Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Đàn ông cả đời đi tìm không phải là Vợ, cũng không phải là Người Tình...! Thế nào là Vợ ? Vợ là người con gái mà bạn tình nguyện giao cả gia tài cho cô ấy cất giữ.

Thế nào là Người Tình ? Người Tình là người con gái mà bạn hẹn hò vụng trộm với cô ấy và sợ Vợ phát hiện.

Thế nào là Hồng Nhan Tri Kỷ ? Hồng Nhan Tri Kỷ là người con gái mà bạn có thể nói với cô ấy tất cả mọi bí mật kể cả điều mà bạn không thể nói được với Vợ hay Người Tình.

Vợ là một sự ràng buộc, ràng buộc bạn không thể tuỳ tiện cặp bồ với một người con gái khác ; Người Tình là một sự bù đắp, bù đắp cho bạn những tình cảm mãnh liệt mà ở người Vợ còn thiếu hoặc bạn không tìm được ở người Vợ ; Hồng Nhan Tri Kỷ là sự chỉ rõ, chỉ rõ sự mê say trong trái tim bạn.

Vợ sống cùng bạn từng ngày, Người Tình tiêu tiền cùng bạn, Hồng Nhan Tri Kỷ nói chuyện cùng bạn. Vợ không thể thay thế Người Tình, vì Vợ không điều khiển được tình cảm như Người Tình ; Người Tình không thể thay thế Vợ, vì Người Tình không có được tình thân như Vợ ; Vợ và Người Tình đều không thay thế được Hồng Nhan Tri Kỷ, vì đó nhu cầu của tâm linh.

Vợ là người con gái không hề có chút quan hệ máu mủ nào với bạn nhưng lại bồn chồn mong nhớ mỗi khi màn đêm đã xuống mà bạn chưa về nhà ; Người Tình là người con gái không hề có chút quan hệ gia đình với bạn nhưng lại làm cho bạn thoả mãn mùi vị ái tình của đấng nam giới ; Hồng Nhan Tri Kỷ là người con gái chẳng có quan hệ gì với bạn cả nhưng lại có thể chia sẻ với bạn những vui buồn phiền muộn, Vợ là một ngôi nhà, là một bến cảng mang cho trái tim nông nổi của bạn sự vỗ về an ủi ; Người Tình là gánh nặng của ngôi nhà, chẳng qua chưa đến nỗi vạn bất đắc kỷ, bạn không muốn vứt bỏ ; Hồng Nhan Tri Kỷ là vật tô điểm cho ngôi nhà, không có cô ấy bạn không thấy cô đơn, nhưng bạn sẽ cảm thấy cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì.

Sự quan tâm của người Vợ như một ly nước lọc, có lúc trở thành sự lảm nhảm, chỉ khi bị ốm mới trở thành sự ôn hoà ; sự quan tâm của Người Tình như cốc nước lọc đó bỏ thêm chút đường, dần dần qua một đêm rồi mà vẫn chưa thoả mãn ; sự quan tâm của Hồng Nhan Tri Kỷ giống như cốc cafe khi bạn đang làm việc lúc nửa đêm, càng uống càng tỉnh.

Khi Vợ có bầu thì sẽ hỏi bạn muốn có con gái hay con trai một cách rất tình cảm ; khi Người Tình có bầu với bạn thì sẽ khóc và hỏi bạn phải làm sao bây giờ ? đối với Hồng Nhan Tri Kỷ, bạn sẽ kể cho cô ấy nghe chuyện Người Tình của bạn có bầu và sẽ hỏi cô ấy bạn nên làm thế nào. Ngay đối với người Vợ, chỉ sau khi bị cô ấy phát hiện bạn mới nói rằng "Thật ra, anh đã muốn nói với em sớm hơn" sau đó cố gắng hết sức để giải thích, và giả bộ rất đáng thương.

Khi Vợ về nhà mẹ đẻ một tuần không quay lại bạn cũng không thấy nhớ ; khi Người Tình mới 3 ngày không gặp bạn liền gọi điện cho cô ấy : Em đi đâu đó ? Tối nay chúng mình đến nơi cũ uống cafe được không ? Khi trong lòng cảm thấy buồn khổ, bạn chỉ muốn tìm Hồng Nhan Tri Kỷ để trò chuyện, nói với cô ấy chuyện vận mệnh của bạn giữa Vợ và Người Tình, thực tế không thể chịu đựng được nữa.

Cái mà làm đàn ông không chịu nổi đó là sự lảm nhảm của người Vợ, nước mắt của Người Tình và sự hiểu lầm của Hồng Nhan Tri Kỷ. Sự lảm nhảm của người Vợ làm đàn ông thấy đã rối cả lòng lại càng thêm rối hơn, nước mắt của Người Tình làm cho trái tim của đàn ông mềm yếu hơn, sự hiểu lầm của Hồng Nhan Tri Kỷ làm cho đàn ông thấy bị tổn thương, hụt hẫng.

Người Vợ tốt nhất là người mà đàn ông có thể tìm thấy ở cô ấy Người Tình và Hồng Nhan Tri Kỷ, chỉ là cảm giác thôi mà đàn ông khó có thể tìm thấy. Người Tình tốt nhất là người mà khi mối quan hệ của bạn và cô ấy bị Vợ bạn phát hiện, cô ấy sẽ chủ động rút lui mà không có một yêu cầu gì hết, nhưng khó mà tìm được điểm này của Người Tình. Hồng Nhan Tri Kỷ tốt nhất là người đến một ngày nào đó sẽ trở thành Người Tình, thậm chí thành Vợ của bạn, chỉ là cái suy nghĩ này chẳng có chút hiện thực gì cả.

Nếu như có thể, đàn ông rất muốn biến Hồng Nhan Tri Kỷ thành Người Tình, nếu có thể nữa thì sẽ muốn cô ấy thành người Vợ. Nhưng nếu Hồng Nhan Tri Kỷ trở thành Vợ rồi thì sẽ không còn là tri kỷ nữa, bởi vì rất ít đàn ông muốn biến Vợ thành tri kỷ. Trái tim đàn ông có rất nhiều bí mật không thể tuỳ tiện nói cho Vợ nghe, không thế thì làm sao gọi là đàn ông nữa.

Lấy Vợ là vì sợ người khác nói ra nói vào, tìm một Người Tình là vì muốn thêm chút gia vị vào để điều chỉnh cái cuộc sống tẻ nhạt, muốn có Hồng Nhan Tri Kỷ vì muốn tưới cho tâm hồn trống rỗng của họ một chút canh tươi.

Đàn ông cả đời đi tìm không phải là Vợ, cũng không phải là Người Tình mà là Hồng Nhan Tri Kỷ (*).

Giao Chỉ_ San Jose

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Phụ nữ thấy mình xấu nhất khi 46 tuổi

Phái đẹp cảm thấy mất tự tin về vẻ ngoài của mình khi bước vào tuổi trung niên và lo sợ "nửa kia" sẽ chán mình, một khảo sát tại Anh tiết lộ.

Theo The Sun, chị em bắt đầu thấy tiếc nuối tuổi thanh xuân bởi tin là, khi họ ở tuổi đó, đàn ông không còn chú ý đến mình nữa và những ý kiến họ đưa ra thường bị phớt lờ.

Kết quả cuộc khảo sát thực hiện với 2.000 phụ nữ trên 40 tuổi tại Anh cũng chỉ ra rằng 46 là tuổi trung bình mà sự tự tin của người phụ nữ đạt mức thấp nhất - đi kèm với đó là cảm giác bất an khi mái tóc bắt đầu đổi màu và những nỗ lực để giảm cân đều khó thành.

Theo Tạp chí Atho, nhiều phụ nữ ở tuổi này cũng thổ lộ, họ ít nhận được lời khen cũng như các hành động ga lăng từ người khác giới. Khi tới các cửa hàng hay quán ăn uống, họ cũng không nhận được sự chú ý từ các nhân viên ở nơi này.

Tuy nhiên, theo tiến sĩ Gareth Steer, đại diện nhóm nghiên cứu từ một bệnh viện về nhãn khoa ở Anh, khi bước vào độ tuổi 60, phụ nữ bắt đầu lấy lại được sự tự tin, khi họ quen dần với quá trình lão hóa và làm chủ lối sống của mình.

Minh Thùy

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Con ếch chịu nóng

Image
Biển Đông đang "nổi sóng".....Con ếch VN chịu nóng hay !


Đến nay, chúng ta đã tìm thấy bằng chứng rằng cách đây 30 năm, Trung Quốc đã âm thầm và có âm mưu chiếm biển Đông, đưa ra cả yêu sách "Đường đứt đoạn 9 khúc" vào các bài báo khoa học, có nghĩa là họ đã đi trước nhiều bước hơn chúng ta tưởng.

Qua các bài báo xuất bản ra thế giới chúng ta thấy rằng các tác giả Trung Quốc đã sử dụng bản đồ nước họ với đường lưỡi bò vô lý, ngay cả khi tính minh họa cho nghiên cứu không liên quan, ví dụ như khu vực nghiên cứu chỉ là các thành phố lục địa. Nhiều nhà khoa học Trung Quốc đã lập bản đồ quốc gia với "đường lưỡi bò" chiếm hầu hết biển Đông và công bố trên các tạp chí quốc tế từ cách đây 30 năm. Mặc dù trong các công bố khoa học này, họ chỉ đưa "hình lưỡi bò" một cách "lập lờ", không đưa bất cứ chú thích cụ thể nào về đường chữ U trong bản đồ là đường gì, nhưng ảnh hưởng của nó đến cộng đồng quốc tế vẫn rất lớn vì được đăng trên các các tạp chí khoa học uy tín trên thế giới. Trong khi đó, các bài báo của các nhà khoa học Việt Nam được công bố trên các tạp chí khoa học trên thế giới đã vừa ít, thậm chí lại vừa sai.

Có ý kiến cho rằng nếu chúng ta cứ ngồi yên, và bị cảm giác cũng như thói quen cũ chi phối, chúng ta sẽ cảm thấy không có đe dọa (hoặc đe dọa quá nhỏ) thì đến một lúc nào đó sẽ vô cùng thiệt thòi, trở tay không kịp, sẽ lại phải chấp nhận những việc mà trước đó nhiều năm chúng ta không thể chấp nhận.

Nhiều người còn nhớ phương Tây có câu chuyện ngụ ngôn “con ếch chịu nóng”. Nếu thả con ếch vào chậu nước sôi thì nó nhảy ra ngay, còn nếu thả nó vào chậu nước lạnh rồi đun nóng từ từ thì nó sẽ không nhảy ra mà chịu nóng cho đến khi bị luộc chín. Điều đó có nghĩa là sự mất cảnh giác, ngộ nhận, tự ru ngủ, quen dần với mọi đe dọa thật là nguy hiểm, nó dẫn người ta tới chỗ bị bất ngờ và tất nhiên là thất bại.

