QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Tưởng Niệm 30-04-75:
Nói Chuyện Với Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai

_Phóng Viên Tạp Chí Trẻ
12/04/2010 by: hh75

Tạp Chí TRẺ trong Số Tháng Tư 2009 có bài tường thuật Cuộc Nói Chuyện giữa Phóng Viên Trẻ và Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai.
Tôi cảm khái khi đọc bài này, tôi trích đăng mời quí vị cùng đọc.
HoangHaiThuy



Lời nói đầu của Phóng viên Tạp Chí Trẻ:
Qua lời giới thiệu của anh Nguyễn Trọng Huấn, một Cựu Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến, thành viên Hội Quảng Đà Dallas-Fortworth, Texas, đã đưa chúng tôi đến thăm Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai tại Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt Cao Niên Garland, Texas.

Chúng tôi đến Trung Tâm vào giờ ăn trưa của các cụ nơi đây và được bác Đỗ, Giám đốc Trung Tâm tiếp đón. Bác Đỗ nhờ người thưa với Cựu Thiếu Tường Đỗ Kế Giai là có nhà báo chúng tôi xin được gặp ông, và mời ông Tướng ra phòng khách để cho chúng tôi được gặp, bác Đỗ cho chúng tôi biết ông Đỗ Kế Giai hôm nay không được khoẻ lắm.

Rồi tôi thấy Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai đi vào phòng khách của Trung Tâm. Hình ảnh một vị cao niên chống gậy vẫn không che được phong cách và uy nghi của một vị Tướng lãnh từng một thời oai vũ.
Chân dung và tiểu sử Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai được ghi lại không đầy đủ như sau: Ông xuất thân Khoá 5 Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt, ra trường Tháng 4/1952, ông về phục vụ Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù đóng ở Hà Nội. Năm 1954, ông là sĩ quan hành quân “Officier Adjoint” cho Thiếu tá Mollo ở Đồng Đế, Nha Trang, với cấp bậc Trung úy. Cấp bậc cuối cùng của ông là Thiếu Tướng Biệt Động Quân, chỉ huy Lực Lượng bảo vệ Sài Gòn cho tới khi nhận lệnh buông súng…
Những người đàn anh của tôi ở đây là những cựu Trung úy, cựu Đại úy đang làm thiện nguyện ở Trung Tâm, các anh lo bữa ăn trưa cho vài chục cụ người Việt cao niên ở đây, các cụ đang… nói chuyện, chơi cờ, xem ca nhạc Asia và chờ cơm. Thấy Thiếu Tướng đi tới các anh đến mới ông đến chiếc ghế êm ả nhất phòng.

Tôi cúi chào Thiếu Tướng.

Phóng Viên Trẻ: “Thưa bác, cháu là phóng viên Tạp Chí Trẻ. Xin được chào bác, chúc bác sức khoẻ. Xin được hỏi bác đôi điều…”
Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai: “Từ ngày xưa, tôi đánh giặc đã không thích kể chuyện đăng báo vì kể lể chiến công với báo chí tôi cho là việc tự kể cho đối phương nghe, biết chiến thuật của mình”
PV Trẻ: “Thưa bác, cháu xin không hỏi bác nhiều về những chuyện đã qua. Thay mặt Nhóm thực hiện báo Trẻ, cháu đến thăm hỏi sức khoẻ bác vì được nghe bác đã tham gia sinh hoạt tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên Garland.”
CTTĐKGiai: “Nếu anh muốn hỏi gì thì phải đợi tôi nói xong hãy hỏi tiếp, đừng hỏi ngang làm tôi quên chuyện tôi đang nói…”
PV Trẻ: “Thưa bác, bác có viết quyển hồi ký nào không?”
CTTĐKGiai: "Tôi không viết hồi ký vì những đánh bóng cá nhân hay chạy tội trước lịch sử đều không phải là hồi ký. Theo thời gian, tôi chỉ nói ra những gì tôi thấy là cần thiết…”
PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã trả lời. Xin hỏi bác đã đi “cải tạo” bao nhiêu năm?”
CTTĐKG: “Tôi không có đi cải tạo. Tôi đi tù.”
PV Trẻ: “Xin lỗi bác, cháu chỉ muốn dùng lời nói cho nó nhẹ nhàng thôi!”
CTTĐKG: “Ngày tôi đi phỏng vấn ở Trụ Sở ODP để sang đây, có người thông dịch viên cũng hỏi tôi một câu như thế. Tôi cũng trả lời rõ ràng như thế. Và ông nhân viên Mỹ nói luôn với tôi: “Mời ông ký giấy tờ để hoàn tất thủ tục.”
PV Trẻ: “Thưa bác, thời gian… ở tù của bác bao lâu?”
CTTĐKG : “17 năm thiếu 10 ngày.”
PV Trẻ: “Xin hỏi: Có phải bác là người đi tù sớm nhất và về trễ nhất?”
CTTĐKG: “ Có thể. Ngày 15 tháng 5, 1975, họ đến nhà tôi, mời tôi đi họp nhưng thật ra là bắt tôi đi luôn từ đó. Lệnh tập trung những sĩ quan Quân lực VNCH vào Tháng 6, họ bắt tôi giữa Tháng 5. Có thể tôi là người đi tù sớm nhất!”
PV Trẻ: “Nhưng khi ấy họ chưa tổ chức kịp những trại tập trung thì họ đưa bác đi giam ở đâu?”
CTTĐKG: “Khám Chí Hoà. Một năm sau họ đưa tôi từ Nhà Tù Chí Hoà đến Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung cũ. Bữa sau nữa, họ đưa tôi ra Bắc.”
PV Trẻ: “Bác tù ở ngoài Bắc 17 năm. Khi trở về Nam, bác thấy miền Nam sau 17 năm kiểu cộng sản “giải phóng” thế nào?”
CTTĐKG: “Tôi không thích tiếng: giải phóng”!
Bác Giai im lặng-hồi tưởng. Mọi người im lặng-chờ đợi. Ở đây chỉ có những người trẻ làm thiện nguyện là đến trung tâm sinh hoạt cao niên này để phục vụ người già. Trong thái độ, ánh mắt, giọng nói của những người lính cũ, tôi cảm nhận được sự kính trọng Tướng Giai của họ như ngày họ còn tấm thẻ bài lính chiến trên ngực. Hình như với những người lính cũ, kỷ luật quân đội vẫn sống trong họ.
Bác Giai nói tiếp: “Hôm đó trong trại tù, một người thuộc Mặt Trận Giải Phóng miền Nam nói với tôi: “… Trong Quốc ca của các anh có câu: Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng…, thì hôm nay chúng tôi đã giải phóng cho các anh rồi! Còn thắc mắc gì nữa!” Tôi nghe anh ta nói câu đó thì tức đến chết được, để rồi tôi nói cho các anh nghe về lịch sử bài quốc ca của Quốc Gia VNCH…”
Cuộc nói chuyện ngưng vì bác Đỗ đến mời vị Cựu Tướng đi ăn cơm, anh Tuấn và tôi được mời cùng ăn với vị Cựu Tướng. Bác Giai chống gậy, đi đứng đã có phần khó khăn, nhưng vẫn đi được một mình. Nhìn bác tự lo cho mình bữa ăn, tôi không biết ngày xưa, cấp Tướng thì có bao nhiêu người phục vụ? Tôi thấy ở ông phong cách tự tại, bình thản của một cụ già người Việt trong Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên. Một chút ngậm ngùi nổi lên trong lòng tôi dù tôi thấy là vô lý. Bác Giai rất an nhiên, tự tại.
Tôi nói với bác Giai: “Hôm qua, cháu nói điện thoại với cô Kiều Mỹ Duyên. Cô gởi lời thăm bác.”
Ông ngồi yên như hồi tưởng lại những người quen biết cũ.
Thấy ông có vể xúc động, tôi hỏi thêm câu nữa: “Ngày xưa, chắc cô Kiều Mỹ Duyên đẹp lắm hả bác?”
Ông cười, nụ cười bí hiểm với ánh mắt trầm mặc sau làn kính cận dày. Nhưng sau đó… ông tỏ ra bớt “quạu”, chắc tâm tư sảng khoái nên ông ăn cơm thấy ngon.
Tôi hỏi: “Cơm ngon không bác? Cháu thấy món thịt kho rất ngon.”
Ông trả lời nhẹ nhàng: “ Ngon hơn cơm tù.”
Trên chiếc bàn trải khăn trắng muốt, đơn sơ, mỗi người một đĩa cơm có thịt kho, cải xào, chén canh đậu hũ trắng nấu với cà chua và thịt bằm. Trước mặt có ly trà, trái chuối để tráng miệng. Một phần ăn trưa rất bình thường ở Mỹ, bình thường đến nỗi người ăn chỉ làm công việc ăn chứ ít ai nghĩ đến ân sủng của Ơn Trên đã ban cho lương thực hàng ngày hay công lao người nấu bữa ăn, hoặc tiền chợ có từ đâu? Nhưng nghe bác Giai vừa ăn vừa nói chuyện, mọi người như mới nhận thức ra giá trị của bữa ăn hàng ngày, bác nói:
“Từ ngày tôi ra tù đến nay, không bao giờ tôi bình phẩm về món ăn.”
Là một phóng viên chuyên thực hiện những cuộc phỏng vấn, nhưng lần này có lẽ là lần thứ nhất tôi không muốn đóng vai trò phóng viên đặt câu hỏi mà chỉ muốn ngồi nghe câu chuyện của một chứng nhân lịch sử, một trong những “Tự điển sống” hiếm hoi còn lại tới bây giờ. Những câu hỏi về lịch sử không phù hợp với không gian, thời gian. Từng câu hỏi như những mũi kim chích vào ung nhọt quá khứ, nó có cái “đã” của một vết thương mưng mủ được tuôn ra, nhưng tiếp theo sau là nỗi buồn vết sẹo không lành sau mỗi câu trả lời của vị Cựu Tướng. Tôi tự thấy mình có lỗi trong những câu hỏi có thể gợi sự bất an, hay không vui trong lòng vị Cựu Tướng nên tôi chuyển sang chuyện khác, may ra cuộc trò chuyện được vui vẻ hơn.
PV Trẻ: “Thưa bác, hiện nay bác đến Trung Tâm này sinh hoạt hàng ngày hay sao?”
CTTĐKG: “Không, một tuần tôi đến đây ba ngày thôi.”
PV Trẻ: “Vậy, những ngày ở nhà thì bác làm gì? Bác đang sống với ai?”
CTTĐKG: “Tôi sống với hai người con trai của tôi, hai con tôi qua đây đã lỡ tuổi, dở dang mọi chuyện nên chúng không lập gia đình. Công việc hàng ngày thì tôi làm được gì thì làm, được tới đâu hay tới đó.”
PV Trẻ: “Bác có thường xuyên liên lạc với bạn hữu và các vị tướng lãnh xưa không ạ?”
CTTĐKG: “ Ít khi. Từ hôm ra tù đã thế. Ngày ra tù, họ cho hay trong nửa ngày phải thu xếp rời trại. Tưởng chuyển trại thôi vì tôi tin là tôi sẽ ở tù tới chết. Không ngờ họ cho về. Tôi với Thiếu tướng Trần Bá Di, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Lê Minh Đảo là 4 người trong 100 người mà họ muốn giam tù cho tới chết. Nhưng nhờ sự đấu tranh của các chiến hữu, các vị đồng hương ở hải ngoại, tạo thành áp lực buộc họ phải thả chúng tôi. Bốn người chúng tôi là đợt cuối cùng trong 8 đợt thả 100 người tù cuối sổ. Lúc đợi xe đưa về Sài Gòn bốn chúng tôi tính với nhau: tôi sẽ được đưa về nhà trước vì là người lớn tuổi nhất trong anh em, kế đến là Trần Bá Di, tới Lê Văn Thân. Lê Minh Đảo trẻ tuổi nhất, sẽ về sau chót. Nhưng khi xe đưa chúng tôi về đến Sài Gòn thì thì những người áp giải chúng tôi làm ngược lại! Lê Minh Đảo được đưa về nhà trước nhất, tôi là người về nhà sau cùng.”
PV Trẻ: “Vậy, bác đúng là người đi tù trước nhất và về nhà sau cùng. Bác có không được vui về chuyện ấy không?”
CTTĐKG: “Từ những ngày cuối cùng của Tháng Tư, 1975, sau khi Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm đã rời Sài Gòn thì ngày 28, 29 Tháng Tư, tướng Times bên Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp tôi đưa cả gia đình tôi đi ra nước ngoài. Nhưng tôi quyết định ở lại vì trách nhiệm.”
PV Trẻ: “Bác có ân hận về quyết đnh ở lại đó với 17 năm tù và về sau chót?”
CTTĐKG: “Không. Tôi đã làm tròn trách nhiệm của một Tướng lãnh với Tổ Quốc, với Quân đội, với đồng bào và đồng đội. Qua 17 năm tù tôi vẫn giữ tác phong, danh dự của Quân Lực VNCH. Những người bắt tôi còn đó, họ có thể không thích tôi nhưng họ không có gì để khinh tôi.”
PV Trẻ: “Đối với bên kia, thì đã rõ về tác phong của bác. Nhưng đối với đồng đội, đặc biệt là với các vị Tướng đã bỏ nước ra đi vào những phút chót dầu sôi lửa bỏng, Bác nghĩ gì về họ?”
CTTĐKG: “ Tôi quyết định ở lại vì tôi thấy hành động như vậy là đúng. Nhưng không phải vì vậy mà tôi công kích những người ra đi Tháng Tư năm 1975. Bởi vì trường hợp mất Nam Việt Nam thật đặc biệt, không thể qui trách cho những người cầm súng giữ nước. Các đơn vị quân đội vẫn hiên ngang chiến đấu, chúng ta không hề bỏ chạy trước cộng quân. Quân đội phải buông súng vì lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Do đó, nếu quí vị Tướng có ở lại trong nước thì trước sau các ông cũng vô tù như tôi. Hơn nữa nhờ có một số chiến hữu thoát được ra hải ngoại nên về mặt chính trị mới có cơ hội tranh đấu cứu vãn những người còn kẹt lại. Về mặt kinh tế, những người đi trước đa số đã thành công trong việc xây dựng được cuộc sống ổn định ở nước ngoài, nhờ đó ta có thể có thể tương trợ lẫn nhau. Bây giờ không nên nói nhiều nữa về chuyện đi hay không đi, đi trước- đi sau, mà mọi người nên, và phải cùng chung lưng xây dựng một lực lượng vững mạnh cả chính trị và kinh tế nơi thế hệ tương lai của người Việt tại hải ngoại.”
PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã cho nghe về lịch sử và những biến động ở Sài Gòn cũng như miền Nam vào những ngày cuối cùng của nền Cộng Hoà. Trong tương lai, bác có suy tư nào để chia sẻ với những người đời sau?”
CTTĐKG: “Những ngày lễ, ngày Tết, đặc biệt là Ngày 30 Tháng Tư hàng năm, đều có những người trẻ tìm đến tôi để hỏi thăm. Tôi cảm ơn nhiều. Phần các cháu hỏi, thì câu trả lời của tôi còn đó, đến năm sau có thể ta sẽ lại gặp nhau. Các cháu hãy làm đi, làm những gì có thể làm cho quốc gia, dân tộc chúng ta khá hơn, hay hơn.”
PV Trẻ: “Cảm ơn lời chỉ dạy của bác. Xin được chào bác và để bác nghỉ. Xin chúc bác được nhiều sức khoẻ để làm chỗ dựa tinh thần cho lớp trẻ dấn thân vào việc xây dựng tương lai chung của chúng ta. Kính chào bác.”
Khi ngồi nghe chuyện Cựu Tướng Đỗ Kế Giai sau bữa ăn trưa ở Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt cao niên, những câu hỏi tôi đã chuẩn bị để hỏi ông không có cơ hội được tôi nói ra vì dòng hồi tưởng của vị Tướng Già cứ tuôn chảy theo ký ức và tâm cảm của ông. Hai nữa có những chuyện tôi không muốn hỏi sợ làm ông buồn.
Thế rồi bác Đỗ lái xe đưa bác Giai về tư gia. Trongcuộc sống âm thầm nơi viễn xứ, những người lính cũ vẫn sống bên nhau với tình đồng đội ngày nào. Thật đáng kính phục những người Lính Chiến của một Quân Lực oai hùng nay không còn nữa.
Tôi trở về toà soạn, ngồi gõ keyboard viết những dòng chữ này để Tưởng Niệm Tháng Tư 2009 gửi đến quí vị độc giả Tạp Chí Trẻ.

Người viết Phóng Viên Trẻ.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Thời đã qua rồi ...!

Giao Chỉ, San Jose.
Lời nói đầu:

Theo tin thời sự của cộng đồng Việt hải ngoại,
bà Ngô Đình Nhu, nhũ danh Trần Lệ Xuân mới qua đời tại Âu Châu. Ông Nguyễn Cao Kỳ, sau thời gian về Việt Nam tới lui làm duyên với chính quyền Hà Nội, nay lại trở về tạm cư tại Texas, Hoa Kỳ.

Bà Nhu ra đi hưởng thọ 86 tuổi. Kỳ vẫn còn khỏe mạnh nhưng năm nay cũng đã ngoài 80 tuổi. Một người là phụ nữ nổi tiếng của đệ nhất Cộng Hòa. Một người là nam tử mà vai trò hết sức ồn ào thời đệ nhị Cộng Hòa. Bây giờ viết về hai nhân vật danh tiếng nam và nữ, xem lại sự so sánh có phần khập khiễng. Kẻ mất người còn, tưởng rằng không cân xứng. Tuy nhiên chúng tôi không thể so sánh bà Lệ Xuân và bà Tuyết Mai. Cũng không thể so sánh ông Ngô Đình Nhu với ông Nguyễn Cao Kỳ.

Phải viết về bà Trần Lệ Xuân và ông Nguyễn Cao Kỳ mới ra chuyện. Cả hai người đã có những điểm rất gần gũi. Cả hai đều nói năng hành động khác thường thời đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa. Cả hai đều trải qua cuộc sống thật dài sau khi “Thời của họ đã qua rồi”. Nhưng cách sống cuả hai người sau chính trường mới khác nhau biết chừng nào.

Mùa Xuân diễm lệ.

Bà Trần Lệ Xuân sinh trưởng tại miền Bắc năm 1924. Năm cô 16 tuổi gia đình ông bà Trần Văn Chương quen biết chú Ngô Đình Nhu và năm 18 tuổi cô Xuân vốn đạo Phật đã lấy chồng theo công giáo. Lệ Xuân theo chồng về định cư tại Đà lạt sinh được 3 trai và 2 gái.

