sở Thành đoàn TNCS TP
Những nhân vật trụ cột của Thành ủy: Nguyễn Văn Đua, Nguyễn Thành Tài, Nguyễn Thị Quyết Tâm… có mặt đủ. Thái độ của ông Nguyễn Văn Đua và các thành viên được ghi nhận là nhã nhặn. Ông Nguyễn Chơn Trung [ Sáu Quang-Nguyên Bí thư Đoàn TNCS TP ] lại không được nhã nhặn, ông đập tay xuống bàn nói với ông Lê Hiếu Đằng : “Các anh muốn gì cũng phải có phương pháp đúng đắn”. Ông Lê Hiếu Đằng [ môi giựt, tay run]: “Anh không phải dạy chúng tôi về phương pháp…”. Ông Cao Lập đứng bật dậy: “Tôi không thể tưởng tượng hôm nay anh Sáu Quang tệ hại đến mức này”.Ông Huỳnh Tấn Mẫm điềm đạm “ Chúng tôi đã bày tỏ xong thái độ.Nếu nhà nước hiểu lòng dân chúng tôi sẽ ủng hộ, nếu không thì chúng tôi tiếp tục bày tỏ thái độ. “ Ông Ba Đua vui vẻ gọi Andre Menras là “ đồng chí “. Andre - Hồ Cương Quyết nói “ đồng chí không có nghĩa là cùng trong đảng. Từ lâu nay tôi đứng về phía Việt Nam trong mọi cuộc chiến đấu chống sự bành trướng và xâm phạm chủ quyền VN, cuộc tuần hành này cũng trong tinh thần ấy.... “Cuộc đối có lúc khá thoại căng thẳng. Họ là những người từng đứng cùng một chiến tuyến chống Mỹ trước 1975. Ông Lê Công Giàu, cựu Phó bí thư thường trực Thành Đoàn, khét tiếng kiên cường trong tù đày, tra tấn. Ông Lê Hiếu Đằng, ngay cả khi đã giữ các trọng trách vẫn không vì phú quý vinh hoa, cứ theo lẽ phải mà đấu tranh. Ông Huỳnh Tấn Mẫm Chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn, một người không chỉ nổi tiếng trong nước mà thành tích đấu tranh trước năm 1975 của ông còn làm tốn nhiều giấy mực của báo chí quốc tế.
Lúc 13g 00, khi tôi rời điểm nóng, cuộc tuần hành vẫn tiếp tục trên các tuyến trung tâm. Trong đám đống ấy tôi nhận thấy những gương mặt “già” quen thuộc: nhà thơ Nguyễn Duy, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, giáo sư Tương Lai, Osin Huy Đức… tùy sức khỏe, người đi hết cả hành trình, người tham gia từng chặng. Buổi sáng ngày 5-6-2011 chắc chắn sẽ làm cho những người ngồi trong tòa nhà Thành đoàn và trong Tổng Lãnh sự Trung Quốc hiểu như thế nào là Việt Nam.
Nguồn : Facebook Đỗ Trung Quân
Đỗ Trung Quân
Đêm qua tôi bay chuyến cuối cùng từ Đà Nẵng về Sài Gòn. Các Anh Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Lập, Lê Hiếu Đằng hẹn “Sáng 5-6-20011 ở Sài Gòn”. 6g 30 sáng 5-6: Người đến sớm nhất là anh A. Menras, tên Việt là Hồ Cương Quyết, người Pháp quốc tịch Việt. Hơn 30 năm trước, Menras đã treo cờ mặt trận trên tượng đài Thủy Quân Lục Chiến trước Hạ nghị viên Sài Gòn và giờ này đang ngồi cặm cụi viết biểu ngữ “ Hòa bình và công lý cho Hoàng Sa- Trường Sa & biển Đông”. Lần lượt các anh Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Lập, Lê Công Giàu, Lê Hiều Đằng, Nguyễn Quốc Thái và Giáo sư sử học ngoài 90 tuổi Nguyễn Đình Đầu, quần áo chỉnh tề, cùng có mặt. Hai chiếc taxi ra Nhà thờ Đức Bà, đồng hồ chỉ 8 giờ kém 15 phút.
Đối thoại trước lãnh sự quán Trung Quốc
Chúng tôi nhập vào một nhóm người trẻ đến sát Lãnh sự quán Trung Quốc xế bên Nhà Văn Hóa Thanh Niên số 4 Phạm Ngọc Thạch. Khu vực tràn ngập chốt chăn và cảnh sát chìm thường phục nhưng dễ nhận họ ra bằng máy bộ đàm. Nhiếu người thường phục đưa máy ảnh, điện thoại di động lên chỉa về phía chúng tôi. Cuộc đối thoại bắt đầu. Một chiếc áo thường phục hung hăng nhất: “Đề nghị giải tán, hoạt động phải có luật pháp”. Anh Cao Lập, cựu tù Côn Đảo vốn nóng tính, hét to: “Pháp luật là để bảo vệ người dân và bảo vệ đất nước không phải để bảo vệ bọn Trung Quốc!”. Tiếng vỗ tay ầm ĩ. Một người mặc thường phục khác tiến về anh Lê Hiếu Đằng [Cựu Phó Chủ tịch Mặt trận tổ quốc TP], anh Đằng chỉ mặt quát: “Anh đứng về phía nào, Việt Nam hay Trung Quốc?”. Người mặc thường phục phải lùi lại. Anh Huỳnh Tấn Mẫm và tôi băng qua đường sang phía Nhà Văn Hóa Thanh Niên quan sát.
một vài người tôi chưa hân hạnh biết tên. chỉ biết đeo cà vạt là gs sử học nguyễn đình đầu. ông lê hiếu đằng đứng cạnh gs,các ông andre, cao lập và bs huỳnh tấn mẫm đứng cuối cùng tay phải...Trụ sở của Đoàn thanh niên Cộng sản kéo cổng, vắng tanh, trừ những nhân viên an ninh. Trên sân thượng, Camera chỉa xuống thu toàn cảnh. Một người còn trẻ tiến đến nói: “Chú Quân, chú Mẫm, khuyên dùm anh em, bày tỏ thế là được rồi, giải tán đi…”. Đấy là một cán bộ thành đoàn tôi không biết tên, anh Huỳnh Tấn Mẫm nói: “Được là sao? lẽ ra Thành đoàn phải tổ chức cho thanh niên, Thành đoàn không dám thì thanh niên họ phải tự làm thôi!”. Bên kia đường, các anh Lê Hiếu Đằng, Lê Công Giàu, Cao Lập, A. Menras dương cao các khẩu hiệu phản đối Trung Quốc. Một vài người lăm lăm dùi cui tiến đến chỉ vào mặt anh Lê Công Giàu, Huỳnh Tấn, Mẫm: “Đề nghị các chú giải tán!”. Anh Lê Hiếu Đằng nói: “Hãy để cái dùi cui vào mặt bọn Trung Quốc. ”. Chắc họ còn trẻ không biết, nhưng camera trên Nhà Văn Hóa Thanh Niên đã biết và báo cho ông Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư thường trực Thành phố. Một cán bộ Thành đoàn ra, nói: “Anh Ba Đua mời các anh vào nói chuyện”. Anh Lê Hiếu Đằng khoát tay: “Chúng tôi không có chuyện gì để nói?”. Ba mươi phút sau, đích thân ông Nguyễn Văn Đua, Nguyễn Thành Tài xuất hiện, bắt tay và đề nghị chúng tôi vào trụ sở thành đoàn số 1 Phạm Ngọc Thạch để tiếp chuyện. Sau vài phút hội ý anh Lê Công Giàu , Huỳnh Tấn Mẫm ,Lê Hiếu Đằng , Cao Lập… đồng ý vào.
Cuộc đối thoại trong trụ sở Thành đoàn TNCS TP
Những nhân vật trụ cột của Thành ủy: Nguyễn Văn Đua, Nguyễn Thành Tài, Nguyễn Thị Quyết Tâm… có mặt đủ. Thái độ của ông Nguyễn Văn Đua và các thành viên được ghi nhận là nhã nhặn. Ông Nguyễn Chơn Trung [ Sáu Quang-Nguyên Bí thư Đoàn TNCS TP ] lại không được nhã nhặn, ông đập tay xuống bàn nói với ông Lê Hiếu Đằng : “Các anh muốn gì cũng phải có phương pháp đúng đắn”. Ông Lê Hiếu Đằng [ môi giựt, tay run]: “Anh không phải dạy chúng tôi về phương pháp…”. Ông Cao Lập đứng bật dậy: “Tôi không thể tưởng tượng hôm nay anh Sáu Quang tệ hại đến mức này”.Ông Huỳnh Tấn Mẫm điềm đạm “ Chúng tôi đã bày tỏ xong thái độ.Nếu nhà nước hiểu lòng dân chúng tôi sẽ ủng hộ, nếu không thì chúng tôi tiếp tục bày tỏ thái độ. “ Ông Ba Đua vui vẻ gọi Andre Menras là “ đồng chí “. Andre - Hồ Cương Quyết nói “ đồng chí không có nghĩa là cùng trong đảng. Từ lâu nay tôi đứng về phía Việt Nam trong mọi cuộc chiến đấu chống sự bành trướng và xâm phạm chủ quyền VN, cuộc tuần hành này cũng trong tinh thần ấy.... “Cuộc đối có lúc khá thoại căng thẳng. Họ là những người từng đứng cùng một chiến tuyến chống Mỹ trước 1975. Ông Lê Công Giàu, cựu Phó bí thư thường trực Thành Đoàn, khét tiếng kiên cường trong tù đày, tra tấn. Ông Lê Hiếu Đằng, ngay cả khi đã giữ các trọng trách vẫn không vì phú quý vinh hoa, cứ theo lẽ phải mà đấu tranh. Ông Huỳnh Tấn Mẫm Chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn, một người không chỉ nổi tiếng trong nước mà thành tích đấu tranh trước năm 1975 của ông còn làm tốn nhiều giấy mực của báo chí quốc tế.
Lúc 13g 00, khi tôi rời điểm nóng, cuộc tuần hành vẫn tiếp tục trên các tuyến trung tâm. Trong đám đống ấy tôi nhận thấy những gương mặt “già” quen thuộc: nhà thơ Nguyễn Duy, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, giáo sư Tương Lai, Osin Huy Đức… tùy sức khỏe, người đi hết cả hành trình, người tham gia từng chặng. Buổi sáng ngày 5-6-2011 chắc chắn sẽ làm cho những người ngồi trong tòa nhà Thành đoàn và trong Tổng Lãnh sự Trung Quốc hiểu như thế nào là Việt Nam.
Nguồn : Facebook Đỗ Trung Quân
“CÒN LẠI TÌNH YÊU”
• Đoan Trang Tôi biết đây sẽ là một bài viết rất kém của mình, bởi vì tôi không đủ khả năng để thể hiện hết những gì mình đã chứng kiến hôm qua, 5/6/2011. Tôi chỉ có thể nói, đó là một ngày nắng chói chang, vàng rực đường phố, cây lá rất xanh và màu cờ, màu áo thì rất đỏ.
Tôi đã thấy những bạn trẻ đứng dưới nắng như thế, từ 8h sáng, giơ cao cờ, những khẩu hiệu in lên giấy A4, ảnh Bác Hồ và ảnh tướng Giáp với nụ cười mạnh mẽ và quả đấm giơ lên: “Không sợ”. Tôi thấy hàng rào cảnh sát cơ động nai nịt, mũ bảo hiểm, khiên, dùi cui, đẩy các bạn lùi dần từng bước, từ dưới chân tượng Lenin, bật dần khỏi vườn hoa, ra vỉa hè và xuống lòng đường. Có những dân phòng trẻ, xô đẩy rất hung hãn. Có những dân phòng già hơn thì ôn tồn đạo mạo: “Được rồi, được rồi, ghi nhận. Thế thôi, xong. Về, về đi”, hệt như nói với trẻ nít. Ngay cả trong những phút ấy, tôi vẫn nghe các bạn nhắc nhau: “Đừng chửi, đừng nổi nóng”, “hết sức giữ bình tĩnh”, “ôn hòa anh em ơi”… Hàng người cứ bị đẩy lùi từng bước một, mặc cho các bạn trần tình: “Chúng em có làm gì đâu?”, “Các anh giăng dây đi vậy, cho cái ranh giới để chúng em biết chỗ mà đứng”.
Tôi thấy một dân phòng trẻ tuổi, gần như chỉ chờ lệnh ban ra là lấy hơi, giơ hai tay xông tới, sấn sổ đẩy các bạn cùng trang lứa với mình lại. Nhưng tôi cũng tin rằng, ngoài một số ít vị nhiệt tình quá mức đó, các nhân viên an ninh, cảnh sát cơ động, dân phòng… đều không chủ trương “chơi rắn”, vì nếu không, sẽ không có chuyện các phóng viên ảnh, nhiếp ảnh gia được tự do cứ việc mướt mồ hôi mà bấm máy tanh tách thế kia.
Và rồi đoàn người ấy xuống đường, rùng rùng bước đi.
Qua những con phố đông đúc, chật chội của thủ đô. Qua những cửa hàng hào nhoáng và những quán ăn vỉa hè nhếch nhác. Qua những hàng xà cừ xanh, bằng lăng tím và phượng đỏ. Qua một ngã tư, nơi vài người đi xe máy dừng chờ đèn đỏ đã vỗ tay hưởng ứng đoàn ra mặt. Tôi đã nghe các bạn nhắc nhau “đi gọn lại”, “chậm thôi”, “đừng giẫm lên cỏ”, “đi lên vỉa hè”. Các bạn hát Quốc ca, Nối vòng tay lớn, Dậy mà đi, Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Rồi đọc vang “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” phiên âm Hán-Việt – đành vậy, vì có tới ít nhất hai bản dịch tiếng Việt. Nhưng tiếng hét đến lạc cả giọng “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!” của các bạn, ai có thể xem thường?
Những chiếc xe cảnh sát vẫn áp sát, tiếng loa văng vẳng: “Các lực lượng đi bộ không đi xuống lòng đường. Các phương tiện giao thông tiếp tục di chuyển, không dừng lại, không đi lên vỉa hè”. Tôi mỉm cười, vì thật ra chính vào lúc đó, chúng tôi rất có cảm giác như mình đang được bảo vệ, giá các anh ấy gọi thẳng ra là “đoàn biểu tình” có phải hay hơn dùng cụm từ “các lực lượng đi bộ” không? Một bạn trẻ bỗng “nhân thể” hô lên: “Phản đối Trung Quốc xâm lược. Phản đối công an đi ngược chiều”. Ai cũng cười. Tôi thấy anh công an trẻ, rất đẹp trai, rảo bước song song với đoàn, quay đi cười rung rung vai.
Tôi biết tôi viết kém, vì ngay đến cái tựa đề, tôi cũng phải mượn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Cũng vì tôi thích vở kịch “Còn Lại Tình Yêu” của ông, viết về người anh hùng Nguyễn Thái Học. Nhà văn viết rằng, con người làm cách mạng bất thành ấy, trước khi chết đã nói thế này: “Chỉ một mình mình tốt thôi thì nguy hiểm lắm. Người tốt bao giờ cũng yếu đuối và dễ vỡ. Những người tốt phải liên kết lại với nhau, như thế thì bọn xấu mới không làm hại được. Cái ấy gọi là chính trị đấy”. Chính trị, theo ý nghĩa đó, thật tốt đẹp thay vì là cái gì xấu xa, đáng sợ như người ta vẫn đang cố gắng làm cho thế hệ trẻ ở nước mình nghĩ. Chính trị, đơn giản như một sinh viên kinh tế đã nói với tôi, đó là vấn đề tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người (lưu ý là tạo cơ hội bình đẳng chứ không tạo sự bình đẳng), bảo vệ người tốt và chống lại cái xấu, bảo vệ người yếu và chống lại kẻ bạo ngược.
Cuối cùng thì điều đọng lại sau cuộc biểu tình bị cho là “không tồn tại” kia, là gì? Đó là tình yêu.
Và tôi thấy một bạn trẻ, rất trẻ, có lẽ tôi nên gọi là em. Em cầm cuốn sổ tay, mở rộng, trên trang bìa lót của quyển sổ có hình tấm bản đồ nước CHXHCN Việt Nam, mà em đã dùng bút dạ đỏ khoanh hai trái tim vào quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Em đi hàng đầu, tay giơ cao quyển sổ mở, thiêng liêng như đang nâng lá cờ Tổ quốc. Em cứ đi như thế, rất lâu, dưới nắng hè gay gắt làm ai cũng phải nheo mắt lại. Người em gầy, mắt em cận, mặt em nhợt nhạt và nhễ nhại mồ hôi.
Tôi đi lùi lại, tụt xuống cuối đoàn, bởi vì tôi không muốn ai nhìn thấy tôi trào nước mắt.
http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?na ... t&sid=2941
Được đăng bởi Trang the Ridiculous vào lúc 01:30
Nhãn: 5-6-2011, biểu tình, biểu tình chống Trung Quốc, Còn lại tình yêu
• Đoan Trang Tôi biết đây sẽ là một bài viết rất kém của mình, bởi vì tôi không đủ khả năng để thể hiện hết những gì mình đã chứng kiến hôm qua, 5/6/2011. Tôi chỉ có thể nói, đó là một ngày nắng chói chang, vàng rực đường phố, cây lá rất xanh và màu cờ, màu áo thì rất đỏ.
Tôi đã thấy những bạn trẻ đứng dưới nắng như thế, từ 8h sáng, giơ cao cờ, những khẩu hiệu in lên giấy A4, ảnh Bác Hồ và ảnh tướng Giáp với nụ cười mạnh mẽ và quả đấm giơ lên: “Không sợ”. Tôi thấy hàng rào cảnh sát cơ động nai nịt, mũ bảo hiểm, khiên, dùi cui, đẩy các bạn lùi dần từng bước, từ dưới chân tượng Lenin, bật dần khỏi vườn hoa, ra vỉa hè và xuống lòng đường. Có những dân phòng trẻ, xô đẩy rất hung hãn. Có những dân phòng già hơn thì ôn tồn đạo mạo: “Được rồi, được rồi, ghi nhận. Thế thôi, xong. Về, về đi”, hệt như nói với trẻ nít. Ngay cả trong những phút ấy, tôi vẫn nghe các bạn nhắc nhau: “Đừng chửi, đừng nổi nóng”, “hết sức giữ bình tĩnh”, “ôn hòa anh em ơi”… Hàng người cứ bị đẩy lùi từng bước một, mặc cho các bạn trần tình: “Chúng em có làm gì đâu?”, “Các anh giăng dây đi vậy, cho cái ranh giới để chúng em biết chỗ mà đứng”.