Có người còn vạch rõ tư duy về biển Đông của Trung Quốc giống như hình ảnh của con cá mập khi đã xác định được con mồi của nó quyết đuổi đến cùng để thỏa mãn cơn đói.....VN faire attention !

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Lưới tình hay bẫy giăng?

*Ngọc Thiên Hoa
(Nguồn: Báo Tổ Quốc)

Kính chào quý độc giả!

Mùa Hè mang về nhiều gió xoáy, nóng ẩm trong khi tình hình thế giới vùng Trung Ðông, Bắc Phi và Biển Ðông đang hồi sôi sục.

Image
Cựu Tổng Giám Ðốc IMF Dominique Strauss-KaHn cùng vợ là Anne Sinclair bước vào tòa án tại Manhattan ở New York hồi tháng 6.
(Hình: AP Photo/Louis Lanzano)

Thêm vào đó, mạch máu kinh tế thế giới qua vụ ông Dominique Strauss-Kahn, tổng giám đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) sa vào mạng lưới tình, cũng là một trong những cơn bão nhân tạo “trời mưa, đất chịu.”

Kính cùng quý vị!

Những quả bom scandal bê bối tình dục luôn bùng nổ xung quanh những người đàn ông đầy quyền lực, giàu có và danh giá. Trường hợp đầy quyền lực như vụ cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton với cô đào Monica, Thủ Tướng Italia Silvio Berlusconi với gái điếm Patrizia D'Addario, cựu Tổng Thống Israel Moshe Katsav với thuộc cấp, cựu Thống Ðốc bang Cali Arnold Schwarzenegger với “Osin” Mildred Baena, Nghị Sĩ Anthony Weiner với những tấm hình khiêu dâm... Trường hợp giàu hạng đại tỷ phú như tay đánh golf Tiger Wood với 18 cô nhân tình. Trường hợp vừa có quyền lại có lực như ông Dominique Strauss-Kahn với cô hầu phòng. Ông Kahn từng là nghị sĩ Quốc Hội Pháp, giáo sư Ðại Học Stanford, bộ trưởng Tài Chánh và thoáng chốc đã trở thành... cựu tổng giám đốc IMF vì cái tội “thả dê” với cô hầu phòng khách sạn Sofitel tại New York. Bẫy giăng hay không?

Thưa quý độc giả!

Nhìn tổng quan, “mỡ treo miệng mèo” hay “ăn vụng quên chùi mép” hoặc “nổi máu dê” là chuyện dở cười, dở khóc của các ông. Xưa nay, “một trà, một rượu, một đàn bà” là sở thích của đám “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.” Trời đặt để cho đàn ông có máu “sơn dương” nhưng “thả dê’ lúc nào cho đúng và đúng thế nào mới hợp lẽ đời là một... chiến lược, chiến thuật của phái mạnh. Các trường hợp scandal tình dục thường dẫn tới thân bại danh liệt, tan cửa nát nhà, chà nát nhân phẩm, suy sụp tinh thần nhưng cũng có những vụ người ta cho qua. Chúng ta cũng hiểu vì sao, ông Bill Clinton vẫn được tại vị tại thời điểm đó. Ông Thống Ðốc Arnold Schwarzenegger vẫn được Liên Hiệp Quốc mời đọc diễn văn về năng lượng sạch. Ðó là tùy theo “những phút xao lòng” của các ông đáng được cho vào quả bóng thả lên trời hay không?

Với những kẻ “cùng ăn vụng còn la làng,” lợi dụng quả bom bẩn này để “đánh bóng” tên tuổi, hay kiếm chác tiền bạc như các cô, các bà “phản bội tình lang.” Còn các chính trị gia, các nhà lãnh đạo các nước tiến bộ chọn quả bom khủng bố này để loại bỏ những cái đinh “ứng cử viên” chính trị trong mắt. Trường hợp ông Kahn là cái đinh rỉ sét trong mắt đương kim Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy. Cái đinh này không nhổ đi, ắt ông Sarkozy phải đi bác sĩ để chích Vaccxine ngừa Tetanus. Khi mạng lưới chính trị tung ra, kẻ “có tiền mua tiên cũng được” như ông Kahn lại không mua được con dao tiên cắt lưới sắt mà tự thoát. Cũng như ông Luật sư-Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ có cái lưỡi thần giải án cho người nhưng chẳng uốn lưỡi phá án oan cho mình. Có người mắc oan, ngàn sau, lịch sử sẽ rửa sạch. Nhưng cũng có người nghìn sau mãi tiếng nhuốc nhơ. Xưa nay, cuộc đời con người đi qua 3 giai đoạn: thương trường, quan trường và chính trường. Thương trường và quan trường không đầy máu tanh bằng chính trường. Loại bỏ nhau bằng mọi thủ đoạn là nét độc nhất vô nhị để nhận ra ai là người của chính trường?

Kính cùng quý độc giả!

Chuyện bẫy giăng trong chính trường còn dài dài. Nếu ông Kahn không dính líu tới quan hệ tình dục với phụ nữ trong “backround” của ông, chúng ta còn có thể cảm thông người tài bị mắc bẫy như nai kia sa lưới, nhự nhạn nọ mắc tên. Thế nhưng xưa nay “đức thắng tài.” Con người đã mất tư cách đạo đức thì dù chẳng bị cái bẫy giăng của đối thủ, kẻ đó cũng chẳng còn tư cách để ngẩng mặt nhìn ai chứ đừng nói tới lãnh đạo một quốc gia hay đương nhiệm những chức vụ quan trọng bật nhất, nhì thế giới. Tình dục không xấu khi người ta yêu nhau thật lòng nhưng lợi dụng tình dục theo mức độ nào thì sẽ lĩnh bản án thích đáng cho mức độ đó. Ai cũng có nhược điểm. Thế nhưng, “Quyền-Tiền-Tình” là “Gót chân Asin” để đối phương đánh gục chúng ta trong tích tắc. Khi một nhân vật có “Gót chân Asin” bị điểm trúng, người đó gục ngã có lợi cho ai, kẻ đó chính là người giăng bẫy. Trường hợp ông Cù Huy Hà Vũ tranh đấu cho quyền lợi của đất nước đụng chạm tới chính trị nên chuyện ông bị bắt trong khách sạn với 2 bao cao su qua sử dụng là bẫy giăng. Còn ông Kahn cũng là bẫy giăng nhưng đáng tội cho kẻ thích đùa dai, ưng giỡn mặt với 2 chữ “đạo đức” và thích xài tiền “xả láng sáng về sớm.”

Thưa cùng quý độc giả!

Ở đời, sống làm người thường dân lương thiện rất khó mà làm “cửu ngũ chí tôn” khó gấp vạn. Không chăm chút nhân phẩm, chẳng gìn giữ lễ nghi, không phân biệt tôn ti, tiêu dùng tới tiền tỷ và ăn chơi hoan hỉ đấy chẳng còn là cái gì gọi là “cán bộ là đầy tớ của nhân dân.”Với chúng ta, khi soi mình vào chiếc gương thần, ta sẽ hiện nguyên hình là thần tiên hay ác quỷ là tùy vào sự tu nhân, tích đức của chúng ta đó. Thế giới nước ngoài tân tiến, tự do và văn minh mới có chuyện “bới bèo ra bọ” như vậy. Thực tế, chuyện lưới tình núp bóng tôn giáo kể làm sao cho xiết! So với Việt Nam và các nước chậm tiến, nếu quả bom scandal tình ái tung ra, chẳng có ai nhằm nhò gì. Hoặc giả có, sẽ chẳng còn ai ở trong guồng máy nhà nước. Thiệt thòi cấp... quốc gia chứ không phải chuyện đùa. Hy vọng những “cửu ngũ chí tôn” trong và ngoài nước không sa vào lưới nhạn như ông Kahn. Hãy có “những phút xao lòng” cho ngày dài thêm những lời thơ, cho đêm về bạn cùng nốt nhạc. Tất nhiên, xao lòng một phút rồi mang vào kỷ niệm chứ đừng mang vào trong thương trường, quan trường và chính trường, quý vị nhé!

Ngọc Thiên Hoa

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Người Việt Trên Đất Mỹ
Saturday, 02 July 2011
Theo kết quả kiểm tra dân số năm 2010 vừa được công bố, dân số người Việt đã tăng 38% ( thêm 425,921 đầu người ) trong thập niên 2000-2010. Số người Việt hiện ở Hoa Kỳ là 1,548,449, so với 1,122,528 năm 2000, 614,547 năm 1990, và 261,729 năm 1980. Vào thời điểm của cuộc kiểm tra dân số năm 1970 thì chưa có cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

Trong 10 năm từ 2000 đến 2010, dân số người Việt ở mọi tiểu bang đều gia tăng, ngoại trừ thủ đô Hoa Thịnh Đốn thì giảm sút 18% -- vì đời sống mắc mỏ, nhiều người Việt đã phải di dời sang tiểu bang Virginia và Maryland.

Vào thời điểm năm 2010 gần ¾ dân số Việt tập trung trong mười tiểu bang: California (37.58%), Texas (13.62%), Washington (4.30%), Florida (3.78%), Virginia (3.46%), Georgia (2.92%), Massachusetts (2.77%), Pennsylvania (2.52%), New York (1.86%), và Louisiana (1.83%).
Khu vực đông dân Việt Nam nhất vẫn là vùng Los Angeles – Long Beach – Santa Ana (271,234 người). Đông thứ hai là vùng San Jose – Sunnyvale – Santa Clara (125,774). Hạng 3 -5 gồm có: Houston – Sugar Land – Baytown (103,525), Dallas – Fort Worth – Arlington (71,839), và Washington DC – Arlington – Alexandira với (58,767).
Thành phố đông dân Việt nhất là San Jose (100,486). Kế đến là Garden Grove (47,331). Tiếp theo là Westminster (36,058), Houston (34, 838) và San Diego (33,149).
Tuy nhiên, nói về tỉ lệ người Việt so với tổng số dân thì thị trấn Midway, CA đứng đầu (41.4%); tiếp theo là Westminster, CA (40.2%); Garden Grove, CA (27.7%); Fountain Valley, CA (20.7%); Morrow City, GA (20.3%).
Tuỳ theo lăng kính nhìn, những con số trên đây có thể gợi nhiều câu hỏi để chúng ta suy tư. Chẳng hạn, liệu các tổ chức cộng đồng ở mỗi địa phương có phát triển dịch vụ xã hội để đáp ứng nhu cầu của sự gia tăng dân số quá nhanh? Liệu nền kinh tế cộng đồng có phát triển lành mạnh đủ để gánh vác số nhân khẩu gia tăng trong khu vực? Liệu cộng đồng có kế hoạch để giúp người tị nạn và di dân mới trở thành công dân và ghi danh cử tri? Liệu cộng đồng có kế hoạch gì để chăm lo cho số người Việt bước vào tuổi xế chiều ngày càng đông? Liệu cộng đồng có dự tính gì để đưa người vào các guồng máy lập pháp và hành chính ở địa phương? Và nhiều nữa.
Tôi cũng đã nghe có người nhận định rằng cộng đồng Việt ở Hoa Kỳ không có vấn đề gì phải quan tâm vì phần lớn người Việt đều đỗ đạt, thành công. Nghĩ vậy là một ngộ nhận lớn. Cuộc thăm dò năm 2009 của Sở Thống Kê Dân Số phản bác nhiều ngộ nhận như vậy. Dưới đây là một vài ví dụ:
Người Việt 25 tuổi trở lên: 30.4% chưa hoàn tất trung học (so với 14.7% cho người Mỹ nói chung) và chỉ có 6.6% là học trên đại học (so với 10.3% cho người Mỹ nói chung). Đa số các cộng đồng Á Châu khác thua xa chúng ta về học lực.
Người Việt trên 65 tuổi: 40.4% bị khiếm dụng (disability) so với 37.4% cho người Mỹ nói chung.
Người Việt không sinh ở Hoa Kỳ: 50% chưa có quốc tịch.