Số mệnh thay đổi khi ông Ngô Đình Diệm trở thành vị tổng thống độc thân. Ông em Ngô Đình Nhu trong vai trò cố vấn chính trị toàn quyền đã đưa hình ảnh bà Nhu thành người thay thế đệ nhất phu nhân. Từ một phụ nữ nội trợ cô Lệ Xuân trở thành dân biểu, chủ tịch phong trào Phụ nữ Liên Đới, sáng lập Thanh nữ Cộng Hòa, tác giả đạo luật gia đình và sau cùng “Mùa Xuân Diễm Lệ” trở thành biểu tượng của một phụ nữ Việt Nam tranh đấu cho nữ quyền với chiếc áo dài hở cổ. Bà đón tiếp phái đoàn quốc tế, bà chủ tọa quốc lễ Trưng Vương. Vinh quang lên cao nhất khi Saigon xây dựng tượng Hai bà Trưng đã lấy hình ảnh của bà Nhu làm khuôn mẫu. Người ta còn nhớ vai trò của bà nổi bật vào những ngày tháng cuối của đệ nhất Cộng Hòa. Trong dinh Độc Lập bà luôn luôn là người thuộc phe chủ chiến. Những lời phát biểu hết sức thiếu văn hóa và thiếu chính trị của bà đã làm cho quần chúng tức giận. Đặc biệt là dư luận Hoa kỳ ảnh hưởng quan trọng tại Việt Nam. Báo chí Việt và ngoại quốc rất thích thú đăng tải. Khi hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, thi sĩ Vũ Hoàng Chương làm thơ ca ngợi ngọn lửa từ bi soi sang cuộc đấu tranh thì bà Nhu lên tiếng nói lời tai hại nhất. Bà tuyên bố sẵn sàng tiếp thêm xăng viện trợ cho phe Phật giáo đấu tranh để nướng các nhà sư tự thiêu. Báo chí Hoa Kỳ đăng hình ảnh nhà sư tự thiêu cùng lời bình luận của bà cố vấn. Tướng lãnh Mỹ bên phái bộ quân sự vẫn hết lòng yểm trợ Việt Nam đã lắc đầu than rằng: “Sẽ tận thế vì tấm hình này.” Cho đến ngày nay, đoạn phim đáng tiếc của bà Nhu vẫn còn phổ biến tràn đầy trên Utube.


Dưới thời đệ nhất Cộng Hòa, bà Nhu đã đóng góp nhiều công sức về việc xây dựng chế độ, đấu tranh cho nữ quyền, nhưng đồng thời cũng đã làm nhiều điều tai hại cho chính quyền tổng thống Ngô Đình Diệm. Cho đến khi cả tổng thống và ông cố vấn phu quân cũng phải đồng ý đưa bà ra ngoại quốc gọi là để thuyết phục dư luận, nhưng thực sự là để tránh cho bà làm Saigon thêm rối rắm. Thêm vào đó, lại còn chuyện cha mẹ bà Trần Lệ Xuân là ông bà Trần Văn Chương. Năm cuối cùng của triều đại nhà Ngô thuộc đệ nhất Cộng Hòa, ông đại sứ họ Trần ở Hoa Thịnh Đốn đã lên tiếng chống lại chính quyền Saigon vì đàn áp Phật giáo

Bà Trần Lệ Xuân ra đi với sứ mạng vận động dư luận Âu Châu và Mỹ Châu cùng với cô con gái Ngô Đình Lệ Thủy. Báo chí Hoa Kỳ viết rằng mẹ con bà Rồng cái và Rồng con đi tuyên truyền cho chế độ. Nhưng bà không ngờ đây là lần vĩnh biệt gia đình,vĩnh biệt chế độ và vĩnh biệt quê hương.
Lệ Xuân của “Mùa Xuân Diễm Lệ” trở thành “Nước Mắt Mùa Xuân”.

Số phận cay nghiệt.

Bà là người phụ nữ một thời hết sức quyền uy và danh tiếng. Chồng là cố vấn tối cao của triều đại nhà Ngô. Các anh em nhà chồng là tổng thống, là tổng giám mục, là đại sứ bên Âu Châu, là cố vấn chỉ đạo chính trị miền Trung.Thân phụ của bà là đại sứ tại Hoa Thịnh Đốn. Chỉ một sớm một chiều cả đại gia đình tan nát. Ông tổng thống và bào đệ bị giết trong cách mạng. Em chồng bị cách mạng xử tử. Tổng giám mục mất chức. Cha mẹ bà bị thảm sát tại Hoa Thịnh Đốn. Sau cùng con gái yêu của bà là Ngô Đình Lệ Thủy bị tai nạn chết. Quả thật Lệ Xuân chỉ đơn thuần là nước mắt mùa Xuân. Mùa Xuân Diễm Lệ của một thời Đà Lạt và một thủa Saigon sẽ không bao giờ trở lại.


Những ngày tháng cũ.

Suốt từ sau chuyến đi 1963, người ta không hề thấy tin tức về bà Ngô Đình Nhu. Trừ một lần NBC phỏng vấn. Sau đó bà không hề lên tiếng. Cho đến năm 2002, một luật sư Việt Nam tại Seattle, ông Trương Phú Thứ có dịp gặp lại và viết bút ký về chuyến thăm viếng đặc biệt với bà Trần Lệ Xuân tại Paris. Một số tin tức về hoàn cảnh gia đình được phơi bày. Đơn giản và trung thực. Tác giả kín đáo đề cao cuộc sống đạm bạc và nhân bản của người phụ nữ đã một thời hết sức danh tiếng tại Việt Nam. Bà không nói về chuyện chính trị, chuyện oán thù. Chỉ là những lời hỏi thăm về gia cảnh và cuộc sống thường nhật. Những đứa con, những đứa cháu. Không một lời nói về tiếng khen chê và lời đồn đãi. Không nói đến đau thương tang tóc. Tuyệt đối không tuyên bố hay nhận định.

Xem ra, ngoài những hành động và lời nói của bà Nhu gặp báo chí Việt Mỹ trong thời kỳ đệ nhất Cộng Hòa. Từ đó đến nay không có gì để viết thêm về người phụ nữ một thời đã nổi danh là Newsmaker của Saigon. Ngay khi được tin tổng thống và chồng bà bị giết lúc bà đang ở Hoa Kỳ năm 1963, bà lập tức bay qua Âu châu, tấm lòng tan nát chờ đón đám con vừa mồ côi cha. Sau này bà chỉ trở lại Mỹ một lần cho cháu út thăm ông bà ngoại. Từ đó đến nay bà không về Việt Nam, cũng không trở lại Mỹ. Đối với bà Việt Nam cộng sản vốn thù nghịch đã đành, nhưng Hoa Kỳ cũng chẳng phải là đồng minh.
Khi cụ bà Trần Lệ Xuân bước vào thế kỷ 21 đã ngoài 80 tuổi.
Bà nói rằng : Thời của tôi đã qua rồi.
Câu nói đáng được khắc trên bia đá.

Ngược đường lịch sử.

Nhưng đối với kỳ, ông luôn luôn hành động như thời của ông không bao giờ qua đi. Ông là con người nổi nang ồn ào nhất thời đệ nhị Cộng Hòa. Giai đoạn chuyển tiếp từ thời kỳ đảo chánh, binh biến giữa hai nền Cộng Hòa, Nguyễn Cao Kỳ cũng luôn luôn là Newsmaker. Ông làm cách mạng, ông làm tư lệnh không quân, ông bỏ vợ, ông lấy vợ, ông làm thủ tướng chính phủ Saigon, ông làm phó tổng thống trong cánh trái dinh Độc lập, ông về làm vườn ở Khánh Dương, ông ra cứu Saigon vào giờ thứ 25, ông di tản vào Pendleton, ông bán rượu ở Orange County, ông đánh tôm ở Lousiana, rồi ông lại bỏ vợ và lấy vợ. Một chuỗi dài thất bại. Sau cùng, ông làm môi giới cho tư bản về làm ăn ở Saigon. Ông ra Hà Nội nói là để chỉ dẫn cho chính quyền cộng sản cách giao thiệp với Hoa Kỳ. Ông ca ngợi lãnh đạo cộng sản. Bây giờ ông lại trở về Texas, chưa biết sẽ làm gì. Nhưng ông nghĩ rằng, dường như thời của ông vẫn còn mãi mãi..

Thời của ông kỳ thực sự chỉ ngắn ngủi có 2 năm cầm quyền với danh hiệu chủ tịch ủy ban hành pháp, một kiểu gọi mới của chức vụ thủ tướng giữa thời kỳ trái độn của 2 nền Cộng Hòa. Trong giai đoạn này, chính quyền của ông đã để lại cho chiến tranh Việt Nam tấm hình tướng Loan bắn tên đặc công Việt Cộng. Với nhận định của đồng minh Hoa Kỳ, sự nghiệp chính trị lâu dài của ông Kỳ không có tương lai, khi mà tấm hình tai hại này còn được phổ biến. Sau đó ông chỉ là phó tổng thống 1 nhiệm kỳ như một bóng mờ cạnh ông Nguyễn Văn Thiệu. Rồi ông chẳng còn chức vụ gì cho đến 1975 mất nước và cho đến ngày nay 2011, ba mươi sáu năm sau.

Vào tháng 4-1975 với sự nhận định tình thế sai lầm, với tánh nết bồng bột ồn ào, ông đã có những hành động tai hại chết người khi lên tiếng hô hào ở lại chiến đấu. Ông hô hào ở lại trên trường chỉ huy tham mưu tại Long Bình, ông hô hào quyết chiến tại họ đạo bên Gia định. Nhưng rồi ông lại ra đi. Bà Tuyết Mai nói rằng không ai có thể trách anh Kỳ được. Anh chỉ có 2 khẩu súng lục thì làm cái gì. Đúng như vậy, lúc đó ông không còn trách nhiệm ngoài chức vụ chủ trại cây Khánh Dương đã tan hàng. Không trách nhiệm, ông có thể ra đi như hàng ngàn người di tản, và đừng tuyên bố nhố nhăng. Nhưng ông đã nói lời tâm huyết tại Long Bình, cử tọa là các sĩ quan cao cấp lòng dạ đang tan nát vì gia đình còn kẹt tại miền Trung. Ông thề quyết tâm với họ đạo Saigon, những người di cư đã từng biết thế nào là cộng sản. Niềm tin nhỏ bé cuối cùng đặt tất cả vào ông. Như vậy, vào giờ phút cuối thì người tự vẫn phải là Nguyễn Cao Kỳ chứ không phải Nguyễn Khoa Nam.

Con chim khi chết.

Năm 1983 khi phê bình cuốn sách 20 năm của tác giả Nguyễn Cao Kỳ, tôi có dịp viết rằng. Con chim trước khi chết, tiếng hót bi ai, con người về già, trước khi chết, lời nói linh thiêng và ứng nghiệm. Vậy thì, niên trưởng của tôi, người đã một thời lãnh đạo, mỗi năm vào 30 tháng 4 báo chí Hoa Kỳ có hỏi bậy bạ, tôi xin niên trưởng lựa lời mà nói cho anh em khỏi tủi nhục. Ông đã từng hô hào anh em ở lại, biết bao nhiêu đứa chết, bao nhiêu đứa đi tù. Đau thương nhường đó, biết lấy gì đền bù cho hết! Tiếc thay, niên trưởng của tôi, suốt 36 năm di tản, chứng nào tật ấy, chỉ chuyên làm nhục anh em.

Cho đến mấy năm gần đây, ông muối mặt cam tâm đóng vai hàng thần lơ láo về nước nịnh bợ đám lãnh đạo cộng sản.Tôi chẳng còn biết dùng chữ nghĩa gì để phê phán ông, vốn một thời là thượng cấp của tôi. Có người nói rằng vì ông có tấm lòng yêu nước như trời biển nên về chỉ vẽ cho Việt cộng con đường theo Mỹ đánh Tầu. Có người lại nói rằng ông có mưu thần chước quỷ sẽ lèo lái cộng sản xây dựng đất nước. Sự thực anh em biết rõ, ông chỉ bố lếu bố láo để làm xấu mặt Việt Nam Cộng Hòa. Sau cuộc chiến, cộng sản giam giữ hàng trăm ngàn chiến binh nhưng không cải tạo được người nào. Tất cả đều bỏ nước ra đi. Không ai ngờ, chúng lại cải tạo được một anh tư lệnh trở về. Thật chán biết chừng nào.

Ông già thì tôi cũng già. Ông cao niên thì anh em cũng cao niên. Suốt cuộc đời, trải qua cái nhục mất nước, bây giờ lại thêm cái nhục là đã một thời được lãnh đạo bởi những người như niên trưởng.

Thôi thì những sai lầm thời cầm quyền ta tạm bỏ qua. Nhưng cái thời hết quyền lực trong tay, sao ông không học được gương sáng của bà Trần Lệ Xuân. Kể từ 1963 cho đến 2011 gần nửa thế kỷ, đúng ra là 48 năm. Người phụ nữ đó ở vậy nuôi con thành đạt. Sau 6 cái tang của chồng con cha mẹ và anh em. Bà đã hành xử đúng vai trò của một chính khách mà thời thế đã qua đi. Bà nói rằng:“Thời của tôi đã qua rồi”. Câu nói đáng được khắc trên bia đá.

Còn phần ông kikiky, thời của ông thực sự đã qua ngay sau nhiệm kỳ thủ tướng. Nhưng ông cố lội ngược dòng lịch sử, không biết chấp nhận hoàn cảnh. Ông là người đất Sơn Tây nhưng không bao giờ xứng đáng với quê hương Sơn Tây của tướng quân Lê Nguyên Vỹ tư lệnh Sư đoàn 5 Lai Khê, người đã ở lại tự vẫn sáng ngày 30 Tháng 4-1975.

Bây giờ quí vị đã hiểu vì sao mà chúng tôi lại so sánh hoàn cảnh của bà Trần Lệ Xuân và ông Nguyễn Cao Kỳ.

Ngày 30 tháng tư lần thứ 36 đã qua rồi, lại sắp đến ngày quân lực tháng 6-2011. Nhiều năm qua, trên lưng đồi nón sắt phế thải, đàn em thấy chúng tôi nghênh ngang giữa đường nên thường chửi bậy. Mình biết mình tội lỗi cũng nhiều nên đành phải nhắc nhở: Chửi nữa đi em. Bây giờ, tất cả đều gần đất xa trời, xin phê bình niên trưởng Kỳ một lần cho rõ ràng. Xin phép dùng ngôn ngữ ông xếp cũ của tôi là trung tướng Dương Văn Đức khi phê bình Việt Cộng trong trại tù. Ai không biết thì hỏi anh em HO, nhiều người biết là ông Đức mắng mỏ cộng sản ra sao để rồi bị chúng dứt điểm.

Ngày xưa, thời kỳ 50, có anh trung úy Bắc Kỳ ngồi hầu chuyện đại tá Nam Kỳ, Dương văn Đức tại phân khu Sóc Trang. Trong câu chuyện đời, nghe ông dùng toàn ngôn ngữ với hàng họ dưới thắt lưng. Mở đầu chấm dứt bằng tiếng Đan Mạch. Ông chết trong tù vì phê bình cộng sản bằng ngôn ngữ của ông. Đ M, chơi ngon như vậy, ông mới đích thực là niên trưởng của tôi.

Giao Chỉ, San Jose.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Tướng Tá VNCH Có Đào Ngũ Và Đào Tẩu Không???

Tôn Nữ Hoàng Hoa

Sau khi tham dự Lễ Quốc Hận 30/4 tại Houston Texas, chúng tôi trở lại Tampa Florida để tham dự vào sự sinh hoạt của Cộng Đồng Người Cuba do ông bà Miguel Rodriguez mời.

Tôi cũng có học lỏm bỏm một vài câu nói của ngôn ngữ Spanish nên cũng được một số người Cuba rất welcome. Do đó khi họ cổ động bằng nhiều tràng pháo tay để mời tôi lên phát biểu tôi đã cảm thấy rất là e ngại. Cuối cùng tôi phải xin lỗi là tôi sẽ phải nói tiếng Anh chứ tiếng Spanish chỉ có học qua loa để "lòe" thôi, nên không dám làm trò cười cho người tham dự. Họ xuề xoà hiếu khách tán đồng và tôi đã phải lên cầm micro.

Tại đây, tôi đã nói lại cái khí phách oai hùng của Sĩ Quan Quân Lực VNCH khi bị Việt Cộng bỏ tù sau ngày sụp đổ của chính phủ đệ Nhị VNCH.

Câu chuyện của Đại uý Lê văn Tưng và Đại Uý Nguyễn Văn Út đã được tôi làm đề tài trong buổi nói chuyện hôm đó. Luôn tiện đây, tôi xin cảm ơn ông Chien Thang qua email id thangchien55@yahoo.com đã bổ túc cho bài viết "Còn Khí Phách Nào Hơn"? là Ông Lê Văn Tưng có cấp bực Đại Úy chứ không phải Đại Tá như anh Ninh Bình đã nói và tôi đã viết ra. Cũng như anh Ninh Bình, sau khi bài viết của tôi gởi ra cũng có một vi hữu nick kienhoa38@yahoo.com bạn của anh Ninh Bình đã cho biết là cấp bực của ông Lê văn Tưng là Đại Uý. Vậy chúng tôi xin cáo lỗi cùng độc giả về chi tiết cấp bực sai lầm kia và cũng xin trân trọng cảm ơn hai vi hữu thangchien55@yahoo.com và kienhoa38@yahoo.com.

Những người Cuban tham dự trong sinh hoạt hôm đó đã bày tỏ sự cảm xúc cùng với sự căm thù qua sự tàn bạo của VGCS khi nghe đến những hành vi dã man hung tàn của VC đối với hai vị Sĩ Quan của Quân Lực VNCH : Những người bị bưc tử bởi Đồng Minh để phải chịu chấp nhận đầu hàng địch.

Ông Miguel cũng đã cho biết ông đã ở trong trại " tập trung cải tạo" (Concentration Camp) ở Cuba trên 20 năm ông dư biết sự tàn ác của Cộng Sản. Theo ông, CS ở nước nào cũng tàn ác như nhau.

Tại đây chúng tôi đã thảo luận về những chữ " tập trung cải tạo" (Concentration). Theo ông Miguel khi nói đến Cộng Sản là phải nói đến bạo sách "Tẫy Não" (Brain- washing) của chúng. Do đó chúng dùng hai chữ cải tạo. Nhưng trên thực chất tất cả những trại mang danh cải tạo của CS đều là những trại tù tàn bạo nhất của bọn Cộng sản.
Do đó theo chúng tôi, chúng ta không thể dùng hai chữ Concentration Camp mà phải dùng nhà tù của cộng sản (Communist prisons).