Tôi thấy một dân phòng trẻ tuổi, gần như chỉ chờ lệnh ban ra là lấy hơi, giơ hai tay xông tới, sấn sổ đẩy các bạn cùng trang lứa với mình lại. Nhưng tôi cũng tin rằng, ngoài một số ít vị nhiệt tình quá mức đó, các nhân viên an ninh, cảnh sát cơ động, dân phòng… đều không chủ trương “chơi rắn”, vì nếu không, sẽ không có chuyện các phóng viên ảnh, nhiếp ảnh gia được tự do cứ việc mướt mồ hôi mà bấm máy tanh tách thế kia.
Và rồi đoàn người ấy xuống đường, rùng rùng bước đi.
Qua những con phố đông đúc, chật chội của thủ đô. Qua những cửa hàng hào nhoáng và những quán ăn vỉa hè nhếch nhác. Qua những hàng xà cừ xanh, bằng lăng tím và phượng đỏ. Qua một ngã tư, nơi vài người đi xe máy dừng chờ đèn đỏ đã vỗ tay hưởng ứng đoàn ra mặt. Tôi đã nghe các bạn nhắc nhau “đi gọn lại”, “chậm thôi”, “đừng giẫm lên cỏ”, “đi lên vỉa hè”. Các bạn hát Quốc ca, Nối vòng tay lớn, Dậy mà đi, Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Rồi đọc vang “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” phiên âm Hán-Việt – đành vậy, vì có tới ít nhất hai bản dịch tiếng Việt. Nhưng tiếng hét đến lạc cả giọng “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!” của các bạn, ai có thể xem thường?
Những chiếc xe cảnh sát vẫn áp sát, tiếng loa văng vẳng: “Các lực lượng đi bộ không đi xuống lòng đường. Các phương tiện giao thông tiếp tục di chuyển, không dừng lại, không đi lên vỉa hè”. Tôi mỉm cười, vì thật ra chính vào lúc đó, chúng tôi rất có cảm giác như mình đang được bảo vệ, giá các anh ấy gọi thẳng ra là “đoàn biểu tình” có phải hay hơn dùng cụm từ “các lực lượng đi bộ” không? Một bạn trẻ bỗng “nhân thể” hô lên: “Phản đối Trung Quốc xâm lược. Phản đối công an đi ngược chiều”. Ai cũng cười. Tôi thấy anh công an trẻ, rất đẹp trai, rảo bước song song với đoàn, quay đi cười rung rung vai.
Tôi biết tôi viết kém, vì ngay đến cái tựa đề, tôi cũng phải mượn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Cũng vì tôi thích vở kịch “Còn Lại Tình Yêu” của ông, viết về người anh hùng Nguyễn Thái Học. Nhà văn viết rằng, con người làm cách mạng bất thành ấy, trước khi chết đã nói thế này: “Chỉ một mình mình tốt thôi thì nguy hiểm lắm. Người tốt bao giờ cũng yếu đuối và dễ vỡ. Những người tốt phải liên kết lại với nhau, như thế thì bọn xấu mới không làm hại được. Cái ấy gọi là chính trị đấy”. Chính trị, theo ý nghĩa đó, thật tốt đẹp thay vì là cái gì xấu xa, đáng sợ như người ta vẫn đang cố gắng làm cho thế hệ trẻ ở nước mình nghĩ. Chính trị, đơn giản như một sinh viên kinh tế đã nói với tôi, đó là vấn đề tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người (lưu ý là tạo cơ hội bình đẳng chứ không tạo sự bình đẳng), bảo vệ người tốt và chống lại cái xấu, bảo vệ người yếu và chống lại kẻ bạo ngược.
Cuối cùng thì điều đọng lại sau cuộc biểu tình bị cho là “không tồn tại” kia, là gì? Đó là tình yêu.
Và tôi thấy một bạn trẻ, rất trẻ, có lẽ tôi nên gọi là em. Em cầm cuốn sổ tay, mở rộng, trên trang bìa lót của quyển sổ có hình tấm bản đồ nước CHXHCN Việt Nam, mà em đã dùng bút dạ đỏ khoanh hai trái tim vào quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Em đi hàng đầu, tay giơ cao quyển sổ mở, thiêng liêng như đang nâng lá cờ Tổ quốc. Em cứ đi như thế, rất lâu, dưới nắng hè gay gắt làm ai cũng phải nheo mắt lại. Người em gầy, mắt em cận, mặt em nhợt nhạt và nhễ nhại mồ hôi.
Tôi đi lùi lại, tụt xuống cuối đoàn, bởi vì tôi không muốn ai nhìn thấy tôi trào nước mắt.
http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?na ... t&sid=2941
Được đăng bởi Trang the Ridiculous vào lúc 01:30
Nhãn: 5-6-2011, biểu tình, biểu tình chống Trung Quốc, Còn lại tình yêu
Trung Quốc 'vừa ăn cướp, vừa la làng'
BẮC KINH (TH) - Sau sự kiện hàng ngàn người Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc ở hai thành phố Sài Gòn và Hà Nội,
Bộ Ngoại Giao Trung Quốc hôm Thứ Ba đưa ra kêu gọi: “Việt Nam hãy có nỗ lực nghiêm chỉnh để giải quyết tình trạng đối đầu tranh chấp ở biển Ðông.”

Hai cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Việt Nam hôm 5 tháng 6 đã làm cho Bắc Kinh nổi giận. (Hình: Blog BaSam)
Lời kêu gọi của Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, ông Hong Lei (Hồng Lỗi), được xem là hành động của kẻ “vừa ăn cướp, vừa la làng.”
Trong một tháng qua, theo cáo buộc của phía Việt Nam, Trung Quốc liên tục xâm phạm chủ quyền của Việt Nam mà đỉnh điểm là vụ tàu Bình Minh 02 bị tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp thăm dò và gây hấn hôm 26 tháng 5.
Ðáp lại, phía Việt Nam bật đèn xanh cho truyền thông trong nước liên tục loan tin với mật độ dày đặc về chủ quyền biển đảo đồng thời lên án hành động của Bắc Kinh.
Việt Nam cáo buộc Trung Quốc làm trầm trọng thêm sự tranh chấp và đòi Bắc Kinh phải bồi thường những hư hại gây ra cho chiếc tàu thăm dò. Phía Trung Quốc đòi Việt Nam chấm dứt các hoạt động trong vùng biển có tranh chấp.
Cao điểm của loạt phản ứng của Việt Nam là hai cuộc “biểu tình tự phát” của hàng ngàn người ở Sài Gòn và hàng trăm người ở Hà Nội phản đối Trung Quốc vào sáng 5 tháng 6.
Hành động gây hấn của Trung Quốc làm mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Hà Nội đang trở nên căng thẳng hơn vì cuộc tranh chấp đã có từ lâu liên quan đến chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong cuộc họp báo hôm Thứ Ba tại Bắc Kinh, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc Hong Lei nói rằng: “Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi ở các đảo tại Trường Sa và các vùng biển quanh đó.”
“Trung Quốc và Việt Nam nhiều lần đạt được sự đồng thuận liên quan đến việc giải quyết các vấn đề tranh chấp trên biển và duy trì sự ổn định ở biển Ðông.”
Ông nói thêm: “Chúng tôi hy vọng phía Việt Nam sẽ có các nỗ lực nghiêm chỉnh để thi hành những gì đã thỏa thuận.”
Việt Nam đáp trả
Sau khi kết thúc hội nghị các bộ trưởng quốc phòng Shangri-La ở Singapore, giới chức quốc phòng Việt Nam đã liên tục xuất hiện trên báo chí và đài truyền hình trong nước với lời lẽ cứng rắn hơn trước về chủ quyền trên biển Ðông.
Trả lời phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ hôm 7 tháng 5, Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Quốc Phòng Việt Nam nói rằng: “Nếu có xung đột trên biển Ðông thì không bên nào thắng, thiệt hại trước hết cho các nước tham gia xung đột và ảnh hưởng đến tất cả những nước có lợi ích ở khu vực.”
Ông Vịnh nói thêm: “Quan điểm của Việt Nam là các nước có xung đột giải quyết với nhau trên tinh thần cùng lợi ích nhưng công khai, minh bạch và tôn trọng luật pháp quốc tế. Không nước nào, không thế lực nào được quyền tự đặt ra những luật lệ riêng của họ, không có nước nào được bước qua luật lệ quốc tế đã được thừa nhận hoặc là những thông lệ trong hành xử của thế giới hiện đại ngày nay.”
Trước đó, trong bài phát biểu hôm 5 tháng 6 tại Shangri-La, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Ðại Tướng Phùng Quang Thanh, bày tỏ: “Chúng tôi mong muốn Trung Quốc thực hiện đúng những gì họ tuyên bố công khai với thế giới và hai bên phải hết sức kìm chế, giải quyết các vấn đề một cách hòa bình.”
Philippines lên tiếng
Không chỉ nhắm vào Việt Nam, cũng trong cuộc họp báo hôm Thứ Ba, Trung Quốc cáo buộc Philippines là xâm phạm quyền hàng hải và các quyền lợi khác của họ ở Biển Ðông, để đáp lại việc Manila tố cáo là Bắc Kinh đang có hành động phương hại hòa bình trong vùng.
Hồi cuối tuần qua, Philippines nói rằng Trung Quốc đưa tàu đến vùng biển này để đe dọa các quốc gia khác tại biển Ðông, gây nguy hại cho hòa bình và ổn định trong vùng.
Nhưng phát ngôn viên Hong Lei của Trung Quốc bác bỏ điều này, nói rằng các tàu Trung Quốc chỉ thực hiện các cuộc nghiên cứu khoa học trong vùng biển thuộc quyền Trung Quốc.
Hong Lei cũng cảnh cáo là Manila phải ngưng “đưa ra những phát biểu vô trách nhiệm không đúng sự thật.”
Bộ trưởng Quốc Phòng Philippines, ông Voltaire Gazmin, nói rằng Mỹ có nhu cầu giữ cho khu vực biển Ðông được ổn định, an ninh và có sự tự do di chuyển.
“Sự hiện diện của Mỹ sẽ điều ngăn chặn mọi hành động bất hợp pháp trong vùng Biển Ðông,” ông Gazmin tuyên bố với báo chí.
Manila từng cáo buộc Trung Quốc xâm nhập hải phận, nêu lên sáu trường hợp, kể cả một vụ xảy ra hồi tháng 3 khi hai tàu tuần Trung Quốc định ủi vào một tàu thăm dò địa chất của Philippines.
Ông Gazmin nói thêm rằng các hành động của Trung Quốc sẽ cho thấy họ thực sự muốn giải quyết các tranh chấp một cách ôn hòa như từng tuyên bố với thế giới hay không. (V.Giang- KN)
BẮC KINH (TH) - Sau sự kiện hàng ngàn người Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc ở hai thành phố Sài Gòn và Hà Nội,
Bộ Ngoại Giao Trung Quốc hôm Thứ Ba đưa ra kêu gọi: “Việt Nam hãy có nỗ lực nghiêm chỉnh để giải quyết tình trạng đối đầu tranh chấp ở biển Ðông.”

Hai cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Việt Nam hôm 5 tháng 6 đã làm cho Bắc Kinh nổi giận. (Hình: Blog BaSam)
Lời kêu gọi của Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, ông Hong Lei (Hồng Lỗi), được xem là hành động của kẻ “vừa ăn cướp, vừa la làng.”
Trong một tháng qua, theo cáo buộc của phía Việt Nam, Trung Quốc liên tục xâm phạm chủ quyền của Việt Nam mà đỉnh điểm là vụ tàu Bình Minh 02 bị tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp thăm dò và gây hấn hôm 26 tháng 5.
Ðáp lại, phía Việt Nam bật đèn xanh cho truyền thông trong nước liên tục loan tin với mật độ dày đặc về chủ quyền biển đảo đồng thời lên án hành động của Bắc Kinh.
Việt Nam cáo buộc Trung Quốc làm trầm trọng thêm sự tranh chấp và đòi Bắc Kinh phải bồi thường những hư hại gây ra cho chiếc tàu thăm dò. Phía Trung Quốc đòi Việt Nam chấm dứt các hoạt động trong vùng biển có tranh chấp.
Cao điểm của loạt phản ứng của Việt Nam là hai cuộc “biểu tình tự phát” của hàng ngàn người ở Sài Gòn và hàng trăm người ở Hà Nội phản đối Trung Quốc vào sáng 5 tháng 6.
Hành động gây hấn của Trung Quốc làm mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Hà Nội đang trở nên căng thẳng hơn vì cuộc tranh chấp đã có từ lâu liên quan đến chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong cuộc họp báo hôm Thứ Ba tại Bắc Kinh, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc Hong Lei nói rằng: “Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi ở các đảo tại Trường Sa và các vùng biển quanh đó.”
“Trung Quốc và Việt Nam nhiều lần đạt được sự đồng thuận liên quan đến việc giải quyết các vấn đề tranh chấp trên biển và duy trì sự ổn định ở biển Ðông.”
Ông nói thêm: “Chúng tôi hy vọng phía Việt Nam sẽ có các nỗ lực nghiêm chỉnh để thi hành những gì đã thỏa thuận.”
Việt Nam đáp trả
Sau khi kết thúc hội nghị các bộ trưởng quốc phòng Shangri-La ở Singapore, giới chức quốc phòng Việt Nam đã liên tục xuất hiện trên báo chí và đài truyền hình trong nước với lời lẽ cứng rắn hơn trước về chủ quyền trên biển Ðông.
Trả lời phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ hôm 7 tháng 5, Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Quốc Phòng Việt Nam nói rằng: “Nếu có xung đột trên biển Ðông thì không bên nào thắng, thiệt hại trước hết cho các nước tham gia xung đột và ảnh hưởng đến tất cả những nước có lợi ích ở khu vực.”
Ông Vịnh nói thêm: “Quan điểm của Việt Nam là các nước có xung đột giải quyết với nhau trên tinh thần cùng lợi ích nhưng công khai, minh bạch và tôn trọng luật pháp quốc tế. Không nước nào, không thế lực nào được quyền tự đặt ra những luật lệ riêng của họ, không có nước nào được bước qua luật lệ quốc tế đã được thừa nhận hoặc là những thông lệ trong hành xử của thế giới hiện đại ngày nay.”
Trước đó, trong bài phát biểu hôm 5 tháng 6 tại Shangri-La, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Ðại Tướng Phùng Quang Thanh, bày tỏ: “Chúng tôi mong muốn Trung Quốc thực hiện đúng những gì họ tuyên bố công khai với thế giới và hai bên phải hết sức kìm chế, giải quyết các vấn đề một cách hòa bình.”
Philippines lên tiếng
Không chỉ nhắm vào Việt Nam, cũng trong cuộc họp báo hôm Thứ Ba, Trung Quốc cáo buộc Philippines là xâm phạm quyền hàng hải và các quyền lợi khác của họ ở Biển Ðông, để đáp lại việc Manila tố cáo là Bắc Kinh đang có hành động phương hại hòa bình trong vùng.
Hồi cuối tuần qua, Philippines nói rằng Trung Quốc đưa tàu đến vùng biển này để đe dọa các quốc gia khác tại biển Ðông, gây nguy hại cho hòa bình và ổn định trong vùng.
Nhưng phát ngôn viên Hong Lei của Trung Quốc bác bỏ điều này, nói rằng các tàu Trung Quốc chỉ thực hiện các cuộc nghiên cứu khoa học trong vùng biển thuộc quyền Trung Quốc.
Hong Lei cũng cảnh cáo là Manila phải ngưng “đưa ra những phát biểu vô trách nhiệm không đúng sự thật.”
Bộ trưởng Quốc Phòng Philippines, ông Voltaire Gazmin, nói rằng Mỹ có nhu cầu giữ cho khu vực biển Ðông được ổn định, an ninh và có sự tự do di chuyển.
“Sự hiện diện của Mỹ sẽ điều ngăn chặn mọi hành động bất hợp pháp trong vùng Biển Ðông,” ông Gazmin tuyên bố với báo chí.
Manila từng cáo buộc Trung Quốc xâm nhập hải phận, nêu lên sáu trường hợp, kể cả một vụ xảy ra hồi tháng 3 khi hai tàu tuần Trung Quốc định ủi vào một tàu thăm dò địa chất của Philippines.
Ông Gazmin nói thêm rằng các hành động của Trung Quốc sẽ cho thấy họ thực sự muốn giải quyết các tranh chấp một cách ôn hòa như từng tuyên bố với thế giới hay không. (V.Giang- KN)
'Death by China': Thực dân, và thuộc địa, kiểu mới
Hà Giang
IRVINE, California -Buổi hội thảo có tên gọi “Death By China - Confronting the Dragon - A Global Call to Action,”
và giới thiệu tác phẩm cùng tên, được tổ chức tại Bechman Center thuộc thành phố Irvine chiều ngày 7 tháng 6.

Tiến Sĩ Peter Navarro giải thích về hiểm họa Trung Quốc trong buổi hội thảo tại Beckman Center, Irvine, ngày 7 tháng 6, 2011.
(Hình: Hà Giang/Người Việt) Hai tác giả Peter Navarro, Greg Autry và những diễn giả có thẩm quyền cũng như kiến thức về Trung Quốc đã thay phiên nhau vẽ nên một bức tranh, cận cảnh, rõ ràng, về hiểm họa mà chính sách của quốc gia này đang mang đến cho thế giới.
Trong phần trình bày linh động và cặn kẽ, kéo dài suốt gần một tiếng đồng hồ, Tiến Sĩ Peter Navarro khiến cử tọa lặng người đi, và bị thuyết phục, rằng nếu tình trạng hiện tại cứ tiếp diễn, thì nhân loại, hay trong một phạm vi hẹp hơn, người dân và đất nước Hoa Kỳ, sẽ “chết dưới tay Trung Quốc.”
Tại sao?