Người Việt trên 50 tuổi: 55% gặp trở ngại về Anh ngữ. Nếu chỉ tính những người lớn thì tỉ lệ bị trở ngại ngôn ngữ tăng cao hơn nhiều.
Gia đình người Việt: 19.6% không có bảo hiểm sức khoẻ so với 15.1% cho người Mỹ nói chúng; 13.7% nằm trong diện nghèo khó so với 10.5% cho người Mỹ nói chung.
Thiếu dữ kiện về chính mình thì khó tránh được sự ngộ nhận. Và khi không biết thì cũng chẳng quan tâm. Thiếu sự quan tâm thì không có hành động để đối phó. Đó là tình trạng đáng lo của cộng đồng Việt sau 36 năm ở Hoa Kỳ. Trong binh thư, biết người biết ta là yếu tố tiên quyết để thành công. Chúng ta cần biết về chính mình.
Nhằm đáp ứng nhu cầu “biết ta”, trong nhiều năm qua BPSOS đã hợp tác với một số trung tâm nghiên cứu để tìm hiểu về một số khía cạnh của cộng đồng người Việt. Chúng tôi sẽ tuần tự công bố kết quả của các cuộc nghiên cứu này. Cho đến nay đây chỉ là những cuộc nghiên cứu này chỉ mang tính cách tủn mủn, vá víu tạm thời.
Để phục vụ kế sách thăng tiến cộng đồng trong 10 năm tới, BPSOS đang thành lập Viện Nghiên Cứu Người Mỹ Gốc Việt ( Vietnamese-American Research Institute ),
hay VARI ). Nỗ lực này sẽ khuyến khích, huy động các chuyên gia người Việt và không phải người Việt thực hiện các công trình nghiên cứu thực dụng trong cả ba lĩnh vực: chính trị, kinh doanh và xã hội. Nỗ lực này sẽ được chính thức công bố tại Hội Nghị Toán Quốc Những Người Lãnh Đạo Mỹ Gốc Việt, được tổ chức ngày 2 tháng 7 tới đây ở Hoa Thịnh Đốn.
Trong bước đầu của nỗ lực này, chúng tôi hợp tác với Phòng Kiểm Tra Dân Số để phổ biến những thông tin quý báu mà họ cung cấp thật rộng rãi
trong cộng đồng người Việt.

[ Trên đây là những thông tin được đúc kết bởi anh NguyễnThế-Anh, nhân viên Phòng Kiểm Tra Dân Số, Vùng Atlanta, CA, và một số nhân viên và thiện nguyện viên của BPSOS. ]

TS Nguyễn Đình Thắng

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

ĐEM ĐỜI VÀO ĐẠO…
Tôi đã trải qua những ngày ấu thơ trong một ngôi làng nhỏ, ngôi làng nhỏ này có một ngôi chùa nhỏ, ngôi chùa có một ông thầy, mà chúng tôi gọi là ông thầy chùa. Những ngày còn nhỏ, cũng không nghe ai nói, tôi không biết rõ là thầy ăn chay hay ăn mặn, cũng không thắc mắc vì sao thầy có vợ, có con. Thầy có nhiệm vụ giữ chùa, hương khói và thỉnh thoảng chúng tôi thấy có người mời thầy đến nhà cúng kiếng, tụng kinh gõ mõ. Lũ trẻ chúng tôi thường gọi thầy là Thầy Chùa vì thấy thầy ở và coi sóc cho ngôi chùa của làng, thấy thầy thỉnh thoảng đi cúng, nên có đứa gọi thầy là Thầy Cúng. Người Việt Nam vẫn lẫn lộn ba vị, là Thầy Tu, Thầy Chùa và Thầy Cúng, như những ngày còn nhỏ, chúng tôi không hề phân biệt, cứ nghĩ ba người cũng như một, cũng như chẳng hề biết sự khác nhau giữa các môn thể dục, thể thao và tập võ.

Chúng tôi coi ngôi chùa làng là nơi yên tĩnh nhất, ở đó chỉ nghe có tiếng tụng kinh gỏ mõ, thỉnh thoảng còn nghe tiếng chuông chùa ngân nga, và vào những buổi trưa mùa hè, thơ thẩn trong sân chùa chúng tôi còn nghe tiếng lá bàng rụng trên sân. Chùa của tôi trong tuổi ấu thơ mê văn chương là ngôi chùa mang tên Đồi Mai trong “Vang Bóng Một Thời” của Nguyễn Tuân, nơi thường có người đến xin nước trong giếng chùa để pha trà. Chùa của tôi thời vùi mình trong thế giới của Tự Tực Văn Đoàn là ngôi chùa Long Giáng trong “Hồn Bướm Mơ Tiên” của Khái Hưng. Chùa của tôi của thời mới lớn mơ mộng là ngôi chùa Linh Mụ, mà mỗi chiều nghe hồi chuông, tôi có cảm tưởng như âm thanh của tiếng chuông chùa có thể làm rung động được mặt nước trên dòng sông Hương.

Tôi luôn luôn mang ý nghĩ chùa luôn luôn là nơi tĩnh lặng và vắng vẻ nhất, nên khi lớn lên thấy chùa ở “chốn lao xao”, gần gũi với trần tục, lòng tôi cảm thấy mất mát đi một điều gì. Trên sân khấu “đời” được dựng lên tại một sân chùa mà bối cảnh có ghi là ngày Đại Lễ Phật Đản, tu sĩ cùng lên sân khấu trình diễn với ca sĩ. Trong khi một nam ca sĩ hát bài “Đời Tôi Cô Đơn” của Nguyễn Ánh 9 thì vị tu sĩ nhại lời bài hát này thành “Đời Tôi Đi Tu”. Ca sĩ vừa hát xong câu “đời tôi cô đơn, nên yêu ai cũng đớn đau” thì thầy tiếp lời “đời tôi đi tu nên tôi phải ăn chay…” Trong tiếng nhạc xập xình và tiếng reo hò cổ vũ của “thiện nam tín nữ”, tu sĩ này lại “tự biên tự diễn” hát tiếp: “đời tôi đi tu nên tôi phải mặc áo nâu”, rồi “đời tôi đi tu nên phải cạo đầu… không để râu!” Một tu sĩ trẻ tuổi khác lên sân khấu choàng cho thầy một vòng hoa, rồi quý tín nữ reo hò: “bis… bis”. Nói theo văn chương bình dân: thiệt là vui hết biết! Hoạt cảnh này được phổ biến trên You Tube khắp nơi cho bà con xa gần biết đến giọng hát của thầy. (

Vị này thích ánh đèn sân khấu đã đành, nhưng lại đem chuyện tu hành lên đây mà diễu cợt để mua tiếng cười của bá tánh, thật khó coi. Người đến chùa lại không ý thức được sự việc, thấy thầy lên sân khấu hát hỏng, mà lại hát tếu thì lấy làm vui như gặp được Bảo Quốc, Tùng Lâm. Có vị nữ tu lại lên sân khấu, mặc áo rằn ri, đóng vai người lính VNCH để hát bài “Tình Anh Lính Chiến”, thật là đem chuyện trần tục vào chốn thiền môn.

Ngày nay nhạc đạo, nhạc thiền không có mấy vì không có ai sáng tác, sáng tác ra không có người hát. Không ai đem nhạc đạo vào khiêu vũ trường hay sòng bài, nhưng nhạc đời bây giờ đem vào chùa chiền quá nhiều, ca nhạc cho người đến chùa vui, chỗ nào vui thì đông người, đông người có chuyện “hùn phước” lớn, phước lớn thì chùa lớn, chùa lớn thì thầy vui mà đệ tử cũng vui. Thói đời, người ta thích lui tới chùa lớn hơn là đi chùa nhỏ. Không có bản nhạc tình ái nào bị cấm hát trong sân chùa, nên từ “anh yêu em”, hay “tình phụ tình lỡ”, những gì than vãn, khổ đau của cuộc đời này đều được các ca sĩ đem vào chùa. Có khi vị trụ trì ngồi chủ tọa buổi ca nhạc, được người MC kính cẩn thưa: -“Thưa Thầy Thầy thích yêu cầu bài gì?”-“Mình ơi!” Thầy đáp, không cần một giây suy nghĩ. Đám đông reo hò. Xin quý vị một tràng pháo tay! Vui quá là vui! Ca sĩ thì đương nhiên phải phấn son, ăn mặc hấp dẫn, đôi khi thiếu kín đáo, đó là chưa nói chuyện hở hang đang đứng trên bục cao. Vào chùa mà hát nhạc đạo thì ai nghe, người ta kêu buồn ngủ!

Tại một ngôi chùa lớn, trong một ngày lễ lớn tại Texas, tác giả bài viết này có dịp tham dự, đã mục kích chuyện ca sĩ “lơn” nhau trên sân khấu. Nam ca sĩ nổi tiếng này được mời từ Cali sang, sau một màn song ca, đã cao hứng nói với nữ ca sĩ:“Em ơi! Có một việc mà anh làm một mình không được! Em giúp anh đi!”Thế mà đám đông trần tục cũng cười rồi vỗ tay.