Thật tình mà nói, cộng đồng của người Cuban chỉ có 10% người chạy trốn CS Cuba trong tổng số 11 triệu người Cuba đang sống ở tại Hoa Kỳ. Nhưng tinh thần chống Cộng của người Cuban có đặc biệt là họ ít bị phân tán và họ cùng chủ trương phải dùng lá phiếu của công dân Hoa Kỳ để làm áp lực với chính quyền Hoa Kỳ trên những hành xử đối với Fidel Castro. Chính vì lẽ đó mà Hoa Kỳ đã có một chính sách rất cứng rắn với CS Cuba như chúng ta đã thấy.

Cũng trong buổi sinh hoạt hôm đó một số người Cuban đã tỏ ý rất khâm phục những Sĩ Quan của Quân Lực VNCH. Họ chỉ buồn là tại sao Mỹ đã có một kế hoạch "bỏ rơi" VNCH trên một thời gian dự định khá dài mà không chuẩn bị cho tất cả quân nhân VNCH ra đi trước khi giao miền Nam VN cho bọn VC.

Tôi bâng khuâng trước sự suy nghĩ của người Cuban vì tôi không đủ kiến thức để tự mình tìm ra một câu trả lời hợp lý. Nhưng trên cảm xúc nghẹn ngào về những người Sĩ Quan VNCH bị hành hạ, bị tước bỏ quyền làm người để đưa họ vào sự sống của hàng súc vật, thì thử hỏi ngoài bọn VC tham tàn đang ẩn danh dấu mặt sinh hoạt trong cộng đồng chúng ta, đồng ý sự bôi nhọ quân lực VNCH. Ngoài ra, không có một con dân VNCH nào lại không cảm thây xót xa đau đớn trước những hành ví vô nhân của tập đoàn Việt gian CS đối với Quân Dân Cán Chính VNCH trong những lao tù của chúng.

Tôi ra về mà lòng vẫn bâng khuâng trước bối cảnh chính trị của Tập Thể Người Việt Tỵ nạn CS tại hải ngoại nói chung và tại Hoa kỲ nói riêng.

Tôi tự hỏi: Có phải vì ta lơ là trong việc liên kết để kêu gọi mọi người Người Mỹ Gốc Việt tham gia ghi danh vào việc bầu cử tại đây? Và nhất là đã không có sự vận động và hướng dẫn dư luận quần chúng trên một mục tiêu chung trong công cuộc đấu tranh chống CS để có thể bầu cho những vị dân cử không bị VGCS móc nối và không làm lợi cho VC?

Trong ý nghĩ đó chúng tôi hy vọng KHỐI CỬ TRI NGƯỜI MỸ GỐC VIỆT TEXAS VỪA THÀNH LẬP cũng như những tổ chức Liên Đoàn Cử Tri khác trên khắp các điạ phương Hoa Kỳ sẽ ứng dụng những chương trình sinh hoạt có thể liên kết để phát triển lá phiếu của Người Mỹ Gốc Việt trên cộng cuộc tham gia vào việc bầu cử và trên nguyện vọng giãi thể chế độ độc tài đảng trị của Việt Gian Cộng Sản tại Việt Nam.

Trong khi đó tại Hoa Kỳ, một lần nữa Đảng VGCS lại dấu mặt để cho những tay sai của chúng lập đi lập lại những trò chửi bới chính thể VNCH: Từ nhục mạ cố TT Ngô Đình Diệm đến Cố TT Nguyễn văn Thiệu. Hết nhục mạ hai vị TT của VNCH thì lại nhục mạ Tướng Tá Sĩ Quan Của Quân Lực VNCH. Chúng cho rằng những vị Tướng Tá của Quân Lực VNCH thoát được sự cai trị của VGCS là đào ngũ và đào tẩu?

Thế nào gọi là đào tẩu? Khi hai bên đang đánh nhau trên chiến trường nếu họ bỏ chạy mới gọi là đào tẩu. Ở đây khi Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, mọi người buông súng ai về nhà nấy. Đương nhiên trong thời khắc này Tướng Dương văn Minh đã đơn phương giãi tán Quân Đội VNCH thì tại sao lại gọi Tướng Tá VNCH đào tẩu.

Lại nữa khi hàng ngũ của Quân Đội VNCH đã bị Tướng Dương Văn Minh giãi tán thì có hàng ngũ nào nữa đâu mà gọi Tướng Tá VNCH đào ngũ. Vậy thì VGCS ra sức bôi nhọ Tướng Tá VNCH đào ngũ và đào tẩu có phải vì sợ chính nghĩa của quân lực VNCH đang được phục hồi tại hải ngoại và hậu duệ của Quân Lực VNCH đang trên đà thành công tốt đẹp trong chính trường Hoa Kỳ hiện nay hay không?
Ngoài ra, những vị Tướng Tá VNCH khi ra hải ngoại họ vẫn hãnh diện tự xưng họ là Tướng Tá của Quân Lực VNCH và vẫn tiếp tục công cuộc đấu tranh chống Việt Gian Cộng Sản thì tại sao lại gọi họ là đào ngũ?

Viết đến đây lòng tôi bỗng nhưc nhối trước niềm đau dĩ vãng của hàng trăm ngàn quân nhân của Quân Lực VNCH. Họ đã hơn một lần bị ném vào một khoảng không, không đáy, lạnh buốt khắp châu thân cho đến một phút giây bị dập vùi xuống những tảng đá âm u bên những bìa rừng hoang dã. Họ lại còn phải bị quằn quại trên những đòn thù của quân VC tàn bạo dã man.

Tôi kính trọng họ trên tấm thân tàn tạ nhưng vẫn soi mình để thấy bóng dáng lờ mờ dưới những dòng nước chảy róc rách bên những bìa núi chơ vơ mà hy vọng cho một ngày mai.

Họ bước vào ánh sáng của cuộc đời không mặc cảm, không bâng khuâng. Họ không cần bất cứ một lối kiến trúc nào để xây dựng đời mình trên đất khách lưu vong. Họ thích hợp với hoàn cảnh, nhịp nhàng trong cuộc sống và tư mình vạch một lối đi để xây một căn nhà của tất cả người Chiến Binh của Quân Lực VNCH đã trở về sau cuộc chiến mà vẫn tiếp tục chiến đấu trên công cuộc giãi trừ chế độ CS tại Việt Nam. Họ đồng loạt lên tiếng, đồng loạt đứng dậy để phản đối tích cực vào những kế hoạch của VGCS tấn công vào tập thể người tỵ nạn CS tại hải ngoại

Chính vì hào khí đó của quân nhân Quân Lực VNCH đã làm cho VGCS lo sợ. Lo sợ vì bị các quân nhân của Quân Lực VNCH tố cáo những hành vi không còn nhân tính của chúng trong những trại tù của VC. Thế giới đã phải sững sốt khi thấy sự dã man của CSVN trong những trại tù giam giữ Quân Cán Chính VNCH. Họ tưởng rằng chỉ có Killing Field mới là nỗi kinh hoàng của nhân loại. Nhưng khi sự tàn ác của chúng đã bị quân nhân của Quân Lực VNCH bạch hoá và tố cáo thì thế giới đã không còn nhìn VGCS như thời gian trước cuộc chiến VN. Càng lo sợ chúng càng bôi nhọ Tướng Tá VNCH. Càng bôi nhọ thì càng cho thấy nỗi khiếp sợ của VGCS đối với tập thể của Quân Lực VNCH tại hải ngoại

Thật ra cho đến nay mọi người ai ai cũng hiểu VGCS chỉ có một chiêu bài duy nhất để củng cố việc cai trị của chúng là lừa bịp và tạo sự nghi ngờ giữa những người Quốc Gia hầu nhũng loạn nhân tâm trong tập thể người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại.

Cái thiệt hại của chúng ta là không chịu nhìn thấy dã tâm của chúng. Hay là có nhìn mà không thấy chúng hoặc không nhận ra được việc chúng đang làm.

Nếu chúng ta nhận ra được những việc chúng đang làm: Tạo nghi ngờ giữa những người Quốc Gia để phân tán lực lượng của tập thể người Việt chống VGCS , để chúng lũng đoạn làm lợi cho VGCS thì tất nhiên chúng ta đã có một Lực Lượng mạnh mẽ.

Chính vì chúng ta không nhận ra vì có lẽ chúng ta vô tình, vô tư, mệt mỏi không muốn nhận ra để chúng ta trở thành tối tăm trước dã tâm của VGCS hầu chúng chia năm xẻ bảy với mục tiêu phân tán lực lượng của người Việt Quốc Gia.

Nếu chúng ta cố gắng xoá tan mọi hoài nghi. Dùng kiến thức để phân biệt những sự tung tin lũng đoạn của VGCS để từ đó chúng ta có thể tự xoá tan đi những khoảng cách đang bị hoài nghi dạo bước tung hoành.

Tất cả mọi khoảng cách đó có thể biến hoá đi một cách dễ dàng để thu hẹp lại chỉ bằng một ý muốn trên một mục tiêu chung và trên trí thông minh bén nhạy thì chúng ta sẽ có một sự tương giao không còn cách trở.

Chúng ta không thể hễ cứ khác một tiếng nói đi một tí, thì lại vẽ ra vô số đường ranh. Trong khi chúng ta đã biết trên cuộc sống của chúng ta có hàng hàng tỉ khuôn mặt khác nhau, có hàng tỉ ý kiến khác nhau. Mỗi ý kiến là mỗi cuộc sống, mỗi cách sống. Và mỗi sự sống, mỗi cách sống khác nhau và tự do đó, mới là cuộc sống của con người.

Tuy nhiên, khi những cuộc sống họp lại hình thành một tổ chức hay một đoàn thể thì ở đó phải có qui luật. Qui luật sẽ giúp cho tổ chức tránh khỏi sự độc tài và giúp cho con người nhìn ra được cốt lõi bên trong của vấn đề khi con người trong tổ chức đó vi phạm vào qui luật.

Cũng như Tướng Tá của Quân Lực VNCH cho đến bây giờ họ vẫn trân trọng qui luật của quân đội VNCH. Họ vẫn tiếp tục đấu tranh chống VGCS trên qui luật đó, cho dù trên một hoàn cảnh khác, trên một bối cảnh chính trị khác.

Chỉ có những ai bước ra khỏi hàng ngũ của công cuộc đấu tranh chống VGCS hôm nay tại hải ngoại, thì những người đó mới chính là những kẽ đang đào ngũ và đào tẩu.

Tôn Nữ Hoàng Hoa
5/16/2011

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

VIẾT VỀ NGƯỜI LÍNH BẤT HẠNH VNCH
Hai mươi năm chinh chiến, QLVNCH đã có 250.000 người gục ngã trước đạn thù và nửa triệu thương binh chịu đời bất hạnh vì một phần cơ thể đã gửi lại sa trường. Hiện nay Chính Phủ cũng như QLVNCH không còn nửa, nhưng trong tâm tư của mọi người được sống sót qua cuộc đổi đời mạt kiếp, thì lý tưởng và danh dự của Người Lính càng được sáng tỏ, trong niềm hãnh diện chung của quân-dân Miền Nam.
Lịch sử của một quốc gia là những gì trung thực , mà người dân của nước đó đã ghi chép không hề thêm bớt. Nhờ vậy ta mới biết được về cuộc nội chiến của Hoa Kỳ xảy ra từ năm 1861-1865, cùng với thái độ của dân chúng và chính quyền nước Mỹ tại Miền Bắc là kẻ thắng trận, đã không hề lên án, bỏ tù hay trả thù những người Miền Nam bại trận. Ðã vậy, Hoa Kỳ còn ghi ơn tất cả những chiến sĩ của hai miền vừa nằm xuống trong cuộc chiến, vì lý tưởng riêng của họ.

Thế chiến 2 kết thúc, Tòa Án quốc tế Nuremburg chỉ kết tội những Ðầu Sỏ trong phe Trục, mà không hề bắt bớ hay gây khó khăn cho quân nhân các nước Ðức-Ý-Nhật.. Năm 1920, Lãnh tụ kháng chiến quân Libya là Tướng Mukhta, bị người Ý bắt và tử hình. Nhưng chính Tổng Tư Lệnh Ý tại Bắc Phi là người đã ở lại pháp trường, để lo lắng hậu sự cho vị anh hùng dân tộc Libya , vốn là kẻ thù của người Ý lúc đó.

Tại VN, khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền tây Nam Phần năm 1867, sau đó là thành Hà Nội năm 1873. Các tướng lãnh thủ thành đương thời là Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.. đã oanh liệt tử tiết theo thành mất và được kẻ thù là người Pháp, tôn kính mặc niệm như chính các tướng lãnh của họ. Sau rốt là số phận của 500.000 quân nhân Mỹ đã tham chiến tại VN, trong số này hơn 50.000 người tử trận. Ngày nay các chiến sĩ trên đã được quốc dân Hoa Kỳ trả lại công lý và danh dự, để họ hiên ngang ưỡn ngực, cũng như an giấc nghìn thu bên cạnh ông cha, một đời liệt sĩ. Tất cả đã chết cho lý tưởng quốc gia, sống vinh quang và yên nghỉ trong danh dự.

Người lính VNCH trong suốt hai mươi năm binh lửa cũng vậy, đã phơi gan trải mật để bảo vệ cho đất nước và mạng sống của đồng bào, bị cọng sản quốc tế Bắc Việt xâm lăng giết hại. Tóm lại gần hết cuộc chiến, ở đâu có cọng sản khủng bố cướp bóc giết hại dân lành, là ở đó có sự hiện diện của người lính Miền Nam . Ở đâu có bóng cờ vàng ba sọc đỏ, là ở đó người dân trong vùng chiến nạn, tìm đủ mọi cách trốn thoát sự kềm kẹp của giặc cộng, để trở về vùng quốc gia nhờ che chở đùm bọc. Ai có làm lính tác chiến hay người cán bộ áo đen Bình Ðịnh Nông Thôn, Cán Bộ Xã Hội.. mới biết được thế nào là nổi thống khổ, trên đe dưới búa, cá nằm giữa dao thớt, người dân tay không hứng hai lằn đạn bạn thù, của người VN trong thời ly loạn. Có là người dân bị kẹt trong vùng xôi đậu, lửa khói bom đạn, mới thấu hiểu đời người lính gian khổ chết chóc muôn trùng. Có là người dân quèn, nghèo sống đời cay cực, mới thương xót cho “ cảnh ba đồng, ba cộc “ của kiếp lính Miền Nam .

Nhức nhối và mai mĩa nhất, đó là hiện tượng ‘ thuyền nhân tị nạn ‘ sau ngày 30-4-1975. Ngoài tuyệt đại đa số nạn nhân đích thực của CSQT, trong số này không thiếu mặt “ những tên tuổi lớn “ một thời chạy theo VC đâm sau lưng người lính, những nhà văn, nhà báo, cha cố.. kể cả thành phần suốt đời chỉ biết sống ký sinh vào xã hội.. cũng lợi dụng “ danh nghĩa người lính “ để được tị nạn chính trị. Ứa gan hơn là những tên VC trà trộn trong hàng ngũ những người vượt biên, vượt biển, sau khi tới được bờ đất hứa, chúng trở mặt ngay, để lộ diện thành công an, cán bộ, đảng viên như ngày nào.. để nạt nộ, hăm dọa đồng hương, qua cái đòn “ nếu theo Ngụy “, sẽ không được về VN để thăm nhà, như đã thấy tới độ mù mắt khắp nơi tại hải ngoại.

Trong nổi chịu đựng hy sinh âm thầm nhưng thảm nhất là người lính đã không bao giờ được một lời an ủi tử tế của hậu phương, để yên tâm tiếp tục cầm súng giết giặc bảo vệ cho người dân. Trái lại họ còn bị muôn ngàn bất hạnh đeo đuổi suốt cuộc chiến. Thật vậy, khi cầm súng thì cô đơn, nửa đường bị hậu phương, đồng minh và lãnh đạo phản bội bán đứng. Ngày trở về thì bị giặc trả thù đầy đoạ, rồi chết thầm trong đói nghèo tủi nhục.

Tiếp tay với những tâm hồn thác loạn, ăn cơm quốc gia thờ ma cọng sản, là bọn báo chí quốc tế bất tài, a dua, xu thời. Nhờ vậy mà cọng sản Bắc Việt, mới có cơ hội tung hoành một mình một cõi, thao túng vẽ vời huyền thoại, bóp mép lịch sử, để đầu độc các thế hệ VN đang sống trong sự kềm kẹp của chế độ bạo tàn, độc đảng. Nhưng rồi gieo gió thì phải gặt bảo, chính sự khoắc lác dại khờ trên, đã đưa toàn bộ đảng cọng sản VN chìm trong cái vũng bùn ô nhục, khi bí mật lịch sử lần lượt được mọi phe phái bật mí và hồi tưởng.

Câu chuyện tướng Nguyễn Ngọc Loan trong trận Tết Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn,vì không thể chịu nổi hành động dã man, đẩy các trẻ em trong xóm ra làm lá chắn đở đạn cho đồng bọn tẩu thoát. Vì quá tức giận không kềm chế được, nên tướng Loan đã rút súng Rouleau ngắn nòng, bắn chết tên VC chỉ huy là Bảy Lốp, tại ngả ba Vườn Lài (góc đường Vạn Hạnh, Minh Mạng và Vĩnh Viễn), trước mặt phóng viên Mỹ là Eddie Asams, nên đã chụp được tấm hình này, đem bán rao khắp thế giới và nhận được giải thưởng quốc tế.

Sau ngày 30-4-1975 Tướng Loan tới tị nạn tại Hoa Kỳ, đã bị bọn phản chiến cùng với giới truyền thông Mỹ làm lớn chuyện. Thậm chí có Elizabeth Holtzman (nữ dân biểu DC bang New York ) và Dân biểu Harold Sawyer (CH bang Michigan ), đã kiện cáo, đòi Chính phủ Mỹ trục xuất tướng Loan ra khỏi Hoa Kỳ, vì tội vi phạm nhân quyền nhưng bị thất bại .

Trước và sau ngày tướng Loan từ trần 14-7-1998, người phóng viên chụp tấm hình năm xưa Eddic Adams, đã viết một bài báo xin lỗi tướng Loan vì sự ray rứt hối hận của mình, trong đó có đoạn “ Ông đã làm công việc cuủ ông, còn tôi làm bổn phận của tôi “. Ngày tướng Loan qua đời, Eddic lại viết thêm môt bài báo khác đăng trên tờ Times, đồng thời gới tới một vòng hoa phúng điếu, trên đó có đính một danh thiếp viết tay “ General, I ‘am so,so,so.. sorry “.Bao nhiêu đó, chắc cũng đủ làm nhức óc những tên “ sống nhờ người tị nan “ nhưng lúc nào cũng viết lách, làm báo ca tụng VC.