Câu trả lời đầy đủ nhất dĩ nhiên nằm trong tác phẩm “Death By China,” hơn 250 trang, kết quả của hơn hai năm nghiên cứu, phỏng vấn và những chuyến viếng thăm nhiều miền khác nhau trên đất nước Trung Quốc của cả hai tác giả, và phụ tá của họ.
Với 16 chương, tác phẩm “Death By China” được chia làm hai phần chính, gồm lập luận cũng như dẫn chứng về hiểm họa Trung Quốc, và lời kêu gọi một số hành động mà cả chính quyền, giới đầu từ lẫn người tiêu thụ Hoa Kỳ cần phải làm, và cần làm ngay, để có thể tránh được hiểm họa này.
Hai tác giả Navarro và Autry lập luận rằng cứ với đà này, nhân loại sẽ dần dà bị chết hết dưới tay Trung Quốc, vì:
Thứ nhất, người tiêu thụ sẽ bị hàng hóa độc hại của Trung Quốc giết dần giết mòn;
Thứ hai, chính sách cạnh tranh bất chính của nhà cầm quyền Trung Quốc tạo nên một loạt những “võ khí” được sử dụng một cách có hệ thống để tiêu diệt nền kinh tế của các quốc gia khác, nhất là nền kinh tế Hoa Kỳ;
Thứ ba, biện pháp cho gián điệp xâm nhập vào nước Mỹ, ăn cắp bí mật quốc phòng cộng với việc ngày càng tăng ngân quỹ quốc phòng, sẽ khiến Trung Quốc chỉ trong vài năm nữa có thể đuổi kịp, rồi vượt qua, Hoa Kỳ về sức mạnh quân sự;
Thứ tư, chính sách tìm đủ mọi cách để chế tạo ra hàng hóa với giá thành rẻ nhất, Trung Quốc sẽ hủy hoại môi sinh tàn tệ và nhanh chóng đến mức khó có thể nào cứu gỡ được.
Dẫn chứng sự độc hại và nguy hiểm của hàng hóa Trung Quốc, “Death By China” đưa ra hàng loạt những thí dụ như melamine trong sữa, melamine trong thức ăn cho chó mèo (pet food), quần áo cho trẻ em dễ bốc cháy, thuốc aspirin chứa độc tố, thuốc Lipitor và Viagra giả, chất arsenic trong nước ngọt, chất chì trong trà, than giả, nôi em bé chỉ dùng vài lần là gẫy thành khiến nhiều em bé bị ngã gẫy cổ, trẹo sườn, điện thoại di động bị phát nổ, “dry wall” chứa độc tố, sofar bị xịt đầy chất “dimethyl fumarate” gây bệnh ngứa ngoài da kinh niên, những món ăn chứa đầy chì, vòng đeo cổ và đồ chơi gây khó thở, và còn rất nhiều ví dụ khác.
Những dẫn chứng về sự cạnh tranh bất chánh cũng nhiều không kém!
Trước tiên, Trung Quốc đập tan những quy ước về cả tự do mậu dịch lẫn thương mại bằng chính sách “vừa con buôn thủ lợi, vừa bảo vệ nền công nghệ nội địa” bằng cách đổ tiền của nhà nước vào từng nền công nghệ mà họ muốn cạnh tranh với Hoa Kỳ, và cướp đi công việc của người dân Mỹ.
Còn những võ khí được sử dụng có hệ thống để giết hại nền kinh tế của Hoa Kỳ thì sao?
Theo “Death by China,” các võ khí này gồm việc hỗ trợ cho các hàng xuất cảng vi phạm luật của WTO, sản xuất hàng giả, đánh cắp kỹ thuật, hoàn toàn không quan tâm đến những cách sản xuất có hại cho môi sinh, và ngược đãi công nhân, biến họ thành lao nô.
Ðiểm then chốt của chính sách con buôn trục lợi bất chấp các quy ước của WTO mà Trung Quốc đã ký kết là việc thao túng hối suất, khiến hàng nhập vào Trung Quốc có giá thành rất cao, tạo cho Hoa Kỳ một nguy cơ như trái bom nổ chậm: Thâm thủng mậu dịch hàng năm lên đến gần $1 tỉ!
Cùng lúc đó, bất cứ công ty nào muốn bước vào thị trường được chính phủ Trung Quốc bảo hộ kỹ càng để bán hàng cho dân địa phương phải chịu số phận chung là dần dà sẽ bị đánh cắp hết kỹ thuật và phát minh. Trường hợp của Google và Google China là một ví dụ điển hình. Lý do là luật của Trung Quốc đòi hỏi các công ty muốn vào nước họ phải chuyển bộ phận nghiên cứu và phát triển đến đó.
Một vài thống kê trong “Death by China” làm độc giả giật mình.
Kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001, chủ trương “con buôn trục lợi” và bảo vệ công nghệ nội địa của họ đã khiến nhiều kỹ nghệ của Hoa Kỳ, như may mặc, bàn ghế, hóa chất, giấy, sắt, bánh xe, bị thu nhỏ lại còn một nửa. Riêng kỹ nghệ dệt bị triệt tiêu hơn 70%. Trong ngành vi tính và điện tử, Trung Quốc lấy đi của Hoa Kỳ hơn 40% công ăn việc làm.
Theo Navarro và Autry, trong vòng mười năm qua, Trung Quốc lấy đi của Hoa Kỳ mỗi năm 1 triệu công ăn việc làm. Cũng theo họ, trong con số 13.9 triệu người đang bị thất nghiệp tại Mỹ, 10 triệu việc làm được chuyển sang Trung Quốc.
Vũ khí cuối cùng trong chính sách thâm độc của Trung Quốc là việc mà hai tác giả của “Death by China” gọi là “xâm lăng” hay “chiếm lãnh thuộc địa” khắp nơi bằng cách lạm dụng tự do mậu dịch để giành lấy tài nguyên của các quốc gia đang phát triển.
Một kịch bản quen thuộc được Navarro và Autry vẽ nên: Một ông Trung Quốc bụng phệ, mang ngân phiếu đến một quốc gia nghèo khó nào đó, và hứa sẽ cho quốc gia đó mượn một số tiền khổng lồ với tiền lời rẻ mạt để “giúp” xây cất đường sá hay canh tân quân đội. Ðổi lại, quốc gia này chỉ cần làm hai điều rất nhỏ cho Bắc Kinh: Trao hết quyền khai thác tài nguyên, đồng thời cho phép Trung Quốc được quyền bán những sản phẩm được chế tạo bởi chính những tài nguyên vừa khai thác được từ nước này cho người tiêu thụ quanh vùng.
Tại sao đây lại là mánh lới quỷ quyệt? Vì những hợp đồng loại này biến quốc gia vừa ký kết cho Trung Quốc khai thác tài nguyên trở thành thuộc địa của họ. Cả thị trường cũng của Trung Quốc nốt.
(Trong các bài sau, Người Việt Online trình bày tiếp về hiểm họa gây ra bởi chính sách ăn cắp bí mật quốc phòng và gia tăng đầu tư quân sự của Trung Quốc, cũng như những đề nghị được “Death by China” đưa ra để đối phó với hiểm họa này.)
Hà Giang
IRVINE, California -Buổi hội thảo có tên gọi “Death By China - Confronting the Dragon - A Global Call to Action,”
và giới thiệu tác phẩm cùng tên, được tổ chức tại Bechman Center thuộc thành phố Irvine chiều ngày 7 tháng 6.

Tiến Sĩ Peter Navarro giải thích về hiểm họa Trung Quốc trong buổi hội thảo tại Beckman Center, Irvine, ngày 7 tháng 6, 2011.
(Hình: Hà Giang/Người Việt) Hai tác giả Peter Navarro, Greg Autry và những diễn giả có thẩm quyền cũng như kiến thức về Trung Quốc đã thay phiên nhau vẽ nên một bức tranh, cận cảnh, rõ ràng, về hiểm họa mà chính sách của quốc gia này đang mang đến cho thế giới.
Trong phần trình bày linh động và cặn kẽ, kéo dài suốt gần một tiếng đồng hồ, Tiến Sĩ Peter Navarro khiến cử tọa lặng người đi, và bị thuyết phục, rằng nếu tình trạng hiện tại cứ tiếp diễn, thì nhân loại, hay trong một phạm vi hẹp hơn, người dân và đất nước Hoa Kỳ, sẽ “chết dưới tay Trung Quốc.”
Tại sao?
Câu trả lời đầy đủ nhất dĩ nhiên nằm trong tác phẩm “Death By China,” hơn 250 trang, kết quả của hơn hai năm nghiên cứu, phỏng vấn và những chuyến viếng thăm nhiều miền khác nhau trên đất nước Trung Quốc của cả hai tác giả, và phụ tá của họ.
Với 16 chương, tác phẩm “Death By China” được chia làm hai phần chính, gồm lập luận cũng như dẫn chứng về hiểm họa Trung Quốc, và lời kêu gọi một số hành động mà cả chính quyền, giới đầu từ lẫn người tiêu thụ Hoa Kỳ cần phải làm, và cần làm ngay, để có thể tránh được hiểm họa này.
Hai tác giả Navarro và Autry lập luận rằng cứ với đà này, nhân loại sẽ dần dà bị chết hết dưới tay Trung Quốc, vì:
Thứ nhất, người tiêu thụ sẽ bị hàng hóa độc hại của Trung Quốc giết dần giết mòn;
Thứ hai, chính sách cạnh tranh bất chính của nhà cầm quyền Trung Quốc tạo nên một loạt những “võ khí” được sử dụng một cách có hệ thống để tiêu diệt nền kinh tế của các quốc gia khác, nhất là nền kinh tế Hoa Kỳ;
Thứ ba, biện pháp cho gián điệp xâm nhập vào nước Mỹ, ăn cắp bí mật quốc phòng cộng với việc ngày càng tăng ngân quỹ quốc phòng, sẽ khiến Trung Quốc chỉ trong vài năm nữa có thể đuổi kịp, rồi vượt qua, Hoa Kỳ về sức mạnh quân sự;
Thứ tư, chính sách tìm đủ mọi cách để chế tạo ra hàng hóa với giá thành rẻ nhất, Trung Quốc sẽ hủy hoại môi sinh tàn tệ và nhanh chóng đến mức khó có thể nào cứu gỡ được.
Dẫn chứng sự độc hại và nguy hiểm của hàng hóa Trung Quốc, “Death By China” đưa ra hàng loạt những thí dụ như melamine trong sữa, melamine trong thức ăn cho chó mèo (pet food), quần áo cho trẻ em dễ bốc cháy, thuốc aspirin chứa độc tố, thuốc Lipitor và Viagra giả, chất arsenic trong nước ngọt, chất chì trong trà, than giả, nôi em bé chỉ dùng vài lần là gẫy thành khiến nhiều em bé bị ngã gẫy cổ, trẹo sườn, điện thoại di động bị phát nổ, “dry wall” chứa độc tố, sofar bị xịt đầy chất “dimethyl fumarate” gây bệnh ngứa ngoài da kinh niên, những món ăn chứa đầy chì, vòng đeo cổ và đồ chơi gây khó thở, và còn rất nhiều ví dụ khác.
Những dẫn chứng về sự cạnh tranh bất chánh cũng nhiều không kém!
Trước tiên, Trung Quốc đập tan những quy ước về cả tự do mậu dịch lẫn thương mại bằng chính sách “vừa con buôn thủ lợi, vừa bảo vệ nền công nghệ nội địa” bằng cách đổ tiền của nhà nước vào từng nền công nghệ mà họ muốn cạnh tranh với Hoa Kỳ, và cướp đi công việc của người dân Mỹ.
Còn những võ khí được sử dụng có hệ thống để giết hại nền kinh tế của Hoa Kỳ thì sao?
Theo “Death by China,” các võ khí này gồm việc hỗ trợ cho các hàng xuất cảng vi phạm luật của WTO, sản xuất hàng giả, đánh cắp kỹ thuật, hoàn toàn không quan tâm đến những cách sản xuất có hại cho môi sinh, và ngược đãi công nhân, biến họ thành lao nô.
Ðiểm then chốt của chính sách con buôn trục lợi bất chấp các quy ước của WTO mà Trung Quốc đã ký kết là việc thao túng hối suất, khiến hàng nhập vào Trung Quốc có giá thành rất cao, tạo cho Hoa Kỳ một nguy cơ như trái bom nổ chậm: Thâm thủng mậu dịch hàng năm lên đến gần $1 tỉ!
Cùng lúc đó, bất cứ công ty nào muốn bước vào thị trường được chính phủ Trung Quốc bảo hộ kỹ càng để bán hàng cho dân địa phương phải chịu số phận chung là dần dà sẽ bị đánh cắp hết kỹ thuật và phát minh. Trường hợp của Google và Google China là một ví dụ điển hình. Lý do là luật của Trung Quốc đòi hỏi các công ty muốn vào nước họ phải chuyển bộ phận nghiên cứu và phát triển đến đó.
Một vài thống kê trong “Death by China” làm độc giả giật mình.
Kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001, chủ trương “con buôn trục lợi” và bảo vệ công nghệ nội địa của họ đã khiến nhiều kỹ nghệ của Hoa Kỳ, như may mặc, bàn ghế, hóa chất, giấy, sắt, bánh xe, bị thu nhỏ lại còn một nửa. Riêng kỹ nghệ dệt bị triệt tiêu hơn 70%. Trong ngành vi tính và điện tử, Trung Quốc lấy đi của Hoa Kỳ hơn 40% công ăn việc làm.
Theo Navarro và Autry, trong vòng mười năm qua, Trung Quốc lấy đi của Hoa Kỳ mỗi năm 1 triệu công ăn việc làm. Cũng theo họ, trong con số 13.9 triệu người đang bị thất nghiệp tại Mỹ, 10 triệu việc làm được chuyển sang Trung Quốc.
Vũ khí cuối cùng trong chính sách thâm độc của Trung Quốc là việc mà hai tác giả của “Death by China” gọi là “xâm lăng” hay “chiếm lãnh thuộc địa” khắp nơi bằng cách lạm dụng tự do mậu dịch để giành lấy tài nguyên của các quốc gia đang phát triển.
Một kịch bản quen thuộc được Navarro và Autry vẽ nên: Một ông Trung Quốc bụng phệ, mang ngân phiếu đến một quốc gia nghèo khó nào đó, và hứa sẽ cho quốc gia đó mượn một số tiền khổng lồ với tiền lời rẻ mạt để “giúp” xây cất đường sá hay canh tân quân đội. Ðổi lại, quốc gia này chỉ cần làm hai điều rất nhỏ cho Bắc Kinh: Trao hết quyền khai thác tài nguyên, đồng thời cho phép Trung Quốc được quyền bán những sản phẩm được chế tạo bởi chính những tài nguyên vừa khai thác được từ nước này cho người tiêu thụ quanh vùng.
Tại sao đây lại là mánh lới quỷ quyệt? Vì những hợp đồng loại này biến quốc gia vừa ký kết cho Trung Quốc khai thác tài nguyên trở thành thuộc địa của họ. Cả thị trường cũng của Trung Quốc nốt.
(Trong các bài sau, Người Việt Online trình bày tiếp về hiểm họa gây ra bởi chính sách ăn cắp bí mật quốc phòng và gia tăng đầu tư quân sự của Trung Quốc, cũng như những đề nghị được “Death by China” đưa ra để đối phó với hiểm họa này.)
Nguyễn Chí Vịnh nói ngược Nguyễn Phương Nga
Ngô Nhân Dụng
“Nhà lại bị cướp rồi,” đó là lời báo động trên blog của Anh Ba Sàm, trước khi trang mạng của anh bị “giật sập,” nói theo lời một nhà trí thức yêu nước.
Sáng ngày 9 tháng 6, tàu Viking 02 của PetroVietnam đang thăm dò đáy biển như thường lệ thì lại bị một tàu hải giám của Trung Quốc, với sự yểm trợ của hai tàu ngư chính, lao vào cắt dây cáp trong vùng biển thuộc quyền nước ta, không khác gì vụ cắt dây cáp của Bình Minh 2 trước đây. Ðây là vụ tấn công lần thứ hai trong nửa tháng!
Bà Nguyễn Phương Nga đã đe dọa một lần rồi mà tụi nó không sợ, lạ thật! Bà Nga là phát ngôn viên của nhà nước cộng sản, bữa trước đã cảnh cáo: “Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay, không để tái diễn những hành động vi phạm quyền chủ quyền,... đồng thời bồi thường thiệt hại cho phía Việt Nam.” Sau khi nghe bà Nga nói, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc lại bảo vụ tấn công tầu Bình Minh là một việc “bình thường và hợp lý ở khu vực biển thuộc thẩm quyển và quyền tài phán của Trung Quốc.” Thậm chí, họ còn yêu cầu Việt Nam “ngay lập tức ngưng những hành động xâm phạm và không được gây thêm rắc rối mới.” Nhà nước Cộng Sản Trung Hoa coi việc tầu hải giám họ đi cắt cáp tầu Việt Nam giống như một công việc của cảnh sát đi bắt trộm vậy! Giống như mấy anh cảnh sát Tầu qua Lào Kai hay Móng Cái bắt mấy người Việt Nam, đổ cho tội ăn trộm vậy! Bà Nguyễn Phương Nga đòi bồi thường thôi không đủ đâu!
Chưa thấy chúng bồi thường gì cả, mà chúng lại tỏ ra không sợ những lời bà Nga đe dọa lần trước: “Hải Quân Việt Nam sẽ làm mọi việc cần thiết để bảo vệ vững chắc hòa bình, độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.” Nghe rất mạnh. Nhưng có lẽ chúng cũng không sợ lời dọa này vì sau đó, trong một cuộc phỏng vấn đăng trên báo, ông tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng bộ Quốc Phòng lại nói trái ngược hẳn với lời đe dọa của bà Nguyễn Phương Nga!
Trong bài phỏng vấn đăng trên báo Tuổi Trẻ đầu tuần này, sau khi dân Việt Nam đã rầm rộ biểu tình phản đối ở Hà Nội và Sài Gòn, khi nhắc tới việc Philippines từng đưa Hải quân, Không quân ra đối đầu với tầu Trung Quốc xâm nhập hải phận của họ, Nguyễn Chí Vịnh lại nói là quân đội không dính vào vụ này: “Quân đội theo dõi, giám sát chặt chẽ không để vụ việc leo thang nhưng không tham gia giải quyết.” Vịnh nói rõ: “Như vụ tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 02 vừa rồi, ta không đưa hải quân trở thành chủ thể giải quyết. Khác nhiều nước ở chỗ ấy.”