Vì sao bây giờ chùa lại gần chợ đông vui, có đốt pháo múa lân, không khác gì đời. Chùa xây gần chợ nghĩa là đem đạo vào đời, để cảm hóa, xây dựng con người nhưng đem nhạc tình ái vào chùa là đem đời ô trọc vào đạo. Thay vì người có lòng với đạo, cổ súy cho nhạc đạo, hát lên cho lòng thanh thản trong sạch, đó là công đức, còn như lấy điều vui làm trọng là phá đạo. Chùa chiền không phải là nơi thi hoa hậu, dù là hoa hậu áo lam, cũng phải là nơi cổ súy loại nhạc “yêu em thật lâu, yêu em thật sâu”. Nếu ngày nay lên chùa là vì ham vui, hay làm cho chùa vui để thiên hạ đến chùa cho đông, thì đạo Phật chẳng mấy chốc mà suy vi. Chốn thiền môn mong được nghe tiếng kinh kệ và mùi trầm hương, không phải là nơi đượm mùi son phấn và lời ca hát trần tục. Tại Mỹ, tôi là người đã có dịp, mới đây thôi, gặp gỡ nhiều tu sĩ còn trẻ tuổi, lớn lên sau năm 1975, được đào tạo tại Việt Nam, đã được gửi đi du học ở Ấn độ, hút thuốc và uống bia một cách công khai trước mắt tôi, như vậy làm sao biết được những hành động khác ở chốn riêng tư.

Cảnh và người thay đổi quá nhiều, mà lòng đứa trẻ năm xưa, dù ngày nay đã trở thành một ông già gần đất xa trời, vẫn không có gì thay đổi, vẫn như còn nghe tiếng lá bàng rụng trong sân chùa của những ngày tháng cũ.

Huy Phương

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Thằng Ăn Cắp.
Ở một làng nào đó bên xứ Ấn Độ, có một thương gia nghèo. Ðời sống khó khăn, nạn cường hào ác bá quá đỗi lộng hành khiến bác ta sống không nổi, phải bỏ đi một xứ xa sinh sống. Sống nơi đất khách quê người lâu ngày, lòng riêng vẫn tủi. Lại thêm tuổi đà xế bóng, tính ganh đua, lòng ham muốn cũng mỏi mòn. Một hôm chạnh nhớ cố hương, bác quyết định trở về. Bán hết tài sản lấy tiền mua vàng, gói vào một túi vải giấu trong túi hành lý khoác vai, bác lên đường về quê hương.

Trong vùng quê người thương gia, giữa một cánh đồng, dân trong vùng xây một ngôi chùa nhỏ để các nông phu buổi trưa ghé vào lễ Phật và nghỉ ngơi. Một cây bồ đề lâu năm che bóng rợp xuống một sân nhỏ lát gạch, một cái giếng khơi, nước mát và trong vắt, cũng là nơi cho khách bộ hành ghé chân nghỉ ngơi, giải khát, hoặc đôi khi ngủ qua đêm trong chùa. Chùa không có người coi. Phật tử trong chùa đều là nông dân. Lúc rảnh việc thì tự ý tới làm công quả quét tước, dọn dẹp, chăm sóc cho đám cây cỏ sân chùa lúc nào cũng hương khói quanh năm.

Sau nhiều ngày lặn lội đường xa, người thương gia về gần đến làng cũ. Trời đã xế trưa, nắng gắt. Ði ngang qua chùa, bác ghé vào nghỉ chân dưới gốc bồ đề. Ra giếng nước giải khát, rửa ráy sạch sẽ xong, bác vào chùa lễ Phật. Trong chùa vắng lặng. Bác thắp hương quỳ trước bàn thờ Phật. Ngước nhìn lên, nét mặt đức Thế Tôn vẫn trầm mặc như xưa nay, hơn mười năm qua không có gì thay đổi. Cảnh vật như đứng ngoài thời gian. Lễ xong, người thương gia rời chùa. Thấy bóng chiều đã ngả, đường về còn khá xa, bác liền rảo bước, bỏ quên túi hành lý trong chùa.

Buổi chiều hôm đó, một nông dân nghèo khổ trở về làng sau một ngày làm việc ngoài đồng. Ngang qua chùa, ngày nào cũng vậy, bác ghé vào lễ Phật trước khi trở về nhà. Lễ xong, bác trông thấy một túi vải to để gần bàn thờ. Bác ta nghĩ thầm: “Không biết túi vải của ai đi lễ đã bỏ quên. Nhỡ có người tham tâm lấy mất thì tội nghiệp cho người mất của. Âu là cứ mang về nhà rồi bảng thông báo để trả lại cho người ta.”


Về đến nhà, bác nông dân gọi vợ con ra, trỏ vào túi vải, nói:
- Ðây là vật người ta bỏ quên trong chùa. Nay mình cứ tạm kiểm kê rõ ràng, đầy đủ, mai mốt có người đến nhận đúng thì trả lại cho người ta.

Giở ra xem, thấy có gói vàng to, người nông dân nghiêm giọng dặn vợ con:

- Vàng của người ta là một vật rất nguy hiểm. Nó làm nảy lòng tham. Mọi điều bất chính, bất lương, mọi sự đau khổ cũng từ đó phát sinh. Mẹ con mày chớ có dúng tay vào mà khốn!

Bác cất cẩn thận vào rương, khóa lại.

Người thương gia rảo bước về gần đến làng, nhìn xa xa ráng chiều êm ả, những làn khói bếp vương vấn trên rặng tre quen thuộc. Cảnh xưa vẫn còn trong trí bác so với nay như không có gì thay đổi sau hơn mười năm xa cách.

Vừa đến cổng làng, người thương gia mới sực nhớ đã bỏ quên túi hành lý ở chùa. Lo sợ, hốt hoảng, bác vội quay lại con đường cũ, vừa chạy vừa kêu:

- Khổ thân tôi! Thế là tôi mất hết cả sản nghiệp dành dụm từ hơn mười năm nay! Bao nhiêu công lao trôi sống trôi biển cả rồi! Khổ thân tôi chưa!

Người đi đường ai thấy cũng ngạc nhiên.

Tới chùa thì cảnh vẫn vắng tanh, bên trong chỉ có một cụ già đang lễ Phật. Người thương gia vội túm lấy cụ già, hốt hoảng hỏi:

- Túi đồ của tôi đâu ? Vàng của tôi đâu? Ông có lấy của tôi không ? xin trả lại cho tôi

Cụ già ngạc nhiên:

- Túi đồ nào của bác? Vàng nào của bác?

- Thì cái túi hành lý tôi để quên hồi xế trưa trong chùa này!

Cụ già vẫn bình thản:

- Quả thật lão không thấy túi đồ của bác. Lão đã sống thanh đạm cả đời, nỡ nào trong chốc lát vứt bỏ lương tâm mà tham của người. Bác cứ bình tĩnh. Của mất, có duyên còn có ngày lấy lại, vô duyên thì của cầm trong tay cũng mất. Túi đồ của bác đã thất lạc, bác lại mất luôn cả cái tâm công chính, đỗ vấy cho người là cớ làm sao?

Gần đây có một xóm làng, buổi chiều nông dân thường lễ Phật trước khi về nhà. Bác thử tới đó hỏi xem. Thói thường, thấy vàng là tối mặt lại. Nhưng cũng còn tùy. Cũng còn có nhiều người tốt.
Người thương gia nghe ra, nhận thấy mình vô lý, bèn xin lỗi cụ già rồi theo lời chỉ dẫn, tiếp tục đi tìm. Tới làng, ông ta hỏi nhiều người mà không ai biết. Nghĩ rằng sản nghiệp dành dụm trong mười năm của mình nay phút chốc như chiếc lá vàng rơi theo gió đưa, biết đâu là bờ bến mà tìm! Ðành phó mặc cho bước chân tình cờ may rủi. Khi tới cuối làng, giữa vườn cây cối um tùm có một căn nhà lá nhỏ tồi tàn. Trước cửa treo một tấm bảng đen, với hàng chữ trắng viết to: “Tôi có nhặt được một túi vải bỏ quên trong chùa. Ai là chủ xin tới nhận lại.”

Người thương gia mừng quýnh đập cửa, gặp anh nông dân ra mở hỏi:

- Bác là chủ túi đồ bỏ quên trong chùa?

- Vâng, chính tôi. Tôi đã để quên trong chùa hồi xế trưa nay. Xin cho tôi nhận lại.

- Nếu đó là của bác thì bác phải nói xem túi đồ của bác như thế nào? Trong đựng những gì?

Người thương gia trả lời:

- Ðó là túi vải, trong đựng một ít lương khô đi đường.

Người nông phu nói:

- Thế thì không phải túi đồ của bác.

- Thú thật với bác, cũng còn một số vàng trong một gói vải khác màu đỏ.

Người nông phu nghe tả đúng các đồ vật và số lượng vàng đựng trong túi vải, biết chắc người tới hỏi là chủ nhân bèn mở rương ra, nói với người thương gia:

- Quả thật đó là túi đồ của bác. Xin mời vào nhận.

Người thương gia nhận đủ số vàng, lòng vui khôn tả. Bác thấy cảnh nhà người nông dân nghèo nàn mà lại không có lòng tham, để tỏ lòng biết ơn, bác chia đôi số vàng gói vào một miếng vải đưa cho người nông dân. Bác nói:

- Vàng của tôi tưởng đã mất, may sao lại gặp tấm lòng quý của bác. Tôi xin biếu bác một nửa để tỏ lòng thành thật biết ơn.
Người nông dân ngạc nhiên:

- Trả lại món vật không phải của mình chỉ là một việc bình thường, có ơn gì mà được đền?

- Bác đã làm một điều thiện. Ðược đền ơn là đúng lẽ.

- Làm việc thiện là nghĩa vụ tự nhiên. Đạo lý xưa nay vẫn dạy như vậy. Đó không phải là cái cớ để đòi hay nhận tiền thưởng. Cũng như lòng yêu dân tộc, yêu tổ quốc không phải là cái cớ để được trả công. Vàng của bác do công sức làm ra thì bác hưởng. Tôi có góp công lao gì vào đó mà chia phần? Thôi, xin bác hãy để tôi được sống yên vui trong cái nghèo của tôi hơn là sống giàu có nhờ vào của cải người khác. Như thế cũng là một cách ăn cắp.

Người thương gia không còn lý lẽ gì để nói thêm bèn khoác hành lý lên vai, bất thần vất gói vải đựng nửa số vàng lên bàn rồi bỏ chạy. Ý định của ông ta là bắt buộc bác nông dân phải nhận sự đền ơn, nhưng bác nông dân vội nhặt gói vàng rồi đuổi theo, miệng hô hoán:

- Bớ người ta, thằng ăn cắp! Bắt lấy thằng ăn cắp.

Dân trong làng nghe tiếng hô hoán liền đuổi theo bắt được người thương gia dẫn trở lại trước mặt bác nông dân, hỏi:

- Hắn đã ăn cắp vật gì của bác?

- Hắn định ăn cắp cái tâm công chính và chân thật mà tôi có được từ ngày tôi học Phật!