Ðau đớn nhất là trận Hạ Lào 1971, cho dù các đơn vị đã tham chiến như SD Dù, TQLC, Sư Ðoàn 1 BB, Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ và Liên Ðoàn 1 BDQ có bị tổn thất nặng nề. Nhưng cuối cùng QLVNCH cũng đã đạt được mục đích của cuộc hành quân, là phá hủy gần như toàn bộ các cơ sở hậu cần, tiếp liệu tại các mật khu, binh trạm tại đây. Lúc đó, chỉ có Ðại Úy Trương Duy Hy, Pháo đội trưởng PDC/44, tham dự cuộc hành quân, tại căn cứ Hỏa lực 30, là tác giả quyển Hồi ký “ Tử thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30, Hạ Lào “ là viết sự thật. Ngoài ra tất cả bọn phóng viên Mỹ&Tây phương đều ở Khe Sanh, hằng ngày nhìn cảnh máy bay tải thương xác lính và thương binh về tới tắp. Từ đó chụp hình, diễn dịch rồi gửi về nước, nói là QLVNCH đã thảm bại tại Hạ Lào, giống như hồi Tết Mậu Thân (1968).

Riêng làng báo Sài Gòn cũng vậy, vì không có ai vào tận chiến trường để chứng kiện sự thật, nên chỉ đành “ chôm chĩa tin từ báo Mỹ “ rồi “ Mao Tôn Cương thành trận đánh cuối cùng không có đại bàng “ rằng “ VC đâu có quân số đông đảo để đánh QLVNCH, mà chỉ sử sụng hỏa pháo. Ở đây làm gì có kho tàng như tình báo đã báo cáo láo”. Tóm lại theo họ thì QLVNCH vì sợ hỏa lực của VC nên bỏ chạy . Có đọc những tin tức của báo chí Sài Gòn lúc đó, mới thấy máu của người Lính Miền Nam đã đổ suốt cuộc chiến, để bảo vệ cho “ đám thú vật này “, thật là uổng phí và tội nghiệp cho những kẽ đã nằm xuống truớc ngày 30-4-1975.

Nhưng người lính VNCH từ trước tới nay chỉ biết có cầm súng để chiến đấu giữ nước và bảo vệ sinh mạng cho người khác, chứ không quen viết lịch sử để ca tụng một chiều. Cho nên nếu có được một tiếng cảm ơn hay sự hồi phục danh dự, thì đó cũng chỉ là sự phản tỉnh của thế giới tự do khi đã biết được sự thật cùng ý nghĩa của cuộc chiến mà người Miền Nam phải bán mạng để chống ngăn giặc Bắc xâm lăng tới giờ phút cuối cùng. Ngoài ra còn có sự tưởng tiếc muộn màng của đồng bào hậu phương, đối với người chiến sĩ VNCH, khi chính bản thân và gia đình người dân qua cuộc đổi đời, cũng đã trở thành nạn nhân tận tuyệt, của một chế độ bạo tàn, của những con người không có nhân tính, mà hôm qua chính người dân coi như thần thành, nên đã công khai giúp và theo chúng, đâm sau lưng đồng đội, đồng bào mình.

Trong lúc đất nước đang lâm nguy vì giặc xâm lăng phương Bắc, trong lúc gần hết thanh niên nam nữ thuộc mọi tầng lớp của xã hội miền Nam, không phân biệt sang hèn, kinh thượng, bỏ nhà, bỏ lớp, bỏ hết tương lai của tuổi trẻ và đời người để lên đường ra biên cương chống giặc thù. Giữa lúc đất nước lầm than, muôn người khốn khổ vì chiến tranh do Hồ Chí Minh và cọng sản mang từ Liên Xô-Trung Cộng vào để dầy xéo non sông tổ quốc, thì tại hậu phương Miền Nam có một số người tự nhận mình là trí thức, giáo sư, tu sĩ, hầu hết đều đang độ xuân thì, mập mạnh nhưng lại tìm cách đứng bên lề cuộc chiến bằng đủ mọi lý do để được hoãn dịch, trốn nghĩa vụ làm trai trong thời tao loạn. Nếu vì sợ chết mà trốn đi lính, thì cũng còn có thể tha thứ nhưng những hạng người này, không bao giờ chịu để yên cho đồng bào và đất nước mình đang trăn trở trong cơn đau bom đạn, hận thù, đói nghèo và ly biệt. Họ hoàn toàn không thông cảm cho ai hết, ngoài cái lý tưởng đã thu lượm được, qua sách báo tây phương phản chiến và các kinh điển nhật tụng của thiên đàng xã hội chủ nghĩa, trong lúc được sống ở hậu phương, thừa mứa vật chất, đàn bà và thời gian để đâm thọt, phá hoại những người đang liều mạng xã thân bảo vệ mạng sống thừa thải ký sinh của mình. Hai nhân vật điển hình nhất trong bảng phong thần của thời đại này, không ai có thể vượt qua được. Đó là nhà tu Bất Hạnh và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Trong Tạp Chí Làng Văn số 235 xuất bản tháng 3-2003, tác giả Lâm Lễ Trinh có viết bài “ MTGPMN nói gì về Dương Văn Minh, Lực Lượng Thứ Ba và Chính khách Lưu Vong Miền Nam ? “ . Bài viết này tác giả trên đã dựa vào tài liệu của VC, từ ba quyển ký ức của Võ Nguyên Giáp và bộ sách “ Chung một bóng cờ “ của tập đoàn MTGPMN gồm Nguyễn Hửu Thọ, Trần Nam Trung, Trần Bạch Ðằng, Nguyễn Thị Bình..

Nhờ bài viết trên ta mới biết , trong lúc đồng bào và chính phủ NVN đau khổ hấp hối vì bị Thế giới và Mỹ phản bội bán đứng cho CSQT, thì tại hậu phương, các chính khách con buôn của VNCH, đã múa rối bĩ ổi và chạy theo bợ đít VC để mong kiếm chút bã lợi danh sau cuộc đổi đời. Phan Nhẫn, một cán bộ VC hoạt động tại Paris viết “ Thích Thiện Châu và Mạn Ðà La, lãnh đạo Phật giáo tại Pháp là phe ta, có liên lạc mật thiết với Phật giáo trong nước. Su Thiện Châu đã về chầu Hồ và Mác năm 1998. Ở đây còn có cố đạo cấp tiến Nguyễn Ðình Thi, lập cái tổ chức lấy tên là “ Communauté Vietnamienne “ thường tụ họp với VC cũng như Trương Bá Cẩn, Lý Chánh Trung trong nước. Năm 1969 Hồ về chầu tổ Mac, các cố Nguyễn Ðinh Thi (Pháp), Vương Ðình Bích (Tây Ðức) và Trần Tam Tĩnh (Canada), đã tổ chức phát tang cáo Hồ thảm thiết và trang trọng.

Cũng lời Phan Nhẫn kể “ Ngoài ra Ta còn đuợc sự hợp tác của các sĩ quan Sài Gòn, nguyên xuất thân từ lính khố xanh, khố đỏ Pháp, đang sống lưu vong tại Ba Lê như Ðổ Khắc Mai, Nguyễn Hữu Khương, Vương Văn Ðông, Nguyễn Văn Châu, Trần Ðình Thi.. Tất cả bọn lính tây trên đều nói là rất hối hận vì đã lở làm quan tại VNCH, nay hối ngộ nên xin đảng cho gia nhập, để chuộc lại những lỗi lầm “.Miền Nam đầy rãy sâu bọ như vậy, làm sao chúng ta khống mất nước ? Hung hăng nhât trong bon nay là Trần Ðính Lan do thâm thù VNCH đã trục xuất hắn về Pháp , sau khi lộ tẩy vụ muốn NVN trung lập, để thực dân trở lại. Bởi vậy từ năm 1966, Lan lập tại Paris cái gọi là “ Forces Libres du VN “, tận trung với “ bác đảng “ tìm đủ mọi cách quậy phá chính phủ QG. Khôi hài nhất là câu chuyện mà Nhẫn kể với giọng xõ lá “ thậm chí lúc bi bạo bệnh, Lan xin với đảng, phủ cho mình Lá Cờ Máu “, để nở mặt khi xuống âm ty trình diện Hồ. Ngay lúc Ban Mê Thuột bị Bắc Việt cưởng chiếm vào tháng 3-1975, Lan đã gọi điện thoại chúc mừng và lập đoàn đại biểu mang hoa tới mừng đảng tại Paris, khi nghe tin giặc Hồ đã hoàn toàn chiếm được Miền Nam trưa ngày 30-4-1975, sau lệnh bắt QLVNCH buông súng rã ngũ của TT hai ngày “ Dương Văn Minh “.

Cũng trong bộ sách này, Phan Nhẫn đâu có tha các chính khứa xôi thịt của VNCH, đã chạy sang Pháp như Âu Trường Thanh, Hồ Thông Minh, Nguyễn Hữu Châu.. luôn to miệng nhận là “ Lực lượng thứ ba “, thành phần của nhóm đối lập Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Ðức, Lý Quy Chung, Lý Chánh Trung.. Cuối tháng 12-1972, Mỹ dội bom Hà Nội và Bắc Việt, bọn chính khứa trên la lối phản đối kịch liệt. Rồi khi Hiệp định ngưng bắn được ký kết , cuối năm 1973 bọn phản chủ tại Paris lại lập “ Uỷ ban nhân dân đòi thi hành HD Paris 1973 “ cùng lúc với “ Ủy ban đòi hòa bình và dân chủ “. Nhưng đau đớn nhất, là sự khinh bỉ của chính VC đối với bọn khoa bảng tuy có bằng cấp và học vị cao như núi, mà “ giá trị lại không bằng cục phân “ , qua lời chủi yêu của Phan Nhẩn “ Bọn chúng biết là khi Mỹ rút ,VNCH sẽ sụp đổ, nên đòi trung lập, hòa giải, hòa hợp với đảng ta, để có cơ hội trở về tham chính . Nhưng điều mai mĩa với chúng, là đảng ta có bao giờ muốn thế “.

Ðể kết thúc bộ sách coi như vĩ đại nhất của đảng ta, bằng những lời thố lộ tâm huyết của ba đại chính khứa NVN gồm Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Xuân Oánh, Dương Văn Minh . Nhẫn ghi “ Nguyễn Hữu Có nói, đảng phải thông báo ra nước ngoài, để kẻ thù cũ cắn rứt lương tâm mà quay về với ‘bác’ “. Còn Oánh thì cảm tháy thoải mái, sau khi thoát được “sự kềm kẹp “ của Mỹ Nguỵ. Riêng TT Minh công bố hãnh diện được làm công dân xã nghĩa VN “. Ðó là thực chất của những khuôn mặt và tổ chức chính trị ‘ lực lượng thứ ba đối lập ‘ , đã nối giáo cho CSQT, tiêu diệt chính quyền Quốc Gia tại NamVN, rồi cuối cùng chính những người phản bội, cũng nhận chịu hậu quả thảm khốc về vật chất và tinh thần như mọi người, thêm vào đó là bia đá nghìn thu và bia miệng loan truyền miên viễn tiếng xấu xa, không làm sao rửa sạch, cho dù ngày nay vẫn còn ít người tuyên bố “ Nhờ Minh ra lệnh đầu hàng sớm, họ mới sống sót “ . Hởi ôi sống như cuộc sống của cả nước VN hiện nay, kể cả người Việt lưu vong, thì được sống thêm cũng đâu có ý nghĩa gì .

Ngày nay ai cũng biết, cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1955-1975) rất đa dạng, phức tạp, khó có thể định nghĩa cho trọn vẹn. Nói chung tùy theo lý tưởng, ai muốn gọi thế nào cũng đều có ý nghĩa riêng với người trong cuộc. Cho nên với người Miền Nam VN, thì đây là một cuộc chiến đấu chống xâm lăng. Cuộc chiến này hoàn toàn khác biệt với cuộc phân tranh của hai họ Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, lúc đó chỉ là cuộc tương tàn nồi da xáo thịt để tranh giành quyền lãnh đạo của đất nước. Trái lại cuộc chiến lần này, người Miền Nam chiến đấu, vừa để tự vệ, vừa bảo vệ phân nửa mảnh đất VN, để khỏi bị Bắc Việt nhuộm đỏ bằng chủ thuyết cọng sản. Nhưng với bọn trí thức thiên tả, phản chiến nằm vùng lúc đó, lại trắng trợn phỉ báng, gọi QLVNCH là lính đánh thuê cho Mỹ.

Chính bọn trí thức thiên tả này đã lợi dụng quyền tự do báo chí ngôn luận của VNCH, để viết lách, bôi nhọ, xuyên tạc, tuyên truyền phá nát hậu phương, đâm sau lưng chiến sĩ tiền tuyến, đang liều chết để bảo vệ đồng bào, trong đó có cả sinh mạng ký sinh của chúng.

Cuối cùng, VNCH đã sụp đổ, kéo theo sự mất mát toàn diện mà người Việt QG đã tốn xương máu xây dựng. Người chạy thoát ra nước ngoài tuy không bị đau đớn thể xác nhưng tinh thần và sự dằn vặt, cũng đã làm cho họ điên đảo suốt quảng đời lưu vong nơi xứ người. Tội nghiệp nhất, cũng vẫn là Lính phải còng lưng cúi đầu gánh chịu những thảm tuyệt của kẻ thù man rợ, những điều mà chắc chắn thế giới tự do không hề nghĩ tới, vậy mà vẫn tới trong địa ngục trần gian của các nước Cộng Sản, trong đó có CSVN.

Ngoại trừ một số rất ít khôn ngoan hay có thân nhân VC bảo lãnh, hầu hết các cấp Quân, Công, Cán, Cảnh của Nam VN đều chịu sự hành hạ nơi chốn lao tù. Chúng bắt tất cả Sĩ quan và cán bộ, công chức, cảnh sát VNCH vào tù, qua cái gọi là “ Trại Cải Tạo “ để đánh lừa thế giới, về sự dã man tàn ác đối với tù nhân chiến tranh, trái với công pháp quốc tế đã qui định. Hầu hết các trại tù đều lập ở Miền Bắc và Bắc Trung Phần, phía bên kia vĩ tuyến 17. Tại Miền Nam, trại tù nằm trong rừng núi cheo leo, ma thiêng nước độc, để lao động khổ sai, chết dần mòn vì sự hành hạ của quản giáo và nổi cực khổ, đói lạnh nhưng ăn uống thì thiếu thốn với khẩu phần hằng ngày, chỉ lưng chén cơm gạo xấu, trộn với khoai bắp, còn những người bị biệt giam thì đói khát vì phần ăn phát rất ít. Nói chung là không còn bút mực nào để kể cho hết nổi hận hờn tủi nhục của người tù dưới chế độ CS. Ðói quá nên người tù phải ăn tất cả những gì có trước mặt như rắn, rít, ếch nhái, chuột, trùn đất, cào cào.. kể cả cỏ chai và cỏ diệu, thay cơm để đủ sức chống chọi với tử thần, lúc nào cũng như chực chờ sẳn bên cạnh :

‘ Ngày hành xác giữa núi rừng hoang vắng,
đêm ôm đầu thương tiếc chuyện ngày xưa
bạn bè đến đây càng lúc càng thưa
thằng nằm xuống, thằng đày sang trại khác
thằng chống lại thì xác thân tan nát
thằng bệnh đau thân xác cũng không còn
đem xác người đi phá núi dời non
đem mạng sống để gở mìn tháo đạn
thay trời dẫn nước vào sông đã cạn
thay trâu kéo cầy phá vỡ ruộng hoang
buổi sáng gượng vui nhìn lúa trổ bông
nữa đêm khóc thầm đời lính bất hạnh
tôi đã sống qua những ngày đói lạnh
tôi đã nhét đầy tài liệu buồn nôn
kiểm điểm nghìn câu cho tốt tốt hơn
để theo đảng biến người thành khỉ vượn .
(thơ mường giang). ’ ’

Lính sống bị trả thù đã đành, cho tới những người lính đã chết , CSQT cũng không tha, thì nói chi thành phần Thương Phế Binh, Cô Nhi Tư Sĩ của VNCH, lại càng bị đoạ đày thê thảm.Tất cả năm tháng dù nay đã đi vào quân sử nhưng sự thật vẵn còn nguyên trước mắt, với hai cảnh đời hiển hiện như một chứng tích nghìn đời không phai mờ : Ðó là địa ngục VN sau 36 năm bị giặc chiếm đóng và giá trị đích thực của QLVNCH từ 1960-1975, đã có rất nhiều cấp chỉ huy tài ba lẫn đạo đức, văn võ vẹn toàn, được đào tạo từ các quân trường nổi tiếng nhất vùng Ðông Nam Á thời đó gồm các Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, Bộ Binh Thủ Ðức, Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị, Các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Cảnh Sát,Trường Ðại Học Quân Sự.. chứ đâu phải chỉ có những tướng tá “ chó nhảy bàn độc “ từ thời Pháp thuộc, như Minh, Kỳ, Có, Mậu, Ðôn, Xuân, Kim, Khiêm.. bất tài vô tướng, khiến cho nhiều người vin vào các hình cây đó mà xuyên tạc, làm cho người Lính Miền Nam bị xấu hổ lây, không biết đâu mà “ dấu mặt “ khi chạm trán với sự thật.
Ngày xưa người Lính VN, chiến đấu trong vinh quang, khi trở về cũng thật hiên ngang, giữa cảnh phu phụ trùng phùng, nồng ấm kết lại mối tình xưa :
‘..xin vì chàng, xếp bào cỡi giáp
xin vì chàng giũ lớp phong sương
vì chàng tay chuốc chén vàng
vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.. ’ ’
( Chinh Phụ Ngâm ố Ðặng Trần Côn và Ðoàn Thị Ðiểm)

Ngày nay người chiến sĩ VNCH không có cái diễm phúc trên, vì suốt cuộc chiến hai mươi năm, ngoài mặt trận thì chống trả với kẻ thù trong nổi cô độc. Khi trở về lại bị kẻ thù đọa đầy, tù ngục và chết trong uất hận nghẹn ngào.
Thử hỏi giữa cõi đời này, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Ngày nay, đã có không biết bao nhiêu người ,đang sống thản nhiên khắp các nẻo đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn sống nhờ sự bảo bọc của lính. Không biết trong tâm tư đó, có một giây phút nào do lương tâm xao động, khiến trái tim người, chợt nghĩ tới những kẻ bất hạnh đã VỊ QUỐC VONG THÂN ?