Nghe ông Vịnh nói không ai hiểu nổi, giống như lối nói của một em bé chưa đủ lớn khôn! Một đằng ông nói nói quân đội sẽ “theo dõi, giám sát chặt chẽ không để vụ việc leo thang;” đồng thời ông lại nói “nhưng không tham gia giải quyết!” Thế là thế nào? Không tham gia, không giải quyết thì làm sao “không để vụ việc leo thang” được? Nếu chúng nó cứ leo thang thì quân ta vẫn “không tham gia giải quyết” chỉ còn nước đi năn nỉ chúng hay sao? Mà chúng đã leo thang thật rồi đấy, chúng có xin phép ông Tướng Vịnh hay chưa? Nghe những câu ông Vịnh nói cũng khó hiểu như nghe ai nói tiếng Tầu vậy!
Tướng Vịnh còn giải thích thêm lập trường của đảng ông: “Chúng ta,... không cần huy động lực lượng quân sự!”
Một đằng bà Nga dọa: “Hải Quân Việt Nam sẽ làm mọi việc cần thiết” nhưng đằng khác ông Vịnh lại nói: “Không cần huy động lực lượng quân sự!”
Hải quân chắc phải gọi là một lực lượng quân sự chứ? Không huy động thì còn làm được “mọi việc cần thiết?” Trong hai ông bà này ai nói Gà và ai nói Vịt, ai nói tiếng Việt và ai nói tiếng Tầu? Ðúng là họ “Khác nhiều nước ở chỗ ấy” thật!
Chưa hết, tại cuộc hội nghị ở Indonesia ngày hôm sau, ông Nguyễn Chí Vịnh còn sợ bà Nguyễn Phương Nga chưa hiểu ý đảng, nên nhấn mạnh lần nữa rằng: “Với những tranh chấp ở biển Ðông, các bên tuyệt đối không được sử dụng bạo lực với nhau!”
Nhưng ông Nguyễn Chí Vịnh không giải thích khi các “tầu lạ” đâm vào tầu đánh cá Việt Nam, khi họ dùng súng đạn bắt cóc các ngư dân, đánh đập, giam cầm, đòi tiền chuộc, rồi bây giờ thì đâm thẳng tầu của nó vào tầu của mình trước khi cắt dây cáp, như vậy đứa nào dùng bạo lực? Nếu giặc dùng bạo lực mà mình bị cấm không dùng bạo lực thì dân mình cứ chịu chết mãi hay sao? Ðồng thời, giặc còn tấn công ngay một số trang thông tin điện tử của Bộ Ngoại Giao nữa. Website của trung tâm biên phiên dịch đã bị hacker đánh, để lại một số lời bằng tiếng Trung Hoa kèm hình ảnh cờ Trung Quốc!
Chúng ta có thể tin ông Nguyễn Chí Vịnh phát biểu đúng lập trường của đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ không dám dùng quân đội, công an để bảo vệ người dân Việt đi đánh cá hay đi thăm dò đáy biển. Trên blog của nhà báo Huy Ðức có lời thuật: “Một blogger được nói là làm việc trên tàu Bình Minh 2 viết, khi tàu của anh bị (tầu Trung Quốc) tấn công, các tàu hải quân (Việt Nam) giả dạng tàu bảo vệ “đã sẵn sàng” phi thẳng vào “tàu giặc.” Nhưng, các anh ấy nói, chưa có lệnh từ Bộ Chính Trị, chưa dám bắn, “dù tức vãi ra rồi!” Dân mình chịu bó tay cho giặc tấn công, hai lần rồi!
Không dám đưa quân đội ra bảo vệ dân, thì còn một con đường khác, là sử dụng ngoại giao, vận động thế giới bắt “giặc” phải tôn trọng luật lệ quốc tế. Phải vận động các nước Ðông Nam Á, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, những nước có quyền lợi ở biển Ðông để họ hỗ trợ mình! Phải đưa “giặc” ra tòa, giống như khi bị nhà hàng xóm ức hiếp thì người dân nào cũng phải kêu cảnh sát vậy.
Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam lại không muốn làm những việc đó. Không lôi kéo các nước khác, mà cũng không tin thế giới có tòa án, có luật pháp! Ông Nguyễn Chí Vịnh cho thấy như vậy. Và trong hai lần phát biểu, ông không những nói ngược lại lời bà Nguyễn Phương Nga, mà còn có tài nói mâu thuẫn với chính ông nữa.
Trong bài phỏng vấn đăng trên Tuổi Trẻ, ông Vịnh nhắc lại lập trường cố hữu của đảng Cộng Sản Việt Nam là về các vụ tranh chấp hải phận với Trung Quốc họ chỉ thảo luận song phương với “nước bạn” chứ không đưa ra các diễn đàn quốc tế, dù là trong khối Ðông Nam Á. Ông Vịnh nói: “Chúng ta giải quyết trực tiếp với nước có tranh chấp, không lôi ai vào đây để cùng giải quyết, không nhờ vả ai để tạo lợi thế trong giải quyết vấn đề.” Nói thế rõ ràng lắm rồi.
Nhưng đường lối ngoại giao này rõ ràng là THUA, là chịu thua trước khi nói chuyện! Vì trong mọi cuộc bàn cãi về hải phận, Bắc Kinh đã nắm dao đằng chuôi, còn Việt Nam thì nắm được cái lưỡi dao! Mỗi lần cãi nhau, Bắc Kinh chỉ cần đưa ra bức thư của Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958, nói chính phủ Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn đồng ý với bản tuyên bố về hải phận của chính phủ Cộng Sản Trung Quốc ! Trong bản tuyên bố về hải phận đó chính quyền Trung Hoa đã nêu tên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc về họ.
Tuy nhiên, chỉ một ngày sau, tại Hội nghị Chính sách An ninh Diễn đàn khu vực ASEAN (AFR) ngày 8 tháng 6, 2011 ở Indonesia, ông Nguyễn Chí Vịnh lại nói khác. Ông tuyên bố, “vấn đề biển Ðông cần được giải quyết thông qua đàm phán hòa bình đa phương,” dựa trên những quy tắc quốc tế theo UNCLOS 1982, DOC và COC vân vân. Như vậy là đa phương hay song phương? Hay là nói thì đa phương mà làm thì song phương? Chuyện tất cả biển Ðông thì đa phương còn nếu họ xâm phạm đến gần bờ biển mình quá, vào cách bờ biển Phú Yên có 120 hải lý, thì lại song phương cho tiện?
Chưa hết! Những lời ông Vịnh nói về các công ước quốc tế DOC, COC và UNCLOS 1982, nghe rất lạ! Vì mới bữa trước đó chính ông đã coi chúng là vô ích, vô hiệu. Khi trả lời báo Tuổi Trẻ, ông Vịnh nói: “Tôi rất mong có COC nhưng không coi COC là trang bị pháp lý tuyệt đối, đầy đủ để giải quyết mọi vấn đề ở biển Ðông. Ngay cả Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển họ còn coi thường thì cũng không lấy gì đảm bảo COC giải quyết được vấn đề.”
Tức là khi nói với người ngoài thì làm ra bộ coi thế giới này có luật pháp, còn nói với người Việt Nam thì không. Trên báo Tuổi Trẻ, nêu việc kiện Trung Quốc ra các tòa án thế giới, Nguyễn Chí Vịnh trả lời: “Tòa án quốc tế đem lại chính nghĩa về mặt lương tâm,... Còn về thực địa, không ai ‘sờ’ vào được.” Nói vậy tức là không tin tòa án nào làm được cái gì cả; vẫn chỉ mong được nói chuyện tay đôi thôi! Thói quen coi thường pháp luật đã được rèn luyện trong lối sống độc tài đảng trị rồi, khi bàn việc ngoại giao vẫn không thể bỏ lối suy nghĩ đó được! Nhưng khi chỉ có Trung Quốc với Việt Nam gặp gỡ tay đôi thì liệu có “sờ” được hay không? Mà thằng nào sờ thằng nào? Không dám sử dụng những định chế tài phán của thế giới vì không tin các công ước quốc tế, nhưng lại cứ đặt hết lòng tin vào nhưng lời hứa hão “16 chữ vàng” với “4 cái tốt,” của các “đồng chí, anh em,” được hay sao?
Tóm lại là nếu thằng căn cướp nó bất chấp pháp luật, thì thôi, ta không cũng không nói chuyện luật pháp với nó nữa! Nhưng không dùng quân sự ngăn chặn giặc, cũng không nói chuyện luật pháp. Vậy phải làm gì? Cứ để cho nó “được đằng chân lân đằng đầu” mãi hay sao? Phải năn nỉ? Phải hờn dỗi? Phải bám lấy các “đồng chí, anh em” mà van xin? Ông Nguyễn Chí Vịnh là một thứ trưởng bộ Quốc Phòng. Không biết ông sẽ phòng cái gì?
Trong khi đó, ông Nguyễn Minh Triết nói: “Chúng ta mong muốn các vùng biển và hải đảo của Tổ quốc luôn hòa bình, hữu nghị, ổn định nhưng chúng ta cũng quyết tâm làm hết sức mình để bảo vệ vùng biển đảo của đất nước.” Ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng tuyên bố: “Tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.” Và “nhân dân Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình.” Nghe cũng thấy giống như ông Nguyễn Chí Vịnh mới nói: “Nhân dân ta rất yêu nước, sẵn sàng làm tất cả để bảo vệ Tổ quốc!” Ông Nguyễn Tấn Dũng từng nói sẽ cương quyết diệt trừ tham nhũng, có ai còn tin ông ấy không?
Người dân chỉ mong những lời nói phải đi đôi với việc làm! Bởi vì nói thì dễ, lại nói chỉ cốt cho dân mình nghe thôi, càng dễ nữa! Có dám nói với người ngoài không? Có dám đem bọn giặc ra tòa không hay là chỉ nói chơi? Người dân Việt Nam không dại. Các ông nói thật hay chỉ tuyên bố hung hăng để trì hoãn “mua thời giờ,” cho dân bớt oán hận, nhất là cho thanh niên bớt đi biểu tình! Rồi lâu ngày bao lời lẽ văn hoa của các ông cũng “hóa bùn” hết thì người Việt Nam lại bị các “đồng chí anh em” đặt trước những “sự đã rồi?”
Ngô Nhân Dụng
“Nhà lại bị cướp rồi,” đó là lời báo động trên blog của Anh Ba Sàm, trước khi trang mạng của anh bị “giật sập,” nói theo lời một nhà trí thức yêu nước.
Sáng ngày 9 tháng 6, tàu Viking 02 của PetroVietnam đang thăm dò đáy biển như thường lệ thì lại bị một tàu hải giám của Trung Quốc, với sự yểm trợ của hai tàu ngư chính, lao vào cắt dây cáp trong vùng biển thuộc quyền nước ta, không khác gì vụ cắt dây cáp của Bình Minh 2 trước đây. Ðây là vụ tấn công lần thứ hai trong nửa tháng!
Bà Nguyễn Phương Nga đã đe dọa một lần rồi mà tụi nó không sợ, lạ thật! Bà Nga là phát ngôn viên của nhà nước cộng sản, bữa trước đã cảnh cáo: “Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay, không để tái diễn những hành động vi phạm quyền chủ quyền,... đồng thời bồi thường thiệt hại cho phía Việt Nam.” Sau khi nghe bà Nga nói, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc lại bảo vụ tấn công tầu Bình Minh là một việc “bình thường và hợp lý ở khu vực biển thuộc thẩm quyển và quyền tài phán của Trung Quốc.” Thậm chí, họ còn yêu cầu Việt Nam “ngay lập tức ngưng những hành động xâm phạm và không được gây thêm rắc rối mới.” Nhà nước Cộng Sản Trung Hoa coi việc tầu hải giám họ đi cắt cáp tầu Việt Nam giống như một công việc của cảnh sát đi bắt trộm vậy! Giống như mấy anh cảnh sát Tầu qua Lào Kai hay Móng Cái bắt mấy người Việt Nam, đổ cho tội ăn trộm vậy! Bà Nguyễn Phương Nga đòi bồi thường thôi không đủ đâu!
Chưa thấy chúng bồi thường gì cả, mà chúng lại tỏ ra không sợ những lời bà Nga đe dọa lần trước: “Hải Quân Việt Nam sẽ làm mọi việc cần thiết để bảo vệ vững chắc hòa bình, độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.” Nghe rất mạnh. Nhưng có lẽ chúng cũng không sợ lời dọa này vì sau đó, trong một cuộc phỏng vấn đăng trên báo, ông tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng bộ Quốc Phòng lại nói trái ngược hẳn với lời đe dọa của bà Nguyễn Phương Nga!
Trong bài phỏng vấn đăng trên báo Tuổi Trẻ đầu tuần này, sau khi dân Việt Nam đã rầm rộ biểu tình phản đối ở Hà Nội và Sài Gòn, khi nhắc tới việc Philippines từng đưa Hải quân, Không quân ra đối đầu với tầu Trung Quốc xâm nhập hải phận của họ, Nguyễn Chí Vịnh lại nói là quân đội không dính vào vụ này: “Quân đội theo dõi, giám sát chặt chẽ không để vụ việc leo thang nhưng không tham gia giải quyết.” Vịnh nói rõ: “Như vụ tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 02 vừa rồi, ta không đưa hải quân trở thành chủ thể giải quyết. Khác nhiều nước ở chỗ ấy.”
Nghe ông Vịnh nói không ai hiểu nổi, giống như lối nói của một em bé chưa đủ lớn khôn! Một đằng ông nói nói quân đội sẽ “theo dõi, giám sát chặt chẽ không để vụ việc leo thang;” đồng thời ông lại nói “nhưng không tham gia giải quyết!” Thế là thế nào? Không tham gia, không giải quyết thì làm sao “không để vụ việc leo thang” được? Nếu chúng nó cứ leo thang thì quân ta vẫn “không tham gia giải quyết” chỉ còn nước đi năn nỉ chúng hay sao? Mà chúng đã leo thang thật rồi đấy, chúng có xin phép ông Tướng Vịnh hay chưa? Nghe những câu ông Vịnh nói cũng khó hiểu như nghe ai nói tiếng Tầu vậy!
Tướng Vịnh còn giải thích thêm lập trường của đảng ông: “Chúng ta,... không cần huy động lực lượng quân sự!”
Một đằng bà Nga dọa: “Hải Quân Việt Nam sẽ làm mọi việc cần thiết” nhưng đằng khác ông Vịnh lại nói: “Không cần huy động lực lượng quân sự!”
Hải quân chắc phải gọi là một lực lượng quân sự chứ? Không huy động thì còn làm được “mọi việc cần thiết?” Trong hai ông bà này ai nói Gà và ai nói Vịt, ai nói tiếng Việt và ai nói tiếng Tầu? Ðúng là họ “Khác nhiều nước ở chỗ ấy” thật!
Chưa hết, tại cuộc hội nghị ở Indonesia ngày hôm sau, ông Nguyễn Chí Vịnh còn sợ bà Nguyễn Phương Nga chưa hiểu ý đảng, nên nhấn mạnh lần nữa rằng: “Với những tranh chấp ở biển Ðông, các bên tuyệt đối không được sử dụng bạo lực với nhau!”
Nhưng ông Nguyễn Chí Vịnh không giải thích khi các “tầu lạ” đâm vào tầu đánh cá Việt Nam, khi họ dùng súng đạn bắt cóc các ngư dân, đánh đập, giam cầm, đòi tiền chuộc, rồi bây giờ thì đâm thẳng tầu của nó vào tầu của mình trước khi cắt dây cáp, như vậy đứa nào dùng bạo lực? Nếu giặc dùng bạo lực mà mình bị cấm không dùng bạo lực thì dân mình cứ chịu chết mãi hay sao? Ðồng thời, giặc còn tấn công ngay một số trang thông tin điện tử của Bộ Ngoại Giao nữa. Website của trung tâm biên phiên dịch đã bị hacker đánh, để lại một số lời bằng tiếng Trung Hoa kèm hình ảnh cờ Trung Quốc!
Chúng ta có thể tin ông Nguyễn Chí Vịnh phát biểu đúng lập trường của đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ không dám dùng quân đội, công an để bảo vệ người dân Việt đi đánh cá hay đi thăm dò đáy biển. Trên blog của nhà báo Huy Ðức có lời thuật: “Một blogger được nói là làm việc trên tàu Bình Minh 2 viết, khi tàu của anh bị (tầu Trung Quốc) tấn công, các tàu hải quân (Việt Nam) giả dạng tàu bảo vệ “đã sẵn sàng” phi thẳng vào “tàu giặc.” Nhưng, các anh ấy nói, chưa có lệnh từ Bộ Chính Trị, chưa dám bắn, “dù tức vãi ra rồi!” Dân mình chịu bó tay cho giặc tấn công, hai lần rồi!
Không dám đưa quân đội ra bảo vệ dân, thì còn một con đường khác, là sử dụng ngoại giao, vận động thế giới bắt “giặc” phải tôn trọng luật lệ quốc tế. Phải vận động các nước Ðông Nam Á, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, những nước có quyền lợi ở biển Ðông để họ hỗ trợ mình! Phải đưa “giặc” ra tòa, giống như khi bị nhà hàng xóm ức hiếp thì người dân nào cũng phải kêu cảnh sát vậy.
Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam lại không muốn làm những việc đó. Không lôi kéo các nước khác, mà cũng không tin thế giới có tòa án, có luật pháp! Ông Nguyễn Chí Vịnh cho thấy như vậy. Và trong hai lần phát biểu, ông không những nói ngược lại lời bà Nguyễn Phương Nga, mà còn có tài nói mâu thuẫn với chính ông nữa.
Trong bài phỏng vấn đăng trên Tuổi Trẻ, ông Vịnh nhắc lại lập trường cố hữu của đảng Cộng Sản Việt Nam là về các vụ tranh chấp hải phận với Trung Quốc họ chỉ thảo luận song phương với “nước bạn” chứ không đưa ra các diễn đàn quốc tế, dù là trong khối Ðông Nam Á. Ông Vịnh nói: “Chúng ta giải quyết trực tiếp với nước có tranh chấp, không lôi ai vào đây để cùng giải quyết, không nhờ vả ai để tạo lợi thế trong giải quyết vấn đề.” Nói thế rõ ràng lắm rồi.
