Thursday, June 02, 2011 7:32:51 PM
WASHINGTON (NYT) - Từ khi Tổng Thống Franklin Delano Roosevelt đắc cử tổng thống nhiệm kỳ nhì năm 1936 cho đến nay,
chưa có tổng thống nào đắc cử lần hai khi mức thất nghiệp trong nước lên đến hơn 7.2% vào ngày bầu cử.
Tại một hội chợ việc làm ở Nebraska, người tìm việc điền đơn và phỏng vấn tại chỗ với giới chủ nhân.
Tình hình việc làm có thể sẽ là yếu tố quyết định trong kỳ bầu cử tổng thống năm tới. (Hình: AP Photo/Nati Harnik)
Nay chỉ còn 17 tháng nữa là đến ngày bầu cử tổng thống tới, tình hình cho thấy là ông Obama phải làm sao để vượt qua chiều hướng lịch sử này mới giữ được việc làm của mình.
Hiện khoảng 9% người dân Mỹ muốn đi làm mà không tìm ra việc. Các công ty giảm bớt mức độ cho nhân viên nghỉ việc, nhưng mức nhận người lại vẫn còn rất chậm chạp. Và đa số các nhà tiên đoán tình hình kinh tế, kể cả các cố vấn của tổng thống, đều cho rằng chỉ có những tiến triển khiêm nhượng từ nay đến tháng 11 năm 2012.
Các con số mới nhất về tình hình công ăn việc làm, dự trù được công bố ngày Thứ Sáu, có thể sẽ tạo thêm mối lo ngại về lãnh vực này. Các chỉ dấu cho thấy mức độ phát triển kinh tế đang trì trệ. Các dữ kiện yếu kém về mức sản xuất kỹ nghệ, tiên đoán không lấy gì là sáng sủa về việc làm loan tải từ ngày Thứ Tư và mức sút giảm trong số xe mới bán được khiến thị trường chứng khoán tụt dốc thảm hại nhất kể từ tháng 8 năm ngoái đến nay và sự lo ngại này cũng ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Á Châu ngày sau đó.
Tuy nhiên, giới chức ở Washington có vẻ không còn có thể làm gì hơn nữa để thay đổi thực tế đen tối của tình trạng thất nghiệp khắp nơi.
Quỹ Dự Trữ Liên Bang (Fed) coi như không còn ý hướng bơm tiền vào thị trường. Nhìn về Quốc Hội thì lại càng thấy khó có hành động gì. Cả hai phía Dân Chủ và Cộng Hòa đều thấy rõ nhu cầu phải tạo ra việc làm nhưng lại chọn hai hướng khác nhau và chẳng tiến triển là bao.
Phía Cộng Hòa đưa ra các điều kiện đòi hỏi phải cắt giảm nhiều trong sự chi tiêu của chính quyền liên bang, vốn theo họ sẽ khuyến khích đầu tư của doanh nghiệp tư nhân. Phía Dân Chủ lo ngại các cắt giảm này sẽ làm có thêm nhiều người thất nghiệp, tìm cách giảm thiểu hay trì hoãn các cắt giảm này.
Thành phần lãnh đạo đảng Cộng Hòa tại Hạ Viện nói thẳng với Tổng Thống Obama trong cuộc họp hôm Thứ Tư ở tòa Bạch Ốc rằng họ sẽ không ủng hộ việc có một đợt chi tiêu mới để kích thích kinh tế.
Có hơn 13.7 triệu người Mỹ kiếm không ra việc làm trong tháng 4; phần lớn đã đi kiếm việc từ nhiều tháng qua. Hàng triệu người khác mất hy vọng và không kiếm việc nữa. Các nghiên cứu cho hay càng thất nghiệp lâu thì lại càng khó kiếm việc. Sự kiện không làm ra tiền không chỉ là một vấn đề cá nhân, điều này cũng có ảnh hưởng và tạo thêm gánh nặng cho gia đình họ, cho các tổ chức từ thiện và cho các chương trình hỗ trợ của chính phủ.
Quỹ Dự Trữ Liên Bang, ngân hàng trung ương của nước Mỹ, có khả năng và có nhiệm vụ giảm mức thất nghiệp bằng cách đổ tiền vào nền kinh tế.
Nhưng nay giới lãnh đạo ngân hàng trung ương này cho hay họ ngần ngại không muốn lập lại hành động “kích thích kinh tế” này. Chủ tịch Fed, ông Ben S. Bernanke, cho hay hồi tháng 4 rằng đổ thêm tiền ra chưa chắc sẽ gia tăng mức phát triển kinh tế mà lại có thể gặp nguy cơ đẩy mạnh lạm phát.
Eric S. Rosengren, chủ tịch Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang ở Boston, cho hay trong một cuộc phỏng vấn mới đây rằng Fed đã đến mức giới hạn của trách nhiệm về chính sách của họ.
Có 10 tổng thống đã tái tranh cử nhiệm kỳ nhì từ thời Tổng Thống Roosevelt. Trong bốn trường hợp mức thất nghiệp lên quá 6% trong ngày cử tri đi bầu, có ba tổng thống thất cử là Gerald Ford, Jimmy Carter và George H.W. Bush. Nhưng Tổng Thống Ronald Reagan tái đắc cử dù rằng mức thất nghiệp vào tháng 11 năm 1984 ở mức 7.2%, vì mức này đang tụt xuống và do đó cử tri nhận định rằng ông đang giải quyết được vấn đề.
Chính phủ Obama cũng hy vọng lần này cử tri sẽ có nhận định tương tự.
Tòa Bạch Ốc đang theo đuổi một số biện pháp như thuyết phục Trung Quốc mua thêm hàng hóa và dịch vụ của Mỹ, tăng sự tin tưởng của giới doanh gia vào tình hình kinh tế, thúc đẩy đầu tư mới và thương thảo với phía Cộng Hòa để sửa đổi thuế công ty.
Nhưng những nỗ lực này sẽ có tác dụng như thế nào đối với tình trạng thất nghiệp hiện là vấn đề chưa ai nhìn thấy rõ ràng. (V.Giang)