Xưa NGƯỜI LÍNH chiến đấu anh dũng trong khói lửa để bảo quốc an dân. Nay những người lính già còn sót lại sau cuộc chiến và lớp hậu duệ của lính năm nào, cũng đã và đang tiếp tục tranh đấu không ngừng, cho một ngày về QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG được sống thật với tự do và no ấm, như chúng ta hiện nay đang hưởng tại quê người.

‘..tội nghiệp, đời trai chưa thỏa chí
sa trường dung ruổi đã phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy
chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
nhớ lúc hát rừng nơi chiến địa
mộng hoàng hoa, khép giữa hư vô ‘
(thơ mường giang)

Xin nghiêng mình trước đồng đội đồng bào đã hy sinh vì đại nghĩa Dân Tộc Việt. Cũng xin chân thành biết ơn Quý Ân nhân đồng hương khắp mọi nẻo đường viễn xứ, đã và đang hướng về những người lính cũ ngày xưa, giờ họ là Quả phụ, cô nhi và thương phế binh VNCH. đang kẹt ở quê nhà.

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 5-2011
MƯỜNG GIANG

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Ý Nghiã Ngày Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong

Nguyễn-Châu


Tự cổ chí kim, từ đông sang tây, dường như chưa có một đân tộc nào lại sẵn sàng và tự nguyện để cho dân tộc khác cai trị mình, đè đầu cỡi cổ, bóc lột, áp bức người nước mình. Việc chấp nhận sự cai trị của người khác luôn luôn là bất đắc dĩ. Vì sức yếu, thế cô mà phải khuất phục, nghĩa là chịu nghe lời. Đây là khuất nhục chứ không phải là khuất phục. Người bị trị lúc nào cũng cố tìm cơ hội để vùng lên tranh đấu dành lại tự chủ. Đây cũng chỉ là tâm lý thông thường mà thôi: một dân tộc dù nhỏ bé đến đâu, cũng mang lòng tự cường, muốn tự cai trị dân tộc mình, điều khiển vận mệnh đất nước quê hương mình, chứ không ai muốn làm thân phận của kẻ bị trị. Thế nhưng, tự do và tự chủ trên thế giới này không phải là một món quà có sẵn, ai cũng có thể nhận lãnh. Có rất nhiều dân tộc luôn luôn muốn đè đầu cỡi cổ dân tộc khác, luôn luôn muốn chiếm đất nước của dân tộc khác làm của mình, để thỏa mãn tham vọng bá quyền, bá chủ. Do đó, tự do và tự chủ đòi hỏi sự chiến đấu để giữ gìn hay giành lại. Chính vì lẽ đó mà khi quê hương đất nước bị xâm phạm, quyền dân tộc tự quyết bị đe dọa, thì mọi người đều vì ý thức dân tộc, vì niềm đau xót giống nòi mà đứng lên chống cự lại.

Lịch sử thế giới đã cho thấy là xã hội loài người không lúc nào được hòa bình. Chiến tranh luôn luôn xảy ra giữa các dân tộc, giữa các lân bang... Muốn tồn tại thì phải tranh đấu. Mọi cuộc chiến tranh đều gây đau thương, chết chóc và tàn hại. May mắn là mỗi một quốc gia, dân tộc, đều có những đứa con dũng cảm kiên cường, mỗi giống nòi đều có máu kiêu hùng, bất khuất thúc giục người dân xông pha chấp nhận hi sinh để bảo vệ đất nước, bảo vệ những giá trị và lý tưởng thiêng liêng, chống lại bạo tàn và áp bức. Những con dân dũng cảm kiên cường bất khuất đã hợp thành những đoàn quân chiến đấu cho quê hương và nòi giống. Chiến đấu hết lòng, xem nhẹ cái chết. Sự tồn tại của một quốc gia thường do công ơn bao nhiêu thế hệ đã hy sinh, đã xả thân trên chiến trường... Quốc Tổ có công dựng nước, con dân có công giữ nước. Do đó, hầu hết các quốc gia dù nhỏ hay lớn, giàu hay nghèo, đại cường hay nhược tiểu... tất cả đều luôn ghi nhớ công ơn của những người đã đóng góp máu xương cho sự sống còn của đất nước, đặc biệt là những chiến sĩ nơi biên thùy, trận mạc, chốn sa trường đầu tên mũi đạn... vì tổ quốc nhân dân không nề sống chết.


Ngày Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong

Trong ý hướng ghi nhớ công ơn của các chiến sĩ đã hy sinh vì quốc gia dân tộc và vì lý tưởng tự do của nhân loại, nhiều quốc gia đã dành một ngày để TƯỞNG NIỆM rất long trọng. Tại Hoa Kỳ, ngày tưởng niệm chiến sĩ trận vong đã trở thành quốc lễ, gọi là MEMORIAL DAY. MEMORIAL DAY cũng còn gọi là DECORATION DAY, tức là ngày truy tặng Huy chương cho những chiến sĩ đã hy sinh. Tên “Decoration Day” do Tướng John A. Logan chọn ngày 30 tháng Năm, 1868 làm một ngày đặc biệt để vinh danh những nghĩa trang của những chiến sĩ trong Liên Hiệp (Union). Logan đã phục vụ trong quân đội với tư cách Tư Lệnh tối cao của Đại Quân nước Cộng Hòa (the Grand Army of the Republic), một tổ chức của Cựu Chiến Binh của Liên Hiệp trong cuộc Nội Chiến (Civil War).

Về lai lịch của ngày MEMORIAL DAY thì có một số cộng đồng nhận rằng đã sáng lập ra ngày lễ đó. Nhưng vào năm 1966, chính phủ Hoa Kỳ đã tuyên bố rằng Waterloo, New York là những nơi đã đặt ra ngày lễ này. Người dân ở Waterloo lần đầu tiên cử hành Memorial Day vào ngày mồng 5 tháng Năm, năm 1866 để vinh danh những chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc Nội Chiến Nam Bắc tại Mỹ. Vào ngày này, các công việc buôn bán, cơ sở kinh doanh đều đóng cửa và người ta đến trang hoàng các nghĩa trang, mồ mả của các tử sĩ và kéo cờ lên nửa cột để tưởng niệm. Ngày Memorial Day là một ngày lễ pháp định (legal holiday) trên tất cả các tiểu bang, trừ một số tiểu bang ở miền Nam. Ngày nay, Memorial Day là ngày biểu lộ lòng tôn kính và biết ơn của của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đối với các chiến sĩ đã hi sinh trong tất cả mọi cuộc chiến vì nước.

Nghi Thức Cử Hành Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong

Trong ngày Memorial Day, người ta cắm hoa và cờ trên khắp các nghĩa trang, trên từng ngôi mộ của tử sĩ. Nhiều tổ chức và đoàn thể, gồm cả các đoàn nam, nữ Hướng đạo sinh, các đoàn thể thân hữu đi diễn hành theo kiểu quân đội và tham gia nhiều chương trình tưởng niệm đặc biệt khác.

Các chương trình này thường gồm có phần tuyên đọc diễn văn của cố Tổng Thống Abraham Lincoln bài “Gettysburg Address”. Lễ tưởng niệm được cử hành khắp nơi có quân nhân Hoa Kỳ hy sinh, như tại các nghĩa trang ở hải ngoại, trên sông nước cho những người đã chết trên biển cả, lễ tại Đài Chiến Sĩ Vô Danh ở Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington, tiểu bang Virginia. Bắt đầu từ năm 1971, ngày làm lễ Memorial Day được ấn định vào ngày thứ HAI của tuần lễ cuối tháng Năm. Trong những năm vừa qua và hiện nay, ngoài nghi lễ của chính phủ và các tổ chức, các thân nhân và gia đình tử sĩ cũng tự mình trang hoàng mồ mả của những người thân yêu rất đẹp đẽ.

*****

Qua truyền thống Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong, chúng ta thấy rằng sự hình thành và phát triển của một quốc gia luôn luôn gồm quá khứ, hiện tại và tương lai. Người đã chết, người đang sống và thế hệ sẽ sinh ra đều có tương quan mật thiết với nhau. Quá khứ dù đau thương, tủi nhục... vẫn là cội nguồn từ đó một cá nhân hay dân tộc vươn lên. Nếu có người muốn quên quá khứ vì không muốn hồi tưởng những kỷ niệm chung, riêng, quá bi đát, u buồn... cho bản thân và tập thể... thì thật là đáng tiếc cho tâm hồn. Một nhà văn Pháp đã ghi nhận rằng “Rien ne nous rend si grand qu' un grand malheur!” (không có gì có thể làm cho chúng ta trở nên cao cả bằng một nỗi bất hạnh lớn lao). Văn chương Việt Nam có câu: “Những kẻ nên khôn đều có dại, Người đời có dại mới nên khôn!”

Thi sĩ Dryden cũng đã nhận ra sự cần thiết của khổ đau trên đường về hạnh phúc của nhân loại, khi ông viết:
“For all the happiness mankind can gain Is not in pleasure, but in rest from pain.” (DRYDEN, The Indian Emperor, IV).

Vậy thì, tâm tư con người chỉ khác nhau ở chỗ biết vươn lên từ hèn kém khổ đau, biết trân trọng quá khứ để rút kinh nghiệm cần thiết cho tương lai. Trong cuộc chiến Việt Nam vừa qua, một số người Mỹ gồm cả giới chức cao cấp như Tướng McNamara, cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam, vì tâm hồn già nua, lụn bại, nên đã có những nhận xét tiêu cực, và hồ đồ về cuộc chiến mà chính ông ta trực tiếp chỉ đạo “Cuộc chiến McNamara” mà ông đã từng tự hào. Trước đây, ông viết sách phản tỉnh tuyên bố rằng Mỹ vào chiến đấu giúp miền Nam Việt Nam chống lại sự bành trướng của cộng sản là một cuộc chiến “terribly wrong” (sai lầm một cách kinh khủng), giờ đây McNamara lại viết cuốn khác, nội dung cho rằng cuộc chiến Việt Nam thất bại là vì trong chính phủ Mỹ không có ai dành một trăm phần trăm (100%) thời gian để nghiên cứu chiến lược! Đây là những suy luận lẩm cẩm của một vị tướng già nua nhưng vẫn còn muốn cựa quậy để nổi lên... McNamara phải nói ra một cái gì không hợp tình hợp lý mới gây được sự chú ý của dư luận, thế thôi, chẳng có gì quan trọng. Điều đáng nói trong cộng đồng Việt Nam tị nạn là đã có những người vượt biển, ra đi vì phải trốn thoát chế độ cộng sản, có người đã phải trả giá rất đắt trên biển cả... (thân nhân chết oan khiên, bỏ mình trên biển Đông, vợ lọt vào tay hải tặc bạo tàn... v.v...), nhưng sau một thời gian ở hải ngoại, cuộc sống êm ấm, vững vàng, vội lên tiếng kêu gọi “quên đi cuộc chiến vừa qua, xem như tiền kiếp...”, có người thì hô hào “hãy quên đi quá khứ hận thù cộng sản”, có nghĩa là ngưng mọi cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản trên quê hương Việt Nam, để yên thân mà sống, vì theo họ không thể nào làm gì được trước sự đã rồi... Nếu xét về mặt tâm lý, thì một số người muốn trốn lánh quá khứ vì bản tính cầu an, bằng lòng với bất cứ nơi nào có cơm no, áo ấm, có bạc tiền, thì số người này không có gì đáng nói. Nhưng có một số ít người vì ý thức hệ chính trị mà hô hào quên đi quá khứ, ngưng chống đối cộng sản, để cộng sản có thể tiếp tục lừa bịp thế giới, lừa mị người dân, ngõ hầu tiếp tục cai trị dân với chính sách độc tài đảng trị đã bị thế giới văn minh bỏ lại đàng sau hàng thế kỷ... Loại người này không thể chấp nhận được trong cộng đồng tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại, vì chúng luôn luôn tìm cơ hội để làm lợi cho cộng sản Việt Nam. Hoa Kỳ và một số nước Âu Châu, Á Châu trong thế giới tự do... đã hỗ trợ và trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh Việt Nam trước 1975, vì đây là một cuộc chiến có chính nghĩa rạng ngời: đó là Bảo Vệ Tự Do cho nhân dân miền Nam Việt Nam và thiết lập tiền đồn ngăn sự lan tràn của làn sóng đỏ từ phương Bắc. Nước Mỹ đã từng bị chia rẽ vì sự gian trá của truyền thông phản chiến, đã làm lu mờ mục đích cao cả của cuộc chiến chống Cộng sản quốc tế trong cuộc Chiến Tranh Lạnh Toàn Cầu...

Nhưng mấy năm gần đây, ý nghĩa của cuộc chiến tranh Việt Nam đã từng bước được làm sáng tỏ... mà bằng chứng hùng hồn là TƯỢNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM CỰU CHIẾN BINH CHIẾN TRANH VIỆT NAM, khắc tên tất cả mọi quân nhân Hoa Kỳ đã tham gia cuộc chiến tranh đáng căm ghét nhất của nước Mỹ, ngay tại Thủ Đô Washington, trong khu các tượng đài tưởng niệm George Washington, Thomas Jefferson và Abraham Lincoln, và trong tháng tư vừa qua, ngày 27-4-2003, tại Nam California, thành phố Westminster – Little Saigon, một Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ đã được khánh thành trọng thể để tưởng nhớ công ơn của các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ chiến đấu vì lý tưởng tự do tại Nam Việt Nam trước năm 1975.

Nguyễn-Châu

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »


User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Vinh Danh Đại tá Lương Xuân Việt:
Người Về Từ Chiến Trường A Phú Hãn

Tác Giả: Triều Giang

Image
Tại chiến trường A Phú Hãn, Đại tá Lương Xuân Việt, thứ hai từ bên trái, đang nói chuyện với binh sĩ của ông thuộc Lữ đoàn 3 Nhảy dù,
trực thuộc Sư đoàn 101 của quân đội Hoa kỳ.

Image
Từ trái sang phải Lương Thị Thu Diễm Asley, con gái đầu lòng, bà Kim Mỹ Lương, phu nhân, Lương Xuân Quốc, contrai út Justin, Đại tá Lưong Xuân Việt và con trai lớn,
Lương Xuân Huy Brandon.trong niềm vui của ngày về từ chiến trường A Phú Hãn vào đầu tháng 3, 2011 vừa qua sau 13 tháng chiến đấu với những chiến công vang dội.

Image
Đại tá Lương Xuân Việt chạy dẫn đầu đoàn quân trên 3,000 binh sĩ thuộc Lữ đoàn 3 Nhảy dù để chạy bộ 5 dậm Anh, trên những con dốc, ngọn đồi của căn cứ Fort Campbell
trong buổi sáng còn mờ sương, chào mừng ngày của Người Mỹ gốc Châu Á Thái Bình Dương vào đầu tháng 5, 2011 vừa qua.

Image
Bà Nancy Bùi đang phỏng vấn Đại tá Lưong Xuân Việt cho Chương trình 500 Lịch Sử Phỏng Vấn, tại văn phòng làm việc của ông trong căn cứ Fort Campbell, Kentucky.
Từ tờ mờ sáng ngày 6 tháng 5, 2011, căn cứ Fort Campbell còn đẫm hơi sương. Nơi đây là bản doanh của sư đoàn tác chiến 101 với diện tích rộng trên 105 ngàn bộ Anh vuông là nơi đóng quân của trên 25,000 quân nhân và gia đình.

Fort Campbell nằm giữa ranh giới hai tiểu bang Tennessee và Kentucky. Sáng nay, căn cứ Fort Campbell tấp nập với trên 3,000 binh sĩ đang tập họp trên một sân cỏ giữa doanh trại, dưới sự chỉ huy của vị Đại tá người Mỹ Gốc Việt Lương Xuân Việt để chuẩn bị cho cuộc chạy bộ dàì 5 dậm Anh, để chào mừng Ngày của Ngưòi Mỹ gốc Á Châu Thái Bình Dương, do Lữ đoàn 3 Nhảy dù là một trong 5 lữ đoàn tác chiến cuà sư đoàn 101 tổ chức.
Đây là một truyền thống mà sư đoàn 101 vẫn tồ chức hàng năm vào tháng 5 để ghi nhận và vinh danh người lính Mỹ gốc Á Châu Thái Bình Dương.
Ngoài các phái đoàn người Mỹ gốc Phi Luật Tân, Đại Hàn, Samoa, Nhật bản tham dự như mọi năm, năm nay, đặc biệt, sư doàn 101 tiếp đón lần đầu tiên phái đoàn người Mỹ gốc Việt gồm gần 20 người thuộc hội Bảo Tồn Lịch Sử và Văn Hoá Người Mỹ gốc Việt (VAHF) đến từ Texas và California, Linh mục Petter Châu Đỗ, ông Đỗ Hữu Đệ, Chủ tịch và môt số thân hào nhân sĩ thuộc cộng đoàn Công Giáo Việt Nam tại Nashville, Tennessee, phóng viên Trọng Thắng và chuyên viên quay phim John Nguyễn của đài truyền hình Viet Face TV, Bác sĩ Nguyễn Thu Thảo thuộc đài truyền hình VNA

Viện bảo tàng của Sư đoàn 101 chứa đầy chứng tích của chiến tranh VN
Quan khách được Thiếu tá Stephen Platt, tùy viên báo chí của Đại tá Việt, đưa đi thăm viếng Viện bảo tàng của sư đoàn.
Những bộ sưu tập thật công phu và giá trị ghi chép và minh hoạ lại lịch sử của sư đoàn kể từ khi được thành lập năm 1942, cho tới những cuộc chiến tranh lừng danh trên thế giới tại Đại Hàn, Việt Nam, Iraq, và mới nhất tại A Phú Hãn.
Chính sư doàn 101 đã nhầy vào bờ biển Normandy, Pháp để giải phóng Âu châu mà trong phim “Ngày dài nhất” (The longest Day) nói về đoàn quân ngoại quốc đầy hào hùng và được người dân Âu châu gọi là những anh hùng thời Đệ Nhị thế chiến mà không ai trong chúng ta là không biết đến.