Những người làm việc công mà đòi trả ơn, làm việc thiện chỉ do tư lợi, làm việc nước cốt vì quyền hành địa vị… thảy đều là những thằng ăn cắp…

Tiếc thay, ngày nay, tại nơi đây, vẫn còn nhan nhản những thằng ăn cắp, vẫn tiếp tục muốn lừa đảo đồng bào hải ngoại, để mưu cầu lợi danh, thật tội nghiệp cho đất nước Việt Nam

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Trường Hợp Phạm Xuân Ẩn

Vi Anh

Trường hợp các lãnh tụ đảng phái, tôn giáo Quốc gia tham gia mặt trận Việt Minh trong đó có CS để chống Pháp giành độc lập cho nước nhà VN, bị CS ám hại, thủ tiêu để CS độc chiếm quyền hành quốc gia là một bài học tập thể về CS. Người Quốc gia thua vì không thể hành động vô đạo đức, vô lương tâm như CS, lấy phương pháp bá đạo lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện. Thí dụ trường hợp CS nhờ phục Đức Huỳnh Giáo chủ về Miền Tây dàn xếp xung đột giữa CS và Phật Giáo Hoà Hảo, lợi dụng lời mời hội họp để ám hại Ngài. Một bài học để đời, khiến nhiều thế hệ người Việt Quốc gia chống Cộng tới cùng, chống Cộng hết mình. Chống suốt hai thời Đệ nhứt và Đệ nhị Cộng hoà, sau khi Saigòn sụp đổ, di tản chiến thuật ra hải ngoại vẫn tiếp chống Cộng.

Trường hợp ông Phạm Xuân Ẩn, nhà báo ăn cơm Quốc gia thờ ma CS, bán mạng làm gián điệp cho CS Hà nội, mới qua đời, thọ 78 tuổi, phải ôm hận xuống Âm phủ là một bài học cá nhân về CS. Qua những nhà báo Pháp, Mỹ, độc lập và từng thâm giao với ông Ẩn khi còn làm cho làng báo Anh Mỹ ở Saigòn và sau Chiến tranh VN trở lại thăm ông Ẩn ở Saigòn, cho biết ông Ẩn rất thất vọng, bất mãn, cay đắng trước những tồi tệ, tham nhũng của chế độ CS, và thú thật lý tưởng của Ông theo suốt đời bị phản bội.

Nhưng đã dính với CS rồi khó mà thoát thân cho toàn mạng. Không phải riêng với ông Ẩn thời CS mới bắt đầu chiếm được nửa nước. Mà thời bây giờ CS đã tóm thu tất cả quyền hành và toàn bộ đất nước. Họ có đầy đủ phương tiện và thế lực để chiêu dụ và bắt hồn lẫn xác những người lỡ dính với họ. Yếu bóng vía, thiếu kinh nghiệm CS, tưởng chơi với CS Hà nội như chơi với người Việt Quốc gia, chơi với dân Tây Phương là sẽ mắc mồi CS. Lúc đó "cá cắn câu biết đâu mà gỡ, chim vào lồng biết thuở nào ra". Lịch duyệt, cảnh giác như ông Ẩn làm gián điệp cho CS suốt Chiến tranh VN mà không bị lộ kia, giờ chót còn không lối thoát khỏi CS, chớ đừng nói cỡ những người trẻ Việt ăn học cao ở Tây Phương, chưa biết CS thực sự là gì.

Ba nhận định trên có thể chứng nghiệm qua trường hợp ông Phạm xuân Ẩn. Là một người đi học Mỹ về trong thời Mỹ mới vào, ông có quá nhiều cơ may để thành đạt trong chế độ mới. Thế mà ông Ẩn không thoát được "tổ chức" dù người đầu mối của Ông đã bị chánh quyền mới của VN bắt. Và trớ trêu nhứt, chính nhân vật có thế lực an ninh cao nhứt của VN Cộng Hòa, BS Trần kim Tuyến là người đã vô tình cứu ông Ẩn và mở đường và tạo vỏ bọc cho ông thi hành điệp vụ - điệp vụ phục vụ cho CS Hà nội.

Theo nhà báo Dan Southerland, vốn là bạn đồng nghiệp trong báo Chistian Science Monitor, Time, nay là Phó Giám đốc Chương trình của Đài Phát Thanh RFA, nói sau khi biết ông Ẩn đã qua đời đến thăm ông Ẩn hai lần mới được gặp xưa là người làm chung với ông Ẩn trong báo chí. Ẩn vận động giúp cho BS Trần kim Tuyến di tản ngày 29 tháng tư, là điều có thật và thuần ơn nghĩa. Dan Sotherland chính là người mà ông Phạm Xuân Ẩn nhờ giúp tìm cách đưa bác sĩ Tuyến rời Việt Nam vào ngày 29 tháng 4. ông Southerland nói đó là vấn đề thuần ơn nghĩa, "lý do sâu xa là khi ông Phạm Xuân Ẩn đi học báo chí ở Hoa Kỳ trở về Việt Nam năm 1959 trong một tâm trạng hết sức lo lắng vì người chỉ huy trực tiếp của ông đã bị chính quyền bắt. Thời gian trước và sau năm 1960, chính phủ ông Ngô Đình Diệm truy quét hầu hết các phần tử Việt minh cài lại miền Nam. ông Ẩn đã trốn trong nhà cả tháng trời và sau đó nhờ mối quan hệ gia đình, bắt liên lạc được với bác sĩ Trần Kim Tuyến, lúc đó đang là giám đốc Sở Nghiên cứu Chính trị của chính phủ ông Diệm, tức là cơ quan mật vụ của chế độ, có trụ sở ngay dinh Độc Lập. Nhờ mới du học về báo chí ở Hoa Kỳ (Đại học Cộng đồng OCC và Fullerton) về, ông Phạm Xuân Ẩn được bác sĩ Tuyến bố trí phụ trách các ký giả nước ngoài làm việc cho Việt Nam Thông Tấn Xã. Nhờ vỏ bọc này và nhiệm vụ phù hợp, ông Ẩn dần dần xây dựng niềm tin và phát triển hoạt động, chuyển qua làm việc cho hãng thông tấn Reuters, nhật báo The Christian Science Monitor và rồi tuần san Time. "Nếu không có vỏ bọc đó và sự quen biết với BS Tuyến thời Đệ nhứt và thân thiện thời Đệ nhị Cộng Hoà, ông Ẩn khó mà trở thành một gián điệp như Hà nội đã đánh bóng.”

Nhưng sự thật, theo nhà báo Southerland quen biết và thân thiện với ông Ẩn từ rất lâu "về một nghĩa nào đó ông Ẩn ít nhất có thể cung cấp thông tin cho Hà Nội về một số việc, chẳng hạn như cách suy nghĩ, lý luận của người Mỹ. Đó là khả năng lớn nhất của ông Ẩn. Ông ta có thể cảm nhận sự thật. Nhiều người Việt Nam tôi biết, người phía Nam Việt Nam, rất thông minh, rất luận lý, thường cho là nước Mỹ rất hùng mạnh có thể làm tất cả mọi sự. Nếu Mỹ muốn chiến thắng thì họ đã có thể thắng ngay lập tức. Ông Ẩn lại có một cái nhìn rõ nét hơn về những điểm yếu của phía Hoa Kỳ, về hệ thống hoạt động, về mối tương quan kiểm tra chồng chéo nhưng hữu hiệu giữa Hành pháp và Lập pháp. Kiến thức đó dĩ nhiên là giúp ích Hà Nội rất nhiều, vốn không có chuyên viên đầy đủ kiến thức về đối phương như ông Ẩn." Theo ông Southerland, chính sự thân thiện đã khiến BS Trần kim Tuyến thời Đệ nhị Cộng Hoà dù không còn làm tình báo nhưng quảng giao trong chánh quyền, đã vô tình nói lại một số chiến lược của Mỹ thời BS Tuyến còn làm trùm tình báo VN và giúp cho ông Ẩn có thêm dữ kiện so sánh để phân tích và báo cáo tình hình cho Hà nội.

Theo Thông tấn xã Pháp AFP viết sau khi ông Ẩn chết 1 ngày, rằng sau khi Sàigòn rơi vào tay CS năm 1975, CS Hà Nội thoạt tiên định đưa ông tham gia cùng những nhân vật nằm vùng chưa bị lộ diện chạy sang Hoa Kỳ tỵ nạn để tiếp tục hoạt động. Nhưng rồi họ nghi ngờ, đổi ý. Họ xét lại quan điểm, lập trường của ông vì ông làm gián điệp đơn tuyến cho họ, quá lâu ở Miền Nam trong lòng địch. Họ móc lại hồ sơ ông đã góp phần giúp đỡ một số người như trường hợp ký giả Robert Sam Anson, đồng nghiệp ở tuần báo Time, bị CS bắt bên Kampuchia. Hà nội nghi là ông Ẩn đã vận động để Mặt trận Giải phóng và phe Khmer Đỏ thả. Và trường hợp bác sĩ Trần Kim Tuyến, nguyên giám đốc Sở Nghiên cứu Chính trị thời đệ nhất Cộng hòa, Hà nội nghi là ông Ẩn đã dàn xếp với nhà báo Mỹ để được rước đi ngày 29-4.

Từ đó, ông Ẩn coi như bị CS Hà nội bị CS thực sự "quản thúc tại gia" ở một biệt thự tại Quận 3. Ai thăm cũng phải có sự đồng ý của "tổ chức." Ông Ân không thể thoát ra ngoài "tổ chức" CS được dù đã thất vọng ê chề và bất mãn tột độ đối với chế độ CS Hà nội vì cảm thấy bị phản bội trắng trợn. Nhưng bên ngoài CS Hà nội đánh bóng ông như một James Bond tại thế, một gián điệp toàn vẹn, báo cáo tình báo của ông được ông Hồ chí Minh và Tướng Võ nguyên Giáp khen khi đọc như đang ở ngay trong Phòng Tình Hình Chiến tranh của Bộ Quốc Phòng Mỹ. Khi CS khen là coi chừng, sắp có tai họa lớn đó.

Trong cô đơn, thất vọng và bất mãn, ông Ẩn chỉ còn một ít cơ hội hiếm hoi, liều mạng bộc lộ với một vài nhà báo Tây Phương bạn cũ được CS cho gặp với ý đồ dùng bài viết để kiểm soát tư tưởng ông Ẩn hay đánh bóng cho ngành gián điệp của CS Hà nội. Trong những dịp hiếm hoi này, trong chỗ tín cẩn riêng tư với nhau (lương tâm con người và nhà báo chân chính không cho phép tiết lộ những gì được dặn giữ kín khi nguồn tin còn sống và có thể gây hại cho đương sự), nên một số tiết lộ về ông Ẩn là những về thất vọng của ông Ẩn chỉ nói phớt qua thôi và được giữ kín đến sau khi ông Ẩn chết mới tiết lộ rõ ràng như vụ BS Tuyến. Năm ngoái, ông Ẩn tâm tình với nhà báo Dan Southerland đến thăm ông Ẩn hai lần mới được gặp. Rằng "Họ [những người ngoài Bắc vào] tham nhũng tệ hại hơn nhiều lắm, ông vỡ mộng vì đã hỗ trợ họ hết sức mình, để rồi họ hành xử không xứng đáng khi chiến thắng."