Nhưng đường lối ngoại giao này rõ ràng là THUA, là chịu thua trước khi nói chuyện! Vì trong mọi cuộc bàn cãi về hải phận, Bắc Kinh đã nắm dao đằng chuôi, còn Việt Nam thì nắm được cái lưỡi dao! Mỗi lần cãi nhau, Bắc Kinh chỉ cần đưa ra bức thư của Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958, nói chính phủ Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn đồng ý với bản tuyên bố về hải phận của chính phủ Cộng Sản Trung Quốc ! Trong bản tuyên bố về hải phận đó chính quyền Trung Hoa đã nêu tên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc về họ.
Tuy nhiên, chỉ một ngày sau, tại Hội nghị Chính sách An ninh Diễn đàn khu vực ASEAN (AFR) ngày 8 tháng 6, 2011 ở Indonesia, ông Nguyễn Chí Vịnh lại nói khác. Ông tuyên bố, “vấn đề biển Ðông cần được giải quyết thông qua đàm phán hòa bình đa phương,” dựa trên những quy tắc quốc tế theo UNCLOS 1982, DOC và COC vân vân. Như vậy là đa phương hay song phương? Hay là nói thì đa phương mà làm thì song phương? Chuyện tất cả biển Ðông thì đa phương còn nếu họ xâm phạm đến gần bờ biển mình quá, vào cách bờ biển Phú Yên có 120 hải lý, thì lại song phương cho tiện?
Chưa hết! Những lời ông Vịnh nói về các công ước quốc tế DOC, COC và UNCLOS 1982, nghe rất lạ! Vì mới bữa trước đó chính ông đã coi chúng là vô ích, vô hiệu. Khi trả lời báo Tuổi Trẻ, ông Vịnh nói: “Tôi rất mong có COC nhưng không coi COC là trang bị pháp lý tuyệt đối, đầy đủ để giải quyết mọi vấn đề ở biển Ðông. Ngay cả Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển họ còn coi thường thì cũng không lấy gì đảm bảo COC giải quyết được vấn đề.”
Tức là khi nói với người ngoài thì làm ra bộ coi thế giới này có luật pháp, còn nói với người Việt Nam thì không. Trên báo Tuổi Trẻ, nêu việc kiện Trung Quốc ra các tòa án thế giới, Nguyễn Chí Vịnh trả lời: “Tòa án quốc tế đem lại chính nghĩa về mặt lương tâm,... Còn về thực địa, không ai ‘sờ’ vào được.” Nói vậy tức là không tin tòa án nào làm được cái gì cả; vẫn chỉ mong được nói chuyện tay đôi thôi! Thói quen coi thường pháp luật đã được rèn luyện trong lối sống độc tài đảng trị rồi, khi bàn việc ngoại giao vẫn không thể bỏ lối suy nghĩ đó được! Nhưng khi chỉ có Trung Quốc với Việt Nam gặp gỡ tay đôi thì liệu có “sờ” được hay không? Mà thằng nào sờ thằng nào? Không dám sử dụng những định chế tài phán của thế giới vì không tin các công ước quốc tế, nhưng lại cứ đặt hết lòng tin vào nhưng lời hứa hão “16 chữ vàng” với “4 cái tốt,” của các “đồng chí, anh em,” được hay sao?
Tóm lại là nếu thằng căn cướp nó bất chấp pháp luật, thì thôi, ta không cũng không nói chuyện luật pháp với nó nữa! Nhưng không dùng quân sự ngăn chặn giặc, cũng không nói chuyện luật pháp. Vậy phải làm gì? Cứ để cho nó “được đằng chân lân đằng đầu” mãi hay sao? Phải năn nỉ? Phải hờn dỗi? Phải bám lấy các “đồng chí, anh em” mà van xin? Ông Nguyễn Chí Vịnh là một thứ trưởng bộ Quốc Phòng. Không biết ông sẽ phòng cái gì?
Trong khi đó, ông Nguyễn Minh Triết nói: “Chúng ta mong muốn các vùng biển và hải đảo của Tổ quốc luôn hòa bình, hữu nghị, ổn định nhưng chúng ta cũng quyết tâm làm hết sức mình để bảo vệ vùng biển đảo của đất nước.” Ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng tuyên bố: “Tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.” Và “nhân dân Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình.” Nghe cũng thấy giống như ông Nguyễn Chí Vịnh mới nói: “Nhân dân ta rất yêu nước, sẵn sàng làm tất cả để bảo vệ Tổ quốc!” Ông Nguyễn Tấn Dũng từng nói sẽ cương quyết diệt trừ tham nhũng, có ai còn tin ông ấy không?
Người dân chỉ mong những lời nói phải đi đôi với việc làm! Bởi vì nói thì dễ, lại nói chỉ cốt cho dân mình nghe thôi, càng dễ nữa! Có dám nói với người ngoài không? Có dám đem bọn giặc ra tòa không hay là chỉ nói chơi? Người dân Việt Nam không dại. Các ông nói thật hay chỉ tuyên bố hung hăng để trì hoãn “mua thời giờ,” cho dân bớt oán hận, nhất là cho thanh niên bớt đi biểu tình! Rồi lâu ngày bao lời lẽ văn hoa của các ông cũng “hóa bùn” hết thì người Việt Nam lại bị các “đồng chí anh em” đặt trước những “sự đã rồi?”
Làm sao nói chuyện với thế giới
Ngô Nhân Dụng
Từ khi tầu Trung Quốc tấn công các tầu thăm dò đáy biển của Việt Nam, báo chí quốc tế hầu như không để ý đến những xung đột này.
Mọi người coi như đó là những chuyện nhỏ, mặc dù đối với người Việt Nam thì đây là một tin nhức đầu hạng nhất. Cuối tuần qua, tạp chí quốc tế The Economist có 3 bài liên tiếp về Trung Quốc bành trướng thế lực ở vùng Ðông Nam Á. Họ bàn về trường hợp Miến Ðiện, Campuchia, và tên nước Việt Nam chỉ được nêu lên vì có thể cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc tại xứ Chùa Tháp. The Economist chỉ nhắc đến các cuộc biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn qua 4 dòng chữ khi bàn về hội nghị Shangri-La ở Singapore - mặc dù báo này có đăng một bức hình người Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc vừa qua để minh họa bản tin về Campuchia!
Báo chí Pháp, như tờ Le Monde, là một cơ sở truyền thông quốc tế đầu tiên nhắc đến các biên cố đó, khi mô tả những dấu hiệu đáng lo ngại về một cuộc xung đột hải quân (confrontation navale) ở vùng Ðông Nam Á. Ði chậm hơn, ngày hôm qua hệ thống các đài NPR ở Mỹ mới loan tin tương tự, với tựa đề: Trung Quốc, Việt Nam căng thẳng hơn vì tranh chấp lãnh hải.” Ðặc biệt là bản tin này có kèm hình ảnh những thanh niên Việt Nam đi biểu tình trước tòa Ðại Sứ Trung Cộng ở Hà Nội.
Tại sao báo chí thế giới lơ là với tin tức về các vụ Bình Minh 2, Viking 2, cùng những cuộc biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn trong hai tuần liên tiếp như vậy? Trong khi họ đã sẵn sàng loan báo tin về những cuộc biểu tình ít người hơn ở Tây Tạng, ở Nội Mông khi vừa mới xẩy ra? Chắc chắn các nhà báo đều biết rằng chính Tây Tạng và Nội Mông Cổ đang thuộc vào Trung Quốc, còn Việt Nam thì vẫn độc lập; chứ không phải ngược lại! Người ta dễ chú ý đến dân Tây Tạng vì họ đã có một quá khứ quật cường chống Cộng sản Trung Hoa! Lý do chính khiến tin tức Việt Nam bị thế giới bỏ qua là vì chính các báo, đài ở Việt Nam cũng lơ là! Người làm báo quốc tế chỉ loan báo những tin khi thấy chúng có thể gây ra các ảnh hưởng lớn và lâu dài. Trước những tin tức mà chính các nhà báo ở Việt Nam cũng không loan tải, thì thế giới bên ngoài sẽ cảm thấy những vụ cắt cáp hay các cuộc biểu tình ở Việt Nam chỉ là các biến cố hoặc sự kiện nhỏ, không có gì quan trọng!
Như Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu mới trình bày trên mạng Bô Xít Việt Nam, sau những cuộc biểu tình liên tiếp hai ngày Chủ Nhật của dân chúng Hà Nội và Sài Gòn, “...báo chí ‘lề phải’ (do đảng Cộng sản kiểm soát) không dám đưa tin biểu tình một cách xứng đáng mà còn bôi nhọ rằng đây là sự “tụ tập” chỉ đi ngang qua cơ quan của Trung Quốc và khi được giải thích thì đã tự giải tán?” Hà Sĩ Phu phê phán: “(Những) người đưa tin như thế thật không xứng đáng là công dân nước Việt chứ nói gì danh hiệu cao quý của một nhà báo!”
Chúng ta có thể thông cảm với các nhà báo trong nước; đang nằm trong rọ thì rất khó cao quý! Vì không những họ bị một ông Tô Huy Rứa kiểm soát, mà có lúc còn nhận được huấn thị từ Bắc Kinh gửi qua nữa. Cuối tháng 8 năm 2007 bộ Ngoại Giao Bắc Kinh đã gọi Ðại Sứ Việt Nam Trần Văn Luật đến, ông ta yêu cầu báo chí Việt Nam phải ngưng không được đăng những tin tức về hàng hóa, sản phẩm Trung Quốc làm giả mạo hoặc phẩm chất xấu. Chưa một quốc gia nào trên thế giới lại can thiệp đòi ngăn cấm quyền tự do ngôn luận của dân chúng một khác như vậy! Trong cùng thời gian báo chí ở Việt Nam viết về hàng Trung Quốc như thế thì báo chí ở Tây phương và các nước khác cũng đang bản cãi ồn ào về hàng giả, hàng xấu của Trung Quốc; nhưng Bắc Kinh không dám mời đại sứ của bất cứ quốc gia nào khác, từ Pháp, Mỹ đến Mã Lai, Thái Lan tới để hạch hỏi cả! Ðến chuyện hàng hóa mà còn được chỉ thị rõ ràng tỉ mỉ, nữa là những chuyện tranh chấp hải đảo? Chưa có một quốc gia nào lại để cho người nước khác chỉ huy, ra lệnh cho cả báo chí, thông tin trong nước mình như vậy! Hành động đó không những khiến cho chính bọn người ra lệnh chúng khinh cho, mà còn làm mất thể diện của cả dân tộc nữa!
Ðến đầu tuần này, dân ta thở phào nhẹ nhõm, vì các báo đài thế giới đã bắt đầu để ý đến vụ Trung Quốc bắt nạt Việt Nam. Ðiều này cho thấy họ đang nhìn cuộc xung đột ngày càng trầm trọng, càng đáng chú ý, người Việt Nam sẽ không bị thế giới bỏ rơi để cho bất cứ ai bắt nạt cũng được!
Nhưng còn các chính khách quốc tế? Ðiều đáng buồn là trong mấy tuần lễ, chỉ có người Việt Nam quan tâm còn người ngoại quốc không ai biết tới nỗi uất hận của dân mình. Người Việt đã đi biểu tình phản đối trước tòa Ðại Sứ Trung Quốc ở nhiều thủ đô Âu, Mỹ để đánh thức chính khách các nước này. Hôm đầu tuần, tại Mỹ tạp chí National Journal mới báo tin Nghị Sĩ Jim Webb đã lên tiếng về những hành động gây hấn của Trung Quốc trong vùng biển Ðông Việt Nam. Vị nghị sĩ đảng Dân Chủ ở tiểu bang Virginia nói trong một cuộc họp của Hội Ðồng Ngoại Giao (Council on Foreign Relations), một tổ chức không thuộc chính phủ Mỹ. Ông cho biết sẽ đưa ra Thượng Viện Mỹ một nghị quyết về việc này. Ngày hôm sau, Nhật báo Financial Times loan tin Việt Nam đã yêu cầu chính phủ Mỹ và các quốc gia khác giúp giải quyết các tranh chấp với Trung Quốc trong vùng biển Ðông.
Nhưng chính quyền Cộng Sản Việt Nam sẽ lấy lý do nào để yêu cầu các nước khác can thiệp?
Trong vụ xung đột quyền lợi về các quần đảo từ bao lâu nay, chính quyền Bắc Kinh vẫn lấy lá thư năm 1958 do Phạm Văn Ðồng ký gửi Chu Ân Lai làm căn bản để khẳng định chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong thư đó, ông Phạm Văn Ðồng đã ủng hộ bản tuyên bố của chính phủ Trung Quốc về lãnh hải; mà bản tuyên bố này kèm theo cả bản đồ vẽ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc. Sau này, các người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam biện hộ rằng ông Ðồng chỉ ủng hộ ý kiến về lãnh hải nhưng không ủng hộ cái chi tiết về các quần đảo đó. Nói như vậy trong việc ngoại giao rất khó nghe, cũng giống như một người ký cái giấy bán nhà rồi lại nói tôi không chịu bán cái cái mái nhà!
Nhưng không phải chỉ có ông Phạm Văn Ðồng nhu nhược và chịu nhục nhã. Nhóm lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục truyền thống nhịn nhục đó, sau khi xin Trung Quốc tái lập bang giao!
Cảnh ngoại giao nhịn nhục đã bắt đầu từ năm 1950 và chỉ bị đứt đoạn một thời gian sau năm 1975, khi Lê Duẩn tuyệt giao với Tầu để hoàn toàn theo Nga. Ngay hành động chống đối này cũng thiếu suy nghĩ, rất dại dột. Sau khi đã nhận viện trợ của Cộng Sản Tầu từ cây kim sợi chỉ đến súng đạn, bom mìn suốt bao nhiêu năm chiến tranh, Lê Duẩn quay mặt chống Tầu đến mức ghi vào Hiến Pháp tên Trung Quốc như một kẻ thù truyền thống. Hồi ký Khrutchew kể lại trong hai lần ông sang Bắc Kinh đều ngỏ ý xin Trung Cộng cho Nga sử dụng một hải cảng vùng nước ấm không bị đóng băng vào mùa Ðông, cả hai lần đều bị từ chối. Lê Duẩn đã cho Hải Quân Nga sử dụng cảng Cam Ranh trong lúc Tầu và Nga đang coi nhau là tử thù. Những hành động thiếu khôn ngoan này khiến Bắc Kinh khinh bỉ, coi Việt Nam là một giống dân bội bạc; tâm lý này đã ăn sâu, từ trong giới lãnh tụ cho đến người dân Trung Hoa bình thường. Nhưng đến năm 1990 chế độ cộng sản ở Nga và Ðông Âu sụp đổ, các món viện trợ chấm dứt, thì chính những người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam bắt buộc phải quay trở lại xin tái lập bang giao với Bắc Kinh. Trong lúc chế độ cộng sản khắp nơi tàn lụi, Lê Khả Phiêu lại sang Trung Quốc xin tái lập một “Quốc tế Cộng sản” mới để Bắc Kinh đóng vai lãnh đạo các nước còn lại như Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn. Bắc Kinh đã từ chối thẳng. Bởi vì lúc đó cả thế giới biết rằng Cộng Sản Trung Hoa đã coi việc cải tổ kinh tế là quan trọng nhất để chế độ tồn tại, họ chỉ mong được bán hàng sang các nước tư bản, từ Mỹ đến Âu Châu. Làm sao Bắc Kinh có thể đóng vai đối nghịch với các khách hàng, khiêu khích các người mua hàng của họ để mua lấy một cái danh hão! Chỉ có Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam không nhìn thấy điều đó, cho nên mới đưa ra một đề nghị, tưởng là để lấy lòng Trung Quốc nhưng lại hoàn toàn đi ngược với quyền lợi của chính họ! Từ đó lòng khinh rẻ của Cộng Sản Trung Hoa càng tăng thêm. Từ khinh rẻ chuyển thành thái độ chèn ép, ngày càng kiêu căng, đưa tới những hành động “lấn chân” của họ, trên trường ngoại giao, trên mặt đất và trên biển.
Trước thái độ khinh rẻ của Cộng Sản Trung Hoa, những người lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục nhịn nhục. Tháng 2 năm 1992 Trung Quốc ban hành “Luật về lãnh hải và vùng nước tiếp giáp của nước CHND Trung Hoa” gồm 17 điều. Ðiều 2 xác khẳng định phạm vi chủ quyền của Trung Quốc trên “tất cả các đảo ven biển, Ðài Loan và các đảo phụ thuộc bao gồm đảo Ðiếu Ngư (Senkaku-theo cách gọi của Nhật Bản), quần đảo Bành Hồ, các quần đảo Ðông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và kể cả các đảo nhỏ khác.” Trong đó Tây Sa và Nam Sa chính là các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của nước ta. Trước sự kiện đạo luật này xâm phạm chủ quyền đất nước ta, chính quyền Cộng Sản Việt Nam không hề lên tiếng phản đối! Chính vì, cũng giống như Phạm Văn Ðồng thời trước, họ coi việc ngoại giao của quốc gia không quan trọng bằng tình “đồng chí anh em” giữa hai đảng cùng theo một chủ nghĩa cộng sản!
Chính sách nhịn nhục của đảng Cộng Sản đối với Trung Quốc từ 60 năm nay khiến cho bây giờ muốn nhờ các nước khác, trong đó có nước Mỹ can thiệp cũng rất khó nói năng. Muốn đứng ra nói chuyện với các nước khác để nhờ họ giúp, trước hết Cộng Sản Việt Nam phải công khai phủ nhận lá thư năm 1958 của ông Phạm Văn Ðồng. Một công hàm ngoại giao có thể bị xóa bỏ chính thức bất cứ lúc nào, không có gì đáng lo cả. Dân tộc Việt Nam không thể ngậm đắng nuốt cay mối nhục đó mãi được.
Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu mới nhận xét: “Sự khiếp nhược trường kỳ gây đau thương vĩnh viễn cho dân tộc.” Nhưng tại sao Ðảng Cộng Sản Việt Nam lại phạm những sai lầm lớn liên tục như vậy? Tất cả đều do một nguyên nhân. Ðảng Cộng Sản làm ngược lại một quy tắc ngoại giao cổ điển ai cũng thuộc lòng, là “các quốc gia không có bạn hay kẻ thù, mà chỉ có quyền lợi thôi.” Ðảng Cộng Sản Việt Nam, ngay từ những năm 1950 đã làm ngược lại quy tắc này. Họ phân chia các nước thành bạn với thù; bạn thì cái gì cũng tốt, thù thì cái gì cũng xấu! Chính sách ngoại giao của đảng Cộng Sản chỉ dựa trên bảng sắp hạng đó chứ không đặt quyền lợi quốc gia và tương quan quốc tế làm căn bản.
Nhà báo Huy Ðức gần đây mới ghi lại: Từ tháng 2, 1999 đến 12, 2000, Trung Quốc ký với tất cả 10 quốc gia Ðông Nam Á các thỏa ước cộng tác song phương, qua hình thức tuyên bố chung giữa các bộ trưởng Ngoại Giao hay phó thủ tướng, chỉ trừ đối với Việt Nam là phải có thêm thỏa ước ký bởi hai tổng bí thư. Trong việc thực hiện sự cộng tác giữa Trung Quốc và các quốc gia khác, Trung Quốc chỉ đòi hỏi tổng quát là trao đổi cấp cao. Riêng Việt Nam, thỏa ước năm 1999 đòi hỏi toàn diện cộng tác từ đảng, chính quyền, cho tới các tổ chức quần chúng, các địa phương! Chưa nước nào lại theo đường lối ngoại giao như vậy, trừ các nước chư hầu!
Trong thập niên 1960 đến 80, tại các nước chịu ảnh hưởng mạnh nhất của Mỹ, Nam Hàn, Ðài Loan và Thái Lan, trong khi chính quyền bao giờ cũng thân thiết với Mỹ, nhận viện trợ Mỹ, thì các sinh viên, học sinh vẫn liên tiếp biểu tình chống Mỹ. Nhưng đó là một hiện tượng bình thường ở các nước tự do dân chủ, với những dân tộc biết tự trọng. Ðến nay, dân Nhật ở Okinawa vẫn tiếp tục biểu tình chống Mỹ, nhưng hai nước này vẫn chấp nhận. Mà chính vì vậy nên họ mới là là đồng minh thân thiết, hai nước mới là “bạn” thật. Trong việc ngoại giao, đảng Cộng Sản đã bỏ mất cả lòng tự trọng của dân tộc. Họ dựa trên ý thức hệ, trên những chủ thuyết trừu tượng, trên một thứ tình “đồng chí anh em” hoàn toàn trống rỗng. Không những thế, đảng Cộng Sản còn bắt tất cả mọi người dân phải suy nghĩ về bạn, hay thù theo chính sách từng giai đoạn của đảng. Cho nên họ không bao giờ được nghe lời nói phải, không bao giờ biết sự thật. Một chế độ như thế không thể tồn tại được.
Ngô Nhân Dụng
Từ khi tầu Trung Quốc tấn công các tầu thăm dò đáy biển của Việt Nam, báo chí quốc tế hầu như không để ý đến những xung đột này.
Mọi người coi như đó là những chuyện nhỏ, mặc dù đối với người Việt Nam thì đây là một tin nhức đầu hạng nhất. Cuối tuần qua, tạp chí quốc tế The Economist có 3 bài liên tiếp về Trung Quốc bành trướng thế lực ở vùng Ðông Nam Á. Họ bàn về trường hợp Miến Ðiện, Campuchia, và tên nước Việt Nam chỉ được nêu lên vì có thể cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc tại xứ Chùa Tháp. The Economist chỉ nhắc đến các cuộc biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn qua 4 dòng chữ khi bàn về hội nghị Shangri-La ở Singapore - mặc dù báo này có đăng một bức hình người Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc vừa qua để minh họa bản tin về Campuchia!
Báo chí Pháp, như tờ Le Monde, là một cơ sở truyền thông quốc tế đầu tiên nhắc đến các biên cố đó, khi mô tả những dấu hiệu đáng lo ngại về một cuộc xung đột hải quân (confrontation navale) ở vùng Ðông Nam Á. Ði chậm hơn, ngày hôm qua hệ thống các đài NPR ở Mỹ mới loan tin tương tự, với tựa đề: Trung Quốc, Việt Nam căng thẳng hơn vì tranh chấp lãnh hải.” Ðặc biệt là bản tin này có kèm hình ảnh những thanh niên Việt Nam đi biểu tình trước tòa Ðại Sứ Trung Cộng ở Hà Nội.
Tại sao báo chí thế giới lơ là với tin tức về các vụ Bình Minh 2, Viking 2, cùng những cuộc biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn trong hai tuần liên tiếp như vậy? Trong khi họ đã sẵn sàng loan báo tin về những cuộc biểu tình ít người hơn ở Tây Tạng, ở Nội Mông khi vừa mới xẩy ra? Chắc chắn các nhà báo đều biết rằng chính Tây Tạng và Nội Mông Cổ đang thuộc vào Trung Quốc, còn Việt Nam thì vẫn độc lập; chứ không phải ngược lại! Người ta dễ chú ý đến dân Tây Tạng vì họ đã có một quá khứ quật cường chống Cộng sản Trung Hoa! Lý do chính khiến tin tức Việt Nam bị thế giới bỏ qua là vì chính các báo, đài ở Việt Nam cũng lơ là! Người làm báo quốc tế chỉ loan báo những tin khi thấy chúng có thể gây ra các ảnh hưởng lớn và lâu dài. Trước những tin tức mà chính các nhà báo ở Việt Nam cũng không loan tải, thì thế giới bên ngoài sẽ cảm thấy những vụ cắt cáp hay các cuộc biểu tình ở Việt Nam chỉ là các biến cố hoặc sự kiện nhỏ, không có gì quan trọng!
Như Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu mới trình bày trên mạng Bô Xít Việt Nam, sau những cuộc biểu tình liên tiếp hai ngày Chủ Nhật của dân chúng Hà Nội và Sài Gòn, “...báo chí ‘lề phải’ (do đảng Cộng sản kiểm soát) không dám đưa tin biểu tình một cách xứng đáng mà còn bôi nhọ rằng đây là sự “tụ tập” chỉ đi ngang qua cơ quan của Trung Quốc và khi được giải thích thì đã tự giải tán?” Hà Sĩ Phu phê phán: “(Những) người đưa tin như thế thật không xứng đáng là công dân nước Việt chứ nói gì danh hiệu cao quý của một nhà báo!”
Chúng ta có thể thông cảm với các nhà báo trong nước; đang nằm trong rọ thì rất khó cao quý! Vì không những họ bị một ông Tô Huy Rứa kiểm soát, mà có lúc còn nhận được huấn thị từ Bắc Kinh gửi qua nữa. Cuối tháng 8 năm 2007 bộ Ngoại Giao Bắc Kinh đã gọi Ðại Sứ Việt Nam Trần Văn Luật đến, ông ta yêu cầu báo chí Việt Nam phải ngưng không được đăng những tin tức về hàng hóa, sản phẩm Trung Quốc làm giả mạo hoặc phẩm chất xấu. Chưa một quốc gia nào trên thế giới lại can thiệp đòi ngăn cấm quyền tự do ngôn luận của dân chúng một khác như vậy! Trong cùng thời gian báo chí ở Việt Nam viết về hàng Trung Quốc như thế thì báo chí ở Tây phương và các nước khác cũng đang bản cãi ồn ào về hàng giả, hàng xấu của Trung Quốc; nhưng Bắc Kinh không dám mời đại sứ của bất cứ quốc gia nào khác, từ Pháp, Mỹ đến Mã Lai, Thái Lan tới để hạch hỏi cả! Ðến chuyện hàng hóa mà còn được chỉ thị rõ ràng tỉ mỉ, nữa là những chuyện tranh chấp hải đảo? Chưa có một quốc gia nào lại để cho người nước khác chỉ huy, ra lệnh cho cả báo chí, thông tin trong nước mình như vậy! Hành động đó không những khiến cho chính bọn người ra lệnh chúng khinh cho, mà còn làm mất thể diện của cả dân tộc nữa!
Ðến đầu tuần này, dân ta thở phào nhẹ nhõm, vì các báo đài thế giới đã bắt đầu để ý đến vụ Trung Quốc bắt nạt Việt Nam. Ðiều này cho thấy họ đang nhìn cuộc xung đột ngày càng trầm trọng, càng đáng chú ý, người Việt Nam sẽ không bị thế giới bỏ rơi để cho bất cứ ai bắt nạt cũng được!
Nhưng còn các chính khách quốc tế? Ðiều đáng buồn là trong mấy tuần lễ, chỉ có người Việt Nam quan tâm còn người ngoại quốc không ai biết tới nỗi uất hận của dân mình. Người Việt đã đi biểu tình phản đối trước tòa Ðại Sứ Trung Quốc ở nhiều thủ đô Âu, Mỹ để đánh thức chính khách các nước này. Hôm đầu tuần, tại Mỹ tạp chí National Journal mới báo tin Nghị Sĩ Jim Webb đã lên tiếng về những hành động gây hấn của Trung Quốc trong vùng biển Ðông Việt Nam. Vị nghị sĩ đảng Dân Chủ ở tiểu bang Virginia nói trong một cuộc họp của Hội Ðồng Ngoại Giao (Council on Foreign Relations), một tổ chức không thuộc chính phủ Mỹ. Ông cho biết sẽ đưa ra Thượng Viện Mỹ một nghị quyết về việc này. Ngày hôm sau, Nhật báo Financial Times loan tin Việt Nam đã yêu cầu chính phủ Mỹ và các quốc gia khác giúp giải quyết các tranh chấp với Trung Quốc trong vùng biển Ðông.
Nhưng chính quyền Cộng Sản Việt Nam sẽ lấy lý do nào để yêu cầu các nước khác can thiệp?
Trong vụ xung đột quyền lợi về các quần đảo từ bao lâu nay, chính quyền Bắc Kinh vẫn lấy lá thư năm 1958 do Phạm Văn Ðồng ký gửi Chu Ân Lai làm căn bản để khẳng định chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong thư đó, ông Phạm Văn Ðồng đã ủng hộ bản tuyên bố của chính phủ Trung Quốc về lãnh hải; mà bản tuyên bố này kèm theo cả bản đồ vẽ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc. Sau này, các người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam biện hộ rằng ông Ðồng chỉ ủng hộ ý kiến về lãnh hải nhưng không ủng hộ cái chi tiết về các quần đảo đó. Nói như vậy trong việc ngoại giao rất khó nghe, cũng giống như một người ký cái giấy bán nhà rồi lại nói tôi không chịu bán cái cái mái nhà!
Nhưng không phải chỉ có ông Phạm Văn Ðồng nhu nhược và chịu nhục nhã. Nhóm lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục truyền thống nhịn nhục đó, sau khi xin Trung Quốc tái lập bang giao!
Cảnh ngoại giao nhịn nhục đã bắt đầu từ năm 1950 và chỉ bị đứt đoạn một thời gian sau năm 1975, khi Lê Duẩn tuyệt giao với Tầu để hoàn toàn theo Nga. Ngay hành động chống đối này cũng thiếu suy nghĩ, rất dại dột. Sau khi đã nhận viện trợ của Cộng Sản Tầu từ cây kim sợi chỉ đến súng đạn, bom mìn suốt bao nhiêu năm chiến tranh, Lê Duẩn quay mặt chống Tầu đến mức ghi vào Hiến Pháp tên Trung Quốc như một kẻ thù truyền thống. Hồi ký Khrutchew kể lại trong hai lần ông sang Bắc Kinh đều ngỏ ý xin Trung Cộng cho Nga sử dụng một hải cảng vùng nước ấm không bị đóng băng vào mùa Ðông, cả hai lần đều bị từ chối. Lê Duẩn đã cho Hải Quân Nga sử dụng cảng Cam Ranh trong lúc Tầu và Nga đang coi nhau là tử thù. Những hành động thiếu khôn ngoan này khiến Bắc Kinh khinh bỉ, coi Việt Nam là một giống dân bội bạc; tâm lý này đã ăn sâu, từ trong giới lãnh tụ cho đến người dân Trung Hoa bình thường. Nhưng đến năm 1990 chế độ cộng sản ở Nga và Ðông Âu sụp đổ, các món viện trợ chấm dứt, thì chính những người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam bắt buộc phải quay trở lại xin tái lập bang giao với Bắc Kinh. Trong lúc chế độ cộng sản khắp nơi tàn lụi, Lê Khả Phiêu lại sang Trung Quốc xin tái lập một “Quốc tế Cộng sản” mới để Bắc Kinh đóng vai lãnh đạo các nước còn lại như Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn. Bắc Kinh đã từ chối thẳng. Bởi vì lúc đó cả thế giới biết rằng Cộng Sản Trung Hoa đã coi việc cải tổ kinh tế là quan trọng nhất để chế độ tồn tại, họ chỉ mong được bán hàng sang các nước tư bản, từ Mỹ đến Âu Châu. Làm sao Bắc Kinh có thể đóng vai đối nghịch với các khách hàng, khiêu khích các người mua hàng của họ để mua lấy một cái danh hão! Chỉ có Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam không nhìn thấy điều đó, cho nên mới đưa ra một đề nghị, tưởng là để lấy lòng Trung Quốc nhưng lại hoàn toàn đi ngược với quyền lợi của chính họ! Từ đó lòng khinh rẻ của Cộng Sản Trung Hoa càng tăng thêm. Từ khinh rẻ chuyển thành thái độ chèn ép, ngày càng kiêu căng, đưa tới những hành động “lấn chân” của họ, trên trường ngoại giao, trên mặt đất và trên biển.
Trước thái độ khinh rẻ của Cộng Sản Trung Hoa, những người lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục nhịn nhục. Tháng 2 năm 1992 Trung Quốc ban hành “Luật về lãnh hải và vùng nước tiếp giáp của nước CHND Trung Hoa” gồm 17 điều. Ðiều 2 xác khẳng định phạm vi chủ quyền của Trung Quốc trên “tất cả các đảo ven biển, Ðài Loan và các đảo phụ thuộc bao gồm đảo Ðiếu Ngư (Senkaku-theo cách gọi của Nhật Bản), quần đảo Bành Hồ, các quần đảo Ðông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và kể cả các đảo nhỏ khác.” Trong đó Tây Sa và Nam Sa chính là các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của nước ta. Trước sự kiện đạo luật này xâm phạm chủ quyền đất nước ta, chính quyền Cộng Sản Việt Nam không hề lên tiếng phản đối! Chính vì, cũng giống như Phạm Văn Ðồng thời trước, họ coi việc ngoại giao của quốc gia không quan trọng bằng tình “đồng chí anh em” giữa hai đảng cùng theo một chủ nghĩa cộng sản!
Chính sách nhịn nhục của đảng Cộng Sản đối với Trung Quốc từ 60 năm nay khiến cho bây giờ muốn nhờ các nước khác, trong đó có nước Mỹ can thiệp cũng rất khó nói năng. Muốn đứng ra nói chuyện với các nước khác để nhờ họ giúp, trước hết Cộng Sản Việt Nam phải công khai phủ nhận lá thư năm 1958 của ông Phạm Văn Ðồng. Một công hàm ngoại giao có thể bị xóa bỏ chính thức bất cứ lúc nào, không có gì đáng lo cả. Dân tộc Việt Nam không thể ngậm đắng nuốt cay mối nhục đó mãi được.
Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu mới nhận xét: “Sự khiếp nhược trường kỳ gây đau thương vĩnh viễn cho dân tộc.” Nhưng tại sao Ðảng Cộng Sản Việt Nam lại phạm những sai lầm lớn liên tục như vậy? Tất cả đều do một nguyên nhân. Ðảng Cộng Sản làm ngược lại một quy tắc ngoại giao cổ điển ai cũng thuộc lòng, là “các quốc gia không có bạn hay kẻ thù, mà chỉ có quyền lợi thôi.” Ðảng Cộng Sản Việt Nam, ngay từ những năm 1950 đã làm ngược lại quy tắc này. Họ phân chia các nước thành bạn với thù; bạn thì cái gì cũng tốt, thù thì cái gì cũng xấu! Chính sách ngoại giao của đảng Cộng Sản chỉ dựa trên bảng sắp hạng đó chứ không đặt quyền lợi quốc gia và tương quan quốc tế làm căn bản.
Nhà báo Huy Ðức gần đây mới ghi lại: Từ tháng 2, 1999 đến 12, 2000, Trung Quốc ký với tất cả 10 quốc gia Ðông Nam Á các thỏa ước cộng tác song phương, qua hình thức tuyên bố chung giữa các bộ trưởng Ngoại Giao hay phó thủ tướng, chỉ trừ đối với Việt Nam là phải có thêm thỏa ước ký bởi hai tổng bí thư. Trong việc thực hiện sự cộng tác giữa Trung Quốc và các quốc gia khác, Trung Quốc chỉ đòi hỏi tổng quát là trao đổi cấp cao. Riêng Việt Nam, thỏa ước năm 1999 đòi hỏi toàn diện cộng tác từ đảng, chính quyền, cho tới các tổ chức quần chúng, các địa phương! Chưa nước nào lại theo đường lối ngoại giao như vậy, trừ các nước chư hầu!
Trong thập niên 1960 đến 80, tại các nước chịu ảnh hưởng mạnh nhất của Mỹ, Nam Hàn, Ðài Loan và Thái Lan, trong khi chính quyền bao giờ cũng thân thiết với Mỹ, nhận viện trợ Mỹ, thì các sinh viên, học sinh vẫn liên tiếp biểu tình chống Mỹ. Nhưng đó là một hiện tượng bình thường ở các nước tự do dân chủ, với những dân tộc biết tự trọng. Ðến nay, dân Nhật ở Okinawa vẫn tiếp tục biểu tình chống Mỹ, nhưng hai nước này vẫn chấp nhận. Mà chính vì vậy nên họ mới là là đồng minh thân thiết, hai nước mới là “bạn” thật. Trong việc ngoại giao, đảng Cộng Sản đã bỏ mất cả lòng tự trọng của dân tộc. Họ dựa trên ý thức hệ, trên những chủ thuyết trừu tượng, trên một thứ tình “đồng chí anh em” hoàn toàn trống rỗng. Không những thế, đảng Cộng Sản còn bắt tất cả mọi người dân phải suy nghĩ về bạn, hay thù theo chính sách từng giai đoạn của đảng. Cho nên họ không bao giờ được nghe lời nói phải, không bao giờ biết sự thật. Một chế độ như thế không thể tồn tại được.