Riêng trong chiến tranh Việt Nam, bước chân của người lính sư đoàn 101 cũng đã ghi dấu khắp nơi, từ Khe Sanh, Hạ Lào,... với trận Lam Sơn 719. Tất cả đều có những chứng tích ở đây. Kể cả những “thông hành chiêu hồi được máy bay Mỹ thả ngập đuờng mòn Hồ Chí Minh để kêu gọi các chiến binh CS “tung cánh chim tìm về tổ ấm”, một chương trình đã chiêu hồi được trên 200,000 sĩ quan,binh sĩ CS trong suốt 21 năm của cuộc chiến cũng được trung bày ở đây.
“Buồn và nhớ tuổi thanh xuân biết bao!”
Ông Nam Trần, trong phái đòan người Việt tại Nashville, Tennessee, cựu sĩ quan QLVNCH, nhiều năm tù CS, đến Mỹ năm 1993 theo diện HO. ông và gia đình sống tại New York đến năm 1995 thì dời tới Nashville làm việc cho một hãng in.
Hiện ông và gia đình gồm một vợ 4 con, người lớn nhât 35 tuổi và con nhỏ nhất 20 tuổi còn đi học . Đời sống đã ổn định. Đứng tần ngần trước những di vật, ông Nam bùi ngùi tâm sự:
” Tôi phục vụ trong Lữ đoàn 173, thuộc sư đoàn 22 Bộ binh đóng ở Tuy Hoà. Chúng tôi đã có dịp chiến đâu với các binh sĩ thuộc sư đoàn 101. Họ rất tinh nhuệ, tinh thần cao và bảo vệ đồng minh thật chí tình. Ông cũng nhắc đến cuộc hành quân Lam Sơn 719 với mục đích cắt đường tiếp viện của CS qua đường mòn Hồ Chí Minh năm 1971 mà hình ảnh và chứng tích đang được trưng bày kín phòng triển lãm. Ông Nam tâm sự: “ Tôi thấy buồn và nhớ tới tuổi thanh xuân của mình biết bao!”

Anh Minh Nguyễn chăm chú xem những chiến xa, súng đạn nhiều loại được trưng bày cùng với những tượng của những người lính với quân phục khác nhau. Anh thán phục người Mỹ đã bỏ công sức ra để lưu lại những bài học cho những thế hệ đến sau.
Anh Minh cho biết anh, đến Mỹ qua chương trình bảo trợ ODP. Anh vượt biển nhiều lần nhưng không thoát. Sau nhờ có cha anh là cựu Hải Quân, dù có đi học tập nhưng ông đã vượt biên đến Mỹ và bảo lãnh anh và con của anh hiện đang theo học Đại học tại đây. Đới sống yên ổn không bon chen nhiều nên anh bằng lòng với cuộc sống. Anh Minh cho biết cộng đồng người Việt ở đây khỏang 5 tới 6 ngàn người ở rải rác trong hai tiểu bang Tennessee và Kentucky, số đông là những cựu sĩ quan sang đây với diện HO và sinh sống bằng nghề Nail .

Sư đoàn 101 đã có chương trình trùng tu Viện Bảo tàng đầy giá trị này với hai dãy nhà khang trang sẽ được đặt tại con đường giáp ranh với bên ngoài để du khách có thể vào xem mà không cần phải vào trong bản doanh của sư đoàn 101. Mọi người như không muốn rời Viện Bảo tàng, nơi đang có những hình ảnh nhắc nhớ đến VN, đến một phần đời của mỗi người tại quê hương xa típ tắp nhưng Thiếu tá Platt luôn bên cạnh nhắc nhở phái đoàn phài giữ giờ cho tiết mục sắp tói.
Trường Huấn luyện nhảy dù
Trường huấn luyện nhảy dù tại căn cứ Fort Campbell hàng năm huấn luyên nhiền ngàn binh sĩ để cung ứng co các binh chủng.
Với chương trình huấn luyện 10 ngày, các học viên phải học các cách nhảy từ có dù, không dù, nhảy tử trực thăng hay nhảy từ những điểm cao rồi, chạy 13 dặm trong 3 giờ đồng hồ. Nếu hoàn thành, các học viên sẽ được cấp bằng nhảy dù và trở về các đơn vị để phục vụ. Hai huấn luyện viên và 4 binh sĩ đã nhảy biểu diễn các kiểu cho phái đoàn người Mỹ gốc Việt xem. Những tiếng vỗ tay khen ngợi hào hứng và những cái vẫy tay chào quyến luyến trước khi phái đoàn được chuyển qua khu huấn luyện tác xạ.
Khác với những xạ trường trong các trung tâm huấn luyên cũ trưóc đây với nững ụ cát, những hình người làm điểm nhắm. Ở đây là một phòng kín rộng đầy những giây điên chằng chịt. Trên 10 khẩu súng đủ loại được đặt trước một phông hình của một dãy phố. Khi bật đèn và nhất nút điều khiển trên phông hình xuất hiện những hình người ẩn núp hoặc chạy và các xạ thủ có thể nhắm bắn như ngoài chiến trường.
Vị sĩ quan huấn luyện viên gỉai thích:” Với cách huấn luyện này vừa đỡ tốn kém, vừa chính xác hơn vì những phông cảnh có thể thay đổi cho thích hợp với những chiến trường khác nhau, và các học viên có thể bắn suốt ngày mà không phải tốn tiền đạn.”
Quan khách đưọc dịp bắn thử các loại súng và nhắm vào chiến trường ảo trước mắt nhưng cũng tạo được cảm giác hồi hộp không ít.
Cuộc viếng thăm bất ngờ của TT Obama
Ngoài những trường huấn huyện vừa kể, Sư đoàn 101 còn có nhiều lực lượng đặc biệt khác được huấn luyện và đặt căn cứ tại đây, như Biệt đội trực thăng đặc nhiệm 160 mà những phi công lái 4 chiếc trực thăng xâm nhập vào Parkistan đến tận bản doanh của Bin Laden đang trốn đóng, bắn chết và mang xác cuả tên trùm khủng bố làm rung động cả thế giới cũng trực thuộc Sư đoàn 101.
Biệt đội 160 từng tham chiến tại Việt Nam, và có căn cứ tại đây. Do đó, chương trình lễ mừng Ngày Người Á Châu Thái Bình Dương hôm nay bị thay đổi đôi chút để đón tiếp TT Obama đến thăm viếng và vinh danh những phi công và đội đặc nhiệm cuả họ và sư đòan 101.
Trong hơn 2 giờ đồng hồ thăm một vòng doanh trại, với sự tiếp đã ân cần của Thiếu tá Platt và các binh sĩ trong ban tiếp tân, phái đoàn đã học hỏi rất nhiều về sinh hoạt và đới sống của người lính Mỹ tác chiến. Người tham dự như cảm thấy gần gũi, thông cảm và mang ơn nhiều hơn những người lính và gia đình họ. Sự chu đáo này cũng nói lên tình cảm đặc biệt mà vị Chỉ huy trưởng và binh sĩ tại đây dành cho phái đoàn người Mỹ gốc Việt.
VAHF và người Việt Nashville vinh danh Đại tá Việt
Khoảng gần trưa, trong không khí trong lành, với mùi thơm thoang thoảng của hoa xồi đỏ, và ánh nắng dịu dàng của những ngày đầu hè, khoảng trên 500 quân nhân và quan khách Mỹ Việt đã tụ tập trước phòng khánh tiết của Lữ Đoàn 3 nhảy dù để tham dự Lễ Vinh danh Lữ đoàn trưởng người Mỹ gốc Việt đầu tiên và duy nhất thuộc binh chủng tác chiến Hoa kỳ, Đại tá Lương Xuân Việt.
Để đáp lễ các sắc dân khác với y phục cổ truyền và để buổi lễ thêm phần long trọng, tất cả các phụ nữ người Mỹ gốc Việt có mặt đã mặc áo dài đầy màu sắc tươi vui, một số đội những vành khăn xếp rộng vành trông thật đẹp mắt . Riêng phóng viên Trọng Thắng đã khăn đóng, áo the, quần trắng thật long trọng.
Trong bài diễn văn ngắn nhưng cảm động, bà Nancy Bùi, hội Trưởng Hội VAHF đã phát biểu:
“Đúng 36 năm, 6 ngày trước đây, ngày 30 tháng 4, 1975, Sài gòn thất thủ. Chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Cuộc chiến đã cướp mất trên 58.000 chiến binh Hoa kỳ, hơn 500,000 chiến binh Nam Việt Nam và trên một triệu người dân Việt. Đó là một cuộc chiến gây nhiều tranh cãi nhất trong thế kỷ thứ 20. Nhưng khi hoà bình đến, cuộc sống của người dân Việt Nam không khá gì hơn bởi vì kẻ ác đã chiến thắng….và nhiều người đã phải nghĩ rắng hàng triệu người Mỹ và Nam Việt Nam đã chết uổng phí. Nhưng nhờ lòng quảng đại của dân và chính quyền Mỹ đã đón nhận người Việt tị nạn và từ đó, cuộc chiến tranh Việt Nam cũng có một kết quả tốt đẹp. Đó là cộng đồng người Mỹ gốc Việt…”.
Bà Nancy Bùi sau đó đã ca ngợi những nỗ lực của người Mỹ gốc Việt đã mau chóng ổn định đời sống và trở thành một sắc dân có nhiều những đóng góp tích cực nhất vào sự phồn vinh của Hoa Kỳ. Và Đại tá Lương Xuân Việt là một thí dụ điển hình.
Bà cũng thay mặt hội VAHF. chân thánh cám ơn sự hy sinh gian khổ của người lính Hoa Kỳ và tri ơn gia đình những người đã bỏ mình cho tự do và dân chủ trên toàn thế giới. Bà mong một ngày nào đó tự do, dân chủ sẽ soi rọi đến trên 85 triệu dân VN.
Trong bộ quân phục tác chiến, Đại tá Lương Xuân Việt đáp từ bằng những lời ca tụng sự hy sinh của quân lực VNCH.
Theo ông, cuộc chiến VN tuy đã có kết quả không tốt, nhưng nó đã để lại những bài học quý giá mà ông và binh sĩ của ông được học hỏi để rút tỉa kinh nghiệm. Ông cũng ca tụng và tri ơn những người lính tác chiến của sư đoàn 101.. Ông phát biểu: ” Tất cả những gì tôi có là nhờ sự làm việc và đóng góp của tất cả các bạn. Nếu không có các bạn, tôi sẽ chẳng có gì hết..”
Linh mục Peter Châu Đỗ đã cùng với bà Nancy Bùi trao tặng tấm plaque của hôi VAHF vinh danh Đại Tá Lương Xuân Việt về những thành quả xuất sắc làm rạng danh người Mỹ gốc Việt trong việc chiến đấu bảo vệ tự do và dân chủ tại Hoa kỳ và trên toàn thế giới.
Người điều khiển lễ vinh danh là ca sĩ Thái Hà, thành viên của Ban Quản trị hội VAHF, đã cùng với phóng viên Trọng Thắng của đài truyền hình Viet Face TV, bác sĩ Nguyễn Thu Thảo thuộc truyền hình VNA tại California, sau đó đã trao tặng hoa cho bà Lương Mỹ Kim, phu nhân của Đại tá Việt để tỏ lòng ngưỡng mộ và tri ân về những hy sinh của người vợ và gia đình của những quân nhân Hoa kỳ. Buổi lễ được kết thúc bằng một bữa ăn trưa tại phòng khánh tiết của doanh trại.
Từ ước vọng của người cha tới ước mơ của vị Đại tá trẻ và sáng giá bậc nhất nhât của quân đội Hoa kỳ
Theo dư luận am tường về quân đội Hoa kỳ, Đại tá Lương Xuân Việt, người vừa về từ chiến trường A Phú Hãn cùng với 9,000 quân của ông, là một trong những Đai tá trẻ, sáng giá, với nhiều chiến công hiển hách từ hai chiến trường Iraq và A Phu Hãn.
Sau khi về từ chiến trường Iraq năm 2009, ông đã từ là Trung tá Tiểu đòan trưởng được phong chức Đại tá Lữ đoàn trưởng và được gửi đi chiến trường A Phú Hãn, ông lên nhanh đến độ không có thời gian để đi học khoá huấn luyện sĩ quan cao cấp.
Với thành tích cầm quân tại chiến trường gần 13 tháng với bao chiến công mà số quân tổn thất chỉ có 17 người. Tháng 6 sắp tới, ông sẽ được đưa về Đại học Standford để học về kỹ năng ngoại giao và lãnh đạo trong một năm. Nhiều người tiên đoán rằng sau khoá học này ông có nhiều cơ hội được lên tướng để trở thành vị Tướng người Mỹ gốc Việt đầu tiên trong lịch sử Hoa kỳ.
Xuất thân từ gia đình binh nghiệp, Cha ông là Thiếu tá Lương Xuân Dương, thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến của Quân lực VNCH từng làm sĩ quan tuỳ viên của Trung Tướng Lê Nguyên Khang.
Sau 1975, cha ông và gia đình gồm một vợ và 8 người con, 7 gái và Đại tá Lương Xuân Việt là con trai duy nhất trong gia đình. Mẹ ông là bà Kathy Lương, hiện bà đang sống tại vùng ngoại ô Los Angeles, nơi mà gia đình bà đã đến Mỹ lập nghiệp trên 36 năm qua .
Trong cuộc phỏng vấn gần hai tiếng đồng hồ dành cho chương trình 500 Lịch Sử Phỏng Vấn của hội VAHF, vị Đại tá ngưòi Mỹ gốc Việt đã nghẹn lời khi ông tâm sự về người cha:
“ Cha tôi thường không biểu lộ chuyện buồn, nhất là với con cái. Nhưng ông không thể giấu được những dằn vặt với ý nghĩ vì sao ông không ở lại để tiếp tục chiến đấu với binh sĩ của ông? Ông thường khuyên bảo tôi nên chọn binh nghiệp để phục vụ vì rấr có thể một ngày nào đó tôi có thể đem lại lợi ích cho quê hương Việt Nam.
Khi còn nhỏ, chị cũng biết sống trong khu ngoại ô Los Angeles, trẻ con chúng tôi không tránh nổi những trận ấu đả. Khi tôi còn nhỏ được cha mẹ tôi cho học võ Vovinam nên việc rèn luyện thân thể là chuyện hàng ngày đối với tôi, và tôi không bao giờ sợ khi cần phải dùng sức để tự bảo vệ . Nhờ đó mà việc chọn binh nghiệp cũng rất thích hợp với tôi. Lớn lên chút nữa khi vào Đại học, tôi cố gắng học và đâu điểm rất cao tại Đại học University of Southern California (USC), nên được chọn vào trường sĩ quan không khó khăn.
Sau khi tôi ra trường, phục vụ trong ngành tác chiến. Khi tôi lên tới Đại úy thì Ba tôi mất. Tôi nhớ mãi ngày ba tôi tham dự lễ gắn lon Đại úy của tôi, mắt cha tôi sáng lên với niềm vui và hãnh diện. Cha tôi mất vì bệnh ung thư khi ông chưa đầy 65 tuổi. Tôi ước gì ông còn sống đến hôm nay và lâu hơn nữa để ông được nhìn thấy sự thành đạt của tôi! ”
Niềm ước mơ lớn nhất cho Việt Nam
Khi được hỏi ông mơ ước gì cho đất nước Việt Nam? Vị Đại tá trẻ đã trả lời thật ngắn gọn như ông đã nung nấu trong sự suy nghĩ của ông từ bao lâu: ”Điều ước mơ tôi mong muốn nhất là cho đất nước Việt Nam, một ngày nào đó, sẽ có tự do và dân chủ thực sự. Tôi cũng ước cho toàn dân Việt có cơm no, manh áo, và tất cả những trẻ em có cơ hội cắp sách tới trường.”
Trên chiếc bàn thấp và nhỏ giữa phòng làm việc của Đại tá Việt, những cuốn binh sử như đưọc giữ trong tầm tay với của vị Chỉ huy trưởng ở đây. Có những binh sử của Hoa kỳ và của nhiều quốc gia khác trên thế giới. Những cuốn hồi ký của các danh tướng và có cả những binh sử của Việt Nam Cộng Hoà.
Đại tá Lương Xuân Việt cho biết ông đọc và nghiên cứu rất nhiều. Sự học hỏi này giúp cho ông rút tỉa được kinh nghiệm của những người đi trước.
Ông cho biết một số tài liệu của các tướng Việt Nam Cộng Hoà đã viết như Tướng Ngô Quang Trưởng với chiến thuật du kích chiến hay Tướng Nguyễn Duy Hinh hiện còn sống tại vùng Hoa Thịnh Đốn viết về kinh nghiệm cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971 cũng là những binh sử gối đầu của ông. Ông cho biết khi cầm quân, dù mất một người cũng là nhiều, nên ông chú tâm vào các chiến thuật đánh sao cho kết quả nhưng không hao tổn xương máu của binh sĩ mới là chiến thắng toàn diện.
Chính vì thế mà trong gần 13 tháng điều khiển trên 9,000 quân tại chiến trường A Phú Hãn, với nhiều chiến công hiền hách, Đại tá Lương Xuân Việt chỉ mất có 17 binh sĩ. Ngay trong tuần lễ đầu sau khi về tới Mỹ, Đại tá Việt đã được Bộ Quốc phòng Pentagon mời lên để tường trình về chiến trận, đặc biệt về cách cầm quân thật hiệu qủa của ông.
Một chỉ huy trưởng nghiêm minh nhưng đầy lòng nhân ái
Đại tá Lương Xuân Việt còn được sự kính phục của binh sĩ dưới quyền ông. Đi đến đâu chúng tôi cũng nghe những lời nói về ông với đầy cảm mến: “Ông ấy là một nhà lãnh đạo giỏi, ông ấy thương binh sĩ và làm việc rất nhiều để hỗ trợ binh sĩ, ông ấy cư xử với chúng tôi như anh em,..” .
Riêng với Thiếu tá Platt, tuỳ viên báo chí của Lữ đoàn thì không tiếc lòi khen ngợi:
” Đại tá Việt rất nghiêm, nhưng ông ấy sống chết với binh sĩ. Chúng tôi chứng kiến cảnh Đại tá đau buồn khi ông nghe tin binh sĩ tử nạn. Ông lúc nào cũng làm hết sức, ngoài cả những gì ông ấy cần làm như tìm môi cách đến thăm những binh sĩ bị thương hoặc hy sinh, mặc dù nhiều lúc ông phải dùng trực thăng, đi đến những vùng nguy hiểm nhưng đối với ông sự có mặt của người chỉ huy trưởng trong những lúc sống còn của người binh sĩ dưới quyền ông là một điều tối quan trọng. Tôi đã từng làm việc với nhiều Đại tá chỉ huy trưởng khác, nhưng khi làm việc với Đại tá Lương, tôi biết là tôi làm việc nhiều hơn rất nhiều nhưng tôi lại rất vui. Ông ta là một nhà lãnh đạo tài ba, và đức độ”
Nhưng tất cả những điều vừa kể trên chỉ là một phần của Đại tá Lương Xuân Việt, khi người phỏng vấn hỏi về gia đình thì gương mặt ông sáng lên và nói về người vợ của ông, bà Lương Mỹ Kim: bằng những lời thiết tha, chân tình:
” Kim là tất cả của đời tôi. Cô ấy thay tôi làm cha khi tôi phải ra chiến trường, cô ấy an ủi và chia sẻ với tôi trong những lúc vui buồn hoặc khó khăn. Chị biết mỗi khi có một binh sĩ phải hy sinh, tôi còn ngoài chiến trường thì Kim thay tôi đến để an ủi gia đình họ, trong khi tôi biết chính trong lòng của Kim cũng đang bối rối và lo sợ cho tôi và những bấp bênh của một gia đình có ngưòi chồng trong ngành tác chiến. Vì luật lệ trong quân đội khiến chúng tôi phải dời đổi chỗ ở liên tục. Ít có nơi tôi ở đưọc lâu quá 3 năm nên Kim và các cháu cũng phải thay đổi trường học, môi trường sống liên tục. Tôi không thể làm tất cả những điều đã và đang làm nếu không có sự cộng tác của Kim.”
Và một mơ ước khác cho 3 người con là Lưong Thị Thu Diễm Asley, 16 tuổi lớp 11, Lương Xuân Huy Brandon, 14 tuổi, lớp 9, và Lương Xuân Quốc Justin 10 tuổi, lớp 5 sẽ chọn binh nghiêp. Đại tá Việt thổ lộ:
“Cháu gái lớn muốn học luật và sẽ chọn làm việc cho quân đội. Cháu trai thứ hai đang chờ đợi vào trường sĩ quan, cháu út thì còn nhỏ nhưng cũng đã và đang tìm hiểu. Tôi luôn khuyến khích các cháu, vì tôi mghĩ rằng: quân đội Hoa kỳ là một trong những môi trường phục vụ tốt nhất”.
Bài học từ chiến tranh VN
Tối hôm trước. Đại tá Việt và phu nhân là chị Kim đã có nhã ý mời chúng tôi đến thăm tư gia của họ trong căn cứ Fort Campbell. Căn biệt thự nhỏ xinh sắn trên đỉmh một ngọn một con đồi thấp là mái ấm cuả Đại tá Việt và gia đình.
Trước nhà, phiá trái là cổng chào màu đỏ, nhỏ làm bằng gỗ theo hình cổng chào Torii của người Nhật; gần giống cổng tam quan của người Việt, phiá trái trồng cây kiểng và hoa rực rỡ. Bên trong căn nhà, vật dụng được trưng bày tươm tất nhưng giản dị của một gia đình trung lưu Mỹ.
Tiếp chúng tôi, Đại tá Việt ngồi chiếc ghế sa lông chính giữa, bên phải là Đại tá Paul Sarat, lo về hành chánh, tái chánh. Bên trái là Thiếu tá Matt Leslie, trưởng Ban hành quân, có vợ Việt Nam, chị Linda Leslie. Họ nói chuyện với nhau thân mật nhưng tương kính.
Chị Kim lo việc tiếp khách và chỉ có chị Linda đến chơi tiếp tay, mà không hề thấy bóng của người phục dịch. Chi Kim cho biết sư đoàn có đơn vị huấn luyện và hướng dẫn các gia đình binh sĩ cách sống tự lập. Các bà được dạy cách thay bánh xe, thay đèn, sửa những vật dụng giản dị trong nhà. Đời sống của gia đình một vị Đại tá trong quân đội Hoa kỳ thật đơn giản và tự lập.
Cuộc chiến tranh đã qua đi 36 năm, đến thăm viếng căn cứ Fort Campbell, doanh trại của Sư đoàn tinh nhuệ nhất để thấy cuộc lột xác hầu như hoàn toàn của quân đội Hoa kỳ sau bài học từ chiến tranh Việt Nam.
Họ thay đổi từ chiến cụ, kỹ thuật tác chiến đến tinh thần và lối sống và làm việc của binh sĩ Hoa kỳ. Họ không còn là một tập thể ô hợp của những người lính bị động viên.
Hôm nay, người lính và đặc biệt là những vị sĩ quan chỉ huy, họ là những nhà binh chuyên nghiệp với kỷ luật nghiêm minh, với kỹ năng kỹ thuật nhuần nhuyễn. Ngoài việc đánh trận, ho cũng được huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp, và đặc biệt tư cách và lối ứng xử của họ nói lên được tinh thần kỷ luật và trách nhiệm nghiệm minh nhưng lại đầy tinh người của một đoàn quân tinh nhuệ nhất trên thế giới, trong đó có nhiều vị chỉ huy cũng như gần 20 ngàn binh sĩ người Mỹ gốc Việt các cấp. Đó cũng chính là niềm an ủi và hãnh diện của cộng đồng người Mỹ gốc Việt của chúng ta.
Người Mỹ tốn hơn 58 ngàn sinh mạng và nhiều tỷ bạc cho chiến tranh VN. Cuối cùng họ đã học được bài học của họ để xây dựng một quân đội hùng mạnh gần như hoàn hảo vào bậc nhất trên thế giới mà không một quân đội nào trên thế giới muốn đối đầu.