Cũng trong thời gian năm ngoái, ông Ẩn còn đắng cay hơn khi tâm sự với nhà báo của tờ New Yorker ghi lại trong bài viết về ông Ẩn như một điệp viên trọn vẹn, trong một bài dài 10 ngàn chữ. ông Ẩn nói đã đau đớn thấy lý tưởng suốt đời ông theo đuổi bị phản bội. Ông "tự khẳng định là chưa thể chết được. Lý do: Không có chỗ nào giành cho ông cả. Địa ngục chỉ dành cho những tên bợm bãi, mà Việt Nam đang còn quá nhiều, nên chật chỗ rồi." Với một nhà báo Pháp cũng thân lâu đời với ông Ẩn, ông Ẩn cũng nói nội dung tương tự.

Sai lầm, hối hận, thất vọng, bất mãn và bất lực của ông Ẩn đến chết không thoát được tổ chức CS là một bài học cho lớp trẻ VN có ăn học nhiều mà ít kinh nghiệm CS. Xe trước đổ, xe sau phải tránh. Kể cũng có ích, lời khuyên của TT Nguyễn văn Thiệu, đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn những gì CS làm. Ông Ẩn làm việc "bán mạng" cho CS Hà nội mà sau cùng vẫn ôm hận CS xuống âm ty. Huống hồ gì lớp trẻ ở Mỹ là những người mỏ trắng, bị CS chiêu dụ công khai bằng Nghị quyết 36 và thí dụ đường mật rẻ tiền, "ấn tượng" không đẹp là "khúc ruột ngàn dặm của quê hương." Trường hợp Phạm xuân Ẩn đáng cho lớp trẻ ở hải ngoại có ăn học nhiều chuyên môn mà thiếu kinh nghiệm CS -- suy gẫm.

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image


Người Trong Mộng
Đây là lần thứ hai vợ chồng Tư Chuột về thăm Việt Nam, lần trước cách đây năm, sáu năm. Thời gian cứ vùn vụt trôi, mải mê bận rộn vì cuộc sống, dù nhớ nhà, nhớ người thân hai bên nội ngoại, mà bây giờ mới có dịp trở về lần nữa.

Tư Chuột nao nức về Việt Nam gặp lại người thân, ngoài ra còn vì một lý do khác. Anh sẽ gặp lại một người bạn gái cũ sau hơn 30 năm xa cách, là “người trong mộng” của anh thời còn đi học.
Qua một người bạn học cũ mới liên lạc được, hiện cũng đang sống ở Mỹ, anh ta đã cho Tư Chuột biết tin tức một số bạn bè cùng lớp thời Trung Học. Họ cùng hào hứng nhắc đến người đẹp Ngọc Diệp, cô bé xinh xinh và nổi tiếng làm thơ hay của lớp, đám nam sinh thuở đó cứ mười người thì phải trên năm người có cảm tình với nàng và hâm mộ thơ nàng. Trong số đông đảo những thằng trồng cây si nàng có cả Tư Chuột. Là một người vóc dáng nhỏ thó, gương mặt choắt choeo, lại con nhà nghèo học dở, nên anh nam sinh Lê văn Tư, biệt danh các bạn đặt cho là Tư Chuột không bao giờ dám mơ được tiếp cận nàng thơ, không bao giờ dám “chen lấn” với các nam sinh khác để hòng chiếm được cảm tình của nàng. Tư Chuột chỉ biết thương trộm nhớ thầm người trong mộng.

Ngọc Diệp là một trong số vài người đẹp của lớp, nàng là con nhà giàu, học giỏi, dáng gầy gầy, đôi mắt to đen đằm thắm, và mái tóc dài qua vai luôn buông xỏa về một bên trông càng quyến rũ và lãng mạn. Các anh tha hồ đua nhau làm thơ tặng nàng, Tư Chuột xôn xao chẳng thể nào ngồi yên, anh không biết làm thơ, nên định mua một cuốn sách thơ của nhà thơ nổi tiếng nào đó để tặng nàng, mượn thơ người khác nói lên nỗi lòng của mình hay ít ra cũng làm nàng vui thích vì nhận được cuốn thơ hay. Nhưng anh chưa thực hiện được thì biến cố 1975 xẩy ra.

Bây giờ Ngọc Diệp là goá phụ, hai con, cuộc sống của nàng ở Việt Nam rất nghèo khổ. Mới nghe, Tư Chuột mủi lòng thương xót cho người xưa. Có ai ngờ một cô gái đẹp cao sang thuở đó, bể dâu cuộc đời vùi dập nàng sa cơ thất thế đến tôị nghiệp? Cũng có ai ngờ anh Tư Chuột, tướng tá lù đù, thuở đó không ông thầy bói nào nhìn mà dám mở miệng tiên đoán tương lai giàu sang phú quý cho được, học hành thì lình bình đủ điểm lên lớp là may lắm rồi, nay lại là một người thành đạt, một ông chủ shop sửa xe to lớn và đông khách trên xứ Mỹ, hai con học Đại học, nhà cao cửa rộng trả off từ lâu, vợ Tư Chuột hột soàn đeo đầy cổ, đầy tay.

Tư Chuột đã ghi chép cẩn thận địa chỉ nhà Ngọc Diệp, nàng sống tại Sài Gòn nên sự đi lại càng thuận tiện vì hầu hết họ hàng bên vợ và bên Tư Chuột cũng ở quanh Saì Gòn. Nhất định, anh sẽ đến thăm nàng, cả một đời người anh mới có dịp hiên ngang tiếp cận nàng như thời điểm này. Dù anh gặp lại Ngọc Diệp chỉ với tư cách một người bạn cũ, để nhìn lại bóng dáng người xưa. Nay ai đã phận nấy, hai khung trời khác biệt, cái tình cảm thời tuổi trẻ chỉ còn là kỷ niệm, một kỷ niệm đẹp có lẽ Tư Chuột không thể nào quên.

Tư Chuột dấu vợ, chị vợ hay ghen và giàu tưởng tượng, chỉ cần anh nói đi thăm một người bạn gái cũ là chị ta sẽ suy đoán ra một thiên tình sử ngay, và chị sẽ không rời anh nửa bước. Tư Chuột không muốn vợ đi theo làm tan biến đi giây phut diệu kỳ hội ngộ, chắc chắn nên thơ và lãng mạn như người thơ thuở ấy.

Tư Chuột đã sắp đặt sẵn mọi thứ trong đầu trước khi đến nhà thăm Ngọc Diệp, anh sẽ ghé tiệm sách mua một cuốn thơ, món quà anh còn mắc nợ nàng bao nhiêu năm về trước. Nhưng nàng nghèo lắm, thơ chỉ có ý nghĩa cho tâm hồn. Anh sẽ tặng nàng một món quà thực tế là tiền, là đô la. Anh ngại ngùng qúa, với một người yêu thơ, làm thơ, mà anh mang chuyện tiền bạc ra có đụng chạm vào tự ái của nàng không? Anh sẽ bỏ món quà ấy vào phong thư cho lịch sự, sẽ nhẹ nhàng kín đáo và nói hết sức khiêm nhường rằng: “ Tôi quý mến Ngọc Diệp chân tình nên mới tặng món quà nhỏ mọn này, mong Ngọc Diệp đừng từ chối làm tôi đau lòng”. Ôi, đôi mắt to đen đằm thắm của nàng chắc sẽ nhìn anh cảm động? và biết đâu trong sâu thẳm tâm hồn nàng sẽ dày vò nuối tiếc sao ngày xưa không để ý đến anh Tư Chuột, thì ngày nay đời nàng sung sướng biết bao?

Sáng nay sau khi ăn uống điểm tâm bên nhà vợ, Tư Chuột thay bộ quần áo bình dân giản dị nhất, chiếc quần màu kaki và áo sơ mi trắng bỏ ra ngoài. Đến nhà Ngọc Diệp trong hoàn cảnh nghèo, anh chẳng muốn mình ăn mặc sang trọng ra vẻ Việt Kiều làm nàng tủi thân. Anh xin phép vợ để đi thăm vài thằng bạn cũ, nhìn cách ăn mặc tàn tàn của anh, chị tin ngay, và dặn chiều về sớm để hai vợ chồng cùng đi dạo phố.
Tư Chuột ra đầu ngõ kêu xe ôm chở đến một tiệm sách gần nhất và bảo anh xe ôm ngồi ngoài chờ.
Từ xưa tới nay Tư Chuột có biết gì về thơ, nay lạc vào một rừng thơ làm anh hoa cả mắt, có nhiều tập thơ của nhiều tác giả khác nhau, cuốn nào trình bày bìa cũng đẹp, những lời đề tựa, lời giới thiệu nào cũng bay bổng trời xanh. Mở ra đọc thử mỗi bài thơ, Tư Chuột thấy bài nào cũng… giống nhau, thất tình, thương nhớ, giận hờn…càng làm anh rối trí. Thà như ở shop xửa xe của anh, xe nào hư không nổ máy, anh mày mò một lúc là tìm ra lý do ngay, thà khách hàng yêu cầu anh thay nhớt xe, anh làm vèo một cái là xong. Còn lựa chọn một cuốn thơ trong đám thơ này sao mà khó khăn qúa!


Tư Chuột cầm một cuốn thơ lên, bìa màu tím, xinh xinh, cuốn thơ tên “Một thời tương tư”, anh thấy thích hợp với mình nhất, anh đã chẳng một thời tương tư Ngọc Diệp đó sao! Muộn còn hơn không, để anh được bày tỏ tình cảm với nàng, dù điều ấy nàng cũng biết thừa từ lâu..
Anh mang cuốn thơ ra quầy tính tiền, nhờ cô nhân viên gói giấy hoa cho đẹp để làm quà tặng, anh đã hào hoa trả tiền gấp đôi gấp ba gía ghi trên bìa sau cuốn thơ và hớn hở ra khỏi nhà sách.
Anh xe ôm tiếp tục cuộc hành trình tìm địa chỉ nhà Ngọc Diệp, một con hẻm nhỏ gần khu chợ Bà Chiểu, anh ta bảo đảm sẽ tìm ra địa chỉ mới ăn tiền xe, nên Tư Chuột yên tâm, âu yếm ôm nhẹ cuốn thơ vào lòng và ngắm nhìn cảnh tấp nập của phố phường. Sau khi anh xe ôm quẹo vào vài con hẻm ngoằn nghoèo, vài lần rẽ trái, rẽ phải đến chóng mặt, Tư Chuột đã đứng ngay trước số nhà muốn tìm.