Yêu nước thật không thể chịu như thế Phạm Hồng Sơn
Vừa rồi chính phủ Việt Nam lần đầu tiên đã có một số thể hiện làm cho nhiều người yêu nước hy vọng rằng không phải tất cả các lãnh đạo cao cấp hiện nay của chế độ độc đảng đều hèn nhát, cúi đầu trước sự ngạo mạn, xấc xược của chính quyền Trung Quốc.
Ngày 8/6/2011 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dõng dạc tuyên bố: “Nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình.”
Ngày 10/6/2011 bà Nguyễn Phương Nga phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng lần đầu tiên mạnh dạn thổ lộ: “Mọi nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong việc duy trì hòa bình ổn định ở khu vực Biển Đông đều được hoan nghênh.”
Ngày 13/6/2011 chính phủ Việt Nam còn cho phép Bộ Quốc phòng thực hiện diễn tập bắn đạn thật trên biển ngay gần vùng Trung Quốc đã xâm phạm lãnh hải và đang có tin quân đội Việt Nam sẽ tham gia tập trận chung với Mỹ trên biển Đông.
Cho dù lần phản ứng này của chính phủ Việt Nam đối với việc Trung Quốc cắt cáp (phá hủy phương tiện sản xuất của chính phủ) lại mạnh hơn rất nhiều so với những lần Trung Quốc đã bắn giết, bắt giữ, ngược đãi nhiều ngư dân Việt Nam thì những phát ngôn và hành động vừa kể của chính phủ Việt Nam cũng đáng ghi nhận là một thay đổi tiến bộ trong cách ứng xử với Trung Quốc. Tuy nhiên, nhiều người yêu nước vẫn còn nghi ngại động cơ thật đằng sau những phát ngôn và hành động tiến bộ đó.
Rất đáng tiếc, thực tế đang cho thấy những nghi ngại đó lại có cơ sở. Bởi không một chính phủ nào muốn tìm cách bảo vệ tổ quốc lại đi cấm đoán, xúc phạm, bắt bớ, giam giữ những người muốn bày tỏ lòng căm hờn kẻ xâm lấn tổ quốc.
Không một chính quyền nào muốn được cộng đồng quốc tế chia sẻ, trợ giúp để chống trả mộng bá quyền hung hãn của Trung Quốc lại để cho tờ báo của đảng mình phê phán một cách lố bịch việc NATO (khối quốc gia văn minh, hùng mạnh nhất thế giới) đang giúp đỡ nhân dân Lybia chống lại chế độ độc tài của Gaddafi là hành động “phản nhân đạo”, “răn đe các chính quyền tiến bộ khác ở khu vực...”
Như vậy, không hiểu những biểu hiện mâu thuẫn đó là do lãnh đạo của chính phủ Việt Nam chưa xử lý được tình trạng “trên bảo dưới không nghe” hay là chính phủ Việt Nam vẫn chỉ lo lắng quẩn quanh cho quyền lợi riêng tư của mình, hơn là sự tồn vong của quốc gia, dân tộc? Nhưng một điều chắc chắn rằng nếu lãnh đạo của chính phủ Việt Nam hay của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bắt đầu có thiện tâm vì nước, vì dân thì những mâu thuẫn kiểu đó phải sớm được chấm dứt. Vì đã biết yêu nước, biết nhục khi lòng yêu nước bị sỉ nhục, không ai lại chịu để như thế.
Phạm Hồng Sơn
Phi Luật Tân: chúng tôi cần Hoa Kỳ
Các cường quốc không liên hệ đến chuyện này nên tránh ra: Trung Quốc cảnh cáo khi Phi Luật Tân kêu gọi Hoa Kỳ giúp làm dịu căng thẳng Bắc Kinh – Hôm qua Trung Quốc phản đối các cường quốc bên ngoài can thiệp vào chuyện tranh chấp lãnh thổ ở biển Nam Hải sau khi Phi Luật Tân và Việt Nam yêu cầu sự giúp đỡ quốc tế để làm giảm sự căng thẳng ở vùng có tiềm năng giàu khoáng sản.
Tổng thống Phi Luật Tân ông Benigno Aquino hôm qua nói là nước ông cần sự giúp đỡ từ một đồng minh lâu dài của mình, là Hoa Kỳ, trong sự tranh chấp ngày càng căng thẳng này.
“Dĩ nhiên Trung Quốc là một siêu cường, dân số họ gấp 10 lần chúng tôi. Chúng tôi không muốn bất kỳ sự thù địch nào bùng nỗ ra cả,” ông nói với các phóng viên.
“Có lẽ sự hiện diện của những hội viên đã từng ký kết hiệp ước với chúng tôi, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, bảo đảm là tất cả chúng ta sẽ có tự do thông thương (và) sẽ tuân thủ luật quốc tế.”
Lời phát biểu của ông Aquino xảy ra sau khi Đại sứ Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân ông Harry Thomas nói Hoa Thạnh Đốn vẫn cam kết giúp thuộc địa cũ của mình trong vấn đề tranh chấp ở Biển Nam Hải.
Về phần mình, Việt Nam đã phác thảo những điều khoản cho một lệnh động viên có thể có, một động thái mà các chuyên gia nói đó là một dấu hiệu của nhà cầm quyền cộng sản cho hay đất nước này đang chuẩn bị để bảo vệ lợi ích quốc gia. Nghị định này, được ký bởi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hôm thứ Hai tuần này, sẽ có hiệu lực vào ngày 1 tháng Tám tới.

Lính hải quân Việt Nam đang đi tuần ở đảo Phan Vinh nằm trong quần đảo Trường Sa, hình được công bố hôm qua. Nguồn hình: AFP, TTX Vietnam
Việt Nam là nước hôm thứ Hai này đã bắt đầu cuộc thao diễn quân sự bắn đạn thật ở biển, Việt Nam nói là họ muốn thấy một giải pháp hoà bình và tôn trọng triệt để luật quốc tế.
Căng thẳng giữa Trung Quốc và các nước đối thủ cùng cho mình có chủ quyền trên biển Nam Hải vốn mang tính chiến lược – là nơi có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – đã gia tăng mãnh liệt trong những tuần qua. Những nước khác cho mình có chủ quyền trong vùng này là Đài Loan, Brunei và Mã Lai Á.
Đài Loan đã tuyên bố là có thể điều tàu thủy và xe tăng được trang bị hỏa tiển vào những hòn đảo đang tranh chấp này, và hứa hẹn hôm qua là sẽ tiến hành với những công tác tuần tra định kỳ.
Chính phủ ông Obama trở nên liên hệ vào chuyện tranh chấp này sau khi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ bà Hillary Clinton tuyên bố ở Việt Nam hôm tháng Bảy năm rồi là Hoa Kỳ có một lợi ích mang tầm vóc quốc gia là quyền được tự do đi lại trong vùng biển này.
Một thượng nghị sĩ Hoa Kỳ hôm thứ Hai ngày 13 tháng Sáu lên tiếng thúc giục Quốc hội Hoa Kỳ lên án cung cách hành xử của Trung Quốc trong việc xích mích lãnh hải với các nước láng giềng, ông nió rằng Hoa Thạnh Đốn đã thiếu quyết tâm khi căng thẳng đang gia tăng ở Biển Nam Hải.
Ông Jim Webb, đảng viên đảng Dân chủ, đương kim chủ tịch tiểu ban đặc trách chính sách Hoa Kỳ đối với Đông Á của Thượng viện, đã giới thiệu một đạo luật tố cáo và lên án Trung Quốc vì dùng vũ lực và khẩn thiết kêu gọi Trung Quốc tìm kiếm một giải pháp ôn hoà cho những tranh chấp này. Ông miêu tả những hành động của Trung Quốc là một sự can thiệp rõ ràng vào “những hoạt động đúng đắn của Việt Nam”.
Đáp ứng với lời phát biểu của ông Webb, một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói hôm qua là Bắc Kinh sẽ không dùng đến vũ lực hay hăm dọa dùng vũ lực.
Ông Hong Lei nói là chỉ có những nước nào cho mình có chủ quyền lãnh hải trong vùng biển giàu khoáng sản này là nên tham dự cuộc thảo luận. Ông nói thêm rằng Trung Quốc mong mỏi có được sự đàm phán trực tiếp với các nước khác trong căn bản của một nguyên tắc ứng xử được đồng ý năm 2002.
Một bài bình luận trên Nhật báo Quân đội Giải phóng hôm qua cũng đã cảnh cáo các nước không “liên quan đến” nên tránh ra, thêm vào trong lời bình luận đó là tiếng nói có trọng lượng quân sự của Trung Quốc.
© DCVOnline
Tổng thống Phi Luật Tân ông Benigno Aquino hôm qua nói là nước ông cần sự giúp đỡ từ một đồng minh lâu dài của mình, là Hoa Kỳ, trong sự tranh chấp ngày càng căng thẳng này.
“Dĩ nhiên Trung Quốc là một siêu cường, dân số họ gấp 10 lần chúng tôi. Chúng tôi không muốn bất kỳ sự thù địch nào bùng nỗ ra cả,” ông nói với các phóng viên.
“Có lẽ sự hiện diện của những hội viên đã từng ký kết hiệp ước với chúng tôi, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, bảo đảm là tất cả chúng ta sẽ có tự do thông thương (và) sẽ tuân thủ luật quốc tế.”
Lời phát biểu của ông Aquino xảy ra sau khi Đại sứ Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân ông Harry Thomas nói Hoa Thạnh Đốn vẫn cam kết giúp thuộc địa cũ của mình trong vấn đề tranh chấp ở Biển Nam Hải.
Về phần mình, Việt Nam đã phác thảo những điều khoản cho một lệnh động viên có thể có, một động thái mà các chuyên gia nói đó là một dấu hiệu của nhà cầm quyền cộng sản cho hay đất nước này đang chuẩn bị để bảo vệ lợi ích quốc gia. Nghị định này, được ký bởi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hôm thứ Hai tuần này, sẽ có hiệu lực vào ngày 1 tháng Tám tới.

Lính hải quân Việt Nam đang đi tuần ở đảo Phan Vinh nằm trong quần đảo Trường Sa, hình được công bố hôm qua. Nguồn hình: AFP, TTX Vietnam
Việt Nam là nước hôm thứ Hai này đã bắt đầu cuộc thao diễn quân sự bắn đạn thật ở biển, Việt Nam nói là họ muốn thấy một giải pháp hoà bình và tôn trọng triệt để luật quốc tế.
Căng thẳng giữa Trung Quốc và các nước đối thủ cùng cho mình có chủ quyền trên biển Nam Hải vốn mang tính chiến lược – là nơi có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – đã gia tăng mãnh liệt trong những tuần qua. Những nước khác cho mình có chủ quyền trong vùng này là Đài Loan, Brunei và Mã Lai Á.
Đài Loan đã tuyên bố là có thể điều tàu thủy và xe tăng được trang bị hỏa tiển vào những hòn đảo đang tranh chấp này, và hứa hẹn hôm qua là sẽ tiến hành với những công tác tuần tra định kỳ.
Chính phủ ông Obama trở nên liên hệ vào chuyện tranh chấp này sau khi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ bà Hillary Clinton tuyên bố ở Việt Nam hôm tháng Bảy năm rồi là Hoa Kỳ có một lợi ích mang tầm vóc quốc gia là quyền được tự do đi lại trong vùng biển này.
Một thượng nghị sĩ Hoa Kỳ hôm thứ Hai ngày 13 tháng Sáu lên tiếng thúc giục Quốc hội Hoa Kỳ lên án cung cách hành xử của Trung Quốc trong việc xích mích lãnh hải với các nước láng giềng, ông nió rằng Hoa Thạnh Đốn đã thiếu quyết tâm khi căng thẳng đang gia tăng ở Biển Nam Hải.
Ông Jim Webb, đảng viên đảng Dân chủ, đương kim chủ tịch tiểu ban đặc trách chính sách Hoa Kỳ đối với Đông Á của Thượng viện, đã giới thiệu một đạo luật tố cáo và lên án Trung Quốc vì dùng vũ lực và khẩn thiết kêu gọi Trung Quốc tìm kiếm một giải pháp ôn hoà cho những tranh chấp này. Ông miêu tả những hành động của Trung Quốc là một sự can thiệp rõ ràng vào “những hoạt động đúng đắn của Việt Nam”.
Đáp ứng với lời phát biểu của ông Webb, một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói hôm qua là Bắc Kinh sẽ không dùng đến vũ lực hay hăm dọa dùng vũ lực.
Ông Hong Lei nói là chỉ có những nước nào cho mình có chủ quyền lãnh hải trong vùng biển giàu khoáng sản này là nên tham dự cuộc thảo luận. Ông nói thêm rằng Trung Quốc mong mỏi có được sự đàm phán trực tiếp với các nước khác trong căn bản của một nguyên tắc ứng xử được đồng ý năm 2002.
Một bài bình luận trên Nhật báo Quân đội Giải phóng hôm qua cũng đã cảnh cáo các nước không “liên quan đến” nên tránh ra, thêm vào trong lời bình luận đó là tiếng nói có trọng lượng quân sự của Trung Quốc.
© DCVOnline
Những bãi chiến trường trong tương lai
Nguyên tác : Peter Singer ( Sueddeutsche Zeitung - Đức )
Dịch giả : Tiên-sinh Phạm Nguyên Trường
Bắc Băng Dương, vũ trụ và không gian mạng – những khu vực mà trước đây con người chưa với tay tới hay đơn giản là không tồn tại, nhưng hiện nay đã có ý nghĩa kinh tế vô cùng to lớn. Lịch sử buộc chúng ta phải chuẩn bị cho những cuộc xung đột trong những khu vực mà mới gần đây vẫn chưa có người đặt chân đến này.
Khi các lãnh tụ chính trị suy nghĩ về những khu vực có thể bùng nổ chiến tranh trong tương lai trước hết họ thường nhìn vào những điểm nóng trên bản đồ địa lý. Họ cố gắng tìm hiểu xem nước nào sẽ sụp đổ trong thời gian sắp tới (Pakistan hay Yemen?) hay nước nào sẽ trở thành nguồn gốc của khủng hỏang (Iran, Bắc Triều Tiên?). Còn những người tự coi mình là Bismark của thời hiện đại và đang sọan thảo những chiến lược ở tầm rộng lớn thì lại coi thế giới như là được xây dựng bằng những viên gạch liên hệ mật thiết với nhau. Họ chú ý tới những nước phát triển rất nhanh và đang làm biến đổi khung cảnh địa chính trị, như là Trung Quốc và Ấn Độ. Các chiến lược gia này thường tập trung chú ý vào những khu vực ảnh hưởng chồng lấn lên nhau, và họ tập trung vào việc tìm những đường đứt gãy cũng như những điểm có thể xảy ra những trận động đất mới. Nhưng nếu ta đi xa bản đồ vài bước thì ta sẽ hiểu một điều khác: đang xảy ra những vận động đầy ý nghĩa, có ảnh hưởng đến sự kiện là trong thế kỉ mới chiến tranh sẽ diễn ra ở đâu và bằng phương pháp nào.
Từ những cuộc chiến tranh tranh giành nơi săn bắn trong thời tiền sử đến những cuộc chiến tranh giành địa điểm khai thác vàng ở Tân thế giới (có thể kể thêm những cuộc xung đột vì mỏ dầu ở Cận Đông trong thời gian gần đây): hễ tìm ra khu vục giàu có là y như rằng ở đó sẽ có xung đột. Do càng ngày trên bản đồ càng có ít những điểm trắng cho nên các ngành công nghệ mới sẽ trở thành lĩnh vực cạnh tranh. Trong hơn 5 ngàn năm, lòai người chỉ đánh nhau nhằm tranh giành mặt đất và mặt nước. Sau đó, trong giai đọan chuyển tiếp giữa thế kỉ XIX và thế kỷ XX đã xuất hiện những ngành công nghệ mà trước đó không lâu chỉ có trong những câu chuyện của Jules Verne, tức là những ngành công nghệ cho phép các bên đối địch trong Thế chiến I đánh nhau cả trên trời và dưới nước nữa. Những cuộc chiến tranh trên trời và dưới nước đòi hỏi những đơn vị quân sự mới, những qui định mới.
Ở đây có nhiều sự tương đồng với thế kỉ XXI. Thí dụ như Bắc Băng Dương, giới chính trị đã chẳng hề quan tâm đến khu vực này trong một thời gian dài. Nhưng do những thay đổi khí hậu mà công nghệ của chúng ta gây ra, nước đã ấm hơn. Do đó đã xuất hiện khả năng sử dụng những con đường giao thương mới cũng như khai thác những mỏ mới trong khu vực này, một khu vực có thời từng là điểm trắng trên bản đồ địa lý. Ở đây cũng có thể có trữ lượng dầu mỏ và khí tự nhiên tương tự như ở Saudi Arabia.
Khi một khu vực mới được phát hiện thì đồng thời cũng xuất hiện những vấn đề an ninh mới. Trên thực tế, một khu vực rộng lớn như thế với những vấn đề lãnh thổ còn bỏ ngỏ như thế chưa từng xuất hiện, kể từ khi Giáo hòang Alexander VI tìm cách chia Tân thế giới cho Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha và là nguyên nhân của những hành động quân sự của tất cả các nước không có phần trong cuộc chia chác này. Hôm nay các diễn viên mới cũng đang chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh ở khu vực Bắc cực, mặc dù xung đột không phải là không tránh khỏi. Một cố vấn của Thủ tướng Putin của Nga từng tuyên bố: “Bắc Băng Dương là của chúng tôi”. Canada, Na Uy, Mỹ cũng như các nước không tiếp giáp với Bắc Băng Dương, thí dụ như Trung Quốc - theo tất cả những gì đã biết - có quan điểm khác và họ đang tăng cường tiềm lực để có thể đưa ra đòi hỏi của mình.