Miền Nam VN tự do của chúng ta đã tổn thất hàng triệu người, thất thoát tiền rừng, bạc biển cho cuộc chiến. Nhưng đau thương nhất là chúng ta mất cả mảnh đất tự do của quê hương. Chúng ta đã học được bài học gì sau hơn 36 năm?
(Bài của Triều Giang. Hình của Ban Báo Chí Lữ đoàn 3 Nhảy Dù, sư đoàn 101 tác chiến và Bác sĩ Nguyễn Thu Thảo...)

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

--
VIẾT CHO CHỒNG EM -NGƯỜI LÍNH CỘNG HÒA


Mùa Quân Lực 19 tháng 6


Dư thị Diễm Buồn


Em dắt con thăm chồng nơi đất Bắc

Ngày giặc vào cháu chưa được lên hai

Vì sa cơ, cha lâm cảnh tù đày…

Giặc chụp mũ tội: “Ngụy Quân bán nước...”


Trại cải tạo giam những người trí thức

Của miền Nam, mài miệt ghế nhà trường

Ra ngành nghề... làm lính trấn biên cương

Khắp các ái địa đầu vùng tuyến lửa...


Chàng yên tâm có em lo nhà cửa

Bốn Quân khu, Bến Hải đến Cà Mau...

Chặn thù, tiếp Miên, chiến đấu Hà Lào…

Cùng đồng đội xông pha lòng đất địch


Lính Cộng Hòa hào hùng xây chiến tích

Chống xâm lăng càn quét lũ bạo tàn

Bọn Cộng nô phải vỡ mật, teo gan

Hải, Lục, không quân, Thiên thần Mũ Đỏ…


Bao thống khổ nước nhà sau bỏ ngỏ!

Tháng Tư Đen! Bức tử phải tan hàng

Những chàng trai đi gìn giữ giang san

Bị giặc bắt ải đày nơi hiểm nghiệt!


Bao nhiêu năm đau lòng dân tộc Việt

Bấy nhiêu năm đất nước phủ màu tang

Giặc cắt chia lãnh thổ hiến ngoại bang

Dẫn Tàu Cộng! Làm tan hoang đất nước


Em dắt con thăm nuôi chồng xuôi ngược

Nam Hà, Hàm Tân, Tiên Lãnh, Vườn Đào...

Chồng em tù ngục lận đận lao đao…

Ngày trở lại, cháu đã tròn đôi chín!


Đó là tuổi mộng mơ yêu màu tím

Thuở ngày xưa, em sung sướng đến trường

Nay con em vì đất nước tan thương!

Cha cải tạo, đói ăn, không lành áo...


Mọi thủ đoạn giặc dối lừa chao đảo

Đảng độc tài nghiền nát tuổi xuân xanh

Nhồi sọ, nhiễu nhương... bóp vỡ mộng lành

Lớp trẻ Việt... tương lai như bọt biển!


Chồng của em tròn đời là lính chiến

Chàng vững lòng dù thời cuộc đổi thay

Vẫn kiên tâm chờ đợi có một ngày

Dân tộc Việt đứng lên giành Chánh nghĩa


Giờ đã điểm! Mọi người đà thấm thía...

Biết khổ đau dưới ách kẻ vô nhân…

Hiểu thế nào lòng dạ bọn vô thần…

Khi nước nhà đấm chìm trong tay giặc!


Mười Chín Tháng Sáu! Là ngày Quân Lực!

Nhớ ngày xưa! Lòng xao xác bâng khuâng!

Xót quê hương! Tàu Cộng chiếm đoạt dần...

Ghét kẻ nối giáo, hận người bán nước…


Người lính Cộng Hòa bôn ba xuôi ngược

Thân héo mòn như chiếc lá chiều thu

Vẫn kiên tâm bền chí diệt Cộng thù

Tôi luyện lớp trẻ… chờ ngày phục quốc



DƯ THỊ DIỄM BUỒN

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

TQLCVN Bắt Quân Trung Cộng Chiếm Đảo DUCAN

Mũ Xanh Cổ Tấn Tinh Châu.
Hầu hết chúng ta chỉ biết đến trận hải chiến Hoàng Sa xẩy ra vào tháng 1/1974 giữa HQVNCH và quân Trung Cộng, nhưng ít ai biết là 15 năm trước đó, năm 1/1959, đã có một trận đánh giữa TQLCVN và quân Trung Cộng ở Hoàng Sa. Nói cho chính xác hơn là sau khi thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng dâng quần đảo Hoàng Sa cho Trung Cộng thì chúng đã đem dân quân đến thiết lập cơ sở tại đây, nhưng chúng đã bị TQLCVN đánh đuổi và bắt sống. Người chỉ huy trực tiếp cuộc hành quân này là Trung Úy Cổ Tấn Tinh Châu, ĐĐT/ĐĐ.3/TĐ.2. Năm 1963, Đại úy Cổ Tấn Tinh Châu là Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.2/TQLC và sau này ông là Thiếu Tá phụ tá Đại Tá Lâm Quang Thơ, CHT trường Võ Bị Quốc Gia VN. BBT đặc san Sóng Thần xin giới thiệu cùng đọc giả bài viết của Mũ Xanh Cổ Tấn Tinh Châu.
Image
Vào khỏang đầu năm 1959, Chỉ Huy Trưởng TQLCVN là Thiếu Tá Lê Như Hùng, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.2 TQLC là Đại Úy Nguyễn Thành Yên. Tôi, Trung Úy Cổ Tấn Tinh Châu, Đại Đội trưởng ĐĐ3/TĐ2 TQLC. Đại đội tôi đang đóng ở Cam Ranh thì được lệnh đem đại đội ra kiểm soát các đảo trong quẩn đảo Hoàng Sa là Pattle (đảo chánh), Robert, Duncan, Drumont và Money. Khi đến quần đảo Hoàng Sa thì tôi đóng quân tại đảo Pattle với 2 trung đội, còn một trung đội thì đóng trên đảo Robert. Hai ngày sau tôi nhận được lệnh di chuyển bằng chiến hạm do HQ Trung Úy Vũ Xuân An* làm hạm trưởng đến kiểm soát đảo Ducan, sau này tên Việt Nam là đảo Quang Hòa, cách đảo Pattle chừng 1 giờ 30 phút đi bằng tàu.
(* Hạm Trưởng Vũ Xuân An sau cùng là HQ đại tá, hiện định cư ở Canada, khoảng 10 năm trước đây, cựu HQ Đại Tá Vũ Xuân An có đến thăm anh Châu. Nay theo lời của HQ Đặng Thanh Long thì sức khỏe của cụ hiện quá yếu, còn nhớ trận đánh này, nhưng không đầy đủ chi tiết)

Tôi chỉ đi với một trung đội+, phần còn lại đóng và giữ hai đảo Pattle và Robert. Tàu chạy được khoảng gần một giờ thì hạm trưởng Vũ Xuân An chiếu ống nhòm và nói với tôi là trên đảo Ducan có lá cờ nhưng không phải là cờ đỏ sao vàng, rồi anh đưa ống nhòm cho tôi xem. Sau khi quan sát kỹ, tôi nói với anh đó là cờ Trung Cộng, cờ đỏ 5 sao vàng.
Tôi và hạm trưởng hội ý với nhau và quyết định dừng tàu lại để báo cáo về Bộ Tư Lệnh Hải Quân, vì thời gian đó TQLC còn dưới quyền chỉ huy của Bộ Tư Lệnh Hải Quân.. Sau chừng một tiếng thì chúng tôi nhận được lệnh thượng cấp cho chiếm đảo Ducan.
Chiến hạm chở chúng tôi không phải là loại tàu đổ bộ nên tàu phải đậu cách bờ trên một cây số, vì đây là bãi san hô, không thể vào gần hơn được cũng không có xuồng để vào bờ. Tôi có nêu vần đề khó khăn này với hạm trưởng và yêu cầu báo cáo về BTL/HQ thì tôi được lệnh “bằng mọi giá phải chiếm”.

Đây là lúc khó khăn nhất mà tôi “đơn thân độc mã” phải quyết định một mình, không liên lạc được với Đại Úy Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Thành Yên để vấn kế. Không có xuồng thì phải lội trên bãi san hô gập ghềnh ngập nước nông sâu chứ đâu phải bãi cát phẳng phiu như BTL/HQ nghĩ rồi cho lệnh “bẳng mọi giá”! Rõ là lệnh đi với lạc
Đảo Ducan hình móng ngựa, có cây cối khá nhiều, nhìn lên đảo tôi thấy có hai dẫy nhà vách cây lợp lá, thấp thoáng có bóng người đi lại sinh hoạt bình thường, dường như họ không biết có Hải Quân và TQLC/VN đang chuẩn bị tấn công họ để chiếm lại đảo.

Khi có lệnh phải chiếm đảo bằng mọi giá mà tàu không vào sát bờ được, tàu cũng không có xuồng đổ bộ, để hạn chế tối đa thiệt hại cho đơn vị mình, tôi đã yêu cầu hạm trưởng yểm trợ hải pháo, tác xạ tối đa lên mục tiêu trước khi TQLC đổ bộ. Nhưng sau khi quan sát tình hình trên đảo tôi thay đổi ý định và yêu cầu HQ chỉ tác xạ lên mục tiêu khi chúng tôi đã nổ súng trước. Sở dĩ tôi thay đổi kế hoạch hỏa lực yểm trợ vì những lý do:
1/ Cờ Trung Cộng rõ ràng trên đảo, nhưng chưa xác định được những người trên đó là quân hay dân hoặc cả hai lẫn lộn nên nếu HQ tác xạ hải pháo lên đảo trước thì chắc chắn có thương vong, chết dân tội nghiệp.
2/ Dường như lực lượng trên đảo không biết sắp bị tấn công nên tôi chưa xin HQ tác xạ lên mục tiêu trước để giữ yếu tố bất ngờ.

3/ Nếu trên đảo là quân TC, có vũ khí, khi HQVN nổ súng coi như báo động cho họ chạy ra tuyến phòng thủ thì khi TQLCVN bì bõm lội nước tiến lên thì chắc chắn sẽ là những tấm bia di chuyển dưới nước để quân địch trên bờ tác xạ, thiệt hại cho TQLC là chắc chắn nhưng chưa chắc đã chiếm được đảo. Đây là những giờ phút quan trọng nhất của các cấp chỉ huy trực tiếp tại mặt trận. Phải thi hành như thế nào giữa cái lệnh thượng cấp “bằng mọi giá” mà cái giá là sinh mạng của người lính? Mạng sống của người lính kéo theo mạng sống của gia đình vợ con họ ở hậu phương. Đành rằng nhiệm vụ của người lính là hy sinh để bảo vệ Tổ Quốc, nhưng thượng cấp ở tuyến sau, ở hậu phương cứ nhắm mắt ra lệnh bắt lính tại chiến trường hy sinh một cách không cần thiết, hy sinh vô ích cho một mục tiêu không đáng, hay mục đích cá nhân của người ra lệnh thì quả thật lệnh này là lệnh-lạc.
Tình hình địch trên đảo không rõ ràng, không cung cấp phương tiện đổ bộ nhưng lệnh ra thì phải thi hành, mà tôi là cấp chỉ huy trực tiếp tại mặt trận, sống chết của đồng đội, của thuốc cấp nằm trong tay tôi, phải thi hành như thế nào đây? Mạng sống của con người, kể cả hai phía ta và địch đâu phải là con giun con trùng, thượng cấp ở hậu phương đâu có đẻ ra chúng tôi, đâu có biết mạng sống quý như thế nào? Do đó tôi yêu cầu HQ sẵn sàng và chỉ trực xạ và bắn tối đa lên mục tiêu khi có súng của địch quân từ trên đảo bắn vào TQLC chúng tôi đang lội nước, đạp lên đá san hô tiến vào bờ.
Chúng tôi đổ bộ xuống, tiến quân rất chậm và khó vì bước trên đá san hô. Khi đến gần bờ thì nước lại sâu nên tiến quân không nhanh được, có nơi chúng tôi phải kéo binh sĩ lên khỏi những vũng sâu.

Vừa tiến quân vừa hồi hộp, nếu lúc này có tiếng súng nổ, dù chỉ một vài cây AK trên đảo bắn ra thì TQLC chịu trận nằm giữa 2 lằn đạn. đạn của địch từ trên dảo bắn ra và hải pháo của quân bạn HQ từ ngoài biển tác xạ vào, thương vong chắc chắn là lớn với cái lệnh là “bẳng mọi giá”! Mà cái giá là chính thân xác của anh em TQLC chúng tôi.

Rất may mắn, phải gọi là may mắn chứ không thể nói là tài ba, lính TQLC không phải là mình đồng da sắt mà bắt xung phong vào lửa đạn, đã không có một tiếng súng nổ khi chúng tôi hô “xung phong” ào ạt tiến lên đảo, bắt được tất cả là 60 “thanh niên” không trang bị vũ khí, rồi đưa ra chiến hạm của Trung úy An bằng xuồng của Trung cộng.

Tôi suy nghĩ đây không phải là thường dân Trung Cộng mà là dân quân, chắc chắn chúng phải có vũ khí, nhưng chúng đã chôn dấu kỹ để khỏi lộ diện là mang quân đi xâm lăng nước láng giềng mà chỉ là giả dạng thường dân đi tha phương “cẩu sực” mà thôi, ngoài ra còn có mục đích để dò phản ứng của VNCH và Hoa Kỳ nữa. Vì vào thời điểm này TC còn quá yếu so với HK. Nghĩ vậy, nhưng đó là chuyện của thượng cấp, còn tôi chỉ là cấp đại đội trưởng TQLC đã hoàn tất nhiệm vụ, đã bắt được “dân TC” trên đảo, có nghĩa là đã thi hành nhiệm vụ xong, không tốn một viên đạn, máu TQLC có chảy nhưng do san hô đâm. Chúng tôi để nguyên hai dẫy nhà đã xây cất 5 hay 6 tháng rồi, chúng tôi chỉ tịch thu lá cờ Trung Cộng mà thôi.
Sau đó chiến hạm cũng phát giác quanh đảo Ducan thêm 5 ghe nữa, chúng tôi đuổi theo bắt được và kéo về đảo chính Pattle nơi Đại Đội 3/TĐ.2/TQLC đóng quân, còn hơn 60 “dân TC” thì đem về Đà Nẵng.
Chiều hôm đó Thiếu Tá Lê Như Hùng CHT/TQLC đã dùng máy bay Dakota (C47) bay vòng vòng trên đảo Pattle để khuyến khích khen ngợi tinh thần anh em binh sĩ, vì ở Hoàng Sa không có sân bay.