Anh sửa lại nếp áo, nếp quần cho bớt nhăn nhó và run run đưa tay lên gõ cửa, hồi hộp chờ đợi gương mặt quen thuộc ngày xưa hiện ra. Chắc khi nghe anh giới thiệu là Tư Chuột, Ngọc Diệp sẽ nhớ ra ngay, cái biệt danh độc đáo của anh nam sinh nhỏ con nhất lớp, nhà quê nhất lớp, và học dở nhất lớp, ai cũng biết.
Nhưng trong nhà vẫn im vắng, không một ai ra trả lời! Tư Chuột đang ngỡ ngàng chưa biết tính sao thì một bà hàng xóm sát bên chạy ra, sốt sắng:

- Ông tìm nhà bà Diệp hả?

Tư Chuột mừng rỡ:
- Vâng, có phải đây là nhà bà Ngọc Diệp không?

- Đúng rồi, ba mẹ con bà ấy bán qúan cơm tấm ngoài đầu hẻm, kế bên tiệm bán chè, sinh tố đó, bộ khi nãy vô đây ông anh không nhìn thấy hả?

- Vâng, thôi cám ơn bà.

Từ Chuột leo lên xe ôm và chạy ra đầu hẻm, bây giờ mới để ý thấy qúan cơm đúng như bà hàng xóm nói, Anh trả tiền hậu hĩ cho anh xe ôm và đến hàng sinh tố kêu một ly mãng cầu tươi, ngồi nghỉ chân và suy nghĩ, không lẽ Ngọc Diệp đang bận rộn bán buôn mà anh đến nhận diện người quen, chuyện trò và tặng quà ngay giữa chốn bát nháo ăn uống này thì còn gì là ý nghĩa? Để chiều nay, khi nàng về nhà, anh sẽ đến cũng không muộn màng gì, và sẽ có nhiều thời gian để tâm sự, nhắc lại những kỷ niệm thời đi học.
Anh thong thả uống hụm sinh tố và dõi mắt sang hàng cơm tấm bên cạnh. Đang tầm sáng, giờ cao điểm đông khách, anh chẳng thấy Ngọc Diệp đâu, chỉ thấy một bà to mập đang ngồi giữa nồi cơm to tướng không kém gì bà ta, và một cái bàn thấp trên bày la liệt những món ăn, những hũ đồ chua và hũ nước mắm, mấy ống đựng thìa, đựng nỉa. Bà vừa xới cơm ra dĩa, vừa gắp thức ăn lia lịa và luôn miệng quát hai phụ nữ trẻ bưng bê:


- Lẹ tay lẹ chân lên chút coi, khách đang ngồi đợi kìa!

- Dẹp mấy cái dĩa không vào đây cho tao, hết dĩa rồi !

Tư Chuột làm bộ bâng quơ hỏi chị bán sinh tố:
- Nghe nói quán cơm này ngon lắm phải không chị?

Chị sinh tố thật thà:
- Quán cơm tấm bà Ngọc Diệp nổi tiếng ngon, ông ăn thử thì biết.

- Chị làm ơn kêu cô giúp việc cho tôi dĩa cơm tấm sườn nướng đi.

- Hai cô đó là con gái bà Ngọc Diệp, ba mẹ con sống nhờ nồi cơm tấm này đó.

- Vậy bà ấy đâu rồi?

- Thì bà Ngọc Diệp to béo đang ngồi bán cơm chứ ai.

Tư Chuột giật mình hụt hẫng, anh tưởng mình nghe lầm. Cố giữ vẻ bình tĩnh, anh nói cho chị sinh tố khỏi nghi ngờ vì thái độ khác thường của mình:
- Nghe danh quán cơm bà Ngọc Diệp, hôm nay tôi mới có dịp ghé đây ăn thử.

Chị sinh tố chẳng thì giờ đâu mà nghi ngờ như chị Tư Chuột nhà anh. Chị ta vui vẻ đi gọi cơm giùm anh, nên Tư Chuột tự nhiên và thoải mái nhìn bà to mập kia kỹ lưỡng hơn. Đúng là Ngọc Diệp rồi, nhờ đôi mắt to đen mà anh đã nhận ra nàng, dù hình dáng nàng thì hoàn toàn khác hẳn.
Mọi thứ trên cõi đời có thể thay đổi, nhưng sao cuộc sống và thời gian lại nỡ biến đổi một cách phũ phàng từ một cô gái xinh xẻo, vóc dáng gầy gầy, một nàng thơ dịu dàng ngày nào thành một bà to mập, ngồi bán cơm ngoài đường phố và luôn miệng quát mắng con trước mặt mọi người như thế?

Cô con gái của Ngọc Diệp bưng dĩa cơm tới bàn Tư Chuột, nhìn cô gái, Tư Chuột đã thấy lại đôi mắt to đen đằm thắm của người mẹ bao nhiêu năm về trước. Anh thong thả ăn từng thìa cơm nhỏ vì bụng hãy còn no, và vì muốn kéo dài thì giờ để nhìn thêm cảnh đời của Ngọc Diệp, cho bõ công lao anh nao nức từ bên Mỹ khi chuẩn bị về Việt Nam, cho bõ công lao anh đã ngồi mỏi lưng sau chiếc xe ôm đi tìm con hẻm nhà nàng cả giờ đồng hồ.


Khách hàng vẫn đông, bà mẹ vẫn the thé sai bảo và mắng hai cô con gái, có lúc rảnh tay bà ngẩng lên, quét ánh mắt lanh lợi như điểm danh các khách hàng, bà ta ngừng lại nơi Tư Chuột vài giây, vẫn không có cảm xúc gì khác lạ, như với bao nhiêu người khách khác mà thôi. Làm sao trong giây phút bận rộn hối hả này, bà có thể nhận ra một người quen sau hơn 30 năm mờ mịt vì gío bụi cuộc đời? rồi bà lại cúi xuống thoăn thoắt xới cơm, lấy thức ăn cho khách.
Tư Chuột kêu tính tiền, cô gái hét gía 40 ngàn đồng, trong khi nãy giờ anh thấy mỗi dĩa cơm tương tự người ta chỉ trả có 20 ngàn đồng. Anh ngạc nhiên nhưng cũng móc túi trả đầy đủ, chị bán sinh tố nhìn Tư Chuột thương hại, thì thầm:

- Mẹ con bà này chuyên môn coi mặt đặt tên, thấy ông là khách lạ, ngàn năm một thuở mới đến quán một lần, nên tính gía trời ơi, kiếm thêm thu nhập. Nhưng cũng còn may cho ông, bữa hôm có chị Việt Kiều về xóm chơi, sáng ra đây ăn cơm tấm, bị chém một dĩa cơm tới 50 ngàn đồng, vì chị đó ăn mặc sang trọng lắm, nhìn vô thấy Việt Kiều liền.

Tư Chuột xót xa, không vì mất thêm tiền một cách vô lý, mà vì lòng tham của con người, lại là người mà anh từng ngưỡng mộ, thương mến. Cuốn sách thơ trong tay Tư Chuột bỗng trở nên thừa thãi, lố bịch, và cái phong thư có vài trăm đô la nằm trong túi áo anh có lẽ không bao giờ cần phải lựa lời tế nhị để trao cho người nhận nữa. Anh bỗng quyết định không cần đến nhà Ngọc Diệp, không đối diện với nàng, người trong mộng của anh đã chết tự lâu rồi. Món tiền này anh sẽ cho những người nghèo khổ nào đó anh gặp trên đường phố, còn cuốn thơ, sẽ có một người xứng đáng hơn Ngọc Diệp để anh trao tặng.

Một thằng bé bán vé số đến bên Tư Chuột, nó chìa xấp vé số ra mời mọc, nhưng Tư Chuột gạt đi và mời lại nó:
- Thằng nhỏ, mày muốn ăn cơm tấm không?

- Muốn, mà không có tiền ông ơi!

- Mày có bao nhiêu đứa bạn kêu hết lại đây, tao bao.
Thằng vé số nhẩy cẩng lên vì vui sướng, vội chạy đi tìm lũ bạn, một lúc sau hơn chục đứa kéo tới bu quanh Tư Chuột, anh ra lệnh:

- Đứa nào muốn ăn gì thì kêu đi, rồi qua uống sinh tố hay ăn chè quán này. Nghe chưa?

Lũ trẻ uà ra chỗ bà bán cơm, xúm xít chỉ trỏ các món ăn. Tư Chuột gọi cô con gái bà hàng cơm ra, đếm bao nhiêu dĩa cơm, mỗi dĩa 40 ngàn đồng , trả tiền ngay tại chỗ, làm cô kinh ngạc không ngờ hôm nay trúng mánh lớn. Tư Chuột lại đưa cho cô một xấp bạc Việt Nam nữa và nói trước mặt lũ trẻ:

- Số tiền này đủ cho lũ trẻ đến đây ăn cơm ít nhất cũng ba lần nữa. Tôi trả trước cho cô đấy.
Anh quay qua trả tiền chị sinh tố cũng đủ cho bọn trẻ ba lần nữa rồi ra về.

Thấy chồng về sớm chị Tư Chuột ngạc nhiên:

- Tưởng anh đi tới nhà bạn bè chiều mới về?

Anh chìa cuốn thơ gói trong tấm giấy hoa xinh đẹp ra:
- Có tìm nhưng không gặp bạn, nên anh ghé vào một tiệm sách, chọn mua tặng em một cuốn thơ tình.

- Một cuốn thơ tình?
Chị Tư Chuột cảm động ngỡ ngàng vì món quà bất ngờ, chồng chị chưa bao giờ tặng chị một món quà thanh lịch như thế này, chị như bay bổng vào cõi thiên thai:

- Anh ơi, tuy em ít đọc thơ, nhưng anh mua tặng thì từ nay em sẽ siêng đọc thơ và sẽ yêu nó.
Chị mở ra thấy cuốn thơ, lẩm bẩm đọc “ Một thời tương tư”, nên càng cảm động và ngạc nhiên:

- Không ngờ anh tối ngày lo sửa xe, tay chân dầu nhớt, mà cũng có tâm hồn thi sĩ ghê. Ở với anh mấy chục năm em mới phát hiện ra điều này. Bộ hồi đó anh tương tư em hả?

Tư Chuột nhìn vợ, chị cũng to mập, sồn sồn không thua gì Ngọc Diệp. Nhưng còn có chỗ dễ thương, chị đôn hậu và thành thật tin vào những lời nói dối của chồng.
Tư Chuột bỗng thấy thương vợ hơn bao giờ, anh nói bằng sự trìu mến như thuở ban đầu mới cưới nàng:
- Vì em mãi mãi là người anh yêu, là người trong mộng của đời anh.