Trong vũ trụ cũng diễn ra những chuyện tương tự - trước đây đấy là khu vực không ai có thể với tới, nhưng nay ý nghĩa kinh tế và quân sự của nó đang gia tăng một cách cực kỳ nhanh chóng. Cái không gian mà những thước phim của Fritz Lang và Geoge Lucas từng nói tới hiện có 947 vệ tinh do 60 nước phóng lên. Đấy là điểm nối của những động mạch quan trọng nhất của ngành thương mại, giao dịch cũng như họat động quân sự trên thế giới. 80% giao dịch của Mỹ được thực hiện thông qua các vệ tinh nhân tạo.Khôi hài là một tướng lãnh không quân Mỹ tên là Lance Lord đã bắt chước Clausewitz và gọi vũ trụ là “trung tâm hấp lực mới”. Theo đơn đặt hàng của Ngũ Giác Đài, người ta đã tiến hành hơn 20 cuộc nghiên cứu về cách thức tiến hành chiến tranh trong vũ trụ.
Thiếu tướng Ya Yunzhu thuộc Viện hàn lâm quân sự quân giải phóng nhân dân Trung Quốc cảnh báo rằng “nếu Mỹ nghĩ đến việc trở thành siêu cường trong vũ trụ thì đương nhiên là họ sẽ không phải là người đơn độc”. Năm ngóai Trung Quốc đã phóng nhiều hỏa tiễn hơn Mỹ và dự định trong mười năm tới sẽ đưa vào quỹ đạo gần trái đất 100 vệ tinh dân sự và quân sự nữa. Quan trọng hơn là trong những năm qua cả hai nước đều đã nhiều lần chứng tỏ khả năng tiêu diệt vệ tinh bằng những phương tiện tự động. Nga, Ấn Độ, Iran, thậm chí các tay chơi không mang tầm vóc quốc gia như những con hổ giải phóng ở Shri Lanka cũng tìm cách tiêu diệt vệ tinh hay tiến hành những công việc nhằm chống lại những mục tiêu trong vũ trụ.
Không gian điều khiển, khác với không gian dưới mặt nước, trong không khí, trong những khu vực lạnh lẽo của Bắc cực hay trên vũ trụ không chỉ ở chỗ chỉ mới tồn tại trong thời gian gần đây. Tuy nhiên ta khó mà tưởng tưởng nổi chức năng của nó đối với cách sống của chúng ta. Những con số nhằm mô tả lĩnh vực này lớn đến nỗi có cảm giác như đấy là những điều bịa đặt. Mạng internet tòan cầu bao gồm khỏang 250 triệu website, mỗi năm luân chuyển khỏang 90 ngàn tỉ tin tức. Trong lĩnh vực quân sự, internet cũng được sử dụng rất rộng rãi. Chỉ riêng Ngũ Giác Đài đã có tới 15.000 mạng máy tính đặt trên 4000 cơ sở và căn cứ ở 88 nước.
Nhưng do giá trị thực tế của không gian ảo mà nó cũng đã trở thành lĩnh vực họat động của bọn tội phạm, trở thành đấu trường xung đột cũng như đối đầu về chính trị và kinh tế. Công ty Symatec, chuyên họat động trong lĩnh vực an ninh công nghệ thông tin, phát hiện ra rằng năm ngóai có 240 triệu chương trình độc hại và hơn 100 tổ chức tham gia thực hiện những chiến dịch quân sự, tình báo và khủng bố lớn. Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) cho rằng những cuộc tấn công trên không gian ảo là nguy cơ đứng hàng thứ ba, cần phải nói thêm rằng các đây mười năm trên bàn làm việc của giám đốc tổ chức này vẫn chưa có một chiếc máy tính nào. Từ ý tưởng trong đầu, trong vòng có mấy năm bộ chỉ huy không gian điều khiển của Mỹ đã biến thành một tổ chức với 90 000 nhân viên và ngân sách lên tới 3 tỉ dollar.
Cho mãi đến tận thời gian gần đây phần lớn các cuộc thảo luận vẫn xoay quanh những kịch bản bị thổi phồng như “Trân Châu Cảng-số”, hay “cuộc chiến trên không gian điều khiển” giữa Nga và Gruzia hay tin tức ngọai giao bị tiết lộ. Phần lớn những vụ tấn công như thế đều gây rắc rối nhưng chỉ có thể coi đấy là những vụ rò rỉ chứ không thể là chiến tranh được. Mối nguy thật sự nằm ở chỗ do bị tác động thường xuyên mà khả năng sáng tạo của chúng ta cũng như việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của chúng ta có thể bị yếu đi, mặc dù đấy chính là tác nhân quan trọng nhất đối với sự thịnh vượng và an ninh trong các nước Tây phương. Theo những đánh giá hiện có, mỗi năm các công ty Mỹ và châu Âu bị mất hàng tỉ dollar vì những thương vụ không thành, những khỏan nghiên cứu và thử nghiệm vô ích, mà tất cả đều là do những cuộc tấn công do các tổ chức chính trị và quân sự cũng như các cơ quan tình báo tiến hành. Các haker họat động trên lãnh thổ của một nước Đông Nam Á đã ăn cắp thông tin liên quan đến chương trình xây dựng máy bay tiêm kích F-35, với dung lượng là mấy terabyte (1 terabyte = 1 000 000 000 000 byte, gần bằng dung lượng của tòan bộ mạng internet mười năm trước). Hàng tỉ đồng bị đánh cắp ở đây không chỉ là hàng tỉ đồng đã chi cho công tác nghiên cứu và thử nghiệm, mà còn là mất ưu thế về công nghệ trên thị trường thế giới cũng như trên bãi chiến trường tương lai từ 10 đến 20 năm.
Từ đó có thể rút ra một bài học. Đấy là dù mối lo về Afghanistan hay sự trỗi dậy của Trung Quốc có quan trọng đến đâu thì các chính khác tham gia quyết định những vấn đề trong lĩnh vực an ninh cũng phải nhận thức được rằng trên thế giới đang diễn ra những thay đổi cực kỳ to lớn. Trong thế kỉ XXI con người sẽ tạo ra những giá trị lớn trong những lĩnh vực mà trước đây chưa ai với tới, thậm chí chưa hề tồn tại. Điều đó cũng có nghĩa là một lần nữa chúng ta phải sẵn sàng chiến đấu ở những khu vực mà trước đây ta chưa bao giờ làm.
Những người yêu chuộng hòa bình cũng phải học bài học này. Có thể làm ngơ những lĩnh vực đó hoặc đơn giản là từ bỏ chiến lược cần thiết và hi vọng vào những điều tốt đẹp hơn. Hoặc là phải làm việc nhằm ngăn chặn xung đột và khủng hỏang, tạo ra những định chế và tiêu chuẩn để có thể xử lý và điều chỉnh những không gian mới, những không gian quyết định bộ mặt của thế giới chúng ta.
Peter Singer là giám đốc cơ sở Century Initiative trong thế kỉ XXI tại trung tâm nghiên cứu Brookings (Mỹ),ông cũng là tác giả cuốn “Wired for War”.
Nguồn Schlachtfelder der Zukunft
Nguyên tác : Peter Singer ( Sueddeutsche Zeitung - Đức )
Dịch giả : Tiên-sinh Phạm Nguyên Trường
Bắc Băng Dương, vũ trụ và không gian mạng – những khu vực mà trước đây con người chưa với tay tới hay đơn giản là không tồn tại, nhưng hiện nay đã có ý nghĩa kinh tế vô cùng to lớn. Lịch sử buộc chúng ta phải chuẩn bị cho những cuộc xung đột trong những khu vực mà mới gần đây vẫn chưa có người đặt chân đến này.
Khi các lãnh tụ chính trị suy nghĩ về những khu vực có thể bùng nổ chiến tranh trong tương lai trước hết họ thường nhìn vào những điểm nóng trên bản đồ địa lý. Họ cố gắng tìm hiểu xem nước nào sẽ sụp đổ trong thời gian sắp tới (Pakistan hay Yemen?) hay nước nào sẽ trở thành nguồn gốc của khủng hỏang (Iran, Bắc Triều Tiên?). Còn những người tự coi mình là Bismark của thời hiện đại và đang sọan thảo những chiến lược ở tầm rộng lớn thì lại coi thế giới như là được xây dựng bằng những viên gạch liên hệ mật thiết với nhau. Họ chú ý tới những nước phát triển rất nhanh và đang làm biến đổi khung cảnh địa chính trị, như là Trung Quốc và Ấn Độ. Các chiến lược gia này thường tập trung chú ý vào những khu vực ảnh hưởng chồng lấn lên nhau, và họ tập trung vào việc tìm những đường đứt gãy cũng như những điểm có thể xảy ra những trận động đất mới. Nhưng nếu ta đi xa bản đồ vài bước thì ta sẽ hiểu một điều khác: đang xảy ra những vận động đầy ý nghĩa, có ảnh hưởng đến sự kiện là trong thế kỉ mới chiến tranh sẽ diễn ra ở đâu và bằng phương pháp nào.
Từ những cuộc chiến tranh tranh giành nơi săn bắn trong thời tiền sử đến những cuộc chiến tranh giành địa điểm khai thác vàng ở Tân thế giới (có thể kể thêm những cuộc xung đột vì mỏ dầu ở Cận Đông trong thời gian gần đây): hễ tìm ra khu vục giàu có là y như rằng ở đó sẽ có xung đột. Do càng ngày trên bản đồ càng có ít những điểm trắng cho nên các ngành công nghệ mới sẽ trở thành lĩnh vực cạnh tranh. Trong hơn 5 ngàn năm, lòai người chỉ đánh nhau nhằm tranh giành mặt đất và mặt nước. Sau đó, trong giai đọan chuyển tiếp giữa thế kỉ XIX và thế kỷ XX đã xuất hiện những ngành công nghệ mà trước đó không lâu chỉ có trong những câu chuyện của Jules Verne, tức là những ngành công nghệ cho phép các bên đối địch trong Thế chiến I đánh nhau cả trên trời và dưới nước nữa. Những cuộc chiến tranh trên trời và dưới nước đòi hỏi những đơn vị quân sự mới, những qui định mới.
Ở đây có nhiều sự tương đồng với thế kỉ XXI. Thí dụ như Bắc Băng Dương, giới chính trị đã chẳng hề quan tâm đến khu vực này trong một thời gian dài. Nhưng do những thay đổi khí hậu mà công nghệ của chúng ta gây ra, nước đã ấm hơn. Do đó đã xuất hiện khả năng sử dụng những con đường giao thương mới cũng như khai thác những mỏ mới trong khu vực này, một khu vực có thời từng là điểm trắng trên bản đồ địa lý. Ở đây cũng có thể có trữ lượng dầu mỏ và khí tự nhiên tương tự như ở Saudi Arabia.
Khi một khu vực mới được phát hiện thì đồng thời cũng xuất hiện những vấn đề an ninh mới. Trên thực tế, một khu vực rộng lớn như thế với những vấn đề lãnh thổ còn bỏ ngỏ như thế chưa từng xuất hiện, kể từ khi Giáo hòang Alexander VI tìm cách chia Tân thế giới cho Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha và là nguyên nhân của những hành động quân sự của tất cả các nước không có phần trong cuộc chia chác này. Hôm nay các diễn viên mới cũng đang chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh ở khu vực Bắc cực, mặc dù xung đột không phải là không tránh khỏi. Một cố vấn của Thủ tướng Putin của Nga từng tuyên bố: “Bắc Băng Dương là của chúng tôi”. Canada, Na Uy, Mỹ cũng như các nước không tiếp giáp với Bắc Băng Dương, thí dụ như Trung Quốc - theo tất cả những gì đã biết - có quan điểm khác và họ đang tăng cường tiềm lực để có thể đưa ra đòi hỏi của mình.
Trong vũ trụ cũng diễn ra những chuyện tương tự - trước đây đấy là khu vực không ai có thể với tới, nhưng nay ý nghĩa kinh tế và quân sự của nó đang gia tăng một cách cực kỳ nhanh chóng. Cái không gian mà những thước phim của Fritz Lang và Geoge Lucas từng nói tới hiện có 947 vệ tinh do 60 nước phóng lên. Đấy là điểm nối của những động mạch quan trọng nhất của ngành thương mại, giao dịch cũng như họat động quân sự trên thế giới. 80% giao dịch của Mỹ được thực hiện thông qua các vệ tinh nhân tạo.Khôi hài là một tướng lãnh không quân Mỹ tên là Lance Lord đã bắt chước Clausewitz và gọi vũ trụ là “trung tâm hấp lực mới”. Theo đơn đặt hàng của Ngũ Giác Đài, người ta đã tiến hành hơn 20 cuộc nghiên cứu về cách thức tiến hành chiến tranh trong vũ trụ.
Thiếu tướng Ya Yunzhu thuộc Viện hàn lâm quân sự quân giải phóng nhân dân Trung Quốc cảnh báo rằng “nếu Mỹ nghĩ đến việc trở thành siêu cường trong vũ trụ thì đương nhiên là họ sẽ không phải là người đơn độc”. Năm ngóai Trung Quốc đã phóng nhiều hỏa tiễn hơn Mỹ và dự định trong mười năm tới sẽ đưa vào quỹ đạo gần trái đất 100 vệ tinh dân sự và quân sự nữa. Quan trọng hơn là trong những năm qua cả hai nước đều đã nhiều lần chứng tỏ khả năng tiêu diệt vệ tinh bằng những phương tiện tự động. Nga, Ấn Độ, Iran, thậm chí các tay chơi không mang tầm vóc quốc gia như những con hổ giải phóng ở Shri Lanka cũng tìm cách tiêu diệt vệ tinh hay tiến hành những công việc nhằm chống lại những mục tiêu trong vũ trụ.
Không gian điều khiển, khác với không gian dưới mặt nước, trong không khí, trong những khu vực lạnh lẽo của Bắc cực hay trên vũ trụ không chỉ ở chỗ chỉ mới tồn tại trong thời gian gần đây. Tuy nhiên ta khó mà tưởng tưởng nổi chức năng của nó đối với cách sống của chúng ta. Những con số nhằm mô tả lĩnh vực này lớn đến nỗi có cảm giác như đấy là những điều bịa đặt. Mạng internet tòan cầu bao gồm khỏang 250 triệu website, mỗi năm luân chuyển khỏang 90 ngàn tỉ tin tức. Trong lĩnh vực quân sự, internet cũng được sử dụng rất rộng rãi. Chỉ riêng Ngũ Giác Đài đã có tới 15.000 mạng máy tính đặt trên 4000 cơ sở và căn cứ ở 88 nước.
Nhưng do giá trị thực tế của không gian ảo mà nó cũng đã trở thành lĩnh vực họat động của bọn tội phạm, trở thành đấu trường xung đột cũng như đối đầu về chính trị và kinh tế. Công ty Symatec, chuyên họat động trong lĩnh vực an ninh công nghệ thông tin, phát hiện ra rằng năm ngóai có 240 triệu chương trình độc hại và hơn 100 tổ chức tham gia thực hiện những chiến dịch quân sự, tình báo và khủng bố lớn. Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) cho rằng những cuộc tấn công trên không gian ảo là nguy cơ đứng hàng thứ ba, cần phải nói thêm rằng các đây mười năm trên bàn làm việc của giám đốc tổ chức này vẫn chưa có một chiếc máy tính nào. Từ ý tưởng trong đầu, trong vòng có mấy năm bộ chỉ huy không gian điều khiển của Mỹ đã biến thành một tổ chức với 90 000 nhân viên và ngân sách lên tới 3 tỉ dollar.
Cho mãi đến tận thời gian gần đây phần lớn các cuộc thảo luận vẫn xoay quanh những kịch bản bị thổi phồng như “Trân Châu Cảng-số”, hay “cuộc chiến trên không gian điều khiển” giữa Nga và Gruzia hay tin tức ngọai giao bị tiết lộ. Phần lớn những vụ tấn công như thế đều gây rắc rối nhưng chỉ có thể coi đấy là những vụ rò rỉ chứ không thể là chiến tranh được. Mối nguy thật sự nằm ở chỗ do bị tác động thường xuyên mà khả năng sáng tạo của chúng ta cũng như việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của chúng ta có thể bị yếu đi, mặc dù đấy chính là tác nhân quan trọng nhất đối với sự thịnh vượng và an ninh trong các nước Tây phương. Theo những đánh giá hiện có, mỗi năm các công ty Mỹ và châu Âu bị mất hàng tỉ dollar vì những thương vụ không thành, những khỏan nghiên cứu và thử nghiệm vô ích, mà tất cả đều là do những cuộc tấn công do các tổ chức chính trị và quân sự cũng như các cơ quan tình báo tiến hành. Các haker họat động trên lãnh thổ của một nước Đông Nam Á đã ăn cắp thông tin liên quan đến chương trình xây dựng máy bay tiêm kích F-35, với dung lượng là mấy terabyte (1 terabyte = 1 000 000 000 000 byte, gần bằng dung lượng của tòan bộ mạng internet mười năm trước). Hàng tỉ đồng bị đánh cắp ở đây không chỉ là hàng tỉ đồng đã chi cho công tác nghiên cứu và thử nghiệm, mà còn là mất ưu thế về công nghệ trên thị trường thế giới cũng như trên bãi chiến trường tương lai từ 10 đến 20 năm.
Từ đó có thể rút ra một bài học. Đấy là dù mối lo về Afghanistan hay sự trỗi dậy của Trung Quốc có quan trọng đến đâu thì các chính khác tham gia quyết định những vấn đề trong lĩnh vực an ninh cũng phải nhận thức được rằng trên thế giới đang diễn ra những thay đổi cực kỳ to lớn. Trong thế kỉ XXI con người sẽ tạo ra những giá trị lớn trong những lĩnh vực mà trước đây chưa ai với tới, thậm chí chưa hề tồn tại. Điều đó cũng có nghĩa là một lần nữa chúng ta phải sẵn sàng chiến đấu ở những khu vực mà trước đây ta chưa bao giờ làm.
Những người yêu chuộng hòa bình cũng phải học bài học này. Có thể làm ngơ những lĩnh vực đó hoặc đơn giản là từ bỏ chiến lược cần thiết và hi vọng vào những điều tốt đẹp hơn. Hoặc là phải làm việc nhằm ngăn chặn xung đột và khủng hỏang, tạo ra những định chế và tiêu chuẩn để có thể xử lý và điều chỉnh những không gian mới, những không gian quyết định bộ mặt của thế giới chúng ta.
Peter Singer là giám đốc cơ sở Century Initiative trong thế kỉ XXI tại trung tâm nghiên cứu Brookings (Mỹ),ông cũng là tác giả cuốn “Wired for War”.
Nguồn Schlachtfelder der Zukunft