Một tuần sau, số người bị bắt trên ghe được đưa trở ra đảo Pattle và thả họ cùng trả mấy chiếc ghe lại cho họ. Còn 60 dân (quân) TC bắt được trên đảo Ducan thì một tháng sau trao trả sang Hồng Kông. Và sau đó thì TQLC chỉ đóng quân trên 2 đảo Pattle và Robert mà thôi, không có ai đóng quân trên đảo Ducan nữa.

Tôi xin nhắc lại là vào thời điểm 1959, theo tôi nghĩ thì TC chỉ muốn dò phản ứng của VNCH ra sao mà thôi, vì khi đó TC chưa đủ mạnh để “bắt nạt” các quốc gia trong vùng, và nhất là đối với HK, đồng minh của VNCH, có lực lượng hải quân hùng mạnh trên biển Đông nên TC chưa thể ngang nhiên đem quân xâm chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chưa thể ngang nhiên vẽ cái “lưỡi bò” trên biển Đông như ngày nay.

Thời điểm sau 30/4/75, không còn VNCH, không còn Mỹ mà chỉ còn chư hầu là XHCNVN với 15 tên đầu sỏ trong bộ chính trị của đảng CSVN sẵn sàng làm tay sai, dâng đất liền, dâng biển cả, dâng mồ mả tổ tiên cha ông lên quan thầy TC.

Cái gọi là câu khuôn vàng thước ngọc của CSVN là:
“Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu, các nước anh em giúp đỡ nhiều” Thì nay còn đâu? Con dân Việt bắt tôm cá ở cái “biển bạc” của nước mình thì bị tầu-Tầu giúp đỡ bằng cách đâm cho chìm mà bọn cầm quyền CSVN sợ, không dám nói là tàu-Tầu mà bẩu rằng tầu lạ! Thế mới là chuyện lạ.
Thế còn “rừng vàng” thì sao? Bất chấp sự phản đối của các tầng lớp trí thức công nông dân, bộ chính trị CSVN vẫn ngang nhiên cho TC, “nước anh em giúp đỡ nhiều” bằng cách cho chúng đem nhân công và máy móc vào Tây Nguyên VN khai thác bô-xít mà hậu quả vô cùng tai hại cho các thế hệ mai sau. Ngay trước mắt, rừng Cao Nguyên không còn là lá phổi, đất Tây Nguyên không còn, mà chỉ còn lại là những đồi trọc, bãi bùn lầy chất thải bô-xít thì lấy gì điều hòa khí hậu, lấy gì điều hòa lưu lượng nước mưa? Hạn hán và lũ lụt là hậu quả đương nhiên phải xảy ra, đó đâu phải là thiên tai, mà là nhân tai, tai nạn khôn lường do 15 tên BCT gây ra cho toàn dân VN.
Bất chấp sự kêu than phản đối của người dân, VC ngang nhiên cho TC “thuê” đất rừng biên giới, đầu nguồn để trồng cây “kỹ nghệ” trong thời hạn ban đầu là 50 năm, là 1/2 thế kỷ ! Chuyện gì đang xảy ra và sẽ xẩy ra?

Rừng rậm biên giới, đầu nguồn bị đào xới tận gốc, bóc tận rễ để trồng cây kỹ nghệ, (thuốc phiện, cần sa ma túy, ai mà biết), không còn rừng để giữ nước, điều hòa lưu lượng nước mưa, hậu quả nhãn tiền là hạn hán và lũ lụt trong tích tắc, (như bo-xít Tây Nguyên). Vừa mưa là lụt, lũ cuốn trôi tấ cả tài sản và sinh mạng. Nhưng mưa vừa ngưng là hạn hán, khô sông, khô đồng, toàn dân hả họng kêu “khát”.

Nhãn tiền là thế, còn họa diệt vong thì lởn vởn trước mắt. Thời hạn 50 năm, TC đem dân sang “tạm cư” đất Việt để trồng rừng cây kỹ nghệ, để săn sóc cây kỹ nghệ và lẽ tất nhiên chúng phải “trồng người”. Bản chất quân Tàu đẻ như gà, nhưng để tránh nạn nhân mãn thì dân trong nước của chúng chỉ đẻ phép MỘT con, còn dân “tạm cư trồng rừng” trên đất Việt thì tha hồ đẻ!

Hãy tưởng tượng 50 năm sau, khi đã hết hạn thuê rừng thì cái đám di dân này là bao nhiêu? Như đàn kiến cỏ nói tiếng Tầu, ăn cơm Tầu, reo rắc khắp đó đây những mần sống “ghẻ Tàu” thì những rừng VN sẽ lở loét sẽ là những phố Tàu, huyện Tàu với chữ Tàu! Lúc đó không còn là tàu lạ mà là Tàu cha CSVN!
ĐAU! ĐAU! ĐAU!
Hỡi dân Việt, mau mau đứng dậy.

Mũ Xanh Cổ Tấn Tinh Châu.

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

BỐ TÔI, NGƯỜI LÍNH VNCH
Tôi có một người cha già, lại tàn tật, cụt một chân. Khi tôi sinh ra đời bố tôi cũng đã gần 50 tuổi. Trong một thời gian dài, bố tôi đóng vai trò của một người mẹ, tuy di chuyển khó khăn, nhưng ông lo lắng cho tôi không còn thiếu một thứ gì. Bạn bè thường gọi là “Ông nội trợ” và khen là đàn ông mà bố tôi có đầy đủ các đức tính của người phụ nữ Á đông “công, dung, ngôn, hạnh”, nuôi con khéo léo không ai bằng.

Hồi còn bé, tôi không hiểu được, vì sao không phải mẹ tôi, mà bố tôi luôn luôn ở nhà chăm sóc cho tôi. Từ từ tôi mới nhận ra, trong đám bạn bè, tôi là người duy nhất luôn luôn có người bố bên cạnh. Thiếu tình mẹ, tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy an ủi, mình là người rất may mắn, còn hơn nhiều đứa trẻ thiếu cả tình thương của cha lẫn mẹ.

Sau này tìm hiểu thì tôi biết, bố tôi là một lính VNCH, bị thương trên chiến trường, được mẹ tôi bảo lãnh theo diện đoàn tụ, bà lo cho ông hưởng tiền trợ cấp tàn phế. Lúc tôi được hơn 3 tuổi, bố tôi và mẹ tôi ly dị, bà đã lập gia đình với một người đàn ông khác, nhường tôi lại cho bố tôi nuôi. Trong ký ức trẻ thơ, tôi có hình dung được hình ảnh của mẹ tôi một vài lần, khi bà đến thăm, nhưng rất xa lạ, vì luôn luôn bà đi với một người đàn ông nhìn tôi với ánh mắt lạnh lùng.

Tôi có tí mặc cảm về địa vị bố tôi ngoài xã hội, so với bố của những đứa trẻ khác, tuy nhiên việc chăm sóc tôi thì hoàn hảo, ông chăm lo cho tôi từ việc lớn đến việc nhỏ, không phải đụng tay vào bất cứ thứ gì. Trong suốt thời gian tôi học tiểu học, ông còn thuyết phục ông tài xế xe bus đón tôi đi học ngay tại cửa nhà, thay vì ở trạm xe , cách xa nhà tôi 4 dãy phố. Khi tôi bước vào nhà, lúc nào bố tôi cũng chuẩn bị sẵn thức ăn trưa, nào cá kho, thịt kho, rau xào và có cả canh nữa. Lâu lâu cũng có thức ăn Mỹ, sandwich, hamburger, bơ đậu phộng, và còn thay đổi theo mùa. Giáng Sinh bánh có viền xanh hình cây thông, Valentine có hình trái tim..vv…
Khi tôi lớn hơn một chút, vào năm đầu tiên trung học, tôi lại thích sống độc lập, tôi muốn thoát ra những cử chỉ yêu thương dành cho con nít của bố, vì sợ chúng bạn trêu chọc. Nhưng chẳng bao giờ bố buông tha tôi cả, một đôi khi tôi rất bực mình.

Cấp trung học, tôi không thể về nhà ăn cơm được nữa, phải bắt đầu tập tự lo cho mình. Nhưng bố tôi lại thức dậy sớm hơn thường lệ để chuẩn bị bữa ăn trưa cho tôi. Ông cẩn thận ghi cả tên tôi bên ngoài túi giấy đựng đồ ăn. Lật dưới đít bao giấy, luôn luôn có một vài hình vẽ nhỏ, khi thì căn nhà, khi thì dòng suối, ngọn núi, chim cá và hình trái tim với dòng chữ “I Love You Tammy!” Nào hết đâu, bên trong những chiếc khăn giấy cũng có những dòng chữ triều mến “Bố thương con nhiều”. Ông luôn viết, hay có những câu nói bông đùa như thế để nhắc nhở là ông yêu thương tôi nhiều, và muốn làm cho tôi vui.

Tôi thường lén ăn trưa một mình để không ai thấy được cái túi giấy và khăn ăn. Nhưng cũng chẳng giấu được lâu. Một hôm, một đứa bạn tình cờ thấy khăn ăn của tôi, nó chộp lấy la lên và chuyền đi khắp căn phòng cho mọi người xem. Mặt tôi nóng bừng, bối rối, mắc cỡ muốn chui đầu xuống đất.

Bữa hôm đó tôi về, đã làm mặt giận với bố tôi và “cấm” ông ấy không được viết, vẽ “bậy bạ” trên khăn giấy nữa, để bạn bè không coi tôi như đứa con nít lúc nào cũng cần người lớn chăm sóc. Lần đầu tiên tôi thấy bố tôi buồn, lặng lẽ vào phòng đóng cửa.

Ngày hôm sau, tôi vô cùng ngạc nhiên vì tất cả bạn bè bu chung quanh tôi, chờ để được xem chiếc khăn ăn, nhưng lần này thì trống trơn, không có dòng chữ hay hình vẽ gì cả. Nhìn mặt bọn chúng thất vọng, hụt hẫng, tôi mới hiểu ra, tất cả chúng nó đều mong ước có một ai đó biểu lộ tình thương yêu ngọt ngào giống vậy đối với chúng. Lúc đó lòng tôi len lén cảm thấy vui vui, dâng lên niềm tự hào về bố. Tôi vội về làm lành với bố, và những giòng chữ, những hình vẽ yêu thương lại tiếp tục.

Những năm còn lại trong trường trung học, tôi vẫn đều đều có những chiếc khăn đặc biệt ấy. Và từ đó, tôi giữ lại, chứa trong một cái hộp riêng, giấu kín.
Chưa hết, khi vào đại học, tôi phải rời xa bố, tôi nghĩ thông điệp xưa kia của bố sẽ phải chấm dứt. Nhưng tôi và bạn bè rất vui sướng vì những cử chỉ biểu lộ tình cảm của bố tôi vẫn tiếp tục qua hình thức khác.
Ở cấp đại học, dĩ nhiên không còn thấy bố tôi đứng chờ khi tan học, vì thế, tôi hay gọi điện thoại cho ông, chi phí điện thoại khá cao, nhưng không sao, tôi chỉ muốn nghe được giọng nói của ông mà thôi.
Suốt năm học đầu tiên, chúng tôi quen lối nói chuyện như thế và sau đó kéo dài một năm. Thường thì sau khi tôi nói lời tạm biệt, câu cuối cùng không bao giờ thiếu.

“Này Tammy”
Tôi thường trả lời “Dạ, gì thế bố?”
“Bố thương con nhiều.”
“Con cũng thế. I Love You!”
Hình như bố tôi nhận ra chi phí mắc mỏ cho những cuộc điện đàm, từ đó, tôi bắt đầu nhận thư mỗi thứ sáu. Ban thường trực phát thư của trường đều biết ai là người thường gửi lá thư này, mặc dù địa chỉ hồi âm luôn luôn ghi là KBC 1678. (Sau này tôi khám phá ra, KBC viết tắc là Khu Bưu Chính, địa chỉ trong quân đội ngày trước nơi bố tôi phục vụ. Còn số 1678 dễ quá, là số nhà tôi hiện tại.)

Nhiều lúc bên ngoài bì thư, địa chỉ được viết bằng bút chì và tiếp theo đó là những lá thư có hình con mèo và con chó của gia đình tôi, có vẽ những hình tháp nhiều từng, hình cây cầu nhiều nhịp in trên sóng nước. Hè năm đó, bố tôi và tôi du lịch về Việt Nam, lúc đó tôi mới biết là Chùa Một Cột, Chùa Thiên Mụ, Cầu Tràng Tiền v.v…

Sau chuyến du lịch ấy, tôi tìm hiểu về Việt nam nhiều hơn, nhất là cuộc chiến tranh trước 75, tôi bắt đầu thấy thương bố nhiều, ông là người lính bại trận, nhưng quân lực ấy đã chiến đấu dũng cảm cho tự do, cho hạnh phúc của người dân miền Nam trong suốt 20 năm. Nếu không bị đồng minh bán đứng, cuộc chiến chưa chắc ai thắng ai.

Thư đến và được phát mỗi ngày sau buổi ăn trưa. Tôi thường đi nhận thư và mang theo mỗi khi đi uống cà phê. Tôi nhận thấy chẳng cần phải giấu giếm làm gì nữa, bởi bạn cùng phòng tôi là những đứa bạn hồi còn trung học, chúng nó biết rất rõ về những chiếc bao giấy, khăn ăn. Và rồi trở thành như một tập tục, tôi đọc thư, còn bì thư và hình vẽ thì được chuyển khắp bạn bè, thư từ bố tôi thành niềm vui của cả phòng.

Trong năm cuối cùng đại học, bố tôi bị căn bịnh ung thư hành hạ. Mỗi khi tôi không nhận được thư vào ngày thứ sáu, tôi biết ông ốm nặng, không thể viết được. Ông thường thức dậy lúc 4 giờ sáng để có thể ngồi trong nhà yên tĩnh nắn nót viết những lá thư. Nếu không kịp cho đợt phát thư vào thứ sáu, thì chỉ sau đó, một hai ngày, thế nào rồi thư cũng đến. Bạn bè tôi bình bầu ông là “Người cha thương con nhất trên thế giới này!”

Ngày lễ cha, Father’s Day, chúng nó gởi một tấm thiệp phong tặng ông danh hiệu đó và tất cả đều ký tên trên tấm thiệp. Tôi tin rằng ông đã dạy cho tất cả chúng tôi về tình phụ tử, bạn bè tôi bắt đầu nhận những tấm khăn ăn giống như tôi từ gia đình chúng nó, với những lời để lại ấn tượng mà sẽ thôi thúc họ hãy biểu hiện tình thương của họ với con cái sau này.
Suốt thời gian đại học, những lá thư và những cú điện thoại như một chu kỳ đều đặn.

Ngày ra trường, tôi quyết định chọn công việc làm gần nhà, để được ở cạnh bố tôi, vì căn bệnh bố càng ngày càng nặng. Thời gian được ở gần bố không còn bao nhiêu lâu nữa.
Đó là những giây phút khó khăn, đau khổ nhất cuộc đời tôi phải trải qua.
Tôi ở bên cạnh bố tôi một vài ngày trong bệnh viện trước khi ông mất. Vài giờ trước khi hấp hối, ông nắm tay tôi bảo “Bố nhờ con một điều, con về nhà lấy cho bố cái hộp gỗ mà bố để trên đầu tủ, đây là hộp chứa đựng những kỷ niệm đời lính mà bố yêu thương nhất. Bố muốn nhìn nó lại một lần.”

Tôi lái xe về nhà, và cũng tìm ra ngay chiếc hộp phủ đầy bụi thời gian. Có gì bên trong? Tôi tò mò mở nắp hộp. Mắt tôi bắt đầu cay cay nhòa lệ, khi nhìn thấy những tấm hình của bố tôi còn trẻ, trong những bộ quân phục thật oai phong. Có những tấm cầm súng đằng sau chiến trường còn bốc mùi lửa khói. Lật ra đàng sau, những ngày tháng cũ, 68, 70, 71, 72… với những địa danh xa lạ: An Lộc, Bình Long, Đồng Xoài, Khe Sanh… Dưới đáy hộp là căn cước quân nhân, giấy giải ngũ và những tấm huy chương, bộ lon gắn trên cổ áo khi ông mặc những bộ quân phục.

Bây giờ thì tôi mới hiểu hết, không còn mặc cảm hình ảnh có ông bố tàn tật chỉ biết lo việc “nội trợ”, ngược lại là đàng khác, Bố tôi đã một thời là một người lính chiến oai hùng, đổ máu hy sinh một phần thân thể mình cho một cuộc chiến đầy chính nghĩa, bảo vệ quê hương.

Rõ ràng bố tôi chăm sóc tôi, vui vẻ làm những việc của người phụ nữ bao nhiêu năm nay, chỉ vì tình thương con mà thôi. Ông thật là người cha tuyệt vời
Tôi ôm cái hộp, chạy gấp lại bệnh viện, định nói lời xin lỗi với người cha thân yêu của mình, nhưng đã trễ! Người y tá trực cho biết, bố tôi vừa trút hơi thở cuối cùng. Rồi người y tá trao cho tôi chiếc khăn giấy nhà thương, với giòng chữ cuối cùng run rẩy của một người cha dành cho con “Tammy, ba thương con nhiều! Vĩnh biệt!”

Nước mắt tôi trào ra như suối, cầm tấm khăn giấy trong tay áp vào ngực, tấm khăn giấy cuối cùng, mà cả cuộc đời mãi mãi không còn nhận được nữa.
Lúc liệm xác, tôi bỏ theo chiếc hộp kỷ niệm đời lính vào hòm cho bố, còn những chiếc khăn giấy tôi sẽ giữ mãi bên cạnh cả cuộc đời tôi.
Bây giờ thì những chiếc khăn giấy đã đổi màu vàng khè, nhưng tình tôi dành cho người bố càng ngày càng thấm thiết, bất diệt, muôn đời không thay đổi.
Happy Father’s Day
Mừng Ngày Của Bố
Mừng ngày Quân Lực 19/6/2011

Hải Lê

Post Reply