Buổi chiều đi chơi cùng với vợ, tình cờ đi ngang qua con đường nơi đầu hẻm nhà Ngọc Diệp, quán cơm đã dẹp, chỉ còn quán sinh tố. Tư Chuột bảo tài xế taxi ngừng lại, để anh ghé vào tiệm sinh tố mua một bao thuốc lá ba số. Chị sinh tố nhận ra anh ngay và mau mắn:

- Mấy đứa nhỏ nhờ tôi gởi lời cám ơn ông nếu có dịp gặp lại. Còn bà Ngọc Diệp chủ tiệm cơm, bà ấy tuyên bố một câu về ông, nói ông đừng có buồn nghe?

- Chị cứ nói đi.

- Bà ấy nói với tôi rằng thằng cha đó một là khùng, hai là dân giang hồ làm ăn gian dối, trúng mánh, nên mới thừa tiền bao lũ trẻ bụi đời ngoài đường phố. Biết thằng cha chịu chơi như vậy, lúc nãy tao tính mỗi dĩa cơm 50 ngàn đồng rồi. Tiếc quá!

Tư Chuột chào chị sinh tố lên Taxi, lòng thảnh thơi, không có gì để nuối tiếc khi anh đã quyết định không bao giờ gặp lại người trong mộng ngày xưa của mình nữa.

Nguyễn thị Thanh Dương

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Người Việt Nam có bài Hoa không?
Việt Nam nhìn từ thế giới ảo

Bùi Công Tự
(Nguồn: Blog Nguyễn Xuân Diện: nguyenxuandien.blogspot.com)

Phải chăng ông Trời phú cho đất nước Việt Nam thiên thời, địa lợi và con người hòa hiếu hơn đất nước Trung Quốc nên hàng triệu người Hoa
đã bỏ lại mồ mả tổ tiên để di cư đến Việt Nam mưu cầu đời sống, từ ngàn năm xưa và cả hôm nay?

Image
Khu gia cư trong trung tâm thương mại Ðông Ðô Ðại Phố của người Hoa tại Bình Dương, Việt Nam. (Hình: danchimviet.info)



Một thập niên qua lượng người Trung Quốc vào Việt Nam càng ngày càng nhiều. Họ đến để kinh doanh hay làm gì gì nữa thì chỉ có họ biết. Một số đông đến theo rất nhiều các dự án của Việt Nam mà các công ty Trung Quốc trúng thầu giá rẻ. Một tỉnh nhỏ như Ninh Bình mà cũng đang có tới 2,400 người Trung Quốc làm việc. Các nơi khác như Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh thì số người Trung Quốc còn đông gấp bội. Suy ra cả nước con số rất lớn. Nó chiếm mất đáng kể chỗ làm việc của những người Việt Nam đang còn thất nghiệp.

Hôm nay tôi đọc thấy một bạn viết trên blog cá nhân những dòng sau đây:

“Mình cũng lấy làm lạ, sao mà lắm Tàu trên đất nước mình thế? Có đi từ Bắc vào Nam mới biết. Trên tàu hỏa cũng thấy đông, xuống ga cũng gặp nhiều, qua Thanh Hóa, Vinh và các thành phố khác cũng nhan nhản người Tàu.”

“Ở Việt Nam trông thấy anh nào nhếch nhác, đầu trọc, mắt một mí, thuốc lá rút từng điếu ra mời thì chắc chắc đó là cái anh người Tàu... nhận ra ngay” (Blog Mai Tiến Nghị).

Thành phố Hồ Chí Minh nơi tôi ở có lẽ có nhiều người Trung Quốc hơn các tỉnh thành khác. Có hôm 5h sáng đi thể dục đã gặp một anh “đầu trọc, mắt một mí” ngồi sau xe máy một cô gái từ trong hẻm đi ra. Những người Trung Quốc mới đến thành phố này chủ yếu làm kinh doanh nên trông họ cũng khá lịch sự. Những chuyện tôi nghe kể người Trung Quốc làm tầm bậy tầm bạ thường là ở nơi có những công trình xây lắp hay khai mỏ. Như chuyện ở Thanh Hóa họ kéo bè kéo đảng cả trăm người cầm gậy gộc đang đêm xông vào làng đuổi đánh bà con ta. Cảnh ấy đã có người quay được video phát trên mạng Internet.

Vậy chúng ta nên nhìn nhận về những người Trung Quốc đang làm việc ở Việt Nam như thế nào?

Thực tế đã cho chúng ta bài học lịch sử là những người cầm quyền Bắc Kinh luôn luôn tìm mọi cách kìm hãm sự phát triển của Việt Nam, khi ngấm ngầm, khi công khai phá hoại chúng ta. Họ đang từng bước xâm chiếm biển Ðông và Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam cũng như đang rục rịch gây hấn ở biên giới phía Bắc. Về lâu dài họ có dã tâm xâm lược cả nước ta. Chính vì thế họ buộc chúng ta phải cảnh giác với mọi người Trung Quốc đang hiện diện trên đất nước này.

Rất có thể cái anh người Tàu đang tợp ly café ở bàn bên cạnh chỗ ta ngồi là một tên gián điệp Bắc Kinh? Rất có thể cái cậu “đầu trọc, mắt một mí” đêm qua ngủ trọ nhà cô gái trong hẻm là một tên phá hoại? Rất có thể cái đơn vị sản xuất gồm những nhà quản lý, kỹ sư và công nhân đang xây lắp cho một dự án trúng thầu kia là một đơn vị sư đoàn hoặc trung đoàn quân đội Trung Quốc trá hình? Và ai biết được họ đang thực hiện âm mưu gì trong những khu đất mênh mông mà họ rào kín bưng nội bất xuất, ngoại bất nhập?

Vì thế tâm lý nhân dân ta hiện nay là không muốn có người Trung Quốc trên đất nước mình. Ðó là sự thật. Vì cảnh giác là chính chứ không phải vì sợ mất chỗ làm việc.

Tuy vậy để khách quan chúng ta cứ đặt ra câu hỏi: Người Việt Nam có bài Hoa không?

Bảo không ư? Sao các anh chị lại gọi người Trung Quốc là Tàu khựa, Tàu ô, Chú Khách?

Xin thưa đó cũng là sự thật, sự thật của những câu nói đùa.

Sự thật không đùa là người Việt Nam đã thờ Khổng Tử, thờ ông Quan Vân Trường ở những đền miếu tôn nghiêm nhất. Thậm chí một tên tướng giặc như Sầm Nghi Ðống cũng được dân ta cho một cái miếu thờ nho nhỏ. Tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay trong khu đô thị Phú Mỹ Hưng có một đại lộ rất đẹp mang tên Tôn Dật Tiên và một trường học mang tên một người Trung Quốc khác.

Sự thật lịch sử là đất nước và nhân dân Việt Nam đã cưu mang hàng triệu người Trung Quốc đến làm ăn sinh sống. Theo tài liệu lịch sử, cuộc di cư của người Hoa đến Việt Nam phổ biến từ sau các cuộc chiến tranh ở Trung Quốc. Họ chạy trốn các cuộc chiến cuối đời Ðường-đầu đời Tống (960-1279), cuối đời Tống-đầu đời Nguyên (1279-1368), cuối đời Nguyên-đầu đời Thanh (1662-1911).

Những đô thị thương mại như Vân Ðồn (TK XV), phố Hiến (TK XVI), Hội An (TK XVII) và Sài Gòn-Chợ Lớn (TK XVIII-XX) là nơi tập trung nhiều người Hoa sinh sống nhất.

Năm Kỷ Mùi (1679) hai viên tướng của nhà Minh là tổng binh Dương Ngạn Ðịch và phó tướng Trân Thượng Xuyên, sau khi thua trận với người Mãn Thanh, đã đem 3,000 quân chạy sang vùng cửa biển Thuận An của Việt Nam. Không chịu làm tôi tớ cho nhà Thanh nhưng họ chấp nhận làm bề tôi cho chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Tần đã cưu mang những người Trung Quốc này, cho họ về ở vùng Biên Hòa (Trần Thượng Xuyên) và vùng Mỹ Tho (Dương Ngạn Ðịch). Sau này những người Trung Quốc nói trên đã đóng góp vào việc phát triển những vùng đất đó.

Một người Trung Quốc khác cũng là tướng nhà Minh chạy sang Việt Nam là Mạc Cửu thì được chúa Nguyễn cưu mang ở vùng đất Hà Tiên.

Giữa TK XIX, để tránh sự đàn áp của nhà Thanh, hàng ngàn người Trung Quốc và gia đình thuộc đội quân Cờ Ðen, Cờ Vàng vốn là tàn quân của các cuộc khởi nghĩa của nông dân Trung Quốc đã từ Quảng Ðông, Quảng Tây tràn vào Việt Nam. Ðội quân Cờ Ðen do Lưu Vĩnh Phúc (1837-1917) cầm đầu đã tham gia cùng quân đội nhà Nguyễn đánh Pháp, giết được viên Ðại Úy Garnier tại Cầu Giấy.

Những người Trung Quốc này sau khi tổ chức bị tan rã đã không trở về Trung Quốc. Họ định cư tại các vùng miền núi của Việt Nam như Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Tại vùng Ðịnh Hóa và Ðại Từ Thái Nguyên tôi đã gặp những người họ Lương tự nhận là họ hàng của Lương Tam Kỳ một thủ lĩnh quân Cờ Ðen. Như vậy thêm một lần nữa đất nước Việt Nam lại cưu mang những người tị nạn đến từ phương Bắc cho dù có một thời họ làm thảo khấu.

Người Hoa hay người gốc Hoa hiện nay đang sống trên lãnh thổ Việt Nam có gần 1 triệu người. Tỉnh thành nào ở Việt Nam cũng có người Hoa. Ðông nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh. Do sống ở Việt Nam lâu đời nên đa số bà con người Hoa có quốc tịch Việt Nam. Tuy thế họ vẫn giữ được bản sắc Hoa rất đậm, vẫn nói tiếng Hoa, phong tục tập quán Hoa. Ðồng thời họ thông thạo tiếng nói và tập quán của người Việt. Những năm gần đây người Hoa ở Trung Quốc lục địa, Ðài Loan, Hồng Kong đến làm ăn ở Việt Nam chưa có số liệu nhưng ước đoán cũng phải vài chục ngàn người. Nhìn chung người Hoa và gốc Hoa đang sống ở Việt Nam đều có đời sống khá giả hơn người Việt.

Cũng cần nói thêm là trong số những người Trung Quốc đang làm việc ở Việt Nam hiện nay có nhiều người là dân nghèo, họ đến Việt Nam để kiếm miếng cơm manh áo.

Cho nên chúng ta cần nhìn họ với con mắt nhân văn.

Bây giờ xin bạn đọc trả lời giúp tôi câu hỏi: Người Việt có bài Hoa không?

Tuy nhiên với người Trung Quốc tôi xin nhắc tại đây câu nói của nhà cách mạng Tiệp Khắc tác giả “Viết dưới giá treo cổ”: CON NGƯỜI, HÃY CẢNH GIÁC! TÔI YÊU TẤT CẢ CÁC NGƯỜI.

Post Reply